Quốc Kỳ

Vì Tiền Đồ Tổ Quốc

Tháng Ba 2026
H B T N S B C
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  

ĐA HIỆU ONLINE

Đà Lạt Ngày Tháng Cũ


TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY

Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn.

Đà Lạt là cả một thiên đường của kỷ niệm, của hạnh phúc. Biết bao nhiêu người đã dàn trải nỗi lòng nhung nhớ về thành phố này thành những dòng hồi ký, những lời tình tự, những vần thơ lai láng, những âm thanh, điệu nhạc thánh thót, trữ tình hay những bức tranh vẽ, những tấm ảnh chụp rất nghệ thuật… Mỗi người một vẻ… Quả thật Đà Lạt mãi mãi in đậm nét trong lòng người, nhất là những người đang sống một cuộc đời xa xứ.

     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

“Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.”

Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn… tiếng chuông nhà thờ Con Gà… Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng…

Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

 

KHÁNH LY 

     Giọng ca của KHÁNH LY một thời vang vọng trong các phòng trà của thành phố Đà Lạt và nay mãi còn âm hưởng trong lòng người. Hãy nghe kể một chút về tiểu sử của KHÁNH LY, nhất là cuộc gặp gỡ đầu tiên với Trịnh Công Sơn: 

     “Năm 1954, lúc 9 tuổi – trước khi theo mẹ di cư vào Nam – trong một Kermesse được tổ chức ở Hà Nội, Khánh Ly đã leo lên sân khấu tham dự cuộc thi hát được dựng lên theo kiểu tuyển lựa ca sĩ bây giờ. Ngày ấy, bé Lệ Mai hát bài “Thơ Ngây” học lóm từ những cửa hàng trên con phố Hàng Bông, nhưng bé không được giải gì cả. 

     Cuối năm 1956, dù mới khoảng 11-12 tuổi nhưng với niềm đam mê ca hát có được từ bé, một lần nữa Lệ Mai quyết định đi thi hát. Lệ Mai chuẩn bị đến với cuộc thi quan trọng của mình bằng cuộc quá giang xe rau chở bắp cải đi từ Đà Lạt về Sài Gòn để ghi danh dự buổi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng do đài Pháp-Á tổ chức tại rạp Norodom. Em bé Lệ Mai hát bài “Ngày Trở Về” của nhạc sĩ Phạm Duy và đoạt giải nhì, sau thần đồng Quốc Thắng. 

     Năm 1962, Khánh Ly thật sự bước vào cuộc đời ca hát của mình. Cô bắt đầu trình diễn ở phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Khoảng cuối năm 1962, Khánh Ly rời Sài Gòn lên hát cho một Night Club ở Đà Lạt và cô ở lại đó suốt 6 năm. 

     Năm 1964, tại Đà Lạt, Khánh Ly gặp một người nhạc sĩ nghèo. Anh đến với cô bình thản như cơn mưa dầm của Đà Lạt vào đêm hôm đó. Qua vài câu chuyện, cô và nhạc sĩ trở thành hai người bạn. Người bạn ấy không ai khác, đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Rất nhiều lần Trịnh Công Sơn đề nghị Khánh Ly về Sài Gòn đi hát với ông nhưng cô đều từ chối bởi cô yêu Đà Lạt, sự yên tĩnh thanh bình của Đà Lạt đã quyến luyến bước chân cô, không như Sài Gòn vốn đông người và luôn nhộn nhịp. Nhưng nếu tin vào định mệnh thì cuộc gặp gỡ của Khánh Ly và Trịnh Công Sơn tuy bình thản, giản dị là thế song đã trở thành định mệnh của cuộc đời Khánh Ly, là khoảnh khắc lịch sử không riêng của Khánh Ly mà còn của nền âm nhạc nước nhà. 

     Bởi vì đã gọi là định mệnh cho nên đến năm 1967, như một sự tình cờ, Khánh Ly gặp lại nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giữa giòng người đi lại trên đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn, vào một buổi chiều êm ả. Từ một đêm mưa của Đà Lạt đến một buổi chiều trên đường phố Sài Gòn, tất cả đã bắt đầu. Ngay chiều ấy, trên nền gạch đổ nát có một quán lá sơ sài được dựng lên với cái tên là Quán Văn. Ca sĩ Khánh Ly bắt đầu hát với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại đây.”

     KHÁNH LY gắn bó nhiều với Đà Lạt. Người ca sĩ tâm sự trong một bài viết ghi tháng 4 năm 1985 như sau:

     “Đà Lạt không xa lạ lắm với tôi, 1956 bố tôi làm việc tại thành phố này, từ khu Chi Lăng, mỗi ngày tôi đi bộ đến trường Phan Chu Trinh nằm ngay ngã tư đường Nguyễn Du và Trần Hưng Đạo. Trò chơi thuở nhỏ của tôi là chui vào những bụi rậm hái hoa hoặc men theo ven hồ Chi Lăng mò ốc. Về đến nhà thì chui vào cái rãnh nhỏ quanh nhà, đắp đất trồng rau. Tôi không có búp bê, không có những cuốn sách hình, không có bạn. Tôi sống lủi thủi một mình, lủi thủi chơi một mình. Đầy mặc cảm ở cái tuổi 12. Gia đình tôi ở Đà Lạt một năm, lại trở lại Sài Gòn. Nhưng cái thành phố núi đồi trùng điệp, những buổi sáng sương mù rét mướt lội bộ đến trường, co ro trong chiếc áo len, đã nằm gọn trong khối óc bé nhỏ của tôi. Do đó khi bà chủ Night Club Đà Lạt về Sài Gòn tìm ca sĩ lên hát cho nhà hàng của bà, tôi đã không ngần ngại nhận lời. 

     Lúc đó tôi chưa được xem là ca sĩ. Chỉ mới là mầm non có cũng được không có cũng chẳng sao…

     Một ngày tháng 11-1962, tôi rời Sài Gòn. Chiếc xe đò Minh Trung đưa tôi lên vùng Cao Nguyên Đà Lạt thơ mộng nơi mà mọi người vẫn xưng tụng là Hoàng Triều cương thổ. Cùng đi với tôi là nữ ca sĩ Ngân Hà và bà chủ Night Club Đà Lạt. Năm đó tôi 17 tuổi.”

     KHÁNH LY bày tỏ lòng quyến luyến Đà Lạt của chính mình:

     “Đến Đà Lạt rồi tôi không còn nhìn thấy chỗ náo đáng yêu bằng, dù sau đó, tôi phải rời xa. Cho nên bạn tôi, ông Kiêm Thêm, cổ thụ Đà Lạt thường nói đó là thiên đường lỡ. Năm 1967 tôi về Sài Gòn đi lêu bêu, gặp lại Trịnh Công Sơn. Nhờ Diễm Xưa, tôi được sự yêu mến. Bằng những bài hát của Sơn tôi đi qua rất nhiều nơi mà lòng vẫn không quên Đà Lạt. 

     Cái mơ ước một ngày được trở lại thành phố này, trở lại và sẽ ở lại, vẫn ngày đêm thôi thúc trong tôi. Một căn nhà nhỏ bằng gỗ, một khu vườn nhỏ xanh rờn bóng trúc bao quanh, một gốc đào, một gốc ngọc lan, một giàn thiên lý và một người yêu tôi. Rồi có nhắm mắt xuôi tay, lòng tôi cũng bình thản. 

     Vào những năm chiến tranh khốc liệt nhất, tôi trở lại Đà Lạt đôi lần hát ở quán Lục Huyền Cầm đường Võ Tánh, hát ở Viện Đại Học Đà Lạt. Tôi trở lại Đà Lạt như người Đà Lạt trở về Đà Lạt, ngồi uống café ở nhà Thủy Tạ mà lòng đầy những ngậm ngùi. Đà Lạt có nhiều thay đổi, phải là những người yêu Đà Lạt lắm mới cảm nhận được điều đó. 

     Nhà hàng Night Club từ Lý Thái Tổ, dời ra Hotel du Parc, rồi bị cháy vào một đêm mùng 5 Tết, thêm một lần di chuyển lên lầu trên của ciné Ngọc Lan đường Thành Thái. Thêm cái dancing Tulipe Rouge nằm bên cạnh chợ Hòa Bình, tôi cũng có dịp cộng tác một thời gian, cho tới lúc tôi rời Đà Lạt. Sau này chỉ còn một dancing duy nhất nằm trong khách sạn Duy Tân. Tôi ở tại đây khi lên hát cho Lục Huyền Cầm.

    Lần sau cùng, tôi lên Đà Lạt vào tháng 11-1974. Đường bị cắt ngang Rừng Lá. Tôi phải quay về với bao nỗi tiếc thương… Khi nghe tin Đà Lạt bị chiếm giữ. Tôi đau đớn như người bị trúng thương…

     Vết thương dù có lành, tự nó cũng là một vết thương, đã một lần làm ta đau đớn. Tôi vẫn ôm mơ ước về một Đà Lạt của tôi dù đã có những con đường phai mờ trong tâm tưởng… Mười ngàn cái hồ ở Minnesota, sáu ngàn cái hồ ở Florida, không đủ sức làm tôi rung động, như ngày xưa mỗi lần xe Minh Trung chạy ngang hồ Xuân Hương để về bến. Tôi có khó tánh quá không? Tôi có bảo thủ quá không? Tôi nghĩ rằng không và tôi còn nghĩ rằng tất cả những ai đã từng ghé Đà Lạt, bây giờ dù ở xa, quá xa quê hương, cũng đều cùng một ý nghĩ như tôi. Bởi Đà Lạt cũng là Việt Nam và chúng ta chỉ có một nơi để nghĩ tới, một chốn để mơ về đó là Việt Nam, mà ở đó có Đà Lạt. Niềm mơ dấu yêu của riêng tôi.”

     KHÁNH LY, hơn một chục năm sau đó, vào tháng 10 năm 1998, lại viết thêm về thời gian khi mới lên ở tại Đà Lạt:

     “Tôi bắt đầu đi học lại ở trường tiểu học Phan Chu Trinh. Ngôi trường nhỏ nằm ngay tại ngã tư tôi không còn nhớ tên đường… Dẫu ít khi được cho đi chơi phố, nhưng những khoảng đất rộng đầy hoa dại và những loại giây leo lúc nào cũng thơm ngát mùi gỗ thông và con đường đất nhỏ dẫn tới Hồ Chi Lăng đã là một quyến rũ khiến cho đến bây giờ, mấy chục năm trôi qua, lòng tôi vẫn xao xuyến bồi hồi mỗi khi có ai nhắc tới Đà Lạt…

     Tôi bỏ nhà đi hoang lần thứ nhất là năm 1956 ở Đà Lạt. Tôi không còn nhớ vì sao tôi có đủ can đảm mở lời xin đi nhờ một chiếc xe chở bắp cải về Sàigòn dự thi tuyển lựa ca sĩ Nhi Đồng. Tôi cũng không nhớ đã nhờ ai ghi danh bài Từ Giã Kinh Thành của Châu Kỳ. Ban tổ chức từ chối vì bài hát của người lớn, không hợp với tuổi của tôi. Thế là tôi đổi qua bài Ngày Trở Về của Phạm Duy. Tôi mặc quần soọc trắng, áo sơ-mi carô. Nhận được giải nhì, tôi lại xin chiếc xe đã chở tôi từ Đà Lạt cho tôi quá giang một lần nữa. Bác Tuất gái là chị ruột của mẹ tôi, bà thương tôi, ôm tôi và nói… Tội nghiệp, mày về là chết đòn con ạ… mà quả thật như vậy. Đây là trận đòn thứ nhất tôi lãnh chịu trước cái nhìn kinh hoàng của anh chị tôi… Tôi không khóc lúc những ngọn roi tới tấp quất xuống mình nhưng sau đó, tôi trốn ra Hồ Chi Lăng ngồi khóc một mình. Không phải vì đau mà vì tôi đã bước được bước chân thứ nhất vào định mệnh của tôi.

     Năm 1962, trong một lúc bơ vơ thiếu thốn, khổ sở trăm bề. Tôi nghĩ đến Đà Lạt. Ngày còn men theo Hồ Chi Lăng mò những con ốc nhỏ xíu, tôi cũng nhỏ nhoi như thế. Lần này trở lại Đà Lạt, tôi không còn là một cô bé, tôi đã là một thiếu phụ. Tôi đã hết ngây thơ, không gia đình, không bạn bè, tôi tự bước đi trong đời bằng chính đôi chân của mình. Không khởi đi từ Sàigòn mà ở ngay nơi thành phố nhỏ bé, thơ mộng, hiền như nước mưa. Đà Lạt hợp với nhạc của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, của Tô Vũ, của Biệt Ly, của Lá Đổ Muôn Chiều, của Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa, của Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, của Lá Thư… Đà Lạt là nơi người ta dễ đến gần nhau, dễ yêu nhau và cũng là nơi để người ta chạy trốn và tìm quên.

     Đà Lạt chỉ cách Sàigòn mấy tiếng đồng hồ xe nhưng hoàn toàn khác biệt, lạ lẫm tưởng chừng như từ thuở khai thiên lập địa, bàn tay Thượng Đế đã đặt lầm chỗ… Giữa những bát nháo, ồn ào, nhầy nhụa. Đà Lạt vẫn im lìm dịu dàng thanh cao như một người tình khuê các… giữa tiếng bom rơi đạn nổ, tiếng la khóc thảm thương, những tà áo tím hồng vẫn nhẹ nhàng lướt nhẹ trên phố với tiếng thông reo vi vu chưa bao giờ ngưng nghỉ, có một chút gió heo may và một thoáng mưa bụi… Tất cả, đủ làm người ta yêu nhau. Thánh thiện và trong sáng…  

     Một phần đời của tôi là Đà Lạt. Có khởi đầu. Có chấm dứt. Có hân hoan. Có tuyệt vọng. Tôi gắn bó với Đà lạt như đương nhiên cuộc đời của tôi gắn bó với Việt Nam. Có qua đi nhiều năm tháng nữa, như đã qua, tôi vẫn một niềm yêu thủy chung như thế.”

     KHÁNH LY, năm 2002, trong mục “Chuyện kể sau 40 năm” lại tâm sự thêm về kỷ niệm với Đà Lạt:

     “Thời đó, tôi mới 18 tuổi, còn ham ăn, ham chơi. Chẳng có gì thú vị cho bằng quăng giầy dép, chân không, đi, chạy, nhẩy khắp Đồi Cù, xuống Tòa Tổng Giám Mục, men theo con đường Tình Yêu dẫn lên Tòa Tỉnh rồi lại lên Đồi Cù nằm khểnh dưới gốc thông hoặc thẳng tay chân trên bãi cỏ thênh thang nhìn ngắm mây trời. Không nhớ đến ai cũng không cần biết mình là ai, ngày mai sẽ ra sao. Không nhớ ai thật, không cả yêu đương. Không hề nghĩ đến gia đình và Sàigon…

     40 năm trước, đó là ý nghĩ của một thiếu phụ tuổi 18, nằm ngủ quên dưới gốc thông già. Buổi trưa, nắng vàng chan hoà trên cỏ lá, tiếng thông reo ngân dài, bất tận như một lời ru buồn. Lời ru âm thầm đi vào giấc ngủ và ở lại đó. Lời ru buồn. Rất buồn.”…

      Trong một bài viết khác KHÁNH LY tâm sự tiếp khiến người Đà Lạt xa xứ nghe thấy thật ngậm ngùi, thật thấm thía:     

     “Mùa đông Ðà Lạt như mùa thu kéo dài. Thêm chút lửa ấm từ lò sưởi ngọt ngào mùi gỗ thông. Ðêm Ðà Lạt bao giờ cũng lạnh. Hơn, kém một tí cũng không cho ta thấy rõ mùa đang chuyển. Bốn mùa xoay quanh những thói quen đáng yêu. Hương café thơm ngát qua bao nhiêu suối khe đồi núi. Dốc thấp, dốc. Mái nhà ngói đỏ và mùi thơm của gỗ thông. Tôi yêu Ðà Lạt vô chừng. Như một người tình. Hơn một người tình. Tôi rời Ðà Lạt không ngờ, như khi đến. Rời xa mà vẫn yêu. Yêu nhiều hơn vì trong cái yêu có cái tiếc nuối mặc dù sự việc rời bỏ Ðà Lạt năm 1967 đã đưa tôi đến một đổi thay, đến một hạnh phúc may mắn không bao giờ tôi dám nghĩ đến. Năm 1964 khi Trịnh Công Sơn rủ tôi về Saigon đi hát với anh. Tôi từ chối. Không phải vì không yêu nhạc Sơn. Nhưng lúc đó tôi yêu Ðà Lạt hơn. Cái lối sống xô bồ, ồn ào mánh mung của Saigon không hợp với tôi. Trong khi đó Ðà Lạt là thiên đường. Êm ả, trong sáng. Saigon đó có một chỗ đứng nào cho tôi. Là một người không hề có một chút tham vọng. Thích an phận, bằng lòng với những điều mình có. Một đứa con gái tầm thường như tôi. Những ngày tháng ở Ðà Lạt đã là một an ủi quá đủ rồi. Với làm vui chi những điều quá xa vời. Cũng không hề mơ ước một đổi thay. Hơn thế nữa con người tôi, tâm hồn tôi hợp với Ðà Lạt hơn. Thế mà rồi tôi đã rời xa nơi chốn đã cho tôi biết bao ngày tháng đẹp đẽ trong sáng.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ” – LS. Ngô Tằng Giao)

Sĩ Khí Người Thương Binh Việt Nam Cộng Hoà

Người Thương  Binh Việt Nam Cộng Hoà

Gặp các chiến sĩ thương  binh Việt Nam Cộng Hoà còn kẹt lại ở Việt Nam

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 3

Tôm Xóc Tỏi

Không tốn nhiều thời gian mà chỉ với một chút biến tấu là các mẹ đã có thêm một món ăn hấp dẫn cho bữa ăn gia đình. Vị ngọt của tôm quyện lẫn vị thơm lừng của tỏi phi khiến món ăn thật đặc biệt!

Nguyên liệu:
– 300g tôm sú
– 50g tỏi
– Hành lá
– 1 nhánh gừng nhỏ
– Gia vị: Xì dầu, mắm, dầu ăn.
Tôm xóc tỏi
Cách làm:
Tôm rửa sạch, chẻ lưng , lấy chỉ, để nguyên đầu và đuôi.
Cho vào bát ướp với chút gừng thái lát. Gừng sẽ giúp cho món tôm bớt tanh.
Dùng khăn giấy thấm khô tôm.
Cho tôm vào chảo ngập dầu chiên vàng giòn rồi vớt ra đĩa có lót sẵn giấy thấm dầu.
Trong lúc chiên tôm. Bạn bóc tỏi rồi băm nhỏ.
Phi tỏi cho vàng rồi vớt ra để riêng.
Gừng cạo vỏ, thái sợi to. Hành cắt nhỏ.
Làm nóng dầu trong chảo, cho đầu hành và gừng vào xào thơm trong khoảng 30 giây.
Tiếp đó trút tôm vào đảo đều. Nêm 1 muỗng canh xì dầu và chút mắm cho vừa ăn, tiếp tục đảo đều khoảng vài phút để tôm thấm gia vị.
Trút phần tỏi phi thơm đã thực hiện ở bước 5 vào xóc đều rồi xúc ra đĩa, rắc ít hành lá xắt nhỏ để trang trí.
Vị ngọt của tôm quyện lẫn với mùi thơm lừng của tỏi phi trong món tôm xóc tỏi khiến bữa ăn trở nên ngon miệng hơn.
Không tốn nhiều thời gian mà chỉ với một chút biến tấu là các mẹ đã có thêm một món ăn hấp dẫn cho bữa ăn gia đình.

Gà Nấu Chao

Mùa nóng cũng như mùa lạnh, bữa cơm mà có món thịt gà nóng hổi thì còn gì thơm ngon và hấp dẫn bằng. Cùng chúng tôi vào bếp chế biến món ăn ngon miệng này nhé!

Món gà nấu chao rất hay được mình lựa chọn làm món ăn cuối tuần vì nó dễ ăn, có thể ăn kèm với cơm, với bánh mì hoặc làm món nhậu mà đặc biệt đây là món rất ngon miệng vì mùi thơm của rượu, vị ngọt của thịt gà, hành tây, vị cay cay nồng nồng của sả ớt, thích hợp cho những ngày đông lạnh.
Nguyên liệu:
3 hoặc 4 đùi gà
Vài viên chao đỏ
Rượu trắng (có thể dùng vang đỏ nếu thích mùi vang)
Ớt, sả, hành tây, tỏi.
Cách làm:
Ớt, sả băm nhỏ.
Gà làm sạch, chặt đôi, khứa lên thân gà cho gà dễ ngấm gia vị.
Tỏi băm nhỏ.
Hành tây ½ băm nhỏ, ½ xắt khoanh.
Rượu rót ra 1 bát nhỏ.
Chao múc ra 2 hoặc 3 muỗng nhỏ cùng với nước chao.
Ướp tất cả gia vị với gà (trừ hành tây xắt khoanh), thêm 1 muỗng nhỏ muối, 2 muỗng đường, ½ muỗng hạt nêm.
Trộn đều, đậy kín để ít nhất 1 tiếng cho ngấm.
Làm nóng chảo trên bếp với chút dầu ăn, cho gà vào chiên vàng.
Đến khi gà vàng thì cho hành tây cùng nước xốt ướp gà còn thừa vào, để lửa liu riu cho ngấm, nêm lại cho vừa ăn.
Nếu thích có chút nước xốt bạn có thể thêm ít nước, chú ý đừng thêm nhiều gà sẽ mất vị.
Đun đến khi gà chín mềm vừa ý thì lấy ra đĩa, ăn nóng với cơm.
Chúc các bạn thành công và ngon miệng!

Chàng Từ Khi Vào Nơi Gió Cát

Đà Lạt đó, đất của những rừng thông ngàn năm thì thầm với gió. Đất của suối, của hoa và của những người con gái hai má đỏ hồng. Và ở đó, cũng là nơi xuất thân của những người trai luôn luôn tâm niệm nam nhi chí tại bốn phương, lấy hình ảnh oai hùng của kẻ gác ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo làm biểu tượng. Nhắc đến Đà Lạt là có cả ngàn điều để nhớ, trăm điều để thương.

Con đường dốc quanh co, với hai hàng thông trồng dọc hai bên đường, một đầu là khu phố Hoà Bình, trái tim của Đà Lạt, một đầu là quân trường nổi tiếng, trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, nơi đào tạo những người luôn lấy hình ảnh của bốn chữ Tang Bồng Hồ Thỉ làm lý tưởng, cái biểu tượng hào hùng đó cũng là một trong những nghi thức không thể thiếu trong ngày mãn khóa: sinh viên thủ khoa của khóa, trước lễ đài, một chân quỳ gối, một tay cầm cung, một tay giương tên, bắn đi bốn hướng. Những mũi tên bắn đi từ những người trai Võ Bị đó, đã có nhiều mũi bắn vào tim giai nhân bốn phương. Gần nhất là những người con gái đôi má đỏ hồng của Đà Lạt. Người đến, đến từ muôn phương, người đi, đi về vạn nẻo, để lại nhiều thiên tình sử trong cái thành phố nhỏ bé này…

Con đường từ phố Hoà Bình, một khu phố nhỏ, dễ thương, lúc nào cũng có hình ảnh của những đôi tình nhân khắp nơi đến. Đến tìm cái lạnh co ro, tìm sự gần gũi nhau hơn trong bầu trời sương mù của Đà Lạt. Con đường đổ xuống bên dưới chân phố, bọc theo hồ Xuân Hương, với cà phê Thủy Tạ, với những chiếc Pédalo lượn lờ trên mặt nước, đưa đôi tình nhân vào cõi mộng mơ. Qua khỏi hồ Xuân Hương, con đường bắt đầu có độ dốc cao dần, rồi đến nhà ga, cũng là Trạm Hàng Không Dân Sự. Qua khỏi nhà ga, một đường rẽ lên Trại Hầm, vùng đất của những trái mận no tròn, chỉ nhìn qua là muốn cắn ngay. Một đường cứ đi tiếp, sau chừng bốn, năm cây số đã vào địa phận của trường Võ Bị Đà Lạt. Quanh co qua những khu trồng rau xanh mướt, bên phải là hồ Than Thở. Chỉ nghe tên thôi cũng đủ tưởng tượng được cảnh hồ đẹp và buồn đến đâu. Qua khỏi hồ Than Thở, với những khúc lượn vòng trên những đồi thông là đến cổng trường. Một mối tình nào đó, bắt đầu sự gặp gỡ có thể trong quán cà phê, hay tại một gian hàng hoa trong chợ Hoà Bình, hoặc ngay trên những con đường phố Đà Lạt, để hẹn hò bên hồ Xuân Hương, đưa nhau đến đổ lệ bên hồ Than Thở, rồi chia tay nhau tại nhà ga, và biệt ly, nhớ nhung từ đây… Tất cả diễn ra trên con đường đó, và con đường có thể giản dị mà đặt tên: Con Đường Tình Sử.

Đoạn đường từ hồ Than Thở đến cổng chính của trường là một đoạn đường rất đẹp. Đường tráng nhựa êm ái, chạy quanh co trong những đồi thông thật thơ mộng. Một trạm kiểm soát trước khi vào cổng chính mang tên cổng Thái Phiên. Cổng chính của trường nhìn ra đồi núi chập chùng. Cổng sau của trường, cổng Lý Thường Kiệt, ngõ ra khu phố Catina, một khu phố nhỏ mang tên một khách sạn lớn ở đây, khách sạn có từ thời Pháp thuộc. Một cổng phụ nối liền với trại gia binh của trường là cổng Mê Linh. Trường Võ Bị nằm trên một khuôn viên rất rộng. Từ cổng Thái Phiên đi vòng qua cổng Lý Thường Kiệt cũng phải mất gần mười lăm phút lái xe. Ngoài ba cổng chính trường còn có nhiều cổng không tên khác mà chỉ có sinh viên sĩ quan và Quân Cảnh 302 của trường biết mà thôi. Từ những cổng không tên đó, trong một đêm sương mù phủ xuống dày đặc, có những sinh viên sĩ quan đa tình, liều lĩnh lén rời trường để đến một nơi nào dưới phố, dưới một mái nhà, có người con gái đang ngồi trong khung cửa chờ mong. Những sinh viên sĩ quan dám đi qua những cổng không tên đó, thường thường đã là niên trưởng. Chứ các Cùi mới năm thứ nhất thì còn “cùi” lắm, khó lọt mắt xanh của người đẹp. Mà không có người đẹp chờ mong, thì chẳng lẽ liều lĩnh trốn ra khỏi trường chỉ đến dốc Duy Tân uống một ly sữa đậunành nóng rồi lại trở vào hay sao? Và để tiếp nối truyền thống đó, khi các niên trưởng gần đến ngày ra trường, cũng vui vẻ bàn giao lại cho đàn em những cổng không tên này, để rồi bao nhiêu mối tình đã nở và biết bao con tim đã héo mòn. Một người con gái kể cho tôi nghe chuyện tình của nàng, một Chinh Phụ Ngâm Khúc của người con gái mới hai mươi hai tuổi tròn.
. . . . . .

Buổi chiều từ trường về, Quyên nhận được thư Nguyên. Phong bì đóng dấu Bưu Điện Nha Trang, chứ không gửi qua Quân Bưu. Anh chàng lại trốn ra phố Nha Trang chơi rồi, Quyên nhủ thầm.

“Quyên của anh,

     Ngày mai, thứ hai, anh làm lễ mãn khóa ở trường Dù. Đúng ra còn nợ trường này một saut nữa, nhưng saut cuối cùng để dành nhảy về trường mẹ. Sáng thứ ba, lúc 10 giờ, em đến ngoài cổng Mê Linh, nhớ mang theo ống dòm. Người nhảy xuống đầu tiên là Trung Tướng Chỉ Huy Trưởng. Người thứ nhì là anh: Thủ Khoa Khóa Dù. Em đứng chỗ nào cho dễ thấy, anh sẽ đáp ngay trước mặt em. Gặp nhau sau. Thương nhiều.”

Thư Nguyên lúc nào cũng vậy, ngắn gọn và đùa cợt. Thủ khoa của khóa Dù! Thật là cứng đầu, nói mãi không chịu nghe. Ba mẹ đã hăm rồi, ra trường mà chọn mấy cái binh chủng đồ bông, đồ rằn để miệt mài ngoài chiến trận là đừng hòng gả con gái cho. Ba đã có lần nói thẳng với Nguyên: “Sống ở đời, khôn ngoan là ai sao mình vậy. Học đủ để ra trường là được rồi. Ra trường sẽ gửi gắm về làm ở thành phố cho an nhàn tấm thân, lại có thì giờ lo cho vợ con sau này”. Nguyên cười, dạ dạ, rồi những lời khuyên bảo cũng như nước chảy qua đá trên thác Cam Ly.

Nhớ lần đầu tiên gặp Nguyên, Quyên không hiểu tại sao sau này mình lại thương được người đã làm mình tức đến khóc được. Buổi sáng thứ bảy đó, Quyên và em trai đi phố mua sắm mấy thứ lặt vặt, rồi hai chị em vào Mê Kông uống nước. Buổi sáng cuối tuần nào khu phố Hoà Bình cũng đầy bóng dáng những sinh viên sĩ quan Võ Bị trong bộ đại lễ bốn túi mùa đông, dáng người thẳng, bước chân vững chải, nụ cười, ánh mắt tự tin. Buổi sáng hôm nay trời Đà Lạt thật đẹp, nắng rực rỡ trên những cành Mimosa đang bắt đầu nở hoa vàng. Khu phố nhỏ bé này có vẻ ồn ào hơn, vì hôm nay là ngày được ra phép đầu tiên của một khóa Võ Bị vừa xong thời gian huấn nhục, mới làm lễ gắn Alpha tối hôm qua. Lần ra phép đầu tiên cứ như là cọp sút chuồng, mấy anh chàng sinh viên sĩ quan vừa hung hăng, phá phách, vừa mang cái nét thật ngố trong bộ đại lễ mặc lần đầu. Tóc của mấy chàng còn ngắn đúng kiểu mẫu, cử chỉ cứng nhắc, nét mặt nửa ba gai, nửa còn khớp vì bị hành tận mạng trong những ngày huấn nhục vừa qua. Họ phá phách như là một truyền thống. Trường dễ dãi cho lần ra phép đầu tiên sau ngày lễ gắn Alpha, miễn là không quá trớn.

Nguyên ngồi bàn kế bàn Quyên, cùng với mấy người bạn đồng khóa. Họ ăn uống, cười nói có vẻ thỏa thích với những giây phút tự do ngắn ngủi, rồi bắt đầu tìm những mục tiêu để phá. Mục tiêu của họ là những chàng trai híp-py, tóc để dài như con gái. Thanh niên Đà Lạt đã quen với truyền thống này rồi. Hễ cuối tuần mà có khóa Võ Bị nào vừa làm lễ gắn Alpha, ngày mai được ra phép là họ tránh không xuống phố, để “văn” và “võ” khỏi đụng nhau lôi thôi. Hoàng kẹt đi với chị nên đành chịu trận.

Quyên ngồi im không nói gì, cho đến khi một người trong bàn của Nguyên đòi qua cắt tóc Hoàng thì Quyên phản ứng ngay. Quyên lấy bút, nhìn bảng tên trên ngực áo của anh chàng này, giọng thách thức:

– Anh dám làm không?

Nguyên nảy giờ chưa dự phần, vội đứng lên ngăn lại:

– Thôi thôi, mình đi phố chơi, đừng chọc bà chằng này nữa.

Quyên tức muốn phát khóc, trợn mắt nhìn thẳng mặt người vừa gọi mình là bà chằng. Vầng trán rộng, nét mặt cương nghị lẫn chút bướng bỉnh, dáng người dong dỏng cao và thẳng. Vài tuần nữa bớt cái nét ngố của một anh Cùi vừa mới gắn Alpha thì coi cũng được, Quyên nhủ thầm, nguýt dài một cái, đuôi mắt quét rụng cả mấy búp hoa của cành Mimosa chưng trên quầy.

Làm như có duyên có nợ gì đó, những tuần kế tiếp họ lại đụng đầu nhau trong phở Tùng, trong cà phê Thủy Tạ… Và một buổi sáng thứ Bảy, mẹ bảo Quyên ra chợ mua vài ký mận để về Sài Gòn biếu bà con. Lựa mận xong, Quyên đang loay hoay không biết thế nào để bê mấy bao mận nặng chĩu này ra xe lam, thì một bàn tay đỡ nhẹ:

– Tôi mang dùm cô về tận nhà.

Và không cần biết Quyên có đồng ý hay không, Nguyên vẫy taxi. Quyên cũng không hiểu sao lúc đó mình lại thụ động như vậy. Riu ríu lên xe và để cho Nguyên mang mấy bao mận vào tận nhà, chào bác trai, chào bác gái, tự nhiên như quen biết đã lâu ngày.

Bốn năm trôi qua. Đối với những người con gái đã yêu người trai Võ Bị, bốn năm, mỗi ngày tính bằng một tuần. Như vậy, bốn năm rút lại còn được bao nhiêu ngày? Và mỗi ngày gặp nhau được bao nhiêu giờ?

Rồi Nguyên làm lễ mãn khóa. Chàng vẫn là thủ khoa của khóa. Vẫn giữ truyền thống của người theo nghiệp võ tự ngàn xưa. Trong lễ mãn khóa, chàng đã giương cây cung bắn bốn mũi tên ra bốn hướng, để biểu tượng chí tang bồng hồ thỉ của kẻ nam nhi. Rồi chàng rời Đà Lạt như một mũi tên rời dây cung, để lại cho Quyên khắp mọi nơi, mọi nẻo trong cái thành phố nhỏ bé lạnh lẽo đầy sương mù này, đâu đâu cũng là kỷ niệm…

Những gì Quyên mong đợi bây giờ là những bức thư ngắn ngủi, từ những địa danh xa lạ gửi về. Thư mới nhận hôm qua cũng ngắn như một bức điện tín:

     “Quyên của anh,

     Vừa chiếm lại Quảng Trị. Trận đánh thật khốc liệt, dành nhau từng tấc đất. Xong rồi. Ngày mai xin 12 giờ phép, phóng xe vào Huế ăn tô bún bò cho biết cay đến đâu và nhìn xem nữ sinh Đồng Khánh đi học qua cầu Trường Tiền đẹp như thế nào. Mong em luôn luôn vui vẻ.

     Thương nhiều.”

Nguyên đi biền biệt. Gót giày hành quân của chàng dẫm qua không biết bao nhiêu là địa danh. Mỗi năm được về phép mấy ngày, chia ra cho gia đình ở Sài Gòn vài ngày, cho Quyên ở Đà Lạt vài ngày, còn lại cho bạn bè. Nguyên được thăng cấp rất nhanh bởi những chiến công vẻ vang. Những hoa mai trên cổ áo của Nguyên là do chính tay Quyên thêu trong những lần Nguyên về phép. Cứ mỗi lần thêu thêm một hoa mai cho Nguyên là lòng Quyên lại chỉu nặng thêm một ít.

Một câu nói nửa đùa nửa thật của người bạn học cùng lớp, mà mỗi lần nhớ đến, đã làm cho Quyên cảm thấy chới với như người mất đà vì bắt hụt vào chiếc bóng:

– Lấy chồng Võ Bị thì chớ có lấy thủ khoa. Thủ khoa nào của Võ Bị cũng sớm được tổ quốc ghi ơn…

Bước vào Võ Bị là Nguyên đã chọn con đường binh nghiệp. Suốt bốn năm miệt mài rèn luyện cả văn lẫn võ. Nguyên hãnh diện với sáu chữ: Sinh Viên Võ Bị Đà Lạt. Nguyên muốn mình xứng đáng với niềm hãnh diện đó, trong trường, ngoài quân sự và văn hoá, Nguyên học quyền thuật, kiếm thuật, học cỡi ngựa, chơi đàn, nhảy đầm rất đẹp, pha coctail rất ngon. Ra trận, Nguyên đánh giặc rất gan lì. Tất cả để giữ cái truyền thống của hai chữ “Đa Hiệu” mang trên vai. Và luật của tạo hoá là như vậy: truyền thống càng hào hùng, định mệnh càng khắc nghiệt.

Quyên biết mình chỉ là sợi tơ, không thể nào buộc nổi một cánh chim bằng với hào khí đang còn ngất trời. Chỉ còn biết chờ, chỉ còn biết đợi. Đợi chờ cho đến ngày chim bằng mỏi cánh, hoặc là…

Quyên không dám nghĩ đến. Không dám ích kỷ mong muốn Nguyên dừng chân bằng một sự hy sinh quá lớn. Mà thật sự thì Nguyên đã hy sinh, hy sinh cả một tuổi thanh xuân của chàng cho chiến trận, hy sinh cả một tình yêu như mật ngọt trong khung trời Đà Lạt mộng mơ này, để lăn mình vào nơi gió cát…

    Kiều Mỹ Duyên

Nghệ Thuật Cắm Hoa

Ảo Thuật của Lu Chen

 
TIỂU SỬ TÁC GIẢ NGUYỄN-HUY HÙNG
 
-Phật tử, Pháp danh KHIẾT CHÂU,
-Sanh vào ngày Saint Patrick’s Day, cuối thập niên 20, Thế kỷ 20, tại Thị xã LẠNG SƠN, Bắc phần Việt Nam. (nơi có di tích lịch sử ẢI NAM QUAN).
-1945, gia nhập Phục Quốc Quân hoạt động bí mật.
-5 tháng 7 năm 1947, gia nhập Vệ binh Bắc Kỳ.
-1 tháng 6 năm 1949, tốt nghiệp Thiếu úy, Khoá 1 (Khoá Bảo Ðại) Trường Võ bị Quốc Gia Việt Nam. Bổ nhiệm về Tiểu đoàn 2 VN cùng ngày, tại HÀNỘI.

-1950, du học bổ túc Sĩ quan chuyên nghiệp tại Pháp.
-1956, Thiếu tá, du học Truyền Tin tại Hoa Kỳ.
-1957, Giám đốc Trường Truyền Tin, Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức.
-1961, Chỉ huy phó Viễn Thông, Bộ Tổng Tham mưu Quân lực việt Nam Cộng Hoà.
-1965, Trung tá, Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Trung ương Ðịa phương quân và Nghiã quân QLVNCH.
-1970, Ðại tá Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh chính trị QLVNCH, kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến.
-1975, Tù nhân chính trị trong các Trại tập trung của Cộng sản Việt Nam, 13 năm (từ sau 30 tháng 4 năm 1975 cho tới 13 tháng 2 năm 1988).
-Tháng 8 năm 1992, định cư tỵ nạn Cộng sản tại Liên Bang Hoa Kỳ.

LỜI MỞ ÐẦU.

Thời gian tiếp tục quay, những dấu vết lịch sử ghi trên không gian cũng phai mờ dần theo luật biến hoá sinh diệt của Tạo hoá, nhưng không bao giờ bị xoá mờ trong bộ não của con người, cho đến khi phổi ngưng thở, tim ngừng đập, mắt nhắm, tay xuôi trở về với cát bụi.
Trong suốt 13 năm ở trong các trại tập trung, bạn bè đồng tù, trong đó có cả các vị Tuyên úy Quân đội như Linh mục, Mục sư, Thượng tọa, Ðại đức, đều yêu cầu Tôi, sau khi ra tù hãy ghi lại hết sự thực gian khổ nhục nhằn, mà Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã dành cho chúng tôi, những người đã cả gan cằm súng chiến đấu chống lại Cộng sản quốc tế mà CSVN làm tay sai. Ðể cho Nhân dân Thế giới và đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng thấy được mặt thật quỷ quyệt, tàn bạo vô nhân đạo, giả nhân nghiã của CSVN, đối với những ai không chịu theo đường lối chính trị chuyên chính vô sản bạo tàn của bọn chúng.
 
Từ khi được cùng gia đình tới Hoa Kỳ, định cư theo diện H.O. (Humanitarian Operation) tỵ nạn Cộng sản đến nay cũng được 8 năm, rất nhiều các bạn trẻ con các gia đình di tản trước 30-4-1975, hoặc được sanh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ sau 30-4-1975, không biết gì về biến cố đen tối này của dân tộc Việt Nam, đã yêu cầu Tôi kể cho họ nghe, rồi lại yêu cầu ghi chép để phổ biến rộng rãi cho mọi người, cùng thấy được mặt thật của CSVN mà đề phòng khỏi bị cám dỗ lôi cuốn.
 
Tôi suy nghĩ đắn đo mãi mà chưa muốn thực hiện. Không phải vì Tôi sợ CSVN hay tay sai của họ có mặt khắp nơi trả thù, mà vì muốn chờ xem những lời cam kết đổi mới của CSVN, sau khi cái nôi CS quốc tế là Liên sô tan rã hoàn toàn, có sẽ đem lại được gì tốt hơn cho Dân tộc Việt Nam như CSVN đã rêu rao không?
 
Nhưng cho tới nay, sau 25 năm CSVN độc quyền “một mình một chợ múa gậy vườn hoang”, không ai cản trở, thế mà cái Chế độ Xã hội Chủ nghiã thường được CSVN khoa trương là ngàn lần tốt đẹp hơn Chủ nghĩa Quốc gia Tư bản, đã không đem ấm no hạnh phúc đến cho Dân tộc Việt Nam. Trái lại, Quốc gia Việt Nam vẫn trong tình trạng lạc hậu chậm phát triển, bị Quốc tế xếp vào hàng các nước nghèo đói nhất Thế giới. Dân chúng không có bất cứ một tự do căn bản nào của con người trong một nước có chủ quyền độc lập, còn bị bóc lột sức lao động một cách tinh vi, tàn bạo, dã man hơn cả các thời Phong kiến, Thực dân xa xưa bóc lột nông nô. Riêng chỉ có các Lãnh tụ và Ðảng viên của Ðảng CSVN, tùy theo thứ vị quyền lực đang nắm giữ, trở nên giầu có ăn tiêu phung phí xa hoa, chẳng khác nào các nhà Ðại Tư Bản trong Thế giới Tự do, vẫn từng bị CSVN lên án là bọn Ðế quốc Tư bản bóc lột giới lao động.
 
Trắng trợn hơn nữa, CSVN còn ngoan cố đánh bóng và thần thánh hoá, những việc làm tội lỗi của chúng đối với Dân tộc suốt hơn nửa Thế kỷ 20 vừa qua, và gán cho những người chống đối Cộng sản là phản quốc, bán nước, làm nô lệ cho ngoại Bang để cầu vinh. Trong khi những bí mật chính trị trong thời gian qua vừa được tiết lộ, đã chứng minh rõ ràng Hồ Chí Minh và bọn CSVN mới chính là nhóm tay sai ngoại bang, tàn phá quê hương, giết hại đồng bào Việt Nam, để chiếm độc quyền cai trị Dân tộc theo Chế độ Cộng sản chuyên chính của Liên sô nay đã tan rã.
 
Chế độ Cộng sản chuyên chính độc tài, độc đảng của Liên sô đã bị chính nhân dân Nga hủy diệt, vào những năm cuối thập niên 1980 đầu thập niên 1990, để tái lập chế độ chính trị quốc gia theo mô thức Cộng Hoà đa đảng của Liên Bang Hoa Kỳ, với cái tên mới “Liên Bang Nga”.
 
Một số đảng viên kỳ cựu của Ðảng CSVN, theo Hồ chí Minh từ thuở ban đầu, nay thấy được những sai trái tội lỗi của Ðảng, đã phản tỉnh can đảm lên tiếng phê bình xây dựng, theo tinh thần Dân chủ mà Ðảng rêu rao. Lập tức bị Ðảng thi hành kỷ luật khai trừ, bắt bớ hạch sách, cô lập theo dõi, làm khó dễ đủ đường. Nhiều người đã bị kết án tù hoặc bị giam cầm cải tạo vô thời hạn.
 
Vì thế, Tôi quyết định không chờ đợi nữa, phải bắt tay vào viết ngay “HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM”, để đáp ứng lời yêu cầu của những người muốn biết mặt thật của CSVN, nhưng chưa có may mắn sống dưới sự cai trị của Bạo quyền CSVN.
 
Mặc dù biết mình không có khả năng của một văn sĩ hay thi sĩ. Nhưng là một nhân chứng của dòng lịch sử Việt Nam, trong suốt ba phần tư sau của Thế kỷ 20, đã cùng đồng bào của mình trải qua bao sóng gió phũ phàng của chiến tranh giành độc lập, tranh chấp giữa hai ý thức hệ Cộng sản và Nhân bản Quốc gia, ngay trên đất nước. Tôi vẫn thấy cần phải cố gắng hết sức mình, ghi lại một cách chân tình, mộc mạc, trung thực, những gì Tôi đã chứng kiến, bản thân đã phải chịu đựng. Ðể đóng góp vào kho tài liệu sự kiện đã xẩy ra tại Việt Nam trong Hậu bán Thế kỷ 20, cho các thế hệ sau Tôi tham khảo, biết được sự thật không bị bóp méo như các dữ kiện của bọn CSVN đã cố tình tạo ra và phổ biến, với dụng ý giành phần phải cho chúng trước sự phán xét của Dân tộc Việt Nam và dư luận Thế giới.
 
Hy vọng lòng nhiệt thành của Tôi, sẽ được chư độc giả bỏ qua cho những thiếu sót về sưu tập tin tức tài liệu, cũng như kỹ thuật cú pháp hành văn, thơ.
 
Viết “HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM”, Tôi cũng muốn dành riêng để tặng, và tỏ lòng biết ơn sâu xa của Tôi đối với Vợ và các Con nay đã là Công dân Hoa Kỳ, về những hy sinh lớn lao cao quý của họ. Trong suốt thời gian mười mấy năm trời sau 30-4-1975, Vợ Con đã phải kiên nhẫn chịu đựng mọi cay đắng nhục nhằn, sống dưới sự cai trị của Bạo quyền Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam, để hỗ trợ cả tinh thần lẫn vật chất cho Tôi sống còn, đến khi được tha ra khỏi Trại tập trung của CSVN. Lại còn phải lo phần tài chánh cần thiết, để hoàn tất được mọi thủ tục xin đi định cư tỵ nạn Cộng sản trên đất nước Hoa Kỳ, đầy tình người và giầu lòng bác ái này.
 
“HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM” cũng được viết ra để tỏ lòng biết ơn sâu xa của Gia đình chúng tôi, đến Chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ, cùng tất cả các Quốc gia có chân trong Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, đã tham gia áp lực Liên sô, Trung cộng, buộc tay sai của họ là CSVN phải thả chúng tôi. Những người Việt Nam đã liên tục chiến đấu mấy chục năm trời, ngăn cản làn sóng xâm lăng bành trướng của Cộng sản Quốc tế trên đất nước Việt Nam thân yêu của mình, nên bị CSVN giam cầm đầy đọa, tiêu diệt lần mòn theo Chính sách Lao động cải tạo tư tưởng do Hồ chí Minh nghĩ ra, trăng trối lại cho bè lũ đàn em thi hành.
 
Thoạt nghe “Lao động cải tạo tư tưởng”, ai cũng cho là một chính sách vô cùng nhân đạo. Nhưng có là nạn nhân của chính sách, mới thấy nó độc ác tàn bạo vô nhân đạo gấp trăm ngàn lần chính sách xử bắn hay xử chém của Phong kiến, Thực dân cũ. Vì phương châm thực hiện của nó theo lời chỉ dạy của Hồ Chí Minh là : “-Ðừng giết chúng nó, hãy dùng chúng nó làm công cụ sản xuất cho Xã hội, bắt chúng nó làm cho chúng nó ăn, đầy đọa cho chúng nó chết lần chết mòn vì kiệt sức nơi rừng thiêng nước độc, thâm sơn cùng cốc, thì ai mà biết được.”
 

NGUYỄN HUY HÙNG.

Quận Orange, Nam California, Ngày 30-4-2000.

CHƯƠNG 1

30 THÁNG 4 NĂM 1975, NGÀY QUỐC HẬN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
 
Vì áp lực của Hoa Kỳ cắt viện trợ nên ngày 21-4-1975, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu phải từ chức, nhường cho Phó Tổng thống Trần văn Hương lên thay. Trước khi bàn giao, Tổng Thống Thiệu đã xuất hiện trên màn ảnh của đài vô tuyến truyền hình Saigon, nói chuyện để giã biệt quốc dân đồng bào miền Nam Việt Nam, với những lời nghẹn ngào phân bua là bị đồng minh Hoa Kỳ phản bội.
 
Ðến lượt tân Tổng Thống Hương cầm quyền, vẫn tiếp tục bị áp lực, nên ngày 25-4-1975, cũng lại phải tuyên bố từ chức, và yêu cầu Quốc hội Việt Nam Cộng Hoà đề cử người thay thế.
 
Ngày 27-4-1975, một số Dân cử trong Quốc hội chưa di tản, họp nhau lại thảo luận sôi nổi đến tối, và đi đến quyết định cuối cùng là ủy quyền cho Ðại tướng Dương văn Minh làm Tổng thống, để tiếp xúc với Việt cộng tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến.
 
Sáng sớm ngày 28-4-1975, ký giả Huy Vân (bút hiệu của Trung úy Nguyễn Trung Hoà, đã chết trong trại tập trung Tân Lập, Vĩnh Phú, Bắc Việt, năm 1978) Chủ bút Nhật báo Tiền Tuyến, đã trình cho Tôi (Chủ nhiệm) biết là, có nguồn tin chính xác từ giới thân cận Tướng Dương văn Minh cho hay, hôm nay ông Minh sẽ dùng trực thăng đi thị sát mặt trận Long Khánh, để bí mật tiếp xúc với người đại diện của Cộng sản Bắc Việt.
 
Buổi chiều cùng ngày 28-4-1975, ông Minh làm lễ nhậm chức, chỉ có mặt 2 vị Ðại sứ Hoa Kỳ và Pháp tham dự. Tối 28-4-1975 ông Minh tuyên cáo trên làn sóng đài phát thanh Saigon, yêu cầu Ðại sứ Hoa Kỳ rút hết nhân viên D.A.O. ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, để ông ta dễ thương thuyết với Cộng sản về giải pháp đình chiến.
 
Tướng Vĩnh Lộc, tân Tổng Tham mưu trưởng Quân lực VNCH, do Tổng thống Minh bổ nhiệm, xuất hiện trên màn ảnh của đài vô tuyền truyền hình Saigon, kêu gọi quân sĩ vững tâm duy trì kỷ luật tiếp tục chiến đấu, sau khi đã bầy tỏ những lời khinh chê các Tướng, Tá, hèn nhát bỏ quân đào ngũ trốn chạy như chuột.
 
Ngày 29-4-1975, trực thăng của Hoa Kỳ từ Hạm đội 7 đang hoạt động tại ngoài khơi Thái Bình Dương, bắt đầu dồn dập liên tục bay vào Saigon bốc người di tản, và chấm dứt vào tảng sáng 30-4-1975.
 
Saigon trong những ngày cuối tháng 4-1975 được đặt trong tình trạng giới nghiêm, tất cả các báo ngưng hoạt động, riêng chỉ có Nhật báo Tiền Tuyến vẫn phát hành hàng ngày, để gửi qua Cơ quan chuyển vận thuộc hệ thống Tiếp vận Quân đội chuyển đến các đơn vị. Việc này thực hiện được là nhờ Trung tướng Trần văn Trung Tổng Cục Trưởng Chiến tranh Chính trị, chỉ thị Cục Tâm lý chiến in hàng đêm, và chuyển sang Tiếp vận gửi đi. Ðại tá Phan Trọng Thiện, Cục Phó Cục Tâm Lý Chiến được lệnh tiếp xúc với Tôi làm việc này. Sau 30 tháng 4, Ðại tá Thiện cũng phải đi tập trung cải tạo. Chúng tôi cùng phải chuyển qua nhiều trại. Ðến năm 1982 đang ở trại Thanh Phong, Như Xuân, Thanh Hoá (nơi có trại Thanh Cầm mà CSVN đã dự tính đem tất cả vợ con tù cải tạo, đến cùng chồng định cư vĩnh viễn ở nơi vùng rừng núi Trường Sơn đó), thì Tôi được chuyển về trại Z30C, Hàm Tân, Thuận Hải, Nam Việt, còn anh Thiện bị chuyển ra vùng Nam Hà, Bắc Việt. Sau khi định cư tỵ nạn tại Hoa Kỳ, Tôi có dịp gặp lại anh Thiện, trong một kỳ họp mặt anh em Hội ái hữu Chiến tranh Chính trị Hải ngoại tại quận Orange, Nam California, nên biết được anh Thiện định cư tại Connecticut, Hoa Kỳ.
 
Chiều ngày 29-4-1975, đường phố Saigon bỗng dưng nhộn nhịp như vỡ chợ, mặc dù vẫn còn lệnh giới nghiêm. Xe dân sự, xe quân sự đua nhau chạy ngược chạy xuôi vội vã. Người ta đi tìm đến các điểm tập trung theo giấy thông hành di tản riêng quy định từ trước, để chờ trực thăng Mỹ bốc đi. Ðầy nghẹt xe cộ và người bu đông trước Toà Ðại sứ Mỹ ở đường Thống Nhất, và tại Bến Bạch Ðằng cuối đường Tự Do, khu gần Bộ Tư lệnh Hải Quân QLVNCH.
 
Khu Thị Nghè gần Tân Cảng, đồ hộp thực phẩm đủ loại lấy ở các kho của Mỹ đổ bán đầy đường, rẻ mạt, người ta tranh nhau mua về tích trữ. Những khu có các chung cư người Hoa Kỳ di tản, người ta ùn ùn kéo nhau vào hôi đồ đạc tự do, trước sự chứng kiến của Cảnh sát.
 
Khoảng 10 giờ ngày 30-4-1975, Dương văn Minh tuyên cáo qua làn sóng Ðài phát thanh Saigon, ra lệnh cho binh sĩ buông súng thôi không chiến đấu nữa, đợi Cách mạng vào bàn giao. Tôi rời Toà báo lái xe chạy sang Tổng cục, không thấy Trung tướng Trung, theo lời nhân viên văn phòng cho biết, Trung tướng được lệnh gọi sang họp bên dinh Tổng Thống.
 
Tôi lên xe chạy về đón vợ con tìm đường thoát xuống miền Tây, hoặc tìm tầu di tản. Bến Khánh Hội, bến Tân Cảng, không còn tầu. Ðường qua cầu Bến Lức đi miền Tây, đầy nghẹt xe hơi đủ loại đậu nối đuôi nhau dài hàng cây số. Ðường đi Vũng Tầu còn giao tranh nguy hiểm không đi được. Vô kế khả thi, Tôi đành chở vợ con vào trú tạm nhà người quen ở ngay khu bến xe Lục tỉnh, gần Viện Hoá Ðạo, sẵn sàng đón nhận tất cả những điều tồi tệ nhất sẽ đến với mình và vợ con mình.
 
Khoảng 4 giờ chiều 30-4-1975, không biết từ đâu về, bao nhiêu là đàn ông lực lưỡng nhào lên ngồi đầy trên tất cả các chiếc xe đò đi miền Tây, miền Ðông, nằm ụ tại đó từ những ngày bắt đầu giới nghiêm đến giờ, và yêu cầu các chủ xe chở họ đi miền Tây hoặc miền Ðông. Trong xe hết ghế, người ta ngồi đầy cả trên nóc xe. Hỏi ra mới biết là quân nhân thuộc Trung đoàn đóng ở cầu Bến Lức, đường đi Long An. Sau khi nghe lệnh Dương văn Minh yêu cầu buông súng đợi bàn giao cho Cộng sản, họ đã vứt bỏ quân trang vũ khí xuống sông, rời đơn vị đi tìm đường về quê quán với gia đình, chớ không đợi bàn giao cho Cộng sản như lệnh của ông Tướng phản bội chiến hữu, phản bội nhân dân miền Nam.
 
Cũng trong lúc đó, từ các ngõ hẻm, một số dân đi theo mấy anh Nhân dân Tự vệ mặc quần áo đen, cột mảnh băng vải đỏ nơi tay áo, lăm lăm cây súng, ùn ùn kéo nhau ra, trèo đại lên các xe GMC quân đội bỏ bên đường, lái đi hôi của tại các Kho hàng của Quân tiếp vụ QLVNCH ở phiá sau Chợ Cá Trần quốc Toản.
 
Một nhóm khác, gồm đôi ba Nhân dân tự vệ mặc quần áo đen, mang súng của VNCH cấp, cùng mươi lăm người dân lao động khác đeo nơi tay áo trái băng vải đỏ (những người Cách mạng 30 tháng 4), hô hoán kéo nhau ra Bình bông ngã 7, căng biểu ngữ và cờ nửa xanh nửa đỏ, có ngôi sao vàng ở giữa (cờ quân giải phóng miền Nam), đợi đón mừng giải phóng quân vào Thành phố.
 
Khoảng 5 giờ thì có 1 đoàn xe Molotova, chở mỗi xe chừng dăm bẩy anh Giải phóng quân, mặt non choẹt, xanh lét, búng ra sữa, dáng sợ sệt, ngồi bệt dưới sàn xe, tựa lưng vào nhau, tay ôm chặt khẩu AK của Cộng sản, quay mặt ngơ ngác nhìn lên các tầng lầu 2 bên phố mà đoàn xe chạy qua. Ðứng trên lầu cao nhìn xuống, thấy chẳng khác nào những con ếch ngồi trong đáy thùng thiếc mà người ta đem ra chợ bán vậy. Trông thật đáng tội nghiệp, chẳng thấy tý hào khí nào của những anh hùng giải phóng, kiêu hãnh như các anh Cán bộ Cộng sản Bắc Việt cả.
 
Big MINH (1) hàng, thế là xong
Nghe lời tuyên cáo mà lòng nát tan.
Thất thần, cổ nghẹn, lệ tràn,
Tim rung loạn nhịp, thời gian đọng chìm.
Bàng hoàng như gẫy cánh chim,
Không gian đảo lộn, khó tìm lối ra.
Thôi rồi ! mất nước mất nhà,
Bao năm chiến đấu bôn ba ích gì?
Sóng lùa Dân chủ trôi đi,
Tự do biến mất còn chi cuộc đời.
Xuôi tay phó mặc ông Trời,
Chờ coi đảng cướp thị oai thế nào.
Xem bầy phản bội ra sao,
Vinh thân hay cũng phải vào ngục đen.
Cộng Hoà Chiến sĩ chẳng hèn,
Lột Quân trang phục vứt bên lề đường.
Tản đi khắp nẻo Quê hương,
Không hàng Việt Cộng, như phường Big MINH.
 
Saigon, Tháng 5-1975.
(1) Hoa kỳ thường gọi Dương văn Minh bằng Big MINH, để phân biệt với Thiếu tướng Trần văn Minh Tư lệnh Quân khu 1, sau này được thăng Trung tướng, đi làm Ðại sứ đại diện Việt Nam Cộng Hoà tại các nước thuộc Phi Châu.
 
Chương 2
 
CHƠI VƠI GIỮA DÒNG SÓNG ÐỎ.
 Lúc mười giờ sáng 30-4-1975, qua làn sóng đài phát thanh Saigon, Dương văn Minh chính thức tuyên bố đầu hàng, dâng miền Nam Việt Nam cho Cộng sản Bắc Việt xâm lăng. Ðến tối, Trần văn Chà tướng Việt cộng, Chủ tịch Ban Quân quản Saigon, ra thông cáo cũng đọc trên làn sóng đài phát thanh Saigon, buộc tất cả Quân nhân, Công chức thuộc Chế độ Saigon cũ phải đến nhiệm sở để trình diện kể từ ngày 1-5-1975. Ai không thuộc các đơn vị ở Saigon, phải đến trình diện tại Phường nơi gia đình đang cư ngụ hoặc tạm trú.
 
Ngày 1-5-1975, Ủy ban Quân quản Saigon tổ chức Mít-tinh mừng ngày Quốc tế Lao động và Thống nhất đất nước, rất lớn tại đường Thống Nhất trước dinh Ðộc Lập. Chắc chắn sẽ có nhiều người hiếu kỳ và bọn “Cách mạng 30 tháng 4” ra đường, nên Tôi quyết định không đi trình diện vào ngày đó. Hơn nữa, Vợ Con tôi cũng khuyên, trong lúc còn hỗn quân hỗn quan, tình hình chưa hoàn toàn ổn định không nên ra đường, e có thể gặp những kẻ xấu đón gió trở cờ, hại mình để lập công với quân Giải phóng thì thiệt thân.
 
Sau khi nghe lời thông cáo của Trần văn Trà, hai người con lớn của Tôi cưỡi xe đạp đi tìm gặp Hạ sĩ D., một nhân viên làm việc trong Văn phòng của Tôi, nhà cũng ở khu Bàn Cờ gần nơi gia đình tôi đang tạm trú, để tìm hiểu xem gia đình anh ấy có di tản không? Nếu anh ấy còn ở đó với gia đình, thì tìm hiểu xem anh ấy đã đi trình diện chưa? Hạ sĩ D. có nhà riêng 3 tầng ngay bên mặt lộ lớn, giữa trung khu Bàn Cờ. Các tầng lầu để ở, tầng trệt dưới cùng mở cửa hàng bán sách, dụng cụ cắm trại và các loại huy hiệu trang phục cho Hướng đạo sinh. Gia đình anh D. người miền Trung, thuộc dòng gốc theo đạo Thiên Chúa. Cha anh D. có nhiều liên hệ quen thân với các Linh mục đang trách nhiệm các cơ sở dòng tu và Nhà Thờ tại thị xã Vũng Tầu.
 
Nửa tiếng đồng hồ sau, các con Tôi trở về có anh D. đi theo. Thấy Tôi, anh em ôm nhau mừng rỡ. Vì cùng là Huynh trưởng Hướng đạo, nên xưa nay chúng tôi vẫn đối xử với nhau không theo cung cách cấp bậc Quân đội. Anh D. xửng sốt kêu : “-Sao Anh không di tản đi?”. Tôi trả lời cũng có tìm đường đấy, nhưng không gặp giây, đành chịu vậy biết làm sao bây giờ.
 
Trong những dịp tổ chức Trại huấn luyện Huynh trưởng Hướng đạo Quân đội, tại Long Thành hoặc Vũng Tầu hồi trước 30-4-1975, Tôi thường đưa Vợ và các Con đến dựng lều ở chơi trong Trại, nhờ thế các Con tôi và anh D. có nhiều cảm tình thân thiết với nhau. Hẳn là các Con tôi đã nói gì với anh D. trước, nên để trấn an tinh thần cho Tôi, anh ấy nói tiếp ngay : “-Mồng hai, em mới đi trình diện. Em sẽ ghé lại đèo Anh cùng đi bằng Honda của em. Anh đừng lo. Mồng một, người ta tổ chức mít tinh lớn lắm, sẽ có đông người, Anh không nên ra đường.”
 
Anh D. cũng khoe rằng, một người thân của Cha anh ấy đi tập kết mới trở về có ghé thăm gia đình, cho biết là cứ yên tâm đi trình diện, làm thủ tục xong sẽ được tạm về chờ lệnh Nhà nước gọi đi học tập sau. Hạ sĩ quan, Binh sĩ như anh ấy, thì sẽ học tập 3 ngày tại địa phương. Còn Sĩ quan là những người quan trọng hơn lính, sẽ phải đi cải tạo một thời gian, rồi mới được trở về hội nhập vào xã hội mới Xã hội Chủ nghiã.
 
Sáng ngày 2-5-1975, anh D. đem Honda đến đón Tôi cùng đi trình diện, tại trụ sở Tổng cục Chiến tranh Chính trị, số 2 Ðại lộ Thống Nhất, Saigon. Trên dọc đường đi anh D. dặn Tôi, khi đến nơi hãy đứng ở ngoài cổng giữ xe, để anh ấy vào thăm thú xem tình hình ra sao. Nếu thấy thuận lợi không có gì nguy hiểm thì sẽ trở ra kêu Tôi vào. Còn ngược lại thì sẽ ra đưa Tôi về nhà tìm phương cách khác.
 
Văn phòng Tổng cục trưởng của Trung tướng Trung, được dùng làm nơi trình diện và hoàn tất các thủ tục khai báo. Anh D. vào được 5 phút thì quay ra khoá cổ xe Honda và rủ Tôi cùng vào.
 
Khoảng 20 Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ thuộc Tổng cục đã đến từ trước ngồi đầy các ghế, Tôi và anh D. ngồi vào 2 ghế còn trống trên hàng đầu.
 
Một Cán bộ Cộng sản, mặc bộ đồ Tác chiến xám mầu cứt ngựa, không thấy đeo cấp hiệu, ngồi nơi bàn làm việc của Tướng Trung, vẫy tay kêu từng người lên làm việc theo thứ tự tới trước sau. Sau này khi nhận được giấy chứng nhận đã trình diện do ông ấy ký, Tôi mới biết tên là Việt, cấp bậc thì không rõ vì không ghi trên giấy.
 
Tôi ngồi trên chiếc ghế ở hàng đầu, sát gần trước bàn giấy ông Việt đang ngồi, được một lúc thì thấy cánh cửa phiá thông qua phòng tùy viên bật mở. Một người cũng mặc đồ trận, vai đeo chiếc máy ảnh dã chiến loại nhà nghề, tay trái đeo một băng vải đỏ (cách mạng 30 tháng tư), bưng phích nước trà sâm bước ra để lên bàn.
 
Liếc nhìn thấy Tôi, người này ghé tai nói nhỏ điều gì với ông Việt, rồi đi trở vô trong. Một phút sau trở ra, để lên bàn trước mặt ông Việt một mẩu giấy nhỏ. Nhờ thế, Tôi nhận ra được người kia chính là anh Hạ sĩ quan chuyên viên chụp ảnh của Cục Tâm Lý Chiến, thường được chọn lựa cho đi theo ghi những hình ảnh phóng sự, hoạt động của Tổng thống Thiệu và các cấp Lãnh đạo lớn trong Chính phủ VNCH trước 30-4-1975.
 
Ông Việt liếc mắt đọc mảnh giấy xong, ghé sát tai anh ta nói nhỏ. Sau đó anh ta đi vào bên trong mất hút. Hai phút sau, có tiếng nói ở cuối Phòng, yêu cầu mọi người tạm sang phòng Họp kế bên chờ, Cán bộ cần làm việc riêng một lúc. Tôi đứng lên thì ông Việt nói : “-Mời Ðại tá ngồi đó, tôi có chuyện hỏi riêng.”
 
Tôi giật mình, không biết chuyện gì sẽ xẩy ra, nhưng vẫn bình tĩnh ngồi xuống. Ðã rơi vào tay Cộng sản, thì trước sau rồi cũng chết có gì mà phải lo.
 
Chẳng có gì đặc biệt, ông ấy hỏi Cấp bậc, Chức vụ trong Tổng cục, lý lịch cá nhân, có mấy con, bây giờ Vợ Con đang ở đâu, quá khứ hoạt động trong chính quyền cũ, tên các cấp chỉ huy các cơ quan và đơn vị mình đã phục vụ, bây giờ họ ở đâu?… và sau cùng yêu cầu nộp súng cá nhân, y như đã làm đối với mọi người đã trình diện trước vậy thôi.
 
Khi Tôi nộp khẩu súng lục có ổ quay tròn và hộp đạn xong, ông ấy hỏi : “-Không có dao găm à?” Tôi trả lời Sĩ quan Quân đội chúng tôi đâu có được phát dao găm. Ông ta gật đầu rồi hỏi tiếp : “-Ðại tá có biết bây giờ Trung tướng Trung đang ở đâu không?” Tôi trả lời, hồi sáng sớm 30-4-1975, Tôi còn tiếp xúc với Trung tướng Trung qua điện thoại Văn phòng này, bây giờ thì không biết Tướng Trung ở đâu.
 
Sau khi hỏi cung Tôi xong, mọi người lại được mời trở lại chỗ ngồi như trước. Ông Việt yêu cầu một anh em nào đó đang có mặt trong Phòng phát biểu ý kiến. Anh D. xung phong nói : “-Ăn cây nào thì phải rào cây nấy, sống dưới Chế độ miền Nam thì chúng em phải tuân hành luật lệ như mọi người, thi hành nghiã vụ quân sự vậy thôi. Bây giờ Cách mạng thành công, đất nước thống nhất dưới quyền của Cách mạng, thì chúng em chỉ muốn được tiếp tục sống như những người dân bình thường, tuân theo luật lệ của Nhà nước Cách mạng.”
 
Ông ấy gật đầu rồi chỉ tay vào Tôi hỏi : “-Ðại tá có ý kiến gì không ?”
 
Tôi chậm rãi hỏi : -Cán bộ có thể cho Tôi biết Cấp bậc của Cán bộ, để tiện xưng hô không?
 
Ông ta nói : “-Ðối với chúng tôi cấp bậc không quan trọng, Ðại tá cứ gọi Cách Mạng là được rồi.”
 
Tôi bình tĩnh nói : -Cách mạng và chúng tôi, mỗi bên đi theo một lý tưởng xây dựng kiến thiết Quốc gia khác nhau, nay chúng tôi thua, trở thành tù binh của Cách mạng, thì tùy quyền xét xử của Cách mạng. Làm gì thì chúng tôi cũng phải chịu. Chỉ xin một điều duy nhất, là Vợ Con của chúng tôi không liên hệ gì vào công việc làm của chúng tôi, cũng như bao nhiêu người dân sống ở miền Nam này vậy, xin hãy đại lượng cho họ được tiếp tục sinh sống như mọi người dân thường khác.
 
Ông ấy nói : “-Cách mạng rất Ðại lượng và Công bằng, các anh cứ yên tâm đừng lo, tôi sẽ cấp giấy chứng nhận đã trình diện để các anh ra về thong thả, và ở nhà đợi lệnh Nhà nước sẽ gọi đi học tập cải tạo một thời gian, chắc chắn không lâu bằng thời gian đã phục vụ trong Chế độ cũ đâu.” Và để trấn an mọi người, ông Việt với giọng ôn tồn thân thiện trịnh trọng nói thêm : “-Tội ai làm nấy chịu, Vợ con không liên can gì, vẫn được cư xử công bằng như mọi người dân bình thường khác. Cách mạng không bao giờ nói sai đâu. Các anh cứ yên tâm.”
 
Sau khi nhận giấy đã trình diện xong, Tôi thở phào nhẹ nhõm, mừng vì có được thêm thời gian lo ổn định nơi ăn chốn ở cho Vợ Con, trước khi ly biệt nhau không hy vọng ngày trở lại. Anh D. vui mừng khoác tay Tôi kéo đi vội ra cổng, làm như sợ người ta đổi ý kiến.
 
Tới cổng, trong khi anh D. mở khoá cổ xe Honda, Tôi ghếch ngồi lên nệm phía sau lưng anh ấy, người bộ đội gác cổng nhìn Tôi hất hàm hỏi : “-Hộ lý của anh đấy à?”. Anh D. nhanh miệng trả lời : “-Không, anh này làm chung một chỗ với em, nhà ở gần nhau, nên cùng đi cho vui vậy thôi.” đồng thời lẹ làng mở máy xe, thả ga vọt đi thật nhanh chở Tôi về căn nhà gia đình Tôi đang tạm trú.
 
Ðến chiều tối, anh D. đến mời cả gia đình Tôi, sang tạm trú tại nhà riêng của anh ấy cho được “bảo đảm” an ninh hơn. Vì nhờ ông thân sinh của anh ấy, có người thân thuộc hàng Cán bộ đi tập kết về, được xe hơi nhỏ của Nhà Nước chở tới nhà thăm gia đình, xóm giềng ai cũng thấy, nên Cán bộ địa phương và bọn “Cách mạng 30 tháng tư” không dám héo lảnh làm phiền.
 
Hồi cuối năm 1995 hay đầu 1996, Tôi không nhớ rõ ngày, nhân dịp về dự Trại Họp bạn Hướng đạo Việt Nam tại vùng Quận Orange Nam California, anh D. được Mục sư Nguyễn quang Minh, cũng là một Huynh trưởng Hướng đạo Việt Nam trước kia, cho biết tin về Tôi. Anh D. đã gọi điện thoại hỏi xin địa chỉ, và nhờ bạn lái xe đưa đến tận nhà thăm Tôi và gia đình. Nhờ thế Tôi được biết gia đình anh D. cũng đã vượt biên sang Hoa Kỳ, và đang định cư tại Tiểu bang Texas.
 
Cái kỳ anh em chúng tôi phải trình diện Quân CSBV lần thứ nhất, tại nhiệm sở hồi đầu tháng 5-1975, không ai bị giam giữ ngay, ngoại trừ một thiểu số đặc biệt đã bị họ ghi tên trong sổ đen từ trước. Theo Tôi nghĩ, có lẽ một là vì chưa có lệnh của Hànội, hai là các đơn vị Cộng sản còn đang bận tiếp tục hành quân tiến chiếm các Tỉnh miền Tây chưa xong, nên chưa kịp thu xếp nơi giam cũng như không có người để canh giữ, hàng chục ngàn sĩ quan trong một lúc tại Saigon.
 
Trong thời gian được ở nhà chờ lệnh gọi đi trình diện học tập cải tạo, có một số Sĩ quan cao cấp (trong đó có Tôi) bị gọi riêng để thẩm vấn nhiều lần, tại mấy căn nhà trên con đường bên hông sau Toà Ðại sứ Anh quốc đường Thống Nhất (Tôi không nhớ tên đường). Họ hỏi về Tổ chức và nhiệm vụ của những Cơ quan Ðơn vị mình đã phục vụ, suốt từ khi nhập ngũ cho đến ngày 30-4-1975, tên các người chỉ huy mình… Sau suốt một ngày thẩm vấn, có người được ra về, có người bị giữ lại thấm vấn tiếp, rồi đưa đi đâu không ai biết.
 
Vào gần cuối tháng 5-1975, Ban Quân quản Saigon lại ra thông cáo buộc mọi người phải trình diện lần thứ 2, tại đường Trần Hoàng Quân, Chợ Lớn. Lần này, họ tịch thu thẻ căn cước dân sự, thẻ Sĩ quan, và cấp cho một mảnh giấy chứng nhận đã trình diện chờ ngày đi tập trung cải tạo.
 
Hôm ấy, Tướng, Tá, Úy Nam Nữ đến trình diện rất đông. Tôi gặp một số bạn quen biết tại Saigon, và rất nhiều người lạ từ các địa phương chạy về Saigon tá túc. Nét mặt ai nấy đăm chiêu ngại ngần, không dám vồn vã chào hỏi nhau như thường lệ. Ngoại trừ một thiểu số (cách mạng 30 tháng Tư) có vẻ mặt hoan hỉ, quan trọng, lạnh lùng, làm ngơ trước bạn bè cũ như chưa bao giờ quen biết nhau. Nhưng đến giữa tháng 6-1975, tới nơi trình diện tập trung cải tạo, Tôi lại gặp những người này cũng phải đi chung với chúng tôi.
 
Trong thời gian chưa bị đưa đi tập trung cải tạo, Tôi đã tiếp xúc với một số Huynh trưởng Hướng đạo Quân đội còn ở lại Saigon, tìm đường giây vượt biên nhiều lần nhưng không thành, đành chịu bó tay ngồi chờ sự bất hạnh chung với các chiến hữu khác.
 
Tới tháng 6-1975, mặc dù Trung Ương Ðảng CSVN tại Hànội chưa soạn xong các tài liệu nhồi sọ, cũng như chưa huấn luyện xong Cán bộ giảng huấn, mà vẫn phải ra lệnh tập trung, vì nhiều người tìm cách vượt biên. Ðồng thời cũng có những tổ chức Phục quốc hoạt động bí mật, ám sát Cán bộ Cộng sản xâm lược miền Nam Việt Nam, ngay trong thành phố Saigon Chợ Lớn.
 
Hạn chót phải đi trình diện tập trung là 15 tháng 6 năm 1975, nhằm ngày Ðoan Ngọ, 5 tháng 5 âm lịch năm Ất Mão. Năm người con lớn, dùng xe đạp chở và theo tiễn Tôi đến nơi trình diện. Chỉ còn 2 người con gái 13 và 10 tuổi ở lại nhà cùng Vợ tôi, trông nhà không đi.
 
Một toán Bộ đội giải phóng đặt súng liên thanh, làm nút chặn ngay tại Bình bông ngã sáu đầu đường Minh Mạng, cách Ðại học xá Minh Mạng địa điểm trình diện khoảng mấy trăm thước. Cha Con chúng tôi phải chia tay nhau tại Bình bông này.
 
Trong khi ôm hôn từ biệt, thấy nét mặt thơ ngây đôn hậu ngơ ngác của các Con, một nỗi buồn man mác xâm chiếm xé tim gan làm Tôi xúc động rưng rưng lệ. Không biết các Con của Tôi lúc đó có nghĩ rằng, đây có thể là lần chót Cha Con được nhìn thấy mặt nhau không? Hay chúng vẫn an tâm, đinh ninh hy vọng ở lời tuyên bố ngọt ngào trịnh trọng khoan hồng nhân đạo của Cách mạng, là 30 ngày sau, Cha Con, Vợ Chồng lại đoàn tụ bên nhau xây dựng cuộc sống mới.
 
Thật là giây phút não nuột nhất trong cuộc đời Tôi, không thể tìm ra lời nào tả được đầy đủ cái cảm giác xúc động đau đớn này.
Bánh tro Ðoan Ngọ vàng trong,
Anh hùng thất thế đành lòng nộp thân.
Vợ con lo lắng tiễn chân,
Hoang mang, ngơ ngác, tần ngần lệ rơi.
Tháng Tư đại nạn đổi đời,
Vì Dân nay phải vào nơi đọa đầy.
Tự do giã biệt từ đây,
“Chim lồng cá chậu” biết ngày nào ra.
Chơi vơi đâu chỉ riêng Ta,
Toàn dân Nam Việt lệ nhòa đau thương.
Kiêu binh Cộng sản đầy đường,
Bợ thời phản bội khối phường tiểu nhân.
Từng quen luồn cúi kiếm danh,
Nhiễu nhương lật lọng ôm chân kẻ thù.
Bọn thì đội lốt nhà Tu,
Xúi người khác đạo gây thù hại nhau.
Con buôn chính trị hoạt đầu,
Vội mang băng đỏ dép râu làm hề.
Lăng xăng mừng Cách mạng về,
Tung tăng bợ đỡ làm thuê không tiền.
Du côn, đứng bến, nằm hiên,
Bỗng dưng đời đổi, nắm quyền trị dân.
Cướp đường, trộm chợ, phu khuân,
Hóa thành Cách mạng, áo quần bảnh bao.
Ủy ban Quân quản ra vào,
Tiền hô hậu ủng, Cờ sao đỏ đường.
Ðổi đời rối loạn Âm Dương,
Ðảng đoàn, chồn cú, ma vương hoành hành.
Khắp nơi xú uế hôi tanh,
Còn đâu không khí trong lành Tự do.
Sài – gòn đổi ra Thành Hồ,
Mặc tình bè lũ Tam Vô hại đời.
 
Saigon, Ðoan Ngọ Ất Mão, Tháng 6-1975.
 
Chương 3
 
BẮT ÐẦU CUỘC ÐỔI ÐỜI
 
Sau khi chiếm được Saigon, Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam (hậu thân của Mặt trận Giải phóng miền Nam) ban hành lệnh đổi tên Thành phố Saigon, nguyên Thủ đô của Việt Nam Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam, ra Thành phố Hồ Chí Minh.
 
Họ cũng buộc tất cả mọi nhà phải treo cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam (nửa xanh nửa đỏ có sao vàng 5 cạnh ở giữa), cờ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của miền Bắc Xã hội Chủ nghiã (nền đỏ, sao vàng) nơi trước cửa, và trong nhà treo ảnh Hồ Chí Minh. Những nhà thuộc loại Ðảng viên Cộng sản, còn hãnh diện treo thêm cờ Búa Liềm của Ðảng Cộng sản Quốc tế. Những nhà người Việt gốc Hoa, ngoài 2 lá cờ của Cộng sản Việt Nam (CSVN), phải treo thêm cờ Trung Cộng. Thật là đầy đủ mầu sắc của Quốc tế Cộng sản, tràn ngập khắp nẻo ngõ ngách đường phố trên đất nước Việt Nam.
 
Ðến khoảng cuối tháng 5-1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, ra thông cáo buộc tất cả Quân nhân, Công chức, thành viên Ðảng phái Chính trị không Cộng sản phải đi trình diện một lần nữa. Các Sĩ quan QLVNCH thì trình diện tại đường Trần Hoàng Quân bên Chợ Lớn, nơi gần nhà máy sản xuất Bia và nước ngọt. Họ thu thẻ căn cước và cấp giấy chứng nhận tạm, để dùng cho đến ngày đi học tập cải tạo.
 
Một hôm, nhân đi ngang đường Lê Lai gần chợ Bến Thành, Tôi gặp Hạ sĩ T. nguyên là thư ký trong Ban Trị sự của Nhật báo Tiền Tuyến, đang đứng lớ ngớ trước cửa nhà. Thấy Tôi, anh ấy vồn vã mời vào nhà chơi, để trao đổi tin tức thời sự nóng bỏng về tình hình hiện tại, đang xẩy ra trong vùng Saigon, Chợ Lớn, Gia Ðịnh.
 
Vào đến trong nhà, Tôi giật mình định lui ra. Nhưng anh T. đã nhanh nhẹn ôm ngang lưng Tôi kéo đại vào, và giới thiệu với 3 người Bộ đội Cộng sản, bằng một giọng rất thản nhiên : “-Thưa các anh, đây là chồng Chị Hai của em ở Ngã Tư Bẩy Hiền, nhân hôm nay có dịp đi chợ Bến Thành ghé thăm vợ chồng chúng em. Anh ấy là giáo viên Trung học.” Tôi nhoẻn miệng cười xã giao, gật gật đầu chào mấy người kia xong, thì anh T. kéo vội Tôi lên lầu tâm sự.
 
Anh T. cho biết, 1 trong 3 người Bộ đội này là người đi tập kết ra Bắc hồi 1954, nay theo đoàn quân CSBV giải phóng trở về Nam. Người đó tên Thọ (không phải Lê đức Thọ), là anh họ bên vợ của anh T.
 
Khu phố gia đình anh T. đang ở, nhà nào cũng phải tiếp nhận 3 Bộ đội Giải phóng cư trú trong nhà mình như vậy, theo chính sách “BA CÙNG” của Chính quyền Phường (cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt). Anh T. hỏi thăm khu Tôi ở có vậy không, Tôi lắc đầu.
 

Tiếp theo, anh T. thì thầm kể câu chuyện tâm sự của ông anh họ Vợ, đi tập kết trở về rất lý thú như sau :

“Trong khi học tập chuẩn bị trở về Nam, anh Bộ đội tập kết được Ðảng và Nhà nước Cộng sản Bắc Việt rỉ rả tuyên truyền ngày đêm rằng :
 
-Ðồng bào miền Nam Việt Nam bị Mỹ Ngụy cấu kết nhau bóc lột rất tàn bạo.
 
-Dân lao động phải ở chui rúc trong những nhà ổ chuột, dựng bằng loại giấy cứng dùng làm thùng chứa hàng hoá do Mỹ thải ra, bên những bãi đổ rác cao như núi hôi thối.
 
-Ðàn ông, đám trẻ bị bắt đi lính, còn đám già ở nhà thất nghiệp. Ðàn bà con gái phải đi làm đĩ điếm kiếm tiền giúp gia đình, vô cùng nhục nhã …
Vì thế chúng ta phải nhanh chóng tiến hành công cuộc Giải phóng, để cứu Ðồng bào ruột thịt Nam Bộ đang sống quằn quại đau khổ. Các đồng chí cần dành dụm tiền, để mang về cứu giúp họ hàng thân quyến khỏi cảnh khổ cực hiện nay.”
 
Anh Bộ đội đã chắt bóp, để dành suốt mấy chục năm trời được 2 ngàn Ðồng bạc Cụ Hồ, chắc mẩm rằng khi thân quyến tại miền Nam nhận được món tiền của anh cho, sẽ mừng rỡ tới mức nào. Chắc chắn mọi người cũng sẽ thấy được, công lao bao năm theo Cách mạng của anh thật xứng đáng, và anh sẽ “vô cùng hồ hởi” hãnh diện với bà con làng nước.
 
Nhưng không ngờ, khi trở về gặp gia đình thì Cha Mẹ đã qua đời. Người anh duy nhất cũng đã già, có vợ và 3 con đã lớn, đứa nào cũng đi làm, có xe máy dầu Honda, Suzuki riêng. Gia đình người anh đang ở trong căn nhà riêng 3 tầng lầu với 4 phòng ngủ, có xe hơi nhỏ như các Ðồng chí Bộ trưởng ở Hànội vậy. Nhà ở ngay mặt đường lớn Khu Bàn cờ, Saigon. Hai tầng lầu để ở, còn tầng dưới cùng thì phiá trong làm phòng khách, phòng ăn, nhà bếp, phiá trước mở tiệm bách hoá, bán đủ thứ đồ dùng và gia dụng hàng ngày cho đồng bào hàng phố, mua sắm tự do. Không như ngoài miền Bắc Xã hội chủ nghiã, không ai được mở cửa hàng buôn bán riêng. Mọi người tùy theo chức vị công tác, được Nhà Nước cấp “tem phiếu” theo “hộ khẩu”, riêng cho từng “cấp mặt hàng”, đem đến “nhà hàng quốc doanh” mới có mà mua. Nhiều khi chậm chân, không còn hàng để mua.
 
Món tiền 2 ngàn Cụ Hồ mà anh ta đem về cứu giúp, không đủ để trang bị một căn phòng tắm bên mỗi phòng ngủ. Chung quanh tường cẩn toàn gạch men trắng toát. Bồn tắm, bồn rửa mặt, bồn ngồi đại tiện, toàn bằng sứ tráng men nhập cảng từ nước Ý (Italia).
 
Trước thực tế hiển nhiên, Anh bộ đội đi tập kết về vỡ mộng, tức giận vì không ngờ bao năm qua đã bị Cộng sản tuyên truyền lừa bịp xảo trá. Bây giờ, tuổi Ðảng cũng được cả chục năm rồi, ân hận vô cùng, nhưng phải cam lòng ngậm đắng nuốt cay một mình, chẳng dám hé môi.
 
Khoảng đầu tháng 6-1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam ra lệnh, và các phường khóm thúc đẩy, mọi Quân Cán Chính chế độ cũ phải chuẩn bị đi trình diện tập trung học tập cải tạo một tháng, hạn trình diện quy định trong 3 ngày 13, 14 và 15-6-1975.
 
Nơi trình diện tập trung các Sĩ quan cấp Tướng và Ðại tá, không phân biệt Nam Nữ, là khu Ðại học xá Minh Mạng ở đường Minh Mạng Chợ Lớn. Còn các Nam Nữ sĩ quan cấp Trung tá, Thiếu tá, Úy, và nhân viên Hành chánh thì tập trung tại các nơi khác. Tôi không quan tâm nên không nhớ rõ những nơi nào.
 
Tôi đợi tới ngày sau cùng, tức là 15-6-1975 mới đi trình diện. Suốt đêm hôm trước trằn trọc không ngủ được. Vợ Chồng Con cái dặn dò nhau đủ thứ chuyện. Tôi dặn Vợ, nếu có thể tìm được đường dây vượt biên thì Mẹ Con cứ việc giắt nhau đi, phần Tôi sẽ tự tính lấy sau. Tôi dặn như vậy, vì Tôi có người con trai lớn du học bên Hoa Kỳ từ năm 1971, vào năm 1975 cậu ấy đã tốt nghiệp Kỹ sư điện tử, đủ khả năng lo cho Mẹ và các Em trên đất Hoa Kỳ.
 
Tôi chia trách nhiệm cho các con lớn nào, phải lo săn sóc em nhỏ nào. Rồi dặn tất cả mọi người hãy nhớ lấy ngày Ðoan Ngọ (5 tháng 5 Âm lịch) hàng năm, để làm giỗ cho Tôi nếu sau này Tôi không trở về, hoặc không biết được Tôi đã chết ở đâu vào ngày nào.
 
Sáng sớm 15-6-1975 (ngày Ðoan Ngọ), chuẩn bị túi đeo lưng đựng quần áo, chăn mùng, và các vật dụng để ăn uống hàng ngày xong, cả nhà đang ăn sáng, thì có đoàn cán bộ Phường tới nhà “kiểm tra nhân số Hộ khẩu”. Họ hỏi Tôi đi đâu, Tôi trả lời đi trình diện học tập cải tạo, hôm nay là ngày hạn chót. Lúc đó họ mới biết Tôi là Ðại tá Quân lực Việt Nam Cộng hoà (QLVNCH), và ghi hàng chữ Ðại tá thật lớn trên tờ Hộ khẩu.
 
Từ ngày quân Cộng sản vào Saigon, gia đình tôi không được trở lại cư trú trong căn cư xá Sĩ quan trong Trại Trần Hưng Ðạo. Ðồ đạc, áo quần, giấy tờ hộ tịch khai sanh, hôn thú, bằng cấp, hình ảnh kỷ niệm của gia đình… đều bị mất hết. Chúng tôi mua vội được căn nhà 3 tầng bán rẻ, của một ông chủ tiệm bán đồ gỗ, tại mặt đường Trương Minh Ký gần ngã tư Huỳnh Quang Tiên. Ông bà già này cần về sống tại vùng xóm đạo Gia Kiệm, vì có 2 người con gốc Cảnh sát quốc gia và Hải quân, đã di tản trước ngày 30-4-1975. Tôi khai mất sổ gia đình để xin tờ Hộ khẩu mới, và ghi nghề nghiệp là Giáo viên Trung học.
 
Lúc 10 giờ, năm người Con lớn, dùng 3 chiếc xe đạp đưa Tôi lên đường tới Ðại học xá Minh Mạng để trình diện. Khi tới Bình Bông ngã 6 đầu đường Minh Mạng, nơi dựng tượng An Dương Vương đài thánh Tổ Binh chủng Công Binh trong QLVNCH, thấy có toán bộ đội kiểm soát lưu thông, cản không cho người và xe cộ đi vào đường Minh Mạng. Những người trình diện phải đi bộ, vác hành trang vào một mình, trên khoảng đường dài cả mấy trăm mét. Cha Con chúng tôi ôm nhau hôn chia tay, trước sự nhòm ngó thản nhiên của Dân chúng hiếu kỳ, đang đứng xem tại các góc đường quanh Bình Bông, và những đôi mắt tròn xoe ngạc nhiên, của mấy người Bộ đội Cộng sản đang làm nhiệm vụ kiểm soát.
 
Ðeo túi hành trang lên vai, Tôi thong thả một mình đi giữa lòng con lộ, có những cây cao đổ bóng mát xuống 2 bên đường. Con đường mà trước đây, Tôi đã từng lái xe đưa 2 người con trai, đến học tại trường Trung học Chu văn An, gần bên Ðại học xá.
 
Ðường vắng tanh, không một tiếng động cơ xe hơi, xe Lambretta, xe máy dầu làm náo động. Cũng chẳng một bóng người qua lại, chỉ có một mình Tôi cô đơn thầm lặng, vừa đi vừa nghe tiếng gót chân của chính mình, ình ịch nặng nề nện trên đường phố.
 
Tôi chợt lo, không biết có ai đi trình diện không hay chỉ có một mình mình thôi. Rồi lại tự nhủ thầm để tự chấn tĩnh mình. Chắc người ta muốn cho Cách mạng thấy thiện chí muốn cải tạo để sớm trở thành Công dân Xã hội chủ nghiã, nên đã sốt sắng đi trình diện sớm hết cả rồi, chỉ còn mình là chót thôi. Nếu đúng vậy thì cũng phiền, mình sẽ bị quan tâm theo dõi, thật nguy hại cho tương lai suốt thời gian học tập.
 
Trong khi đi, thỉnh thoảng Tôi ngừng lại quay mặt về phiá sau, nhìn xem các Con còn đứng ở đầu đường dõi theo mình không? Chúng vẫn còn đó, Tôi xúc động bật lên khóc một mình không sao cầm nổi. Từ ngày đón chúng vào đời đến nay, có bao giờ nghĩ rằng có thể xẩy ra cảnh ngộ chia ly đau đớn như thế này đâu. Thật tội nghiệp cho mấy đứa trẻ thơ, chúng đâu có tội tình gì.
 
Tôi tới nơi trình diện lúc 12 giờ trưa. Sau khi làm các thủ tục giấy tờ khai báo lý lịch cá nhân, đóng tiền ăn 1 tháng xong, người ta chỉ Tôi lên lầu kiếm chỗ nào trống thì nằm vào đó. Lâu quá rồi, Tôi không nhớ số tiền ăn đã phải đóng là bao nhiêu. Trong khi đưa tờ biên nhận tiền cho Tôi, nhân viên nhận tiền thông báo : “-Vì mới đến đóng tiền trễ vào giữa ngày, không có phần ăn buổi tối, phải tự túc.” Tôi gật đầu không nói gì và cũng chẳng lo. Vợ tôi cẩn thận biết lo xa, đã chuẩn bị cho nắm cơm, mấy trái trứng luộc với ít muối tiêu, khúc bánh mì cặp thịt, và bi đông nước chín, để trong túi đựng quần áo từ trước khi rời nhà ra đi rồi.
 
Lên hết cầu thang, trong lúc đi rảo qua các phòng tìm chỗ, bất chợt Tôi thấy Tướng Nguyễn Hữu Có, bạn tốt nghiệp cùng Khoá 1 Sĩ quan Trường Võ bị với Tôi hồi tháng 6 năm 1949, dơ tay vẫy chào. Tôi tiến tới bắt tay chào, và hỏi : -Sao anh không đi, Chị và các cháu có đi được không? Ông ấy lắc đầu, hỏi lại : “-Mới tới à?” Tôi gật đầu rồi quay đi tìm chỗ nằm.
 
Mọi phòng đều chặt cứng. Cuối cùng Tôi tìm được một chỗ trống, ở căn phòng gần bên phòng vệ sinh chung của tầng lầu. Bước chân vào phòng, Tôi vui mừng yên bụng vì gặp được vài người quen, còn toàn người chưa có dịp gặp bao giờ.
 
Vừa ổn định xong chỗ nằm trên sàn nhà, thì Thiếu tướng Văn Thành Cao, gốc Lực lượng võ trang Cao Ðài, trước 30-4-1975 làm Tổng cục phó Tổng cục Chiến tranh Chính trị QLVNCH, đến gặp Tôi bắt tay và ghé tai thì thầm nói nhỏ : “-Chốc nữa nếu có Cán bộ gọi anh “làm việc”, nếu họ hỏi về tôi thì anh vui lòng nói rằng, tôi là người rất tốt, mọi người phục vụ tại Tổng cục rất qúy mến tôi. Dân Tổng cục ở đây chỉ có mấy người, chúng mình phải bảo vệ nhau, mấy bạn khác tôi cũng đã dặn như vậy.” Tôi ngạc nhiên không hiểu vì sao, nhưng cũng gật đầu đồng ý. Tướng Cao cám ơn, rồi lanh lẹ quay trở về phòng của các ông Tướng, cũng đến trình diện tập trung đi cải tạo.
 
Tôi bước vào phòng vệ sinh chung để giải quyết tiểu tiện, gặp thêm vài bạn quen khác làm việc tại Saigon lâu năm, trong đó có anh Bùi Dzinh đã giải ngũ. Thời Ðệ nhất Cộng hòa, anh Dzinh đã được Tổng thống Ngô Ðình Diệm cử làm Tư lệnh Sư đoàn một thời gian. Anh Dzinh đang mặc quần cụt áo thun, ngồi lom khom lau sàn nhà, thấy Tôi anh nhoẻn miệng cười nói : “-Ðây là việc của chung, bây giờ mình phải tự giác xung phong làm lấy chớ đợi ai làm thay cho.” Tôi gật đầu cười tỏ dấu hiệu đồng ý, để phụ họa cho anh ấy đỡ ngượng trước mặt anh em khác, cũng đang đứng xếp hàng chờ đến lượt giải quyết nhu cầu cho nhẹ bầu tâm sự.
 
Khoảng 5 giờ chiều, Tôi bị gọi vào 1 căn phòng nhỏ để “làm việc”, với 1 cán bộ mặc đồ tác chiến, không biết cấp bậc gì, chắc là sĩ quan cao cấp vì thấy mang bên mình túi da đựng tài liệu. Ông ta hỏi Tôi 3 câu : 1- Có biết hiện giờ Trung tướng Trần văn Trung ở đâu không? (vì Tôi là Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh chính trị QLVNCH). 2- Nhà văn Xuân Vũ (hồi chánh viên) viết truyện dài “Ðường đi không đến” trên Nhật báo Tiền Tuyến bây giờ ở đâu? 3- Số tiền 20 triệu ký qũy của Nhật báo Tiền Tuyến bây giờ để đâu? (vì Tôi là Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến).
 
Câu 1, Tôi trả lời, sáng sớm 30-4-1975 Tôi còn gọi điện thoại cho Trung tướng Trung tại văn phòng, bây giờ thì Tôi không biết.
 
Câu 2, Tôi cho biết, ông Xuân Vũ hàng tuần đến nộp bản thảo cho Ban Biên tập, để họ trình bầy đưa lên báo in lần, do đó ông ấy và Tôi ít có dịp thấy mặt nhau, nên chẳng biết ông ta ở đâu.
 
Còn câu thứ 3, là Chủ nhiệm Tôi phải đứng tên vay 20 triệu đồng của ngân hàng Việt Nam thương tín (VNTT), để chuyển vào chương mục của Nhật báo Tiền Tuyến trong Ngân hàng Trung ương, đóng ký qũy phát hành báo theo luật báo chí quy định. Hàng tháng, với tư cách Chủ nhiệm báo đứng tên vay tiền, Tôi phải ký chi phiếu của toà báo trả tiền lời cho ngân hàng VNTT. Trường hợp báo bị đóng cửa, Ngân hàng Trung ương tự động chuyển hoàn số tiền đó cho Ngân hàng VNTT, chớ Tôi không dính líu gì cả. Hợp đồng vay tiền của Ngân hàng VNTT quy định như vậy. Ông đi mà hỏi Ngân hàng Trung ương, hoặc Ngân hàng VNTT thì rõ. Ông ta hỏi thêm câu thứ 4 : “-Còn tiền mặt lưu giữ điều hành cho tờ báo hàng ngày, lên đến cả trăm ngàn đồng thì để đâu?” Tôi trả lời, để trong tủ sắt tại văn phòng Quản lý, và chính Quản lý giữ chià khoá, Tôi không giữ. Ông muốn biết còn có bao nhiêu thì đi tìm Quản lý mà hỏi, Tôi không biết bây giờ ông ta ở đâu.
 
Cuộc hạch hỏi này, cho phép Tôi nhận định rằng họ chỉ cần tìm tiền, chớ thực ra họ chẳng cần tìm Trung tướng Trung, hay nhà văn hồi chánh Xuân Vũ. Vì ngày 30-4-1975, khi họ vào chiếm doanh trại Nha Tâm Lý Chiến và toà báo Tiền Tuyến, chắc chắn họ biết rõ là Tôi đã không tuân lệnh Dương văn Minh buông súng đầu hàng, bỏ toà báo về nhà chớ không đợi bàn giao cho ai cả. Như vậy, họ nghĩ là Tôi đã cướp số tiền của toà báo, tìm đường thoát xuống miền Tây, ra Vũng tầu, hoặc tìm ghe thuyền vượt biển khơi trốn ra khỏi nước. Không ngờ hôm nay lại thấy có tên Tôi trong danh sách những người đến trình diện tập trung, vì trốn đi không thoát, nên họ đến hạch hỏi để tìm cho ra, cái món tiền chiến lợi phẩm quá lớn đó mà thôi.
 
Khoảng nửa đêm, có lệnh báo động, mọi người phải thu xếp hết hành trang gói ghém gọn gàng lại, rồi xuống sân tập họp nghe lệnh.
 
Người ta đọc tên xếp thành từng Ðội đứng riêng ra, rồi lần lượt dẫn ra đường, lùa lên những chiếc xe Molotova có mui vải bạt, bịt kín mít cả chung quanh như để chở hàng hoá.
 
Hơn một tiếng đồng hồ sau, mọi người lên hết các xe mới có lệnh di chuyển. Mỗi xe có 2 Bộ đội Cộng sản cằm súng AK đi theo canh chừng, ngồi ở cuối mỗi xe.
Nửa đêm lệnh gọi “hành quân”
Gập chăn, cuốn chiếu, xuống sân xếp hàng.
Nối đuôi nhau đứng hoang mang,
Va-li lếch thếch, túi quàng bên vai.
Nghe tên gọi bước ra ngoài,
Tập trung thành Ðội ba mươi mốt người.
Dồn lên từng chiếc xe hơi,
Bít bùng, ngột ngạt, đứng ngồi chen nhau
Lao nhao, bàn tán xì xào,
Ðoán xem chuyển đến nơi nào, gần xa?
Người sành tin tức ba hoa,
Chắc là Phú Quốc, phải ra bến tầu.
Xe lăn mỗi lúc một mau,
Bò lên, lao xuống, thấy đâu mà mò.
Lắc qua, lắc lại vòng vo,
Lanh quanh đến sáng tờ mờ mới ngưng.
Sương mai phủ kín cây rừng,
Rào gai xiêu vẹo, tầng tầng bìm leo.
Xuống xe, gối mỏi lăn quèo,
Lồm ngồm bò dậy, tiếp nhau xuống hàng.
Quơ quờ tìm kiếm hành trang,
Leo qua rào kẽm vào làng tập trung.
 
Long Giao, Long Khánh, 16-6-1975.
 
Chương 4
 
MỘT THÁNG HỌC LÀM NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Tờ mờ sáng 16-6-1975, đoàn xe chở các Tướng và anh em Ðại tá chúng tôi đến Trại Long Giao, Long Khánh. Nhưng xe chở Ðội chúng tôi không vào qua cổng trại, mà đậu phiá ngoài rào kẽm gai phía Tây, tại một chỗ có khúc rào bị phá xập. Trời còn tối mù, đặc hơi sương, mọi người xuống xe, vác hành trang riêng mò mẫm leo qua kẽm gai, vào mấy căn nhà tiền chế bằng tôn. Trời sáng dần, mờ mờ qua làn sương, thấy dọc bờ rào cách những dẫy nhà khoảng vài trăm mét, có mấy ụ đất xây hầm bê tông cốt sắt chứa đạn và lựu đạn, của đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH) để lại chưa kịp phá hủy.
 
Trong khi chờ các Ðội trưởng theo Cán bộ đi nhận nhà ở cho từng Ðội, một số trong anh em chúng tôi bủa đi lùng nhặt Gamen, muổng, niã, Ca uống nước, Bi đông đựng nước bằng nhôm, vứt bừa bãi quanh nhà, trong các đống rác, để rửa sạch mà dùng. Vì những bạn này cứ tưởng, theo thông cáo của Nhà nước đi học tập đóng tiền ăn cho nhà thầu nấu nướng, thì đương nhiên nhà thầu phải cung cấp đủ thứ, y như 3 ngày vừa qua tập trung tại Ðại học xá Minh Mạng, nên không đem theo đồ dùng. Có người chậm hiểu, không thức tỉnh sớm, đến bữa ăn đầu tiên tại trại tập trung không có đồ dùng để ăn, mới quýnh lên, vội vã lấy mì gói ăn liền đem theo, năn nỉ xin đổi lấy Ca, Gamen, muổng, niã, từ những bạn nhặt được nhiều không dùng hết.
 
Ðội của Tôi được chia một dẫy nhà tôn tiền chế, gần “nhà bếp 2” dành riêng cho khu giam Ðại tá. Nhà được dựng trên nền xi măng cao hơn mặt đất chừng 20 phân. Nhà thuộc loại kho chứa vật liệu, không có cửa sổ dọc 2 bên hông, chỉ có 2 lối ra vào ở 2 đầu nhà, cánh cửa đã bị gỡ mất. Một vài miếng tôn làm tường, dọc 2 bên hông nhà cũng đã bị gỡ mất. Chúng tôi phải chia nhau đi tìm những miếng tôn, cong rách vứt gần mấy đống rác, đem về đập thẳng ra để cột chám vào mấy chỗ trống cho kín gió, cản sương đêm, và ngừa mưa tạt. Tôn trên mái nhà cũng có nhiều lỗ thủng, không có thang để leo lên chám, đành để vậy. Ai xui xẻo nằm đúng chỗ dột, chỉ còn cách trải áo mưa hoặc miếng ni lông choàng thay áo mưa, lên trên nóc mùng (màn) mà hứng nước chịu trận. Chung quanh nhà không có cây cao tàn lá cho bóng mát, nên ở trong nhà ban ngày nóng như bị nung trong lò lửa. Ngược lại, ban đêm lạnh toát như nằm trong hầm chứa nước đá.
 
Trong lúc đi kiếm vật liệu gần bờ rào, quanh các dẫy nhà khác, Tôi tình cờ gặp Ðại tá Phạm văn Cảm, đang đứng tựa bên vách đầu nhà của một Ðội khác. Tôi đến gần chào, ông đã già lụ khụ mắt kém, nhưng vẫn nhận ra Tôi, bắt tay thăm hỏi thật thân thiện. Ông đã giải ngũ từ thời Tổng thống Ngô Ðình Diệm (Ðệ nhất Cộng hoà), mà cũng phải đi trình diện tập trung cải tạo. Tôi biết Ðại tá Cảm từ tháng 6 năm 1949, khi Tôi mới tốt nghiệp Thiếu úy Trường Võ bị Quốc gia được thuyên chuyển về Ðại đội 2 Tiểu đoàn 2 VN tại Hànội. Lúc đó, Ðại tá Cảm nguyên là Trung úy bên Quân đội Liên hiệp Pháp, chuyển sang Quân đội Quốc gia Việt Nam được thăng lên cấp Ðại úy, làm Ðại đội trưởng Ðại đội 1 của Tiểu đoàn 2 Việt Nam, do Thiếu tá Vũ văn Thụ làm Tiểu đoàn trưởng (sau này ông Thụ được thăng lên đến cấp Ðại tá làm Tham mưu trưởng Ðệ tam Quân khu tại Hànội một thời gian).
 
Theo truyền thống xã giao của Sĩ quan đã được hướng dẫn trong Trường Võ bị, sau khi trình diện Tiểu đoàn trưởng, Tôi đã đi trình diện thăm xã giao các Ðại đội trưởng. Do đó với tư cách Sĩ quan đàn anh trong Tiểu đoàn, Ðại úy Cảm đã mời Tôi đến nhà đãi một bữa ăn tối thật thân mật, đầm ấm không khí gia đình, do chính Phu nhân Ðại úy Cảm sửa soạn. Tôi không bao giờ quên cảm tình đặc biệt đó. Trong bữa ăn có cả Thiếu úy Bùi Ðình Ðạm, cùng tốt nghiệp một khoá với Tôi, được bổ nhiệm về Ðại đội 1 của Ðại úy Cảm.
 
Sau cuộc di cư từ Bắc vào Nam theo quy định của Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954, Ðại tá Cảm được Tướng Tổng Tham mưu trưởng Nguyễn văn Hinh chỉ định làm Chỉ huy trưởng trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Ðức. Một thời gian sau, theo kế hoạch trẻ trung hoá Quân đội, Tổng thống Diệm cho giải ngũ cùng một lượt với nhiều sĩ quan khác, trước kia do Pháp chuyển từ các đơn vị thuộc đoàn quân Liên Hiệp Pháp thành lập, qua Quân đội Quốc gia Việt Nam.
 
Trong khi Ðại tá Cảm làm Chỉ huy trưởng Trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Ðức, thì Thiếu tá Bùi Ðình Ðạm làm Tham mưu trưởng của trường. Sau này anh Ðạm lên đến cấp Thiếu tướng trong QLVNCH. Trong thời Ðệ nhất Cộng hoà được Tổng thống Diệm cử làm Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh đóng tại Mỹ Tho. Trước 30 tháng 4 năm 1975, anh Ðạm làm Giám đốc Nha Ðộng viên Bộ Quốc phòng tại Saigon, hiện đang định cư tỵ nạn tại California.
 
Lúc bữa ăn gần tàn, Ðại úy Cảm giới thiệu Tôi với người con trai Phạm Tất Thông vừa đi học về. Sau này anh Thông cũng theo học Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam tại Ðà Lạt, và trước 30-4-1975 là Ðại tá ngành Quân Cụ, hiện cũng đang định cư tỵ nạn tại California.
 
Thật tội nghiệp, mặc dù Ðại tá Cảm đã già yếu, đang bị bệnh trĩ rất nặng, lòi ra khỏi hậu môn cả 10 phân, không mặc được quần, phải mặc áo choàng dài đến đầu gối cả ngày đêm, nằm ngủ trên võng vải, thế mà cũng bị buộc phải đi tập trung tại Long Giao.
 
Vài ngày sau Ðại tá Cảm được đưa lên Bệnh xá của trại tập trung. Khoảng một tháng sau, lại có tin Ðại tá Cảm đã được thả về nhà không phải cải tạo, nhờ lượng khoan hồng nhân đạo của Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại miền Nam VN, đối với những người già nua bệnh hoạn mãn tính nặng. Ðược tin này, mọi người hân hoan mừng rỡ, chia sẻ nỗi vui may mắn của Ðại tá Cảm và gia đình.
Long Giao là doanh trại do Ðơn vị Pháo binh Không kỵ Hoa Kỳ xây dựng, khi rút đi để lại cho QLVNCH. Theo giải thích của Ðại tá Bùi Ðức Ðiềm (đang tỵ nạn tại California) nguyên Tỉnh trưởng Long Khánh thì, LONG GIAO là một đại danh từ ghép, lấy từ 2 chữ đầu của “LONG Khánh” và “GIAO hảo” với Hoa Kỳ, mà đặt ra. Ðơn vị QLVNCH sau cùng đóng tại trại này, là Trung Ðoàn 14 thuộc Sư Ðoàn 18 Bộ binh.
 
Nhà cửa bị tàn phá hư hao nhiều, cỏ dại, cây gai mọc loạn xà ngầu, phủ kín cả đường đi, sát tận quanh nhà, trên rào kẽm gai, cần phải dọn dẹp, tu sửa chỉnh trang lại thì mới ở được. Trại không cung cấp cuốc, xẻng, dao, búa, kìm chi cả, mà lại ra lệnh chia khu cho các Ðội làm sạch sẽ. Thật là vạn nan, với 2 bàn tay không anh em vẫn phải “khắc phục” thi hành lệnh.
 
Một anh Ðại tá trong Ðội chúng tôi, vốn gốc Công binh, đưa sáng kiến đề nghị cán bộ cho dùng gỗ đốt nung các cọc sắt rào kẽm gai đỏ lên, đập bẹt 1 đầu làm xẻng, và uốn cong 1 khúc theo hình góc thước thợ làm cuốc. Cán bộ chấp thuận cho phép thực hiện để dùng đỡ, trong khi chờ trại xin cấp trên tiếp tế dụng cụ làm nông nghiệp. Thật rõ ràng “lao động là sáng tạo”, đúng như quy luật “đỉnh cao trí tuệ Cách mạng” đã khẳng định.
 
Trong thời gian dọn dẹp rác rến, phát cây rẫy cỏ hoang riêng trong từng khu, đã xẩy ra một tai nạn khủng khiếp chẳng bao giờ quên được. Trong giờ nghỉ trưa, bên phiá khu giam anh em cấp úy, bỗng dưng có một tiếng nổ long trời dậy đất. Chúng tôi đang nghỉ trưa, giật mình hoảng hốt uà ra trước cửa láng ở, quan sát nghe ngóng coi việc gì xẩy ra.
 
Thấy Bộ đội cảnh vệ cầm súng chạy túa đi các ngả đường, đến vị trí phòng thủ. Một ý nghĩ chợt loé ra trong đầu Tôi. Không lẽ có biến động phá trại giam để giải thoát Tù? Trường hợp này thì mình phải làm gì? Có nên bàn với các bạn chuẩn bị hành động gì không? Bao nhiêu câu hỏi nẩy ra trong đầu, y như hồi đang thụ huấn tại trường Võ bị, trong giai đoạn cá nhân và Tiểu đội chuẩn bị tiến thối trong tác chiến vậy. Suy nghĩ như vậy, nhưng chỉ giữ kín cho riêng mình, không giám thổ lộ với ai cả. Hoàn cảnh giao thời này, biết ai là “cách mạng 30 tháng tư” trà trộn trong anh em. Lỡ thố lộ gặp nhằm “qủy đón gió trở cờ”, không những mang họa vào thân, mà còn có thể liên lụy cho vợ con ở nhà, thì sẽ phải ân hận suốt đời.
 
Mọi người còn đang ngơ ngác nhìn quanh, Quản giáo Ðội chúng tôi tới đuổi vào nhà, không được nhốn nháo mất trật tự. Mấy giờ sau được tin, có anh bạn Tù bên khu cấp Úy bị trọng thương, vì lựu đạn nổ trong hầm ụ đất cấm lai vãng. Những ngày kế theo, anh em xì xào nhiều tin tức khác nhau, không biết tin nào đúng. Có tin cho là anh ấy phải dọn hầm đạn, chẳng may làm rớt thùng lựu đạn nổ. Có tin cho là anh ấy tự tử, để chống đối cách cư xử nghiệt ngã của trại tập trung. Có tin cho là anh ấy vượt rào trốn trại đạp phải mìn. Vì trong tình trạng phải sống cách ly, người khác Láng ở không được liên hệ với nhau, vi phạm sẽ bị kỷ luật nặng, nên không kiểm chứng được. Bây giờ, chỉ có bạn nào đã cùng bị giam chung với anh bạn không may kia đang còn sống kể lại, thì sự thật mới được phô bầy chính xác.
 
Ít ngày sau, bỗng một hôm lại nghe nhiều tiếng súng nhát gừng, rồi liên thanh vang dội tít ngoài rừng xa, anh em cũng ngơ ngác nhìn nhau hồi hộp. Sáng hôm sau, khi “toán anh nuôi” của Ðội chúng tôi, đi lãnh thực phẩm ngoài cổng trại về, cho hay là có mấy anh em bên khu cấp Úy, hàng ngày được dẫn đi đốn củi cung cấp cho các nhà bếp của trại, đã cướp súng trốn trại.
 
Sau khi dọn dẹp các bờ bụi, rác rến sạch sẽ, anh em được chia khu đất trước các dẫy nhà ra sát tới hàng rào kẽm gai, cuốc lên đắp luống trồng khoai mì (sắn). Hơn tháng sau, khoai mì bắt đầu vươn lên thành những luống cây xanh mướt, trông cũng thấy mát con mắt.
 
Nước ăn uống, tắm giặt, trong khu Ðại tá chúng tôi có 1 giếng đào, miệng giếng rộng hơn 1 mét, sâu 25 mét, phải dùng gầu làm bằng can đựng xăng loại 20 lít cột vào đầu sợi cáp dài 50 mét, để thòng xuống múc nước kéo lên. Ưu tiên phải dành cho toán kéo nước phục vụ nhà bếp, lấy đủ 40 thùng phuy 200 lít một ngày xong, mới tới phần anh em kéo nước dùng riêng.
 
Mỗi toán kéo nước gồm 4 người. Hai người cầm đầu dây cáp đứng cách xa miệng giếng 50 mét, đi tới đi lui thả gầu xuống kéo gầu lên, theo hiệu lệnh của 2 người đứng sát miệng giếng điều khiển. Hai người đứng bên miệng giếng, có trách nhiệm bê gầu nước đầy vừa kéo lên, đổ vào 2 thùng phuy đặt trên xe cải tiến. Khi nào cả 2 thùng đầy ặp thì ngưng kéo nước, cả 4 tụm lại hiệp sức đẩy về nhà bếp đổ vào hồ chứa.
 
Trong thời gian toán kéo nước nhà bếp rời xa giếng, mọi người được phép tranh nhau, thả gầu nhỏ cá nhân xuống giếng kéo nước lên dùng riêng, cho đến khi toán nhà bếp trở ra, lại phải ngưng để nhường chỗ cho họ, tiếp tục quyền ưu tiên làm “phận sự phục vụ tập thể”.
 
Ðây là vùng đất sét pha cát, vào mùa nắng đất khô, đi tới đi lui gò lưng kéo nước còn dễ dàng, nhưng tới mùa mưa thì ôi thôi thật là muôn phần khó khăn. Ðất trơn trợt, phải cúi gục người về phiá trước, bấm sâu các đầu ngón chân xuống đất để đi tới mà kéo nuớc lên, thỉnh thoảng vẫn bị trượt chân ngã chúi về phiá trước, mặt vập xuống đớp đầy mồm đất và nước bùn.
 
Mùa nắng cũng như mùa mưa, nhóm kéo nước bao giờ cũng phải xoay trần, chỉ mặc có một chiếc quần ngắn, mà mồ hôi lúc nào cũng nhễ nhại như tắm. Ðổi lại sự cực nhọc này, cán bộ “chỉ đạo” cho “toán anh nuôi”, cấp thêm cho mỗi người trong nhóm kéo nước và nhóm bửa củi cho nhà bếp, mỗi bữa một miếng cơm cháy lớn bằng bàn tay, để gọi là “bồi dưỡng”.
 
Ðể áp dụng luật công bằng theo Xã hội chủ nghĩa, những đội ăn chung trong một bếp, được chỉ định luân phiên nhau phụ trách làm “ đội anh nuôi” một ngày. Trong những ngày này, anh em trong Ðội phải chia nhau thành các toán : đi lãnh gạo và thực phẩm tươi, nấu cơm, thức ăn và chia ra từng mâm 6 người riêng theo từng Ðội, bửa củi, kéo nước.
 
Thực đơn ăn hàng ngày, ghi trên bảng thông báo để tại nhà bếp thấy mà ham. Nào là cơm gạo Ðại Mễ, canh rau, thịt kho. Nhưng thực tế thiểu não vô cùng.
 
Gạo Ðại Mễ do Trung cộng cấp cho Việt cộng tích trữ trong rừng để xâm lăng miền Nam, nay lấy về cung cấp cho tù tập trung ăn. Gạo để lâu ngày dưới hầm trong rừng đã mục nát, bao thủng bị trộn đầy sạn cát và sâu, mọt, xúc đóng vào bao mới. Nấu thành cơm ăn hôi, nhão, phải xúc từng muổng nhỏ bỏ vào miệng trệu trạo qua loa rồi nuốt, không dám nhai vì đụng sạn ghê răng.
Canh rau, mỗi người được đôi ba cọng rau muống, hoặc vài lát cải xanh nấu với nước muối lõng bõng. Thịt kho, thì một con gà nặng chừng 2 kí lô cân cả lông, hoặc 1 hộp thịt bò 1 kí lô, nấu cho khoảng 150 người dùng 2 bữa. Toán “anh nuôi” phải vận dụng trí thông minh, làm sạch lông gà xong, bằm nhuyễn cả xương, thả vào bung nước muối cho thật nhừ. Lúc chia cho các mâm ăn từng 6 người một, phải dùng muôi khoắng quậy đều, múc cả nước lẫn cái. Mỗi mâm được 6 muôi, tức là mỗi người được khoảng 2 muổng húp canh cá nhân. Thịt bò hộp cũng vậy, đổ ra khỏi hộp, bằm nhuyễn, thả vào kho nước muối lõng bõng, rồi chia y như chia thịt gà kho.
 
Mùa nắng giếng cạn, nước khan hiếm, việc tắm giặt, giữ vệ sinh cá nhân hàng ngày là một vấn nạn lớn cho mọi người. Ðể “khắc phục”, Tôi đã nghĩ ra được kỹ thuật tắm gội có dùng xà bông, tốn ít nước, một cách tuyệt vời. Chỉ cần 1 thùng đạn 30 ly đầy 2 lít nước là đủ. Chắc trên trái đất này, chưa có một nhà bác học nào có thể nghĩ ra được.
 
Bỏ hết quần áo ra, ngồi chồm hổm trên 1 miếng tôn hay miếng ván mỏng, tay phải múc một ca nước đưa lên đỉnh đầu, từ từ xối nước xuống , trong khi đó tay kia xoa nhè nhẹ cho nước thấm ướt hết tóc, rồi lần theo nước chẩy xuống đến đâu thì xoa tay theo tới đó, đến khi cả người từ đầu đến chân ướt đều thì ngưng. Tiếp theo, lấy Xà bông chà lên tóc, dùng 2 tay chà cho xà bông nổi bọt để gội đầu, rồi từ từ xoa cho bọt xà bông chẩy xuống mặt, cổ, vai, mình … y như làm động tác xoa nước cho ướt mình vậy. Khi toàn thân được chà xà bông kỹ càng, lại lấy ca nước sạch từ từ dội từ đỉnh đầu, xoa kỳ cho tóc sạch hết xà bông. Và cứ tiếp tục làm như vậy bằng từng ca nước một, lần lần xuống mặt, cổ, vai, mình, tay, chân. Khi dùng tới ca nước cuối cùng là bảo đảm người hoàn toàn sạch sẽ.
 
Muốn biết lời Tôi nói có đúng không, xin làm thử một lần sẽ biết. Dĩ nhiên cần phải kiên nhẫn, tập trung tư tưởng ghê gớm lắm mới làm được. Ở trong tình trạng đợi học tập, không phải ra ngoài lao động, nên có gì vội vã đâu, đây cũng là một hành động thú vị để giết thì giờ buồn nản.
 
Ba tháng cay đắng cực khổ, đã chậm chạp trôi qua. Vẫn chưa nghe động tĩnh gì về việc tổ chức học tập quy củ, để trở thành người lao động Xã hội chủ nghiã cả. Phải chăng đây mới chỉ là giai đoạn thử thách ban đầu, trước khi chính thức bước vào học tập cải tạo thực sự. Nếu đúng vậy thì, chẳng biết sẽ còn phải chịu cực nhục đói khổ đến mức nào? Cái thông báo của Nhà Nước đi học tập một tháng, chẳng còn giá trị gì. Ðúng là xảo quyệt lừa lọc loát khoét như Vẹm (Việt Minh).
Long Giao vốn trại của Ta,
Ngày nay đời đổi hóa ra làng tù.
Lâu ngày chẳng được trùng tu,
Tan hoang nên phải lu bu sửa hoài.
Tay không bứt cỏ, bẻ gai,
Nhổ tranh, bới đất trồng khoai, trồng mì.
Ðá xanh vun đắp lối đi,
Sửa nhà, dựng vách phòng khi đổi mùa.
Tiết Trời đang chuyển sang mưa,
Nắng ngày gay gắt, sương khuya lạnh lùng.
Tập trung đủ mặt anh hùng,
Tùy theo cấp bậc, nhốt từng khu riêng.
Nấu ăn, chia đội luân phiên,
Mỗi khu hỏa vụ lo trên trăm người.
Nước dùng, kéo đáy giếng khơi,
Mỗi ngày lãnh gạo, đồ tươi về làm.
Thực đơn nghe báo mà ham,
Nay gà, mai lợn, mốt tôm, kia bò.
Lãnh về ai nấy ngẩn ngơ,
Con gà hai kí phát cho trăm người.
Vứt lông, bầm nát xong xuôi,
Nêm tiêu, xả, muối, bỏ nồi nước ninh.
Lúc chia vận trí thông minh,
Khuắng đều cái nước như sình múc ra.
Người hai muổng xả kho gà,
Trộn cơm Ðại Mễ ăn mà độ thân.
Ðổi đời phải luyện tập dần,
Miếng ăn ít ỏi, chia phân đồng đều.
Nếu không kẻ ít người nhiều,
Lời qua tiếng lại, sinh điều chẳng hay.
Ngày ngày khắc vạch lên cây,
Ðếm dư trăm ngấn mà Thầy chửa ra.
Hẳn là phải đợi đến già,
Chờ hồi xương mục, chẳng tha cũng về.
 
Long Giao, Long Khánh, Tháng 9-1975
Chương 5
MÙA NHỒI SỌ MỞ MÀN
Ðến tháng 9-1975, tự nhiên thấy trại tập trung mở Căng tin, bán đủ thứ hàng thực phẩm khô như mì ăn liền, kẹo, bánh bít-quy, bánh mì xấy khô, thịt cá hộp, đường, sữa, trứng tươi, có cả giấy bút, vở học trò…, và cho phép các Ðội trưởng, hàng ngày dẫn người đại diện đi mua giúp cho anh em cả Ðội, tùy theo nhu cầu của mỗi người. Những bạn dư giả tiền mang theo, tha hồ mua từng thùng mì ăn liền và sữa hộp, bánh mì về xài rả rích cả ngày đêm, chẳng thèm ngó tới cơm trại. Nhờ thế, các bạn nghèo không tiền mua “đồ bồi dưỡng cao cấp”, được thừa hưởng các phần dư cũng đỡ khổ. Ðộ chừng một tuần lễ sau có tin sắp khởi sự học tập. Mọi người “phấn khởi hồ hởi”, “chuẩn bị tư tưởng sẵn sàng tham gia học tập”.
 
Chắc là sau hơn 4 tháng giải phóng ổn định miền Nam xong, nay Trung Ương Ðảng CSVN mới soạn xong các bài tuyên truyền nhồi sọ, các Cán bộ giảng huấn đã được chỉ dậy ôn luyện kỹ càng, nên mới khởi sự giắt nhau vào miền Nam bắt đầu phát động chương trình nhồi sọ, nhằm cải tạo tư tưởng cho Tù tập trung và toàn thể Dân chúng tại mọi nơi học tập cho mau “thông suốt”, để “khẩn trương” trở thành người mới Xã hội chủ nghĩa.
 
Phương châm Chính sách học tập cải tạo tư tưởng của Cộng sản là, dùng áp lực để nhồi vào óc, buộc mọi người phải dứt khoát chấp nhận tư tưởng lý luận một chiều : hận thù Ðế quốc Mỹ, khinh bỉ, coi Ngụy quân, Ngụy quyền miền Nam là những tội đồ của Dân tộc, cặn bã của xã hội. Chỉ có Xã hội chủ nghiã do Cộng sản Bắc Việt lãnh đạo, dưới sự chỉ đạo của Liên sô và Quốc tế Cộng sản mới là chính nghĩa, dẫn đến Thiên đường Cộng sản tốt đẹp gấp trăm ngàn lần hơn Thế giới Tư bản.
 
Ðợt giáo dục nhồi sọ, được “khởi phát” bằng một buổi chiếu phim Liên sô học tập ngoài trời. Ðêm đó trời gió mưa tầm tã liên tục, mọi người vẫn phải khoác áo mưa đi tham dự, ướt át lạnh run cực khổ hết chỗ nói. Sau buổi xem phim về, còn phải ngồi thảo luận phê bình, rút “ưu khuyết điểm” “liên hệ với bản thân”. Phải chăng đây là thử thách ban đầu, Cách mạng muốn tung ra để đo lường “quyết tâm học tập” của cải tạo viên? Trong Ðội chúng tôi, có một anh dại dột lên tiếng than van lén, ngày hôm sau bị gọi lên “làm việc” với Cán bộ Giáo dục. Sự việc này cho thấy là có dân “cách mạng 30 tháng tư” sống lẫn bên chúng tôi làm “ăng ten”. Thật nguy hiểm.
 
Sáng ngày hôm sau, trời vẫn còn mưa rả rích, buổi thuyết giảng đầu tiên được khai diễn tại Ðại Hội Trường của trại. Ðây là lần tụ hội đầu tiên đủ mặt anh hùng cải tạo tại trại này. Tướng, Tá, Úy, nam nữ, trẻ già đủ lứa tuổi có dịp được thấy mặt nhau giữa ban ngày. Mọi người ăn mặc đủ loại y phục thời đại của mùa giải phóng (quần áo thường dân, quần áo lính bằng vải kaki và đồng phục tác chiến mua ngoài chợ trời, đã nhuộm nâu, đen, xanh dương, mang dép râu cao su, giầy da thấp cổ, giầy Bata, có người liều mang giầy bốt của lính, chưa có ai biết đi chân đất).
 
Sau mỗi bài giảng ở Hội trường, các Ðội trở về láng ở của mình tiếp tục “thảo luận, đào sâu thêm”, “tự liên hệ vào bản thân”, và bắt buộc phải luân phiên nhau “phát biểu” trước Ðội để “nhận tội phản quốc, chống phá Cách mạng, làm trì trệ bước tiến của Xã hội Chủ nghiã”.
 
Các buổi thảo luận tại Ðội, luôn luôn có sự hiên diện của Quản giáo Ðội và đại diện Ban giảng huấn trung ương ngồi chứng kiến theo dõi. Khi nào Cán bộ nhận thấy là mọi người đã “thành khẩn phát biểu, thấm nhuần sâu sắc” bài học, mới cho ngừng thảo luận để viết bài “thâu hoạch” kết quả học tập cá nhân, trình nộp cho Cán bộ Giáo dục khai thác, xét định “mức độ tiến bộ” của mỗi người.
Vào ngày tổng kiểm điểm kết quả học tập, các Ðội đi theo hàng đôi, nối đuôi nhau ùn ùn từ các khu kéo đến Ðại Hội Trường, y như các đoàn lao công đi tham dự “Ðại hội Ðảng” địa phương. Chỉ khác là không có cờ quạt, biểu ngữ, và không la hét om xòm các khẩu hiệu hoan hô, đả đảo vậy thôi. Thay cho nhóm Công an giữ trật tự trong cuộc biểu tình, làø bọn Bộ đội Cộng sản mặt non choẹt, cằm AK đi áp tải đầy đường hối thúc : “Khẩn trương! Khẩn trương!”.
 
Ðoàn người đi tham dự đại hội học tập, lẳng lặng buồn thiu cất bước nặng nề bên nhau, trong đầu mỗi người một suy nghĩ riêng. Tuy vậy cũng có đôi anh vô tâm thiếu suy nghĩ, vẻ mặt “hân hoan” nói cười pha trò bô bô, như bầy trẻ được người lớn dẫn đi xem Hội Chợ Tết. Vì các anh ấy tưởng rằng học xong đợt cải tạo này, sẽ được cấp chứng chỉ làm người Xã hội chủ nghĩa, về sống thong thả bên vợ con và xóm giềng thân thích, như đại diện lớn nhỏ của Ðảng từng xa xả nhai đi nhai lại, mỗi lần họ có dịp xuất hiện trước quần chúng tại địa phương, trước ngày đi trình diện tập trung.
 
Tới gần Hội trường, hàng ngàn người kẹt cứng đầy đường, các Ðội phải đợi cả tiếng đồng hồ mới tới phiên được di chuyển vào trong hội trường ngồi.
 
Bên trong Hội trường có trang hoàng các biểu ngữ, Tôi chẳng nhớ nội dung gồm những gì, nhưng chắc chắn có câu “Không có gì qúy hơn độc lập tự do” của Bác Hồ, sáng tạo ra từ hồi Cách mạng tháng 8 thắng lợi năm 1945.
 
Mọi người ngồi chồm hổm trên nền nhà đất nện, sát sạt bên nhau chặt cứng, ngửa mặt nhìn lên Thuyết trình đoàn ngồi chễm trệ sau dẫy bàn có phủ khăn nỉ mầu xanh lá cây xậm. Ðủ thứ hơi hổ lốn : mồ hôi, quần áo, dầu gió… của mọi người tiết ra, ngột ngạt khó chịu muốn ngộp thở.
 
Sau khi Cán bộ Thủ trưởng trại tập trung, báo cáo tập thể cải tạo viên gồm những thành phần nào xong, Trưởng đoàn Giảng huấn trung ương, với giọng kẻ cả thắng trận, nói ra những nhận xét của mình về kết quả theo dõi học tập tại các láng, cũng như qua “phản ánh” trong các bài “thâu hoạch tự giác khai báo nhận tội” của cải tạo viên. Ðại ý tóm gọn như sau : “-Mọi người đã ý thức được là cao trào sóng Cách mạng vô địch đang dâng lên mạnh mẽ, Ðế quốc Tư Bản đang suy tàn dẫy chết. Cũng như ý thức được sự sai trái của bản thân trong quá khứ, quyết tâm học tập cải tạo phục thiện theo Cách mạng và nhân dân xây dựng Xã hội chủ nghĩa, là rất tốt. Bây giờ hết chiến tranh rồi, anh em Trung Nam Bắc hoà hợp cùng một nhà, cùng chung một dòng giống mà ra, phải thương yêu đùm bọc nhau là lẽ đương nhiên. Chắc chắn thời gian học tập sẽ không lâu bằng thời gian làm dưới Ngụy Quyền Ngụy Quân trước đây đâu. Mọi người hãy cố gắng học tập cho nó tốt, mau tiến bộ. Tùy theo mức tiến bộ của mỗi người, Nhà Nước sẽ khoan hồng nhân đạo, lần lượt cho trở về hoà nhập vào xã hội mới Xã hội chủ nghĩa, để cùng nhân dân tái thiết đất nước Việt Nam anh hùng vô địch, giầu mạnh, đã từng chiến thắng cả 3 Ðế quốc giầu mà không mạnh là Pháp, Nhật và Mỹ…”
 
Những lời huênh hoang toàn là nhai lại như vẹt, các điều ghi trong loạt bài nhồi sọ mọi người, cả ngày lẫn đêm suốt thời gian học tập. Chừng gần một tiếng đồng hồ thao thao bất tuyệt, ông ta mới ngừng nói. Cả hội trường vỗ tay rào rào như pháo nổ, đinh tai nhức óc muốn xập cả nhà. Người nghe mệt mỏi, đang lơ mơ ngủ gục, giật mình tỉnh dậy. Người nói khô cổ hụt hơi, cúi xuống lấy chiếc điếu cầy từ gầm bàn ra, nhồi bi thuốc lào vào lõ điếu, đốt lửa, rít một hơi dài, cầm tách trà mạn sen chiêu một ngụm, rồi ngửa mặt phả ra ba dòng khói trắng mờ mờ khoái trá. Y hệt như “ba dòng thác cách mạng” đang lơ lửng bay lên, tan dần trong không khí ngột ngạt của hội trường.
Cán bộ Giáo dục của Trại lên bục có gắn mi crô, ca ngợi và cám ơn những lời chỉ giáo hữu ích của Ðồng chí đại diện Trung ương Ðảng cho các cải tạo viên, rồi chỉ định người lên phát biểu cảm tưởng.
 
Hình như những người được gọi lên đã có sự “móc nối” chuẩn bị từ trước, vì thấy vẻ mặt của họ không tỏ vẻ ngạc nhiên, lúng túng, e ngại gì cả. Họ mạnh dạn nghẹn ngào, sùi sụt nước mắt dầm dề hai má, nhận tội phản Cách mạng, oán trách Mẹ Cha đã không hướng dẫn để họ lầm đường lạc lối, nay xin Cách mạng đại lượng khoan hồng tha tội chết cho họ.
Anh chị em có mặt trong hội trường, ai cũng buồn lòng bất bình về tinh thần hèn yếu đó, nhưng lặng thinh thông cảm chia sẽ hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của họ. Nghĩ rằng, nếu chẳng may mình bị lựa làm con thiêu thân như họ, thì cũng phải làm như vậy thôi. Ai dại gì mà làm trái ý kẻ thắng kiêu căng, trong lúc mình sa cơ thất thế như vầy, chỉ tổ hại vào thân và vợ con ở nhà cũng có thể bị vạ lây không chừng. Cộng sản xảo quyệt thâm độc bất nhân, ai mà lường trước được.
 
Sau lời phát biểu ý kiến của người Tù thứ nhất là một Ðại tá xong, thì được nghỉ giải lao 15 phút cho mọi người ra ngoài hút thuốc, đi tiểu, đại tiện nếu có nhu cầu.
 
Mọi người chen nhau, vội vã uà ra bãi đất trống phiá sau Hội trường. Lợi dụng lúc hỗn độn này, những bạn bè thân quen cũ tìm cách lén đến gần nhau chào hỏi, trao đổi tin tức gia đình.
 
Qua đôi mắt kính cận thị 4 độ, Tôi đang hướng mắt tìm trong đám đông xem có những ai quen, thì có bàn tay người vỗ nhẹ sau vai. Giật mình quay lại, thấy Bà Trung tá Hồ thị Vẽ. Chúng tôi bắt tay nhau. Bà Vẽ hỏi thăm gia đình của Tôi có di tản được không, Tôi lắc đầu.
 
Bà Vẽ biết Tôi từ hồi 1965, lúc Tôi làm Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Trung ương Ðịa Phương quân và Nghĩa quân, đến nhờ Trung Tâm huấn luyện Nữ quân nhân, giúp đỡ việc huấn luyện Nữ trợ tá Xã hội cho Lực lượng Ðịa phương quân. Bà Vẽ có người con rể là Sĩ quan, phục vụ trong ngành Chiến tranh Chính trị, cũng phải đi tập trung cải tạo.
 
Sau này, vào tháng 2 năm 1985, Tôi được chuyển từ Trại Z30C (Hàm Tân) qua Trại Z30D (Thủ Ðức), lại gặp Bà Vẽ đang bị giam bên khu Nữ tù của K1, và cũng gặp cả người con rể của bà Vẽ, Ðỗ Duy Chương (Tôi không nhớ rõ anh ấy là Thiếu tá hay Ðại úy) làm ở Ðội Lâm sản, giam chung bên khu Nam với chúng tôi.
 
Hết giờ giải lao, Cán bộ hối thúc mọi người trở vào Hội trường, tiếp tục nghe mấy Tù khác lên phát biểu ý kiến của họ sau 10 bài học căn bản tẩy não. Mọi ý kiến phát biểu cũng na ná một giọng điệu như nhau.
Bỗng dưng trại mở Căng tin,
Tha hồ Tù viếng, miễn tiền đủ chi.
Mặt hàng chẳng thiếu thức gì,
Trứng tươi, mì, sữa, bánh quy,
Ðồ ăn đóng hộp, hệt y chợ trời.
Kẻ giầu mặc sức mua xơi,
Bỏ cơm trại nấu cho người nghèo ăn.
Mở màn khích lệ tinh thần,
Cho Tù “hồ hởi dấn thân” học hành.
Mừng đoàn Cán bộ nổi danh,
Từ Trung ương xuống tung hoành múa môi.
Ðúng ngày mưa gió tối trời,
Nhóm người thắng trận đến nơi khoe tài.
Nhằm đêm tầm tã mưa rơi,
Ðoàn Tù ngồi xổm đội Trời xem phim.
“Bước đầu thử thách” con tim,
Xét lòng “đối tượng” nổi chìm ra sao.
Có người dại miệng xì xào,
Ðược mời lên hít thuốc lào thẩm tra.
Thì thầm tin tức đồn ra,
Gọi là dằn mặt “phe ta” khỏi lờn.
Ðể mà suy nghĩ thiệt hơn,
“Kiến trong miệng chén” còn chuồn đi đâu?
Loạt bài nhồi sọ bắt đầu,
Phê bình Ðế quốc sang giầu dã man.
Thế, Thời, Tư bản đang tàn,
Sóng Thần Cách mạng dâng tràn khắp nơi.
Khôn ngoan nên biết thức thời,
Cúi đầu theo Ðảng làm người Cộng nô.
Noi gương các cụ Mao, Hồ,
Làm con cái nước Liên sô anh hùng.
Ngu si giữ giống Tiên Rồng,
Làm sao hội nhập Ðại đồng Tam vô.
Rầng rầng tay vỗ hoan hô,
“Ðỉnh cao trí tuệ” tha hồ ba hoa.
Công, Danh, Việt cộng chói lòa,
Nhân dân đổ máu, Ðảng ta kiêu hùng.
Ðảng ta “nhân đạo khoan hồng”,
“Ngụy”(1), tha tắm máu, tập trung học nghề.
Bao giờ tiến bộ thì về,
Tiếp tay xây dựng lại quê hương nhà.
Giờ đây chinh chiến đã qua,
Bắc Nam đoàn tụ một nhà thương nhau.
Thời gian học tập chẳng lâu,
Yên tâm cố gắng cho mau đạt thành.
Gia đình vô sự yên lành,
Các con vẫn được học hành như xưa.
Vợ theo lao động thi đua,
Tham gia sản xuất, đợi Cha, đợi Chồng.
Bọn hèn xuất diện lập công,
Mở lời phụ họa, tố Ông, tố Bà.
Nghẹn ngào oán hận Mẹ Cha,
Lệ tuôn tức tưởi xin tha tội mình.
Ðáng thương cho lũ bạc tình,
Bạn bè xa lánh, rẻ khinh mãn đời.
Lúc nguy mới rõ lòng người,
Vàng thau lẫn lộn, lửa thui hiện hình.
Rớt vào tay bọn súc sinh,
Dần dà mới thấy cực hình bủa vây.
Tinh thần căng thẳng đêm ngày,
Ðọa đầy kiệt sức bỏ thây rừng già.
Rồi đây sẽ sáng mắt ra,
Ðừng nghe “Vẹm” nói ngọt mà vội tin.
 
KẾT QỦA THÂU HOẠCH SAU ÐỢT NHỒI SỌ.
 
Tưởng rằng Cộng sản là vô địch,
Hăng hái Bác Hồ nhắm mắt theo.
Nửa Thế kỷ qua nước vẫn nghèo,
Nhân dân nguyền rủa, buồn, nên chết.
 
Cách mạng theo Nga dân đói rách,
Theo Tây, theo Mỹ, nước phồn vinh.
Lòng tham muốn cướp, Ðảng hành binh,
Xâm lược miền Nam, mặc sức vét.
 
Chuyên quyền độc đảng, Nga hơn Mỹ,
Dân chủ bình quyền, Mỹ thắng Nga.
Nam Việt đắn đo lập Cộng hoà,
Nga, Hoa, lo lắng hè nhau diệt.
 
Chủ nghiã Tam Vô phá Quốc gia,
Tự do Dân chủ nước hưng thịnh.
Ðộc tài Ðảng trị dân thù oán,
Thiển cận làm sao thấy được xa.
 
Long Giao, Long Khánh, Tháng 9-1975.
(1) Cộng sản Bắc Việt gọi Quân nhân và Công chức hành chánh Việt Nam Cộng Hoà là Ngụy quân, Ngụy quyền.
 
Chương 6
 LÊN ÐƯỜNG LAO ÐỘNG CẢI TẠO TƯ TƯỞNG
Khoảng độ 3 tuần lễ sau đợt học tập loạt 10 bài cải tạo tư tưởng, từng khu Tù được lần lượt chuyển đi khỏi trại Long Giao, không biết đi đâu. Nhiều nguồn tin được loan truyền râm ran giữa các khu, qua các “toán anh nuôi” đi lãnh thực phẩm mỗi buổi sáng ngoài cổng trại, nghe ngóng đem về rỉ tai nhau.
 
Có người đồn về trại Sóng Thần, làm lễ mãn khoá cấp Thẻ Công dân Xã hội Chủ nghĩa, để về đoàn tụ với gia đình. Có người đoán ra đảo Phú Quốc, nơi có một trại rất lớn giam tù binh Cộng sản Bắc Việt xâm nhập miền Nam trước kia, trong vùng vịnh Hà Tiên tỉnh Châu Ðốc, để học tập làm người lao động trong Hợp tác xã. Có người đồn đi vùng cao nguyên, tham gia lao động sản xuất trong các Hợp tác xã. Tin tức dồn dập rối mù hàng ngày, chẳng biết đâu mà mò.
 
Tôi chân thật đưa ý kiến dự đoán, có thể bị đưa ra Bắc học tập lao động trong các Hợp tác xã, một thời gian tối thiểu dăm bẩy năm thử thách. Nếu thấy ai có tiến bộ, thực lòng quy phục Nhà Nước Xã hội chủ nghĩa, và không chết vì bệnh hoạn, thiếu ăn, thiếu thuốc, kiệt lực, còn sống sót, mới hy vọng được tha về đoàn tụ với gia đình. Lập tức bị mấy bạn đang lạc quan, tin tưởng được đưa về trại Sóng Thần làm lễ tha, phản đối cho Tôi là bi quan đoán tầm bậy. Từ đó Tôi đành im lặng không góp ý với ai, về bất cứ vấn đề gì nữa. Vì sợ phải tranh luận chứng minh, không hợp ý muốn “chủ quan” riêng của các bạn, có thể bị “ăng-ten” xuyên tạc báo cáo, chẳng có lợi gì trong hoàn cảnh đang bị tập trung tù tội.
 
Sở dĩ Tôi đoán vậy là vì, chỉ có giam trong vùng đất miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, lạ cảnh lạ người, không biết đường đi nước bước ra sao, Tù mới không dám và không có cách nào móc nối với bên ngoài, để thực hiện việc trốn trại. Mạng lưới Công an nhân dân dầy đặc khắp mọi nơi, không cần tốn thêm ngân quỹ “bố trí” bọn cảnh vệ canh giữ ngày đêm.
 
Hơn nữa, thời gian phục vụ trong ngành Chiến tranh Chính trị, Tôi đã phải nghiên cứu tìm hiểu nhiều về Cộng sản Thế giới, nên chưa quên các sự kiện diễn tiến lịch sử trong các nước Cộng sản. Trong “quá trình hoạt động vùng lên cướp chính quyền”, tất cả Liên Sô, Trung Cộng, và các nước theo chủ nghĩa Cộng sản khác kể cả Cộng sản Việt Nam, đều dùng sách lược “đấu tranh tiêu diệt giai cấp” để giành quyền lãnh đạo. Không bao giờ họ để những người trong giai cấp cầm quyền thuộc chế độ họ lật đổ, được sống còn và sống chung với họ.
 
Một sự kiện lịch sử vô nhân đạo rõ nét nhất, cả Thế giới đều biết là, Cách mạng tháng Mười Liên Sô thành công, tất cả các giai cấp không thuộc giới công nhân vô sản đều bị đưa đến vùng Si-bê-ri. Họ bị đầy đọa chết lần mòn bỏ thây giữa nơi hoang vu băng tuyết lạnh lùng, vì phải ngày đêm quanh năm suốt tháng lao động khổ sai kiệt sức, đói rét, thiếu thực phẩm thuốc men, sống trong những túp nhà thiếu tiện nghi tối thiểu, dưới sự hành hạ tàn bạo của Hồng quân. Sự kiện này đã được một nhà văn Nga nổi tiếng tên là Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn (Mỹ gọi là Alexander Solzhenitsyn) được giải Nobel về Văn chương năm 1970, viết thành truyện có tựa đề Gulag Archipelago (ốc đảo), viết tắt từ Glavnoye Upravleniye Ispravitelno-Trudovykh Lagerey. Cuốn truyện này đã được Thomas P. Whitney. NY: Harper & Row dịch ra Anh văn, phát hành lần đầu tiên vào năm 1973, dầy 660 trang. Truyện kể về Hệ thống quản trị các trại tập trung lao động cải tạo của Liên sô (Chief Administration of Corrective Labor Camps). Thời Việt Nam Cộng hoà hình như đã có người chuyển dịch sang Việt ngữ (Tôi không nhớ tên người dịch).
 
Khu các Trung tá, Thiếu tá, bao 2 bên phiá trái và phiá phải khu Ðại tá chúng tôi, được lần lượt di chuyển đi trước. Các dẫy nhà tôn mấy tháng nay đầy người ồn ào vui nhộn, nay trở thành hoang vắng lạnh lùng, khiến chúng tôi nao nao kiên nhẫn chờ đợi trong âu lo. Hồi hộp hay “hồ hởi” tùy theo dòng suy tư riêng của mỗi người. Ngày giờ trông đợi cứ chậm chạp trôi qua, theo sương đêm lạnh lùng và ánh nắng ngày gay gắt.
 
Thế rồi điều mong đợi cũng đã đến vào một sáng đẹp trời, chúng tôi được lệnh đóng gói “tư trang” để “hành quân” trong ngày. Trại phát phần ăn khô cả ngày cho mỗi người. Hình như 2 khúc bánh mì và mấy miếng thịt kho thì phải, Tôi không nhớ chắc. Mãi đến xế chiều mới có đoàn xe Molotova chở chúng tôi, rầm rầm tung bụi chạy vào trong khu. Các Ðội tập họp để Bộ đội áp tải kiểm danh, và phân phối lên xe.
 
Khi đoàn xe chuyển bánh, mặt trời đang từ từ lặn xuống ngang đỉnh dẫy rừng núi phía Tây trại Long Giao. Ðoàn xe ra Quốc lộ, bon bon chạy về hướng Saigon. Mấy anh tin tưởng được về trại Sóng Thần làm lễ tha, mừng vui cười nói oang oang. Tiếng nói của họ vừa phát ra khỏi miệng, đều bị tan bay ngay theo gió, ngược chiều với hướng xe chạy.
 
Ði ngang vùng ga Sóng Thần, không thấy đoàn xe rẽ vào, một dự đoán khác lại được loan ra. Chắc về bến Tân Cảng nơi đầu cầu Xa lộ khu Thị Nghè, Saigon, để xuống tầu thủy chuyển ra đảo Phú Quốc.
 
Tất cả các tin đồn đều sai hết. Khi đèn điện các thị trấn nằm dọc bên đường bắt đầu bật sáng, lúc gần tới Biên Hoà, đoàn xe rẽ vào đường đi Suối Máu, Tam Hiệp. Nơi có Trại tạm giam tù Cộng sản Bắc Việt xâm nhập miền Nam, đợi đưa đi trao đổi tù binh tại cầu Hiền Lương, tỉnh Quảng Trị, hồi năm 1973 sau khi Hiệp Ước Paris được ký kết.
 
Ðoàn xe ngừng bên hàng rào chằng chịt hai ba lớp kẽm gai cao, trước cổng một khu giam nhìn thấy lộ lớn. Bộ đội áp tải thúc hối “khẩn trương” xuống xe tập họp. Ðèn pha trước cổng bật lên sáng chóa, rọi đường cho “cải tạo viên” tay sách nách mang tư trang, nối đuôi nhau từng người một, vòng vèo di chuyển theo lối đi chữ chi, bề ngang hẹp chừng 80 phân, giữa 2 hàng rào kẽm gai cao một thước, dựng lên phiá trong cổng vào.
 
Hình như về đây nằm chờ phân phối đi các nơi khác, nên chẳng thấy có chương trình học tập lao động cải tạo nào được phát động. Ở không, chẳng có việc gì làm, những người vốn có máu mê thì ngày ngày túm năm tụm ba trong các láng ở, lập sòng bài, đánh chắn, mạt chược, xì phé, cờ tướng, sát phạt vui chơi bằng những gói mì ăn liền, đôi ba điếu thuốc lá, để giải khuây.
 
Ðồ nghề như bài lá (chắn, tam cúc, tứ sắc, sì phé) và quân cờ Mạt chược, cờ tướng, cờ Domino chẳng thiếu. Nhiều nhóm có đồ nghề thứ thiệt sản xuất tận Hồng Kông, do thân nhân gửi kèm trong quà, theo lời xin ghi trong thơ được phép gửi về nhà hồi trước Noel. Những nhóm thuộc loại neo túng, không yêu cầu gia đình cung cấp, thì lấy bià cứng của các hộp bánh kẹo gia đình gửi vào cắt ra, vẽ hình vẽ chữ lên dùng tạm. Trông thấy cũng rất đẹp, dùng chơi cũng thú vị chẳng kém gì bài lá thứ thiệt.
 
Ít ngày sau, nhờ phát giác được củi đun bếp là loại gỗ cây cao su, mộc mềm, mịn, dễ đẽo, lại trắng muốt có thể viết mực lên mặt gỗ dễ dàng, nên một số anh đã hì hục gọt đẽo làm quân cờ tướng, cờ Mạt chược, cờ Domino, trông rất đẹp.
 
Tôi cũng bắt trước đẽo một bộ Mạt chược, và học cách đánh Mạt chược. Loại bài này chơi cũng tương tự như chơi Chắn Phỗng, nên Tôi học rất nhanh. Chỉ cần nhớ thêm các Khung, Hoa, Lá, và cách làm bài ăn lớn là được. Cũng chẳng khó gì, ghi luật lệ chơi vào một tờ giấy để trên đùi, lại có thêm ông thầy ngồi kè ngay bên để mách nước, thành ra chơi cũng mau thạo lắm.
 
Không ai nỡ hối thúc người mới vào nghề, nhưng việc đánh không đúng bài để cho người ta ù lớn, phải chi tiền thế cho thiên hạ thì không được tha. Mỗi lần phải chi tiền đền thay thiên hạ như vậy là một tai họa lớn, làm cho tiêu gia bại sản dễ như chơi. Thường chỉ những lúc Thầy cố vấn mắc đi giải quyết việc riêng, các tay mơ ngồi chơi bài một mình, mới bị các kiện tướng lừa vào tròng. Họ làm như vậy là muốn tạo cho mình học hỏi kinh nghiệm mau “tiến bộ”, nhưng cũng để có dịp cho họ vui cười lượm bạc cắc, trước sự đau khổ của mình.
 
Trong thâm tâm, ai cũng vẫn luôn luôn nhớ bài học thuộc lòng hồi Tiểu học : “Cờ bạc là bác thằng bần, Ai mà dính nó xa chân vào cùm”. Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, các loại giải trí này cũng là những phương tiện tốt để giết thì giờ, khỏi phải suy nghĩ vẩn vơ. Ngồi không bàn tán chuyện tào lao, lỡ gặp phải dân “ăng-ten” nghe được báo cáo thì khốn cả lũ.
 
Trong khi đó, ở ngoài giữa sân có 2 anh, bị Cán bộ chỉ định, phải ngồi phơi nắng hì hục gõ gõ, đục đục, cắt miếng tôn còn mới, gò ghép thành một chiếc thùng lớn, hình ống cao có nắp đậy, có lẽ để đem về nấu bánh chưng Tết. Tôi đến ngồi xem, bắt chuyện làm quen, biết được một anh là Ðại tá Trịnh Ðình Ðăng. Người “Anh hùng An Lộc”, nguyên Trưởng Phòng 3 của Sư đoàn, bị thương mà không chịu rời Bộ tham mưu đi tản thương, nhất quyết ở lại cùng anh em tử thủ. Ðến khi viện binh của Quân đoàn giải vây xong, Tổng thống Thiệu đã cho thả bộ cấp hiệu Ðại tá xuống ngay trận tuyến, thăng cấp đặc cách mặt trận cho anh ấy.
 
Hồi chiến trận An Lộc xẩy ra, Tôi đang làm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến, đã cho chạy tin 5 cột vàø ảnh của anh Ðăng nơi trang nhất, đến bây giờ mới được gặp mặt người “Anh hùng An Lộc” bằng xương bằng thịt. Trước khi bị động viên theo học khoá Sĩ quan trừ bị Thủ Ðức, Anh Ðăng đã có học Trường Kỹ thuật Bách khoa tại Hànội, nên rất giỏi về chuyên nghiệp thợ nguội. Anh Ðăng có một thời gian phụ trách Xây dựng Nông thôn tại Quân đoàn 3. Trước ngày 30-4-1975, làm việc trong Bộ Tham mưu Tiền phương của Quân đoàn 3 tại tuyến đầu Phan Rang, dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.
 
Tôi ngồi chuyện gẫu làm quen, và quan sát gần cả buổi, mới ngỏ lời xin học nghề. Anh Ðăng vui vẻ bằng lòng, và chỉ dẫn cho Tôi thứ tự những việc phải làm, theo từng động tác rất kỹ lưỡng. Nhờ vậy, Tôi đã tự gò được chiếc gầu múc nước nho nhỏ cỡ 2 lít, chiếc soong có cả quai xách và nắp đậy rất vừa vặn xinh đẹp, đủ lớn để nấu canh cho 4 người dùng một bữa. Lúc đó Tôi ăn chung mâm với 2 anh Ðại tá Pháo binh, và anh Ðại tá Võ Quế gốc Không quân (em ruột Tướng Võ Dinh).
Suốt thời gian mười mấy năm cải tạo về sau, anh Ðăng và Tôi luôn luôn ở cùng Trại. Chúng tôi cùng thuộc nhóm Ðại tá đầu tiên, bị chuyển qua Trại tù do Công An “quản lý” ở Tân Lập, Vĩnh Phú. Anh Ðăng và Tôi được “biên chế” vào chung một Ðội. Rồi cùng phải chuyển đi Trại Thanh Phong, Thanh Hoá. Ðến tháng 4 năm 1982, chúng tôi được đưa về Trại Z30C, rồi Z30D ở vùng quận Hàm Tân, Thuận Hải miền Nam Việt Nam, cho đến khi được tha vào giữa tháng 2 năm 1988, Tết Mậu Thìn. Hiện nay anh Ðăng đang định cư tỵ nạn tại California.
 
Sau Tết dương lịch, các đội được thay phiên đưa ra đồng, sát ngay bên thiết lộ Saigon-Biên Hoà, để cuốc đất vun luống trồng khoai mì. Một sự kiện đã xẩy ra vô cùng ngoạn mục không ngờ được là, khi đoàn xe hoả chạy ngang qua khu vực lao động của chúng tôi, trên các toa xe đầy đặc bộ đội Cộng sản mặc đồ tác chiến, súng lăm lăm nơi tay, thế mà có một nhóm trẻ em chơi sát đường rầy, đã can đảm ném đá khi đoàn xe chạy ngang, và lớn tiếng chửi : “-Ð..M.. Cách mạng giải phóng!”
Bộ đội Cách mạng mang súng đi theo canh bọn tù cải tạo chúng tôi, chỉ nghệt mặt làm ngơ yên lặng chẳng nói gì. Chúng tôi phải giữ thái độ thản nhiên, như không hề thấy sự việc vừa xẩy ra. Nhưng khi về trong trại, anh em mới xôi nổi ngỏ lời bàn tán, thán phục mấy em nhỏ thật là dũng cảm.
 
Kể từ ngày hôm sau, không đội nào được đưa ra ngoài lao động nữa. Thật là một chuyện vui bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Có thế, bọn nhân danh Cách mạng Giải phóng mới hiểu được rằng, dân chúng miền Nam chẳng ưa gì họ, mà chỉ sợ vì họ là những người không còn nhân tính có vũ khí trong tay, có thể giết bất cứ ai, kể cả Cha Mẹ nếu Ðảng chỉ thị. Như trường hợp điển hình của Cán bộ trung kiên cao cấp lão thành Trường Chinh chẳng hạn.
 
Trước khi Trường Chinh được Ðảng đưa lên làm Tổng Bí thư, đã từng phải thi hành lệnh Ðảng về quê “nơi chôn nhau cắt rốn”, đấu tố xử tử chính Cha ruột của mình, trong chiến dịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc Xã hội chủ nghiã hồi năm 1955, thời gian CSVN nắm toàn quyền sinh sát trên đất Bắc, theo Hiệp định Genève tháng 7-1954 ký kết với Pháp do lệnh các quan Thầy Nga Tầu “chỉ đạo”.
Hành trang chuẩn bị xong rồi,
Tập trung từng Ðội đứng ngồi đợi xe.
Xôn xao chuyện gẫu bên hè,
Nôn nao chẳng biết chuyển về nơi đâu ?
Cao nguyên ? Phú quốc ? Cà mâu ?
Côn sơn ? Quảng đức ? rừng sâu ? đồng bằng ?
Có nguồn tin nhảm, đồn xằng,
Tập trung về trại Sóng Thần, Lễ tha.
Ngây thơ quá đỗi thật thà,
Ðấu tranh giai cấp, thả ra thế nào?
Ðộng cơ vận tải lao xao,
Mặt Trời đang tụt phiá sau cây rừng.
Lên xe nửa sợ nửa mừng,
Gian truân bám hại tới chừng nào đây?
Xe lăn bánh, gió hây hây,
Người đi kẻ ở vẫy tay tiễn chào.
Lâu rồi mới thấy đồng bào,
Dọc hai bên lộ dẫn vào Hố Nai.
Nhà Thờ cửa đóng then cài,
Chẳng như thuở trước, trong ngoài đầy Chiên.(1)
Xót xa thương nhớ vợ hiền,
Làm sao xoay sở có tiền nuôi con?
“Còn Trời, còn nước, còn non”
Còn quân Cộng sản, Em còn gian truân.
Cầu xin Trời, Phật, Linh thần,
Ðộ cho Em được yên thân hàng ngày.
Vững tâm vượt hạn hôm nay,
Trời thương chẳng hại, còn ngày gặp nhau.
Thất thời, đành chịu lao đao,
Tới đâu hay đó, hơi nào mà lo.
Xe ngưng, Trời đã tối mò,
Ðèn pha rọi sáng, điểm cho Tù vào.
Ngoằn ngoèo theo giậu kẽm cao,
Nối đuôi hàng một bước vào khu giam.
Mỗi gian năm chục chỗ nằm,
Nhà tôn tiền chế, xi măng đúc nền.
Gióng hàng ngủ dọc hai bên,
Ðầu quay đụng vách, gối lên đồ dùng.
Nội quy luật lệ tập trung,
Chín giờ đèn tắt, hạ mùng ngủ yên.
Riêng Ta vận khí luyện thiền,
Quên đi bao nỗi truân chiên trong ngày.
Quên đi mọi nỗi đắng cay,
Giữ hồn trong sáng đợi ngày Tự do.
Ðấu tranh dựng lại cơ đồ,
Cho toàn dân Việt ấm no, phú cường.
Nơi nơi bàng bạc tình thương,
Nhân quyền, Bác ái, bốn phương hài hoà.
Ví rằng Trời chẳng thương cho,
Thì đành bỏ xác nơi bờ rừng hoang.
Thề không phục bọn bạo tàn,
Cho dù thịt nát xương tan cũng đành.
Chẳng thành công, phải thành danh,
Mệnh Trời định sẵn, ai giành được sao?
 
 
Suối Máu,Tam Hiệp, Biên Hoà, Tháng 10-1975.
 
(1) Những người theo đạo Thiên Chúa thường được các Linh mục gọi là Bầy Con Chiên của Chúa
 
Chương 7
 1976 – BÍNH THÌN, TẾT ÐỔI ÐỜI.
 Tháng 12 năm 1975, lần đầu tiên kể từ khi bị tập trung đưa đi cải tạo vào giữa tháng 6 năm 1975, Ban Chỉ huy Trại giam Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hoà, cho Tù Cải Tạo được viết thơ để trại chuyển về báo tin cho gia đình biết là mình đang còn sống. Ðồng thời xin gia đình gửi tiền, quà “bồi dưỡng”, và quần áo chống lạnh, qua hệ thống Bưu điện, để ăn mừng Noel 1975 và Tết Bính Thìn (1976).
 
Tùy theo khả năng của mỗi gia đình, ai muốn gửi bao nhiêu tiền, bao nhiêu gói quà cũng được, không bị hạn chế. Riêng anh Nhà trưởng Nhà 2 của chúng tôi, còn nhờ được Cán bộ Quản giáo Ðội, đưa thư đến tận nhà riêng, và đem giùm những thực phẩm nhà tiếp tế vào cho, từ nhiều ngày trước khi trại chính thức cho phép, Tù được biên thư xin gia đình gửi đồ “tiếp tế” qua hệ thống Bưu điện.
 
Vài ngày trước Lễ Giáng sinh 1975, anh em Công giáo trong Khu giam các Ðại tá thì thầm truyền tai nhau, có lễ mừng Giáng sinh tổ chức lén tại dẫy nhà gần cuối khu. Mọi người yên tâm tham dự không sợ, vì đã cắt cử người canh chừng báo động, đề phòng trường hợp Cán bộ vào trại bất tử. Tôi không quan tâm tìm hiểu kỹ, vì không phải là tín hữu Kitô giáo, nên không biết Lễ cử hành tại đâu, vào giờ nào, ai Chủ Tế, và số người tham dự có đông không.
 
Sáng ngày cuối năm Ất Mão, trong Láng chúng tôi có anh Dương Hiếu Nghĩa (Ðại tá Thiết giáp binh) chủ xướng, đề nghị kín với anh Nhà trưởng Nhà 2, thiết lập một bàn hương án ngoài sân trống nằm giữa hai dẫy Nhà 1 và Nhà 2, để anh em cúng Giao Thừa đón Xuân Bính Thìn (1976). Ðược sự đồng ý của anh Nhà trưởng, Tôi đã tiếp tay với anh Nghĩa lập một “bàn hương án dã chiến”, bằng chiếc khay tôn dài 80 phân, rộng 60 phân, vẫn dùng đựng cơm phát cho anh em trong Láng chúng tôi ăn hằng bữa, đặt trên chiếc lu bằng nhựa ni lông tròn cao 1 mét, vẫn dùng đi lãnh nước chín về phát cho anh em hàng ngày. Trên “bàn hương án dã chiến” này, chúng tôi bầy cành hoa mai giấy làm lấy, bánh chưng, mứt kẹo, nước trà, đèn cầy (nến), và lon sữa bò cắm nhang, để cúng Trời Ðất Thần Linh.
 
Chúng tôi bầy “bàn hương án dã chiến” tại cuối khoảng sân nhỏ hẹp giữa hai dẫy Nhà 1 và Nhà 2. Vì khoảng sân này được coi là địa điểm an toàn. Nó không bị quan sát từ phía ngoài rào trại, cũng như từ đồn canh kiểm soát tại cổng Khu, nhờ có dẫy Nhà Bếp lớn dài của Khu che khuất.
 
Khu giam chúng tôi chỉ có một cổng ra vào duy nhất. Muốn vào trong khu, phải đi vòng vèo theo lối nhỏ chật hẹp giữa 2 hàng kẽm gai, bề ngang cỡ 80 phân, mất ít nhất là 3 phút, mới từ cổng vào đến được trước cửa điếm canh bên trong sân. Vào lọt rồi, còn phải đi qua một sân trống, rộng dài cả hơn trăm mét, mới tới lối rẽ vào đầu dẫy nhà kế bên Nhà 2 của chúng tôi.
 
Ðặc biệt đêm 30 Tết, Ban chỉ huy trại giam “chiếu cố”, để đèn điện sáng tới lúc qua Giao Thừa mới tắt, cho Tù trong các Láng được vui chơi trò chuyện thoải mái, chuẩn bị đón năm mới. Cán bộ canh tù cũng mải chuẩn bị vui Tết đơn vị, mừng một năm Cách mạng toàn thắng, Thống nhất đất nước, nên cũng chẳng vào bên trong Khu, rảo quanh kiểm soát gắt gao như thường lệ. Anh Nghĩa và Tôi sửa soạn các thứ cúng từ hồi chiều, nhưng đợi tới khoảng hơn 11 giờ khuya, mới bắt tay vào việc bầy biện “bàn hương án dã chiến” ra sân. Công tác vừa hoàn tất dược chừng năm phút, thì nghe tiếng chuông Nhà Thờ gần trại giam bắt đầu vang vọng báo Xuân sang.
 
Pháo bắt đầu đùng đẹt nổ bên phiá khu nhà Cán bộ cảnh vệ, và râm ran vang vọng từ xa xa nơi Dân chúng sống gần quanh trại giam. Anh Nghiã và Tôi ra sân, đến bàn thờ thắp nhang đèn, vái cúng Trời Ðất Linh Thần. Chúng tôi cầu xin phù hộ cho Dân tộc Việt Nam được sống yên vui hạnh phúc, khắp nơi bàng bạc tình thương, và cho chúng tôi cùng gia đình vợ con luôn sức khoẻ, tai qua nạn khỏi, sớm được đoàn tụ bên nhau, xây dựng cuộc sống an lành trong xã hội mới.
 
Mấy phút sau, lẻ tẻ cũng có một số bạn trong Nhà 1 và Nhà 2 của chúng tôi, lần lượt âm thầm đến trước “bàn hương án dã chiến”, chắp tay vái lạy cầu nguyện Trời Ðất Thần Linh phù hộ. Mỗi người vái lạy cầu xin Trời Ðất Thần Linh phù hộ xong, lập tức rời ngay bàn thờ lanh lẹ trở vào Láng của mình, tìm bạn bè bắt tay mừng chúc nhau mọi sự tốt lành trong năm mới.
 
Hai Láng của chúng tôi làm như vậy, còn các Láng khác thì không biết. Không dám liều lĩnh lần mò đi quan sát, nên không biết. Quy luật trại rất gắt gao, cấm mọi di chuyển ra ngoài Láng ban đêm, ngoại trừ nhu cầu đi vệ sinh. Ban đêm, mỗi khi đi ra đi vào nhà, đều phải báo cáo lớn tiếng : “-Báo cáo anh bộ đội, tôi đi nhà vệ sinh.” hoặc “-Báo cáo anh bộ đội, tôi đi nhà vệ sinh vào.” Chẳng biết anh bộ đội đứng rình ở khe ngách nào, nếu không làm đúng quy lệ, bỗng nhiên anh ta lên tiếng hạch hỏi : “-Anh kia đi đâu?” thì lãnh tai vạ ngay.
 
Ðể cho Tù “biết ơn Cách mạng,” và “hân hoan” mừng đón Tết Bính Thìn (1976), trại giam tổ chức thực hiện “báo tường”, đấu bóng chuyền, đấu cờ tướng. Mọi người, mọi Ðội được “khích lệ” “đăng ký” “thi đua”, tranh giải thưởng.
 
Nhà 2 của chúng tôi phối hợp với Nhà 1, lập Ðội bóng chuyền tham gia tranh giải, vì 2 nhà thuộc chung một nhóm hoả vụ, nên hàng ngày thường xuyên được phép qua lại liên lạc mật thiết với nhau.
 
Nhân số cầu thủ ghi danh tham dự đội bóng của Nhà 2 đông hơn Nhà 1. Anh em cầu thủ thuộc Nhà 2 phần đông làm việc trong Bộ Tổng tham mưu, biết Tôi từ hồi làm Chỉ huy phó Viễn Thông Bộ TTM những năm đầu thập niên 1960, là một cầu thủ tài tử khá trong đội bóng chuyền Sĩ quan của Bộ Chỉ huy Viễn thông. Nên mọi người “nhất trí” yêu cầu Tôi làm Trưởng đội bóng, để đôn đốc anh em tập luyện hàng ngày.
 
Những người ghi danh tham gia trong Ðội bóng chuyền chúng tôi, được miễn mọi dịch vụ hàng ngày, để tập luyện gấp rút cả sáng lẫn chiều. Chúng tôi đã cố gắng hết sức mình, luyện tập tinh thần kỷ luật đồng đội, kỹ thuật đón chuyền banh cho nhau được thật thuần thục, cũng như tập luyện thể dục và sức chịu đựng của cơ thể ngoài nắng cho thật dẻo dai. Rút cuộc, thành quả sau cùng chúng tôi đạt được rất vẻ vang.
 
Trong Khu giam chúng tôi được chia ra 2 phân khu nằm sát bên nhau, không rào gai ngăn cách. Khoảng 7 Nhà bên phiá Ðông và Bắc, giam các Ðại tá và vài ông Tướng đưa từ Khám Chí Hoà, Saigon tới. Số còn lại bên phần đất phiá Tây và Tây Nam, giam các Trung tá ít hơn chúng tôi.
 
Bên phiá các Trung tá chỉ lập có 1 đội banh. Bên phân khu Ðại tá chúng tôi đông người hơn, nên có tới 2 đội “đăng ký” tranh giải. Như vậy là có tất cả 3 đội bóng chuyền ghi danh tranh tài, nên cuộc chơi được tổ chức theo thể lệ đấu Tam Giác. Theo phương thức này, cả 3 đội phải thay phiên đấu với nhau theo kết quả bốc thăm. Ðội nào bị thua cả 2 đội kia thì bị loại. Hai đội thắng đấu chung kết, tranh giải Nhất, Nhì, trong 3 ván 21 điểm. Ðội nào thắng liền 2 không, hoặc 2 trên 1 thì được coi là vô địch lãnh phần giải Nhất.
 
Mồng Một Tết, cuộc tranh giải bắt đầu lúc 8 giờ sáng. Ðội bóng của chúng tôi được gọi là đội A, may mắn bốc thăm được ra quân đầu, tranh ăn thua với đội B. Chúng tôi thắng 2 không, được ngồi nghỉ chờ xem 2 đội B và C đấu với nhau. Ðội C thắng đội B cũng 2 không, được nghỉ 30 phút giải lao, trước thi đấu chung kết với đội chúng tôi.
 
Cuối cùng, đội của chúng tôi thắng trận chung kết với tỷ số 2 trên 1, lãnh giải thưởng hạng Nhất, gồm 1 hộp mứt thập cẩm và 1 bao thuốc lá Sapa sản xuất tại miền Bắc Xã hội chủ nghiã. Anh em tụ lại thưởng thức vui vẻ để mừng thắng lợi đầu năm, do chính công sức hợp quần kỷ luật của cả đội nên mới đạt được.
 
Trận đấu chung kết diễn ra khá gay go, sau khi hai bên hoà nhau 1-1 với tỷ số ngang ngửa. Ván thứ nhất đội chúng tôi thắng 21 trên 19. Ván thứ 2 đội chúng tôi thua lại 21 dưới 23. Ván sau cùng đội C dẫn trước 10 trên 9. Theo luật thi đấu đã thoả thuận trước, trong thời gian tranh đấu ván kết thúc, khi có đội dẫn đến 10 điểm thắng, thì bắt buộc phải thực hiện việc đổi sân giữa 2 Ðội, trước khi tiếp tục giao đấu.
 
Thật là may mắn, đội chúng tôi được chuyển sang phiá sân quay lưng vào mặt Trời, nên không bị chói mắt. Chúng tôi đã khai thác lợi thế đó, lúc thì đưa bóng thật cao và sâu sang tận cuối sân bên đối phương, lúc thì bỏ nhỏ sát lưới. Dĩ nhiên xen kẽ các cú banh dài ngắn, có những cú đập vũ bão sát lưới, của 3 tay đập thường xuyên đứng tại hàng đầu. Ðội của chúng tôi có tới 4 tay nhẩy cao đập bóng lận. Chúng tôi áp dụng lối thay đổi chớp nhoáng vị trí các cầu thủ, ngay sau tiếng còi trọng tài thổi báo cho phép đối phương giao banh. Nhờ thế, lúc nào tại hàng đứng bên lưới, chúng tôi cũng có 3 tay búa để cản và áp đảo đối phương.
 
Cuộc đấu bóng chuyền trong tù đầu năm Bính Thìn này, đã lưu lại trong tâm hồn Tôi một kỷ niệm rất xúc động không bao giờ quên được. Anh Nghĩa đã nhắc Tôi áp dụng mánh khoé, xin trọng tài cho ngưng đấu một phút để đổi người, vào lúc đội C đang dẫn 19 huề, mặc dầu đội chúng tôi không có ai bị trục trặc gì cần phải ra sân cả. Nhờ thế, hùng khí ưu thế của đối phương đang hăng bị giảm đi, chúng tôi có thời gian lấy lại bình tĩnh, và bàn luận thay đổi chiến thuật.
 
Tiếp tục đấu lại thật gay go, cả 2 bên cứ thay phiên nhau huề, đổi giao banh, lợi điểm một, rồi lại huề… Tất cả anh em trong Ðội chúng tôi, không ai quan tâm đến chuyện được hay thua, nên bao giờ cũng bình tĩnh giữ tinh thần thể thao giải trí vui vẻ, vừa đánh vừa bông đùa khích lệ tinh thần nhau cố gắng thêm, chớ không cằn nhằn nhau khi có người lỡ làm hỏng đường banh, như bên đối phương. Nhờ thế, tinh thần đoàn kết của chúng tôi vẫn cao, lần lần nâng tỷ số bàn thắng lên, chiếm được ưu thế dẫn trước 22 trên 21.
 
Ðang ăn điểm, chúng tôi được tiếp tục giao banh. Trái banh đánh đi thật độc, xà xà sát mặt lưới. Bên đối phương bị mặt Trời làm choá mắt, 3 anh đứng hàng sau cũng nhanh nhẹn nhào mình lăn ra đất, vớt banh kịp thời cứu nguy. Nhưng họ không có cơ hội tung banh lên cao, cho hàng đứng sát lưới đập. Nhờ thế banh được búng trả lại, sâu trong góc sân bên chúng tôi, một cách thật hiền hoà, không có gì nguy hiểm.
 
Anh bạn đội chúng tôi đứng thủ nơi góc sân, đón banh một cách dễ dàng. Anh ấy nhẹ nhàng chuyển tới Tôi, để nâng lên cao cho anh đứng giữa sát lưới đập như thường lệ. Liếc nhanh bên sân đối phương thấy có chỗ trống. Thay vì nâng banh lên cao, Tôi bất chợt bỏ nhỏ, sau lưng người đứng cạnh rìa sân đối diện bên kia lưới, đang nhẩy lên hiệp cùng 2 bạn đứng sát lưới để cản banh. Trái banh đã nhẹ nhàng rơi xuống đất, ngay chỗ trống sau lưng anh ta, cùng lúc hết đà nhẩy chân anh ta vừa hạ xuống chạm mặt đất. Không vớt kịp, cú bỏ nhỏ tuyệt vời đã chấm dứt ván thứ 3, với tỷ số 23 trên 21, đem lại thắng lợi vẻ vang cho Ðội chúng tôi.
 
Tiếng còi của Trọng tài, tuýt tuýt tuýt, tuýt tuýt tuýt, nhiều hồi liên tiếp vang lên báo hiệu mãn trận đấu. Khán giả đứng xem chung quanh sân ùa vào, nhấc bổng Tôi lên vai, khênh đi một vòng giữa những tiếng “hoan hô ông già nhỏ con”, một cách nồng nhiệt.
 
Mọi người tán thưởng đội chúng tôi nồng nhiệt như vậy, vì cầu thủ của đội C toàn là anh em cấp Trung tá, cũng lớn tuổi nhưng tương đối trẻ hơn chúng tôi. Mọi người thấy rõ ràng, sức chịu đựng của anh em mạnh và dẻo dai hơn chúng tôi. Nhưng vì nóng nẩy muốn dứt điểm sớm, hay cằn nhằn làm bực mình nhau, nên mới thua. Chúng tôi đã thắng, nhưng thật vô cùng vất vả.
 
Về “Báo tường”, Nhà 2 của chúng tôi có Ðại tá Bá Thìn tự Long rất khéo về hoạt hoạ, trình bầy tờ báo thật đặc sắc, mầu sắc hài hoà nổi bật, hình vẽ mỹ thuật sắc sảo vui mắt. Bài vở thì do anh em cả hai Nhà 1 và 2, cùng đóng góp rất phong phú, có cả sớ Táo quân, thơ Xuân, bài Xã luận, và nhiều chuyện vui rất dí dỏm.
 
Dĩ nhiên là muốn được an toàn xa lộ, thì mọi bài viết phải xoay quanh đề tài mừng “Cách mạng mùa Thu đại thắng”, “Chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân Ất Mão (1975) thần thánh, Thống nhất đất nước,”, “Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng vô địch” đã đánh thắng cả 3 Ðế quốc Tư bản “giầu mà không mạnh” là Pháp, Nhật, và Hoa Kỳ.
 
Phần lớn ý tứ diễn đạt trong các bài được lựa đăng trên “báo tường”, đều phải “phản ánh” đúng những gì 10 bài học tập muốn nhồi sọ. Thật tình, phải thán phục những anh em tham gia góp bài rất khôn khéo, đã sáng tác những đoạn văn rất hay làm vui lòng Cách mạng. Cũng có những bài vô thưởng vô phạt nhưng rất hữu ích, do các Ðại tá Quân y viết. Như các đề tài gìn giữ vệ sinh cá nhân và luyện tập vận động cơ thể để sống khoẻ mạnh hàng ngày, gìn giữ vệ sinh công cộng tránh các bệnh truyền nhiễm, thường phát sinh lan truyền trong đám đông sống chung thiếu các tiện nghi và thuốc phòng ngừa… Nhờ thế báo tường của Nhà 2 chúng tôi, cũng được giải thưởng. Anh Nhà trưởng của chúng tôi rất vui, cho biết là Cán bộ Quản giáo Ðội cũng được Ban chỉ huy trại “biểu dương”. Từ đó anh em thấy cử chỉ Quản giáo đối xử với Ðội, tương đối dễ dãi hơn các Ðội khác.
 
Ngày Tết Nguyên Ðán đầu năm, Nhà 2 của chúng tôi có được hai điều vui, nhưng lại gặp một điều buồn, tủi hổ không thể nào quên được. Số là anh em thường tụm thành từng nhóm 4, 5 người ăn chung. Ðến giờ lãnh cơm và thức ăn, chỉ cần 1 người đại diện lấy vật dụng của các bạn trong nhóm, tập trung nộp cho người trực ngày của Láng phân chia. Trước khi chia, bao giờ người trực cũng đếm số dụng cụ đựng thực phẩm đã xếp hàng, xem có phù hợp với số người được thụ hưởng không. Nếu thấy thiếu thì nhắc nhở lớn tiếng, để ai quên chưa nộp phải đem ngay dụng cụ tới lãnh phần của mình. Trường hợp dư cũng phải loan báo lớn tiếng, nhắc nhở người nào lỡ quên để 2 dụng cụ phải đến lấy bớt ra.
 
Hôm đó, trước khi ra trạm canh tại cổng gặp Cán bộ Quản giáo Ðội, anh Nhà trưởng đã tự để dụng cụ lãnh phần thịt của mình rồi, nhưng anh bạn cùng ăn trong nhóm không biết, lại để dụng cụ đúng theo sĩ số cho cả nhóm. Do đó tổng số dụng cụ nộp lãnh thịt dư ra một chiếc. Nhắc nhở 3 lần không ai trả lời, vì mọi người còn mải đi xem các cuộc vui Xuân ở ngoài sân, nên anh trực phụ trách chia thịt, tự động bỏ đại 1 Gamen ra bên.
 
Chẳng may gặp đúng ngay Gamen của 1 bạn, chẳng ăn chung mâm với ai. Thịt chia xong, anh bạn kia đến lấy, thấy Gamen của mình bị bỏ sang một bên, trống trơn không có phần thịt, đã lớn tiếng khiếu nại. Lời qua tiếng lại gây gổ, suýt nữa thành ra ẩu đả.
 
May sao anh Nhà trưởng ở ngoài bước vào, hỏi rõ sự việc, liền quyết định yêu cầu mọi người đến nhận diện dụng cụ, để tự lấy phần của mình. Nhờ thế, mới lòi ra chính người phụ trách chia thực phẩm, ăn cùng mâm với anh Nhà trưởng, đã lầm lẫn để dư dụng cụ nhận phần thịt cho nhóm. Thành ra anh Nhà trưởng được chia tới 2 phần thịt.
 
Anh nhà trưởng và người trực chia thực phẩm, đã phải chân thành xin lỗi anh em. Sự việc tuy nhỏ, nhưng là một điều thật đáng buồn cho cái Tết Ðổi Ðời đầu tiên trong tù, không bao giờ quên được.
 
Kể từ Noel, trại đem 1 máy thu hình nhỏ (TV) đặt trên bàn gỗ ở giữa sân, để tối tối anh em Tù trong cùng Khu được phép ra ngồi xem. Ai nấy lo kiếm 1 khúc gỗ kê đít, một chiếc dép râu bỏ không dùng vì đứt hết quai cao su, chiếc guốc đẽo lấy bằng gỗ cao su đun bếp, hoặc chiếc ghế nhỏ thấp, đặt xếp hàng giành chỗ trước từ sáng sớm. Vì màn ảnh TV quá nhỏ, người ra xem quá đông, chậm chân ra trễ phải đứng xa cả 50 mét, thì sẽ chẳng thấy hình ảnh, mà chỉ nghe được âm thanh như nghe radio vậy thôi.
 
Một chuyện thú vị khác, diễn ra trên màn ảnh nhỏ (hệ thống tuyên truyền bằng TV của Nhà Nước Xã hội Chủ nghĩa tại Saigon) đã làm cho chúng tôi thấy khoái trá trong lòng. Chẳng khác nào vụ nhóm các em nhỏ, đứng bên cạnh thiết lộ Biên Hoà – Saigon, ném đá lên đoàn xe hoả chở bộ đội, và chửi thề : “-Ð..M.. Cách mạng Giải phóng!”, hồi đầu năm Dương lịch 1976 (đã kể trong một đoạn trước).
 
Trong chương trình đêm giao thừa, sau bài ca vọng cổ của nữ ca sĩ nổi danh miền Nam, Bạch Tuyết, ca ngợi Cách mạng mùa Thu đại thắng, là tin phóng sự của một phóng viên trẻ “đội mũ tai bèo”, phỏng vấn 1 bà lão bán rau, ngồi bên lề đường phía cổng Tây chợ Bến Thành.
 
Bỗng nhiên, mọi người đang ngồi xem đồng loạt cười ồ vỗ tay rào rào. Cán bộ tuần kiểm trong trại, cũng đang dừng chân đứng xem ké, ngơ ngác chẳng hiểu gì cả, nhưng cũng cười theo rồi bỏ đi. Ðầu đuôi câu chuyện phỏng vấn như thế này :
 
Anh phóng viên mào đầu ngỏ lời chào bà cụ rồi hỏi :
 
-Thưa Bác, năm nay ăn Tết Cách mạng Giải phóng Thống nhất đất nước, Bác thấy thế nào?
Bà lão thật thà trả lời :
 
“-Vui mừng lắm, vì Giải phóng rồi, không còn Việt Cộng pháo kích vào Thành phố, vào Chợ, vào Trường học giết hại đồng bào và trẻ con nữa!”
 
Thật là một chuyện hy hữu, không thể xẩy ra trong hệ thống tuyên truyền của Cộng sản, thế mà nó đã xẩy ra. Có Trời mới biết được tại sao.
BÍNH THÌN-1976, TẾT ÐỔI ÐỜI.
Mất hết, còn chi Tết với Xuân,
Nhà tan, Tổ vỡ đọa đầy thân.
Nghe tràng pháo nổ, lòng tan nát,
Ngó cánh Mai rơi, não bí vần.
Kẻ thắng cuồng vui cười hể hả,
Người thua chua chát hận phân vân.
“Anh hùng mạt lộ” âm thầm chịu,
Tà, Chính, Trời cao sẽ định phần.
 
Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hoà, Tháng 2-1976.
 
Chương 8
SUỐI MÁU, TAM HIỆP, BIÊN HOÀ, QUỶ ÐỎ THỊ OAI
Trại Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hoà được chia ra nhiều Khu với tên riêng (A, B, C, D…), ngăn cách bởi những hàng rào kẽm gai dầy chằng chịt, rộng khoảng 10 mét, cao 3 mét.
 
Các Khu khác thì không biết sao, trong Khu giam chúng tôi có khoảng hơn chục căn nhà tiền chế, khung sắt lợp tôn. Vách chung quanh nhà cũng bằng tôn, chân hổng cao hơn mặt đất khoảng 30 phân. Lưng chừng vách dọc 2 bên hông nhà có các khuôn cửa sổ rộng khoảng 1 mét vuông, không có cánh cửa. Lối ra vào qua 2 cửa lớn ở 2 đầu nhà cũng không có cánh cửa. Ở ngoài có thể trông suốt vào nhà, để quan sát các hoạt động bên trong, qua khoảng hở dọc bên dưới chân vách, qua các khung cửa sổ, và qua 2 cửa ra vào lúc nào cũng trống trải.
 
Chung quanh nhà nào cũng đào một đường rãnh, rộng 1 mét, sâu 1 mét, để nước mưa thoát đi không tràn vào nền nhà. Do đó muốn vào nhà, phải đi qua một mảnh cầu bằng vỉ sắt rộng 50 phân.
 
Mỗi dẫy nhà được gọi là một Láng, dùng để giam khoảng 50 người. Mỗi khoảng nằm chia cho một người rộng cỡ 70 phân, vừa đủ trải một chiếc chiếu cá nhân.
 
Trong Khu giam chúng tôi, được coi như có 2 phân khu nằm sát bên nhau, không hàng rào ngăn cách. Khoảng 7 hay 8 Láng nằm kế cận quanh giếng nước công cộng và hầm vệ sinh lộ thiên, được dùng để giam các Ðại tá, và vài ông Tướng chuyển từ Khám Chí Hoà Saigon tới. Số Láng còn lại ở nửa phần đất phía Tây của Khu, giam các Trung tá và hình như có lẫn cả Thiếu tá, Ðại úy. Vì thế trong Khu chúng tôi có tới 2 dẫy Nhà Bếp riêng rẽ, cách nhau bởi khoảnh sân tập họp lớn trống trải ngay bên cổng vào. Ðồn canh tại cổng cũng như văn phòng bên ngoài hàng rào Khu, có thể quan sát hoạt động trong cả 2 Nhà Bếp, thong thả, rõ ràng, thường xuyên ngày đêm.
 
Trong dẫy Nhà Bếp dành riêng cho nhóm Ðại tá chúng tôi, có xây hai hàng lò nấu đâu lưng sát bên nhau, dọc suốt bề dài, giữa dẫy nhà. Trên mỗi lỗ lò có để sẵn một chiếc vạc bằng gang rộng 1 mét.
Hai Láng 1 và 2 của chúng tôi ăn chung một hoả đầu vụ. Mỗi “toán anh nuôi” (hoả đầu vụ) phụ trách nấu cơm và thức ăn cho 2 Nhà, được xử dụng 3 lò sát bên nhau để nấu nướng ngày 2 bữa. Hai lò để nấu cơm và một lò để nấu canh. Còn món mặn thì dùng soong, đặt kiềng hoặc kê gạch trước các cửa lò nấu cơm mà kho, bằng than moi từ lò nấu cơm ra, sau khi gạo đun đã nở đều và cạn nước.
 
Những người trong “toán anh nuôi” không phải dân chuyên nghiệp, mà chính là anh em tù cư ngụ trong 2 Nhà, chia nhau luân phiên đảm trách. Mỗi nhà phải cử số người cần thiết để lo một ngày. Thường mỗi “toán anh nuôi” gồm 4 người nấu cơm, 2 người nấu canh và đồ kho, 4 người đi lãnh thực phẩm và bửa củi. Anh em trong “toán anh nuôi” và “toán bửa củi”, thường được “bồi dưỡng” mỗi người một ca nước cơm mỗi bữa, gạn từ chảo cơm đã xôi lâu, đang cạn nước trước khi rút lửa.
 
Láng chúng tôi nằm sát ngay dọc hông dẫy Nhà Bếp, nên ngày 2 buổi đi lãnh cơm, canh, và món mặn về chia nhau, không phải vất vả khênh khệ nệ đi xa như anh em ở các Láng khác. Gặp những lúc trời mưa đất trơn trượt, có thể bị té ngã làm văng đổ cơm và thức ăn ra đất. Ðã có Láng bị trường hợp không may này rồi. Thật là may mắn cho chúng tôi.
 
Nước dùng nấu ăn, vo gạo, rửa rau, làm cá, rửa soong chảo và đồ dùng đựng cơm canh chia cho anh em, đều múc ở giếng ngay tại sân bên cạnh nhà bếp. Nước tắm giặt, có một giếng khác ở phiá Bắc cuối Khu, gần hàng rào và hố vệ sinh công cộng lộ thiên, giáp ranh với Khu giam các sĩ quan cấp Úy.
 
Hố vệ sinh được đào sâu 2 mét, rộng 2 mét, dài 4 mét. Trên rìa một bên miệng hố, có để 1 vỉ sắt rộng 50 phân dài 5 mét (loại vỉ sắt ráp đường bay cho phi trường dã chiến), cho mọi người đứng hoặc ngồi trên đó mà tiểu hay đại tiện xuống hố. Ðây là nơi tập trung cơ man nào là giòi, và ruồi nhặng. Chúng là đoàn quân xâm lăng tấn công toàn trại, đặc biệt là các khu nhà bếp, để truyền giống bệnh thổ tả, kiết lỵ cho Tù nhân.
 
Nước chín để uống, các Láng giam Ðại tá chúng tôi phải sang Nhà Bếp Trung tá, ở sát bên cạnh để lãnh khiêng về phát cho anh em dùng. Vật dụng dùng khiêng nước, là 1 chiếc lu bằng nhựa ni lông cao 1 mét, chứa được khoảng 200 lít, cấp riêng cho mỗi Nhà. Mỗi ngày chỉ được phép qua lãnh 2 lần, sáng và chiều, theo giờ quy định trước.
 
Muốn vào Nhà Bếp Trung tá, phải đi băng qua chiếc cầu vỉ sắt rộng 50 phân, bắc ngang một rãnh sâu hơn 1 mét, rộng khoảng 4 mét. Do đó, một hôm 2 anh bạn ở Láng chúng Tôi tới phiên phải đi khiêng nước cho anh em, đã gặp phải tai nạn khủng khiếp.
 
Mặt vỉ cầu sắt bị nước sóng ra làm trơn trượt. Anh đi trước là Ðại tá Bá Long tự Thìn, chẳng may bị trượt cả 2 chân, té ngồi phệt đít xuống mặt cầu. Sức nặng của lu nước sôi 200 kílô khiêng trên vai, đè anh ta giáng bàn tọa xuống mặt vỉ sắt, mạnh đến nỗi làm bể xương hông không đứng lên được. Anh em phải chạy đến khiêng đi cấp cứu, may mà không bị phỏng.
 
Nằm liệt cả tháng không ngồi lên được, thế mà tới ngày anh em cấp Ðại tá bị đưa ra Bắc tập trung, Ban Chỉ huy Trại giam vẫn buộc anh em khiêng anh ấy ra xe cùng “hành quân”.
 
Ra đến Liên trại 1, ở xã Việt Cường, Yên Báy, anh Bá Long tự Thìn vẫn tiếp tục nằm không ngồi lên được. Phân trại cho miễn lao động và đưa vào nằm điều trị trong Bệnh xá của Liên trại 1, ngay chỗ ngã ba đường dẫn vào trại Cốc. Khoảng 3 tuần lễ sau, anh em nghe tin anh Bá Long tự Thìn chết. Theo lời giải thích của Cán bộ Phân trại trưởng, anh ấy chết vì nội thương biến chứng.
 
Một số anh em, sau 30-4-1975, vì gia đình thất tán hoặc gặp hoàn cảnh khó khăn về tiền bạc, không nhận được quà. Trong lúc thiếu đói đã nẩy sinh một sáng kiến thật độc đáo và đáng thương. Các anh ấy dù không thuộc “toán anh nuôi”, phụ trách nấu ăn cho anh em, nhưng ngày nào cũng tình nguyện phụ bếp, nhặt rau, mổ bụng cá đánh vẩy sạch sẽ, rửa các khay tôn đựng cơm sau khi chia xong còn dính cơm. Chỉ với mục đích duy nhất là lượm lặt gom góp các mẩu rau già, những bộ lòng cá moi bỏ, và những hạt cơm dính trong khay tôn, để hầm nấu lại ăn cho đầy bao tử chịu đựng qua ngày.
 
Ðại tá Nguyễn văn Chung (nguyên Tư lệnh phó Sư đoàn 1 BB) ở trong một Láng khác, cách Láng chúng tôi khoảng 100 mét. Nghe anh em đồn có hành động chống đối gì đó, nên bị bắt điều tra và giam giữ trong Conex.
 
Conex là một loại thùng vuông vắn to khoảng 10 mét khối, làm bằng kim loại cứng. Quân đội Hoa Kỳ dùng để chứa các vật liệu nhỏ dễ bị hư hỏng, bởi va chạm mạnh trong khi chuyên chở đi xa, hoặc cần thả bằng dù từ máy bay xuống cho các đồn bót hẻo lánh.
 
Conex được coi như là một loại nhà kho dã chiến tý hon không sợ mưa nắng. Cho nên lúc nào người ta cũng để phơi tênh hênh, giữa khoảng đất trống không bóng mát. Ban ngày trong Conex nóng như nung bởi ánh nắng, ngược lại đêm lạnh buốt vì kim loại tích khí sương.
 
Trại giam đã dùng Conex để nhốt tù bị kỷ luật. Thật khủng khiếp và dã man hết chỗ nói. Khoảng vài tuần sau khi bị giam trong Conex, anh Chung đã chết. Trại loan tin là anh ấy tuyệt thực để tự tử. Ai biết đâu? Anh ấy có thể bị tra tấn đến chết. Cũng có thể anh ấy bị chết ngộp vì nóng quá, lạnh quá, thiếu dưỡng khí. Cả ngày lẫn đêm, anh em tù đâu có ai được phép ra khỏi khu giam, léo hảnh đến gần khu làm việc của Cán bộ đâu mà thấy được.
 
Sau Tết Bính Thìn-1976, Trại tiếp tục cho Tù gửi thơ về nhà hàng tháng, để xin tiếp tế tiền và thức ăn khô qua đường Bưu điện. Thiếu tá Bé (dân phòng nhì Tiểu khu) và Ðại úy Thịnh (An ninh quân đội), là 2 người trong số anh em thường được Ban Chỉ huy Khu giam đem ra ngoài khu, cả ban ngày lẫn ban đêm, phụ trách việc lựa xếp, lập danh sách thứ tự các gói quà gia đình gửi đến cho Tù. Ðể hàng ngày trong giờ làm việc, Cán bộ dùng loa phóng thanh kêu tên từng nhóm 5 người một, tiếp nối nhau ra trình diện nhận lãnh.
 
Sau nhiều lần được đưa ra làm việc như vậy, các anh Bé và Thịnh đã lợi dụng những lúc nghỉ ăn uống, giải lao hút thuốc giữa buổi lao động, ra ngồi nơi hàng hiên phiá sau kho và văn phòng Cán bộ sát bên hàng rào, để quan sát thăm thú địa thế nghiên cứu lối thoát ra đường.
 
Thế rồi một hôm, trời mưa gió rả rích suốt ngày đêm không ngưng. Hai anh Bé và Thịnh cũng được ra khỏi Khu giam làm việc ban đêm như thường lệ. Ðến nửa khuya, trời vẫn mưa âm u mù mịt, lợi dụng lúc ra hiên sau nhà hút thuốc giải lao, 2 anh đã cùng nhau chui hàng rào kẽm gai thoát ra ngoài trốn Trại.
 
Chẳng may, rào kẽm gai có treo lủng lẳng những lon nhôm trống, 1 trong 2 người đã vô ý đụng gây tiếng động. Quân canh nghi có người vượt rào đã nổ súng bắn theo. Nhờ thời tiết đêm đang mưa gió mịt mù, ánh đèn điện quanh rào bị những hạt mưa rơi chi chít phản xạ làm choá mắt, lính gác đứng trên tròi cao không nhìn được rõ ràng cảnh vật chung quanh, chỉ hướng về phía có tiếng động bắn hú hoạ không trúng mục tiêu.
 
Anh em đang ngủ nghe tiếng súng, giật mình tỉnh giấc hoang mang chẳng biết chuyện gì. Chung quanh láng ngủ, tiếng chân người rầm rập chạy, ánh đèn pin lia qua lia lại soi dưới rãnh quanh nhà. Ðèn điện bật sáng, Quản giáo xộc tới cửa, hối Nhà trưởng kiểm danh “khẩn trương”. Không ai vắng mặt, Quản giáo bỏ đi. Ðến sáng mới hay tin, đêm qua có người trốn trại.
 
Hai người trốn đã chạy thoát được ra ngoài vô sự. Nhưng buồn thay, lưới tình báo của Công an Nhân dân dầy đặc, chỉ vài ngày sau 2 anh Bé và Thịnh đã bị bọn “cách mạng 30 tháng Tư” địa phương phát giác, bắt và giải nộp cho trại giam.
 
Ban chỉ huy trại Suối Máu “khẩn trương” thiết lập Toà án quân sự, ngay tại Hội trường lớn của Trại, ở phía chênh chếch bên hướng Tây Nam ngoài hàng rào, xa Khu giam chúng tôi khoảng 500 mét, để đem 2 anh Bé và Thịnh ra xử án TỬ HÌNH.
 
Ngày xử án, Ban chỉ huy Trại buộc mỗi Láng phải chỉ định một số người ra tham dự, để chứng kiến tận mắt phiên xử. Ngoài ra, Ban chỉ huy Trại còn mắc nhiều loa lớn, truyền âm thanh ra ngoài phòng xử, cho tất cả những Tù khác không bị cử đi tham dự tại nơi xử án, cũng có thể nghe và theo dõi được những diễn tiến trong Hội trường nơi xẩy ra phiên xử.
 
Nhưng, Trời đã không chiều theo ý muốn của bọn Quỷ Ðỏ. Suốt buổi sáng, vòm trời Suối Máu trong vắt, le lói ánh nắng vàng. Bỗng dưng một dải mây thành dài đen kịt, hiện ra nơi phía Ðông Bắc. Gió nổi từng cơn liên tục, đưa mây tràn phủ lần lần sang hướng Tây Nam. Do đó những âm thanh, khuếch đại qua loa phóng thanh, bị cuốn đi theo chiều gió ra ngoài đồng trống. Anh em trong trại nghe câu được câu chăng, nên không theo dõi được trọn vẹn những diễn tiến của phiên xử án.
 
Những đoạn lõm bõm nghe được, toàn là lời buộc tội của Công tố viên và Quan toà. Không ai nghe thấy tiếng các bị cáo hay luật sư bào chữa phản bác lại. Thời gian phiên xử cũng không lâu lắm, khoảng chừng một tiếng đồng hồ. Sau cùng, những tràng súng oan nghiệt nổ vang dội khắp vùng Suối Máu, đã báo tin kết thúc phiên xử. Ôi! Thật là tang thương ai oán biết chừng nào.
 
Những người tham dự về cho biết. Ngay sau khi Chánh án tuyên bố án phạt tử hình. Các quân canh đứng sát ngay bên 2 anh, lập tức nhét liền một cục giẻ lớn vào mồm không cho các anh ấy kịp nói. Rồi họ dùng vải bịt mắt, xốc nách dẫn ngay ra bãi đất trống gần đó, trói vào 2 cọc gỗ đã đóng sẵn, nổ súng liên thanh giết liền.
 
Có một hiện tượng đặc biệt đã xẩy ra, không một ai bị giam tại Suối Máu vào lúc ấy có thể quên được. Trời đang trong sáng với ánh nắng vàng le lói, nhưng đúng lúc sắp tuyên án, gió lộng ào ào liên tục mạnh hơn, kéo mây phủ kín cả bầu Trời. Cảnh vật Suối Máu tối xầm hẳn xuống.
 
Ðúng vào lúc mọi người rợn mình nghe tiếng những tràng đạn nổ, cướp đi đời sống của 2 Dũng sĩ Việt Nam Cộng Hoà, thì Trời cũng đổ ào xuống một cơn mưa mau nặng hạt.
 
Mưa gõ rào rào trên các mái tôn, như muốn khoả lấp không cho anh em Tù, đang nhìn nhau nghẹn ngào rưng rưng lệ, phải nghe tiếng vang oan nghiệt của những tràng đạn, do bọn Qủy Ðỏ đang reo họa trên mảnh đất miền Nam thân yêu, của dòng giống Tiên Rồng Lạc Việt.
Mái tôn mưa gõ rào rào,
Luồn chân vách hổng, thì thào gió ru.
À ơi ! Thương kiếp sống tù,
Một ngày trong khám, thiên thu ngoài đời.
Bắc, Nam, chung một giống nòi,
U mê theo quỷ vô loài diệt nhau.
Chung quy chỉ Mẹ Việt đau,
Quê hương ngút lửa, máu đào tràn sông.
Thây dân vô tội đầy đồng,
Tha hồ Việt cộng dâng công tế Thầy*. (*Liên sô)
Non sông gấm vóc từ đây,
Thành nhà tù lớn, vũng lầy khổ đau.
Coong! Coong! cồng điểm canh thâu,
Ðùng đùng đạn nổ, hay đâu chuyện gì?
Rầng rầng bộ đội bủa đi,
Ào vô xục xạo, súng ghì, đèn soi.
Bàng hoàng lưng vã mồ hôi,
Ngỡ rằng Thần Chết đến nơi gọi hồn.
Lệ Trời, tuôn lúc mau hơn,
Rào rào gió thổi từng cơn lạnh lùng.
Bình minh rồn rập tin hung :
“Ðêm qua có kẻ mánh mung vượt rào.
Thiên la Ðịa võng vây bao,
Lưới Công an đặc, thoát sao khỏi vòng?”
Biết rằng đường lắm gai chông,
Cặp tù : Thịnh, Bé, vẫn không ngại ngùng.
Quyết tâm thoát cảnh ngục trung,
Tung hoành cho thoả chí hùng thuở nao.
Phục thay gan dạ anh hào,
Coi đời như giấc chiêm bao vắn dài.
Nhịp tù tiếp tục trôi xuôi,
Bỗng dưng thấy Cán dẫn đôi tù về.
Mây chiều ảm đạm lê thê,
Mạch tim quặn thắt, tái tê cõi lòng.
Oan khiên, chẳng thoát tử vong,
Qủy đang đợi dịp thi công hại người.
Thị oai cho cả trong ngoài,
Thấy quyền sinh sát, gương soi tỏ tường.
Lập Toà tuyên xử “khẩn trương”,
Tha hồ ác tặc ôn vương đóng trò.
Tử hình án trữ đầy kho,
Mặc tình xử dụng chẳng lo thiếu phần.
Nhân danh đại diện nhân dân,
Diệt trừ giai cấp đâu cần đắn đo.
Theo gương Trung Cộng, Liên Xô,
Không theo chủ nghĩa Tam Vô là thù.
Không theo Cách mạng mùa Thu,
Thành phần đối lập khử trừ thẳng tay.
Yêu tinh hiện giữa ban ngày,
Hại người yêu nước, Trời hay chăng Trời ?
Rào rào gió giục mưa rơi,
Thấm lòng đất Việt, máu người Việt Nam.
 
Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hoà, Tháng 4-1976.
 
Chương 9
BẮT ÐẦU NẾM MÙI MIỀN BẮC
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Khoảng đầu tháng 6-1976, sau vụ xử tử hình hai bạn tù Bé và Thịnh vượt rào trốn trại, đoàn cán bộ Trung ương Hànội “khẩn trương” tới trại Suối Máu gặp Tù. Họ giải thích trấn an thêm, về chính sách khoan hồng nhân đạo của Ðảng và Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) “trước sau như một”, cho mọi người thêm tin tưởng mà đừng dại dột có hành động chống đối hoặc trốn trại.
 
Trong đợt học tập này, một số anh em tù Ðại tá chúng tôi bị gọi ra văn phòng Khu, gặp cán bộ để “làm việc”, trong đó có Tôi. Họ hỏi về tổ chức, trách nhiệm của các Cơ quan, Ðơn vị, mình đã phục vụ từ ngày nhập ngũ cho đến ngày 30-4-1975. Rồi đưa giấy bút cho mình trở vào trong trại giam, ngồi ghi chép lại để nộp cho họ trong vòng 3 ngày sau. Có điều thú vị là, ai bị gọi “làm việc” như vậy, đều được Cán bộ “bồi dưỡng” cho 300 gram đường cát trắng, và 1 bao thuốc lá Sapa sản xuất từ miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa (XHCN).
 
Thực ra, mục đích chính của đợt học tập này, là lập hồ sơ cá nhân Tù, trước khi đưa đi các trại lao động cải tạo thật sự. Họ chụp ảnh từng người, lăn dấu các ngón tay vào bià cứng, loại thường dùng để làm hồ sơ cấp thẻ căn cước. Họ buộc mọi người khai chi tiết lý lịch cá nhân, vợ, con, anh chị em cha mẹ ruột của mình, anh chị em cha mẹ của vợ, và ông bà họ hàng thân thích nội ngoại từ 2 đời trước mình. Họ còn bắt ghi cả nghề nghiệp, nơi ở và nơi hành nghề hiện tại của mọi thân quyến nêu trên.
 
Ít ngày sau đợt học tập chấm dứt, vào một đêm không trăng sao, mọi người đang an giấc, bỗng dưng đèn điện trong nhà ngoài sân bật sáng trưng. Ðồng thời, loa phóng thanh ngoài cổng Khu oang oang ra lệnh, thu gói đồ đạc tư trang cá nhân ra sân tập họp đợi lệnh. Bộ đội canh tù cầm súng chạy rầng rầng chung quanh các Láng. Cán bộ Quản giáo đến đứng trước cửa từng nhà hối thúc “khẩn trương! Khẩn trương!”.
 
Khoảng 30 phút sau, mọi người tay xách nách mang tư trang, tề tựu xếp hàng theo thứ tự từng Ðội đầy nghẹt sân tập họp. Các Quản giáo chạy vào các Láng trống, kiểm soát lần chót để chắc chắn mọi người đã ra hết. Ðồng thời, Bộ đội cảnh vệ từ bên các dẫy hàng rào kẽm gai chung quanh Khu, cũng rút lần lần vào xiết chặt vòng vây, lăm lăm tay súng, chia nhau đứng vòng quanh sân canh gác.
 
Ban Chỉ huy Trại bắt đầu đọc tên từng người một, buộc phải trả lời “Có!”, rồi đứng lên mang hành trang của mình, đi ra ngoài cổng Khu giam ngồi sát nhau, dài dài 2 bên lề đường. Ðộ chừng 150 người được gọi ra, trong đó có Tôi, tức là khoảng phân nửa tổng số Ðại tá bị giam giữ tại đây. Những người không có tên phải ra đi, ngồi lại tại chỗ đợi lệnh.
 
Người cuối cùng trong nhóm phải lên đường vừa ra khỏi cổng, thì lệnh hô : “-Mọi người ngồi xuống dọc 2 bên lề đường, bầy hết tư trang của mình ra trước mặt để Cán bộ kiểm tra”. Họ yêu cầu mỗi người phải tự “cảnh giác” vứt bớt đồ đạc của mình đi, chỉ để lại những gì thật cần thiết cho nhẹ nhàng dễ di chuyển.
 
Nhiều anh nhà khá giả được tiếp tế hậu hỹ, ngoài chiếc vali đựng quần áo còn 2, 3 bao ba lô đựng đầy lon gô, cóng ni lông đựng thực phẩm, phân vân không biết để cái nào vứt cái nào, thật khó xử.
 
Phần Tôi nghèo nàn, chỉ có 2 món rất nhẹ nhàng. Chiếc túi vải đeo lưng, may lấy bằng vải kaki xanh nước biển, đựng quần áo, mùng, mền, 2 bọc ni lông đựng mỗi bọc 1 kí lô mì ăn liền vụn, keo đường thẻ, vài bọc kẹo lạc. Và một túi xách nhỏ cằm tay, loại đeo đạn phóng lựu nhặt được tại bên chân bờ rào trại Long Giao, đựng chiếc soong tôn nhỏ, do anh bạn Ðại tá Trịnh Ðình Ðăng chỉ vẽ cách gò lấy từ ngày về trại Suối máu này, với chiếc bi đông nhựa đựng nước uống, bộ gà mèn thìa nỉa đựng đồ ăn hàng ngày, và bộ cờ Mạt Chược đẽo bằng gỗ cao su. Nên chẳng phải bận tâm tính toán gì cả. Thế mà Cán bộ kiểm tra cũng nhặt chiếc soong tôn nhỏ, vứt vào đống đồ phải loại bỏ không cho mang theo. Ông ta nói : “-Tới nơi mới không cần nấu nướng riêng.”
 
Sau khi mọi người mò mẫm cởi gói, bầy hết tư trang của mình ra xong, các Cán bộ nối tiếp nhau đi qua đi lại nhiều lần, rọi đèn pin coi ai còn nhiều đồ cồng kềnh, thì họ tự động lấy những thứ nào mà họ cho là không cần thiết, vất thành một đống bên vệ đường.
 
Người vứt đi kẻ nhặt lại, gạn ép mãi. Cuối cùng mọi người cũng được lệnh gói ghém đồ đạc còn lại cho gọn gàng, di chuyển ra chỗ khác theo thứ tự tên gọi, họp thành từng nhóm riêng cho mỗi xe, ngồi chờ.
 
Qua tin tức truyền tai nhau, theo sự bật mí của cán bộ Trưởng Khu, được biết là anh em chúng tôi sẽ “hành quân” về hướng Hóc Môn.
 
Mọi người ngồi bệt xuống đất bên vệ đường, tựa lưng vào đống hành trang riêng, ngủ gục phơi sương chờ. Mãi đến khoảng 4 giờ sáng xe mới tới. Còi hiệu giục tuýt tuýt tuýt từng hồi đánh thức mọi người. Cán bộ hướng dẫn từng Ðội, đến bên từng xe theo số quy định trước, luôn mồm hối thúc “khẩn trương”.
 
Ðoàn xe di chuyển ra xa lộ Biên Hoà, rẽ về hướng Saigon, băng qua cầu Tân cảng Thị Nghè, tiến vào đường Hàng Sanh, Bà Chiểu, đi về hướng ngã tư Phú Nhuận. Tới ngã tư, đoàn xe rẽ qua hướng đi Gò Vấp. Chạy tới ngã năm Trung tâm tiếp huyết cạnh Tổng Y viện Cộng Hoà, đoàn xe rẽ vào phi trường Tân Sơn Nhất, đến đậu tại khu vực có các ụ trú ẩn dành cho các Chiến đấu cơ Hoa Kỳ trước kia.
 
Trời vừa mờ sáng, sương đêm còn dầy đặc, không nhìn thấy gì chung quanh xa hơn 20 mét. Mọi người được lệnh đem hành trang xuống xe ngồi chờ máy bay. Người thì lục lọi tư trang tìm thức ăn, ngồi bệt xuống đất ẩm sương đêm dùng bữa sáng. Người thì chạy đến bên ụ đất giải quyết việc riêng. Vì không được bỏ chỗ tập trung đi xa quá 5 mét, nên mùi xú uế của nước tiểu và phân nóng sốt trong cơ thể thải ra xông mùi nồng nặc. Nó làm ô nhiễm bầu không khí trong lành, man mát ẩm hơi sương đang bao phủ mọi người. Thật khó chịu.
 
Ðợi cũng chừng hơn tiếng đồng hồ, mới thấy mấy chiếc phi cơ C-130 bò tới. Cán bộ Trại Suối Máu bàn giao Tù cho nhóm Cán bộ khác, mặc quân trang mầu kaki vàng, đeo súng lục, mang giầy da cao cổ đen, y như loại của lính Việt Nam Cộng hoà (VNCH) cũ, vừa từ trên phi cơ bước xuống. Sau khi đôi bên Cán bộ thảo luận với nhau xong, mọi người được nhóm Cán bộ áp giải mới gọi tên, lần lượt vác hành trang lên phi cơ, ngồi dài dài sát bên nhau, trên 4 dẫy ghế bằng dây vải, dọc theo thân phi cơ.
 
Các Cán bộ áp giải đến từng chỗ ngồi, lấy còng số 8 đeo vào tay mỗi 2 người chung một chiếc. Tôi chẳng may bị còng nhằm tay phải. Vì Tôi không thuộc dân thuận tay chiêu (tay trái), nên mỗi khi khát muốn lấy bi đông nước uống, cũng thật là khó khăn. Chỉ có một tay rảnh, phải kẹp bi đông nước giữa 2 đầu gối, dùng tay trái mở nắp bình rồi đưa lên miệng. Uống xong cũng phải kẹp bi đông giữa 2 đầu gối, dùng tay vặn đóng chặt nắp bình lại, rồi nhét trở lại túi xách đeo tòng teng trước ngực. Làm không cẩn thận, lỡ vuột tay bình rơi xuống sàn phi cơ, thì sẽ chẳng còn nước mà dùng khi cần đến.
 
Sau khi mọi người đã ngồi yên chỗ, không còn nhúc nhích được nữa, một cán bộ đeo túi da bên hông hình như trưởng toán, đi một vòng kiểm tra lại, để bảo đảm các còng số 8 đã được khoá chặt chẽ, và không còn ai chưa bị còng. Xong xuôi, anh ta mới xuống đất dẫn độ 2 phi công lên, đi từ bửng cửa mở nơi phía đuôi phi cơ, dọc qua các hàng ghế tới phía đầu phi cơ, leo lên phòng lái. Có người nhận ra được là phi công Quân Lực VNCH cũ, nhưng không nhớ ra tên.
 
Tôi không nhớ chắc có mấy cảnh vệ đi áp tải trên phi cơ. Chỉ nhớ rằng, có 2 người đứng chặn ngay nơi chân chiếc thang lên phòng lái. Còn những người kia đứng phía cuối phi cơ, giữa khu chất hành lý và các dẫy ghế ngồi của chúng tôi.
 
Chừng dăm phút sau khi 2 phi công lên phòng lái, thấy bửng cửa sau phi cơ từ từ dâng lên khép kín lại. Toàn thân phi cơ bắt đầu rung động, mạnh nhẹ tùy theo sự tăng giảm tốc độ của các động cơ gắn trên 2 cánh. Sau cùng thấy phi cơ lăn bánh chạy từ từ, rẽ qua phải, rẽ qua trái, ngừng lại. Giây lát sau, tiếng động cơ rú lên đinh tai nhức óc, thân phi cơ rung động mạnh, phăng phăng chạy tới mỗi lúc một nhanh hơn lấy đà cất cánh rời mặt đất, bốc lên cao.
 
Sức ép của không khí do vận tốc phi cơ gây ra, làm lùng bùng tức buốt 2 màng nhĩ, ruột gan như muốn dồn lên trồi qua cửa miệng. Có người chịu không nổi, mửa ra tất cả những gì đã ăn vào khi sáng, lúc đang ngồi chờ phi cơ tới. Mùi chua của thức ăn chứa trong bao tử chưa tiêu hoá tuôn ra, xông nồng nặc lẫn với mùi dầu gió Khuynh Diệp và mồ hôi người, tạo thành một bầu không khí ngột ngạt làm ngộp thở, lợm họng buồn nôn.
 
Phi cơ cất cánh, lượn vòng vòng, rồi mới bay thẳng theo hướng phải đi. Ánh nắng mặt trời chiếu từ các khung kính cửa nhỏ, bên phiá sườn phải vào trong phi cơ. Hiện tượng này cho biết, chuyến bay đi hướng Bắc, chớ không đi hướng Tây để ra Phú Quốc, như một nguồn tin đã xì xầm hồi đang ngồi chờ dưới đất. Bay đi đâu vậy? Phải chăng lên miền Cao nguyên miền Trung, Nam phần Việt Nam?
Một giờ, hai giờ, rồi ba giờ bay đã trôi qua, phi cơ vẫn giữ nguyên cao độ. Những anh ngồi dẫy ghế sát bên thân phi cơ cho biết, cảnh phía dưới thấy toàn là biển cả mênh mông. Vậy là đúng như Tôi đã dự đoán từ hồi còn ở trại Long Giao, ra cải tạo tại miền đất Bắc Xã hội Chủ nghĩa. Thật là một đại họa không hy vọng có ngày về.
 
Ù ù bay mãi tới xế trưa, phi cơ mới đảo cánh lượn vòng đáp xuống 1 phi trường nhỏ trên vùng cao nguyên, chung quanh toàn rừng núi, không nhà cửa làng xóm. Phi cơ run rẩy từ từ bò ra khỏi phi đạo, ngừng lại, bửng cửa hậu rè rè hạ xuống. Cán bộ đến mở còng cho mọi người. Riêng phần Tôi, không biết điềm xui xẻo nào đang chờ, còng mở không ra. Mọi người xuống hết, Tôi và anh bạn đeo chung còng, đành phải nghiêng người dắt nhau kẻ trước người sau, đi ngang ngang giữa 2 dẫy ghế vải, để ra bửng cửa hậu phi cơ nhẩy xuống đất. Hai cổ tay dính chặt bên nhau, chúng tôi kéo nhau đi tới đi lui cầu cứu các Cán bộ áp tải. Hồi lâu, mới có người đem 1 chùm chià khoá tới, thử hết cái này đến cái kia, sau cùng cũng giải thoát được cổ tay khỏi chiếc còng ác nghiệt.
 
Thật hú vía, nếu chẳng may phi cơ gặp nạn phải đáp khẩn cấp, lửa bốc cháy, một trong 2 chúng tôi bất tỉnh, người còn tỉnh không biết phải làm sao. Chắc là đành ngồi chịu đựng lửa thiêu đốt, và đau đớn hành hạ mình lần lần, trước khi cái chết đến giải phóng cho được thảnh thơi, hồn lìa khỏi xác. Sau khi chúng tôi xuống hết, các phi cơ lạnh lùng quay trở ra phi đạo, nối đuôi nhau cất cánh bay mất hút, không một lời giã biệt.
 
Cách chỗ chúng tôi đứng chừng 100 mét, có một đoàn xe đậu chờ sẵn. Gần bên đoàn xe, thấy dựng 2 chiếc dù to mầu đỏ, một chiếc bàn, và mấy người mặc quân phục kaki màu vàng. Họ tiến về phiá chúng tôi. Người đi giữa coi vẻ bệ vệ, Tướng của Sư đoàn Việt cộng “tiếp quản” giáo dục chúng tôi lao động cải tạo. Ông ta cất giọng hỏi : “-Các anh có biết đây là đâu không?” Mọi người ngơ ngác lắc đầu. Ông ta tiếp tục : “-Ðây là đất miền Bắc Xã hội Chủ nghiã. Các anh được đưa ra đây có môi trường thuận lợi hơn trong Nam Bộ, để học tập cải tạo cho mau tiến bộ. Thời gian sẽ không lâu, khoảng từ 3 đến 5 năm thôi. Tuy nhiên, cũng còn tùy thuộc vào tinh thần học tập và sự tiến bộ của mỗi người.” Ông ta chỉ nói bấy nhiều lời, rồi đứng đó nhìn chúng tôi theo lệnh trưởng đoàn áp tải lên xe. Anh em chúng tôi cũng chẳng ai có dịp hỏi xem, đây là địa phương nào của đất miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa.
 
Ðoàn xe chuyển bánh, chạy vòng vèo xuống dốc, băng rừng xuyên núi, mãi mới tới 1 bến phà. Một mảnh ván nhỏ trên đầu cọc gỗ đóng bên lối dẫn xuống bờ sông, ghi 3 chữ “Phà Âu Lâu”. Bề ngang sông cũng không rộng lắm, nước chẩy cũng không xiết lắm, nên phà được mấy người lái kéo bằng tay, dựa theo sợi dây cáp căng từ bờ bên này sang bờ bên kia, chớ không dùng động cơ đẩy. Xe lần lượt qua phà từng chiếc một.
 
Có vài người dân địa phương cùng xuống phà, qua sông một lượt với chúng tôi, nhưng vì lệnh cảnh vệ áp giải cấm không được tiếp xúc với dân chúng, nên không ai giám hỏi chuyện. Khi cả đoàn xe qua phà xong, lại tiếp tục con đường độc đạo, leo vòng vèo theo các sườn dốc núi cao, 2 bên toàn rừng rậm, khe sâu.
 
Xóc lên dập xuống, lắc qua lắc lại, chạy mãi đến xẩm tối, mới tới một khu nhà trên đỉnh đồi, doanh trại của Ban chỉ huy Liên trại 1. Ðoàn xe vượt qua để rẽ xuống bên kia sườn đồi, đậu lại trước 2 dẫy nhà làm bằng “chổm” (một loại nứa nhỏ thuộc họ nhà tre). Mái nhà lợp bằng những tấm tranh “chổm” đập dẹp ra kết lại. Vách cũng bằng “chổm” đập dẹp đan thành phên. Hàng rào cao 3 mét vây quanh 2 dẫy nhà, cũng bằng “chổm” nguyên cây dài kết liền nhau, đóng sâu xuống đất. Có lẽ sản phẩm thiên nhiên chính của vùng này là “chổm”, nên cái gì cũng làm bằng “chổm” cả. Xuống xe xong, anh em được lệnh chia thành 2 nhóm, vào ngủ trong các căn nhà “chổm” đó. Một số anh lanh lợi tinh khôn, chạy ùa vào trước dành chỗ nằm tốt. Nhưng buồn một nỗi, sàn nằm cũng bằng phên “chổm”, nên chỗ nào cũng cồm cộm đau lưng như nhau.
 
Không ai nói cho biết đây là đâu, nhưng anh em cũng đoán ra là khu trại đặc trách sản xuất gạch. Vì sát ngay bên ngoài hàng rào khu nhà, thấy lù lù cao ngất một lò nung gạch. Anh em xì xầm đoán là được đưa đến đây học làm nghề sản xuất gạch. Chẳng ai nói ra, nhưng chắc chắn trong thâm tâm mọi người đều ngài ngại lo lắng. Hẳn là ai cũng đang mường tượng ra cảnh mùa đông giá lạnh, quần vắn lên tận bẹn, áo cuộn tay tới nách, quần quật lăn lộn với những hầm đất sét, nhào nặn đóng gạch, đi lấy gỗ rừng về nung đốt lò ngày đêm, sẽ vất vả lắm. Nhưng biết làm sao, đến lúc đường cùng rồi phải kiên nhẫn chịu đựng, lâu dần rồi cũng phải quen.
 
Ði học lao động cải tạo tư tưởng, để mong tiến bộ trở thành người Công dân Xã hội Chủ nghĩa, thì tránh sao khỏi khổ nhục nặng nề vất vả. Ðiều căn bản là làm sao giữ được sức khoẻ, sống được đến ngày về với vợ con, xây dựng lại cuộc đời dưới cái chế độ độc tài, mà mình đã bao năm cằm súng chiến đấu chống nó.
 
Sau khi ai nấy thu xếp xong tư trang tại chỗ nằm tạm của mình, quay ra sân quan sát cảnh vật thì trời đã tối mù. Thời gian giao điểm giữa ngày và đêm, trên cái vùng rừng núi cao nguyên Bắc Việt này sao mà nhanh đến thế.
 
Cùng lúc đó, Cán bộ cũng chở thức ăn tối đến phát cho mọi người, theo biên chế lúc lên máy bay tại Sàigòn hồi sáng tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Dưới ánh đuốc chập chờn, thấy những thúng đựng thứ gì mầu lẫn trắng và vàng, có người cười reo cho là xôi đậu xanh. Còn những thau nhôm khác đựng thứ có mầu nâu xậm, có người lại đoán là thịt bò kho. Xôi đậu mà ăn với bò kho, sau một ngày di chuyển vất vả thì thật là tuyệt vời. Nhưng khi lãnh rồi đem vào buồng giam chia nhau ăn, mới chưng hửng tan mộng. Bắp khô xay nhỏ nấu chín, và khoai lang luộc. Bữa ăn tối đó, ngô độn khoai, với chút muối vừng (mè).
 
Có lệnh cho mọi người xuống suối tắm rửa “khẩn trương”, trước khi điểm danh vào nhà giam đi ngủ. Trời tối hu, không đèn đóm. Con đường mòn dẫn xuống suối hẹp, dốc thẳng đứng, đất đá lổn nhổn trơn trợt, phải luồn lách cây rừng và cỏ lau 2 bên thò ra quẹt cứa xây sát cả mặt mày, mới tới được bờ suối. Dòng nước cạn chỉ cao tới lưng bắp chân nhưng chẩy xiết, lạnh cóng. Lòng suối đầy sỏi đá lớn nhỏ bám đầy rêu, đạp lên trượt đứt xước bàn chân, cổ chân, máu chẩy buốt sót đau nhói.
 
Nhà vệ sinh công cộng lộ thiên, ở sát bờ rào. Ban đêm ai cần đi tiểu hoặc đại tiện thì phải ra ngoài nhà giam. Dẫy nhà chỉ có một lối ra vào duy nhất, ở phiá đầu nhà, không cánh cửa. Mỗi lần đi ra hay trở vào, đều phải cao giọng hô lớn : “ -báo cáo anh bộ đội tôi đi tiểu, -báo cáo anh bộ đội tôi đi cầu, -báo cáo anh bộ đội tôi đi tiểu vào, v.v…”
 
Tối hù chẳng thấy bóng anh bộ đội ở đâu, nhưng vẫn phải hô lớn báo cáo, nếu không, tự dưng ở đâu anh ta quát : “-anh kia đi đâu?”, là sẽ mắc hoạ lớn, bị đem nhốt ngay vì tội “có mưu đồ” trốn trại ban đêm.
 
Cả hơn trăm con người tuổi đã cao, thay nhau đi ra đi vào hô hoán suốt đêm như vậy, những người khó ngủ như Tôi đành chịu cảnh thức trắng thôi. Ðã thức không ngủ được, thì óc nghĩ ngợi lang bang nhiều chuyện thật khổ tâm.
 
TRẮNG ÐÊM TRÊN ÐẤT BẮC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
 
Sàn tre vật vã ẩm ê,
Lắng nghe giun dế tỉ tê nỗi niềm.
Lao xao chuột rúc bên thềm,
Rì rầm suối đổ, cú chêm nhịp buồn.
Trăng rừng lạnh lẽo cô đơn,
Sương khuya mờ ảo, gió luồn khe song.
Nhớ con thương vợ não lòng,
Chợ đời bạc bẽo long đong một mình.
Thời gian hờ hững vô tình,
Không gian khỏa lấp bao hình thân thương.
Bắc, Nam, chung cảnh đoạn trường,
Lương dân cùng khốn, Quê hương tan tành.
Tung hoành Cộng đảng gian manh,
Bầy trò giai cấp đấu tranh hại đời.
Oán than dâng thấu tận Trời,
Ông Cao Xanh hỡi ! nỡ ngồi làm ngơ ?
Họa Hồng Thủy đến bao giờ?
Mới cho dân Việt thấy bờ Tự do?
 
Liên trại 1, Xã Việt Cường, Yên Bái, Tháng 6-1976.
 
Chương 10
LAO ÐỘNG LÀ VINH QUANG!
Sau khi ở tạm tại K Lò Gạch (Phân trại Lò Gạch) được 2 đêm 1 ngày, thì có lệnh thu gọn hành trang di chuyển tới Khu Nhà Ngói (K1), vào một buổi trưa trời quang nắng ấm. K1 tức là Phân trại 1, ở tận phía rià bên kia của thung lũng xã Việt Cường.
 
Gọi là Khu Nhà Ngói vì, đây là dẫy nhà tường gạch có mái lợp bằng ngói đỏ duy nhất, nổi bật trong thung lũng. Nó lớn hơn cả khu nhà kho của Hợp tác xã, tường gạch, nhưng mái chỉ được lợp bằng tôn. Còn tất cả các nhà của dân chúng nằm bên ven rừng sát rià thung lũng, mái đều lợp bằng rạ (đoạn thân cây lúa già còn lại, sau khi đã gặt các bông lúa chín). Nhà của Cán bộ canh Tù, cũng chỉ có vách kết bằng “chổm” chẻ nhỏ, chát đất chộn rơm, rồi dùng bay gỗ xoa cát lên cho phẳng mặt coi như tường, mái lợp bằng các vỉ tranh “chổm”, hoặc bằng tôn mỏng gợn sóng.
 
Lúc lên đường rời K Lò Gạch sang K1, đồ đạc của Tù được chất lên 2 chiếc xe Molotova chở đi trước. Người xếp hàng đôi, nối đuôi nhau cuốc bộ theo sau, dưới sự áp tải của Cảnh vệ. Từ rià Tây thung lũng nơi có K Lò Gạch gần Ban Chỉ huy Liên trại 1, sang rià Ðông thung lũng nơi có K1 (khu nhà ngói), chỉ có một con đường đất trộn đá duy nhất thẳng tắp, dài chừng 3 cây số băng ngang khu đồng ruộng của Hợp tác xã.
 
Ði đến khoảng giữa đoạn đường, nhìn về hướng Nam thấy một đồi trồng trà. Bên sườn đồi có 1 dẫy nhà chổm nhỏ trông rất nên thơ, cách phiá sau cơ sở Ban Chỉ huy Liên trại 1 khoảng độ năm trăm mét. Sau này mới biết là nơi giam các sĩ quan cấp Tướng QLVNCH. Chừng hơn 20 ông thì phải, Tôi không biết rõ con số.
 
Vừa đến khu vực K1, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên, khi thấy số anh em Ðại tá ở lại trại Suối Máu ngày chúng tôi ra đi, cũng đang có mặt tại đây. Không biết anh em được đưa đến đây từ lúc nào. Thật là mừng vô kể. Hơn 300 Ðại tá bị đưa ra miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, được tập trung học lao động cải tạo bên nhau, trong cùng 1 trại thì đỡ lo. Ở chung với các bạn sĩ quan cấp nhỏ trẻ khỏe hơn, chắc chắn không thể “thi đua lao động đạt thành tích cao” như họ, sẽ khó lòng được coi là “tiến bộ” mà hy vọng được tha về với vợ con.
 
Tuy chúng tôi chỉ là bạn Tù đồng cảnh với nhau, không phải là quyến thuộc, thế mà mới xa nhau có 2 ngày 2 đêm, nay được gặp lại tay bắt mặt mừng quấn quýt, tưởng như đã xa nhau hàng năm vậy. Thật là một cảm giác lạ lùng.
 
Qua câu chuyện trao đổi tin tức, được biết là các Ðại tá Bác sĩ Quân Y và một vài Ðại tá Bộ binh khác, được ở lại trong Nam, không ai biết nguyên do vì sao. Có tin cho rằng, các Bác sĩ vì nhu cầu chuyên viên nên được ở lại, nghe cũng hữu lý. Nhưng còn mấy Ðại tá Bộ binh đâu phải vì nhu cầu chuyên môn? Có người cho rằng vì mấy bạn đó có thân nhân theo Cách mạng lâu năm, nay có căn cội lớn nên xin cho được ở lại.
 
Toàn là ý kiến đoán mò. Thật ra chẳng ai biết được chính sách đối xử thật sự của Cộng sản, đối với người dân tại miền Nam ra sao. Nói chi là quân nhân Quân lực và nhân viên Hành chánh Việt Nam Cộng hòa, đã bị chúng đặt cho cái tên “Ngụy quân, Ngụy quyền”.
 
Chẳng hạn như hồi gần cuối năm 1975, Ðài phát thanh chính thức của Nhà Nước, ra rả cải chính tin đồn việc đổi tiền miền Nam ra tiền Cụ Hồ là thất thiệt. Thế rồi đùng một cái, vào một buổi sáng tinh mơ, cũng lại chính cái Ðài phát thanh đó, loan báo lệnh Nhà Nước buộc nhân dân không được di chuyển ra khỏi địa phương mình cư ngụ, để thực hiện việc đổi tiền theo hộ khẩu. Thời hạn đổi phải hoàn tất trong ngày. Mỗi người chỉ được phép đổi một số lượng theo quy định. Số tiền ai có nhiều hơn mức quy định, phải nộp cho Nhà Nước lưu giữ cứu xét giải quyết sau. Của đã vào tay Nhà Nước thì còn khuya mới lấy lại được. Ngoài ra còn bị gọi tới gọi lui, tra vấn khai báo về nguồn gốc tiền từ đâu mà có nhiều thế, lại là cái họa chẳng biết đâu mà gỡ. Thật là một chính sách bần cùng hoá nhân dân, san bằng giai cấp một cách tàn bạo vô nhân đạo. Chỉ có chế độ Cộng sản man rợ dã tâm mới lì lợm thực hiện công khai như vậy.
 
Chính sách khoan hồng nhân đạo của Cách mạng quy định, “Ngụy quân Ngụy quyền” đáng tội chết, nhưng Cách mạng tha không giết, và tạo cơ hội cho đi “học tập lao động để cải tạo tư tưởng”. Biết được giá trị “lao động là vinh quang”, phải “tay làm hàm nhai, không ăn bám vào Xã hội” như từ trước tới nay. Biết “yêu lao động là yêu Xã hội chủ nghĩa”, “yêu xã hội chủ nghĩa là yêu nước”… Do đó phải cố gắng lao động cho tốt, ngày ngày “thi đua nâng cao năng xuất cho mau tiến bộ”, có “tiến bộ nhanh, đạt tiêu chuẩn” mới được xét cho về hội nhập vào “xã hội mới Xã hội Chủ nghĩa”.
K1 nằm ngay bên đường huyết mạch của thung lũng, trên mỏm đồi lài lài xuống một khe suối nhỏ. Từ cổng vào phải qua khoảng sân trống chừng 100 mét, rồi tới 3 dẫy nhà “chổm” và một nhà bếp cũng bằng “chổm”. Băng qua các dẫy nhà “chổm” là một dẫy nhà ngói mới xây xong, theo kiến trúc khám giam Tù rất kiên cố, dài khoảng 3 chục mét, rộng 4 mét, tường chung quanh cao 3 mét xây bằng gạch thẻ.
 
Phiá trước dẫy nhà ngói có 1 hàng hiên rộng 2 mét, có mái che bằng phên “chổm” đập dẹp. Dẫy nhà chỉ có một cửa ra vào duy nhất bằng sắt, ở khoảng chính giữa hàng tường mặt trước. Hai bên cửa chính, có một dẫy cửa sổ cỡ gần 1 mét vuông bịt song sắt, cao hơn mặt đất chừng 1 mét. Tường phía sau, có một dẫy lỗ thông hơi cao 20 phân, dài 40 phân, cũng bịt các song sắt dọc cách nhau 10 phân, nơi gần sát mái nhà.
 
Bên trong, phiá cuối nhà, có 1 phòng nhỏ tường xây kín lên tới mái, có cửa sắt khóa, không biết để làm gì. Khoảng rộng còn lại, có một dẫy bệ nằm dài suốt bề dọc căn nhà, xây bằng gạch láng xi măng sát vào tường phiá sau, cao 1 mét, rộng 2 mét. Phiá trước dẫy bệ nằm là lối đi rộng 1 mét rưỡi, suốt từ đầu này đến đầu kia của căn nhà. Xi măng láng trong nhà chưa khô hẳn, còn xông mùi hôi nồng nặc, làm cho bầu không khí ngột ngạt hăng hắc khó chịu.
 
Những anh em được đưa từ trại Suối Máu ra sau chúng tôi, nhưng đến K1 trước chúng tôi, được chia nằm trong các dẫy nhà “chổm” phiá trước sân dẫy nhà ngói, và gần bếp bên cạnh suối. Thoáng khí và tương đối rộng, mỗi người được một chỗ nằm bằng chiếc chiếu cá nhân, khoảng 70 phân.
 
Chúng tôi ra Bắc trước, nhưng chuyển đến K1 sau, nên bị giam trong dẫy nhà ngói đang còn trống. Khoảng 100 người trong nhóm chúng tôi, được chỉ định nằm trong dẫy nhà ngói. Chen nhau chặt ních, mỗi người được chia 1 khoảng nằm rộng 2 gang tay. Tôi phải nằm trong nhà này. Số còn lại khoảng 50 người, được nằm dọc dưới mái hiên bên ngoài nhà. Nằm ngoài hiên tuy thoáng khí, nhưng đêm sương gió lạnh cóng. Còn nằm trong nhà thì ngộp thở, thiếu dưỡng khí, nóng nực mồ hôi đầm đià như tắm hơi.
 
Ngay đêm mới được chuyển đến K1, sau khi ăn bữa chiều vừa xong, có lệnh tập họp nơi mảnh sân chật hẹp ngay trước dẫy nhà ngói. Hơn 300 người ngồi chồm hổm dưới đất, sát bên nhau chặt cứng, ngửa mặt nhìn lên chiếc ghế và bàn nhỏ để trên mặt chiếc rờ-mọc, nghe Cán bộ Trưởng K1 đến “làm việc”. Ðại khái ông ta nói :
 
“-Vì khẩn trương quá, nên chưa có đủ chỗ nằm thoải mái cho mọi người, anh em cố gắng khắc phục, kể từ mai chúng ta sẽ tự túc xây dựng thêm nhà để ở cho được thong thả. Mọi người hãy cố gắng học tập cho nó tốt. Có điều gì thắc mắc thì cứ thành khẩn báo cáo, cán bộ quản giáo sẽ chỉ dậy cho.”
Ông ta còn nói nhiều nữa, lâu cả tiếng đồng hồ. Tôi không quan tâm cho lắm, nên chẳng biết ông ấy đã nói những gì. Nhưng các Ðội trưởng chắc chắn phải lắng nghe, để “nắm vững” mà nhắc nhở anh em. Nhiều người ngủ gục. Tôi cũng mệt mỏi ngáp ngắn ngáp dài sái cả quai hàm, trông cho mau xong để đi ngủ cho khoẻ, sau một ngày bận bịu vất vả.
 
Thời tiết đang vào Ðông, ngoài trời luôn ngăm ngăm lạnh, thế mà nằm trong nhà giam nóng như nung. Ði ngủ, ai cũng chỉ mặc quần ngắn áo thun, mồ hôi vẫn vã ra như tắm hơi. Chặt cứng như nêm, không đủ chỗ để nằm ngửa phải nằm nghiêng kiểu úp thià. Mỗi lần muốn trở mình cho khỏi mỏi, phải ngồi dậy xoay người rồi mới nằm xuống lại, để khỏi làm phiền 2 bạn nằm kế 2 bên. Không ngủ được, thường sinh ra cái chứng mót tiểu hoài. Trong nhà nóng, bên ngoài lạnh cóng, mỗi lần đi ra phải mặc quần áo, chụp mũ lên đầu cho ấm. Khi trở vào, lại phải cởi ra, thật phiền phức trần ai hết mức.
 
Ði tiểu còn đỡ, địa điểm đặt các thùng đựng nước tiểu ở ngay bên chuồng gà, giữa Nhà ngói và Nhà bếp, khoảng cách gần chỉ độ vài chục mét. Còn muốn đi đại tiện, phải băng qua sân dài cả trăm mét, ra tới gần cổng trại, mới rẽ trái theo con đường mòn nhỏ xuống bên bờ suối, cả mấy chục mét mới tới Nhà vệ sinh. Sương đêm dầy đặc mù mịt trơn trượt, không đèn không đuốc, mò mẫm đi lại rất khó khăn nguy hiểm. Ngoài ra còn sợ nạn bị cọp rình vồ thịt, hoặc đạp lên mình trăn rắn đang trườn ngang lối đi, sẽ bị chúng mổ cuộn thì toi mạng. Thật là trần ai bể khổ.
 
Trong căn lều che hố vệ sinh, tối đen như mực, và chỉ có 2 chỗ cho 2 người. Muỗi rừng bay dầy đặc như ong vỡ tổ, đuổi không kịp, đốt nhức buốt xưng u ngứa ngáy khó chịu. Nhiều bạn xấu tính, ích kỷ, ngại đạp phải dơ, ngồi phóng đại bên đường, làm những người đi sau không thấy dẫm lên bê bết. Chùi quẹt giầy lên cỏ bên đường không sạch hết, khi trở vào phòng giam mùi sông nồng nặc, tưởng như có ai đau bụng đi không kịp, phóng ra quần tại chỗ nằm.
 
Suốt đêm nằm trăn trở không ngủ được. Mệt mỏi quá rồi cũng lả thiếp đi lúc nào chẳng biết. Ðang lơ mơ, bỗng một hồi Cồng bom oang oang đổ dồn, chói tai nhức óc. Giật mình thức giấc ngồi dậy, nghe lẫn trong tiếng cồng, tiếng hú thảm thiết của con chó bên khu Cán bộ vọng sang. Mọi người uể oải sửa soạn đón nhận thêm một ngày mới, với những biến cố mới chưa đoán biết được, sẽ đến trong cuộc sống tù biệt xứ đang gánh chịu.
 
Cán bộ Trực trại ra lệnh qua loa phóng thanh, giục mọi người “khẩn trương” ra sân tập thể dục. Sau 15 phút, bài học thể dục tập thể xong, lại phải “khẩn trương” đi lo phần vệ sinh cá nhân. Trong khi đó, bạn Trực phòng của Ðội đi xuống Nhà bếp, lãnh phần khoai lang luộc điểm tâm về chia cho anh em. Mỗi phần chỉ có 1 củ khoai bằng nắm tay, hoặc 2 củ bằng 2 quả trứng gà. Ăn chưa xong, cồng tập họp đi lao động đã vang dội cả thung lũng.
 
Mọi người vội vã kéo nhau ra sân tập họp. Từng Ðội xếp 2 hàng dọc, ngồi chôm hổm sát bên nhau đầy sân, quay mặt ra cổng chờ lệnh Cán bộ Trực Trại. Nửa giờ sau, Cán bộ Giáo dục và các Quản giáo xuất hiện nơi cổng. Bắt đầu đọc lệnh “biên chế” lại các Ðội. Sau khi Quản giáo nhận Ðội, ông ta dẫn riêng ra một góc sân, chỉ định Ðội trưởng, các Tổ trưởng, Thư ký đội, anh phụ trách nấu nước cho Ðội ngoài hiện trường lao động, anh Trực nhà, và phân chia anh em còn lại vào các Tổ. Xong suôi, mọi người về thu xếp tư trang dọn đến nơi ở mới quy định cho Ðội. Tôi được chia vào Ðội Nông Nghiệp, do anh Lê Minh Luân (Ðại tá Không quân) làm Ðội trưởng. Láng ở của chúng tôi là dẫy nhà “chổm” gần bên láng ở của Ðội Anh Nuôi (hoả đầu vụ). Dẫy nhà tuy cũ kỹ, vách “chổm” khô cong kẽ hở lớn, thu hút gió Ðông lạnh dễ dàng, nhưng khoảng nằm rộng rãi hơn, thoáng khí không ngột ngạt như trong nhà ngói. Mỗi người được khoảng nằm rộng 60 phân, chiếu cá nhân phải để chồng mí lên nhau.
 
Buổi lao động chiều, cả K được lệnh dồn nỗ lực chia nhau phát quang dọn sạch sẽ các bụi cây cỏ dại chung quanh trại, để nới rộng sân tập họp, sửa soạn chỗ cất thêm nhà mới, làm hàng rào quanh trại, tu sửa bờ suối cạnh bếp và nơi tắm giặt công cộng…
 
Sau cuộc “biên chế” mới, nhóm bạn ăn chung cũng như nằm gần bên Tôi, suốt từ Long Giao ra đến đây, gồm anh Võ Quế và 2 anh Pháo binh (không nhớ tên), bị tách biệt ra mỗi người mỗi Ðội khác, hơi buồn.
 
Ngày hôm sau, các Ðội mới chính thức xuất trại đi lao động bên ngoài trại.
Khởi đầu “lao động vinh quang”,
Cồng bom (1) giục giã, xếp hàng giữa sân.
Từng đội theo lệnh “xuất quân”,
Vào rừng chặt chổm, vác dần về K (ca).
Ðóng rào, dựng cổng, cất nhà,
Ðể mà có chốn đi ra đi vào.
Ðắp nền Láng ở cho cao,
Kẻo mùa mưa lũ, nước trào vô trong.
Sàn nằm hai dẫy thong dong,
Ðầu quay sát vách, khỏi trông thấy ngoài.
Nhà ba gian, phải phân đôi,
Nhốt chung hai đội, trăm người vào ra.
Cấm không túm bẩy tụm ba,
Chuyện trò bàn thảo việc nhà, việc chung.
Ngày lo lao động tính công,
Tối ngồi “kiểm thảo” để cùng “sửa sai”.
“Hoạch định phương án” tương lai,
“Thi đua” “phấn đấu” mỗi ngày tiến lên.
Ốm đau “khắc phục” cho quen,
Ðội không được phép nghỉ trên một người.
“Khẩu phần” nhờ “đội anh nuôi”,
Lo cho cả trại kịp thời, đúng cân.
Dù ai lao động xa gần,
Ði về sớm muộn, có phần dành riêng.
Giống như Hợp tác xã viên,
Anh hùng lao động tại miền Bắc ta.
Thảm thương Ðại tá Cộng hoà,
Ðoạ đầy thể ấy, thành ma mấy hồí !
K1, LT1, Việt Cường, Yên Bái, tháng 7-1976.
(1) Theo lời giải thích của Quản giáo Ðội chúng tôi, chiếc cồng mà K1 đang dùng, là vỏ một quả bom do máy bay Mỹ thả xuống không nổ. Người ta gỡ thuốc và ngòi nổ bỏ đi, rồi treo lên dùng làm cồng báo giờ cho cả thung lũng cùng nghe được. Chiếc cồng được xử dụng đánh báo giờ giấc cho K1, mỗi ngày 8 lần : – báo dậy buổi sáng, -tập họp đi lao động buổi sáng, -giờ nghỉ giải lao giữa buổi sáng, -mãn giờ lao động sáng, -tập họp đi lao động buổi chiều, -giờ nghỉ giải lao giữa buổi lao động chiều, -mãn giờ lao động chiều, -báo điểm danh tối trước khi vào phòng giam. Ngoài ra còn dùng để đánh liên hồi 3 tiếng một, mỗi khi cần báo động.
 
Chiếc cồng phát ra một loại âm thanh kim khí lanh lảnh trong, với tần số rung rất cao, làm inh tai nhức óc người ta dễ sợ. Ðến nỗi con chó đặt tên là Pho của Quản giáo Ðội chúng tôi nuôi, bị tiếng cồng làm đau đớn nhức óc khiếp đảm, phải chu lên nghe rất thảm thiết ghê lạnh cả người. Tiếng kêu y như tiếng hú của chó sói trong rừng già hoang vu, diễn tả trong các phim chuyện của Âu Mỹ. Không ai hỏi, nhưng ông ta tự động giải thích vì thù Ðế quốc Mỹ xâm lăng, bỏ bom miền Bắc Xã hội Chủ nghiã, nên lấy tên của Tổng thống Ford đặt cho con chó, để hàng ngày gọi cho ăn, và lúc nào không bằng lòng thì cột lại đánh cho bõ ghét.
 
Thật tội nghiệp cho những bộ óc thiển cận, ít học, lạc hậu. Ông ta đâu có biết tâm tình của người Âu Châu hoàn toàn khác hẳn. Chỉ nhân vật thân quen nào được qúy mến nhất, họ mới lấy tên của người ấy đặt cho con vật họ thương qúy trìu mến nhất như con. Tại Hoa Kỳ, còn có Luật bảo vệ gia súc như chó, mèo… Ai hành hạ súc vật bị tố cáo, sẽ bị làm biên bản đưa ra Tòa án phán xét xử phạt nghiêm khắc. Ðâu như tại Việt Nam, chó được nuôi bằng cơm thừa canh cặn, để dọn sạch sẽ những thứ do con người thải ra, để coi giữ nhà, và đặc biệt để làm thịt ăn. “Sống ở trên đời ăn miếng dồi chó. Chết xuống âm phủ biết có hay không?”
 
Chương 11
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ TÌNH NGƯỜI
Nhân số Tù chia vào mỗi Ðội, gồm khoảng trung bình từ 40 đến 50 người, tùy theo loại công tác. Các Ðội được đánh số cho dễ gọi, và quy định đảm nhận những công tác chuyên biệt khác nhau : Lâm sản, Mộc, Ðan lát, Xây dựng, Rau xanh, Nông nghiệp, Anh nuôi.
 
Ðội Lâm Sản, được coi là Ðội của những “Tù tự giác” (không cần người theo sát canh giữ), đi vào rừng một mình đốn cây, chặt “chổm”, chặt giang, lấy măng. “Chổm” và giang, phải chặt dài tối thiểu là 4 mét, bó thành từng bó 20 cây, rồi kết chung với các thân cây thành bè, thả trôi theo dòng nước về tới đập nhỏ ở bià rừng, cách trại chừng 5 cây số.
 
Cây đốn xuống, lớn thì giao cho Ðội Mộc cưa xẻ thành ván ngay tại trong rừng, chuyển về sau. Các cây nhỏ thì cắt lấy thân đem về làm cột, kèo, dui nhà, còn cành lớn làm củi đun cho các bếp của trại giam Tù và bếp riêng bên khu Cán bộ.
 
“Chổm” được dùng làm rất nhiều việc. Hoặc để nguyên cây dài 4 mét, mổ dọc thân banh bẹt ra, đập dẹp, rồi ghép lại đan những tấm phên thật lớn, để dựng quanh nhà làm vách, và làm sàn nằm trong các Láng. Hoặc cắt thành các đoạn ngắn cỡ 1 mét, bổ dọc đập dẹp kết thành những mảng tranh dài 2 mét lợp mái nhà. Hoặc để nguyên cây, chôn sâu xuống đất, kết sát bên nhau làm hàng rào quây chung quanh trại. Hoặc làm cáng (“ki”) khiêng đất, tranh, gạch, và các vật liệu linh tinh khác.
 
Giang là loại tre thân nhỏ, đốt dài, gần như đặc ruột, sợi mộc dẻo dai, được cắt thành từng khúc ngắn hay dài, tùy theo công dụng. Có thể chẻ nhỏ chuốt nhẵn thành các loại nan để đan thúng, nia, rổ, rá, xọt, bồ. Hoặc tước mỏng để làm lạt (dây) cột, bện thừng, trão…
 
Măng được coi là một loại thực phẩm có “giá trị kinh tế cao”, có thể dùng “biến chế” được ít nhất là bốn món ăn khác nhau. Hoặc xấy khô để dành dùng trong những dịp Lễ Tết, khẩu phần được gia tăng, nấu với xương làm món măng ninh. Hoặc muối chua để dành nấu canh dần. Hoặc để tươi xào hay kho mặn dùng thay rau, trong mùa mưa măng đâm trồi đầy rừng.
 
Măng để tươi ăn ngay rất đắng. Nhưng “bước đầu” trại mới thành lập, trại viên chưa sản xuất được loại rau nào để ăn, nên măng được coi là món chính duy nhất, trong 2 bữa ăn hàng ngày. Hơn nữa, mỗi bữa ăn mỗi người chỉ được chia có vài bốn mẩu bằng ngón chân cái, nên vẫn thấy ngon và thèm. Theo phân tích khoa học ai cũng biết, măng chẳng có giá trị dinh dưỡng nào cho cơ thể con người, ngoài việc cung cấp chất sơ, giúp cho việc đẩy phân trong ruột dễ dàng không táo bón.
 
Trách nhiệm của Ðội Nông Nghiệp là, quanh năm suốt tháng, nắng cũng như mưa, tùy theo vụ từng mùa, hoặc đi phá rừng cuốc đất trồng sắn (khoai mì), khoai lang, ngô (bắp), luá. Hoặc thực hiện những tạp vụ khác tùy nhu cầu kiếm tiền, để trại nộp cho Nhà Nước hàng năm theo quy định. Chẳng hạn, Hợp Tác Xã nào đó trong địa phương cần một số nhân công, để phụ “tịnh kho” (dọn dẹp quét tước sạch sẽ nhà kho), hay gặt luá, đập luá, phơi thóc, lẩy hột bắp…, Trại giam sẽ tùy theo nhu cầu, chỉ định một hoặc nhiều Ðội Nông Nghiệp đi làm thuê tính công để lấy tiền. Nhưng cơ quan chủ thuê không bao giờ trả bằng tiền, mà bằng nông phẩm (lúa, khoai, ngô…) trị giá tương đương.
 
Tôi được “biên chế” vào một trong các Ðội Nông Nghiệp của K1. Nhưng Ðội chúng tôi chẳng bao giờ được giao đất để canh tác. Thường xuyên được tăng phái đi làm thuê cho các Ðội chuyên nghiệp khác, như đào đất đắp nền nhà, đi vác “chổm”, giang, cây và củi từ đập nước bên bià rừng về trại, đi lấy cát, hoặc làm thuê cho Hợp Tác Xã địa phương lấy tiền công nộp cho Trại.
Trong những buổi đi vác “chổm” hoặc giang, Quản giáo buộc mỗi người phải vác 1 bó 20 cây, nặng chừng 200 đến 300 kílô. Các bó “chổm” dài lượt thượt, vác trên vai di chuyển trên đường đất nhỏ vòng vèo, lên dốc xuống dốc quanh theo triền núi, thật vất vả. Chỉ dăm ba anh khoẻ làm được. Còn phần lớn chịu thua không vác nổi, ngã tới ngã lui, không xê dịch nổi bước nào, đành liều ngồi ì ra chịu trận xỉ vả của Quản giáo.
 
Cuối cùng, Quản giáo cũng phải nhân nhượng, bằng lòng cho 2 người khiêng chung một bó. Mỗi người ở một đầu, khiêng bó “chổm” trên vai, theo nhau kẻ trước người sau, bước chân lẹ như chạy cho đỡ nặng. Anh nào khoẻ hơn thì hy sinh khiêng phần gốc, nhường cho anh bạn làm chung yếu hơn khiêng phần ngọn. Ai khiêng phần ngọn đi trước, người khiêng phần gốc đi phiá sau.
Ðể chia đều sức nặng của bó “chổm” cho 2 người, phải rút một cây “chổm” ở phiá gốc thòi ra khỏi bó chừng 1 mét như chiếc đòn, cho người đi sau để trên vai khiêng. Cứ đi được chừng 300 mét lại phải ngừng, quăng bó “chổm” xuống đất ngồi nghỉ. Ðau vai, mỏi cột xương sống lưng, mệt đừ thở hổn hển muốn đứt hơi.
 
Nếu một mình vác nổi 1 bó, mỗi buổi lao động chỉ phải đi về có 1 lần. Còn 2 người khiêng chung, phải đi 2 lần để “bảo đảm đủ chỉ tiêu” quy định, mỗi buổi lao động mỗi người phải đem về trại 1 bó. Ngày làm 2 buổi, những người khiêng chung phải đi về tới 4 lần trong 1 ngày. Ai xong sớm được về trại nghỉ ngơi thoải mái. Còn những người yếu chậm chạp, bao giờ “hoàn tất đủ chỉ tiêu” mới được nghỉ. Có người phải làm suốt luôn 2 buổi, không nghỉ trưa, mới đủ thì giờ để “đạt chỉ tiêu” do Quản giáo quy định. Nhưng cũng có người mạnh, vác nộp luôn 2 bó trong giờ lao động buổi sáng, để nghỉ cả buổi chiều.
 
Gần đập nước có một xóm nhỏ, khoảng mươi lăm căn nhà dân địa phương cư ngụ. Mỗi nhà cách nhau bằng những hàng rào cây gai, và mảnh vườn nho nhỏ. Xóm nhà ở dọc dài ngay hai bên đường đi lên đập. Không thấy bóng trai tráng nam nữ nào cả. Chỉ có mấy ông bà già, và dăm bẩy đứa trẻ nít cả trai lẫn gái ở chuồng lồng lộng, lem luốc, chơi đùa giữa sân, giành nhau mấy mẩu sắn hay khoai gì đó, la hét chửi nhau ỏm tỏi.
 
Khi anh em Tù đi ngang, một bà già tiến ra sát bờ rào, xua chó sủa đuổi người lạ, và lớn tiếng chửi : “-Tiên sư cha chúng bay, loài qủy uống máu, ăn gan người. Sao chúng bay không chết bầm chết dập đi, mà còn vác mặt đến đây ăn hại cơm của nhân dân?”
 
Mọi người ngỡ ngàng, không biết Nhà nước Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tuyên truyền huớng dẫn quần chúng miền Bắc như thế nào về Quân lực Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam, mà lòng hận thù của dân chúng đối với anh em Tù ghê gớm đến như vậy. Thật khó hiểu, nó ngược hẳn với những gì mà Cán bộ đại diện Ðảng và Nhà Nước Cộng sản Việt Nam đã nói với anh em, qua các bài học tập cải tạo tư tưởng tại miền Nam trước khi ra Bắc.
 
Không riêng gì dân chúng, ngay cả Cán bộ Bộ đội miền Bắc, chưa bao giờ có dịp thấy thực trạng của miền Nam Việt Nam, cũng có những suy nghĩ sai lầm tai hại như vậy. Các Cụ ta ngày xưa đã từng khuyên :“ Phượng hoàng đậu chốn cheo leo, sa cơ thất thế phải theo đàn gà”, anh em đành nhẫn nhục chịu đựng chớ biết làm sao bây giờ. Không được phép giao tiếp với dân chúng, làm sao giải thích cho họ hiểu được. Thật khổ tâm vô cùng.
 
Ngoài công tác đi vác “chổm”, mỗi ngày Ðội chúng tôi còn phải cử một toán 5 người, đem xe “cải tiến” đi xuống tận vùng bờ sông Âu Lâu để chở cát về cho đội xây dựng, xây Nhà Vệ Sinh công cộng cho cả trại xử dụng. Ðường đi xa gần hai chục cây số, dọc ven sườn núi vòng vèo, khe dốc thẳng đứng sâu thăm thẳm hàng trăm mét.
 
Tôi được “Tự quản đội” tức là Ðội trưởng, đề nghị Quản giáo chỉ định vào toán đi lấy cát, bằng “Xe cải tiến”. Ðây là loại xe khung gỗ, thân dài 1 mét, ngang 90 phân, cao 50 phân, để trên 2 bánh xe niềng sắt với vòng lốp cao su tròn đặc. Xe có 2 càng dài khoảng hơn 1 mét ở phiá trước, để người kéo thay vì dùng súc vật. Ðể dễ hiểu hơn, “xe cải tiến” là một loại xe bò nhỏ để chở vật liệu do người kéo.
 
Mỗi chuyến đi phải lấy một mét khối cát. Vì thế phải dùng những tấm ván dầy và cót quây chung quanh thành xe cho cao lên, mới chứa đủ dung lượng một mét khối cát.
 
Toán “chuyển vận xe cải tiến” gồm 5 người, phân chia như sau :
 
-1 người cầm càng xe để lái hướng đi cho xe,
-2 người đi trước xe chừng 5 mét để cầm dây kéo,
-2 người đi sau đẩy phụ cho xe tiến tới. Lần đi nào, Tôi cũng bị anh em trong toán giao cho cằm càng lái xe.
 
Việc đi lấy cát thật vất vả, nhưng cũng có nhiều kỷ niệm vui vui khó quên.
 
Mỗi chuyến đi lấy cát, ngoài cán bộ Quản giáo còn có 2 bộ đội cảnh vệ mang súng dài đi theo canh chừng 5 người Tù. Trưởng Phân trại K1 giải thích rằng : “-Cần có bộ đội cảnh vệ đi theo để bảo đảm an ninh, cho các anh không bị dân chúng hành hung, chớ không phải để canh gác vì sợ các anh trốn. Ở đất miền Bắc Xã hội chủ nghĩa này, dầy đặc “thiên la địa võng” làm sao trốn thoát mà phải lo.”
 
Lượt đi toàn là xuống dốc, xe tự động lao tới vùn vụt, người lái xe phải quay ngược cho xe trước càng sau, để chạy theo xe. Nếu không, lực trôi nhanh của xe có thể làm cho người cầm càng, chạy không kịp vấp chân ngã chúi xuống đường, hậu quả sẽ rất nguy hiểm đến tính mệnh. Những người đẩy và phụ kéo xe như đã phân chia, cũng phải tập trung đi phiá sau, để cầm dây níu cho tốc độ xe lao xuống dốc giảm đi.
 
Lượt về thì ngược lại, xe đầy 1 mét khối cát ướt nặng nề, đường lên dốc liên tục, xe luôn luôn trì kéo trôi lui chớ không chịu tự động lăn tới như lúc xuống dốc. Người lái phải gập mình về trước, đè cho càng xe chúi sát đất. Hai người đi trước khoảng 5 mét quàng dây kéo trên vai, cúi rạp người gò lưng kéo. Hai người đẩy phiá sau bám chặt một tay vào thành xe, ngả người về trước đẩy cho xe tiến lên, tay kia cầm 1 thanh gỗ để sẵn sàng chặn bánh xe lại khi cần thiết.
 
Thật là trần ai vất vả, tinh thần mọi người lúc nào cũng bị căng thẳng. Mặt đường lồi lõm đầy lỗ ổ gà. Nếu sơ xuất, xe có thể bị lật hoặc trôi tuốt xuống khe. Người có thể bị trọng thương vì xe cán qua hoặc đổ đè lên. Ðã có một toán thuộc Ðội khác, sơ ý không kiểm soát nổi, xe đầy cát bị trôi tuột xuống khe bên triền núi cao cả hơn trăm mét. Xe gẫy bể tan nát dưới khe sâu. May mà không ai bị lôi theo xuống khe, hoặc bị xe cán gây thương tích. Thật nguy hiểm không sao lường trước được. Quanh năm ngày tháng, cái chết lúc nào cũng sẵn sàng lởn vởn bên cuộc sống của Tù.
 
Gần mấy căn nhà dân chúng ở bên đường xuống bờ sông lấy cát, có 1 túp lều bán quà bánh bầy biệân thô sơ. Trên chiếc bàn nhỏ để ít keo thủy tinh kẹo bột, kẹo lạc, bánh bỏng ngô, bánh khảo, thuốc lá, thuốc lào, bình nước chà tươi… Quản giáo đi theo chúng tôi (Trung úy Khảm) tỏ ra dễ dãi, cho phép anh em mua kẹo, bánh, ăn để “bồi dưỡng”. Nhưng ông ta luôn mồm nhắc nhở, phải ăn hết trước khi về tới trại, và không được kể cho anh em trong trại biết. (Ông Khảm đã thố lộ cho anh em biết, trước 30-4-1975 ông ấy đã từng vào Nam chiến đấu tại vùng Khánh Hoà, và có người anh bà con làm Thiếu tá trong Quân đội thuộc chế độ miền Nam cũ tại Nha Trang.)
Nhà Vệ Sinh mới được xây bằng gạch mái lợp tôn, ngay bên mặt đường lớn bên ngoài cổng trại, trông như một quán nhà trọ có nhiều phòng. Dân chúng đi ngang qua, ai có nhu cầu cũng có thể ghé vào giải quyết.
 
Kiến trúc Nhà Vệ sinh giống như kiểu nhà sàn, có các bậc thang gạch đi lên cao chừng 1 mét rưỡi, có mái tôn che mưa nắng, và 1 dẫy 10 lỗ cầu ngồi, phân cách nhau bởi những mảng tường lửng cao 1 mét, có cửa gỗ che phiá trước mỗi ngăn. Nền nhà láng xi măng, hơi nghiêng nghiêng cho nước tiểu tự động chẩy xuống một hồ chứa. Phân đặc nằm lại thành từng đống giữa nền.
 
Dọc bên hông Nhà Vệ Sinh, có lối đi lát gạch vòng xuống phiá sau, để Tổ Phân thuộc các Ðội Rau Xanh, hàng ngày đến xúc phân, múc nước tiểu đem ra khu sản xuất rau xanh dùng. Anh em được hướng dẫn tùy theo hiện trạng lớn nhỏ của mỗi luống rau, hòa phân hoặc nước tiểu với lượng nước suối cần thiết cho hợp với nhu cầu bón tưới. Nhờ vậy, rau trồng tăng trưởng nhanh, xanh tốt, và mức “thâu hoạch” rất cao.
 
Việc xây dựng Nhà Vệ Sinh thuộc loại “ưu tiên hàng đầu” trong “dự án chung”. Vì hiện tại, trại chỉ có một hố vệ sinh duy nhất, với 2 chỗ ngồi, đào bên sườn đồi gần sát bờ suối, phiá trong cổng trại. Mỗi buổi sáng, anh em Tù phải xếp hàng nối đuôi nhau, chờ cả tiếng đồng hồ mới tới lượt vào giải quyết việc thải vàng ra khỏi cơ thể. Chẳng may, anh nào bị đau bụng tiêu chẩy, nín không được đành ngồi đại ngay bên đường mòn xả ra, hôi thối nồng nặc. Anh em khác khó tánh có nặng lời, cũng đành tỉnh khô, cắn răng, gục mặt chịu trận. Về sau “rút kinh nghiệm”, nhiều người tập thói quen, nhịn không đi đại tiện vào buổi sáng ở trong trại. Chờ khi ra ngoài lao động, mới xin anh bộ đội cảnh vệ cho đi giải quyết bên bờ bụi gần nơi lao động, vừa sáng sủa thoáng mát, lại không bị nạn muỗi đêm bu đốt hút máu.
 
Ðội Xây Dựng, chuyên pha cây, đục đục đẽo đẽo làm cột, kèo, dui, mè, để dựng nhà. Còn lợp mái, dựng vách, làm sàn nằm, là những việc phụ không cần chuyên nghiệp, có anh em Ðội Nông Nghiệp chúng tôi tăng phái phụ lực. Dĩ nhiên việc xây cất các kiến trúc bằng gạch, láng xi măng, dựng khung sườn nhà, ráp cửa… là phần vụ chuyên môn, đều do anh em Ðội Xây Dựng thực hiện.
 
Có một chuyện lạ không ai ngờ, số anh em vốn thuộc gốc Công binh được “biên chế” vào Ðội xây dựng, không ai chịu làm Ðội trưởng. Trại đã phải chỉ định một anh thuộc ngành Hành chánh Tài chánh (Ðại tá Bùi hữu Ðặng) làm Ðội trưởng Ðội Xây Dựng. Thế mà công tác xây dựng vẫn được tiến hành xuông sẻ, đáp ứng đúng “yêu cầu” của Trại và Liên trại đề ra.
 
CỰU ĐẠI TÁ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA
 
Ðội Ðan Lát, chuyên pha “chổm”, đập dập để làm tranh lợp mái nhà, đan phên làm vách, sàn nằm, làm “ki”, và pha giang để chẻ lạt cột, bện thừng, đan rổ, rá, thúng, nia, bồ… Nhưng “trước mắt” có nhiều “yêu cầu khẩn trương” làm không kịp, Ðội Nông Nghiệp chúng tôi được tăng cường tiếp tay làm những công việc này. Nhờ thế mọi người học được nhiều nghề một lúc, bảo đảm sau này khi được tha ra, có thể tự lực lao động mà sống, không ăn bám vào xã hội như trước đây. “Ðáp ứng đúng yêu cầu Chính sách Nhà nước” đã đề ra cho các Cải tạo viên.
 
Ðội Rau Xanh, phá bụi cây dại và cỏ hoang ở 2 bên rià suối, giữa khu cán bộ ở và trại giam Tù, để cuốc xới đất làm các luống trồng rau cung cấp cho trại. Vì “bước đầu” mới khởi công, “trước mắt” chưa có rau để thâu hoạch, nên hàng ngày Ðội chúng tôi phải tăng phái một Tổ đi theo Quản giáo Ðội Anh Nuôi (hoả đầu vụ), đến các Hợp Tác Xã quanh vùng mua rau cung cấp cho nhà bếp. Toàn là rau muống bè thân dài thòng dai ngắc, hoặc ít trái bí ngô, bầu già đem về nấu ăn cả vỏ. Ðội Anh Nuôi, được coi là bận bịu phải thức khuya dậy sớm, lo nấu thực phẩm, đun nước chín cung cấp đúng giờ giấc quy định cho cả trại.Nhưng thực ra không vất vả nặng nhọc, bằng công việc của các Ðội Lâm Sản, Nông Nghiệp, Xây Dựng, Rau Xanh. Suốt bốn mùa, mưa cũng như nắng, mọi người phải đầu đội Trời chân đạp Ðất, lặn lội nơi rừng rậm âm u, bì bõm nơi đồng ruộng sình lầy, lạnh cóng, nóng nực. Ngoài ra, vào những dịp Lễ Tết, khẩu phần ăn được tăng cường, Ðội Anh Nuôi làm không kịp, lại được anh em Ðội Nông Nghiệp chúng tôi đến tăng cường phụ giúp, giải quyết cho kịp thời gian tính.

 

Trong khoảng thời gian ngắn ngủi 2 tháng trời, cả trại phải cố gắng “thi đua lao động” chào mừng ngày Lễ Ðộc Lập 2 tháng 9, và đón Phái đoàn Trung ương đến “tham quan định giá thành quả lao động cải tạo” của trại viên. Mọi người đã phải “khắc phục” “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, để hoàn tất mọi “đề án” được Phân trại chấp thuận, dựa theo “đề xuất” của “Ban Thường Trực Thi đua” phối hợp cùng các “Tự Quản Ðội”, trình bầy trong ngày Ðại hội phát động phong trào thi đua mùa Thu 1977.

Các công trình hoàn tất trong “Ðợt Thi Ðua” mừng ngày Ðộc Lập 2 tháng 9 lần thứ 30 này gồm :

1.- Chiếc Cổng Trại đồ sộ kiểu cách mỹ thuật;
2.- Dẫy Nhà Vệ Sinh rộng rãi sạch sẽ bằng gạch mái lợp tôn;
3.- Mấy dẫy nhà “chổm” mới cho Tù ở rộng rãi hơn;
4.- Vòng hàng rào 2 lớp “chổm” nguyên cây bao quanh trại;
5.- Khu vườn rau xanh mướt nằm dài 2 bên khe suối.

Trại nhận xét, “thành quả lao động cải tạo bước đầu” rất “khả quan”. Ðể cả Cán bộ lẫn anh em Tù “hân hoan”ø ăn mừng ngày Lễ Ðộc Lập lần thứ 30, của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay đã đổi tên là Cộng Hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam từ cuối năm 1975, được linh đình. Ban Chỉ huy Phân trại K1, đã cho Quản giáo Ðội chúng tôi (Trung úy Khảm) dẫn mấy anh Ðội Lâm Sản, đến các Hợp Tác Xã tìm mua thịt tươi.

Con ngựa mua được, già gầy ốm trơ xương, què một chân không còn khả năng lao động, của 1 Hợp Tác Xã cách xa trại chúng tôi chừng vài chục cây số đường rừng. Ông Khảm cho biết : “-Tiền Nhà Nước tăng cường cho Tù trong dịp này không nhiều lắm. Mặc dầu quen biết lâu năm với các cơ sở địa phương, ông ta vẫn phải tốn công tới lui thương lượng nhiều lần, họ mới bằng lòng để cho với giá phải chăng.”

Làm thịt ngựa, phải dùng búa tạ đập đầu ngựa cho gục xuống mê man, rồi mới thọc huyết bằng ống nứa vạt nhọn tréo một bên. Mấy anh bạn Tù thuộc Ðội Anh Nuôi, người cũng lực lưỡng lắm mà làm không được. Lại phải nhờ đến Quản giáo Ðội chúng tôi ra tay tế độ.

Hôm đó, cả trại được nghỉ lao động, nên có dịp xem làm thịt ngựa. Thật là một cảnh thương tâm hãi hùng, Tôi chưa bao giờ được chứng kiến.

Một sợi thừng to, chắc, một đầu cột vòng cổ con ngựa, một đầu buộc vào cây cột cao 1 mét, níu cho đầu nó cúi thấp xuống. Một bạn Tù lực lưỡng đứng phiá trước con ngựa, cầm chiếc búa tạ sẵn sàng dơ cao lên đập mạnh xuống đỉnh đầu nó, để hạ cho nó ngất đi.

Hai mắt con ngựa mở trừng trừng ứa lệ, làm như khóc van xin đừng giết nó. Khi chiếc búa giáng xuống thì nó lắc đầu né, nên đập hụt. Ðập lần thứ hai, chắc vì xúc động, nhát búa giáng xuống không đủ mạnh. Con ngựa chỉ chúi xuống, rồi lại cố gắng vùng đứng dậy, tìm cách giật cho đứt thừng để chạy trốn.

Quản giáo Ðội chúng tôi đứng hướng dẫn và quan sát, lên tiếng chê : “-Ðàn ông gì mà nhát gan dở quá vậy, để tôi ra tay cho xem, mà rút kinh nghiệm về sau.” Ông ta sắn tay áo lên, đến trước con ngựa, vung tay búa lên giáng mạnh xuống, chỉ một nhát là giải quyết xong ngay. Thảo nào, các Cụ thường nói “trăm hay không bằng tay quen” là thế.

Ngựa ngất xỉu nằm sõng soài trên mặt đất. Lẹ tay ông Khảm buông búa ra, nhặt ngay ống nứa đã vạt nhọn để kề bên, thọc từ ức cổ con ngựa đâm sâu xuống ngực nó. Máu từ đoạn nứa tuôn ra như xối vào chiếc chậu nhôm to tướng. Một chậu không đủ chứa, phải tăng cường thêm 2, 3 chậu khác mới hết.

Thọc huyết xong, người ta lấy rơm rạ phủ một lớp thật dầy che kín hết con ngựa, rồi bật lửa thui nó. Cho đến khi da quanh mình nó đã xém vàng mới ngưng, để mổ banh bụng nó ra, moi lấy bộ lòng, lột da, xẻ thịt.

Một đùi sau, hai dải thịt bắp thăn lưng, tim, gan, và bộ óc dành cho Cán bộ Liên trại và K1. Phần còn lại, kể cả da lẫn xương, ruột, và huyết, là phần của anh em Tù K1 tổng số khoảng hơn 350 người, nấu nướng chia nhau ăn 2 bữa, để mừng ngày Cách mạng tháng 8 thành công từ 30 năm về trước.

TÌNH NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.Muỗi, vắt, họp bầy đeo khắp thân,
Ðầm lầy, khe úng, đỉa bâu chân.
Tù, đua lao động nâng thành tích,
Cán, thúc ghi công xét định phần.
Ðôi mẩu ngựa già xào muối hột,
Vài khoanh măng đắng nấu xương gân.
Ðồng bào đâu thấy lòng nham hiểm,
Thế giới nào hay dạ bất nhân!K1, LT1, Việt Cường, Yên Bái. Tháng 9-1976

 
Chương 12
THIÊN LA ÐỊA VÕNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Công tác xây dựng Phân trại K1 vừa hoàn tất, một số Ðội được đưa qua tăng cường xây dựng Khu Nhà Khách cho Liên trại. Khu này gồm 1 dẫy nhà ở, 1 dẫy nhà ăn cho khoảng vài trăm người, 1 nhà bếp lớn, 1 Thư viện, và 1 dẫy nhà vệ sinh công cộng bằng gạch có mái che, ở sườn đồi gần ngay bên K Lò Gạch. Tất cả các dẫy nhà đều được lợp mái bằng tôn.Ðội chúng tôi được tăng cường làm vệ sinh chung quanh khu nhà Máy Phát Ðiện của Liên trại, bên kia đường đối diện Khu Nhà Khách.Sáng nào cũng vậy, đi trên đường đến nơi lao động, anh em thường gặp 1 người da trắng, mũi lõ, tóc quăn mầu bạch kim, mắt xanh, khoảng trên dưới 30 tuổi, cầm chiếc cần câu cá và 1 hộp mồi giun đi ngược chiều về phiá đập nước. Chúng tôi nhìn với vẻ ngạc nhiên, nhưng không ai dám xì xào gì cả.

Quản giáo Ðội chúng tôi lanh lợi tinh ý, chắc là đoán được suy nghĩ của chúng tôi, lên tiếng giải thích : « -Anh này là người Mỹ sinh ở Pu-éc-ta-ri-cô. Anh ta vốn là tù binh xin ở lại, và xin được làm Công dân Việt Nam, lấy tên là Nam. Anh ấy có vợ người Việt ở Hànội. Mỗi tháng được phép về thăm vợ 1 lần. Anh ấy nói và viết tiếng Việt rất giỏi. Anh ấy phụ trách máy phát điện của Ban Chỉ huy Liên trại. »

Kế ngay bên nhà máy phát điện, là dẫy nhà « chổm » 2 gian dành riêng cho anh Nam. Khoảng mươi mét, phiá sau nhà ở và nhà máy phát điện, có 1 nhà vệ riêng của anh Nam. Nhà vệ sinh là 1 căn lều khoảng 4 mét vuông, quây kín chung quanh bằng phên « chổm », bên trong có 1 bục gỗ cao, làm chỗ ngồi đại tiện xuống 1 thùng gỗ đựng phân ở phiá dưới, để hàng ngày anh Nam lấy đi bón cho khu vườn rau riêng của mình.

Anh em lao động tại đây, nếu có nhu cầu đi đại tiện, cũng được phép bộ đội cảnh vệ cho vào xử dụng. Vì anh Nam thường ngày đi lên phiá đập nước câu cá, nên không có gì trở ngại. Tôi cũng đã có dịp vào xử dụng nhà vệ sinh này.

Trên nền nhà vệ sinh, thấy có vài cuốn vở học sinh viết đầy chữ Việt, vứt bừa bãi lẫn lộn với đủ loại giấy vụn, sách báo, giẻ rách dính đầy dầu nhớt. Bià vở, các trang giấy thấy còn mới, và chữ viết mực chưa bị phai nhoè hay bạc mầu theo thời gian.

Tôi tò mò, nhặt mấy tờ giấy đầy chữ lên đọc, xem viết những gì trong đó. Liếc qua ít câu, Tôi sửng sốt ngạc nhiên bỏ ra ngoài ngay, và không bao giờ dám trở lại nữa, vì sợ Cán bộ thấy sẽ mang họa. Giấy viết toàn những lời hướng dẫn đường trốn trại, từ Việt Cường qua Nghĩa Lộ, Mường La để thoát sang Lào, hay xuôi theo sông Ðà ra biển thuộc Vịnh Bắc Kỳ.

Ðêm về nằm mung lung suy nghĩ, trằn trọc không sao ngủ được. Nhiều câu hỏi tiếp theo nhau hiện ra trong đầu. Ai viết ra và vứt tại đó vậy? Phải chăng anh Nam là người của CIA cài lại, để tìm hiểu đường đi nước bước nhằm giúp chúng tôi trốn trại? Hay chính Cán bộ Cộng sản gài bẫy, để tạo cơ hội thực hiện những chính sách cư xử với chúng tôi khe khắt hơn, mà không bị anh em oán thù là tàn bạo vô nhân đạo?…

Làm vệ sinh khu nhà máy phát điện xong, Ðội chúng tôi được đưa đi làm thuê, «tịnh kho» (dọn sạch sẽ kho) cho Hợp Tác Xã ở ngay giữa đoạn đường đi từ Ban Chỉ huy Liên trại đến K1 (nơi giam chúng tôi).

Công việc phải làm, thoạt nghe thấy rất đơn giản nhẹ nhàng. Chỉ vun gọn bắp và sắn khô còn vương vãi trong kho, xúc bỏ vào các bồ đựng, khiêng cất sang ngăn khác, rồi quét dọn sạch sẽ để chuẩn bị chỗ chứa lúa Thu Ðông sắp sửa gặt.

Khi bắt tay vào việc mới thấy là rất cực nhọc. Vì phải làm liên tục không ngơi tay, giữa bầu không khí bụi mù ngột ngạt, hôi mốc rất khó chịu. Mũi miệng phải bịt khăn kín mít, thế mà bụi vẫn chui qua vải vào đầy lỗ mũi, bám đầy trên mặt, quanh mắt làm cộm ngứa. Suốt từ đầu đến chân, quần áo phủ đầy bụi bặm mạng nhện.

Kho đóng cửa lâu ngày không mở, từ dưới gầm sàn gỗ giữ cho ngũ cốc không chạm nền đất, chuột, muỗi tuá ra vô số kể. Nhiều ổ chuột con chưa mọc lông, da bóng láng đỏ hỏn, chưa mở mắt, lúc nhúc chúi vào nhau coi thấy mà ghê sởn gai ốc đầy mình.

Chỉ có một điều mừng duy nhất, khiến ai cũng mong được đi làm thuê cho Hợp Tác Xã là, trong những ngày đi làm cho Hợp Tác Xã, mỗi buổi lao động tùy theo mùa, mỗi người được « bồi dưỡng » thêm 1 khúc sắn luộc to bằng cổ tay dài độ 30 phân, hoặc 1 trái bắp lớn, ngoài phần ăn do trại phát rất nghèo nàn.

Mỗi tháng, không phân biệt tháng 30 ngày hay 31 ngày, khẩu phần ăn cho Tù được quy định khoán là 12 kí lô gạo. Như vậy « bình quân » mỗi ngày, một người chỉ được ăn khoảng 350 gờ-ram, vì còn phải trừ đi phần hao hụt chuyển vận, tồn kho, bàn cân không chính xác.
Nhưng chẳng bao giờ được lãnh gạo. Thường xuyên quanh năm, gạo được thay thế bằng sắn khô, bắp khô, hoặc khoai lang khô, tính theo phân xuất một đổi một. Có nghiã là 1 kí lô sắn khô, hay 1 kí lô bắp (ngô) khô, được tính tương đương với 1 kí lô gạo. Trường hợp đang mùa sắn hay mùa bắp thì được ăn tươi, tính theo phân xuất 4 kí lô sắn tươi cả vỏ, hoặc 4 kí lô bắp tươi cả lõi và lá bao ngoài, quy bằng 1 kí lô gạo.

Nếu có gạo nấu cơm, phần của mỗi người được chia là : bữa sáng một phần ba ca cơm, bữa trưa bằng miệng ca, và bữa tối cũng bằng miệng ca. Sắn khô hay bắp khô nấu chín, chia ra mỗi người cũng được một lượng ao tương đương như vậy. Không biết Cách mạng Chuyên chính Vô sản, tính toán đo lường làm sao mà tài đến thế.

Bắp tươi luộc, phát mỗi bữa được 1 trái lớn, hoặc 2 trái nhỏ, đem tẽ hột ngồi đếm, bữa nào cũng như bữa nấy, được khoảng từ 800 đến 900 hột. Dĩ nhiên bữa sáng thì chỉ được bằng một phần ba bữa trưa hoặc bữa tối.

Thức ăn mỗi bữa, mỗi người được vài cọng rau muống dài chừng 10 phân nấu canh với muối, hoặc vài khoanh măng tươi kho muối, là căn bản hàng ngày. Chỉ những ngày Lễ lớn hàng năm như Lễ Ðộc Lập, 3 ngày Tết, phần ăn được tăng cường thì mới biết mùi thịt, cá, hoặc tương hột đậu nành muối mặn, và 25 phần trăm cơm, 75 phần trăm sắn.

Một hôm, có lẽ vào khoảng cuối tháng 10 năm 1976, Ðội chúng tôi đang làm tại Kho Hợp Tác Xã, ở giữa quãng đồng từ K1 (khu nhà ngói) sang BCH Liên Trại 1, thì nghe 3 tiếng súng nổ liên tiếp nhau. Cán bộ Quản giáo và bộ đội cảnh vệ, ra lệnh cho anh em ngưng lao động, tập họp điểm số “khẩn trương” trở về trại giam. Mọi người vội vã hồi hộp, chẳng ai biết chuyện gì đang xẩy ra. Tới trại mới thấy tất cả các Ðội, dù lao động xa hay lao động gần, cũng đều được lần lượt dẫn về hết. Mỗi Ðội phải ở trong láng riêng, không được đi lại lộn xộn giữa các láng. Mọi người hết đứng lại ngồi, đi quanh quanh trong láng, ngó nhìn ra sân, xì xầm bàn tán chẳng biết chuyện gì.

Mãi tới khi anh bạn Tù trực buồng xuống Bếp, lãnh thức ăn tối cho Ðội mang về, mới thì thầm cho biết, Ðội Lâm Sản có 4 người lạc trong rừng chưa thấy về. Các Ðội phải về trại, để tập trung Cán bộ đổ đi tìm từ chiều tới giờ chưa có kết quả.

Buổi chiều lúc gần mãn giờ lao động, các Ðội trưởng (gạch nối giữa Cán bộ và anh em Tù) được gọi lên họp với Ban chỉ huy K1. Họp xong trở về, Ðội trưởng của chúng tôi tập họp anh em, cho biết 4 anh trốn trại là : Võ Quế (Không quân), Ðỗ trọng Huề (Hành chánh Tài chánh), Thi (Pháo binh), Thành (Trung đoàn trưởng thuộc Sư đoàn 9 BB). Tôi không nhớ Họ của các anh Thành và Thi. Ðội trưởng cũng chuyển lệnh Trại nhắc nhở, những ai thường có tiếp xúc thân mật với các anh ấy, biết gì về hoàn cảnh của các anh ấy phải báo cáo lên Cán bộ. Nếu giấu diếm không khai, sau này điều tra ra, sẽ bị ghép tội tiếp tay cho người trốn trại.

Tôi giật mình suy nghĩ, trước ngày các anh ấy trốn, anh Võ Quế có đến gặp Tôi nhiều lần vào buổi tối, để xin thuốc kiết lỵ và hộp quẹt (diêm). Tôi hỏi cần để làm gì, anh Quế nói là lúc này phải đi Lâm sản, nhiều lúc lạnh quá muốn đốt lửa hút thuốc cho ấm mà không có quẹt, mấy anh cùng đi có nhưng hết cả rồi. Sở dĩ anh Quế đến xin Tôi là vì, suốt từ khi vào trại Long Giao, qua trại Suối Máu, ra đến K1 Liên trại này, anh Quế cùng 2 anh bạn gốc Pháo binh và Tôi, có cùng hoàn cảnh gia đình thiếu thốn, thường chia sẻ cho nhau những gì chúng tôi có, nên đã tự nhiên trở thành bạn tâm tình rất thương nhau. Ða số anh em trong Ðội của Tôi ai cũng biết. (Anh Quế là em ruột Tướng Võ Dinh bên Không quân.)

Trong khi thông báo lệnh của Trại, anh Ðội trưởng đã cố ý nhìn Tôi nhiều lần, như muốn nhắn nhủ cho riêng Tôi điều gì đó. Nhưng Tôi làm ngơ như không biết gì cả. Thông báo xong, anh em tản mát mỗi người lo việc riêng của mình. Anh Ðội trưởng cũng là một Ðại tá Không quân, đến gần Tôi hỏi nhỏ : -Mấy bữa trước thấy anh Quế, tối nào cũng xuống gặp anh tại chỗ nằm để làm gì vậy? Anh ấy có than van gì với anh không? Tôi trả lời : -Không, anh ấy đến xin thuốc lá hút như hồi còn nằm gần bên nhau chung một Ðội, chớ không nói gì cả.

Những ngày kế theo, Tôi đã giữ im lặng chẳng khai báo gì hết, và sẵn sàng ứng biến với Cán bộ nếu bị thẩm vấn. Tôi đã có kinh nghiệm, bị gọi làm việc với Cán bộ nhiều lần ở trong Nam rồi, nên không sợ.

Qua ngày hôm sau, mỗi Ðội đi lao động được tăng cường thêm 1 tay súng thứ 2. Bình thường chỉ có Quản Giáo đội và 1 bộ đội cảnh vệ mang súng thôi.

Ðội chúng tôi không ra Hợp Tác Xã lao động nữa, được giao cho công việc đào 4 hầm giam, bên sườn đồi dốc đứng, đối diện khu nhà ở của cán bộ K1. Kỳ hạn phải làm xong trong 2 ngày. Mỗi hầm bề ngang 80 phân, cao 3 mét, sâu vào lòng núi 3 mét. Mái hầm làm bằng các cây gỗ nhỏ, xếp liền nhau trên mặt đất sườn đồi, rồi cột tranh chổm và đổ đất phủ lên bên trên. Mỗi hầm cách nhau 1 mét. Mỗi hầm có 1 cửa gỗ có khoá riêng bên ngoài, và một gông bằng gỗ dầy có 2 lỗ to vừa bằng cổ chân, ở ngay cuối bệ đất nằm, đóng chắc vào 2 cột sát bên vách hầm.

Vài ngày sau vào lúc xế chiều, Ðội vừa đi lao động về đến trại, nghe tin là 4 anh trốn trại đã bị dân chúng bắt đem nộp cho trại, và đang bị cùm trong những hầm giam mà Ðội chúng tôi mới thực hiện xong từ mấy ngày trước.

Một anh bạn Tù thuộc Ðội nhà bếp, Ðại tá Trần văn Thăng cũng thân với Tôi, được Cán bộ dẫn đem thức ăn cho các anh bị giam, cho biết là các anh ấy bị đánh nhừ tử như cái rẻ rách, trông rất thảm thương. Những người bị kỷ luật, mức ăn bị giảm xuống chỉ còn 9 kí lô một tháng, so với bình thường là 12 kí lô.

Mấy ngày tiếp theo, vào một buổi sáng anh em đang ngồi đợi tại sân tập họp, chờ gọi xuất trại đi lao động. Có tin xì xầm rỉ tai nhau : “-Hồi đêm anh Thành xé chăn đắp, làm dây treo cổ lên mái hầm tự tử chết.”

Ðội chúng tôi ai cũng ngạc nhiên. Từ nền đất nằm lên tới mái hầm cao 3 mét, cả 2 chân bị cùm bằng gông gỗ, chỉ có thể ngồi lên với 2 chân duỗi thẳng sát đất, chớ không đứng lên được. Với tư thế ngồi bẹt dưới đất trên sàn nằm như vậy, 2 tay dơ thẳng trên đầu không cao quá 1 mét rưỡi, các cây phủ nóc hầm ken (xếp) sát liền nhau không kẽ hở, khung cửa lại cách xa nền nằm 1 mét, làm sao tự cột dây lên mái hầm mà treo cổ được. Nói như vậy chắc ai cũng biết anh Thành chết vì sao rồi, khỏi cần giải thích thêm.

Khi có quyền sinh sát trong tay, người ta muốn làm gì nói gì mà chẳng được. Ai xì xào nghi vấn thì lập tức bị kết ngay tội bôi xấu Chế độ, và sẽ bị kỷ luật tức khắc. Càng trình bầy minh oan tội càng nặng, vì ngoan cố không chịu nhận tội để sửa sai.

Không biết mấy bạn Tù trốn trại này, có dịp vào xử dụng nhà vệ sinh của anh Nam (người tù binh Mỹ xin ở lại làm công dân Việt Nam, lấy vợ Việt), mà lượm đọc những trang chữ chỉ đường dẫn lối không?

Hay là bạn nào đã nhặt đem về đưa cho đọc, mà tin tưởng cả gan liều lĩnh đặt kế hoạch rủ nhau trốn trại như vậy? Bản thân Tôi kính phục lòng can đảm của các anh ấy vô cùng.

Nhiều bạn cũng khen là can đảm. Nhưng cũng có bạn chê là liều không đúng lúc, chỉ tạo cơ hội cho bọn Qủy Ðỏ bầy đặt thêm biện pháp xiết chặt cách cư xử, hành hạ gây thêm khó khăn cho cả mọi người.

MẮC NẠN THIÊN LA ÐỊA VÕNG.Biết rằng dầy đặc Công an,
Một lòng đã quyết, nguy nan chẳng sờn.
Cho Hùm ăn thịt còn hơn,
Sống trong lao nhục, chết mòn, tủi thân.
Sau đêm tầm tã mưa tuôn,
Tầng tầng sương phủ rừng hoang mịt mờ.
Cùng nhau thực hiện ước mơ,
Bốn Tù Lâm sản lủi vô lòng rừng.
Tìm đường trốn thoát khỏi bưng,
Theo sông, vượt biển, tới vùng Tự do.
Cho Thiên hạ rõ mưu đồ,
Cộng quân nham hiểm hơn Hồ ly tinh.
Bầy ra đủ thứ cực hình,
Ðọa đầy Công chức, Chiến binh Cộng Hoà.
Tiếc thay đại nạn chưa qua,
Loanh quanh rừng rậm, không ra được ngoài.
Cạn lương, tìm rẫy kiếm khoai,
Dân rình bắt được, thẳng tay hạ đòn.
Không cho phân giải thiệt hơn,
Xúm nhau đấm đá, hả cơn hận thù.
Theo lời Cách mạng mùa Thu,
Không theo Cộng sản, là thù của dân.
Dù là máu mủ, quyến thân,
Liệt vào giai cấp thành phần hiểm nguy.
Phải cần tiêu diệt hết đi,
Chỉ còn vô sản, vô nghì với nhau.
Tiến lên theo Ðảng dẫn đầu,
Hoà cùng các nước chư hầu Liên sô.
Ðại đồng Thế giới Tam vô,
Trở về nguyên thủy, tha hồ Tự do.Nguyễn Huy Hùng

K1, LT1, Việt Cường, Yên Bái, tháng 10-1976

 
Chương 13
CHÍNH SÁCH KHOAN HỒNG NHÂN ĐẠO CỦA NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ TRƯỚC SAU NHƯ MỘT

Khoảng vài tuần lễ sau vụ trốn trại xẩy ra, một đoàn Cán bộ Trung ương tới trại tổ chức học tập. Người ta nhai lại những gì đã học ở trong Nam trước khi ra Bắc.

Trong buổi “tổng kết thành quả thâu hoạch” tại Hội trường về đợt học tập, đã xẩy ra một chuyện bất ngờ làm anh em ngạc nhiên. Trưởng đoàn Cán bộ Trung ương, yêu cầu anh em “mạnh dạn” cho biết những khó khăn muốn được giúp đỡ để học tập cho tốt, cũng như “thành khẩn” trình bầy những u uẩn trong lòng làm ảnh hưởng đến tinh thần học tập, kể từ ngày ra đến đất Bắc Xã hội Chủ nghiã.
Có mấy anh gan dạ, lên tiếng đưa ra 2 vấn đề xin được “giải toả thoả đáng” :
1.-Cán bộ cấp Trung ương, tuổi cũng bằng cỡ chúng tôi, mà còn gọi chúng tôi là các anh. Thế mà ở đây có một cán bộ rất trẻ, chỉ bằng tuổi con của chúng tôi, lại dùng từ “chúng mày” để nói với chúng tôi. Ông ấy còn nói là “con của chúng mày sẽ không bao giờ được vào Đại học”. Điều này trái hẳn với Chính sách khoan hồng nhân đạo của Nhà nước Xã hội Chủ nghiã, mà các Cán bộ đã giảng dạy cho chúng tôi bấy lâu nay, làm chúng tôi rất hoang mang.
2.-Nhà nước thông báo là chỉ đem tiền ăn và quần áo đủ dùng cho 1 tháng học tập. Đến nay đã hơn 1 năm rồi, quần áo mùng mền của chúng tôi đã rách, lại phải ra ngoài Bắc này thời tiết quá lạnh, không quần áo ấm làm sao đủ sức chịu đựng mà học tập lao động cho “tiến bộ” được. Chúng tôi tha thiết yêu cầu cho gửi thơ về gia đình, xin tiếp tế thêm quần áo lạnh và mùng mền.
 
Để trả lời, Trưởng đoàn Cán bộ Trung ương đã mau mắn khen ngợi tinh thần “thành khẩn” của anh em, và xác nhận rằng : “-Chính sách khoan hồng nhân đạo của Nhà Nước Xã hội Chủ nghĩa trước sau như một, không có gì thay đổi. Tuổi trẻ bao giờ cũng nông nổi, chúng tôi sẽ “kiểm thảo” để “sửa sai” cho những ai đã có hành động như vậy. Việc quần áo ấm thì chúng tôi sẽ trình Cấp Trên cứu xét giải quyết “khẩn trương”cho anh em. Hãy cố gắng học tập cho tốt đừng nản lòng. Việc được về sớm hay muộn, tùy thuộc vào tinh thần cố gắng học tập và mức tiến bộ của chính bản thân mỗi người. Các Chị và các cháu ở nhà vẫn sinh hoạt bình thường như mọi người khác. Các anh cứ yên tâm học tập cho nó tốt, không có gì phải lo lắng.”
Thật đúng là miệng lưỡi của “Vẹm” xảo quyệt, gian ngoan, lừa đảo, láo khoét, không sao tin được. Sau này, khi được tha về vào tháng 2 năm 1988, Tôi mới được gia đình kể cho biết là : “Tháng 9 năm 1975, sau khi Tôi đi trình diện tập trung cải tạo được 3 tháng, người con trai thứ của Tôi đang học năm thứ 3 Y khoa, Đại học Minh Đức tại Saigon, đã bị loại ra khỏi trường Đại học bằng 1 biện pháp vô cùng dã man.
Chiều ngày 26 tháng 9 năm 1975, các bạn thân cùng nhóm học với Con tôi đến nhà báo cho gia đình biết, trong lúc đang cùng mọi người nghe thuyết giảng tại Trường Luật ở đường Duy Tân, Saigon, Con tôi đã bị Công an bắt đưa lên xe chở đi đâu không biết.
Vợ của Tôi lo lắng chạy ngược chạy xuôi, trình hỏi khắp các cơ quan Công an Quận, Thành phố, không ai biết gì. Chồng đã bị bắt đi trình diện học tập, suốt mấy tháng trời bặt không tin tức. Nay, khi không, Con lại bị bắt đưa đi đâu mất tích chẳng biết sống chết ra sao. Vợ của Tôi buồn phiền, lo nghĩ sinh bệnh nặng, phải đưa đi cấp cứu mấy lần mới thoát chết.”
Thật là “Họa vô đơn chí, Phúc bất trùng lai”. Mặc dù thất vọng, nhưng gia đình chúng tôi theo đạo Phật, thấu hiểu “luật nhân quả”, nên luôn luôn tin tưởng rằng không bao giờ Trời hại người hiền lương. Gia đình chúng tôi chưa bao giờ làm điều thất đức, trước sau gì rồi cũng được an toàn thoát nạn.
“Ngày tháng buồn khổ cứ vô tình trôi qua. Bỗng dưng một hôm, vào khoảng tháng 9 năm 1976 tức là một năm sau, tự nhiên có một người trẻ, bạn tù của con Tôi mới được tha, tới nhà báo tin cho biết là con Tôi đang bị giam trong Khám Chí Hoà. Mừng rỡ, Vợ của Tôi chạy đi nhờ người chỉ vẽ cách làm đơn xin và được vào thăm nuôi con.
Hơn 1 năm xa cách, Mẹ con mới lại có dịp thấy mặt nhau, trong sân của Khám Chí Hoà. Thấy con chỉ còn da bọc xương, ốm tong ốm teo, ghẻ lở cùng mình, đầu tóc rụng trơ sọ, quần áo rách nát bẩn thỉu, không đi nổi, phải bò lết ra gặp Mẹ. Trước cảnh tượng vô cùng đau thương đó, Vợ của Tôi sót xa, nghẹn ngào, tim gan se thắt, đau đớn như đứt từng khúc ruột.”
Bây giờ, ghi lại những dòng này, Tôi vẫn còn bị xúc động mạnh, không kềm nổi những dòng lệ nghẹn ngào, thương sót cho Vợ Con đã vì mình mà phải chịu họa lây thảm thương đến như vậy. “Sau khi thăm Con ra về, Vợ của Tôi phải đi cầu cứu bạn bè quen biết, giúp chạy chọt nhờ các gia đình Cách mạng vẽ lối chỉ đường làm đơn xin bảo lãnh cho con được tha. Mọi thủ tục hoàn tất, việc cứu xét kéo dài một năm sau con trai của Tôi mới được tha về, vào tháng 7 năm 1977. Nhưng cậu ấy không được Phường, Quận, chấp nhận cho nhập “hộ khẩu” của gia đình.
Con của Tôi, phải nhờ bạn bè chỉ vẽ cách xin tình nguyện đi làm không công trong Phòng Y tế của Phường, tham gia đoàn công tác thường xuyên đến vùng Kinh tế mới Lê Minh Xuân, cách xa Saigon 15 cây số, chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào làm Thủy lợi tại đây. Ba năm sau mới được thâu nhận làm nhân viên chính thức của Phòng Y tế Phường 10, Quận Phú Nhuận, và được giúp đỡ cho gia nhập “hộ khẩu” gia đình.
Lúc được tha về, cậu ấy kể lại cho gia đình nghe, ngay khi bị bắt đưa lên xe, người ta bịt mắt không cho nhìn đường. Họ chở tới giam trong một căn nhà villa nào đó, đánh đập tra hỏi đủ điều suốt mấy ngày liền về tổ chức Phục quốc. Cậu ấy khai không biết gì cả. Tra khảo mãi không lấy được lời cung khai nào, họ bèn đem cậu ấy ra xe đưa vào Khám Chí Hoà, Saigon, nhốt trong phòng biệt giam tăm tối. Hàng ngày, công an đến tiếp tục thay phiên nhau đánh đập tra khảo cả mấy tháng trời, vì bị nghi vấn tham gia phong trào Phục quốc, chống lại Chính quyền Cách mạng. Không khai thác được manh mối nào để kết tội, nhưng vẫn bị giam giữ suốt 2 năm trường, ngắc ngoải gần chết vì bệnh hoạn, thiếu dinh dưỡng.”
Nhờ trước 30-4-1975, Tôi và các Con hàng ngày đến Võ đường luyện tập Nhu đạo và Thái cực đạo, nên biết cách chịu đòn và biết bảo vệ những chỗ hiểm nên không chết. Nhưng cậu ấy vẫn bị hư màng nhĩ lỗ tai trái, không nghe được nữa.
“Trong khi Tôi đang đi cải tạo, ở nhà Vợ của Tôi và những bà vợ các Sĩ quan, Công chức của Chế độ Saigon cũ, thường xuyên bị Phường buộc đến tập trung nghe cán bộ nói về các chính sách của Nhà nước, thúc đẩy “đăng ký tình nguyện” đi vùng Kinh tế mới tham gia sản xuất. Có chịu đi thì chồng mới sớm được tha về đoàn tụ với gia đình. Trong khi đi vùng Kinh tế mới, Nhà Nước sẽ “quản lý” giùm nhà riêng tại Saigon.
Sau những đợt học tập như vậy, Chính quyền địa phương còn cho các nhân viên Nam Nữ trẻ, tuổi cỡ đôi mươi, ăn mặc sắc phục bộ đội, mang súng, đội mũ “tai bèo”, đến tận nhà hăm dọa đủ điều, để ép phải ký giấy tình nguyện đi vùng Kinh tế mới. Nhiều Bà nhẹ dạ cả tin đã ra đi. Một thời gian sau bệnh hoạn, đói rách, con chết, không chịu nổi, tìm cách trở lại Thành phố thì không còn nhà để ở, phải sống trong hoàn cảnh bất hợp pháp không có “hộ khẩu”.
Riêng phần gia đình của Tôi, vì đang phải nuôi người con trai út mới sanh hồi tháng 1 năm 1976, nên nhất định lỳ không chịu đi, mặc dù Phường cử nhân viên đến nhà hàng tháng đốc thúc, hăm dọa, nào là không đi thì Nhà nước sẽ không bán gạo cho, bệnh hoạn sẽ không chữa bệnh cho… Cuối cùng, để gia đình không bị sách nhiễu nữa, cô con gái lớn của Tôi cũng là Sinh viên Y khoa, ngoài giờ đi học và thực tập tại Bệnh viện, đã phải tình nguyện đến làm việc không công cho phòng Y tế Phường, phụ trách châm cứu chữa bệnh cho đồng bào. Tới cuối năm 1977, tình nguyện và được chấp nhận cho đi làm tại nhà thương Nguyễn văn Cội vùng Củ Chi, cách Saigon chừng vài chục cây số. Đến gần cuối năm 1979, mới xin được chuyển về Saigon làm việc tại nhà thương Đồn Đất, khu Nhi (chữa bệnh con nít).
Năm người con nhỏ tuổi hơn, sau khi học hết Trung học, không ai được nhận vào Đại học, mặc dù điểm thi tuyển đạt rất cao, chỉ vì trong hồ sơ có vết tích Cha là Sĩ quan của chế độ cũ đang phải đi tập trung cải tạo. Chúng phải đi làm thợ cho các Tổ sản xuất mành Trúc, do gia đình các cán bộ Cách mạng làm chủ để kiếm cơm ăn hàng ngày.”
Vài ngày sau đợt học tập chấm dứt, một buổi sáng, các Đội đang ngồi tại sân tập họp đợi gọi đi lao động, một chuyện bất ngờ đã xẩy ra. Cán bộ trực trại tuyên đọc lệnh kiểm tra tư trang thay vì đi lao động.
Mọi người vào thu vén hết đồ dùng quần áo riêng của mình đem ra sân, bầy trước mặt trên đất, theo từng đội, tại khu vực do Cán bộ quản giáo đội chỉ định. Cán bộ đến kiểm soát kỹ lưỡng tư trang của từng người một, tịch thu những gì cán bộ cho là vi phạm quy luật trại giam, Tù không được lưu giữ bên người.
Kiểm tra suốt từ sáng đến trưa mới song. Một lệnh mới được loan ra, mỗi người chỉ được giữ lại hai bộ quần áo dùng đi lao động, còn tất cả phải xếp vào một bọc riêng cất vào kho, trong dẫy nhà ngói. Thuốc âu dược riêng của mỗi người, bỏ vào 1 túi nylon, viết giấy ghi tên mình để bên trong, cột lại, nộp cho trại giữ giùm, khi nào cần sẽ phát tùy theo nhu cầu. Tiền bạc và các vật qúy như đồng hồ đeo tay, nhẫn cưới, dây đeo cổ, đeo tay bằng vàng bạc, đều phải nộp cho trại cất giữ có cấp giấy biên nhận, khi nào được tha trại sẽ hoàn trả lại.
Một điều làm mọi người e ngại là, vàng thì ghi là kim loại màu vàng, lỡ sau này vàng sẽ bị trả lại bằng kim loại cũng màu vàng, nhưng là thau hay đồng thì sao. Lo vậy nhưng không ai dám nói gì.
Thật là thâm độc và xảo quyệt. Đây chính là biện pháp mà bọn Quản lý trại giam theo lệnh Nhà Nước, cần áp dụng đối với Tù chính trị miền Nam. Nhưng trước khi thi hành, họ lại tạo điều kiện xúi Tù trốn trại, rồi mới dựa vào cớ ấy để đưa ra biện pháp quản lý khắt khe, không ai có thể kêu ca quy tội cho họ là vô nhân đạo.
Cồng bom nhức óc, inh tai,
Chó tru thảm thiết, báo Trời rạng đông.
Dậy lo thu xếp chăn mùng,
Sẵn sàng tiếp tục thi công kiếp tù.
Sơn lâm chướng khí mịt mù,
Cỏ cây ướt sũng âm u lạnh lùng.
Não nề, ôí ! cảnh tập trung,
Dầm mưa dãi nắng, sức cùng lực tiêu.
Đắng cay, nhịn nhục đủ điều,
Gian lao, xốc vác, chỉ tiêu nặng nề.
Đọa đầy thê thảm ê chề,
Như bầy nô lệ làm thuê khốn cùng.
Đảng là vai chủ nhân ông,
Độc quyền sinh sát lao công tội tù.
Không theo Cách mạng muà Thu,
Tất nhiên Đảng phải diệt trừ không tha.
Khoan hồng, nhân đạo chỉ là,
Mượn lời Nhân Nghĩa, ba hoa bịp đời.
Lừa Nhân Thế mắc hợm chơi,
Bao giờ Cộng sản thương người Quốc gia !K1, LT1, Việt Cường, Yên Bái, tháng 11-1976
 
Chương 14
YÊU LAO ĐỘNG LÀ YÊU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA – YÊU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ YÊU NƯỚC
Chung quanh K1 không có đất để canh tác, nên sau khi hoàn tất đợt học tập được khoảng một tháng, tất cả chúng tôi được di chuyển tới một khu khác, vào tháng 12 năm 1976. Mức cao độ của Khu trại mới này, thấp hơn mức cao độ K1 cũ chừng 40 mét. Nó ở về phiá Nam cơ sở BCH Liên trại 1, cách xa khoảng 5 cây số, trên con đường đi xuống hướng sông Âu Lâu.Tới khu mới này, anh em chúng tôi bị chia ra làm 2 Phân trại : một nửa ở K2 (Trại Cây Khế) và một nửa ở K3 (Trại Cốc), cách xa nhau chừng một cây số.Ngay tại ngã 3 đường rẽ vào khu Trại mới này, có một Bệnh xá, nơi điều trị các Tù bệnh nặng, không thể chữa khỏi tại các Phòng Y tế Phân trại. Tôi không biết Bệnh xá có bao nhiều giường. Nhưng thấy có tới 4, 5 dẫy nhà, chắc phải có ít nhất là 50 giường. Vì ngoài các Phân trại giam các Tướng, Đại tá, Liên Trại 1 còn quản lý mấy trại khác giam cấp Trung tá, Thiếu tá, cũng ở trong khu vực này. Mỗi trại cách nhau từ 5 đến 7 cây số, dọc 2 bên đường dẫn xuống phiá sông Âu Lâu.

Khu mới đến, là một thung lũng hẹp nằm giữa 2 dẫy đồi, sườn dốc thoai thoải chừng 30 độ góc, dài khoảng 100 mét từ chân lên đến đỉnh. Một con suối hẹp nằm dọc suốt thung lũng, nước chẩy xiết qua nhiều thác nho nhỏ cao 1 mét, ra đến bên đường lớn rẽ phải xuôi xuống hướng Nam. Đằng sau 2 dẫy đồi là những dẫy núi cao hàng trăm mét, trùng trùng điệp điệp, sườn dốc 60 độ, trồng những cây bồ đề để lấy gỗ làm giấy. Cây nào cây nấy gốc to một người ôm không hết, cao cả chục mét. Miệng thung lũng nơi sát đường cái, bề ngang rộng khoảng 500 mét, càng vào trong sâu càng nhỏ dần lại còn chừng 300 mét.K2 ở ngay gần miệng thung lũng, cách Bệnh xá một cây số, gọi là Trại Cây Khế. Vì trên giữa đỉnh đồi gần bên trại có một cây khế to cao, xum xuê trái. Đi sâu thêm độ cây số nữa, tới K3 ở trong cùng của thung lũng, gọi là Trại Cốc.Đội chúng tôi thuộc nhóm giam tại K2 (Trại Cây Khế). Khu nhà dành cho Tù ở trên sườn đồi phiá Bắc con suối, đối diện với khu Cán bộ ở trên sườn đồi phiá Nam con suối. Con đường dẫn vào K3 (Trại Cốc) chạy dài theo sườn đồi bên phiá khu Cán bộ ở.

Các dẫy nhà Cán bộ ở sát trên đỉnh đồi, cao hơn so với các dẫy nhà Tù ở phiá bên đối diện. Chạy dài theo rià sân trước những dẫy nhà Cán bộ ở, có đào 1 giao thông hào sâu 1 mét rưỡi, với những vị trí để súng liên thanh, súng cối, hướng sang khu Tù ở.

Các dẫy nhà Tù ở đều rất cũ, làm bằng “chổm”, cất tựa theo sườn đồi thành 3 nấc. Nấc dưới thấp hơn nấc trên một chiều cao nhà, tính từ nền lên đến mái. Nấc dưới cùng gần bên bờ suối là khu Nhà Bếp, sân tập họp. Các nấc kế trên là những dẫy nhà ở.

Đường lên xuống giữa các nấc nhà, là những bậc thang đất đào vào sườn đồi. Đội chúng tôi ở trong dẫy nhà trên nấc cao nhất, phải leo tới 30 bậc thang đất, mỗi bậc cao cỡ 40 phân, mới tới nơi. Mùa mưa, lúc đi xuống thường bị trượt chân giáng đít trên bậc đất oành oạch. Có người còn bị tuột luôn mấy bậc mới khựng lại, làm dồn xương sống, choáng váng mặt mày. May mà không có ai bị gẫy xương, trật gân vì những tai nạn nho nhỏ này.

Dẫy nhà chúng tôi ở chứa 2 Đội. Trước dẫy nhà có một sân rộng khoảng 5 mét, để sáng sớm cả Nhà ra xếp hàng tập thể dục, tối điểm danh trước khi vào Láng ngủ. Sân còn được dùng làm mặt bằng để pha “chổm”, đan phên, đan tranh, làm “ki” (cáng khiêng)…

Trong nhà có 2 dẫy xạp nằm sát dọc 2 bên vách, rộng 2 mét bằng phên “chổm”. Phiá vách sát nóc nhà, bên trên đầu xạp nằm khoảng 1 mét rưỡi, có 1 giàn kệ rộng 60 phân cũng bằng “chổm”, để Tù cất đồ dùng thường ngày của mình trên đó cho gọn gàng. Một đường đi rộng 1 mét rưỡi, dài suốt từ đầu này đến đầu kia, nằm dọc chính giữa dẫy nhà.

Nhà có 3 lối ra vào đều không có cánh cửa. Hai cửa ở 2 đầu nhà có 1 tấm phên cao rộng 2 mét, đóng xuống đất trên hiên phiá ngoài, cách khung cửa 70 phân, để cản gió mưa không tạt vào nhà. Vách phiá lưng nhà, nằm song song với thành đất sườn đồi, nên không có cửa sổ. Vách phiá trước, trông ra sân nhìn sang khu Cán bộ ở, chính giữa có một khuôn cửa ra vào rộng 1 mét, và 4 khuôn cửa sổ ở 2 bên. Tất cả đều không có cánh cửa.

Những bọc tư trang riêng, hồi còn ở K1 (khu nhà ngói) Tù phải để vào kho chung, nay được trả lại. Nhưng phải xếp tập trung vào một góc nhà, và thuộc quyền kiểm soát thường xuyên của Quản giáo Đội. Không ai được đụng tới, mỗi khi cần lấy thứ gì phải xin phép Quản giáo cho mới được.

 
Khu trại này không biết do ai dựng lên từ bao giờ, tình trạng rất cũ kỹ. Các vách “chổm” đã khô cong, kẽ hở rộng không còn khả năng chắn gió Bấc mùa Đông, được dự đoán sẽ “khắc nghiệt” hơn mọi năm. Chung quanh trại chưa có hàng rào. Cần có thêm dẫy nhà làm Hội trường, cho khoảng 200 người ngồi học tập trong những ngày mưa gió. Cần có Thư viện trưng bầy sách báo do các Lãnh tụ Cộng sản Việt Nam viết, truyện dài truyện ngắn Xã hội chủ nghiã do các Văn nô Cộng sản sáng tác, hoặc dịch từ các truyện của Liên sô. (Tù sẽ phải mượn đem về láng ở mà đọc, mà nghiên cứu, nghiền ngẫm để thấm nhuần tư tưởng Cách mạng tháng 8, cho mau trở thành con người Xã hội Chủ nghĩa.) Cần có 1 phòng hớt tóc chung cho mọi người. Cần có 1 Phòng Y tế chữa trị những bệnh thông thường hàng ngày cho Tù, để luôn luôn bảo đảm nhân số tham gia lao động cao. Mấy dẫy nhà bên khu Cán bộ ở, cần phải phá đi làm mới cho thêm khang trang, an toàn khi giông bão.
 
Đấy là những việc cần làm “khẩn trương”. Mùa mưa dầm gió Bấc của miền Bắc Việt Nam, đã bắt đầu rả rích từ gần 2 tháng rồi. Vì thế, trừ 2 Đội Rau Xanh và Đội Anh Nuôi ra, tất cả các Đội đều phải tập trung đi chặt “chổm”, chặt giang, đốn gỗ, cắt sậy, lấy lá chuối rừng đem về thực hiện những công tác cần nêu trên.Đây là “đợt thi đua mới” được “phát động” để chuẩn bị mừng đón Tết Đinh Tỵ 1977. Mọi người lại phải cố gắng tham gia thể hiện cho nó tốt, mau “tiến bộ”, để hy vọng sớm được tha về “đoàn tụ” bên Vợ Con.Thoạt đầu, Đội chúng tôi được đưa đi theo đường cái lớn, xuôi xuống hướng Nam chừng 5 cây số để chặt “chổm”.

Trên đường đi, cách Trại chúng tôi khoảng 3 cây số, gặp 1 trại gồm chừng 10 dẫy nhà “chổm” nằm sát bên trái đường, không biết giam Tù thuộc cấp bậc nào, bao nhiêu người. Trại này được xây dựng trên sườn núi cao không có khe suối. Nên phải dựng một giàn ống nứa dài, cao hơn mặt đường độ 6 mét, suốt từ suờn núi bên phải nơi có mạch nước chẩy ra, băng qua đường, sang tận sườn núi bên trái nơi dựng trại, để tiếp nước ăn cho Trại.

Rừng “chổm” cách trại này khoảng 2 cây số, dưới khe phiá bên trái đường. Khu vực sát bên đường người ta đã chặt trụi trơ hết. Chúng tôi phải đi vào trong sâu, cách đường 2 cây số mới có “chổm” để chặt.

Ít bữa sau, Đội chúng tôi lại được đưa đi về hướng Bắc, cách trại chừng 1 cây số, để đốn cây bồ đề về làm cột, dui, và kèo nhà. Chuyến đi này cheo leo khó khăn vất vả hơn. Muốn tới khu vực có bồ đề được Công ty Lâm sản Nhà Nước đánh dấu loại bỏ, cho phép chặt tiả, phải mất cả tiếng đồng hồ, leo lên tụt xuống 4 ngọn núi cao cỡ trăm mét nối tiếp nhau mới gặp. Không ước lượng được khoảng cách từ đường cái vào là bao xa.

Ngày thứ 2 đi đốn bồ đề, trên đường về Tôi đã bị một tai nạn khủng khiếp. Vết thẹo oan nghiệt nhớ đời, dài 3 phân, vẫn còn khắc rõ ràng nơi cổ tay trái, sát ngay phiá trên chỗ đeo đồng hồ. Từ ngày ấy đến nay, mỗi khi Tôi đưa tay lên xuống làm việc gì cũng thấy nó, một dấu ấn hận thù không bao giờ quên được. Tai nạn đã xẩy ra thật bất ngờ, Tôi không có cách nào phản ứng kịp để tránh nó.
Cán bộ quy định, một ngày mỗi người phải chặt và vác về 4 cây bồ đề dài 5 mét, đường kính phiá gốc tối thiểu là 20 phân. Ai mạnh có thể vác cả 4 cây một lượt về nộp xong thì được nghỉ, coi như ngày công lao động đã hoàn tất. Ai yếu như Tôi thì phải cột 2 cây làm một để vác làm 2 chuyến.

 
Vác gỗ vượt qua khỏi các đỉnh phiá trong, sườn dốc lài lài khoảng 30 độ góc, thì ra tới đỉnh sau cùng để xuống đường. Sườn núi sau cùng dốc đứng tới 60 độ, dài chừng 80 mét, nên không thể vác gỗ đi xuống được. Phải thả cho bó cây tự động trôi, tuốt từ trên cao xuống khe chân núi trước, rồi người mới từ từ đi lần xuống sau để vác ra đường.Suốt đêm hôm trước, Trời mưa rả rích nên cỏ và đất núi trơn trợt. Sau khi đã thả hết cả 4 cây gỗ, cột thành 2 bó trôi xuống chân núi. Tay phải cầm con dao dựa chặt gỗ rất bén, Tôi từ từ đi xuống. Chẳng may bị trượt chân ngã nhào, lăn vòng vòng theo sườn dốc, khoảng chừng 30 mét tới khe chân núi mới khưng lại.Sau cơn hoảng hốt, ngồi lên được thì thấy mu bàn tay trái đầm đià máu. Vén tay áo lên xem thì thật khủng khiếp, vết dao cắt đứt thật sâu, da miệng vết thương banh ra chừng 1 phân, trông thấy xương cánh tay trắng hếu. Tôi vội lấy chiếc khăn lông, đang cuốn ở cổ chống lạnh, để băng chặt vết thương lại. Rồi dùng bàn tay phải bóp chặt chỗ vết thương cho máu ngưng chẩy, vừa đi vừa chạy theo kiểu Hướng đạo sinh, suốt hơn 2 cây số đường về phòng Y tế của K2 xin băng bó. Mặc dù ở ngã 3 rẽ vào K2, có Bệnh xá Liên trại nằm ngay đầu đường, nhưng vì Cán bộ canh cổng không cho vào xin cấp cứu, nên đành chịu.

Về tới K2, sau khi được anh bạn Tù làm Y tá phụ Cán bộ trưởng Phòng Y tế, rửa khử trùng và băng bó vết thương xong. Tôi phải năn nỉ nhờ anh ấy đi gặp Cán bộ Y tế, xin giùm giấy chứng nhận bị thương tích trầm trọng không lao động tiếp được để về Láng nghỉ. Tôi cũng nhờ anh ấy xin Cán bộ, cho phép lấy thuốc trụ sinh riêng của Tôi gửi trại giữ để uống liền. Nhờ thế, những ngày kế theo, vết thương không làm độc.

Tôi chỉ được nghỉ 2 ngày làm việc nhẹ, phụ lặt rau cho nhà bếp, rồi lại phải tiếp tục theo Đội đi ra ngoài lao động như thường.

Cho đến bây giờ, Tôi vẫn không hình dung ra được là dao đã cứa cổ tay của Tôi, vào lúc nào trong khi ngã lăn lông lốc xuống núi. Nếu chẳng may mà dao lại cứa nhằm chỗ khác như cổ, mặt, bụng, hoặc vết cứa ở cổ tay chỉ nhích tới phiá trước chừng nửa phân thôi là đứt gân máu lớn. Máu sẽ chẩy nhiều hơn, nằm ngất sỉu nơi khe chân núi đến khi có người phát giác ra, thì chắc là Tôi đã không phải tiếp tục chịu đọa đầy cả hơn chục năm trời tiếp theo. Xác đã được vùi sâu nơi đồi thông phiá bên trái đường vào K2, như các bạn Đại tá xấu số Bá-Thìn tự Long, và Huỳnh Hữu Ban Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hoà rồi.

Trong lúc vận sui, vẫn có những cái may đến bất ngờ. Ngày Tôi phải đi lao động trở lại, Đội không đi lấy bồ đề nữa, mà đi lấy lá sậy và lá chuối rừng về phơi khô, kết phủ trên xạp nằm và chung quanh vách nhà cho kín gió, để mùa Đông trong Láng ở được ấm cúng hơn.

Nơi lấy lá ở ngay trên một khoảnh đồi, bên phiá trái con đường gần sát bià khu rừng nằm giữa K2 và K3. Bên sườn đồi, thấy nhiều dấu vết nền gạch của những căn nhà đã bị triệt hạ, chung quanh có những cây ổi, cây tranh. Đặc biệt trên đỉnh đồi, có 1 cây khế khá to đang đầy trái. Tuổi thọ của nó ít ra cũng khoảng vài chục năm chớ không ít. Sau này, một bạn vốn là diện rộng trong K3, trách nhiệm đi trăn trâu hàng ngày, bị chuyển đi trại Tân Lập, Vĩnh Phú một lượt với Tôi cho biết, theo lời tiết lộ của Quản giáo đội anh ta, hồi 1954 khu Cốc này đã từng là nơi có những nhà giam Tù binh Pháp thua trận Điện Biên Phủ.

Một tuần sau, Đội chúng tôi lại được đổi công tác. Đi lên hướng Bắc, xa hơn BCH Liên trại 1 và K Lò Gạch chừng 3 cây số, vào rừng xa đường lớn cả hơn cây số, để chặt giang. Đem về, pha, chẻ, tước thành nan đủ loại khác nhau, làm lạt cột, chuốt nhẵn đan nong, nia, rổ, rá, kết mành mành che cửa nhà ở của Cán bộ.

Con đường đi lấy giang, còn gian khổ hơn con đường đi lấy bồ đề nhiều. Sườn núi dốc đứng, dầy đặc cây gai và dây rừng chằng chịt, không có đường mòn để đi, phải lội ngược dòng suối, suốt từ ngoài đường lớn vào đến nơi có giang. Lòng suối lổn nhổn toàn đá sỏi, lởm chởm đầy rong rêu trơn trợt. Dòng nước chẩy xiết cóng buốt, có chỗ xấp xỉ cổ chân, có chỗ cao đến gần đầu gối. Chẳng may bị trượt chân, là té lăn đùng ra suối không gượng được. Quần áo ướt sũng từ đầu đến chân, bị dòng nước cuốn trôi một đoạn xa mấy mét, mới quờ nắm được cây bên bờ giữ cho khựng lại để đứng lên. Phải lội như vậy hơn một cây số, mới gặp rừng giang để chặt.

Giang là một loại họ nhà tre, nhưng lại mọc nằm bò dài từ bờ suối lên sườn núi, chớ không mọc thẳng đứng như tre hoặc “chổm”. Nó chen nhau chằng chịt, vươn dài chồng lên nhau để tìm ánh sáng mặt trời, nên rất khó chặt, và rất nguy hiểm.

Chặt giang nguy hiểm, vì chặt ở gốc sát mặt đất không được, phải trèo lên đứng trên đỉnh những gốc người ta đã chặt trước, để chặt từ lưng chừng thân cây cách gốc khoảng hơn 1 mét.

Hai chân phải đứng trên những gốc cụt. Tay trái nắm vịn vào thân cây khác kề bên, để giữ thăng bằng. Tay phải cằm dao chặt thật mạnh, làm sao chỉ một nhát chéo là đứt băng luôn thân giang. Nếu không thân giang sẽ bị tước ra không còn nguyên vẹn, trở thành vô giá trị, phải đi chặt cây khác. Đường kính thân cây giang chỉ khoảng 6 phân là lớn nhất.

Bao giờ cũng phải mò tìm chặt bỏ khúc ngọn trước, rồi mới chặt đoạn gốc sau. Vì thế, khi đoạn thân còn lại đứt lià khỏi gốc, là nó lao tuột xuống đất chẳng biết hướng nào. Có thể bật lên rồi mới tuột xuống, đẩy mình ngã ngửa ra phiá sau, gây thương tích cho chính mình. Hoặc có thể lao xa khỏi bụi gốc, đâm nhằm bạn nào đứng gần đó.

Đây là lần đầu tiên trong đời phải làm việc này. Không ai có kinh nghiệm để mà đề phòng, nên đã xẩy ra một tai nạn hú hồn hú viá. Một anh đang đứng đảo mắt tìm giang để chuẩn bị chặt, bị cây giang của anh khác chặt đứt ở bụi gần đó lao xuống, sướt qua cạnh ngoài đùi đâm xuống đất. Chỉ chệch sang bên trái độ 10 phân là gẫy đùi, và nhích lên một gang tay nữa là thủng bụng.
Một ngày mỗi người phải chặt 1 bó 10 cây dài 4 mét, bó chung lại vác về trại.

Việc đi lấy “chổm”, lấy bồ đề, lấy giang, thường phải làm thông tầm (không về nghỉ trưa tại trại), nên trước khi đi được lãnh luôn cả phần ăn sáng và phần ăn trưa, đem theo ăn tại chỗ.

LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG

Cô đơn bên những cô đơn,
Phùn (1) bay rát mặt, Bấc (2) dồn buốt da.
Âm thầm nối bước xông pha,
Ngược dòng suối cóng xót xa thân gầy.
Rừng giang (3) chằng chịt tầng cây,
Âm u mờ ảo gây gây lạnh hồn.
Đèo cao, khe, dốc dập dồn,
Dạ dày thôi thúc từng cơn đói lòng.
Chiêu xuôi nhờ ngụm nước trong,
Kèm bi “Thống Nhất”(4) chập chờn khói tan.
Cho quên bao nỗi cơ hàn,
Cho tâm bền vững tính toan sự đời.
Gian truân thầm trách Ông Trời,
Bầy trò dâu biển khiến người khổ đau.
Trại Cây Khế (K2), LT1, Yên Bái. Tháng 12-1976.
(1) Mưa phùn = mưa nhẹ hạt, bay lất phất theo gió dầy đặc như sương mù.
(2) Gió bấc = gió lạnh từ phương Bắc thổi xuống, vào mùa Đông .
(3) Giang là 1 loại họ nhà tre, các đốt dài rỗng ruột và mình nạc dầy hơn tre, sợi mộc dẻo dai, có thể tước thành nan thật mỏng để làm lạt buộc rất bền. Vào dịp Tết, người miền núi thường chẻ thành lạt, bó từng bó 100 sợi bán ngoài chợ, cho dân thành thị mua về cột gói bánh chưng.
(4) Thuốc lào hiệu “Thống Nhất” sản xuất tại miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, Trại phát không cho Tù hàng tháng mỗi người 2 gói 5 gram. Đây là một loại lá tương tự như cần sa, do người vun trồng chăm sóc như trồng rau. Tới lúc đủ già, hái lá về xấy khô, ủ với một chất hoá học, rồi thái nhuyễn cỡ sợi chỉ, ép thành bánh vuông đem bán. Người dùng vê từng viên nhỏ, để vào lõ chiếc “điếu cầy” hay “điếu bát”, dùng lửa đốt cháy để hút khói vào phổi. Hơi khói sẽ hoà tan theo máu, làm cho cơ thể tê mê, quên đói, quên lạnh, dễ du giấc ngủ. Không có điếu, người dùng có thể lấy một chiếc lá cuốn tròn, để viên thuốc vào một đầu, đặt đầu kia của cuốn lá vào miệng, rồi cầm lửa đốt thuốc và hút khói vào phổi. Hút bằng cuốn lá như vậy, luôn luôn phải ngậm trong miệng một ngụm nước để lọc khói cho đỡ nóng họng.
 
Chương 15
NHÂN QUYỀN TRONG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

Sau khi chuyển về K2 được ít ngày, Trại cho Tù biên thư về gia đình xin tiếp tế quần áo lạnh, gửi qua đường Bưu điện, bằng những bưu kiện 2 kílô.

Mỗi trại giam do Bộ đội Cộng sản quản lý đều dùng Ám số hộp thư giống như KBC (khu bưu chính) của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, hoặc hộp thư riêng ở bên Hoa Kỳ (P.O. Box và Zip Code, nhưng không ghi tên thành phố), để dùng làm địa chỉ của Trại. Vì thế, gia đình nhận được thư, không thể biết thân nhân của mình đang bị giam tại đâu, thuộc vùng nào trong lãnh thổ Việt Nam.

Thư gửi đi, Tù phải để phong bì mở không được dán kín, để Quản giáo Đội đọc kiểm duyệt, rồi mới dán lại giùm và chuyển đi. Nếu trong thư ai có lời lẽ xa xôi, bóng gió than khổ, hoặc tiết lộ địa điểm trại giam thì sẽ bị gọi lên làm việc. Cán bộ lên giọng giáo dục, cảnh cáo cả tiếng đồng hồ, rồi bắt viết lại đúng theo hướng dẫn mới chuyển đi. Bị cảnh cáo một lần là coi như có tì vết trong hồ sơ cá nhân. Kể từ đó về sau, đến trại nào cũng bị Cán bộ “quan tâm” theo dõi.

Trong khi chờ hồi âm của gia đình, Trại được Trung Ương tiếp tế một số áo bông cũ dài tay, chăn (mền) bằng sợi pha bông, và màn (mùng) bằng vải sô Nam Định, để phát cho Tù. Áo bông và chăn thì mỗi người được phát một chiếc. Ai hên, lãnh được chiếc áo còn tốt thì mừng. Ai xui xẻo gặp phải chiếc cũ rách, đành buồn thiu cam chịu. Trường hợp gặp chiếc cỡ nhỏ chật hẹp, hay rộng dài thùng thình không mặc được, thì chịu khó tìm bạn bè cùng Đội mà đổi. Nếu không xong cũng đành chịu vậy. Riêng mùng (màn) thì ai không có, hoặc có nhưng đã quá cũ vàø bị rách nhiều chỗ mới được phát.

Khoảng cuối tháng 1 năm 1977, các bưu kiện từ miền Nam gửi ra cho Tù bắt đầu ào ào đến trại. Bưu kiện chỉ được phát vào buổi chiều, sau giờ lãnh cơm tối xong. Cán bộ phụ trách bưu phẩm, dùng loa đọc tên Tù lần lượt sang trụ sở BCH trại, để ký hồ sơ lãnh nhận bưu kiện của mình, trước sự chứng kiến của Quản giáo Đội.

Tù phải nói đúng tên người gửi bưu kiện, mới được ký sổ nhận lãnh. Trường hợp nói không đúng tên người gửi, được phép đoán thêm những tên khác, cùng với sự liên hệ thân thuộc của người ấy đối với mình. Nếu chẳng may sai cả, Trại sẽ giữ lại điều tra bổ túc và quyết định sau.

Trường hợp này đã xẩy đến với Tôi. Con gái thứ của Tôi đi gửi bưu kiện, nên phải ghi tên cô ấy là người gửi, chớ không phải tên Vợ tôi. Vì thế mới xẩy ra chuyện rắc rối cho Tôi. Theo nguyên tắc, Sở Bưu điện chỉ nhận Bưu phẩm để gửi đi, nếu so sánh tên và địa chỉ người gửi ghi trên Bưu phẩm, đúng với tên và địa chỉ ghi trên Thẻ căn cước của người mang Bưu phẩm tới gửi. Tôi đọc tên Vợ, không đúng. Cán bộ cho đọc một tên khác. Tôi đọc tên người con gái lớn, cũng không đúng. Cán bộ hỏi còn ai khác gửi nữa không? Tôi đọc tên người con gái thứ. Cán bộ mới đưa cuốn sổ ký nhận bưu kiện ra, và nói ký vào đây.

Quản giáo Đội của Tôi ngồi chứng kiến việc phát Bưu phẩm, cười cười hỏi : “-Tại sao vợ anh không gửi mà lại là con gái thứ? Chắc mấy người kia di tản hết rồi phải không?” Tôi trả lời không, tất cả Vợ Con của Tôi đều ở Saigon. Cán bộ xem lại bản tự khai lý lịch gia cảnh của Tôi thì rõ. Tôi đâu có dám nói dối với Cách mạng. Ông ta tủm tỉm tiếp : “-Nói chơi vậy thôi. Trung ương, Địa phương toàn là Cán bộ của Đảng và Nhà nước lãnh đạo cả, nên biết hết. Các anh dối trá làm sao được.”
Mọi bưu kiện nhận, phải mở tung ra để Quản giáo Đội kiểm tra tại chỗ, rồi mới được đem về. Một rắc rối đã xẩy ra ngay khi gói quà đầu tiên được mở, làm Cán bộ phải ngưng lại để đi xin chỉ thị của Trại trưởng. Vì lẫn trong quần áo có tiền, thư, và thực phẩm khô : đường cục, mật ong, lạp xưởng, bánh quy, trà, cà phê, thuốc chữa bệnh, sữa bột…

Cuối cùng thì mọi việc cũng được giải quyết tốt đẹp. Theo lời giải thích của Cán bộ : “-Trưởng trại nhận thấy trong thời gian qua, anh em đã có thiện chí cố gắng cải tạo tốt, tình trạng sức khoẻ đang bị xa xút trầm trọng, nên cho phép nhận cả thực phẩm khô để bồi dưỡng mà học tập cho nó tốt hơn nữa. Còn tiền và Âu dược thì phải gửi trại giữ như đã quy định trước đây.”

Dịp này, Tôi cũng nhận được 4 bưu kiện. Trong các bưu kiện Tôi nhận, lẫn với áo len, khăn len quàng cổ, mũ dạ, tất tay bằng da, giầy, bàn chải và kem đánh răng, sà bông, khăn mặt, tất (vớ), có cả thuốc trụ sinh, thuốc kiết lỵ, thuốc tiêu chẩy, thuốc ngừa sốt rét, thuốc bổ tổng hợp các loại vitamin, thực phẩm khô, và thư, nhưng không có tiền. Thư bị Quản giáo giữ lại đọc để kiểm tra, mấy ngày sau mới cho lại.

Một điều làm Tôi vừa thích thú vừa buồn cười, thán phục cái mánh khoé tinh khôn không ngờ của Vợ và các Con. Đôi giầy Bata cao cổ, được tách 2 chiếc riêng rẽ, để gửi thành 2 bưu kiện khác nhau. Trong mỗi chiếc nhồi đầy thực phẩm khô cho đủ 2 kílô. Nếu chẳng may, 1 trong 2 bưu kiện không đến nơi, thì chỉ có 1 chiếc giầy làm sao dùng cho cả 2 chân được?!

Vợ của Tôi là người lười viết thư nhất trần gian, nên đã để cô gái thứ biên thư cho Tôi, dựa theo ý hướng dẫn tổng quát của Mẹ. Trong thư đại ý nói : “-Cả nhà bình yên, sinh hoạt bình thường. Anh Hải đã được đưa đi vùng Kinh tế mới. Má nhớ thương Bố và anh Hải, nên buồn bịnh chút đỉnh, nhưng thường xuyên được Chính quyền Cách mạng địa phương giúp đỡ tận tình nên không sao. Cả nhà mong Bố ráng cố gắng học tập cho mau tiến bộ, để sớm được về đoàn tụ với gia đình.”
Thư gia đình gửi đến mà không viết như vậy, thì chẳng bao giờ Tù được nhận để đọc. Để được trông thấy tuồng chữ thân thương của thân nhân. Để xoa dịu nỗi cô đơn trong cuộc sống khổ nhục hàng ngày, dù biết rằng những lời nói trong thư đều trái ngược hẳn với sự thật.

Đầu năm 1988, Tôi được tha về gặp gia đình mới biết, ý chính trong thư đã nhận được muốn nói là : “Anh Hải bị bắt giam trong tù giống như Bố nên Má thương. Má bịnh vì Chính quyền Cách mạng thường xuyên đến thúc ép buộc gia đình đi vùng Kinh tế mới, nhưng gia đình không chịu đi.”
Một số bạn Tù không nhận được bưu kiện, vì vợ con đã di tản hoặc thất lạc không biết hiện ở đâu, để gửi thư liên lạc. Ngược lại, một số khác gia đình giầu có dư giả, lúc đi trình diện tập trung đem theo rất nhiều tiền. Hồi khởi sự học tập 10 bài nhồi sọ tại Long giao, trại mở “Căng tin”, mua ăn “thả giàn” mà vẫn chưa hết. Nay lại nhận được thêm tiền trong các bưu kiện, nên mạnh dạn đề nghị BCH trại mở “Căng tin”, bán đường, bánh, kẹo, sữa… để anh em mua ăn “bồi dưỡng” cho cơ thể khoẻ mạnh, tiếp tục học tập được mau “tiến bộ”.

Vài tháng sau khi chiếm xong toàn miền Nam Việt Nam, Chính quyền Cộng sản Bắc Việt đã thực hiện Chính sách bóc lột san bằng giai cấp, một cách vô cùng tàn bạo trắng trợn. Họ ra lệnh đình chỉ việc lưu hành tiền miền Nam Việt Nam, để đổi ra tiền miền Bắc với giá biểu 500 đồng bạc miền Nam ăn 1 đồng bạc miền Bắc.

Cả Thế giới đều biết, tiền miền Bắc thường được gọi nôm na từ hồi 1946 là tiền CỤ HỒ, không được quốc tế công nhận, vì không có vàng ký thác trong Ngân hàng Thế giới, để bảo chứng khi phát hành như đồng bạc của miền Nam Việt Nam, nên chẳng có giá trị gì. Nó chỉ là những mảnh giấy Tín phiếu tượng trưng, để trong nước dùng trao đổi với nhau mà thôi.

Tình trạng kinh tế đình trệ từ sau 30-4-1975 tại miền Nam Việt Nam, đã làm vật giá leo thang nhanh chóng, đồng tiền Cụ Hồ liên tục bị phá giá. Số tiền nhỏ nhoi anh em Tù gửi Trại giữ, để dự phòng trường hợp được tha có tiền ăn đường về với gia đình, cũng sẽ chẳng còn giá trị bao nhiêu. Hơn nữa, anh em bắt đầu cảm nhận thấy rằng còn lâu mới được tha. Với hoàn cảnh đầy đọa đói ăn, lao động cực khổ vất vả như vầy, chắc gì còn sống được đến ngày tha về với Vợ con mà để dành. Mình chết đi chắc gì Vợ con được biết, để mà xin lãnh nhận lại. Do đó, anh em mới đề nghị trại cho mua đồ ăn “bồi dưỡng” hết đi cho rồi.

Trung úy Khảm, Quản giáo Đội chúng tôi, không biết thứ vị Đảng ủy của ông ta cỡ nào, và sự quen biết ảnh hưởng của ông ấy đối với các Chủ nhiệm Hợp tác xã địa phương ra sao, mà thấy cả Trại trưởng lẫn các cán bộ trong Trại đều mến nể. Ông ta thường được Trại trưởng chỉ định đi cùng Quản giáo Đội Nhà Bếp, tiếp xúc địa phương để trao đổi mua bán thực phẩm cung cấp cho trại. Nhờ thế, khi anh em đề nghị ông góp ý kiến với Trại mở “căng tin” bán các thức ăn bồi dưỡng, thì ông ta đã sốt sắng “đề bạt” ngay với Trại trưởng.

Vài ngày sau, ông ta cho biết : “-Không mở “căng tin” được, vì trái quy định của Nhà Nước đối với Trại viên Cải tạo. Nhưng Trại trưởng “nhất trí”ù để ông ấy đi tiếp xúc với các Hợp tác xã, mua giùm “mật đường”, bánh khách, kẹo lạc, cho anh em “bồi dưỡng”. Tùy theo số tiền riêng của mỗi người đang gửi trại giữ. Ai muốn mua phải “đăng ký” tên với Quản giáo đội, tập trung trình Trại xét đưa người đi mua giùm cho.”

Giá cả các món hàng được thông báo qua các Đội trưởng. Các Đội trưởng làm bảng liệt kê tên những người xin mua, món gì, bao nhiêu, nộp lên Quản giáo đội.

“Mật đường” là nước miá ép ra, đem đun sôi cho bốc hết hơi nuớc, trở thành 1 chất lỏng sền sệt đặc hơn mật ong mầu nâu xậm. Để nguyên như vậy gọi là “mật đường”. Nếu người ta đem đổ ra các tấm phên lớn, để cho khô cứng lại, cắt thành từng miếng hình chữ nhật 10 phân bề ngang, 20 phân bề dài, ngoài Bắc gọi là đường phên hoặc đường thẻ. Còn ở trong Nam và miền Trung, thường đổ vào những chiếc chén (bát) để khô, gọi là đường chén hay đường tán. Muốn có đường cát vàng hay đường trắng tinh, người ta còn phải đem loại đường thô này biến chế và lọc với một loại hoá chất mới thành.

Kẹo lạc sản xuất tại vùng Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Xã hội Chủ nghĩa này cũng rất đặc biệt. Đó là những miếng bánh tráng mỏng, hình tròn, đường kính độ 5 phân, có một lớp hột đậu phộng rang chín và “mật đường” mỏng rải đầy trên mặt bánh. Sau đó xếp thành từng chồng 10 cái, cuốn trong những miếng lá chuối khô để đem bán.

Bánh khách là loại bánh Trung Thu nướng, theo lối gọi của người miền Bắc. Thường thì vỏ bao ngoài làm bằng bột mì, nhân bên trong gồm 2 loại khác nhau. Có thể là nhân chay, làm bằng đậu xanh hoặc hạt sen trộn đường cà nhuyễn. Có thể là nhân mặn, trộn lẫn lộn các thứ thịt khô (lạp xưởng, gà quay), lòng đỏ trứng muối, mứt bí, hạt dưa, vây (vi) cá… gọi là nhân thập cẩm.
Nhưng bánh khách ở vùng này, vỏ bánh không biết làm bằng loại bột gì mà khô cứng, nhân là khoai lang luộc chín trộn chút đỉnh đường cà nhuyễn, mùi vị lợ lợ chua chua. Bánh đem về có nhiều chiếc bị nứt, mốc xanh, hình như không bán được đã trữ trong kho lâu quá. Nhưng Trại đã lỡ mua về không đem trả lại được, đành phải nhận cắt bỏ những chỗ mốc mà ăn cho đỡ tiếc tiền.
Tôi không nhớ giá tiền của mỗi món là bao nhiêu.

Cá nhân Tôi cũng còn chút tiền gửi trại, nên “đăng ký” mua hết trọn số tiền, được 2 Gô mật đường (lon đựng sữa bột Guigoz, tính tương đương 2 kílô), 2 chiếc bánh khách, và 2 gói kẹo lạc. Có nhiều bạn mua được nhiều hơn vì họ có nhiều tiền. Nhưng trước sau Trại chỉ đưa người đi mua có 3 đợt là chấm dứt, vì tiền của mọi người gửi Trại đã tiêu hết.

Một buổi chiều đi lao động vừa về tới Trại, được gọi tên trình diện kho tiếp liệu của Quản giáo Nhà Bếp, lãnh 2 Gô “mật đường” “đăng ký” mua từ mấy ngày trước. Tôi đem về Láng, ngồi múc từng muổng nhỏ nhấm nháp, tăng cường chất ngọt cho cơ thể đã bao ngày thiếu thốn. Bụng bảo dạ rằng, chỉ ăn tối đa một phần năm Gô thôi (250 gram). Nhưng “mật đường” thơm thơm ngọt ngọt thấm giọng, tì tì hết muổng này đến muổng kia, cạn tới nửa Gô lúc nào chẳng hay.

Anh bạn trùng tên với Tôi, Tôn Thất Hùng (có biệt hiệu là NGƯỜI VỀ TỪ TÂN CẢNH, vì anh ấy thoát chết, không bị bắt làm tù binh, trong vụ quân Cộng sản Bắc Việt tràn ngập Sư đoàn 22 đóng tại Dakto, hồi năm 1969) còn ngon hơn Tôi nhiều. Anh ấy ăn một hơi, hết luôn 2 Gô trong buổi tối mới lãnh về. May không ai bị đau bụng tiêu chảy hay xình đầy bụng chi cả.

Những ai bị đưa ra Bắc cải tạo, mới biết rõ công dụng đa dạng của chiếc lon Gô. Nó nguyên thủy là chiếc lon đựng sữa bột hiệu Guigoz, bằng nhôm, nhẹ, mỏng bền, có nắp đậy kín, cao 20 phân, đường kính cỡ 8 phân. Ăn hết sữa bột rồi, thay vì vứt chiếc lon không đi, anh em giữ lại dùng để nấu đồ ăn, tích trữ nước uống, cất đường, mì ăn liền, và các loại thực phẩm khô khác, không sợ kiến và chuột ăn vụng hoặc đánh cắp mất.

Khoảng 1 tuần lễ sau khi chúng tôi được đưa tới định cư tại K2, có mấy bạn Đại tá bị bắt từ hồi đầu tháng 4-1975 tại Đànẵng, bị áp giải ra miền Bắc Xã hội Chủ nghiã trước chúng tôi, được đưa về ở chung.

Các bạn này mặc đồng phục Tù, mầu nâu nhạt có sọc xám, nghe nói là do Trung Cộng viện trợ cho Công sản Bắc Việt. Tư trang các bạn ấy mang theo, đựng trong một túi xách nhỏ chẳng có gì. Chăn mùng cuốn tròn dài, đeo quàng tréo qua đầu, từ vai bên này xuống nách bên kia, trông giống hệt mấy người Tầu chạy loạn Nhật qua vùng Đồng Đăng, Lạng Sơn, Tôi đã gặp hồi 1940.

Không như chúng tôi, vali, balô cồng kềnh, ngoài mấy bộ thay đổi đi làm hàng ngày, ai cũng có tối thiểu ba, bốn bộ quần áo dự trữ. Trong những kỳ khám xét tư trang, Tôi còn thấy có anh đem theo nguyên cả bộ Âu phục lớn (quần dài, áo vét, cà vạt, giầy da thấp cổ bóng loáng). Chắc là để sau một tháng học tập như Nhà Nước thông báo, mặc vào để tham dự lễ phát bằng Công dân Xã hội Chủ nghiã tập thể, cho nó trịnh trọng.

Các bạn Đại tá mới đến nhập bọn, tình trạng cơ thể ai nấy xanh xao, gầy ốm tong teo. Ngắm bạn rồi nhìn lại mình. Mới có 6 tháng “thi đua lao động cải tạo” mà đã suy xụp hơn chục Kílô, da nhăn đen thui như mầu bánh mật, chắc rồi đây sẽ tàn tạ hơn họ nhiều.

Bây giờ ngồi ghi lại những dòng này, Tôi còn cảm thấy nao nao buồn, xót thương cho bao nhiêu đồng bào đang còn bị hành hạ nơi quốc nội. Biết đến bao giờ Họ mới thoát được nạn Cộng sản đọa đầy bóc lột.

Trong hoàn cảnh thiếu đói chung hồi đầu năm 1977 tại K2, một con chuột tinh khôn của rừng miền Bắc Xã hội Chủ nghiã, đã gây ra một truyện buồn giữõa anh em Tù, làm tủi lòng những người nghèo, chẳng bao giờ quên được. Đại để câu truyện như sau :

“ Hàng ngày, bạn bè ở cùng Láng ai cũng thấy, một anh béo phì, giầu tiền, nhiều tiếp tế của gia đình, thường để chiếc lon Gô đựng đầy thịt chà bông, tuốt sâu trong sát vách, trên kệ xếp tư trang riêng của anh ấy. Bỗng dưng một sáng chủ nhật nghỉ lao động rảnh rang, anh ta kiểm điểm đồ riêng, mới phát giác ra chiếc Gô không cánh mà bay đâu mất. Nằm kế bên anh ta là 2 bạn nghèo không có tiếp tế. Anh ta cao giọng nói trống không cho mọi người cùng nghe : “-Nếu ai lỡ táy máy đùa dai thì trả lại, nếu không sẽ thưa Cán bộ khám xét thì đừng trách.”

Anh em trong đội nhỏ nhẹ can ngăn, và bỏ cả sinh hoạt riêng tiếp tay anh ấy tìm kiếm. May sao, đúng lúc anh Đội trưởng cúi nhìn dưới gầm xạp ngủ, mặt trời lên cao ánh sáng tỏ hơn chiếu suốt vô nhà, qua các khe hở của vách phên “chổm”, thấy một vật gì trăng trắng bóng loáng nằm tuốt trong góc nhà. Khều ra thì là chiếc Gô đồ ăn có ghi tên người kêu mất. Quanh nắp miệng Gô và chung quanh đáy Gô, đầy những vết răng chuột gặm, có chỗ gần thủng. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, đem trả lại chiếc Gô cho anh ấy. Cầm lấy chiếc Gô, anh ấy nét mặt sượng sùng, mừng quên cả nói cám ơn.”

Hiện nay, anh ấy cũng đang định cư tỵ nạn tại Hoa Kỳ cùng với vợ con, như các bạn Tù cũ ở chung một Láng tại K2 (Trại Cây Khế) Liên trại 1, Việt Cường, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn. Không biết đến bây giờ anh ấy có còn nhớ, và ân hận không ?

MẶT TRÁI CON NGƯỜI.

Hiểm nguy, hổ cũng cụp đuôi,
Khốn cùng, bản chất con người bộc ra.
Xưa kia luồn cúi ba hoa,
Ra vào cửa hậu, nhờ Bà cậy Ông.
Quan cao, nhà rộng mênh mông,
Mánh mung, thâm lạm của công làm giầu.
Cấp trên, nịnh đội lên đầu,
Tùy tùng, khai thác như trâu kéo cầy.
Chậm chân chạy, phải vào đây,
Gian lao đói khổ khác ngày quyền uy.
Tâm đen bần tiện tức thì,
Lộ qua lời nói hành vi đê hèn.
Gian manh sống cạnh người hiền,
Khác đâu lang sói ở bên đàn cừu.
Lúc sang, xoen xoét như diều,
Đến khi hoạn nạn, đặt điều hại nhau.
Canh ngon, hỏng tại bọ sâu,
Cây tươi, héo chết vì bầu mối xông.
Nhẹm đi ấm ức trong lòng,
Nói ra cho đỡ tức hông tuổi già.

K2 (Trại Cây Khế) LT1, Yên Bái, tháng 1-1977.

Chương 16
LAO ĐỘNG CẢI TẠO, THƯỚC ĐO LÒNG YÊU NƯỚC
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

Mọi công tác chỉnh trang K2 (Trại Cây Khế) vừa hoàn tất, Trại lại phát động đợt “thi đua” mới. “Thi đua lao động cải tạo vượt chỉ tiêu Nhà Nước quy định”.

Theo lệnh Nhà nước, kể từ năm 1977, Tù phải tham gia sản xuất thật sự để làm ra tiền, tự nuôi mình, nuôi Cán bộ quản lý Trại, và đóng góp cho Nhà nước hàng năm mỗi đầu người 1 đồng một ngày. BCH trại được coi như Ban quản lý một Hợp tác xã. Chỉ có một điều khác Hợp tác xã là, Trại viên cải tạo hưởng quy chế ăn ở quy định cho Tù, chớ không phải Hợp tác xã viên.

Lý do đưa ra giải thích là : “-Vì Chiến tranh tàn phá quê hương, nay toàn Dân phải tham gia tái thiết, nên Cải tạo viên cũng phải đóng góp công sức mình, vào công việc chung của đất nước như mọi người. Đây cũng là dịp chứng tỏ lòng yêu nước, và thực tâm ước muốn cải tạo để trở thành người công dân Xã hội Chủ nghiã của các Cải tạo viên.”

Nghe tin này, nhiều người nhẹ dạ cả tin “phấn khởi”, cho rằng Chính sách này giúp mình mau quen với nếp sống của con người Xã hội Chủ nghiã, sẽ sớm được về đoàn tụ với vợ con. Thời gian lâu lắm, chắc cũng chỉ trong vòng 2, 3 năm là cùng. Ông Tướng Sư đoàn Việt cộng ra đón mình ở Phi trường, hồi mới đặt chân lên đất miền Bắc Xã Hội Chủ nghiã này, trước đây mấy tháng, cũng đã từng nói như vậy mà!

Thi hành lệnh Nhà nước, Trại khởi hoạch nhiều “phương án hành động”, làm thước đo mức “tiến bộ” của Cải tạo viên. Mọi người đều tỏ ra “hồ hởi”, sốt sắng và cố gắng hết sức mình. Tù tha hồ thi đua liên tục xả thân lao động. Cán bộ “bám sát” thúc đẩy Tù “thi đua đạt năng xuất lao động” ngày một cao hơn. Với mục đích duy nhất, làm sao Trại và Tù kiếm ra thật nhiều tiền, để đạt cho bằng được trăm phần trăm “chỉ tiêu” do Nhà nước quy định. Nếu vượt được mức “chỉ tiêu” quy định càng cao càng tốt.

Đợt thi đua bắt đầu bằng tập trung đắp đập đất, chắn ngang khe giữa 2 ngọn đồi gần K3 (Trại Cốc), để giữ nước làm hồ nuôi cá. Mặt đập rộng 50 mét, thân đập cao 30 mét, và chiều dài đập là 50 mét. Đào đất trên đỉnh đồi bên trái, khênh xuống đổ cho đầy khe.

Hình như Phân trại K3 là chủ thuê, nên thấy mỗi buổi lao động, Quản giáo Đội chúng tôi dẫn anh phụ trách nấu nước của Đội vào nhà bếp K3, lãnh một số sắn sống đem ra luộc tại hiện trường, để phát cho anh em. Mỗi người được 1 khúc bằng cổ tay, dài 20 phân, vào lúc nghỉ tại chỗ ăn bữa trưa hàng ngày. Đây là tăng cường “bồi dưỡng” của chủ thuê cho Tù, y như hồi đi làm thuê cho Hợp Tác Xã địa phương.

Các Đội tham dự công tác tại công trường đắp đập, được phân chia như sau : 1 nhóm cuốc đất trên đỉnh đồi khiêng xuống đổ dưới khe, 1 nhóm ban đất cho bằng phẳng tại mặt đập, 1 nhóm đầm nện đất, nèn cho mặt đập và sườn đập thật mịn và cứng chắc.

Đội chúng tôi thuộc nhóm đào đất nơi đỉnh đồi, khiêng xuống đổ lấp khe sâu giữa 2 quả đồi. Quản giáo Đội quy định, mỗi Tổ 10 người phải đào và khiêng đất xuống đổ vào đập mỗi ngày 5 mét khối. Vì thế, anh em Tổ của Tôi phải chia thành : 3 toán khiêng đất hết 6 người, và 1 toán 4 người vừa cuốc vừa xúc đất vào “ki” (cáng khiêng) cho các toán khiêng đi đổ xuống khe.

Chúng tôi thoả thuận luân phiên nhau, hôm nay cuốc xúc đất, thì hôm sau đổi lại đi khiêng đất, cho nó công bằng. Cũng như để mọi người, có dịp rút kinh nghiệm bản thân về các công tác khác nhau, mà “sáng tạo” ra phương pháp thực hiện cho thật nhanh. “Lao động là sáng tạo”, Cách mạng đã nghiên cứu xác định như vậy trong các bài học cải tạo tư tưởng, cần phải áp dụng cho Cán bộ nhận thấy là mình đã “thấm nhuần”, và “nắm được vững vàng sâu sắc” những gì đã học.

Trong suốt thời gian đắp đập, mọi người phải làm thông tầm (kể cả Cán bộ cảnh vệ và Quản giáo). Chỉ được nghỉ tại chỗ, 30 phút lúc giữa trưa để dùng bữa. Ăn xong là phải “tranh thủ” tiếp tục làm ngay. Đến chiều tối, khi nào đạt “chỉ tiêu” quy định trong ngày, báo cáo Quản giáo Đội đến kiểm tra chấp nhận đúng, Đội mới được ngưng để tập họp ra về.

Đặc biệt trong thời gian lao động vất vả này, Trại được cung cấp bột mì thay cho sắn khô hoặc bắp khô. Do đó, buổi sáng mỗi người được lãnh một nửa ca cháo bột mì, sền sệt như loại bột gạo người ta thường khuậy chín cho trẻ con ăn. Bữa trưa và bữa tối, được mỗi bữa một chiếc bánh bột mì nhồi nước đổ khuôn tròn luộc chín, đường kính 10 phân, bề dầy 1 phân. Thức ăn thì mỗi bữa đôi ba cọng rau muống bung nước muối.

Thời gian 30 phút nghỉ ăn trưa được coi là dài. Vì sau khi nhơi thong thả từng mẩu nhỏ của chiếc bánh mì luộc và khúc sắn, cho nhuyễn nhuần với nước miếng trước khi nuốt vào bụng. Cũng còn dư được ít nhất là 15 phút để nằm dài trên mặt đất chợp mắt xả hơi, trước khi bắt tay vào tiếp tục lao động trở lại.

Số giờ lao động hàng ngày quy định là 8 tiếng đồng hồ. Nhưng bao giờ anh em cũng phải làm nhiều hơn, mới đạt đủ “chỉ tiêu” quy định. Vì thế, chỉ trong vòng có 1 tuần lễ, ai nấy đều hốc hác xạm xọp đi ít nhất cũng 5 kílô. Nhưng sức chịu đựng vất vả, được tôi luyện dẻo dai hơn, và thuần nhuyễn như một cái máy chạy tự động không cần ai bấm nút.

Hằng đêm, sau giờ “kiểm điểm, phê và tự phê” xong, anh nào cũng lăn đùng ra ngủ say như chết. Nhờ vậy mà ngày hôm sau mới có sức chịu đựng tiếp. Nếu không ngủ được, phải thức trắng đêm như hồi mới ra, chắc là bây giờ chẳng còn sống trên Thế gian mà ngồi viết Hồi ký.

Ngày thứ 2 đi làm đập, toán của Tôi đến phiên đào và xúc đất vào “ki” cho các toán khác khiêng. Lúc phát quang các bụi rậm trước khi đào đất, Tôi may mắn gặp một ổ 4 chú Cúi con (trông giống như sóc, nhưng mặt mõm giống như lợn, lông đen, đuôi ngắn). Mỗi chú Cúi to bằng nắm tay. Tôi đưa cho anh Đại tá Dương Hiếu Nghiã, cùng một Tổ với Tôi, biến chế làm món Cúi bỏ lò trong lon Gô. Để 2 anh em chia nhau, thưởng thức lộc của Chúa Sơn Lâm “bồi dưỡng” cho Tù nghèo. Tôi tự làm lấy cũng được, nhưng vì đồ tiếp tế của Tôi đã hết, không còn gia vị để ngâm ướp, nên phải đưa cho anh Nghiã lo toan.

Sau này, qua 5 trại khác nhau trong suốt 13 năm cải tạo, lúc nào anh Nghiã và Tôi cũng ở chung một Đội. Chỉ có thời gian ngắn khoảng 1 năm ở K5 Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, anh Nghiã ra làm Đội trưởng Đội Gạch, gồm toàn các Linh mục, Thượng tọa, Đại đức Tuyên úy QLVNCH (cũng phải đi cải tạo như chúng tôi) thì 2 anh em chúng tôi mới không ở chung Đội. Tới tháng 1 năm 1980, bị chuyển vào trại Thanh Phong, Thanh Hoá, anh Nghĩa và Tôi lại được “biên chế “ vào chung một Đội. Cuối tháng 4 năm 1982, chúng tôi cùng được đưa trở về Nam một lượt. Sau cùng, anh Nghĩa được tha trước Tôi 6 tháng, vào dịp 2 tháng 9 năm 1987, kỷ niệm Lễ Độc Lập của Cộng sản Việt Nam.

Những ngày nghỉ lao động trong đợt “thi đua muà Xuân 1977”, Ban chỉ huy Phân trại K2 cho phép anh em nấu nướng biến chế thực phẩm “bồi dưỡng”, không cấm đoán như hồi mới ra. Nhờ thế, các món thực phẩm khô, do gia đình gửi lén trong các bưu kiện tiếp tế quần áo lạnh, được Tù đem ra trổ tài biến chế. Không theo sách vở nào cả, thế mà mùi vị thức ăn biến chế xông ngào ngạt thơm phức cả một vùng, tưởng như đang đứng trong khu phố tiệm ăn Tầu Chợ Lớn vậy. Chỉ tội cho các bạn không được tiếp tế, phải vào xạp nằm chùm chăn kín mít, tìm khuây khoả trong giấc ngủ.
Từ khi “đợt thi đua mùa Xuân 1977” được “phát động”, tất cả Tù và Cán bộ đều bận rộn. Ngày nào cũng xuất trại lao động rất sớm, và đi đến tối mịt mới trở về. Nhóm đi đắp hồ cá K3. Nhóm đi hạ bồ đề, trên sườn núi cao gần ngay bên Bệnh xá Liên trại, thả xuống đường xếp thành đống, để Công ty khai thác Lâm sản đến đo, tính tiền công theo thước khối, rồi chở đi. Nhóm đi làm thuê cho các Hợp Tác Xã, trồng hoa mầu …

Sau khi đắp đập hồ cá K3 xong, Đội chúng tôi được đưa đi đắp đập thuê cho một Hợp Tác Xã, ở xa trại khoảng hơn 10 cây số, về phiá Tây. Ra đi từ sáng sớm, trước khi kiểng tập họp các Đội xuất trại lao động. Đến chiều, trở về đến trại trời đã nhá nhem, mọi người ở nhà đã nghỉ và dùng bữa tối xong xuôi.

Gần Tết tại vùng này, sáng nào sương cũng mịt mù đến 10 giờ mới tan, nên lúc ra đi phải dùng đường cái lớn, qua BCH Liên trại 1, qua K lò gạch, qua một công trường làm đường, rồi rẽ vào con đường nhỏ ngoằn ngoèo theo các sườn đồi, lên một vùng bình nguyên của Hợp tác xã (không biết tên) có khoảng vài chục căn nhà. Từ trại đến nơi lao động, lúc nào chúng tôi cũng phải đi nhanh như chạy Marathon, thế mà thời gian di chuyển tính ra cũng mất khoảng 2 tiếng đồng hồ.
Buổi chiều, lao động xong, chúng tôi không trở về trại theo đường cái lớn, mà đi theo một con đường mòn, tắt băng rừng. Phải leo lên tụt xuống qua 3, 4 đỉnh đèo, qua đập nước K3 (Trại Cốc), rồi thêm một đoạn sườn núi chừng 1 cây số nữa mới về tới K2 (Trại Cây Khế) của chúng tôi.
Trong chuyến đi làm xa này, một ấn tượng vô cùng chua chát, đã hằn sâu vào bộ não của chúng tôi không bao giờ quên được, sau khi nhìn thấy tận mắt cái quang cảnh Công trường làm đường, và nơi ăn chốn ở của những Công dân Xã hội chủ nghiã miền cao nguyên Hoàng Liên Sơn.
Theo lời rêu rao của Bác Hồ, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà Nước Xã hội Chủ nghiã thì, những người vô sản lao động thuộc giai cấp lãnh đạo Cách mạng kiến thiết đất nước. Thế mà hoàn cảnh sống “thực tế” của họ, trông thấy rõ ràng, so với cảnh sống của vợ con các Chủ nhiệm Hợp Tác Xã, hoặc Cán bộ Cộng sản lãnh đạo các cấp Trung ương, Địa phương, khác xa nhau một trời một vực.

Giá trị cuộc sống của giới lao động, công dân trung kiên theo Xã hội Chủ nghiã, từ hồi Cách mạng mùa Thu 1945 thành công đến nay, còn như vậy. Huống chi mình, đã từng cầm súng chống đối chế độ, đang phải cải tạo để được trở thành công dân Xã hội Chủ nghiã, tương lai sẽ như thế nào?
Một tấm bảng to tướng, ghi chữ “Công trường làm đường, Công ty…” được dựng ngay bên đường, mà chỉ thấy khoảng vài ba chục người, dùng cuốc, xẻng, xà beng, búa tạ, đầm cầm tay, “ki” làm bằng “chổm” khiêng đá, đất, cuốc ở sườn núi ra, để hì hục giặm vá, lấp các lỗ ổ gà xâu hoắm trên mặt đường. Trông chẳng khác nào đám phu làm đường miền thượng du, thời Thực dân Pháp đô hộ mấy chục năm về trước, mà Tôi đã từng thấy ở miền Lạng Sơn, Thất Khê.

Nhân công gồm toàn người lớn tuổi, và nam nữ thanh thiếu niên trạc 15 đến 17. Người nào trông cũng phong sương, đen xạm, làm việc không ngơi tay, dưới sự hò hét thúc giục “thi đua” của Giám đốc Công trường và các Trưởng toán.

Gần ngay nơi Công trường có 2 dẫy nhà ở, một khu nhà bếp, và dẫy nhà ăn tập thể. Tất cả các nhà đều lợp mái tôn, vách phên, sườn khung nhà bằng gỗ. Trong khi người lớn đi lao động, mấy đứa trẻ trên dưới 10 tuổi, áo quần rách rưới, lem luốc bẩn thỉu, mắt mũi đầy ghèn, đùa giỡn bên lề đường, trước sân nhà ăn.

Khi đi ngang, trong số anh em Tù chúng tôi có người lên tiếng thân thiện hỏi : “-Các cháu không đi học à ?” Lập tức có em lớn hơn cả trả lời ngay, không cần suy nghĩ : “-Ông nội của chúng mày, chớ cháu chắt gì, đồ ngụy bán nước.”

Thật ngỡ ngàng. Từ đó về sau, anh em rút kinh nghiệm, không bao giờ còn dại dột tìm cách làm quen xã giao với quần chúng địa phương nữa.

Đến nơi làm thuê, mới biết công việc của chúng tôi là phá đất đỉnh đồi, ban ra, để nâng cao mặt đập đã có sẵn từ trước, nèn đập cho thật chắc. Đập dài cả trăm mét, mặt đập rộng 50 mét, sườn đập phiá ngoài, từ mặt đến chân khe ước chừng cũng khoảng 100 mét. Đây là đập của hồ thủy lợi, vừa dùng tích trữ nước trong mùa mưa, để vào mùa nắng khô cạn có nước tưới ruộng trong bình nguyên, vừa lợi dụng thả cá “làm kinh tế” cho Hợp Tác Xã.

Ngoài Đội chúng tôi từ K2 (Trại Cây Khế) đến, thấy còn nhiều Đội khác ở trại nào không rõ, đang làm ở đây trước chúng tôi. Họ lấy đất đỉnh đồi ở đầu đập bên phiá Bắc, khiêng ra mặt đập, ban, nèn, đầm mặt và sườn đập cho chắc. Đội chúng tôi đến sau, được giao việc phạt sườn đồi ở đầu phiá Nam của đập, tạo một mặt bằng thật rộng, để sau này dựng cơ sở gì đó không biết.

Đất đồi nơi chúng tôi phá vỡ ra, phải dùng “xe ban” hất trôi xuống chân đập. “Chỉ tiêu” quy định mỗi người phải làm 1 mét khối đất một ngày, tức là gấp đôi “chỉ tiêu” làm tại đập hồ cá K3 (Trại Cốc).

Sau khi Cán bộ quản giáo và các anh Tổ trưởng đi đo đất, đóng cọc mốc diện tích riêng cho từng Tổ theo “chỉ tiêu” quy định xong. Các Tổ bắt đầu “thi đua khởi công”. Tổ nào xong trước được nghỉ sớm, ngồi chờ các Tổ khác làm xong mới cùng tập họp, rời “hiện trường lao động” trở về Trại.
Với chỉ tiêu nặng như vậy, chả có Tổ nào có cơ may nghỉ sớm cả. Ngày nào cũng phải làm khoảng hơn 10 tiếng đồng hồ mới xong. Vừa đúng lúc mặt trời đang tụt xuống, ngang đỉnh dẫy núi phiá Tây của bình nguyên.

Để “triển khai thi công”, Tổ chúng tôi phải chia thành 3 toán làm việc : 2 toán kéo “xe ban” hết 6 người, toán 4 người còn lại hiệp lực vừa phá đất, vừa gom vun thành đống cho “xe ban” kéo đi.
Nghe chữ “xe ban”, ai cũng tưởng là một loại cơ giới nào đặc biệt lắm. Thực ra nó chỉ là một miếng ván dầy 5 phân, dài 1 mét rưỡi, mặt rộng 50 phân, có một khung càng gồm 3 thanh gỗ tròn, đóng vào khoảng gần 2 đầu miếng ván, và 2 sợi dây kéo. Hình dáng “xe ban” trông y như chiếc bừa, nhà nông vẫn thường dùng để làm tơi đất, sau khi cầy lật thành từng hàng dài trên ruộng.

Xử dụng “xe ban”, có thể di chuyển được lượng đất nhiều và nhanh hơn dùng “ki” khiêng, nhưng phải cần tới 3 người. Một người cầm càng điều khiển, 2 người cầm dây kéo dài khoảng 3 mét cột ở 2 đầu miếng ván, y như dùng 2 con trâu keo 1 cái bừa vậy. Người điều khiển phải biết kỹ thuật cầm càng và phụ đẩy, xe mới trượt đi suông sẻ, nhẹ nhàng. Nếu không, xe sẽ khựng lại không kéo đất trơn đi, mà người cầm càng còn bị sức kéo, lôi cả người lẫn xe ngã chúi về phiá trước, rất nguy hiểm.

Ngày nào, Tôi cũng bị anh em trong toán, đùn cho việc lái “xe ban”. Qua kinh nghiệm học được, muốn “xe ban” chạy được suông sẻ, người cầm càng phải đứng ở khoảng đúng giữa “xe ban”. Chân trái, đưa ra phiá trước, để phần 3 lòng bàn chân lên cạnh trên của miếng gỗ thân xe. Chân phải, đứng trên đất soạc ra phiá sau, làm sao cho sức nặng của toàn thân, được chia đều trên cả 2 chân. Hai tay dang rộng nắm chặt đà ngang càng xe, và giữ cho càng xe nghiêng khoảng 30 độ góc, hướng vào ngang rốn của mình. Khi hô 2 bạn kéo tới, mình phải vừa đè càng cho thân xe sát mặt đất, vừa phụ đẩy, xe sẽ chạy nhẹ nhàng và rất nhanh. Sơ ý là cả 3 cùng lăn tuột theo sườn đập đến chân khe luôn.

Kinh nghiệm phá vỡ đất cho nhanh, chúng tôi được Trung úy Khảm Quản giáo Đội tiếp tay hướng dẫn thật tận tình. Ông ta vốn người lanh lợi, tháo vát, và có chút “tình người” đối với anh em trong Đội. Qua những lúc chuyện vãn trong giờ giải lao, ông ta thường khoe trướùc kia đã từng nhiều lần tham dự các cuộc “thi đua lao động”, do các Đại đơn vị Quân đội Nhân dân tổ chức, và lần nào cũng đoạt giải “Anh hùng lao động”.

Sở dĩ chúng tôi phá vỡ đất được nhanh, là nhờ phần sườn đồi nơi chúng tôi làm, đã được vạt thẳng đứng từ trước, cao khoảng 4 mét. Nên trước nhất, phải cuốc khoét đoạn dưới chân sát mặt đập, sâu vào khoảng 70 phân, cao 1 mét. Sau đó lên phiá trên, cuốc một rãnh dài sâu rộng chừng 3, 4 chục phân, và những lỗ xâu cách nhau 50 phân, rồi dùng xà beng bẩy mạnh là từng mảng đất lớn sẽ lở ra tụt xuống.

Thật rõ ràng “trăm hay không bằng tay quen” là thế. Nhưng “thực tế” bắt tay vào việc, mới thấy chẳng đơn giản như vậy đâu. Lẫn trong đất núi còn gặp những tảng đá to tướng, phải dùng búa tạ đục đẽo phá cho nó vỡ lần lần ra, cũng trần ai lắm. Vì thế mà chẳng ngày nào hy vọng làm ít hơn 10 tiếng đồng hồ cả.

Muốn cố gắng lột bỏ cái áo “Giai cấp Tư sản” của mình do Cộng sản gán cho, bằng “Lao động Cải tạo Tư tưởng” để trở thành người “Công dân Xã hội chủ nghiã”, thật không đơn giản dễ dàng gì.
Cái giá phải trả luôn luôn bằng máu, mồ hôi, và nước mắt, không chỉ của riêng bản thân mình trong các trại cải tạo, mà còn phải cộng chung của cả Vợ Con mình tại địa phương đang cư ngụ nữa.

KHOAN HỒNG NHÂN ĐẠO?

Xót xa tình nghiã đồng bào,
Tha không xử chết, cho vào tập trung.
Học gương lao động anh hùng,
Tập tành đắp đập, phá rừng, làm nông.
Bao giờ thành thạo reo trồng,
Chăn nuôi,canh tác tinh thông thì về.
Xung vào Hợp tác xã quê,
Sống theo đời mới đủ nghề làm ăn.
Vợ, Con, khỏi phải băn khoăn,
Tội ai nấy chịu, chẳng can hệ gì.
Trẻ con vẫn học, vẫn thi,
Vợ thì lao động, hưởng tùy khả năng.
Thoạt nghe phấn khởi tinh thần,
Định tâm cải tạo bản thân đêm ngày.
Rêu rao chính sách thật hay,
Đến khi thực hiện đọa đầy dã man.
Gớm thay bè lũ bạo tàn,
Nỏ mồm lừa bịp thế gian nhân quần.

K2 (Trại Cây Khế) Liên Trại 1, tháng 1 năm 1977.

Chương 17
CÁI GIÁ PHẢI TRẢ, ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Tết Đinh Tỵ 1977, anh em Tù K2 (Trại Cây Khế) được Ban chỉ huy Trại quan tâm săn sóc khá chu đáo. Nào là tổ chức thi đua làm Báo tường, tranh giải cờ tướng, đấu bóng chuyền giữa các Láng, và xem chiếu phim Liên sô ngoài trời.

Ngoài ra, mọi người còn phải học hát thuộc lòng các bài hát của Cách mạng. Giờ học hát, được thực hiện ngay sau buổi họp “phê và tự phê, xây dựng” hằng đêm. Các bài hát, do mấy anh bị bắt đưa ra Bắc từ hồi tháng 4 năm 1975, mới được chuyển về ở chung với chúng tôi, đọc cho chép và hướng dẫn tập. Có nhiều bài hát của Liên sô, Trung cộng, dịch lời sang tiếng Việt, nghe rất là ngô nghê chẳng ra làm sao cả, chẳng hạn : “Chúng ta là sắt thép…”. Hoặc những bài của các văn nô Cách mạng sáng tác, lời lẽ đầy sát khí : “Quét (giết) cho sạch nó đi…” Riêng bài “Tiến quân ca” (Quốc ca của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam) thì anh em không được học, theo sự giải thích của Cán bộ : “Tù cải tạo chưa xứng đáng được hát bài này!”

Chờ đón Xuân, còn có thêm một tin đồn rất là “hồ hởi”. Sẽ có đợt tha vào tháng 4, nhân kỷ niệm 2 năm ngày thống nhất đất nước, làm nhiều người mừng rỡ cho là chỉ dấu tốt. Ai nấy chuẩn bị đón Tết, với tinh thần “phấn khởi” hơn cái Tết tại Suối Máu năm 1976.

Trong dịp Tết, mọi người được nghỉ lao động 3 ngày. Nhưng ngày mồng 2, cả Cán bộ lẫn Cải tạo viên toàn Trại, phải “xuất hành” tham gia chương trình “cả nước trồng cây” hàng năm, để tỏ lòng nhớ ơn Bác.

Các món ăn Tết, cũng rất đặc biệt. Ngày mồng Một, cả bữa trưa lẫn bữa chiều đều được ăn 3 món :

1.- Thịt heo kho (mỗi người 3 mẩu bằng ngón tay cái); 2.- Thịt bò xào rau muống (cũng khoảng 5 cọng rau, và 3 mẩu thịt bò lẫn gân mỡ, mỏng bằng 4 đốt ngón tay); 3.- Trứng cá Mè Thác Bà kho (mỗi người khoảng miệng ca). Dĩ nhiên là ăn với bánh mì luộc, không có cơm. Hai ngày kế theo chỉ còn lại 2 món : cá Mè kho nhừ rục sền sệt như canh củ mỡ, ăn được cả xương mềm mục bùi bùi, và canh rau muống nấu với muối như ngày thường.

Cá Mè, do Cán bộ Hậu Cần Liên trại 1 đi mua từ hồ Thác Bà về. K2 của chúng tôi được chia 3 con, mình to bằng người ta, dài hơn 2 mét. Tôi chưa từng được thấy loại cá nước ngọt to như thế bao giờ. Nhà bếp phải lấy búa bửa củi tạ, mới chặt ra từng khúc nhỏ được.

Hai ngày trước Tết, mỗi Đội phải tăng cường cho Đội nhà bếp 5 người để tiếp tay gói bánh chưng. Theo dự trù, mỗi Tù sẽ được một chiếc bánh chưng nặng cỡ 1 kí lô sau khi luộc chín, và được lãnh vào buổi chiều tối ngày cuối năm.

Tôi được Đội cử tăng cường ngồi gói bánh chưng, nên 2 ngày giáp Tết không phải theo Đội ra ngoài lao động vất vả. Nhưng lưng vai cổ mỏi muốn gẫy, cơ bắp 2 chân đau tê cứng, vì phải ngồi lâu một chỗ làm liên tục không giờ giải lao. Có điều an ủi là mỗi bữa tăng cường làm tại nhà bếp, được bồi dưỡng thêm ba, bốn muổng tương hột kho, để ăn với bánh mì luộc, thay vì chỉ có vài cọng rau muống bung nước muối như mọi người.

Anh em tăng cường được chia thành 5 toán. Một toán chuyên lo chẻ lạt, rửa cắt lá giong cho hợp với khuôn. Một toán lo vo gạo nếp để trong từng thúng cho róc nước trước khi gói vào lá. Một toán cà rửa nấu đậu xanh, giã nhuyễn và nắm thành những nắm chặt tròn cỡ trái banh Tennis. Một toán cắt chia thịt heo thành những miếng dài cỡ 10 phân, dầy khoảng 1 phân. Toán sau cùng chuyên ngồi gói bánh theo khuôn gỗ, đã đóng sẵn cùng một cỡ 20/20 phân, cao 5 phân.
Ruột mỗi chiếc bánh chưng gồm : 2 bằng miệng bát đá gạo nếp vo rửa sạch cám (lộn gạo tẻ hơi nhiều), trộn chút đỉnh muối cho đậm đà, 1 nắm đậu xanh, và 1 miếng thịt heo có đủ nạc, mỡ, bì, ướp muối, hành củ thái mỏng, và hạt tiêu xay nhuyễn.

Có vài anh em Tù gói bánh rất thạo, không cần khuôn mà chiếc bánh rất vuông đủ 8 góc và chắc nịch. Còn phần lớn toàn là tay mơ vào học nghề, bánh gói không nèn được chặt và vuông vắn cho lắm, mặc dù đã có khuôn gỗ để trợ lực. Bánh chưng gói chặt tay luộc ra nền hơn bánh gói lỏng tay, và lúc chín vớt ra đem nén không bị phòøi ruột nơi các góc chiếc bánh.

Trong mấy ngày Tết, Trại mở máy thu thanh chuyền qua loa lớn cho cả trại Tù cùng nghe, những tin tức của đài phát thanh địa phương và Hànội.

Thư viện trong khu Tù ở cũng được mở cửa cả ngày, cho Tù vào đọc báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân, và mượn sách, truyện xã hội chủ nghiã đọc tại chỗ hoặc đem về láng ở đọc dần. “Mục đích yêu cầu” của Trại mở Thư viện, để Tù có cơ hội tìm hiểu thêm về Cách mạng Xã hội Chủ nghiã tại Việt Nam, và tại các nước Cộng sản trên toàn Thế giới, mà noi gương “thi đua cải tạo” cho mau “tiến bộ”.

Anh Nguyễn văn Lương (Đại tá gốc Địa phương quân, trước 30-4-1975 làm Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh chính trị Quân lực Việt Nam Cộng hoà đặc trách Địa phương quân và Nghiã quân) được trại cử làm quản thủ Thư viện. Anh ấy là người bặt thiệp, luôn luôn hăng hái hướng dẫn anh em lựa sách, truyện mà anh ấy cho là hay, cũng như giới thiệu những loại tài liệu quan trọng cần nên đọc. Sau này anh Lương cũng phải chuyển đi Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, và trại Thanh Phong, Thanh Hoá cùng một lượt với Tôi. Vào cuối tháng 4 năm 1982, Tôi được chuyểàn về miền Nam Việt Nam, anh Lương được chuyển ra vùng Nam Hà thuộc châu thổ sông Hồng ở miền Bắc. Hình như anh ấy và gia đình, cũng đang định cư tỵ nạn tại California.

Tất cả những cuốn truyện để tại Thư viện trại Tù, đều có nội dung tuyên truyền, đề cao tinh thần chiến đấu và thi đua sản xuất của các nam nữ anh hùng vô sản. Qua những cốt truyện dàn dựng, cho phép nhận định rằng trình độ hiểu biết của quảng đại quần chúng tại miền Bắc xã hội chủ nghiã, sau hơn 20 năm sống dưới sự cai trị chuyên chính của Cộng Sản Việt Nam, rất là thấp kém lạc hậu. Chẳng hạn, một đoạn truyện rất phi lý như …“phi công Bắc Việt đậu sẵn phi cơ MIG trong các đám mây dầy đặc ở trên không, để phục kích chờ phi cơ B52 của Mỹ tới thả bom Bắc Việt là sông ra bắn hạ, địch không kịp trở tay”… Ấy thế mà Sĩ quan quân đội Cộng sản Bắc Việt tin là thật, trầm trồ ca ngợi đề cao một cách hãnh diện trước mặt anh em Tù.

Để kéo dài cái thi vị Tết trong suốt 3 ngày nghỉ, Tôi và 2 anh bạn nằm kế bên, đồng thoả thuận canh ty ăn chung bánh chưng. Mồng 1 ăn chiếc bánh của Tôi, mồng 2 và mồng 3 thì lần lượt ăn những chiếc bánh của các anh ấy.

Sau khi ăn Tết xong, mọi người lại tiếp tục hăng hái xả thân, hoàn tất “kế hoạch thi đua” Trại đã đề ra hồi trong năm. Với hy vọng, mình sẽ có tên trong số “cải tạo tiến bộ”, được thả về đoàn tụ với Vợ Con sớm hơn những người khác.

Đội chúng tôi không đi làm đập ở Hợp Tác Xã nữa, được giao trách nhiệm vét khu sình, úng nước phèn ngập ngang đầu gối chân, ở ráp ranh đất giữa K2 và K3. “Mục đích yêu cầu” là dọn sạch rác rến, gai trà, cỏ lác, lội đạp đất sình cho nhuyễn như bừa, rồi rải vôi bột khử phèn để sẵn sàng trồng lúa vụ “ba giăng” (3 con trăng tức là 3 tháng).

Làm tại đây, mọi người phải bỏ giầy, cởi quần dài, vắn tay áo lên đến nách, lội xuống làm việc cả tuần lễ mới xong. Thực hiện công tác này, nguy hiểm nhất là loại cỏ lác, lá dài 3 cạnh bén như lưỡi dao. Phải quấn vải bảo vệ bàn tay cẩn thận, mới nắm gốc chùm cỏ lác để nhổ lên, thế mà vải vẫn bị cỏ cứa rách làm đứt tay.

Nước đục ngầu chẳng trông thấy gì. Dưới sình đầy mẩu cây gẫy và tre gai nhặt không hết. Trong khi đạp bùn, cẩn thận đến đâu cũng không làm sao tránh khỏi, bị đâm thủng hoặc xước da bàn chân và các ngón chân.

Trên mặt nước lẫn trong đám cỏ lác, cơ man nào là muỗi vằn, to bằng đầu tăm xỉa răng, bâu đốt vào cổ vào mặt vào tay đau buốt đuổi không kịp.

Mỗi lần xuống sình làm xong bước lên bờ, chân tay anh nào cũng bị nhuộm một mầu vàng nâu nhạt, phải kỳ cọ rửa bằng sà bông mấy ngày mới hết. Da các đầu ngón tay cũng nhăn nheo thật lâu, mới phẳng trở lại bình thường.

Để khử phèn, chỉ việc đi dọc trên bờ, bốc vôi bột vung rải đều khắp mặt ruộng, không phải lội xuống. Độ khoảng mươi lăm phút sau khi rải vôi bột, thì eo ôi ! đủ thứ loại sinh vật trong ruộng chết nổi lên đầy mặt nước. Nào là cua, cá, rắn, ếch nhái, ễnh ương… Rất nhiều điả trâu, to dài cỡ ngón tay út, có con no căng máu, có con đói dẹp lép, trông thấy mà rùng mình nổi gai ốc.

Sau khi đạp đất bùn nhuyễn, phạt sạch cỏ bờ chung quanh, vãi vôi bột khử phèn xong, khu sình biến thành mảnh ruộng vuông vức, thật lớn, trông rất đẹp mắt.

Hoàn tất công tác này, Đội chúng tôi được đưa đi tăng cường hạ gỗ bồ đề, trong khu rừng trên đỉnh núi cao, cách Bệnh xá Liên trại chừng 1 cây số, khiêng ra thả xuống bên đường cái.

“Mục đích yêu cầu” của công tác này là chặt tiả những cây đủ “tiêu chuẩn” ấn định, gốc phải to cỡ một người ôm không hết. Nhiều Đội khác đã làm ở đây, từ khi mới bắt đầu đợt thi đua hồi đầu năm Dương lịch, nên những cây gần ngoài bià rừng không còn. Chúng tôi phải đi theo triền núi vào sâu cả trăm mét, mới có cây để lựa đốn hạ khiêng ra nộp.

Trong khoảng 200 mét từ bià rừng ra đến đỉnh thả xuống đường, mọi cây nhỏ và bụi dại đều đã được phát dọn bằng địa, chỉ còn cỏ tranh khô héo dưới ánh mặt trời trưa nóng. Không khí bị đốt hiện ra trước mắt bàng bạc loang loáng, tưởng như mình đang bị bao phủ bởi một bầu thủy tinh.
Quản giáo Đội chúng tôi quy định, anh em trong Đội tự bắt bồ thành từng toán 5 người để cộng tác làm việc. Mỗi ngày, mỗi toán phải đốn hạ 1 cây, chặt bỏ cành và ngọn, rồi khiêng ra khỏi rừng, thả theo triền núi xuống bên đường cái lớn. Khi nào hoàn tất, tức là “chỉ tiêu lao động” trong ngày đã đạt, được phép tự động dắt nhau về Trại nghỉ. Nghe tả sơ như vậy ai cũng tưởng là đơn giản dễ ăn lắm. Nhưng khi bắt tay vào việc, mới thấy công việc vất vả, nguy hiểm gấp đôi việc đi lấy giang hồi mùa Đông vừa qua.

Chung quanh gốc bồ đề toàn là dây leo, cây nhỏ, bụi gai dại chằng chịt, phải phát quang cả chục mét mới vào được tới sát gốc. Khi hạ cây phải dùng rìu chặt mở 2 miệng sâu vào thân cây, ở 2 bên đối ngược nhau. Một miệng cao một miệng thấp, cây sẽ đổ xuống phiá bên có miệng thấp.

Trước tiên, chặt mở miệng thấp rộng 45 độ góc, ở bên phiá mình muốn cho cây đổ xuống. Mặt đáy miệng sâu vào khoảng nửa bề dầy của thân cây, cao hơn mặt đất khoảng 1 mét. Sau đó, mở miệng cao ở bên phiá đối ngược với miệng thấp đã mở. Miệng cũng rộng 45 độ góc, mặt đáy sâu vào khoảng 1 phần 3 thân cây, và phải cao ngang với đỉnh của miệng thấp đã mở bên phiá đối nghịch trên thân cây, thì cây mới không đổ ngược lại.

Trong lúc chặt mở miệng cao vào thân cây, tất cả mọi người phải dang xa cách gốc cây ít nhất là 50 mét. Chỉ còn một mình người phụ trách chặt, đứng trên giàn bắc bên gốc cây. Khi chặt đẽo mở miệng cao sâu vào chừng được 1 phần 4 thân cây, phải hô to báo động cho mọi người đang làm việc chung quanh, biết là cây sắp đổ về hướng nào. Người đang chặt cũng phải sẵn sàng nhẩy ra phiá sau khỏi giàn, kịp thời đúng lúc trước khi cây đổ.

Hạ cây đổ xuống rồi, anh em trong Tổ 5 người chia nhau chặt các cành và khúc ngọn khỏi thân cây. Cây thường dài cỡ 10 mét và khá nặng, 5 người khiêng không nổi. Phải phối hợp 2 Tổ tiếp tay nhau khiêng đổi công, tức là cả 2 Tổ gồm 10 người xúm nhau khênh từng cây một, ra đỉnh sau cùng của rừng để thả cho trôi xuống đường cái.

Đi từ sáng sớm khi trời còn sương mù lạnh căm căm, cỏ ướt sũng sương đêm. Hì hục thay nhau chặt đến trưa, mặt trời lên đến đỉnh đầu, mới hạ xong cây và chặt trụi cành để sẵn sàng khiêng đi. Vừa mệt vừa đói, mọi người ngồi nghỉ ăn bữa trưa. Xong suôi, mới tính tới công việc khiêng nộp cho nhanh chóng trọn vẹn, để về trại được sớm sủa.

Phải mất cỡ một tiếng đồng hồ, 10 người vừa khiêng vừa nghỉ lấy sức, mới khệ nệ men theo triền núi dài khoảng 300 mét, đem được cây gỗ ra tới đỉnh sau cùng để thả xuống đường.

Lúc cả 2 cây gỗ của 2 Tổ, được thả hết xuống đường xong xuôi, đồng hồ đeo tay của Cán bộ chỉ đúng 4 giờ chiều. Trời đang còn nắng trang trang gay gắt, không một hột gió, mệt vã mồ hôi, khát nước, miệng cổ khô như rang. Bình đựng nước mỗi người mang theo bên mình, cạn queo không còn một hột, thật cơ khổ cực cùng không sao tả siết. Mọi người vẫn phải cố gắng quay trở lại rừng, thu nhặt rìu, rựa, túi mang đồ dùng riêng để trở ra xuống núi về trại.

Trong lúc đi trở lại rừng, mắt Tôi có lúc hoa lên nổ tia đom đóm, đầu nóng bừng bừng, hai tai reo u, u, chân bước đi lảo đảo như muốn khuỵu xuống. Lo lắng suy nghĩ mung lung, không biết phải làm gì để tự cứu mình thoát khỏi bị ngất sỉu vì thiếu nước. May nhờ số chưa tới lúc, nên Trời đã khiến cho Tôi chợt nhớ ra cách tự cứu mình khỏi khát tạm, học được từ hồi còn nhỏ tham gia đoàn Hướng Đạo sinh là, tiểu ra mà uống.

Tôi vội lấy chiếc túi nylon nhỏ đựng đường thẻ, đã ngậm hết, để tiểu vào đó. Nước tiểu cũng chỉ được dăm giọt vàng khè. Đưa lên miệng hút cho hết và chép chép cho nước miếng tiết ra phụ hoạ cho đỡ khô miệng khô cổ. Quả là công hiệu, Tôi thấy dễ chịu hơn và lết được đến bià rừng, nơi đang để rìu, rựa, và các túi xách của chúng tôi.

Hỏi bạn bè không ai còn nước. Đảo mắt nhìn quanh, may sao thấy một cây chuối nhỏ cao hơn 1 mét, mọc sau một bụi xim, cách chỗ chúng tôi đứng chừng 5 mét. Quá đỗi mừng rỡ, Tôi cầm rựa tiến tới chặt phăng cây chuối sát tận mặt đất, chặt bỏ ngọn, lột các lớp bẹ ngoài để lấy nõn non bên trong cùng, cắn từng miếng nhai lấy nước nuốt từ từ. Nhờ thế mà tỉnh táo trở lại, rảo bước ra được khỏi rừng, xuống núi dốc thẳng đứng khoảng 80 mét mới tới đường. Ra về đến ngang Bệnh xá, cầu cứu mấy anh đứng bên bờ rào xin được nước, uống lấy uống để muốn bể bụng mới đã cơn khát.

Ngày hôm sau, chúng tôi cẩn thận hơn, ai cũng mang theo 2, 3 Gô nước cho chắc ăn. Nhưng tai họa lại xẩy ra trong trường hợp khác, đối với các bạn ở Đội làm việc bên đống gỗ ở cạnh đường. Chuyện xẩy ra vào lúc gần tàn giờ lao động chiều.

Sau khi 2 Tổ của chúng tôi thả xong cây bồ đề thứ 2 xuống đường. Anh em đang ngồi nghỉ ít phút, trước khi quay trở lại rừng thu nhặt rìu và túi đựng đồ riêng, để chuẩn bị xuống núi ra về. Bỗng nghe ở phiá dưới đường có tiếng người la, lẫn với tiếng lăn rầm rầm của đống gỗ bên đường đang đổ ra bừa bãi. Nhìn xuống, thấy có một anh nằm dài bất tỉnh trên mặt đất, mấy người khác xúm xít chung quanh hối nhau khênh đi Bệnh xá gấp.

Lúc xuống đến đường hỏi thăm anh em, biết được người bị nạn là Đại tá Bùi Dzinh, hồi đệ nhất Cộng hoà tại miền Nam đã có lần được Tổng thống Ngô Đình Diệm cho làm Tư lệnh Sư đoàn trong một thời gian. Anh Dzinh là người luôn luôn có tinh thần lao động “cải tạo năng nổ”. Kể từ ngày mới trình diện đi tập trung tại Đại học xá Minh Mạng, bên Chợ Lớn, Saigon, cũng như khi tới Long Giao, anh ấy luôn luôn “tự giác” làm những việc mà anh em ngại khó. Hình như muốn tỏ cho Cán bộ Cách mạng thấy, anh ấy “năng nổ muốn cải tạo mau tiến bộ” hơn người khác.

Tai nạn đã làm anh ấy mê man bất tỉnh nhiều ngày liền. Anh em Tù, thân hay sơ, ai cũng thương cảm. Mỗi người theo cách riêng của mình, đều hết lòng cầu xin Trời Phật cho anh ấy qua khỏi tử nạn. Một tuần lễ sau, chúng tôi mừng rỡ được tin anh ấy đã hồi tỉnh. Anh ấy được nằm điều trị tại Bệnh xá Liên trại, thêm một thời gian cũng cả tháng sau, mới phải trở lại K2 tham gia lao động nhẹ.

Ngay đêm hôm chứng kiến anh Dzinh gặp tai nạn lao động, Tôi bị lên cơn sốt. Trước tiên rét run lạnh thấu xương. Sau đó chuyển sang nóng, thân nhiệt lên cao tới khoảng hơn 40 độ Centigrade. Miệng khô, hơi thở nóng hừng hực, đầu nhức như búa bổ, các khớp xương đau nhức chịu không nổi. Anh bạn nằm cạnh, phải cõng Tôi xuống phòng Y tế xin cấp cứu.

Cán bộ y tế tới khám. Tôi nghĩ rằng mình bị sốt rét rừng hành. Hồi nhỏ lúc mới 12 tuổi sau khi đi tham dự trại Hè Hướng đạo ở núi Mẫu Sơn, châu Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn, ngay nơi có cột mốc định ranh giới Bắc Việt và Trung Hoa, Tôi cũng đã bị sốt rét rừng hành phải chữa trị bằng thuốc Quinine cả năm mới hết. Những triệu chứng bệnh trạng hôm nay, thấy cũng tương tự như vậy, nên xin Cán bộ cho phép lấy thuốc Chloroquine riêng của Tôi, do Trại giữ giùm để uống.
Tôi bị sốt chưa đến nỗi ngất sỉu hay chẩy máu mũi. Sau khi uống thuốc được chừng nửa tiếng đồng hồ, cơn nóng cũng giảm dần. Nên Cán bộ Y tế quyết định không cần di tản ra Bệnh xá Liên trại. Kể từ hôm sau, mỗi ngày Tôi đều bị lên một cơn sốt tương tự. Cán bộ Y tế cho được nghỉ lao động, nằm tại Láng trị bệnh bằng thuốc riêng của mình. Trại chẳng có thuốc gì để cấp, ngoài những bát nước thuốc Nam, nấu bằng các loại lá mót nhặt ở rừng về, và những viên Xuyên Tâm Liên trị Bá Bệnh.

Tôi mới được nghỉ lao động trị bệnh chừng 3, 4 ngày, đã có vài anh trong Đội thắc mắc. Nhất là anh Đội trưởng, tối nào trong giờ “phê và tự phê, xây dựng”, cũng nhắc Tôi cố gắng “khắc phục” hôm sau đi lao động với anh em, để bảo đảm cho Đội có nhân số lao động cao trong đợt thi đua. Tôi trình bầy, hàng đêm vẫn bị cơn sốt rét rồi nóng hành hạ, các khớp xương đau nhức di chuyển rất khó khăn đau đớn. Ban ngày khi ra ngoài gặp ánh sáng, mắt bị chói buốt làm nhức đầu không chịu nổi, nên chưa thể đi lao động được, xin anh em “thông cảm nâng đỡ tinh thần” cho Tôi.
Quản giáo Đội đã, ít nhất 2 lần, lén rình để kiểm tra tình trạng sức khoẻ của Tôi. Một lần trong ban đêm gặp ngay lúc Tôi đang bị cơn sốt hành hạ. Một lần vào khoảng 9 giờ sáng, đúng vào thời gian các bệnh nhân từ Láng ở xuống phòng Y tế để được chẩn bệnh.

Từ láng ở đi xuống, Tôi phải lần mò đi từng bậc thang đất một, cũng như phải ngồi bệt xuống đất nghỉ nhiều lần. Mắt nhức nhối mở hi hí, bước hụt chân ngã lăn tuột cả 5, 6 bậc thang, tới sát hè Hội trường mới khựng lại. Lúc thấy có người nắm tay đỡ Tôi đứng dậy, ngẩng mặt nhìn lên để cám ơn. Tôi mới giật mình nhận ra người tiếp giúp chính là Quản giáo Đội của Tôi. Lúc này Đội đang lao động nơi hiện trường ngoài trại, tại sao ông ấy lại có mặt tại đây?

Tôi bị bệnh như vậy được chừng 1 tuần lễ. Bỗng một buổi chiều vào lúc nhá nhem tối, trên con đường từ K3 đi ngang K2 của chúng tôi, rần rần có 3, 4 toán người khênh cáng đi vội vã ra phiá đường cái. Một số anh em hiếu kỳ, giả bộ mò xuống suối tắm rửa để dò tìm tin tức. Khi trở lên cho biết, có 3, 4 anh trong K3 bị sốt nóng bất tỉnh nhân sự, phải đưa ra Bệnh xá Liên trại cấp cứu.
Sáng hôm sau có tin vài người đã chết không cứu được. Số còn lại thoát chết, đang nằm tại Bệnh xá tiếp tục điều trị. Người ta cho biết là sốt vàng da, bị nhiễm trùng vì lao động tại khu sình, nơi mà Đội chúng tôi phải dọn vét, rải vôi bột khử phèn trong mươi ngày trước.

Đến giờ điểm danh vào Láng đi ngủ, không thấy anh Đội trưởng. Tôi hỏi nhỏ anh nằm bên mới biết, hồi chiều đi làm về anh Đội trưởng bị sốt cao độ, chẩy máu mũi, xuống phòng Y tế khám, và đã được di tản ra Bệnh xá Liên trại cùng lúc với mấy anh khác, cũng sốt cao độ mê man bất tỉnh. Đội trưởng chúng tôi, anh Lê minh Luân, Đại tá thuộc Quân chủng hào hoa phong nhã trong Quân lực VNCH, lúc nào cũng bay bổng theo mây gió, được nằm điều trị ở Bệnh xá Liên trại, khoảng một tuần lễ sau thì bình phục.

Một buổi chiều đi lao động về, anh em cho biết là thấy anh ấy ngồi tắm suối, dơ tay vẫy chào anh em lúc đi ngang rất vui vẻ. Nhưng sáng hôm sau, khi Tôi xuống phòng Y tế khám bệnh, anh bạn phụ tá Cán bộ Y tế cho biết, anh Luân đã chết hồi đêm qua. Mới lúc chiều khoẻ khoắn ra tắm suối vui vẻ là thế, tự nhiên đến đêm bệnh biến chứng ngộp thở cứu không được.

Thế mới biết con người ta, sống chết đều do mệnh Trời định từ trước, muốn cũng không được, không muốn cũng không được. Tôi là người yếu sức khoẻ nhất trong Đội, bị bệnh sốt vàng da vật đầu tiên đau đớn gần chết, ai cũng cho là giả vờ trốn lao động. Nhưng mệnh Trời đã định, nên thoát khỏi chẳng sao.

ĐỊNH MỆNH DO TRỜI

Sa cơ nín thở qua sông,
Lo chi xoáy cuộn, sóng dòng nổi trôi.
Định tâm giữ vững đạo Trời,
Sống tròn Nhân Nghiã, bĩ thời sẽ qua.
Bao năm mặc áo Cộng hoà,
Dấn thân bảo vệ Tự do, Nhân quyền.
Thế, Thời, quốc nạn đảo điên,
Có đâu thối chí lãng quên lời thề.
Kiên trì nhịn nhục vì quê,
Đợi ngày thoát hạn sẽ về phục hưng.
Tàn cơn giông tố bão bùng,
Trắng đen phân tỏ Anh hùng Tiểu nhân.

K2 (Trại Cây Khế), Liên Trại 1, Mùa Hè 1977

 
Chương 18ĐÔI GIỌT “MẬT ĐƯỜNG” TẠO NIỀM TIN CHO TÙ.
Cả mấy trăm ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà mọi giới (Quân nhân, Công chức Hành chánh, Đảng phái Chính trị, Báo chí truyền thông, Giáo chức…) thuộc miền Nam Việt Nam, đã bị Cộng sản Việt Nam đưa đi Lao động Cải tạo Tư tưởng trên đất miền Bắc Xã hội Chủ nghiã, vì đã chiến đấu chống sự bành trướng của Cộng sản tại Việt Nam. Sau thời gian 2 năm tập trung đầy đọa khổ nhục, tin đồn có đợt tha vào tháng 4-1977, nhân kỷ niệm 2 năm thống nhất đất nước, chỉ là cái bánh vẽ đưa ra để phát động đợt thi đua, thúc đẩy Tù làm ra nhiều tiền theo lệnh của Nhà nước mà thôi.Mãi đến tháng 9-1977, kỷ niệm ngày Độc lập của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam, Đoàn Cán bộ Trung Ương mới từ Hànội tới Liên Trại 1, tổ chức học tập và thông báo tin tức đợt tha đầu tiên. Con số Đại tá được tha rất ít, có thể đếm trên đầu ngón bàn tay không hết. Chỉ vỏn vẹn có 3 người:1/ -Đại tá Huỳnh hữu Ban (nguyên Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng tham mưu) bị đưa ra Bắc hồi giữa năm 1976 cùng lượt với chúng tôi, đã chết vì bệnh phổi tại Bệnh xá Liên trại 1 vào khoảng cuối năm.

2/ -Đại tá Thọ (gốc Nhẩy dù) bị bắt tại trận Hạ Lào trong cuộc Hành quân Lam Sơn 719, (Tôi không nhớ Họ của anh Thọ). Phái đoàn Trung ương giải thích : “Anh Thọ được Nhà Nước Trung Ương tha, vì đã “cải tạo nhiều năm rất tiến bộ”. Nhưng Chính quyền Địa phương không nhận, vì lý do không bảo đảm được an ninh cho anh Thọ, tại địa phương nơi xin về cư ngụï. Do đó, Nhà Nước đành phải để anh ấy ở lại tiếp tục cải tạo.” Anh Thọ không ở chung Trại với chúng tôi, nên không có dịp tiếp xúc để kiểm chứng.

3/ -Đại tá Hồng Sơn Đông, ở chung với chúng tôi, từ khi bị đưa ra Bắc hồi cuối tháng 6 năm 1976. Anh Đông đã giải ngũ từ thời Tổng thống Ngô đình Diệm, Đệ nhất Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam.

Từ khi ra khỏi Quân đội, anh Đông sống ở vùng Thủ Đức, Gia Định, thường xuyên cộng tác với một Nhật báo tại Saigon. Trong thời Đệ nhị Cộng hoà, anh Đông tham gia NHÓM KÝ GIẢ ĐI ĂN MÀY, xuống đường biểu tình chống đối Chính quyền vì đã kiểm duyệt và đóng cửa các Báo thân Cộng. Tất cả các Đảng phái Quốc gia chống Cộng sản tại miền Nam lúc bấy giờ đều biết rõ, những tờ báo này thường xuyên cố tình loan tin gây hoang mang, làm suy giảm tinh thần chống Cộng sản của Chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà và Đồng bào tại miền Nam Việt Nam.

Trước khi có lệnh tha, anh Đông đã từng úp mở nói với vài bạn thân là, “NHÓM KÝ GIẢ ĐI ĂN MÀY tại Saigon trước kia là Cán bộ Cộng sản nằm vùng. Từ sau ngày Giải phóng, họ có Uy thế lớn trong Chính quyền Cách mạng tại Saigon. Họ đãõ vận động cho anh ấy không phải đi cải tạo nhưng không kịp, nên cứ phải đi tập trung như mọi người, và đang đợi lệnh tha để ra về trong dịp sớm nhất.”

Đợt học tập này được tổ chức luân phiên, tại cả 2 địa điểm : K2 (Trại Cây Khế) và K3 (Trại Cốc). Ngày nào tổ chức học tại K2 của chúng tôi, anh em trong K3 phải dắt nhau ra học chung. Ngược lại, ngày nào tổ chức tại K3 trong khu tận cùng của thung lũng, anh em chúng tôi phải di chuyển vào trong đó, để cùng tham dự.

Hội trường K2 của chúng tôi chỉ có sức chứa 200 người. Nay dồn cả 2 Phân trại gần 400 người vào ngồi chung, chen nhau chặt cứng như nêm. Mọi người phải ngồi chồm hổm sát bên nhau. Đầu gối người sau đụng lưng người ngồi trước. Vai sát vai không chỗ hở mà cựa quậy. Hơi người bốc ra nồng nực. Đã có anh vì mắc bệnh xuyễn kinh niên, bị ngộp thở phải dẫn ra ngoài cấp cứu. Trong Hội trường không đủ chỗ, phải ngồi đầy cả ngoài hiên chung quanh bên ngoài.

Ngày nghe thuyết giảng trong Hội trường. Đêm được xem chiếu bóng ngoài trời, nơi sân tập họp lớn trước Thư viện. Mọi người ngồi bệt trên mặt đất. Sương đêm lạnh buốt, nhiều người phải mang cả chăn ra chùm kín từ đầu xuống chân, để không bị cảm lạnh.

Phim thuộc loại tuyên truyền ngây ngô xảo trá, với tựa đề “Anh hùng diệt tăng”, giàn dựng diễn tả lại trận phục kích Chiến đoàn Pháp, tại vùng Tây nguyên Trung phần Việt Nam hồi thập niên 1950. Đại ý kể truyện một anh Bộ đội Cộng sản Bắc Việt nằm phục kích bên lề đường, ném lựu đạn lên xe tăng của Pháp. Lựu đạn nổ trên đỉnh bên ngoài xe tăng không hề hấn gì. Xe tăng tiếp tục chạy trên đường vòng sang phiá bên kia sườn đồi. Anh Bộ đội chạy leo qua đỉnh đồi sang phiá sườn bên kia, trước khi xe tăng bò tới. Nhờ lợi thế ở trên cao sát bên mặt đường, anh Bộ đội nhẩy xuống nóc xe tăng, thả quả lựu đạn vào trong lòng xe. Anh Bộ đội từ nóc xe nhẩy xuống đất vừa xong, xe tăng nổ và bốc cháy???

Trong đợt học tập này, có một sự kiện rất đặc biệt không ai quên được. Đoàn Cán bộ Trung ương đã dẫn theo ông PHẠM KHẮC HOÈ, nguyên làm Ngự Tiền Văn Phòng của Hoàng đế Bảo Đại. Ông này đã giác ngộ, dứt bỏ giai cấp quan lại của mình trong Triều đình nhà Nguyễn, theo Cách mạng từ mùa Thu 1945. Hiện nay đang là người Cộng sản chính tông, đến nói chuyện tâm tình với Tù cấp Đại tá, thuộc giai cấp cầm quyền như ông Hoè trước kia trong “Ngụy quyền phản động”.
Ông Hoè khoe rằng, chính ông ấy đã khuyên và đốc thúc Hoàng đế Bảo Đại thoái vị Vua vào tháng 8 năm 1945. Nhờ thế, đã được Cách mạng trọng dụng từ bấy đến nay, không hề bị kỳ thị vì quá khứ của mình.

Khi chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ vào tháng 12 năm 1946, ông ấy bị Pháp bắt giam tại nhà tù Hoả Lò Hànội. Tháng 1 năm 1947 được đưa vào Saigon và Đàlạt để tiếp xúc với một số nhân sĩ : Vương quang Nhường, Phan huy Đán, Đinh xuân Quảng, Trần trọng Kim, Nguyễn văn Sâm, Trịnh đình Thảo, và Nam Phương Hoàng hậu. Đến giữa tháng 4 năm 1947, Pháp đưa trở ra Hànội và trả tự do cho ông ấy. Tháng 8 năm 1947, ông ấy bỏ Hànội ra Chiến khu theo Việt Minh. Tháng 9 được gặp Cụ Hồ, và ở lại theo Cách mạng luôn kể từ đó.

Ông ấy cũng đã được Nhà nước Cộng sản Bắc Việt, cho cái vinh dự làm một trong các thành viên tham dự Hội nghị Genève 1954, chia cắt đất nước Việt Nam làm hai miền Nam Bắc tại Vĩ tuyến 17.
Ông Hoè nói rất nhiều để sau cùng kết luận, nhờ suốt mấy chục năm trời theo Cách mạng, chỉ học được có 2 điều “cơ bản chính yếu” : YÊU và GHÉT.

“Ghét Giai cấp Thống trị, vì là kẻ thù bóc lột Giai cấp Vô sản.
Ghét ăn bám vào xã hội, nhờ thế mới biết Yêu Lao động.
Yêu Lao động tức là yêu Xã hội Chủ nghiã.
Yêu Xã hội Chủ nghiã mới là yêu Nước.”
Qua sự kiện này ai cũng thấy được, người ta đưa ông Hoè đến với mục đích chính yếu duy nhất, trình diện nhân chứng sống bằng xương bằng thịt. Cho mọi người nghe tận tai, thấy tận mắt, tấm gương của một người trước kia thuộc Giai cấp thù địch với Giai cấp Vô sản, biết giác ngộ, nhiệt thành hối cải, tận tụy theo Cách mạng lập công chuộc tội, đã được đối xử bình đẳng trong giai cấp Lãnh đạo của Cộng sản như thế nào. Tù hãy yên tâm noi gương mà cố gắng cải tạo.“Đường đi khó không vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”, đấy là câu ông Hoè đã dùng để kết thúc buổi nói chuyện tâm tình thật dài của ông ấy, với các Tù Đại tá Quân lực Việt Nam Cộng hoà, đang bị tập trung cải tạo tại Liên trại 1, xã Việt Cường, Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn.Trong kỳ học tập này, Đoàn Cán bộ Trung Ương còn cho phát thanh một cuộn băng nhựa, ghi âm bài phát biểu ý kiến của Tướng Nguyễn vĩnh Nghi, gửi anh chị em Chiến sĩ thuộc Chế độ Việt Nam Cộng hoà cũ. Tướng Nghi nguyên là Tư lệnh Bộ Chỉ huy Tiền phương của Quân đoàn III, bị quân Cộng sản Bắc Việt bắt tại mặt trận Phan Rang trước khi Saigon thất thủ, và đã bị Cộng sản Bắc Việt tuyên án tù chung thân,

Không biết kỹ thuật thâu băng dở, hay máy phát âm của Trại dở, mà âm thanh phát ra lúc rè, lúc nhỏ, lúc lạo xạo pha trộn các nhiễu âm, rất khó nghe. Tôi không nghe được đầy đủ nội dung nói những gì.

Nhưng sau buổi học tập, nhiều anh em cực đoan khó tánh, kín đáo thì thầm với nhau, có ý bất bình về những lời nói của Tướng Nghi. Đa số còn lại chỉ nhè nhẹ thở dài yên lặng, giữ thái độ “Im lặng là vàng” không biểu lộ ý kiến gì. Tôi thuộc nhóm thứ 2, cũng có vài suy nghĩ riêng, nhưng không nói ra trong lúc đó. Giả dụ như, Tướng Nghi có tự nguyện ngỏ lời kêu gọi khuyên anh em cố gắng cải tạo, lập thành tích đái công chuộc tội… để sớm được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước Cộng sản đi nữa, cũng chẳng có gì đáng trách.

“Gặp thời thế, thế thời phải thế.” Chính quyền miền Nam đã hoàn toàn xụp đổ. Quân lực Việt Nam Cộng hoà tan rã. Đồng minh bỏ rơi, cuốn gói chạy. Các Đại cường tham gia ký Hiệp Ước Paris 1973, im hơi lặng tiếng, làm ngơ trước sự vi phạm trắng trợn của Cộng sản trong suốt 2 năm qua. Trong hoàn cảnh vô vọng, mỗi người phải tự lo cho số phận riêng của mình. Tôi nghĩ, trong thâm tâm Tướng Nghi không muốn làm việc đó, nhưng vì bị áp lực cách nào đó ghê gớm lắm, mới chẳng đặng đừng, phải cắn răng nhịn nhục làm vậy thôi.

Chắc ai cũng nhớ rằng, sau mỗi buổi học rời Hội trường trở về Láng, mọi người bị buộc phải ngồi bên nhau mổ xẻ đào sâu thêm về đề tài đã được nghe, trước sự hiện diện theo dõi của Cán bộ. Mỗi người bị buộc phải thay phiên nhau, tự kiểm điểm và liên hệ với bản thân, tìm cho ra những sai trái của mình, của Chế độ mình đã phục vụ trước kia. Phải tự buộc tội mình, để mà hối hận, mà xin Cách mạng khoan hồng tha chết. Mọi ý kiến phát biểu đều phải kết thúc bằng lời hứa, quyết tâm cải tạo cho thật tốt, để sớm được về đoàn tụ với vợ con. Mặc dù chính mình cũng biết, trong các bài thuyết giảng có rất nhiều điều phi lý, suy luận một chiều, sai sự thật, nhưng chẳng ai dám có ý kiến ngược lại. Bởi vì làm như vậy, cả Đội sẽ phải tiếp tục ngồi xây dựng cho nhau hoài không được nghỉ. Cho đến khi nào Cán bộ thấy mọi người tỏ ra “thành khẩn” nhiệt liệt công nhận, “hào hứng” góp ý kiến tán tụng, những điều ghi trong tài liệu học tập là rất chính xác khoa học, mới được coi là “đạt mục đích yêu cầu”, “kết quả thâu hoạch tốt”, và cho ngưng thảo luận để nghỉ ngơi.

Đã có lần ở trong Đội chúng tôi, một anh bạo gan góp ý kiến thành thật, theo đúng tinh thần Dân chủ mà Nhà nước Cộng sản thường rêu rao. Lập tức được Quản giáo Đội (Trung úy Khảm) nhắc khéo rằng : “Một hai bộ óc dù có thông minh đến đâu, cũng không thể bằng cả trăm cả ngàn bộ óc của Bộ Chính trị Trung ương Đảng được. Các anh phải “nắm cho thật vững” điều đó. Chính vì “bản chất đại ngoan cố” như vậy, mà các anh đã lạc đường phản lại Cách mạng. Học tập đến giờ này mà còn chưa “giác ngộ”, bao giờ mới “tiến bộ” được tha về với Vợ Con?”

Nhờ có đợt học tập này, 3 anh Quế, Huề, và Thi, đang bị cùm trong nhà kỷ luật bên truồng heo của K2, suốt từ hồi trốn trại cuối năm 1976 bị bắt lại đến nay, được khoan hồng ân xá cho ra khỏi nhà kỷ luật. Mỗi người được biên chế vào một Đội khác nhau, để tiếp tục đi lao động với anh em như thường. Thấy hiện trạng cơ thể suy nhược của các anh ấy mà xót xa. Thương cho bạn mà cũng lo cho chính bản thân mình, cứ cái ngữ lao động cực khổ, đói ăn như vầy, rồi đây chắc cũng chẳng hơn gì.

Sau đợt học tập, anh em tiếp tục chuẩn bị làm vụ lúa Thu Đông. Đội chúng tôi được giao trách nhiệm đi lấy “cây cứt lợn” một loại thảo, mọc từng bụi cao cỡ 1 mét, có hoa từng chùm nhỏ mầu vàng, nhụy đỏ, mùi hôi hôi, hắc hắc như phân lợn, thân và lá có lông li ti đụng vào da làm ngứa ngáy như bị rôm cắn. Hàng ngày, mỗi người phải chặt 2 gánh nặng cỡ 40 kílô đem về bỏ tại khu ruộng của Trại. Có Đội khác ngồi đó chuyên lo bằm nhỏ, vãi xuống ruộng đầy nước cho mục rữa lần ra thành phân bón trước khi cấy mạ.

Đến tháng 10 năm 1977, mọi việc hàng ngày đang tiến hành êm ả. Bỗng dưng vào một hôm đẹp trời, toàn thể Tù K2 chúng tôi, không phải xuất Trại lao động buổi chiều, tập trung tất cả nơi sân tập họp trước Thư viện. Trại trưởng xuất hiện, thông báo tên một số người được lựa đưa đi lao động cải tạo thật sự. Ai nấy hồi hộp chờ đợi, hy vọng có tên mình trong danh sách.

Khoảng 2 chục người có tên, toàn là dân Chiến tranh Chính trị, An ninh Quân đội, Phòng Nhì, Tuyên Úy, Tỉnh trưởng, Xây dựng nông thôn, và Ban Liên hiệp Quân sự 4 bên. Đội chúng tôi có tới 4 người, gồm các anh Dương Hiếu Nghiã, Võ hữu Bá, Tôn thất Hùng và Tôi (Nguyễn-huy Hùng).

Bữa ăn tối, cả K2 “đột xuất” được đặc biệt tăng cường thịt heo, do chính Toán Chăn Nuôi của K2 chăm vỗ bấy lâu nay. Trại trưởng cho biết : “Đây là dịp “công khai” thanh toán sòng phẳng tiền dư thực, cho mọi người cùng hưởng trước khi chia tay nhau”. Mọi người được phép nấu nướng ăn uống đãi đằng, hàn huyên tiễn biệt nhau thong thả từ chiều tối cho đến giờ đi ngủ. Bạn bè kẻ ở người đi bồn chồn quấn quýt.

Đây cũng là lần đầu tiên, Tù được phép qua lại giữa các Láng ở, để nói chuyện chào tiễn biệt bạn bè thân quen của mình. Tại K2 của chúng tôi, có cả mấy vị Linh mục, Mục sư Tuyên Úy Quân đội, mang cấp bậc Đại tá nhiệm chức, nên cũng bị bắt đi cải tạo.

KẺ Ở NGƯỜI ĐI.
Giúp nhau chuẩn bị lên đường,
Thì thầm chia xẻ tình thương bạn bè.
Mai này cách trở sơn khê,
Chừng nào có được ngày về gặp nhau.
Bao năm cùng khoác chiến bào,
Sa cơ thất thế cùng vào Tập trung.
Bên nhau hứng chịu bão bùng,
Trăm chiều nhục nhã cực cùng khổ đau.
Còn đêm nay nữa bên nhau,
Dặn dò nhắn gửi hết câu chân tình.
Ai may sớm gặp gia đình,
Đừng quên tiếp tục công trình dở dang.
Đừng quên Quốc hận đang mang,
Đừng quên những kẻ đầu hàng cầu vinh.
Đừng quên tội phạm chiến tranh,
Là bầy lang sói đang hành hạ Dân.K2 (Trại Cây Khế) Liên Trại 1, cuối tháng 10-1977
 
Chương 19VỀ MIỀN ĐẤT TỔ HÙNG VƯƠNG TRỞ THÀNH TÙ KHÔNG ÁN

Nhóm 20 anh em chúng tôi tại K2 (Trại Cây Khế) được lựa đưa đi, so với tổng số đang bị giam tại K2 chỉ bằng hơn mười phần trăm. Toàn những người thuộc thành phần bị Cộng sản liệt vào hạng nguy hiểm, “có nợ máu sâu đậm với Nhân dân” hơn các thành phần khác. Vì thế, đêm nằm thao thức suy nghĩ mung lung đủ thứ chuyện, không ngủ được.

Với Việt Cộng gian manh xảo quyệt, làm sao đoán được chuyện gì sẽ xẩy đến trong ngày mai. Lúc nào họ cũng “ngọt sớt mía lùi”, như sẵn sàng đổ thóc giống cho mình ăn. Thế rồi lại trơ trẽn nuốt lời ngay tức khắc, chả biết đâu mà lường mà tin cho được.

Trằn trọc mãi, vừa mới chợp được mắt, Cán bộ Quản giáo Đội đã tới, lôi chân những người phải ra đi thức dậy. Rồi dẫn xuống bếp, lãnh thực phẩm ăn đường cho cả ngày. Mỗi người lãnh phần ăn cho cả 3 bữa (sáng, trưa, tối), gồm cơm nắm và thịt heo kho, bọc sẵn trong lá chuối. Nước chín để uống được lấy thả giàn, 2, 3 Gô hoặc Bi đông tùy theo khả năng cơ hữu của mỗi người. Không hạn chế như ngày thường, mỗi buổi chỉ được lãnh 1 Gô hay 1 Bi đông mà thôi.

Trời còn tối, chưa tới giờ báo thức của cả Trại. Anh em ra đi lục đục thu dọn hành trang, khiến các bạn nằm gần bên cũng bị thức giấc. Bạn bè thân xúm xít tiếp tay người ra đi, gói ghém hành trang cho thật gọn gàng, và luôn mồm nhắc nhở coi kỹ xem còn sót gì không.

Hai anh bạn cùng Tổ rất thương mến giúp đỡ Tôi xưa nay (các Đại tá Nguyễn quang Chiểu và Vũ quang Chiêm, trước 30-4-1975 làm ở Phủ Tổng Thống), đến gần giúi cho bọc kẹo lạc và bọc bánh quy, gia đình gửi cho từ hôm trước Tết còn để dành chưa ăn hết. Cả 2 người cùng xúc động, ôm ghì lấy Tôi chúc lên đường bình an, may mắn. Tôi nghẹn ngào, rưng rưng lệ nói những lời cám ơn chân tình. (Từ ngày đến định cư tỵ nạn Cộng sản tại California, Tôi có dịp gặp anh Nguyễn quang Chiểu cũng đang định cư tỵ nạn tại đây. Nghe nói Anh Vũ Quang Chiêm cũng đã sang định cư tỵ nạn tại California, nhưng Tôi chưa có dịp gặp lại.)

Cán bộ hối lên đường, và dẫn mấy anh em phải ra đi, tay xách vai mang tư trang rời Láng, xuống tập trung nơi cổng Trại. Đến nơi tập trung, thấy trong nhóm phải ra đi, có cả Linh mục Nguyễn văn Thịnh, Giám đốc Nha Tuyên úy Công giáo, và Mục sư Dương Kỳ, Giám đốc Nha Tuyên úy Tin Lành thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Sau khi Phó trưởng trại, trưởng Toán áp tải dặn dò mọi người về “Quy luật phải thi hành trong khi hành quân” xong xuôi, còn nhắn nhủ thêm : “Đến nơi mới, các anh phải thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau, để mà cải tạo cho nó tốt”. Những điều này làm Tôi suy tư lo lắng. Xưa nay, ông ta vốn là người xuề xoà dễ tính đối với anh em. Nay nhắc nhở như vậy, chắc chắn trong những ngày sắp tới, sẽ có nhiều điều không may đến với chúng tôi.

Các bộ đội áp giải hối chúng tôi : “Lên đường! Khẩn trương!”. Anh em khệ nệ vác hành trang, kẻ trước người sau nối đuôi nhau đi bộ 1 cây số từ K2 (Trại Cây Khế) ra đường cái. Tới ngã 3, nơi có Bệnh xá Liên trại, rẽ sang phải chừng nửa cây số, thấy một đoàn 4 xe tải Molotova có căng mui và bạt 2 bên hông, đang đậu chờ chúng tôi.

Đến đây, gặp thêm một nhóm anh em ở trong K3 (Trại Cốc), cũng bị đưa đi một lượt với chúng tôi. Trời còn tối mờ sương, không nhận được mặt nhau, trừ những người cùng đi chung trên một xe.
Cán bộ áp tải của K2 và K3 bấm đèn Pin, đi quanh kiểm điểm nhân số Tù xong, ra lệnh 15 người lên một xe. Mỗi xe có 3 cảnh vệ mang súng AK đi áp tải. Một người ngồi nơi buồng lái bên cạnh tài xế. Hai người còn lại ngồi phiá sau xe với Tù, chặn ngay nơi bửng lên xuống.

Hành lý của Tù xếp gọn thành một đống, phiá trong cùng thùng xe nơi sát buồng lái. Anh em ngồi bệt xuống sàn, tập trung ở khoảng giữa, không được ngồi gần phiá bửng sau xe, nơi Cảnh vệ ngồi trấn tại đó.

Đặc biệt lần di chuyển này, tấm bạt phiá sau xe được cuốn lên để cho thoáng hơi. Nhờ thế, anh em có thể trông thấy được rõ ràng, cảnh rừng núi 2 bên đường lùi xa dần phiá sau xe.

Sau hồi còi lệnh của trưởng đoàn áp tải, đoàn xe nổ máy, bật “đèn mắt mèo”, chuyển bánh và lần lần tăng tốc độ. Vài phút sau bắt đầu lao đi vùn vụt, lắc qua lắc lại, vòng vèo xuống dốc theo các sườn núi, rừng rậm mịt mù trong sương đêm lành lạnh.

Trời còn tối chẳng trông thấy gì, mệt mỏi ngồi ôm gối, tựa lưng nhau, mắt nhắm nghỉ ngơi, mặc cho thời gian trôi. Tiếng động cơ và không khí do lực chuyển động của chiếc xe tạo nên, reo đều đều, ù ù, vụt vụt, ào ào, ru anh em thiêm thiếp chìm vào giấc ngủ.

Chẳng biết thời gian ngủ được bao lâu. Bỗng dưng xe giảm tốc độ đột ngột, làm mọi người bị xô dồn về phiá trước tỉnh giấc. Mở mắt nhìn ra ngoài, thấy mặt trời đã lên khá cao. Đoàn xe đang di chuyển ngang qua một dẫy phố, có lẫn lộn nhà ngói nhà tranh.

Người hàng phố thưa thớt, đứng ngó đoàn xe chạy ngang, dơ tay vẫy vẫy. Chắc họ tưởng đoàn Bộ đội nào đi công tác miền núi trở về. Cả chiều dài của khu phố chỉ khoảng 200 mét. Đằng sau các căn nhà là những bụi tre và cây cối um tùm. Chắc đây là khu trụ sở Xã hay Hợp Tác Xã nào đó, thuộc vùng ráp ranh miền núi và đồng bằng.

Qua khỏi khu phố nhỏ, đoàn xe tiếp tục lấy tốc độ trở lại, vùn vụt tung bụi mù, băng ngang những cánh đồng không người.

Khoảng xế trưa lại gặp một Thị trấn nhỏ khác. Nhà cửa nằm dọc dài theo một bên đường. Phiá bên kia đường là những thửa ruộng, đang có người cầy bừa.

Không phải các toán máy cầy hay máy bừa đất, như trong các cuốn truyện mà anh em đã đọc tại Thư viện của Liên trại 1. Mà là những hàng người khòm lưng kéo cầy thay trâu. Họ đứng thành 2 hàng ngang. Hàng trước cách hàng sau chừng 3 mét. Hàng sau là 5 người cầm 5 chiếc cầy. Phiá trước hàng người cầm cầy, là một hàng người đông gấp đôi, quàng vào vai những sợi dây kéo cầy. Những hàng người này cứ thong thả theo nhau, đi vòng hết ruộng này qua ruộng khác. Từ xa trông như những người máy, đã được hiệu chỉnh cho di chuyển tự động. Rất nhiều nhóm người làm việc như vậy, rải rác trên khắp các thửa ruộng. Chẳng thấy bóng dáng một con trâu nào.
Đoàn xe chạy qua Thị trấn được chừng mươi phút, thấy nơi giữa đồng có một khu nhà tiền chế 2 tầng bằng tôn, cửa sổ dát kính phản chiếu ánh mặt trời sáng loáng. Gần bên có một bồn chứa nước lớn cao khoảng 7, 8 mét, và mấy dẫy nhà gạch 2 tầng lợp tôn, trông như một chung cư hay cơ xưởng sản xuất nhỏ. Theo Bộ đội áp tải nói : “Đấy là khu nhà của Cố vấn Liên Sô, và chung cư của công nhân.”

Đoàn xe tiếp tục, băng qua một vùng 2 bên đồng khô, rồi vòng vèo theo các triền núi đồi, cây cối cằn cỗi pha lẫn tre gai sơ xác. Đến lúc mặt trời chiếu xéo hông xe, đoàn xe ngừng lại. Trên sườn núi ngay bên đường, có một xóm nhà tranh, không thấy bóng người. Cán bộ cho Tù xuống tiểu tiện, nếu ai có nhu cầu, còn không thì cứ ngồi yên trên xe. Thực ra nhu cầu chính yếu không phải vậy. Cần ngưng để xe đầu đợi các xe sau đến, tập trung đầy đủ trước khi tiếp tục di chuyển. Đồng thời lợi dụng thời gian này, cho Tù và Cán bộ áp giải, xuống đất giải quyết nhu cầu vệ sinh cá nhân, vì đã phải nín suốt cả chục tiếng đồng hồ. Mọi người ào ào nhẩy xuống xe, kề ngay vào các bụi lau, cây dại bên đường xả “xúp bắp”. Người tiểu tiện, kẻ đại tiện. Lúc này mới thấy rõ ý nghĩa xác thực, của 1 trong TỨ KHOÁI ở trên đời (ăn, ngủ, đụ, ỉa), dân gian thường truyền tụng.

Ngừng xe hút chưa tàn điếu thuốc, lại có lệnh lên xe tiếp tục cuộc hành trình. Để tiết kiệm, những người đang hút dở phải dụi tắt điếu thuốc bỏ vào bao, để sau này hút tiếp cho khỏi uổng. Chẳng như hồi trước 30-4-1975, dù là thuốc “3 con 5” (555) mới bập có vài hơi, khi không thích hút nữa là quẳng ngay không luyến tiếc.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, đoàn xe chạy ngang một xóm có nhiều nhà ở dọc 2 bên đường. Quanh nhà nào cũng có hàng rào cây gai và cổng tre. Phiá sau nhà có những bụi chuối um tùm. Nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy bóng người nào qua lại trên đường.

Qua khỏi xóm dân cư chừng 2 cây số, xa xa bên phiá trái cách đường khoảng 1 cây số, thấy một khu nhà tôn nhà ngói lẫn lộn, trông như một cơ sở Hợp tác xã. Phiá trước khu nhà có một cổng lớn, với chiếc Bảng hiệu to tướng đề hàng chữ “Công an Nhân dân”. Gần bên khu nhà này khoảng 300 mét, là một khu bao quanh bởi một hàng tường cao, có giăng giây kẽm gai trên đỉnh. Sau hàng tường thấy những mái nhà tôn san sát bên nhau, xếp theo hàng lối dọc ngang đều đặn. Nơi góc các dẫy tường đụng nhau, có những tròi canh mái lợp tôn, có người mặc áo mầu vàng ôm súng ngồi. Chắc hẳn đây là khu trại giam tù.

Trước khi đoàn xe bắt đầu chui vào quãng đường vòng vèo, leo theo sườn núi 2 bên dầy đặc cây rừng rậm rạp âm u, lại thấy xa xa bên kia bờ sông, một khu trại giam khác kiến trúc tương tự. Đoàn xe chúng tôi không rẽ vào 2 nơi này, tiếp tục chạy. Chừng 45 phút di chuyển vòng vèo trong rừng, đoàn xe dừng hẳn lại trước một khu trại, cũng có tường cao bao quanh với hàng dây kẽm gai giăng trên đỉnh, y như 2 trại đã thấy trước.

Chúng tôi phải ngồi yên trên xe chờ khoảng 10 phút, mới được lệnh xuống xe. Mọi người vác hành trang theo nhau hàng một, vào qua khung cửa nhỏ của chiếc cổng sắt lớn. Cán bộ mặc đồ kaki mầu vàng đứng tại buồng canh, đếm đầu kiểm ghi tổng số người vào trại.

Ngay phiá sau cổng là một sân tập họp hình chữ nhật thật lớn, đủ chỗ ngồi cho cả ngàn người. Anh em chúng tôi được lệnh ngồi tập trung thành 2 hàng dọc, vào một góc sân. Một hàng rào Công an cầm súng, đứng vây quanh cách chúng tôi chừng 5 mét để canh chừng. Đoàn bộ đội áp tải ngồi lại bên xe, đậu phiá ngoài cổng trại.

Nơi cuối sân, thấy một nhóm khác cả trăm người không biết từ đâu đến. Họ cũng phải ngồi theo hàng lối, bên cạnh những gói tư trang, chờ như chúng tôi. Có bạn trong nhóm chúng tôi nhìn thấy người quen, mới biết là cùng “Phe Ta” với nhau. Nhóm anh em ấy thuộc cấp bậc Trung tá, Thiếu tá.

Trong khi ngồi chờ đợi Trưởng toán áp tải đi “làm việc” với Ban Chỉ huy, chúng tôi có thì giờ quan sát cảnh trí bên trong trại giam. Phiá cuối sân tập họp có một toà nhà lớn lợp tôn, chắc là Hội trường. Trại giam được chia ra 2 khu giam riêng biệt. Khu bên phải, có một dẫy tường cao 3 mét, suốt chiều dài của sân. Khoảng giữa bức tường, có 2 cửa nhỏ rộng 1 mét, cao 2 mét để ra vào. Trong khu này có những dẫy nhà vách gỗ mái tôn, và gần sát tường phiá cổng lớn có dẫy nhà gạch. Bên phiá sân đối diện, có 1 hàng rào kẽm gai cao 2 mét, để ngăn cách năm sáu dẫy nhà vách gỗ mái tôn với sân tập họp.

Ngồi đợi khoảng một tiếng đồng hồ tại sân tập họp, chúng tôi nghe một hồi kẻng oang oang nổi lên phiá ngoài cổng. Sau đó thấy 2 cánh cửa sắt lớn được mở rộng ra, và lục tục từ ngoài cổng trại, từng Đội, từng Đội Tù nối đuôi nhau đi vào. Họ phải bỏ nón ra khỏi đầu, khi đi ngang điếm canh tại cổng.

Những Đội đi vào phiá Phải, khu có tường quây, gồm toàn những Tù tuổi sồn sồn, dáng mệt mỏi, lặng lẽ cặp đôi, theo nhau rảo bước vào khu giam. Có vài người chỉ trỏ về phiá đám Tù đang ngồi giữa sân vẫy vẫy tay, chắc là nhận được mặt người quen.

Những Đội rẽ vào bên trái, khu nhà sau hàng rào kẽm gai, tuổi cỡ choai choai trên dưới 20, nói năng xấc láo, ồn ào, cũng có đôi người lớn tuổi. Sau này mới biết đó là đám Tù Hình sự, chuyên trộm cắp giết người cướp của, hãm hiếp phụ nữ, in bạc Cụ Hồ giả, băng đảng chém giết nhau… Chúng là loại “tù chuyên nghiệp”, từng ra vào khám nhiều lần. Những đứa trẻ tuổi, bị giam nhiều năm trong trại giáo hoá thiếu nhi phạm pháp. Khi đến tuổi trưởng thành, chúng bị chuyển qua trại tù của người lớn, tiếp tục thi hành nốt những năm còn lại của bản án, đã tuyên phạt từ hồi còn vị thành niên.

Chúng tôi phải tiếp tục ngồi chờ cho đến sẩm tối. Sau hồi kẻng điểm danh, nhốt hết Tù cũ vào các phòng giam của họ xong, Cán bộ Công an và mấy người “Trật tự”, mới đến dẫn chúng tôi vào 1 dẫy nhà trống, trong Khu có tường bao quanh.

Cán bộ Công an, mặt lạnh lùng chẳng nói chẳng rằng. Nhưng mấy người “Trật tự” đi theo, cầm xâu khoá và chià thì luôn mồm hối thúc “khẩn trương”. Sau này mới biết họ là Tù bên khu Hình Sự, được tin cậy lựa chọn chỉ định làm “Thi Đua”, đi theo để đôn đốc Tù thi hành lệnh sai bảo của Cán bộ. Họ còn có trách nhiệm, nghe ngóng thâu nhặt những tin tức sinh hoạt của Tù, qua hệ thống “ăng ten” riêng để báo cáo cho Cán bộ.

Người sau cùng trong chúng tôi, vừa bước lọt chân vào qua ngưỡng cửa, nghe một tiếng rầm phiá sau lưng. Hai cánh cửa sắt duy nhất ra vào nhà bị đóng lại, gài thanh sắt chận ngang bên ngoài và móc ổ khoá. Mọi người bàng hoàng xúc động tái tê đôi phút. Không ngờ kể từ giờ phút này, mình chính thức trở thành Tù. Mặc dù chưa hề nghe đọc, hoặc nhìn thấy mặt mũi cái án lệnh dành cho mình như thế nào, hình thể mầu sắc của nó ra sao? Nhưng rồi ai nấy cũng bình tĩnh trở lại, mò mẫm thu xếp chỗ nằm, trong bầu không khí lạnh lùng tối tăm của NHÀ TÙ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ.
Một tiếng đồng hồ sau, bóng đèn điện treo ở giữa căn nhà bật sáng, anh em mới thấy rõ mặt nhau, ai cũng dáng vẻ bơ phờ mệt mỏi.

Nhờ có ánh sáng vàng vàng của chiếc bóng đèn điện, mới thấy được ở phiá cuối nhà có một ngăn riêng để 3 thùng gỗ cho Tù đại tiện, tiểu tiện ban đêm ngay trong nhà. Thật may mắn, đêm nay chắc là được ngủ yên, không bị đánh thức bởi những tiếng hô báo cáo đi tiểu tiện, đại tiện, của Tù như trong suốt 2 năm vừa qua.

Nhưng, qua đêm rồi mới biết mình mừng hụt, “thoát vỏ dưa, gặp phải vỏ dừa” còn tệ hơn. Bầy RỆP đói lâu ngày, trong kẽ sàn gỗ chui ra thi nhau hút máu. Đau nhoi nhói, hết chỗ này đến chỗ kia trên toàn thân thể, lo gãi ngứa rà rà giết rệp cả đêm không ngủ được.

Điện chỉ rọi sáng được một tiếng đồng hồ sau thì tắt, cùng một lúc với những tiếng kẻng trại báo giờ ngủ bắt đầu. Sau này mới biết mỗi tối có điện sáng 1 tiếng đồng hồ trước giờ ngủ, để từng Đội Tù ngồi tập họp trong buồng, “phê bình, kiểm thảo, xây dựng, giúp nhau sửa sai những lầm lỗi vi phạm nội quy trại trong ngày, để mọi người cùng cải tạo được mau tiến bộ”, chớ không phải để cho Tù có ánh sáng thu dọn chỗ ngủ.

Sáng ngày hôm sau, khi mọi Tù cũ ra khỏi phòng giam đi lao động hết, mới đến lượt chúng tôi được mở cửa cho ra, làm vệ sinh cá nhân và lãnh phần ăn sáng. Xong xuôi, lại đóng gói hành trang ra xếp hàng tại sân tập họp lớn của Trại, để trình diện làm thủ tục bàn giao giữa các Cán bộ Quân đội và Công an.

Họ gọi từng người lên, trả lại giấy biên nhận giữ các vật tư của Tù (đồng hồ, nhẫn, dây truyền vàng bạc…) do Trại cũ cấp, lãnh giấy biên nhận của Trại mới. Những gói Âu Dược riêng của anh em buộc phải gửi Trại cũ giữ, nay 2 nhóm Cán bộ chuyển giao cho nhau. Sau này mất luôn, Tù chẳng bao giờ được sử dụng để trị bệnh riêng mỗi khi cần, như hồi còn ở bên Trại Quân đội quản lý.

Nhờ vậy biết được đây là phân trại K1, thuộc Trại Tân Lập, Tỉnh Vĩnh Phú. Ban chỉ huy Trại Tân Lập đóng tại K5, Khu trại có tấm bảng hiệu “Công an Nhân dân”, đoàn xe của chúng tôi đã chạy ngang, hồi chiều hôm qua trước khi đến đây.

Tỉnh Vĩnh Phú là nơi có đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương, của Dân tộc Việt Nam từ mấy ngàn năm nay. Tôi nhớ có đọc, tại Thư viện Liên trại 1, một tài liệu tâng bốc Hồ Chí Minh của một văn nô Cộng sản Việt Nam, ghi lại câu chuyện Hồ Chí Minh đến thăm Đền Hùng. Anh ta nói khi viếng Đền Hùng, Bác Hồ có tức cảnh đề mấy vần thơ, trong đó có đoạn dùng những từ ngữ rất hỗn xược ngạo mạn như sau : “…Ngày xưa Bác dựng nước, Ngày nay Tôi giữ nước…”

Bàn giao xong, Bộ đội Cụ Hồ phủi tay ra đi, để chúng tôi ở lại cho Công an Nhân dân quản lý. Họ bắt đầu đọc tên “biên chế” thành Đội mới. Nhóm chúng tôi có anh Dương Hiếu Nghĩa được cử làm Đội trưởng Đội làm gạch, gồm toàn Linh mục, Thượng Tọa, Đại Đức Tuyên úy Quân đội VNCH. Linh mục Nguyễn văn Thịnh cũng sang Đội gạch với anh Nghĩa, còn Mục sư Dương Kỳ thì ở lại với nhóm chúng tôi.

Nhóm chúng tôi được chỉ định là Đội Nông Nghiệp, và được tăng cường thêm 3 người lạ : 1 Trung úy Bộ binh, 1 Đại úy Công binh, và 1 Đại úy Cảnh sát Quốc gia (Tôi không nhớ rõ Họ Tên của các bạn này).

Chúng tôi được dẫn vào giam tại dẫy nhà “cách ly”, trong khu giam Tù miền Nam có tường bao quanh. Dẫy nhà gạch này được chia ra 3 ngăn có lối vào riêng, có tường gạch phân cách giữa các ngăn không thông thương được với nhau, cũng như cách biệt hẳn với các dẫy nhà gỗ trong khu.
Đội chúng tôi bị giam ở ngăn giữa. Đội Gạch của các vị Tuyên úy trong ngăn bên phải, phiá sát gần sân tập họp lớn. Ngăn bên trái chúng tôi, là Phòng Kỷ Luật giam những Tù vi phạm các Điều lệ Nọâi quy Trại giam. Cửa vào ngăn này, ở phía đằng sau dẫy nhà, phiá ngoài tường rào của khu.
Ngăn giam chúng tôi, chỉ có một cửa ra vào bằng sắt, có chốt móc khoá cửa ở phiá bên ngoài. Bên trong, có 2 dẫy sàn nằm 2 tầng chồng lên nhau bằng gỗ. Phiá cuối ngăn, có một phòng nhỏ bề ngang 1 mét rưỡi, để một thùng gỗ đựng phân, cho Tù giải quyết nhu cầu vệ sinh ban đêm.
Chúng tôi ở đây được một tuần lễ, bỗng một buổi sáng đang ngồi tập họp chờ gọi xuất trại đi lao động, anh em rì rầm truyền tai nhau, tin Linh mục Hiệu chết trong Nhà Kỷ Luật. Biết được là nhờ anh em Đội Mộc, hồi đêm có người phải “đột xuất” ra xưởng đóng áo quan, cho một nhóm Tù khác đem chôn. Trại phao tin Linh mục Hiệu tự tử chết. Theo anh em Công giáo, đây là tin bịa đặt hoàn toàn, vì hành động này không bao giờ có thể xẩy ra đối với một Linh mục.

NHÀ TÙ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

Tự do thâu gọn một căn nhà,
Cửa sắt ngăn đường chặn lối ra.
Quanh Láng nhởn nhơ toàn bóng Qủy.
Đêm dài lởn vởn đặc hình Ma.
Không gian co cụm sau tường gạch.
Không khí bao trùm chục thước vuông.
Sàn gỗ hai tầng, người sáu tấc.
Theo nhau tha thẩn Rệp đầy buồng.
Tù Người Tù Rệp nằm chung ván,
Tranh đấu ngày đêm chẳng nhịn nhường.
Rệp hút máu Người no để sống,
Người lo diệt Rệp nát như tương.
Người, Rệp, chung nhau cảnh đoạn trường,
Không cùng lý tưởng, hoá không thương.
Rệp chuyên hút máu, nên Người diệt,
Để tránh cho đời, nọc bệnh vương.

TÙ KHÔNG ÁN.

Từ đây cách trở sơn khê,
Kiếp Tù không án, ngày về hẳn xa.
Trầm luân đâu một mình Ta,
Trăm ngàn chiến sĩ Cộng hoà chịu chung.
Bên nhau trong bước đường cùng,
Giữ sao khí phách anh hùng không phai.
Mặc cho Quỷ Đỏ thị oai,
Kệ thây bầy thú vô loài dương uy.
Vượng, Suy, Trời định có kỳ,
“Sắc không, không sắc”, lo chi!… nản lòng?

K1, Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, tháng 11-1977.

Chương 20ỐC ĐẢO TÂN LẬP (VĨNH PHÚ) – ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Kẻng báo thức sáng, Cán bộ Trực Trại dẫn “Thi Đua” đi mở cửa các nhà giam. Họ đi vòng hết nhà này đến nhà kia, mãi 30 phút sau mới đến lượt Đội Đại tá chúng tôi được mở cửa cho ra sau cùng. Anh Trực Nhà và 2 anh trực phụ (thay phiên hàng ngày), tất tưởi dắt nhau chạy đi lãnh phần ăn sáng và nước uống chín về chia cho anh em.

Chia vội vã vừa xong, kẻng tập họp đi lao động cũng bắt đầu gióng lên. Ai nấy cầm phần ăn của mình, vừa đi ra sân tập họp vừa ăn. Người nào ăn chưa kịp hết, phải bỏ vào túi, chờ lúc ra khỏi cổng trại vừa đi vừa ăn tiếp. Nếu không ăn như vậy, ra tới hiện trường phải lao động ngay, đói không làm việc được “năng nổ”, tối về sẽ bị “phê bình xây dựng”. Nếu bị anh em góp ý kiến “xây dựng” hoài, hậu quả tai hại sẽ đến với bản thân.

Phần “sắn duôi” ăn sáng chẳng được bao nhiêu, ém gọn lại được vừa bằng một nắm tay. Chỉ đôi người có dạ dầy yếu, phải nhai chậm rãi như Tôi mới gặp trở ngại. Còn nhiều bạn khác bụng dạ khoẻ, ăn uống nhậm lẹ thì chả thấm tháp gì.

Sáng nào cũng vậy, trong thời gian ngồi chờ Cán bộ Trực Trại, đến đọc lệnh gọi các Đội lần lượt xuất trại, mấy người “Thi Đua” đi vòng “kiểm tra” xem áo quần của ai chưa đóng dấu sơn “ám số Trại”. Họ đem con dấu bằng gỗ to dài hơn bàn tay, tẩm sơn đen pha lẫn dầu, đến đóng lên lưng áo và 2 bên ống quần. Người nào quầo áo đã đóng dấu, nhưng lâu ngày sơn bị phai bạc mờ đi, thì đóng chồng lên cho được rõ ràng. Đây là biện pháp phân biệt Tù với người thường ngoài trại, và dễ lùng bắt nếu Tù trốn trại.

Đội chúng tôi và nhóm anh em mới tới, xuất trại lao động lần đầu tiên, được “Thi Đua” “quan tâm” “chiếu cố” trước nhất. Họ đến đóng dấu sơn “ám số trại” lên quần áo chúng tôi, ngay khi chúng tôi vừa tới ngồi tại sân tập họp.

Sau này Trại phát cho mọi người, loại quần áo Tù bằng vải thô Nam Định. Cả áo lẫn quần đều bị may ghép lẫn lộn, bằng những mảnh vải nhuộm 2 mầu khác nhau. Nếu nửa thân và tay áo bên Phải mầu xanh nước biển, thì nửa thân và tay áo bên Trái mầu trắng. Quần cũng một ống trắng, một ống xanh. Thật rõ ràng lồ lộ chẳng lẩn đi đâu lọt, thế mà cả quần lẫn áo vẫn phải đóng dấu “ám số trại”. Cứ mỗi 6 tháng được lãnh 1 bộ. Nếu rách sớm hơn thời gian quy định, phải vá víu mà mặc. Có thể dùng quần áo riêng của mình, nhưng phải đóng dấu sơn “ám số trại” lên trên.

Đội chúng tôi bắt đầu tham gia lao động tại K1, Trại Tân lập, bằng công tác đi chặt cây xim và cây muông, đem về làm củi đun cho Nhà Bếp. Xim được chặt trên những ngọn đồi cách trại 3 cây số, bó gánh về chất đống dài sát tường phiá ngoài cổng trại giam. Nhà Bếp Tù ra lấy vào dùng, đun nấu thực phẩm và nước uống chín phát cho Tù. Nhà bếp của Cán bộ canh Tù, cũng lấy củi ở đây về dùng.

Trước khi lên đường, anh em phải ghé vào đống củi cao như núi bên cạnh tường ngoài cổng trại, lấy mỗi người 1 cây dài 2 mét, đường kính khoảng 10 phân, đem theo làm đòn gánh củi mang về.
Củi xim thân cây nhỏ, cỡ lớn nhất chỉ bằng ngón chân cái, xum xuê cành con và nhiều lá, cao chừng 1 mét rưỡi. Chặt củi chẳng khó khăn gì. Nhưng muốn có dây để cột củi thành từng bó, phải cắt cỏ tranh dài, bện, nối lại với nhau. Không biết cách cột cho chắc, khi xốc đòn vào đưa lên vai bó củi sẽ xổ tung ra, hoặc rơi vãi từ từ dọc đường rất phiền phức. Nhờ hồi còn nhỏ Tôi tham gia Đoàn Hướng Đạo Sinh, đã có dịp học cách bện dây và cột bó củi, nên mọi việc hoàn tất suông sẻ. Làm phần mình xong, Tôi lén đến tiếp tay các bạn, đang lúng túng vì chưa làm bao giờ. Anh Trịnh Đình Đăng (Tôi quen từ hồi ở Trại Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hoà) cũng rất thạo việc này, cũng đã giúp đỡ nhiều anh em khác hết mình. Chúng tôi phải làm lén, vì nếu Cán bộ thấy được sẽ bị “kỷ luật”.

Gom xếp một gánh củi nặng độ 2 chục kí lô, với 2 bó nhỏ, vừa với sự chịu đựng của bắp thịt vai mình, thì coi không được. Cán bộ nhìn thấy chỉ trích là : “Bó củi gì mà chỉ bằng nắm tay, trẻ con nó còn chê nhẹ”. Nếu gom bó đủ lớn coi cho vừa mắt, dọc đường về sẽ bị chiếc đòn gánh, và sức nặng của 2 bó củi, hiệp nhau hành hạ bắp thịt vai, cổ, cột xương sống lưng của mình đau đớn chịu không nổi.

Không biết gánh, lúc nào cũng phải gồng vai, gân cổ lên chịu sức nặng, cắn răng bước đi dồn dập như chạy. Mỗi bước chân đạp xuống đường là một nhát dao cứa trên vai, đau buốt vào óc, dồn xương sống, mỏi hông ngang thắt lưng. Ráng hết sức, cũng chỉ đi được khoảng trăm mét, lại phải quăng gánh củi xuống đất để nghỉ. Sau mỗi lần nghỉ, lúc đưa gánh củi lên vai đi tiếp cho kịp bạn bè, là một lần khổ nạn. Cảm thấy hình như gánh củi nặng gấp đôi trước, bắp vai nóng rát đau chẳng khác nào bị vọp bẻ (chuột rút), chịu hết muốn nổi. Bị bắt buộc phải làm mãi, rút kinh nghiệm lần rồi cũng “giác ngộ” biết được, khi gánh phải hơi cúi đầu khòm lưng về phiá trước, để cho đòn gánh đè tréo từ giữa bả vai bên này, qua u thịt sau cổ, sang gần bả vai bên kia, bắp thịt vai sẽ không bị đau. Bước đi phải nhịp nhàng, theo đà nhún nhẩy lên xuống của 2 bó củi, ở 2 đầu đòn gánh.
Nhiều bạn cả đời chưa có dịp phải gồng gánh, thấy những người buôn thúng bán bưng làm hàng ngày, cứ tưởng dễ dàng như mình ngồi lái xe hơi. Nay phải làm mới thấm thiá, và thán phục cái tài xốc vác chịu đựng của những người “lao động chân tay” trần ai cực nhọc đến mức nào.
Đi cắt củi được hơn một tuần lễ, Trại phát động Kế hoạch “Thi đua làm Cách mạng xanh”. “Mục đích yêu cầu” là làm cho tất cả những khoảng đồi núi trong phạm vi đất dành cho Trại, đang trơ trụi không cây cối, phải được phủ kín bằng một mầu xanh của các ruộng sắn (khoai mì gồm 2 loại khác nhau : 1.-công nghiệp, 2.-để ăn), và miá re (thân nhỏ, vỏ cứng, nhưng rất ngọt, ép lấy nước cô thành “mật đường” để cất rượu trắng). Đây là “kế hoạch làm kinh tế” để Trại tự túc, có tiền nuôi Tù và Cán bộ canh Tù, theo lệnh Nhà nước ban hành từ hồi đầu năm 1977.

Đội chúng tôi phải đi đào hố trồng sắn, ngay trên những ngọn đồi đã chặt củi xim. Mỗi buổi lao động, sáng cũng như chiều, mỗi người phải đào 15 hố, vuông cạnh 70 phân, sâu 80 phân. Các hố phải đào cách nhau một mét. Trên mặt đồi, cỏ dại cỏ tranh dầy đặc cao cả thước, phải phát sạch trước khi đào hố. Đất đỉnh đồi cứng chắc nịch, lẫn đá lổn nhổn. Không có xẻng, mỗi người phải múc đất từ dưới lòng hố lên bằng cuốc của mình. Vất vả vô cùng cho những người lãnh phải cây cuốc cũ, lưỡi bị mòn nhỏ, cùn hoặc xứt mẻ. Chỉ có 3 anh bạn Tù cấp úy tăng cường nhân số Đội, và vài người khác khoẻ như anh Đội trưởng Lê Đình Luân, Mục sư Dương Kỳ, Tôn Thất Hùng… là đạt chỉ tiêu quy định. Buổi lao động nào họ cũng dư ít phút ngồi nghỉ ngơi. Còn đa số anh em, chẳng bao giờ hoàn tất đủ “chỉ tiêu” trước lúc mãn giờ lao động.

Mỗi người tham gia lao động, được Quản giáo Đội “ghi điểm tính công” hàng ngày. Ai đau ốm nghỉ bệnh nhiều, không tham gia đủ số ngày công, hay lao động hàng ngày không “đạt chỉ tiêu”, sẽ bị phạt giảm mức ăn quy định hàng tháng xuống. Những người lao động “năng nổ vượt chỉ tiêu”, hàng đêm được anh em trong Đội “bình bầu” là “gương mẫu” nhiều lần, sẽ được Quản giáo quyết định thưởng tăng phần ăn. Người được thưởng sẽ được ăn tăng thêm 2 kí lô một tháng. Người bị phạt, phải giảm mức ăn xuống còn 11 kí lô, tức là bớt đi 1 kí lô. Mức ăn quy định cho mỗi người bình thường, hàng tháng là 12 kí lô ngũ cốc (gạo, hoặc các loại khác như : bột mì, hột bo bo, sắn, bắp, khoai).

Thời gian chúng tôi tới trại này, phần gạo được thay thế bằng “sắn duôi”, theo tiêu chuẩn một đổi một, tức là 1 kí lô “sắn duôi” khô, tính bằng trị giá 1 kí lô gạo. “Sắn duôi” là sắn tươi bào thành sợi nhỏ như sợi bánh phở, sấy hoặc phơi khô cho bốc hết hơi nước. Tôi không biết tại sao gọi là “sắn duôi”, nghe anh em Tù cũ tại đây gọi vậy, thì nhận biết như vậy. Để làm cho “sắn duôi” chín, người ta để vào các vỉ tre đan, hấp từng trồng nhiều vỉ một lượt, trên những vạc nước đun sôi. Lúc còn sống “sắn duôi” mầu trắng đục rời rạc như gạo. Khi chín, trở thành trong và dính quện với nhau như cơm nếp. Những sợi sắn không chín, vẫn giữ nguyên mầu trắng đục. Không biết tại sao, lúc nào “sắn duôi” hấp cũng bị nửa chín nửa sống.

Phần “sắn duôi” ăn sáng, được nấu cùng lúc với phần ăn chiều, đong riêng ra để qua đêm đến sáng mới phát. Gặp mùa lạnh thì không sao. Đến mùa nắng thời tiết oi nồng qua đêm, “sắn duôi” bị thiu nhơn nhớt và có mùi chua, ăn vào nhiều người yếu dạ bị đau bụng tiêu chẩy. Tù vẫn phải lãnh về ăn, vì chẳng có gì khác để nhồi vào bao tử, cho có sức chịu đựng mà lao động.

Việc hớt tóc cho Tù ở K1 trại Tân Lập này, khác hẳn với bên các Trại do Quân đội quản lý. Ở đây, Trại mua 1 bộ đồ hớt tóc, gồm Tông-đơ, kéo và lược, trao cho Ban “Thi Đua” cất giữ. Hàng ngày, theo lịch trình quy định luân phiên cho các Đội mượn, đem ra “hiện trường lao động” hớt tóc cho nhau. Hồi còn ở K2 – Liên trại 1 – Việt Cường Yên Bái, sau khi bị sốt vàng da hành không chết, Tôi mất sức nhiều không ra ngoài lao động nặng được. Quản giáo Đội đã trình Phân trại trưởng, cho Tôi ở trong trại phụ trách phòng hớt tóc một thời gian. Anh em trong cùng Đội hiện nay, ai cũng biết. Do đó, ngày nào đến phiên Đội được xử dụng bộ đồ hớt tóc, anh Đội trưởng cũng trình Quản giáo Đội cho Tôi miễn lao động, để hớt tóc cho anh em.

Quản giáo bằng lòng, nhưng buộc anh em trong Đội, phải gồng mình làm bù đắp phần của Tôi, nhằm “bảo đảm chỉ tiêu chung” của Đội phải “đạt” trong ngày. Giống hệt trường hợp anh phụ trách nấu nước chín tại “hiện trường lao động”, anh em cũng phải làm nhiều hơn để bao phần “chỉ tiêu” hàng ngày của anh ấy.

Việc hớt tóc giữa trời, có nhiều kỷ niệm khó quên, cho cả thợ hớt và người được hớt. Không có ghế cho khách ngồi, nên cả thợ lẫn khách đều phải đứng. Hai người cao xấp xỉ ngang nhau, do đó khách buộc phải đứng dưới ruộng hoặc rãnh bên luống, chịu đựng ướt chân và quần, nhường cho thợ đứng trên bờ đất cao, không phải vói tay nghển cổ mới hớt được dễ dàng.

Thời tiết dù mưa hay nắng, cả 2 người cùng phải đứng giữa đồng mà hớt cho nhau, không có một tán cây bóng mát nào để núp. Lúc nắng còn đỡ, gặp trời mưa thì thật là một cực hình cho cả 2 người, mặc dù ai cũng có khoác áo mưa. Khách phải để đầu trần, nước mưa xối xả trôi qua cổ áo vào trong người, làm ướt hết cả áo trong lẫn áo ngoài lạnh cóng. Thợ luôn luôn phải giơ 2 tay cao ngang vai, nước mưa cũng tự do theo 2 cổ tay áo trôi vào nách, làm ướt mọi lớp áo và mình, lạnh chẳng thua gì khách.

Chúng tôi đến đây được hơn một tháng, bắt đầu có dịch kiết lỵ lan tràn trong trại. Các khu vệ sinh công cộng dùng thùng đựng phân lộ thiên, ruồi nhặng sinh sôi nẩy nở nhanh chóng, bay đi khắp trại, nhất là khu nhà bếp. Có thể trăm phần trăm nhân số Tù mắc bệnh. Những người khoẻ sức đề kháng trong cơ thể còn mạnh, chỉ bị sơ sơ vài 3 ngày rồi hết. Những người suy nhược nhiều sức đề kháng yếu, bệnh ngày một tăng, từ đi đại tiện có phân, lần lần chỉ còn nước nhờn và máu. Ngày đêm đi liên tục cả 2, 3, 4 chục lần, mệt mỏi hốc hác tiều tụy mà vẫn phải đi lao động như thường. Chỉ những ai ngày đêm đi từ trên năm mươi lần ra toàn máu, và thêm sốt nóng lết đi không nổi nữa, Đội trưởng mới ghi danh cho đi khám bệnh.

Khi nộp sổ khám bệnh, Tù “Thi đua” làm Y tá tại Bệnh xá buộc phải ra góc sân, rặn ra mũi và máu còn nóng hổi trình cho Cán bộ Y tế thấy rõ ràng, mới được cho vào Bệnh xá nằm chữa trị. Rất nhiều anh em khai bệnh, nhưng không được Cán bộ Y tế cho vào điều trị tại Bệnh Xá, chỉ được cấp thuốc uống tại chỗ, rồi theo Đội tiếp tục đi lao động, mặc dù họ rất mệt mỏi đuối sức.

Những người bị kiết lỵ nặng, nhưng không bị phù thũng thì có hy vọng sống. Còn những ai vừa kiết lỵ vừa phù thũng, thì chỉ ít ngày sau là đi về với Tổ tiên. Cũng có người chỉ bị phù thũng vì thiếu dinh dưỡng chớ không bị kiết lỵ. Tôi đã bị ở trong trường hợp kiết lỵ và sốt nặng, đến nỗi bị ngất xỉu bên thùng phân trong phòng giam ban đêm, phải kêu cấp cứu mới được đưa vào Bệnh xá nằm điều trị.

Bệnh xá có 2 phòng, mỗi phòng rộng khoảng 16 mét vuông. Mỗi phòng có 5 giường nhỏ loại 1 người nằm. Tôi và những người kiết lỵ nằm trong phòng “bệnh truyền nhiễm”. Lúc cấp cứu đưa vào, Tôi phải nằm tạm dưới đất, vì tất cả 5 giường đều đã có 2 người nằm chung. Gần sáng có người chết, sau khi bệnh nhân khiêng anh ấy ra túp lều chứa xác chết, nơi giữa bãi đất trống phiá sau Bệnh xá, Tôi được lên giường nằm thế vào đó.

Thuốc chữa trị hàng ngày, chỉ là 1 bát nước đủ loại lá thuốc Nam do nhân viên bệnh xá lên rừng kiếm về, băm nhỏ, phơi khô, bỏ vào vạc ninh nhừ để qua đêm, đến sáng phát cho bệnh nhân. Đây là loại thuốc trị Bá Bệnh. Ai đau ốm ra sao không cần biết, hễ cứ đến xin khám bệnh là được cho uống 1 bát. Nếu ai có sốt thì được thêm dăm chục viên Xuyên Tâm Liên, mầu vàng xậm như nghệ trộn với gì không biết, vê viên tròn nhỏ bằng hột đậu xanh, mùi vị hắc hắc the the lưỡi.

Ban ngày, mưa cũng như nắng, ở góc sân Bệnh xá phiá sau gần bếp có một thùng gỗ, để cho bệnh nhân ra xếp hàng thay phiên nhau ngồi rặn è è, ôm bụng rên đau quằn quại. Còn ban đêm, cửa các phòng bệnh bị khoá trái bên ngoài y như các láng giam, nên có một thùng gỗ để nơi góc phòng. Lúc nào cũng có 4, 5 người ngồi chồm hổm ôm bụng, chụm đít quanh thùng nhăn nhó rặn, cổ bạnh ra mặt mũi đỏ gay.

Tại Bệnh xá, có anh Tù Hình Sự được Cán bộ Y tế dùng làm “Thi Đua”, cho ở thường xuyên ngày đêm trong Bệnh xá kiểm soát bệnh nhân thay Cán bộ. Nếu bệnh nhân nào không gọi anh ta là Bác sĩ, hoặc không khéo lời tâng bốc anh ta, thì dù bệnh tình chưa thuyên giảm, cũng sẽ bị đề nghị cho xuất viện ngay để nhường chỗ cho người khác. Ai biết điều và nịnh bợ anh ấy, thì dù đã hết bệnh rồi cũng vẫn được ở nghỉ thêm vài 3 ngày mới phải rời Bệnh Xá.

Theo tin tức thâu lượm được qua những anh em nằm tại Bệnh xá trước Tôi, và phối kiểm qua những lời ba hoa của anh ta trong thời gian Tôi nằm tại Bệnh xá, biết được anh Tù Hình Sự này bị án tù trung thân, vì tội “làm giấy bạc Cụ Hồ giả”. Hồi còn ở ngoài xã hội, anh ta làm nghề Chăn Nuôi, chuyên trách về thiến Heo, thiến Gà trống, nên anh ta tự coi mình là Bác sĩ Thú Y.

Có một chuyện ly kỳ liên quan đến anh “Thi Đua” này, làm anh em Đội chúng tôi hoảng sợ không bao giờ quên được. Số là, Đại tá Tô văn Vân phụ trách nấu nước ngoài “hiện trường lao động” của Đội chúng tôi, một đêm kia tự nhiên bị đau bụng giữ dội phiá bên Phải, nghi là sưng ruột dư, phải kêu cấp cứu và được đưa vào Bệnh xá.

Sáng hôm sau, là ngày Chủ nhật nghỉ lao động, Đội chúng tôi bị tập họp lên Hội trường, để nghe anh “Thi Đua” này cùng Cán bộ Y tế, nói cho nghe về tình trạng nguy kịch của anh Vân, cần phải giải phẫu gấp nếu không thì chết. Họ đưa ra “phương án hành động khẩn trương, thực hiện ca mổ ngay tại Phân trại”, vì thời gian chuyển qua K5 (Trại trung ương) làm thủ tục đưa ra Tỉnh e không còn kịp. Họ tỏ ra rất tự tin, nhờø có rất nhiều kinh nghiệm về mổ sẻ súc vật (cũng chẳng khác gì người ta), nên rất bảo đảm không có gì phải lo ngại.

Họ yêu cầu chúng tôi góp ý kiến quyết định, đồng thời hỏi ai có lưỡi dao bào râu còn mới, thì cung cấp cho họ xử dụng làm dao mổ. Chúng tôi ngỡ ngàng, dứt khoát xin miễn góp ý kiến, vì mạng sống của anh Vân không thuộc phần trách nhiệm của chúng tôi quyết định. Đây là việc thuộc quyền quyết định của Nhà nước và thân nhân của anh ấy. Hơn nữa, trong chúng tôi không ai có lưỡi dao bào râu còn mới để cung cấp.

Buổi trưa ngày hôm sau là Thứ Hai, khi anh em đi lao động về, anh Trực Buồng cho biết, hồi sáng lúc đi ngang qua khu Bệnh Xá xuống bếp lãnh thực phẩm cho bữa trưa, đã gặp anh Vân đứng bên bờ rào Bệnh xá. Anh Vân cho biết đã hết đau, nhờ hồi hôm mửa ra mấy nùi giun đũa, trước khi mửa có con đã chui ra từ lỗ mũi. Thật khủng khiếp !!! Sau khi hết đau bụng, không biết anh Vân làm cách nào, được “biên chế” vào Bệnh xá phụ giúp anh “Thi đua” nấu thuốc, cháo, và nước uống chín cho Tù nằm điều trị tại đây.

Trong thời gian nằm tại Bệnh xá, Tôi còn phải chứng kiến một anh kiết lỵ nằm chung giường, chết rất thương tâm. Anh ấy được đưa vào nằm cạnh Tôi sau giờ khám bệnh buổi chiều, đến nửa đêm thì chết. Ngay sau khi được vào Bệnh xá, anh ấy mở vali quần áo ra kiểm điểm lại mọi thứ. Cầm những lá thư và ảnh của Vợ Con ra khoe Tôi, và chăm chú đọc lại rất vui vẻ, yêu đời.

Tôi thấy anh ấy còn giữ 2 hộp sữa bò đặc hiệu con chim, và một hộp bánh quy. Tôi nói chúng ta bị bệnh là do thiếu dinh dưỡng mà ra, sao anh không dùng sữa và bánh mà “bồi dưỡng” cho nó khoẻ, để dành làm gì. Lỡ chết vì đói kiệt sức cơ thể không chống nổi bệnh hoạn, thì chẳng phụ lòng Vợ Con lắm sao? Anh ấy cười trả lời chưa cần, Tôi còn đủ sức chịu đựng mà!

Đến khuya anh ấy lên cơn sốt nóng như lửa, rồi mê man. Tôi phải kêu cứu và xuống đất nằm, để nhường nguyên chiếc giường cho anh ấy. Anh “Thi Đua” nằm ở phòng khám bệnh kế bên, nói vọng sang trả lời để sáng sẽ tính. Đến gần sáng, anh Tù bệnh lịm dần, không nghe tiếng rên rỉ nữa. Anh ấy đã ra đi vĩnh viễn. Anh ấy là một Sĩ quan cấp Úy thuộc Công binh, Tôi không nhớ tên và đơn vị.
Phải đợi đến kẻng báo thức sáng, Cán bộ Trực Trại vào mở khoá cửa phòng giam bệnh, và Cán bộ Y tế đến lập biên bản xong, mới ra lệnh cho chúng tôi, để anh chết nằm vào chiếc chăn dạ của anh ấy, khiêng ra bỏ tại túp lều tranh chứa xác giữa bãi cỏ hoang, cách Bệnh xá khoảng một trăm mét. Người ta đem anh ấy đi chôn lúc nào không ai thấy, chắc là ban đêm.

Tôi nằm Bệnh xá được một tuần lễ thì bệnh kiết lỵ thuyên giảm. Không biết nhờ 2 bát nước thuốc Nam và 60 viên Xuyên Tâm Liên mỗi ngày, hay nhờ 2 bát cháo gạo lỏng nêm muối, Bệnh xá cho Tù bệnh ăn thay vì “sắn duôi”, hay nhờ được nghỉ không phải lao động?

Theo quy định của trại, Tù bệnh nằm điều trị tại Bệnh xá, được phát mỗi bữa 3 muổng đường để ăn với cháo. Nhưng anh “Thi Đua” chặn lấy dùng riêng, và nói rằng kiết lỵ mà ăn đường bệnh sẽ tăng chữa không được. Chẳng ai dám tố cáo, vì sợ bị anh “Thi Đua” hại ngầm thì thiệt thân. Tôi biết được là nhờ anh Tô văn Vân, nói nhỏ lúc anh em gặp nhau tại bếp của Bệnh xá. (Anh Vân và Tôi biết nhau từ năm 1967, khi anh ấy còn là Thiếu tá được đưa về làm Chánh văn phòng cho Đại tá Hoàng Gia Cầu Tổng cục Trưởng Địa phương quân và Nghĩa quân tại Bộ Tổng Tham mưu, thay thế Đại tá Trương văn Xương thuyên chuyển đi Vùng 4 Chiến thuật ở Cần Thơ. Lúc đó Tôi đang giữ chức vụ Tổng cục Phó.)

Những người nằm điều trị kiết lỵ trước Tôi, khi nào họ hết hẳn không đi cầu ra máu nữa thì mới phải ra viện. Nhưng phần Tôi, không biết vì sao bệnh chỉ mới thuyên giảm chưa dứt, ngày đêm vẫn còn đại tiện ra mũi và máu khoảng 6, 7 lần, gầy ốm hốc hác, mệt đi bộ xa chưa nổi. Thế mà Cán bộ Y tế nói là Cán bộ Quản giáo Đội đến yêu cầu, phải cho Tôi ra khỏi Bệnh xá theo Đội đi lao động để bảo đảm ngày công quy định.

Tôi ra theo Đội đi phát cỏ và vun gốc sắn. Trong thời gian này, các anh Phạm Tài Điệt, Trần văn Thăng (An ninh quân đội), Nguyễn văn Phúc (Chính huấn Tổng cục Chiến tranh Chính trị) vì lao động lơ là kém năng xuất, và Tôi (Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị, Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến) còn thêm cái tội nằm Bệnh xá lâu không bảo đảm đủ ngày công, nên bị phạt giảm mức ăn hàng tháng xuống còn 11 kí lô. Hai người khác trong Đội “lao động năng nổ”, được thưởng tăng mức ăn lên 13 kí lô là Mục Sư Dương Kỳ và anh Tôn Thất Hùng.

Bốn người bị phạt giảm mức ăn, để tăng mức ăn cho 2 người lao động giỏi được thưởng, thật là bất ngờ làm mọi người xửng sốt. Người bị phạt buồn đã đành, người được thưởng cũng xốn xang áy náy.

Thoạt đầu các vị này chỉ muốn cố gắng “năng nổ lao động” để được coi là “ cải tạo tiến bộ” sớm được tha. Đâu ngờ Cách Mạng lại thâm độc áp dụng luật bù trừ, lấy của người bị phạt thưởng cho người “lao động năng nổ”, để gây thù hận chia rẽ giữa anh em Tù với nhau.

Việc xẩy ra rồi, 2 người được thưởng mới tỏ ra hối hận, vì biết đã bị lừa mắc bẫy của “Vẹm” (chữ lóng dân chúng dùng để ám chỉ Việt Minh từ hồi 1946). Anh Tôn Thất Hùng thỉnh thoảng đưa nguyên phần ăn một bữa của anh ấy, tăng cường cho chúng tôi để tỏ lòng hối hận. Còn Mục sư Kỳ thì không dám. Ông nói qua trung gian cho anh em biết, sợ làm như anh Hùng, Cán bộ bắt được sẽ buộc tội vi phạm Nội quy, Điều lệ của Trại, nguy hiểm cho cả người nhận lẫn người cho.

Mới tới K1 Tân Lập được khoảng 2 tháng, ai nấy đã hốc hác, nhất là sau dịch kiết lỵ phù thủng. Mọi người suy xụp rõ ràng, chỉ còn da bọc xương, bơ phờ. Ai cũng sụt đi phân nửa cân nặng của mình, trông chẳng khác nào những hình “nộm bù nhìn” trong những bộ quần áo tế thần lụng thụng. Ngày đi trình diện tập trung Tôi cân nặng 67 Kí lô, đến lúc này chỉ còn được 30 kí. Chiếc thắt lưng da mang theo, bây giờ muốn dùng để giữ quần cho khỏi bị tụt xuống, phải đục thêm lỗ cách lỗ cũ khoảng 20 phân. Biết chắc là mình chỉ còn nặng đúng 30 kí lô, vì thời gian Đội chúng tôi phụ trách phơi đong cân thóc cất vào kho, anh em đã lén đứng lên chiếc cân bàn để cân, trước khi cân các bao thóc.

Lúc nào cũng đói, lại phải lao động vất vả với “chỉ tiêu” cao, thiếu dinh dưỡng trầm trọng, nên trong khi lao động ở ngoài đồng, hễ thấy sinh vật nào nhúc nhích ăn được là vồ ngay. Ngoé, nhái, ễnh ương, chằng hiêu, cóc, thằn lằn, rắn, cào cào, châu chấu, rế cơm, rế mèn, chuột nhắt, gì cũng chộp hết, ngoại trừ điả và giun. Mặc dù biết làm như vậy là vi phạm Điều lệ, Nội quy Trại giam, mọi người đã phải học thuộc lòng, nhưng vẫn làm. Thà mưu sinh để sống còn cho tới ngày được cứu thoát, còn hơn tôn trọng Nội quy để chết, trước khi thấy “ánh sáng ló dạng nơi cuối đường hầm”.

Thoạt đầu, bắt được nhái ngoé còn bỏ túi chờ tới giờ giải lao, mò đến chỗ nấu nước giả bộ hút thuốc lào, để bỏ vào đống than nướng chín rồi mới ăn. Nhưng về sau, anh nấu nước sợ vạ lây không cho, đành lột da ăn sống tại chỗ, hoặc nhét vào túi đem về ngâm nước muối trại phát 3 thià canh mỗi bữa, ăn với “sắn duôi”. Ăn vào thấy cũng rất ngon chẳng khác gì thịt gà cá gỏi.

Có lẽ trong số anh em mưu sinh linh tinh bất hợp pháp này, Tôi là người “năng nổ” nhất. Nên thỉnh thoảng được anh Tổ trưởng (trước 30 tháng 4 năm 1975 làm Tỉnh trưởng Bình Dương) thương, lo lắng cho sức khoẻ của Tôi, chiếu cố xây dựng hoài trong các giờ họp “kiểm thảo, phê và tự phê” trong Đội ban đêm, luôn luôn có sự rình nghe của “Thi Đua” và Quản giáo Đội từ phiá ngoài cửa sổ phòng giam.

Anh ấy cũng thường xuyên bị anh em bắt gặp, lén mưu sinh như Tôi và nhiều bạn khác, nhưng chẳng ai góp ý kiến “xây dựng” anh ấy bao giờ. Có lẽ anh ấy làm như vậy, vì phải thi hành trọn vẹn trách nhiệm do Quản giáo giao phó cho các Tổ trưởng và Đội trưởng, là phải theo sát anh em trong Đội để báo cáo thì mới được coi là “cải tạo tiến bộ”. Tuy nhiên, anh ấy cũng rất khôn. Mỗi lần “xây dựng” Tôi mưu sinh linh tinh, anh ấy “tự phê” trước, nhận rằng bản thân cũng có vi phạm, nhưng hứa sẽ “khắc phục” không tái phạm. Anh ấy cũng phân bua, sở dĩ phải “xây dựng” anh em vì thương, muốn anh em giữ được sức khoẻ tốt, “cải tạo cho mau tiến bộ” để về với Vợ Con.

Qua đầu năm 1979, chúng tôi bị chuyển về K5 (nơi có Ban Chỉ huy Trung ương Trại Tân Lập). Vài tháng sau thì anh ấy bị cảm sốt nặng, được vào Bệnh xá điều trị không hết, lại biến chứng ho sưng phổi, rồi chết vì ngộp không thở được. Người ta phải đâm kim vào ngực rút nước ở buồng phổi ra để cứu nhưng vô hiệu.

Vấn đề vệ sinh cá nhân ở K1, mỗi tuần lễ Tù chỉ được đưa ra sông, cách trại khoảng 2 cây số để tắm rửa giặt giũ quần áo có một lần, vào sau giờ lao động chiều thứ bẩy. Ngày thường, sau buổi lao động chiều, Tù được đưa tới hồ nước bên Đội Gạch cách trại 2 cây số để tắm rửa. Đây là hầm lấy đất làm gạch, lâu ngày sâu dần xuống và rộng ra thành hồ chứa nước mưa tù đọng, rong rêu cỏ rác đủ thứ xà bần dơ bẩn hôi tanh. Thế mà vẫn phải nhào xuống tắm rửa, cho sạch mồ hôi bụi bặm và bùn đất bám đầy chân tay mặt mũi, sau cả ngày lao động vất vả. Cả ngàn con người chờ đợi nối đuôi nhau. Mỗi đợt chỉ cho 2 Đội cỡ 80 người xuống, trong vòng 5 phút là phải lên. Những người xuống sau bao giờ cũng phải tắm rửa nước bùn đục ngầu. Vì phải đứng gần ven bờ, ra xa một chút là hụt chân ngập đầu không đứng được.

Làm xong các ruộng sắn, Đội chúng tôi đổi công tác. Đến kho phụ trách việc đập, vò, đạp các bó luá cho thóc rơi ra, ban mỏng trên sân gạch, phơi cho khô, dồn vào bao, cân và cất vô kho. Trước khi dồn thóc vào bao, còn phải quạt bỏ thóc lép. Một người xúc thóc vào thúng, nâng để lên một bên vai, từ từ nghiêng thúng cho thóc chẩy xuống đất. Người khác đứng kế bên, 2 tay cầm chiếc mẹt quạt liên tục, cho thóc lép bay ra khỏi dòng thóc mẩy đang chẩy xuống. Công việc phải làm giữa sân gạch nắng chang chang cả ngày, bụi bặm bám đầy người, phải dùng khăn bịt mồm mũi để bảo vệ buồng phổi. Những bó rơm đã rụng hết thóc, phải chất thành đống cao cả chục mét ở góc sân, gọi là cây rơm, sau này dùng làm gì không biết.

Lúa thóc do Tù reo, cấy, trồng, gặt, đập, phơi khô, xay xát ra gạo, cho Cán bộ canh Tù ăn hàng ngày. Còn Tù thì quanh năm ăn toàn sắn, bắp. Trong mùa thâu hoạch ồ ạt sắn, bắp, thì một phần cấp cho Tù ăn tươi hàng ngày. Phần còn lại, bắp thì phơi khô tách hạt ra khỏi cùi, sắn thì lột vỏ sắt lát mỏng hoặc chặt thành những khúc ngắn sấy khô, xong xuôi đem cất kho, phát ra ăn dần về sau.

Sau khi hết lúa để đập, để phơi, Đội chúng tôi được chỉ định vào quét dọn hót cám lẫn trấu, trong nhà máy cà xát lúa ra gạo, nhồi vào bao tải. Cả ngày chìm đắm trong bụi bậm mịt mù, vất vả hơn đập phơi lúa ngoài sân rất nhiều. Nhưng được cái may, hàng ngày mỗi người được “bồi dưỡng” một túi cám lẫn trấu, đem về sàng rây bỏ trấu đi, còn lại cám lẫn tấm nấu chín mà ăn.

Quản giáo Đội cho phép anh đun nước, giúp anh em nấu chín trong giờ lao động. Ai muốn nhờ thì đổ tấm cám và nước vào Gô riêng, giao cho anh nấu nước vào lúc đầu giờ lao động. Đến giờ nghỉ giải lao giữa buổi, là có cháo bột tấm cám chín sền sệt để ăn. Mùi vị hơi đăng đắng hôi hôi khó ăn, nhưng phải ráng mà nuốt, cho cơ thể có thêm chất bổ của cám để chống phù thũng.

Một tai họa thảm thương đã xẩy ra, làm ai nấy đau đớn và lo sợ vô cùng. Có anh ở một đội khác bị trướng bao tử, nghẽn ruột và chết vì ăn cám. Trong khi anh em chúng tôi cũng ăn, mà chưa có người nào làm sao cả. Sau này có tin từ Bệnh xá loan ra cho biết, anh bạn tử nạn vì không rây bỏ trấu vụn lẫn trong cám tấm, cứ để nguyên như vậy nấu ăn cho được nhiều, trấu không tiêu làm nghẽn đường tiêu hoá bể ruột chết. Cũng kể từ đấy, Tù không được mót cám về “bồi dưỡng” nữa.
Kho vừa hết “sắn duôi” cung cấp cho Nhà Bếp, thì vừa đúng mùa thâu hoạch sắn tươi. Mọi người được ăn sắn tươi luộc dài dài, ngày 3 bữa. Sắn tươi dùng thay gạo theo tiêu chuẩn 4 kí lô sắn còn cả vỏ bằng 1 kí lô gạo. Ăn sắn tươi có một số người bị say. Nghe anh em nói, sắn trồng trên đồi tranh, củ nào bị rễ tranh xuyên qua, ai chẳng may ăn phải những củ này thì khoảng 2 tiếng đồng hồ sau khi ăn là bị say. Khi say sắn, cơ thể cảm thấy nao nao buồn tiểu đại tiện, nôn khan, hoa mắt chóng mặt, người bải hoải như bị trúng gió. Say nặng có thể ngất xỉu vài phút sau mới tỉnh lại. Tôi chẳng may bị say sắn tới 2 lần.

Lần đầu vào khoảng 9 giờ đêm, lúc mọi người chuẩn bị đi ngủ. Tôi mót đại tiện, mò vào góc nhà, khu để thùng cho Tù đi vệ sinh ban đêm, đứng xếp hàng chờ. Tự nhiên Tôi thấy ánh sáng ngọn đèn dầu đổi mầu, từ vàng trong sang vàng đục, rồi đỏ và tối xầm đi, không biết gì nữa. Anh bạn đứng sau, thấy Tôi đang đứng bỗng dưng xỉu và ngã gục xuống đất, phải xốc nách bế đặt đại lên một chỗ nằm kế đó, hô hoán kêu mọi người xúm lại cạo gió cấp cứu, vài phút sau thì tỉnh lại.
Lần thứ 2 nguy hiểm hơn, nó xẩy ra vào khoảng quá nửa đêm. Chỗ ngủ của Tôi ở sàn gỗ trên cao cách mặt đất 2 mét, đang ngủ tự nhiên thấy bụng quặn đau mót đại tiện.Tôi chui ra khỏi mùng, bò men theo bià sạp, phiá chân của 3 bạn nằm bên, để tới cái cột có các cục gỗ nhỏ làm thang, bấu chân vào tụt xuống đất. Sau khi đạp được đầu bàn chân trái lên mẩu gỗ thứ nhất, bắt đầu xoay người tụt xuống để đặt đầu bàn chân phải lên cục gỗ kế theo, thì Tôi thấy choáng váng, chân tay bủn rủn không kiểm soát được và rớt xuống đất cái rầm, rung động cả nền nhà làm mọi người giật mình thức giấc, tưởng có động đất.

Tai nạn này đã làm cổ chân phải của Tôi sưng vù, đau đớn không đứng được bằng 2 chân, và cũng không leo lên chỗ ngủ ở tầng sạp trên cao của Tôi được. Anh Đội trưởng đã phải nói khó với các bạn nằm ở sạp dưới, vui lòng đổi chỗ cho Tôi nằm tạm qua đêm.

Sau vài phút im lặng, có một bạn tốt bụng đã đáp ứng lời yêu cầu, khiến Tôi vô cùng cảm kích, và nhớ ơn bạn ấy đến bây giờ vẫn chưa quên. Ngày hôm sau, bạn ấy còn quyết định cho Tôi nằm tạm trên chiếc nệm cao su bơm hơi của bạn ấy thêm mấy ngày, đến khi Tôi chống gậy đi và leo lên sàn cao được mới thôi. Người tốt bụng này là Đại tá Nguyễn văn Hãn (An ninh Quân đội). Tôi chưa có dịp quen trước 30-4-1975. Anh Hãn không những bị cận thị nặng hơn Tôi nhiều, mà lại còn bị loạn thị nữa, thật vất vả, làm gì cũng phải sờ sờ mò mò gần như người khiếm thị vậy.

Mỗi buổi sáng, ngay sau khi cửa phòng giam được mở, Tôi phải 2 tay vịn chiếc đòn gánh dư của anh trực nhà cho mượn, co chân phải lên, cà nhắc nhẩy từng bước một với chân trái, để xuống Bệnh xá khám bệnh. Khám xong lại vội vã cà nhắc nhẩy về sân tập họp, trình sổ khám bệnh cho anh Đội trưởng biết là mình được nghỉ lao động ngày hôm đó.

Những Tù bệnh được nghỉ không phải theo Đội ra ngoài lao động. Nhưng sau khi các Đội xuất trại hết, phải tập trung vào một nhà giam riêng ở cuối sân bên khu Hình Sự, cửa khóa trái bên ngoài, cho đến hết giờ lao động các Đội trở về nghỉ mới được thả ra.

Khoảng 2 tuần lễ sau, tình trạng chân của Tôi hết sưng, có thể đi lại với chiếc gậy nạng, Cán bộ Y tế coi là lành không cho nghỉ nữa, phải theo Đội đi lao động. Cũng may, lúc này Đội không còn làm Nông Nghiệp nữa, mà phụ trách Cưa xẻ và Lò rèn, ở sát ngay bên cạnh Đội Mộc (đóng giường, tủ, bàn, ghế…) cách cổng Trại giam chừng 500 mét. Chúng tôi xẻ những cây gỗ to tướng ra ván cung cấp cho Đội Mộc, và nung sắt làm cuốc, xẻng, dao… theo “yêu cầu” của Trại. Tôi được cử vào toán Rèn do anh Đại úy gốc Cảnh sát làm Toán trưởng. Anh Trịnh Đình Đăng phụ tá quai buá tạ. Tôi lo nhóm Lò, kéo Bễ thổi lửa cho than đá lúc nào cũng hồng, đủ độ nóng để nung sắt.

Ít lâu sau, cổ chân của Tôi bình thường trở lại. Tổ Rèn không còn nhiều việc để làm, Tôi được chuyển qua Tổ Cưa xẻ gỗ, cặp với anh Phan Trọng Thiện. Vì anh Thiện đã làm lâu rành kỹ thuật kéo cưa xẻ gỗ, nên đứng trên cao để giữ mực cưa đi được thẳng tắp, cho bề dầy của ván đều đặn. Còn Tôi mới vào nghề nên phải đứng phiá dưới, phụ nâng cưa lên và kéo cưa xuống cho được nhịp nhàng, đều đặn. Cái khổ của người đứng phiá dưới xúc gỗ đang xẻ là, từ lúc bắt đầu kéo cho đến khi ngưng, lúc nào cũng bị mạt cưa rớt ra bay phủ đầy người từ đầu xuống đến chân, miệng và mũi phải dùng khăn quàng bịt kín để lọc cho bụi không lọt vào phổi, nên rất khó thở và mau mệt.
Từ ngày làm trong xưởng, không còn dịp mưu sinh linh tinh các sinh vật ngó ngoáy ngoài đồng nữa, anh em chờ giờ giải lao chạy ra các bãi cỏ sát hàng rào quanh sân để mót rau má, rau tầu bay đem về ăn độn với “sắn nút chai”. Đây là sắn nguyên củ, sau khi lột bỏ vỏ, chặt thành từng khúc ngắn cỡ 2 đốt ngón tay, đem phơi hoặc sấy khô, cất kho. Những mẩu sắn khô đổi mầu từ trắng sang nâu xám, trông như những mẩu gỗ dùng để nút miệng chai. Muốn làm chín để ăn, người ta dùng nước luộc như luộc khoai. Thấy ngoài mặt các cục “sắn nút chai” luộc đổi mầu từ đục sang trong, tưởng là đã chín nhưng lúc ăn mới thấy, trong lõi cục nào cũng còn sống nguyên.

Mùa Hè năm 1978, có lẽ là mùa tử vong cao nhất tại K1 trại Tân Lập-Vĩnh Phú. Có hôm, trong khi các Đội ngồi phơi nắng cả tiếng đồng hồ, chờ gọi xuất trại lao động buổi chiều, có đến 3, 4 người ngất xỉu vì say nắng giữa sân tập họp, được anh em xốc nách đem vào Bệnh xá cấp cứu. Tối lao động về nghe tin 2 người đã chết. Một buổi khác, một anh Đội trưởng Nông Nghiệp cũng cải thiện linh tinh, ăn thịt Cóc và trứng Cóc vào bữa trưa, đến chiều ra tập họp đi lao động bị ngất xỉu. Anh em cõng vào Bệnh xá cấp cứu không được, anh ấy đã vĩnh viễn ra đi trước mọi người.

Đi lao động bị tai nạn chết tại K1, Tân Lập, Vĩnh Phú, có trường hợp Trung tá Hưng (trước 30-4-1975 làm Tham mưu trưởng Trường Đại học Chiến tranh Chính trị ĐàLạt). Nghe anh em bạn cùng đi với anh Hưng, theo xe tải của Trại công tác ngoài lãnh thổ trại giam trở về kể lại : “-Xong công tác, lúc xe quay trở về trại trời đã tối mịt. Xe phải lội qua khúc sông cạn đá lổn nhổn. Bánh xe bị kẹt ở giữa dòng sông nước chảy xiết, không nhúc nhích được. Anh em Tù phải xuống xúm chung quanh đẩy cho xe tiến tới, anh Hưng chẳng may bị hụt chân chìm mất tích. Mãi mấy ngày sau mới tìm được xác. Trại loan tin anh Hưng không biết bơi nên bị chết đuối.”

Nữ Văn sĩ Bích Huyền là vợ Trung tá Hưng, hiện đang định cư tỵ nạn tại Nam California, đã viết một tuyển tập “Lối cũ chẳng sao quên”. Trong đó có đoạn kể lại chuyện đi thăm nuôi anh Hưng tại K1 Tân Lập- Vĩnh Phú, phải lặn lội gian nan khổ cực như thế nào. Ít lâu sau có người nhắn tin về nhà cho biết là anh Hưng đã chết, chị ấy lại phải đi cùng 3 người anh ở Hà Nội (theo Cách mạng từ 1945) trở ra Tân Lập. Khi đến Phân Trại gặp anh Hưng lần trước, người ta nói anh Hưng đã chuyển trại, nhưng không cho biết tên trại mới. Mấy anh em phải chạy ngược chạy xuôi qua hết các Phân trại, chẳng nơi nào nhận đang “quản lý” anh Hưng. Sau cùng phải đến Ban chỉ huy Trại Tân Lập tại K5, mới xin được phép bốc hài cốt anh Hưng đem về cải táng. Vào đêm thứ Sáu, mồng 7 tháng 1 năm 1994, Bà Bích Huyền đã được Tổng Hội Ái hữu Chiến tranh Chính trị Quân lực Việt Nam Cộng hoà Hải ngoại tại Nam California, bảo trợ tổ chức Ra Mắt cuốn “Lối cũ chẳng sao quên” lần đầu tiên tại Vũ trường Ritz ở Quận Orange. Lúc đó Trung tá Nguyễn Ngọc Thông (còn sống) là Chủ tịch Tổng hội, Nhạc sĩ Nguyễn Hiền Phó Chủ tịch Nội vụ, và Tôi là Phó Chủ tịch Ngoại vụ. Nhân dịp tổ chức Dạ Vũ Ra Mắt sách này, Tôi đã cảm đề một bài Thơ tặng Bà Bích Huyền như sau:

DÒNG KỶ NIỆM ĐẸP

Bích Huyền “Lối cũ chẳng sao quên”,
Lẻ bóng duổi dong một chiếc thuyền.
Xã hội nhiễu nhương lòng sắt đá,
Tình đời trao đảo dạ trung kiên.
Chồng đền nợ nước gương anh dũng,
Vợ giữ gia phong tiếng nữ hiền.
Trí sáng khéo ghi dòng kỷ niệm,
Bút tài giỏi họa khúc chuân chiên.
Quận Cam, Nam Cali, 7-1-1994

Anh em Tù chết bệnh tại K1 thì nhiều, nhưng cấp bậc Đại tá chỉ có anh Phạm văn Sơn, tác giả cuốn “Việt Nam tranh đấu sử Cận đại”. Anh Sơn chết vì bệnh tiểu đường biến chứng. Trước 30-4-1975 anh Sơn là một trong những người có công lớn trong việc nghiên cứu, biên soạn, và ấn hành tập “Quân Sử Việt Nam Cộng hoà”, do Phòng 5 Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH chủ trương. Hiện nay thấy mấy tập Quân sử này được in lại và bầy bán tại các nhà sách trong Khu Little Saigon, Quận Cam, Nam California.
Sau đợt Trung Cộng tấn công các Tỉnh biên giới Bắc Việt vào năm 1978, rất nhiều Tù bị giam tại các vùng Sơn La, Lào Kay, được chuyển về K1. Nhờ thế Tôi có dịp gặp Trung úy Nguyễn Trung Hoà, bút hiệu Huy Vân, Chủ bút tờ Nhật báo Tiền Tuyến thời Tôi làm Chủ nhiệm trước 30-4-1975. Khoảng 1 tháng sau khi chúng tôi gặp nhau thì Huy Vân phải chuyển sang Phân trại khác cũng thuộc trại Tân Lập. Đến đầu năm 1979, Đội các Đại tá chúng tôi bị chuyển về K5, gặp Tù quen thuộc ngành Chiến tranh Chính trị cho biết, anh Huy Vân đã qua đời trong mùa Hè chết chóc kinh khủng vừa qua, vì bệnh không thuốc chữa.
NỖI LÒNG TÙ KHÔNG ÁN.Hùng Vương Quốc Tổ thấy không ?
Đồng bào cùng giống Tiên Rồng diệt nhau.
Vì không thần phục Nga Tầu,
Không theo Bác Đảng làm trâu kéo cầy.
Sa cơ bắt nhốt vào đây,
Hoà mình chịu nhục cùng bầy ác gian.
Đọa đầy cực khổ cơ hàn,
Sức mòn lực tận tiêu tan xác phàm.
Người vì Chính nghĩa chịu giam,
Bọn vô nhân đạo lên làm Chủ dân.
Giang sơn gấm vóc tiêu lần,
Nhân tài yêu nước chung thân ngục tù.
Đình, Chùa, Lăng, Miếu, Nhà Thờ,
Hoang tàn vì thuyết Tam Vô bạo tàn.
Nhân dân đói khổ lầm than,
Bởi bầy Cộng sản ác gian lọc lừa.
Nỡ nào Quốc Tổ làm ngơ,
Để cho lang sói dòng Hồ hại dân ?K1-Tân Lập -Vĩnh Phú, Mùa Đông 1978

 
 

Đà Lạt – Những Nỗi Nhớ Khôn Nguôi

Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Đà Lạt là cả một thiên đường của kỷ niệm, của hạnh phúc. Biết bao nhiêu người đã dàn trải nỗi lòng nhung nhớ về thành phố này thành những dòng hồi ký, những lời tình tự, những vần thơ lai láng, những âm thanh, điệu nhạc thánh thót, trữ tình hay những bức tranh vẽ, những tấm ảnh chụp rất nghệ thuật… Mỗi người một vẻ… Quả thật Đà Lạt mãi mãi in đậm nét trong lòng người, nhất là những người đang sống một cuộc đời xa xứ.

Một bài viết năm 1959 đã nói: “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” (Khánh Giang)  

Sau 1975 có người cũng từng dãi bày tâm sự: “Cái thành phố đó nếu bạn đến một lần là sẽ nhớ mãi. Ðến rồi không muốn rời đi. Ði rồi lại muốn trở lại. Nhưng đó là Ðà Lạt của 40 năm về trước, một Ðà Lạt hiền lành như ngô khoai, trong sạch đẹp đẽ thơm như hoa hồng nhung, ngọt ngào như chuối La Ba và thủy chung như những hàng thông.” (Khánh Ly)

Thương nhớ Đà Lạt vô vàn nhưng có người đã phải u buồn mà kết luận: “Trên con đường tìm kiếm hạnh phúc, một thứ hạnh phúc tương đối mà con người có thể mưu cầu được cho mình, phải chăng với người dân Đà Lạt ngày nay, Đà Lạt ngày xưa đã là một thiên đường đánh mất?” (Vi Khuê)

Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ, dàn trải cả trên đồi cao lẫn dưới lũng thấp. Chập chùng giữa núi xanh rừng thẳm. Lững lờ trên mặt suối trong hồ lặng. Cuồn cuộn theo thác gieo nước bạc. Thấp thoáng trong mưa giăng sương phủ. E ấp phủ khắp hoa đồng cỏ nội… Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống ở đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong một thời gian ngắn sẽ cảm nhận được rằng Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương sâu đậm và thiết tha… Tình với Đà Lạt Dấu Yêu bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời…

Nỗi nhớ khôn nguôi, kể sao cho hết. Chất chồng biết bao kỷ niệm thân thương. Càng xa Đà Lạt lâu thời nỗi nhớ nhung lại càng đậm đà… Hết nhớ người, nhớ cảnh lại nhớ đến tình… Tình với Đà Lạt mãi mãi chung thủy. Luôn luôn trọn vẹn. Hòa nhập cùng với tình người, tình thiên nhiên vạn vật, tình quê hương đất nước… Dù cho “vật đổi” nhưng lòng người chẳng dời thay! Dù biết rằng Đà Lạt chỉ như một “quán trọ” ta tạm dừng chân trong dòng đời! Mà nghĩ cho cùng thời có lẽ cả cõi trần gian này cũng chỉ là một “quán trọ” trong vòng sinh tử luân hồi đấy mà thôi! Nhưng dễ ai mà đã “thoát tục” để xả đi mọi tình cảm, quên được những dấu ấn sâu đậm Đà Lạt xưa đã ghi khắc trong lòng người!

Đà Lạt ơi! Dù ta không còn được sống trên mảnh đất Đà Lạt chăng nữa nhưng có một điều chắc chắn là Đà Lạt mãi mãi vẫn còn sống trong ta, trong trái tim bao người xa xứ!

 

Something more

Never Lose The Light – Đừng Để Mất Niềm Tin

Tết Quý Tỵ 2013 tại San Jose

Cựu Đại Tướng, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm cùng Tướng lãnh thăm 3 địa điểm tại San Jose

Nắng Tháng Tư Xưa

Cuối tháng Tư – trời hồng lên mầu nắng

Nắng rất hồng – mây trắng trời xanh

Đất nước tan hoang – cơn mộng dữ,  không lành

Bừng hoảng hốt – không gian nổi loạn

 

Trốn chạy quê hương, lòng dân ly tán

Chính quyền xưa giờ đã  nát tan rồi

Mây ngập ngừng, thời gian cũng ngừng trôi

Tim thắt lại, ngậm ngùi thương xứ sở

 

Đến xứ lạ, ngập ngừng chân bỡ ngỡ

Mấy chục năm rồi, thì cũng phải quen thôi

Ngôn ngữ người ta, ngập ngọng, rã rời

Nay phong thổ xứ người… không đến nỗi

 

Nhưng nhớ lại ngày xưa, lòng vẫn còn bối rối

Thấp thoáng điêu tàn, chìm trong ánh chiều rơi

Chiều rơi,  chua xót bùi ngùi

Hoàng hôn tím lại,  nhạt vưong nơi thềm vắng

 

Nắng xế nghiêng ngiêng,  thật tâm tĩnh lặng

Để tưởng nhớ về màu Nắng  tháng Tư xưa

Màu nắng ban trưa,  như thật như đùa

Ngoảnh mắt lại – ba muơi tám năm cách biệt.

                                     Tháng Tư 2013

                                      Nguyễn Thị Mắt Nâu

Ngày Cuối Tháng Tư

Cuộc đổi đời xảy ra không ngờ vào tháng tư năm bảy lăm đã làm tan tác bao gia đình.

19750430

Người ở lại phải đương đầu với hoàn cảnh đảo điên. Cuộc bể dâu đã làm thay đổi hoàn toàn đời sống của người dân Miền Nam. Điều quan trọng là chúng ta có chấp nhận cuộc đổi đời này hay không? Hay phải sống như loài tầm gửi cho qua tháng ngày đen tối?

Trí nhớ của tôi vẫn còn in hằn diễn biến vào buổi sáng ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm. Khi miền Nam được lệnh bỏ ngõ, bộ đội từ hướng Phú Lâm, Cầu Tre đã tuôn đổ trên con đường Trần Quốc Toản để hướng về Saigon. Người dân bàng hoàng uất nghẹn, đứng nhìn rướm lệ một khúc phim buồn … thật buồn!!!

Nhà tôi trên mặt lộ con đường Trần Quốc Toản. Tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh đau lòng này. Vì chính tôi không thể nào tin vào tầm mắt của mình đến nỗi cơn lạnh đã quấn chặt thân người. Tôi tự hỏi:“ việt cộng là đây sao?”

Khoảnh khắc này tôi vẫn nhớ cho đến hôm nay mặc dù trong lòng tôi không muốn nhớ đến ngày đen tối nhất của miền Nam tàn lụi trong oan ức. Ngày tàn của cuộc chiến, của những người lính VNCH oai hùng, dũng cảm diệt cộng là đây sao?

Không!

Đối với tôi, người lính VNCH vẫn mãi là người lính có chí khí hào hùng với lòng kiên cường chiến đấu bảo vệ miền Nam Việt Nam được Tự Do. Các vị tướng anh dũng đã phải tự hủy mình vì đã trung thành với Tổ Quốc”. Biết bao người  lính đã chiến đấu đến hơi thở sau cùng và âm thầm nằm xuống cho quê hương.

Theo tôi, ngày ba mươi tháng tư bảy lăm là ngày mở rộng cánh cửa khung trời Tự Do, giúp cho người dân miền Bắc hít thở được tia nắng ấm của miền Nam và tận mắt nhìn thấy được sự thật. Sự thật đó là đời sống trù phú, sung túc của người dân miền Nam.

Ngay vào thời điểm này, chúng ta đều thấy rõ “Người dân miền Bắc hầu như đã chiếm đóng hết thành phố Saigon”. Đây là câu trả lời xác thực nhất: “ Có phải chăng Saigon là vùng đất lành nên những đàn chim đói khổ từ miền Bắc bay vào tranh dành bến đậu để được an thân?“

Miền Nam Việt Nam và thành phố Sàigon đã là vùng trời an lành Tự Do thì đâu cần bất kỳ ai phải vào “giải phóng“.

Nếu hai chữ “giải phóng“ mang lại ấm no, hạnh phúc thì tại sao hàng vạn vạn người dân Miền Nam đã liều mình sống chết băng rừng vượt biên giới và lênh đênh trên những chiếc ghe mong manh vượt biển để đi tìm hai chữ Tự Do?

Bạch Liên

Kỷ Niệm 30 tháng 4 – Nhớ Chuyện 75 Di Tản Buồn

08_1_C~1
Nhà văn Chu Tử ra đi năm 1975 vào những giờ cuối của VNCH, và những ngày Tháng Tư nghiệt ngã ấy, tàu tôi đi bị mắc cạn tại đoạn gần ngã ba sông Nhà Bè, mà một hướng nước chảy về Cát Lái, một ngã nước xuôi dòng ra sông Lòng Tảo, nhưng rồi được tàu bạn cứu bồ kéo ra để đi tiếp, mặc dù súng của địch quân bắn xa xa nghe vọng trên đường chúng tiến quân đánh chiếm Sài gòn. Cũng trên con sông Lòng Tảo ấy, nhà văn HQ Lê Bá Thông kể chuyện di tản xưa về Chuyến Hải Trình Định Mệnh:

http://thuvien.maivoo.com/Hoi-Ky-Tuy-But-c21/Chuyen-Hai-Trinh-Dinh-Menh-d2587
Trên đường di tản, nhà văn Chu Tử chẳng may lâm nạn và đã qua đời, xin quý ACE xem bài viết của hai nhà văn Hoàng Hải Thủy và Viên Linh kể chuyện về Chu Tử…

Nhà văn Chu Tử chết và sống, Hoàng Hải Thủy: http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/30/chu-tu-chet-va-song/

ChuTuVuHoi-01
Nhà văn Chu Tử (trái), họa sĩ Vũ Hối (phải), 1967

Viên Linh ghi nhận:

Trong giới văn nghệ sĩ, 30 Tháng Tư mở đầu bằng một cái tang, cái tang đúng ngày 30 Tháng Tư: đó là cái chết của nhà văn Chu Tử. Ðúng 58 năm trước, anh ra đời cũng vào Tháng Tư, ngày 17.

Nhà văn Chu Tử (17.4.1917-30.4.1975).

Vào ngày 16 Tháng Tư 1966, nhà văn Chu Tử bị ám sát bằng 4 viên đạn xuyên qua cổ, răng, miệng, nhưng đã không chết, có thể vì đối với ông, đạn súng lục quá nhỏ. Chín năm sau, 30 Tháng Tư 1975, ông chết vì một viên đạn lớn hơn, một viên B40 từ bờ bắn lên tàu Việt Nam Thương Tín, khi con tàu này đang từ sông Lòng Tảo, Vũng Tàu, chạy ra khơi.

vietnam_thuongtin
Tàu Việt Nam Thương Tín

Nhiều thế lực ở đằng sau mũi súng không thích những Sự Thật do Chu Tử viết ra trên báo Sống hay các báo do ông chủ trương. Ở lần ông bị bắn năm 1966, chúng tôi đã viết một bài ngắn đăng trên Tuần báo Nghệ Thuật mà sau này được ông trích đăng lại trong cuốn Không Hận Thù, như sau: “Ðối với bản thân tác giả Yêu, hẳn nhiên những sự đưa đến cái chết, và chính cái chết là một vấn đề Sống. Sống theo quan niệm của một người trí thức hành động. Người trí thức hành động Chu Tử đã đối đầu với những vấn đề nguy hiểm, nhưng đó là những vấn đề ông có thể kiểm soát nổi. Nếu ông tin rằng người ta không thể giết ông vì những điều ấy, thì niềm-tin-chu-tử không phải niềm tin của một tâm hồn thơ ngây, nhưng là của một tâm hồn tràn trề hy vọng ở một cuộc sống tốt đẹp, cuộc sống ao ước. Ao ước và hy vọng dĩ nhiên lại là những gì mà chúng ta không có cách kiểm soát được…” (1)

Nhà văn Chu Tử có tên khai sinh là Chu Văn Bình, ra đời ngày 17 Tháng Tư năm 1917 tại làng Mía, Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam. Theo lời tự thuật của ông, vì bạn bè trong lớp sỉ nhục, sau khi đậu tiểu học, ông chỉ mất có ba năm thì thi đậu tú tài. Mất thêm mấy năm nữa, ông học Luật tới năm thứ ba, rồi nghỉ một thời gian, không rõ vì sao. Sau nghe ông đậu cử nhân Luật và trở thành một trong vài người đậu cử nhân hồi những năm cuối thập niên ba mươi, đầu thập niên bốn mươi tại tỉnh Sơn Tây. Tham gia sinh hoạt đấu tranh từ nhỏ, trong khi còn học lớp nhất trường Hưng Hóa, Chu Tử, vào đêm nổi dậy của Việt Nam Quốc Dân Ðảng năm 1930, đã theo đàn anh Nguyễn Khắc Nhu, biệt danh Xứ Nhu, phó đảng trưởng, đi hạ đồn Hưng Hóa. Thất bại, bơi qua sông trên đường rút lui, tới được bờ thì quá mệt, và quá vui, nhà cách mạng 13 tuổi ngủ một giấc, và từ đó mất liên lạc với Xứ Nhu. Ông bị tù thời Pháp, sau đó còn bị tù thời Nhật, thời Ngô Ðình Diệm, như ông viết. Tuy vậy thời Việt Minh, ông có lần ngồi xử án một vài phiên tòa địa phương.

Hồi thanh niên Chu Tử mở trường dạy học, học trò rất đông. Nhưng lòng ông không ở đó. Ông dừng lại ở văn chương, ở báo chí, văn, ông đã cho xuất bản một loạt các truyện dài mà nhan đề chỉ có một chữ: Yêu (Ðường Sáng, Saigon, 1963, tái bản 3 lần trong một năm), Sống, tức Loạn I (Ðường Sáng, 1963), Loạn (Ðông Bắc, 1964). Cuốn nào cũng là truyện dài, và truyện nào cũng đăng báo trước khi in thành sách. Thường là đăng báo của ông, như tờ Sống, hay báo do ông chủ trương, như Dân Việt, Ðời, Sóng Thần, vì với ngòi bút công phá tàn khốc, Chu Tử không còn được phép đứng tên làm chủ nhiệm một tờ báo nào nữa, sau tờ Sống.

Trong sinh hoạt báo chí, tôi ít có dịp làm việc với Chu Tử, trừ một thời gian ngắn phụ trách phần điện ảnh cho báo Sống của anh, và thời gian viết truyện dài Gió Thấp cho báo Sóng Thần do anh chủ trương. Tờ báo sau cũng gây nhiều sóng gió, và là mục tiêu của một cuộc xung đột nghề nghiệp, hay xung đột chủ trương, đến mức tàn khốc. Một trong những chuyện xảy ra, làm rung chuyển giới truyền thông lúc ấy, là vụ bắn bỏ Vân Sơn Phan Mỹ Trúc, chủ nhiệm tờ Ðông Phương. Lúc ấy tôi cũng đang viết một truyện dài cho Ðông Phương. Hai tờ báo ở cùng một con đường Võ Tánh, tờ bên số lẻ, tờ bên số chẵn, đi bộ chỉ vài phút. Hai tờ báo ấy lại đang bút chiến với nhau. Ðến Ðông Phương ngồi viết xong đoạn truyện đủ in cho báo ngày hôm sau, tôi đi qua Sóng Thần ngồi làm việc tương tự, ở cái bàn ngay cửa phòng sắp chữ. Bao giờ tôi cũng lại Sóng Thần sau, vì thích cà kê ở đây lâu hơn. Ở quãng giữa hai tờ báo là phở Hà Nội, nơi các ký giả gặp nhau, cũng là nơi tôi ghé vào bảo họ lát nữa mang lên Sóng Thần cho tôi một chai bia Larue có hình trái dứa và một ly đá. Lùi về phía sau là nhà thờ Huyện Sĩ, nơi có một quán cà phê bí tất, chéo góc với quán xôi lạp xưởng của mấy mẹ con một bà người Bắc.

Một hôm đang ngồi ăn nhậu trong quán cà phê bí tất với bạn bè, Vân Sơn Phan Mỹ Trúc bị dí súng vào đầu. Một tiếng nổ. Kẻ lạ mặt, do đồng bọn chở bằng Honda hai bánh từ ngoài bước vào, giữa ban ngày, rút súng xử tử chủ nhiệm Ðông Phương, rồi rảo cẳng đi ra, leo lên sau xe Honda, mất dạng. Cái tin gây lặng ngắt trong chỗ tôi ngồi uống bia. Tôi không đi đưa đám Vân Sơn, nhìn vành khăn trắng trên đầu một phụ nữ não nùng, tôi thù ghét tên mặt tái. Theo mô tả, đó là kẻ sát nhân. Tôi nghĩ tôi đã gặp y nhiều lần. (2)

Trong không khí đó, những cuộc xung đột trong làng báo không còn là những bài báo xuông nữa. Ngay trong nội bộ cũng gay cấn. Anh Chu Tử, tuy là người đứng chủ trương nhật báo Sóng Thần, nhưng lại không thoải mái khi tới tòa soạn. Rồi chẳng bao giờ anh tới nữa, nằm nhà lãnh lương, rút xì phé. Có khi chỉ có ba người, chúng tôi cũng vẫn rút, cho anh đỡ buồn. Nhất là khi trong ba người lại có một anh Việt Cộng hồi chánh như Kim Nhật – tác giả cuốn Cục R – cò gỗ mổ cò thật như hôm đó, thì chán biết nhường nào? Anh nhắc tôi kể chuyện phim ráng viết cho dài, như một cái truyện ngắn, vì tôi thường viết ngắn, chủ trương đủ ăn thì thôi, hôm nay đong gạo hôm nay, chuyện mai mai tính. Một hôm anh bảo tôi, khi tôi đã leo lên cái xe Lambretta định đi. “Này cái chuyện phim hôm rồi cậu viết dài hơn nửa trang như thế là được, tuy nhiên cậu lại không viết nhan đề. Tôi thấy tên phim là La Chevauchée, tôi đặt là Ðoàn Kỵ Mã đấy. Ðược không?” Dĩ nhiên là được. Chị Gilberte Nguyễn Văn Lợi, chủ hãng phim Columbia tại Sài Gòn đưa cho tôi tờ Ciné-Revue, trong có thuật chuyện phim này, sắp chiếu ở Eden hay Ðại Nam gì đó, tôi phải chuyển ra Việt ngữ, tôi đã xem phim đó đâu mà nói được hay không được. Tôi cũng chẳng nhớ nội dung câu chuyện như thế nào, vì tài tử cưỡi ngựa bắn súng cỡ Randolphe Scott là tài tử tôi chỉ xem qua một lần rồi bỏ.

Nhà văn Chu Tử lìa đời trên sông Lòng Tảo, trên thuyền Việt Nam Thương Tín. Hôm đó là ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Khi chiếc thương thuyền đang hướng ra hải phận quốc tế thì bị trúng một trái đạn pháo từ trong bờ bắn ra. Trong mấy ngàn người, Chỉ có Chu Tử thiệt mạng. Cháu Chu Sơn, con trai anh, mà cũng là phóng viên trang 3 của chúng tôi trong tờ nhật báo Tiền Tuyến, đứng bên bố nhưng không nguy hại gì. Theo Trung Tá Phạm Hậu kể lại: “Có tiếng pháo kích từ bên bờ sông mé phải bắn qua. Ðạn đại bác của xe tăng hay đạn B40, B41 quái quỉ gì đó… rơi lõm bõm trên sông. Một viên đạn bay qua đầu chúng tôi, rơi trúng vào chiếc tầu to lớn – tầu Việt Nam Thương Tín chở hàng hóa và hành khách dân sự – đang vùn vụt chạy rất nhanh ở phía trái chúng tôi. Khói bốc lên nghi ngút trong chốc lát. Sau mới biết chính quả đạn này đã sát hại nhà văn Chu Tử…” (3)

Theo cháu Chu Sơn kể lại với tôi, thi hài Chu Tử được bó vải, thả xuống Thái Bình Dương ngày hôm sau. Anh là thuyền nhân đầu tiên được thủy táng. Anh là nhà văn lưu vong đầu tiên vẫn trong hải phận quê hương. Và như thế, có bao giờ anh rời xa Ðất Nước? Từ lúc viết văn đến khi từ trần, anh hoàn tất ý niệm ban đầu của một người cầm bút, mấy ai có thể làm được như anh?

Tháng 4, 1997 (Trong Chiêu Niệm Văn Chương, chưa in)

Chú thích:
1. Viên Linh, nhà văn Chu Tử, vấn đề sống, Tuần báo Nghệ Thuật, số 28, tháng 4, 1966, trang 5.
2. Duyên Anh viết rất rõ về vụ ám hại này trong hồi ký của ông, đã xuất bản.
3. Phạm Hậu, 30.4.75, Từ sông Lòng Tảo tới Subic Bay, (theo Khởi Hành số 42, 4.2000, trang 9.

Viên Linh

Lễ Giỗ Quân Dân Cán Chính Nhân Ngày Quốc Hận

Tháng Tư Đen và Ngày Quốc Hận

10 lợi ích của trái bơ

Sức khoẻ

Có những lợi ích từ trái bơ mà không phải ai cũng biết. Dưới đây là 10 lợi ích về sức khỏe mà trái bơ có thể mang lại cho bạn nếu dùng nó mỗi ngày…

10 LỢI ÍCH CỦA TRÁI BƠ

1. Chống ung thư thận
Các nhà nghiên cứu ở Mỹ đã chứng minh rằng, trong trái bơ có chứa một số chất giúp chống ung thư như trong một số trái cây rau quả khác.

2. Tăng khả năng chống ung thư miệng
Một số hợp chất có trong trái bơ có thể phát hiện những tế bào có khả năng ung thư hoặc gây ung thư miệng và tiêu diệt chúng mà không gây hại đến những tế bào khỏe mạnh.

3. Chống ung thư vú
Giống như dầu ô liu, bơ có chứa lượng acid oleic khá cao. Đây là loại acid giúp ngăn ngừa ung thư vú.

4. Tốt cho mắt
Trong bơ có chứa lượng lutein carotene cao hơn bất cứ loại trái cây nào khác. Chất này giúp chống sự thoái hóa thành các vết đen, bệnh đục nhân mắt và một số bệnh về mắt liên quan đến tuổi thọ.

5. Giảm cholesterol
Bơ có chứa rất nhiều beta-sitosterol, là một hợp chất làm giảm tỉ lệ cholesterol. Một nghiên cứu tiến hành trên 45 người đã cho thấy ăn một trái mỗi ngày sẽ giúp giảm tỉ lệ chất béo xuống khoảng 17% chỉ trong vòng một tuần.

6. Giúp tim khỏe mạnh
Một ly bơ có chứa 23% folate, chất đã được chứng minh có tác dụng giảm nguy cơ do bệnh tim gây ra so với những người không ăn. Vitamin E và glutathione có trong bơ cũng rất tốt cho tim của bạn.

7. Chống đột quỵ
Tỉ lệ folate cao trong bơ giúp giảm thiểu tối đa các cơn đột quỵ.

8. Hấp thụ chất dinh dưỡng tốt hơn
Một nghiên cứu cho thấy những người ăn salad kèm với bơ sẽ hấp thụ lượng caroteroid (bao gồm lycopene và carotene) gấp 5 lần so với việc ăn salad không.

9. Glutathione
Bơ chứa rất nhiều glutathione – chất chống oxy hóa rất quan trọng trong quá trình ngăn chặn sự lão hóa, ung thư và bệnh tim.

10. Vitamin E
Bơ là nguồn cung cấp vitamin E tốt nhất cho cơ thể. Vitamin này giúp ngăn ngừa bệnh tật và duy trì một cơ thể khỏe mạnh.

NHỮNG DIỆU KỲ CỦA TRÁI BƠ
Hầu hết người Việt chỉ biết sử dụng bơ vào việc làm sinh tố, chưa thực sự biết về giá trị dinh dưỡng tuyệt vời cũng như cách sử dụng rất phong phú của trái bơ.

Trên thế giới, tại các nước như Mỹ, Mexico, Úc… trái bơ được đánh giá cao và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như ăn tươi, chế biến nhiều món ăn ngon, tinh chiết dầu ăn và đặc biệt bơ được sử dụng rất nhiều trong mỹ phẩm cho việc chăm sóc sắc đẹp.

GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG
Trái bơ có chứa hơn 14 loại vitamin và khoáng chất bao gồm canxi, sắt, đồng, magiê, phốtpho, kali, natri, kẽm mangan và selen.

Trái bơ cũng rất giàu chất chống oxy hoá, có tác dụng ngăn ngừa hình thành các gốc tự do dẫn đến gây ung thư, đục thuỷ tinh thể, lão hóa da, giúp duy trì làn da săn chắc.

Trái bơ còn là nguồn folate rất quan trọng đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh nở và đặc biệt quan trọng đối với thai kỳ ở những tuần đầu tiên vì 75% trẻ sơ sinh bị nứt đốt sống là do thiếu folate từ trong bụng mẹ.

Là một trong rất ít loại trái không có cholesterol, mà lại có chứa chất béo đơn không bảo hòa, đây là loại chất béo tốt cho cơ thể giúp làm giảm lượng cholesterol trong máu.

Trái bơ có chứa lượng protein cao nhất so với các loại hoa quả khác, cao gần như tương đương với sữa.

Ngoài ra, bơ còn có lượng muối thấp, chất xơ cao, có lượng lutein cao, có chất carotenoid tự nhiên giúp mắt sáng và duy trì một làn da đẹp.

GIÁ TRỊ VỚI SẮC ĐẸP
Trái bơ được sử dụng vào việc chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe nhờ giàu vitamin A, E, D cùng với các khoáng chất kali, phốtpho, lưu huỳnh và clo, trong đó:

– Vitamin E có tác dụng bảo vệ các axit béo chống lại sự ôxy hóa, nhờ vậy làm chậm quá trình lão hóa của tế bào giúp làn da tươi trẻ và săn chắc.

– Vitamin A có tác dụng lột bỏ lớp da chết, thúc đẩy việc sản xuất chất collagen.

– Vitamin D giúp duy trì hàm lượng calci trong máu nhờ đó xương và răng chắc khỏe.

– Kali và phosphor có tác dụng làm đẹp da, tóc và giúp phát triển cơ thể.

– Dầu trái bơ có rất nhiều giá trị trong việc tái tạo và giữ ẩm cho làn da. Dầu bơ bảo vệ làn da không bị khô và tăng khả năng đàn hồi của da.

NGUỒN DINH DƯỠNG PHONG PHÚ CHO TRẺ EM
Trái bơ rất dễ chế biến làm thức ăn cho trẻ nhỏ, với trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên, thì chỉ cần nghiền nhỏ phần thịt của trái bơ, còn trẻ em lớn hơn thì có thể cắt thành từng miếng cho bé cắn.

Trái bơ rất có lợi cho sức khỏe của trẻ em, vì trong quả bơ có chứa protein, vitamin A, E, C cao. Protein là một thành phần dinh dưỡng quan trọng đối với sự phát triễn của trẻ em và đặc biệt là trẻ sơ sinh. Ngoài ra các chống ôxy hoá tác dụng bảo vệ các tế bào não, còn vitamin B tổng hợp trong Trái bơ có tác dụng tăng cường trí nhớ. Vì thế quả bơ là một nguồn dinh dưỡng hoàn hảo cho sự phát triễn trí não của trẻ em.

GIÁ TRỊ BẤT NGỜ ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG
Trồng bơ mang lại nhiều lợi ích cho môi trường sống:

– Cây bơ không chỉ có tác dụng làm bóng mát mà còn giúp làm giảm nhiệt độ không khí do việc thoát hơi nước từ lá.

– Cây bơ còn là nguồn cung cấp oxy đáng kể và giúp cho không khí có sự trong lành tươi mát. Vì theo các nghiên cứu cho thấy cứ 1 cây bơ sản xuất gần 118kg oxy mỗi năm và cứ 1 ha vườn bơ trong 1 năm có thể giúp loại thải được 6,4 tấn CO2.

Vườn bơ còn có thể làm giảm sức chảy và lọc nước mưa nhờ đó làm giảm nguy cơ lụt lội, nâng cao khối lượng và chất lượng nước. Rễ cây Bơ còn giúp chống lại sự xói mòn của đất..

Ngọc Thanh

TRÁI BƠ RẤT TỐT CHO SỨC KHOẺ
Ngoài ra, trái bơ còn là một loại thực phẩm có thể chữa trị những biểu hiện của bệnh tim có liên quan đến mức cholesterol.

Một thời gian dài trước đây, nhiều người đã được khuyến cáo là không nên ăn bơ vì nó giàu chất béo và chứa nhiều calorie. Trong khi, theo các chuyên gia dinh dưỡng, lượng chất béo cao chứa trong trái bơ là chất béo không bão hòa dạng đơn thể (monounsaturated fat) rất có ích trong việc cải thiện sức khỏe. Cụ thể, khi dùng bơ thường xuyên sẽ mang lại cho bạn những lợi ích sau:

LỢI ÍCH VỀ DINH DƯỠNG

Các loại acid béo không bão hòa dạng đơn thể trong trái bơ giúp kiểm soát quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Ngoài những loại acid béo có ích, trái bơ còn chứa hàm lượng kali cao. Bên cạnh đó, nó chứa các loại vi dưỡng chất quan trọng khác như sắt, đồng, magiê và phốt pho. Trái bơ còn có nhiều loại vitamine như vitamine A, nhóm vitamine B, axít folic, vitamine C, vitamine E và can-xi. Trái bơ còn là nguồn giàu chất xơ, ít chất đường và tinh bột, là loại thực phẩm lý tưởng cho các bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường.

LỢI ÍCH VỀ SỨC KHOẺ

– Giúp điều chỉnh huyết áp: Với hàm lượng cao axít folic và kali có trong trái bơ sẽ giúp điều chỉnh huyết áp và chống đột quỵ, cũng như ngăn ngừa những vấn đề về tim và các bệnh liên quan đến hệ tuần hoàn.

– Giảm cholesterol gây hại: Thành phần axít oleic và linoleic chứa trong trái bơ có tác dụng làm giảm mức cholesterol xấu (LDL) và gia tăng lượng cholesterol có ích cho cơ thể.

– Trị loét bao tử: bơ giúp làm dịu phần bề ngoài nhạy cảm, niêm mạc của bao tử và tá tràng, do vậy sẽ có tác dụng điều trị hiệu quả các vết loét.

– Tăng cường hệ miễn dịch: Việc dùng bơ thường xuyên có tác dụng duy trì tình trạng khỏe khoắn và tăng cường hệ miễn dịch.

– Cải thiện khả năng thị giác: Các chất antioxidants chứa trong trái bơ giúp trung hòa các gốc tự do, cải thiện thị giác và phòng tránh các bệnh về mắt, như bệnh loạn thị, bệnh tăng nhãn áp và bệnh đục thủy tinh thể.

– Giúp hơi thở thơm tho: Các thành phần trong trái bơ có tác dụng tẩy trừ các chất cặn bã đã bị phân hủy trong đường ruột.

– Ngăn ngừa sạn thận: Chất kali chứa nhiều trong trái bơ giúp làm giảm lượng can-xi bài tiết qua đường nước tiểu, nhờ thế sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh sạn thận..

– Giúp thai nhi phát triển: Thành phần axít folic trong trái bơ đóng vai trò có ích và quan trọng cho quá trình phát triển các mô mạnh khỏe của bào thai.

– Ngăn ngừa tình trạng nôn mửa ở thai phụ: Vitamin B6 có trong trái bơ có thể giúp làm dịu cảm giác buồn nôn và khó chịu ở bao tử của chị em trong suốt thời gian thai nghén.

– Phòng tránh ung thư tuyến tiền liệt: Chất phytonutrient có trong trái bơ có tác dụng ngăn ngừa quá trình phát triển của các tế bào ung thư ở tuyến tiền liệt.

– Tăng cường độ khỏe khoắn của hệ thần kinh và cơ bắp: Lượng kali chứa trong trái bơ giúp cân bằng các chất điện phân, giúp các cơ bắp hoạt động hiệu quả, đồng thời còn giúp tăng cường năng lượng cho hệ thần kinh và quá trình trao đổi chất trong cơ thể.

– Ngăn ngừa bệnh vẩy nến: Theo các chuyên gia, chất dầu có trong trái bơ rất có ích trong việc điều trị các chứng bệnh về da như bệnh vẩy nến và chứng khô da.

Theo Phụ nữ/Suite 101

SINH TỐ BƠ
Không chỉ có trái bơ không xay ra, mình còn cho thêm vài loại trái cây và hương vị khác để món sinh tố thêm hấp dẫn, uống hoài không chán.

Nguyên liệu:

1 quả bơ chín mềm

½ quả chuối

1 quả kiwi

1 hộp sữa chua trắng

1 -2 thìa đường syrup hoặc đường kính trắng

3 viên đá

Cách làm:

Bơ tách làm đôi bỏ hột, nạo lấy phần thịt. Chuối bóc bỏ, cắt miếng nhỏ, kiwi gọt bỏ vỏ và lõi.

Cho bơ, chuối, kiwi, đường, sữa chua, đá vào máy xay sinh tố, nhấn nút xay trong 30 giây đến khi thành hỗn hợp sánh màu xanh dịu nhẹ.

Đổ sinh tố ra ly, uống liền.

Nếu không thích cho đá, sợ loãng sinh tố thì bạn có thể để các loại hoa quả và sữa chua vào tủ ướp lạnh trước, sau đó mới xay.

BƠ TRỘN SALAD

Vật liệu

Thông thường, người Việt Nam ăn trái bơ (Avocado hoặc Avocat) như là một món tráng miệng bằng cách xay nhuyễn với đường, đá viên và chút sữa. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể chế biến để ăn trái bơ như là một món salad khai vị.

Cho 4 người ăn

– Trái Bơ 0,3 kg (chọn loại bơ chưa chín kỹ, còn hơi rắn).

– Trứng gà 3 quả

– Dầu ăn 2 muỗng canh (khoảng 20 ml)

– Dấm 1 thià canh (10 ml)

– Bột canh 1 thià nhỏ

– Tỏi, hạt tiêu, rau bạc hà, 1 trái cà chua (để làm hoa trang trí).

Cách làm
Luộc trứng chín, làm nguội và cắt trứng làm đôi, khía hình răng cưa cho đẹp.

Trộn bột canh với dấm, đánh cho đến khi tan thì cho tiếp dầu ăn vào, đánh tiếp 1 phút cho dung dịch hoà tan rồi cho hạt tiêu vào.

Cắt sẵn vỏ quả cà chua và uốn thành một bông hồng, thịt quả xắt thành lát dày 1cm. Là bạc hà xắt lát mỏng, cho vào trong hỗn hợp dầu dấm.

Gọt vỏ quả bơ, sau đó bổ làm 2 , bỏ hạt rồi thái lát (theo chiều ngang quả) dày khoảng 1cm.

Bày các lát bơ vào đĩa to, xen kẽ với trứng và cà chua trang trí thêm bằng lá bạc hà, sau đó rưới đều dầu dấm lên trên, để khoảng 10 phút thì dùng được.

Món salade quả bơ ăn rất mát và bùi, ngon miệng, nhất là trong dịp hè.

Bánh mì Bơ rau quả
Đây là món ăn phù hợp cả với những người diet, vừa đủ chất lại tốt cho sức khỏe. Bạn cũng có thể làm món này vào buổi sáng cho cả nhà, vừa nhanh gọn lại ngon miệng và cung cấp đủ năng lượng… Thực đơn sau dành cho 2 người ăn…

Nguyên liệu:

-1 chén cà chua bỏ hột, xắt nhỏ
-1/4 chén dưa leo gọt vỏ, xắt nhỏ
-2 muỗng rau húng quế thái nhỏ
-1 muỗng giấm vàng (loại giấm có vị chua nhẹ, hơi ngọt)
-1/8 muỗng muối
-1/8 muỗng tiêu đen nguyên hạt
-16 miếng bánh mì thái khoanh (loại bánh mì dài kiểu Pháp)
-1 củ tỏi bóc vỏ, đập dập
-1/4 chén bơ mềm, dầu ôliu.

Cách làm:
Cho cà chua, dầu ôliu, rau húng quế, giấm, tiêu đen trong một chiếc tô lớn, trộn đều cho thấm gia vị. Đặt bánh mì vào trong các miếng giấy nướng cho vào lò nướng ở nhiệt độ 400 độ F trong vòng khoảng 8 phút hoặc cho đến khi miếng bánh hơi vàng và giòn. Lấy bánh mì ra khỏi lò, để 2 phút cho nguội bớt. Nếu không có lò viba, bạn có thể nướng bánh mì trên chảo, chú ý để lửa nhỏ và lật đều tay sao cho miếng bánh không bị cháy.

Phết tỏi lên hai mặt của từng miếng bánh. Quết một lớp bơ mỏng lên một mặt bánh, sau đó xúc hỗn hợp rau quả rải lên trên.

Món khai vị ngon từ trái Bơ

Bơ và salad cà chua

Thành phần:

– 2 quả bơ

– 6 trái cà chua chín

– Nước ép từ 1 trái chanh

– 2 muỗng canh dầu Oliu

– 1 muỗng canh mật ong

– 1 tép tỏi băm nhỏ

– Bột ớt để tạo vị

– Muối và tiêu

– 2 muỗng canh quả phỉ cắt nhỏ

Cách làm:

1. Cắt bơ và cà chua thành miếng nhỏ. Cho vào tô và đặt sang một bên.

2. Trong tô khác, trộn dầu ô liu, nước cốt chanh, mật ong, tỏi và ớt. Đổ vào salad bơ và cà chua. Nêm nếm với muối và hạt tiêu và rắc quả phỉ lên phía trên. Dùng ngay.

Trái bơ và sushi cá hồiThành phần:

– 250g gạo nấu sushi của Nhật

– 3 muỗng canh dấm gạo

– 1 trái bơ trung, thái lát mỏng theo chiều dọc.

– 3 muỗng canh bột wasabi.

– 1/4 pound cá hồi làm sushi

– 1/4 pound dưa chuột, lột vỏ, xắt lát mỏng

– Nước tương để chấm

– Gừng ngâm thái mỏng

– 1 tấm cuốn sushi

– 1 tấm nhựa bọc, cắt theo chiều rộng của tấm sushi

Cách làm:

1. Vo sạch gạo vài lần, cho đến khi nước gần như là trong. Để ráo nước.

2. Cho gạo và 1 ¼ chén nước vào nồi. Đun sôi, giảm nhiệt để hơi sôi thấp và đậy nắp kín trong 10 đến 12 phút. Bắt nồi sang một bên, để yên gạo trong 10 phút. Sau đó, khuấy gạo với giấm.

3. Đặt một nửa cọng bơ vào bọc nhựa từ trái sang phải. Đặt qua một bên. Trải cơm đã nguội vào tấm cuốn sushi, dày vừa phải. Pha loãng 1 muỗng canh bột wasabi trong 1 muỗng canh nước, trải đều trên gạo. Xếp lớp cá hồi, dưa chuột và bơ còn lại ngang qua phần cơm. Cuộn tấm cuốn lại và nhấn nhẹ nhàng. Gỡ ra và sau đó lăn qua bơ trên bọc nhựa. Nhẹ nhàng bỏ lớp bọc và ấn bơ vào cuộn.

4. Bằng một con dao lưỡi mỏng, cắt cuộn sushi thành 8 miếng vừa miệng. Ăn với nước tương, gừng và wasabi.

Đơn Tố Cáo Cộng Sản của Lm. Tadeo Nguyễn Văn Lý

Hồn thiêng sông núi anh linh đang réo gọi:
Không ai có quyền đem một giải giang sơn
Từ Ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau,
Dâng hiến cho kẻ thù ngàn năm phương bắc
.

Kính thưa toàn thể người dân nước Việt,

Bánh xe lịch sử đang vần xoay, non sông đang chuyển mình…

Hỡi những ai đang còn những tâm tư, trăn trở về quê hương đất nước. Chúng ta cần góp một bàn tay để cứu lấy giang sơn không có TỰ DO, không có DÂN CHỦ, và không có NHÂN QUYỀN thoát khỏi ách nô lệ, thoát khỏi sự nhu nhược của nhà cầm quyền Cộng Sản độc ác đang là tay sai cho ngoại bang-Tàu Cộng.

Hỡi những ai còn chảy trong tim dòng máu đỏ Lạc Hồng,

Nào những tấm lòng thành hãy xích lại gần nhau, xoá bỏ biên giới lòng người, vượt lên mọi tị hiềm, đồng tâm hướng về đất nước Việt Nam oai linh muôn thưở. Hãy cùng hợp sức lại với nhau, hãy góp 1 bàn tay, hãy thét vang lên 1 tiếng nói chung để cứu lấy non sông.

Tổ Hùng Vương ơi! Nước non gầy dựng
Cháu chắt vạn đời gìn giữ với máu xương,
Những tưởng giang sơn nguyên vẹn vững bền,
Ngờ đâu tặc tử đem lòng dâng cho giặc…

Hãy tích cực và can đảm hành động chung: đồng ký tên vào đơn kiện này để kiện những bị cáo cộng sản Việt Nam đã có những hành vi phạm pháp và vi hiến: phản Quốc và bán Nước… Trước Anh Linh hồn thiêng Sông Núi, chúng con thề nguyền quyết tiếp nối thành công con đường dựng nước và giữ nước của Tổ Tiên. Xin các Đấng phù hộ cho chúng con.

Tim Diên Hồng thôi thúc,
Lửa Yên Bái sục sôi,
Trống Mê Linh réo gọi,
Phải lên đường đi thôi…

 

Việt Nam, ngày 21 tháng 12 năm 2010

Đơn Tố Cáo Và Yêu Cầu Truy Tố Đảng cộng sản Việt Nam về 2 tội: PHẢN QUỐC và BÁN NƯỚC

Kính gửi: Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trương Hòa Bình,48 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Đồng kính gửi:

– Ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường,
– Ông Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh,
– Ông Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao Trần Quốc Vượng,
– Bà Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội khóa XII Lê Thị Thu Ba,
– Đồng bào Việt Nam quốc nội và hải ngoại,
– Các Tổ chức, Hội đoàn và Đảng phái Việt Nam quốc nội và hải ngoại,
– Các Cơ quan Truyền thông và Báo chí Việt Nam.
– Các Tổ chức quốc tế và các Cơ quan Truyền thông quốc tế.

I – Nguyên cáo và những người cùng đứng đơn kiện: Nguyễn Văn Lý, Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận Huế,69 Phan Đình Phùng, Huế.

Những người Việt quốc nội và hải ngoại cùng đứng đơn kiện:

– Chân Tín, Linh mục Công giáo Dòng Chúa Cứu Thế, 38 Kỳ Đồng, Sài Gòn.
– Lê Văn Cao, Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận Huế, 69 Phan Đình Phùng, Huế.
– Hồ Văn Quý,  Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận Huế, Quản xứ Diên Sanh, Quảng Trị.
– Nguyễn Hữu Giải, Linh mục Công giáo TGP Huế, Quản xứ An Bằng, Thừa Thiên-Huế.
– Phan Văn Lợi, Linh mục Công giáo Giáo phận Bắc Ninh, 16/46 Trần Phú, Huế.
– Lê Trần Luật, Luật sư, Sài Gòn.
– Lê Thị Công Nhân, Luật sư, 316, A7 VP Chính phủ, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội.
– Nguyễn Văn Ngọc, ấp 1, xã Long Thọ, Nhơn Trạch, Đồng Nai.
– Nguyễn Ngọc Quang, giáo xứ La Ngà, Định Quán, Đồng Nai.
– Đinh Xuân Minh, Linh mục Công giáo Giáo phận Mainz, Đức Quốc.
– Nguyễn Sơn Hà, số 12 rue de la Lutte – 95170 Deuil de la Barre, Pháp quốc.
– Nguyễn Trung Kiên, số 269 Avenue Daumesnil – 75012 Paris, Pháp quốc.

II- Những bị cáo:

1. Các Công dân Việt Nam trong vai trò Thành viên Bộ Chính trị BCH/TƯ/ ĐCSVN từ khóa IX (2001-2006) trở về trước, dù đã qua đời hoặc còn sống như các Ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẩn, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lưong, Lê Công Phụng, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Duy Niên và các đồng lõa.

2. Các Công dân Việt Nam trong vai trò Thành viên Bộ Chính trị BCH/TƯ/ ĐCSVN đương nhiệm khóa X (2006-2011), Ông Nông Đức Mạnh TBT/BCH/TƯ và các đồng lõa.3. Các Ông Nguyễn Minh Triết Chủ Tịch Nước, Nguyễn Tấn Dũng Thủ Tướng Chính phủ, Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và các đồng lõa.III – Tội danh:Căn cứ trên Hiến pháp (HP) Nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 được bổ sung năm 2001 và Bộ Luật Hình sự (LHS) năm 1999 của Nước CHXHCN Việt Nam, được bổ sung năm 2009:1- Tội phản bội Tổ quốc (điều 78 LHS): “Những công dân cấu kết với nước ngoài nhằm gây hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải của Tổ quốc“.2- Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (điều 81 LHS) : “Làm sai lệch đường biên giới (lãnh thổ và lãnh hải) Quốc gia Việt Nam,… gây phương hại cho an ninh lãnh thổ (và lãnh hải) của Đất nước…”.

3- Tội bán Nước. Mặc dù trong Hiến pháp và trong Bộ Luật Hình sự của Nước CHXHCN Việt Nam không có điều khoản nào nói về tội bán Nước. Nhưng những hành vi chúng tôi liệt kê dưới đây sẽ minh chứng tội bán Nước căn cứ theo truyền thống 4 ngàn năm dựng Nước và giữ Nước của Dân tộc Việt Nam.

4- Tội cấu kết làm tay sai ngoại bang : che giấu sự thật và ngăn cấm tinh thần yêu nước liên quan đến vấn đề ngoại bang xâm chiếm lãnh thổ lãnh hải (điều 69 HP).

5- Tội không trưng cầu ý Dân (điều 2 HP) : “Nhà nước … là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân“. Thế mà Dân không được biết, không được bàn, không được làm, không được kiểm tra!Kính thưa Ông Chánh Án,Là những người yêu Nước và có trách nhiệm với Tổ quốc, căn cứ các tội danh nêu trên và căn cứ điều 44 HP: “Bảo vệ Tổ quốc… là sự nghiệp của Toàn Dân”, điều 77 HP:  “Bảo vệ Tổ quốc là  nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của Công Dân”, điều 75 § 1 HP : “Người VN định cư ở nước ngoài là bộ phận của Cộng đồng Dân tộc VN”, và điều 74 HP : “Công Dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo….về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước…”, chúng tôi đồng ký tên vào đơn kiện này để kiện các bị cáo đã có những hành vi vi hiến và phạm pháp sau đây:

A. Hành vi phạm tội:

1- Trao nhượng Hoàng Sa và Trường Sa qua công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14-09-1958 theo lệnh của ông Hồ Chí Minh.

2- Ký Hiệp định Biên giới Lãnh thổ trên đất liền, ngày 30.12.1999 và Quốc hội phê chuẩn ngày 09.06.2000.

3- Ký Hiệp định Biên giới Lãnh hải vịnh Bắc Việt và qui định vùng đánh cá chung ngày 25.12.2000 và Quốc hội phê chuẩn ngày 15.06.2004.

4- Không hề đưa ra lý do vì sao phải:
– Hủy bỏ Hiệp định Pháp-Hoa (Convention de Fournier) ký ngày 18.05.1884 và 09.06.1885 tại Thiên Tân, rồi tự ý phân định lại biên giới lãnh thổ và lãnh hải dưới áp lực của ngoại bang.
– Hủy bỏ Hiệp định Pháp-Hoa (Convention de Brévié) ký ngày 26.06.1887 quy định về Vịnh Bắc Việt rồi tự ý phân chia lại Vịnh này dưới áp lực của ngoại bang.
– Che giấu bí mật hoàn toàn đối với toàn Dân về việc chuẩn bị, xúc tiến, hoàn thành, ký kết văn bản 2 Hiệp Ước nói trên.

5- Nộp hồ sơ về thềm lục địa Việt Nam cho Liên Hiệp Quốc ngày 07-05-2009 mà lại tự giới hạn chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông.6- Trao nhượng đất, rừng, biển dưới nhiều hình thức (Boxit, thuê rừng, bờ biển,… ).

Trong khi không điều nào trong Hiến pháp hoặc Luật pháp cho phép Chính phủ, Quốc hội và đảng Cộng Sản Việt Nam được toàn quyền về lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam, được thụt lùi địa giới hải giới vô căn cứ, đặc biệt là khi không có sự đe dọa quân sự của đối phương, tự ý tạo điều kiện cho ngoại bang đưa “dân” của chúng ồ ạt vào chiếm đóng lâu dài trên Đất Việt qua các kế hoạch khai thác boxit ở Tây Nguyên, thuê các rừng đầu nguồn và các bờ biển, mà toàn Dân không hề biết hoặc đồng thuận.

B. Căn cứ điều 17 HP: “Đất đai, rừng núi,… tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa,… đều thuộc sở hữu của toàn Dân“. Nếu điều 17 này được hiểu như là toàn Dân có quyết định tối cao và tối hậu về toàn bộ Đất đai của Quốc gia thì khi đưa ra công hàm, ký kết và phê chuẩn 2 hiệp ước nêu trên, mà không trưng cầu ý Dân, thì Quốc hội, Chính phủ và đảng CSVN đã phạm các tội:

1- Phản Quốc và bán Nước vì làm mất tài sản đất đai của toàn Dân mà Quốc hội, Chính phủ và ĐCSVN hoàn toàn không có quyền sở hữu (điều 34, 47 HP).

2- Làm sai lệch biên giới lãnh thổ và lãnh hải Quốc gia (điều 81 LHS), gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho : toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, sinh mạng người dân, tài nguyên đất nước.

3- Lạm dụng quyền lực và làm tay sai Ngoại bang : vượt quá quyền hạn mà Hiến pháp đã quy định khi đàm phán về biên giới quốc gia, tạo điều kiện cho ngoại bang đưa “dân” của chúng ồ ạt vào chiếm đóng lâu dài trên Đất Việt, không thông báo sự thật về các vụ đàm phán và ngăn cấm tinh thần yêu nước phản đối ngoại xâm (điều 69 HP).

4- Không trưng cầu ý Dân (điều 84 § 14 HP) về những thay đổi liên quan tới lãnh thổ và lãnh hải.

C. Căn cứ điều 78 LHS: “Tội phản bội Tổ quốc: Công dân nào cấu kết với người nước ngoài nhằm gây hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ (và lãnh hải) của Tổ quốc”. Quốc hội, Chính phủ và Đảng CSVN đã phạm các tội:

5- Phản Quốc và bán Nước vì không làm tròn nhiệm vụ gìn giữ an ninh quốc phòng (điều 83 § 3 HP).

6- Không chu toàn nhiệm vụ giám sát (Quốc hội đối với Chính phủ) (điều 83 § 4 HP).

7- Không tuân thủ Hiến pháp Việt Nam do chính Quốc hội đặt ra (điều 84 § 2 HP).

8- Ngăn cấm tinh thần yêu nước của giới trí thức, giới đối kháng và giới dân oan yêu nước qua việc hăm dọa đánh đập, vu khống chụp mũ, kết án giam cầm các công dân đã lên tiếng phản đối Giặc Tàu xâm lược và tố cáo não trạng thái thú, tinh thần nô lệ của đảng và nhà cầm quyền CSVN.

D. Hậu quả của việc phản Quốc và bán Nước:

1. Tổn hại tinh thần: Làm tổn thương tình yêu Nước thiêng liêng và danh dự của người Việt Nam khắp nơi trên thế giới, quốc nội lẫn hải ngoại.

2. Tổn hại lãnh thổ – lãnh hải của Tổ quốc ngàn đời:

Các hành vi vi phạm nêu trên đã gây hậu quả hết sức nghiêm trọng, có thể biến Tổ quốc của chúng ta thành thuộc địa của Trung Cộng, biến Dân tộc ta thành nô lệ của Bắc phương. Chúng tôi có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng hậu quả tai hại đó là: dưới chế độ Cộng sản, Tổ quốc Việt Nam chúng ta đã:

– mất từ 760 km2 đến 1.000 km2 ở vùng biên giới lãnh thổ phía Bắc.

– mất từ 11.000 km2 đến 20.000 km2 ở vùng  biên giới lãnh hải Vịnh Bắc Việt.

– mất nhiều địa điểm mang tính lịch sử như Ải Nam Quan, Bãi Tục Lãm, phân nửa thác Bản Giốc… và nhiều cao điểm chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng.

– mất Quần đảo Hoàng Sa và phần lớn quần đảo Trường Sa, là tài nguyên về khoáng sản, hải sản và là tiền đồn phía Đông Tổ quốc.

– mất quyền kiểm soát vùng Tây Nguyên do việc để cho Trung Cộng khai thác bôxit, mất quyền kiểm soát hơn 300 ngàn hecta rừng đầu nguồn và hàng chục ngàn hecta duyên hải do việc để cho Trung Quốc thuê mướn lâu dài.

Với những hậu quả hết sức nghiêm trọng vừa nêu, các hành vi nói trên đã hiển nhiên đủ yếu tố cấu thành các tội : tội phản Quốc, tội bán Nước và tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (điều 78, 81 LHS). Tội này thuộc về hầu hết các thành viên của Quốc hội, Chính phủ, thuộc về toàn thể Bộ Chính trị đảng CSVN. Do đó Quốc hội, Chính phủ và Bộ Chính trị BCH đảng CSVN không còn xứng đáng làm đại diện và lãnh đạo Dân tộc Việt Nam, trái lại cần phải bị đem ra trước công lý.

Đàng khác, chúng tôi khẳng định:

– Mặc dù công hàm do ông Phạm Văn Đồng theo lệnh ông Hồ Chí Minh ký đã thông qua Chính phủ Việt Nam Dân chủ, mặc dù hai Hiệp định lãnh thổ và lãnh hải đã thông qua Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, chúng vẫn chưa bao giờ được Toàn Dân Việt Nam chấp thuận.

– Mặc dù các vùng đất, biển, đảo xưa kia thuộc Việt Nam và nay thuộc Trung Cộng do các văn kiện phi pháp nói trên cống hiến hay do việc Trung Cộng xâm lấn, chúng vẫn luôn mãi là tài sản của Dân tộc và Đất nước Việt Nam.

– Ý chí của Toàn Dân Việt là không thể cắt đất, dâng biển cho ngoại bang, không thể tạo điều kiện cho ngoại bang chiếm giữ những điểm chiến lược quan trọng trong việc phòng thủ Đất nước mà xưa nay Cha ông, Tiên tổ chúng ta đã đem xương máu giữ gìn.

Kết luận:

Chúng tôi tha thiết yêu cầu thẩm quyền tư pháp Việt Nam, đặt biệt là Bộ Công an và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao sớm khởi tố vụ án chính trị hết sức nghiêm trọng này, đưa những kẻ phản Quốc và bán Nước ra trước vành móng ngựa, xét xử nghiêm minh để bảo vệ danh dự và sự tồn tại của Dân tộc chúng ta. Yêu cầu xét lại và thả ngay vô điều kiện tất cả các công dân có thái độ yêu nước đã bị bắt giam, quản chế vì bị vu khống, chụp mũ; yêu cầu bồi thường cho họ xứng đáng.

Trong trường hợp quyết định không khởi tố vụ án thì yêu cầu quý vị sớm trả lời cho chúng tôi bằng văn bản lý do vì sao.

Chúng tôi cam đoan rằng những lời tố cáo của chúng tôi là hoàn toàn đúng sự thật. Chúng tôi trách nhiệm việc chúng tôi làm trước lịch sử Tổ quốc, trước Tổ tiên Dân tộc và trước Hồn thiêng Sông núi.

Trân trọng kính chào!

Việt Nam, ngày 21 tháng 12 năm 2010

Nguyên cáo:

(đã ký tên)

Nguyễn Văn Lý, Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận Huế,

69 Phan Đình Phùng, Huế.

Cùng đứng tên khởi kiện:

Chân Tín, Linh mục Công giáo Dòng Chúa Cứu Thế, 38 Kỳ Đồng, Sài Gòn.

Lê Văn Cao, Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận Huế, 69 Phan Đình Phùng, Huế.

Hồ Văn Quý,  Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận Huế, Quản xứ Diên Sanh, Quảng Trị.

Nguyễn Hữu Giải, Linh mục Công giáo TGP Huế, Quản xứ An Bằng, Thừa Thiên-Huế.

Phan Văn Lợi, Linh mục Công giáo Giáo phận Bắc Ninh, 16/46 Trần Phú, Huế.

Lê Trần Luật, Luật sư, Sài Gòn.

Lê Thị Công Nhân, Luật sư, 316, A7 VP Chính phủ, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội.

Nguyễn Văn Ngọc, ấp 1, xã Long Thọ, Nhơn Trạch, Đồng Nai.

Nguyễn Ngọc Quang, giáo xứ La Ngà, Định Quán, Đồng Nai.

Đinh Xuân Minh, Linh mục Công giáo Giáo phận Mainz, Đức Quốc.

Nguyễn Sơn Hà, số 12 rue de la Lutte – 95170 Deuil de la Barre, Pháp quốc.

Nguyễn Trung Kiên, số 269 Avenue Daumesnil – 75012 Paris, Pháp quốc

Ô nhục Ải Nam Quan

LGT : Những bức ảnh của tác giả Chân Mây trong tập ảnh ” Ô Nhục Ải Nam Quan “ là những tài liệu lịch sử vô cùng giá trị . Chúng nói lên sự bán nước trắng trợn của chế độ cộng sản Việt Nam .

Xem hình mà bồi hồi, quặn thắt, một nỗi ray rứt thức dậy trong hồn . Cám ơn tác giả Chân Mây đã cung cấp những dữ kiện cho ngàn đời sau biết được những gì xẩy ra cho dân tộc hôm nay , để không quên tội ác của tập đoàn Việt gian phản quốc Hồ Chí Minh đối với đất nước và dân tộc .

Xin trân trọng giới thiệu tập ảnh ” Ô Nhục Ải Nam Quan ” của tác giả Chân Mây đến cùng quý độc giả trong ngoài nước .

12/06/2009

Ven trời góc biển buồn chim cá
Dạn gió dày sương tủi nước non
Thượng Tân Thị

Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam!
Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn.

Hãy tiếp tục nhìn những gì mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại!

Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không còn ngày phải tôn thờ hỉnh Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm buồn. Rất buồn!
Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là mãi mãi!

Chương I : NHỮNG HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

Trong chương này, việc sắp đặt hình ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà phân chia thành các nhóm hình theo ký tự A,B,C…Để sự diễn tả rõ ràng hơn, những hình ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng hình ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.

– Nhóm A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến A4)
– Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4)
– Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4)
– Nhóm D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2)
– Nhóm E: không xác định (E1 đến E3)
– Nhóm F: hình quân sự và bản đồ (đánh số F1 đến F6)
– Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất định sẽ đưa trực tiếp vào nơi hình cần thêm minh họa.

Diễn tả :

1. Nhóm hình A :

Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn thủy về hình ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc). Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)

A1. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (1) :

Còn gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (Họa đồ bố trí phòng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Trung Quốc. Địa hình đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung):

a

A2. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (2) :

Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nhìn từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo hình B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dãy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dãy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1):

a

A3. “Trấn Nam Quan Đại Chiến” :

Minh họa cảnh giao chiến giữa quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức họa không rõ nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam Quan của hình A2:

a

A4. “Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ” :

Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hãy quan sát vị trí cổng theo khung hướng dẫn trong hình:

a

2. Nhóm hình B :

Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.

B1. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng :

Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không còn qui mô như xưa.
Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên vì dựa theo hình phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm hình C):

a

Phụ ảnh:(B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.

a

B2. Ải Nam Quan nhìn từ hướng Đồng Đăng :

Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới hình là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo hình F1 sẽ thấy rõ vị trí lô cốt nhìn từ bên Trung Quốc):

a

B3. Bang giao tại Ải Nam Quan :

Quan sát các nhân vật trong hình, ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của hình có những người nhà Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan:

a

B4. Cổng Ải Nam Quan :

Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng. Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ còn dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung Quốc (nhóm hình C):

a

Phụ ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng

a

3. Nhóm hình C :

C1. Trấn Nam Quan (1) :

Nhìn từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đã khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đã mất, chỉ còn lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dãy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm hình chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa hình đồi núi :

a

C2. Trấn Nam Quan (2) :

Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với hình thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rõ bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự dòm ngó thẳng vào nhà mình từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đình làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên còn gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn còn tồn tại cho đến nay :

a

C3. Toàn cảnh Trấn Nam Quan :

Có một khu trại và hai dãy nhà mái lá cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của hình. “Trấn Nam Quan” là đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ còn là ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung trong hình dùng để xác định vị trí so với hình C4 :

a

C4. Trấn Nam Quan (3):

Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung Quốc. So sánh các khung vị trí với hình C3:
Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng:

a

Chữ “Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc gìn giữ, ổn định. “Trấn” còn là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Trung Quốc. Thì đây, “Trấn Nam Quan” đã xác định là những hình này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dãy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên bình. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngõ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đã thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp thì nhà Thanh đã chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm hình B.

4. Nhóm hình D :

D1. Cổng Nam Quan (1):

Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các nhóm hình trên. Có vẻ sơ sài vì đã mất hẳn phần kiến trúc phía trên trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đã mất). Theo sử liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 thì toàn bộ phần trên cổng đã bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo hình E2):

a

D2. Cổng Nam Quan (2):

Hình đăng trên tạp chí “National Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rõ niên đại. Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với hình ảnh của Ải Nam Quan. Tuy nhiên so sánh với hình D1, ta đã thấy kiến trúc cùng kiểu của hai hình. Tại đây, dãy tường thành chạy lên cao đến vách núi trắng tương ứng với hình C3-C4, có thể xác định là hình được chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam :

a

5. Nhóm hình E :

E1. Không xác định (1):

Một hình ngôi chùa trên đường đi Long Châu nơi có cổng giao thiệp với Việt Nam là Bình Nhi Quan. Cùng với Nam Quan và Bình Nhi Quan còn có Thủy Khẩu Quan là 3 cổng quan yếu để vào đất Việt Nam nên gọi chung là “Tam Quan”, có khi cổng Nam Quan còn gọi là riêng là “Tam Quan” do ở vị trí quan trọng hàng đầu so với hai cổng Bình Nhi-Thủy Khẩu. Nơi hình này có tiêu đề “Chine – NAM QUAN – Loc Hang Thiap”. Chưa rõ chữ “Loc Hang Thiap” là gì nhưng hình xác định là Nam Quan trên đất Trung Quốc, có phải là một ngôi chùa trong “Trấn Nam Quan” hay không? Hay là thuộc Trấn Bình Nhi Quan? :

a

E2. Không xác định (2):

Quân đội Trung Cộng đứng trên tường thành giương cờ trong cuộc chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch vào ngày 11.12.1949 tuyên bố giải phóng Quảng Tây. Thế tường thấp với cổng và trên mặt tường cổng có chữ “Trấn Nam Quan”:

a

Phụ ảnh: Hình chụp chính diện của Trấn Nam Quan trong ngày giải phóng Quảng Tây tháng 12.1949. Trên mặt tường cổng thành ta thấy rõ chữ “Trấn Nam Quan”. (phòng trưng bầy lịch sử Hữu Nghị Quan):

a

E3. Không xác định (3):

Quân đội Trung Cộng đứng trước cổng nhỏ có khắc chữ “Trấn Nam Quan”. Không rõ niên đại của hình. Chung với hình E2, có lẽ đây là “Trấn Nam Quan” mà tôi đã giải thích (mục 3, nhóm hình C):

a

6. Nhóm hình F :

F1. Toàn cảnh Ải Nam Quan :

Do trinh sát quân Nhật Bản chụp vào tháng 6 năm 1940 trước khi tiến hành “cuộc chiến 3 ngày” nhằm đạt mục đích đưa quân vào lãnh thổ Đông Dương. Hình được mô tả: “…thấy được đường xe lửa Lao Cai-Côn Minh. Lại có đường xe ô-tô từ Đồng Đăng lên tận Trấn Nam Quan. Bờ tường thành này bên trong là đất Trung Quốc, ngay bên ngoài là Bắc bộ Đông Dương”.

Từ cao điểm như trong hình ta thấy rõ vị trí lô cốt như đã xem qua hình B2. Có khả năng lô cốt đã xây dựng trên một nền kiến trúc cổ xưa của Việt Nam . Và còn “Suối Phi Khanh” nơi thấm lệ của Nguyễn Trãi, có ai nhận ra chưa?…Nước mắt!:

a

Phụ ảnh: Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng)

Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940):

a

F2. Cột Mốc Số 18 :

Do quân đội Nhật Bản chụp tháng 7 năm 1940 ngay tại tường thành Trấn Nam Quan. Cột mốc số 18 lịch sử xác định biên giới Trung-Việt vào năm 1887. Xác định lãnh thổ bảo hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và cũng là khởi điểm Nam tiến của quân đội Thiên Hoàng giao tranh với các nước Châu Âu.
Trên Cột mốc số 18 ta đọc được: “ Trung Việt Quốc Giới , Trấn Nam Quan Ngoại, Đệ Thập Bát Hiệu – No.18 – FRONTIERE ”

a

F3. Bản đồ vị trí Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 :

Do chính quyền Tưởng Giới Thạch họa vào năm Dân Quốc 13 (1925). Khu vực Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 (có đóng khung):

a

F4. Hữu Nghị Quan (tên gọi cổng Nam Quan do Trung Cộng đặt ra vào năm 1965):

Đây là một bằng chứng sống động nhất cho kết qủa “bác cháu ta cùng giữ nước” trong thời cộng sản cầm quyền tại Việt Nam. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng (tham gia chiến tranh biên giới Trung-Việt 1979) chụp vào năm 2005. Các vạch và khung đánh dẩu trên ảnh là của tác giả ảnh và được giải thích như sau :

a

“Hình trên là từ trên núi Kim Kê chụp xuống. Bên trái là Hữu Nghị Quan, vòng tròn màu vàng là cao điểm tranh chấp Trung-Việt, hiện thời do quân ta khống chế; Vùng màu xanh lá cây hình tam giác là khu vực gài địa lôi. Vạch dài màu tím là con đường sắt qua lại với Đồng Đăng. Vùng trắng giữa hình có hai cửa đường hầm là điểm cuối của cao tốc Nam Ninh đến Bằng Tường”.

Nguyên văn:
上图]这是在金鸡山上往下拍的。左侧是友谊关,黄圈部分为中越有争议的高地,目前为我军控制;草绿色的三角为雷区 ,蓝线是通往同登的铁路。图片中间灰白处有两个遂道洞口为南宁至凭祥高速公路的终点站。

Tôi xin thuyết minh thêm : Núi Kim Kê là cao điểm chiến lược nằm ở cánh trái cổng Nam Quan, ngay vị trí chụp ảnh của tên cựu chiến binh này chính là đất Việt Nam. Khu vực tam giác trong hình chính là khu vực của cột cây số Km0 của Việt Nam là nơi mà vào đầu tháng 7.2007, phía Trung Cộng đã tuyên bố hoàn tất gỡ bỏ tấm đạn địa lôi (mìn) cuối cùng, bảo đảm thông thương an toàn cho “vùng Hữu Nghị, Hòa bình vạn tuế!”. Trong các hình ảnh của chương tiếp theo ta sẽ rõ hơn về vị trí này. Ở đây ta đã có khái niệm về việc Ải Nam Quan đã mất trong cự ly ra sao! Việc mất lãnh thổ qủa là nghiêm trọng! không phải là 100m, 150m, hoặc 200m. Cự ly trong hình có thể tính bằng Km! Hai lỗ đen gần giữa tâm hình là đường ra vào của cao tốc Nam-Hữu (Nam Ninh-Hữu Nghị Quan với chiều dài 179.2 Km. Nam Hữu khởi công vào ngày 28.04.2003 và chính thức khai thông vào ngày 28.12.2005, cũng là đường quốc lộ số 322 của Trung Cộng với điểm tận cùng giáp với Km0 của QL1 Việt Nam. Một âm mưu mới hơn đang hình thành!).
Như ta thấy, cả một vùng đồi núi của Việt Nam đã bị Trung Cộng ngang nhiên san bằng và xây dựng công trình trong nhiều năm, vẫn không hề có một chút phản ứng nào của bọn cầm quyền CSVN. Hay nói đúng hơn là đã có một sự thỏa thuận nhượng Ải Nam Quan từ hàng chục năm trước?

F5. Ảnh chụp vệ tinh vị trí của Hữu Nghị Quan :

Khu vực Hữu Nghị Quan ( đóng khung ) so với đường biên giới Trung – Việt màu vàng. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng thiết kế để mô tả lại chiến trận biên giới Trung – việt năm 1979 . Lúc này , Hữu Nghị Quan đã nằm sâu trong đất Trung Cộng từ đời … Hồ Chí Minh !:

a

” Con đê đầu khấn lạy Chư Phật mười phương…”
Ải Nam Quan đã mất, Đất thiêng đã mất! Có ai còn nhớ Phi Khanh-Nguyễn Trãi?

—————–

Chương II :“ Kẻ Bán Ải Nam Quan và Km Zéro ô nhục !”

Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi vào VN làm nhiệm vụ :

a

Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN :

a

Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn: “Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!”. Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC :

a

Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN :

a

Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN . Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN :

a

Huy chương “Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ” do chính HCM ký tặng :

a

Hoặc do PVĐ ban thưởng :

a

Năm 1968, hai bác Hồ – Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam VN :

a

” Nam man ! Ta cho ngươi cơm ăn , áo mặc , ta cho ngươi súng đạn , nhưng chính ngươi đã lấy súng đạn bắn vào da thịt ta !”( người anh em đồng chí TC nói !):

a

Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978 :

a

Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đã xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng biên giới tìm kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đã đẩy lui lãnh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hàng trăm thước.

Dấu đạn giao tranh Trung – Việt trên khắp tường thành ” Hữu Nghị Quan “:

a

Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến thắng :

a

Ngày 28.05.1980 , Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại ” Km 0 ” trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu vực Hữu Nghị Quan :

a

Phụ ảnh tham khảo “Cột Mốc Số 18” giả mạo (?) :

Đây là “Cột Mốc Số 18” mà TC cho rằng đã đặt tại cổng Nam Quan. Khác với “Cột Mốc Số 18” theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đã trình bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng: “BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam”. Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN ký kết Hiệp ước Biên giới với chính quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đã tiêu biến nơi đâu ? Không ai biết rõ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói gì không về hiện tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm 1940 đã chủ trương một cách mù quáng: “Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN ký kết với quốc gia khác !”

a

Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đã trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đã ký văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt thì Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng thì làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lãnh hải được. Còn cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hãy xem hình (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).

Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm rì, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm thước nào cả. Nó đã nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt :

a

” Km 0 ” trong những năm 1990. Biên phòng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía VN . Đáng nể !:

a

” Km 0 ” trong những năm đầu 2000 , khi đang xây dựng lại cảnh quan ” Hữu Nghị ” và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột còn ghi “Hữu Nghị Quan ” và ” cây si PVĐ ” còn đó :

a

” Cây si PVĐ ” bị đốn bỏ dã man vào năm 2005 . Cột mốc cũng chỉ còn chữ “Hữu Nghị “. Đảng CSVN không dám nhận thêm chữ ” Quan “. Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa lòng đàn anh TC !:

a

” Km 0 ” của VN trơ trọi so sánh với bia đá ” Nam Cương Quốc Môn ” của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan !:

a

” Km 0 ” trong những ngày năm 2006 :

a

Gần lại một chút . Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan TC:

a

Nhìn sang bên phải để thấy rõ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam – Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan TC :

a

Ngang với ” Km 0 ” là giao điểm Quốc lộ 322 ( điểm cuối ) của Trung cộng và Quốc lộ 1A ( điểm khởi đầu ) của VN !:

a

” Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm “:

a

Nhìn sang Việt Nam . Đi thêm khoảng 100m nữa mới tới Cổng kiểm soát của Hải quan Việt Nam . Khoảng cách ” thủ lễ ” đã xuống dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản . Không còn nằm trước mặt cổng Nam Quan như ngày xa xưa . Đúng vậy ! Ải Nam Quan nào là của VN ? Bọn Ô nhục !:

a

Hàng trăm thước đất của Ải Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt Nam , nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận… Đất biển tổ tiên mất qúa dễ dàng ! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung Cộng , công nhận lãnh thổ bắt đầu từ cột “ Km 0 ”. Đảng CSVN đã chà đạp lên hồn thiêng sông núi , thay ngọai bang thảm sát dân tộc , giết chết lịch sử quê hương !

 ——————————

Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này còn “bản lĩnh” đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!

a

Ngày 28.12.2005 , cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam :

a

Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp hình ngay tại giao giới biên cảnh Trung – Việt . Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng CSVN . Những khuôn mặt muộn phiền , ngơ ngác :

a

Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù lòa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng !
Còn người Việt Nam ? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không ? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố vì tấm hình ôm cột mốc Trung-Viêt . Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ còn nằm trong Chí Hòa . Và tôi cũng từng bị biên phòng VN hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh ” Hữu Nghị “!:

a

Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại , nhàn nhã như ở nhà . Chụp hình ư ? Chuyện nhỏ ! Đố tên biên phòng VN nào dám làm khó dễ !:

a

Bước một bước là qua đến VN ! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km 0 Ô nhục !:

a

Đứng hai chân trên biên giới !:

a

Chụp các kiểu !:

a

Và ngồi lên ” Km 0 ” của bọn Nam man ! Chúng ta là chủ nhân của lãnh thổ Việt Nam !:

a

Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 ( tháng 04.2007 ):

a

Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ , hoành tráng . Từng đợt học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về lòng yêu nước !:

a

Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung – Việt hành hương :

a

Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này . Việc đòi hỏi Trung Cộng trả lại vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng ! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước !
” Tổ Quốc Tại Ngã Tâm Trung ” ( Tổ quốc trong tim ta )
:

a

Tháng 11 năm 2007 , kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây . Có cả đại biểu VN tham dự , ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gì ? Hay là họ vẫn cười ?:

a

a

Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung – Việt . Bản đồ Việt Nam đã nối vào khu tự trị Quảng Tây !:

a

Phi Khanh hỡi! Người còn ngồi nói những lời xưa?

“Con yêu hỡi chớ xuôi lòng mềm yếu!…”

Ngày Quân Lực 19-6-1973

Tỵ Nạn và Cuộc Đời

Khởi hành:

Mặc dù thời gian trôi qua thật nhanh, nhưng nhiều hình ảnh ra đi vượt biên vẫn còn đọng lại tiềm tàng trong trí ức. Làm sao tôi quên được những sự ra đi quá hải hùng của những đứa con của Mẹ Việt Nam, những đứa con bất hạnh, những người đi tìm tự do, tìm cái sống trong cái chết của mình, mà thế giới gọi là thuyền nhân “Boat People“,.

… Đêm nay đêm tối trời, tôi bỏ quê hương
Ra đi trên chiếc thuyền hy vọng vượt trùng dương  
Em đâu đâu có ngờ đêm buồn  
Bỏ lại em cay đắng thật thương  
Hò ơi, hò ơi, tạm biệt nước non…
(Trích Đêm Chôn Dầu Vượt Biển)

Vào một đêm mùa hè trăng sao, ban ngày trời nóng chan chan, nắng cháy da người. Tôi cùng vợ và 2 con từ Sài Gòn đi xe đò về Tây Đô thân yêu. Tối hôm đó, tôi cùng gia đình vợ và 2 con được hướng dẫn lên một chiếc ghe rất nhỏ. Chiếc ghe nhỏ nầy đã được cất dấu nhiều ngày trong 1 con lạch, được che bởi những khóm cây dừa nước tại vùng Cần Thơ, chuẩn bị di chuyển người ra một chiếc ghe lớn để đưa chúng tôi vượt biên. Chiếc ghe lớn đang đậu núp ở một ven bờ Tiền Giang, hướng ra biển. Ghe lớn có chiều dài khoảng 12,5m và chiều ngang khoảng 2,5m.

Trong lúc chiếc ghe nhỏ luồn lướt qua những con lạch, băng qua những khóm dừa nước, lao nhao đôi chú ếch nhái, ểnh ương đang đi tìm mồi và đùa giỡn réo gọi nhau bỗng dưng yên lặng, trả lại cho màn đêm tịch mịch. Nhưng rồi, xa xa vọng lại những tiếng rên rĩ của côn trùng, tiếng kêu của những lũ ếch nhái khác hoà với làn gió nhè nhẹ thổi vào đêm trăng mùa hè cùng với bóng dáng của cành lá cây, rào rạc ở hai bên bờ rạch, lúc ẩn lúc hiện tạo nên một âm thanh khó hiểu, huyền dịu. Loài côn trùng, động vật có thấu hiểu chuyện gì đang xảy ra bên cuộc sống thanh bình của chúng? Chúng tôi không phải là kẻ săn bắt chúng hay phá rầy sự sống của chúng. Chúng tôi là những người đang tìm đường vượt biển với tâm lý vừa vui buồn lẫn sợ hải. Đôi khi tôi nghĩ ngợi, mình cũng thầm cảm ơn những chú ếch nhái và côn trùng, cây, gió. Nhờ có chúng mà chúng tôi không bị lộ tông tích vì tiếng ồn do chúng tôi có thể tạo ra trong lúc di chuyển.

Sau một thời gian lặng lẽ âm thầm ra đi trong đêm tối, chúng tôi vượt ra khỏi rạch nhỏ thì vào sông Tiền Giang, rồi đến ghe lớn. Lúc đó vào khoảng 1 giờ sáng. Trên ghe lớn cũng đã có một số người từ những ghe nhỏ khác đã được đưa đến. Rồi dần dần có thêm nhiều ghe nhỏ nữa chở thêm người tới.

Ngay từ những ngày đầu chuẩn bị, sau khi người chủ mua ghe và trang bị máy móc ở vùng Hà Tiên, Rạch Giá, tôi đã có nhiều lần xuống vùng đó để kiểm soát lườn ghe cũng như xem xét máy móc được trang bị như thế nào. Khi thử chạy máy và kiểm soát kỷ lườn ghe thì thấy tất cả đều tốt. Chủ ghe cũng cho tôi biết rằng ghe sẽ chở khoảng 80 người mà thôi. Nghe vậy, tôi nghĩ rằng với chiếc ghe nhỏ như thế nầy cũng có thể vượt biển được mặc dù trên đường đi nếu biển động nhẹ. Nhưng khi tôi lên ghe lớn thì thấy quá nhiều người trên ghe rồi. Chiếc ghe quá tải, tưởng chừng sắp bị chìm. Với số lượng người đông như thế này, tôi đoán có khoảng trên 170 người. Chiếc ghe đang còn ở trên sông, nước phẳng lặng mà đã xem như sắp chìm rồi thì làm sao ra biển đi được. Thấy vậy, tôi đã kêu gọi những người đang chuẩn bị lên ghe lớn sau cùng nên hảy ở lại quê hương và trở về nhà thì tốt hơn. Nếu không, khi ra biển, gặp sóng gió lớn, ghe sẽ bị chìm ngay và sẽ chết hết. Sau khi nghe tôi nói như vậy họ đã hiểu, cho nên một số người còn đang ở trên ghe nhỏ họ không bước lên ghe lớn nữa, cũng như một số người đã lên được ghe lớn họ cũng bước xuống ghe nhỏ mà trở về.

Mặc dù vậy, chiếc ghe vẫn còn quá tải. Lườn ghe đã chìm sâu, chỉ còn khoảng 10 cm nổi trên mặt nước mà thôi. Riêng cá nhân tôi, với nhiều năm đi tàu biển, có nhiều kinh nghiệm về sóng gió, biết rằng với chiếc ghe nhỏ như thế nầy mà chở gần 150 người thì rất lo lắng. Nhưng tôi đang ở vào vị thế tiến thoái lưỡng nan. Đây là lần vượt biên thứ ba sau khi tôi bị đi “tù cải tạo“ về. Hai lần vượt biên trước, ghe tôi cũng đã ra tới ngoài biển được rồi nhưng vì bị trở ngại kỹ thuật, ghe không chạy tiếp được, cuối cùng phải bị bắt và vào tù trở lại. Lần nầy nếu tôi và gia đình không đi, khi lên bờ trở lại có thể tôi sẽ bị bắt. Nếu tôi bị bắt mà còn bị lộ ra tông tích rằng mình là một cựu Sĩ Quan Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà và đã nhiều lần vượt biên bị bắt thì có thể lần nầy tôi sẽ bị nhốt vào tù và khó có ngày về đoàn tụ gia đình. Do đó, tôi quyết định ở lại trên ghe để hướng dẫn ghe đi vượt biên. Tôi thừa hiểu rằng trên đường vượt biển có thể có nhiều nguy hiểm xảy ra, nhưng tôi không có con đường lựa chọn nào khác. Tôi chỉ hy vọng rằng vào mùa hè, sóng gió sẽ êm dịu hơn và biển có thể yên lặng.

Ra khơi:

Thế là cuộc hành trình vượt biển đang diễn ra theo kế hoạch. Trên ghe có già trẻ, trai gái và gồm đủ thành phần trong xã hội đều cùng chung ước mơ ra khơi tìm Tự Do.

…Đêm nay trên bản đồ có một thuyền ra đi  
Hiên ngang trên sóng gào tự do đón chào
Xin chào tự do với nỗi niềm cay đắng  
Nhìn lại bên bờ nước non mình mỗi mặt  
Khóc nghẹn ngào  
Hò ơi! Hò ơi! tạm biệt nước non…   
(Trích Đêm Chôn Dầu Vượt Biển)

Bản đồ vượt biên, nhìn sao trời lái ghe.

Trong 2 ngày đầu vượt biển dường như tôi thức trắng đêm. Ngày đầu tiên, vào chiều tối, ghe chúng tôi ra khỏi cửa biển và ra khơi khá xa. Tối khuya hôm đó tôi đổi hướng chếch Nam, nhắm bên phải của chòm sao Nam Tào ở phía Nam gần hướng Tây Nam làm chuẩn mà chạy. Vùng biển ngoài khơi Vũng Tàu trải dài đến vùng đảo Côn Sơn tôi cũng đã có 2 tháng đi thực tập trên Hoả Vận Hạm HQ 471 và 7 tháng trên Hộ Tống Hạm HQ10 trước khi được thụ huấn tại Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang vào tháng 9 năm 1971. Trong thời gian nầy chiến hạm HQ10 phải đi tuần liên tục ngoài khơi thuộc vùng 3 duyên hải. Nhờ vậy tôi có phần nào hiểu biết và kinh nghiệm ở vùng biển khơi từ Vũng Tàu đến Côn Sơn.

Để kiểm soát hướng đi, vào ban đêm, nhìn ngược lại hướng Bắc thì có chùm sao Bắc Đẩu nằm chếch ở phía sau ghe vì ghe đã đổi hướng. Ban ngày thì nhìn mặt trời để đoán hướng. Là sĩ quan hải quân QLVNCH, ngành chỉ huy, nhiều năm đi biển phải có kinh nghiệm nhìn các sao, các chùm sao, nhìn sóng nước, nhìn sóng gió, nhìn mặt trời, mặt trăng trên biển để đoán được vị trí tương đối và hướng đi của ghe..

Khi mệt quá tôi giao lại cho vài tài công là những thanh niên và là thân nhân của chủ ghe. Chủ ghe không đi theo. Thật sự mấy bạn tài công nầy chỉ mới tập lái ghe khi ghe được sửa chữa trên sông trước khi đi vượt biên mà thôi. Họ không có nhiều kinh nghiệm về biển cả. Tôi phải chỉ dẫn cho họ. Họ tin tưởng ở tôi.

Trang bị cho chuyến vượt biên, trên ghe chúng tôi chỉ có 1 bản copy của tấm hải đồ biển Đông từ vùng đảo Côn Sơn đến Tân Gia Ba để vẻ tuyến đường đi đến hải cảng Singapore. Tôi đã xác định từng đoạn đường với góc độ. Tôi chọn tuyến đường đi Singapore mặc dù xa hơn đi đến Thái Lan hay Mã Lai Á là vì tôi muốn tránh xa vùng biển mà hải tặc Thái Lan đang hoành hành trên vịnh Thái Lan. Trước khi đi, chúng tôi đã mua 1 la bàn từ với đường kính khoảng 10 cm. Loại la bàn từ mà lớn như vậy chỉ có ở các chiến đỉnh của các Lực Lượng Hải Quân VNCH, làm gì mà có bán ra ngoài như vậy?. Khi mua nó tôi đã nghi ngờ là giả mạo nhưng không tìm được cái la bàn từ nào khác là thật và original nên đành phải mua.

Khi sử dụng la bàn giả mạo trên biển là 1 khuyết điểm lớn vì các tài công trên sông không có kinh nghiệm về sóng gió và phương hướng rõ ràng ngoài đại dương. Khi sóng mạnh ập đến ghe thì la bàn từ giả mạo kia bị lắc và không lay chuyển được nữa, góc độ của hướng đi sai ngay. Nếu tài công không để ý và không biết hướng gió, sóng và các chòm sao thì lái ghe sẽ sai hướng. Vì thế mỗi lần tôi tỉnh giấc và xem lại thì đôi khi thấy ghe đi lạc hướng, tôi phải điều chỉnh ghe để có hướng đi đúng trở lại. Ngoài ra tôi còn nghĩ đến, vào một thời điểm nào đó các tài công cũng mệt nhừ người, thì họ vừa lái ghe và sẽ vừa buồn ngũ là chuyện khó có thể tránh. Tôi nghi ngờ như vậy. Nói chung, lái ghe trên biển cũng khá phức tạp. Những đêm bị mưa gió, trời mù, thì không thấy chòm sao Nam Tào. Do đó tôi phải thường nắm tay lái. Vùng biển Côn Sơn và Phú quốc tôi cũng đã quen thuộc phần nào. Khi đi thực tập trên Hoả Vận Hạm HQ471 đầu năm 1971, cũng như khi tôi phục vụ dưới Dương Vận Hạm HQ503 cũng đã có mấy lần chiến hạm đi công tác đến đảo Phú Quốc và đảo Côn Sơn. Nhờ vậy tôi cũng biết được hướng sóng gió ở vùng Côn Sơn.

Suốt mấy ngày vượt biển tôi không lo lắng được gì cho 2 con tôi. Tất cả đều để cho vợ tôi lo cho 2 cháu. Bà xã tôi hiểu được sự lo lắng lái ghe của tôi nên không có một lời than thở. Thật tội nghiệp!

Có 1 lần vào ban ngày vì biển động, sóng hơi lớn nên 1 thùng dầu Diesel dự trữ đặt phía sau lái khoảng 200 lít rơi xuống biển. Tôi phải ngưng ghe lại và nhờ anh Thọ (hiện đang cư ngụ tại Nam California) nhảy xuống biển để cùng chúng tôi vớt thùng dầu lên. Đến hôm nay tôi vẫn còn thầm phục tinh thần của anh ấy. Lúc đó không mấy ai dám nhảy xuống biển mênh mông như vậy. Tôi quyết định là phải vớt thùng dầu lên cho bằng được. Tôi nói với các bạn thanh niên cùng đi rằng con đường chúng ta đi còn xa lắm. Nếu chúng ta thiếu dầu, chết máy thì khi biển động ghe sẽ bị lật chìm ngay vì chúng ta không thể điều khiển được chiếc ghe để lái chếch sóng. Họ nghe lời tôi và quyết tâm phải vớt thùng dầu. Tôi phải tận dụng những phương pháp cứu người trên biển cũng như những cách thắt mũi dây mà tôi đã học được ở những chiến hạm và khi tôi còn là một Huynh trưởng Đoàn trưởng Gia Đình Phật Tử ngoài miền Trung để ứng dụng lúc nầy. Chúng tôi dùng 1 sợi dây và 2 cây cọc trên ghe để kéo thùng dầu lên. Rất khó khăn vì thùng dầu quá nặng nhưng chúng tôi đã vớt được. Xin cảm ơn Trời Phật!

Sau những ngày đêm ghe vượt trùng dương bát ngát, lướt sóng gió, đi trong mưa, hướng Tân Gia Ba, vào một ngày nọ chúng tôi thấy 3 ghe khá lớn (Thái Lan hoặc Mã Lai Á) đang đánh cá. Chúng tôi quyết định chạy đến gần chúng để hỏi biết vị trí ghe đang ở đâu trên biển. Có lẽ vì bận đánh cá nên chúng cứ thản nhiên chạy đi hướng khác. Họ không màn đến chúng tôi muốn tới gần họ. Chúng tôi dùng hoả châu phóng lên tia hồng ngoại tím thì họ mới dừng lại. Khi đến gần họ, tôi đứng trên mui ghe và hỏi chúng bằng tiếng Anh để biết vị trí ghe đang ở đâu và hướng Singapore. Họ chỉ cần nghe và hiểu chữ Singapore nên họ chỉ tay về hướng Nam như chúng tôi đang đi. Đồng thời, tôi dùng sợi dây nhỏ cột tấm hải đồ chuyển qua ghe họ để nhờ họ xác định trên bản đồ vị trí chiếc ghe của chúng tôi đang đi vì ghe họ có gắn Radar. Ngoài ra chúng tôi còn xin được thêm 2 thùng nước uống, khoảng 50 lít. Tôi cảm ơn lòng tốt của họ. Khi cầm tấm hải đồ với địa điểm ghe đánh cá vừa xác định bằng bút chì, tôi tin rằng có thể những ghe đó không phải là hải tặc Thái Lan vì những ghe đó đang đánh cá ở vùng biển nằm ngoài khơi của bờ biển Mã Lai Á. Tuy vậy, trong lòng tôi vẫn lo ngại.

Hình ảnh vượt biên.

Sau đó ghe chúng tôi tiếp tục nhắm hướng Tân Gia Ba mà chạy. Đi được một ngày thì bổng nhiên tôi nhìn thấy từ xa xa ở hướng Nam hiện ra một đốm đen. Dùng ống dòm  để quan sát, tôi mới rõ đó là chiếc máy bay trực thăng đang bay về hướng chúng tôi. Trực thăng càng lúc càng hiện rõ hơn. Chúng tôi, tất cả mọi người trên ghe rất vui mừng khi thấy máy bay trực thăng. Khi đến gần, một người trên máy bay chỉ tay vào chúng tôi và ra dấu tiếp tục đi về hướng Nam. Nhìn về hướng Nam chúng tôi thấy một con tàu cở lớn từ từ hiện ra. Sau nầy tôi được nghe kể lại rằng khi tàu Cap Anamur được trực thăng cho biết đã phát hiện ghe tỵ nạn chúng tôi thì thuyền trưởng cho 2 máy tiến full (với tốc độ tối đa) hầu kịp thời ngăn chận mọi bất trắc có thể xảy ra cho ghe chúng tôi. Và sau khoảng 2 tiếng đồng hồ thì tàu đã đến gần chúng tôi. Trên tàu, thuỷ thủ đoàn phóng loa kêu gọi chúng tôi đừng sợ hải, hảy bình tỉnh. “Đây là tàu CAP ANAMUR của Tây Đức đang cứu vớt các bạn“. Thế là mọi người trên ghe đều lộ vẻ vui mừng khôn tả nhưng tôi vẫn yêu cầu họ hãy bình tỉnh, giữ trật tự, ở đâu ngồi đó. Nếu di động không trật tự thì ghe có thể bị lật úp hoặc ghe sẽ bị nghiêng, bị vô nước và chìm, nhất là lúc ghe đang cập vào tàu. Lần nữa, mọi người nghe lời yêu cầu của tôi và ở đâu ngồi đó. Họ cũng đã thấy vợ và 2 con của tôi cũng ngồi yên tại chổ. Tôi thầm cảm ơn họ. Bây giờ tôi cảm thấy khả năng hàng hải rất hửu dụng của mình sau 2 năm được đào tạo ở trường Sĩ quan Hải quân Nha trang và gần 9 tháng thực tập trên các chiến hạm HQ471, HQ10 cũng như những năm phục vụ trên Dương Vận Hạm HQ503.

Sau khi ghe tôi đã được cập vào tàu Cap Anamur, những thuỷ thủ của tàu cũng bắt đầu xuống ghe tôi. Họ dùng cần cẩu trên boong tàu để giúp chúng tôi lần lượt đưa tất cả 148 người trên ghe lên tàu của họ. Tôi rời khỏi ghe sau cùng. Sau khi mọi người trên ghe đã được di chuyển lên tàu Cap Anamur thì thuỷ thủ đoàn đã phá huỷ ghe chúng tôi để nhận chìm xuống đáy biển. Chiếc ghe thật mỏng manh đối với biển cả mênh mông, giờ đây từ từ đi vào lòng biển. Tôi hướng mắt nhìn ghe lần cuối, hiện lên một vẻ buồn không tưởng, nhưng với tâm niệm “có sinh thì có diệt“ theo giáo lý nhà Phật, tôi cũng cố quên đi. Tôi thầm cảm ơn chiếc ghe đã cưu mang 148 đồng bào thân yêu bỏ nước ra đi, trong đó có tôi cùng gia đình. Ghe đã đưa chúng tôi đến bờ tự do.

Trên tàu Cap Anamur, chúng tôi được thuyền trưởng cùng thuỷ thủ đoàn chào đón một cách niềm nỡ và họ nấu cháo cho chúng tôi ăn sau nhiều ngày đói khác trên biển. Họ cũng săn sóc thuốc men cho chúng tôi nếu có người bệnh hoạn. Trước những cử chỉ thân thiện của thuỷ thủ đoàn trên tàu, họ đã hỗ trợ tinh thần rất nhiều cho chúng tôi nhằm nhanh chóng phục hồi lại sức khoẻ.

Sau khi họ đã cứu vớt chúng tôi, tàu tiếp tục di chuyển trên biển đông ở gần bờ biển Việt Nam khoảng 10 ngày nữa để tiếp tục cứu vớt thêm 4 chiếc ghe vượt biên khác, tiếp nhận khoảng trên 500 người.

Tại hải cảng Tân Gia Ba:

Sau cùng, con tàu ân nhân Cap Anamur chở chúng tôi đến hải cảng Tân Gia Ba vào những ngày đầu tháng 7 năm 1980. Đó là chuyến thứ 8 của tàu Cap Anamur ra khơi cứu vớt người vượt biển tìm Tự Do trở lại cảng. Gọi tắt là Cap Anamur 8. Tàu không cập bến, chỉ neo trong hải cảng. Ở đó chúng tôi được chích thuốc ngừa. Không một ai được lên bờ.

Cao Uỷ Liên hiệp Quốc tại Tân Gia Ba cũng xuống tàu để phỏng vấn chúng tôi. Người nào có thân nhân ở hải ngoại thì được ưu tiên thiết lập danh sách đi đoàn tụ gia đình nhưng họ cũng phải đến trại tỵ nạn tạm trú một thời gian. Riêng vợ chồng tôi thì bấy giờ có người bác phía vợ đang hành nghề luật sư bên Gia Nã Đại. Nhưng khi tôi trình bày nguyện vọng muốn đi Mỹ thì Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc nói rằng: Bạn và gia đình đã được tàu Tây Đức vớt, vậy bạn và gia đình có thể ưu tiên đi Tây Đức. Nếu bạn đồng ý thì trong mấy ngày nữa bạn sẽ đi ngay và không cần lên trại tỵ nạn chờ đợi. Tuy nhiên bạn cũng có thể đi Gia Nã Đại theo diện bảo lãnh, nhưng bạn và gia đình cũng phải qua tạm trú tại trại tỵ nạn ở Nam Dương một thời gian để chờ bác của bạn bảo lãnh. Người bác vợ của tôi tốt nghiệp Luật sư tại Pháp, làm việc trong Bộ Ngoại Giao VNCH và cũng đã từng tham dự và cố vấn Pháp luật cho phái đoàn VNCH tại Hội Đàm Paris . Tôi hy vọng về sự bảo lãnh của bác tôi. Tuy nhiên khi tôi hỏi về thời gian chờ đợi ở đảo thì cao uỷ LHQ không thể cho biết là bao lâu. Họ chỉ  trả  lời: Điều đó tuỳ thuộc vào sự bảo lãnh cũng như lệ thuộc vào chính quyền Gia Nã Đại.

Sau khi được phỏng vấn, tôi đã thảo luận với vợ về vấn đề đi định cư ở nước thứ ba. Vợ chồng chúng tôi cũng ngại ngùng ở đảo vì có 2 con còn quá nhỏ. Cháu lớn nhất lúc bấy giờ được 3 tuổi và cháu thứ hai chỉ được 18 tháng. Hơn nữa chúng tôi cũng không muốn cậy nhờ ông bác vợ ở Gia Nã Đại bảo lãnh. Thế thì tôi quyết định đưa gia đình qua Tây Đức xin tỵ nạn cọng sản. Tôi tâm niệm: “trời sinh voi, sinh cỏ“. Vợ chồng tôi đồng quan điểm rằng ở đâu có Tự Do Dân Chủ là nơi đó chúng tôi có thể định cư và sẽ cố gắng xây dựng lại cuộc đời mới. Chúng tôi đã trải qua nhiều hiểm nguy, nhiều lần vượt biên trước bị bắn, nhiều cay đắng, nhiều gian truân, nhiều lần vô tù. Vợ con tôi cũng chịu cùng cảnh ngộ, cũng chịu đói khác, bịnh hoạn như mọi người tù khác. Giờ đây chúng tôi đã may mắn gặp được tàu cứu vớt thì dù có đi định cư bất cứ ở xứ nào cũng đều tốt cả, miễn sao xứ đó có Tự Do Dân Chủ là được rồi.

Nhớ lại những năm xưa, mỗi lần vợ tôi sinh con là tôi bị ở trong tù. Con đầu lòng được sinh ra khi tôi ở trong “tù cải tạo” được 8 tháng tại Trảng Lớn, Tây Ninh. Con thứ hai được sinh ra khi tôi ở tù vượt biên tại Côn Đảo. Với tâm niệm: “Chỉ có tinh thần là quan trọng”, một bài học rất quý giá, hàm súc nhiều ý nghĩa thâm sâu mà tôi học được từ Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang của thuở nào đã giúp tôi nhiều nghị lực để vượt qua mọi trở ngại và tiến lên. Suy gẫm cuộc đời, bài học đó đã được chứng minh.

Hình chụp dịp Lễ Kỷ Niệm 35 Năm Tỵ Nạn và Tri Ân Nước Đức.
Ngày đầu tiên đến Tây Đức:

Khi tôi quyết định đưa gia đình đi Tây Đức để định cư, thì Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc lo tiếp thủ tục giấy tờ cho gia đình tôi. Thế là sau vài ngày chờ đợi trên tàu Cap Anamur ở hải cảng Tân Gia Ba, gia đình tôi cùng với một số bà con vượt biên khác được chích thuốc ngừa và được phân phối quần áo mới để đi định cư tại Cọng Hoà Liên Bang Đức (Bundes Republik Deutschland) ở Tây Đức (West Germany).

Một buổi sáng tinh sương, chúng tôi được hướng dẫn lên xe buýt đang đậu ngay bến cảng để được chở ra phi trường Tân Gia Ba. Xe buýt chạy xuyên qua thành phố Tân Gia Ba, có cả thuyền trưởng tàu Cap Anamur là ông Werner Urban cùng đi về Tây Đức. Một thành phố rất khang trang và sạch sẻ. Rất tiếc rằng tôi chưa có dịp để thăm phố thị muôn màu của bán đảo nầy.

Khi qua Tây Đức tôi được biết thêm, vào năm 1979 Liên Hiệp Quốc họp tại Geneve, Thụy sĩ, đã kêu gọi những quốc gia Tây Âu cứu nhận nạn nhân đến từ Đông Dương, nhất là đồng bào chạy tỵ nạn từ Việt Nam. Riêng chính quyền Tây Đức đã đồng ý sẽ nhận khoảng 30.000 người tỵ nạn từ Đông nam Á, đặc biệt là từ Việt Nam.

Sau thời gian ngắn xe buýt đã đến phi trường Tân Gia Ba.

Tôi còn nhớ, khi ông thuyền trưởng Werner Urban cùng đi với chúng tôi đến phi trường Tân Gia Ba, ông ta ứa nước mắt trước khi lên máy bay Lufthansa. Có lẽ ông rất xúc động đã cứu được nhiều thuyền nhân và giờ đây họ sẽ lên đường đến một xứ lạ là quê hương của ông, một quê hương đang có Tự Do Dân Chủ và có những hành động nhân đạo.

Vào buổi chiều tối, chiếc phi cơ Lufthansa của Tây Đức chở 145 người vượt biên xin tỵ nạn tại Tây Đức, trong đó có gia đình tôi rời phi trường Tân Gia Ba. Sau khoảng 12 giờ bay vào ban đêm, phi cơ hạ cánh tại phi trường Frankfurt am Main, Tây Đức vào buổi sáng sớm ngày 15.7.1980.

Tại đây, một số người tỵ nạn trong nhóm chúng tôi được đổi máy bay tiếp tục đi lên miền Bắc Đức ở Hamburg, hoặc đến tiểu bang Rheinland-Pfalz, hoặc đi Saarbruecken. Một số người đi lên thành phố Bremen. Một số khác đi qua Tây Bá Linh. Tây Bá Linh nằm trong lòng Đông Đức. Lúc bấy giờ thành phố Bá Linh được chia làm hai phần bởi bức tường ô nhục do chính quyền cọng sản Đông Đức dựng lên vào ngày 13.8.1961 để chia thành phố Bá Linh ra làm hai nhằm ngăn chận dân chúng Đông Đức từ bỏ chế độ cọng sản để chạy sang Tây Bá Linh là phần đất tự do để tỵ nạn. Sau đệ Nhị thế chiến, Đức Quốc Xã thua trận nên một nửa thành phố đông Bá Linh thuộc về quân đội Nga quản chế và một nửa thành phố tây Bá Linh thuộc về quân đội đồng minh Mỹ, Anh, Pháp. Chung quanh thành phố Bá Linh thuộc nước Cọng Hoà Dân Chủ Đức (DDR: Deutsche Demokratische Republik). Đó là quốc gia theo chế độ cộng sản.

May mắn thay, gia đình tôi không đi Bá Linh. Chúng tôi cùng một số người tỵ nạn khác, tổng cọng khoảng 100 người ở lại chờ đợi để đổi máy bay đi đến phi trường Duesseldorf thuộc tiểu bang Nordrhein-Westfalen bên Tây Đức.

Trong lúc chờ máy bay để đi tiếp tục, tôi và 2 con đứng bên cửa sổ của phòng chờ đợi, hướng mắt ra xa. Nhìn qua cửa kiếng, hướng về những cao ốc, tôi đoán rằng đó là trung tâm thành phố Frankfurt. Lòng mình xôn xao làm sao!. Suy nghĩ về quá khứ, nhớ về quê hương rồi nhìn về tương lai, tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn. Nghĩ về cuộc đời binh nghiệp, đã bao nhiêu năm chinh chiến, tôi suy tưởng, ít ra mình cũng đóng góp phần nào cho quê hương, cho Tổ Quốc để bảo vệ tiền đồn Tự Do. Bây giờ có rời xa quê hương mình cũng không ân hận cho lắm.

Rồi tôi thầm nghĩ, nếu không có ngày 30.4.1975 thì hy vọng vào năm 1975 mình cũng sẽ có cơ hội được qua Mỹ du học 153 tuần thuộc chương trình đào tạo Master of Art hoặc Master of Science hoặc cao hơn cho những sĩ quan quân lực VNCH có văn bằng cử nhân nhằm sau nầy góp phần tái thiết đất nước thời hậu chiến sau khi Hiệp định Paris được ký ngày 27.1.1973, chiếu theo Thông Tư của Bộ Tổng Tham mưu Quân lực VNCH năm 1974. Đến tháng 4 năm 1975 tôi đã học xong chương trình Ban Cử nhân thuộc Đại học Luật Khoa Sài Gòn. Niềm mơ ước ngày ấy không trở thành sự thật. Và giờ đây hiện diện nơi quê người tôi thì thầm:

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc. Thương nhà mỏi miệng cái gia gia“…

Tây Đức mùa nắng hạ 2008
Nguyễn văn Phảy, vgpgermany@gmx.net

Ghi chú: Một số hình ảnh trên được trích trong cuốn sách “Thế Kỷ Người Tỵ Nạn”(Das Jahrhundert der Fluechtlinge) do Uỷ Ban Bác Sĩ Cấp Cứu Đức (Deutsches Komitee NOT-Aerzte) biên soạn năm 1981.

 

Đêm Chia Ly Phú Xuân

Mở đầu…

Phía Nam Hoành Sơn, tập truyện khởi từ giai đoạn lịch sử rối ren nhất của dân tộc. Giòng họ Lê đất Lam Sơn sau gần trăm năm trị vì bắt đầu suy vong khi vận nước lại trao vào tay hôn quân bạo ngược như Uy Mục, Tương Dực. Mạc Ðăng Dung đang nắm quyền bính, đảo chính lật đổ nhà Lê (Ðinh Hợi 1527). Trung thần nhà Lê, An Thành Hầu Nguyễn Kim cùng đám thủ hạ thân tín chạy sang Ai Lao, lập căn cứ tại Sầm Châu mưu việc trung hưng gây cuộc nội chiến Lê Mạc. Sau khi Nguyễn Kim chết, mâu thuẫn quyền lực phát sinh giữa hai họ Trịnh Nguyễn thúc đẩy Nguyễn Hoàng, con thứ Nguyễn Kim vào trấn thủ Thuận Hóa, âm mưu xưng hùng một cõi gây cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn. Sau 45 năm tranh hùng, hai bên ngưng chiến, đất nước phân ly. Giòng họ Nguyễn làm chủ phương nam tiếp tục cuộc hành trình lao nhọc đầy trí tuệ, diệt Chiêm Thành, chiếm Thủy Chân Lạp mở rộng cõi bờ. Ðến đời thứ chín, triều đình chúa Nguyễn gặp nạn quyền thần thao túng. Nhân dân phẫn uất, đói khổ lầm than. Nguyễn Nhạc, hào kiệt ấp Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa. Quân Tây Sơn chiếm Qui Nhơn, tràn ra phía bắc đánh phá vùng Quảng Ngãi, Quảng Nam. Không bỏ lỡ cơ hội, Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm tổ chức hành quân nam tiến. Ðịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần thất trận chạy trốn vào Gia Ðịnh ( Ất Mùi 1775)…

Tập truyện xếp theo thứ tự thời gian, được tham khảo và đối chiếu từ các tài liệu: Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư bản Chính Hòa (hoàn thành năm 1697 thời Tây Vương Trịnh Tạc). Các tài liệu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn: Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Ðại Nam Nhất Thống Chí, Ðại Nam Liệt Truyện Tiền Biên… Các tài liệu khác : Vũ Biên Tạp Lục (Lê Quý Ðôn), Xứ Ðàng Trong năm 1621 (Giáo sĩ Cristophoro Borri), Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim), Việt Sử Tân Biên (Phạm Văn Sơn), Việt Sử Xứ Ðàng Trong (Phan Khoang), Việt Nam Giáo Sử (Phan Phát Huồn)… và một số những tài liệu mới đọc được ở trong, ngoài nước sau năm 1975.

Tuy diễn tiến theo giòng chính sử, Phía Nam Hoành Sơn hình thức vẫn là truyện. Vận dụng sáng tạo của người viết tiểu thuyết hóa các nhân vật lịch sử, hư cấu thêm nhân vật, gửi gắm đôi chút suy tư….. Cũng như nhà văn Alexandre Dumas từng nói:“ Lịch sử đối với tôi là gì? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi thôi”. (Qu’est ce que l’histoire? C’est un clou auquel j’accroche mes tableaux).

 Trung thu Quý Mùi 2003

 

TRÊN ĐƯỜNG TÂY TIẾN

Suốt trăm năm dưới triều đại nhà Hậu Lê. Giòng họ Nguyễn làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn Thanh Hóa nổi tiếng danh gia vọng tộc, bao đời phát công hầu khanh tướng. Họ Nguyễn không những là niềm kiêu hãnh của làng, mà của cả huyện, cả trấn Thanh Hóa. Nhất là sau này, con cháu họ Nguyễn trở thành chúa tể xứ Ðàng trong trên hai trăm năm. Lúc sự nghiệp suy tàn tưởng đã bị diệt vong, giòng họ Nguyễn lại vươn mình đứng dậy. Sau cuộc nội chiến đẫm máu gần ba mươi năm với anh em Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh thống nhất sơn hà mở đầu triều đại nhà Nguyễn.

Kể từ khi vua Thái Tổ Lê Lợi xuất thân áo vải, ba thước gươm bình định sơn hà đuổi giặc Minh khỏi bờ cõi dựng nghiệp nhà Hậu Lê. Nghe lời kêu gọi của Thái Tổ, tiên tổ họ Nguyễn làng Gia Miêu Nguyễn Công Duẫn cầm đầu đám dũng sĩ Tống Sơn, đầu trần chân đất tụ về đất Lam Sơn theo vua dựng cờ đại nghĩa diệt quân xâm lược. Trải bao phen nếm mật nằm gai, vào sinh ra tử. Công Duẫn được phong hầu tước. Lúc tuổi xế chiều trở về vui thú điền viên, Công Duẫn được vua phong tặng Thái Bảo Quốc Công, thật hiển vinh danh giá khó ai sánh kịp. Ðến đời con, xứng câu “hổ phụ sinh hổ tử”, Nguyễn Ðức Trung nối chí phụ thân trở thành tôi lương đống. Ðức Trung nhiều phen xông pha trận mạc, từng kéo quân chinh nam thảo phạt Chiêm Thành, được phong chức Ðô Ðốc Trinh Quốc Công. Ðức Trung có con gái tiến cung, sau thành Thái Hậu, là mẹ vua Hiến Tôn. Họ Nguyễn thời ấy nắm hết mối giềng xã tắc, giòng họ có đến gần hai trăm người làm quan tại triều. Con trai Ðức Trung là Văn Lãng sở học uyên bác, võ nghệ cao cường. Văn Lãng tính hào hiệp, nhập tâm câu “kiến nghĩa bất vi…”, thích làm việc nghĩa, thương giúp kẻ khốn khó.

Người gia làng Gia Miêu thường kể con cháu nghe chuyện hổ thần núi Thiên Tôn, ngọn núi hùng vĩ nằm phía bắc huyện Tống Sơn. Mạch núi như chuỗi ngọc gồm mười hai ngọn liền nhau đẹp như tranh vẽ. Trong núi có hổ thần to như bò mộng, ban đêm tia mắt tỏa như hai làn sáng xanh biếc. Ác thú khát máu chẳng đụng đến gia súc mà chỉ thích thịt người. Ðêm đêm hổ về làng, biến hiện như ma gieo kinh hoàng khắp xóm thôn… Ðêm Gia Miêu hãi hùng u uất, đêm thẳm sâu nhà chẳng dám lên đèn. Ðêm trăng sáng, lũ trẻ thèm dỡn trăng bị trói chân trong nhà. Người người kinh hãi khi nghe tiếng chiêng trống, tiếng mõ, tiếng phèng la đập liên hồi báo động hổ về. Giữa rừng âm thanh hỗn loạn, chợt nghe tiếng thét hãi hùng thất thanh cùng với tiếng khóc. Ðó là lúc đã có nạn nhân làm mồi cho ác thú.

Làng họp khẩn tìm cách đối phó. Ðám tráng đinh trang bị cung tên tẩm thuốc độc, gậy gộc giáo mác tuần phòng hàng đêm nhưng số đinh ít ỏi không đủ bảo vệ cả làng. Trấn đầu làng thì hổ vào cuối thôn, trấn cuối thôn hổ lại đến đầu làng. Ác thú tinh quái, trong tuần trăng bảy lần về làng là bảy người vong mạng. Cụ tiên chỉ bàn với chức việc nên lập miễu thờ “ngài”, hứa bốn mùa cúng tế xin “ngài” động lòng thương xót. Ðúng lúc ấy, công tử Văn Lãng, con trai Quốc Công Ðức Trung từ Ðông Ðô về thăm quê. Nghe chuyện hổ thần tác quái, Văn Lãng tức giận quyết ra tay trừ khử, bác bỏ việc lập miễu cúng tế. Suốt mấy ngày, Văn Lãng suy nghĩ lung, tự mình nghiên cứu kỹ đường đi nước bước ác thú.

Một đêm trăng mờ lung linh, Lãng đeo báu kiếm, khoác nỏ, dẫn mười tráng đinh đến khe núi, ven con suối nhỏ lặng lẽ mai phục. Mọi người nín thở hồi hộp dưới sương đêm buốt giá. Ðêm tàn dần, bóng hổ biệt tăm… Ðoàn người lục tục về thôn khi nghe tiếng gà xao xác vọng lại. Qua đêm thứ hai, thứ ba… Có kẻ ngã lòng muốn bỏ cuộc. Văn Lãng giận, lặng yên rút báu kiếm tung tuyệt chiêu chém đứt cay soan già ven đường. Tra kiếm vào vỏ trước vẻ thán phục của đám tráng đinh, Lãng nói”Các người nhắm cốt hổ có cứng hơn cây kia chăng”. Nói xong giương nỏ lắp tên bắn trúng chạc ba cách hàng trăm bộ. Mọi người cảm phục yên tâm theo Lãng vào núi mai phục đêm thứ tư. Ðêm rừng khuya âm u tĩnh lặng đe dọa, trăng non cao tỏa mờ. Quá nửa đêm trời nổi gió. Gió lên, hây hây rồi mạnh dần mang mùi hôi nồng nặc. Hổ đến, giờ quyết định là đây. Mọi người hồi hộp, mắt dồn về phía khe núi theo dõi bóng hổ chậm bước. Hổ từ từ đến ven suối, ngừng lại nhìn giòng nước rồi ngước nhìn trời. Không lỡ cơ hội, Văn Lãng bật dây nỏ. Mũi tên xé gió cắp ngập mắt phải hổ. Hổ gầm, quay ngược định phóng vào núi, bị mũi tên thứ hai bắn trúng hạ bộ. Hổ lăn mình lại nhận mũi tên thứ ba vào bụng… Hổ đau gầm vang cố chạy đã bị Văn Lãng phi thân đón trước, chém sả lưỡi kiếm ngang đầu… Tiếng soạt khô khan, ác thú bị chém vỡ sọ ngã bật ngửa, vật vã vài lần rồi bất động.

Ðám tráng đinh như qua cơn mê, reo hò mừng rỡ mang xác hổ về làng. Thôn xóm reo vui trống chiêng ầm ĩ chào mừng người hùng đả hổ. Sau Văn Lãng là đệ nhất công thần dưới thời vua Tương Dực. Lúc mất được phong tặng vương tước, tạc tượng thờ ở miếu công thần. Ðời cháu Văn Lãng là An Thành Hầu Nguyễn Kim, cơ nghiệp nhà Lê đứng trước nguy cơ diệt vong do các vua cuối bất xứng, thất đức bất tài… An Hưng Vương Mạc Ðăng Dung thao túng triều đình chuẩn bị đoạt ngôi báu.

Năm Ðinh Hợi 1527, thời tiết thật lạ. Cuối hạ trời vẫn nắng gắt, cái nóng như đổ lửa nhất là buổi trưa khi mặt trời đứng bóng, cơn gió tây khô khốc từ xứ Lào âm u ào ào tràn về. Gió nồng nực, nóng khô giường cong chiếu, nóng chó le lưỡi chảy dãi phát điên.

Tại cổng tả thành Tây Giai, ngôi thành kiên cố do vua nhà Hồ là Quý Ly xây dựng tại huyện Vĩnh Lộc đã trên trăm năm. Dưới trời gắt nắng, hàng ngàn dân quân nhễ nhại mồ hôi, những khuôn mặt xạm nắng lờ đờ mệt nhọc im lặng chịu đựng vẫn gò lưng đẩy những xe đất đá. Trăm năm qua, chiến tranh rồi bão lụt cộng với thời gian, ngôi thành kiên cố không chịu đựng nổi sức tàn phá của trời và người, nhiều chỗ bị sụt lở dù nền đá tường xây gạch. Hơn một tháng xây lại thành đã có hai người chết vì say nắng, một người bị đá đè do tường lở. Nguyên một tảng đá lớn đè trên người nạn nhân. Rồi đất lở ào ào vùi lấp thi thể. Nạn nhân chết không kịp kêu. Tường thành làm mộ chí. Người ta bó tay không thể bới lấy xác, đành thắp một nén hương, tất cả đứng lặng yên cúi đầu như lời chào vĩnh biệt. Nén hương tàn, mọi người lại tiếp tục công việc. Có cụ già chứng kiến cái chết thương tâm nói: “ Ông nội tôi thuở trước cũng từng làm phu xây thành kể lại. Có tay cống sinh người huyện Vĩnh Lộc chống việc xây thành bị Hồ Quý Ly chôn sống ngay chỗ tường này. Người vợ uất ức kêu oan đập đầu vào đá tự tử, tảng đá nứt một mảnh tạo thành vết lõm oan nghiệp đến giờ vẫn còn dấu tích. Những đêm thanh vắng, dân quanh vùng nghe văng vẳng tiếng khóc não nùng ai oán. Có người bảo chính mắt thấy bóng người đàn bà áo trắng xõa tóc lượn lờ trên thành. Mãi đến khi Hồ Quý Ly bị giặc Minh bắt về Tàu tiếng khóc mới dứt.”

Ðầu tháng bảy công việc hoàn tất. Ðứng trên vọng lâu, An Thành Hầu Nguyễn Kim nở nụ cười bằng lòng. Nụ cười hiếm có trên khuôn mặt cương nghị phong sương dạn dầy chiến trận. Nguyễn Kim hiện lĩnh chức Hữu vệ Ðiện tiền Tướng quân trấn thủ vùng bắc Thanh Hóa. Cạnh ông, Quản Lĩnh Trịnh Duy Liêu trông dáng thư sinh. Duy Liêu ngoài tài văn chương lỗi lạc lại là người đa mưu túc kế, trên thông thiên văn dưới đạt địa lý, thiên hạ khó ai bì. Với Nguyễn Kim, cái đáng trọng nhất ở con người này là sĩ khí nho gia, chẳng mê giầu sang, chẳng khuất phục uy vũ. Với tài năng ấy thì cái bảng nhãn thám hoa chẳng khó, nhưng Liêu thấy thời buổi nhiễu nhương chưa muốn dấn thân. Nể tình bạn, Liêu ra giúp Nguyễn Kim, giữ vai trò quân sư. Liêu chơi với bạn một mực thủy chung, trước sau như nhất.

Nguyễn Kim và Duy Liêu cùng là người Thanh Hóa nhưng khác huyện. Người ở Tống Sơn, kẻ ở Lôi Dương. Tình đồng hương và lòng cảm mến gắn bó hai người thành đôi bạn tâm giao, bên nhau như hình với bóng. Nhìn một vòng quanh thành, Nguyễn Kim nói:

-Tôi thấy thành này xây trên thế đất phẳng, quanh có hào sâu, bốn phía lũy tre bao bọc chó chui không lọt. Cảnh quan nhiều núi lắm sông là thế phòng thủ vững chắc. Hồ Quý Ly là kẻ tinh đời từng trải chọn đây làm kinh đô. Từ đây tiến ra bắc hoặc lùi về nam đều thuận tiện, hợp cả thời loạn lẫn thời bình. Ý ông thế nào?

Duy Liêu trầm ngâm giây lát, chậm rãi nói:

-Tôi nghĩ hơi khác. Thành cao hào sâu kiên cố nhưng chẳng đạt lòng dân tất cũng bại vong. Hồ Quý Ly cuối cùng thất bại. Thời nay tuy bình nhưng mầm loạn vẫn nhen nhúm. Triều đình không hòa hợp chia phe này phái nọ. Vua Chiêu Tôn vụng về nông nổi nên Mạc Ðăng Dung có cớ bành trướng thế lực nắm trọn uy quyền. Nay đến vua Cung Hoàng thực sự chỉ là bù nhìn. Mầm loạn ngay ở chỗ ấy. Nghĩ như thế, ta trấn thành này là hợp. Thế đất huyện Vĩnh Lộc theo tôi chỉ hợp với thời loạn, chẳng nên với thời bình vì nằm hẻo lánh, người thưa đất cằn.

-Thế nước biến, quyền thần gây loạn, bề tôi trung chẳng lẽ khoanh tay ngồi nhìn nhà vua bị hà hiếp? Tôi muốn ra tay chấn chỉnh mối giềng xã tắc, phục hồi vương quyền. Vậy phải hành động ra sao?

-Phục ông trung nghĩa nhưng muốn thành công phải biết sức mình sức người. So sức ta kém xa họ Mạc. Ta có hai ngàn binh, Mạc có hàng chục vạn. Các xứ quanh Thăng Long đều do người của Mạc Ðăng Dung trấn giữ. Thăng Long được bảo vệ rất vững. Tại triều đình, người ta thường phù thịnh, mấy kẻ phù suy. Một số văn quan trung với nhà vua lại lặng lẽ cúi đầu, rụt rè sĩ khí. Ta thế yếu lại ở xa. Nước xa không cứu được lửa gần.

-Vậy ta đành khoanh tay thúc thủ? Nguyễn Kim nói giọng buồn. Duy Liêu trấn an:

-Ta không thúc thủ mà ẩn nhẫn chờ thời. Quan trọng là nhà vua phải khôn khéo tìm cách đứng vững, tự bảo vệ mình. Tôi nghĩ vận số nhà Lê chưa tận, thế nào cũng vượt cơn quốc biến.

Duy Liêu bước xuống vọng lâu. Còn một mình, Nguyễn Kim ngó mông lung. Phía bắc thành Tây Giai, Ðốn Sơn nổi lên hai ngọn cao vút hùng vĩ. Mờ xa là núi Hí Mã trông như trường đua ngựa. Chếch về phía tây là núi Mông Cù, đứng trên núi có thể nhìn thấy biển đông, vùng thượng lưu sông Mã. Sừng sững phía đông là Côn Sơn có khối đá lớn tựa hình sư tử hý châu, lại có Kim Sơn, mạch núi từ phía đông núi Hùng Lĩnh nổi lên 29 ngọn như chuỗi ngọc. Từ xa trông thế núi hùng vĩ hiện nhiều hình dáng như lâu đài, cờ xí, tàn lọng… Có núi trông như muông thú, cảnh sắc linh hoạt thay đổi. Trong núi có động lớn có thể chứa vài trăm người gọi là Trú Quân Sơn. Trên trăm năm trước, thời bị giặc Minh đô hộ, dân thường trốn vào động tránh phu dịch. Bên trên có cầu thiên nhiên gọi là cầu Tiên. Tương truyền những đêm trăng sáng, các tiên nữ thường hiện ra đùa vui trên cầu. Phía tây, sông Mã uốn lượn như con rồng xanh.

Trời ngả nắng. Nguyễn Kim bước xuống. Ông nghĩ phải đặt thêm đài quan sát trên mấy ngọn núi cao, đêm dùng lửa, ngày dùng cờ đỏ báo hiệu khi nguy cấp…

Sáng hôm sau Nguyễn Kim nhận tin khẩn do viên đội trưởng toán thám sát vừa từ Thăng Long trở về: Ngày rằm tháng sáu, An Hưng Vương Mạc Ðăng Dung buộc vua Lê Cung Hoàng hạ chiếu nhường ngôi báu cho mình. Tân Vương đặt niên hiệu Minh Ðức. Cơ nghiệp nhà Lê kể từ khi Thái Tổ dựng nghiệp ởợ đất Lam Sơn Thanh Hóa chấm dứt sau đúng trăm năm.

Là người trầm tĩnh nhưng Nguyễn Kim vẫn choáng váng. Viên đội trưởng kể: Mấy ngày trước, dân kinh đô nghe đồn An Hưng Vương sẽ tổ chức diễn binh thường niên vào rằm tháng sáu. Ngày mười bốn, đoàn quân áo đen của họ Mạc từ Hải Dương tiến về kinh, dân chẳng ai ngờ vực. Trưa hôm sau, tất cả ngỡ ngàng khi đọc bảng bố cáo.

Lát sau ông hỏi đội trưởng:

-Ngươi thấy tình hình chung ra sao?

-Thưa tướng công, tình thế rối ren, lòng người hoang mang lo sợ. Giới quan lại đa phần giữ yên lặng nghe ngóng tình hình. Có kẻ từ quan mai danh ẩn tích. Lại có kẻ tuẫn tiết chết theo cơ nghiệp nhà Lê cho trọn nghĩa trung quân. Mạc Ðăng Dung ban chiếu phủ dụ thần dân, vỗ yên trăm họ, kêu gọi các cựu thần nhà Lê hãy hợp tác với triều đại mới, chức vị bổng lộc giữ nguyên. Họ Mạc không bắt tội, lại truy phong cho đám bầy tôi tiết nghĩa nhà Lê. Ngay cả đền miếu của tiên triều cũng vẫn được trùng tu, bốn mùa cúng tế.

Nguyễn Kim cho viên đội trưởng lui, cùng Duy Liêu bàn luận. Ông nói:

-Ông liệu việc như thần. Chúng ta đều là tôi nhà Lê, bấy lâu hưởng lộc nước không lẽ khoanh tay ngồi nhìn bọn phản nghịch lộng hành. Hơn nữa, ta lại là người đất thang mộc, cùng quê hương với đức Thái Tổ. Ðã từ lâu ta biết Ðăng Dung là đứa thâm độc, từ lâu nuôi mộng vương bá. Chỉ tiếc quần thần khoanh tay rũ áo, ngậm miệng cầu an để nó thao túng mới nên cớ sự. Cổ nhân từng dậy: Tôi trung không thờ hai chúa, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng. Kẻ sĩ quyết không cam tâm làm thân trâu chó, thề một lòng trung quân ái quốc dù thịt nát xương tan. Ta có nên hưng binh sống chết một trận với bọn phản nghịch?

Duy Liêu đáp không suy nghĩ:

-Ông một lòng với nhà Lê. Nếu hưng binh phải trung hưng lại được cơ nghiệp nhà Lê, thế mới nên trang hào kiệt, rạng danh thiên cổ. Còn hưng binh liều chết tỏ lòng trung, lấy trứng chọi đá theo tôi không phải là hành động của bậc tài trí. Ðăng Dung là người cẩn trọng, việc soán nghịch chắc chuẩn bị từ lâu. Tôi nghĩ hắn chưa dám làm mạnh nhất là tại xứ Thanh. Tốt nhất ta lặng yên nghe ngóng tránh ba quân giao động, tuyệt không lộ ý định, từ từ sẽ liệu sau.

Tối hôm ấy, hai người ngồi đối ẩm trước hiên nhà. Nguyễn Kim uống liền mấy chung rượu, lòng dạ rối bời. Duy Liêu cũng trầm ngâm yên lặng. Mãn canh hai, cơn gió nhẹ hây hây. Trời tối mù mây đen giăng kín. Lát sau trời đổ mưa. Mưa ào ào thác lũ. Nguyễn Kim trằn trọc giữa cơn cuồng nộ đất trời. Trời giận họ Mạc hay khóc nhà Lê? Quá canh ba mưa ngớt hột rồi tạnh. Tiếng ểnh ương cóc nhái rền rĩ dần dần rời rạc buồn thảm. Những ngày tiếp, Nguyễn Kim biết tâm trạng quân sĩ hoang mang. Lính gặp ông cúi chào không dấu cái liếc trộm dò xét nhưng tuyệt không ai dám bàn tán gì. Duy Liêu bàn:

-Vùng núi Tam Ðiệp là nơi trọng yếu, là cuống họng của con đường thông thương nam bắc. Dựa vào thế hiểm núi rừng trùng điệp, ta có thể lấy một chọi mười. Ông nên tăng thêm quân, cử người thân tín trấn giữ. Ðộng tịnh gì chỉ nên chống cự cầm chân địch và phi báo. Cẩn thận không để nước đến chân mới nhẩy.

Nguyễn Kim cho là phải. Ông nói:

-Mươi tháng nữa là vụ gặt, ta nên trữ nhiều lương phòng khi nguy cấp.

Ngày qua ngày, hàng năm sau tình hình vẫn êm ả chưa thấy có biến động nào lớn chống lại họ Mạc. Nguyễn Kim nôn nóng bàn với Duy Liêu:

-Cứ thế này mộng trung hưng rồi sẽ tàn theo thời gian. Ta phải ra tay hành động. Xưa Ðức Thái Tổ từ đất này khởi nghĩa dựng nghiệp. Nay ta cũng từ đây xuất phát diệt lũ nghịch thần, đại nghĩa phải thắng hung tàn. Ông nghĩ sao?

-Xưa khác nay. Giặc Minh bạo ngược, lòng dân phẫn uất, thấm thía cái nhục mất nước nên khi Thái Tổ khởi nghĩa người người hưởng ứng. Có đủ yếu tố thiên địa nhân thế mà mười năm gian lao mới thắng trận. Nay trải qua nhiều năm loạn lạc, loạn từ triều đình loạn ra do thượng bất chính. Lòng dân ngao ngán chỉ mong sống yên lành. Nay kẻ hoài Lê cũng nhiều nhưng kẻ phù Mạc cũng lắm. Ta cần kiên gan, chiến thắng không thể đến ngày một ngày hai. Ông quen với vua Ai Lao, ta nên ngoại giao với y nhượng cho đất Sầm Châu làm cứ điểm, khai khẩn đất hoang, trữ lương mộ binh. Chọn Sầm Châu vì là đất xa hiểm trở, địch không để ý cũng như không nắm rõ tình thế quân ta. Sau đó tìm con cháu nhà Lê tôn làm vua dành chính nghĩa. Có hậu cứ, có lực lượng từ đó xuất binh diệt phản nghịch. Ấy là thượng sách.

Nguyễn Kim khen kế sách hay. Vài ngày sau, Nguyễn Kim cử Trịnh Duy Liêu làm sứ giả lên đường sang gặp Quốc vương Ai Lao. Ðội trưởng Lê Toàn chỉ huy hai trăm binh hộ tống lên đường.

Ðoàn quân băng rừng vượt suối. Tháng bảy nhiều mưa. Những cơn mưa buồn lây lất. Người ta bảo vợ chồng Ngâu đang nhỏ những giọt lệ mừng nhìn chim ô thước bắc cầu xum họp mỗi năm vào ngày song thất. Ðêm rừng thẳm thâm u, thác suối ào ào nghe như trời mưa to. Lê Toàn nằm trong lều nghe tiếng chim ăn đêm kêu vọng từ cõi xa xăm mơ hồ. Toàn buồn, con người như con sâu cái kiến, nhỏ nhoi giữa núi rừng u tịch. Nỗi nhớ quê âm ỉ.

Quê Toàn ở huyện Nga Sơn, ngôi nhà tranh nghèo ngay chân núi Thần Phù. Mẹ chết cũng vào một ngày mưa buồn tháng bảy, thoắt đã sáu năm nhưng Toàn vẫn nhớ hình ảnh lúc mẹ lâm chung. Cha ngồi bên giường lặng lẽ dằn nỗi đau nhìn người vợ sắp lìa cõi thế. Cha nghẹn ngào:“Bà có điều chi trăn trối?” Mẹ mệt nhọc thở hắt những hơi cuối cùng. Toàn đứng lặng dưới chân giường nhìn thi thể mẹ teo tóp chỉ còn da bọc xương sau nhiều tháng nằm liệt. Ngoài bốn mươi tóc mẹ đã bạc nhiều. Biết bao buổi trưa Toàn ngồi nhổ cho mẹ từng cọng tóc sâu. Mẹ ốm, cha phải bán cả thóc gạo, vay mượn thêm láng giềng cố chạy chữa thuốc thang. Ðã nghèo càng nghèo. Lúc sau cha lấy manh chiếu trải xuống đất. Hai cha con khiêng mẹ đặt trên manh chiếu. Cha mong hơi đất lạnh làm mẹ hồi sinh. Cha nói một mình:“May ra bà thương cha con côi cút chẳng nỡ bỏ đi.” Cha ngồi cạnh mẹ rất lâu rồi như thất vọng, ra hiệu Toàn phụ khiêng mẹ đặt lại trên giường. Cha bảo:“Con bước ra cửa chiêu hồn mẹ. Gọi ba hồn chín vía, mẹ ơi về với con.” Toàn bước ra cửa gọi hồn ba lần. Tiếng hú hồn vang trong đêm khuya rờn rợn ma quái. Mẹ chẳng động lòng. Mẹ nhất quyết ra đi. Vĩnh viễn. Hôm chôn mẹ, Toàn bật khóc nghe người đọc văn tế:“Than ôi! Thân mẫu vội đi, bỏ cửa bỏ nhà, cây buồn đứng lặng, tên còn người mất, xót xa đôi ngả phân ly..”

Từ đấy cha sống đơn độc, thường ngồi một mình đăm chiêu. Toàn biết cảnh nhà túng quẩn, cha phải nài nỉ khất nợ nhiều người nhưng chưa ai nỡ nặng lời trách mắng. Dân làng vốn trọng người văn học. Cha đỗ tam trường nhưng không chịu thi tiếp làm quan. Cha bảo “chốn quan trường rẫy đầy phường trộm cắp”. Toàn thương cha ngày ngày vào rừng đốn củi, bó củi mỗi ngày to hơn, nặng hơn.

Ngày nọ, cha chất đầy tay nải sắn khô, chuẩn bị búa rìu, cuốc mai. Toàn không hiểu ý cha. Cha bảo:

-Cha con mình đi tìm trầm. Cha biết vùng rừng núi Tam Ðiệp có cây dó trăm năm, ruột biến thành kỳ nam tỏa hương ngào ngạt khắp vùng. Kiếm được nó sẽ khá to. Có gan làm giầu con ạ.

Hai cha con ngày đêm bương chải. Giấc mơ kỳ nam đẩy bước chân qua bao khu rừng chằng chịt âm u, đèo cao lũng sâu. Qua những ngày nắng, những trận mưa rừng dây dưa trắc ẩn. Ðã ba chuyến đi, kỳ nam đâu chẳng thấy. Cũng may cha còn kiếm được vài loại trầm thường, bán đi có đồng tiêu vặt vãnh, trả vài món nợ vặt.

Chuyến đi thứ tư, cha quyết định đổi hướng, vào ngay khu rừng già ít người dám lai vãng vì nghe rừng có con hổ ba móng thành tinh. Bao kẻ mạo hiểm vào rừng đã không trở về. Toàn e dè, cha hối thúc:“Làm thằng đàn ông phải can đảm bản lĩnh”. Toàn lầm lũi theo cha. Qua ngày thứ hai sau khi vượt qua ngọn thác cao, dù mệt tả tơi nhưng cả hai cha con nghe thoang thoảng mùi hương trầm. Mắt cha rực sáng. Cha bảo Toàn cố lên, mình quyết tâm nên trời thương ngó lại. Hương trầm lúc thoảng lúc đậm, chập chờn quyến rũ như ma lực hút cha con vào sâu trong rừng thẳm. Tối mịt cha mới chịu dừng chân nghỉ trong hang đá lạnh âm u. Mờ sáng cha dục lên đường, băng băng đi tìm cây dó phát mùi hương kỳ ảo. Toàn dừng rửa mặt bên con suối, hốt hoảng nhận ra bộ xương người nằm kẹt giữa hai tảng đá lớn. Phải chăng đó là kẻ đã mê mẩn đi tìm kỳ nam như cha con Toàn. Toàn chỉ cho cha, ý muốn cha lùi bước trở về. Cha điềm nhiên bảo “có chí thì nên”. Cha quyết không bỏ cuộc. Ðến ngày thứ mười, hai cha con vẫn đi trong vùng hương trầm. Toàn chỉ mong cái mùi hương quái ác kia tan biến. Toàn chán ngán vô vọng nhưng không có cách gì thuyết phục ý chí sắt đá của cha. Chiều hôm ấy sau khi dừng nghỉ ăn cơm, cha kêu mệt nằm nghỉ. Buổi tối cha lên cơn sốt, trán nóng nhưng người lạnh run. Toàn đốt lửa, trùm kín chăn, cha vẫn lạnh rên hừ hừ, môi khô kêu khát nước. Toàn nói với cha:“ Ta nên về, sức thầy kiệt không thể đi nổi, ngộ có bề gì thì khốn. Cái số mình nghèo đành chịu. Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Cha thều thào:“Thà ăn của rừng còn hơn ăn của dân đen. Nhưng thôi, con đưa thầy về”.”

Sáng hôm sau Toàn cõng cha trở về. Cũng may có lúc cha tỉnh tự đi được nên đỡ vất vả. Về đến nhà, Toàn mừng còn hơn bắt được vàng. Lại cậy ông thầy thuốc người Mường chữa trị cho cha cả tháng mới hồi phục nhưng sức cha yếu hẳn không còn được như xưa. Từ đấy, cha con an phận thủ thường sống với ruộng nương. Ngày lại ngày, bốn năm trôi qua thầm lặng. Toàn ngoài hai mươi gặp cô Nụ cùng thôn trong lễ hội ngày xuân. Chỉ có lễ hội giúp trai gái gần gũi trao nhau câu hò điệu hát, cuộc sống phóng túng bay bổng vượt qua khuôn mẫu ngày thường. Nụ xinh gái, phúc hậu hồn nhiên. Toàn ngây ngất nếm hương vị ngọt ngào tình yêu ban đầu, đôi trai gái phải lòng nhau từ buổi ấy. Buổi sáng xuân nắng vàng rực rỡ phơi phới cởi mở đôi lòng. Lúc chia tay Toàn nhắn Nụ” nhớ chờ trầu cau chạm ngõ”.

Toàn lấy vợ, cha mừng nhà có đàn bà, bếp núc lại lửa khói đỡ cảnh lạnh tanh. Cô con dâu dễ bảo chăm làm. Nhưng niềm vui chỉ được vài tháng Toàn phải đăng lính, xót xa giã cha già vợ trẻ. Hai năm chưa một lần về thăm, nỗi nhớ khắc khoải ăn nằm trong lòng người lính trẻ. Toàn nghĩ nay thời bình sao chủ tướng Nguyễn Kim vẫn chưa cho phép lính thăm nhà. Chủ tướng muốn chuyển quân đi Ai Lao? Muốn chống lại vua Mạc? Bao câu hỏi quẩn quanh… Rồi Toàn còn xa nhà đến bao lâu mới có ngày vui đoàn tụ? Thôi đành phận lính, chủ tướng ra lệnh phải nghe, biết làm sao… Chuyến đi này hẳn quan trọng lắm. Toàn nghĩ lan man chìm dần vào giấc ngủ chập chờn…

Ðoàn quân tiếp tục lên đường đi vào xứ Ai Lao thâm u huyền bí rừng núi chập chùng đất rộng người thưa. Ngày trở lại quê hương thấy Quản Lĩnh Duy Liêu vui vẻ tươi cười. Toàn đoán Quản Lĩnh hoàn thành sứ mệnh.

Hai tháng sau, Quản Lĩnh lại lên đường sang Sầm Châu với quân số gấp ba lần trước. Lê Toàn dẫn quân đi tiên phong. Ðến Sầm Châu, Quản Lĩnh ra lệnh dừng chân tại vùng đất tương đối bằng phẳng. Quân chia nhiều toán, có toán làm trại binh, toán phát nương rẫy trồng lúa, sắn khoai. Toàn hiểu ra chủ tướng Nguyễn Kim sẽ dùng Sầm Châu làm căn cứ kháng vua Mạc. Những chiều sau công việc, Toàn nhìn bốn phía núi rừng trùng điệp, thương mình luân lạc, thương cha nhớ vợ quê nhà côi cút. Thời gian sau, vùng rừng núi Sầm Châu trở nên gần gũi với con người. Muông thú lùi vào rừng sâu nhường chỗ cho những mái tranh san sát, mầu xanh mơn mởn của nương lúa đồi sắn bạt ngàn. Toàn mừng phát điên nhận lệnh dẫn vài chục quân sĩ trở về Thanh Hóa trao thư Quản Lĩnh gửi chủ tướng. Có xa quê mới hiểu thế nào là nỗi nhớ, mới nghe, mới cảm được tiếng gọi tha thiết quê nhà, mới yêu cái hương vị tuyệt vời của quả cà dầm tương, của bát canh rau muống còn nghi ngút khói…

Cuối năm, Toàn được lệnh đến huyện Nga Sơn vận lương. Toàn mừng có dịp về gần nhà, định tâm dành vài ngày thăm cha già vợ trẻ. Ðợi chờ nôn nao mãi rồi cũng tới ngày lên đường. Toàn cỡi ngựa dục quân đi mau, viên đội phó chỉ huy hậu quân đi sau cùng. Ðoàn quân đến núi Tam Ðiệp, nhìn ngọn núi hùng vĩ nhấp nhô một dải xanh biếc, Toàn nhìn về phía hữu núi nhận ra động Bích Ðào, tương truyền đời nhà Trần có người Từ Thức gặp tiên nữ Giáng Hương ở đấy nên dân gian nhiều người thường gọi động Từ Thức. Từ Thức khát vọng yêu đương, chẳng màng danh lợi ra đi tìm Giáng Hương rồi lạc vào cõi tiên. Kìa là biển Thần Phù. Quê nhà, nơi chôn nhau cắt rún. Toàn nghẹn ngào, ra lệnh đoàn quân tạm dừng chân nghỉ. Viên đội phó với Toàn cũng là chỗ thân thiết. Y nói:

-Ông xem chốn đây phong cảnh hữu tình, núi non mây trời hùng vĩ.. Kìa là biển đông xanh biếc thấp thoáng mấy cánh buồm lẻ loi căng gió, vài cánh hải âu lượn lờ…

Toàn lặng yên nhìn xuống chân núi:

-Sau khu rừng cây um tùm là nhà tôi. Trên hai năm tôi chưa một lần trở về.

-Ông còn cha mẹ vợ con anh em?

-Tôi chỉ còn cha già. Vợ cưới mới vài tháng là bị đăng lính, chưa con cái gì.

-Kể cũng lạ, thời bình mà hơn năm nay chủ tướng chớ hề cho quân nghỉ phép. Tôi xa nhà cũng lâu. Hay ông cứ tạt qua nhà chơi dăm bữa. Tôi lo sổ bộ thu thóc xong sẽ hẹn ông cùng về. Tôi cũng có vợ ở tận xứ Nghệ. Vợ chồng trẻ xa nhau thật tội, chăn đơn gối lẻ, sớm hôm côi cút. Chỗ anh em ông chớ ngại ngần.

Nghe bạn nói Toàn như mở cờ trong bụng nhưng làm vẻ ngần ngừ. Viên đội phó thúc dục. Toàn giã ơn bạn lên ngựa từ từ xuống núi. Ðược một quãng thấy viên đội phó chạy tới quàng túi gạo trên yên:“Ông mang về ít gạo có cái mà dùng”.

Trời ngả nắng, cái nắng mùa đông vàng nhẹ như tơ. Người cha đang ngồi chẻ lạt ở đầu hè thấy con về buông dao cười rạng rỡ, hàm răng lưa thưa. Toàn nao nao:

-Lạy thầy con mới về. Thầy vẫn mạnh khỏe?

-Nhờ trời thầy cứ làng nhàng. Anh đi đã hơn hai năm, kể cũng lâu. Ra sau vườn gặp vợ cho chị ấy mừng.

Toàn bước vào căn nhà lạnh tanh, đặt tay nải lên chõng rồi bước ra khu vườn nhỏ sau nhà. Toàn gọi “Mình ơi”. Nụ thấy chồng mừng vui ngỡ ngàng, họ nhìn nhau ánh mắt xót thương. Nụ nói:“Bố mới về, bố vẫn khỏe? Vào nhà nghỉ tôi đang bận tay hái nắm lang luộc ăn bữa chiều”. Toàn đứng lặng, lưỡi tê cứng. Nụ hơi gầy, sạm nắng nhưng vẫn nụ cười phúc hậu trên khuôn mặt đầy, vẫn cái áo cánh nâu sồi, cái váy thâm bạc điểm vài chỗ vá. Toàn vòng ra hiên ngồi cạnh cha. Cha hỏi:

-Chuyến này anh về được lâu?

-Chắc chỉ độ dăm ngày thôi thầy ạ. Rồi Toàn kể cha nghe chuyến đi Ai Lao, những suy nghĩ của mình về An Thành Hầu Nguyễn Kim. Toàn đoán chủ tướng đang chuẩn bị kháng vua Mạc. Toàn linh cảm ra đi chuyến này không biết bao lâu nữa mới quay về. Cha lặng yên xa vắng:“ Thầy sẽ bàn chuyện với anh. Có dăm con cá rô, anh bảo chị ấy rán lên, kiếm tí rượu cha con đánh chén mừng xum họp”.

Nụ trải manh chiếu ngay giữa nhà dọn bữa. Hai cha con ngồi nhâm nhi đối ẩm. Có tiếng muỗi vo ve. Cha nói:

-Anh vắng nhà nhưng nhờ chị ấy chăm làm nên không đến nỗi túng bấn. Năm nay được mùa, đức vua tha thuế, thầy mua trữ thêm ít thóc phòng khi mưa bão thất vụ.

Cha uống hết bát rượu, rót đầy bát mới. Toàn nhìn khuôn mặt cha nhăn nhúm chịu đựng. Cha chưa đến sáu mươi mà tóc bạc trắng đầu, bao cay đắng mùi đời từng trải. Cha uống rượu, như nhờ men rượu nóng chống tuổi già đơn lạnh, cái lạnh chui rúc tận xương tủy. Toàn chậm rãi:

– Con nghĩ mình đang sức trai mà hóa vô dụng, biền biệt tha phương. Chỉ mong sớm hôm được gần gũi săn sóc thầy, đỡ đần nhà con lúc vất vả.

Cha nhìn thẳng vào mắt Toàn. Cái nhìn thấu hiểu sâu thẳm. Toàn cúi xuống tránh tia nhìn. Cha nói:

– Thầy nghe anh nói chuyến này đi không biết bao giờ mới trở về. Thầy hiểu ý anh. Tương lai của thầy chỉ là vuông đất ngoài bãi. Ðời anh còn dài. Sao không tự chủ, hoặc sống vì mình, vì hạnh phúc của những người thân, hoặc làm con cừu nhắm mắt bước theo con đầu đàn. Không dám quyết định than thở mà chi?

-Con chưa hiểu ý thầy?

-Lúc nãy anh nói chuyện An Thành Hầu lập căn cứ Sầm Châu chống lại nhà Mạc trung hưng cơ nghiệp nhà Lê. Chuyện đúng sai, nên hay không thầy chẳng dám bàn. Thầy đọc kinh sử, cũng đôi lần nói cho anh nghe, nay thầy nhắc lại. Nước nam ta tự thuở lập quốc trải qua biết bao đổi dời,bao triều đại. Ấy là lẽ hưng phế thường tình, nào có triều đại nào tồn tại mãi. Cứ kể tự thời tự chủ, Ngô Vương mất đi, cơ nghiệp lọt vào tay Dương Tam Kha. Anh em họ Ngô dành lại quyền bính lại để xẩy ra loạn thập nhị sứ quân do không tập trung được sức mạnh. Vạn Thắng Vương Ðinh Bộ Lĩnh dẹp yên tất cả, cơ nghiệp nhà Ðinh tưởng đâu bền vững, nào ngờ Ðinh Tiên Hoàng Ðế lại chết vì Ðỗ Thích. Ðến đời con thơ dại không giữ nổi cơ nghiệp, ngôi vua về tay Lê Ðại Hành. Họ Lê chết, các con tranh cướp ngôi vua. Long Ðĩnh giết anh Long Việt. Long Ðĩnh hoang dâm bạo ngược mở đường cho Lý Công Uẩn lên ngôi báu lập nhà Lý… Anh xem, ba triều đại đầu tiên tồn tại không quá hai đời do ngôi vương bá không ngừng bị tranh cướp. Lê dân khổ lây vì loạn lạc chiến tranh…

Cha ngừng mân mê bát rượu. Toàn lặng yên chờ. Cha tiếp:

-Ðời thầy cũng từng chứng kiến bao cuộc dâu bể. Vua Uy Mục tàn ác sa đọa, vua Tương Dực hoang dâm xa xỉ. Dân è cổ nộp sưu thuế. Quyền thần làm loạn giết vua này lập vua khác. Chiêu Tôn bất lực nhìn cảnh hỗn loạn. Vua là chúa tể trên cả thần linh, nay đâm ra sợ các quyền thần. Mối loạn từ trên loạn xuống, từ trong loạn ra. Các vị trung quân ái quốc, khi vận nước nguy ngập sao không cứu nguy, bao kẻ mũ cao áo dài, bằng nọ cấp kia ngậm miệng im hơi hưởng bổng lộc khác nào kẻ sĩ thời Chiến Quốc, đến nỗi dân thời ấy phê câu “Chiến Quốc chi sĩ tiện”, có nghĩa kẻ sĩ thời Chiến Quốc hèn hạ! Những kẻ xác còn mà lòng đã chết. Thậm chí các võ tướng mưu bá đồ vương kéo quân đánh lẫn nhau gây cảnh điêu tàn tang tóc. Quân của Vĩnh Hưng Hầu Trịnh Tuy giao tranh với An Hòa Hầu Nguyễn Hoằng Dụ ngay tại kinh đô. Vua can cũng mặc, chẳng coi đấng chí tôn ra gì. An Hòa Hầu nào ai xa, ngài chính là thân phụ chủ tướng của anh. Thầy như bao người chỉ là dân đen thấp cổ bé miệng. Ai làm vua cũng mặc, ai làm tướng cũng thế. Chỉ mong có đấng minh quân, đất nước thái hòa, không có cảnh núi xương sông máu, người người yên ổn làm ăn cơm no áo ấm… Thầy chẳng mong gì lại có các vua như Uy Mục Tương Dực.

Ðêm khuya trăng mờ, có cánh dơi lẻ loi vờn quanh ngọn xoan trước nhà. Cha bảo Toàn đi nghỉ sáng dậy sớm. Toàn vào nằm bên Nụ, ngửi lại hương tóc mùi bồ kết nồng nồng ngây ngất. Tình yêu rồi cũng như hương một thoáng bay xa? Nụ còn thức nhưng làm như đã ngủ. Toàn lay lay thì thầm:“Mình ơi, ta nên có mụn con nối dõi tông đường”.

Vài hôm sau, Toàn giã cha lên đường. Cha dặn Toàn cẩn trọng, chín chắn nghĩ suy. Nụ gói cho chồng dăm nắm cơm, ít muối vừng, bước vội ra sau nhà như sợ cảnh ly biệt. Toàn đứng lặng, chút hạnh phúc nhỏ nhoi chừng sắp tan biến. Lúc Toàn lên ngựa, chợt nhận ra cha cúi mặt khóc. Toàn quay vội. Ôi những giọt nước mắt hiếm hoi trên khuôn mặt cha già. Bao lâu cha mới một lần khóc. Một đời trải qua sướng khổ buồn vui. Những sum họp biệt ly, nụ cười nào cũng có nước mắt. Nhìn cây chuối lão trước ngõ gầy còm xác xơ đeo buồng quả trĩu nặng, hình ảnh cha già còng lưng đeo sầu năm tháng. Toàn nghẹn ngào…

Mùa xuân năm Kỷ Sửu 1529, Toàn lại thêm cái tết xa nhà. Ra giêng, chủ tướng Nguyễn Kim bí mật xúc tiến kế hoạch chuyển quân sang Sầm Châu. Ông tin tưởng hầu hết lính của ông là dân Thanh Nghệ rất mực trung thành với nhà Lê, sẵn sàng theo chủ tướng đi bất cứ nơi đâu.

Một đêm hè tĩnh lặng lác đác sao mờ. Tiếng trống điểm canh ba vừa dứt. Chủ tướng Nguyễn Kim ra lệnh cuốn cờ dẹp trống. Quân sĩ đội ngũ chỉnh tề lặng lẽ rút khỏi thành đi về hướng tây.

Sau vài ngày hành quân trong núi thẳm rừng sâu. Buổi sáng sớm, sau đêm di chuyển mệt nhọc, chủ tướng ra lệnh dừng chân nghỉ điểm binh bên giòng suối. Ðộầi trưởng Lê Toàn và viên đội phó vắng mặt. Hỏi không ai biết đi đâu, từ bao giờ. Chủ tướng thương hai người lính trẻ, sợ đã gặp bất trắc khi di chuyển trong rừng đêm, ra lệnh mấy mươi lính tỏa nhiều hướng đi tìm.

Buổi chiều, mặt trời thoi thóp trên sườn non, các toán quân lục tục kéo về báo cáo. Tất cả ra sức tìm kiếm không thấy vết tích đội trưởng đội phó, chỉ thấy rừng núi tiếp nối chập chùng…

 

Thủ Lĩnh Sầm Châu

 

 

Ðộng Lam Sơn thuộc huyện Thụy Nguyên xứ Thanh Hóa vốn là đất tổ nhà Lê. Chuyện xưa kể: Tổ ba đời Thái Tổ Lê Lợi là Lê Hối vốn người hào hiệp phóng túng, giầu của giầu lòng. Tuổi ngoài năm mươi, ngài trút bỏ thế sự, phân chia gia sản cho các con, một mình một ngựa ra đi ngao du sơn thủy. Mải mê cảnh mây trời non nước, vó ngựa một chiều dừng chân trên ngọn đồi nhỏ bên giòng sông Lam xứ Nghệ. Giòng nước trong xanh lững lờ như rồng xanh uốn lượn giữa đôi bờ cỏ cây xanh biếc. Mờ xa, vài cánh buồm lẻ loi căng gió mờ ảo khói sương. Kìa là vùng núi non chập chùng kỳ vĩ mang dáng tứ linh long ly quy phụng. Lê Hối vào tận huyện Nghi Xuân nhìn Hồng Lĩnh Sơn, mạch núi từ Trà Sơn kéo đến uy nghi hùng vĩ ngất trời với 99 ngọn cao thấp trùng điệp. Có ngọn tựa hình sư tử, ngọn dáng như voi nằm, ngọn như phụng hoàng cất cánh, ngọn như cá lượn lờ… Lê Hối dừng chân tại núi Hương Tích, thế núi ngất trời, đỉnh cao mây phủ. Từng nghe danh chùa Hương, ngài quyết lên non. Ðến lưng chừng núi gặp trung niên áo nâu đeo sọt trên lưng. Lê Hối nhìn đoán là tay học thức, hỏi:

-Ta là khách viễn phương đến vãn cảnh chùa. Người ở đây tỏ tường mọi nẻo, có hảo tâm cho nghe qua chút lai lịch chùa Hương?

Thấy khách dung mạo uy nghi, lời lẽ ôn tồn, trung niên kính cẩn:

-Tôi đoán ngài người phương xa. Tôi quê ở đây làm thầy lang, cách vài ngày lại đăng sơn hái thuốc. Nội tổ kể: Một thuở nào đó xa xưa, khi rừng mây âm u, khi sông núi thần linh ngự trị. Núi này mang tên Ðông Dương, vẫn là nơi chư thần gặp gỡ. Bấy giờ bên Tàu, vua Trang Vương nước Sở có công chúa út xinh đẹp tên Diệu Thiện. Diệu Thiện mộ Phật từ nhỏ, hằng tâm phát nguyện quy y. Năm nàng độ tuổi trăng tròn, phụ vương chọn mặt gửi vàng, tìm trang tuấn kiệt xứng ngôi phò mã. Vua tưởng con mãn nguyện, nào ngờ Diệu Thiện nài nỉ khóc than, xin phụ vương ban ân được nương tựa cửa thiền thỏa tâm nguyện tự thuở ấu thơ. Vua quyết không thuận, bảo con cãi cha mang tội bất hiếu. Hôn lễ cứ thế tiến hành. Biết không chuyển lòng phụ vương sắt đá, Diệu Thiện một đêm trốn khỏi hoàng cung, ẩn thân trong ngôi chùa ở ngoại thành. Vua tìm ra tung tích con gái, nổi giận truyền phóng hỏa đốt chùa. Lửa cháy ngập trời bỗng có rồng xuất hiện phun nước dập tắt. Thấy dáng con trong chùa, vua cả giận sai vũ sĩ gươm giáo tuốt trần quyết sát. Bỗng trời mây u ám, gió nổi đùng đùng. Một mãnh hổ phóng ra cõng Diệu Thiện trên lưng lướt gió bay vút trời cao. Vua nguyền rủa không ngớt, đành lui binh mã. Mãnh hổ là đệ tử Phật Tổ Như Lai, nhận lệnh Phật đưa Diệu Thiện về phương nam, đặt trên núi Ðông Dương thuộc đất Việt Thường.

Tỉnh dậy, Diệu Thiện thấy đang nằm trong động, trước có đá che tựa mái hiên. Nơi đây thanh vắng thâm u, núi cao lớp lớp trùng trùng mây trôi lờ lững. Diệu Thiện đang ngơ ngác, bỗng thấy cánh hạc đáp xuống hiến dâng quả ngọt, bầy nai vàng ngậm hoa chào đón. Diệu Thiện tạ ân Phật cứu khổ. Từ đấy an tâm tu đạo, một lòng cầu kinh niệm Phật thoát cõi u minh nghiệp chướng luân hồi.

Ngày lại ngày, nào ngờ chốn thâm sơn cùng cốc có người lai vãng. Danh tiếng sư nữ dần lan khắp cõi Việt Thường. Thiện nam tín nữ nơi nơi nô nức đến nghe sư nữ Diệu Thiện giảng kinh. Người ta bảo nàng là hiện thân Phật Quan Âm Nam Hải … Trung niên kể đến đây bỗng ngập ngừng:

-Ðoạn này tôi quên bẵng. Chỉ biết sau này Sở Trang Vương lâm trọng bệnh, các danh y bó tay. Nhà vua hứa trao giang sơn cho kẻ nào cứu mạng. Diệu Thiện nhận lệnh Phật Tổ biến thành lương y chữa lành bệnh hiểm nghèo cho phụ vương. Sau khi hồi phục, Sở Trang Vương giữ lời hứa nhường ngôi cho vị lương y cứu mệnh, nhưng lương y bỏ đi biệt tích. Trang Vương lập đàn tạ ân trời đất. Ðêm ấy thần nhân báo mộng cho vua và hòang hậu biết, lương y chính là công chúa Diệu Thiện. Nàng nay tu hành trên ngọn Ðông Dương xứ Việt Thường. Vua cả mừng cùng hoàng hậu và vài mươi tùy tùng lên đường xuống phương nam tìm con. Chuyện sau thế nào chẳng rõ, chỉ biết sau khi gặp Diệu Thiện, Sở Trang Vương và hoàng hậu phát nguyện quy y… Sau Quan Âm Nam Hải về cõi Phật, cảnh chùa vắng lặng, chẳng còn ai lên ngọn Ðông Dương. Qua bao tháng năm, đến thời nhà Trần, có người nhớ tích xưa tìm ra động cũ. Nhà vua cho xây cảnh chùa đặt tên Hương Tích, có nghĩa dấu tích muôn đời lưu tiếng thơm. Chùa xây xong, do thần nhân chỉ lối, vua tìm được vị sư áo trắng. Không biết sư đến tự phương nào, lai lịch ra sao. Sư thường ngồi trong động trên núi Thiên Tượng giảng kinh. Người ta đồn sư thông kim bác cổ, biết việc quá khứ vị lai. Vua mừng rỡ, truyền sư về trụ trì chùa Hương Tích. Thiện nam tín nữ lại nô nức đến nghe giảng kinh, tôn sư là Bạch Y Thần Tăng. Sư cho dựng 99 đài bằng đá gọi Trang Vương Ðài. Sau người Chiêm Thành xâm lấn đốt chùa. Bạch Y Thần Tăng cỡi mây bay về phương bắc. Từ đấy chùa tan hoang, khói lạnh hương tàn. Cảnh trí tiêu điều còn chi thuở son vàng cũ?

-Ta cất công đường xa lặn lội, dù chẳng vàng son cũng muốn nhìn lại cảnh hoang phế, xin cứ vui lòng chỉ lối.

Thấy khách quyết tâm, trung niên nói:

-Ngài vòng phía tả, chừng nửa dậm đường thấy con suối lẫn trong vùng thông trúc um tùm. Chùa ngay phía hậu.

Lê Hối tạ từ ra đi. Qua khu rừng trúc, Trang Vương Ðài bị tàn phá tan hoang, những pho tượng đá sứt cổ gẫy gọng đổ nhào chắn lối. Những đống gạch vụn đã phủ rêu xanh. Ngọn thác sau chùa ào ào trắng xóa như vành tang nhớ thuở xa xưa dập dìu khách xá. Lê Hối trầm ngâm ngồi trên tảng đá, xót cảnh bể dâu vật đổi sao dời.

Trời ngả nắng, đang định xuống núi bỗng mây ùn ùn lớp lớp kéo tới giăng kín trời. Biết sắp mưa, Lê Hối vào ẩn trong động đá sau chùa. Rồi mưa, mưa lúc nhặt lúc thưa lê thê không dứt. Lê Hối lạnh lẽo cô đơn dựa vách đá ngủ chập chờn. Màn đêm buông. Ðêm đen sâu thẳm. Rất khuya, Lê Hối bừng tỉnh bởi mùi hương ngào ngạt lạ kỳ. Bóng người áo trắng đứng ngay cửa động. Một lão ông mặt sáng như trăng, tiên phong đạo cốt. Lê Hối đoán là Bạch Y Thần Tăng, bật dậy vòng tay thi lễ:

-Khách phương xa đến vãn cảnh chùa. Gặp gió mưa kềm tỏa đành tá túc qua đêm. Xin thần nhân thứ lỗi.

Lê Hối nghe giọng nói thoảng như từ cõi xa:

-Ta từ thượng giới, cảm tấm lòng người chẳng ngại mưa gió ngàn dậm quan san nên lộ thiên cơ. Hãy xuôi hướng bắc tìm giòng sông hiền, ở đấy chim muông tụ hội, thế đất xoáy trôn ốc gồm đủ long sơn long thủy. Sau này nên vì nghĩa cả, thế thiên hành đạo cứu người Việt lầm than, dựng nghiệp trăm năm lưu danh thiên cổ.

Thế rồi gió nổi ào ào, lá rừng lả tả. Thần nhân nương gió mà đi. Lê Hối quì sụp lạy tạ.

Trời sáng mưa ngưng, mặt trời rực rỡ. Lê Hối xuống núi, theo hướng chỉ thần nhân tìm đến sông Lương huyện Thụy Nguyên. Giòng sông xanh trong hiền hòa chảy vào Tây Hồ ngay động Lam Sơn. Bên tả có núi Chí Linh, hữu là ngọn Chiêu Sơn, kiểu đất quanh co trôn ốc có hồ nước lớn bao bọc như cánh tay ôm của mẹ, mẹ cao lớn hóa thân thành núi. Một vùng cây cỏ xanh tươi núi non hùng vĩ, chim muông tụ líu lo cất tiếng, đúng nơi đất lành chim đậu. Lê Hối mừng rỡ trở về, truyền con cái, hàng trăm gia nhân đem hết tài sản đến đất Lam Sơn lập nghiệp.

Từ đấy Lam Sơn trở mình biến thành vùng trù phú. Ba đời sau, Lê Lợi quản lý cơ ngơi tổ tiên. Sau này giặc Minh xâm lấn, dân ta bị lệ thuộc cực khổ trăm chiều. Cuộc sống thua thú vật, giặc Minh độc ác tàn phá di tích văn hóa, thiêu hủy bao công trình trí tuệ dân ta. Lê Lợi nhớ di chúc ông cha đứng lên phất cờ khởi nghĩa, thế thiên hành đạo, mười năm gian lao đuổi lũ sài lang độc ác lập triều đại nhà Lê.

Lê Lợi lên ngôi vua năm Mậu Thân 1428 tức Lê Thái Tổ. Trăm năm sau, con cháu nhàợ Lê bất xứng bị Mạc Ðăng Dung đoạt mất ngôi cao. Bấy giờ lòng người hoang mang, dân Lam Sơn nhiều kẻ trốn vào rừng sâu núi thẳm sợ bị họ Mạc sát hại. Còn lại chỉ ông già bà lão cùng lũ trẻ thơ, ruộng đồng hoang phế, đất thiếu người chăm dần dần cằn cỗi. Tân vương hạ chiếu không làm tội ai, tôn miếu nhà Lê được bảo vệ, con cháu tự do tế tự tiên tổ nhưng lòng người vẫn nghi ngại ngờ vực. Khi An Thành Hầu Nguyễn Kim lập căn cứ kháng Mạc, con cháu nhà Lê nhiều người băng rừng vượt suối sang Ai Lao gia nhập đoàn quân trung hưng, mong ngày dựng lại nghiệp tổ.

Mùa xuân năm Quý Tỵ 1533. Tin đồn bắt đầu từ Lam Sơn dần lan sang các huyện Tống Sơn, Nga Sơn, Vĩnh Lộc… rồi khắp xứ Thanh. Ðồn rằng: An Thành Hầu Nguyễn Kim đã tìm được con cháu nhà Lê lập lên ngôi báu, vua Lê và triều đình hiện ở Sầm Châu thuộc nước Ai Lao. Rằng danh tướng của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm, tay hào kiệt người huyện Vĩnh Lộc đang chuẩn bị hưng binh phạt Mạc. Có bà cụ tuổi ngoại thất tuần kể chuyện rành rẽ:“ Có trời làm chứng, chính sư cụ chùa Từ Vân kể ta nghe rõ ngọn nguồn. Nhà vua tên Duy Ninh, hoàng tử út vua Chiêu Tôn. Mẫu thân là Ngọc Quỳnh, bà họ Nguyễn vốn người sách Cao Trĩ. Khi nghịch Mạc tiếm ngôi, bà mang con lẩn trốn trên vùng sơn cước, sau nghèo khó đành gửi hoàng tử nương náu cửa Phật. Sư cụ bảo, ngài quả chân mạng đế vương, lên chùa lạy Phật thì Phật ngoảnh mặt không dám nhận lễ, ra khỏi cổng chùa trên đầu có mây ngũ sắc che chở, đêm ngủ có rồng cuộn canh giấc. An Thành Hầu ba lần được thần nhân báo mộng, thế mà dò la mãi mới tìm ra tung tích ngài.” Cụ tiên chỉ móm mém, tóc trắng như vôi cười hể hả:“ Hoàng thiên hữu nhãn, công lao đức Thái Tổ ta trời nào nỡ phụ. Chẳng qua mệnh nước đảo điên nên bọn phản nghịch có cơ tác quái. Rồi bay cũng tận số. Ta hằng đêm xem thiên trượng thấy ngôi đế tinh đã hiện mờ mờ ở phương tây. Ðiềm trời đã báo buổi bình minh ắt chẳng sai lạc.”

Một đêm, có người đến gõ cửa nhà cụ tiên chỉ. Kẻ lạ bước vào nhà khoanh tay cúi chào:

-Bẩm cụ, cụ có nhận ra con?

Chăm chú nhìn, cụ tiên chỉ vui mừng nhận ra Trần Ðạt. Ðạt có thời làm tá điền nhà cụ, sau nhờ giỏi võ được Nguyễn Kim tuyển làm vệ sĩ. Cụ đoán y trở về gặp ắt có việc hệ trọng.

Trần Ðạt cho cụ biết một ngày không xa, vua Mạc sẽ từ từ phân tán dân Thanh Nghệ vì sợ dân hai xứ liên kết nổi lên chống. Ðạt xác nhận Hoàng tử Duy Ninh lên ngôi tức vua Trang Tôn. Vua phong Nguyễn Kim làm Thái Sư Hưng Quốc Công, triều đình gồm đủ bá quan văn võ. Binh lực hàng ngàn, tập luyện tinh thông. Cụ tiên chỉ có vẻ lo:

-Nghịch Mạc muốn xua dân đi, ta có cách chi đối phó? Không lẽ cúi đầu bỏ quê cha đất tổ.

-Thưa thật cụ, con về gặp cụ do lệnh Thái Sư. Ngài đề nghị cụ bí mật loan truyền tin tức, khuyên dân tạm lánh sang Sầm Châu. Xứ ấy nay trù phú, ngút ngàn đồi nương tha hồ canh tác. Ai làm nấy hưởng, không sưu cao thuế nặng, lại tránh được cảnh chinh chiến mai sau. Dẹp xong phản nghịch yên lành ta lại về.

Cụ tiên chỉ muốn lưu khách nhưng Trần Ðạt tạ từ . Ðêm ấy cụ trằn trọc. Tuổi đời đã nặng, ra đi biết bao giờ trở lại, có khi lại bỏ nắm xương tàn nơi quê người đất khách. Lại nghĩ đến câu quốc gia hưng vong… không lẽ làm ngơ trước vận mệnh nước non, mối nhục để đời nếu bình yên tọa thị. Cụ cảm thấy hãnh diện được Thái Sư Nguyễn Kim tín cẩn, thân già có dịp nghiêng vai gánh vác việc nước việc dân. Ðêm dần tàn…

Ngay hôm sau, cụ tiên chỉ họp các bô lão bày tỏ ý định. Ai nấy hăng hái đồng tình. Riêng cụ đồ Nguyễn lặng thinh. Cụ tiên chỉ hỏi, cụ đồ chỉ ậm ừ bảo ai sao tôi vậy. Thực tâm cụ đã chán cảnh binh đao. Cụ nghĩ khí số nhà Lê đã tận, lịch sử dân tộc phải xoay chuyển sang vận hội mới, cần đấng minh quân thay trời trị dân. Vua Lê hay vua Mạc cũng vậy, miễn ai đem lại an vui, thái bình thịnh trị là cụ mừng. Vua Thái Tôn nhà Mạc (Mạc Ðăng Doanh) từ ngày nhận ngôi báu sống giản dị khiêm tốn, hết lòng lo cho dân cho nước, giảm sưu thuế, nhà nhà sống yên vui khác hẳn với thời các vua Lê Uy Mục, Tương Dực. Vậy tại sao lại muốn thay đổi vương triều. Những xác chết bạo quyền chỉ nên vùi chôn, khơi dậy chi thêm nặng mùi. Dân làng lũ lượt bỏ quê sang Sầm Châu. Ai hỏi cụ đồ bao giờ lên đường, cụ nói cứ thư thả.

Mùa hè năm ấy, căn cứ Sầm Châu thay hẳn bộ mặt. Căn nhà sàn năm gian mái ngói vừa làm xong. Căn nhà mái ngói duy nhất dùng làm hoàng cung cho vua Lê Trang Tôn, vị vua trẻ tuổi tròn mười tám. Cạnh đấy là căn nhà năm gian khác dùng làm chỗ quần thần nghị hội. Cuộc đời chàng trai nghèo huyện Thụy Nguyên như trong cổ tích. Ðang sống lẩn lút ở vùng thượng du bỗng dưng được mời làm vua, được người người kính trọng muôn tâu quỳ lạy… Vua lúng túng ngỡ ngàng trước hoàn cảnh đổi thay đột ngột. Bộ lễ phục càng làm vua vụng về hơn. Dù chẳng cung vàng điện ngọc, vua sung sướng với vai trò mới. Vua hiểu người đặt vua trên ngôi cao là Thái Sư Nguyễn Kim nên đối với Thái Sư, vua cung kính gọi Thượng Phụ, xem ông như cha. Quản Lĩnh Trịnh Duy Liêu nay thành Quốc Sư, trách nhiệm dậy vua học lễ nghi kinh sử. Vua thông minh hiếu học. Quốc Sư thường khen đầu vua như giếng, đổ bao nhiêu chẳng vừa. Chỉ vài tháng sau, vua tỏ ra khôn ngoan ứng xử, nói năng từ tốn đường hoàng. Vua đã quen xưng là trẫm, quen nghe quần thần gọi bằng bệ hạ. Thái Sư mừng, cho rằng nghiệp Lê chẳng tận, ngày trung hưng cơ nghiệp chắc không lâu.

Sầm Châu ngày càng đông vui. Dân xứ Thanh Nghệ đồn nhau đổ về lập nghiệp trên quê hương mới. Trời cho mưa thuận gió hòa, nhà nhà gạo thóc có dư thoát cảnh chạy ăn từng bữa. Trưa chiều, khói tơ quẩn quanh trên những mái nhà sàn. Bao đám cưới, bao trẻ thơ chào đời. Tinh thần quân sĩ cao độ, như lúc nào cũng sẵn sàng xuất quân chinh phạt phản nghịch.

Một chiều tàn thu, Thái Sư và Quốc Sư ngồi đối ẩm. Bên ngoài nắng nhạt, trời xanh bát ngát, cơn gió nhẹ đong đưa mấy đóa tiểu muội trước hiên. Xong vài chung rượu, Thái Sư giọng trầm buồn:

-Chỉ mấy năm ta tạo được cảnh này, dân sống thái hòa, quân đông tướng giỏi nhưng ý ông vẫn khuyên chưa nên động binh. Do vậy lòng này vui chưa trọn. Tuổi đời ngày một cao, ông với tôi ai cũng ngót bảy mươi, biết ngày nào công thành danh toại, khỏi thẹn chí trai đội trời đạp đất?

Quốc Sư lặng yên giây lâu, chậm rãi:

-Ông nôn nóng lẽ nào tôi điềm nhiên. Thuật dụng binh quý nhất phải có thiên thời địa lợi nhân hòa. Cứ xem như ta có thiên thời, nhưng còn địa lợi? Ta động binh phải giao tranh trên đất địch. Quân ta chưa đến một vạn, không lẽ kéo hết đi tử chiến để hậu cứ trống không. Trong khi địch quân dễ dàng điều vài vạn quân bao vây tiêu diệt quân ta. Hơn nữa, em vua Mạc là Hoằng Vương Mạc Chính Trung thường đích thân tuần tra Thanh Hóa. Y là tay danh tướng, hành binh cẩn trọng, mưu lược ít ai bì. Tôi biết rõ về y thời còn ở Thăng Long. Còn nhân hòa, chỉ có dân Thanh Nghệ và một số ít trung thành với nhà Lê. Do vì từ khi lên ngôi, Mạc Ðăng Doanh chú tâm ổn định đời sống nhân dân. Quân do thám của ta từng báo cáo tình hình: Hiện nay dân sống thái bình no đủ chẳng lo trộm cướp, đêm ngủ không đóng cửa, trâu bò không cần lùa về chuồng… Dân chỉ thích sống ấm no nên lòng dân thiên về Mạc hẳn không phải ít. Tôi khuyên ông chớ nôn nóng mà phải kiên nhẫn chờ thời là vậy.

-Cứ mãi chờ e lòng quân chán nản. Không khéo chúng ta theo nhau xuống lỗ cả thôi…

Biết ý Thái Sư chưa vừa ý, Quốc Sư cười nói:

-Nếu ý trời chưa muốn dứt nhà Lê thì mộng trung hưng trước sau gì cũng thành. Ông nên vững tin.

Trăng lên vằng vặc tỏa sáng mênh mông. Thái Sư bỗng cao hứng đứng dậy tuốt gươm, bước di chuyển nhịp nhàng, ánh thép loang loáng phủ quanh mình. Quốc Sư vỗ tay reo:

-Sức ông còn mạnh, trai trẻ khó sánh, lo gì mộng lớn không thành.

Thái Sư dừng tay kiếm, hơi thở vẫn đều mặt không biến sắc. Hai người bạn tâm giao vui vẻ yến ẩm đến gần nửa đêm…

Tuần trăng sau, nhà vua bất ngờ nhận biểu văn của viên trấn thủ Ðại Ðồng Tuyên Quang, vùng rừng núi phía bắc sát biên thùy Trung Hoa. Trấn thủ Vũ Văn Uyên thần phục nhà vua, xin được tùy nghi phong chức cho các bộ tướng. Văn Uyên hứa đảm đương việc trung nghĩa, quét sạch cung ấp nhà Mạc, rước xa giá vua Lê về lại Thăng Long. Vua cả mừng hỏi ý Thái Sư. Thái Sư nói: Ðó là ý trời muốn giúp nhà Lê khôi phục thiên hạ. Thái Sư hỏi viên bộ tướng:

-Chủ tướng ngươi lai lịch thế nào?

-Bẩm Thái Sư, trước kia chủ tôi vốn người châu thổ sông Hồng chạy trốn họ Mạc trôi giạt lên phía bắc. Lúc ấy viên Thổ Tù Ðại Ðồng hà khắc bạo ngược, nhân dân oán hận. Chủ tôi chiêu mộ quân dân nổi lên giết đi, sau được dân tôn làm chủ đất đó, người người quy phục.

-Số quân chủ ngươi cai quản bao nhiêu? Có từng giao tranh với quân Mạc?

-Quân số dưới tay chủ tôi trên nửa vạn. Quân Mạc nhiều phen tấn công nhưng không làm gì nổi. Ý chủ tôi muốn khống chế vùng thượng du, không cho quân Mạc rảnh tay dốc toàn lực tấn công lực lượng đức vua ở phương nam.

Thái Sư đẹp dạ trọng thưởng viên bộ tướng, lại đề nghị vua phong Văn Uyên chức Bình Ðông Tướng Quân. Vài ngày sau, Thái Sư nói với Quốc Sư:

-Tôi nghĩ ra kế sách mới nhất quyết phải làm. Nay ta đã có quân ở phía bắc nhưng chưa hoàn toàn đáng tin, vậy phải dựa vào lực của người Tàu. Ý tôi muốn có sứ giả chính thức sang gặp vua Minh Gia Tĩnh, kể tội Mạc Ðăng Dung soán nghịch, nài nỉ vua Minh xuất quân trừng phạt. Khi ấy ta sẽ thừa cơ tấn công Thanh Nghệ, cầm chắc thế thắng. Việc này phi ông không ai làm được. Vậy ông sẽ làm sứ giả sang Tàu lo quốc sự, ông chuẩn bị mươi ngày nữa lên đường, cần gì thêm cho tôi biết.

Biết ý Thái Sư cương quyết, có nói cũng bằng thừa. Quốc Sư ra vẻ bằng lòng nhưng thực sự ê chề đau đớn. Cái gương trăm năm trước, con cháu nhà Trần cầu cứu nhà Minh đem quân diệt Hồ Quý Ly. Nhà Hồ diệt vong nhưng đất nước rơi vào vòng nô lệ, nhân dân khốn khổ lầm than hơn bao giờ hết. Người Tàu muốn đồng hóa người Việt, ra sức tiêu diệt văn hóa nước nam, sách sử bị đốt, đến lăng mộ cũng bị đập phá… Thì thôi cũng đành cất bước khỏi phụ lòng bạn rồi tùy cơ ứng biến. Nào ai thương dân tộc mình bằng chính mình.

Tháng sau, sứ bộ khoảng mười người lên đường sang Trung Hoa. Thái Sư Nguyễn Kim ngậm ngùi tiễn bạn lên đường. Hai người bạn già xiết chặt tay nhau, nước mắt ngắn dài… Ông đứng nhìn theo đến khi đoàn người khuất sau khe núi mới trở gót.

Từ đấy, thời gian với Thái Sư trôi quá chậm. Thế rồi sáu tháng, một năm, năm rưỡi, rồi gần hai năm… Sầm Châu vẫn chưa nhận được tin tức về sứ bộ. Thái Sư lo buồn đoán sứ bộ đã gặp bất trắc bèn phái viên tùy tướng Trịnh Viên và vài người khỏe mạnh hộ tống đem theo nhiều vàng bạc lộ phí lên đường sang Trung Hoa dò tình hình. Năm sau, Trịnh Viên trở về báo cáo, sứ bộ đến Vân Nam lại gặp đám quan lại nhà Minh do vua Gia Tĩnh cử đến biên giới dọ xét tình hình nước nam. Trịnh Viên tường trình tội ác họ Mạc soán ngôi, lừa dối thiên triều, khẩn thiết xin thiên triều trừng phạt Mạc Ðăng Dung cho con cháu nhà Lê phục hồi ngôi cũ. Theo Viên, trước sau gì nhà Minh cũng sẽ động binh.

Phần Quốc Sư, Trịnh Viên được biết Quốc Sư đã bái yết vua Minh kể tội họ Mạc, lại viết tâm thư vài ngàn chữ, lời văn trác tuyệt tỏ rõ lòng thành làm mọi người thán phục. Trịnh Viên đoán vua Minh vốn trọng nhân tài, có ý lưu Quốc Sư lại không cho về nước nhưng nói thác giữ phái bộ ở lại chờ điều tra cho rõ thực hư vì phái bộ nhà Mạc đã tâu vua Minh con cháu nhà Lê nay chẳng còn ai nối nghiệp. Thái Sư nghe xong than vắn thở dài. Mối sầu lạc đệ khắc khoải, Thái Sư tìm quên trong men rượu. Khi say nhìn về phương bắc mà khóc. Dực Nghĩa Hầu Trịnh Kiểm, con rể Thái Sư tìm lời khuyên can nhạc gia. Kiểm đề nghị:

-Thưa nhạc gia, Quốc Sư đi sứ chưa về không hẳn là đã mất, sau có cơ hội ta lại xin vua Minh cho ngài hồi hương. Nay dù vắng Quốc Sư nhưng tinh thần quân dân khí thế chẳng nao, nhất là sau khi viên tướng nhà Mạc trấn thủ bảy huyện Thanh Hóa về hàng phục triều đình. Con tình nguyện dẫn bộ quân về đánh Lôi Dương phô trương thanh thế, trận đầu quyết thắng. Nhạc gia không tin, con xin viết quân lệnh trạng, không thắng sẽ treo đầu trên ngọn giáo chịu tội.

Năm Kỷ Hợi 1539 đại quân Lê do Trịnh Kiểm chỉ huy vượt biên tấn công huyện Lôi Dương. Quân Lê đại thắng, tướng sĩ Mạc lũ lượt hàng phục. Sầm Châu treo đèn kết hoa chào đoàn quân chiến thắng trở về. Vua Lê cả mừng phong Trịnh Kiểm làm Dực Quận Công.

Năm sau, đích thân Thái Sư hưng binh phạt Mạc. Vua Lê can:

-Thượng Phụ một lòng vì nước, công lao như Thái Sơn. Nay tuổi ngoài bảy mươi còn lo việc binh, lòng trẫm áy náy. Chi bằng ta để Dực Quận Công (Trịnh Kiểm) và các tướng trẻ ra quân, Thượng Phụ ở lại đất này gánh vác triều chính. Trẫm vì lòng kính trọng nói thế, Thượng Phụ tính sao?

Thái Sư khẳng khái:

-Thần tuy ngoài bảy mươi nhưng trời còn cho sức mạnh. Trai trẻ làm được thần cũng dư sức. Vả lại, thần muốn tận mắt nhìn thực lực địch quân. Nay Mạc Ðăng Doanh mới chết, nhà Minh dàn quân sát biên giới phía bắc. Quân Mạc sức mạnh ly tán, ta không động binh còn đợi chừng nào?

Thái Sư lệnh xuất binh tiến đánh Nghệ An. Quân địch tản mác không kịp đề phòng chỉ rút chạy. Quân Lê toàn thắng lại rút về căn cứ.

Ðầu xuân Quý Mão 1543, Dực Quận Công Trịnh Kiểm dâng vua bản Sách Lược Bình Nam. Vua xem xong đẹp dạ hết lời ngợi khen, lại ban thưởng mỹ tửu. Vua vẫn trọng nể Trịnh Kiểm, thường khen Kiểm chí hiếu tài năng. Vua hỏi:

-Theo sách của Quận Công, khởi đầu ta nên chiếm Tây Ðô làm nền dựng nghiệp. Vậy chừng nào có thể khởi sự mưu đại cuộc?

-Thần thiển nghĩ thời cơ đã đến. Nay Ðăng Dung mãn phần. Cháu y là Mạc Phúc Hải lên ngôi tài trí non kém, lại thích xướng ca, ham chọi gà hơn lo việc nước. Quân Mạc vẫn phải dàn quân phòng thủ phía bắc dù đã hàng phục nhà Minh nên phía nam quân mỏng. Tây Ðô do Dương Chấp Nhất trấn giữ. Hắn là kẻ tài hèn sức mọn không phải đối thủ của ta. Thần sẽ hội ý Thái Sư định ngày xuất binh.

Vua hăng hái: Chuyến này, trẫm sẽ ngự giá thân chinh cùng chư tướng đánh giặc.

Quân Lê dụng nghi binh đồng loạt tấn công nhiều nơi. Ðại quân do Trịnh Kiểm chỉ huy bất ngờ bao vây Tây Ðô. Vua Lê đích thân trợ chiến. Quân sĩ hăng hái ngày đêm công thành chẳng quản hiểm nguy mệt nhọc. Thấy thế nguy, Hoằng Vương Mạc Chính Trung bàn với Dương Chấp Nhất:

-Tình hình nguy ngập. Thành sẽ mất nay mai do quyết tâm của quân Lê, ta không thể cố thủ chờ viện binh như ý ông. Chi bằng tương kế tựu kế, ông nên trá hàng. Thà như vậy còn hơn bị quân Lê tàn sát. Phần ta sẽ có cách thoát thân vì Trịnh Kiểm chỉ biết ông, không biết ta hiện ở trong thành. Sau này ông tùy cơ ứng biến, ngầm liên lạc cho ta biết địch tình. Ấy là thượng sách, ông chớ chần chừ hỏng việc.

Chấp Nhất vốn là hoạn quan, hàm ân nhà Mạc do được vua Mạc tín cẩn phong tước Trung Hậu Hầu. Nghe Chính Trung nói thế, Chấp Nhất khóc lạy nói:

-Tôi sống làm tôi nhà Mạc thì chết cũng làm tôi nhà Mạc, thề chẳng hai lòng. Tôn vương là người quyền biến đã dậy tôi xin vâng…

Y kế Chính Trung, ngay sáng hôm sau Chấp Nhất bắc loa xin hàng phục. Quân Lê thấy trên thành kéo cờ trắng mừng rỡ reo hò. CửƯa thành mở rộng, Chấp Nhất đội tang đi đầu cùng các bộ tướng đầu trần chân đất hàng ngũ kéo ra. Thấy kiệu vua phía xa, Chấp Nhất quỳ mọp giữa đường. Ðám bộ tướng vội quỳ theo chủ.

Vua Lê ân cần phủ dụ, lại thấy Chấp Nhất nói năng lễ phép cung kính, vua truyền cho phục chức cũ để tỏ lượng cả. Ðám hàng quân đồng loạt tung hô vạn tuế, xin được chiến đấu dưới cờ đại nghĩa. Vua mừng thuận cho. Vài hôm sau, Thái Sư từ Sầm Châu sang. Vua tổ chức khao quân, tôn phong Thái Sư làm Thái Tể, con trai trưởng Thái Sư là Nguyễn Uông được phong Lãng Quận Công, người con thứ là Nguyễn Hoàng mới mười tám tuổi cũng được phong chức Hạ Khê Hầu. Vua phấn chấn tưởng ngày khôi phục Thăng Long gần kề. Có đêm vua nằm mơ thấy cảnh kinh đô cung vàng điện ngọc dù vua chưa hề được tới. Từ ngày sang Sầm Châu, tuy mang tiếng đế vương nhưng chưa bao giờ vua được hưởng cảnh phú quý vinh hoa, vẫn sống cuộc đời đạm bạc giản dị. Từ đấy, quân Lê tỏa đi chiếm nhiều nơi, từ từ làm chủ hai xứ Thanh Nghệ. Ðịnh mệnh dân tộc bước vào con đường chia cắt, thành hình hai triều đình Lê Mạc hùng cứ hai phương bắc nam ngăn cách bởi rặng Tam Ðiệp.

Qua mấy năm bình định, đầu mùa hạ năm Ất Tỵ 1545, Thái Sư tuổi đã bảy mươi tám vẫn quyết định xua quân bắc tiến. Vua Lê không ngăn nổi ý chí sắt thép của Thái Sư, cũng thân chinh theo quân. Quân Lê vượt núi Tam Ðiệp tiến vào huyện Yên Mô. Tướng tiên phong Dương Chấp Nhất tiến quân chiếm huyện dễ dàng. Chấp Nhất lập bản doanh khẩn khoản mời Thái Sư đến quan sát địch tình.

Bấy giờ trời nắng gắt, Thái Sư lên đài cao quan sát xong bước xuống, lưng áo nhễ nhại mồ hôi vui vẻ hài lòng cách dàn quân của viên tướng tiên phong. Chấp Nhất mời Thái Sư vào quân doanh, lệnh lính bổ dưa mời Thái Sư giải khát.

Thái Sư trở về hành dinh thấy người nôn nao mỏi mệt, bụng quặn đau, muốn ói mửa, vã mồ hôi nhưng cố chịu không rên la, người cứ lịm dần. Quan Thái Y chẩn đoán bị ngộ độc nặng khó qua khỏi. Trịnh Kiểm gọi Nguyễn Hoàng ra ngoài nói nhỏ:“Thầy chắc chắn bị Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc. Từ lâu tôi vẫn ngờ tên này gian dối nhưng thầy cả tin giao quân cho hắn. Cậu dẫn ngàn quân kéo đi bắt giữ hắn ngay. Mọi việc ở đây có tôi liệu.”

Nguyễn Hoàng đi ngay trong đêm. Ðến Yên Mô, quân sĩ cho biết tướng tiên phong đã rời trại từ xế trưa, chưa thấy trở về. Nguyễn Hoàng trở về ngay hành dinh. Thái Sư Nguyễn Kim đã từ trần khoảng nửa đêm. Nguyễn Uông giận dữ nghiến răng trợn mắt, thề bắt bằng được Dương Chấp Nhất chặt đầu moi gan tế phụ thân. Trịnh Kiểm khuyên Uông bình tĩnh, bàn với vua Lê giữ kín tin Thái Sư mất e lòng quân rúng động, tổ chức phòng thủ sợ quân Mạc lợi dụng tấn công. Kiểm bàn với Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng bí mật khẩn đưa thi hài phụ thân về quê nhà, làng Gia Miêu huyện Tống Sơn, chờ đại quân rút về rồi mới phát tang. Uông và Hoàng lên đường ngay. Vài hôm sau, quân Lê rút lui lập phòng tuyến tại núi Tam Ðiệp. Vua Lê và Trịnh Kiểm yên tâm trở về Tống Sơn lo tang lễ.

Vua Lê bàn với Trịnh Kiểm Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Ý vua muốn tổ chức tang lễ Thái Sư long trọng theo nghi thức đế vương. Vua nói:

-Ðối với nhà Lê, Thượng Phụ công lao trời biển thế gian khó sánh. Lòng trẫm tôn kính xem người như cha, nay táng người theo nghi thức dành cho bậc đế vương tưởng không có gì quá, mà triều thần trên dưới vui lòng, cũng là dịp cuối trẫm tỏ tấm lòng kính trọng báo đáp.

Nguyễn Uông phân vân chưa có ý kiến gì. Nguyễn Hoàng nói:

-Tạ ơn bệ hạ chiếu cố. Thân phụ thần lúc sinh tiền vốn tính giản dị. Có lần người chỉ cuộc đất trên núi Thiên Tôn nói:“Con nhìn rặng núi kia, mạch núi như chuỗi ngọc nổi đúng mười hai ngọn từ huyện Thạch Thành kéo xuống. Tả hữu núi non bao bọc, lại có suối như rồng lượn đổ xuống Tống Giang. Mai sau thầy mệnh một, các con táng thầy ngay chỗ ấy. Ðây mới đúng huyệt trường, có tiền án hậu trầm, tả long hữu hổ. Tang lễ cần đơn sơ, chớ quá rườm rà tốn phí, nhọc công sức quần thần văn võ bá quan cũng như quân sĩ ”. Nay ta bày vẽ trái ý người, e vong hồn người nơi suối vàng chẳng được bình yên.

Vua muốn phản bác. Trịnh Kiểm nói:

-Thần học lễ nghi, sách dậy mỗi khi hoàng đế băng hà, từ trên xuống dưới, từ quan lại đến quân sĩ, kể cả hàng thứ dân cũng phải thụ tang. Nước chỉ có một vua, nay ta làm vậy là trái phép nước, chẳng khỏi tiếng đời dị nghị. Bệ hạ nên châm chước sao cho hợp lẽ.

Bàn bạc mãi, cuối cùng vua chỉ xin được đội tang, đích thân dâng tên hiệu và tên thụy cho Thái Sư. Mọi người bằng lòng.

Ngày lễ thành phục, con cháu tụ tập trước linh cữu, khăn lượt đổi khăn sô, áo thâm thay áo trắng phủ phục khóc lóc. Vua Lê cũng mặc tang phục, bá quan văn võ không ai bảo ai đồng loạt đội khăn tang, ngay dân huyện Tống Sơn nhiều kẻ cũng mặc tang phục. Toàn huyện một mầu trắng lẫn tiếng than khóc thảm thương. Người ta buộc khăn tang cả trên rặng soan, khóm trúc trước nhà Thái Sư.

Vua Lê phong tặng Thái Sư là Chiêu Huân Tĩnh Công, tôn thụy Trung Hiến. Ðích thân vua đọc lời xưng tụng công đức…” Thượng Phụ khuất núi, lòng trẫm xót xa, bách quan đau buồn, thần dân nhỏ lệ, vật mình than khóc. Công đức Thượng Phụ như biển trời không tả hết bằng lời. Nay trẫm tặng phong tôn thụy, kính mong anh hồn nhận mỹ hiệu. Cầu cho non sông mãi mãi sáng soi nhật nguyệt, muôn đời bền vững.”

Ðám tang đến núi Thiên Tôn lúc quá ngọ. Trời mờ ảm đạm, gió hiu hiu, mây chì vần vũ càng lúc càng thấp… Lễ hạ huyệt vừa xong, trời bỗng sấm chớp, gió giật đùng đùng bụi đất mù mịt. Mọi người kinh hãi chạy băng xuống núi. Mưa bắt đầu nhẹ hạt rồi nặng dần, những giòng nước đổ như thác phũ phàng giăng kín trời, người không nhìn rõ mặt nhau. Bỗng có tiếng nổ ầm ầm vang tự trong núi như động đất, những tảng đá lớn tự đỉnh ào ào lăn xuống xô cây cối bật gốc ngã rạp. Có người thấy ngôi mộ Thái Sư như chẻ hai, trong phút chốc bị hàng ngàn tảng đá lấp kín. Núi Thiên Tôn đổi dáng, từ hình hổ ngồi nay trông như rồng cuộn, rồng như muốn vươn mình bay về phương nam. Con cháu Thái Sư sau này đến viếng mộ phần tổ phụ, chỉ quỳ hướng về núi dâng hương, không biết ngôi mộ thật sự đã táng nơi nào…

Tròn năm sau, dân làng Gia Miêu xì xào bàn tán chuyện anh nông dân nghèo khổ ở cuối thôn bỗng dưng khá giả. Từ một người không có đất cắm dùi bỗng có nhà ba gian, tậu vài sào ruộng lẫn trâu cày. Có người tò mò hỏi, nông dân thực thà kể:“Một hôm vào rừng đẵn củi tôi bỗng gặp khách lạ. Khách cưỡi ngựa trắng, phi chầm chầm quanh ngọn Thiên Tôn như có ý tìm kiếm cái gì.

Hai ngày tôi ở nhà, đến ngày thứ ba vào rừng lại gặp khách. Thấy tôi, khách tần ngần một lúc, tiến về phía tôi hỏi han. Tôi nhận ra khách nói tiếng nước ta không rành rẽ. Sau khi hỏi dăm câu chuyện nắng mưa vớ vẩn, khách vào đề hỏi bấy lâu có ai táng ngôi mộ trên núi. Tôi kể khách nghe ngôi mộ Thái Sư Nguyễn, chuyện giông bão vùi lấp mộ huyệt. Nghe xong mặt khách biến sắc, té nhào xuống ngựa. Thương khách một mình, tôi đỡ khách lên ngựa, buộc cẩn thận đưa về nhà. Nửa đêm khách tỉnh, khóc nói: Ta với ngươi cơ duyên gặp gỡ nên tỏ thật. Ta từ phương bắc xuống, được thần nhân chỉ ngôi đại huyệt tại núi Thiên Tôn, hàm rồng cứ năm trăm năm mới mở một lần. Không ngờ họ Nguyễn tốt phúc được trời dành chỗ. Ta tính sai hẳn một năm đành ôm hận, dứt kiếp ở đây…

Khách nghẹn ngào khóc ngất. Lát sau tiếp: Ta mang theo cái tráp, trong có liễn sành niêm kín, ngươi chớ mở ra. Sau khi ta chết, nhớ chôn ta cùng với liễn ngay chân núi, cách gốc đa phía tây khoảng ba mươi trượng… Ta cúi lạy cảm ơn người trước. Còn tài sản của ta, xin tặng người đền đáp một tấm lòng.

Khách nói xong thở hắt rồi chết. Tôi làm theo ý khách, mở tráp thấy có liễn sành niêm kín, dưới có bản đồ vẽ núi non chi chít. Lần xuống đáy tráp thấy gói giấy bạc. Mở ra đếm được mười lạng vàng ròng…”

 

Trận giông bão xẩy ra vùi lấp ngôi mộ Thái Sư Nguyễn Kim ngay khi quan tài vừa hạ huyệt vẫn là đề tài nhiều người bàn tán. Kẻ cho ngôi mộ táng đúng hàm rồng, con cháu đại phát. Người luận họ Nguyễn làng Gia Miêu huyện Tống Sơn khó hưng phát do mồ mả xụp mất dấu tích, sau này con cháu phiêu tán khó ở chung dưới một mái nhà. Nghe vậy, gia tộc họ Nguyễn nhiều kẻ âu lo, trong đó có cả con trai trưởng Thái Sư là Nguyễn Uông, nay đóng vai trưởng tộc.

Trịnh Kiểm bàn với vua sớm rời Tống Sơn, đem đại quân về giữ thành Tây Giai, được coi như kinh đô Nam Triều, vua cho thuận lẽ. Triều thần tâu vua gấp cử người làm tiết chế quân lực thay Thái Sư. Ý vua muốn dùng Trịnh Kiểm vì Kiểm tài năng đức độ, nhưng e ngại đám quan lại người Tống Sơn, những người đồng hương với Thái Sư muốn trưởng nam Nguyễn Uông thay chức phụ thân. Họ bảo công cha con phải được hưởng. Triều thần nghị bàn gay go. Quan ngự sử nổi tiếng ngay thẳng tâu vua:

-Bệ hạ và triều thần không quên công ơn Thái Sư, điều này thật đáng trân trọng. Thần thiết nghĩ việc thế tập (cha truyền con nối) cổ kim chỉ dành cho đế vương, nay ta dụng điều đó e không hợp lẽ. Việc trung hưng hệ trọng cần trao cho người tài năng đức độ, có uy có đức, có dũng có nhân, quyết đoán ban lệnh ba quân tin tưởng kính phục không dám làm trái, quân sĩ kỷ luật đánh đâu thắng đó làm địch hoang mang sợ hãi. Xét công trận Trịnh Quận Công ( Trịnh Kiểm) xứng đứng đầu vì người có công thắng ở Lôi Dương, chiếm lĩnh Tây Ðô là nơi trọng yếu, đáng mặt tiết chế ba quân. Xưa Cao Tổ nhà Hán dựng đại nghiệp cũng do biết trọng lương thần, sáng suốt trao ấn nguyên nhung cho Hàn Tín dù ở nước Sở Hàn Tín chỉ là tên cầm kích đứng hầu Hạng Vũ. Hoàn Công nước Tề quên hận xưa dùng kẻ thù của mình là Quản Trọng mà nên nghiệp bá… Gương xưa còn nhiều, bệ hạ minh xét.

Vua và triều thần cho lời quan ngự sử hợp lẽ. Quận Công Trịnh Viên vốn người uyên bác, trọng lễ nghi tâu:

-Thần nghĩ lương thần tận lực phù tá vì cảm bậc đế vương ngoài lo võ bị, trong trau dồi văn đức quý trọng hiền tài. Vậy nên thuở xưa Văn Hầu tự tay bưng rượu mời Ngô Khởi. Nay bệ hạ noi gương xưa, làm lễ đăng đàn bái tướng, trao Trịnh Quận Công ấn nguyên nhung tiết chế ba quân. Làm vậy để tỏ bề thế triều đình, cũng là tạo uy cho thủ lĩnh.

Việc chuẩn bị hàng tháng mới xong. Mùa thu năm ấy, năm Ất Tỵ 1545, vua Lê hạ chiếu phong Trịnh Kiểm làm Ðô tướng tiết chế các dinh quân thủy bộ kiêm Tổng nội ngoại bình chương quốc quân trọng sự Thái Sư Lạng Quốc Công. Trịnh Kiểm được toàn quyền quyết định việc trong ngoài, tùy nghi bổ quan tước, tiền trảm hậu tấu. Giòng họ Nguyễn Kim nhiều kẻ bất bình, cho vua non trẻ thiếu kinh nghiệm giao họ Trịnh quá nhiều quyền bính, không nhớ cái gương Mạc Ðăng Dung soán ngôi nhà Lê.

Bộ lễ tổ chức tấn phong tiết chế rất long trọng. Vua ban Thái Sư Trịnh Kiểm áo mão cân đai cờ xí. Kim sách do viện Hàn Lâm soạn trên giấy kim tiên. Văn võ bá quan tề chỉnh phẩm phục đứng hai bên sân rồng. Trịnh Kiểm đội mũ xung thiên, áo bào tía thắt đai vàng đăng đàn bái tướng. Trống nghiêm ba hồi, vua mặc hoàng bào thắt đai ngọc oai nghiêm được triều thần mời lên ngự tọa. Quan Tuyên Sách quỳ bên tả bàn hương án đọc kim sách:“… Ðược hoàng thiên trao mệnh cả, mới sinh hiền đức khuông phù. Hoàng Thượng mến tài ban tước vị cao. Nay ngày lành tháng tốt, truyền đọc sách vàng biểu dương. Nghĩ Dực Quận Công Trịnh Kiểm tài năng xuất chúng, công đức hàng đầu. Vua giao trách nhiệm đô tướng tiết chế các dinh quân thủy bộ các xứ, kiêm tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự. Vua sai Lễ Bộ Thượng Thư mang cờ tiết, sách vàng ấn vàng phong làm nguyên súy, Thái Sư Lạng Quốc Công. Mong đảm đang gánh nặng, toàn vẹn tiếng thơm, nhất mực hiếu trung, cho tròn đạo nghĩa…”

Hậu lễ, triều thần thay phiên chúc tụng Thái Sư Trịnh Kiểm, người người khen ngợi nghi lễ uy nghiêm. Trịnh Kiểm lòng vui mở hội.

Trịnh Kiểm có tài tổ chức, thích chinh chiến. Nhận thấy Tây Ðô là yết hầu nằm chắn trục lộ lưu thông huyết mạch bắc nam, giữ lâu chắc chắn bị tấn công. Trịnh Kiểm quyết định dời hành cung về huyện Thụy Nguyên, bắt đầu tổ chức đánh chiếm bình định phía nam, nắm quyền kiểm soát vùng đất từ Nghệ An vào sâu tới Thuận Hóa, vượt đèo Hải Vân vào tận xứ Quảng Nam. Quân Mạc chống cự yếu ớt vì triều đình nhà Mạc rối loạn sau khi vua Hiến Tôn Mạc Phúc Hải chết, Tuyên Tôn Mạc Phúc Nguyên nối ngôi. Vua thích ăn chơi hát xướng, mải mê chọi gà hơn bàn việc nước. Triều thần có kẻ mưu lập Hoằng Vương Mạc Chính Trung, con trai thứ của Thái Tổ Mạc Ðăng Dung lên ngôi. Triều thần chia làm hai phe kéo quân giao tranh kịch liệt. Chính Trung bị cháu là Khiêm Vương Mạc Kính Ðiển đánh bại,rút quân về vùng Hải Dương, nhân dân Hải Dương bấy lâu sống an bình nay lâm cảnh can qua chết chóc, nhiều người bỏ xứ mà đi. Trịnh Kiểm muốn nhân cơ hội bắc tiến nhưng vua Trang Tôn bỗng lâm bạo bệnh từ trần. Thái Tử Duy Huyên mới mười bốn lên ngôi tức vua Trung Tôn. Vua còn trẻ, trọng Trịnh Kiểm như cha gọi là thượng phụ. Họ Trịnh từ đây nắm giữ toàn bộ quyền bính, vua Lê chỉ còn hư vị.

Mùa thu năm Canh Tuất 1550, trong khi chú cháu họ Mạc còn tiếp tục giao tranh, tại triều đình lại xẩy ra biến loạn mới. Công thần nhà Mạc Thái Tể Phụng Quốc Công Lê Bá Ly bị vu cáo phản nghịch. Bá Ly tức giận bàn với bạn thân Lại Bộ Thương Thư Trạng Nguyên Nguyễn Thuyên cùng gia nhân kéo hàng vạn quân vào Tây Ðô hàng phục nhà Lê (Nguyễn Thuyên là tổ bẩy đời của thi hào Nguyễn Du). Trịnh Kiểm mừng rỡ dẫn các hàng tướng đến cửa khuyết lạy tạ nhà vua. Vua ân cần phủ dụ ghi công ban thưởng. Trịnh Kiểm lại mời Nguyễn Thuyên đến tướng phủ ân cần thăm hỏi chuyện trò:

-Tôi hằng nghe tài văn ông vang truyền khắp nước, đáng mặt trạng nguyên, nay duyên may được gặp thỏa niềm ao ước. Ông lại là bạn đồng liêu với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người này trên thông thiên văn, dưới đạt địa lý, biết việc quá khứ vị lai, giá như Khổng Minh tái thế chắc chưa bì kịp. Nay Trạng Trình còn phù Mạc, ta lấy cách chi đối phó?

Biết ý Trịnh Kiểm nghi hoặc muốn hỏi dò. Nguyễn Thuyên đáp:

-Ða tạ Thái Sư chiếu cố người hàng phục. Sách vẫn dậy chim khôn chọn cây mà đậu, tôi trung chọn chúa mà thờ. Tôi về với triều đình vì lẽ ấy. Còn Trạng Trình với tôi vốn thân tình, ông ấy được vua Mạc trọng dụng phong đến chức Trình Quốc Công, nhưng nay ngài chán sự đời, đã qui ẩn về dạy học tại Bạch Vân Am.

-Ông đoan chắc?

-Tôi tỏ thật, trong đám gia tướng của tôi có hai người học trò Trạng Trình là Phùng Khắc Khoan và Lương Hữu Khánh. Khắc Khoan là em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình, Hữu Khánh là con một của Bảng Nhãn Lương Ðắc Bằng, vốn là người thầy truyền sở học Thái Ất Thần Kinh cho Trạng Trình.

Trịnh Kiểm hân hoan:

-Các ông về với triều đình thật do ý trời muốn trung hưng nhà Lê. Công lao sử xanh ngàn đời ghi chép.

Trịnh Kiểm trọng dụng Phùng Khắc Khoan và Lương Hữu Khánh, phong quan chức, cho bàn việc quốc sự, sớm hôm gần gũi.

Ðêm ngày suy nghĩ, Trịnh Kiểm nghĩ ra mưu sâu, quyết tâm bắc phạt.

Một hôm Trịnh Kiểm mời Lê Bá Ly đến tướng phủ bàn bạc. Sau vài tuần trà, Kiểm gợi ý:

-Ông được trời cho tuổi thọ, đôi ba năm nữa đã mừng thượng thọ bát tuần, thế mà quyết bỏ chức tước bổng lộc họ Mạc, đem cả gia nhân về với triều đình thật đại phúc cho xã tắc. Tấn Quận Công, Văn Phái Hầu đều là những tay danh tướng (Tấn Quận Công Lê Khắc Thận, Văn Phái Hầu Nguyễn Quyện là con trưởng và con rể của Bá Ly. Quyện cũng là con trai của Trạng Nguyên Nguyễn Thuyên). Các ông bỏ đi. đất bắc tướng tài phỏng còn được mấy người?

-Ða tạ Thái Sư có tiếng khen. Cha con tôi sức mọn tài hèn. Ðất bắc xưa nay vẫn nhiều danh tài, tiết chế quân Mạc Khiêm Vương Mạc Kính Ðiển là người thao lược, dưới trướng cơ man danh tướng.

Trầm ngâm giây lát, Trịnh Kiểm tiếp:

-Nay tôi quyết định hưng binh bắc phạt vì thời cơ rất lợi. Ông cũng như Tấn Quận Công từng làm tiết chế Sơn Nam, tất thạo đường đi nước bước. Ý tôi muốn dụng ông làm tiên phong dẫn lối đem vạn quân đánh thẳng ra Sơn Nam. Tôi chỉ huy hậu quân tiếp ứng. Xin cho biết ý?

Bá Ly hiểu Trịnh Kiểm lòng còn ngờ vực, muốn xử dụng ngay đám hàng binh đánh lại quân Mạc nên hăng hái nhận lời.

Mùa xuân năm Tân Hợi 1551, quân Lê chia ba cánh do Bá Ly chỉ huy vượt núi Tam Ðiệp tấn công Sơn Nam. Quân Mạc mất tinh thần, lại từng nghe danh Tấn Quận Công và Văn Phái Hầu nên khiếp vía chạy trốn. Sơn Nam thất thủ. Trịnh Kiểm quyết định cho hậu quân phối hợp với tiền quân tiến thẳng ra Thăng Long. Vua Mạc Phúc Nguyên phải dời hành dinh về Hải Dương để Mạc Kính Ðiển ở lại kinh đô kháng cự. Trận chiến ở thế giằng co. Thấy ở lâu không lợi, Trịnh Kiểm hạ lệnh lui binh.

Chiến thắng của quân Lê làm dân xứ bắc hoang mang lo sợ. Mạc Kính Ðiển tìm cách củng cố tinh thần tướng sĩ, ra sức tiễu trừ phiến loạn phía bắc để rảnh tay kéo đại binh tấn công nam triều. Mùa thu năm Ất Mão 1555, Mạc Kính Ðiển chỉ huy hàng vạn quân Mạc mở cuộc tấn công Thanh Hóa. Thủy binh có trên trăm chiến thuyền tập trung ở cửa Thần Phù. Trịnh Kiểm được tin họp chư tướng bàn kế đối phó. Kiểm nói:

-Quân Mạc lần đầu hưng binh đánh ta, lại do đích thân Mạc Kính Ðiển chỉ huy tất quyết chiến thắng củng cố lòng quân. Ta đoán thủy bộ binh Mạc sẽ hội tại khúc sông Ðại Lại tấn công Tây Ðô. Tướng tiên phong địch Quận Thọ là tay hiếu thắng kiêu ngạo. Ta tương kế tựu kế, giả lui binh cho địch khinh thường, dụ địch vào sâu huyện Vĩnh Lộc, dụng phục binh nơi hiểm địa, tận diệt địch trên bộ lẫn trên sông.

Hôm sau, Trịnh Kiểm sai các văn quan yết bảng cáo dụ dân ven vùng sông Mã không được kinh động khi quân Mạc tiến vào. Thực hiện hành quân, Trịnh Kiểm chia cánh quân thứ nhất mai phục quanh vùng rừng núi Quan Yên. Ngọn núi cao hiểm trở bao bọc bởi hai giòng sông hai phía tả hữu. Cánh quân thứ hai do Quận Công Phạm Ðốc, con nuôi Trịnh Kiểm chỉ huy dàn mười chiến thuyền chận phía thượng lưu sông Kim Bôi. Trịnh Kiểm chỉ huy đại quân và năm mươi voi trận mai phục tại núi Kim Sơn, thế núi hiểm trở hùng vĩ nhiều khe động, có khúc sông lởm chởm đá ngầm, nước chảy xiết như tên bay.

Vài ngày sau, thủy bộ binh Mạc hùng hổ tiến vào Kim Sơn như chỗ không người. Kính Ðiển đoán quân Lê co cụm giữ Tây Ðô bỏ trống phía bắc. Xế trưa, Kính Ðiển thấy quân sĩ mỏi mệt, hạ lệnh dừng quân nghỉ ngơi cơm nước. Bỗng nghe tiếng pháo lệnh nổ vang, quân Lê tràn vào trận địa chém giết. Trịnh Kiểm bí mật lập ghềnh chận nước đưa tượng binh sang sông mãnh liệt xung trận đánh tập hậu. Quân Mạc cởi giáp bỏ gươm giáo tìm cách thoát lên bờ bị giết gần hết. Hàng vạn xác chết làm nghẹn giòng sông nhuộm máu. Tướng tiên phong Quận Thọ bị bắt sống. Mạc Kính Ðiển kéo tàn quân thoát chạy…

Mùa xuân năm sau, Trịnh Kiểm muốn tấn công ra bắc nhưng vua Trung Tôn lâm bệnh chết bất ngờ. Vua mới hai mươi hai tuổi, không con nối dõi. Trịnh Kiểm rất đỗi ưu tư, lại nghĩ đến ngôi mộ kết của mẫu thân, con cháu đại phát, quyền nghiêng thiên hạ. Kiểm có ý thừa gió bẻ măng, nương cơ may đoạt ngôi báu. Vốn quý mến tin tưởng Phùng Khắc Khoan là tay uyên bác, Trịnh Kiểm hỏi ý. Khắc Khoan kinh hãi nói thác”… may ra anh tôi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể đoán ý trời”. Tưởng nói cho qua, nào ngờ Trịnh Kiểm làm thật, cho gia nhân ra tận Hải Dương hỏi ý Trạng Trình. Trạng không trả lời, nói bâng quơ với người đầy tớ: “Năm nay đói kém mất mùa, giữ chùa thờ bụt thì được ăn oản”. Nghe gia nhân thuật lại, Trịnh Kiểm hiểu ý cố tìm được con cháu nhà Lê là Duy Bang tại huyện Thụy Nguyên lập làm vua. Duy Bang tuổi ngoài hai mươi, lên ngôi tức vua Anh Tôn.

Lập được tân vương, Trịnh Kiểm tạm hoãn việc binh lo củng cố quyền lực, xét công phong chức. Ðám gia nhân thân tín nhiều kẻ được tưởng thưởng, người con nuôi Trịnh Kiểm, Quận Công Phạm Ðốc nhận chức Binh Bộ Thượng Thư. Phạm Ðốc văn hay võ giỏi, dũng cảm mưu lược, lại biết chiêu hiền đãi sĩ trên dưới trọng nể. Ðám quan lại người Tống Sơn bất mãn cho Kiểm bè phái, muốn đoạt công lao Thái Sư Nguyễn Kim, không gia phong chức vị hai người em vợ Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Nghe điều ong tiếng ve, Trịnh Kiểm giận nói với bá quan:“Ta xét công phong thưởng nghiêm minh ngay tình, công thưởng tội phạt, sao lắm kẻ điều này tiếng nọ”. Anh em trong nhà nhen nhúm bất hòa.

Thời gian qua, mọi chuyện tưởng lắng đọng, lại bỗng xẩy ra cái chết bất ngờ bí ẩn của Quận Công Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng căm hận, nghĩ Trịnh Kiểm âm mưu giết anh mình. Phu nhân Ngọc Bảo vợ Trịnh Kiểm cũng ngờ vực nhưng sợ chồng chẳng dám hé răng, chỉ ngầm khuyên Nguyễn Hoàng bình tĩnh.

Vốn bản lĩnh mưu lược, Nguyễn Hoàng thừa hiểu không thể chống lại thế lực anh rể, Hoàng lặng lẽ nghĩ suy, im lặng là vàng, phát ngôn thiếu cẩn trọng khó toàn tính mạng. Từ ngày ấy, Nguyễn Hoàng dụng kế giả ngây qua ải, có lúc như người thất thần, thường rong chơi thơ thẩn, lại chăm lên chùa niệm phật. Hoàng nói với chị xin Trịnh Kiểm cho nghỉ việc binh tu dưỡng tinh thần. Trịnh Kiểm thuận cho.

Tháng bảy năm Ðinh Tỵ 1557, Mạc Kính Ðiển điều quân tấn công vùng bắc Thanh Hóa. Cánh quân thứ hai do Quốc Công Phạm Quỳnh chỉ huy theo đường thủy đánh Nghệ An. Trịnh Kiểm lệnh quân Lê chống cự quyết liệt. Ðích thân cùng Phạm Ðốc dẫn đại binh bất ngờ đánh tập hậu địch quân tại huyện Yên Mô. Mạc Kính Ðiển may mắn thoát chết. Thắng trận, Phạm Ðốc kéo chiến thuyền gấp rút về cứu Nghệ An. Ðốc dùng chiến thuyền cướp được của quân Mạc, treo cờ xí, cho quân mặc quân phục Mạc giả làm quân đến tiếp ứng. Phạm Quỳnh bị lừa, thủy binh tan vỡ chỉ còn vài chiếc căng buồm thoát chạy.

Thắng liên tiếp mấy trận lớn, Trịnh Kiểm lạc quan nói:“Ta xem Kính Ðiển dụng binh chưa lấy chi là tài, nay nhân lúc quân Mạc mới thua còn kinh hồn vỡ mật, ta cử đại quân bắc phạt không cho chúng có thời gian phòng bị”.

Cuối thu, trên năm vạn quân Lê gấp rút hành quân. Thủy bộ binh Lê tiến vào địa phận Sơn Nam hội quân trên sông Giao Thủy. Ðêm xuống, quân Mạc bất ngờ la ó vang trời tấn công toán tiên phong. Quân Lê tưởng chủ tướng bị hại, hàng ngũ rối loạn. Trịnh Kiểm núng thế rút quân. Hàng vạn quân Lê bị bắt hoặc bị giết, chiến tướng thiệt vài mươi người.

Lần đầu tiên thảm bại, tinh thần quân Lê nao núng. Trịnh Kiểm nổi giận nung chí phục hận, lệnh chư tướng chỉnh đốn đội ngũ, buộc quân rèn luyện kham khổ ngày đêm, nhiều kẻ bất mãn vẫn ngậm tăm, kẻ hé răng tức khắc bị trừng phạt. Nguyễn Hoàng sợ họa lây do thấy tính tình người anh rể nhiều lúc bất thường. Có người khuyên Nguyễn Hoàng nên hỏi ý Trạng Trình. Hoàng cho diệu kế, nhờ người thân gấp rút ra bắc.

Hơn tháng sau người thân trở về kể:“Tôi đến gặp Trạng, dâng phẩm vật ngài chẳng nhận, hỏi ý ngài lặng thinh. Hai hôm sau ngài đứng cạnh hòn non bộ, gọi tôi bảo nên về nam ngay vì ngài sẽ vắng nhà khá lâu. Tôi chần chờ chưa dám mở lời. Ngài chỉ đàn kiến đang bò trên non bộ thủng thỉnh nói- Hoành Sơn nhất đái. Vạn đại dung thân. Nói xong ngài quày quả bước đi. Chuyện chỉ chừng ấy”.

Nghe xong, Nguyễn Hoàng cả mừng hiểu được ý Trạng Trình. Ước vọng vượt Hoành Sơn tìm vào phương nam dung thân nung nấu đêm ngày.

Những ngày cuối đông ảm đạm, trời thường mưa, mưa mờ hạt bụi với những cơn gió bấc mang giá rét từ rừng núi thâm u tràn về. Ðã nhiều ngày mặt trời xa vắng. Chiều cuối năm, trời vàng, thứ nắng nhạt buổi tàn đông chưa đủ xua tan giá lạnh. Nguyễn Hoàng ngồi lặng yên bên vò rượu đăm chiêu nhìn dăm cánh én thấp cao bay lượn. Trước hiên, hàng liễu xõa tóc, dáng liễu thướt tha bên cụm mai vàng xòe tay rực rỡ.

Chiều mồng một tết Mậu Ngọ 1558, Nguyễn Hoàng đến mừng tuổi anh rể. Anh em vui vẻ yến tiệc. Nguyễn Hoàng trò chuyện cởi mở, như cố xóa ngờ vực trong lòng người anh, gây tình thân gia tộc. Phu nhân Ngọc Bảo vui mừng thấy anh em hòa thuận. Trịnh Kiểm nói:

-Mừng thấy cậu hồng hào tươi tắn hơn xưa.

-Ấy cũng nhờ anh cho đệ thời gian tĩnh dưỡng nên nay vui tươi tráng kiện. Ðệ nghĩ có ngày anh lại hưng binh phạt Mạc, thế nào cũng cho đệ theo quân góp chút công lao. Bấy lâu xa chiến địa, rời yên cương gươm giáo cảm thấy nao lòng. Nghĩ trời sinh có mệnh làm tướng, không thể một ngày giã từ vũ khí.

Trịnh Kiểm cả cười:

-Cậu muốn cầm quân ra trận nào có chi khó. Ra giêng tôi giao cậu ngàn quân, cố luyện tập chờ ngày bắc phạt lập công.

Tháng sau, Trịnh Kiểm chỉ huy đại binh bất ngờ tiến sâu vào nội địa Sơn Nam. Quân Lê thắng lớn, bắt sống tướng trấn thủ, cướp được nhiều vũ khí lúa gạo rồi rút về. Nguyễn Hoàng được phong Ðoan Quận Công.

Cuối thu, tình hình Thuận Hóa không yên, ngoài khơi bọn cướp biển hoành hành, nhiều nơi có giặc giã, lại nghe tin đồn Mạc Kính Ðiển chuẩn bị đem thủy binh vào hòng chiếm lại Thuận Hóa và Quảng Nam. Trịnh Kiểm lo ngại muốn tăng quân chống giữ nhưng trù trừ chưa quyết. Cho đây là cơ hội tốt thực hiện giấc mơ vào phương nam dung thân theo ý Trạng Trình, Nguyễn Hoàng nhờ chị xin với anh rể cho mình vào trấn phương nam. Trịnh Kiểm ý không thuận. Ngọc Bảo cố van nài, Kiểm nể vợ gọi Nguyễn Hoàng đến hỏi:

-Cậu muốn vào Thuận Hóa tôi nào dám cản. Nhưng chiến tướng còn nhiều, thiếu chi người lo trọng trách, hà cớ cậu phải lìa anh em dấn thân vào chốn ác địa? Ý tôi muốn có người vào trước ổn định tình hình, xong xuôi cậu vào cũng chẳng muộn.

Nguyễn Hoàng đã có chủ trương, ôn tồn chậm rãi:

-Anh một lòng vì nước chẳng quản hiểm nguy, dũng cảm xông pha nơi hòn tên mũi đạn, đệ chẳng muốn tọa hưởng nên tình nguyện vào đất hiểm, cùng anh chia sớt hiểm nghèo, xứng với chữ huynh đệ thủ túc. Còn đợi người dọn cỗ sẵn đệ thấy tủi hổ, chẳng xứng danh con nhà tướng, tiếng đời dị nghị lấy chi rửa sạch.

-Hảo ý. Thuận Hóa hình thế núi rừng sông suối chằng chịt hung hiểm, cậu dũng trí mưu lược ắt đã dọ được tình hình?

-Ðệ từng thăm qua đất ấy. Thuận Hóa kể từ nam Hải Vân Sơn kéo ra phía bắc, đất rộng người thưa, vùng rừng núi còn cả người Chiêm, người Lào. Vì là đất cũ của Chiêm Thành nên người Chiêm nhớ hận cũ thường quấy phá. Phần người Việt tính phản trắc, có khi vượt biển trốn theo họ Mạc, hoặc tụ tập quấy phá quân ta nên tình thế rối ren, chưa kể cướp biển hoành hành ngoài khơi, dân hoang mang sợ hãi. Trấn thủ Quảng Nam Nguyễn Quận Công trách nhiệm cả Thuận Hóa không lo tròn chức trách vì đất rộng quân ít, Thuận Hóa gần như bỏ trống. Ý đệ muốn vào trấn Thuận Hóa, ổn định tình thế, biến đất ấy thành kho tiền của, cùng với Trấn Thủ Quảng Nam làm thế ỷ dốc, giữ vững phía nam để ta rảnh tay lo mặt bắc.

Trịnh Kiểm nghe có lý, lại nghĩ cho dù Nguyễn Hoàng có ý khác cũng không đáng ngại vì trấn phương xa. Trịnh Kiểm nói:

-Cậu nói thuận tai. Tôi sẽ dâng biểu tâu vua cử cậu trấn thủ Thuận Hóa, giao cậu toàn quyền định đoạt công việc, chỉ hàng năm nộp đủ cống lễ và thuế cho triều đình.

Ðược chấp thuận, Nguyễn Hoàng cởi mở tấm lòng. Sợ anh rể đổi ý, Hoàng gấp rút dẫn một ngàn quân cùng đám thủ hạ thân tín người huyện Tống Sơn lên đường vào Thuận Hóa dù đang mùa đông giá rét. Ðoàn quân đổ bộ Cửa Việt, lập hành dinh tại xã Ái Tử, thuộc huyện Ðăng Xương.

Vốn khôn ngoan bản lĩnh, lại được sự trợ giúp đắc lực của các tay mưu sĩ như Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phúc Trị, Mạc Cảnh Huống… cùng đám thủ hạ thân tín hết lòng vì chủ. Nguyễn Hoàng tổ chức an dân, phát triền nghề nông vì đất bỏ hoang quá nhiều, giảm sưu thuế tạo cho dân đời sống sung túc. Võ bị cũng phát triển, Nguyễn Hoàng tăng lương cho lính khuyến khích tòng quân, ra sức thu dụng hào kiệt. Thuận Hóa mấy năm liền được mùa, nhân dân sống sung túc, quân sĩ thường xuyên luyện tập nên thiện chiến. Bọn giặc cướp không còn nhiều cơ hội bách hại lương dân. Ðám dân phiêu bạt nghèo khổ vùng Thanh Nghệ nghe tin phương nam nắng ấm hiền hòa, đồng xanh lúa tốt. Họ như loài bồ câu tìm nơi có thóc, mạnh dạn bỏ quê hương lên đường vào nam. Thuận Hóa dư đất thiếu người, sẵn sàng mở rộng vòng tay đón người mạt vận. Dân thủy chung cảm mến đức độ trấn thủ mang lại cơm no áo ấm.

Thời gian thoi đưa. Mười năm sau, mùa thu năm Kỷ Tị 1569, Nguyễn Hoàng nhận lệnh Trịnh Kiểm ra Thanh Hóa chầu vua. Vua Lê ân cần phủ dụ, Thái Sư Trịnh Kiểm mở tiệc mừng hội ngộ. Anh em gặp gỡ vui vầy xum họp. Trịnh Kiểm hỏi:

-Cậu vào Thuận Hóa thoắt đã mười năm, mới hay thời gian qua mau, đời người chóng hết. Thấy cậu trở về yên ổn, lòng tôi vui mừng cậu ổn định được phương nam, đáng mặt lương tướng.

Nguyễn Hoàng từ tốn:

-Ðệ làm được vậy trước nhờ uy đức hoàng thượng, sau là nhờ anh dầy công hãn mã liên tục đánh phá phía bắc khiến nghịch Mạc không rảnh tay nhòm ngó phương nam. Nhưng đệ luôn cẩn mật canh phòng vì đoán chắc Mạc Kính Ðiển vẫn muốn chiếm lại Thuận Hóa, đưa ta vào thế lưỡng đầu thụ địch.

-Cậu nghĩ phải. Ðạo làm tướng phải tiên liệu cẩn trọng. Nên tri bỉ tri kỷ, tự cao tự đại là tự hại thân mình.

Anh em hàn huyên tâm sự đến khuya mới tàn tiệc. Nguyễn Hoàng yên tâm thấy anh rể thân thiện. Hoàng đoán già Trịnh Kiểm sức lực suy tàn chẳng còn sống bao lâu. Trịnh Kiểm năm ấy tuổi ngót bảy mươi, mái tóc sương tuyết, cầm cốc rượu run tay, nhiều khi lên cơn mệt ngồi thở dốc… Người già thích tâm sự, kể chuyện dĩ vãng anh hùng. Trịnh Kiểm một đời chiến trận ghi bao chiến tích thường nhắc chuyện xưa. Nguyễn Hoàng có chủ tâm luôn kiên nhẫn vui vẻ lắng nghe, muốn nhân cơ hội xin Trịnh Kiểm cho trấn thủ luôn Quảng Nam, tìm cách mở rộng bờ cõi dần về phương nam vì nhận ra thế suy yếu của Chiêm Thành. Hoàng luôn tin tưởng lời khuyên của Trạng Trình:“Hoành Sơn nhất đái. Vạn đại dung thân”. Ðất phương nam càng vào sâu càng mầu mỡ hiền hòa sẽ là nơi con cháu họ Nguyễn muôn đời làm chủ. Trịnh Kiểm kể lể:

-Cậu vào Thuận Hóa năm ngọ, mùa thu năm sau mưa dầm hàng tháng, cả vùng Thanh Nghệ ngập lụt, nhiều nơi vỡ đê làm thiệt hại bao sinh mạng nhà cửa. Nhân dân lâm nạn đói, nhiều kẻ bỏ xứ phiêu bạt về nam. Năm ấy đất bắc lại được mùa lớn. Tôi đánh liều dành thóc gạo phát chẩn, thống suất đại binh trên sáu vạn quân nhưng phao lên thành mười hai vạn tiến đánh ra bắc, đánh nơi nào lấy ngay lương thực ở đấy nuôi quân. Quân ta tiến theo thượng lộ chiếm Sơn Tây, đánh tràn lên phía bắc chiếm các vùng Tuyên Quang Hưng Hóa, thu cơ man thóc lúa vùng Kinh Bắc rồi rút quân về.

Trịnh Kiểm cười vang, uống cạn liền mấy cốc rượu nói tiếp:

-Suốt năm sau, năm thân, tôi chinh chiến không ngừng, chủ tâm chiếm Thăng Long nhưng không đánh nổi. Mạc Kính Ðiển dàn quân trên sông Hồng, mấy mươi dặm thuyền bè san sát, doanh trại kề nhau, ngày phất cờ gióng trống, đêm đốt lửa. Thấy khí thế địch mạnh, tôi lùi về giữ Kinh Bắc. Kính Ðiển nào phải tay vừa, một mặt giữ chặt quân ta ở đấy, đích thân hắn đem quân tấn công Thanh Hóa, chiếm các trọng điểm. Các tướng ta như bọn Quận Thước, Quận Khanh không phải là đối thủ của Kính Ðiển. Vua và quần thần phải bỏ chạy vào rừng núi lánh nạn. Tôi nhận tin gấp rút về cứu nguy lại bị phục binh tên bắn như mưa trăm phần nguy khốn, tưởng đã vùi thây chiến địa…

-Anh trung quân ái quốc quỷ thần trọng nể, tên đạn tránh không dám phạm đến người.

-Quả có thế. Tôi xông pha trăm trận, có khi cả năm ngoài trận mạc. Cái nghiệp của tôi là vậy, chỉ quen giáo mác cung tên, một ngày xa yên cương thấy bần thần. Quân Mạc sau này cứ nghe tên tôi là vỡ mật kinh hoàng. Hồi năm mão (1567) quân Mạc vào Thanh quấy phá, chư tướng đánh mãi chẳng lui. Tôi giận, đang đau ốm phải ngồi kiệu xung trận đánh chúng chạy tan tác. Năm sau, tôi cũng đang ốm nhưng quyết đánh Sơn Nam cướp kho lương thực, lại thêm một lần ngồi kiệu chỉ huy.

-Làm tướng như anh dù Mã Viện thuở xưa cũng không dám bì. Nhưng đệ nghĩ anh nay trọng tuổi, cũng nên nghỉ ngơi hưởng an nhàn. Ta chọn người tài giao quyền tiết chế ba quân.

Trịnh Kiểm nghiêm trang:

-Cần chi phải chọn. Tôi mất đã có Cối nối chức cha, mất Cối còn Tùng.

Nghe xong, Nguyễn Hoàng hiểu Trịnh Kiểm bất chấp dư luận, quyết định thế tập. Hoàng nhanh nhẩu tiếp:

-Anh quyết định sáng suốt, cha làm con hưởng đâu để đến người ngoài. Ðệ muốn nói thêm về tình thế Quảng Nam. Xứ này đất rộng người thưa, lại là biên giới nên thường bị người Chiêm quấy phá. Nguyễn Quận Công (Nguyễn Bá Quýnh) tuổi cao sức yếu khó tròn chức trách, bao phen đệ phải cứu nguy. Chi bằng anh giao cho đệ cai quản luôn hai xứ Thuận Quảng, dùng thân tộc trấn nơi yếu địa, mai sau các cháu thay anh sẽ vững tâm đỡ lo phía nam.

Trịnh Kiểm lặng yên. Nguyễn Hoàng hồi hợp. Lát sau Kiểm nói:“ Sẽ cố lo mọi việc ổn thỏa”.

Trịnh Kiểm có hai con trai lớn nhiều phen theo cha xông pha trận mạc. Tuấn Ðức Hầu Trịnh Cối và Phúc Lương Hầu Trịnh Tùng. Trịnh Cối bạo ngược kiêu căng, ăn tiêu xa xỉ, chư tướng nhiều người bất phục. Trịnh Tùng vai em nhưng chững chạc, có bản lĩnh chỉ huy. Nguyễn Hoàng nhận ra mối chia rẽ giữa đám triều thần. Kẻ cho việc chọn Trịnh Cối hợp lẽ vì Cối là con trưởng. Bỏ trưởng lập thứ là tạo mối họa từ trong nhà. Chọn Cối nối nghiệp cha, Thái Sư Trịnh Kiểm chắc đã đắn đo. Kẻ khác bảo Thái Sư nào phải hoàng đế mà có quyền thế tập, quyền tiết chế binh quyền cốt chọn người tài. Nguyễn Hoàng đoán sau này Cối nắm quyền, anh em họ Trịnh khó giữ được hòa khí.

Một đêm đông lạnh, mưa buồn nhỏ giọt tí tách. Khoảng nửa đêm, dân Tây Ðô chừng ngủ yên bỗng nghe từ phía tây có tiếng động ầm ầm như sấm vang, nhà cửa rung chuyển. Nhiều người bị đánh thức, hé cửa nhìn trời. Giữa màn đêm đen xuất hiện khối lửa đỏ như mâm đồng, khối lửa bỗng bị xé thành ngàn tia tỏa sáng trời rồi sa xuống như pháo bông, mọi người kinh hãi nghe nhiều tiếng nổ lớn. Có người bảo thần linh phẫn nộ. Rồi mưa, mưa ào ào thác lũ. Xế trưa hôm sau trời tạnh, người ta nói ngọn núi phía tây hoàn toàn sụp đổ vùi lấp mấy ngôi nhà dưới chân núi. Nguyễn Hoàng lo lắng hỏi Thị Lang Phùng Khắc Khoan, em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khắc Khoan là người điềm đạm, thông minh uyên bác. Khắc Khoan buồn bã trả lời:“Ấy là điềm quốc gia mất tay lương đống”. Hoàng đoán chắc điềm ứng vào Trịnh Kiểm, người anh rể sẽ vong mệnh một ngày không xa.

Vài hôm sau Trịnh Kiểm ngã bệnh, lúc mê lúc tỉnh, người lúc nóng như than, lúc lạnh run đắp mấy chăn bông vẫn kêu rét. Nguyễn Hoàng vội đến thăm, nhìn Kiểm môi thâm khô, mắt sâu thẳm mỏi mệt, Hoàng khóc, sớm tối cùng phu nhân Ngọc Bảo cận kề săn sóc bên giường bệnh. Có lúc Trịnh Kiểm tỉnh đòi uống nước, Nguyễn Hoàng đỡ anh dậy, nhân cơ hội nói:

-Ðệ thấy sức anh kiệt nhiều, dù có hồi phục cũng nên từ giã gươm đao. Anh nên tâu vua giao quyền tiết chế cho Cối, giúp Cối có thời gian chỉnh đốn việc binh.

Trịnh Kiểm mắt lờ đờ mỏi mệt, lặng thinh giây lâu rồi khẽ gật đầu. Phu nhân nhắc việc Nguyễn Hoàng muốn cai quản luôn đất Quảng Nam, xin chồng vì công lao của thân phụ (Thái Sư Nguyễn Kim) mà chấp thuận. Trịnh Kiểm thều thào:“Phu nhân muốn vậy ta cũng chiều lòng. Giữ được người ở, ai giữ nổi người đi”. Nguyễn Hoàng bái tạ, thề trước sau một tiết, dốc tâm sức phù tá vua Lê. Vài ngày sau nghe tin đồn quân Mạc dụng thủy binh đang kéo vào Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng tạ từ anh rể, đeo ấn trấn thủ lên đường giong ruổi phương nam.

Xa Thuận Hóa hàng năm, nay trở lại thấy mọi việc quy củ. Nguyễn Hoàng mừng rỡ nghỉ ngơi vài ngày lại lên đường vào Quảng Nam tiếp nhận binh quyền. Quảng Nam đang rối loạn vì một số thổ quan nổi lên đánh phá nhiều nơi. Nguyễn Hoàng không thể trở lại Thuận Hóa, phải ở lại ổn định tình hình. Tin tức xấu từ Thanh Hóa liên tiếp nhận được. Mùa xuân tháng hai năm Canh Ngọ 1570, Thái Sư Trịnh Kiểm từ trần. Quả đúng như Nguyễn Hoàng tiên đoán, anh em Trịnh Cối Trịnh Tùng xung đột tranh đoạt quyền bính. Lợi dụng cơ hội, Mạc Kính Ðiển đem mười vạn quân tấn công Thanh Hóa, em ruột Kính Ðiển Khiêm Vương Mạc Ðôn Nhượng chỉ huy trên năm trăm chiến thuyền tập trung ở cửa Thần Phù. Trịnh Cối chống không nổi đã đầu hàng. Tại vùng nam Quảng Nam, Quận Công Lập Bạo làm phản đem hàng trăm chiến thuyền căng buồm chạy ra phía bắc. Nguyễn Hoàng lo sợ giao quyền bính cho Dũng Quận Công trấn thủ Quảng Nam, còn mình theo đường thủy về phòng thủ Ái Tử.

Mùa thu năm Tân Mùi 1571, Mạc Kính Ðiển đổi chiến thuật kéo đại binh vào đánh Nghệ An. Quân Mạc thắng to, chiếm lại các huyện từ sông Lam ra bắc. Trịnh Tùng nay nắm quyền tiết chế vất vả phản công đẩy lui quân Mạc. Năm sau, Kính Ðiển chia hai cánh quân cùng lúc tấn công Thanh Nghệ, lại sai hàng tướng Quận Công Lập Bạo đem sáu mươi chiến thuyền vào cửa Việt nhằm tấn công hành dinh của Nguyễn Hoàng tại Ái Tử.

Tin quân Mạc vào cửa Việt làm dân hoang mang lo sợ. Nguyễn Hoàng tập họp chư tướng bàn kế chống giặc. Có kẻ đề nghị nên dụ quân Mạc tiến sâu vào nội địa, dụng phục binh tiêu diệt. Nguyễn Hoàng cho là phải vì quân Mạc giỏi thủy chiến. Hôm sau, Nguyễn Hoàng và đám tùy tướng đi dọc sông Ái Tử, chọn địa điểm dụ quân Mạc đổ quân lên bộ. Ðến một bãi cát rộng, sâu bên trong là vùng lau lách um tùm có thể dùng làm chỗ ém quân mai phục. Dân vùng này gọi là bãi Trảo Trảo. Nguyễn Hoàng nghe lạ tai hỏi, dân trả lời:“Nghe đồn thuở trước bến sông có chỗ nước xoáy hiểm nghèo thường dìm chết người. Dân sợ hãi bốn mùa cúng vái thủy thần nhưng thần chẳng đoái hoài, nhiều người tiếp tục bị nạn. Một đêm trăng sáng, có cụ già thức khuya nhìn ra bến sông, thấy có bà áo xanh xinh đẹp bay đến từ phương nam phóng luồng sáng như thanh kiếm xuống giòng sông. Mặt sông đang lặng bỗng nổi sóng, phát ra những tiếng kêu trảo trảo lạ kỳ. Sáng ra, mọi người kinh ngạc thấy trên bến sông cơ man xác chết các loài thủy quái. Tự đấy giòng sông trở nên hiền hòa, dân nhớ ơn lập đền thờ thần nữ. Lấy hai chữ Trảo Trảo đặt tên bến sông.”

Ðêm hôm ấy, Nguyễn Hoàng trằn trọc nghĩ kế diệt giặc. Hoàng đã từng gặp Lập Bạo, y khét danh hổ tướng hồi còn trấn thủ vùng nam Quảng Nam. Muốn đánh bại y phải chấp nhận tổn thất. Làm sao nghĩ kế vẹn toàn? Những ngọn nến tàn dần. Tiếng trống điểm canh ba đã lâu, bên ngoài đêm đen bao phủ, cơn gió lạnh buổi đầu đông rì rào với tiếng dế than buồn se sắt. Trên khuôn mặt dầy dạn phong sương thoáng nở một nụ cười, nụ cười kín đáo nhưng tươi tắn. Có lẽ trấn thủ Thuận Quảng đã nghĩ được diệu kế… Nguyễn Hoàng rời án thư bước vào buồng sau, nàng hầu khôn ngoan xinh đẹp Ngọc Lâm chìm sâu trong giấc ngủ, ánh nến chập chờn tăng vẻ kiều diễm hiếm có trên đời. Thứ nhan sắc nghiêng thành đổ nước, từng xiêu lòng bao trang nam nhi tuấn kiệt. Hoàng ngồi bên giường nắm bàn tay ấm mềm mại dấu dưới lớp chăn bông, thầm cảm ơn trời được làm chủ tấm thân ngà ngọc…

Mờ sáng, Nguyễn Hoàng thức giấc. Lệ thường, Ngọc Lâm cũng rời giường pha trà. Ngồi trước tách trà thơm bốc khói nhẹ như màn sương mỏng, Hoàng tự tay rót trà vào tách thứ hai, kéo ghế đặt đối diện lên tiếng gọi Ngọc Lâm, ra dấu nàng ngồi đối ẩm. Ngọc Lâm khẽ nói:“Tướng công cho phép”, khép nép ngồi xuống. Lâm ngạc nhiên trước sự thân mật khác lạ vì thường lệ Nguyễn Hoàng chỉ độc ẩm. Nàng đoán có lẽ cuộc ân ái nồng nàn đêm qua làm chủ tướng ấm lòng, tỉnh táo sau mấy ngày nhọc tâm suy nghĩ chuyện đại sự quốc gia. Nguyễn Hoàng mở lời:

-Ta cùng nàng gá nghĩa thoắt đã hơn năm mà chung sống nào được mấy chốc. Ấy vì Thuận Quảng loạn lạc, tình thế chẳng yên buộc ta miệt mài thanh gươm yên ngựa, lòng chỉ mong được thuở thái bình, sớm hôm gần gũi để nàng khỏi phí hoài xuân sắc.

-Em được hầu hạ tướng công đã là toại nguyện danh giá, phận nữ nhi vẫn nằm lòng câu tứ đức tam tòng, cho dù trắc trở nào dám oán than. Hiềm phận nữ nội trợ hàng đầu, chẳng cùng tướng công chia sẻ ngọt bùi, lòng áy náy ra vào chẳng yên.

-Nàng nói ngọt ngào khôn ngoan, đủ bề công dung ngôn hạnh. Chuyện nước non cha ông từng dậy:Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Lại có câu: Giặc đến nhà đàn bà phải đánh.

Ngừng một lát, Nguyễn Hoàng tiếp:

-Xưa Tây Thi là phận gái, dùng sắc đẹp trời cho dựng lại cơ đồ nước Việt. Gương xưa rạng ngời trang sử, ngàn năm hậu thế noi gương.

Ngọc Lâm cúi đầu, vân vê tà áo:

-Em thẹn mình sức mọn tài hèn, sao dám sánh với nàng Tây Thi thuở trước. Em hàm ân tướng công, thề kết cỏ ngậm vành. Tướng công muốn em vào chốn dầu sôi lửa bỏng, lòng này quyết chẳng từ nan.

Nguyễn Hoàng nhìn Ngọc Lâm nhân ái, thầm khen nàng son sắt thủy chung:

-Bội phục nàng chí khí nên ta mới tỏ bày. Ðêm qua trong giấc ngủ chập chờn, ta mơ thấy bị quân Mạc vây khốn trên bến sông. Thấy ta, Lập Bạo múa song kiếm xông tới quyết hạ thủ. Trong lúc nguy khốn, bỗng thấy thần nữ áo xanh từ trên cao xòe đôi tay tỏa hào quang chiếu thẳng vào mặt tướng Mạc. Khi luồng sáng biến mất, đầu Lập Bạo đã lìa khỏi cổ… Quân Mạc như rắn mất đầu vỡ chạy. Ta vừa quỳ lạy tạ đã thấy bóng áo xanh biến mất, tai còn nghe thoảng giọng nói như chuông ngân vọng từ phương nam:“ Hãy nhớ nữ sắc mạnh hơn giáo gươm”. Ta giật mình tỉnh giấc, đoan chắc thần nhân khiến ta xử dụng kế mỹ nhân vì Lập Bạo vốn tay háo sắc. Suy tính trước sau, ta nghĩ chỉ có nàng mới làm nên đại sự.

Ngọc Lâm ngạc nhiên:

-Em phận gái tài hèn, nhan sắc thua chị kém em. Xin tướng công thêm lời dạy bảo.

Biết Ngọc Lâm ưng thuận, Nguyễn Hoàng tiếp:

-Ta nghĩ ra diệu kế, phải làm ngay để lâu hỏng việc. Ngay ngày nay, nàng cùng vài gia tướng sẽ đến dinh Lập Bạo trao thư của ta xin cầu hòa, lại mong mỏi cùng y kết nghĩa đệ huynh, dâng đất Thuận Quảng cho quân Mạc để xin hàng phục. Nàng uốn ba tấc lưỡi dụ hắn đến đền thờ thần nữ trên bến sông để cùng ước thệ. Việc của nàng chỉ đến đấy. Ta tin y không thể cưỡng lại lời nói dịu ngọt và nhan sắc của nàng. Việc thành khẩn cấp báo ta hay.

-Em hiểu ý tướng công, nhưng Lập Bạo dễ gì mắc bẫy.

-Ta đã liệu mọi bề. Trong thư ta nói nàng là em ta, bấy lâu mộ danh y, lòng những mong thuyền quyên anh hùng gặp gỡ. Muốn y tin mình, mình phải tỏ lòng thành.

Nguyễn Hoàng lặng thinh, vẻ như đau xót. Ngọc Lâm nôn nóng:

-Xin tướng công tỏ hết ý.

-Việc đòi nàng hy sinh, xả thân bồ liễu. Nàng phải giả vui thuận tư thông với y…

Ngọc Lâm chưa nghe hết câu bỗng òa khóc, xót xa phận gái nay thành món hàng trao đổi cho người. Nguyễn Hoàng ôn tồn:

-Xưa đức Thái Tổ (Lê Lợi) vì đại nghĩa đành gạt nước mắt nhìn vợ con chết dưới gươm giặc. Nay nàng vì sinh mệnh hàng ngàn quân dân chấp nhận xả thân, lòng ta xót xa nhưng nào dám phụ lời thần nhân mách bảo.

Ngọc Lâm ngừng khóc. Thôi đành nhắm mắt mặc cho số phận đẩy đưa, đâu đủ can đảm cưỡng lại lệnh chủ tướng. Ðầu giờ thìn, mặt trời lên cao. Ngọc Lâm gạt nước mắt bước lên kiệu cùng năm gia tướng lên đường thẳng ra Cửa Việt.

Quận Công Lập Bạo đang ngồi trong trướng uống rượu bỗng thấy quân hầu vào bẩm có sứ giả của Nguyễn Hoàng đến xin bái yết. Quân hầu nói sứ bộ chỉ năm người, không mang vũ khí. Quận Lập đeo song kiếm, hai bên có võ sĩ hộ tống bước ra phủ đường. Quận Lập quá đỗi ngạc nhiên, hồn xiêu phách lạc thấy trong đám sứ bộ có thiếu nữ đôi mươi nhan sắc cực kỳ diễm lệ. Quận Lập ra uy vỗ án hét lớn:

-Nguyễn Hoàng mang danh làm tướng chẳng biết lễ nghi, dám sai phái đàn bà con gái đến chốn công đường là ý đồ chi? Muốn dụng mỹ nhân kế lung lạc ta ư?

Ngọc Lâm nhìn Quận Lập đáng to béo, mắt ti hí, tướng bạch diện vô tu đúng phường háo sắc. Nàng không chút e ngại, giọng oanh thỏ thẻ:

-Tiện nữ vâng mệnh Nguyễn huynh mạo muội tới chốn công đường chẳng phải lo việc quốc sự, mà trước vì mến mộ uy vũ tướng quân lừng lẫy, mong có phen diện kiến bậc cái thế anh hùng, sau là tỏ tình giao hảo giữa hai nhà.

Ngọc Lâm nói xong bày trăm nén vàng cùng phong thư của Nguyễn Hoàng, cung kính đặt trước án. Thấy lễ vật sang cả, nhiều vàng bạc, Quận Lập vui vẻ giả lả:“Võ tướng thường nóng nảy, nàng miễn chấp”. Thư Nguyễn Hoàng lời lẽ nhún nhường:“… Ðệ từ lâu ngưỡng mộ uy vũ tôn huynh, nay cơ trời xui gặp quyết không bỏ lỡ. Anh em họ Trịnh xung đột, cốt nhục tương tàn, điềm bại vong thấy rõ. Tôn huynh về với nhà Mạc thật cao minh thức thời, đệ từ lâu cũng mang ý hướng ấy nhưng chưa có cơ thực hiện, nay gặp tôn huynh khác chi cá gặp nước. Chi bằng ta kết nghĩa đệ huynh, thề đồng sinh tử, dâng đất Thuận Quảng cho Mạc, củng cố lực lượng tiến quân ra bắc làm thế gọng kìm. Họ Trịnh dù có cánh cũng không thoát khỏi tay ta. Ðệ từng nghe Khiêm Vương (Mạc Kính Ðiển) là bậc đại nhân lượng cả, chắc chắn sẽ ban thưởng bổng lộc trọng hậu. Ðể minh chứng lòng thành, đệ dâng lễ mọn mời tôn huynh ước thệ tại ngôi đền trên bến Trảo Trảo có thần nhân chứng giám…”. Cuối thư Nguyễn Hoàng viết:“… Ðệ có cô em Ngọc Lâm trời cho nhan sắc nguyệt thẹn hoa nhường. Ngọc Lâm ngưỡng mộ uy dũng tôn huynh từ lâu, những mong được hầu hạ lược khăn người anh hùng cái thế. Tôn huynh rộng lượng hẳn chẳng khước từ..”. Quận Lập đọc đến đấy vui mừng hể hả, thịt dâng miệng cọp. Bấy lâu mải miết hành quân, đêm đêm vẫn mộng cùng nữ nhân mây mưa, nay gặp người thật xinh hơn người mộng. Quận Lập truyền bày tiệc đãi đằng sứ giả, lại dẫn riêng Ngọc Lâm ra buồng sau yến ẩm. Quận Lập rót rượu mời Ngọc Lâm:

-Ta nay gặp nàng do duyên trời khiến, nguyệt lão khéo xe, coi hôm nay như ngày nghinh hôn nên có chung rượu tạ ơn trời, tạ ơn ông tơ bà nguyệt, mời nàng cạn chén.

Ngọc Lâm e thẹn trông càng nồng nàn hương sắc. Quận Lập say đắm mong trời mau tối làm lễ động phòng, tung hoành hoa dinh cẩm trận. Ngọc Lâm nói:

-Cũng chỉ vì hai tiếng anh hùng mà phải làm điều trái lẽ, xưa nay trâu tìm cọc chứ cọc nào tìm trâu, em nghĩ trăm phần hổ thẹn.

Quận Lập an ủi:

-Nhi nữ thường tình là vậy, nhưng nàng mộ danh ta mà đến lòng ta bội phần quý hóa. Ta cho đó là cung cách xử sự khôn ngoan, nhan sắc tuyệt trần chỉ xứng với trang hào kiệt. Ai dại đem hoa hồng cắm phân trâu, uổng phí đời hoa.

Ngọc Lâm cúi đầu cảm tạ:

-Em nay mộng thành được sớm hôm kề cận nâng khăn sửa áo hầu hạ tướng quân, hai nhà Lập Nguyễn đời đời giao hảo. Xin tướng quân kíp hồi âm cho Nguyễn huynh, cùng hội ngày ước thệ chín chắn. Nguyễn huynh rất vui mừng khỏi nhọc công chờ đợi.

Quận Lập nghe Ngọc Lâm nói, hăng hái thảo thư cho Nguyễn Hoàng, định vài ngày sau sẽ đến nơi thệ ước. Ngọc Lâm vui mừng lạy tạ nhận thư trao sứ bộ mang về Ái Tử.

Nhận thư, Nguyễn Hoàng mừng rỡ biết việc đã thành. Truyền quân quét dọn sửa sang ngôi đền, ngầm đào hào chung quanh đủ chỗ vài mươi dũng sĩ mai phục.

Ðúng hẹn, Quận Lập đến Ái Tử với khoảng trăm quân trên ba chiến thuyền hộ tống. Nguyễn Hoàng thân ra bãi sông đón Quận Lập lên bờ. Ðến cửa đền, Nguyễn Hoàng nói:“Tôn huynh đứng đợi đệ ra lệnh quân sĩ thắp hương đèn”. Nói xong bước nhanh vào đền vòng ra phía sau mất dạng. Có tiếng pháo nổ vang. Quận Lập đang ngơ ngác bỗng từ ba phía tên bắn như mưa. Từ trong đền toán dũng sĩ xông ra bao vây, giáo gươm đánh tới tấp. Quận Lập rút song kiếm chống trả cố lùi ra mé sông thì bị tên bắn chết. Thấy chủ tướng bị hại, quân Mạc quăng gươm giáo đầu hàng. Nguyễn Hoàng tha không sát hại, đưa đám hàng binh đi canh tác ở vùng Cồn Tiên. Phần Ngọc Lâm, khi Quận Lập kéo quân về Ái Tử, nàng cải trang nam nhi trốn khỏi doanh trại Mạc. Gặp lại Nguyễn Hoàng, Ngọc Lâm khóc lóc nài nỉ chủ tướng cho nương thân nơi cửa phật. Nguyễn Hoàng chối từ. Nghe nói sau này Hoàng tìm cách đền ơn, gả nàng cho viên tùy tướng người Nghệ An. Hai xứ Thuận Quảng từ đó yên ổn nhưng tình hình triều đình tại Thanh Hóa gặp nhiều biến loạn làm Nguyễn Hoàng lo ngại. Sau vụ anh em họ Trịnh xung đột dành quyền bính, Trịnh Cối về hàng Mạc được trọng dụng giữ nguyên chức tước. Trịnh Tùng giữ quyền tiết chế quân lực tỏ ra lấn lướt vua Lê. Vua Lê Anh Tôn cùng Thái Phó Lê Cập Ðệ mưu hại Trịnh Tùng, Tùng phát giác sự việc giết Cập Ðệ, vua Lê sợ hãi cùng bốn hoàng tử trốn vào Nghệ An bị Tùng lùng bắt sát hại loan tin vua tự sát. Trịnh Tùng nói với triều thần:“ Nhà vua khởi thân hàn vi, chỉ là cháu xa đời họ Lê được thân phụ ta rước về tôn lập làm vua thiên hạ lo việc khôi phục. Nay vua dùng bọn tiểu nhân, nghe chúng bày kế ly gián, khinh xuất đem ngôi báo xiêu giạt, tự hại thân mình. Tội bọn gian thần quả thật lớn lắm”. Trịnh Tùng lập hoàng tử Duy Ðàm, con trai thứ năm của vua Anh Tôn lên ngôi tức vua Thế Tôn. Vua Lê sai sứ mang sắc thư vào Thuận Hóa phong Nguyễn Hoàng làm Thái Phó, hàng năm giữ lệ nộp thuế triều đình. Nguyễn Hoàng dâng biểu tạ ơn. Từ đó, Nguyễn Hoàng ra sức ổn định phát triển Thuận Quảng. Hành động dứt khoát và tàn bạo của Trịnh Tùng làm Nguyễn Hoàng lo ngại, nhất là cái chết của người anh như ám ảnh không rời. Tuy được thăng chức, Nguyễn Hoàng vẫn thường phái gia nhân do thám tình hình triều chính.

Trịnh Tùng nối chí phụ thân quyết tâm đánh bại nhà Mạc, thường xuyên tổ chức hành quân tấn công vùng bắc Tam Ðiệp thuộc Sơn Nam. Ngược lại, Tiết chế quân Mạc Khiêm Vương Mạc Kính Ðiển không bó tay phòng thủ, nhiều phen tấn công vùng Thanh Nghệ. Chiến trận nhiều năm ở thế giằng co, bao tai họa đổ trên đầu lương dân thống khổ. Hết chiến tranh đến thiên tai, khi bão lụt khi hạn hán, nhiều người cùng khổ bỏ quê cha đất tổ đi vào Thuận Quảng mong tìm đất lành nương thân. .

Cuối năm Canh Thìn 1580, Nguyễn Hoàng được tin Mạc Kính Ðiển lâm bệnh từ trần, Hoàng tin tưởng quân Mạc sẽ khốn đốn. Phùng Khắc Khoan từng nói với Nguyễn Hoàng:“Kính Ðiển là người dũng lược nhân hậu, thông minh tài trí…” Với Trịnh Tùng, Kính Ðiển là đệ nhất danh tướng đất bắc. Nay Kính Ðiển mất đi, cơ nghiệp họ Mạc tất lung lay. Ứng Vương Mạc Ðôn Nhượng em ruột Kính Ðiển nắm quyền tiết chế. Ðôn Nhượng hiền hòa nhưng thiếu quyết đoán, Trịnh Tùng tin tưởng mình sẽ là kẻ chiến thắng. Từ đó chiến sự mở rộng hơn, quân Lê thắng thế khiến bắc triều nhiều phen nao núng. Ðiềm bại vong thấy rõ khi vua Mạc Hậu Hợp ham mê tửu sắc, quần thần chia rẽ, nhiều kẻ bỏ về đầu hàng nhà Lê. Mạc Ðôn Nhượng tuổi ngoài bảy mươi, đau lòng nghĩ chẳng ra cách cứu nguy cơ đồ, lại đau yếu thường xuyên, chán nản trở về Hải Dương.

Năm Nhâm Thìn 1592, quân Mạc thất trận nặng nề, thiệt hàng vạn quân, kinh đô Thăng Long bị tàn phá hoang vắng tiêu điều, dân lầm than không kể xiết. Ai cũng nghĩ nhà Mạc sẽ đổ. May thay quân Lê thiếu lương trầm trọng, cả vùng Thanh Hóa lẫn Sơn Nam mùa màng mất trắng vì bão lụt. Trịnh Tùng buộc phải lui quân. Bấy giờ thay vì ra sức phục hồi đất nước phòng quân Lê trở lại, vua Mạc chủ bại sinh chán nản buông tuồng. Vua say mê cô em vợ mình là Nguyễn Thị, vợ Sơn Quận Công Bùi Văn Khuê, viên danh tướng chỉ huy thủy binh, lực lượng hùng hậu nhất của nhà Mạc. Biết vua muốn âm mưu hãm hại mình để cướp vợ, Văn Khuê dẫn binh về Sơn Nam lánh nạn, vua tức giận sai quân truy đuổi. Văn Khuê ở thế bí buộc phải hàng phục nhà Lê. Thấy Văn Khuê dung mạo đẹp đẽ, Tùng phong Khuê làm Mỹ Quận Công.

Thu phục được Văn Khuê, Trịnh Tùng mừng lắm. Tùng nói với chư tướng:“Ta xưa nay chỉ ngại thủy binh Mạc, nay Văn Khuê về hàng do ý trời muốn giúp ta dựng đại nghiệp. Dù bắt đầu tiết đông nhưng ta quyết hưng binh, chư tướng hãy một lòng, trên dưới quyết tâm đánh thắng trận cuối, chấm dứt cuộc can qua đã gần sáu mươi năm dài”. Tướng sĩ nô nức ra quân thề quyết thắng. Quân Lê chiếm Sơn Nam, Bùi Văn Khuê đánh bại thủy binh Mạc thu hàng trăm chiến thuyền, theo sông Hồng tiến thẳng vào Thăng Long. Kinh đô thất thủ, vua Mạc bỏ chạy về lập chiến tuyến ở Hải Dương. Trịnh Tùng dốc toàn lực lượng thủy bộ quyết san bằng cứ điểm cuối cùng. Vua Mạc thấy thế nguy, quyết định đánh lá bài cuối. Nhà vua nhường ngôi cho con là Mạc Toàn, tự mình thống lĩnh ba quân tử chiến. Bấy giờ là tháng chạp, trời lạnh căm gió bấc mưa phùn. Chiến tuyến dài hàng chục dặm vang tiếng la hét, tiếng kêu thương, tiếng nguyền rủa, tiếng gươm giáo va chạm, quân đôi bên trộn lẫn say cuồng tàn sát. Chỉ toàn máu, máu loang khắp nơi, hơi gió cũng tanh máu. Trong lúc tình thế gay go, mấy chục chiến tướng Mạc cởi giáp hạ gươm đầu hàng. Quân Mạc núng thế lùi dần, những người lính hốc hác khô héo gian khổ chiến đấu không tiếc lời nguyền rủa bọn mũ cao áo dài từng hưởng ơn mưa móc nhưng bội phản trước tiên. Ngay trong đêm, Mạc Hậu Hợp bảo vệ gia quyến trốn khỏi Hải Dương chạy lên phía bắc, ẩn trong làng Phượng Nhãn, nhưng chỉ mấy ngày sau bị quân Lê bắt được. Trịnh Tùng truyền đưa Mạc Hậu Hợp về Thăng Long, chém tại bến Bồ Ðề, đóng đinh vào hai mắt, cắm thủ cấp vào cọc bêu ba ngày giữa chợ, sau đó đóng hộp gửi về Thanh Hóa tế tiên tổ nhà Lê. Hàng trăm chiến tướng Mạc bị bắt, tất cả đều bị chém bêu đầu. Tàn quân Mạc do Mạc Ngọc Liễn chỉ huy rút chạy lên Cao Bằng. Trịnh Tùng về lại Thăng Long cho sửa sang thành quách cung điện chuẩn bị đón vua. Trung tuần tháng tư năm Quý Tỵ 1593, vua Lê và triều thần đến Thăng Long, Tiết Chế Trịnh Tùng cùng chư tướng ra ngoại thành đón tiếp trọng thể, cử nhã nhạc lạy mừng đón vua vào hoàng thành. Thị Lang Phùng Khắc Khoan tâu:

-Nay tội ác phản tặc đã xử, công nghiệp tiên vương phục hồi thuận ý trời, đẹp lòng người. Thần nghĩ việc thành là do anh linh tiên tổ trợ giúp, lại nhờ công lao của đô tướng tiết chế chư tướng ba quân, nay là lúc bệ xét công ban thưởng.

Vua cho thuận lẽ:

-Trẫm nghĩ thiên hạ là của tổ tông, dân cũng là dân tông tổ. Quân dân khổ ải bị tàn ngược đã lâu, đương mong ta vỗ trị. Nay ngoài việc ban thưởng ba quân chư tướng, ta còn ban ân huệ cho khắp mọi nhà.

Triều thần vui mừng nhận lĩnh chức tước. Các danh tướng Hoàng Ðình Ái, Nguyễn Hữu Liêu lập công đầu đều được phong quốc công.

Tại Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng nghe tin quân Lê đại thắng, vua Lê đã ra Thăng Long. Nguyễn Hoàng bàn với các con:

-Ðã hai mươi năm lẻ ta chưa về chầu vua thật không đúng lẽ. Nay nhân cơ hội phải ra Thăng Long một chuyến, thầy cũng muốn dẫn các con bệ kiến thánh giá để vua phong chức tước danh chính ngôn thuận lưu tiếng với đời. Phúc Nguyên ở lại trông nom công việc các trấn.

Người con trưởng Nguyễn Hà bàn:

-Ðể tỏ lòng thành, ta nên mang nhiều binh lương cùng nhiều lễ vật tạ vua. Thầy cũng không nên quên Trịnh Tùng vì hắn có công lớn trung hưng, ta muốn yên phải lấy lòng hắn.

Nguyễn Hoàng khen phải, chuẩn bị mấy mươi chiến thuyền cùng binh lương, sổ bộ, cơ man ngọc ngà vàng lụa, cắt ngàn tinh binh thân tín hộ tống lên đường. Trước ngày khởi hành, Nguyễn Hoàng gọi Phúc Nguyên căn dặn mọi việc kỹ càng, hứa không chóng thì chầy sẽ trở lại Thuận Hóa.

Ðầu tháng năm, Nguyễn Hoàng đến Thăng Long, cùng với bốn con trai và cháu nội đến phủ đô tướng. Trịnh Tùng mừng rỡ bày tiệc khoản đãi, mừng cậu cháu anh em tái ngộ sau hơn hai mươi năm xa cách. Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Tùng trách cứ chuyện quá lâu không về triều, Hoàng nói:

-Thời gian qua nhanh, đời người chóng hết. Năm nay cậu ngót bảy mươi may trời cho còn sức mạnh. Bấy lâu cậu không về triều vì phương nam rối rắm, phần bọn cướp biển hung bạo thường phen quấy nhiễu không cho dân ven biển lạc nghiệp an cư, phần bọn Chiêm Thành nhớ hận xưa, đôi khi kéo quân xâm lấn. Hai trấn Thuận Quảng đất rộng người thưa, quân ta không đông lại phân tán, cha con cậu ngày đêm chung sức gánh vác công việc chẳng dám lơ là, cháu cứ xem sổ bộ thì rõ. Mừng cháu lập đại công phục hưng nghiệp Lê, sử vàng ghi khắc.

Trịnh Tùng phủ dụ:

-Cậu ra chuyến này còn mang cả sổ bộ binh lương quân sĩ, mọi việc chu tất cháu quá đỗi vui, nói chi chuyện nhiêu khê buồn phiền. Mấy mươi năm cháu chinh chiến lập đại công, cũng nhờ cậu một tay gìn giữ phương nam vững chắc, công ấy không nhỏ. Nay nhà vua đã ban thưởng chư tướng ba quân, mai cậu vào bệ kiến, cháu xin ngài gia phong cậu hàng vũ tướng hệ trọng, nhất phẩm công thần. Nay Vinh Quốc Công (Hoàng Ðình Ái) nắm Tả Tướng, cậu sẽ là Hữu Tướng Ðoan Quốc Công.

Nguyễn Hoàng vui vẻ. Nghỉ ngơi non nửa tuần trăng, Trịnh Tùng lại gặp Nguyễn Hoàng:

-Ta tuy chiếm Thăng Long, chém hàm trăm nghịch tướng nhưng dư đảng còn nhiều. Cháu lo ngại nhất là bọn Mạc Ngọc Liễn và Mạc Kính Cung (con trai Mạc Kính Ðiển) còn cao bay xa chạy. Các trấn không yên, thường xuyên bị quấy phá. Nay cháu giao cậu ba trăm chiến thuyền cùng quân lương, cậu sẽ hợp với Tả Tướng (Hoàng Ðình Ái) bình định vùng duyên hải các trấn Sơn Nam, Hải Dương. Cậu cẩn trọng vì thủy binh Mạc rất giỏi, địa thế đất bắc phức tạp, cháu sẽ cử Quận Bùi (Mỹ Quận Công Bùi Văn Khuê) phụ giúp cậu, y giỏi thủy chiến, lại am tường địa thế.

Nguyễn Hoàng cùng các con ra quân sau vài ngày chuẩn bị. Từ đấy, đoàn quân tham chiến từ vùng tây nam, trên những vùng sông rạch như mắc cửi đan vào những sông Hàm Giang, Lục Ðầu… đến những vùng núi cao hiểm trở ven biển phía đông như núi Yên Tử, núi Ðông Triều. Trận giao tranh đẫm máu tại phủ Kiến Xương, Nguyễn Hoàng đại thắng chém hàng vạn thủ cấp, cả một giải Hoàng Giang nhuộm máu nghẹt xác người. Cuối năm tình hình tạm ổn, Nguyễn Hoàng trở về Thăng Long. Vua Lê mừng rỡ khen ngợi chẳng cùng, gia phong cho bốn người con Nguyễn Hoàng tước quận công.

Thắng liên tiếp nhiều trận lớn, Trịnh Tùng nghĩ tình hình sẽ khả quan hơn nhưng diễn biến ngược lại. Khắp nơi từ duyên hải đến cao nguyên, đám cựu thần nhà Mạc không ngừng nổi dậy đánh phá. Dân còn luyến tiếc vương triều cũ sẵn sàng ủng hộ hoặc tham gia kháng chiến chống nhà Lê. Trịnh Tùng ăn ngủ không yên, cứ dẹp yên được nơi này , nơi khác lại sinh biến.

Cuối năm Giáp Ngọ 1594, Mạc Kính Cung đã xưng đế, cùng với Thái Phó Mạc Ngọc Liễn bất ngờ kéo quân từ Thái Nguyên về chiếm huyện Vĩnh Lại. Chỉ vài ngày sau, phần lớn trấn Hải Dương lọt vào tay quân Mạc, thanh thế họ Mạc ngày càng lớn. Nguyễn Hoàng tuổi tròn bảy mươi vẫn hăng hái nói với Trịnh Tùng:“Cậu đã quen đất Hải Dương, lại hiểu được chiến thuật hành quân của Mạc Ngọc Liễn. Binh pháp có câu biết mình biết người trăm trận trăm thắng. Cậu còn khỏe, hãy để cậu cầm quân xung trận lập công”. Trịnh Tùng mừng rỡ cử Nguyễn Hoàng làm đô tướng đem trăm chiến thuyền và vạn quân tiến đánh Hải Dương.

Nguyễn Hoàng chia quân làm hai cánh thủy bộ tiến đánh quân Mạc ở núi Yên Tử. Thủy binh lợi dụng sương mù lặng lẽ tiến đến gần trại địch, dùng tên lửa bắn rát. Bộ binh đánh từ nhiều phía reo hò như sấm dậy cướp tinh thần. Mờ sáng quân Mạc rút chạy. Quận Công Nguyễn Hán, con trai thứ của Nguyễn Hoàng kéo thuyền ngăn địch bị tên bắn gục chết ngay trên thuyền. Thấy con bị hại, Nguyễn Hoàng ngưng truy đuổi, kéo quân lên bộ lập hành dinh, cho chuyển thi hài con về Thăng Long. Những cuộc hành quân truy lùng kéo dài hàng năm, có lần Nguyễn Hoàng kéo quân lên tận Cao Bằng. Quân Mạc rút sâu vào rừng, đói khát gian truân thê thảm, Mạc Ngọc Liễn lại lâm trọng bệnh. Biết mình khó qua khỏi, trước khi từ giã cõi đời, Ngọc Liễn căn dặn Kính Cung:“Ta nay sức cùn lực tận, cái chết đã gần kề nên nói lời chân thật. Mệnh nhà ta suy vi, nhà Lê phục hưng âu cũng số trời, chớ nên chống chỏi làm khổ quân dân bao năm đau khổ ê chề chết chóc. Chi bằng theo lời khuyên của Trạng Trình tạm lánh qua biên giới, tránh can qua. Chớ nên cậy vào sức người Tàu vì họ chẳng bao giờ thật tâm cứu giúp, chỉ muốn nô lệ dân ta”.

Những năm tiếp, đất bắc vẫn loạn, thiên tai làm mất mùa màng. Hải Dương đói, người ăn thịt người. Sơn Tây đói, người nghèo tụ nhau cướp gạo người giầu, trẻ con nhìn người lớn giết nhau tranh cướp bình thản đứng nhìn, có khi cười nói coi như trò vui. Ðiềm trời nhiều chuyện lạ, mùa hạ năm mùi dân kinh thành thấy hai mặt trời cùng lúc, trời không mây mà sấm chớp, sét đánh ngay vào cung vua. Năm Dậu tại Sơn Tây, đang tiết xuân trời bỗng mưa to nước đỏ như máu. Có người kể thấy hình ma quỷ nhảy múa trong mây. Nguyễn Hoàng chán nản, nghĩ Trịnh Tùng khó trụ ở Thăng Long vì lòng dân bất phục. Ðôi phen Nguyễn Hoàng ngỏ ý muốn về Thuận Hóa đều bị Trịnh Tùng tìm lời đưa đẩy giữ chân. Tùng nói:“Cậu nay trọng tuổi về chi nơi ác địa. Ở đây cậu cháu có nhau, đất nước chưa yên cháu vẫn cần cậu trợ giúp. Mai sau thôi chinh chiến cậu về quê nhà dưỡng lão vẫn hơn”. Sau Nguyễn Hoàng nghĩ ra Trịnh Tùng muốn cài người thân tín vào Thuận Hóa thay mình nên càng lo ngại muốn tìm cách thoát khỏi đất bắc.

Tháng tư năm Mậu Tuất 1598, hàng vạn quân Mạc do Mạc Kính Chỉ chỉ huy từ phía bắc tràn về chiếm lại Hải Dương. Trịnh Tùng bàn với chư tướng:“Hải Dương vốn là đất tổ họ Mạc, dân nhiều người còn nhớ nhà Mạc nên nghịch đảng dễ thao túng. Nay ta dốc toàn lực đánh dẹp, nhổ cỏ tận gốc may tình thế mới yên. Chư tướng cùng ta quyết chiến”. Chư tướng cảm kích khí thế bừng bừng. Trịnh Tùng đích thân chỉ huy trung quân cùng với Hữu Tướng Nguyễn Hoàng, Tả Tướng Hoàng Ðình Ái. Thủy binh do các Quận Công Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê đem ba trăm chiến thuyền vây hãm mặt biển. Chiến trận gay go khốc liệt kéo dài hàng tháng. Quân Mạc quyết chiến nhưng ô hợp tổn thất nặng, cuối cùng lui binh. Quân Lê hồi triều, Trịnh Tùng hậu thưởng tướng sĩ, hết lời ngợi khen các danh tướng Phan Ngạn, Văn Khuê.

Một đêm tháng tư năm Kỷ Hợi 1599, trời đang tối đen bỗng ngàn sao xuất hiện sa xuống như tia chớp đánh sập một góc điện Kính Thiên nơi vua ngự. Mọi người cho là điềm bất tường. Vua lo lắng hỏi triều thần. Ðô Ngự Sử Lê Nghĩa Trạch vốn tính ngay thẳng tâu:

-Tâu bệ hạ, thần nghĩ điềm trời nhắc nhở bậc đế vương giữ đạo công rộng lớn, chưa hậu lễ tôn nghiêm cao quý công thần.

Vua lại hỏi:

-Khanh nói vậy là ý chi?

-Ðạo trị nước công thưởng tội phạt. Chư tướng hữu công đều được ban thưởng trọng hậu, điều ấy hợp lẽ. Thần chỉ e ngại trường hợp Tiết Chế(Trịnh Tùng), ngài quả là kẻ công đầu lại chưa thấy bệ hạ nói chi, thần e có điều dị nghị.

Vua nghĩ lung, chậm rãi:

-Trẫm hằng áy náy việc khanh tâu, nay Tiết Chế uy quyền tuyệt đỉnh, cai quản văn võ quần thần, trẫm biết phong chức chi cho xứng?

-Tiết Chế mấy mươi năm vào sinh ra tử tung hoành nơi chiến địa, từ núi rừng sông biển chẳng chùn vó ngựa. Có lần ngài tâm sự, chỉ mong yên giặc được sống bình an, đấng chí tôn thấu hiểu ước vọng công thần là đẹp ý trời.

Vua nghĩ ra, truyền Thị Lang Phùng Khắc Khoan thảo sách văn. Thảo rằng:“… Trường Quốc Công Trịnh Tùng uy vọng như núi, văn vũ song toàn, trong bày kế an xã tắc, ngoài chinh chiến bình đảng nghịch giữ yên nghìn cõi, đáng mặt lương đống, cai quản thần liêu. Ðặc sai Tả Tướng Vinh Quốc Công Hoàng Ðình Ái đem sách vàng tấn phong làm Ðô Nguyên Súy Thượng Phụ Bình An Vương. Mong thận trọng chức vị, muôn đời hưởng ân vua…”

Trịnh Tùng hoan hỉ nhận tước vị, mở đại tiệc khoản đãi chư tướng. Tùng nói:“Hoàng thượng thấu hiểu tâm can, sắc phong ta tước hiệu Bình An Vương thật đúng ước vọng”. Giữ ngôi vương bá, Trịnh Tùng lập Phủ Liêu nắm trọn quyền bính, ngang nhiên quy định bổng lộc nhà vua. Vua chỉ được hưởng lộc ngàn xã gọi là lộc thượng tiến, có năm ngàn lính túc trực hộ vệ vương phủ. Nhà Lê đến đây coi như mất quyền.

Chế độ phổ biến làm nhiều người kinh ngạc, có kẻ dị nghị xưa nay chưa hề có chuyện vua ngửa tay nhận lộc bề tôi. Trịnh Tùng được quần thần xưng tụng là nhà chúa thản nhiên nói:“Nước nghèo lại loạn, ta nắm quyền tiết chế làm việc gì cũng theo kỷ cương mới giữ nổi đại nghiệp. Quần thần chớ theo thói cũ mà suy lẽ này khác”. Phần vua Lê, nhà vua hận chẳng dám nói, buồn bực khôn nguôi. Cung vua sơ sài đạm bạc, phủ chúa nguy nga tráng lệ. Thái Tử Duy Thì thấy cha âu lo bèn thưa:“Phụ Vương can chi buồn bực, bởi lẽ mình tuy là vua nhưng tài hèn sức yếu nên bị người lấn áp, chi bằng cứ thản nhiên, khoanh tay rũ áo tránh bị nghi kỵ rồi liệu việc sau”. Vua trách:“Con còn nhỏ thiếu cẩn trọng, sao quên câu tai vách mạch rừng”. Từ đấy sức khỏe vua suy yếu dần, hàng tháng không thiết triều, quần thần tấu bẩm nhận lệnh lạc hoàn toàn qua phủ chúa.

*****

Kinh đô Thăng Long những ngày thu tàn, trời dịu mát, gió nhẹ như tơ đong đưa dăm chiếc lá vàng lượn lờ. Sáng hôm ấy, theo lệ bá quan đến phủ chúa bàn quốc sự. Ðầu giờ mão trời chưa sáng rõ, người ta đã nghe tiếng vó ngựa gõ nhịp trên đường, tiếng xe kéo lọc cọc về phía phủ chúa tọa lạc bên hồ Tây. Bá quan tụ tập đông đủ nhưng cổng phủ vẫn khép kín, khác với lệ cổng mở sớm như mọi lần. Mọi người nhìn nhau e dè, linh tính có điều không ổn. Bỗng từ vọng gác trên cao có tiếng loa vang:“Lệnh chúa thượng chỉ mời các quan có trọng trách vào phủ nghị bàn, kỳ dư trở về nhiệm sở chờ lệnh sau”. Bá quan từ nhị phẩm trở xuống, kẻ xe người ngựa lặng lẽ phân tán, lòng hoang mang nghi hoặc.

Lát sau cánh cổng nặng nề từ từ mở, các Quốc Công Nguyễn Hoàng, Hoàng Ðình Ái, Nguyễn Hữu Liêu, Ðô Ngự Sử Lê Nghĩa Trạch… và mươi vị khác hàng lối tề chỉnh bước vào phủ đường. Chúa Trịnh bước ra phủ đường. Bá quan ngạc nhiên thấy chúa không mặc lễ phục, chỉ áo xanh khăn đóng. Chúa nhìn hai hàng văn võ, nói:

-Ta báo tin chư khanh, khoảng cuối giờ tí hoàng đế đã về chầu tiên vương nơi chín suối. Nước không thể một ngày không vua, ta họp chư khanh định ngày đăng quang tân vương giữ mối giềng xã tắc, cùng là lo việc tang ma cho đúng lễ nghi truyền thống nhà Lê.

Ngự Sử Lê Nghĩa Trạch khải:

-Khải chúa thượng, ngôi vị thái tử tiên vương đã định, việc lễ nghi đã có bộ lễ. Thần nghĩ chỉ cần Tư Thiên Giám chọn ngày lành phát tang…

Chúa ngắt: Nếu mọi việc xuôi cớ chi phải luận bàn, do có khúc mắc khiến ta trăn trở chưa quyết phải hội ý bá quan. Nay đang cơn quốc biến, Mạc Kính Cung ở phương bắc tiếm xưng đế hiệu, dưới tay có hàng vạn quân đang lăm le tái chiếm kinh đô, dư đảng nghịch hoành hành khắp nơi khiến trời phẫn nộ giáng bao tai ách. Ta quyền tiết chế, đấng chí tôn vẫn trọng tôn làm thượng phụ nương cậy mọi việc. Nay nhà vua về chầu tiên vương giao ta gách vác chức trách, việc chọn đấng minh quân kế vị khiến ta âu lo khắc khoải…

Chúa ngừng giây lâu, bá quan lặng lẽ ra vẻ suy nghĩ . Bỗng chúa nhìn thẳng Thị Lang Lê Bật Tứ ngồi cuối hàng văn quan, chúa hỏi:

-Quan Thị Lang, ông văn hay chữ tốt, kinh sử làu thông, cho ta nghe cổ nhân bàn thuật trị nước của đấng minh quân.

Lê Bật Tứ vốn người đồng hương với chúa, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất 1598 được chúa trọng tài quý mến. Bật Tứ đứng dậy dõng dạc:

-Khải chúa, bậc minh quân cư xử hợp đạo nghĩa, yên dân bằng đạo lý, khiến dân bằng lễ nghi, yêu dân là nhân ái. Trau dồi được vậy nước tất hưng thịnh. Lại nghĩ minh quân tài giỏi nắm mối giềng xã tắc phải đạo vua tôi, trọng nể hiền tài, trên thuận lòng trời, dưới hợp ý dân, nối dài phúc đức tông xã muôn đời.

Chúa nghe gật gù bằng lòng: Cứ theo lời quan Thị Lang đấng chí tôn nào phải tầm thường. Theo lẽ ấy, xét Thái Tử Duy Thì tính tình trì trệ kém phần mẫn tiệp. Tiên Vương chọn ngôi thái tử theo lệ xưa nay trao quyền cho trưởng. Từ lâu ta có ý khuyên vua thay ý định, nào ngờ vua băng đột ngột chưa kịp định bàn. Lại nữa gần đây Duy Thì nói năng thiếu lễ độ, thường có lời gây nghi kỵ giữa phủ chúa và nhà vua, không xứng ngôi báu. Xét Hoàng Tử Duy Tân tuy trẻ tuổi (Duy Tân tuổi mới mười ba) nhưng đủ phong thái, dung mạo hùng vĩ, thông minh mẫn tiệp xứng đáng ngôi cao, ý ta quyết chọn Duy Tân làm kẻ kế vị.

Rồi chẳng cần ai bàn luận, chúa truyền Tư Thiên Giám chọn ngày làm lễ ban chiếu đăng quang, bá quan hàng nhất nhị phẩm đi tế cáo trời đất cùng các tôn vị thờ ở đền miếu. Ðúng ngày định, hai Quốc Công Nguyễn Hoàng và Hoàng Ðình Ái đem ấn vàng sắc thư đón Hoàng Tử Duy Tân lên nối ngôi tức vua Lê Kính Tôn.

Tân Vương ban chiếu chỉ treo ở Quảng Văn Ðình, bố cáo đại xá thiên hạ:“… Nước nhà ta trời giúp người theo, thần truyền thánh nối, khuôn phép kỷ cương. Trẫm đang lúc cư tang xiết bao đau đớn, lại e tuổi trẻ phải đảm đương nghiệp cả, bao nỗi âu lo. Thực chỉ nương nhờ Chủ Súy Thượng Phụ Bình An Vương đức sáng khuông phù, cùng thân huân đại thần một lòng vì nước…”

Việc phế Thái Tử Duy Thì lập Duy Tân lên ngôi, triều thần biết do chúa quyết định nên yên lặng. Dân kinh thành xì xầm to nhỏ nhưng mọi việc rồi cũng yên. Chỉ mấy ngày sau, chúa lại gả gái út Ngọc Trang cho vua. Vua Kính Tôn thành con rể chúa Trịnh. Ðêm ấy, kinh thành có sao sa dài như tấm lụa trắng kéo dài cả khắc mới tan. Có kẻ bàn trời để tang nhà Lê vì họ Trịnh nay mới thật là chủ đất nước.

Những việc làm táo bạo của Trịnh Tùng làm Nguyễn Hoàng lo âu. Nguyễn Hoàng đoán chắc trước sau gì Trịnh Tùng sẽ cướp ngôi nhà Lê, đất bắc biến loạn, nhà Mạc có cơ may đoạt lại quyền bính.

Tháng tư mùa hạ năm Canh Tý 1600, nước sông Hồng dâng cao gây lụt lội mất mùa, nhân dân đói khổ. Hàng ngàn người bỏ xứ đi ăn mày lang thang đầu đường xó chợ. Tháng năm, trời lại nóng như thiêu. Nguyễn Hoàng ngày đêm ray rứt, thư của Nguyễn Phúc Nguyên, con trai thứ sáu của Nguyễn Hoàng hiện đang trấn thủ Thuận Hóa. Phúc Nguyên khoe với cha nay nắm gần ba vạn quân thủy bộ binh được rèn luyện kỹ càng, lại khuyên phụ thân bằng mọi cách kíp trở về Thuận Hóa vì cha con xa cách đã lâu. Nhận thư con, Nguyễn Hoàng càng bị thôi thúc phải quyết định gấp rút. Nguyễn Hoàng nghĩ thật dễ nếu muốn thoát thân một mình. Tám năm trước khi ra bắc, hàng ngàn dũng sĩ người đồng hương huyện Tống Sơn tình nguyện theo ông. Những con người thủy chung ấy từng cùng ông chia ngọt xẻ bùi, từng lấy máu, cả mạng sống để bảo vệ chủ, trên ba trăm người đã chết để ông còn sống đến cái tuổi bảy mươi lăm hôm nay. Nguyễn Hoàng không thể bỏ quân trốn đi một mình, chỉ có kẻ hèn nhát táng tận lương tâm mới làm như thế. Hoàng sẵn sàng hy sinh để mấy con trai và cháu nội ở lại, nhưng dứt khoát không bỏ quân.

Trong lúc tại triều đình đang có sự chia rẽ ngầm giữa kẻ phù vua, kẻ theo chúa. Tin các quận công Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê làm phản theo vua Mạc Kính Cung gây xôn xao. Quân phản nghịch chiếm hầu hết Sơn Nam, thủy binh do Bùi Văn Khuê chỉ huy trấn đóng cửa Ðại Yên. Quốc Công Hoàng Ðình Ái thua trận rút quân về trấn giữ vùng núi Tam Ðiệp. Chúa Trịnh lo lắng họp triều thần tìm mưu chống giặc. Nguyễn Hoàng nghĩ ra diệu kế, cho đây là cơ hội tốt nhất để thoát về Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng khải chúa:

-Bọn Phan Ngạn và Văn Khuê đều là danh tướng, lại nắm trong tay hàng vạn quân. Nay chúng tạo phản, mối nguy phải diệt tự trứng nước. Tôi vốn quen cả hai, lại rõ tính tình cùng chiến thuật hành quân của chúng. Sách có chữ tri bỉ tri kỷ bách chiến bách thắng. Biết mình biết người trăm trận trăm thắng. Tôi tuy tuổi già nhưng đã hưởng ân vua lộc nước tất phải đáp đền. Xin nhà chúa cấp cho trăm chiến thuyền, tôi sẽ có kế đẩy lui quân nghịch.

Thị Lang Lê Bật Tứ khải:

-Nguyễn Quốc Công là tay danh tướng. Ngài đã nói vậy tất có kế hay, xin chúa thượng chuẩn y cho Quốc Công có dịp lập thêm đại công, giữ yên xã tắc.

Chúa thuận ý, hết lời phủ dụ Nguyễn Hoàng. Sau vài ngày chuẩn bị, Nguyễn Hoàng cùng đám thủ hạ xuống thuyền thẳng vào cửa Ðại Yên. Tránh bị ngờ vực, Nguyễn Hoàng để tất cả con cháu ở lại Thăng Long. Khi chiến thuyền đến gần doanh trại Văn Khuê, Nguyễn Hoàng dừng quân, phái viên tùy tướng đến gặp Văn Khuê trao thư mật. Trong thư, Nguyễn Hoàng hẹn ngày mai giao chiến, Nguyễn Hoàng sẽ giả thua chạy về Thuận Hóa chỉnh đốn binh mã kéo ra bắc cùng phối hợp với Khuê và Ngạn diệt Trịnh Tùng.

Bùi Văn Khuê đọc thư cả mừng nói với Phan Ngạn:“Có Nguyễn Hoàng giúp sức chắc chắn đại sự sẽ thành”. Hôm sau, mọi việc diễn tiến đúng kế hoạch. Nguyễn Hoàng kéo trăm chiến thuyền căng buồm về nam.

Tin Nguyễn Hoàng trốn vào nam làm triều đình rúng động. Chúa Trịnh cả giận ý muốn hạ ngục đám con cháu Nguyễn Hoàng còn ở Thăng Long. Ngự Sử Lê Nghĩa Trạch can:

-Khải chúa, tội của Nguyễn Hoàng đã rõ. Y thua trận tự ý bỏ đi xét ra chỉ mang án trảm. Chúa thượng với y vốn tình cậu cháu, nay hành hình đến con cháu e dư luận càng thêm hoang mang.

Lê Bật Tứ khải:

-Thần tự xét mang tội vì xét đoán lầm người, đã mấy đêm trằn trọc thao thức nghĩ suy. Thần nghĩ chắc Nguyễn Hoàng đã cấu kết với lũ Ngạn Khuê mưu đồ mở đường để y trốn về Thuận Hóa xưng hùng xưng bá, thoát vòng kiềm tỏa triều đình. Nếu gặp cơ hội tốt, chắc chắn y sẽ phản nghịch, ung nhọt mới phát phải trừ khử ngay, để lâu gây họa.

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan nãy giờ yên lặng. Chúa hỏi:

-Ý quan trạng ra sao?

-Khải chúa, chuyện Nguyễn Hoàng bỏ đi đã rõ. Nhưng điều ta phải xét y vẫn để con cháu ở lại như những con tin, ấy là tỏ ra không có ý phản nghịch. Nhưng phép nước phân minh, chúa thượng lấy tình gia tộc biên thư quở trách răn đe xem y sử xự thế nào rồi ta sẽ liệu. Ðiều ta cần bàn là phải đối phó ra sao với tình thế hiện tại rối ren?

Chúa trầm ngâm giây lâu:

-Quan trạng nói hợp ý ta. Nay quân nghịch nổi lên khắp nơi, chúng tuy đông nhưng ô hợp, bọn chỉ huy thường chia rẽ chẳng ai nhường ai, ta không mấy quan ngại. Ý ta sẽ giữ chặt các trấn, tạm đem hoàng thượng về Tây Ðô bỏ ngỏ Thăng Long dụ chúng tập trung vào rọ, ta sẽ đánh mẻ lưới lớn tiêu diệt.

Thái Phó Trịnh Ðồ em ruột chúa nhận lệnh khai triển kế hoạch. Chỉ nội mười ngày, triều đình nhà Lê đã dời về Tây Ðô.

Nguyễn Hoàng về đến Ái Tử xiết đỗi vui mừng gặp lại năm con trai và đàn cháu nội, nhất là thấy cảnh dinh cơ bề thế, quân lương dồi dào… Trong bữa tiệc đoàn viên, Phúc Nguyên thưa với cha:

-Việc thầy bỏ đi gây xôn xao triều chính. Con biết Trịnh Tùng giận lắm, nhưng tình hình đất bắc rối loạn nên hắn chưa dám tỏ thái độ rõ rệt, còn chờ xem mình xử sự ra sao?

-Thầy cũng nghĩ như các con. Tùng vì thể diện phủ chúa sẽ có lời trách cứ, ta cứ hòa dịu giữ mối giao hảo tốt giữa hai nhà rồi sau sẽ liệu.

Phúc Nguyên nghĩ cha nói phải nhưng vẫn cẩn thận cho quân bố phòng các nơi hiểm yếu.

Cuối tháng sáu, trời cuối hạ vẫn có những ngày nắng gắt, mùa thu như còn xa chưa muốn trở lại đúng chu kỳ đất trời. Một buổi chiều, mặt trời đang ngả dần sau ngọn đồi phía tây, Nguyễn Hoàng ở tướng phủ bỗng nghe quân hầu báo có sứ bộ triều đình do Ngự Sử Lê Nghĩa Trạch từ Tây Ðô mới vào đang ở công quán. Nguyễn Hoàng sai Phúc Nguyên chuẩn bị sẵn kiệu đến mời Nghĩa Trạch vào tư dinh. Nguyễn Hoàng nói:“Ngự Sử Nghĩa Trạch là tay thông thái, có tài biện bác, tính tình ngay thẳng, con khá cẩn thận xử đúng lễ nghi”. Phúc Nguyên gặp Trạch vòng tay thi lễ nói:

-Quan Ngự Sử thay mặt triều đình quá bước đến đây quá bất ngờ, chúng tôi tiếp đãi chẳng trọn lễ xin niệm tình miễn chấp.

-Ta đến vì việc nước, nào sá chi lễ nghi, thời buổi chiến chinh mọi sự nên giảm bớt.

-Nguyễn Quốc Công sắp sẵn kiệu mời ngài qúa bước lại tư dinh, tôi vâng mệnh quốc công rước ngài ngự kiệu.

Khi kiệu Nghĩa Trạch vừa vào dinh, Nguyễn Hoàng thân ra đón tiếp. Nghĩa Trạch thi lễ:

-Mừng gặp Quốc Công, ông trọng tuổi vẫn linh hoạt tráng kiện.

Nguyễn Hoàng nói:“Tạ ông tiếng khen”, mời Nghĩa Trạch nhập tiệc khoản đãi. Hai người nâng cốc đối ẩm chẳng mấy tự nhiên, dăm chuyện bâng quơ đầu Ngô mình Sở, như không muốn làm tăng không khí u uẩn nặng nề. Rượu vài tuần, Nguyễn Hoàng mở lời:

-Tôi tiếp ông hôm nay như anh em một nhà, trong tình đồng liêu. Sớm mai sẽ có nghi lễ chính thức nhận thư chúa thượng.

Nghĩa Trạch lặng yên, nâng cốc uống cạn. Nguyễn Hoàng ôn tồn chậm rãi tiếp:

-Tôi phải bỏ đi thật vạn bất đắc dĩ. Một lời hứa với chúa thượng khi xuất quân làm chẳng trọn, thua trận mặt mũi nào trở về. Tôi đành liều về lại Thuận Hóa tìm kế lập công, thà chịu lỗi với chúa còn hơn hồi triều khôi giáp tả tơi, binh mã tan tác.

-Ông nói vậy tôi biết vậy. Tỏ thật cùng ông, khi ông bỏ đi triều đình rúng động. Chúa thượng giận lắm phân bua với triều thần: Sách có chữ quốc gia hưng vong thất phu hữu trách, huống chi các ông là bậc đại thần nghĩa phải vui buồn theo mệnh nước. Nguyễn Quốc Công (chỉ Nguyễn Hoàng) với nước là bề tôi huân cựu, với ta là tình gia tộc chí thân. Xưa nhà Lê bị họ Mạc tiếm nghịch ngôi báu, tiên tổ Chiêu Huân Tĩnh Công(Nguyễn Kim) khởi xướng đại nghĩa. Tiên tổ giữa đàng đứt gánh, phụ thân ta Minh Khang Thái Vương(Trịnh Kiểm) xả thân gánh vác trọng trách quốc gia. Thái Vương nghĩ tình ruột thịt trao Quốc Công trấn giữ hai xứ Thuận Quảng. Bao nhiêu năm Quốc Công làm trọn chức trách ta vẫn ghi công. Khi ta lấy lại Thăng Long, thiên hạ đã yên, Quốc Công ung dung trở về, triều đình ưu đãi trao chức Hữu Tướng Ðoan Quốc Công. Ý ta muốn Hai vị Quốc Công(Nguyễn Hoàng và Hoàng Ðình Ái) như hai cột trụ xã tắc, cùng ta kề vai chia sẻ gánh vác gầy dựng sự nghiệp trung hưng…

Nghĩa Trạch bỗng ngừng. Nguyễn Hoàng lặng yên. Trạch nói tiếp nhưng lảng sang chuyện khác:

-Việc tôi vào đây là theo ý chúa thượng, cũng là cho ông biết chút tình hình. Nhà vua và chúa thượng hiện ở Tây Ðô, ý chúa thượng muốn bỏ ngỏ Thăng Long dụ địch tập trung vào rọ rồi diệt sau, chừng tháng sau quân ta bắc tiến. Riêng bọn Phan Ngạn và Buì Văn Khuê, sau khi ông bỏ đi, ta chưa đánh chúng đã tan, cả hai bỏ xác trên Hoàng Giang làm mồi cho cá.

Nguyễn Hoàng điềm tĩnh:

-Cổ nhân từng dạy, đánh trăm trận thắng chưa hẳn là hay. Không đánh mà thắng, khiến binh người phải khuất phục mới là điều hay nhất. Chúa thượng quả đệ nhất danh tướng xưa nay.

-Không hẳn như thế. Trong lúc tửu hậu xin kể ông nghe chuyện hiếm có trên đời. Ông hẳn nhớ Nguyễn Thị vợ Văn Khuê?

Nguyễn Hoàng vui đùa:

-Cái gì tôi còn quên, nhưng mỹ nhân thì chớ hề. Nàng từng làm Mạc Hậu Hợp điên đảo say mê dẫn cơ nghiệp họ Mạc đến xụp đổ.

-Ông nhớ không nhầm. Tôi kể tiếp: Một hôm Khuê mời Ngạn sang thuyền bàn việc quân, sau đó bày tiệc khoản đãi. Hôm ấy Nguyễn Thị có mặt trên thuyền. Thấy Nguyễn Thị nhan sắc kiều diễm, trong lúc quá chén Ngạn buông lời ong bướm lả lơi. Khuê giận lời qua tiếng lại. Ngạn trở về trại, nghĩ Khuê sẽ bội phản nên ra tay trước, đang đêm bất ngờ kéo quân đánh úp. Khuê không phòng bị rút chạy, cuối cùng tử thương. Nguyễn Thị đêm ấy ở trên bờ cùng hai con nên thoát chết. Mấy ngày sau, Nguyễn Thị chọn được khoảng mười người lính giỏi võ cho mặc quần áo thoa son đánh phấn giả làm tì nữ, riêng nàng trang điểm lộng lẫy cùng các nữ tì chèo đến bên thuyền Phan Ngạn. Thấy thuyền chở toàn đàn bà không có chi đáng sợ. Nguyễn Thị cười vui, nói từ lâu ngưỡng mộ Ngạn ý muốn cùng Ngạn kết tóc se tơ. Ngạn cả mừng cho tất cả sang thuyền mình, bày yến tiệc khoản đãi. Ðêm tàn dần, Ngạn say mèm ngã gục. Nguyễn Thị rút dao cắt đầu Ngạn bỏ vào tráp gỗ, cùng thủ hạ sang thuyền chạy như bay đến xã Chi Phong, bày bàn thờ đem đầu Ngạn tế chồng. Hôm sau, nàng dặn hai con trai về Tây Ðô quy thuận triều đình rồi trầm mình tự tử. Hoàng thượng thương xót liệt nữ truyền lập đền thờ.

Nguyễn Hoàng nghe chuyện chợt buồn, bồi hồi nghĩ đến Ngô Thị Ngọc Lâm, khẽ buông tiếng thở dài. Ðêm đã khuya Nghĩa Trạch cáo từ.

Sáng hôm sau, Nguyễn Hoàng chuẩn bị nghi vệ cùng chư tướng đến đón sứ giả vào công đường. Hoàng trân trọng nhận thư chúa Trịnh. Thư có đoạn viết:“… Khi bọn nghịch thần Ngạn Khuê nổi loạn, cháu tin giao cậu nắm binh quyền dẹp loạn. Nào ngờ cậu tự ý bỏ vào Thuận Hóa khiến quân dân dao động, không hiểu là do ý cậu hay nhầm quỷ kế nghịch thần. Nay bọn phản nghịch tự giết lẫn nhau. Mới hay đạo trời tỏ sáng, tai họa không kịp trở gót. Cậu là bậc cao minh há quên công nghiệp tiên tổ, sớm tỉnh ngộ, hối lỗi trước, tuân pháp điển triều đình nên sai người đến hành tại lạy trình, đốc nộp thuế má cung việc chi dụng quốc gia. Cậu làm vậy huân danh sự nghiệp bao đời vững bền, bằng không lẽ thuận nghịch tất rõ. Cậu làu thông kinh sử xin cạn nghĩ khỏi hận về sau…”.

Nguyễn Hoàng đọc xong thư, hứa làm đúng ý triều đình, lại viết thư riêng cho chúa Trịnh tỏ bày mọi lẽ, ngỏ ý muốn gả gái út Ngọc Tú cho Quận Công Trịnh Tráng, con trưởng chúa Trịnh để tỏ tình thân tộc gắn bó. Việc xong, Nghĩa Trạch và sứ bộ trở về Tây Ðô.

Sứ bộ ra về, Nguyễn Hoàng yên tâm mặt bắc gọi Phúc Nguyên nói:

-Thầy vào Thuận Hóa là theo lời Trạng Trình chỉ dậy. Một dải Hoành Sơn dung thân muôn đời. Bao năm chinh chiến mặt bắc nay trở lại như cánh chim tha phương tìm về tổ ấm. Nay tuổi trời đã nặng, như chiến mã về già chán cảnh sa trường gươm kiếm, thầy muốn thong thả nhàn du khắp vùng Thuận Hóa xem sự tình dân chúng, cùng là phong thủy hình thái núi non sông biển, nghĩ kế lâu dài gây dựng cho con cháu mai sau.

Mấy ngày sau, Nguyễn Hoàng cùng vài mươi gia tướng lên đường đi vào phương nam. Ðoàn người đến núi Cư Chính, những dãy núi chạy vòng chầu quanh ngọn cao nhất, những giòng thác suối chảy về hướng mặt trời. Nguyễn Hoàng linh cảm đây là nơi khởi thủy dựng nên nghiệp lớn. Vào sâu nữa là Thụ Sơn, ngọn núi được bao bọc bốn phía bởi những ngọn núi thấp trùng điệp, hai phía tả hữu nước chảy vòng, trông quả phúc địa chung đúc khí thiêng sông núi. Có ngọn núi đỉnh bằng phẳng trông như tấm bình phong gọi là núi Bằng, có ngọn dáng tròn tựa tựa miệng chén gọi là núi Ngọc Trản… Vó ngựa một chiều dừng chân trên Hải Vân Sơn hùng vĩ, những ngọn núi cao vút tầng mây, dưới là vùng biển xanh lăn tăn sóng gợn. Ðoàn người phải vượt qua bao đường vòng vèo um tùm lau lách vô cùng hiểm trở, phía bắc có hang Giơi, hàng vạn loài phi thử treo mình kín vách núi, Nguyễn Hoàng tận mắt nhìn những ngọn sóng thần cao vài chục trượng ầm ầm nối nhau dội vào chân núi. Câu ca dân gian truyền tụng”Ði bộ thì khiếp Hải Vân. Ði thủy thì sợ sóng thần hang Giơi” có ngay từ khi người Việt vượt Hải Vân Sơn tiến vào vùng đồng bằng xứ Quảng.

Giữa mùa thu, nghe tin chúa Trịnh chỉ huy bắc tiến đã tái chiếm Thăng Long, vua Lê và triều thần trở lại đất bắc. Nguyễn Hoàng trở về Ái Tử ra lệnh Nguyễn Phúc Nguyên cử người ra kinh đô chúc mừng chiến thắng, nộp thuế hàng năm, lại viết thư riêng cho chúa, nhắc việc hôn nhân giữa Thanh Quận Công Trịnh Tráng và Nguyễn Thị Ngọc Tú.

Nghỉ ngơi vài ngày, Nguyễn Hoàng và gia tướng theo đường thủy, từ thượng nguồn Tả Trạch sông Lô Dung, giòng nước uốn lượn quanh co giữa núi rừng sâu thẳm mang mùi hương nhẹ như tơ của loại sâm rừng, xương bồ mọc ở đầu nguồn. Qua trên năm mươi ngọn thác hùng vĩ, giòng sông xanh thẳm thênh thang đi về vùng cây cỏ xanh tươi, đêm ngày như tấm thảm êm đềm nhận ánh sáng từ trời, từ trăng sao lung linh lấp lánh, qua những vùng đồi núi, núi sông gần gũi cận kề soi bóng, quấn quít trong màn sương khói mờ ảo. Sông núi đất trời giao hòa tuyệt vời thơ mộng… Thuyền xuôi đến xã Hà Khê, Nguyễn Hoàng ngồi bên mạn thuyền bỗng chú ý đến ngọn đồi nhỏ dáng như rồng cuộn. Vị lão tướng bỏ thuyền lên bờ theo con đường mòn lên đồi. Một vùng phong cảnh tốt tươi cây xanh bóng mát, phía sau đồi có hồ lớn nước đỏ đục ngầu như máu. Nguyễn Hoàng lấy làm lạ, gặp cụ già hỏi han. Cụ bảo đây là đất của thần linh, người xưa kể lại: Hằng đêm thấy có bà cụ quần xanh áo đỏ không biết từ đâu đến ngồi bên hồ. Có kẻ gặp hỏi. Bà cụ bảo đây là long mạch. Cụ ngồi chờ vị chân chúa phương nam đến, dựng cảnh chùa thu góp khí thiêng dựng nên nghiệp đế. Nói xong biến mất.

Ðêm ấy Nguyễn Hoàng trằn trọc thao thức nghĩ suy, nghiệm ra cơ duyên thần nhân xui mình lạc bước đến ngọn đồi này. Sáng ra, Nguyễn Hoàng thức sớm lên lại ngọn đồi, đến bên hồ nước. Lạ thay qua đêm, nước hồ mất mầu đỏ trở nên xanh trong mát mẻ lạ thường. Ðoan quyết điềm trời đã ứng cho mình ngôi vị tiên chúa phương nam, Nguyễn Hoàng quỳ lạy tạ trời đất, lên đường trở lại Ái Tử. Ðêm ấy cha con tâm sự, Nguyễn Hoàng kể cho con nghe mọi chuyện:

-Ngày thầy còn trên đất bắc, có lần trở lại quê nhà được người làng kể cho nghe chuyện thầy địa lý nói ngôi mộ tiên tổ họ Nguyễn táng đúng hàm rồng, cứ năm trăm năm mới mở một lần. Nay thêm chuyện trên đồi Hà Khê, thầy nghĩ điềm trời đã ứng. Họ Trịnh làm chúa phương bắc thì ta làm chủ phương nam. Ðất Thuận Quảng phía bắc có Hoành Sơn hiểm trở, phía nam có Hải Vân Sơn xứng danh “Ðệ nhất hùng quan” chính là nơi trời dành cho anh hùng dụng võ. Mai sau con nối nghiệp phải trau dồi đạo đức, yêu thương nhân dân, luyện tập quân sĩ để dựng nghiệp muôn đời. Ngay ngày mai con kíp chọn vài trăm quân đến Hà Khê dựng ngay cảnh chùa. Thầy đặt tên chùa là Thiên Mụ Tự.

Ðầu xuân năm Tân Sửu 1601, chúa Tiên (từ đây người phương nam gọi Nguyễn Hoàng là chúa Tiên) nhận thư chúa Trịnh định ngày cử hành hôn lễ Trịnh Tráng-Ngọc Tú tại Thăng Long. Một buổi nắng rực rỡ, những nụ mai vàng xòe cánh hớn hở chào xuân, Ngọc Tú gạt lệ giã cha lên kiệu hoa về làm dâu họ Trịnh. Chúa Tiên đứng lặng nhìn con mà khóc trong lòng. Người già nước mắt chảy vào trong. Thôi đành giã biệt gái yêu, một lần đi là hết, ngày chúa lâm chung Ngọc Tú sẽ chẳng có bên giường nhìn cha lần cuối.

Tiết Thanh minh hoàn thành việc xây chùa Thiên Mụ, chúa Tiên lại có dịp neo thuyền trên bến Hà Khê, bâng khuâng soi bóng trong giòng nước lững lờ. Buổi sáng sông xanh, sông ôm trọn mầu xanh của trời, của cây lá, của núi rừng. Buổi xế nắng vàng trải như tơ trời óng ánh lung linh sóng gợn, buổi hoàng hôn tím mầu quan san, cái mầu bãng lãng xa xăm mang nỗi nhớ thiết tha chỉ tả được qua thi văn của ngòi bút thiên tài… Có tiếng sơn ca hót lẻ loi, đâu đây vẳng câu hò xa vắng buồn lai láng. Dân Việt bao năm lao nhọc khổ ải chiến chinh đến bao giờ tìm được mùa xuân mơ ước. Mùa xuân bình yên, người lính bỏ giáo gươm ngồi thổi sáo trên bến sông.

Ðêm xuống dần, trăng sao chừng ngủ yên dưới đáy sông. Chúa Tiên vẫn ngồi lặng yên uống rượu một mình. Chúa cảm được làn sương đêm nhẹ thấm trên vai áo, hương gió thơm mùi ngọc lan huyền hoặc liêu trai, ánh sao khuya hiu hắt… Năm mươi năm chinh chiến lao khổ một đời nay phải sống để nhìn cảnh gia đình ly tán, tử biệt sinh ly, những đứa con kẻ bắc người nam, danh vọng sự nghiệp phù vân. Một thoáng trăm năm còn lại ngần ấy… Có tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân vang. Tiếng chuông hòa trong sương gió rồi lịm dần chơi vơi chìm vào cõi phiêu bồng…

SÃI VƯƠNG

Sắp đúng ngọ, những tia nắng chói mặc sức tỏa nóng. Trời tịnh, hàng thông ven sông bất động trầm mặc chịu đựng dãi dầu. Dọc bãi cát ven sông Ái Tử, một đoàn khoảng hai mươi người lầm lũi bước chậm uể oải mỏi mệt. Ði đầu là vài thanh niên tuổi trên dưới ba mươi, kẻ quần người khố, mấy phụ nữ áo váy nâu bạc nhăn nhúm, kẻ dắt người bồng vài đứa trẻ gầy còm, đứa quần ngắn cũn cỡn, đứa cởi truồng nòng nõng. Những đứa trẻ gầy yếu, tóc lởm chởm bụng ỏng đít teo. Sau cùng là mấy cụ gia khẳng khiu lưng còng tóc bạc…

Có tiếng trẻ khóc thét, tiếng người mẹ dỗ nhưng đứa trẻ cứ ưỡn lên gào. Bà cụ chép miệng:“Thằng bé khát sữa”. Một cụ ông từ phía sau bước nhanh tới nói với chàng trai đi đầu:“Trời nóng người người mệt lả, ta nên dừng nghỉ lo cơm nước. Tôi còn dăm bát gạo với tí sắn khô đủ nấu nồi cháo loãng. Ðàng nào ta cũng đã tới Ái Tử, chẳng nên quá vội vã.” Chàng trai ngừng quay lại, thoáng nhìn những bàn chân khô nứt nẻ dọc ngang vết gai cào xước sau bao ngày băng rừng vượt suối, những bàn chân sưng tấy muốn rỉ máu, chàng chỉ cây đa phía trước:“Các cụ cố vài bước đến đấy hẵng ngơi”. Ðoàn người đến gốc đa dừng lại. Kẻ xuống sông rửa ráy, tắm giặt, kẻ lo bếp núc, quây quần ngồi húp cháo quanh gốc cây chuyện vãn rôm rả, kẻ giọng Thanh Nghệ, người giọng miền ngoài Sơn Nam Kinh Bắc. Họ mang chung nỗi thống khổ kiếp lầm than phải tha phương cầu thực, tìm về phương nam như chốn cứu độ thoát cảnh đời u tối. Húp xong bát cháo nóng, cụ già vui chuyện:“Tôi quê xứ Nghệ, huyện Nghi Xuân. Trời xui gặp cảnh khổ, năm kia lụt thủy thần cướp mất mụ vợ, chết mấy ngày sau mới tìm thấy xác tấp vào bụi tre cuối thôn. Năm sau mất luôn hai thằng con trai vì dịch bệnh. Ngoài năm mươi tuổi chịu cảnh táng vợ khóc con, xiết bao đau xót. Nghe phương nam đất đai mầu mỡ khí hậu hiền hòa, lại có chân chúa nhân ái hằng tâm cứu giúp người lầm than nên đánh liều dẫn thằng con út bỏ xứ ra đi, cũng là cách vùi sâu quên lãng những đắng cay khổ ải”. Cụ già ngừng nhìn con trai đang say ngủ dưới gốc cây. Cụ tiếp:“Cái hòm gỗ nhỏ kia đựng hài cốt cha tôi, cùng là vợ con. Mình đi chẳng lẽ bỏ cha ông vợ con côi cút, cố mang nắm tro tàn vào nam may ra táng đúng cuộc đất phát, con cháu mai sau đỡ vất vả khổ nhọc từng bữa chạy ăn”. Một người đàn ông lên tiếng:“Hoàn cảnh tôi lại khác. Sinh ra ở chốn thị thành, gia đình khá giả, sau chỉ vì cờ bạc, mê say từ mấy con thất văn cửu vạn đến đồng tiền sấp ngửa mà táng gia bại sản, nhà cửa cầm cố chẳng có tiền chuộc. Xấu hổ với làng nước đành phải dắt díu vợ con ra đi…” Nghe người đàn ông nói, người vợ đang ôm con nghĩ tủi phận quay sang phía khác sụt sùi. Ông cụ quay sang hỏi chàng trai ngồi cạnh:“Trường hợp của chú thì sao?” Chàng trai ra vẻ lưỡng lự rồi chậm rãi kể:“Chẳng dấu gì quý cụ, tôi vốn người kẻ chợ (Thăng Long), tổ phụ mấy đời làm tôi nhà Mạc. Khi vua Lê chúa Trịnh chiếm Thăng Long, nghĩ không thể cúi đầu chịu nhục trước cơn quốc biến, tôi chạy lên mạn Lạng Sơn phù vua Càn Thống (Mạc Kính Cung). Trải nhiều thất bại, nhà vua chạy sang đất Long Châu cầu cứu người Tàu giúp sức hòng đạt lại ngôi báu. Tôi thối chí ngã lòng, nghĩ người Tàu chẳng bao giờ thực tâm giúp đỡ dân ta. Bao năm xa nhà, thương cảnh vợ chờ con đợi nên bỏ ngũ, dẫn vợ con trốn đi phương nam tìm đất sống”. Cụ già tướng rắn rỏi vẫn lặng yên ngồi sau chàng trai bỗng lên tiếng:“Thôi cũng là cơ duyên, mỗi người một hoàn cảnh nhưng bọn ta cùng nhìn một hướng, cùng ngóng về nam, như bầy chim bỏ xứ mong tìm đất lành. Cơ trời xui gặp dưới chân Hoành Sơn, dắt dìu nhau vượt đèo lội suối băng rừng đến vùng đất hứa. Tôi nghĩ giá không có các chú trẻ trung tháo vác chắc lũ già bọn tôi đã bỏ xác dọc đường… Nay tuổi già sức yếu, gạo nước chẳng còn, chắc nội buổi xế ta phải đến cửa quan cậy người giúp đỡ…” Câu chuyện dở dang khi mọi người nghe có tiếng ngựa hí, năm võ tướng trên lưng chiến mã phi nước kiệu ra phía bến sông. Ðoàn người vụt đứng cả dậy vòng tay trước ngực, lũ trẻ con hết nhốn nháo lặng yên nép bên mẹ sợ sệt. Trông thấy đám người lạ, một võ tướng còn trẻ dừng ngựa bước xuống hỏi. Ông cụ người Nghệ lễ phép kể lể nguồn cơn. Võ tướng nghe xong đi tới gặp vị võ quan mặt đỏ, râu ba chòm uy nghi đường bệ trên lưng con ngựa trắng cao lớn. Lát sau, viên võ quan trở lại nói:“Các người theo ta về quán trạm tạm nghỉ qua đêm. Chớ lo lắng vì quán có kẻ lo sẵn giường chiếu chăn màn, đồ ăn thức uống. Việc định cư quan trên sẽ liệu sau, bước đầu có khó khăn nhưng quyết không để ai đói khát”. Ðoàn người vui mừng rảo bước như trút hết lo âu mệt nhọc. Viên võ quan nói với ông cụ đi cạnh:“Các người tốt phúc gặp ngay chúa thượng. Ngài chính là người râu ba chòm cưỡi ngựa trắng. Ngài sùng đạo Phật, nhân từ khoan hậu. Dân chúng tôi thường gọi ngài là Sãi Vương hay Chúa Sãi, có kẻ gọi Phật Chủ”.

*****

Ðịnh mệnh như định sẵn ngôi vị chúa tể phương nam cho người con trai thứ sáu của Tiên Chúa Nguyễn Hoàng. Tiên Chúa đông con trai, cả thảy mười người. Năm trai đầu được đặt tên chỉ hai chữ, từ Nguyễn Hà, Hán, Thành, Diễn, Hải. Một đêm, Nguyễn Thị Phu Nhân nằm mơ thấy chữ Phúc từ trời rơi trên bụng, từ đấy thụ thai sinh người trai thứ sáu. Ðứa bé sinh ra khôi ngô tuấn tú, trán cao miệng rộng, tai dài như tai phật, tiếng khóc dội mấy gian nhà. Tiên Chúa mừng sinh quý tử, định đặt tên con là Phúc, sau nghĩ nếu vậy chỉ có một người được hưởng nên dùng chữ Phúc làm tên đệm chung cho con cháu mai sau. Lại nghĩ căn nguyên chữ Phúc từ đây mà có nên đặt tên con là Nguyễn Phúc Nguyên. Phúc Nguyên khôn lớn tỏ ra thông minh nhân hậu, tính cẩn trọng nhìn xa trông rộng. Năm Quý Tỵ 1593, Tiên Chúa cùng năm con trai đầu ra Thăng Long bái yết vua Lê. Phúc Nguyên ở lại cai quản Thuận Hóa. Sau gần tám năm chinh chiến ở đất bắc, Tiên Chúa trốn về lại Ái Tử. Mười ba năm sau, năm Quý Sửu 1613 Tiên Chúa mãn phần, các con trai lớn đều đã mất, chỉ còn người thứ năm là Quận Công Nguyễn Hải đang ở tại quê nhà, huyện Tống Sơn Thanh Hóa. Nguyễn Phúc Nguyên đương nhiên thay cha làm chúa phương nam, hợp với ước vọng Tiên Chúa vì ngài thực sự tin yêu nhất người con thứ sáu của mình. Năm ấy Phúc Nguyên đã năm mươi mốt tuổi, thừa chín chắn và kinh nghiệm từng trải trên hai mươi năm cầm quân. Dân phương nam mến người đức độ cứu họ thoát cảnh đời cơ cực, lại thấy tân chúa vốn sùng đạo Phật, từng xây dựng bao cảnh chùa danh tiếng nên xưng tụng ngài là Sãi Vương hay Chúa Sãi, coi họ Nguyễn là chúa tể phương nam.

Tại Thăng Long, nhận tin Nguyễn Hoàng từ trần, vua Lê chúa Trịnh gửi sứ giả vào viếng, truy tặng Nguyễn Hoàng làm Cẩn Nghi Công. Nhà vua sắc phong Nguyễn Phúc Nguyên làm Thụy Quận Công thay cha trấn thủ hai xứ Thuận Quảng. Chúa Sãi niềm nở tiếp sứ thần, tỏ lòng tuân phục mọi mệnh lệnh, hứa nộầp đủ các sắc thuế triều đình quy định từ trước…

Sau khi sứ giả về bắc, Chúa Sãi lo ngại hỏi ý Tham Tướng Nguyễn Triều Văn. Văn là người đồng hương với chúa, kiến thức uyên bác lại một lòng tôn phù được chúa quý mến. Chúa nói:

-Ta biết sứ giả vào đây mục đích chính là thăm dọ tình hình, ta niềm nở nhưng y vẫn tỏ vẻ ngờ. Ngươi đôi phen tiếp xúc thấy ý y thế nào?

-Việc họ Trịnh ngờ vực ta theo ý thần là hiển nhiên, không phải bây giờ mà từ thời Tiên Chúa. Nhất là mới đây, họ Trịnh không biết do đâu phát giác ra tung tích phu nhân có liên hệ huyết thống với nhà Mạc. Y còn biết ta trọng đãi Mạc đại nhân (Mạc Cảnh Huống, em Khiêm Vương Mạc Kính Ðiển) như bề tôi rường cột. Nói chuyện với thần, sứ giả cố tình khoe sức mạnh binh lực họ Trịnh hòng đe dọa ta. Y nói trước sau gì Mạc Kính Cung và tàn quân sẽ bị tiêu diệt.

Chúa nghe Triều Văn nói bỗng “à” lên một tiếng. Thì ra thế, nguyên người vợ chúa yêu nhất là Mạc Thị Giai. Cơ duyên xui bà gặp gỡ công tử Nguyễn Phúc Nguyên, nên nghĩa vợ chồng. Phu nhân xinh đẹp đoan trang thuần hậu, sống lễ nghi khuôn phép, lại sinh cho chúa con trai đầu là Nguyễn Phúc Kỳ nên được chúa yêu vì, cho đổi thành họ Nguyễn. Tàn quân Mạc ở vùng Cao Bằng Lạng Sơn hiện do Mạc Kính Cung chỉ huy. Chúa nói:

-Thân phụ ta biết sức còn yếu, vẫn muốn duy trì giao hảo giữa hai họ Trịnh Nguyễn nên gả em gái ta Ngọc Tú cho Trịnh Tráng. Nay ta mới lên ngôi cao phải trọng tôn ý phụ thân, nhưng giả họ Trịnh cố tình gây hấn, theo ngươi nên dụng cách chi đối phó?

-Ðất bắc vốn nhiều người tài nhìn xa trông rộng hết lòng phú tá họ Trịnh. Có kẻ đã từng khuyên Trịnh Tùng nên ngừa trước họa phiên trấn, tìm cách thu bớt quyền hành hai xứ Thuận Quảng. Tùng sở dĩ chưa dám làm vì nội tình chưa yên, mặt bắc còn bị đe dọa. Nếu họ Trịnh thắng thế cố tình dòm ngó phương nam, cho dù họ đông quân nhưng di chuyển xa, nhiều ngăn trở. Ta yếu quân nhưng dựa vào thế hiểm phòng chống, một chọi được mười nên không có chi đáng ngại, điều cần quan quân trên dưới một lòng quyết chiến. Chúa thượng nên phòng xa củng cố binh lực. Luôn dọ thám địch tình để tùy cơ ứng phó, ấy là thượng sách.

Chúa nghe đẹp dạ. Năm sau, chúa tìm cách liên hệ với người Bồ Ðào Nha học hỏi kỹ thuật phương tây, mở phường đúc súng đạn. Mặt khác chúa trọng đãi tướng sĩ, thường xuyên diễn tập bộ binh lẫn tượng binh, xây thành đắp lũy. Chúa thường nói với quần thần:“Thuận Quảng là đất trời dành cho ta dựng đại nghiệp. Trạng Trình khuyên tổ phụ ta vượt Hoành Sơn vào nam vì ngài thấy rõ thiên cơ”. Với anh em con cháu trong nhà cũng như quần thần, chúa một mực ngay thẳng công bình tùy tài năng công trạng phong chức tước. Chúa phong trai trưởng Nguyễn Phúc Kỳ làm Trấn Thủ Quảng Nam tước Quận Công, ý muốn chọn Phúc Kỳ nối nghiệp sau này. Người em thứ mười của chúa Quận Công Nguyễn Phúc Khê tài năng đức độ được chúa quý mến giao nhiều trọng trách phong chức Tổng Trấn. Trong khi các em trai khác Nguyễn Phúc Hiệp và Nguyễn Phúc Trạch lĩnh chức Chưởng Cơ, cai quản hơn trăm quân trấn phía nam ChiÔnh Dinh ( tức dinh Ái Tử). Mầm bất mãn ngấm ngầm nẩy sinh trong anh em, Hiệp và Trạch không bằng lòng chức phận, nghĩ người anh xử sự thiếu công bình nhưng cả hai yên lặng chờ thời cơ. Cho đến khi Nguyễn Vệ, cháu đích tôn của Tiên Chúa (Vệ là con trai trưởng của Nguyễn Hà) được Chúa Sãi phong chức Chưởng Dinh, Nguyễn Tuyên em Vệ trở thành võ tướng chỉ huy cấm binh giữ Chính Dinh, Phúc Hiệp không dằn được bực tức. Hiệp bàn với Trạch:

-Khi thân phụ sắp lìa trần căn dặn anh em phải gắn bó yêu thương nhau. Thân phụ mất mồ chưa xanh cỏ, ông ấy (chỉ Chúa Sãi) đã vội quên di huấn. Chức trấn thủ Quảng Nam lẽ ra của tôi, ông ấy dành cho con. Phúc Khê chỉ là em út lại được trọng đãi. Ngay đến mấy thằng cháu Nguyễn Vệ Nguyễn Tuyên cũng nắm chức quyền hơn chú nó, tôi hỏi chú vậy trong gia tộc còn chi trật tự tôn ti. Ông ấy cố tình phá vỡ tôn ti, mưu bá đồ vương xưng hùng một cõi, phản lại nguyện vọng tổ phụ một lòng phù Lê. Giòng họ nhà ta mang tiếng phản nghịch hổ danh với hậu thế. Trăm năm bia đá cũng mòn mà ngàn năm bia miệng chẳng dứt.

Phúc Trạch trầm ngâm giây lâu trả lời:

-Tôi thấy điều ấy từ lâu nhưng chưa tiện nói. Quả ông ấy xử với anh em ta quá bạc bẽo, lặng yên sinh ấm ức, nghĩ mãi chẳng ra cách giải quyết.

-Tôi nghĩ có chi là khó, chỉ ngại chú không quyết tâm hỗ trợ tôi.

Phúc Trạch mừng:

-Vậy ra anh đã có kế sách. Thưa thật anh bảo nhảy vào lửa Trạch này cũng chẳng từ.

-Nào khó chi. Chú nghĩ công lao trung hưng nhà Lê tuy do tổ phụ (chỉ Nguyễn Kim) nhưng ngài mất sớm. Bác Trịnh (chỉ Trịnh Kiểm) thay tổ phụ bao năm chinh chiến nằm gai nếm mật, tiếp đến Trịnh Tùng tiết chế binh quyền, mấy chục năm gian nguy mới chiếm lại Thăng Long. Thân phụ ta trấn giữ Thuận Quảng chỉ ra kinh đô nhận công thưởng. Xét công lao họ Trịnh rất lớn, lại đối xử với giòng họ ta không quá tệ, vẫn đặt ông Nguyên vào chức trấn thủ Thuận Quảng, làm vua một cõi miễn sao nộp đủ sưu thuế hàng năm. Ông Nguyên và bọn cận thần không lấy vậy làm ân, cố tình kèn cựa đòi hưởng bổng lộc chức vị ngang với họ Trịnh là điều trái lẽ. Nếu chú bằng lòng, tôi sẽ liên lạc với Trịnh Tráng, dù gì nó vẫn là em rể, mai sau sẽ nối chức cha quyền nghiêng thiên hạ. Tôi sẽ cho Tráng biết âm mưu của ông Nguyên, hẹn quân Trịnh khởi binh chinh phạt, ta làm nội ứng lo chi việc không thành. Lúc ấy ta chỉ xin họ Trịnh tiếp tục cho tôi và chú chia nhau chức trấn thủ hai xứ Thuận Quảng.

Phúc Trạch cả mừng khen diệu kế, cả hai quyết tâm bí mật xúc tiến kế hoạch. Thanh Quận Công Trịnh Tráng nhận mật tin bàn với phụ thân nên nhân cơ hội chinh phạt phương nam, bẻ gẫy âm mưu tự chủ của Chúa Sãi từ trong trứng nước. Chúa Trịnh cho là phải truyền chuẩn bị xuất quân. Mọi việc tưởng êm xuôi nào ngờ đất bắc xẩy nhiều chuyện rối rắm. Mùa xuân trung tuần tháng giêng năm Kỷ Mùi 1619, kinh đô Thăng Long bị hỏa hoạn chưa từng có. Ngọn lửa bốc từ phủ chúa vào quá trưa cao vài mươi trượng được gió đẩy như rồng gặp nước, thiêu cháy hầu hết dinh cơ, lan ra cả phố phường, vào tận cửa Ðoan Môn của triều đường, đến tối mịt quân dân mới dập tắt lửa. Ngoài thiệt hại vật chất, thêm mấy mươi người tử vong, tiếng gào khóc thâu đêm tiếc của tiếc người. Chúa Trịnh rầu rĩ phát ốm hàng tháng. Tháng ba, triều đình bàng hoàng rối loạn do vụ Quận Công Trịnh Xuân con thứ chúa Trịnh cấu kết với vua Lê Kính Tôn âm mưu sát chúa bằng súng và chất nổ. Việc lộ, cả hai bị bắt giam trong cung. Vua Lê lại là rể của chúa, chồng Trịnh Thị Ngọc Trinh. Cuối cùng vua bị bức tử. Chúa chọn Duy Kỳ là cháu ngoại (con trưởng Kính Tôn và Ngọc Trinh) lên ngôi tức vua Thần Tôn. Phần Trịnh Xuân thay vì nhận án tử, chỉ bị biệt giam trong cung cấm. Thời gian sau chúa thương con nên tha tội Xuân, lại cho phục chức nắm giữ binh quyền lập công chuộc tội.

Tại Thuận Hóa được tin biến loạn, chúa Sãi cười nói với quần thần:“Tùng chẳng cần biết có vua thì con hắn cũng chẳng cần biết có cha. Ðạo trời báo ứng chẳng sai bao giờ.” Tháng sau trong phiên chầu chúa lại nói:“Ta nghĩ biến loạn tại triều đình do Trịnh Tùng sắp đặt tìm cách giết vua cho hợp lẽ. Nhưng chính hắn đã dạy con mình bài học phản trắc coi thường đạo lý chỉ do tranh đoạt quyền lực. Ta tin mai này Trịnh Tùng đêm ngủ không yên giấc, mong chi đạt hai chữ bình an mà tự xưng Bình An Vương.”

Phần Phúc Hiệp và Phúc Trạch được tin bồn chồn lo lắng sợ việc không thành. Sang thu, Hiệp lại cho người liên lạc với Trịnh Tráng bàn lại việc cũ. Trịnh Tráng thưa với chúa. Chúa Trịnh nói:“Ðây là chuyện ta cần dè dặt nghĩ suy, tránh tiếng đôi bên giòng họ bôi mặt đá nhau. Nhất là lại vừa xẩy ra mấy chuyện buồn lòng, ngoài dân mất mùa đói kém, ta nên thư thả đợi sang năm hãy tính”. Tuy chúa nói thế nhưng Trịnh Tráng lại hứa với gia tướng của Phúc Hiệp rằng sang xuân sẽ động binh. Ý Tráng muốn đánh Chúa Sãi càng sớm càng tốt, cũng là cách chuẩn bị an toàn vững ngôi chúa tể của mình một mai phụ thân khuất núi.

Ðầu xuân năm Canh Thân 1620. Trịnh Tráng thưa với chúa:“Nay Hiệp và Trạch quyết tâm theo ta, tình nguyện làm nội ứng, nếu để quá lâu không hành động tất chúng ngã lòng. Vừa rồi con lại nhận thư Hiệp thúc dục. Con nghĩ kế hay nhất ta cứ đem vài ngàn quân trấn ngay sông Nhật Lệ, gọi là tuần tra. Nếu Hiệp Trạch làm nên chuyện, ta tiến quân phụ giúp, bằng không lại rút. Thế là ổn mọi bề.” Chúa suy nghĩ giây lâu rồi thuận. Ðô Ðốc Nguyễn Khải nhận lệnh chúa Trịnh chỉ huy năm ngàn tinh binh tiến về nam.

Tại Thuận Hóa, Hiệp và Trạch nghe tin quân Trịnh nam tiến cả mừng. Trạch bàn với Hiệp:

-Trịnh đã động binh, ta xúc tiến ngay công việc. Ý tôi phải làm sao tách Nguyễn Tuyên khỏi ông Nguyên vì hắn luôn kề cận ông ấy. Tuyên võ nghệ cao cường, đa mưu túc kế ta khó động thủ. Khi thành kế điệu hổ ly sơn, ta sẽ bất ngờ hạ sát ông ấy đoạt binh quyền, mở đường cho quân Trịnh tiến vào.

-Làm cách nào điệu hổ ly sơn?

-Ta bàn với ông Nguyên cử Tuyên chỉ huy quân ra Nhật Lệ ngăn Trịnh, tôi chắc ông Nguyên sẽ nghe.

Chúa Sãi nghe tin quân Trịnh vào án binh bên sông Nhật Lệ. Chúa họp quần thần bàn thảo. Tham Tướng Nguyễn Triều Văn nói:

-Tâu chúa thượng, thần nghĩ quân Trịnh động binh chưa hẳn có ý đánh ta vì chưa có cớ chinh phạt, chỉ nói là tuần tra xứ Nghệ. Tuy nhiên ta vẫn phòng xa, bí mật điều quân, sẵn sàng đánh trả nếu Trịnh trở mặt.

Phúc Hiệp tiếp lời Triều Văn:

-Quan Tham Tướng quả cao kiến, việc bí mật điều binh ra Nhật Lệ hợp lẽ. Tôi nghĩ nên giao trọng trách cho Nguyễn Tuyên. Tuyên quen chinh chiến, nhiều mưu sâu kịp thời ứng phó tình hình.

Chúa Sãi bãi chầu, hẹn ngày mai quyết định mọi việc. Buổi chiều, chúa ngồi sau hiên một mình uống rượu ngắm hoa, những đóa phù dung nở sớm nhởn nhơ trước gió. Nguyễn Tuyên bước ra cúi chào. Tuyên tuổi ngoài bốn mươi, là cháu ruột gọi chúa là chú. Trong các cháu, chúa gần gũi yêu quý Tuyên như con, cho phép vào dinh chúa bất cứ lúc nào. Ban đêm Tuyên thường ngủ lại dinh cắt đặt cấm binh tuần phòng bảo vệ chúa. Tuyên vũ dũng mưu lược, trầm tĩnh nghĩ suy nên chúa tín cẩn. Chúa nói:

-Ta có mỹ tửu khách thương phương bắc mới tặng, cháu thử xem sao, lát ta có chuyện bàn…

-Chú thích phù dung, cháu không biết thưởng hoa nên thấy hoa nào cũng đẹp.

Chúa cười ôn tồn:

-Ngắm hoa là một trong những thú vui thanh cao, cháu phải hiểu biết về hoa mới phân biệt được hoa nào là quý.

Uống xong chén rượu, chúa vui miệng chỉ những gốc mai xanh biếc lá ở góc vườn:

-Ngay như loài mai cháu thường thấy cũng có nhiều loại. Vùng này nhiều mai vàng, còn gọi là lạp mai. Giống này thân cứng thẳng, lá xanh mượt khác với giống bạch mai hoa trắng và thơm, dáng phong vận, đẹp mà cốt cách. Mùa xuân, trong trăm hoa thì mai nở đầu tiên. Cổ nhân nói “Tiên hướng bách hoa đầu thượng khai” là chỉ ý đó. Còn phù dung, hoa nở vào hai mùa xuân thu. Cây phù dung trong vườn ta rất quý, thuộc loại “tam sắc túy phù dung”, có nghĩa phù dung say biến ba sắc, sớm trắng, trưa đỏ, tối mầu càng đậm. Ta đang cố tìm loại phù dung quý thường được người đời gọi “văn quan hoa”. Giống hoa ngày đầu nở trắng, ngày hai đỏ lợt, ngày ba sắc vàng, ngày bốn đỏ thẫm rồi rụng biến thành mầu tía…

Chúa say sưa nói chuyện hoa, từ các loại đào xinh đẹp đến hoa lê say trăng cợt gió… Ðợi chúa nói hết, Nguyễn Tuyên tần ngần một lúc mới mở lời:

-Chuyện bàn sáng nay về việc quân Trịnh, ý chú quyết định ra sao?

-Chú định theo ý chú Phúc Hiệp bàn. Mai cháu chuẩn bị kéo quân ra sông Nhật Lệ, tùy cơ ứng biến.

-Cháu xin thưa, chuyện năm ngàn quân Trịnh tiến vào Nhật Lệ theo cháu chẳng phải ngẫu nhiên mà ẩn dấu một ý đồ ta chưa khám phá ra. Lòng cháu phân vân ngờ vực từ chuyện trong nhà. Từ lâu cháu biết ý hai chú Hiệp Trạch không bằng lòng với chức phận, việc quân bê trễ, thường cùng nhau rượu chè, xa lánh mọi người.

-Nhưng chuyện hai chú và quân Trịnh nào có chi liên hệ?

-Cháu xin tiếp. Từ vài tháng nay, cháu thấy hai chú bỗng dưng đổi tính, thường xuyên hợp tác luyện binh bày trận, lại dùng cả tượng binh tập công thành. Nay quân Trịnh đột nhiên động binh khiến cháu càng ngờ vực thêm.

Chúa nghe Tuyên nói có vẻ chột dạ:

-Nhưng ta chưa có bằng cớ xác thực chứng minh sự thật, vậy nên tính sao?

-Cháu đã có chủ trương, chỉ cần chú thuận.

Nguyễn Tuyên kề tai chúa thì thầm. Chúa nghe xong đăm chiêu suy nghĩ. Chiều dần tàn, mặt trời đã khuất sau ngọn đồi xa, trời xanh trong nhẹ nắng, có cánh cò lẻ loi cuối chân trời. Chúa khẽ thở dài:“Ðược, cháu liệu việc khá vẹn toàn, mai ta sẽ tiến hành đúng kế sách của cháu”. Ðêm ấy chúa thao thức, đêm dài lê thê.

Sáng sớm, chúa triệu tập một số cận thần. Chúa nói với Phúc Hiệp:“Ta sẽ làm theo kế sách chú trình hôm qua”. Hiệp nghe cả mừng:

-Tuyên cầm quân đi, em sẽ đem quân về bảo vệ ChiÔnh Dinh vì đây còn thưa lính, ta bố trí Phúc Trạch giữ vòng ngoài, thế là mọi sự chu toàn.

Chúa ra vẻ suy nghĩ:“Các chú cứ trở về giữ cơ đội, lo phòng thủ, việc đến ta sẽ liệu sau”. Ý Hiệp và Trạch muốn gần gũi chúa để dễ sát hại, đồng thời chiếm cứ Chính Dinh đón quân Trịnh tiến vào. Nghe chúa nói, cả hai miễn cưỡng lên đường nhưng vẫn mừng, đánh giá mưu đồ thành công một nửa. Hiệp nói với Trạch:“Tuyên đem hết quân đi, ChiÔnh Dinh kể như bỏ trống, ta tìm cách lọt vào thành, nội công ngoại kích tất thủ thắng.”

Nguyễn Tuyên cùng anh là Nguyễn Vệ nhận lệnh chúa dẫn gần năm ngàn quân lên đường tiến ra phía bắc. Vừa qua địa phận Ái Tử, Tuyên nói với Vệ:

-Theo lệnh chúa thượng, anh dẫn hai ngàn quân đến bờ nam sông Nhật Lệ ém binh theo dõi sát địch tình, tuyệt đối cấm không cho bất kỳ ai vượt sông. Phần em có nhiệm vụ khác, anh kíp lên đường.

Nguyễn Vệ lập tức kéo quân đi. Tuyên cho quân bố trí đêm ngày canh giữ các trục lộ chính, lệnh quân xét hỏi bất cứ ai khả nghi. Hai ngày sau, quân canh báo đã bắt giữ kẻ khả nghi đang phi ngựa trong đêm. Y xưng là tùy tướng của Chưởng Cơ Nguyễn Phúc Hiệp, khám trong người tìm được một phong thư niêm kín. Tuyên đọc thư, thư Phúc Hiệp gửi Ðô Ðốc quân Trịnh Nguyễn Khải. Hiệp định ngày tấn công ChiÔnh Dinh, đề nghị Nguyễn Khải vượt sông tấn công cầm chân quân Nguyễn. Tuyên vừa mừng vừa giận, gặp riêng viên tùy tướng hỏi:

-Người là ai? Ði đâu, có việc gì?

-Tôi là tùy tướng của quan Chưởng Cơ. Quan ra lệnh tôi mang thư trao tận tay Nguyễn Ðô Ðốc, nhận thư hồi âm xong gấp rút trở về.

-Chỉ thế thôi ư?

-Thưa vâng, chỉ có thế.

-Ngươi biết nội dung thư?

-Tôi chỉ mang thư theo lệnh chủ tướng, tuyệt không biết thư gì.

Ngay đêm ấy, Nguyễn Tuyên đem viên tùy tướng về ChiÔnh Dinh tường trình chúa mọi việc. Chúa nghe giận tái người, lại nghĩ xấu hổ vì mới đây, chúa từng xỉ vả chê bai họ Trịnh cốt nhục tương tàn. Chúa gọi người em út, Quận Công Nguyễn Phúc Khê hỏi cách đối phó. Khê nói:“Việc này anh phải sử xự phân minh, không vị tình riêng mà quên phép nước. Tôi có cách vạch mặt bọn phản nghịch”. Chúa hỏi cách chi? Phúc Khê đáp:

-Tôi sẽ giả thư Nguyễn Khải gửi cho Hiệp Trạch định ngày khởi binh, giao viên tùy tướng về trao tận tay Hiệp. Khi chúng kéo quân về đây, ta cho phục binh vây kín, nếu đầu hàng ta dung, bằng chống sẽ bị tiêu diệt.

Chúa trầm ngâm:

-Dù sao ta cứ xử trọn nghĩa huynh đệ. Ðích thân tôi và chú sẽ dùng lời phải trái khuyên can, cực chẳng đã mới dùng vũ lực.

Phúc Khê cho là phải, thảo ngay thư, cho gọi viên tùy tướng vào dinh. Khê nghiêm nghị:

-Tội ngươi đáng chết nhưng ta nghĩ kẻ làm tôi phải vâng mệnh chủ tướng nên tạm tha. Nay ngươi theo lệnh ta mang thư này về trao chủ tướng. Việc chỉ có thế. Ta biết ngươi còn mẹ già, vợ dại con thơ hiện ở ngoại dinh. Nếu phản trắc mạng ngươi chẳng còn mà gia đình cũng khốn.

Viên tùy tướng sợ hãi cúi lạy, đập trán trên sàn khóc lóc tạ tội. Phúc Khê lệnh cởi trói, trao thư, cấp thêm tiền bạc, dặn dò cách đối đáp nếu chủ tướng hạch hỏi. Nói xong khiến y lên đường ngay. Phúc Khê ra lệnh cho Nguyễn Tuyên xúc tiến ngay kế sách đối phó.

Năm ngày sau, chúa cùng Phúc Khê thức dậy khi còn tối đất. Anh em đang ngồi uống trà đàm đạo bỗng nghe tiếng vó ngựa dồn dập càng lúc càng gần. Chúa biết quân Hiệp Trạch đang kéo đến, bèn cùng Phúc Khê bước lên vọng lâu theo dõi.

Từ xa, Phúc Hiệp cỡi ngựa dẫn đầu khoảng năm trăm quân tiến thẳng đến cổng dinh, thấy trong dinh lặng yên không một ánh lửa. Hiệp mừng lắm nghĩ bên trong không phòng bị, cho ngựa đến dưới dinh hét lớn gọi trưởng canh mở cổng vào yết kiến chúa thượng có việc cơ mật. Hiệp gọi dăm lần mới thấy có tiếng trả lời:

-Bẩm quan Chưởng Cơ, chúa thượng mới ra nghiêm lệnh cấm bất cứ ai vào dinh buổi sớm nếu không có phép chúa. Quan Chưởng Cơ xin đợi đến đầu giờ thìn chúng tôi sẽ trình tâu.

Phúc Hiệp cả giận:

-Ta là em chúa thượng nào ai xa lạ. Mở cổng ngay, chuyện khẩn cấp.

-Bẩm quan, chúng tôi chỉ tuân lệnh chúa thượng. Xin ngài miễn thứ.

Biết không thể thuyết phục trưởng canh, Phúc Trạch bàn nên tấn công gấp. Phúc Hiệp lệnh toán tượng binh chuẩn bị dàn hàng ngang tràn vào cổng dinh, súng thần công lên lửa sẵn sàng nhả đạn. Bỗng có tiếng hét lớn từ trên vọng lâu:

-Ta chưa truyền lệnh, các chú vô cớ kéo quân về đây là nghĩa lý chi?

Nhận ra giọng Chúa Sãi, cả Hiệp lẫn Trạch hơi hoảng nhưng đến nước này không thể dừng, Phúc Hiệp hét lớn:

-Chúng tôi nhận lệnh nhà vua kéo quân đánh phản nghịch. Ông mở cổng dinh ngay, nếu không chớ oán trách.

-Các chú nói lạ. Ai phản nghịch? Vì tình nghĩa huynh đệ, tôi muốn hai chú lui binh, anh em gặp gỡ đàm đạo cảm thông.

Phúc Khê đứng bên chúa lên tiếng:

-Xin các anh nghe lệnh chúa thượng giải quyết chuyện êm đẹp, chớ gây mất hòa khí anh em.

Nghe Phúc Khê nói, Phúc Hiệp mắng lớn:“Mi là thằng em út lại muốn lên mặt dậy đời. Lũ bay cấu kết chống triều đình, mưu đồ làm chúa phương nam, tội đã rành rành cách chi chối cãi”. Nói xong hạ lệnh tấn công.

Bỗng pháo lệnh nổ vang, quân Nguyễn do Nguyễn Tuyên chỉ huy từ bốn phía reo hò như sấm dậy tràn vào trận tuyến. Trên dinh, toán cung nỏ phục sẵn bắn tới tấp vào toán tượng binh, tiếng địa lôi nổ khói bụi mịt mù. Toán tượng binh hốt hoảng chạy trở lui đạp chết cơ man lính. Nửa số quân buông giáo đầu hàng. Hiệp Trạch mở đường máu rút tàn quân tháo chạy về lũy Cồn Cát cố thủ. Nguyễn Tuyên tỏa quân vây kín, bắc loa kêu gọi đầu hàng. Thấy Trạch tinh thần nao núng, Hiệp trấn an:

-Ta vững tâm cố thủ chờ quân Trịnh, tôi đoan chắc chỉ dăm ba ngày họ sẽ tới.

-Tôi nghĩ chỉ còn cách ấy. Quân ta còn ít, không cách chi đối địch lại Tuyên.

Qua hai ngày không nghe động tĩnh, Nguyễn Tuyên tức giận hai chú ngoan cố. Tuyên nói với tướng sĩ:“Bên trong chỉ còn khoảng hai trăm quân, ta có đến ba ngàn, nhất quyết san bằng lũy tóm gọn lũ phản nghịch. Ta thề chỉ trong hai ngày là xong”. Tuyên chia quân thành nhiều toán liên tục tấn công không cho địch nghỉ ngơi, dùng súng thần công bắn tới tấp. Ðêm thứ hai, toán lính canh trong lũy lén mở cổng, quân Tuyên tràn vào. Hiệp và Trạch bị bắt sống tại trận giải về ChiÔnh Dinh. Chúa Sãi chẳng thèm nhìn em, truyền tống giam ngục tối. Phúc Khê nói với chúa:“Pháp bất vị thân, anh cứ xét xử công minh làm gương cho kẻ khác”. Chúa lặng yên.

Phần Ðô Ðốc Nguyễn Khải án binh ở Nhật Lệ chờ mãi chẳng thấy Hiệp Trạch liên lạc. Sau biết việc không thành nên ra lệnh rút quân.

Ít lâu sau, người người đều hay Hiệp và Trạch đã chết trong ngục. Có người bảo cả hai chết do bị bỏ đói, kẻ lại bảo do tự sát…

Sau vụ phản nghịch, chúa buồn bã thường đi đây đó giải khuây. Chúa năng vãn cảnh chùa, coi câu kinh tiếng kệ như niềm an ủi vô biên đưa con người thoát cảnh khổ ải thế tục. Việc triều chính một tay Phúc Khê giải quyết trừ việc hệ trọng mới tâu lên chúa. Một hôm chúa đang ngự ở chùa Thiên Mụ bỗng nhận thư khẩn của Phúc Khê xin chúa hồi triều vì có sứ giả Chân Lạp sang xin giao hảo triều cống. Gặp Phúc Khê, chúa hỏi:

-Hồi còn trấn thủ Quảng Nam, thỉnh thoảng tôi có gặp thương gia Chân Lạp sang buôn bán. Người Chân Lạp tóc rậm da đen, nhỏ con nhưng rắn chắc, bản tính hiền hòa sùng đạo Phật còn hơn người mình. Nay họ cử sứ thần sang ta muốn giao hảo, chú thử đoán ngoài ra họ còn có ý chi khác?

-Tôi đã gặp sứ giả, y là người lịch thiệp nhìn xa trông rộng. Ðặc biệt viên phó sứ nói rành tiếng Việt, y vốn người gốc Thanh Hóa, tổ phụ phiêu bạt sang Chân Lạp đến đời y là thứ ba. Tôi dọ hỏi tình hình xứ ấy, những điều y nói phù hợp với điều các giáo sĩ Tây Dương đã kể tôi nghe về nước Chân Lạp. Ðại khái Chân Lạp phía bắc tiếp giáp Chiêm Thành, phía nam có biển, phía tây là Xiêm La. Chân Lạp đất đai mầu mỡ nhưng rất thưa người nên thường bị Xiêm xâm lấn, loạn lạc chẳng mấy khi yên. Vua Chân Lạp hiện nay còn trẻ mới ngoài ba mươi, nhà vua bấy lâu mến mộ uy danh chúa nước nam nên muốn giao hảo, ngỏ ý xin làm phò mã nhà chúa. Tôi nghĩ ngoài ý ấy, họ chẳng có chi để ta ngờ vực.

-Chân Lạp với ta cách xa ngàn dặm, nay phải gả Ngọc Vạn lấy chồng phương xa lòng ta xót quá đỗi, chú nghĩ ta có nên bằng lòng?

-Tất cả vì đại cuộc, sự tồn vong do ta tự quyết. Chủ trương của ta lúc này là hòa hoãn với cả hai phía bắc nam do quân lực chưa đủ mạnh chịu đựng cuộc chiến dài lâu. Anh hẳn nhớ thân phụ phải nhún nhường cầu thân gả Ngọc Tú cho Trịnh Tráng. Nay Ngọc Vạn tuy lấy chồng xa nhưng họ cũng là vua một nước, hợp cảnh môn đăng hộ đối, kết thân với lân bang là điều nên làm. Hơn nữa, ta kết thân với Chân Lạp cũng là cách cô lập Chiêm Thành, người Chiêm không cùng văn hóa với ta, tin thờ tà đạo, phản trắc vô lường. Một khi ta kết nạp được Chân Lạp, việc mở cõi về nam thuận lợi nhiều bề, ấy là kế sách dài lâu chớ nên để hỏng.

-Chú bàn thuận tai nhưng ta nên hỏi qua ý Mạc chính phi, dẫu sao Ngọc Vạn cũng là con bà, mọi việc thuận cửa nhà êm đẹp. Chú xếp đặt sứ giả gặp ta sáng sớm, việc xong để họ về, chớ nên bắt chờ lâu vì đường cách trở xa xôi.

Tối hôm ấy chúa bàn chuyện với chính phi, phi nói:

-Chuyện Ngọc Vạn, con gái lớn lấy chồng là lẽ thường tình. Ngặt nỗi duyên phận éo le xe định con làm dâu người nước khác, đất lạ quê người.. Em biết chúa thượng gả con cho vua Chân Lạp cũng là tính chuyện đại sự nước non. Việc nước để trước việc nhà, cái chi lợi là làm. Phần Ngọc Vạn, phận gái tùy cha mẹ đặt để, nhưng ta nên lo toan mọi lẽ cho con ấy là trách nhiệm phụ mẫu. Em nghĩ nên lưu viên phó sứ lại thời gian, dậy con nghi lễ cùng chữ nghĩa, tiếng nói nhà chồng để con đỡ ngỡ ngàng khi làm dâu nhà người, xứng vai mẫu nghi, rạng danh đất nước. Ngọc Vạn nhan sắc mặn mà, thông minh lanh lợi chắc chắn học thông. Ta buộc nhà chồng phải theo đúng lệ hôn nhân nước ta, làm đủ nghi lễ đón dâu. Ấy là cách chứng tỏ bề thế uy nghi triều đình, phân minh thượng hạ.

Hôm sau sứ giả triều kiến chúa dâng thư vua Chân Lạp cùng nhiều lễ vật quý giá, chúa hài lòng. Quận Công Nguyễn Phúc Khê cho sứ giả biết đòi hỏi của Ðại Việt, thuận cho vua Chân Lạp cử hành đón dâu vào cuối hạ. Sứ giả hoan hỉ cảm tạ tuân ý chúa để viên phó sứ ở lại, mọi việc khác sẽ trình nhà vua khi về nước.

Một ngày cuối hạ, dù trời nắng gắt, những ngọn gió tây khô khốc thổi rát mặt. Dân chúng bên bờ sông Thạch Hãn lũ lượt đổ ra ven sông nhìn đoàn thuyền sơn son thiếp vàng lạ mắt từ từ rẽ sóng tiến về ChiÔnh Dinh, kinh đô vị chúa phương nam. Dân bàn tán rôm rả nhìn thấy trên thuyền thấp thoáng nhiều vị sư áo vàng. Ðến ChiÔnh Dinh, đoàn thuyền neo hàng ngang trên bến. Chiếc thuyền nhỏ chạm hình rồng vàng kết hoa rực rỡ neo sát bờ, bên cạnh là chiếc thuyền lớn nhất chở hai vị cao tăng và vị đại thần thay mặt vua đến cử hành nghi lễ đón công chúa Ngọc Vạn về làm dâu Chân Lạp.

Hôm sau, đoàn sứ thần Chân Lạp lập hương án trên thuyền, trải chiếu hoa từ bến sông đến lộ chính tiếp đón Quận Công Nguyễn Phúc Khê, đại diện chúa Sãi đến báo tin lành chúa thuận cho vua Chân Lạp làm rể nước Ðại Việt. Vị đại thần đại diện nhà vua quỳ quay về hướng nam, lạy năm lạy tạ ơn chúa. Ngày tiếp, vị đại thần, hai vị cao tăng cùng đoàn tùy tùng mang sính lễ cơ man trân châu bảo ngọc đến Chính Dinh triều kiến chúa, mời chúa xuống ngự thuyền rồng, tặng vật vua Chân Lạp dâng nhạc phụ. Chúa đẹp dạ ban thưởng phò mã vàng bạc, áo mão cân đai, truyền bày tiệc thịnh soạn thết đãi cả đoàn. Buổi sáng nghênh hôn, công chúa Ngọc Vạn sau khi đến cáo lạy, dâng lễ vật tại lăng Tiên Chúa, đoạn trở về cung hầu phụ mẫu, nhận lời giáo huấn, tạ ơn sinh thành dưỡng dục. Sau đó công chúa nhận ngự tửu chúa ban, tạ phụ mẫu mỗi người năm lạy, bùi ngùi bước lên kiệu hoa cùng đoàn người gồm bốn thị nữ, toán khiêng kiệu, toàn những chàng trai khỏe mạnh khôi ngô, có học thức lẫn võ nghệ. Bốn thị nữ và các chàng trai khiêng kiệu được vua Chân Lạp thỏa thuận cho theo công chúa sang ở luôn tại Chân Lạp. Chúa Sãi và Mạc Chính Phi thương con côi cút nơi xứ người nên chọn số ít người thân tín theo hầu bảo vệ con, cố duy trì liên lạc dù công chúa ở quá xa cách. Ðoàn nhà trai chờ sẵn ở cổng chính đưa công chúa xuống thuyền phụng chờ sẵn bên giòng Thạch Hãn. Giòng sông xanh êm đềm nhưng giông bão trong lòng người đi, Ngọc Vạn nức nở rời kiệu bước xuống thuyền…

Sau nhiều ngày mệt nhọc lênh đênh trên biển, đoàn thuyền ghé bến Chân Lạp. Ngọc Vạn nhìn lên bờ thấy dân tụ tập nhộn nhịp, nhạc cử tưng bừng lạ tai.

Một đoàn thiếu nữ xiêm y rực rỡ, tóc búi cao cài hoa thơm ngát đón nàng lên kiệu hoa sơn son thiếp vàng rực rỡ. Trên đường vào kinh đô, dân chúng đứng hai bên đường ca hát đón chào. Thấy người người vui, Ngọc Vạn cảm thấy yên tâm ngắm nhìn cảnh lạ.

Hoàng cung Chân Lạp xây cất quy mô bề thế hơn hẳn Chính Dinh. Khi Ngọc Vạn rời kiệu hoa bước trên con đường trải chiếu hoa vào vương phủ, các cung nữ thi nhau tung hoa chào đón. Những loại hoa sứ, hoa cúc, hoa sen… như ở quê nhà phủ ngập đường tỏa hương thơm dịu mát. Khoảng sân rộng trước vương phủ chật ních bá quan văn võ. Giữa tiếng chiêng trống, tiếng tấu nhạc rộn rã, vua Chân Lạp khôi ngô đường bệ mặc hoàng bào bước xuống ngai đón Ngọc Vạn giữa tiếng tung hô của triều thần. Nhà vua vui mừng nhìn công chúa nước Việt trắng trẻo kiều diễm, hơn hẳn hai người vợ đang sống với vua từ nhiều năm trước.

Từ đấy vua sủng ái Ngọc Vạn, quý nàng hơn trân châu bảo ngọc, truyền xây cung điện nguy nga tráng lệ, cùng người đẹp say đắm hoan lạc miệt mài như chưa từng nếạm hương vị tình ái. Những chàng trai Việt theo Ngọc Vạn đều được đãi ngộ, phong quan chức. Tin lành về tới Chính Dinh. Ba năm sau, những người Việt đầu tiên có mặt ở vùng Ðồng Nai Mô Xoài (Sài Gòn và Biên Hòa ngày nay) canh tác hoặc buôn bán.

Mối giao hảo giữa hai nước Việt Chân Lạp đang tốt đẹp bỗng gặp biến cố. Năm Ất Sửu 1625, vua Chân Lạp lâm trọng bệnh từ trần, triều đình rối loạn do phe thân Xiêm La mưu đoạt quyền hành muốn loại bỏ ảnh hưởng của nhóm thân Ðại Việt. Cảm thấy người Việt ít ỏi không thể chống lại nước Xiêm La kế cận, Ngọc Vạn dù được đặt làm hoàng thái hậu vẫn nhận ra mối nguy, tìm cách rời khỏi triều đình. Nàng cùng hai con trai lánh vào chùa sống ẩn dật.

Năm năm sau, triều đình Chân Lạp lại xẩy ra nhiều biến loạn đổ máu do các hoàng tử tranh ngôi báu. Cuối cùng, hoàng tử Rama Chan do có mẹ là người Lào, được người Lào hợp tác giúp đỡ đoạt ngai vàng. Tân Vương thân Lào tìm mọi cách loại trừ người Việt. Hoàng Thái Hậu Ngọc Vạn được gia nhân bảo vệ cùng hai con về vùng Ðồng Nai khẩn hoang lập ấp, vùng đất hoang dần trở thành trù phú, tấp nập con buôn người Việt, người Tàu, có cả người Tây Dương sang mua hồ tiêu và truyền đạo Gia Tô. Ngọc Vạn xây dựng chùa truyền bá đạo Phật. Chẳng bao lâu, bà trở thành nhân vật được trọng nể tại vùng Thủy Chân Lạp.

Tại kinh đô, vua Chân Lạp không ngừng củng cố quyền hành. Vua hà khắc độc đoán, sẵn sàng tàn sát bất chấp cả những người trong hoàng tộc. Một số hoàng thân tìm cách qua vùng Ðồng Nai liên kết chống lại nhà vua. Ðoán chắc Ðồng Nai sẽ bị tấn công, Ngọc Vạn bí mật liên lạc với Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (cháu nội chúa Sãi), cho chúa biết tình hình Chân Lạp rối ren, xin chúa khẩn cấp can thiệp bằng võ lực cứu nguy cho ba mẹ con và đám hoàng tộc cô thế đang bị đe dọa.

Nhận tin, xót tình máu mủ, chúa Hiền tức tốc sai Phó Tướng Nguyễn Phúc Yên đem ba ngàn quân tinh nhuệ tiến vào Ðồng Nai. Rama Chan đích thân điều binh chống cự bị quân Việt chận đánh tan tác. Quan quân mạnh ai nấy chạy, nhà vua chậm chân bị bắt sống tại trận. Chúa Hiền không muốn Chân Lạp xáo trộn, truyền tha nhà vua nhưng buộc phải triều cống. Hai con trai Ngọc Vạn là Batom và Ang Non cai quản toàn vùng Thủy Chân Lạp, tạo thuận tiện tối đa cho người Việt vào canh tác buôn bán. Khi vua Chân Lạp chết (năm 1660), chúa Hiền hậu thuẫn cho Batom lên ngôi vua, Ang Non thành Phó Vương. Ngọc Vạn được dân kính trọng như Phật sống. Có ai nghĩ bà đã đi những bước đầu mở đường cho người Việt tiến vào phương nam chiếm trọn vùng Thủy Chân Lạp trù phú, kéo dài lãnh thổ Ðại Việt đến tận vùng Cà Mau xa thẳm…

 ***

 Tháng sáu năm Quý Hợi 1623, kinh đô Thăng Long lại xẩy ra biến loạn lớn. Xuân Quận Công Trịnh Xuân, con thứ Bình An Vương Trịnh Tùng, người từng gây bạo loạn mấy năm trước. Lợi dụng thân phụ ốm nặng, nổi loạn chiếm phủ chúa mưu đoạt binh quyền của anh là Thanh Quận Công Trịnh Tráng. Chúa Trịnh bỏ phủ chạy đến huyện Thanh Trì. Em ruột của chúa Quận Công Trịnh Ðỗ lập mưu viết thư gọi Xuân đến gặp phụ vương để nhận binh quyền. Trịnh Xuân trúng kế bị sát hại nhưng chúa cũng mệnh vong. Trịnh Tráng thay cha nắm binh quyền trong cơn biến loạn phải hộ tống vua và triều thần rút về Tây Ðô (Thanh Hóa). Lợi dụng tình hình rối ren, Mạc Kính Khoan ở Cao Bằng kéo quân về chiếm lại Hải Dương, hàng vạn dân hưởng ứng theo Mạc. Kính Khoan cậy đông quân tiến về huyện Gia Lâm mưu chiếm kinh đô. Tại Tây Ðô, Trịnh Tráng chấn chỉnh quân ngũ, chia hai mặt thủy bộ tiến ra bắc. Quân Mạc đại bại rút chạy. Vua và triều thần trở lại Thăng Long, phong Trịnh Tráng tước Nguyên súy Tổng quốc chính Thanh Ðô Vương, quyền tiết chế chư quân thủy bộ.

Tại Thuận Hóa, Chúa Sãi được tin chúa Trịnh đã mất, tình hình đất bắc rối ren bèn họp quần thần nghị bàn. Có kẻ tâu chúa nên thừa cơ gia đạo họ Trịnh tan tành, nghĩa vua tôi sụp đổ, không ai tin họ Trịnh thật tâm phù Lê, phía bắc quân Mạc tràn xuống, nên nhân cơ hội tiến quân đánh Nghệ An Thanh Hóa. Chúa suy nghĩ giây lâu:“Ý các người không phải không hợp lẽ. Nhưng ta với họ Trịnh vốn là thông gia, chẳng nên thừa cơ họ gặp gian nguy mà đánh còn chi nhân nghĩa”. Nói xong truyền Tham Tướng Nguyễn Triều Văn và vài bộ tướng lên đường ra bắc, mang lễ vật đến phúng cùng dọ thám tình hình. Triều Văn trở về tâu chúa họ Trịnh nay nắm toàn quyền, đám quan lại phù thịnh chẳng còn ai nghĩ đến vua Lê, thiếu niên mới mười bốn tuổi.

Chúa Trịnh sau khi ổn định triều chính, nghĩ ngay đến việc Thuận Quảng. Mấy năm qua Chúa Sãi tuyệt không nộp thuế, chúa muốn nhân cơ hội cho người vào đòi thuế, dọ thám tình hình phương nam, nếu cần có thể hưng binh vấn tội biểu dương sức mạnh củng cố uy quyền. Thị Lang Nguyễn Duy Thì nhận lệnh chúa lên đường.

Sứ bộ đến Chính Dinh, Chúa Sãi tiếp đón đúng lễ nghi nhưng tìm cách thoái thác không cho kiểm soát sổ sách thu chi. Chúa nói với sứ giả:“Mấy năm nay thuế má thất thu, lại mất mùa đói kém. Tôi gắng lắm cũng chỉ đủ tiền lo binh bị nói chi đến chuyện thuế má”. Thị Lang Duy Thì ngỏ ý muốn vào Quảng Nam. Chúa nói đường xá xa xôi cách trở, giặc cướp như ong nên chẳng dám chiều ý. Duy Thì hiểu ý Chúa Sãi kiếm cách ngăn trở, dẫn sứ bộ hồi triều làm tờ khải dâng Chúa Trịnh:“… Quận Công Nguyễn Phúc Nguyên trấn thủ Thuận Quảng thoái thác không chịu nộp thuế triều đình, coi khinh phép nước, chỉ lo tuyển tướng luyện quân, luyện tập voi ngựa, chế tạo khí giới… rõ có ý phản nghịch”.

Chúa Trịnh đọc tờ khải nổi giận truyền gọi đám cận thần luận bàn. Chúa nói:

-Phúc Nguyên được triều đình rộng lượng, tin giao cho trấn cõi ngoài làm phên giậu. Nay nó trở mặt khinh nhờn coi thường phép nước, ý ta muốn cất quân chinh phạt, bẻ gẫy âm mưu từ trứng nước, chư khanh nghĩ liệu có nên chăng?

Thị Lang Lê Bật Tứ vẻ tức giận:

-Khải chúa thượng, từ lâu thần vẫn tâu bày về cái họa phiên trấn. Ðất nước muốn thịnh phải thống nhất một nhà, chúa thượng lẽ nào để kẻ khác đến bên giường nằm ngáy? Các xứ Lạng Sơn Cao Bằng, Thuận Quảng bấy lâu ngang ngược do ta bỏ lâu không ngó ngàng. Nay chúa thượng là chúa tể thiên hạ, dưới tay tướng quân dũng mãnh có thể khiến núi lở sông cạn, nếu nương tay không động thủ là dưỡng hổ di họa, vậy nên quyết đoán, bảo vệ cơ nghiệp muôn năm của nước nhà.

Nhiều người đồng tình lý lẽ Bật Tứ. Ðô Ðốc Nguyễn Khải hăng hái tình nguyện làm tiên phong đạo quân phạt Thuận Quảng. Thiếu Bảo Nguyễn Danh Thế lại có ý khác:

-Thần nghĩ các quan hữu lý. Theo ý thần, ta nên dành sức thanh toán cái ung nhọt ngụy Mạc ở phía bắc trước rồi tính chuyện Thuận Quảng cũng chẳng muộn.

Sau khi nghị bàn gay go, chúa thuận theo ý Danh Thế, truyền chuẩn bị binh lương phạt Mạc.

Mùa hạ năm Ất Sửu 1625, chúa cử con trai thứ Quận Công Trịnh Kiều, Thái Bảo Nguyễn Danh Thế thống lĩnh năm ngàn quân tiến đánh Thái Nguyên Cao Bằng. Thủ lĩnh quân Mạc là Mạc Kính Cung thua trận bị bắt sống. Mạc Kính Khoan thấy thế nguy xin hàng phục. Chúa rộng lượng bằng lòng, phong Kính Khoan chức Thông Quốc Công. Từ đấy mặt bắc tạm ổn, chúa Trịnh quyết tâm giải quyết phương nam. Cấp Sự Trung Nguyễn Hữu Bản là người thông minh quyền biến nhận lệnh chúa mang sắc thư vua Lê vào Thuận Hóa.

Sứ giả đến Thuận Hóa được Chúa Sãi và các cận thần tiếp đón nồng hậu. Chúa đọc sắc thư, đoạn mở đầu viết:“Hoàng Thượng sắc dụ Thái Bảo Thụy Quận Công Nguyễn Phúc Nguyên biết:Mệnh lệnh triều đình, đạo làm tôi phải nên tuân thủ. Thuế má phủ huyện, tướng ngoài cõi không được tự chuyên…” Tiếp theo là những lời trách mắng Chúa Sãi chần chừ không chịu nộp thuế, sau cùng đặt điều kiện và đe dọa buộc chúa phải thân ra bắc, hoặc sai con đi thay về triều đình:“… Nhược bằng thoái thác không đến tức là phạm tội với triều đình”.

Chúa đọc sắc thư xong cười hỏi sứ giả:

-Ðây là thư của Thanh Ðô Vương gửi đòi thuế cùng đe dọa ta, sao lại gọi sắc thư của hoàng thượng?

Sứ giả từ tốn:

-Ấy là ý của ngài. Tôi nhận mệnh vua mang sắc thư đến đây, chỉ biết có thế.

Nghe sứ giả nói, chúa trao sắc thư cho Nguyễn Triều Văn, truyền đọc cho mọi người nghe.Chúa tiếp:

-Hoàng thượng là đấng minh quân nhân ái, độ lượng bao dung, xét việc xưa nay chẳng nỡ phụ ân con cháu bậc khai quốc công thần. Vả hoàng thượng dư biết đất ta giữ chỉ là trấn nhỏ, đất rộng người thưa, của cải bao lăm nên chẳng lưu tâm đến việc đòi hỏi sưu thuế. Chỉ có Thanh Ðô Vương hẹp hòi ích kỷ, tham lam vô độ chẳng kể nghĩa tình, cả gan giả mệnh vua đòi hỏi này nọ, dở giọng kẻ cả hòng đe dọa ta.

Tham Tướng Nguyễn Triều Văn tiếp lời:

-Thử hỏi sứ gỉa, cơ nghiệp nhà Lê kể đã tiêu vong, nếu không có đức Thánh Tổ (Nguyễn Kim) sao có ngày này? Thanh Ðô Vương biết điều thì con cháu Thánh Tổ phải được thừa hưởng công lao xứng đáng, có đâu chỉ trấn thủ Thuận Quảng.

Chúa nói thẳng với sứ giả:

-Ông cứ về nói thẳng với Thanh Ðô Vương, nếu còn nghĩ công lao họ Nguyễn, tình thông gia nên cắt thêm hai xứ Thanh Nghệ trao ta cai quản mới hợp lẽ.

Sứ giả không nao núng trả lời:

-Hoàng thượng phong thưởng công thần tất xét kỹ công lao, trao việc lớn căn cứ vào tài năng đức độ. Họ Trịnh trải ba đời tận tụy giúp vua dựng nghiệp chẳng kể gian nguy. Chúa Thái Vương (Trịnh Kiểm), Triết Vương (Trịnh Tùng) đến Thanh Ðô Vương bây giờ hàng trăm năm ra công mở nước, đánh đông dẹp bắc. Ðâu đâu ngóng cổ làm tôi, chốn chốn bó tay hàng phục. Uy vũ sấm ran chớp giật, người người đều tỏ, nào phải ngồi yên mà hưởng bổng lộc triều đình…

Nguyễn Phúc Khê nãy giờ yên lặng, nổi giận ngắt lời sứ giả:

-Dựng cờ đại nghĩa giúp nhà Lê phục nghiệp là do tiên tổ họ Nguyễn. Có Nguyễn mới có Trịnh, bằng không họ Trịnh một mình làm gì nên chuyện. Nay xã tắc ổn định, sơn hà một giải, kẻ có công sao bị lãng quên. Chẳng qua họ Trịnh kiêu ngạo bất chấp vua tôi, trên khinh thiên tử, dưới hiếp đáp quần thần. Họ Trịnh cậy anh hùng, chúng ta đây cũng hào kiệt, há chịu cúi đầu thần phục?

Nghe Phúc Khê nói hăng, chúa ôn tồn:

-Ông về triều thưa lại Thanh Ðô Vương: Ðại trượng phu trên đời chớ vì chuyện nhỏ mà quên nghĩa lớn. Ta vẫn mong hai họ tình nghĩa thông gia thân thiết, chớ kết thù địch mang tiếng với đời.

Hôm sau sứ giả hồi kinh. Chúa bàn với cận thần:

-Ta ra mặt chống đối, Trịnh Tráng không chịu nhịn ắt sẽ động binh chinh phạt. Các ông có kế sách đẩy lùi quân Trịnh?

Triều Văn nói:

-So lực lượng thì ta ít quân nhưng nhiều lợi thế. Quân ta thường xuyên luyện tập, chiến đấu tại đất nhà, địa thế vùng Bố Chính hung hiểm có thể lấy một chọi mười. Quân Trịnh phải hành quân xa. Xưa Tôn Tử thường nói: “Phép hành quân xa tốn ngàn cỗ xe, chở lương xa ngàn dặm cùng là vật liệu khí cụ mỗi ngày tốn phí hàng ngàn lạng vàng.” Họ Trịnh chưa ổn định xong đất bắc, của cải lương thực chưa dồi dào khó chịu đựng nổi cuộc chiến dài lâu. Theo ý thần, ta dụng kỳ binh mai phục đánh tiêu hao lâu ngày, địch nản lòng tất phải rút.

Con thứ của chúa, Trung Tín Hầu Nguyễn Phúc Trung lên tiếng:

-Quân Trịnh tiến vào nhất định sẽ đóng tại bờ bắc sông Nhật Lệ, vượt sông tiến theo đường bộ vào phía nam. Ta phải ngăn địch ngay tại đây bằng cách đóng cọc sắt ngầm dưới lòng sông, bố trí đại pháo ở những cao điểm.

Nguyễn Vệ, cháu của chúa nay được phong Vệ Quận Công đề nghị phải xúc tiến ngay kế hoạch phòng quân Trịnh tấn công bất ngờ. Chúa vui mừng nghe bề tôi luận bàn hợp lẽ. Nội nửa tuần trăng, Quận Công Nguyễn Phúc Khê đích thân ra vùng Bố Chính khai triển kế hoạch. Nguyễn Hữu Dật hăng hái xin chúa cho phép theo Phúc Khê ra vùng chiến trận quan sát địa hình. Chúa thuận.

Hữu Dật là con trưởng của Tham Tướng Nguyễn Triều Văn. Năm ấy Dật vừa tròn hai mươi nhưng sở học uyên bác, kinh sử làu thông, giỏi thi phú. Dật lại là tay vũ dũng hiếm có trên đời nên chúa quý mến như con, thường cùng Dật bàn luận chuyện đông tây kim cổ. Ngoài tài năng, Hữu Dật tính khí cang cường, nói năng ngay thẳng. Có lần chúa nói:“Ta có nhiều tướng dũng cảm, lo chi không đối địch được với họ Trịnh”. Dật tâu chúa:“Phép dụng binh cần tướng giỏi, chọn kẻ dũng cảm là cần nhưng chưa hẳn đủ. Vậy nên người làm tướng trước tiên thận trọng, chuẩn bị tính toán, dụng binh kỷ luật, pháp lệnh giản dị. Ra quân một lòng diệt địch, quả cảm xông pha,chết vinh hơn sống nhục. Thần thấy nay nhiều kẻ cầm binh là người thân cận (của chúa). Có người chẳng hiểu việc binh, coi thường quân kỷ, dung túng quân sĩ làm càn mất lòng dân, dù thắng đôi ba trận nhưng chỉ lẻ tẻ, sao có thể dùng họ dựng nghiệp lâu dài”.

Phúc Khê nghe Dật nói cho là tuổi trẻ ngạo mạn kiêu căng, ý không ưa. Chúa nghĩ khác, khen Dật trực ngôn.

Tại Thăng Long, chúa Trịnh nghe sứ giả tường trình sự việc Thuận Hóa. Chúa tức giận nói:“Tổ phụ ta ba đời chinh chiến nằm gai nếm mật, trời biển công lao. Họ Nguyễn khoanh tay làm chủ Thuận Quảng, hưởng bổng lộc, được phong đến quốc công còn muốn đòi hỏi gì nữa. Phúc Nguyên công cán bao lăm, ta rộng lượng cho hưởng lộc tổ phụ, đã không tận trung lại giở thói ngạo mạn , khinh thường phép nước”. Chúa quyết định động binh chinh phạt phương nam.

Tháng hai năm Ðinh Mão 1627, Ðô Ðốc Nguyễn Khải, Thiếu Bảo Nguyễn Danh Thế chỉ huy năm ngàn quân tiến vào Bố Chính, dừng quân ở hữu ngạn sông Nhật Lệ chờ đại quân tiếp ứng do chính vua Lê ngự giá thân chinh cùng chúa Trịnh.

Nhận mật tin quân Trịnh nam tiến, do có phòng bị trước, chúa Sãi cử Vệ Quận Công Nguyễn Vệ làm Tiết Chế, Nguyễn Hữu Dật Ðốc Chiến đem năm ngàn quân bộ tiến ra trận địa bờ nam sông Nhật Lệ. Thủy Binh do Nguyễn Phúc Trung chỉ huy tức tốc cho chiến thuyền rời bến. Quân Nguyễn biết rõ địa thế nên bố trí lực lượng nhanh chóng kín đáo.

Toán tiên phong Trịnh dùng bè vượt sông, định tốc chiến tốc thắng bị quân Nguyễn nã đại pháo thiệt hại nặng phải rút. Biết quân Nguyễn có phòng bị, Ðô Ðốc Nguyễn Khải lùi quân về phía sau tránh tầm pháo, dọ thám địch tình, nghĩ kế tấn công. Nguyễn Danh Thế bàn với Nguyễn Khải:

-Toán tiên phong của ta phát hiện địch cắm cọc sắt dưới lòng sông, bố trí đại pháo ở các cao điểm ngăn không cho ta vượt sông. Tôi đoán chắc địch sẽ điều quân từ thượng nguồn thừa lúc đêm tối tấn công cướp trại, ta nên tương kế tựu kế diệt địch.

Nguyễn Khải khen phải, bí mật điều quân núp trong rừng để doanh trại trống.

Quả nhiên một đêm, quân Nguyễn từ phía tây bắn tên lửa ào ạt tấn công bị quân Trịnh chận đánh tập hậu phải rút chạy, may nhờ toán tượng binh tiếp cứu nên chỉ thiệt hại nhẹ. Chiến trận từ đấy ở thế dằng co. Hữu Dật nóng lòng đẩy lui quân Trịnh nghĩ ra diệu kế. Dật ngầm cho quân len lỏi sang bắc Bố Chính loan tin các Quận Công Trịnh Gia Trịnh Sầm âm mưu nổi loạn tại các trấn Hải Dương, Sơn Tây. Tin đồn loan xa, chúa Trịnh trong lòng ngờ vực, lại thấy hành binh bốn tháng ròng chẳng thu thắng lợi, tướng sĩ nản lòng. Chúa quyết định rút quân về kinh. Quân Nguyễn kể như thắng trận đẩy lùi được quân Trịnh.

Tại hai phủ Quảng Ngãi và Qui Nhơn, Quận Công Trần Ðức Hòa nhận tin thắng trận, ra lệnh quân dân nhà nhà treo đèn kết hoa, nổ pháo tưng bừng vui như lễ hội. Ðức Hòa trấn thủ hai phủ đã nhiều năm, vốn là người thân cận của chúa, được chúa nhận làm nghĩa đệ từ khi chúa còn trấn thủ dinh Quảng Nam. Hòa xuất thân võ tướng từng lập nhiều công trận nhưng sính thi văn, thường cùng tao nhân mặc khách xướng họa. Vốn tính hào sảng nên quảng giao, mến chuộng nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ. Vài hôm sau, Hòa thu xếp công việc, lên đường về Chính Dinh dự lễ khao quân mừng chiến thắng.

Gặp lại người em nuôi, chúa tay bắt mặt mừng. Hòa chúc mừng chiến thắng, hỏi han sức khỏe người anh. Chúa hỏi tình hình hai phủ. Hòa đáp:

-Nhờ trời gió hòa mưa thuận, mùa màng tươi tốt, dân đủ cơm áo nên giặc cướp chỉ còn lẻ tẻ. Ấy cũng nhờ công đức vương huynh nên trăm họ an ổn, xứng là buổi âu ca thịnh trị.

Chúa nghe cả cười:

-Ta khen chú giỏi trị dân lại trọng nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ như Mạnh Thường Quân thuở trước. Nay ta đang ở thế đối đầu với họ Trịnh, sao tìm được bậc lương tướng, biết vận độ nhật nguyệt, tiên đoán họa phúc. Lại thông cả sự biến di của chim muông cây cỏ, nhận ra hiểm địa núi sông mà bày trận pháp. Ðược người như thế, ta sẵn lòng trao gươm báu, tặng ấn nguyên nhung khiển tướng điều binh…

-Ý huynh muốn được người thần cơ diệu kế như Lã Vọng Khổng Minh, trận mạc ngoài cõi đảm đương, trong trướng quyết định mưu mô quỷ thần kinh phục. Ðệ hằng tin trời chẳng phụ kẻ tâm thành. Huynh nhân nghĩa gồm đủ, hiệu lệnh nghiêm minh, chuộng tôi trung, khử kẻ nịnh. Quân ta, trên dưới tướng sĩ một lòng quyết giữ cõi, sức mạnh như núi, địch dù mạnh đến đâu cũng chẳng xô ngã nổi Thái Sơn.

-Chú nói cho ta vui. Bấy lâu ta vẫn phó thác việc nước cho Tường Quận Công (Nguyễn Phúc Khê) vì nghĩ mình tuổi đời đã trọng, chẳng mấy chốc đến tuổi thất thập. Nào ngờ trời chẳng cho yên, ngày đêm mang nặng nỗi lo, ăn chẳng ngon, ngủ không an giấc. Ở vào thế chẳng đặng ta phải chống Trịnh, nào ai muốn cảnh tang tóc đao binh?

-Huynh chí lý nhưng ta vì đại nghĩa phải xả thân, có đâu điềm nhiên thị tọa mặc cho kẻ gian hùng tác quái…

Ðêm khuya, tiếng trống canh ba chừng sắp điểm. Mảnh trăng hạ tuần vàng nhạt le lói trên đỉnh non mờ. Gió nhẹ vọng từ xa tiếng dế rền rĩ rên siết. Ðức Hòa đứng lên :

-Ðêm khuya, huynh đi nghỉ lấy sức…

Hòa chưa nói hết câu, rút tập sách mỏng trong tay áo trịnh trọng trao chúa:“Ðệ có viên gia sư soạn thuật quyển Ngọa Long Cương vãn, đệ đọc qua thấy ý vị cao thâm, xin tặng huynh xem từ điệu ngôn ngữ y bày tỏ.” Chúa nhận quyển, chậm rãi băng qua hoa viên về thư phòng ngay góc vườn, nơi chúa thường ngồi đọc sách, có khi nghỉ qua đêm.

Ðêm ấy Ðức Hòa trằn trọc lo lắng. Ý định của Hòa muốn tiến cử viên gia sư với chúa. Trống điểm canh năm, Hòa nhìn sang thư phòng vẫn thấy ánh đèn. Ðêm ấy chúa cũng không ngủ, chăm chú đọc Ngọa Long Cương vãn, nghiền ngẫm nghĩ suy chẳng thấy thấy mỏi mệt. Trời mờ sáng, thấy chúa ra khỏi thư phòng, Hòa cũng trở dậy ra thư hiên gọi hầu cận pha tuần trà sớm hầu chúa. Hòa chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trịnh trọng dâng chúa. Chúa nói:

-Ðêm qua ta không ngủ, mải miết đọc, suy ngẫm Ngọa Long Cương vãn, lòng thích thú quên mỏi mệt. Ta nghĩ kẻ soạn thuật tài cao học rộng, mộng kinh bang tế thế. Về binh pháp chẳng nhượng Khổng Minh nên tự ví mình như người ấy, lại đặt tên vãn là Ngọa Long Cương, nơi Khổng Minh ẩn cư. Viên gia sư Ðào Duy Từ là ai, cho ta nghe lai lịch.

Ðức Hòa nghe chúa nói mừng thầm thưa:

-Duy Từ năm nay tuổi ngoại ngũ tuần, vốn người huyện Ngọc Sơn xứ Thanh Hóa, tự ấu thơ miệt mài đèn sách. Năm vừa hai mươi về kinh ứng thí, chí mong dụng chốn quan trường lập thân thỏa chí với đời. Nào ngờ vì là con nhà ca xướng nên bị cấm thi. Bấy giờ thân phụ Từ là Ðào Tá Hán đang làm chức Linh quan (coi đội nữ nhạc) trong cung vua Lê. Bị cấm thi, cho là hoạn lộ bế tắc, Từ phẫn chí buồn bực, tìm vui trong cung đàn nhịp phách. Khi thân phụ mãn phần, vì giỏi nhạc nên được vua cử làm Linh quan thay chức cha…

Như chợt nhớ điều gì, chúa bỗng dưng ra dấu ngắt lời Ðức Hòa, thích thú nói:

-Ta nhớ ra rồi. Hồi Tiên Vương (chỉ Nguyễn Hoàng) vừa ở Thăng Long về, thỉnh thoảng ngài có nhắc đến người này, khen y là tay danh sĩ đất bắc, tiên đoán chuyện đời chẳng kém Trạng Trình. Có lần y khuyên Tiên Vương nên tìm cách trở lại Thuận Quảng, chia đôi giang sơn với họ Trịnh. Chuyện bấy nay kể đã khá lâu, nhưng sao y lại phiêu dạt về Qui Nhơn, rồi lý do nào khiến chú gặp y?

-Huynh chớ nôn nóng nghe đệ kể rõ ngọn ngành vì câu chuyện lý thú. Khoảng trên mười năm sau, một lần Duy Từ đi vào phương nam, ghé huyện Phong Lộc phủ Quảng Bình tìm thăm bạn cũ. Từ dừng chân ngắm núi Thần Ðinh, rặng núi hướng về phía tây hiểm trở cao ngất đụng mây, duy nhất có một ngọn lạc lõng hướng về phía nam, dân địa phương gọi là núi Bất Nghĩa. Lại nghe đồn những đêm rằm thường thấy phật hiện trên núi, hào quang tỏa sáng rực trời. Từ tò mò mạnh bước lên non. Ðến lưng chừng núi thấy ngôi chùa cổ đề Kim Phong Tự. Chùa nay hoang phế, khói lạnh hương tàn. Sau chùa có động lớn, bên trong đá xếp như bàn ghế, có tảng đá giống hình phật tham thiền, nhiều tảng hình thù kỳ dị. Từ đang mải mê say ngắm, bỗng giật mình nghe tiếng người gọi tên mình, giọng nói nhỏ nhưng thanh âm trong trẻo nghe rất rõ. Từ hướng về phía tả thấy ông lão khoác áo vàng ngồi trên tảng đá lớn, Từ nghĩ là phật vội sụp lạy chẳng dám ngước nhìn. Tiếng nói lại vang lên:“Ta chờ người nhận thần thư đã lâu. Hãy tới động có tiếng chiêng trống nhận báu vật”. Bấy giờ Từ mới dám ngẩng đầu thấy ông lão đã biến mất. Từ vui mừng bước ra khỏi động. Trời về chiều, nắng vàng nhẹ giăng. Từ đứng lặng nhìn quanh tìm động có tiếng chiêng trống như lời phật dạy. Núi rừng vẫn lặng lẽ u tịch vắng cả tiếng chim hót. Từ lần theo phía tả ngôi chùa, vui mừng nhận ra cửa động khuất sau mấy bụi cây thấp, băng băng bước tới mặc gai nhọn cào xước. Cửa động nhỏ chỉ vừa một người lọt qua, vào sâu bên trong động rộng dần, thạch nhũ ẩn hiện mang nhiều dáng lạ. Từ nghe những giọt thánh thót tựa tiếng chiêng trống. Ðây đúng là nơi có thần thư. Từ mải miết kiếm tìm khắp động tuyệt không thấy gì . Bóng tối phủ, đêm mênh mông. Từ mỏi mệt ngồi ăn cơm nắm, định tâm ngủ đêm trong động chớ mai sáng tiếp tục. Ðêm ấy Từ thao thức, đêm dài lê thê. Từ vui khi nhận ra những vệt sáng mờ, trời rạng sáng. Từ nhỏm dậy lần mò quanh quẩn. Cả ngày hôm ấy, qua đêm thứ hai, sang ngày thứ ba vẫn không tìm ra thần thư. Từ nản chí bước ra khỏi động thờ thẫn ngó đất trời. Bỗng nhớ chuyện xưa Trương Lương ba lần nhặt dép, hai lần bị mắng, mười ngày chầu chực mới được Hoàng Thạch Công trao Thái Công Binh Pháp. Người xưa kiên nhẫn, ta há chịu nhường? Từ hăm hở trở vào động. Ngày qua đêm về, Từ mỏi mệt thiu thiu tìm tảng đá dựa lưng. Khoảng nửa đêm, có tiếng tiếng sấm động ầm ầm, một vệt sáng xanh rọi vào tảng đá tựa hình sư tử. Từ choàng tỉnh bật dậy lần đến tảng đá, thấy ngay tập sách dầy mạ vàng khắc bốn chữ Hoàng Phủ Binh Pháp. Từ mừng rỡ ôm sách vào ngực, quỳ lạy tạ, lần trong bóng tối ra cửa động, dõi theo ánh trăng mờ xuống núi. Duy Từ mười năm đóng cửa miệt mài nghiên cứu binh thư , thiên văn địa lý… chờ thời cơ đem tài kinh luân thao lược phù tá minh chúa. Năm Ất Sửu1625, Từ luận họ Trịnh phản bội chính nghĩa phù Lê, nhà Lê thực chất chỉ là xác không hồn. Từ thấu rõ mối hiềm khích giữa hai họ Trịnh Nguyễn, lại nghe huynh nhân ái, chiêu hiền đãi sĩ nên quyết tâm vào phương nam phù minh chúa tạo thế lực mới chống Trịnh. Y đi khắp Thuận Quảng xem phong thủy, làm người hát rong kể chuyện độ thân. Năm sau Từ đến Qui Nhơn, theo lời kể của Từ, y biết tiếng đệ hào sảng, trọng người tài năng, lại là người thân thiết với huynh nên quyết định dừng chân, ẩn thân trong nhà một tay hào phú. Ít lâu sau, người này phát giác tài văn chương thi phú của Từ. Viên hào phú nghe đệ đang cần gia sư bèn giới thiệu Từ . Gặp y thấy người phong thái nho nhã, đệ nhận ngay.

-Ra y cố tình gặp chú để chú tiến cử, quả là tay mưu trí tinh đời. Nhưng sao cả năm nay chú mới nói chuyện Duy Từ với ta?

-Ông cha thường dậy:Cư cửu kiến nhân tâm. Ở lâu mới biết được người. Ðệ phải tìm hiểu y hàng năm, biết chắc y có thực tài, không phải phường khoa trương khoác lác mới dám tiến cử lên huynh. Ðệ biết y đang soạn bộ binh thư rất ư huyền diệu, có đủ hỏa công thủy chiến, xà trận điểu trận, mưu mô tướng lược…

Chúa mừng khôn xiết. Ví Duy Từ như Khổng Minh Lã Vọng thuở xưa, truyền Ðức Hòa trở lại Qui Nhơn dẫn Duy Từ đến bệ kiến. Như chia xẻ niềm vui, hôm sau chúa gặp Hữu Dật, kể Dật nghe chuyện Ðào Duy Từ, lại đưa Ngọa Long Cương vãn . Chúa bảo:“Hãy đọc kỹ rồi luận ta nghe tài văn chí khí người soạn thuật.” Dật bái tạ nhận sách.

Vài hôm sau chúa hỏi Dật. Dật thưa:

-Tâu chúa thượng, người soạn thuật nét bút tao nhã trang nghiêm, ý văn tế nhị sâu sắc nhưng về thực tài thần chẳng dám lạm bàn.

-Ngươi nói phải. Dẫu sao ta không thể bỏ qua không dụng người này. Ta biết gỗ quý củi mục, tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

Chúa biết tính Dật bộc trực, chẳng tin loại xướng ca.

Vài ngày sau, Quận Công Trần Ðức Hòa trở về Qui Nhơn. Ðức Hòa gặp Ðào Duy Từ kể mọi sự. Từ cảm kích bái tạ người tạo cho mình cơ hội thi thố tài năng phù vua giúp nước, phát huy tinh túy của tướng môn. Công việc phủ đường bận rộn mãi hơn tháng sau, Ðức Hòa mới thu xếp ổn thỏa dẫn Duy Từ ra Thuận Hóa chuẩn bị lễ dẫn kiến.

Ðến Chính Dinh gặp lúc chúa đi lễ chùa Thiên Mụ, thường vài ngày sau mới trở về. Ðức Hòa thu xếp cho Duy Từ ở công quán, còn mình dành thì giờ đi đó đây thăm bằng hữu. Sáng hôm sau, khi Duy Từ đang ngồi uống trà bỗng thấy thư. Em biết chúa thượng gả con cho vua Chân Lạp cũng là tính chuyện đại sự nước non. Việc nước để trước việc nhà, cái chi lợi là làm. Phần Ngọc Vạn, phận gái tùy cha mẹ đặt để, nhưng ta nên lo toan mọi lẽ cho con ấy là trách nhiệm phụ mẫu. Em nghĩ nên lưu viên phó sứ lại thời gian, dậy con nghi lễ cùng chữ nghĩa, tiếng nói nhà chồng để con đỡ ngỡ ngàng khi làm dâu nhà người, xứng vai mẫu nghi, rạng danh đất nước. Ngọc Vạn nhan sắc mặn mà, thông minh lanh lợi chắc chắn học thông. Ta buộc nhà chồng phải theo đúng lệ hôn nhân nước ta, làm đủ nghi lễ đón dâu. Ấy là cách chứng tỏ bề thế uy nghi triều đình, phân minh thượng hạ.

Hôm sau sứ giả triều kiến chúa dâng thư vua Chân Lạp cùng nhiều lễ vật quý giá, chúa hài lòng. Quận Công Nguyễn Phúc Khê cho sứ giả biết đòi hỏi của Ðại Việt, thuận cho vua Chân Lạp cử hành đón dâu vào cuối hạ. Sứ giả hoan hỉ cảm tạ tuân ý chúa để viên phó sứ ở lại, mọi việc khác sẽ trình nhà vua khi về nước.

Một ngày cuối hạ, dù trời nắng gắt, những ngọn gió tây khô khốc thổi rát mặt. Dân chúng bên bờ sông Thạch Hãn lũ lượt đổ ra ven sông nhìn đoàn thuyền sơn son thiếp vàng lạ mắt từ từ rẽ sóng tiến về ChiÔnh Dinh, kinh đô vị chúa phương nam. Dân bàn tán rôm rả nhìn thấy trên thuyền thấp thoáng nhiều vị sư áo vàng. Ðến ChiÔnh Dinh, đoàn thuyền neo hàng ngang trên bến. Chiếc thuyền nhỏ chạm hình rồng vàng kết hoa rực rỡ neo sát bờ, bên cạnh là chiếc thuyền lớn nhất chở hai vị cao tăng và vị đại thần thay mặt vua đến cử hành nghi lễ đón công chúa Ngọc Vạn về làm dâu Chân Lạp.

Hôm sau, đoàn sứ thần Chân Lạp lập hương án trên thuyền, trải chiếu hoa từ bến sông đến lộ chính tiếp đón Quận Công Nguyễn Phúc Khê, đại diện chúa Sãi đến báo tin lành chúa thuận cho vua Chân Lạp làm rể nước Ðại Việt. Vị đại thần đại diện nhà vua quỳ quay về hướng nam, lạy năm lạy tạ ơn chúa. Ngày tiếp, vị đại thần, hai vị cao tăng cùng đoàn tùy tùng mang sính lễ cơ man trân châu bảo ngọc đến Chính Dinh triều kiến chúa, mời chúa xuống ngự thuyền rồng, tặng vật vua Chân Lạp dâng nhạc phụ. Chúa đẹp dạ ban thưởng phò mã vàng bạc, áo mão cân đai, truyền bày tiệc thịnh soạn thết đãi cả đoàn. Buổi sáng nghênh hôn, công chúa Ngọc Vạn sau khi đến cáo lạy, dâng lễ vật tại lăng Tiên Chúa, đoạn trở về cung hầu phụ mẫu, nhận lời giáo huấn, tạ ơn sinh thành dưỡng dục. Sau đó công chúa nhận ngự tửu chúa ban, tạ phụ mẫu mỗi người năm lạy, bùi ngùi bước lên kiệu hoa cùng đoàn người gồm bốn thị nữ, toán khiêng kiệu, toàn những chàng trai khỏe mạnh khôi ngô, có học thức lẫn võ nghệ. Bốn thị nữ và các chàng trai khiêng kiệu được vua Chân Lạp thỏa thuận cho theo công chúa sang ở luôn tại Chân Lạp. Chúa Sãi và Mạc Chính Phi thương con côi cút nơi xứ người nên chọn số ít người thân tín theo hầu bảo vệ con, cố duy trì liên lạc dù công chúa ở quá xa cách. Ðoàn nhà trai chờ sẵn ở cổng chính đưa công chúa xuống thuyền phụng chờ sẵn bên giòng Thạch Hãn. Giòng sông xanh êm đềm nhưng giông bão trong lòng người đi, Ngọc Vạn nức nở rời kiệu bước xuống thuyền…

Sau nhiều ngày mệt nhọc lênh đênh trên biển, đoàn thuyền ghé bến Chân Lạp. Ngọc Vạn nhìn lên bờ thấy dân tụ tập nhộn nhịp, nhạc cử tưng bừng lạ tai.

Một đoàn thiếu nữ xiêm y rực rỡ, tóc búi cao cài hoa thơm ngát đón nàng lên kiệu hoa sơn son thiếp vàng rực rỡ. Trên đường vào kinh đô, dân chúng đứng hai bên đường ca hát đón chào. Thấy người người vui, Ngọc Vạn cảm thấy yên tâm ngắm nhìn cảnh lạ.

Hoàng cung Chân Lạp xây cất quy mô bề thế hơn hẳn Chính Dinh. Khi Ngọc Vạn rời kiệu hoa bước trên con đường trải chiếu hoa vào vương phủ, các cung nữ thi nhau tung hoa chào đón. Những loại hoa sứ, hoa cúc, hoa sen… như ở quê nhà phủ ngập đường tỏa hương thơm dịu mát. Khoảng sân rộng trước vương phủ chật ních bá quan văn võ. Giữa tiếng chiêng trống, tiếng tấu nhạc rộn rã, vua Chân Lạp khôi ngô đường bệ mặc hoàng bào bước xuống ngai đón Ngọc Vạn giữa tiếng tung hô của triều thần. Nhà vua vui mừng nhìn công chúa nước Việt trắng trẻo kiều diễm, hơn hẳn hai người vợ đang sống với vua từ nhiều năm trước.

Từ đấy vua sủng ái Ngọc Vạn, quý nàng hơn trân châu bảo ngọc, truyền xây cung điện nguy nga tráng lệ, cùng người đẹp say đắm hoan lạc miệt mài như chưa từng nếạm hương vị tình ái. Những chàng trai Việt theo Ngọc Vạn đều được đãi ngộ, phong quan chức. Tin lành về tới Chính Dinh. Ba năm sau, những người Việt đầu tiên có mặt ở vùng Ðồng Nai Mô Xoài (Sài Gòn và Biên Hòa ngày nay) canh tác hoặc buôn bán.

Mối giao hảo giữa hai nước Việt Chân Lạp đang tốt đẹp bỗng gặp biến cố. Năm Ất Sửu 1625, vua Chân Lạp lâm trọng bệnh từ trần, triều đình rối loạn do phe thân Xiêm La mưu đoạt quyền hành muốn loại bỏ ảnh hưởng của nhóm thân Ðại Việt. Cảm thấy người Việt ít ỏi không thể chống lại nước Xiêm La kế cận, Ngọc Vạn dù được đặt làm hoàng thái hậu vẫn nhận ra mối nguy, tìm cách rời khỏi triều đình. Nàng cùng hai con trai lánh vào chùa sống ẩn dật.

Năm năm sau, triều đình Chân Lạp lại xẩy ra nhiều biến loạn đổ máu do các hoàng tử tranh ngôi báu. Cuối cùng, hoàng tử Rama Chan do có mẹ là người Lào, được người Lào hợp tác giúp đỡ đoạt ngai vàng. Tân Vương thân Lào tìm mọi cách loại trừ người Việt. Hoàng Thái Hậu Ngọc Vạn được gia nhân bảo vệ cùng hai con về vùng Ðồng Nai khẩn hoang lập ấp, vùng đất hoang dần trở thành trù phú, tấp nập con buôn người Việt, người Tàu, có cả người Tây Dương sang mua hồ tiêu và truyền đạo Gia Tô. Ngọc Vạn xây dựng chùa truyền bá đạo Phật. Chẳng bao lâu, bà trở thành nhân vật được trọng nể tại vùng Thủy Chân Lạp.

Tại kinh đô, vua Chân Lạp không ngừng củng cố quyền hành. Vua hà khắc độc đoán, sẵn sàng tàn sát bất chấp cả những người trong hoàng tộc. Một số hoàng thân tìm cách qua vùng Ðồng Nai liên kết chống lại nhà vua. Ðoán chắc Ðồng Nai sẽ bị tấn công, Ngọc Vạn bí mật liên lạc với Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (cháu nội chúa Sãi), cho chúa biết tình hình Chân Lạp rối ren, xin chúa khẩn cấp can thiệp bằng võ lực cứu nguy cho ba mẹ con và đám hoàng tộc cô thế đang bị đe dọa.

Nhận tin, xót tình máu mủ, chúa Hiền tức tốc sai Phó Tướng Nguyễn Phúc Yên đem ba ngàn quân tinh nhuệ tiến vào Ðồng Nai. Rama Chan đích thân điều binh chống cự bị quân Việt chận đánh tan tác. Quan quân mạnh ai nấy chạy, nhà vua chậm chân bị bắt sống tại trận. Chúa Hiền không muốn Chân Lạp xáo trộn, truyền tha nhà vua nhưng buộc phải triều cống. Hai con trai Ngọc Vạn là Batom và Ang Non cai quản toàn vùng Thủy Chân Lạp, tạo thuận tiện tối đa cho người Việt vào canh tác buôn bán. Khi vua Chân Lạp chết (năm 1660), chúa Hiền hậu thuẫn cho Batom lên ngôi vua, Ang Non thành Phó Vương. Ngọc Vạn được dân kính trọng như Phật sống. Có ai nghĩ bà đã đi những bước đầu mở đường cho người Việt tiến vào phương nam chiếm trọn vùng Thủy Chân Lạp trù phú, kéo dài lãnh thổ Ðại Việt đến tận vùng Cà Mau xa thẳm…

 ***

Tháng sáu năm Quý Hợi 1623, kinh đô Thăng Long lại xẩy ra biến loạn lớn. Xuân Quận Công Trịnh Xuân, con thứ Bình An Vương Trịnh Tùng, người từng gây bạo loạn mấy năm trước. Lợi dụng thân phụ ốm nặng, nổi loạn chiếm phủ chúa mưu đoạt binh quyền của anh là Thanh Quận Công Trịnh Tráng. Chúa Trịnh bỏ phủ chạy đến huyện Thanh Trì. Em ruột của chúa Quận Công Trịnh Ðỗ lập mưu viết thư gọi Xuân đến gặp phụ vương để nhận binh quyền. Trịnh Xuân trúng kế bị sát hại nhưng chúa cũng mệnh vong. Trịnh Tráng thay cha nắm binh quyền trong cơn biến loạn phải hộ tống vua và triều thần rút về Tây Ðô (Thanh Hóa). Lợi dụng tình hình rối ren, Mạc Kính Khoan ở Cao Bằng kéo quân về chiếm lại Hải Dương, hàng vạn dân hưởng ứng theo Mạc. Kính Khoan cậy đông quân tiến về huyện Gia Lâm mưu chiếm kinh đô. Tại Tây Ðô, Trịnh Tráng chấn chỉnh quân ngũ, chia hai mặt thủy bộ tiến ra bắc. Quân Mạc đại bại rút chạy. Vua và triều thần trở lại Thăng Long, phong Trịnh Tráng tước Nguyên súy Tổng quốc chính Thanh Ðô Vương, quyền tiết chế chư quân thủy bộ.

Tại Thuận Hóa, Chúa Sãi được tin chúa Trịnh đã mất, tình hình đất bắc rối ren bèn họp quần thần nghị bàn. Có kẻ tâu chúa nên thừa cơ gia đạo họ Trịnh tan tành, nghĩa vua tôi sụp đổ, không ai tin họ Trịnh thật tâm phù Lê, phía bắc quân Mạc tràn xuống, nên nhân cơ hội tiến quân đánh Nghệ An Thanh Hóa. Chúa suy nghĩ giây lâu:“Ý các người không phải không hợp lẽ. Nhưng ta với họ Trịnh vốn là thông gia, chẳng nên thừa cơ họ gặp gian nguy mà đánh còn chi nhân nghĩa”. Nói xong truyền Tham Tướng Nguyễn Triều Văn và vài bộ tướng lên đường ra bắc, mang lễ vật đến phúng cùng dọ thám tình hình. Triều Văn trở về tâu chúa họ Trịnh nay nắm toàn quyền, đám quan lại phù thịnh chẳng còn ai nghĩ đến vua Lê, thiếu niên mới mười bốn tuổi.

Chúa Trịnh sau khi ổn định triều chính, nghĩ ngay đến việc Thuận Quảng. Mấy năm qua Chúa Sãi tuyệt không nộp thuế, chúa muốn nhân cơ hội cho người vào đòi thuế, dọ thám tình hình phương nam, nếu cần có thể hưng binh vấn tội biểu dương sức mạnh củng cố uy quyền. Thị Lang Nguyễn Duy Thì nhận lệnh chúa lên đường.

Sứ bộ đến Chính Dinh, Chúa Sãi tiếp đón đúng lễ nghi nhưng tìm cách thoái thác không cho kiểm soát sổ sách thu chi. Chúa nói với sứ giả:“Mấy năm nay thuế má thất thu, lại mất mùa đói kém. Tôi gắng lắm cũng chỉ đủ tiền lo binh bị nói chi đến chuyện thuế má”. Thị Lang Duy Thì ngỏ ý muốn vào Quảng Nam. Chúa nói đường xá xa xôi cách trở, giặc cướp như ong nên chẳng dám chiều ý. Duy Thì hiểu ý Chúa Sãi kiếm cách ngăn trở, dẫn sứ bộ hồi triều làm tờ khải dâng Chúa Trịnh:“… Quận Công Nguyễn Phúc Nguyên trấn thủ Thuận Quảng thoái thác không chịu nộp thuế triều đình, coi khinh phép nước, chỉ lo tuyển tướng luyện quân, luyện tập voi ngựa, chế tạo khí giới… rõ có ý phản nghịch”.

Chúa Trịnh đọc tờ khải nổi giận truyền gọi đám cận thần luận bàn. Chúa nói:

-Phúc Nguyên được triều đình rộng lượng, tin giao cho trấn cõi ngoài làm phên giậu. Nay nó trở mặt khinh nhờn coi thường phép nước, ý ta muốn cất quân chinh phạt, bẻ gẫy âm mưu từ trứng nước, chư khanh nghĩ liệu có nên chăng?

Thị Lang Lê Bật Tứ vẻ tức giận:

-Khải chúa thượng, từ lâu thần vẫn tâu bày về cái họa phiên trấn. Ðất nước muốn thịnh phải thống nhất một nhà, chúa thượng lẽ nào để kẻ khác đến bên giường nằm ngáy? Các xứ Lạng Sơn Cao Bằng, Thuận Quảng bấy lâu ngang ngược do ta bỏ lâu không ngó ngàng. Nay chúa thượng là chúa tể thiên hạ, dưới tay tướng quân dũng mãnh có thể khiến núi lở sông cạn, nếu nương tay không động thủ là dưỡng hổ di họa, vậy nên quyết đoán, bảo vệ cơ nghiệp muôn năm của nước nhà.

Nhiều người đồng tình lý lẽ Bật Tứ. Ðô Ðốc Nguyễn Khải hăng hái tình nguyện làm tiên phong đạo quân phạt Thuận Quảng. Thiếu Bảo Nguyễn Danh Thế lại có ý khác:

-Thần nghĩ các quan hữu lý. Theo ý thần, ta nên dành sức thanh toán cái ung nhọt ngụy Mạc ở phía bắc trước rồi tính chuyện Thuận Quảng cũng chẳng muộn.

Sau khi nghị bàn gay go, chúa thuận theo ý Danh Thế, truyền chuẩn bị binh lương phạt Mạc.

Mùa hạ năm Ất Sửu 1625, chúa cử con trai thứ Quận Công Trịnh Kiều, Thái Bảo Nguyễn Danh Thế thống lĩnh năm ngàn quân tiến đánh Thái Nguyên Cao Bằng. Thủ lĩnh quân Mạc là Mạc Kính Cung thua trận bị bắt sống. Mạc Kính Khoan thấy thế nguy xin hàng phục. Chúa rộng lượng bằng lòng, phong Kính Khoan chức Thông Quốc Công. Từ đấy mặt bắc tạm ổn, chúa Trịnh quyết tâm giải quyết phương nam. Cấp Sự Trung Nguyễn Hữu Bản là người thông minh quyền biến nhận lệnh chúa mang sắc thư vua Lê vào Thuận Hóa.

Sứ giả đến Thuận Hóa được Chúa Sãi và các cận thần tiếp đón nồng hậu. Chúa đọc sắc thư, đoạn mở đầu viết:“Hoàng Thượng sắc dụ Thái Bảo Thụy Quận Công Nguyễn Phúc Nguyên biết:Mệnh lệnh triều đình, đạo làm tôi phải nên tuân thủ. Thuế má phủ huyện, tướng ngoài cõi không được tự chuyên…” Tiếp theo là những lời trách mắng Chúa Sãi chần chừ không chịu nộp thuế, sau cùng đặt điều kiện và đe dọa buộc chúa phải thân ra bắc, hoặc sai con đi thay về triều đình:“… Nhược bằng thoái thác không đến tức là phạm tội với triều đình”.

Chúa đọc sắc thư xong cười hỏi sứ giả:

-Ðây là thư của Thanh Ðô Vương gửi đòi thuế cùng đe dọa ta, sao lại gọi sắc thư của hoàng thượng?

Sứ giả từ tốn:

-Ấy là ý của ngài. Tôi nhận mệnh vua mang sắc thư đến đây, chỉ biết có thế.

Nghe sứ giả nói, chúa trao sắc thư cho Nguyễn Triều Văn, truyền đọc cho mọi người nghe.Chúa tiếp:

-Hoàng thượng là đấng minh quân nhân ái, độ lượng bao dung, xét việc xưa nay chẳng nỡ phụ ân con cháu bậc khai quốc công thần. Vả hoàng thượng dư biết đất ta giữ chỉ là trấn nhỏ, đất rộng người thưa, của cải bao lăm nên chẳng lưu tâm đến việc đòi hỏi sưu thuế. Chỉ có Thanh Ðô Vương hẹp hòi ích kỷ, tham lam vô độ chẳng kể nghĩa tình, cả gan giả mệnh vua đòi hỏi này nọ, dở giọng kẻ cả hòng đe dọa ta.

Tham Tướng Nguyễn Triều Văn tiếp lời:

-Thử hỏi sứ gỉa, cơ nghiệp nhà Lê kể đã tiêu vong, nếu không có đức Thánh Tổ (Nguyễn Kim) sao có ngày này? Thanh Ðô Vương biết điều thì con cháu Thánh Tổ phải được thừa hưởng công lao xứng đáng, có đâu chỉ trấn thủ Thuận Quảng.

Chúa nói thẳng với sứ giả:

-Ông cứ về nói thẳng với Thanh Ðô Vương, nếu còn nghĩ công lao họ Nguyễn, tình thông gia nên cắt thêm hai xứ Thanh Nghệ trao ta cai quản mới hợp lẽ.

Sứ giả không nao núng trả lời:

-Hoàng thượng phong thưởng công thần tất xét kỹ công lao, trao việc lớn căn cứ vào tài năng đức độ. Họ Trịnh trải ba đời tận tụy giúp vua dựng nghiệp chẳng kể gian nguy. Chúa Thái Vương (Trịnh Kiểm), Triết Vương (Trịnh Tùng) đến Thanh Ðô Vương bây giờ hàng trăm năm ra công mở nước, đánh đông dẹp bắc. Ðâu đâu ngóng cổ làm tôi, chốn chốn bó tay hàng phục. Uy vũ sấm ran chớp giật, người người đều tỏ, nào phải ngồi yên mà hưởng bổng lộc triều đình…

Nguyễn Phúc Khê nãy giờ yên lặng, nổi giận ngắt lời sứ giả:

-Dựng cờ đại nghĩa giúp nhà Lê phục nghiệp là do tiên tổ họ Nguyễn. Có Nguyễn mới có Trịnh, bằng không họ Trịnh một mình làm gì nên chuyện. Nay xã tắc ổn định, sơn hà một giải, kẻ có công sao bị lãng quên. Chẳng qua họ Trịnh kiêu ngạo bất chấp vua tôi, trên khinh thiên tử, dưới hiếp đáp quần thần. Họ Trịnh cậy anh hùng, chúng ta đây cũng hào kiệt, há chịu cúi đầu thần phục?

Nghe Phúc Khê nói hăng, chúa ôn tồn:

-Ông về triều thưa lại Thanh Ðô Vương: Ðại trượng phu trên đời chớ vì chuyện nhỏ mà quên nghĩa lớn. Ta vẫn mong hai họ tình nghĩa thông gia thân thiết, chớ kết thù địch mang tiếng với đời.

Hôm sau sứ giả hồi kinh. Chúa bàn với cận thần:

-Ta ra mặt chống đối, Trịnh Tráng không chịu nhịn ắt sẽ động binh chinh phạt. Các ông có kế sách đẩy lùi quân Trịnh?

Triều Văn nói:

-So lực lượng thì ta ít quân nhưng nhiều lợi thế. Quân ta thường xuyên luyện tập, chiến đấu tại đất nhà, địa thế vùng Bố Chính hung hiểm có thể lấy một chọi mười. Quân Trịnh phải hành quân xa. Xưa Tôn Tử thường nói: “Phép hành quân xa tốn ngàn cỗ xe, chở lương xa ngàn dặm cùng là vật liệu khí cụ mỗi ngày tốn phí hàng ngàn lạng vàng.” Họ Trịnh chưa ổn định xong đất bắc, của cải lương thực chưa dồi dào khó chịu đựng nổi cuộc chiến dài lâu. Theo ý thần, ta dụng kỳ binh mai phục đánh tiêu hao lâu ngày, địch nản lòng tất phải rút.

Con thứ của chúa, Trung Tín Hầu Nguyễn Phúc Trung lên tiếng:

-Quân Trịnh tiến vào nhất định sẽ đóng tại bờ bắc sông Nhật Lệ, vượt sông tiến theo đường bộ vào phía nam. Ta phải ngăn địch ngay tại đây bằng cách đóng cọc sắt ngầm dưới lòng sông, bố trí đại pháo ở những cao điểm.

Nguyễn Vệ, cháu của chúa nay được phong Vệ Quận Công đề nghị phải xúc tiến ngay kế hoạch phòng quân Trịnh tấn công bất ngờ. Chúa vui mừng nghe bề tôi luận bàn hợp lẽ. Nội nửa tuần trăng, Quận Công Nguyễn Phúc Khê đích thân ra vùng Bố Chính khai triển kế hoạch. Nguyễn Hữu Dật hăng hái xin chúa cho phép theo Phúc Khê ra vùng chiến trận quan sát địa hình. Chúa thuận.

Hữu Dật là con trưởng của Tham Tướng Nguyễn Triều Văn. Năm ấy Dật vừa tròn hai mươi nhưng sở học uyên bác, kinh sử làu thông, giỏi thi phú. Dật lại là tay vũ dũng hiếm có trên đời nên chúa quý mến như con, thường cùng Dật bàn luận chuyện đông tây kim cổ. Ngoài tài năng, Hữu Dật tính khí cang cường, nói năng ngay thẳng. Có lần chúa nói:“Ta có nhiều tướng dũng cảm, lo chi không đối địch được với họ Trịnh”. Dật tâu chúa:“Phép dụng binh cần tướng giỏi, chọn kẻ dũng cảm là cần nhưng chưa hẳn đủ. Vậy nên người làm tướng trước tiên thận trọng, chuẩn bị tính toán, dụng binh kỷ luật, pháp lệnh giản dị. Ra quân một lòng diệt địch, quả cảm xông pha,chết vinh hơn sống nhục. Thần thấy nay nhiều kẻ cầm binh là người thân cận (của chúa). Có người chẳng hiểu việc binh, coi thường quân kỷ, dung túng quân sĩ làm càn mất lòng dân, dù thắng đôi ba trận nhưng chỉ lẻ tẻ, sao có thể dùng họ dựng nghiệp lâu dài”.

Phúc Khê nghe Dật nói cho là tuổi trẻ ngạo mạn kiêu căng, ý không ưa. Chúa nghĩ khác, khen Dật trực ngôn.

Tại Thăng Long, chúa Trịnh nghe sứ giả tường trình sự việc Thuận Hóa. Chúa tức giận nói:“Tổ phụ ta ba đời chinh chiến nằm gai nếm mật, trời biển công lao. Họ Nguyễn khoanh tay làm chủ Thuận Quảng, hưởng bổng lộc, được phong đến quốc công còn muốn đòi hỏi gì nữa. Phúc Nguyên công cán bao lăm, ta rộng lượng cho hưởng lộc tổ phụ, đã không tận trung lại giở thói ngạo mạn , khinh thường phép nước”. Chúa quyết định động binh chinh phạt phương nam.

Tháng hai năm Ðinh Mão 1627, Ðô Ðốc Nguyễn Khải, Thiếu Bảo Nguyễn Danh Thế chỉ huy năm ngàn quân tiến vào Bố Chính, dừng quân ở hữu ngạn sông Nhật Lệ chờ đại quân tiếp ứng do chính vua Lê ngự giá thân chinh cùng chúa Trịnh.

Nhận mật tin quân Trịnh nam tiến, do có phòng bị trước, chúa Sãi cử Vệ Quận Công Nguyễn Vệ làm Tiết Chế, Nguyễn Hữu Dật Ðốc Chiến đem năm ngàn quân bộ tiến ra trận địa bờ nam sông Nhật Lệ. Thủy Binh do Nguyễn Phúc Trung chỉ huy tức tốc cho chiến thuyền rời bến. Quân Nguyễn biết rõ địa thế nên bố trí lực lượng nhanh chóng kín đáo.

Toán tiên phong Trịnh dùng bè vượt sông, định tốc chiến tốc thắng bị quân Nguyễn nã đại pháo thiệt hại nặng phải rút. Biết quân Nguyễn có phòng bị, Ðô Ðốc Nguyễn Khải lùi quân về phía sau tránh tầm pháo, dọ thám địch tình, nghĩ kế tấn công. Nguyễn Danh Thế bàn với Nguyễn Khải:

-Toán tiên phong của ta phát hiện địch cắm cọc sắt dưới lòng sông, bố trí đại pháo ở các cao điểm ngăn không cho ta vượt sông. Tôi đoán chắc địch sẽ điều quân từ thượng nguồn thừa lúc đêm tối tấn công cướp trại, ta nên tương kế tựu kế diệt địch.

Nguyễn Khải khen phải, bí mật điều quân núp trong rừng để doanh trại trống.

Quả nhiên một đêm, quân Nguyễn từ phía tây bắn tên lửa ào ạt tấn công bị quân Trịnh chận đánh tập hậu phải rút chạy, may nhờ toán tượng binh tiếp cứu nên chỉ thiệt hại nhẹ. Chiến trận từ đấy ở thế dằng co. Hữu Dật nóng lòng đẩy lui quân Trịnh nghĩ ra diệu kế. Dật ngầm cho quân len lỏi sang bắc Bố Chính loan tin các Quận Công Trịnh Gia Trịnh Sầm âm mưu nổi loạn tại các trấn Hải Dương, Sơn Tây. Tin đồn loan xa, chúa Trịnh trong lòng ngờ vực, lại thấy hành binh bốn tháng ròng chẳng thu thắng lợi, tướng sĩ nản lòng. Chúa quyết định rút quân về kinh. Quân Nguyễn kể như thắng trận đẩy lùi được quân Trịnh.

Tại hai phủ Quảng Ngãi và Qui Nhơn, Quận Công Trần Ðức Hòa nhận tin thắng trận, ra lệnh quân dân nhà nhà treo đèn kết hoa, nổ pháo tưng bừng vui như lễ hội. Ðức Hòa trấn thủ hai phủ đã nhiều năm, vốn là người thân cận của chúa, được chúa nhận làm nghĩa đệ từ khi chúa còn trấn thủ dinh Quảng Nam. Hòa xuất thân võ tướng từng lập nhiều công trận nhưng sính thi văn, thường cùng tao nhân mặc khách xướng họa. Vốn tính hào sảng nên quảng giao, mến chuộng nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ. Vài hôm sau, Hòa thu xếp công việc, lên đường về Chính Dinh dự lễ khao quân mừng chiến thắng.

Gặp lại người em nuôi, chúa tay bắt mặt mừng. Hòa chúc mừng chiến thắng, hỏi han sức khỏe người anh. Chúa hỏi tình hình hai phủ. Hòa đáp:

-Nhờ trời gió hòa mưa thuận, mùa màng tươi tốt, dân đủ cơm áo nên giặc cướp chỉ còn lẻ tẻ. Ấy cũng nhờ công đức vương huynh nên trăm họ an ổn, xứng là buổi âu ca thịnh trị.

Chúa nghe cả cười:

-Ta khen chú giỏi trị dân lại trọng nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ như Mạnh Thường Quân thuở trước. Nay ta đang ở thế đối đầu với họ Trịnh, sao tìm được bậc lương tướng, biết vận độ nhật nguyệt, tiên đoán họa phúc. Lại thông cả sự biến di của chim muông cây cỏ, nhận ra hiểm địa núi sông mà bày trận pháp. Ðược người như thế, ta sẵn lòng trao gươm báu, tặng ấn nguyên nhung khiển tướng điều binh…

-Ý huynh muốn được người thần cơ diệu kế như Lã Vọng Khổng Minh, trận mạc ngoài cõi đảm đương, trong trướng quyết định mưu mô quỷ thần kinh phục. Ðệ hằng tin trời chẳng phụ kẻ tâm thành. Huynh nhân nghĩa gồm đủ, hiệu lệnh nghiêm minh, chuộng tôi trung, khử kẻ nịnh. Quân ta, trên dưới tướng sĩ một lòng quyết giữ cõi, sức mạnh như núi, địch dù mạnh đến đâu cũng chẳng xô ngã nổi Thái Sơn.

-Chú nói cho ta vui. Bấy lâu ta vẫn phó thác việc nước cho Tường Quận Công (Nguyễn Phúc Khê) vì nghĩ mình tuổi đời đã trọng, chẳng mấy chốc đến tuổi thất thập. Nào ngờ trời chẳng cho yên, ngày đêm mang nặng nỗi lo, ăn chẳng ngon, ngủ không an giấc. Ở vào thế chẳng đặng ta phải chống Trịnh, nào ai muốn cảnh tang tóc đao binh?

-Huynh chí lý nhưng ta vì đại nghĩa phải xả thân, có đâu điềm nhiên thị tọa mặc cho kẻ gian hùng tác quái…

Ðêm khuya, tiếng trống canh ba chừng sắp điểm. Mảnh trăng hạ tuần vàng nhạt le lói trên đỉnh non mờ. Gió nhẹ vọng từ xa tiếng dế rền rĩ rên siết. Ðức Hòa đứng lên :

-Ðêm khuya, huynh đi nghỉ lấy sức…

Hòa chưa nói hết câu, rút tập sách mỏng trong tay áo trịnh trọng trao chúa:“Ðệ có viên gia sư soạn thuật quyển Ngọa Long Cương vãn, đệ đọc qua thấy ý vị cao thâm, xin tặng huynh xem từ điệu ngôn ngữ y bày tỏ.” Chúa nhận quyển, chậm rãi băng qua hoa viên về thư phòng ngay góc vườn, nơi chúa thường ngồi đọc sách, có khi nghỉ qua đêm.

Ðêm ấy Ðức Hòa trằn trọc lo lắng. Ý định của Hòa muốn tiến cử viên gia sư với chúa. Trống điểm canh năm, Hòa nhìn sang thư phòng vẫn thấy ánh đèn. Ðêm ấy chúa cũng không ngủ, chăm chú đọc Ngọa Long Cương vãn, nghiền ngẫm nghĩ suy chẳng thấy thấy mỏi mệt. Trời mờ sáng, thấy chúa ra khỏi thư phòng, Hòa cũng trở dậy ra thư hiên gọi hầu cận pha tuần trà sớm hầu chúa. Hòa chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trịnh trọng dâng chúa. Chúa nói:

-Ðêm qua ta không ngủ, mải miết đọc, suy ngẫm Ngọa Long Cương vãn, lòng thích thú quên mỏi mệt. Ta nghĩ kẻ soạn thuật tài cao học rộng, mộng kinh bang tế thế. Về binh pháp chẳng nhượng Khổng Minh nên tự ví mình như người ấy, lại đặt tên vãn là Ngọa Long Cương, nơi Khổng Minh ẩn cư. Viên gia sư Ðào Duy Từ là ai, cho ta nghe lai lịch.

Ðức Hòa nghe chúa nói mừng thầm thưa:

-Duy Từ năm nay tuổi ngoại ngũ tuần, vốn người huyện Ngọc Sơn xứ Thanh Hóa, tự ấu thơ miệt mài đèn sách. Năm vừa hai mươi về kinh ứng thí, chí mong dụng chốn quan trường lập thân thỏa chí với đời. Nào ngờ vì là con nhà ca xướng nên bị cấm thi. Bấy giờ thân phụ Từ là Ðào Tá Hán đang làm chức Linh quan (coi đội nữ nhạc) trong cung vua Lê. Bị cấm thi, cho là hoạn lộ bế tắc, Từ phẫn chí buồn bực, tìm vui trong cung đàn nhịp phách. Khi thân phụ mãn phần, vì giỏi nhạc nên được vua cử làm Linh quan thay chức cha…

Như chợt nhớ điều gì, chúa bỗng dưng ra dấu ngắt lời Ðức Hòa, thích thú nói:

-Ta nhớ ra rồi. Hồi Tiên Vương (chỉ Nguyễn Hoàng) vừa ở Thăng Long về, thỉnh thoảng ngài có nhắc đến người này, khen y là tay danh sĩ đất bắc, tiên đoán chuyện đời chẳng kém Trạng Trình. Có lần y khuyên Tiên Vương nên tìm cách trở lại Thuận Quảng, chia đôi giang sơn với họ Trịnh. Chuyện bấy nay kể đã khá lâu, nhưng sao y lại phiêu dạt về Qui Nhơn, rồi lý do nào khiến chú gặp y?

-Huynh chớ nôn nóng nghe đệ kể rõ ngọn ngành vì câu chuyện lý thú. Khoảng trên mười năm sau, một lần Duy Từ đi vào phương nam, ghé huyện Phong Lộc phủ Quảng Bình tìm thăm bạn cũ. Từ dừng chân ngắm núi Thần Ðinh, rặng núi hướng về phía tây hiểm trở cao ngất đụng mây, duy nhất có một ngọn lạc lõng hướng về phía nam, dân địa phương gọi là núi Bất Nghĩa. Lại nghe đồn những đêm rằm thường thấy phật hiện trên núi, hào quang tỏa sáng rực trời. Từ tò mò mạnh bước lên non. Ðến lưng chừng núi thấy ngôi chùa cổ đề Kim Phong Tự. Chùa nay hoang phế, khói lạnh hương tàn. Sau chùa có động lớn, bên trong đá xếp như bàn ghế, có tảng đá giống hình phật tham thiền, nhiều tảng hình thù kỳ dị. Từ đang mải mê say ngắm, bỗng giật mình nghe tiếng người gọi tên mình, giọng nói nhỏ nhưng thanh âm trong trẻo nghe rất rõ. Từ hướng về phía tả thấy ông lão khoác áo vàng ngồi trên tảng đá lớn, Từ nghĩ là phật vội sụp lạy chẳng dám ngước nhìn. Tiếng nói lại vang lên:“Ta chờ người nhận thần thư đã lâu. Hãy tới động có tiếng chiêng trống nhận báu vật”. Bấy giờ Từ mới dám ngẩng đầu thấy ông lão đã biến mất. Từ vui mừng bước ra khỏi động. Trời về chiều, nắng vàng nhẹ giăng. Từ đứng lặng nhìn quanh tìm động có tiếng chiêng trống như lời phật dạy. Núi rừng vẫn lặng lẽ u tịch vắng cả tiếng chim hót. Từ lần theo phía tả ngôi chùa, vui mừng nhận ra cửa động khuất sau mấy bụi cây thấp, băng băng bước tới mặc gai nhọn cào xước. Cửa động nhỏ chỉ vừa một người lọt qua, vào sâu bên trong động rộng dần, thạch nhũ ẩn hiện mang nhiều dáng lạ. Từ nghe những giọt thánh thót tựa tiếng chiêng trống. Ðây đúng là nơi có thần thư. Từ mải miết kiếm tìm khắp động tuyệt không thấy gì . Bóng tối phủ, đêm mênh mông. Từ mỏi mệt ngồi ăn cơm nắm, định tâm ngủ đêm trong động chớ mai sáng tiếp tục. Ðêm ấy Từ thao thức, đêm dài lê thê. Từ vui khi nhận ra những vệt sáng mờ, trời rạng sáng. Từ nhỏm dậy lần mò quanh quẩn. Cả ngày hôm ấy, qua đêm thứ hai, sang ngày thứ ba vẫn không tìm ra thần thư. Từ nản chí bước ra khỏi động thờ thẫn ngó đất trời. Bỗng nhớ chuyện xưa Trương Lương ba lần nhặt dép, hai lần bị mắng, mười ngày chầu chực mới được Hoàng Thạch Công trao Thái Công Binh Pháp. Người xưa kiên nhẫn, ta há chịu nhường? Từ hăm hở trở vào động. Ngày qua đêm về, Từ mỏi mệt thiu thiu tìm tảng đá dựa lưng. Khoảng nửa đêm, có tiếng tiếng sấm động ầm ầm, một vệt sáng xanh rọi vào tảng đá tựa hình sư tử. Từ choàng tỉnh bật dậy lần đến tảng đá, thấy ngay tập sách dầy mạ vàng khắc bốn chữ Hoàng Phủ Binh Pháp. Từ mừng rỡ ôm sách vào ngực, quỳ lạy tạ, lần trong bóng tối ra cửa động, dõi theo ánh trăng mờ xuống núi. Duy Từ mười năm đóng cửa miệt mài nghiên cứu binh thư , thiên văn địa lý… chờ thời cơ đem tài kinh luân thao lược phù tá minh chúa. Năm Ất Sửu1625, Từ luận họ Trịnh phản bội chính nghĩa phù Lê, nhà Lê thực chất chỉ là xác không hồn. Từ thấu rõ mối hiềm khích giữa hai họ Trịnh Nguyễn, lại nghe huynh nhân ái, chiêu hiền đãi sĩ nên quyết tâm vào phương nam phù minh chúa tạo thế lực mới chống Trịnh. Y đi khắp Thuận Quảng xem phong thủy, làm người hát rong kể chuyện độ thân. Năm sau Từ đến Qui Nhơn, theo lời kể của Từ, y biết tiếng đệ hào sảng, trọng người tài năng, lại là người thân thiết với huynh nên quyết định dừng chân, ẩn thân trong nhà một tay hào phú. Ít lâu sau, người này phát giác tài văn chương thi phú của Từ. Viên hào phú nghe đệ đang cần gia sư bèn giới thiệu Từ . Gặp y thấy người phong thái nho nhã, đệ nhận ngay.

-Ra y cố tình gặp chú để chú tiến cử, quả là tay mưu trí tinh đời. Nhưng sao cả năm nay chú mới nói chuyện Duy Từ với ta?

-Ông cha thường dậy:Cư cửu kiến nhân tâm. Ở lâu mới biết được người. Ðệ phải tìm hiểu y hàng năm, biết chắc y có thực tài, không phải phường khoa trương khoác lác mới dám tiến cử lên huynh. Ðệ biết y đang soạn bộ binh thư rất ư huyền diệu, có đủ hỏa công thủy chiến, xà trận điểu trận, mưu mô tướng lược…

Chúa mừng khôn xiết. Ví Duy Từ như Khổng Minh Lã Vọng thuở xưa, truyền Ðức Hòa trở lại Qui Nhơn dẫn Duy Từ đến bệ kiến. Như chia xẻ niềm vui, hôm sau chúa gặp Hữu Dật, kể Dật nghe chuyện Ðào Duy Từ, lại đưa Ngọa Long Cương vãn . Chúa bảo:“Hãy đọc kỹ rồi luận ta nghe tài văn chí khí người soạn thuật.” Dật bái tạ nhận sách.

Vài hôm sau chúa hỏi Dật. Dật thưa:

-Tâu chúa thượng, người soạn thuật nét bút tao nhã trang nghiêm, ý văn tế nhị sâu sắc nhưng về thực tài thần chẳng dám lạm bàn.

-Ngươi nói phải. Dẫu sao ta không thể bỏ qua không dụng người này. Ta biết gỗ quý củi mục, tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

Chúa biết tính Dật bộc trực, chẳng tin loại xướng ca.

Vài ngày sau, Quận Công Trần Ðức Hòa trở về Qui Nhơn. Ðức Hòa gặp Ðào Duy Từ kể mọi sự. Từ cảm kích bái tạ người tạo cho mình cơ hội thi thố tài năng phù vua giúp nước, phát huy tinh túy của tướng môn. Công việc phủ đường bận rộn mãi hơn tháng sau, Ðức Hòa mới thu xếp ổn thỏa dẫn Duy Từ ra Thuận Hóa chuẩn bị lễ dẫn kiến.

Ðến Chính Dinh gặp lúc chúa đi lễ chùa Thiên Mụ, thường vài ngày sau mới trở về. Ðức Hòa thu xếp cho Duy Từ ở công quán, còn mình dành thì giờ đi đó đây thăm bằng hữu. Sáng hôm sau, khi Duy Từ đang ngồi uống trà bỗng thấy thư sinh tuổi trạc hai mươi đến xin gặp. Thư sinh cung kính thi lễ:

-Danh tiếng tiên sinh loan truyền khắp chốn. Tiểu sinh may mắn được đọc Ngọa Long Cương vãn, lòng cảm phục bội phần. Cổ nhân dậy một trong những niềm vui lớn trên đời là được gặp người tài năng quán thế nên đường đột tới đây, xin tiên sinh khoan dung chớ trách người trẻ vô lễ.

Thấy thư sinh nói năng lễ độ, Từ vui vẻ ra dấu mời ngồi:

-Ta dân dã há dám coi trời bằng vung, cho mình tài năng quán thế. Một đời cầu mong tu thân dưỡng đức, đọc sách thánh hiển mở rộng học nghiệp, chẳng phụ công phụ mẫu sinh thành dưỡng dục, chẳng thẹn với đất trời.

Thư sinh nghe Từ nói ra vẻ suy nghĩ, lại hỏi:

-Tiểu sinh nghe tiên sinh am tường âm luật tất yêu tiếng ca, cung đàn nhịp phách. Hậu sinh ngu muội chẳng hiểu nổi cái tinh túy của nhạc âm?

Biết thư sinh ngụ ý chê mình con nhà xướng ca, Từ nghiêm nghị:

-Nhạc âm sinh tự tâm nên gây xúc động. Tiếng sáo Trương Lương làm quân Sở tan rã, Sở Bá Vương phải hủy mình. Tiếng trống thúc quân làm lòng người phấn chấn quyết chiến chẳng tiếc thân. Ngay nghi lễ xưa nay tiếng nhạc nào vắng? Kẻ rành nghe nhạc biết được đạo đức, sự tồn vong thịnh suy của xã hội. Ðất mầu nuôi cây tốt, nước đục tôm cá cũng gầy còm. Ðời thịnh nhạc hùng dũng ý nghĩa nuôi dưỡng chí khí con người. Ðời suy nhạc dâm, ẻo lả u sầu mà người ưa thích tất đức suy nước loạn. Thầy Tuân Tử dậy: Quân tử để tâm vào đạo mà sửa đức, chỉnh đức để làm nhạc, hòa nhạc để thành thuận, để chỉnh đốn mọi việc. Nên kẻ coi khinh người soạn nhạc, kẻ xướng ca chẳng qua vì họ nông cạn nghĩ suy, mắt mù tai điếc, trí óc tật nguyền.

Thư sinh lặng yên giây lâu, tiếp:

-Tiên sinh chí như Khổng Minh, ngồi trong lều cỏ định việc thiên hạ. Vậy cái thế thời xưa nay có khác?

-Tào Tháo mượn uy vua sai khiến chư hầu khác nào họ Trịnh bây giờ? Họ Nguyễn ở phương nam không khuất phục. Sãi Vương ngang nhiên bãi bỏ các quan chức họ Trịnh cắt đặt, chấp nhận thế đối nghịch, muốn tạo cõi riêng thoát khỏi quyền lực phương bắc. Thế phân tranh đã rõ.

-Phương nam nhiều thành lũy kiên cố, kho tàng xúc tích có đủ sức thắng Trịnh chăng?

-Phương nam thưa người rộng đất, xây nhiều thành lũy tất dân lao nhọc nhiều nên sức kiệt, kho tàng tích lũy tất sưu cao thuế nặng khiến dân oán. Ðó là mầm bại vong, lấy chi thủ thắng.

-Vậy theo cao kiến tiên sinh, bậc minh chúa làm sao định được thiên hạ?

-Cổ nhân dậy:Người được lòng dân sẽ được thiên hạ. Minh chúa khoan dung độ lượng, chăm lo cho dân, giảm nhẹ sưu thuế, thương cái mệnh của dân, tiếc cái chết của dân tất dân cũng xả thân với vua với nước. Minh chúa chiêu hiền đãi sĩ tất hào kiệt tụ về như cá tụ chỗ nước sâu.

Thư sinh nghe Duy Từ luận bàn ra vẻ đắc ý. Lại hỏi:

-Khổng Minh ra giúp Lưu Huyền Ðức dựng lại nghiệp Hán lúc tuổi ngoài hai mươi. Nay tiên sinh quá nửa đời người mới ra giúp nước e quá muộn màng?

Duy Từ cười:

-Quân tử dù có tài kinh bang tế thế chưa gặp thời nên ẩn thân giữ chí khí. Nếu minh chúa cần đô vật sức mạnh đánh hổ báo thì ta xin thua, nhưng cần người bàn việc nước thì ta quá trẻ. Ngươi đọc sử sách há chẳng biết Bách Lý Hề xuất thân nông dân nghèo khổ, tuổi bảy mươi mới ra làm tướng quốc nước Tần. Lã Vọng tuổi tám mươi còn ngồi câu bên sông Vị độ nhật vẫn được Văn Vương trọng tài bái làm tướng soái. Ấy là những bậc tài danh, trên thông thiên văn, dưới đạt địa lý, hiểu thấu lẽ xuất xử ở đời. Khi ra giúp nước đem hết năng lực tế thế an dân, ngoài trận tiền ra kỳ vào chính. Thế mà vẫn khiêm cung lễ độ, trên kính dưới nhường nên ngàn đời sử sách lưu danh. Còn những kẻ tóc xanh mà chỉ biết lấy cái học tầm chương trích cú câu danh lợi, làm thi làm phú cười gió cợt trăng lòe thiên hạ đã dám tự nhân nho gia, coi thường hào kiệt, khinh chê lễ nghĩa thật chỉ là lũ tiểu nhân sâu mọt phá nhà hại nước.

Thư sinh nghe Duy Từ nói có vẻ thẹn, thi lễ lui gót.

Tối hôm sau chúa vừa hồi dinh, Hữu Dật đã chờ sẵn trình việc:

-Cống Quận Công (Ðức Hòa) về dinh chờ chúa thượng làm lễ dẫn kiến Ðào tiên sinh. Tiên sinh hiện ở công quán.

-Ngươi đã gặp Duy Từ?

-Ngay hôm Ðào tiên sinh mới đến, thần giả làm thư sinh đến thử tài biện luận của người.

-Ngươi thấy người ấy ra sao?

-Ðào tiên sinh biện luận thâm sâu, sở học trên đời khó ai bì kịp.

Nghe Hữu Dật nói chúa mừng lắm, chúa biết Hữu Dật tuổi trẻ kiêu ngạo ít khi phục tài ai. Chúa cho người gọi Trần Ðức Hòa, truyền dẫn ngay Duy Từợ vào dinh. Hòa can:

-Ðã tối trời, huynh đường xa mỏi mệt nên ngơi nghỉ chờ sáng mai. Xưa Lưu Huyền Ðức tam cố thảo lư cầu Khổng Minh. Nay huynh cũng nên lấy lễ mà tiếp Duy Từ khiến y cảm phục bậc minh chúa chiêu hiền đãi sĩ.

Chúa cho là phải. Hẹn đầu giờ thìn sáng mai Ðức Hòa dẫn Duy Từ vào.

Sáng sớm hôm sau, Duy Từ vừa thức giấc đã thấy Ðức Hòa và viên nội giám mang áo mão văn quan chúa ban đến cho Từ. Duy Từ cảm kích theo Ðức Hòa vào dinh. Tại công đường, Chúa Sãi áo mão chỉnh tề đã ngồi đợi sẵn. Thấy Duy Từ dung mạo uy nghi, nói năng khiêm tốn đáng mặt danh tài, chúa nói:

-Ta mộ danh người nay mới cơ may gặp gỡ, tuy muộn nhưng chưa đến nỗi như Lã Vọng thuở xưa.

Duy Từ kính cẩn:

-Tiện dân chỉ là kẻ hủ nho nơi chốn quê mùa, nào ngờ được chúa thượng thương tưởng ban mũ áo mà lòng áy náy cảm kích muôn vàn.

-Chúa tôi gặp gỡ là cơ duyên ngàn năm, như Cao Tổ gặp Tử Phòng, như Huyền Ðức gặp Khổng Minh… Ðế vương gặp hiền tài là nên đại nghiệp.

-Tiện dân chẳng dám ví mình với tiền nhân, chỉ mong tận dụng năng lực phù tá chúa thượng đền đáp tấm lòng minh chúa. Những mong được như Khổng Minh, một lòng phù chúa”cúc cung tận tụy, tử nhi hậu hĩ”, hết lòng tận tụy, đến chết mới thôi.

Chúa truyền bày tiệc khoản đãi Duy Từ và các cận thần như Quận Công Nguyễn Phúc Khê, Tham Tướng Nguyễn Triều Văn, Quận Công Nguyễn Vệ… Thấy chúa phong thái đĩnh đạc, thân mật gần gũi quần thần. Từ vui mừng không cảm thấy xa lạ, cùng mọi người trò chuyện thân mật tự nhiên. Ðang chờ nhập tiệc bỗng thấy văn quan trẻ tuổi từ ngoài bước vào đến trước Duy Từ thi lễ:

“Tiểu sinh là Hữu Dật kính cẩn ra mắt tiên sinh. Xin ngài miễn thứ tội vô lễ.” Duy Từ nhận ra ngay Hữu Dật chính là thư sinh gặp mình ở công quán, hiểu chuyện Hữu Dật muốn gặp mình thử tài biện bác nên vui vẻ cười xòa. Trong bữa tiệc, mọi người bàn về chuyện chiêu hiền đãi sĩ. Ðược Phúc Khê hỏi ý, Duy Từ đáp:“Trên đời biết bao người cảm thán sinh bất phùng thời, bao người đau khổ vì chẳng có dịp thi thố tài năng. Vì chẳng có thời cơ nên bao anh tài đắm chìm như hạt cát trong dòng lịch sử, chỉ đôi người cơ may trở thành những ngôi sao rực rỡ ghi khắc sử xanh. Nay ta mở rộng vòng tay mời đón nhân tài, chính là tạo thời cơ cho họ vậy.” Phúc Khê cho chí lý.

Tàn tiệc, chúa dành cho Duy Từ căn nhà khang trang ngay trong dinh, đủ kẻ hầu hạ. Sau vài ngày bàn bạc với Phúc Khê, chúa cho gọi Duy Từ:

-Tổ chức ở dinh ta đặt ba ty lo mọi việc chính trị: Xá sai ty giữ việc từ tụng văn án, Tướng thần lại ty lo lương thực thuế khóa, Lệnh sử ty giữ việc tế tự, lương tiền… Từ trước đến giờ ta vẫn giao Tường Quận Công (Phúc Khê) giữ Lệnh sở ty. Nay ta giao cho người thay quận công, làm Nha Úy nội tán giữ ty ấy.

Duy Từ bái tạ, đội ơn chúa phong tước cao, giao trọng trách.

Từ ngày nhậm chức, Từ mải miết suy nghĩ đêm ngày chỉnh đốn công việc, mọi kế hoạch trình chúa đều thuận, chúa tôi tâm đắc. Chúa thường bảo với quần thần:“Ta có quan Nội Tán khác nào Huyền Ðức có Khổng Minh.”

Một lần chúa hỏi:

-Sức ta nay so với Trịnh thế nào?

Duy Từ trả lời thẳng thắn:

-Nói cho công bình ta yếu sức hơn Trịnh bởi nội lực chưa được củng cố, giao tranh lâu ngày suy yếu tất bại vong. Thần sẽ cố trong ba năm chỉnh đốn các mặt. Nếu ta làm hoàn hảo, không những có thể chống mà còn đủ lực tấn công Trịnh. Thần nghĩ tấn công là cách phòng thủ hay nhất.

-Xưa Quản Trọng một tay vực nước Tề từ yếu thành mạnh. Ngô Khởi giúp Lỗ thì Lỗ mạnh, giúp Ngụy thì Ngụy thắng, giúp Sở thì Sở phú cường… Nay ta có nên theo cái phép người xưa mà dựng nước?

-Với người xưa, ta không nhất thiết bắt chước cái phép, chỉ nên thấu hiểu cái tinh thần. Mục đích của thần lấy sức thiên hạ sinh của cải, lấy của thiên hạ dùng việc thiên hạ. Thần đã có chủ trương cải cách thuế khóa, chiêu hiền, tuyển binh, học hành khoa cử…

-Dân ta bấy lâu thiếu chữ nghĩa do sự học chưa mở mang. Vậy giáo dục theo ngươi phải cải cách thế nào?

-Thần nghĩ lối học từ chương, chú sớ của Hán nho, Ðường nho nên bỏ. Học là cầu ở cái tinh thông nghĩa lý, chớ không cầu thuộc sách cho nhiều.

Chúa bóp trán suy tư:

-Mọi việc nhờ ngươi toan liệu. Dục tốc bất đạt, cứ tuần tự nhi tiến, chậm mà chắc vẫn hơn.

Ðược chúa tin yêu, Duy Từ miệt mài công việc. Nhiều đêm ngủ lại công đường không thiết chi trở về dinh ngơi nghỉ. Chúa biết chuyện càng thêm cảm mến.

Mùa hạ năm Kỷ Tị 1629 trời nóng bức lạ thường. Khoảng đầu tháng sáu, nhiều toán người từ miền bắc bỏ quê hương phiêu bạt vào phương nam tìm đất sống. Ai nấy gầy guộc bước thất thểu do đói khát cơ khổ lâu ngày. Thấy cảnh chạnh lòng, Duy Từ truyền quân thu xếp quán dịch cho người hoạn nạn tạm trú, gọi một người tuổi trung niên vào công đường hỏi han. Người ấy kể:“Bẩm quan, hai trấn Thanh Nghệ gặp hạn lớn, nắng cháy thiêu lúa má, cây cối héo khô, lá hoa ủ rũ. Nhiều vùng hết thóc, dân ăn cả củ mài củ gấu, đến như cóc nhái rắn rết, cào cào châu chấu… cũng bị người ăn cạn kiệt, chó đẻ ra chẳng kịp mở mắt. Người người lũ lượt ra đi, kẻ ra bắc ăn mày đầu đường xó chợ những nơi thị tứ, người vào nam lê tấm thân tàn tạ còm cõi như những bóng ma thất thểu đi vật vờ trong cõi âm. Trên đường đi, tôi gặp cơ man xác chết, người già con trẻ, đàn ông đàn bà. Thôi thì đủ cách chết, chết ngồi chết nằm, chết co chết quắp, chồng lên nhau mà chết… Chúng tôi may còn sống là nhờ vào đến khu vực Bố Chính được người thương xót, rủ lòng cho miếng cơm cặn canh thừa…”

Duy Từ nghe xong suy nghĩ, rạng ngày tâu chúa lập kế hoạch đón định cư người hoạn nạn. Chúa buồn rầu:

-Nhìn thấy bao cảnh khổ trên đời, từ chiến chinh lửa máu, đến đói khổ lầm than mà lòng thêm xót xa. Ngẫm lời Phật dạy cõi thế trầm luân sinh lão bệnh tử, nợ phù sinh lắm nỗi mấy ai thoát bến mê, cứ mải miết chìm đắm trong ưu tư phiền não bộn bề… Ta trót sinh ra, phải lăn mình vào chốn tranh đua, những mong tìm chỗ chân như để lòng giác ngộ…

Thấy chúa ưu phiền, Duy Từ chậm rãi:

-Thần kiến thức nông cạn xin góp vài câu thô thiển, chúa thượng lượng xét bao dung. Thiển nghĩ chúa thượng xuất thân thế gia vọng tộc, nhận mệnh trời cai quản một giang sơn, uy đức bao trùm trăm họ yên vui no ấm. Quốc gia hưng đạo ắt thịnh, có minh quân ắt có chân đạo sĩ. Tu tại chùa là nơi u tĩnh, dễ xa lánh những mê đắm thế gian. Nay chúa thượng ở ngay chốn đô hội mà giác ngộ được người, được mình ấy mới thật sự đạt đến cái chân đạo lý…

Chúa nghe cúi đầu suy nghĩ khẽ thở dài. Duy Từ lảng sang chuyện khác:

-Nay đàng ngoài mất mùa đói kém, thần đoan chắc Trịnh Tráng sẽ cho người vào thúc dục thuế khóa, đòi nộp thóc lúa cứu nguy, vừa dò ý định của ta, vừa dọ thám tình hình thuận lợi sẽ động binh chinh phạt. Xin chúa thượng tiên liệu kế sách đối phó.

Chúa cho là phải, hứa sẽ hội ý bàn bạc cùng các cận thần.

***

Tại Thăng Long mùa thu năm ấy (1629), Thanh Ðô Vương Trịnh Tráng gặp gỡ cận thần bàn tình hình Thuận Quảng. Chúa nói:

-Mấy năm nay Nguyễn Phúc Nguyên tự cao tự đại, coi thường phép vua quyết không chịu nộp thuế. Ta đã động binh nhưng hắn ngang nhiên chống lại, tội phản nghịch rõ ràng, nếu không hưng binh trừng phạt còn chi uy tín triều đình.

Quần thần hăng hái luận bàn, đa số chủ hòa chưa muốn động binh. Chúa nghe xong kết luận:

-Xét lời bàn các khanh có phần hợp lý. Nay phía bắc bọn giặc cỏ ngụy Mạc vẫn chưa yên, thừa cơ quan quân rút về lại nổi lên quấy phá, dù chúng chưa làm nên chuyện nhưng cũng tạo cho ta nỗi lo. Hơn nữa Thanh Nghê hạn hán mất mùa, lê dân khốn khó, nếu động binh ngay có nhiều bất lợi. Chi bằng tạm quên chuyện cũ giả cách thuận hảo, cho người đệ sắc vào Thuận Quảng phong Phúc Nguyên tước quốc công, truyền nộp thóc lúa, buộc y thân hành về kinh sư điều quân đánh Cao Bằng. Nếu y ra đây khác nào cọp lìa rừng. Bằng muốn kháng cự ta sẵn sàng chinh phạt. Ðó là diệu kế, binh xuất hữu danh.

Chúa cho thi hành kế sách, sai Thượng Thư Nguyễn Khắc Minh viết đạo sắc phong, đích thân Khắc Minh lên đường vào nam gặp Chúa Sãi.

Tin sứ Trịnh vào nam không làm Chúa Sãi ngạc nhiên. Chúa nói với Duy Từ:“Quan Nội Tán liệu việc như thần, lòng ta xiết bao cảm kích”. Lần đầu chúa thân mật gọi Từ bằng chức vị, Từ hiểu hơn ai hết ưu ái của chúa dành cho. Chúa tiếp:“Ta đã có chủ trương, mọi việc cứ tuần tự nhi tiến”.

Sứ bộ đến vào buổi trưa, Duy Từ đích thân dẫn các quan chức đến chào mừng. Từ nói với sứ giả (Thượng Thư Nguyễn Khắc Minh):

-Nguyễn tướng công nhọc mệt trong người chẳng được trọn lễ. Cử tôi và bá quan đón tiếp sứ bộ, xin ngài niệm tình chớ chấp nê.

Khắc Minh lễ độ:

-Tôi tuy sứ của triều đình, nhưng kẻ ở phương xa vẫn là khách. Nay được quan Nội Tán và quý ngài tiếp đón niềm nở xiết bao vinh hạnh, nào có điều chi dám chấp nhất phiền hà.

Duy Từ truyền bày tiệc khoản đãi sứ bộ đến khuya mới từ tạ, hẹn sáng mai sẽ mời sứ bộ đến diễn vũ trường xem diễn binh, thật sự ý muốn phô trương sức mạnh quân lực Thuận Quảng.

Rạng sáng, Duy Từ cử Hữu Dật đến quán dịch mời sứ bộ lên đường xem diễn binh. Khắc Minh và sứ bộ đến khán đài phía cánh tả, đi giữa hai hàng binh gươm giáo tuốt trần, khí thế bừng bừng như sắp lâm chiến.

Diễn vũ trường là khu vực rộng lớn, xa xa những ngọn đồi thấp, dưới là khu rừng thưa có con sông nhỏ uốn khúc bao quanh. Khắc Minh nhìn lên tướng đài thấy Duy Từ mặc áo dài xanh thêu chữ thọ, đầu đội khăn chữ nhân. Từ ngồi trên ghế nệm tay phe phẩy quạt lông, phong thái nho phong đĩnh đạc chẳng khác quân sư Khổng Minh thuở trước. Hai bên có hai võ tướng trẻ áo giáp trắng đeo trường kiếm trông uy nghi lẫm liệt. Khắc Minh hỏi Hữu Dật về hai viên tướng trẻ. Dật thưa:

-Người bên trái quan Nội Tán là Nguyễn Ðình Hùng, tay tướng trẻ võ nghệ tuyệt luân, hung thần tiễu trừ giặc cướp vùng tây nguyên. Bên phải là Nguyễn Phúc Vệ cũng là trang danh tướng.

Khắc Minh lặng yên, dư biết Vệ chính là người chỉ huy đánh bại quân Trịnh mấy năm trước tại cửa sông Nhật Lệ.

Tiếng loa vang báo giờ diễn binh đã điểm. Tiếng chiêng trống liên hồi phá tan không gian tĩnh lặng, tiếng trống lúc dồn lúc khoan trầm bổng thôi thúc. Duy Từ đứng dậy bước tới trước tướng đài. Lá cờ xanh từ tay Từ vừa phất, tiếng pháo lệnh vang rền như sấm. Từ phía đông, đoàn chiến mã mang trên lưng những kỵ sĩ áo xanh vun vút lao vào trận địa mịt mù bụi khói. Khoảnh khắc, diễn vũ trường tràn ngập mầu xanh, đoàn chiến mã tiến thối nhịp nhàng uốn lượn như rắn. Khắc Minh hiểu ngay Duy Từ lập trận trường xà nhưng thế trận biến hóa kỳ ảo đến chóng mặt. Trên tướng đài Duy Từ phất cờ đỏ, tiếng trống trận đổi nhịp chậm nhưng vang như sấm rền. Từ những ngọn đồi, đàn voi trận do các quản tượng áo đỏ ào ào lao vào trận địa như muốn xé nát quân ngũ, phá tan thế trận của những kỵ mã áo xanh. Diễn vũ trường trở thành bãi chiến, hai mầu xanh đỏ như trộn vào nhau, tiếng vũ khí va chạm, tiếng la thét vang trời. Toán tượng binh bị vây chặt trong lưới nhện của trận không cách gì phá nổi hoặc rút khỏi trận thế. Thượng Thư Khắc Minh ngây người theo dõi, thầm cảm phục tài điều binh khiển tướng xuất quỷ nhập thần của Ðào Duy Từ. Trên tướng đài Duy Từ hạ cờ xanh, thế trận mở rộng, đoàn kỵ mã áo xanh tỏa ra tám hướng, mở vòng vây cho toán tượng binh rút khỏi trận thế, biến mất sau rừng cây phía đông…

Ðêm hôm ấy, Khắc Minh trằn trọc. Sứ giả chúa Trịnh kinh ngạc trước sức lớn mạnh của quân lực Nguyễn, cộng với tài năng xuất chúng của Duy Từ. Với sức mạnh ấy, quân Trịnh chắc chắn sẽ gặp địch thủ vô cùng nguy hiểm hơn đám tàn quân nhà Mạc ở biên thùy phía bắc.

Sáng hôm sau, sứ bộ vào đại điện gặp Chúa Sãi. Vừa bước vào cửa, Khắc Minh thấy hai hàng bá quan văn võ sắc phục tề chỉnh, Chúa Sãi đường bệ uy nghi ngồi trên ngai cao. Khắc Minh bưng sắc vàng đệ lên, chúa bước xuống tiếp sắc. Vua Lê tấn phong Chúa Sãi làm Tiết Chế Thuận Quảng, Thái Phó Quốc Công. Truyền mang nạp lễ gồm voi và thuyền triều cống Minh Triều, ra Ðông Ðô triều yết nhà vua nhận lệnh điều binh đánh ngụy Mạc ở Cao Bằng.

Xong chiếu chỉ, chúa và bá quan quay về phương bắc vái tạ hồng ân hoàng thượng.

Sau nghi lễ, chúa bày tiệc khoản đãi sứ bộ. Chúa nói với Khắc Minh:

-Ông phụng mệnh triều đình, chẳng ngại đường xa lao nhọc mang đến tin vui, lòng này cảm kích. Tôi sẽ dâng biểu văn lên hoàng thượng, đa tạ tấm lòng minh quân thương tưởng công thần, ban thêm phẩm tước.

-Tôi vào đây là vâng mệnh vua, phận thần tử tuân phục đấng chí tôn chẳng từ nan bất cứ điều gì, dù phải vào chốn hiểm nguy dầu sôi lửa bỏng.

Duy Từ ngồi gần nghe Khắc Minh nói, hiểu thâm ý Khắc Minh ngầm trách Chúa Sãi bấy lâu không vâng phục mệnh lệnh triều đình. Chúa bình thản tiếp:

-Gia tộc tôi ba đời thờ vua, dựng cờ đại nghĩa nên trước sau như nhất, một dạ tôi trung, những mong kề cận hoàng thượng sớm tối hộ vệ. Ngặt nỗi nay mang trọng trách trấn giữ biên trấn, tình thế khẩn trương một khắc chẳng dám rời. Nhưng nay mọi việc tạm ổn, thế nào rồi cũng tạo dịp trở ra Ðông Ðô.

Khắc Minh ra vẻ vui, nói:

-Tôi vốn thân cận với Thanh Vương (chúa Trịnh), thường nghe người tâm sự:“Ta với Nguyễn Quận Công vốn chỗ thân thuộc. Hai họ Trịnh Nguyễn mấy đời gắn bó ra sức phù Lê, giữ yên nghiệp đế. Dù có lúc hiểu lầm nhau nhưng việc xảy ra chẳng có chi đáng tiếc. Nay anh em xa cách lâu năm, những mong có dịp tương ngộ”.

Chúa cả cười:

-Nào chỉ có Thanh Vương mới nghĩ thế, lòng ta có khác chi. Ông khải với Thanh Vương, Phúc Nguyên này mong tái ngộ ngài, cùng điều binh đánh Mạc, chỉ qua hồi trống đủ phá tan giặc rạng danh hào kiệt cõi nam.

Vài ngày sau, chúa tặng sứ bộ nhiều phẩm vật. Ðích thân quan Nội Tán tiễn sứ hồi kinh. Chúa Sãi và Duy Từ tiếp tục đàm luận. Chúa nói:

-Ta đã qua bước đầu tiếp sứ giả, cho ta nghe kế trả sắc phong. Ta xưng hùng một cõi, làm chúa một phương há cần họ Trịnh phong tước?

-Việc trả sắc thần đã liệu xong, nhưng trước khi trả sắc, tức công khai khiêu khích miệt thị họ Trịnh, ta phải có kế phòng thủ vẹn toàn vì Trịnh chắc chắn động binh rửa nhục. Thần nhiều phen quan sát kỹ đất Quảng Bình, nghĩ suy cặn kẽ lập kế hoạch. Ta nên dựa thế hiểm, đắp chiến lũy phòng thủ chận các mũi tấn công của Trịnh. Thành lũy như phên giậu của đất nước, vừa bảo vệ biên trấn, vừa che chở cho dân quân. Chỉ một ngàn quân đầy đủ lương thực dự trữ, trang bị thêm hàng trăm đại pháo đủ sức chọi hàng vạn quân tấn công, đồng thời tổ chức phục binh, cắt đường vận lương… Ấy là thượng kế.

Duy Từ trình chúa bản đồ chi tiết đắp lũy khởi từ làng Trường Dục dưới chân Trường Sơn tới phá Hạc Hải giáp sông Nhật Lệ. Lũy dài khoảng 2500 trượng (10 đến 12 cây số), chiều cao, chiều rộng chân lũy tùy địa hình đắp rộng hẹp cao thấp. Phía tây chiến lũy là vùng núi hiểm trở, phía tây là phá Vạn Xuân bốn mùa lầy lội. Chúa hỏi:

-Công trình to lớn ắt hao tổn người của, người tính toán ra sao?

-Việc phải khẩn trương hoàn tất. Thần và Hữu Dật đích thân xúc tiến, ước lượng phải dụng khoảng năm ngàn quân dân Thuận Quảng, chỉ nội một tháng là xong. Vật dụng gỗ ván tre nứa có sẵn trong rừng. Khoản tiền thực phẩm lương thực không quá lớn.

-Ngoài việc đắp chiến lũy ta còn vấn đề nào khác?

-Mặt nam tương đối ổn, chúa thượng nghĩ cách tăng mối giao hảo với Chiêm Thành để hoàn toàn yên tâm không ngại người Chiêm thừa cơ xâm lấn khi ta đương đầu với Trịnh.

Chúa suy nghĩ giây lâu, hỏi tiếp:

-Với Chiêm Thành ta đã có chủ trương, nhưng sao chỉ chú trọng phòng thủ Quảng Bình? Thủy binh Trịnh rất hùng hậu. Trịnh có thể đổ bộ vùng biển phía nam Thuận Quảng, làm gọng kìm bao vây phủ chúa.

Duy Từ trả lời ngay:

-Nếu ta nắm được Chiêm Thành, thủy binh Trịnh dù mạnh chẳng dám vào sâu, sợ bị kẹp giữa quân Chiêm và ta. Các cửa biển gần như cửa Việt, cửa Eo (Thuận An) thì phải theo các sông Quảng Trị, Thuận An tiến về phủ. Hai sông này chật hẹp dễ bị phục binh. Thần cam đoan không bao giờ Trịnh dám mạo hiểm tiến quân theo ngả ấy. Cách duy nhất chỉ là vượt sông Nhật Lệ, từ đấy làm bàn đạp tấn công vào phía nam.

Chúa vui vẻ chấp thuận kế hoạch. Ngay tháng sau, Duy Từ khởi công đắp lũy Trường Dục. Chúa sai Quận Công Nguyễn Phúc Khê lên đường vào kinh đô Chiêm Thành thắt chặt giao hảo. Chúa nói:

-Việc này hệ trọng nên tôi cậy chú một phen lao nhọc. Ngày phụ thân còn, người vẫn ôm mộng bành trướng lãnh thổ về phương nam, khoảng hai mươi năm trước, dù trọng tuổi người vẫn xung trận đánh chiếm phần đất Chiêm bên kia đèo Cù Mông lập phủ Phú Yên. Vài năm nay ta giao Nguyễn Hữu Vinh trấn đất ấy (Vinh là con rể của chúa). Vinh trẻ tuổi tài cao, cai trị giỏi khiến tôi yên tâm, nhưng người Chiêm chưa quên hận xưa vẫn thường quấy phá. Chú đi chuyến này, mục đích thắt chặt giao hảo với họ, nhiệm vụ nặng nề khó khăn nhưng tôi tin chú khôn ngoan trầm tĩnh, việc khó mấy cũng thành.

Phúc Khê tạ anh cùng đoàn tùy tùng lên đường mang theo nhiều phẩm vật quí giá tặng vua Chiêm.

Tháng sau, lũy Trường Dục hoàn thành. Chúa hài lòng sau khi đích thân đến quan sát, hết lời khen ngợi Duy Từ. Chúa nói chiến lũy kiên cố chẳng kém Vạn Lý Trường Thành của nhà Tần thuở xưa. Ngày trở về phủ lại nhận thêm tin vui, Quận Công Phúc Khê từ Chiêm Thành trở về cho chúa biết công việc kết quả tốt đẹp. Khê nói:

-Lúc đầu vua Chiêm có ý e dè, thái độ cởi mở thân thiện của mình làm y yên tâm. Hữu Vinh cho đệ biết vua Chiêm hiện có hai vợ, một bà người Chiêm, một bà người mọi vùng cao, nhan sắc tầm thường. Vua Chiêm ham nữ sắc. Biết vậy đệ nói với y: Chúa nước nam có con gái da dẻ trắng ngần, sắc đẹp chim sa cá lặn. Y nghe mừng rỡ, ngỏ ý muốn làm phò mã nhà chúa. Ý huynh nghĩ sao?

Chúa cười lớn:

-Chú có nhớ vùng đất chúng ta cai quản hôm nay tự đâu mà có? Ðó là sính lễ vua Chiêm Chế Mân tặng vua Trần để cưới công chúa Huyền Trân. Không ngờ lịch sử tái diễn, công chúa Ngọc Khoa họ Nguyễn thua chi công chúa họ Trần. Lại nữa, Ngọc Vạn đã là hoàng hậu Chân Lạp thì Ngọc Khoa làm hoàng hậu Chiêm Thành rất xứng. Ta có hai phò mã là hai ông vua, danh giá nào hơn. Chú viết thư ngay cho vua Chiêm nói ta chấp thuận, muốn hắn đích thân đến kinh đô nước nam làm lễ đính hôn rồi tiếp lễ thành hôn. Chú nói ta thông cảm giản dị lễ nghi vì phò mã đường xá xa xôi, lại là vua một nước.

Cuối xuân, đám cưới vương giả cử hành. Công chúa Ngọc Khoa lên kiệu hoa về nhà chồng, tận nước Chiêm xa xăm, mở rộng thêm đường nam tiến của dân Việt. Chúa Sãi bùi ngùi nhìn theo kiệu hoa đến khi khuất bóng…

Dăm tháng sau, chúa vui mừng nhận tin vua Chiêm sủng ái Ngọc Khoa, tôn thờ nhan sắc, cho người tạc tượng nàng để trong tháp ngà…

Chúa bàn tiếp với Duy Từ chuyện trả sắc phong. Từ nói:

-Thần đã liệu xong mọi việc. Ta sẽ làm chiếc mâm hai đáy, trên để lễ vật, dưới để sắc phong. Người đi sứ thần chọn viên Ty Lại Văn Khuông, y là người trầm tĩnh khôn ngoan, có tài ứng đối.

-Cho ta nghe tỉ mỉ kế hoạch, việc lỡ Văn Khuông sẽ không toàn mạng trở về.

-Thần thảo sẵn những câu đối đáp bắt Khuông học thuộc, cùng là lễ nghi khi triều yết vua, dự trù sẵn phương tiện thoát thân ngay khi dâng phẩm vật bên phủ chúa. Ðường đi nước bước vùng Ðông Ðô thần nằm lòng, xin chúa thượng yên tâm.

-Cho ta nghe qua câu đối đáp.

-Chúa Trịnh sẽ cật vấn sao không nộp thuế, nộp phẩm vật triều cống như đã hứa, việc binh bị dân sinh, việc đắp lũy Trường Dục…

Ðầu mùa hạ năm Canh Ngọ 1630, Văn Khuông dẫn sứ bộ ra bắc. Sau khi đệ tiến lễ vật tạ ơn vua Lê sắc phong, dâng phẩm vật nhiều vàng bạc lụa là, Văn Khuông được lệnh sang phủ chúa Trịnh thính hầu. Nằm lòng những câu vấn đáp do Duy Từ soạn, Văn Khuông trả lời chúa Trịnh trôi chảy khiến chúa thầm khen tài biện bác. Chúa cho sứ bộ về dịch xá nghỉ ngơi, chờ nhận lệnh triệu. Mười ngày qua, sứ bộ thong thả rong chơi ngoạn cảnh kinh kỳ, chẳng hề thấy lệnh triệu của phủ chúa. Văn Khuông nghĩ đã đến lúc phải thoát thân, cho đoàn tùy tùng giả đi chơi, lẻn xuống Hải Dương neo thuyền đợi sẵn. Ngay sau đó đến dinh quan Thượng Thư Nguyễn Khắc Minh xin thiếp văn trở về. Khuông mang đến cái mâm hai đáy nói với Khắc Minh:

-Tôi ở kinh đô đã lâu, lòng nôn nóng muốn trở về. Phiền ngài khải chúa cấp cho thiếp văn.

Chỉ mâm đồng phủ vải điều buộc kín, Khuông tiếp:

-Ðây là chút lễ mọn chủ tôi tiến dâng lên Thanh Vương, tôi nhờ ngài chuyển vào phủ chúa.

Khắc Minh nói:

-Ngày mai ta sẽ khải chúa ra lệnh triệu. Còn phẩm vật, đích thân ông phải dâng chúa cho đúng lễ nghi. Ông cứ gửi đây, ta chẳng quản ngại.

Chỉ mong có thế, Văn Khuông bái tạ cáo từ, lên ngựa ra roi phóng thẳng đến điểm hẹn, xuống thuyền cùng sứ bộ căng buồm về nam. Tất cả vui mừng hoàn thành sứ mệnh.

Hôm sau, Khắc Minh vào phủ khải chúa việc sứ đàng trong muốn diện kiến dâng phẩm vật của Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên. Chúa hỏi:

-Sao hắn không dâng phẩm vật ngay hôm mới đến mà phải chờ đến nay?

Khắc Minh thưa:

-Thần nghe hắn nói phải tuân lệnh chủ, chờ đến gần ngày về mới dâng phẩm vật.

Chúa thuận, hẹn sáng sớm cho Văn Khuông vào phủ. Buổi chiều, Khắc Minh sai thủ hạ đến dịch xá báo tin, thủ hạ về trình dịch xá vắng tanh không có bóng người. Khắc Minh biết việc bất thường, khẩn báo vào phủ. Chúa sai Ðề Lĩnh, viên quan chỉ huy bảo vệ kinh đô đem quân vây dịch xá. Quân tiến vào chỉ thấy đồ đạc ngổn ngang, khám xét cẩn thận chẳng thấy gì lạ. Sứ bộ đàng trong đã xa chạy cao bay.

Chúa nghi ngại, truyền Khắc Minh đem mâm phẩm vật vào phủ. Mâm khá dầy, mở ra bên trên chỉ thấy trầu cau. Chúa thấy lạ sai đập mâm, thấy sắc phong của nhà vua nằm dưới lớp vải điều. Chúa nổi nóng vỗ án:“Phúc Nguyên vô đạo, ngạo mạn coi khinh phép vua, đúng là lũ tâm xà khẩu phật. Hắn trả lại sắc phong, ngang nhiên bội phản, tội trạng rành rành, không hưng binh chinh phạt còn chi thể thống. Ta nguyền bắt hắn về, quỳ giữa sân triều cho quần thần vấn tội”. Ðám cận thần thấy chúa thịnh nộ, cúi đầu im lặng chẳng dám nhìn lên. Chúa nhìn dưới đáy mâm thấy có mảnh hoa tiên trên viết bốn hàng chữ. Chúa đọc dăm lần chẳng hiểu ý gì, trao cho Khắc Minh bảo giải nghĩa. Khắc Minh chăm chú đọc, bóp trán suy nghĩ:

-Khải chúa, thần biết bốn câu này do chính Ðào Duy Từ viết, nhưng trí nông không hiểu thấu ẩn nghĩa. Xin cho hội ý với đồng liêu tìm giải đáp.

Chúa thuận. Ðám văn quan, toàn những bậc khoa bảng chăm chú đọc, suy nghĩ luận bàn. Kết quả khải chúa: Phúc Nguyên không nhận sắc phong.

Chúa chưa nguôi giận, truyền đám cận thần họp khẩn lập kế chinh phạt, rũ áo bước vào hậu cung.

Các quan tuân lệnh chúa luận bàn. Ðám võ quan nóng tính đa phần chủ chiến, đám văn quan dè dặt nói cần cân nhắc kỹ do tình hình các nơi vẫn chưa yên, nhiều vùng mất mùa dân sống cơ cực đói kém, cần trữ lương thực cứu tế xoa dịu nhân tâm. Mọi người để ý Lễ Bộ Thượng Thư Nguyễn Thực lặng yên không ý kiến. Nguyễn Thực đỗ tiến sĩ, nổi tiếng thanh liêm cương nghị, ăn ngay nói thẳng, triều thần trọng nể, ngay cả vua chúa cũng tin dùng giao trọng trách. Triều thần còn nhớ chuyện xẩy ra hồi cuối xuân, Nguyễn Thực dập đầu can vua Thần Tôn quyết không lập Trịnh Thị Ngọc Hạnh làm hoàng hậu, can chúa chớ làm trái luân thường đạo lý. Nguyên Ngọc Hạnh con gái chúa, là vợ của Quận Công Lê Trụ, bác họ nhà vua. Ngọc Hạnh có với Lê Trụ bốn mặt con. Trụ phạm tội phản nghịch bị cầm, chúa buộc vua cưới Ngọc Hạnh lập làm hoàng hậu. Ðám cưới xong, trời làm mưa dầm hàng tháng. Nhiều phố phường kinh đô biến thành sông, buôn bán ngưng trệ nhiều người chết đói, bao kẻ lê lết khất thực đầu đường xó chợ. Ðạo lý tơi tả trong cuộc bể dâu.

Họp hành đến chiều vẫn chưa dứt khoát, các quan tạm nghỉ hẹn ngày mai tiếp tục. Ai nấy đoán già Thượng Thư Nguyễn Thực thế nào cũng lên tiếng phản bác phe chủ chiến. Ý kiến của Thực sẽ nghiêng đòn cân về phía chủ hòa.

Sáng sớm, chúa nhận được tin khẩn từ Lạng Sơn. Ðám tàn quân Mạc đánh phá nhiều vùng, Trấn Thủ Cao Bằng xin triều đình tăng cường viện binh. Ðám cận thần tiếp tục cuộc họp dang dở. Gần trưa, chờ mọi người nói xong, Nguyễn Thực đứng lên nghiêm trang phát biểu, giọng nói thấp cao sắc cạnh đanh thép:

-Thưa các ngài, tôi tuy quan văn nhưng sinh thời biến loạn nên cũng nghiền ngẫm binh pháp các nhà, hầu ứng xử cho hợp thời thế, mưu việc ích quốc lợi dân. Cứ xem tình thế nước ta, chỉ tính từ đầu xuân đến nay, các ngài hẳn nhận ra bao điều thuận, không thuận. Ðấng bề trên phỏng có hòa, quan lại nhiều nơi bất xứng, nhũng lạm sách nhiễu, trong dân chúng người người có được ấm no, an cư lạc nghiệp? Tôi đọc Ngô Tử, sách viết:“ Muốn dụng dân mưu đại sự, trước hết phải hợp ý dân. Chớ cậy tài giỏi, sức mạnh mà chủ quan. Nên đem đại sự cáo tỏ trời đất tổ tiên, với triều thần xét việc lành dữ. Nếu tất cả đồng thuận tất nên dấy binh… Lại xét đàng trong, mấy năm nay thuận lợi, mùa màng tốt tươi, nhân dân no ấm. Phúc Nguyên rắp tâm phản bội, cố khai thác tài năng của Ðào Duy Từ, xây thành đắp lũy, củng cố binh bị. Tình hình trong ấy, quan Thượng Thư Bộ Lại ắt rõ hơn ai do mới từ trong ấy về. Bàn việc nước phải ngay thật, sáng suốt nhận đúng cái thời cái thế. Vài ý thô thiển, quý ngài lượng định.”

Ngay hôm ấy, các quan đồng thuận khải chúa tạm ngưng việc binh, chờ khi thuận lợi. Trong khi chờ nên tăng cường dọ thám tình hình để nắm địch tình. Chúa nghe không nói gì. Việc chinh phạt Thuận Quảng không thấy nhắc đến…

***

Tại đàng trong, Chúa Sãi vui mừng thấy sứ bộ bình yên trở về. Nghe Văn Khuông tường trình chuyến đi kết quả tốt đẹp, chúa hậu thưởng mọi người, thăng chức Văn Khuông. Chúa cười nói với Duy Từ:

-Ngươi đáng mặt quân sư, liệu việc như thần. Phen này Trịnh Tráng và đám bề tôi kinh hoàng vỡ mật, giận thấu trời xanh. Ngươi nghĩ việc phòng thủ đàng trong còn chi khiếm khuyết?

Duy Từ hớn hở:

-Khiếm khuyết hẳn không thể tránh. Kế hoạch tiếp của thần, ta phải động binh đánh chiếm ngay Nam Bố Chính, lấy sông Gianh làm ranh giới chia đôi sơn hà với họ Trịnh. Kế phòng thủ hay nhất là tấn công. Nay Trịnh chưa phòng bị, ta phải đánh trước chiếm thượng phong.

-Làm thế có phiêu lưu quá chăng? Tại sao phải chiếm Nam Bố Chính?

-Thần đã tính kỹ. Phải chiếm ngay Nam Bố Chính để giữ sông Gianh, dựa vào hiểm địa để ngăn quân Trịnh. Sông Gianh còn có tên Linh Giang. Sông dài rộng, gần biển thường có sóng lớn khác nào chiến hào trời tạo ngăn trở đôi bờ bắc nam. Tướng Trịnh giữ Nam Bố Chính là Tri Châu Nguyễn Tịch. Hắn không phải tướng tài, ta đánh bại hắn dễ như trở bàn tay.

Chúa nghĩ giây lâu, hỏi:

-Ngươi định dùng ai làm tường, cần bao nhiêu quân, bao lâu thắng trận?

-Thần sẽ dùng Nguyễn Ðình Hùng làm tướng (Quận Công Nguyễn Ðình Hùng vốn họ hàng với chúa). Hùng vũ dũng, đánh tấn công giỏi ít người bì kịp. Ta cần năm ngàn quân, bất ngờ tấn công qua đêm là toàn thắng.

Chúa nghe phấn khởi, truyền Ðình Hùng chuẩn bị hành quân. Chỉ non nửa tháng, chúa nhận tin thắng trận. Tri Châu Nguyễn Tịch bị tấn công bất ngờ trong đêm, một mình một ngựa tháo chạy đã tử thương. Hàng ngàn quân Trịnh bị bắt làm tù binh, chiến địa ngổn ngang xác chết, vũ khí vứt la liệt… Chiến thắng khởi đầu giai đoạn chia cắt. Sông Gianh là giòng phân ly đôi bờ, như lưỡi gươm cắt ngang thân thể Việt Nam ứa máu, non nước ngậm ngùi. Dân đôi bờ nam bắc chấm dứt thông thương. Hai họ Trịnh Nguyễn cùng lợi dụng danh nghĩa phù Lê, cùng nắm ngôi vương làm chúa tể hai miền nam bắc.

 ***

 Sau chiến thắng, Chúa Sãi tuy vững tin hơn vào sức mạnh quân sự, vẫn ra sức củng cố nội bộ, mộ thêm quân sẵn sàng chờ cuộc tấn công của Trịnh. Duy Từ lo lắng mọi việc, chuyên chú soạn binh thư buộc các tướng cẩn thận nghiên cứu. Mọi nỗ lực của Từ hầu như dành cho cuộc chiến Trịnh Nguyễn sẽ diễn ra khốc liệt, quy mô rộng lớn hơn.

Cuối xuân năm Tân Mùi 1631, Duy Từ bàn với chúa:

-Sau trận thắng năm ngoái, tuy việc bố phòng Nam Bố Chính được củng cố nhưng thần vẫn còn nhiều e ngại. Ngặt nỗi công việc bộn bề, chưa rảnh tay xem lại mọi việc. Nay thấy việc tạm ổn, thần xin chúa thượng cho phép đích thân thị sát lại toàn bộ hệ thống phòng thủ.

-Ta cũng có ý ấy, ngại nỗi thấy quân sư ngày đêm tận tụy lo lắng hao tổn sinh lực, sức khỏe khó bề chịu đựng. Chi bằng nên dành thời gian tĩnh dưỡng thuốc men phục hồi, sau đó liệu việc cũng chẳng muộn.

Nghe chúa nói Duy Từ cảm động. Lần đầu tiên Từ nhận ra chúa đổi cách xưng hô gọi mình là quân sư, trong tia nhìn, trong cách nói của vị chúa phương nam biểu lộ thâm tình mặn mà ruột thịt. Từ ngày ấy, cứ mấy bữa, quan thái y nhận lệnh chúa đến chẩn bệnh săn sóc sức khỏe, thường xuyên bốc những thang thuốc bổ quý giá nhất cho nhân vật đang kê vai gánh trách nhiệm bảo vệ mảnh giang sơn chúa Nguyễn ở phương nam.

Hơn tháng sau, Duy Từ lại ngỏ ý muốn tiến hành dự tính. Chúa thuận nhưng cử Hữu Dật đi theo phụ giúp. Duy Từ vui mừng khen chúa tinh tế chọn người giao việc. Hữu Dật trẻ người nhưng thông minh sâu sắc, tính khí ngay thẳng, kính trọng Duy Từ như vị thầy khả kính. Dưới mắt Duy Từ, sau này Hữu Dật sẽ là bề tôi lương đống tài đức chẳng nhường ai.

Hai thầy trò cùng mười người lính khỏe mạnh tháo vác hộ tống lên yên thẳng đường ra phía bắc. Vượt qua lũy Trường Dục bề thế kiên cố, Duy Từ hài lòng thấy tướng sĩ trên dưới một lòng quyết tâm chiến đấu bảo vệ biên trấn, đoàn người vào địa phận Nam Bố Chính vào một buổi chiều trời trong nắng nhạt, vùng đồi núi hùng vĩ chập chùng bốn phía vây quanh. Duy Từ cho ngựa phi nước kiệu lên ngọn đồi thấp dừng lại quan sát. Chỉ ngọn núi phía tây, Duy Từ nói với Hữu Dật:

-Ngươi nhìn kỹ ngọn núi kia, thế núi hùng vĩ vút cao như cây xà mâu đâm thẳng lên trời. Ðó là núi Ðâu Mâu, triền dốc hiểm trở. Ta trấn núi ấy, địch dù có cánh chẳng thể vượt qua…

Hữu Dật chăm chú nhìn, nghĩ con người khác nào con sâu cái kiến trước cảnh đất trời mênh mông sâu thẳm. Dật nói:

-Tiếc là núi ấy ta chưa lập đồn phòng thủ, thầy hẳn có chủ trương?

-Ðó là thiếu sót của ta do chưa có thời gian nắm vững địa hình. Ta đi chuyến này ý muốn bổ túc khiếm khuyết. Ngươi nhìn kỹ trước núi Ðâu Mâu còn có nhiều rặng núi thấp như đàn rùa bò lên cao. Thế núi khác chi chiến lũy, ta cố nghĩ cách khai thác địa hình thiên nhiên, một trong những điều quan trọng của binh pháp.

Quay sang hướng nam, Duy Từ chỉ ngọn núi cao chót vót:

-Kìa là núi Thần Ðinh, ngọn duy nhất hướng về nam thay vì hướng tây như những ngọn khác. Dân vùng này thường gọi núi Bất Nghĩa, phong cảnh nên thơ hữu tình. Ta đã có dịp lên núi ngoạn cảnh, nhìn xuống vùng thượng lưu sông Nhật Lệ. Sau Thần Ðinh còn nhiều ngọn núi khác. Tựu chung, vùng này gồm đủ núi non sông ngòi, vùng đồng lầy rộng lớn được hai rặng núi chắn trông tựa càng cua.

Suốt gần tháng trời, đoàn người băng núi vượt sông nghiên cứu địa hình. Ngày đi đêm đốt lửa căng võng nghỉ. Hữu Dật vẽ bản đồ chi tiết, ghi chú cẩn thận những vùng đi qua. Duy Từ quyết định tâu chúa kế hoạch đắp lũy Ðộng Hải. Lũy Ðộng Hải sẽ bề thế, dài hơn lũy Trường Dục, hệ thống phòng thủ tăng cường nhiều đại pháo. Duy Từ nói:

-Với lũy Trường Dục, quân Trịnh vẫn vượt được sông Nhật Lệ. Nay ta đắp lũy mới có ý ngăn quyết không cho địch vượt sông.

Hữu Dật nghe giảng giải cảm phục bội phần. Thấy công việc hoàn tất, ngay hôm sau, Duy Từ cùng đoàn tùy tùng lên đường trở về. Qua địa phận Ái Tử, Duy Từ nhận được hung tin: Thế tử Nguyễn Phúc Kỳ, Trấn thủ Quảng Nam, con trai trưởng của chúa vừa đột ngột từ trần.

Chúa Sãi năm ấy tuổi ngót bảy mươi. Chúa có mười một công tử, trai trưởng là Phúc Kỳ được chọn làm Thế Tử. Phúc Kỳ được chúa chú tâm đào tạo từ tấm bé, văn võ tinh thông. Kỳ nói năng khiêm tốn, liệu việc cẩn trọng, lại giống phụ vương rất mộ đạo Phật nên chúa yêu quý. Ðược cử giữ chức Trấn Thủ Quảng Nam, Kỳ sống mẫu mực, giỏi cai trị không phụ lòng người cha kỳ vọng.

Duy Từ về đến nơi trời sẫm tối, lệnh cho đoàn tùy tùng về nhà nghỉ ngơi, còn mình vào thẳng vương phủ vấn an chúa. Trăng mười sáu tròn vành vạnh, tỏa sáng trên các mái ngói, trên các lối đi trải đá thoảng mùi hương lài dìu dịu. Quan tài Thế Tử đặt giữa công đường, đèn đuốc sáng trưng nồng nặc hương khói. Ðám cận thần vẫn còn dăm người ngồi hai bên quan tài. Thân nhân người chết đang quỳ trước linh cửu, sau lưng vị sư áo vàng ê a tụng niệm. Câu kinh trầm buồn, lê thê điểm những tiếng chuông ngân buồn da diết. Chúa ngồi cúi đầu trầm ngâm trên chiếc cẩm đôn bọc lụa vàng. Duy Từ đợi xong nghi lễ, bước vào thắp hương trước linh cửu, đến lạy chào chúa. Chúa ngước nhìn bâng quơ:“Quân sư mới về”. Duy Từ kính cẩn:

-Thần vừa về đến, nghe hung tín vội vào ngay vương phủ.

Chúa buồn bã:

-Thế Tử tài đức nào ngờ mệnh yểu, cuối đời ta mang nỗi khổ cha già khóc con.

Duy Từ hỏi qua bệnh tình. Chúa đáp:

-Công chúa kể tháng trước, Thế Tử người vẫn khỏe nhưng thường than nhức đầu, đau phía sau gáy, đôi khi xây xẩm. Hôm nọ đang ngồi trong thư phòng, Thế Tử ngã sấp ngất sỉu, vài ngày sau là đi.

Duy Từ nói dăm câu an ủi, lạy tạ chúa trở về tư dinh. Lợi dụng những ngày phủ chúa lo tang ma, Duy Từ lập phương án đắp lũy Nhật Lệ. Hơn tuần sau, Duy Từ gặp chúa. E ngại chúa muộn phiền, Duy Từ chỉ trình bày sơ lược kế hoạch. Chúa nghe xong nói sẽ từ từ toan liệu.

Việc tang ma Thế Tử kéo dài hàng tháng mới xong. Duy Từ nôn nóng muốn trình chúa chi tiết nhưng chúa ở hậu cung không thiết triều, hầu như hoàn toàn giao việc nước cho Quận Công Nguyễn Phúc Khê. Duy Từ cho Phúc Khê xem kế hoạch, nói việc đắp chiến lũy rất khẩn cấp chớ nên chần chờ. Phúc Khê trình chúa dự án. Chúa nói:“Việc phòng thủ mặt bắc ta đã có lũy Trường Dục, lại nới rộng lãnh thổ đến tận sông Gianh, kể ra tạm ổn. Việc đắp chiến lũy mới xét chưa cần, chớ nên bắt quân dân phải quá khó nhọc lao khổ, tinh thần nao núng, nên chờ lúc thuận tiện sẽ liệu”. Phúc Khê thuật lại cho Duy Từ nghe, lại nói:“Chúa thượng muộn phiền chưa nguôi, thân hình tiều tụy. Quân sư rán đợi thời gian để người phục hồi. Tôi tin ngài sẽ thuận kế hoạch của quân sư”. Duy Từ nghe buồn bã trở về tư dinh, từ đấy đóng cửa đọc sách, soạn binh thư thác bệnh không vào triều…

Sáng nọ trời đẹp trong xanh, Duy Từ sai hầu cận thắng ngựa, ăm mặc như khách thương dạo chơi phố xá. Ðàng trong tuy không phồn thịnh như đàng ngoài nhưng phố phường khá tấp nập người chợ búa bán buôn. Qua khu chợ, Duy Từ ngừng ngựa nghe lũ trẻ tụ tập hò hát: “Kể từ em bước chân ra. Bỏ con bỏ cả cửa nhà em đi. Em tham tiền bạc làm chi. Mà em bỏ giỗ năm ni không về? Vợ chồng đầu gối má kề. Em ơi nghĩ lại mà về với anh. Mực tàu khéo họa nên tranh. Khi giận anh mắng khi lành anh thương… Mình anh đứng thảm ngồi sầu. Ngóng em mỏi mắt dạ rầu như dưa, Chờ em hết sớm lại trưa. Em còn mê mẩn sao chưa trở về!”. Duy Từ đăm chiêu, tại sao câu hò trên những chuyến đò dọc ngang sông Mã, giòng sông thân yêu xứ Thanh Hóa quê ông lại vượt ngàn trùng vào tận nơi đây? Bấy lâu xa cách, nay nghe điệu hát cũ lòng bỗng bâng khuâng ngậm ngùi. Ý thơ lục bát thở than trách móc người phụ tình bỏ xứ tha phương. Từ sai hầu cận hỏi lũ trẻ. Trẻ trả lời câu hát do thần nhân dậy. Vó ngựa từng bước chậm rãi vào sâu thôn xóm, bỗng thêm một lần ngừng. Duy Từ lại nghe lũ trẻ khác hát. Hát rằng:“Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay”. Duy Từ sai hầu cận hỏi. Trẻ lại đáp do thần nhân dậy. Nét mặt đang u uẩn suy tư của quan Nội Tán chợt nở nụ cười tươi, như vừa nghĩ điều thích thú. Duy Từ hiểu hai khúc hát do một người cố tình dậy cho lũ trẻ, mong sẽ đến tai mình. Từ truyền hầu cận mua bánh phát cho lũ trẻ, buộc trẻ học thuộc, lại nói phải hát thường xuyên. Hát rằng:“Tiếc gì một lá trầu cay. Sao anh không hỏi những ngày còn không. Bây giờ em đã lấy chồng. Như chim vào lồng như cá cắn câu. Cá cắn câu biết đâu mà gỡ. Chim vào lồng biết thuở nào ra?”

Ðêm ấy Duy Từ ngồi rất lâu ngoài hiên sau, ngắm con trăng lênh đênh trên đỉnh trời tròn tỏa ánh sáng dịu phủ trên cây lá. Gió nhẹ mây vương, tiếng dế than não nề canh vắng. Từ hiểu thâm ý của những câu hát, âm mưu họ Trịnh muốn dùng tình cảm dụ Từ bỏ Chúa Sãi trở về đất tổ. Chim xa rừng thương cây nhớ tổ, người đành đoạn lìa xa chốn quê… Tài trai chí lớn không thành há chịu một đời tay trắng? Canh bạc đời bày sẵn, không cơ mưu quyền biến ôm hận một đời. Họ Trịnh bạc bẽo coi khinh nhân tài buộc lòng chim sáo sang sông…

Sáng ra, Duy Từ sai mấy hầu cận đi khắp nẻo chợ. Từ dặn thấy kẻ lạ kíp theo dõi gắt, chớ để cá vượt lưới. Dăm hôm sau, hầu cận trình:

-Bẩm tướng công, ngoài chợ có kẻ lạ lang thang, giọng nói rõ người đàng ngoài. Hắn thường đến chỗ đông người kể chuyện xưa tích cũ, xin người nghe rộng lòng bố thí. Tôi nhiều phen dọ hỏi chẳng ai rõ tung tích kẻ ấy, chỉ biết hắn xuất hiện mới non nửa tuần trăng.

Duy Từ nghe gật gù:

-Hình dạng kẻ lạ?

-Người tầm thước, da ngăm, ăn mặc thô sơ, đầu trần chân đất nhưng có dáng của người ăn học.

-Hắn thường kể chuyện chi?

-Chuyện Khổng Minh Gia Cát Lượng thông thiên đạt địa nhưng không cãi nổi mệnh trời. Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. Cuối cùng đời con Lưu Bị vẫn phải hàng phục họ Tào. Chuyện Việt Vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật quyết tâm phục quốc, khi thành công lại giết công thần. Chuyện Hán Cao Tổ giết Hàn Tín. Duy Trương Lương chủ trương”công thành thân thoái” nên tránh được tai họa.

Duy Từ ngẫm nghĩ, nói:

-Ngươi tiếp tục tìm kẻ tình nghi. Khi nào gặp hắn đang kể chuyện cấp báo ngay. Ta sẽ đến tại chỗ xem hắn có điều chi đáng ngờ.

Dăm hôm sau được báo, Duy Từ mặc áo quần thô sơ như thường dân, chen vào đám đông theo dõi kẻ lạ. Thoạt trông, Từ vô cùng kinh ngạc nhận ra kẻ lạ chính là Tú Ðỗ, người đồng hương thân thiết Từ vẫn coi như em. Ðỗ là tay văn nhân, đỗ tú tài nhưng bỏ đèn sách khoa cử dù Ðỗ thông minh đĩnh đạc, luận bàn thế sự trước sau hết lẽ. Ðỗ ở quê dậy dăm ba đứa trẻ làm kế sinh nhai. Thấy Ðỗ hay chữ, nhiều phụ huynh gửi con em đến học. Mùa nào thức ấy, học trò biếu thầy nào thóc gạo thịt thà, khi nải chuối buồng cau… Ðược cái Ðỗ dễ tính, ai cho gì nhận nấy chẳng hề hé môi kêu nài nên phụ huynh yêu mến năng tạ lễ thầy. Cuộc tình bi thương của Ðỗ làm người người thương cảm. Năm đôi tám Ðỗ cưới vợ. Người vợ cùng làng Ðỗ rất mực yêu thương. Vài tháng sau ngày cưới, hương lửa đang mặn nồng, vợ Ðỗ bị cọp vồ mất xác khi vào rừng đẵn củi. Ðỗ thẫn thờ đau đớn, thề quyết thủy chung với tình, sống đơn độc. Ai cũng nghĩ thời gian hàn gắn vết thương lòng, Ðỗ còn trẻ chắc chắn xây tổ ấm mới. Thời gian qua, mười năm rồi hai ba mươi năm sau. Con người thủy chung không sai câu thề trước vong linh người vợ trẻ, ai nấy thầm phục Ðỗ một dạ sắt son. Duy Từ chưa hiểu tại sao Ðỗ lại bỏ quê trôi giạt vào đây.

Người nghe lặng yên, chăm chú nghe Ðỗ miên man kể tài trí Khổng Minh. Nào là Khổng Minh thiệt chiến quần nho, nộ khí Chu Du, thất cầm Mạnh Hoạch… Nhưng cặp mắt thông minh, tính tường của Ðỗ vừa kịp nhận ra trong đám người nghe có mặt Ðào Duy Từ, quân sư của vị chúa phương nam. Người đang làm nghiêng đòn cân chiến thắng về phía chúa Nguyễn, người đang làm chúa Trịnh nát óc điên đầu lẫn nuối tiếc để Từ lọt mắt xanh chúa phương nam. Người mà Ðỗ tha thiết muốn gặp, những mong tìm lời can ngăn Duy Từ chớ dùng tài năng xui chúa Nguyễn gây cuộc binh đao nồi da xáo thịt. Người Việt vốn dĩ hòa vi quý, người đàng trong đàng ngoài anh em một nhà nỡ nào bôi mặt đá nhau, không phòng cái họa ngàn năm từ phương bắc… Ðỗ cao giọng, như cố ý cho Duy Từ nghe rõ: Mới hay hoàng thiên hữu nhãn định đoạt mọi việc trong sách trời. Thành hay không là do ý trời. Khổng Minh cuối cùng không cứu nổi nghiệp Hán… Thuận ý trời thì còn, nghịch ý trời tất mất. Sử xanh ngàn đời ai khen việc binh đao nồi da xáo thịt. Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng…

Hết chuyện Khổng Minh, Ðỗ chuyển sang chuyện Việt Vương Câu Tiễn. Ðỗ kể nước Việt kể như đã mất về tay nước Ngô nhưng nhờ Câu Tiễn quyết tâm nếm mật trả hận, rắp rắp theo mưu hai đại phu quyền biến Văn Chủng, Phạm Lãi nên dựng lại nghiệp bá. Thành việc, Lãi gửi thư cho Chủng khuyên Chủng “công thành thân thoái”, chim hết phải cất cung, thỏ chết chó săn sẽ bị nấu. Vua cổ dài mồm nhọn, chỉ chung lao khổ không thể chung hưởng phú quí. Văn Chủng đọc thư phiền muộn, tấn thối lưỡng nan. Thấy Chủng lâu cáo bệnh không vào triều, Câu Tiễn ngờ vực gọi Chủng vào chầu. Vua nói:“Người dậy quả nhân bảy thuật đánh Ngô, nay ta mới dụng ba mà nước Ngô đã mất. Còn bốn thuật nữa, người nên xuống suối vàng trợ giúp tiên vương”. Nói xong trao kiếm cho Chủng. Việt Vương Câu Tiễn xử án tử đệ nhất công thần tàn nhẫn lạnh lùng. Văn Chủng mang mối hận ngàn đời về nơi vĩnh cửu, không van xin lạy lục. Phạm Lãi thức thời bỏ đi ngao du sơn thủy nên thoát thân…

Ðỗ mời mọi người nghe chuyện cuối. Chuyện tay hào kiệt đất Hoài Âm tên Hàn Tín. Tín thuở hàn vi không nuôi nổi thân phải nhờ cậy nhiều người. Ðã thế đi đâu cũng đeo liễu kiếm. Có tên đồ tể ngứa mắt thách thức: Hàn Tín, mi dáng cao lớn nhưng đói khổ, lại thích chơi kiếm. Nếu là tay hào kiệt thì hãy đâm tao, bằng không nên lòn dưới háng tao mà đi.

Tín lẳng lặng không nói, luồn dưới háng tên đồ tể. Ai nấy cùng cười chê Tín hèn nhát. Gặp thời biến loạn, Tín theo phò Sở Bá Vương Hạng Võ. Bá Vương không nhận ra tài năng của Tín, thậm chí coi thường. Hàn Tín buồn nản bỏ đi. Hán Vương Lưu Bang mưu dựng nghiệp bá, tin lời tiến cử của mưu thần Trương Lương bái Tín làm đại tướng, đeo ấn nguyên nhung chấp chưởng binh quyền. Tín thuở xưa khác nào thiên lý mã bị nhốt chung chuồng với đám ngựa trâu tầm thường, nay có người nhận ra ngựa quý, đưa đến chốn đồng cỏ thênh thang mặc sức tung vó ngàn dậm dong ruổi. Quân Hán do Tín chỉ huy sức mạnh tăng vạn lần. Tín vượt Tây Hà cầm tù vua Ngụy, chiêu hàng nước Triệu, uy hiếp nước Yên, bình định nước Tề, qua phía nam đánh tan hai mươi vạn hùng binh nước Sở… Trí dũng ấy không phải thời nào cũng có. Hán Vương từ trọng dụng, nể phục đâm ra lo ngại tài năng con người xuất chúng, buộc lòng phong Tín làm Tề Vương. Sở Bá Vương lo sợ tìm cách ly gián Hàn Tín với Hán Vương , sai sứ giả sang thuyết. Sứ giả nói với Hàn Tín:

-Thiên hạ đại loạn do nhà Tần bạo ngược. Nay Tần bại vong, các nước nên họp bàn định công chia đất cho sĩ tốt nghỉ ngơi, dân sống thái hòa. Nay Hán Vương mưu đồ chiếm hết thiên hạ, quyết tâm diệt Sở. Ngài đang bị y lợi dụng, vì nếu không có ngài Hán Vương không cách chi thủ thắng, mà còn có thể bại vong. Con người Hán Vương vốn dĩ thủ đoạn, bao phen bội phản. Nếu một mai Sở mất, ngài sẽ chẳng tồn tại dài lâu. Chi bằng ngài bằng lòng hòa với Sở, chia ba thiên hạ làm thế chân vạc, danh vọng cao sang. Thế chẳng phải là kế lâu dài ư?

Hàn Tín nghĩ giây lâu, nói:

-Ngày ta phò Bá Vương chỉ là tên cầm kích đứng hầu. Hán Vương đãi ta như thượng khách, giao tướng ấn binh phù ấy là quá tin ở ta. Công danh ta có hôm nay là do Hán Vương, trượng phu trên đời thề quyết không bội phản.

 -Mai sau ngài sẽ hối…

Sứ giả biết khó thuyết Hàn Tín do Tín vẫn hận Sở Bá Vương, buồn bã bái biệt.

Khoái Thông, danh sĩ nước Tề nghe chuyện Hàn Tín từ chối đề nghị của Bá Vương. Thông rất lấy làm tiếc, quyết tâm xin yết kiến thuyết phục Hàn Tín. Khoái Thông chân tình:

-Tiện dân vì chuyện đại định thiên hạ, vì quý cái tài điều binh khiển tướng của ngài ngàn năm khó kiếm, xin được bày tỏ gan ruột.

Hàn Tín quả quyết:

-Ta nghe ngươi nói, nhưng quyết không bội phản Hán Vương.

Khoái Thông thản nhiên bắt đầu:

-Ngài tự cho là thân tín với Hán Vương mà không nhận ra chân tướng Hán Vương. Hán Vương ôm mộng lớn dựng đại nghiệp. Do ham muốn nhiều nên nghĩ sâu, lòng dạ khó lường. Cái thân của ngài với Hán Vương quyết không bằng cái thân của Việt Vương với Văn Chủng Phạm Lãi. Người xưa răn bảo: Trí dũng hơn vua nguy đến thân, công lao quá lớn không được thưởng. Xét cái tài, cái công, cái danh của ngài thời nay ai dám sánh?

Khoái Thông ngừng nói. Thấy Hàn Tín có vẻ suy tư, Thông tiếp:

-Ngài như chim bằng sải cánh vạn dặm, cớ sao cam tâm tôn phù người làm chủ, cam tâm hưởng cái lợi ít mà quên cái lợi lớn. Của trời cho mà không lấy ắt rước họa vào thân. Vấn đề là quyết định, mãnh hổ do dự chẳng bằng con sâu cái kiến liều lĩnh, ngựa hay không chạy chẳng bằng ngựa hèn bước chắc… Thời cơ chỉ đến một lần, bỏ qua tiếc thay!…

Hàn Tín trầm ngâm giây lát, hỏi:

-Ta làm cách nào đại định thiên hạ?

-Ðầu tiên ngài án binh, hòa với Sở, tách khỏi quyền lực của Hán. Thiên hạ ở thế chia ba chân vạc. Bá Vương, Hán Vương so về tài trí không thể bằng ngài. Lúc ấy ngài biến nước Tề thành hùng mạnh, khống chế nước nhỏ, cắt đất nước lớn phong chư hầu. Lấy uy đức vỗ về chư hầu cứu muôn dân thoát cảnh chiến chinh, trăm họ về một mối. Thế là cái ngôi bá chủ trời dành giao cho ngài vậy.

Xong chuyện, Khoái Thông bái biệt Hàn Tín. Tín trong lòng phân vân nhưng vững tin Hán Vương không nỡ phụ mình.

Quả nhiên sau này Hàn Tín từ từ bị Hán Vương đoạt binh quyền. Tín tức giận quyết bội phản nhưng bị Lữ Hậu lập kế dụ vào cung giết chết, ba họ bị tru di.

Lúc gần chết, Hàn Tín thở than không nghe lời Khoái Thông, đến nỗi chính mình và giòng họ thảm tử.

Hán Vương dẹp loạn phương xa về kinh nghe tin Lữ Hậu đã giết Hàn Tín. Vương vừa thương vừa mừng…

Giọng nói của Ðỗ rõ ràng sắc sảo. Ðỗ kể chuyện duyên dáng hấp dẫn thu hút mọi người. Ai nấy tưởng chuyện còn dài nào ngờ Ðỗ dứt ngang ở đó sau khi nhắc lại đôi lần câu”Hàn Tín chết. Hán Vương vừa thương vừa mừng”.

Bất ngờ Ðỗ rảo bước đến trước Duy Từ thi lễ: Ôi tôn huynh, hôm nay đệ được niềm vui tha hương ngộ cố tri. Ngờ đâu bao năm xa cách, tôn huynh lạc bước đến nghe thằng em ba hoa lắm điều.

Duy Từ cầm tay Ðỗ, thầm phục con người thông minh tinh tế. Từ nói nhỏ: Chú tinh mắt lắm, rất mừng gặp lại. Giờ lặng yên theo tôi về nhà sẽ chuyện vãn.

Ðám hầu cận ngạc nhiên thấy chủ thân tình với người kể chuyện, lặng lẽ bước theo hai người.

Về đến nhà, Duy Từ cười nói:Chú gặp may, nhà hôm nay sẵn rượu thịt đãi khách. Những thứ ấy ít khi tôi có sẵn, ngày ngày cơm rau qua bữa.

Nhìn thấy cảnh nhà Duy Từ khang trang nhưng đạm bạc đơn sơ, Ðỗ cảm kích biết bạn làm quan thanh liêm, chẳng phải bọn tham quan ô lại.

Hai người ngồi nhâm nhi ngay tại thư phòng. Ðỗ nhìn kệ sách đầy ắp nói:

-Tôn huynh chứa hết túi khôn thiên hạ trong căn phòng này.

-Chú vẫn biết tôi ham đọc sách thánh hiền, như sở học của chú nào kém chi ai.

-Ngày huynh còn ở nhà, anh em sớm tối gặp gỡ đàm luận, đệ vui thấy cuộc đời bớt đơn lẻ. Huynh bỏ đi, đệ não ruột. Tiếng đàn trác tuyệt, tiếng hát truyền cảm của huynh quấn quít lấy đệ chẳng chịu rời xa. Chiều chiều ra bến sông ngồi dựa gốc đa nghe câu hò điệu hát trên những chuyến đò dọc ngang, gửi hồn theo cung điệu, bay cùng mây gió. Sau nghe tin huynh thành đạt, làm quân sư cho Chúa Sãi, xin có lời chúc mừng huynh công toại danh thành.

-Nào có chi là toại là thành. Chúa Trịnh coi khinh con nhà đào hát, tôi một đời dùi mài kinh sử, chí những đem sở học phù tá minh quân. Tôi phải bỏ đi vì một lời hứa với phụ thân khi người sắp lìa đời, vì chẳng muốn trắng tay, thẹn cả với cây cỏ. Ðược Chúa Sãi trọng dụng tín cẩn, tôi đem hết sức đáp lại tấm lòng.

-Chúa Sãi có mắt tinh đời biết dụng nhân tài khác chi Hán Vương dụng Hàn Tín.

Duy Từ biết Tú Ðỗ sắp dở giọng thuyết phục, đáp:

-Chúa nhân ái, mộ đạo Phật, thủy chung như nhất.

-Huynh thứ lỗi, minh chúa phải chăng cần người mộ đạo. Ðệ nghĩ mộ đạo chẳng bằng ngộ đạo. Chúa Sãi nếu quả ngộ đạo đã chẳng mưu đồ làm chúa phương nam, bành trướng lãnh thổ, quyết tranh phân mất còn với họ Trịnh chẳng tiếc máu xương quân dân. Một người đạt công danh, vạn người trả giá đắt. Người giầu tham vọng thường nghèo nhân ái, lòng dạ khó lường nói chi hai chữ thủy chung. Huynh chẳng nhớ Chúa Sãi đang tâm giết chết hai người em Phúc Hiệp và Phúc Trạch. Ðệ nghĩ huynh chẳng thân chúa bằng em của người.

Duy Từ hiểu bạn chân thật khi giọng Ðỗ hơi gay gắt. Từ bỗng phá lên cười, vẻ ấm cúng thân mật trở lại. Từ nói:

-Khá khen chú túc kế đa mưu, giả làm người kể chuyện, giả cả thần nhân bày bọn trẻ hát nhưng thực tâm muốn thuyết ta bỏ Nguyễn về Trịnh. Phải chăng chú vào đây do mệnh lệnh chúa Trịnh?

Nghe Duy Từ nói Ðỗ cười vui:

-Bội phục huynh kiến thức cao thâm khó ai qua mắt, tài năng đáng mặt tể tướng làm vị chúa đàng ngoài ăn ngủ chẳng yên. Ðệ tỏ thật, bỏ quê vào đây cố tìm gặp huynh là ý của đệ, đệ chẳng là bề tôi, chẳng tuân lệnh bất kỳ ai. Cách đây già nửa năm, một hôm cụ Cống Vũ Long mở hội bình thơ, nhiều danh sĩ được mời trong đó có cả đệ. Dịp ấy đệ tình cờ gặp Quận Công Nguyễn Thực, tay danh sĩ đất bắc nổi tiếng hay chữ và cương trực. Cụ Nguyễn tuổi ngoại thất tuần vẫn minh mẫn nhanh nhẹn. Chúa Trịnh trọng nể vị lão quan thường gọi là Quốc Lão. Quốc Lão rất tán thưởng bài thơ Tiếng Sáo Trương Chi của đệ. Biết đệ người phủ Tĩnh Gia, Quốc Lão buột miệng hỏi chuyện Ðào Duy Từ. Chuyện khá dài nhưng đệ vắn tắt. Quốc Lão nói: Ta rất tiếc chúa thượng chẳng tin lời ta. Từ thời Triết Vương (Trịnh Tùng), nghĩa là khoảng gần hai mươi năm trước, ta khải chúa nên đưa Phúc Nguyên hồi triều vì nhận ra tham vọng của y muốn làm chúa phương nam. Ðến đời Thanh Vương, ta đôi lần nhắc nhở nhưng chúa thượng dùng dằng chủ trương hòa hiếu. Khi gặp Ðào Duy Từ ở Thăng Long trên mười năm trước, ta tâm phục người này, tài năng đáng mặt tể tướng. Ta khuyên chúa thượng kíp dụng y nhưng chúa thượng bảo Duy Từ chỉ giỏi đàn ca hát xướng, sao dám giao trọng trách e quần thần dị nghị. Khi nghe tin Phúc Nguyên tin dùng Ðào Duy Từ, ta tiếc nuối ân hận. Tiếc nuối vì chúa thượng bỏ mất tài năng, Phúc Nguyên có Duy Từ khác nào rồng thêm vây, hổ mọc cách. Ân hận vì đất nước lại lâm cảnh binh đao, bao kẻ thịt nát xương tan, đầu rơi máu chảy… Ta xem đám danh tướng đàng ngoài chưa ai đủ tài đương đầu với họ Ðào. Ngay chính chúa thượng nay cũng rất hối hận để mất Duy Từ.

Quốc Lão nói đến đấy lặng yên cúi đầu thở vắn than dài. Ðệ trở về suy nghĩ, xét mặt công lao tuy họ Nguyễn khởi xướng việc trung hưng nhưng đại công là của họ Trịnh. Họ Trịnh trải ba đời ngót trăm năm xông pha chiến địa trong khi họ Nguyễn trấn đất Thuận Quảng đã góp bao nhiêu công sức cho cuộc trung hưng? Nay họ Nguyễn ngang ngược tranh quyền với Trịnh xét ra trái lẽ. Cái thế đại định thiên hạ đệ nghĩ trời trao cho huynh…

Duy Từ ngắt:

-Cái thế nay đã là thế. Tôi thề chẳng phụ ơn người trọng dụng.” Tiếc gì một lá trầu cay. Sao anh không hỏi những ngày còn không…”. Tôi hứa với chú ngày nào còn, tôi sẽ khuyên Chúa Sãi tuy chia đôi sơn hà, cố tránh gây cảnh lửa binh. Tôi vẫn tin định mệnh dân tộc sẽ có ngày giang sơn một dải nối liền.

Bên ngoài trời ngả nắng, nắng mềm úa vàng thoi thóp trên sườn non mờ xa. Ðỗ rót rượu uống tràn. Làn hương thơm thoang thoảng theo gió tỏa ngát. Ðỗ đang trầm tư bỗng thảng thốt: Cố nhân, cố nhân. Ôi hương hoa cau diệu kỳ son phấn gợi nhớ người xưa. Ðệ một đời khổ não khuân vác khối u tình lặng lẽ. Ðệ nhớ quê, đệ phải trở về dù đêm đêm một mình một bóng, chỉ nghe tiếng muỗi vo ve, tiếng dế rền rĩ và tiếng thở dài…

Ðỗ say mềm gục xuống bàn…

 ***

 Cuối cùng Chúa Sãi thuận cho đắp lũy Ðộng Hải. Quân dân Thuận Hóa dãi dầu lao khổ hàng mấy tháng hoàn thành chiến lũy. Lũy bề thế vững chắc hơn lũy Trường Dục. Duy Từ lòng vui như hội say sưa ngắm bức trường thành ngoằn ngoèo uốn khúc, kiên cố thập phần chắc chắn ngăn trở ý chí chinh nam của đoàn quân chúa Trịnh. Dân gian gọi lũy Ðộng Hải tùy theo vùng địa lý, kẻ gọi lũy Nhật Lệ, người gọi Trường Lũy, số đông lại gọi lũy Thầy. Ý tôn xưng Duy Từ như người thầy Chúa Sãi, họ đặt câu ca:

Có tài vượt nổi sông Gianh

Dẫu thêm hai cánh trường thành khó qua.

Chúa Sãi tham quan các chiến lũy cũng thấy yên tâm. Duy Từ quả quyết quân Trịnh sẽ bị đánh tan nếu cố tình xâm lấn. Thời gian dần qua, Duy Từ vẫn không xao lãng luyện tập binh sĩ. Cơ may lại gặp Nguyễn Hữu Tiến, tay hào kiệt người Thanh Hóa. Thấy Tiến vũ dũng khẳng khái, Từ quý mến gả con gái quyết tâm chọn rể tài cao. Sau này Tiến trở thành viên tướng trụ cột bảo vệ phương nam đánh quân Trịnh bao lần tan tác.

Cuối tháng mười năm Quý Dậu 1633, quân dọ thám báo tin khẩn đích thân chúa Trịnh thống lĩnh đại quân thủy bộ chinh nam. Hau người con chúa Trịnh Quận Công Trịnh Tạc và Trịnh Ðệ đã dàn quân tại Bắc Bố Chính. Chúa Sãi truyền họp khẩn. Duy Từ tâu:

-Việc trước tiên thần sẽ lệnh Trấn Thủ Quảng Bình cắm cọc sắt dưới sông Nhật Lệ. Nếu tin chính xác, ta sẽ cử Hữu Dật làm đốc chiến. Quân ta dàn ở vùng hiểm địa Nam Bố Chính bất ngờ truy kích. Thần tin ta sẽ đại thắng.

Nghe Duy Từ quả quyết, chúa hỏi:

-Quân sư lấy lẽ chi quả quyết?

-Thần quả quyết do biết sức mình sức người. Chúa Trịnh động binh bất ngờ trong tình thế không thuận tiện. Chúa thượng đã rõ đầu năm nay, núi Ða Bút, ngọn núi hùng vĩ thuộc đất tổ họ Trịnh bỗng nhiên sụp lở, dân kinh hoàng nghe tiếng nổ như sấm tự lòng đất kéo dài hàng khắc mới yên. Dân đồn đại mồ mả tổ tiên họ Trịnh bị động. Tại Thăng Long sông Hồng bỗng dưng nổi sóng đánh đắm thuyền bè giết chết nhiều dân. Chúa Trịnh lo sợ cúng vái cầu an nên chắc có lý do nào thúc đẩy ghê gớm mới dám động binh, nhất là ra quân vào mùa đông càng thêm bất lợi.

Quả thật tại Thăng Long chúa Trịnh truyền lệnh động binh, đích thân vua Lê ngự giá theo đàn quân chinh phạt. Quận Công Nguyễn Danh Thế được lệnh chuẩn bị gấp rút. Chúa Trịnh nói với Danh Thế:“Ta bất ngờ chinh nam vì không bỏ lỡ cơ hội bằng vàng. Trong nhà họ Nguyễn rối loạn, con trai Phúc Nguyên là Phúc Anh hiện đang trấn thủ Quảng Nam ngầm gửi mật thư cho ta, tình nguyện làm nội ứng. Khi quân ta đến sông Nhật Lệ, Phúc Anh sẽ nổ pháo báo hiệu tấn công. Có nội ứng lo chi việc lớn không thành”.

Ðại quân Trịnh tiến vào nam dàn quân ở cửa Nhật Lệ. Năm ấy trời giá buốt, đêm đêm sương mù dầy đặc đứng gần chẳng nhìn rõ mặt. Qua mấy ngày chẳng thấy động tĩnh, Chúa Trịnh nôn nóng bần thần cho nổ đại pháo ra hiệu. Gần mười ngày tình thế chẳng đổi. Một đêm, quân Nguyễn bất ngờ đột kích phóng hỏa đốt kho lương, tinh thần quân Trịnh nao núng. Chúa Trịnh thấy ở lâu không lợi truyền lệnh rút quân…

Ðoán biết quân Trịnh thực sự rút, vài ngày sau, Hữu Dật và Quận Công Nguyễn Thắng cũng kéo quân trở về. Chúa Sãi mừng rỡ tổ chức khao thưởng đoàn quân chiến thắng. Ðoàn quân về Chính Dinh được dân chúng đứng hai bên đường nồng nhiệt hò reo đón mừng. Hữu Dật và Nguyễn Thắng trên lưng chiến mã dẫn đầu, hai hàng quân gươm giáo tuốt trần nhịp bước giữa tiếng chiêng trống vang lừng. Ðêm ấy chúa cho mở hội hoa đăng, dân thi nhau bắn pháo bông, đàn vui yến tiệc thâu đêm… Dân chúng vui chơi hàng tuần mừng chiến thắng, người ta lạc quan vui sống say hương thanh bình vì tin quân Trịnh sẽ không bao giờ dám liều tĩnh tái tấn công đàng trong. Ngày lại ngày… Năm dậu tàn, năm tuất đến.

Riêng Quan Nội Tán Ðào Duy Từ, ngoài mặt tuy vui nhưng dường như khó dấu những suy tư từ tiềm thức sâu thẳm. Những người gần gũi với Duy Từ thường chỉ đoán ông quá lo lắng việc nước, chưa vui vì việc lớn chưa thành.

Không ai biết ông đang suy nghĩ về nguyên nhân cuộc động binh bất ngờ của chúa Trịnh. Là chiến lược gia lỗi lạc, tầm mắt của Từ không giống thế nhân, Duy Từ quyết tìm ra manh mối giải tỏa nghi hoặc canh cánh bên lòng. Cuối cùng, bài toán có đáp số. Duy Từ điều tra ra âm mưu phản nghịch, éo le thay, kẻ bội phản lại chính là Quận Công Nguyễn Phúc Anh, con trai chúa Sãi. Phúc Anh đang là Trấn Thủ Quảng Nam.

Tìm ra manh mối kẻ bội phản, nhưng có nên báo cho Chúa Sãi tin đau lòng? Chúa đang buồn não ruột sau cái chết của trưởng nam Phúc Kỳ, nay nghe thêm việc Phúc Anh… Duy Từ nát óc suy tính tìm cách khôn khéo giải quyết vấn đề thay vì làm khổ tâm vị chúa phương nam tuổi đã thất tuần. Duy Từ đề cử một số người thân tín vào Quảng nắm chức quyền kềm chế Phúc Anh, không cho hắn tự tung tự tác.

Tháng sau, bộ binh thư cũng hoàn thành. Duy Từ vui mừng có thêm đứa con tinh thần. Chiều chiều ngồi sau hoa viên, Từ thường ngâm nga mấy câu thơ trong Tư Dung Vãn:

Sớm thời dậy

Tối thời nằm

Khát đào uống

Ðói cày ăn

Sự ai ta chẳng biết

Thú ta dễ ai ngăn

Lều Doãn ơ thờ ba mớ cỏ

Kíp thâu phong nguyệt bốn mùa xuân.

Người con trai Duy Huệ nghe cha ngâm xong,hỏi:

-Ý thầy muốn như Y Doãn chán công danh vui chơi với trăng gió?

Duy Từ chậm rãi:

-Tám năm giúp chúa thượng dựng nghiệp lớn, nay thầy nhiều lúc thấy nhọc người muốn tìm nơi vắng vẻ dựng lều cỏ ngắm trăng sao. Ðời người ngắn ngủi, con hẳn nhớ lời Trang Tử:Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược bạch câu chi quá khích, hốt nhiên chi dĩ… Con người sống trong trời đất khác nào bóng ngựa trắng thoáng qua cửa sổ.

Hoàng hôn, trời ngả bóng tà. Hương hoa xoan thoảng ngây ngất gợi Duy Từ nhớ quê xưa, nhớ cảnh nhớ người. Thương Tú Ðỗ đêm ngày thui thủi, thương quê nghèo ruộng trắng xác xơ, dân lành cơ cực…

Một tối nọ vằng vặc trăng sao, Duy Huệ thấy cha trầm mặc ngắm trời rất lâu, sau đó buồn bã vào thư phòng ngồi lặng yên. Quá nửa đêm, Huệ thức giấc thấy thư phòng còn ánh đèn. Duy Huệ chần chờ một lát rồi bước vào phòng:

-Ðã qua canh ba, thầy nên nghỉ kẻo mai còn ra công đường sớm.

Duy Từ quay nhìn con, chỉ ghế ra dấu bảo Huệ ngồi, chậm rãi:

-Mấy đêm nay, thầy xem thiên văn thấy khách tinh sáng tỏ mà chủ tinh u ám, các sao tướng phụ mờ nhạt nên nghĩ mệnh sắp tàn. Lại nữa, thầy vẫn ví mình như Gia Cát Khổng Minh. Khổng Minh mất ở tuổi 54 khi sự nghiệp dang dở. Ta nay 63, sống hơn Khổng Minh đã chín năm… Thôi số trời đã định nào phải ý mình?

-Dạng trời muôn ngàn vẻ đổi thay có chi đáng căn cứ. Thầy an nhiên tự tại vui sống điều độ ắt tuổi thọ vững bền, chẳng nên chuốc sầu não nhọc thân.

Một buổi sáng mùa đông năm Giáp Tuất 1634 chúa họp bá quan. Trời chưa sáng rõ mọi người tề tựu đông đủ, quan Nội Tán vẫn chưa tới. Khi chúa vừa bước khỏi hậu cung bỗng gặp Duy Huệ hớt hải báo tin phụ thân bị ngất xỉu trên đường đến dinh nên phải tức tốc đưa về nhà thang thuốc. Chúa truyền Thái Y đến cứu chữa. Chúa thiết triều trong lòng nôn nóng lo âu, trao việc cho Quận Công Phúc Khê lên kiệu thẳng tới nhà Duy Từ. Nhìn ngôi nhà khang trang nhưng bài trí đơn sơ, chúa xúc động cảm thương tôi trung thanh bạch. Duy Từ vẫn hôn mê, Thái Y chẩn mạch dáng suy tư nghiêm trọng. Lát sau tâu:

-Tâu chúa thượng, mạch quan Nội Tán lúc đầu im, lúc sau vừa nhận được vụt biến mất. Thần kiên nhẫn đợi nhận được mạch trở lại thấy tựa con tôm đang bơi, thỉnh thoảng cong lưng nhảy. Sách gọi mạch Hà Du, bệnh quan Nội Tán rất trầm trọng. Thần chỉ biết tận nhân lực cứu chữa cho ngài.

Chúa nghe ủ dột biết Thái Y là tay thầy thuốc nổi tiếng Thuận Quảng, chẩn đoán trăm lần không sai chệch. Chúa ngồi bên giường Duy Từ đến trưa mới lên kiệu hồi cung. Bệnh nhân vẫn mê man…

Cả tuần sau tình trạng vẫn không khả quan, Chúa Sãi ngày ngày tới lui thăm nom. Ngày thứ tám chúa đến từ sáng sớm. Duy Huệ nhìn cha mê man bỗng bật khóc:“Thầy bệnh tật khổ thân, nhọc công chúa thượng âu lo khó nhọc”. Lạ thay mắt bệnh nhân hé mở, lệ chảy ròng ròng. Chúa nắm chặt bàn tay Duy Từ lạnh giá không cầm được nước mắt. Duy Từ như cố thu tàn lực thều thào:“Tạ ơn chúa đãi ngộ, thần chẳng còn sống để đáp đền…” Duy Từ muốn nói thêm nhưng không thể, mắt vẫn hé mở như tiếc nuối không muốn xa rời những khuôn mặt thân yêu… Cứ như thế… Ðến trưa, Duy Huệ nói với chúa:“Xin chúa thượng hồi cung nghỉ ngơi cho thầy thần ra đi, chúa còn đây, thầy lưu luyến không thể nhắm mắt”. Chúa buông bàn tay Duy Từ ngập ngừng đứng dậy bước lùi ra cửa. Duy Từ ưỡn ngực thở hắt, chúa khựng lại bật khóc biết người bệnh vừa thở hơi cuối cùng… Duy Huệ để nhúm bông trên mũi cha thấy bất động cũng òa khóc…

Linh cữu vị đệ nhất công thần được đưa về an táng trọng thể tại Tùng Châu Qui Nhơn.

Từ ngày Duy Từ mất, chúa ưu tư héo mòn như cây khô. Việc nước phó thác một tay Quận Công Phúc Khê đảm trách. Chúa dặn em:“Chú cố chăm lo việc nước, dậy dỗ Phúc Lan mai sau nối nghiệp rạng danh tổ tiên”. Nguyễn Phúc Lan, người sẽ kế vị ngôi chúa phương nam năm ấy tròn ba mươi lăm. Phúc Lan giống cha rất sùng đạo Phật. Chúa dặn con:“Mai sau gánh vác sơn hà nhớ lời cha chớ mê đắm sắc dục, lo cho dân cho nước rạng rỡ sự nghiệp họ Nguyễn. Nước có vững thì đạo mới tồn… Thầy nay đã bảy mươi hai, sức đã tàn chẳng còn sống được bao lâu nữa”. Phúc Lan khóc tạ cha nhận di huấn. Từ đấy chúa thường đến chùa Thiên Mụ, có khi lưu lại hàng tuần trăng, ăn chay niệm phật như quên hẳn việc đời.

Những ngày cuối năm Ất Hợi 1635, một chiều chúa ngự thuyền nhỏ lênh đênh trên sông Hương. Giòng nước trong xanh lặng lẽ trôi như đời người không bao giờ trở lại. Tiếng chuông chùa ngân xa vắng mênh mông, âm thanh của giác ngộ luồn vào từng làn da thớ thịt… Chiều lên đêm xuống, trăng sao vằng vặc gọi nhau về mở hội. Trong khoang thuyền, Hữu Dật bồn chồn thấy chúa ngồi bất động quá lâu nhưng không dám làm chúa kinh động. Dật biết cả ngày chúa chỉ uống vài chung trà, chưa hề dùng bữa… Khoảng nửa đêm, Hữu Dật không thể kiên nhẫn, lên tiếng tâu xin chúa nghỉ ngơi. Chúa lặng yên. Dật đánh bạo bước lên mũi thuyền thấy chúa đã mê man, kinh hãi vội cho thuyền cập bến…

Vài đêm sau, vị đại sư trụ trì chùa Thiên Mụ bước ra trước hiên nhìn trời thấy ngôi Ðế Tinh phương nam bỗng lóe sáng rồi phụt tắt, tan thành muôn mảnh tỏa khắp hướng như pháo thăng thiên. Trời bỗng tối sầm, gió hiu hiu hòa lẫn tiếng côn trùng rền rĩ… Sư chưa sạch lòng trần buồn bã thở than:“A di đà phật, vị chúa phương nam, Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên đã vong mệnh rồi”…

HẬN SÔNG GIANH

Những năm cuối đời, Tiên Chúa Nguyễn Hoàng tuổi đã ngoài tám mươi lăm vẫn có tầm nhìn chiến lược sáng suốt. Chúa dặn bảo các con chủ trương “bắc hòa nam tiến”, hòa hiếu với Trịnh, tìm cách mở mang bờ cõi về phương nam. Thực hiện chủ trương, Tiên chúa gả con gái Ngọc Tú cho Thế Tử Trịnh Tráng. Vài năm sau, lợi dụng tình hình Chiêm Thành rối loạn, chúa sai quân nam tiến, vượt đèo Cù Mông chiếm thêm vùng đất phía nam huyện Tuy Viễn lập phủ Phú Yên. Sự nghiệp mở mang bờ cõi của họ Nguyễn bắt đầu từ trận đánh này.

Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp Tiên Chúa tiếp tục phát triển phương nam, cố tình biến Ðàng trong thành quốc gia riêng, thách thức quyền lực họ Trịnh ở Ðàng ngoài. Tháng ba năm Ðinh Mão 1627, chúa Trịnh Tráng thấy cần trả lời thái độ khiêu khích coi thường phép nước của Ðàng trong. Dù là rể Tiên Chúa (chúa Trịnh lấy Ngọc Tú, con gái Tiên Chúa), chúa Trịnh gạt bỏ tình riêng hạ lệnh khởi binh chinh phạt. Cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn bắt đầu. Hai bên giao tranh vài trận thắng bại chưa phân, Ðốc Chiến Nguyễn Hữu Dật tung tin đồn Ðông Ðô biến loạn, chúa Trịnh Tráng nghi hoặc rút quân. Sáu năm sau, nhận mật thư của Nguyễn Phúc Anh, em ruột chúa Sãi ý muốn qui thuận, tình nguyện làm nội tuyến. Chúa Trịnh Tráng lại rước vua Thần Tôn, kéo đại binh vào cửa Nhật Lệ. Chúa án binh chờ Phúc Anh mãi chẳng thấy động tĩnh. Trong lúc nghi hoặc lại bị Ðốc Chiến Nguyễn Hữu Dật kéo binh đánh úp. Quân Trịnh vỡ chạy hao quá nửa, chúa lo sợ vội cho rút quân. Năm Quí Mùi 1643, chúa Trịnh Tráng lại rước vua vào quyết đánh vùng Nam Bố ChiÔnh, tiến vào cửa sông Nhật Lệ. Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, người nối nghiệp chúa Sãi cử đại binh chống trả. Hai bên giao tranh dằng dai gần ba tháng. Bấy giờ gặp tháng hạ, trời nóng nực tạo dịch bệnh lan tràn trong quân. Chúa Trịnh thấy ở lâu không lợi truyền lui binh. Sau mỗi lần giao tranh, hai bên Trịnh Nguyễn bên nào cũng khao quân mừng chiến thắng, thiệt thòi chăng là những góa phụ, những trẻ mồ côi, bậc cha mẹ của những người con bỏ thây nơi chiến địa, những xóm thôn tiêu điều lửa khói.

Mùa xuân năm Mậu Tý 1648, Ðô Ðốc Trịnh Ðào nhận lệnh khẩn của chúa Trịnh, bất ngờ đem đại quân tấn công Ðàng trong. Bộ binh Trịnh nhanh chóng vượt sông Gianh, thủy binh đánh thẳng vào cửa Nhật Lệ. Quân Nguyễn núng thế lùi dần cố thủ lũy Trường Dục. Quân Trịnh dùng đại bác bắn phá không ngừng, nhiều chỗ lũy bị hư hại nặng nhưng cha con Trấn Thủ Trương Phúc Phấn, Trương Phúc Hùng cố tử thủ chờ viện binh. Quân Nguyễn do chúa Thượng chỉ huy tiến qua khỏi Quảng Trị phải dừng lại do chúa bất ngờ ngã bệnh. Thế Tử Nguyễn Phúc Tần và Giám Chiến Nguyễn Hữu Dật thay chúa chỉ huy quân Nguyễn tiến thẳng ra chiến địa. Nhờ có viện binh, quân Nguyễn giữ vững lũy Trường Dục, dũng tướng Ðàng trong, Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Tiến (con rể Quân Sư Ðào Duy Từ) tổ chức phục binh, dùng tượng binh tấn công đại thắng quân Trịnh, bắt hàng vạn tù binh. Thừa thắng, Thế Tử Tần hạ lệnh phản công trên khắp mặt trận. Quân Trịnh rút qua sông Gianh. Quân Nguyễn ngưng truy kích do chúa Thượng từ trần trên đường trở lại phủ. Số trên ba vạn tù binh Trịnh, Thế Tử Tần chỉ thả về một ít chiến tướng, còn bao nhiêu bị mang vào phân tán tại các vùng từ Quảng Nam đến Phú Yên. Tù binh được định cư, giúp phương tiện khai khẩn ruộng đất. Thân phận người tù cay đắng, con đường trở lại quê xưa mịt mùng…

Thế Tử Nguyễn Phúc Tần nối ngôi cha năm hai mươi tám tuổi. Người Ðàng trong thường gọi chúa Hiền. Chúa có tài thao lược, chuyên tâm lo việc quốc gia. Lãnh thổ phía nam mở rộng thêm vào đến Phan Rang, biên giới phía bắc cũng được phòng thủ cẩn mật. Hàng vạn quân trấn giữ các điểm trọng yếu, các chiến lũy được tu bổ dự trữ lương thực phòng quân Trịnh bất ngờ tấn công. Chúa là người dũng cảm cương quyết, biết nghe lời ngay. Ðọc truyện cổ kim, ý thức được đa mê sắc dục thường dẫn đến họa nghiêng đổ giềng mối, chúa đã cương quyết giết nàng hầu xinh đẹp vốn là ca nhi danh tiếng xứ Nghệ đã làm chúa say đắm từng phen bỏ phế việc nước.

Tháng hai năm Ất Mùi 1655, Quận Công Lê Văn Hiểu trấn giữ Bắc Bố Chính ra lệnh thuộc tướng tiến quân vượt sông Gianh, xâm phạm vùng Nam Bố Chính. Chúa Hiền được tin họp các cận thần. Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật hiến kế:“Bấy lâu nay quân Trịnh thường chủ động đánh ta trước. Ta cũng nên thừa dịp này tấn công ra bắc để chứng tỏ uy lực. Thần biết rõ cách bố trí của quân Trịnh bên kia sông Gianh, ta chỉ cần đồng loạt tấn công các cứ điểm chính, dụng kế công đồn đả viện, phục binh đánh Lê Văn Hiểu, dạy hắn bài học đích đáng về tội ngạo mạn.” Chúa xưa nay vẫn trọng tài, tin tưởng Hữu Dật nên rất đẹp dạ. Ngay hôm sau, chúa phong Thuận Nghĩa Hầu Nguyễn Hữu Tiến làm Tiết Chế, Hữu Dật làm Ðốc Chiến. Hai tướng được toàn quyền quyết định việc quân. Ðại quân Nguyễn rầm rộ lên đường. Quân Nguyễn hành quân đúng kế hoạch, quân Trịnh thua to. Bắc Bố Chính thất thủ, Quận Công Hiểu rút tàn quân chạy vòng phía sau Hoành Sơn. Ðến gò Bạch Thạch lại bị phục binh, Hữu Dật giương cung bắn Văn Hiểu trọng thương nhưng Hiểu vẫn thoát chạy về Nghệ An. Hữu Dật dụng độc kế phao tin về tới Thăng Long rằng Văn Hiểu sẽ đầu hàng Nguyễn. Chúa Trịnh Tráng nghe tin tức giận bắt các bại tướng trở về kinh, lại cử Thái Bảo Trịnh Trượng kéo quân vào Nghệ An tiếp cứu. Trên đường về kinh, Văn Hiểu tự sát.

Quân Nguyễn tiếp tục thắng thế. Thăng Long rúng động được tin bảy huyện phía nam sông Lam lọt vào tay quân Nguyễn. Chúa Trịnh vội cử hai con là Thế Tử Trịnh Tạc và Quận Công Trịnh Toàn lên đường vào mặt trận. Tình hình vẫn bất lợi cho quân Trịnh vì lòng dân muốn ủng hộ Nguyễn. Cuối năm, Thế Tử Trịnh Tạc nhận lệnh hồi kinh do chúa Trịnh bệnh hoạn suy yếu muốn gọi con về phòng hậu họa khi mệnh một. Ðoán biết tình hình Ðàng ngoài rối rắm, Nguyễn Hữu Dật tung hết nỗ lực đánh canh bạc lớn. Dật ngầm cho người đem mật thư đến các trấn Bắc Hà chiêu dụ cùng nổi dậy đánh Trịnh. Ðích thân kéo quân trấn giữ vùng ngã ba sông Lam. Bên Trịnh nhờ tài thao lược của Trịnh Toàn vẫn giữ vững thế trận cản bước tiến quân Nguyễn. Toàn được chúa tưởng thưởng phong chức quốc công. Nhận thấy uy tín người em ngày càng lớn, Trịnh Tạc từ lâu có ý ngờ vực người em muốn tranh quyền lực, lo ngại sai con là Trịnh Căn kéo quân vào Nghệ An, mục đích theo dõi Trịnh Toàn. Bên phía Nguyễn nội bộ cũng lủng củng. Hữu Tiến tức giận cho Hữu Dật ngạo mạn cậy công thường tự quyết định mọi việc, ý coi thường đám võ tướng hữu dõng vô mưu.

Chiến trận ở thế dằng co, hai bên đều hao tổn nặng. Chúa Hiền đích thân kéo binh đến dinh Quảng Bình động viên tướng sĩ.

Tháng chín năm Ðinh Dậu 1657, chúa Trịnh Tráng từ trần. Tây Vương Trịnh Tạc nối ngôi cha. Chúa Trịnh lệnh triệu ngay Trịnh Toàn hồi kinh xét tội. Ðám thủ hạ của Toàn sợ hãi đầu hàng Nguyễn. Toàn bị giam chết trong ngục. Quận Công Trịnh Căn, con trai của chúa nắm quyền chỉ huy.

Bên Nguyễn, sự chia rẽ giữa Hữu Tiến và Hữu Dật ngày càng trầm trọng. Tiến công khai trách Dật lộng quyền coi thường quyền tiết chế của mình. Ðám thủ hạ của Tiến hùa theo chủ đào sâu chia rẽ. Chúa Trịnh Tạc nhận ra địch tình nói với quần thần:“Hữu Dật chuyên dùng kế ly gián ta, nay ta sẽ ly gián lại xem hắn đối phó cách nào?” Chúa điều tra phá vỡ giết chết những kẻ âm mưu làm nội ứng cho quân Nguyễn, lại cho người thân tín vào nam mang trân châu vàng bạc, cùng mật thư dụ Hữu Dật đầu hàng. Hữu Dật vờ ưng thuận nhưng ngầm báo cho chúa Hiền biết để tỏ lòng trung.

Trận chiến dằng dai kéo dài sang năm thứ năm. Tháng chín năm Canh Tý 1660, Trịnh Căn được tăng viện mở các cuộc phản công. Quân Trịnh thắng nhiều trận, dần dần chiếm lại bảy huyện. Hữu Tiến lo sợ, ngầm phao tin tập trung lực lượng phản công. Ðêm ấy Tiến bí mật rút quân, Hữu Dật không biết gì vẫn giữ căn cứ Khu Bộc. Trịnh Căn kéo quân bao vây. Dật mưu trí cho người trong thành thản nhiên đàn ca hát xướng. Căn ngờ vực nghe ngóng sợ phục binh. Ðêm ấy, Dật lặng lẽ rút quân. Hôm sau quân Trịnh truy kích nhưng lại bị Hữu Dật dụng kế nghi binh nên không dám tiến sâu. Quân Nguyễn rút về Nam Bố Chính. Trịnh Căn mừng rỡ báo tin chiến thắng về kinh. Tháng hai năm Tân Sử 1661, đoàn quân chiến thắng về Thăng Long. Kinh thành đón mừng vui như hội. Căn được phong Thái Úy Nghi Quốc Công.

Lần đầu tiên chỉ huy đại quân đánh bại các danh tướng Ðàng trong, Trịnh Căn đánh giá quân Nguyễn đã suy yếu sau nhiều năm giao tranh vất vả, Căn củng cố quân đội ý muốn tiếp tục tấn công không cho quân Nguyễn có cơ phục hồi. Tháng mười năm ấy, Căn thống lĩnh quân đội tiến vào nam. Vua Lê chúa Trịnh chỉ huy hậu quân tiến sâu vào tả ngạn sông Gianh. Hữu Dật bấy giớ trấn thủ Nam Bố Chính. Thấy quân Trịnh thế mạnh, Dật lùi về giữ lũy Ðộng Hải tử thủ. Hàng tháng trời, quân Nguyễn nhiều lần khiêu chiến nhưng Dật quyết không ra quân. Vào một đêm cuối năm trời mờ sương lạnh, Dật cho quân mặc giả quân phục Trịnh bất ngờ tấn công. Hàng trăm tướng sĩ Trịnh tử trận. Quân Nguyễn có viện binh mở cuộc phản công, Trịnh Căn cho lệnh rút quân qua sông Gianh thì dừng. Thấy lương thực thiếu, chúa Trịnh đem vua về kinh. Trận chiến kể như chấm dứt.

Suốt ba mươi lăm năm, hai bên giao tranh sáu lần, kể như bất phân thắng bại. Người già trên sáu mươi sống ở hai vùng giao tranh đôi bờ sông Gianh vẫn nhớ như in những năm chiến trận. Vết hằn chiến tranh, những mất mát đau thương như mũi dao khắc sâu tâm khảm, cho dù thời gian qua lâu chưa thể vùi sâu, như vết thương vẫn hằng rỉ máu.

Trận chiến lần thứ sáu kết thúc. Một năm sau, từ những nơi ẩn náu trong rừng sâu núi thẳm… Người dân nhớ nơi chôn nhau cắt rún, nghe tự tâm linh tiếng thôn làng réo gọi, tiếng thở than của ruộng đồng hoang vu do thiếu bàn tay con người chăm sóc, lục tục kéo nhau trở về quê xưa. Người ta giúp nhau dựng lại nhà, vun sới lại vườn rau ao cá. Ước mơ được sống thanh bình trong thôn xóm với hàng tre xanh bảo bọc sớm hôm. Từng mùa trăng qua, cuộc sống người dân vươn mình đứng dậy. Xuân về tết đến, thân xóm lại reo vui tiếng trẻ nô đùa. Trai gái làng gặp gỡ hát câu giao tình trong lễ hội xuân. Người già ấm lòng, cầu trời hai họ Trịnh Nguyễn tàn mộng tranh bá đồ vương cho nhân dân sống mãi trong cảnh thái hòa. Gần mười năm qua, nhiều người lạc quan đoán hai bên chán cảnh chiến chinh. Ðàng trong xây thêm chiến lũy, củng cố phòng thủ kiên cố sẽ làm chúa Trịnh nản chí bỏ mộng chinh phạt. Ước mơ bình thường tan vỡ vào năm thứ mười, năm Nhâm Tý 1672 dưới thời Tây Vương Trịnh Tạc làm chúa Ðàng ngoài. Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (tục gọi chúa Hiền) chúa tể Ðàng trong. Chiến tranh nam bắc tái diễn…

***

Kinh đô Thăng Long những ngày đông năm Tân Hợi 1671. Trời lạnh căm, mưa phùn rải bụi trắng mờ mờ. Phố phường thưa vắng, dân kinh đô ngại những ngọn gió bấc buốt xương, bị buộc chân quanh bếp lửa, bên lò than hồng. Kinh đô đang buồn hiu hắt bỗng đổi sắc diện. Khu hoàng thành và phủ chúa cờ xí rợp trời, dân được lệnh làm sạch đường phố, làm đẹp cửa nhà, treo đèn kết hoa chờ ngày đăng quang tân vương Lê Gia Tôn, người sẽ nối ngôi Huyền Tôn Mục Hoàng Ðế mới băng hà tháng trước. Nhà vua mới mười một tuổi, được chúa Trịnh nuôi dưỡng bên phủ chúa từ năm lên hai. Ông vua trẻ coi chúa như cha ruột.

Sau lễ đăng quang, chúa cho tổ chức diễn binh lớn, biểu dương sức mạnh quân đội. Từ sáng sớm, dù trời giá rét, hàng vạn dân kinh đô đổ xô ra đứng dọc hai bên con đường từ diễn vũ trường thẳng tới hoàng thành. Nhiều đám dân quê từ vùng xa, hiếu kỳ đổ về kinh dự hội lễ, cũng là cơ hội biết chốn kinh kỳ hoa lệ. Cuối giờ thìn trong hoàng cung vừa cử hành xong lễ đăng quang. Tiếng kèn trống, tiếng nhã nhạc hòa lẫn tiếng pháo nổ vang chào mừng tân vương. Trên vọng lâu, ông vua trẻ dáng nhỏ bé mặc hoàng bào ngồi trên ngai bên cạnh chúa Trịnh cao lớn trong bộ lễ phục mầu đỏ tía.

Hồi trống xuất quân vang rền, hàng trăm lính đội trật tự đi dọc hai bên đường, tay cầm roi kết bằng những giây tơ nhuộm đỏ quay tít ngọn roi trên đầu loang loáng tựa chuỗi thảm nhung. Năm thớt voi dàn hàng ngang dẫn đầu, trên là năm võ tướng mặc giáp đen chỉ huy cấm binh canh giữ năm cửa ô dẫn vào kinh đô. Thớt voi tiếp có hai lọng tía và đại kỳ đề chữ Quốc Công Trịnh. Trên bành voi, Quốc Công Trịnh Căn người chỉ huy diễn binh oai nghiêm trong bộ chiến bào đỏ tía. Dân chúng trầm trồ khen ngợi người con trưởng của chúa, tay võ tướng lừng danh đất bắc từng đánh bại quân Nguyễn nhiều phen. Theo sau Trịnh Căn là thớt voi của Quận Công Lê Thì Hiến, tay dũng tướng mưu lược bề dầy chiến công ít người dám sánh. Thì Hiến được chúa cũng như Quốc Công Trịnh Căn tin dùng giao nhiều trọng trách. Toán quân diễn binh dài đến vài dặm. Có toán mang cờ biển… Một rừng cờ, từ ngũ sắc đến nhật nguyệt, đội cờ nhị thập bát tú tượng trưng hai mươi tám vị sao, lại có cả toán cờ thanh long bạch hổ… Ðội nhã nhạc cung đình tấu nhiều khúc nhạc lạ tai mà có người cả đời chưa từng được nghe. Hàng ngàn kỵ mã nai nịt gọn gàng, tay cầm giáo chĩa ngọn lên trời trông như rừng chông được dân chúng cổ võ nồng nhiệt… Những đoàn quân tuốt trần gươm giáo đều bước theo nhịp trống dồn thôi thúc… Quá ngọ đến cuối giờ mùi cuộc diễn binh chấm dứt. Nhiều người như luyến tiếc chần chừ chưa muốn rời đám đông trở về…

Ðêm ấy, trời kinh đô được tô điểm hàng ngàn ngọn pháo bông. Người ta vui chơi hát xướng trong cảnh thái hòa sau hàng chục năm vắng chiến chinh. Trong cảnh tưng bừng rộn rã ấy, người con cả cụ Thượng Nguyễn thấy cha mình dường như chẳng vui, khuôn mặt ưu tư pha lẫn phiền muộn. Cụ Thượng tuổi ngoại bát tuần, làm Thượng Thư từ thời Thanh Vương (Trịnh Tráng). Gần hai mươi năm hồi hưu nhàn hạ, cụ có thú vui ngày ngày nghiền ngẫm sử kinh, ghi lại chuyện đời từng trải cho con cháu sau này noi gương cha ông sống hợp đạo lý. Người con cả kính trọng sở học uyên bác của cha, cẩn thận lưu giữ những bộ sách cha khổ công biên soạn vào rương lớn khóa kín.

Sáng sớm hôm sau, cha con ngồi trong thư phòng. Qua vài tuần trà, người con lên tiếng:

-Hôm qua coi diễn binh, con thấy thầy lộ vẻ ưu tư phiền muộn?

Cụ Thượng chiêu xong ngụm trà, chậm rãi:

-Anh khá tinh. Ðã mười năm hai bên Trịnh Nguyễn ngưng giao tranh. Thầy mừng, tưởng đâu họ nhận ra cái thế không bên nào có thể thủ thắng, bỏ cuộc được thua cho dân hưởng thái bình. Nay nhà chúa bỗng dưng tổ chức diễn binh lớn, phô trương lực lượng. Ðám võ tướng vênh vang diệu võ dương oai, thầy e thuở thái bình chẳng còn kéo dài được lâu.

-Con nghe nhà chúa tin dùng quan Thượng Phạm (Thượng Thư Phạm Công Trứ là sử gia có tài kinh bang tế thế), dụng kế sách ngưng chiến để xây dựng đất nước. Ở Ðàng trong, Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật cũng khuyên chúa Hiền nên chủ trương”bắc hòa nam tiến”. Tìm cách mở mang bờ cõi về phương nam.

-Anh còn trẻ nào thấu chuyện đời. Thầy biết rõ họ Trịnh, từ Thái Vương (Trịnh Kiểm) đến Triết Vương (Trịnh Tùng), Thanh Vương (Trịnh Tráng) rồi nay là Tây Vương (Trịnh Tạc). Các ngài đều là trang dũng tướng hiếu chiến và tham vọng. Quen sống trên lưng ngựa, xông pha trận mạc hơn ở lầu son gác tía. Ngay đến Quốc Công Trịnh Căn, người sẽ nối ngôi chúa tể Ðàng ngoài cũng là tay hào kiệt ngạo mạn, tất không bỏ qua thái độ thách thức của chúa Hiền. Năm ngoái, chính Trịnh Quốc Công khải chúa cho người vào nam đòi thuế nhưng chúa Hiền thẳng tay bác khước.

Người con suy nghĩ, lại hỏi:

-Hai họ Trịnh Nguyễn thù nghịch, mỗi người trấn mỗi cõi. Cớ sao chúa Trịnh lại sai người vào đòi thuế, chuyện vô lý ngang ngược làm sao chúa Nguyễn chịu nhún nhường?

-Bởi hai bên cùng nêu đại nghĩa phù Lê. Chúa Nguyễn làm chúa Ðàng trong nhưng vẫn dùng niên hiệu vua Lê, kết tội chúa Trịnh tóm thu quyền hành, coi vua là bù nhìn, tự tiện đặt để kẻ lên ngôi báu, nếu cần thí cả vua. Ngược lại chúa Trịnh lên án chúa Nguyễn phản nghịch, dám chống mệnh vua, coi thường phép nước.

-Con nghĩ cả hai bên đều chẳng coi vua ra gì. Họ giao tranh vì tham vọng mưu bá đồ vương. Quân dân hai bên phải lấy máu xây tham vọng cho một giòng họ. Tội ác lấy chi rửa sạch!

-Anh nghĩ phải. Thầy buồn vì lực bất tùng tâm, chỉ mong hai bên tỉnh ngộ ngưng đao binh cho dân yên sống. Cơ trời vận nước, thầy tin rồi cũng có ngày nước non nối liền một giải, nòi Việt trường tồn vinh quang.

Người con đi chợ sớm. Cụ Thượng Nguyễn bước ra sân thơ thẩn nhìn trời. Gió hiu hiu lạnh, chỉ còn hơn tháng nữa là tết…

Chiều hôm ấy trong phủ liêu, chúa Trịnh gặp các cận thần bàn quốc sự. Chúa vui cười cởi mở hỏi Quận Công Lê Thì Hiến tình hình biến giới phía bắc, vùng Cao Bằng Lạng Sơn. Hiến khải chúa các nơi yên tĩnh, mùa màng tốt tươi. Quốc Công Trịnh Căn, Tiết Chế thủy bộầ chư dinh tường trình tình hình xứ Nghệ, mọi người chú tâm theo dõi vị chỉ huy quân đội Ðàng ngoài:

-Khải chúa thượng, thần thanh sát xứ Nghệ non tháng. Quận Công Trịnh Ðống cần mẫn, bố phòng chu đáo. Ngoài dân yên ổn được mùa nên mức dự trữ lương thực nuôi quân khả quan.

Chúa gật gù hài lòng, hỏi tình hình Ðàng trong. Trịnh Căn tiếp:

-Phúc Tần (chúa Hiền) chuẩn bị chiến tranh, đắp thêm các chiến lũy Trấn Ninh, Sa Phụ… dự trữ lương thảo sẵn sàng tấn công quân ta bất cứ lúc nào. Ðiều này thần nghĩ sớm muộn gì cũng sẽ xẩy ra vì hắn vốn hiếu chiến, tự hào từng chỉ huy thủy binh đốt cháy chiến thuyền người Hà Lan tại cửa Eo (Thuận An) năm nào. Hắn thường lên giọng trịch thượng coi võ tướng Ðàng ngoài như cỏ rác…

Chúa nghe mặt đanh lại, hỏi:

-Ta thừa biết Phúc Tần ngỗ nghịch. Chính hắn cả gan hạ lệnh tấn công chiếm bảy huyện Nghệ An nhưng ta đã phản công đuổi hắn khỏi bờ cõi. Năm ngoái, Tham Chính Lê Ðức Toàn mang dụ của vua vào, hắn cương quyết không cho qua cửa Nhật Lệ. Ta giận nhưng tạm gác lo chuyện nội bộ, chẳng có nghĩa tha thứ kẻ phản nghịch. Khanh là tiết chế quân đội hẳn có kế sách đối phó?

Trịnh Căn lặng yên, ra vẻ suy nghĩ. Mọi người chờ nghe, Căn nói:

-Thần nghĩ giản dị:Tiên hạ thủ vi cường. Nay tướng sĩ ta khí thế đang lên, tinh thần tướng sĩ là yếu tố quyết định thủ thắng cho dù kẻ địch cậy hiểm địa.

Chúa nhìn Thượng Thư Phạm Công Trứ. Công Trứ đỗ tiến sĩ, người có công khảo duyệt, tục biên bộ Ðại Việt sử ký, lại là người chủ trương hòa bình xây dựng kinh tế để nước giầu dân mạnh. Trứ biết cha con nhà chúa muốn chiến chinh, cản ngăn vô ích. Nhất là Trịnh Căn vẫn mang mối hận nhiều phen trúng kế Nguyễn Hữu Dật thua chạy tan tác, ý muốn báo thù. Công Trứ muốn tìm cách hoãn binh, may ra với thời gian, chúa Trịnh tỉnh ngộ nhận ra Trịnh không thể thắng Nguyễn. Trứ từ tốn:

-Phúc Tần ngạo mạn đáng trừng phạt. Thần nghĩ Ðàng trong nhiều chiến lũy. Muốn đánh chiến lũy cần nhiều quân, nhiều lương thảo. Nay đang tiết đông chưa thuận tiện ra quân, hoàng thượng mới tức vị cần vỗ về an dân. Tốt nhất nên chờ sau vụ đông xuân thu thêm thóc lúa, đợi mùa hạ nắng ráo xuất quân là hợp lẽ.

Quận Công Lê Thì Hiến phản bác:

-Theo ý thần, phép dụng binh quý nhất tướng sĩ một lòng quyết chiến, lợi dụng bất ngờ tấn công khiến địch không kịp trở tay. Thần xét thấy nay ta đủ yếu tố tất thắng. Hơn nữa, danh tướng Ðàng trong nào còn ai đáng ngại. Nguyễn Hữu Tiến, con rể nghịch thần Ðào Duy Từ đã chết. Còn Nguyễn Hữu Dật, cũng là đệ tử họ Ðào nay ngót bảy mươi, sức cùn trí mỏi. Bao nhiêu năm nay dân Ðàng trong chịu sưu cao thuế nặng nên than oán. Vậy lúc này ta chẳng ra binh e mất cơ may.

Chúa nghe Thì Hiến nói xong, nhếch mép mỉm cười. Nụ cười bí hiểm pha chút ngạo mạn của người từng chủ trương dùng bạo lực làm chính sự. Qua những kinh nghiệm đau xót xẩy ra trong giòng họ ruột thịt hàng trăm năm dậy chúa điều ấy. Chúa từng xuống tay sát hại cháu ngoại, lập mưu giết Quận Công Trịnh Toàn là người em chỉ vì củng cố ngôi vương bá. Chúa nói với Thì Hiến:

-Khanh nói chưa hết ý. Hữu Dật tuy tài năng nhưng đã bị ta cho đòn ly gián chí tử. Phúc Tần trọng tài Hữu Dật, nể y là bậc huân thần nhưng trong dạ ngờ vực. Ta nghe đồn Dật lo sợ, từng bẻ mũi tên trước mặt Tần thề một lòng tận trung. Nếạu ta ra quân, chắc chắn Tần không dám giao trọng trách cho Dật. Dật đành bó tay thúc thủ. Ðó là ta đã loại được tay nguy hiểm.

Quần thần sôi nổi luận bàn. Cuối cùng chúa quyết định theo kế sách của Phạm Công Trứ. Lại truyền Trịnh Căn và Thì Hiến thường xuyên tập luyện thủy bộ, cách công thành phá lũy.

Mùa thu năm sau, mười vạn quân Trịnh rầm rộ tiến vào nam. Trịnh Căn làm đại nguyên súy chỉ huy thủy binh. Lê Thì Hiến thống suất bộ binh. Ðích thân vua Lê chúa Trịnh chỉ huy hậu quân vào thẳng Nghệ An. Dân hai miền nam bắc Bố Chính gạt lệ rời quê cha đất tổ, bồng bế dắt dìu nhau tản cư vào rừng sâu núi thẳm tránh hiểm họa. Còn đâu làng quê thanh bình, nay chỉ còn cảnh nhà trống ruộng hoang…

Tại Thuận Hóa, chúa Hiền nghe tin Trịnh động binh. Chúa nói với quần thần:“Ý ta chẳng muốn giao tranh nhưng Trịnh Tạc không từ bỏ mộng xâm lấn. Nay y đem quân vào, rồi cũng chuốc thất bại do ta chuẩn bị kỹ” Thấy chúa tự tin, quần thần phấn khởi. Chưởng Cơ Trương Phúc Cương bàn:

-Họ Trịnh xưa nay hiếu chiến ngạo mạn. Trịnh Tạc cử con là tiết chế, thần đề nghị chúa thượng cũng cử Chưởng Cơ Hiệp Ðức cầm quân (Ðức là con trai thứ tư của chúa). Ý ta tỏ cho Trịnh biết họ Nguyễn chẳng thiếu tướng tài. Thần thấy Chưởng Cơ tuy trẻ nhưng tài đức vẹn toàn, bản lĩnh trí mưu đáng mặt lĩnh ấn nguyên nhung.

Chúa nghe cả cười khen ý hay, nói:

-Ta bấy lâu không chinh chiến cơ thể suy nhược, gân cốt uể oải, nay cũng nhân dịp trở lại chiến trận trợ chiến, đồng lao cộng khổ với chư tướng ba quân.

Ngay hôm ấn, chúa cử Hiệp Ðức làm nguyên súy, truyền các ty dụng sức trâu, ngựa, kể cả voi chuyển lương thực ra mặt trận. Chúa quen chinh chiến, muốn buộc quân Trịnh phải công thành nên trữ nhiều lương thực. Trì hoãn chiến càng lâu, quân Trịnh càng thất lợi.

Chưởng Cơ Hiệp Ðức đêm ấy trăn trở. Mới mười chín tuổi đầu, Hiệp Ðức không dám khước từ trọng trách phụ vương giao, nhưng thực tâm không muốn thấy cảnh đầu rơi máu chảy. Hiệp Ðức được ấp ủ nuôi dưỡng, tư chất thông minh, tiÔnh tình thuần hậu, quí người chất phác, thương kẻ cơ hàn. Thích yên tịnh thanh cao hơn ngồi quanh tiệc rượu. Sáng sớm, Ðức đến trướng phủ xúc tiến ngay việc vận lương. Mười vạn quân sĩ các nơi được điều động hàng hàng lớp lớp ra mặt trận. Ðức rất kính trọng Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật, cho thủ hạ mời Hữu Dật đến tham khảo. Hiệp Ðức nói:

-Tiểu sinh tuổi đời non trẻ, lần đầu tiên được chúa thượng giao trọng trách rất đỗi lo lắng. Ngài từng trải trên năm mươi năm kinh nghiệm chiến chinh, từng làm họ Trịnh nhiều phen nếm mùi chiến bại cay đắng. Xin cho đôi lời chỉ giáo, làm sao đánh bại mười tám vạn quân Trịnh?

Vị lão tướng tóc bạc như cước vẫn nhanh nhẹn tráng kiện, chậm rãi:

-Chúa thượng tự tin, hẳn ngài sẵn kế sách chiến thắng. Tôi nghĩ vùng cửa sông Nhật Lệ sẽ là chiến trường. Ðịch công thành thì ta tử thủ. Tôi cam đoan địch chỉ khoảng mười vạn quân, nói phóng lên mười tám vạn. Mười vạn quân phải công thành, lại giao tranh trên đất địch nên phải đánh mạnh đánh nhanh. Ta kiên trì dũng cảm địch sẽ thất bại.

-Chiến lũy kiên cố của ta có đủ sức cầm chân quân Trịnh thời gian dài?

-Tôi đã nói, nếu địch quyết tâm mà ta thối chí thì chiến lũy dù kiên cố cách mấy cũng bị phá. Tướng quân chớ khinh địch vì Trịnh Căn và Thì Hiến không phải tay vừa.

Nghe Hiệp Ðức nói cách điều binh của chúa Hiền, Hữu Dật buồn lòng khi chúa chỉ định mình trấn lũy Sa Phụ nhưng không tiện nói. Cử tướng già giữ lũy là thất cách, biểu lộ ý chúa không muốn dùng Hữu Dật làm tham mưu như sáu lần giao tranh trước. Nỗi buồn lớn nhất của vị lão tướng, Hữu Dật biết chúa vẫn nghiêng về phía cận thần, những người vốn đố kỵ, ganh ghét tài năng với mình từ lâu. Ðêm ấy ông thao thức, nhìn lại cuộc đời qua nhanh như mây trôi gió thoảng khác chi giấc mộng lớn…

Tháng bảy nhiều ngày u ám, trời đất phiền muộn nước mắt ngắn dài thương xót cảnh vợ chồng Ngâu tan hợp. Ðại binh Nguyễn dàn xong trận thế, trấn giữ nơi hiểm yếu, đóng cọc gỗ nhọn vùng cửa biển Nhật Lệ. Phía Trịnh, Nguyên súy Trịnh Căn cho quân vượt sông Gianh, ban tờ hiểu dụ quân dân Thuận Quảng. Tờ dụ kể tội chúa Nguyễn phản nghịch phải bị trừng phạt. Ðêm rừng núi âm u, quân Nguyễn trong lũy nghe rõ tiếng loa vang:“… Hỡi quân dân hai xứ Thuận Quảng. Nếu các người bỏ tối về sáng, tránh bọn hà ngược hoặc trở giáo đầu hàng, đến cửa quân xuất thú sẽ được thưởng không. Nhân dân biệt xứ do bị dụ dỗ, hoặc phạm tội lỗi bỏ trốn theo nghịch. Nếu ra hàng cũng được tha thứ…”

Những trận đánh đầu tiên mở màn, quân Trịnh đạt nhiều thắng lợi, bao vây lũy Ðộng Hải, dàn quân từ núi ra tới biển trấn áp địch quân. Chúa Hiền thấy thế địch mạnh vội truyền lệnh tuyển thêm binh từ hai xứ Thuận Quảng. Ðể tiện theo dõi chiến trường, chúa tiến gần chiến địa, đóng quân tại xã Toàn Thắng (phía bắc Quảng Trị). Lúc ấy quân Nguyễn lại vừa thua trận lớn tại một ngọn núi gần lũy Ðộng Hải. Trịnh Căn hạ lệnh tấn công lũy Trấn Ninh. Trận chiến ác liệt ngay từ đầu. Quân Nguyễn kiên cường giữ lũy đẩy lùi nhiều đợt công thành. Trịnh Căn tức giận lệnh Lê Thì Hiến bằng mọi giá phá lũy. Thì Hiến ra lệnh tử chiến, hàng ngàn quân cảm tử reo hò tiến sát chân lũy, san hào lấp rãnh, đục lũy, bắn tên, thả diều lửa, nã súng thần công, dùng thang dây leo lên lũy. Lớp này ngã, lớp khác tràn lên. Quân Nguyễn do Chưởng Cơ Trương Phúc Cương chỉ huy dùng cung tên giáo mác, câu liêm, đạn nổ… chống quyết liệt. Quân hai bên đều thiệt hại nặng, xác người khắp nơi, ngổn ngang dưới chân lẫn trên lũy. Ðêm về thê lương, gió núi trăng ngàn lẫn tiếng khóc la rên siết của thương binh. Lê Thì Hiến say máu, ra lệnh toán trợ chiến tiếp tục công thành.

Tình hình Trấn Ninh nguy ngập, Phúc Cương cho người thoát ra xin Nguyên súy Hiệp Ðức cho lệnh bỏ lũy. Hiệp Ðức nghĩ rút khỏi lũy sẽ làm tình hình nguy ngập, mở đường cho địch tiến sâu uy hiếp các trọng điểm. Ðức truyền Phúc Cương tử thủ, cho người khẩn đến lũy Sa Phụ ra lệnh lão tướng Nguyễn Hữu Dật tiếp viện Trấn Ninh.

Nhận lệnh, Hữu Dật lo lắng, chần chờ không dám ra quân sợ Sa Phụ bị đánh úp. Cuối cùng, Hữu Dật tuân lệnh nhưng yêu cầu Hiệp Ðức thay mình trấn giữ Sa Phụ. Ðoàn quân di chuyển gấp đến lũy Trấn Ninh. Ðêm đen phủ sương mờ, Dật cho quân nổi trống reo hò, đốt đuốc rợp trời… Lê Thì Hiến thấy có viện binh, sợ tiếp tục giao tranh bất lợi hạ lệnh tạm lui binh. Ngay đêm ấy, quân Nguyễn ra sức củng cố phòng thủ, dựng ván, đắp đất vá những chỗ lũy bị vỡ.

Liên tiếp nhiều ngày, quân Trịnh tiếp tục tấn công nhưng chiến lũy vẫn đứng hiên ngang. Sự có mặt của Hữu Dật gây tin tưởng làm quân Nguyễn kiên cường chống cự. Bấy giờ là tháng cuối năm, trời mù hơi sương. Trịnh Căn rút quân về giữ tả ngạn sông Gianh. Thì Hiến trúng kế nghi binh của Hiệp Ðức, lo sợ tưởng sẽ có hàng vạn quân Nguyễn và voi trận đến tiếp viện. Hôm sau nhận hung tin Nguyên Súy Trịnh Căn ngã bệnh nặng. Thì Hiến không dám chần chờ vội rút quân ngay đêm ấy. Hữu Dật cho quân truy kích nhưng quân Trịnh đã vượt sông Gianh.

Hiệp Ðức đến lũy Trấn Ninh, lần đầu tiên chứng kiến hàng núi xác người, những xác chết ghê rợn thảm thương, thi thể dập nát bị ruồi nhặng phủ đen. Quân Trịnh rút nhanh bỏ lại tử thi đồng đội. Doanh trại phải dành chỗ chứa hàng ngàn thương binh, kẻ bị phỏng trở thành kinh tởm dị dạng, người bị thương rên siết đau đớn. Góc này góc nọ có kẻ hấp hối lắp bắp lời trăn trối chen lẫn tiếng khóc u uất nghẹn ngào của đồng đội. Không khí nặng nề trộn mùi hôi thối từ những vết thương. Hiệp Ðức ngậm ngùi, ra lệnh dùng tất cả các phương tiện chuyển thương binh về hậu cứ. Tử thi được bó chiếu đặt trên những tấm liếp đan bằng nứa… Một hố sâu đào sát mé rừng làm mồ chôn tập thể quân Trịnh. Những người lính sống chết vẫn bên nhau, chung một nấm mồ.

Vài ngày sau, lão tướng Nguyễn Hữu Dật báo tin đã nhận hàng ngàn tù binh được quân Trịnh thả về. Nguồn tin phấn khởi lòng người, phải chăng quân Trịnh thực sự rút lui chấm dứt trận chiến?

Nhận tin, Hiệp Ðức vội dẫn vài trăm kỵ binh thẳng đến bờ nam sông Gianh nhận định tình hình. Ðức hỏi Hữu Dật:

-Theo ngài quân Trịnh thực sự muốn bãi binh?

-Tôi đoan chắc. Tin do thám mới nhận, vua Lê chúa Trịnh đã trở lại Ðông Ðô sau khi tổ chức tiệc mừng thắng trận! Trịnh Căn bệnh nặng đang ở Nghệ An, quân Trịnh đóng đồn bên kia sông sẽ chỉ bắt buộc giao tranh nếu ta vượt sông.

-Ngài nghĩ ta có nên truy kích tiếp?

-Chẳng nên, bên này là đất ta, sang kia là đất người. Tinh thần chiến đấu của quân Trịnh sẽ lên cao vì ta xâm lấn, rút cuộc chỉ hao của hao người. Nghĩ cho cùng cũng chỉ người Việt tàn sát lẫn nhau…

Trên mặt vị lão tướng lộ nét đăm chiêu phiền muộn. Hiệp Ðức cũng nghe lòng nặng trĩu, lại hỏi:

-Ngài nghĩ cuộc chiến sẽ tái diễn?

-Cha con chúa Trịnh chắc chắn sau bao lần giao tranh, sẽ nhận ra khát vọng chiến thắng của họ chỉ là tuyệt vọng…

Chiều dần tàn, gió lạnh se sắt. Hiệp Ðức thơ thẩn ven sông, ngồi dựa gốc đa nhìn sang bờ bên kia. Thôn làng hoang vắng, dăm mái tranh lụp xụp. Sau đám ruộng hoang, đồn lũy quân Trịnh san sát… Hình ảnh chết chóc ghê rợn hằn sâu ám ảnh viên tướng trẻ. Cuộc chiến vô nghĩa do tham vọng quyền lực giữa hai giòng họ, vinh quang xây bằng hận thù, bằng máu xương người khác là tội ác. Hiệp Ðức đứng dậy, rút gươm khỏi vỏ… phóng mạnh lưỡi gươm xuống giòng nước biếc.

Sông Gianh vẫn lặng trôi, êm đềm thản nhiên trở thành giòng sông phân ly, chia đôi ân tình đôi bờ nam bắc, vết cắt ngang thịt xương dân tộc…

Hiệp Ðức trở về phủ Kim Long, chúa Hiền mở đại tiệc mừng chiến thắng. Trong khung cảnh tưng bừng đàn ca hát xướng, tiếng chúc tụng bằng những chung mỹ tửu như suối tràn, Nguyên Súy Hiệp Ðức dường như gượng vui đón nhận. Hình ảnh ghê rợn thảm thương của trận chiến vẫn hàng đêm ám ảnh. Hiệp Ðức thấy sức khỏe ngày càng hao mòn, xin với chúa Hiền được phép tĩnh dưỡng tại một cảnh chùa vắng bên sông Lô Dung (sông Hương sau này). Ba năm sau Ðức mất. Có người kể những ngày cuối đời, Hiệp Ðức viết cho chúa Hiền một bức thư lời lẽ thống thiết xin cha bãi bỏ cuộc đao binh. Ðức viết tại sao người Việt chỉ nói chuyện với nhau bằng đao kiếm, mà quên không bắc cho giòng sông một nhịp cầu…

Thời gian qua, một rồi mười, đến gần trăm năm… Hai họ Trịnh Nguyễn ngừng chém giết. Những thế hệ nối tiếp sinh ra và lớn lên thay dần thế hệ ông cha cằn cỗi tuổi đời. Dân đôi bờ sông Gianh được sống thái hòa, người ta đồn rằng: Sau cuộc thất bại vào năm Nhâm Tý 1672, ngay năm sau chúa Trịnh lại sai Quốc Công Trịnh Căn vào Bố Chính quan sát địch tình. Ðêm hôm ấy, Căn ngủ trong căn cứ sát sông Gianh. Bỗng nghe tiếng nổ như sấm, nước sông cạn khô, đáy sông hiện ra hàng hàng lớp lớp những bộ xương người. Gió hiu hiu tanh mùi máu, rồi phong ba bão táp ào tới như đất trời cuồng nộ. Nhữ ng bộ xương bỗng biến thành người vươn vai đứng dậy. Trịnh Căn nhìn kỹ mầu áo, nhận ra toàn là quân Trịnh Nguyễn, lại có đoàn quân không đầu thấp thoáng phía xa. Lát sau, đoàn quân tràn vào căn cứ như sóng vỡ, gào thét khóc than gọi đích danh chúa Trịnh và Trịnh Căn đòi đền mạng. Căn hoảng hốt vung bảo kiếm chống đỡ nhưng thanh kiếm bỗng gẫy ngang, máu tuôn như suối… Trịnh Căn giật mình thức giấc mới hay chiêm bao, toát hạn dầm dề. Trở lại kinh đô, Căn kể lại cho chúa Trịnh nghe chuyện giấc mơ. Chúa thất sắc kinh hoàng vì vài đêm trước, chúa cũng đã từng thấy giấc mơ giống hệt như thế…

ĐÊM CHIA LY PHÚ XUÂN

Kể từ năm Ất Dậu 1558, thiên mệnh như dành sẵn xứ Thuận Hóa cho Tiên Chúa Nguyễn Hoàng, thuộc giòng họ Nguyễn làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa. Thúc dục Tiên Chúa dùng Thuận Hóa làm bàn đạp, tiếp bước cha ông, dẫn người Việt đi tiếp đoạn đường trường chinh về phương nam mở rộng cõi bờ.

Thuận Hóa dưới thời nhà Trần vốn là hai châu Ô, Lý của Chiêm Thành. Những năm đầu thế kỷ mười bốn, thời vua Trần Anh Tôn. Vua Chiêm Chế Mân thích nét đẹp yêu kiều của thiếu nữ Việt. Lại nghe đồn Huyền Trân công chúa, con Thượng Hoàng Nhân Tôn là trang quốc sắc thiên hương, Chế Mân nhân chuyến Thượng Hoàng nam du bèn đến triều kiến, khẩn khoản xin được làm con rể Thượng Hoàng, hứa dâng hai châu Ô, Lý làm sính lễ. Thượng Hoàng trở về nói với Anh Tôn:“Ta nay tu dưỡng nên tránh việc thế. Con liệu giải quyết sự việc, sao cho hai nước Việt Chiêm giao hảo, tránh can qua mà khổ lê dân”. Anh Tôn thương em không muốn thấy cảnh chia lìa (Huyền Trân là em gái vua), nhưng trọng Thượng Hoàng nhân ái, bèn hỏi ý các đại thần. Ðám văn quan vốn xem Chiêm Thành là nước man di, ý không muốn đem hạt gạo trắng ngần mà vo nước đục, mà vần lửa rơm… Riêng Thượng Tướng Trần Khắc Chung, danh tướng thao lược khuyên vua nên bằng lòng. Chung nói:“Trải nhiều phen quan hệ giữa Chiêm và ta chẳng mấy khi tốt đẹp. Người Chiêm nhận ra khát vọng bành trướng lãnh thổ về phương nam của ta, nên lúc binh đội mạnh thường tìm cách vượt biên quấy phá không cho vùng biên giới phía nam yên ổn. Thần có dịp đi ngang hai châu Ô Lý, vùng này núi non trùng điệp, như thành vách ngăn đỡ phía tây với Ai Lao. Sâu vào hướng nam núi non hùng vĩ, trên cao đụng mây, dưới biển xanh mênh mông sóng vỗ là thành vách chống đỡ mặt nam (tức Hải Vân Sơn sau này). Sông ngòi đan nhau tiện dụng cho thủy binh, vùng đồng lầy hung hiểm sẽ là phên giậu vững chắc ngăn ngừa người Chiêm bắc tiến. Ấy là chưa kể vùng đồng bằng phì nhiêu chứa biết bao cây lành quả ngọt hứa hẹn ấm no. Ðưa công chúa đến Chiêm Thành khác nào đem má phấn đổi lấy trường thành, đó là vùng đất trời dành, là kế lâu dài dựng nghiệp, bệ hạ minh xét”. Vua nghĩ suy cặn kẽ, cuối cùng đám cưới vương giả giữa vua Chiêm và Huyền Trân công chúa được cử hành.

Ðám quan lại, binh sĩ nhận lệnh vua lên đường trấn nhậm đất mới kéo theo thành phần cư dân phức tạp, từ những nghèo khổ vùng Thanh Hóa Nghệ An đến những người phiêu lưu, đám du thử du thực từng vào tù ra khám ào ạt đi tìm vận may nơi quê hương mới. Số đông người Chiêm đau đớn nhìn cảnh đất nước bị cắt chia dâng hiến ngoại bang, ngậm ngùi xa lìa thôn xóm, cúi lạy ngọn tháp thần linh chơ vơ, lũ lượt vượt núi băng rừng, lênh đênh trên biển đi về phương nam. Ðám dân Chiêm ở lại, có kẻ nuôi hận thù dùng bạo lực chống người Việt. Số người hiền hòa sống cam chịu nhất quyết không rời thần linh, không bỏ quê cha sống quẩn quanh gần những ngọn tháp ngày ngày phụng thờ hương khói.

Bước nam tiến của người Việt bắt đầu trở lại vào năm Tân Hợi 1611. Lợi dụng Chiêm Thành suy yếu, Tiên Chúa Nguyễn Hoàng vượt đèo Cù Mông, đánh chiếm vùng đất phía nam lập phủ Phú Yên. Người Chiêm không ngừng chia rẽ, mộng tranh cướp ngôi vương bá dẫn đến nội chiến, quên hiểm họa xâm lăng của người Việt. Tám mươi hai năm sau, trải qua năm đời các chúa Nguyễn hùng cứ phương nam, vị chúa thứ sáu Minh Vương Nguyễn Phúc Chu chiếm Phan Rang, vùng đất cuối của Chiêm Thành. Người Chiêm như chim lìa đàn, mang nỗi hận vong quốc tha hương. Hàng vạn người qua tận Chân Lạp, hoặc đi vào chốn thâm sơn cùng cốc sống ẩn dật nhờ cây rừng chở che khỏa lấp nỗi đau. Nhiều người vẫn bám làng thôn, nhẫn nhục sống với người Việt để ngày ngày còn nhìn thấy những ngọn tháp rũ buồn muốn khóc. Những người dân mất nước kia, có người gửi tâm trạng trong khúc hát khắc khoải u sầu, tiếng hát não nề xé ruột gan luẩn quẩn trong làng thôn, quấn quít quanh ngọn tháp chơ vơ mưa nắng. Có những người Việt tấm lòng như biển, đồng cảm nỗi đau nhục nhằn trước cảnh nước mất nhà tan, thương khúc hát bi ai kia, tô điểm làn điệu Chiêm phổ vào lời ca Việt thành khúc Nam Ai thê thiết. Nam Ai cuối cùng chọn Phú Xuân làm chốn nương thân, bởi người Phú Xuân, sau này thường được gọi là người xứ Huế, với giọng nói bổng trầm đặc biệt mới có thể nói hết cái hồn của Nam Ai. Nam Ai yêu nét trang nghiêm u tịch xứ Huế, yêu giòng sông Hương hoàng hôn khói sương, đêm trăng lung linh mờ ảo nên lưu luyến chẳng rời. Nam Ai với thời gian, như cây cầu nối kết dẫn người Chiêm người Việt lại gần nhau, xoa mờ mặc cảm chiến bại, xoa dịu mối hờn vong quốc. Cuộc bể dâu dù tang thương rồi cũng mờ phai theo tháng năm, còn lại chăng, cái đáng trân quý chỉ là tấm lòng giữa những con người…

***

Mùa hạ năm Mậu Ngọ 1738, Ninh Vương Nguyễn Phúc Trú từ trần. Con trai cả của chúa, Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát thay ngôi cha, trở thành vị chúa thứ tám của giòng họ Nguyễn. Nối tiếp truyền thống ông cha, chúa sùng đạo Phật, xưng là Từ Tế đạo nhân. Vị chúa trẻ trung mới hai mươi lăm tuổi mang ước vọng thay da đổi thịt phương nam, xứng ngôi bá chủ luôn các lân quốc như Chân Lạp Xiêm La, vượt hẳn quyền uy họ Trịnh ở phương bắc. Vừa lên ngôi, chúa họp ngay các cận thần bàn việc hệ trọng. Cận thần của chúa thường là đám văn võ quan trẻ trung, tuổi dưới ba mươi, cùng trang lứa với chúa. Chúa thông minh thực tế, cho người trẻ năng động dám nói dám làm. Những viên quan trọng tuổi nặng nợ áo cơm, kinh nghiệm sống biến họ thành những người dè dặt đến độ sợ trách nhiệm. Chúa nói:“Ta nhìn kỹ địa đồ, thấy đất Phú Xuân đứng ở thế trung tâm, như sao Bắc Thần đứng thế cao mà các sao khác chầu vào. Ðó là thế đất dựng nghiệp muôn đời không thể bỏ. Ta nên dời dinh về đấy, các khanh nghĩ thế nào?” Tham Mưu Nguyễn Cư Trinh tuổi mới ngoài hai mươi nhưng nổi tiếng hay chữ, cai trị giỏi và rất mực thanh liêm góp ý:

-Thần vốn người huyện Hương Trà nên nhận ra Phú Xuân là vùng đất tốt. Ðường thủy có nhiều cửa biển hung hiểm, đường bộ bắc nam có Hoành Sơn và Hải Vân làm thành lũy. Hình thế núi sông vững như bàn thạch, như hổ như tượng, như ngưu như long. Ðó là kỳ quan trời dành cho ta dựng nên kinh đô bề thế vững chãi.

Văn quan Nguyễn Ðăng Thịnh phụ họa:

-Thần nhận thấy sông Dinh (sau này gọi là sông Hương) như thanh long uốn lượn, mang hương thơm của các loài thảo mộc từ thượng nguồn, qua những thôn xóm an lành cây xanh rợp bóng, phong cảnh hữu tình tạo cho Phú Xuân vẻ đẹp mỹ miều. Phía đông bắc lại có Bằng Sơn dáng uy nghi cân đối. Hai bên lại có Tả Phù Hữu Bật. Giòng sông kia và ngọn núi này tạo cảnh sơn thủy hữu tình. Ðứng trên núi Bằng vào ngày đẹp trời sẽ thấy phong cảnh toàn vùng. Từ những rừng thông xanh vi vút hát ca, đến những vùng ruộng vườn xanh tốt, xa hơn nữa là mầu xanh thẳm của vùng biển đông bát ngát mênh mông. Phú Xuân xứng đáng trung tâm văn hiến của cả vùng đất phương nam trù phú.

Kế hoạch dời Chính Dinh vào Phú Xuân được xúc tiến ngay. Hàng vạn quân dân xứ Quảng được điều về Phú Xuân xây dựng cung điện, đường xá, làm cầu nối đôi bờ nam bắc sông Dinh. Chúa quy hoạch vùng dành riêng cho đám quan lại. Thương gia từ nhiều nơi, nhất là đám thương gia ở Phố Hội Quảng Nam kéo về Phú Xuân lập các thương điếm. Chợ Dinh ngày càng đông đúc, tấp nập kẻ bán người mua.

Mùa xuân năm sau mọi việc ổn định, chúa cùng triều thần chuyển về Chính Dinh Phú Xuân. Chúa ngày đêm chăm lo việc nước, cải tổ nhiều điều. Quyền lực chúa Nguyễn nay bao trùm hầu hết vùng Thủy Chân Lạp. Người Việt bất chấp hiểm nguy tiến dần vào phương nam, vùng lưu vực hai sông Cửu Long và Ðồng Nai. Vùng đất với những sông ngòi chằng chịt đan nhau, rừng cổ thụ lẫn rừng thưa nối tiếp dẫy đầy ác thú. Cho dù trăm vạn hiểm nghèo bất trắc “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn. Xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma”vẫn không ngăn nổi khát vọng nam tiến của người Việt. Vùng đất mới phía nam dần dần biến thành nơi cư ngụ của bao sắc dân: Việt, Tàu, Chàm, Miên và những người thiểu số khác… Họ không cùng quá khứ nhưng cùng khát vọng chung xây dựng tương lai sáng tươi. Tất cả cùng hòa nhịp sống chung thân ái biến miền nam thành vùng đất trù phú phì nhiêu, vùng đất lành nuôi dưỡng mời gọi những cánh chim lưu lạc.

Mùa xuân năm Canh Tý 1744, trong dinh có cây sung nở hoa. Chúa vui mừng cho là điềm lành, triệu tập cận thần họp bàn ý muốn xưng vương. Chúa nói:“Mấy năm nay ta điều nghiên kỹ tình hình Ðàng ngoài. Kể từ khi Trịnh Giang lên nắm ngôi chúa, thực chất hắn chỉ là người ươn hèn, xa xỉ dâm dật nên trong nước biến loạn. Những người trực ngôn lên tiếng khuyên can đều bị biếm chức. Giang dùng công quỹ xây dựng chùa chiền hành cung phủ đệ tráng lệ nguy nga, dân è cổ gánh sưu cao thuế nặng. Nông dân uất ức nổi dậy nhiều nơi làm tình hình càng thêm hỗn loạn. Ðám hoàng tộc nhà Lê như Duy Mật, Duy Chúc âm mưu đốt kinh thành mong lật đổ họ Trịnh nhưng thất bại chạy vào chiếm vùng thượng du Thanh Hóa. Năm Canh Thân (1740), Trịnh Doanh phải truất quyền Giang lên ngôi chúa. Doanh khá hơn Giang nhưng vẫn chưa ổn định nổi tình hình. Xét như thế thì cái lực của Ðàng trong vượt hẳn Ðàng ngoài, dân ta giàu, nước ta mạnh, vùng đất ta làm chủ cũng hùng vĩ bề thế hơn. Ta nghĩ đã đến lúc nên cải đổi danh vị cho hợp với thời thế.”

Ðám cận thần bàn bạc, vài ngày sau dâng biểu xin chúa định vương vị. Biểu văn ca tụng công đức chúa cao dầy xứng lên ngôi cao để thuận ý trời, hợp lòng trăm họ khao khát.

Ðầu hạ, chúa lên ngôi vương. Ðể tỏ rằng đây là bước khởi đầu của vận hội mới, chúa ban hành hàng loạt cải tổ, lập các bộ, thay đổi triều phục quan lại cũng như y phục dân chúng. Chính Dinh Phú Xuân đổi thành Ðô Thành Phú Xuân. Ðể xứng danh đô thành, chúa truyền kiến trúc thêm cung điện đền đài. Nào điện Kim Hoa, gác Triêu Dương, đài Lương Xuân, đình Giáng Hương… Ðô thành dần trở thành chốn phồn hoa đô hội, phố chợ tiếp nối, đường phố đan nhau như bàn cờ. Trên sông Dinh thuyền bè qua lại như mắc cửi, trên bến dưới thuyền tấp nập. Giới quan lại được chúa ưu tiên cấp đất xây cất dinh thự ẩn giữa những vườn cây xanh tươi bao quanh bởi hàng rào dâm bụt tạo vẻ cổ kính trầm mặc, nét đặc sắc của Phú Xuân không nơi nào có. Các quan đua nhau làm đẹp nhà cửa, chạm khắc công phu mỹ thuật. Phú Xuân trở thành tâm điểm của giới quý tộc, tao nhân mặc khách khắp nơi tụ về đề thơ ngâm vịnh. Ðám thi nhân mơ mộng không bằng lòng với tên sông Dinh, đặt cho giòng sông tên mới. Hương Giang mỹ miều như thiếu nữ phới phới xuân tình ủ hương thơm hoa lá, mang chất thơ trầm lắng tô điểm đô thành. Khách đến núi Ngự vào buổi bình minh nắng vàng rực rỡ long lanh trên giòng sông lặng lờ uốn quanh, hoặc lúc hoàng hôn ảm đạm u tịch, cảm nhận thấm thía vẻ đẹp như thơ như họa của một góc trời Phú Xuân. Sông Hương Núi Ngự trở thành biểu tượng của chốn đế đô văn vật…

***

Ðầu mùa đông, những cơn mưa thác lũ biến giòng Hương hiền hòa thành biển sóng phù sa thịnh nộ. Những cơn mưa nhè nhẹ tiếp nối mờ đục đất trời, mưa lê thê gọi về những cơn gió lạnh tê tái. Mưa cầm chân chim muông trong tổ, cây cỏ ủ ê mà lòng người cũng héo úa. Dù thời tiết khắc nghiệt cách mấy, hàng ngàn người vẫn lầm lũi đội mưa, chuyển gạch đá xây dựng cho xong vườn Hậu Uyển trước mùa xuân năm sau. Các viên quan đốc công luôn miệng hò hét, quay tít ngọn roi da thúc dục mọi người gắng sức. Những tiếng dô hò dô ta át tiếng mưa rơi, xua cơn gió buốt. Bao nhiêu kỳ hoa dị thảo từ nhiều nơi xa xăm được mang vào khu vườn, kể cả những cây lớn được bứng nguyên gốc cẩn thận, chăm bón kỹ sợ cây héo khô. Ai nấy thừa hiểu ý chúa là ý trời, không làm xong nhiệm vụ tất đầu lìa khỏi cổ. Cho dù chúa mộ đạo, xưng là Từ Tế đạo nhân nhưng không có nghĩa độ lượng dung tha kẻ thừa hành sai sót. Ðạo đức của kẻ cai trị khác xa với đạo đức thường tình thế nhân… Rất may tháng cuối năm bớt mưa, công việc xúc tiến nhanh hoàn thành Hậu Uyển trước tết chỉ độ dăm ngày. Mọi người mừng vui vừa trút gánh nặng. Chúa hả hê vì khu vườn là món quà đầu xuân chúa tặng Trần phu nhân, người vợ được chúa sủng ái hơn tất cả mọi phu nhân khác trong hậu cung, kể cả Chính phu nhân.

Những ngày đầu xuân nắng ấm, cây cảnh được chăm bón, săn sóc bởi những bày tay khéo léo vươn mình đón xuân. Chúa dẫn Trần phu nhân dạo quanh Hậu Uyển ngắm nghía những hồ nước trong xanh, nào cầu vồng nào thủy tạ khắc hình chim muông, tứ linh, nét khắc tinh xảo của những tay điêu khắc lừng danh từ Ngũ Hành Sơn xứ Quảng được triệu về tô điểm. Phu nhân trầm trồ ngợi khen. Chúa vui, lòng như mở hội. Phu nhân dừng lại nhìn ngọn núi đứng giữa hồ nước xanh tượng trưng bể khơi, trên núi tạc hình thiếu nữ trông như tiên nga cầm cành đào, bên cạnh là văn nhân áo xanh nho nhã. Chúa nói:“Ðó là tượng hình núi Thần Phù ở xứ Thanh, trên núi có động Bích Ðào. Phong cảnh nên thơ hữu tình là nơi thần tiên thường ghé đến. Ðời nhà Trần có người Từ Thức gặp tiên Giáng Hương cũng ở nơi này. Những hình tạc kia là chỉ tích ấy.”

Chỉ hòn non bộ kỳ vĩ núi non trùng điệp gần bên, chúa nói:“Khanh biết hòn non bộ tượng hình gì không? Rặng núi dài như chuỗi ngọc gồm mười hai ngọn nối liền là núi Trinh Tường ở phía tây bắc đất tổ. Làng Gia Miêu huyện Tống Sơn trấn Thanh Hóa. Ðây là nơi an táng chúa tổ và phu nhân (Nguyễn Kim, thân phụ Tiên Chúa Nguyễn Hoàng). Ngôi mộ táng đúng hàm rồng, tương truyền cứ năm trăm năm mới mở một lần. Trời dành sẵn cho giòng họ Nguyễn báu huyệt. Khi vừa táng xong bỗng cửa huyệt khép kín. Rồi mưa to gió lớn, sấm giăng chớp giật xé trời. Mọi người kinh hãi chạy toán loạn. Lát sau trời quang mây tĩnh, mọi người tụ lại chỉ thấy núi đá liên tiếp, cây cối xanh um không còn nhận ra huyệt mộ nên về sau lễ vọng, con cháu chỉ hướng vào núi vái lạy mà thôi. Ta nay ở xứ này nhưng cũng có ngày quyết dành lại đất tổ”.

Trời ngả nắng, chúa và phu nhân ngồi trong thủy tạ. Bọn nội quan bày sẵn bàn tiệc gồm đủ sơn hào hải vị. Viên quan rót mỹ tửu rót trong chén ngọc dâng chúa thưởng thức. Phu nhân nể lòng chúa chỉ uống nửa chung mỹ tửu mà đôi má đã nhuộm hồng mười phần xinh tươi duyên dáng… Chúa say đắm nhìn phu nhân, bỗng nhớ chuyện mười năm trước khi chưa kế nghiệp tiên vương, công tử Nguyễn Phúc Khoát một lần ghé ngang huyện Phong Lộc thăm dân tình. Có người giỏi nghề tướng số, danh nổi khắp vùng, chuyên coi nhân hình mà đoán hậu vận chẳng sai đến gặp công tử. Nhân nói đến nữ tướng, người thầy tướng không ngớt khen quan Khám Lý họ Trần người Phong Lộc có con gái tuổi mới đôi mươi xứng trang quốc sắc, tướng quý đáng bậc mẫu nghi thiên hạ. Thầy tướng tả:“… nàng có nước da trắng long lanh ánh trăng, mái tóc như mây, mày cong lá liễu phủ đôi mắt nhung trong như trời xanh buổi sớm. Má hồng môi thắm, miệng xinh, tươi như hoa hé nụ…” Công tử mới nghe tả sơ mà tâm can mê mẩn. Trở về Chính Dinh, công tử xin phụ vương được phép cùng nàng trăm năm kết tóc. Ðược phụ vương ưng thuận, công tử khẩn báo tin cho họ Trần định ngày đến nộp sính lễ. Buổi đầu tiên đến xem mắt mỹ nhân, công tử choáng váng ngây dại trước nhan sắc quá ư diễm lệ, ngàn vàng khó đổi. Công tử mừng vui, thầm cám ơn trời tặng báu vật. Ngay tháng sau, đám cưới vương giả được cử hành.

Trần phu nhân về làm dâu nhà chúa vẫn sống giản dị đạm bạc, khéo xếp việc nhà lại giỏi chiều chồng nên được công tử hết mực thương yêu. Khi công tử Khoát lên ngôi chúa, cái tình của chúa với phu nhân vẫn nồng thắm như thuở ban đầu… Chúa âu yếm mời phu nhân cùng uống chung rượu quý. Ðêm khuya trăng tàn, chúa vui uống tràn quá chén. Ðích thân phu nhân dìu chúa vào hậu cung. Hôm sau khi chúa vừa thức giấc, phu nhân tự tay pha mời chúa thưởng trà. Thấy dáng phu nhân mỏi mệt, chúa truyền nội giám thỉnh ngay ngự y Phúc Lư vào nội cung chẩn bệnh cho vợ.

Ngự y Phúc Lư người Tây Dương (tên thật Koeffler), là giáo sĩ đạo Gia Tô nhưng được chúa trân trọng do tính nhân ái, lại giỏi về y học, thiên văn, nói rành tiếng Việt. Phu nhân hay ốm vặt, không hợp với thuốc của các quan ngự y trong triều mà chỉ chịu thuốc của giáo sĩ Phúc Lư. Chúa chiều ý vợ mời giáo sĩ làm ngự y, Phúc Lư vui vẻ nhận lời. Thâm tâm giáo sĩ muốn lấy lòng chúa hầu dễ dàng truyền đạo Gia Tô ở Phú Xuân và nhiều nơi khác. Chúa thường nói với quần thần, khen người Tây Dương giỏi kỹ thuật chế tàu chiến, súng đạn, đoán trước gió mưa bão tố… nên cần gần họ để học cái hay. Quần thần nhiều kẻ bất đồng nhưng lặng thinh. Họ chê người Tây Dương kiêu ngạo hợm hĩnh không hợp lễ giáo người Việt. Phu nhân quý mến giáo sĩ, chỉ có ông là người duy nhất được phép vào hậu cung do phép tắc nhà chúa đặt rất nghiêm khắc. Phu nhân thán phục sự hy sinh và tấm lòng cao cả của các giáo sĩ, chấp nhận đời sống tu hành không vợ con, lại bỏ nước tha hương bất chấp hiểm nguy, chuyên tâm rao giảng tin mừng, kêu gọi con người thờ phụng, sống theo lời chúa. Giáo sĩ khôn ngoan khéo chiều ý chúa lẫn phu nhân, những mong hồng ân Thiên Chúa soi sáng, mở lòng cho họ nhận biết nước chúa. Có lần giáo sĩ gợi ý xa vời, phu nhân tinh ý hiểu ra, nói:

-Ðạo của ngài dạy con người làm lành tránh dữ khác chi đạo Phật ta tôn thờ. Nhưng luật đạo quá nghiêm chỉ cho phép đàn ông một vợ, lại không chịu cho bổn đạo thờ cúng tổ tiên nên trái với nghi lễ tập tục nước ta. Chúa thượng quen có nhiều vợ nhưng vẫn bao dung cho phép các ngài tự do truyền đạo chẳng là ưu đãi lắm sao? Ngài hẳn nhớ các tiên chúa đã từng nghiêm khắc cấm đạo, ngay cả vua Tàu cũng chẳng dung đạo ngài.

Giáo sĩ ôn tồn:

-Ða tạ chúa thượng và phu nhân rộng lượng. Chúng tôi nào dám bội bạc, hằng ngày vẫn cầu ân trên che chở chúa thượng và phu nhân, cầu cho dân ngài sống thịnh vượng ấm no hạnh phúc. Với chúng tôi chỉ có nước chúa là vĩnh cửu, chúng tôi yêu thương mọi người như mình để mai sau được về hưởng phúc trên nước chúa. Ðược lãi cả thế gian mà mất thiên đàng nào có ích chi?

-Nước thiên đàng của ngài ở đâu. Có ai trên đời thấy được nước ấy?

-Những ai có đức tin sẽ tin lời chúa. Chúa chúng tôi dậy:Phúc cho những ai không thấy mà tin.

Giáo sĩ biết khó thuyết phục nhà chúa cũng như giới quý tộc quen hưởng thụ, thích có nhiều thê thiếp nên có câu “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”. Ông chỉ mong duy trì mãi tình trạng giao hảo tốt đẹp giữa người Việt và người da trắng. Nhưng mọi sự không tốt đẹp mãi như ông hằng cầu mong, công cuộc truyền giáo đang tốt đẹp bỗng đất bằng nổi sóng, nguyên do lại quá giản dị do sự vụng về tham lam, thiển cận và kiêu ngạo của viên chức đại diện triều đình Pháp tên là Lã Pha (Le Poivre).

Lã Pha từng du lịch qua nhiều xứ Viễn Ðông. Ðến Ðàng trong, Lã Pha nhận xét cảng Hội An là nơi buôn bán phồn thịnh, rất đông người Tàu, người Nhật lập thương điếm nhưng sự giao thương giữa người Việt và người da trắng còn nhiều hạn chế. Triều đình Pháp cử Lã Pha đến Ðàng trong, trình bày với chúa Nguyễn việc mở thương quán, ý muốn dành độc quyền mua nguồn hương liệu quý như quế, tiêu, trầm hương… đang do người Hòa Lan nắm giữ. Lã Pha đến cửa Hàn rồi ra Phú Xuân xin yết kiến chúa, tặng chúa nhiều phẩm vật, trình chúa nhiều mặt hàng khác như đồ gốm, giấy, các loại nỉ nhung quý… như một cách rao bán. Số hàng bán nhiều mà tiền thu ít. Lã Pha tức giận phải chờ đợi ròng mấy tháng, lúc chán nản muốn trở về Pháp lại không mua được các mặt hàng tốt theo ý muốn. Lã Pha than phiền với nhân viên trong đoàn, cho Ðàng trong là nước được cai trị bởi tập đoàn xấu xa, tham lam và ngu dốt. Vậy muốn dành độc quyền buôn bán với nước ấy phải có sức mạnh, phải cần bạo lực…

Những lời nói của Lã Pha cuối cùng đến tai chúa. Chúa tin là thật vì đã xẩy ra nhiều trường hợp người Tây Dương xích mích, nhục mạ người Việt. Ðám cận thần không ưa người Tây Dương làm biểu văn tâu chúa đòi tuyệt giao với người da trắng. Thỉnh cầu chúa triệt đạo Gia Tô, đạo này xét cho cùng là tà đạo nhằm lừa bịp những người dân ngu, nhẹ dạ cả tin. Cái mối nguy lớn nhất là các giáo sĩ lợi dụng truyền đạo nhưng mục đích chính là mở đường cho người Tây Dương xâm lược…. Sau vài ngày suy nghĩ, chúa truyền cấm đạo, trục xuất hết các giáo sĩ trừ Phúc Lư được xem như ngự y. Kế hoạch được thi hành triệt để bí mật.

Giáo sĩ Phúc Lư cư ngụ trong căn nhà nhỏ trong khuôn viên nhà thờ Phường Ðúc. Công việc thường lệ của ông là hành lễ mỗi sáng sớm vào khoảng đầu giờ dần. Cả ngày ông chuyên chú nghiên cứu y dược và học thêm tiếng Việt để dậy giáo lý cho tân tòng. Buổi sáng hôm ấy ông dậy sớm nhưng chờ mãi không thấy người bõ già kéo chuông lễ. Ông khoác áo định sang nhà thờ xem động tĩnh. Vừa vào khu nhà thờ, ông nhìn thấy con đường dẫn đến nhà thờ đầy quân sĩ gươm giáo tuốt trần đứng án ngữ. Vừa thấy ông, viên quan chỉ huy đến cúi chào, ra lệnh ông trở về nhà. Ông hỏi tại sao, viên quan lạnh lùng đáp y chỉ biết thi hành theo lệnh thượng cấp. Biết có biến, giáo sĩ đành trở về chờ xem sự thể. Luôn một tuần lễ, ông bị giam lỏng trong nhà. Ðôi lần gặp viên quan, ông xin được vào yết kiến chúa thượng nhưng luôn bị từ chối. Khu nhà thờ vắng lặng thiếu bóng giáo dân, lòng ông rối như tơ, chỉ biết cầu nguyện. Ông đoán nhà chúa đã đổi thái độ với đạo Gia Tô nhưng không rõ số phận các giáo sĩ cũng như giáo dân. Với ông, họ vẫn đối xử tốt, cứ vài ngày viên quan cho quân mang thực phẩm đến cho ông tự nấu nướng lấy. Hai tháng sau, buổi sáng cuối xuân năm Canh Ngọ 1750, giáo sĩ đang thơ thẩn ngoài vườn bỗng thấy viên quan mời ông vào gặp chúa thượng. Ông mừng rỡ thay vội quần áo lên ngựa theo viên quan vào cung. Thấy chúa đứng ngay cửa hậu cung, ông cung kính vái chào. Chúa nói:“Vì quyền lợi của đất nước, ta không thể để các giáo sĩ tiếp tục truyền đạo”. Chúa cho biết các giáo sĩ đều đã bị đưa ra khỏi nước, giáo dân không bị trừng phạt nhưng bị buộc bỏ đạo. Giáo sĩ nói:

-Thưa chúa thượng, đã mấy tháng tôi bị quản thúc tại nhà, chẳng được hành lễ do giáo dân bị cấm, lòng vẫn tự hỏi đạo chúng tôi nào có chi sai trái?

Chúa nói:

-Ðạo của ông ngược với phong tục tập quán nước ta. Lễ giáo dạy con người uống nước nhớ nguồn, phải thờ cúng tổ tiên thì đạo ông ngăn cấm. Các ông nói truyền đạo nhưng thực sự đến dọ thám mở lối xâm lược. Nước Xiêm La đã từng là nạn nhân của người Tây Dương, ông há chẳng thấy.

Giáo sĩ thừa hiểu với chúa không bao giờ nên tranh luận mà chỉ phục tùng, hỏi:

-Chúa đuổi hết giáo sĩ, sao lại dung tôi?

-Vì ta coi ông là ngự y của phu nhân, ta chỉ muốn ông làm việc ấy. Ông thuận chăng?

-Tôi lấy đức bác ái làm đầu, yêu thương con người như yêu chính mình. Tôi cảm tạ chúa thượng và phu nhân ưu ái. Thưa chúa thượng, sức khỏe phu nhân có khả quan?

-Bởi lẽ ấy nên ta triệu ông. Phu nhân không khỏe, thường ốm vặt, biếng ăn mất ngủ.

Chúa nói xong bỏ vào trong, viên nội quan bước ra mời giáo sĩ qua phòng bên. Giáo sĩ bước vào đã thấy phu nhân ngồi chờ sẵn. Bà ra dấu mời ông ngồi:

-Ngài vẫn mạnh?

Giáo sĩ từ tốn:

-Cảm tạ phu nhân, tôi vẫn khỏe nhưng lòng chẳng vui.

-Ta biết mọi chuyện nhưng không ai dám can chúa thượng. Mong rằng sự khó chóng qua.

-Tôi cũng nghĩ thế. Bấy nay phu nhân thấy trong người ra sao?

-Ta thấy người thường hâm hấp nóng vào mỗi chiều, biếng ăn khó ngủ. Nhiều đêm trằn trọc đến canh tư mới thiu thiu. Tháng trước chúa thượng cho ngự y đến chẩn bệnh, y nói do chân hỏa vượng cho uống giải nhiệt nhưng thuốc men hàng tháng chẳng bớt.

Giáo sĩ nhìn sắc diện phu nhân, nước da xanh tái, mắt sâu mỏi mệt, môi thâm khô chứng tỏ bệnh nhuốm đã lâu. Phu nhân nói:“Xưa chị ta cũng bệnh như ta, chỉ vài tháng là mất”. Giáo sĩ nhìn phu nhân, nét buồn vương vấn trong đôi mắt sâu thẳm. Ông bỗng dưng ái ngại, đoán phu nhân mang bệnh nội thương trầm trọng, căn bệnh do di truyền có thể đã vượt khả năng của ông. Ông bắt mạch, cho phu nhân uống liều thuốc hạ nhiệt, khuyên bà nên tĩnh dưỡng, tránh buồn phiền lo lắng… Từ đấy, hàng tuần giáo sĩ lại vào thăm bệnh phu nhân. Càng thăm bệnh càng thất vọng, phu nhân cứ yếu dần như cây khô nhựa sống. Giáo sĩ muốn tỏ thật cho chúa và phu nhân biết mình đã hết khả năng nhưng ngại ngần chưa biết thưa thốt thế nào… Phu nhân nhìn ánh mắt người thầy thuốc, lại thấy sức khỏe cứ tàn lụi dần, cử động mệt mỏi khó khăn, thuốc uống vào như nước lã. Bà linh cảm số phận mình đã an bài, kiếp người có sinh có tử, nên bình tĩnh chấp nhận là hơn.

Tháng bảy năm ấy mưa nhiều, mưa sụt sùi khóc vợ chồng Ngâu xum họp rồi lìa xa. Mưa lê thê ngày nọ ngày kia mù trời ảm đạm. Một chiều mưa, phu nhân đang nằm vùi bỗng trở dậy, truyền cung nữ đem phấn son trang điểm, lại thay quần áo mới bằng lụa hồng, mầu hồng chúa vẫn yêu. Ðám cung nữ phục dịch tưởng phu nhân đã khỏe. Lát sau chúa đến, thấy phu nhân trang điểm xinh đẹp, chúa tươi cười mừng vui, nghĩ phu nhân dần hồi phục. Mấy tháng phu nhân ốm đau, hàng ngày chúa vẫn đến ân cần trò chuyện săn sóc. Chúa ngồi bên vợ hồi lâu, phu nhân cảm động rưng lệ như muốn nói mà thốt chẳng nên lời. Trời chiều âm u, chúa rời phu nhân đến thư phòng bàn việc triều chính khẩn. Ánh mắt phu nhân như van nài chúa lưu lại… Trời tối sẫm, đám cận thần ra về chỉ còn mình chúa ngồi lại thư phòng. Bỗng viên thái giám tất tả chạy vào báo tin phu nhân mệnh vong. Chúa thấy trời đất quay cuồng,hét lên một tiếng ngã nhào bất tỉnh…

Tin phu nhân mất loan truyền nhanh, vương tộc Nguyễn tụ tập cả ở hậu cung. Ðám ngự y đã cứu chúa lai tỉnh, dâng chúa uống xong tách trà sâm. Chúa uống xong thẩn thờ bước sang phòng phu nhân, chẳng thèm nhìn đám gia tộc đang tụ tập trong hành lang bàn tán chuyện trò. Chúa vừa bước vào phòng, hai công tử đang đứng bên giường mẹ thấy cha bỗng khóc rống. Phu nhân nằm như yên ngủ, hai tay để trên ngực. Chúa nghẹn ngào… Phu nhân ra đi lặng lẽ không lời trăn trối. Ðám cung nữ kể tối ấy, sau khi chúa rời phòng, phu nhân buông màn nằm nghỉ. Lát sau cung nữ vào mời phu nhân dùng cơm mới hay bà đã ra đi.

Ðêm ấy chúa không ngủ, lặng ngồi bên xác vợ. Ðám thái giám cung nữ đứng chầu chực bên ngoài. Tất cả lặng yên, nghiêm trọng sợ làm chúa kinh động. Không ai ngu dám đùa với mạng sống. Chúa không ngủ nên không ai dám đi ngủ. Ðêm tĩnh lặng nặng nề, tiếng muỗi vo ve… Khoảng nửa đêm, chúa truyền viên thái giám mang đến bầu rượu…

Sáng hôm sau, trời mờ sáng. Quần thần tụ tập ở chính điện chờ chúa thiết triều. Cả đô thành Phú Xuân biết tin Trần phu nhân, người vợ được chúa sủng ái nhất vừa từ trần đêm trước. Ðám quan lại lác đác có kẻ đeo khăn tang, túm năm tụm ba bàn tán. Ðám võ tướng tỏ ra ngờ vực giáo sĩ Phúc Lư, cho người da trắng tráo trở khó tin không nên giao thiệp gần gũi, có khi mang họa vào thân. Trời hừng sáng, quần thần ổn định vị trí. Chúa từ nội điện bước ra, vẻ mệt mỏi ủ dột ngồi tựa trên ngai. Quan Lễ Bộ tâu chúa việc lo tang lễ. Chúa nói chưa vội, truyền khẩn cấp cử người vào Phố Hội triệu danh y người Tàu giỏi thuật ướp thi hài về đô thành. Chúa gọi quan Chưởng Dinh, đanh thép:“Ngươi đến bắt ngay Phúc Lư , đưa hắn đến Cửa Hàn, lệnh xuống tàu rời khỏi nước, việc khẩn chớ chần chờ”. Nói xong truyền bãi triều.

Trong nội cung, đám thái giám cung nữ luẩn quẩn quanh phòng phu nhân không dám rời bước. Giờ ăn cũng chia toán, thay phiên nhau ăn xong lại tụ về, lầm lũi lặng yên, giờ ngủ cũng vậy. Tất cả đều sợ vắng mặt lúc chúa cần sai việc có thể lĩnh đủ tai họa. Hôm sau, hàng trăm thợ khéo ở đô thành được gọi vào làm gấp căn phòng lớn ngay trong Hậu Uyển. Căn nhà mái ngói, kèo cột cửa chính phụ chạm khắc cầu kỳ. Bàn thờ hương án đầy đủ. Ðám thợ khác thực hiện quan tài nắp đậy bằng tấm kính lớn. Ai nấy đều hiểu chúa dành căn nhà làm chỗ đặt thi hài phu nhân. Việc giữ thi hài dài lâu do danh y người Tàu thực hiện hơn nửa tháng mới xong. Từ đấy, đám cung nữ, thái giám ngày ngày thay phiên lo hương khói cúng quả. Ngày vọng ngày sóc lại có các vị sư đến tụng kinh siêu độ. Ðôi ngày chúa lại đến ngồi bên quan tài, u buồn nhìn thi hài người vợ yêu qua tấm kính… Vua chúa yêu thương buồn vui cũng khác người thường.

Thu qua đông tàn… Một năm trôi qua. Người dân đô thành trước thường bàn tán chuyện vị chúa đa tình, chuyện đêm đêm bóng ma thiếu phụ áo trắng mờ mờ sương khói thơ thẩn trong Hậu Uyển… nay dường như cũng lãng quên dần. Riêng đám thái giám cung nữ vẫn khổ cực vì cái xác chết nhưng ngậm tăm, hàng ngày quẩn quanh lo hương khói với bộ mặt cố tình tạo vẻ rầu rĩ thảm sầu. Uy quyền tuyệt đối của vua chúa làm mất sức đề kháng của bề tôi đã quen nhẫn nhục cam chịu.

Cuối tháng bảy chúa gặp gỡ quần thần, truyền Chưởng Dinh tuyển hàng trăm thợ nề giỏi ở đô thành chuẩn bị xây lăng mộ. Ðịa điểm được chọn là vuông đất bằng trên ngọn đồi thấp thuộc xã Dương Xuân. Họa đồ ngôi mộ thiết kế khá lớn gồm hai vòng thành có cổng vào, giữa là nấm mộ. Cách vòng ngoài vài trượng có nhà bia. Lại truyền các quan trong viện Hàn Lâm họp nhausoạn thuật lại ngôn hạnh phu nhân lúc bình sinh để khắc vào bia đá. Bài văn bia gần chín trăm chữ, mở đầu bằng câu: Việt cố quý tần tặng Chiêu Nghi Từ Mẫn Trần liệt phu nhân chi mộ (Mộ bà Trần phu nhân là quý tần cũ nước Việt tặng Chiêu Nghi thụy Từ Mẫn). Văn bia nay vẫn còn, lời văn bi thiết, người đời đọc phải ngậm ngùi thương cảm…” Hỡi ơi, trăng thu sáng bị mây che phủ, chồi xuân lan vừa hé vội tàn. Trời thẳm xanh có thấu, mỹ nhân châu chìm ngọc nát, quế héo hoa rơi đi chẳng trở về!…”

Dân đô thành lại bắt đầu đồn đại, rằng thi thể phu nhân biến dạng buộc chúa phải chôn, rằng có thày địa lý tài giỏi chỉ cho chúa phúc địa… Vui mừng nhất vẫn là đám người phục dịch trong hậu cung. Ðúng ngày đầu tháng mười một năm ấy, năm Tân Mùi 1751, lễ an táng Trần phu nhân long trọng cử hành. Quan Chưởng Dinh muốn lấy lòng chúa, ngầm sai thủ hạ bảo dân buộc khăn tang ngoài ngõ, trên hàng cây hai bên đường dẫn đến mộ huyệt. Ðô thành Phú Xuân trắng màu tang…

Từ ngày an táng phu nhân, Phụ Chính đại thần Trương Phúc Loan như thấu hiểu nỗi đau luôn ra sức nghĩ suy làm đẹp lòng chúa. Loan cho thủ hạ đi khắp nơi tuyển những đào hát danh tiếng hàng đêm ca hát diễn tuồng tích cho chúa khuây nỗi buồn. Loan thường nói với quần thần:“Chúa thượng tin yêu giao ta trọng trách, phải cố làm sao để người vui tươi, bảo vệ mình vàng giữ yên xã tắc, cai quản trăm họ”. Có người biết câu nói của Loan chỉ cốt lấy lòng chúa, kín đáo cười mỉm lặng thinh. Ngay cả dân đô thành, ngoài các dinh ai cũng biết giây liên lạc mật thiết giòng tộc giữa quan Phụ Chính với nhà chúa. Phúc Loan là em ruột Trương nguyên phi, thân mẫu của chúa, nên quan hệ với chúa là cậu ruột. Giòng họ Trương nhiều đời có những bề tôi lương đống, rường cột bảo vệ cõi bờ Ðàng trong nên được các chúa phong thưởng hậu hĩ. Ðến đời Phúc Loan, dù chỉ là kẻ tầm thường văn võ chẳng hơn người vẫn được trọng dụng phong chức tước lớn chỉ vì có người chị ruột được tiến cung. Loan bản chất tham lam vô độ chỉ biết có tiền, bất cần liêm sỉ. Lợi dụng quyền phụ chính, Loan thường sai đám thủ hạ sách nhiễu đám thương nhân buộc phải hối lộ, biếu xén quà cáp… Ước muốn duy nhất của Loan là làm sao tóm thu các mối lợi kinh doanh nhưng còn e dè phép nước. Nhiều năm gần gũi, Phúc Loan biết tính chúa kỹ lưỡng bạc tiền, thường xuyên kiểm tra việc thu chi thuế má. Chúa sợ công quỹ thất thoát nên cương quyết bài trừ tham quan ô lại. Chúa thường dặn các quan:“Thuộc lại gian tham sách nhiễu gây cho dân thống khổ, phải xét trị thanh trừng nghiêm khắc”.

Một hôm Loan gặp Thái Giám Chữ Ðức, tay chân của Loan, cũng là người thân tín thường xuyên gần gũi hầu hạ chúa từ ngày chúa lên ngôi báu. Loan hỏi:

-Bấy lâu ta mang nhiều đào hát về, hàng đêm ca múa, bọn ca kỷ có làm chúa thượng vui?

Chữ Ðức cung kính:

-Bẩm tướng công, chúa thượng chỉ vui phần nào. Ngài chê đào hát nhiều đứa lớn tuổi, lại có chồng con nên dù hát hay múa dẻo nhưng kém bề hấp dẫn. Vẻ đẹp chỉ nhờ son phấn giả tạo. Nhiều đêm hạ quan tìm cách nói xa gần, ý chúa thượng vừa mắt ai, hạ quan sẵn sàng bảo nó hầu hạ nhưng chúa thượng vẫn lơ là. Có đêm ngài ngự ở cung nguyên phi, có đêm uống rượu say ngự ngay trong hậu cung.

Phúc Loan trầm ngâm suy tính:

-Ta biết chúa thượng đắm sắc vẫn nhớ Trần phu nhân. Dĩ độc trị độc, làm sao ta tìm được trang giai nhân tuyệt sắc tiến cung, nhất định chúa sẽ vui vẻ quên sầu. Lúc đó ngươi càng được chúa yêu vì, công danh ta có cơ thăng tiến. Ngươi nên nhớ chức phận càng cao, bổng lộc càng nhiều. Ngươi biết chốn đô thành có ai xứng danh ngọc nữ?

-Hạ quan suốt ngày du dú trong cung, thân thể khiếm khuyết chẳng vướng nợ đời nên màng chi nữ sắc. Nói vậy nhưng tướng công yên tâm, hạ quan sẽ nghĩ cách.

Ngay hôm sau, Chữ Ðức sai đám thủ hạ đi khắp hang cùng ngõ hẻm đô thành, la cà chốn trà đình tửu điếm dọ hỏi nhà nào có con gái đẹp. Phần Phúc Loan cũng sai thân tín đi các phủ tuyển đào hát mới. Loan nói:“Chúng bay chẳng cần chi hát hay múa dẻo, hát không hay luyện mãi cũng thành hay. Múa vụng luyện mãi cũng thành dẻo. Chỉ cần gái chưa chồng, nhan sắc, thân thể đẫy đà mông nở vú to”. Chỉ non nửa tuần trăng, Phụ Chính Trương Phúc Loan đã tuyển được vài chục cô gái nhan sắc lập đội nữ nhạc. Những cô gái trẻ xinh đẹp từ thành đến quê mang thân cá chậu chim lồng, ngơ ngác giữa chốn cung vàng điện ngọc. Hàng ngày các cô phải thức dậy từ sáng sớm, ra sức tập luyện lời ca tiếng nhạc cùng là múa may, mãi đến tàn nắng mới được nghỉ ngơi ăn uống, bồi dưỡng sức lực để hôm sau tiếp tục như thế… Phúc Loan vẫn lo lắng vì vẫn chưa tìm được trang giai nhân mơ ước, luôn thúc dục Chữ Ðức ra công kiếm tìm, kèm những lời hăm dọa nếu việc không thành. Chữ Ðức mặt như chàm đổ, sợ toát mồ hôi vì biết quan Phụ Chính chẳng bao giờ đùa dỡn. Chữ Ðức ăn chay nằm đất, ngày ngày dâng hương niệm phật độ trì cho việc chóng thành. Vài ngày sau, được thủ hạ báo tin tìm được giai nhân, Chữ Ðức mừng hơn bắt được vàng, tức tốc lên ngựa đến phủ Phụ Chính. Ðức bẩm:

-Bẩm tướng công, hạ quan đã tìm ra ngay chốn đô thành có giai nhân xứng trang quốc sắc, trầm ngư lạc nhạn, nguyệt thẹn hoa nhường… nhưng, nhưng có trở ngại.

Phúc Loan quắc mắt:

-Sao lại trở ngại, mà trở ngại chi? Ngươi không biết ý chúa thượng là ý trời, ngài thừa mệnh trời trị trăm họ.

-Bẩm tướng công, hạ quan nói có trở ngại bởi trang giai nhân, nàng là tiểu thư Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, con gái út của Ðiền Quốc Công. Chúa thượng với nàng là anh em đồng đường.

Phúc Loan chợt nhớ Quốc Công Nguyễn Phúc Ðiền là chú ruột của chúa, Ðiền đã qua đời, để lại dinh cơ đồ sộ gần chợ Dinh. Biết vậy nhưng Loan vẫn ra uy quát mắng:“Ta chỉ muốn đưa nàng vào cung múa hát giải khuây cho chúa, cớ chi ngươi rắc rối nhắc chuyện đồng đường đồng sá?” Nói xong cho Chữ Ðức về cung, hẹn sáng sớm đến phủ nhận lệnh.

Ðêm ấy Phúc Loan trằn trọc nghĩ suy, chúa háo sắc nhưng với cô em chung họ máu? Phúc Loan biết tính chúa cương quyết, đã muốn là phải được. Còợn mình không bao giờ bỏ qua mộng triệu phú, đời phải lắm của nhiều tiền, có tiền mua được cả tiên, phải được chúa tín cẩn thì mộng lớn mới thành. Phúc Loan quyết định đưa Ngọc Cầu vào cung, nhưng trước hết phải gặp mặt xem nàng có thật sự tuyệt sắc.

Sáng sớm Chữ Ðức đến phủ, Phúc Loan hỏi:

-Ta tạm tin là Ngọc Cầu nhan sắc. Nàng hiện ở với ai?

-Bẩm tướng công, hiện nàng ở cùng hai người anh là Phúc Viên và Phúc Nghiễm. Cả hai làm việc ở các bộ, nghe đâu đều không khá giả bởi Viên mê bài bạc, còn Nghiễm mê gái và rượu.

-Ngay hôm nay ngươi đưa nàng đến gặp ta, nhớ mang kiệu son và binh hộ tống.

Chữ Ðức ngần ngừ:

-Hạ quan nghĩ nàng thuộc vương tộc, ta phải tỏ ra lễ nghĩa. Làm sao thuyết phục hai anh nàng thuận ý, nàng mới được phép rời nhà.

-Ngươi không biết làm cách nào được việc sao?

-Hạ quan nhận lệnh tướng công chẳng dám lơ là, lại nghĩ việc muốn thành phải có tướng công trợ giúp. Ý hạ quan muốn bẩm tướng công hứa hẹn sẽ thăng cấp chức, ban bổng lộc. Cụ thể ban thưởng ngay món tiền hậu, chắc chắn họ mừng vui vì hiện sống chẳng khá giả.

Phúc Loan bĩu môi:

-Tiền, tiền ư. Ðồng tiền liền khúc ruột, cứ động tí lại là tiền. Của giả ta bao lăm, cứ chi ra mà nguồn thu không có còn đâu vốn liếng?

Chữ Ðức phân bua:

-Tướng công muốn mưu đại sự sá chi chuyện nhỏ. Cho họ tí tiền khác nào chơi nước cờ thí tốt hãm xa.

Phúc Loan cả cười khen Chữ Ðức mưu trí, bước vào hiên sau bàn chuyện với phu nhân. Nói mãi phu nhân mới chịu mở rương trao Chữ Ðức hai trăm quan tiền và chục nén vàng…

Chữ Ðức hăm hở ra đi. Ngay buổi xế tiểu thư Ngọc Cầu đã có mặt tại phủ Phụ Chính. Phúc Loan mừng rỡ trước vẻ đẹp lộng lẫy khiêu gợi của cô gái, nghĩ gỗ đá thấy nàng cũng động tình. Trương phu nhân vừa gặp, đon đả nắm tay Ngọc Cầu dắt vào nhà trong. Phu nhân ngọt ngào:

-Ta nghe danh con sắc nước hương trời, nên xin các công tử cho phép con tạm ở với ta, học thêm ca múa có dịp vào cung giúp vui chúa thượng. Con đã đẹp, lại múa hay hát giỏi tất ngài rộng lượng ban bổng lộc, thiếu chi châu báu ngọc ngà.

Ngọc Cầu bấy lâu côi cút, nghe phu nhân ân cần nhỏ nhẹ, lại nhắc ngọc ngà châu báu nên vui mừng an tâm. Bao năm sống với ngươi anh mê cờ bạc túng thiếu, Ngọc Cầu tuy mang tiếng vương tộc nhưng sống thiếu thốn mọi bề, ăn mặc đơn sơ như thứ dân, chỉ mong vòng xuyến đeo tay cũng chẳng có, nhiều lúc tủi phận khóc thầm. Ðược rời khỏi người anh khác chi rời nơi tù hãm tối tăm. Ðối với chúa, tuy mang tiếng anh em nhưng thật sự xa cách. Ngọc Cầu chỉ gặp anh đôi lần trong dịp tết, hồi chúa còn là công tử nên tình nghĩa chẳng mấy đậm đà, thậm chí anh em gặp gỡ chẳng nhớ mặt nhau. Sống túng thiếu đành cam, đâu dám nghĩ tới chuyện nhờ vả người anh ở ngôi cao tuyệt đỉnh.

Ngọc Cầu thông minh, thích múa hát nên chuyên cần luyện tập. Chưa hết tuần trăng đã nằm lòng nhiều câu ca điệu vũ, tấn thối uyển chuyển nhịp nhàng thanh quý như tiên nữ múa khúc Nghê Thường. Phúc Loan cả mừng, phu nhân cũng vui không kém, chịu bỏ tiền mua tặng Ngọc Cầu thêm nữ trang, Cầu cảm động mến thương coi phu nhân như hiền mẫu. Phu nhân nói với chồng:“Ông để ý Ngọc Cầu nhiều nét hao hao giống bà Chiêu Nghi (tức Trần phu nhân) nhưng khiêu gợi sắc sảo hơn nhiều”. Phúc Loan gật gù khen vợ tinh mắt, nhắc câu thuận vợ chồng tát cạn biển đông. Phu nhân nhắn nhủ Ngọc Cầu:“Con vào cung nhớ hầu hạ chúa thượng chu đáo, được chúa đoái tưởng khác chi phận cá hóa rồng”. Ngọc Cầu vâng dạ, thật sự chẳng hiểu nổi ý phu nhân và quan Phụ Chính. Kế hoạch đưa Ngọc Cầu vào cung được tính toán kỹ càng từng bước, trách chi vị chúa phương nam háo sắc sa ngã lưới tình để Phúc Loan thao túng triều đình, đẩy cơ nghiệp họ Nguyễn từ đỉnh cao xuống vực thẳm suy vong…

***

Phúc Loan hỏi Chữ Ðức:

-Từ ngày viên ngự y người Tàu tự xứ Quảng vào hầu, chúa thượng an vui phiền não ra sao?

-Bẩm tướng công, lúc mới vào cung ngự y khoe hạ quan, rằng phương thuốc của y danh gia bí truyền, từng được các vua Tàu khen ngợi, chỉ cần đôi liều là cây gậy ngọc cứ như thiết côn, dũng mãnh xông pha trận mạc bất kể đêm ngày. Hạ quan tưởng y đại ngôn, sau mới thấy xuân dược của y hiệu nghiệm lạ lùng. Chúa thượng trước ủ rũ nay như cò diệc gặp mưa, nay hàng đêm gần gũi dăm bà, tung hoành “hoa dinh cẩm trận” chẳng hề mỏi mệt. Ngài vui vẻ gần như thuở còn phu nhân kề cận.

-Ngươi về chuẩn bị chu đáo đêm hát tối mai, nói với nhạc quan dành vai đào chính cho tiểu thư Ngọc Cầu, trong khúc “Chiêm nữ du xuân”. Ta cũng sẽ vào cung hầu chúa. Trước khi dự yến nhớ nhắc ngự y dâng ngài mấy liều xuân dược.

Chữ Ðức ra về, thừa biết đêm hát tối nay vô cùng hệ trọng khác với lệ thường. Chữ Ðức lệnh đám cung nữ thái giám lau chùi quét dọn, treo đèn kết hoa. Ðêm hát chỉ dành cho chúa và quan Phụ Chính. Vài cung nữ nhanh nhẹn sắc sảo được chọn hầu hạ điếu đóm dưới quyền Chữ Ðức. Kẻ khác tuyệt nhiên cấm bén mãng.

Xế chiều, Phúc Loan vào cung. Chúa ưu ái cho Loan cùng ra hoa viên dự yến, thưởng công Phụ Chính bấy lâu khó nhọc quốc sự. Loan tâu:“Tâu chúa, nước chỉ có một mặt trời, thần với chúa thượng vẫn nghĩa vua tôi chẳng dám phạm thượng”. Loan để chúa ngồi giữa, còn mình kê ghế thấp ngồi chếch sang mé trái. Chúa rất đẹp ý, khen Loan tôi trung. Rượu ngon càng uống càng nồng, chúa vui uống tràn, càng vui hơn khi nghe Loan nói đêm hát tối nay sẽ có người ngọc trong vai Chiêm nữ xinh như tiên nga giáng thế. Tiệc tàn khi bóng đêm dần lan, phủ lấp mầu đỏ rực rỡ của hàng phượng vĩ cuối vườn, khóm mẫu đơn đầu hè cũng chìm trong bóng tối. Phúc Loan ra dấu Chữ Ðức mời chúa vào hậu cung thưởng nhạc vũ.

Căn phòng ấm cúng thoảng hương trầm, ánh nến lung linh huyền ảo, tiếng nhạc mơ hồ xa vắng. Các Chiêm nữ lả lướt uốn lượn thân mình theo sóng nhạc, tuyệt vời đôi bồng đảo nhấp nhô. Chữ Ðức đứng hầu chúa, dán mắt vào đám Chiêm nữ, tự xót phận mình bất hạnh bởi cái quý giá nhất của y nay chỉ dùng vào việc thải chất nước dư trong người. Chúa ngồi chăm chú ngất ngây, mải mê trước đám ca nhi đêm nay xinh đẹp lạ thường, lòng náo nức chờ xem đào chính, ắt hẳn xinh đẹp hơn các ả kia bội phần… Tiếng nhạc bỗng chuyển như sóng dậy hòa tiếng trống tiếng phách dồn nhịp thôi thúc. Trên sân khấu, hàng trăm ánh nến bừng sáng sau lớp giấy bóng đỏ vàng. Giữa khung cảnh hoành tráng kỳ ảo lạ thường như chốn bồng lai, cô Chiêm nữ xuất hiện rực rỡ với nụ cười nghiêng thành đổ nước, chúa đổ người về phía trước bàng hoàng, phút chốc mơ hồ hình bóng người vợ yêu quá cố… Chiêm nữ yêu kiều lả lướt phơi phới xuân tình uốn lượn nhịp nhàng trước mặt chúa. Chúa cầm lòng chẳng nổi, men rượu cộng với xuân dược kích thích lửa dục bừng bừng. Chúa đứng phắt dậy truyền Chữ Ðức đưa nàng vào hậu cung. Chúa nói xong rảo bước. Ðêm nhạc vũ dừng, mọi người ngơ ngác… Ðêm ấy chúa như gà chọi gặp mái tơ, cơn mưa gió bão giông vùi dập ngọc nữ. Ngọc Cầu ứa nước mắt chịu đựng không dám khóc thành tiếng. Lúc chúa chìm sâu giấc ngủ, nàng phủ tấm chăn mỏng lên người chúa, bó gối ngồi lặng yên trong góc giường. Ray rứt. Oan nghiệp xui khiến người đàn ông đầu đời của nàng lại là vị chúa phương nam, là người anh em chú bác… Ðành thôi ván đã đóng thuyền.

Sáng sớm chúa tỉnh giấc thấy Ngọc Cầu nằm co ở góc giường. Chúa vỗ nhẹ, Ngọc Cầu khóc:

-Chúa thượng, em không dám phật ý người. Nhưng em là Ngọc Cầu, con gái Ðiền Quốc Công..

Chúa trấn tĩnh ngay sau một thoáng thảng thốt. Nghĩ chuyện đã lỡ có hối càng bận tâm. Chúa an ủi:

-Ta chẳng cần biết ái khanh là ai, ta là chúa tể Ðàng trong, ta yêu ái khanh, muốn ái khanh là vợ, trọn đời bảo bọc. Ái khanh hiểu thế là đủ…

Chuyện thâm cung lan tràn, vương tộc xôn xao, riêng Nguyễn nguyên phi, người vợ cả của chúa vẫn bình thản lạnh lùng làm chúa chột dạ. Chúa hỏi Phúc Loan. Loan đáp:

– Chuyện tình duyên éo le ngang trái xẩy ra nơi chốn thâm cung xét cũng bình thường. Thuở trước, Công Thượng Vương (tức Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, con thứ Chúa Sãi) chẳng ngăn được lòng. Sau khi người anh cả Nguyễn Phúc Kỳ mất, chúa say mê Tống phu nhân, vợ của người anh, sống với bà như vợ chồng. Người người đều ngăn nhưng ý chúa đã quyết cũng đành chịu. Chúa thượng nay chỉ cần đưa phu nhân ra sống biệt lập ở điện Trường Lạc. Với thời gian, mọi chuyện rồi sẽ rơi vào quên lãng.

Chúa gật gù:

-Quan Phụ Chính chí lý. Ta còn nhớ chuyện thời Trần, vua Thái Tôn bị Thái Sư Trần Thủ Ðộ buộc phải bỏ vợ là Chiêu Thánh hoàng hậu, lấy chị ruột của bà là Thuận Thiên công chúa. Thuận Thiên có mang ba tháng, lại đang là vợ của Trần Liễu. Éo le ngang trái ở chỗ Trần Liễu là anh ruột nhà vua. Ngay Thái Sư Thủ Ðộ, ngài là con nuôi họ Trần nhưng sau lại lấy Thiên Cực công chúa làm vợ, bà này trước là hoàng hậu, vợ vua Lý Huệ Tôn. Trong gia tộc họ Trần, bà kể như vai em của Thái Sư.

Ngay hôm sau, Phúc Loan sai thợ sửa sang lại điện Trường Lạc. Chúa kín đáo đưa Ngọc Cầu ra đấy, anh em ngày đêm vui vầy hoan lạc. Ngọc Cầu khéo léo chiều chuộng hết mực nên càng được chúa yêu thương. Thỉnh thoảng chúa mới hồi triều, kỳ dư mọi việc trong ngoài một tay Phúc Loan giải quyết. Phúc Loan hể hà, tự hào vừa thắng nước cờ thí tốt hãm xa. Thái Giám Chữ Ðức bỗng trở thành người thế lực… Hai người anh Ngọc Cầu, Phúc Viên Phúc Nghiễm được bổ vào đội thủy cơ ở cửa Eo (Thuận An) và Phố Hội Quảng Nam, trở thành tay chân đắc lực kinh tài của quan Phụ Chính. Tài sản Phúc Loan tăng lên mà cơ nghiệp nhà chúa lún dần. Triều thần hoang mang chia rẽ. Kẻ như cờ bay theo gió tôn phù kẻ mạnh cốt yên sống, hưởng chút bổng lộc cơm thừa canh cặn. Kẻ bất mãn ngậm tăm chẳng dám một lời can gián vị chúa đa tình tăm tối. Năm sau, Ngọc Cầu hạ sinh công tử Nguyễn Phúc Thuần nên càng được chúa sủng ái. Phúc Loan nhen nhúm mưu đồ dành ngôi báu cho Phúc Thuần một khi chúa mệnh vong. Có lần Phúc Loan hỏi chúa việc chọn người kế vị. Chúa nói đã có chủ trương. Loan hỏi tới, chúa trả lời dứt khoát công tử nào tài đức sẽ được chọn mặt gửi vàng. Loan tinh ý biết công tử thứ chín Nguyễn Phúc Hiệu sẽ là người kế vị. Phúc Hiệu cương nghị thông minh, phong lưu mã thượng, tư chất hơn người thường cùng chúa bàn luận quốc sự. Mùa xuân năm Canh Thìn 1760. Một buổi chiều chúa đang ở điện Trường Lạc nhận hung tin Phúc Hiệu đột ngột từ trần. Chúa thất sắc hãi kinh, đau đớn cảnh chia lìa phụ tử, thương con đầu xanh mệnh bạc mới hai mươi mốt tuổi đầu. Chúa đem con của Hiệu là Phúc Dương (Hoàng Tôn Dương) vào cung cho nguyên phi dưỡng dục.

Sau cái chết của Phúc Hiệu, chúa ưu tư lặng lẽ thích sống một mình, chiều chiều ngồi nơi hậu hiên uống rượu hết chung này đến chung khác. Chẳng bao lâu hình dung tiều tụy, mới ngoài bốn mươi mà tóc đã pha sương. Chúa vẩn vơ nghĩ Phúc Hiệu mất có thể do mình đã trái mệnh trời, bỏ trưởng lập thứ. Chúa quyết định chọn con trưởng Nguyễn Phúc Chương kế vị dù Chương hiền lành chậm chạp, không hợp ý chúa. Ba năm sau, năm Quý Mùi 1763. Những ngày đầu xuân, đô thành Phú Xuân vang tiếng pháo mừng xuân mới, trai thanh gái lịch nhởn nhơ du xuân ngoạn cảnh. Trong nội cung, đám thái giám cung nữ được tự do vui xuân, tụ tập bày cuộc đỏ đen, say sưa chè chén. Chúa cởi mở nhìn mọi người vui chơi cũng thấy vui lây. Niềm vui của chúa chẳng được bao lâu bởi ngay chiều ấy, công tử Nguyễn Phúc Chương đang khỏe mạnh bỗng chết bất ngờ mới ba mươi tuổi ngoài… Triều thần nhiều người ngờ vực, nghi ngại. Các trò vui xuân ở đô thành khựng lại, chẳng ai dám đùa với nỗi đau của nhà chúa. Nội cung tang tóc thảm sầu, nguyên phi ngày đêm vật vã khóc than thương con mệnh bạc. Chúa lòng như xát muối, thẫn thờ ngơ ngác. Chúa tin lời đồng bóng, ăn chay nằm đất, lập đàn giải oan nghiệp, đặt lệ gọi các công tử là mụ hay mệ tránh họa hữu sinh vô dưỡng. Phần mộ Phúc Chương được trấn yểm trừ tà. Chúa tạm yên tâm.

Trước bảy ngày cử hành tuần Chung Thất (49 ngày sau khi từ trần), đưa hương hồn Phúc Chương vào chùa quy y, nương náu cửa Phật. Chúa truyền lập đạo tràng, thỉnh Ðại Lão Hòa Thượng chùa Báo Quốc và chư tăng luân phiên tụng niệm. Chúa chọn chùa Báo Quốc bởi cảnh chùa do chính chúa truyền trùng tu bề thế, ban biển sơn son thiếp vàng khắc năm chữ “Sắc Tứ Báo Quốc Tự” lại ghi thêm hàng chữ “Quốc Vương Từ Tế Ðạo Nhân Ngự Ðề”. Từ Tế đạo nhân là pháp danh của chúa.

Từ đấy chúa thường ăn chay niệm phật, sáng sớm thức giấc tĩnh tọa nhập thiền, cảm thấy thân tâm an lạc thư thái. Nhiều hôm chúa lên chùa thăm lão sư. Chùa tọa lạc trên đồi Hàm Thiên phong cảnh hữu tình, trời mây bát ngát. Chúa đắm chìm trong chốn tĩnh lặng ngắm hoa nở ban mai, ngàn chim ríu rít, nghe hơi gió thoảng, mảnh trăng lung linh trên đỉnh trời lồng lộng. Có lần mời lão sư thưởng trà trong trai phòng, chúa nói:

-Ta trót sinh trong chốn lầu son gác tía, vương nghiệp trần nên chuốc phiền não. Nay muốn tìm chốn chân như, thoát cõi u minh oan nghiệp ngập đầy, những mong lão sư đôi lời chỉ giáo.

-Bần tăng xuất gia từ tấm bé. Ðến nay ngoại bảy chục tuổi đời đã có sáu mươi tuổi hạ (tuổi tu hành). Trải bao năm sống nơi u tịch, đã quen khổ hạnh, sống giản dị ngày ngày kinh kệ như xa hẳn cõi trần đầy rẫy sân si, thoát chước cám dỗ. Bước đường tu đạo ít trắc trở hơn những người nơi chốn phồn hoa đô hội. Chúa thượng nhận mệnh trời trị trăm họ, sự thế phức tạp đa đoan, dùng cái thông tuệ mang lại trăm họ an lạc vui sướng, vui với cái vui của người. Ấy là tâm phật. Bến giác ngay ở cái tâm nào phải cất công tìm kiếm. Tu tại gia là cái tu cao nhất, sá chi ở chùa mới là cõi tu? Sách có câu”Nhất thiết thế gian pháp, vô phi Phật pháp”. Các pháp trong cõi thế đều là Phật pháp, tại ta không liễu ngộ, nên cho là không phải.

Chúa nghe sảng khoái trong lòng, trở về triều làm cuộc đổi đời, sống giản dị, tránh xa hoa sắc dục. Tính chuyện mai sau, chúa chọn công tử thứ hai Nguyễn Phúc Luân là người kế vị (Phúc Luân là thân phụ Phúc Ánh, tức vua Gia Long sau này). Chúa đắn đo chọn người phụ trách dạy dỗ Phúc Luân xứng giữ ngôi báu. Nội Hữu Trương Văn Hạnh và Thị Giảng Lê Cao Kỷ, hai viên quan đức độ tài năng xuất thân từ viện Hàn Lâm được giao trọng trách. Phúc Loan lo lắng bởi muốn dành ngôi vương cho Phúc Thuần, con của Ngọc Cầu. Loan bàn với Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Thống, người rất thân tín, cũng là con rể của chúa. Thống nói:“Tướng công chớ lo, trước tiên phải bành trướng thế lực. Khi đã nắm toàn quyền trong tay, ta tha hồ đặt để người kế vị. Kẻ chống đối sẽ bị tiêu diệt”. Phúc Loan cho là phải, ra sức củng cố thế lực, dùng tiền bạc chức tước kết nạp tay chân thủ hạ. Chúa thường xuyên đau yếu, lại thấy việc nước yên ổn nên an tâm, không hề biết mình đang nuôi ong tay áo…

Ðầu hạ năm Ất Dậu 1765, dân đô thành xôn xao bàn tán điềm bất tường. Ngày ngày, hàng đàn ve không biết từ đâu về. Ve bu đen trên hàng phượng vĩ ven đường, trên các tàng cây trong vườn. Tiếng ve kêu bi ai rền rĩ, từ xế trưa đến lúc mặt trời khuất bóng. Trong Hậu Uyển, ve nhiều đến độ lính cấm vệ phải dùng sào dài xua đuổi. Người ta bảo ve khóc, nhưng cớ gì ve lại khóc than? Thời gian ấy chúa ngã bệnh. Bốn ngự y thay phiên hầu hạ bên giường. Bệnh tiến triển chậm, thuốc thang chẳng bớt. Phúc Loan thường xuyên đến vấn an. Chúa ân cần phủ dụ, nói mai sau chúa về chầu liệt thánh, quan Phụ Chính vì nước gắng sức khuông phù tân chúa. Phúc Loan khóc lạy thề tận trung.

Chúa trở bệnh ngày càng trầm trọng, lúc tỉnh lúc mê, không nói được. Ngày ngày chỉ uống nước sâm pha cháo lỏng. Phúc Loan hỏi các ngự y. Ngự y buồn bã nói tính mệnh chúa mười phần nguy kịch, khó qua nổi mùa trăng. Ðã có chủ trương, Phúc Loan lệnh các ngự y rời hậu cung chỉ đến khi được phép Phụ Chính. Lấy cớ chúa cần tĩnh dưỡng, Loan cấm chỉ mọi người thăm viếng kể cả nguyên phi và vương tộc. Chỉ Phúc Loan và Chữ Ðức được quyền tự tiện ra vào hậu cung. Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Thống chỉ huy hàng ngàn cấm vệ canh gác hậu cung nghiêm nhặt. Có lần nguyên phi dẫn Phúc Luân xin vào thăm chúa, Thống quyết cản ngăn đành gạt lệ ra về.

Những ngày đầu tháng năm, Phúc Loan biết chúa sắp thở hơi cuối cùng, mật bàn với Cửu Thống và Chữ Ðức bắt đầu thực hiện mưu đồ. Một người học trò giỏi bắt chước nét chữ ở gần chợ An Cựu được Chữ Ðức thuê thực hiện việc giả nét chữ chúa để viết lại di chiếu. Toàn văn bản giữ nguyên, chỉ thay tên người kế vị, từ Phúc Luân thành Phúc Thuần. Viết xong, người học trò được Chữ Ðức thưởng hậu mừng rỡ lạy tạ ra về. Y không về được đến nhà bởi khi qua đò sông Hương bị chết đuối…

Sáng sớm ngày mồng bảy, chúa từ trần không trăn trối, ra đi đơn độc không vợ con thân tộc bên giường trừ Phúc Loan và Chữ Ðức. Phúc Loan gặp Cửu Thống xúc tiến tiếp kế hoạch. Thống sai bộ hạ đến nhà Nội Hữu Trương Văn Hạnh mời vào Dĩ Nhiên đường bàn chuyện cơ mật. Văn Hạnh đã biết chúa lâm trọng bệnh, nay được gọi đoán có chuyện chẳng lành tất tả vào cung. Gặp Cửu Thống đón ngay cửa, Thống dẫn Hạnh đi qua hành lang nhỏ hẹp tăm tối. Ðang đi cùng, Thống bỗng lùi ra sau, ánh thép lóe lên, Nội Hữu Trương Văn Hạnh bị lưỡi gươm đâm từ sau lưng ra trước ngực chết tức khắc. Thống vào gặp Loan nói đã tính xong Văn Hạnh, hẹn đến tối sẽ thanh toán nốt Thị Giảng Lê Cao Kỷ. Loan hỏi sao phải chờ đến tối, Thống đáp Cao Kỷ hiện đang tĩnh dưỡng trong căn nhà vắng vẻ ở ngoại thành, chỉ cần dăm người đủ hạ thủ, hành động ban đêm thuận tiện kín đáo, khỏi gây kinh động. Cùng lúc ấy, Chữ Ðức nhận lệnh Phúc Loan dẫn hơn trăm quân đến làng Dương Xuân mời công tử Phúc Luân vào cung gặp chúa thượng. Loan nói:“Ngươi cứ làm như rất bình thường đến mời hắn. Khi tống giam vào ngục thất, nhớ để ở khu biệt lập, tuyệt đối cấm tiếp xúc. Kẻ nào vi phạm chém ngay”. Nội ngày ấy mọi việc hoàn thành. Sáng sớm hôm sau, Phúc Loan báo tin vương tộc và triều đình chúa đã băng hồi sáng sớm, ở ngôi 27 năm, thọ 51 tuổi.

Tin chúa băng xảy ra cùng lúc với vụ mưu toan phản nghịch. Triều thần hoang mang kinh ngạc bởi kẻ chủ mưu lại là công tử Nguyễn Phúc Luân, người con thứ hai của chúa, người mà triều thần nghĩ sẽ kế vị ngôi báu. Vài ngày sau, công tử thứ mười sáu Nguyễn Phúc Thuần nhận di mệnh làm chúa Ðàng trong. Chúa mới mười hai tuổi, kết quả mối tình loạn luân giữa phụ vương và phu nhân Ngọc Cầu. Lễ đăng quang cử hành trọng thể đúng lễ nghi trong không khí u ám nặng nề. Tân chúa giảm thuế, đại xá thiên hạ. Ngay hôm sau, Bộ Hình đăng bố cáo:“… Lợi dụng lúc chúa thượng hấp hối, nghịch tử Nguyễn Phúc Luân cùng bọn nghịch thần Trương Văn Hạnh, Lê Cao Kỷ âm mưu làm chuyện thoán nghịch quyết đoạt ngôi báu. Thiên bất dung gian, chúng chưa kịp thi hành thủ đoạn đã bị quan Phụ Chính phát giác đập tan. Bọn nghịch tặc đứa bị kiên giam, đứa đã đền tội…”. Triều thần ngờ vực nhưng giữ thái độ yên lặng bởi phe cánh Phúc Loan đã nắm binh quyền.

Phúc Thuần xưng là Ðịnh Vương, giữ truyền thống liệt thánh sùng đạo Phật nên lấy pháp danh Khánh Phủ đạo nhân. Chức tước Phúc Loan bây giờ rất dài, có nghĩa quyền lực bao trùm trong triều ngoài cõi: Quốc Phó, Quản Tượng Cơ kiêm Tào Vụ. Hai người anh của phu nhân Ngọc Cầu, Phúc Viên được phong chức Chưởng Thủy Cơ, Phúc Nghiễm trở thành Nội Hữu, Chưởng Dinh, quản Bộ Lại và Bộ Binh, lãnh Tả phủ chưởng phủ sự dinh Quảng Nam. Vận mệnh xứ Ðàng trong một tay Phúc Loan định đoạt, tha hồ làm mưa làm gió vơ vét tiền của… Tham lam nhưng khôn ngoan, Loan tìm cách lấy lòng cả những người chống đối bằng cách cho thủ hạ đến biếu xén quà cáp trám miệng. Việc triều chính vì thế tạm yên. Vị chúa trẻ chỉ thích nghe đàn ca hát xướng, lại được Chữ Ðức dạy đủ món ăn chơi kiểu người lớn nên suy yếu bạc nhược…

***

Chúa Võ Vương mất ngày mồng bảy. Khoảng mười ngày sau tại trấn Hà Tiên, Tham Mưu Nguyễn Cư Trinh mới nhận hung tin. Sáng hôm ấy Trinh đang ngồi bên án thư chọn lựa câu chữ họa bài thơ “Giang Thành dạ cô” (tiếng trống ban đêm ở Giang Thành) của Tổng Trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ vừa gửi tặng hôm trước. Trinh bồi hồi xúc cảm buông bút, bỏ dở câu kết bài thơ đang lạc vận, thẫn thờ bước ra hiên sau ngồi uống trà một mình… Ngẫm cuộc đời ngắn ngủi như bóng câu thoáng qua cửa sổ. Cư Trinh nhẩm tính từ ngày xa Phú Xuân thoắt gần mười lăm năm, cũng là thời gian Trinh xa cách chúa. Nghĩ tình chúa hậu đãi, Trinh ngậm ngùi cảm cái thâm tình. Bên ngoài là nghĩa chúa tôi nhưng bên trong thân như bằng hữu. Khi chúa còn là thế tử, người anh con chú bác với Trinh là Nguyễn Ðăng Thịnh làm Thị Giảng (thày dạy học thế tử). Thịnh đĩnh đạc, chữ tốt văn hay nổi danh khắp cõi. Cư Trinh đỗ Hương Cống được bổ tri phủ, văn tài chẳng nhường người anh. Chúa quý trọng Trinh vừa giỏi văn chương, cũng là người khẳng khái mưu lược giỏi cai trị, thường mời đàm đạo cả ngày không chán. Chúa ví mình với Trinh chẳng khác chúa Sãi với quân sư Ðào Duy Từ thuở xưa. Khi chúa lên ngôi, Trinh được sung vào viện Hàn Lâm, một tay soạn thảo điển chương từ lệnh. Chuyện loạn luân giữa chúa và Ngọc Cầu làm nhiều người chán nản bất mãn. Trinh bàn với Ðăng Thịnh:“Thày Quản Tử thường dạy học trò. Nước có bốn giềng là lễ nghĩa liêm sỉ. Ðứt một tất nghiêng, đứt hai tất nguy, đứt ba tất đổ, đứt bốn tất diệt. Anh từng là thày dạy chúa, nay xảy ra cớ sự chẳng lẽ ngồi yên?” Ðăng Thịnh thủng thỉnh:“Chú tưởng tôi vô tình chăng? Bao đêm trăn trở, cuối cùng nghĩ nên lặng thinh do biết tính chúa cương quyết, đã muốn là phải được. Vả lại nay ván đóng thuyền, can gián ích chi. Chuyện nhà người khó nói, ngay cả vương tộc còn lặng thinh nữa là mình. Miễn làm sao quốc sự trôi chảy, bốn cõi ấm no là đủ”. Cư Trinh lặng chẳng nói nhưng lòng không vui. Vua chẳng hiền tất gần xu nịnh mà xa người tài, kiếm đâu ra hào kiệt giúp nước… Nhân ở Quảng Ngãi người Mọi Ðá Vách nổi loạn, Trinh xin chúa đem quân bình định, cũng là cách xa chốn đô thành tránh nhìn sự thế.

Nguyễn Cư Trinh cùng đám gia tướng đi thuyền từ Phú Xuân vào cửa Hàn, theo đường bộ vào Quảng Ngãi. Vùng đất từ cửa Hàn vào Hội An dân tương đối sống sung túc, nhưng càng về phía nam dân sống thưa thớt nghèo khổ, khác hẳn với Phú Xuân giàu có xa hoa. Giới quan lại nhà cao cửa rộng, chạm trổ điêu khắc cầu kỳ khoe sang giàu. Ngay thứ dân cũng ăn mặc chải chuốt dùng toàn tơ lụa mua từ các thuyền buôn của người Tàu, người Nhật. Trong khi đa phần dân Quảng thiếu cơm ăn áo mặc. Sự cách biệt giàu nghèo quá đáng, xã hội nhiều bất công tất dân không thể có cuộc sống thái hòa. Trinh nghĩ nếu cứ tin vào báo cáo của các dinh về tình trạng xã hội sẽ rất nhiều sai lạc, làm láo báo cáo hay. Ðến Quảng Ngãi, bước vào công đường, Trinh thấy hàng ngàn thanh niên tuổi khoảng 16 trở lên ngồi từng hàng mười người, cổ bị xiềng trong gông tre dài tựa cái thang. Trinh hỏi viên đội trưởng. Ðội trưởng trả lời đó là đám thanh niên mới bị bắt đem về sung quân. Lại hỏi sung quân sao gọi bị bắt, bị xiềng từng xâu như thế. Ðội trưởng bảo không làm vậy dân sẽ trốn, rất ít người tình nguyện sung quân, sợ bị điều đi đánh Mọi Ðá Vách. Trinh ngán ngẩm truyền tháo cùm, chỉ định nơi ăn chốn ở cho tân binh, giải thích nhiệm vụ của binh lính là bảo vệ cho dân yên sống chăm lo sản xuất giúp nước an ninh giàu mạnh. Ngay hôm sau Trinh lệnh các võ quan bắt đầu cho luyện binh, Trinh nhận ra số đông quan lại tắc trách, ngại khổ ngại khó, tinh thần bạc nhược…. Sau hàng tháng tổ chức chấn chỉnh đội ngũ, Trinh dành thời gian thăm dân, Trinh nhận ra do tổ chức hành chính thiếu lương hảo tạo ra tình trạng tồi tệ, nếu thế giặc mạnh làm sao đánh dẹp? Trinh quyết định dâng biểu văn lên chúa yêu cầu chấn chỉnh việc cai trị bởi dân là gốc nước, gốc không vững tất nước không yên. Xã hội bất công lòng người ly tán, dân không có việc nghèo khổ khó khăn. Hằng sản không có thì hằng tâm cũng không giữ được. Cách tổ chức cai trị không hợp lý, quan lại viên chức ưa việc áp bức hơn giúp dân, giỏi quấy nhiễu hơn phục vụ nên dân oán thán giao động trở thành bất trị mà gây loạn… Biểu văn gửi đi nhưng chẳng thấy chúa có ý kiến gì. Trinh đoán có lẽ Phụ Chính Trương Phúc Loan ém đi chăng? Cuối cùng Trinh dẹp yên loạn lạc. Năm Quí Dậu 1753 nước Chân Lạp lại biến loạn, chúa lại cử Trinh làm Tham Mưu cầm binh sang đánh dẹp.

Nước Chân Lạp gồm Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp. Người Miên (tên người Việt gọi người Chân Lạp) hiền lành, sùng đạo Phật làm chủ một vùng đất rộng lớn phì nhiêu. Lẽ ra Chân Lạp phải giàu mạnh nhưng hoàng tộc chia rẽ. Những cuộc tranh dành ngôi vương bá liên tục làm xã hội rối loạn nên suy yếu dần. Các thế lực tranh cướp khi cầu người Xiêm, khi lụy người Việt. Lãnh thổ Chân Lạp cứ thế co dần. Nguyễn Cư Trinh vào nam, chỉ sau vài năm bình định, toàn vùng Thủy Chân Lạp đã lọt vào tay người Việt. Lãnh thổ xứ Ðàng trong rộng lớn kéo dài từ Nam Bố Chính đến mũi Cà Mau. Cư Trinh chọn trấn Hà Tiên đóng quân, giao du thân tình với Tổng Trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ, con người hào hiệp lại giỏi thi phú. Tứ là con Tổng Binh Mạc Cửu.

Mạc Cửu người phủ Lôi Châu tỉnh Quảng Ðông là thương gia giàu có, làm chủ đội thương thuyền buôn bán với nước ngoài. Cửu mưu đồ phản Thanh phục Minh nhưng mộng lớn không thành, đành đem gia quyến trốn sang Chân Lạp, được vua Chân Lạp phong quan tước. Nhận thấy tình hình Chân Lạp thường xuyên rối loạn, Cửu đem quân trấn tỉnh Màng Khảm. Nơi đây thương mại phát triển, nhiều tàu buôn nước ngoài thường đến giao thương. Cửu mở sòng bài lấy xâu, khuếch trương thương mại trở nên giàu có thế lực. Ðám lưu dân nhiều nơi đến cư ngụ, kẻ buôn bán, người canh tác đất đai… Thấy Màng Khảm phong cảnh hữu tình, lại nghe dân đồn vùng sông biển thường có người tiên xuống tắm, Mạc Cửu đặt tên vùng này là Hà Tiên. Năm Mậu Tý 1708, Mạc Cửu ra Chính Dinh yết kiến chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu xin nộp cống xưng thần. Thấy Cửu tướng mạo khôi vĩ, cung kính lễ độ. Chúa hài lòng phong chức Tổng Binh. Năm Bính Thìn 1736 Cửu mất. Chúa Ninh Vương cho Mạc Thiên Tứ nối nghiệp cha trấn giữ Hà Tiên.

Thiên Tứ thông minh mẫn tiệp, làu thông kinh sử. Nối nghiệp phụ thân, Tứ tiếp tục phát triển Hà Tiên. Nhận thấy thành phần cư dân phức tạp gồm cả người Việt, người Tàu, người Chiêm, người Miên… Ða phần tính khí nhẹ nhõm, hào phóng lại chuộng xa hoa, hủ tục mê tín còn nhiều. Thiên Tứ chăm lo mở mang dân trí, mở trường mời thày về dạy chữ nho. Tứ họp các tay văn nhân tài tử lập Chiêu Anh Các, thường gặp gỡ xướng họa hoàn thành nhiều thi tập giá trị lưu truyền hậu thế. Khi gặp Nguyễn Cư Trinh, Tứ tâm đầu ý hợp kết bạn tâm giao. Khi chén rượu, khi cuộc cờ… Cả hai thường dạo khắp vùng tìm nơi danh lam thắng cảnh đề thơ xướng họa. Nào là “Bình Sơn điệp thúy” ca tụng vẻ đẹp vùng núi Bình với những con suối xanh trong chảy ra Ðông Hồ, rồi “Lộc Trĩ thôn cư” tả cảnh làng quê êm đềm trên gò Lộc Trĩ. Có hôm từ sáng tinh mơ, hai người bạn tâm giao đến ngọn Ðại Tượng đắm hồn trong tiếng chuông chùa buổi sớm, hoặc đến bãi Nam Hải nhìn những ngọn sóng bạc đầu lũ lượt nhấp nhô… Ðang miên man suy nghĩ chợt Thiên Tứ bước vào. Tứ hỏi:

-Ông hay tin chúa thượng từ trần?

Cư Trinh không đáp khẽ gật đầu. Tứ tiếp:

-Tôi vừa thiết lập hương án, chờ ông đến lễ luôn thể.

Trinh uể oải:

-Chờ đến mai chẳng muộn. Trước khi cử lễ ta nên loan báo tin buồn đến tướng sĩ ba quân, cũng là dịp tôi tạ cái ân tình với người khuất núi.

Trinh đứng dậy pha ấm trà mới. Tứ lặng yên giây lâu, hỏi:

-Chúa thượng mất, mệnh trời sẽ chọn ai trao ngôi minh chúa phương nam?

-Sao ông nói thế, triều thần ai chẳng biết chúa thượng có ý truyền ngôi báu cho công tử Phúc Luân, từng cử Cao Kỷ và Văn Hạnh làm Thị Giảng…

Tứ lắc đầu:

-Tôi cũng nghĩ như ông, nhưng mệnh trời chẳng muốn thế. Người lên ngôi báu lại là công tử thứ mười sáu Nguyễn Phúc Thuần. Ngài lên ngôi xưng là Ðịnh Vương. Quan Phụ Chính được phong Quốc Phó. Tôi vừa nhận tin vội báo ông hay.

Trinh thất sắc, cầm tách trà run tay vội đặt xuống bàn:

-Ôi sao lại có thể như thế? Việc xảy ra chắc chắn do bàn tay Phụ Chính Trương Phúc Loan tác động, bởi tôi nghe chúa thượng đau ốm liệt giường vài tháng mới mất. Ông hẳn biết tân chúa là con phu nhân Ngọc Cầu, lại non nớt mới mười hai tuổi đầu… Xưa nay xứ Ðàng trong làm gì có chức Quốc Phó, Phúc Loan chuyên quyền làm bậy… Loạn đến nơi rồi!

-Ông dám cả quyết?

-Phúc Loan tham lam vô độ, lưng mềm lưỡi dẻo, lại là cậu ruột nên chúa tin dùng. Hắn ra tay tụ bè kết đảng, ngay hai tên vô lại Phúc Nghiễm và Phúc Viên, anh ruột phu nhân Ngọc Cầu được chúa thượng phong chức lớn, tôi biết ngay mối loạn ở Phú Xuân đều do Phúc Loan gây ra.

Trinh ngừng, những giọt nắng đầu ngày lung linh trên mấy đóa hồng nhung tàn úa xác xơ. Trinh tiếp:

-Tôi nghĩ nay mai ta sẽ nhận thêm nhiều tin xấu. Bọn Chân Lạp thân Xiêm La không biết chừng lại nhân cơ hội dấy loạn…

Thiên Tứ thở dài, ưu tư nhìn ra khoảng không. Nắng lên cao dần…

Cư Trinh tiên đoán đúng, vài ngày sau có tin Phúc Luân âm mưu nổi loạn bị hạ ngục. Lê Cao Kỷ và Trương Văn Hạnh bị giết. Cả Trinh lẫn Tứ hoang mang ngồi đứng chẳng yên. Gần năm sau, Trinh nhận được lệnh hồi triều, bồn chồn lo lắng hỏi Tứ. Tứ đáp:

-Tôi đã nghĩ chuyện này từ lâu, Phúc Loan muốn tóm thâu quyền bính, dùng người thân tín cầm binh nơi xa. Hắn biết ông cương trực khó thuyết phục nên e ngại lệnh cho ông hồi triều, cũng là cách đoạt binh quyền, chặt chân tay vây cánh của ông. Tôi tin hắn chẳng dám hại ông vì ông có uy tín. Ông về Phú Xuân tùy cơ ứng biến bảo vệ lấy thân mình.

Buổi chia tay ngậm ngùi lưu luyến, Tứ tiễn chân bạn mấy dặm đường mới trở về…

Cư Trinh về đến Phú Xuân triều yết chúa Ðịnh Vương, chúa hỏi dăm ba câu sơ sài rồi bước vào hậu cung. Quốc Phó Phúc Loan nói:

-Bấy lâu ông vất vả cực nhọc chốn biên trấn xa xôi, triều đình chẳng bao giờ quên công lao bậc huân thần nên triệu ông về đô thành gia phong thêm chức tước mục đích tưởng thưởng, cũng là cách tạo điều kiện cho ông hưởng chút an nhàn lúc tuổi xế chiều.

Trinh hờ hững vái tạ, nói kẻ trung thần suốt đời tận tụy bởi hưởng ân chúa lộc nước nào quản chi thân. Ngay hôm sau, Trinh nhận việc ở bộ lại, suốt ngày bận bịu giấy tờ sổ sách, mãi khi trời sẫm tối mới trở về tư thất ở ngoại thành. Ðang định dùng bữa chiều, gia nhân vào báo có quan Hàn Lâm Nguyễn Quang Tiền đến viếng. Tiền là tay văn chương cự phách ở Phú Xuân rất được chúa Võ Vương trọng dụng. Chúa thường sai Quang Tiền làm những bài thơ đề vịnh tại cung điện, danh lam thắng cảnh, văn thư thù ứng với các nước lân bang… Ðến khi chúa sai soạn thảo thư gửi quan tỉnh Phúc Kiến xưng là An Nam Quốc Vương, Tiền quyết không soạn, cho xưng hô như vậy là trái lẽ bị chúa cách chức. Tiền không hề trách móc than vãn, trở về đời sống thứ dân an bần lạc đạo, làm thơ ngâm vịnh, dạy dăm ba học trò sống qua ngày. Khi chúa Võờ Vương mất, chúa Ðịnh Vương lại phục chức cho làm ở Viện Hàn Lâm.

Nghe Quang Tiền đến, Cư Trinh không kịp xỏ dép vội chạy ra cổng đón cố nhân. Ðôi bạn già tóc hoa râm òa vở niềm vui, tay bắt mặt mừng bước vào nhà. Trinh sai gia nhân làm gà đãi khách. Cả hai ngồi trên chiếc phản gụ chuyện vãn. Trinh nói:

-Xa ông thấm thoát đã mười lăm năm. Tuy xa mà lòng vẫn nhớ vẫn gần, vẫn thường hỏi thăm tin tức mỗi khi gặp khách Phú Xuân. Biết ông hoạn lộ gian truân, lòng già ái ngại. Tôi mới về công việc đa đoan chưa gặp ông, nào ngờ ông nhanh chân đến trước.

-Cái tình bằng hữu là thế, còn hơn phu thê đầu gối tay ấp, kề cận đêm ngày. Mừng ông an khang sau bao năm tháng trấn giữ biên trấn. Tuổi ta gần đất xa trời, lại nhìn thấy nhau là quý, còn mong chi hơn.

Hai chung rượu vừa vơi lại đầy, gia nhân mang đồ nhắm, khoanh tay đứng hầu. Trinh khoát tay ra hiệu cho lui. Quang Tiền hỏi:

-Xa Phú Xuân lâu, ông về thấy có chi lạ?

-Cái lạ thì nhiều, lạ đường lạ phố, lạ cảnh lạ người. Chính tôi cũng là người lạ giữa Phú Xuân đô hội phồn hoa. Nhớ ngày chia tay ở cửa Eo (Thuận An), hai ta tóc vẫn xanh, nay tôi pha sương mà ông bạc trắng…

Một thoáng yên lặng ngậm ngùi, khuôn mặt Trinh đăm chiêu xa vắng. Cuộc đời như giòng sông chảy mãi chẳng ngừng. Tiền nâng chung rượu uống cạn, bỗng cảm hứng ngâm mấy câu thơ Ðặng Dung:… Thế sự du du nại lão hà. Vô cùng thiên địa nhập hàm ca… Trăng lấp ló sau rặng tre, gió nhẹ lung lay khóm trúc đầu hè. Trinh lên tiếng:

-Sao ông bỏ không ngâm hai câu tiếp. Ha ha! Thời lai đồ điếu thành công dị. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa… Xứ Ðàng trong bấy lâu đâu có chức Quốc Phó. Nay chúa thượng bỗng phong Phúc Loan chức ấy. Chúa non trẻ, ông ở Viện Hàn Lâm hẳn rõ việc này ai chủ trương?

-Chẳng ai chủ trương, chính Phúc Loan tự phong.

Trinh hằn học:

-Vậy các đại thần và vương tộc đâu cả rồi?

-Các đại thần bị hắn dùng bổng lộc chức tước mua chuộc trám họng. Còn vương tộc cũng ươn hèn, giá áo túi cơm. Ngay khi Phúc Luân bị tống ngục vu cho làm phản nào ai dám lên tiếng? Sau này hắn lại cho hai con trai mình là Phúc Thặng và Phúc Nhạc cưới các công nữ Ngọc Nguyện và Ngọc Ðảo (con chúa Vũ Vương). Tay chân thủ hạ hắn nắm hết quyền hành trong triều ngoài cõi. Thế lực như vậy ai dám hó hé.

-Tôi nghe tư dinh của hắn ở Phấn Dương, vàng bạc châu báu chứa đầy hầm. Cách nào hắn giàu đến thế?

-Tất cả nguồn lợi trên rừng dưới biển vùng Thuận Quảng do hắn và thủ hạ tóm thu. Công quỹ chỉ còn được đôi phần. Thôi mới tái ngộ, ta nên bỏ qua chuyện đó, thế sự du du nại lão hà… Mười mấy năm qua, cái kho thi văn của ông chắc chẳng nghèo?

-May tôi còn được thú vui ấy. Cũng là chút gì để lại con cháu mai sau. Ở Hà Tiên tôi với Mạc Thiên Tứ thường nhàn du đề thi ngâm vịnh, lại có thêm Ðạm Am văn tập. Ðạm Am là biệt hiệu của tôi từ thuở bước vào quan trường.

Ðôi bạn ngâm nga xướng họa, như muốn mượn rượu lãng quên đời. Ðêm khuya, trăng cao trên đỉnh trời, ánh trăng mờ ảo sương khói. Quang Tiền giã bạn ra về bởi sáng mai chúa thiết triều sớm…

Sáng hôm sau, khoảng cuối giờ dần bá quan đã tề tựu đông đủ chờ chúa thiết triều. Ðến đầu giờ mão, văn võ hai hàng nghiêm chỉnh nhưng chờ mãi chẳng thấy chúa. Quốc Phó Phúc Loan cũng chẳng thấy đâu. Có người hỏi quan Lễ Bộ tại sao. Quan khẽ lắc đầu. Chờ lâu chán nản, bá quan tự động tản hàng tụ tập chuyện vãn. Trong lúc nhốn nháo, thái giám Chữ Ðức từ hậu cung bước ra chính điện dõng dạc như ra lệnh:“Chúa thượng se mình không thiết triều, ngài Quốc Phó đang đợi bá quan đến tư dinh Phấn Dương bàn chuyện triều chính”. Chữ Ðức nói xong bước vào hậu cung. Cư Trinh ngao ngán nhìn Quang Tiền:“Quốc sự phải bàn ở triều đường, cớ chi phải đến dinh Quốc Phó. Tôi quyết không đến”. Quang Tiền gật đầu tán thành. Thấy trời còn sớm, Cư Trinh ngỏ ý rủ bạn dạo chơi phố chợ. Quang Tiền bằng lòng, cả hai rời triều đường lên ngựa đi về phía chợ Dinh.

Sáng sớm phố thị đã đông đảo người qua lại. Ðường cái lớn ở giữa, hai bên nhà ngói san sát, bóng cả cây cao, phố nọ tiếp phố kia, trên bến dưới thuyền ngang dọc như mắc cửi. Ðến gần chợ Dinh, hai người ngạc nhiên khi thấy bộ hành bỗng dưng dạt hết vào ven đường. Một toán lính cấp trăm người do hai viên đội trưởng cỡi ngựa đi đầu. Hai bên có vài tên lính cầm roi hò hét dẹp đường dáng điệu hung dữ. Hai người kìm ngựa đứng giữa đường xem sự thể. Hai viên đội trưởng tới gần thấy Cư Trinh vội xuống ngựa vái chào. Cư Trinh nhìn đám lính thấy tên nào cũng còn trẻ, to lớn vạm vỡ, hất hàm hỏi:

-Tụi bay là lính ở đâu?

Viên đội trưởng lễ phép:

-Bẩm quan, chúng tôi là lính dinh Phấn Dương, thuộc toán hỏa đầu quân.

Trinh cười:

-Hóa ra tụi bay là lính nấu bếp hèn chi đứa nào cũng to béo. Lính trẻ khỏe nên cho đi giữ biên trấn, nhà bếp lẽ ra nên dành cho đám lính già.

Trông thấy đám lính tên nào cũng gánh gồng, Trinh biết tụi này đi chợ sớm:

-Tụi bay đi chợ, nào phải đi ăn cướp, cớ chi gây náo loạn phố xá, phiền nhiễu đến dân. Nhớ chấn chỉnh, lần sau bắt gặp ta chẳng dung đâu.

Nói xong Trinh dục ngựa tiến bước, không kịp nhìn thấy nụ cười khinh mạn thách thức của viên đội trưởng. Trinh nói với Tiền:

-Phúc Loan lộng hành coi khinh phép nước, chẳng lẽ ai cũng ngậm tăm. Yên lặng là nuôi dưỡng gian hùng, tôi sẽ có thái độ, quyết không chịu nhục mất phẩm giá kẻ sĩ.

Nghe bạn nói, Quang Tiền lặng yên, khẽ thở dài, thâm tâm rất lo ngại vì biết Trinh cương trực, đã nói là làm. Ngược lại Phúc Loan độc ác nham hiểm tất không chịu nhịn. Kẻ cầm quyền trong tay nào sợ chi ai?

Ðêm ấy về nhà, Trinh trằn trọc. Nếu không ngăn chận, sẽ có ngày cơ nghiệp chúa Nguyễn tan tành, xứ Ðàng trong đổi chủ. Giòng họ mình bao đời phù chúa lẽ nào khoanh tay nhìn vận nước suy vong. Hàng tháng trôi qua, Trinh còn biết thêm chúa bị bất lực, không gần được đàn bà. Bọn thái giám nghĩ ra cách bắt những tên lính khỏe mạnh giao hợp với cung nữ cho chúa xem. Chúa mê mẩn thích chí đòi nạp thê (cưới vợ). Chúa lại mê xem tuồng tích hát xướng chẳng hề để ý việc nước, giao toàn quyền định đoạt việc trong ngoài cho Quốc Phó. Cư Trinh quyết định dâng biểu văn trao tận tay chúa. Biểu viết:“… Dân là gốc nước. Dân không yên tất sinh biến. Bấy lâu thần thấy ngoài dân thóc cao gạo kém, phần do nhà giàu thu thóc không chịu bán ra vì đồng tiền mất giá, phần năm qua mất mùa, nếu không cứu nguy, cảnh chết đói tất sẽ diễn ra. Ngay đô thành là chốn phồn hoa nay xuất hiện nhiều hành khất. Ðã thế, đám quan lại ở các nơi xa nhiều người quen thói ức hiếp dân lành, chưa kể sưu cao thuế nặng. Chỉ hơn năm xảy biết bao điềm kinh dị. Quảng Nam động đất, núi lở rồi mưa lũ gây chết người. Qui Nhơn sâu rọm bò đen đường phố phải dùng lửa đốt, sâu vàng phá hoại mùa màng. Tháng trước ngay tại Hải Vân Sơn sao sa phát nổ đỏ rực trời ai nấy kinh hãi… Thuở tiên vương (chỉ Võ Vương) sinh tiền, mỗi khi thấy điềm lạ lại ăn chay niệm phật cầu quốc thái dân an, vỗ về trăm họ, xét lại chính sách có chi khiếm khuyết. Thần nhớ ngài thường dùng gương xưa răn dạy các công tử, ngài nói:“Nước mất là do đế vương bất xứng, gần gũi nịnh thần, xa lánh tôi trung, ăn chơi phóng đãng chẳng biết lo cho dân khiến dân lầm than đói khổ mà sinh loạn…”

Chúa đọc xong trao cho Quốc Phó. Phúc Loan xem xong rất giận nhưng làm vẻ điềm tĩnh, cười nói:“Quan Lại Bộ khéo vẽ chuyện, làm chi có cảnh như ông ấy tả. Nay thiên hạ thái bình, chúa thượng có thú vui riêng cứ hưởng, đời người mấy chốc, tội chi làm khổ thân mình.” Chúa nghe hài lòng.

Ðợi mãi chẳng thấy chúa nói gì, Cư Trinh chán nản, từ đấy quyết định cáo ốm không dự bàn việc triều chính. Phúc Loan nói với thủ hạ:“Ta thừa biết Cư Trinh bấy lâu chống ta, ta muốn cô lập hắn nào ngờ hắn tự cô lập mình. Rồi hắn sẽ chết trong cô đơn và uất hận”. Phúc Loan tiên đoán đúng. Thời gian sau, Cư Trinh ốm liệt giường hàng tháng rồi từ trần…

***

Năm Canh Dần 1770, đám quan lại tay chân Quốc Phó Trương Phúc Loan tại Phú Xuân sống xa hoa nhàn hạ trong khi ngoài dân thóc cao gạo kém, giặc cướp nổi lên khắp nơi. Tại Quảng Ngãi, Mọi Ðá Vách thấy thời thế bất ổn lại nổi loạn, lắm khi tràn xuống đồng bằng cướp phá thường xuyên đe dọa cuộc sống dân lành. Phúc Loan lo sợ, một mặt tăng cường quân bảo vệ Phú Xuân, lại điều quân từ hai phủ Phú Yên Qui Nhơn ra Quảng dẹp loạn. Ðầu năm sau, tình thế vừa tạm ổn lại nhận tin quân Xiêm La đã tấn công chiếm Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ rút về Trấn Giang (Cần Thơ) dâng biểu về triều tạ tội mất đất. Tại Chân Lạp. Quân Xiêm chiếm Nam Vang lập vua mới. Trong lúc Phúc Loan rối rắm tìm cách giải quyết tình hình phía nam lại nhận biểu văn của Tuần Phủ Qui Nhơn báo tin khẩn:“… tên Biện Lại Nguyễn Nhạc người ấp Tây Sơn thua cờ bạc trốn vào vùng sơn cước cùng với hai em là Lữ và Huệ xúi giục dân chúng nổi lên làm loạn, thanh thế rất lớn, khẩn xin triều đình cho viện binh đánh dẹp…” Loan cả giận vỗ án hét:“Xá chi lũ cờ bạc trộm cướp mà phải xin viện binh. Vậy đặt hắn làm tuần phủ làm chi cho tốn gạo”. Loan định bãi chức Khắc Tuyên, đám thủ hạ khuyên can mãi mới nguôi giận. Loan tuyệt nhiên coi thường đám giặc cướp Tây Sơn, phó mặc cho Khắc Tuyên giải quyết tình hình, lại nghiêm lệnh nếu lơ là sẽ bị bãi chức. Tuyên lo sợ, từ đó chẳng dám báo cáo gì thêm về triều. Thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc khôn ngoan bản lãnh nắm được tình hình không bị đe dọa, ra sức phát triển lực lượng.

Bấy giờ xứ Quảng nhiều vùng bị đói, người đói ăn thất thểu như những bóng ma vật vờ chẳng biết nương tựa vào đâu. Dân căm phẫn hận chúa Nguyễn nhu nhược để Quốc Phó Loan tham ô lũng đoạn triều chính gây cảnh lầm than cơ cực. Nguyễn Nhạc cho thủ hạ ra Quảng chiêu dụ người vào Thượng đạo khẩn hoang phá rẫy, canh tác vùng đất mênh mông chập chùng rừng núi. Ðám dân lưu vong nghèo khổ sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu để kiếm miếng ăn, sau này hầu hết trở thành nghĩa quân Tây Sơn. Ngoài người Kinh, Nguyễn Nhạc còn vận động được sự ủng hộ và thần phục của các sắc dân thiểu số vùng Tây Sơn Thượng. Các tù trưởng tôn Nhạc là “vua Trời”. Lực lượng Tây Sơn ngày càng lớn mạnh, vừa luyện binh, vừa sản xuất dự trữ lương thảo…

Phủ Qui Nhơn những ngày tàn đông, chỉ còn non tháng đến tết Quí Tỵ 1773. Trời đã về chiều, những giọt nắng vàng vọt cuối ngày chỉ còn le lói trên vùng đồi núi xa mờ. Tuần Phủ Nguyễn Khắc Tuyên vẫn ngồi ở công đường suy tư lo lắng. Báo cáo của các hương chức cho biết số đông dân đinh nghèo khổ trong phủ không nộp sưu thuế, rủ nhau trốn vào vùng sơn cước theo bọn giặc cướp. Trên đường phố, trong quán chợ đầy rẫy đám cùng dân từ Quảng tràn vào xin ăn. Người ta kể nhiều nơi ở Quảng, ngay đến vợ con đám quan chức cũng phải đến các nhà giàu có vay thóc gạo, thậm chí xin ăn bởi tiền thì có nhưng không đào đâu ra gạo để mua. Qui Nhơn cũng chẳng khá gì, khẩu phần binh lính phải giảm bớt. Tuyên nghĩ nếu triều đình không cứu nguy kịp thời, chỉ non tháng nữa tình trạng Qui Nhơn cũng sẽ tồi tệ như những vùng khác. Không những thế, bọn giặc Tây Sơn của Nguyễn Nhạc tuy chưa ra tay hành động vẫn là mối ám ảnh không ngừng. Hôm sau, đích thân Tuyên cùng vài vệ sĩ mặc như dân thường cỡi ngựa ra ngoại thành xem dân tình. Cảnh phố buồn thiu, ăn mày lũ lượt. Nhiều nhà cửa đóng then cài, sợ đám dân vong mạng dở thói du côn trộm cướp. Thiên hạ hờ hững chẳng mấy ai tha thiết nghĩ đến việc chuẩn bị đón xuân mới. Cuộc sống bất an đói khổ làm sao có thể vui xuân. Qua khỏi phố chợ, Tuyên bỗng thúc ngựa nhanh bước khi chợt thấy người đàn ông khăn đóng áo dài, bước thấp bước cao đang đi ở góc phố. Ðó là Giáo Hân, tay danh sĩ nổi tiếng ở phủ. Nguyên phủ Qui Nhơn có ba ông giáo nổi tiếng chữ tốt văn hay là Giáo Hoài (Võ Xuân Hoài), Giáo Hân và Giáo Hiến (Trương Văn Hiến). Riêng Giáo Hiến giỏi cả võ nghệ, là thày dạy học của hai người em Nguyễn Nhạc là Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Sau này cả Giáo Hiến lẫn Giáo Hoài đều bỏ trường vào Thượng đạo làm quân sư cho Nguyễn Nhạc. Phủ nay chỉ còn Giáo Hân.

Giáo Hân đỗ Hương Cống nhưng không ra làm quan, lấy cớ tàn tật, chân bước thấp cao thiếu vẻ uy nghi đường bệ của bậc phụ mẫu chi dân. Nói vậy mà không phải vậy. Những người gần gũi Giáo Hân đều công nhận Hân là người ưu thời mẫn thế. Sở dĩ Hân không chịu ra làm quan vì đoán biết thời thế sắp đại loạn nên sống ẩn dật an phận, tránh cảnh trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết. Tuần Phủ Tuyên vốn quý trọng Giáo Hân, thỉnh thoảng vẫn mời Hân vào phủ đàm đạo quốc sự. Ðã mấy tháng, Tuyên bận bịu việc quan, khắc khoải lo toan không có dịp gặp gỡ người bạn tâm đầu. Tuyên xuống ngựa vồn vã:“Ông giáo”. Giáo Hân kịp nhận ra quan Tuần Phủ, trố mắt ngạc nhiên. Hân chưa kịp nói, Tuyên tiếp:“Ông chớ ngạc nhiên, tôi đi xem dân tình bất ngờ lại gặp ông, mời ông ghé phủ ta có nhiều việc đàm đạo”. Tuyên ra dấu cận vệ nhường ngựa cho ông giáo, cả hai phi nhanh về phủ… Tuyên bảo gia nhân bày tiệc, Giáo Hân nói:“Có rượu chè tất tôi phải ở lâu, phiền ông cho người báo tin kẻo người nhà nóng ruột đợi chờ”. Ðôi bạn nâng chén, Tuyên nói:

-Bấy lâu đa đoan chẳng có dịp gặp, tôi định tết đến thế nào cũng ghé ông, có đôi điều muốn thỉnh ý.

-Tôi an phận thủ thường, vui với vài đứa học trò, thế sự chẳng màng đầu óc tối tăm. Ông quan quyền hẳn rành sự thế, thỉnh tôi chi thêm bận lòng.

-Ông khiêm nhượng nói thế, tôi làm quan nhưng tai mắt ở dân, ông là người học rộng trải đời hẳn rõ. Thú thật với ông hoàn cảnh tôi hiện nay rối rắm, ăn không ngon ngủ không yên. Gặp buổi thóc cao gạo kém dân chúng ta thán, chúa thượng chẳng lo việc nước mà Quốc Phó cũng lơ là chẳng có chính sách cụ thể giúp dân. Ở phủ ta, tôi từng biết đám cùng dân nhiều người trốn vào vùng sơn cước theo bọn giặc cướp. Tôi chưa mấy lo nhưng tháng trước được tin Giáo Hiến và Giáo Hoài cũng bỏ trốn vào Thượng đạo theo Nguyễn Nhạc, mối lo tăng dần bởi hai tay đều là những người có học, nay bỏ đi tất có lý do, ảnh hưởng tâm lý không nhỏ. Tôi không dám coi thường Nguyễn Nhạc như những bọn giặc cướp khác, linh cảm bọn này sẽ gây biến loạn. Ông ở trong dân, gần gũi tất biết nhiều chuyện. Chỗ thân tình xin ông bộc bạch chớ ngại.

Giáo Hân yên lặng giây lâu, hỏi:

-Về Nguyễn Nhạc ông chỉ biết chừng đó thôi ư?

-Tôi biết Nhạc giàu có nhờ làm đầu nậu nghề buôn trầu nguồn, ba anh em hắn võ nghệ cao cường. Sau này Nhạc xin được chân Biện Lại chuyên việc thu thuế. Hắn mê cờ bạc, thâm lạm công quỹ bỏ trốn vào rừng tụ tập đám dân vong mạng, dụ dỗ người Mọi vùng Thượng đạo, tự xưng thủ lĩnh… Mấy phen tôi cử Tri Huyện Tuy Viễn đem quân tiễu trừ, lần nào cũng thiệt hại hàng chục mạng. Tôi khiển trách, viên Tri Huyện bảo bọn cướp có hàng ngàn, lại ở lẫn với dân. Quân tiến vào lùng sục chẳng thấy giặc, lại bị chúng dùng tên độc bắn tỉa, quân sĩ hoang mang sợ hãi bỏ trốn. Hắn ước lượng phải có lực lượng lớn bao vây tiêu diệt. Tôi dâng biểu về triều, Quốc Phó chê tôi bất lực giận dữ đòi cách chức, từ đấy tôi lặng thinh.

Giáo Hân trầm ngâm ngồi nhâm nhi, nghĩ tội cho quan Tuần Phủ không nắm rõ tình hình do xa cách dân. Triều đình Phú Xuân đang đứng bên bờ vực thẳm do thiển cận tham lam, chỉ biết vơ vét tham nhũng gây cảnh lầm than làm mất lòng dân. Ngay tại triều đình, nhóm vương tộc đều có ý muốn loại trừ Phúc Loan, truất phế Ðịnh Vương, đưa hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương lên ngôi chúa.

Giáo Hân nghĩ phận dân đen chỉ cần cơm no áo ấm, cuộc sống yên lành. Còn chuyện triều chính, ai muốn làm vương tướng gì cũng mặc. Giáo Hân nghĩ Tây Sơn nổi dậy chỉ làm đất nước thêm ly loạn, dân tình đói khổ. Anh em Tây Sơn vũ dũng có thừa nhưng Giáo Hân ngờ vực, không tin con người Thủ Lĩnh Nguyễn Nhạc có tài kinh bang tế thế giúp dân thoát cảnh lầm than. Bởi vậy vài tháng trước, Giáo Hiến gặp Giáo Hân, cố thuyết phục Hân theo Nguyễn Nhạc nhưng Hân từ chối. Giáo Hân nghĩ nên nói hết tình hình bên ngoài cho Tuần Phủ rõ để y dâng biểu văn về triều may ra có cách ngăn chận kịp thời hiểm họa. Hân nói:

-Trong dân gian loan truyền nhiều chuyện thần bí về Nguyễn Nhạc, rằng ngôi mộ thân sinh họ Nguyễn táng đúng quý huyệt. Nhạc là chân mạng đế vương được Ngọc Hoàng trao báu kiếm “thế thiên hành đạo”. Giáo Hiến là quân sư của Nhạc, nắm rõ tình hình Phú Xuân nên đưa ra chiêu bài”diệt quyền thần, tôn phù Hoàng Tôn Dương”. Tôi còn nghe Nhạc thu phục được nhiều tay hào kiệt như Võ Văn Dũng, vợ chồng Trần Quang Diệu Bùi Thị Xuân… Ngay cả những tay lục lâm thảo khấu, võ nghệ cao cường vùng Tây Sơn cũng tôn Nhạc làm thủ lĩnh. Tôi quen Nhạc từ lâu, hắn hào hiệp nghĩa khí nhưng tham vọng làm vua một cõi bởi tuyệt đối tin tưởng thần quyền. Tôi đoán chẳng còn bao lâu nữa Nhạc sẽ khởi binh, ông nên phòng trước, chờ nước đến chân e không kịp.

Nghe Hân nói Tuyên lo lắng. Ngay hôm sau truyền phủ huyện tăng cường luyện quân, canh phòng cẩn mật các nơi hiểm yếu ngăn chận dân trốn theo giặc.

Tết Quí Tỵ buồn tẻ trôi qua. Ra giêng, Tuần Phủ Tuyên càng nhận thêm nhiều báo cáo. Quân Tây Sơn chia từng toán nhỏ vào các làng mạc thu thóc gạo của người giàu chia cho dân nghèo, tìm cách thu phục lòng dân. Dân nghèo hàm ân kẻ cứu giúp, coi Tây Sơn là đội quân nhân nghĩa. Quân Tây Sơn ngày càng lộng hành, công khai đi từng đoàn hàng trăm người trang bị cả súng tay, coi quan quân chẳng ra gì. Ðầu mùa thu, Thủ Lĩnh Nguyễn Nhạc thấy thanh thế đã lớn có thể khởi binh. Nhạc xưng là Tây Sơn Vương, tổ chức quân đội, phong quan chức văn võ cho đám thân tín. Cuối thu năm ấy, Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc bất ngờ khởi binh, dùng kế nội công ngoại kích dễ dàng chiếm thành Qui Nhơn. Tuần Phủ Tuyên thoát chạy một mình bỏ cả vợ con gia đình ở lại. Hai kho lương thực lớn nhất phủ cũng bị chiếm. Nguyễn Nhạc hạ lệnh thả tù tha thuế, tuyển thêm quân thẳng tiến ra Quảng Ngãi. Phía nam, Tây Sơn khống chế luôn Phú Yên. Tình thế quân triều lâm cảnh nguy khốn.

Tin Quy Nhơn thất thủ làm Phú Xuân kinh hoàng. Ngoài dân nhốn nháo, có kẻ lo xa vội trữ gạo thóc mắm muối phòng khi loạn lạc. Ðám võ quan binh lính bấy lâu nhàn rỗi trở nêạn biếng nhác, gươm kiếm mỏi mệt nay nghe có loạn tinh thần sa sút kinh sợ. Phố xá vắng người. Ðêm đêm nhà nhà then gài cửa đóng. Trong triều quan lại chia rẽ, nhóm vương tộc với một số quan lại muốn phế chúa Ðịnh Vương nhu nhược tôn phù Hoàng Tôn Nguyễn Phúc Dương. Họ nghĩ Nguyễn Nhạc sẽ quy phục triều đình khi Hoàng Tôn Dương lên ngôi chúa, đất nước trở lại thanh bình thoát cảnh gươm đao. Tại dinh Quốc Phó tấp nập đám võ quan đến chầu chực, lo lót cầu cạnh. Quan chưởng cơ nọ nại cớ đau yếu, quan tán lý kia than gia đình khó khăn… để khỏi phải ra chiến địa.

Chúa lúc ấy đã ngoài hai mươi, đủ khả năng đảm đang việc nước khẩn cấp họp quần thần. Giải pháp cuối cùng phải đem đại binh vào ngay Quảng Nam bởi mất xứ này, Phú Xuân sẽ bị đe dọa. Hai phò mã của chúa Võ Vương, Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Thống và Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Sách chỉ huy hai đạo quân tiến vào Quảng Nam. Hai bên giao tranh trận đầu ở Bến Ván. Quân Tây Sơn theo kế hoạch của Nguyễn Nhạc lùi sâu vào phía nam. Ðến Bến Ðá thuộc Quảng Ngãi, Nhạc tổ chức phục binh đánh tan quân triều. Cửu Thống, Cửu Sách cởi cả giáp mão bỏ quân thoát chạy.Mấy võ tướng chậm chân đều tử trận.

Tin thất trận nhanh chóng về Phú Xuân. Phe vương tộc và một số đại thần họp bí mật tìm cách trừ khử Quốc Phó Loan. Chưởng Cơ Nguyễn Phúc Văn, con trai thứ ba của chúa Võ Vương tố cáo Phúc Loan tư thông với Tây Sơn. Văn cho người giả nét chữ Phúc Loan, viết thư riêng gửi Nguyễn Nhạc. Thư có dấu ấn tín dinh Quốc Phó. Trong khi chúa do dự, Phúc Loan xuống tay trước, bắt giết một số người chủ mưu hại mình. Phúc Văn bỏ trốn bị bộ hạ Phúc Loan đuổi theo bắt được, dìm chết ở phá Tam Giang.

Tình hình vô cùng rối ren, chúa khẩn cấp cho đem cả Nội Quân, đám quân chủ lực chuyên canh gác bảo vệ phủ chúa do Cai Ðội Nguyễn Phúc Hương làm Tiết Chế lên đường cứu viện Quảng Nam. Lực lượng phòng thủ Phú Xuân còn rất mỏng. Tình thế càng trở nên bi đát. Quân Tây Sơn lại đại thắng, Chưởng Cơ Cửu Thống và Tiết Chế Phúc Hương lần lượt chết tại trận tiền. Thi hài hai phò mã được mang về Phú Xuân, đám tang cử hành giản dị lặng lẽ nhưng tướng sĩ Phú Xuân càng thêm kinh hãi bởi thấy thế Tây Sơn rất mạnh. Rất may danh tướng triều đình, Cai Cơ Nguyễn Cửu Dật (con Chưởng Cơ Cửu Sách) mưu trí dụng nghi binh kìm chân Tây Sơn. Dù không tiến thêm được ra phía bắc nhưng lực lượng Tây Sơn lại bành trướng về phía nam chiếm luôn Diên Khánh Bình Thuận. Cửu Dật khẩn gửi biểu văn về triều xin tiếp viện, báo cáo địch tình:“… Tây Sơn Nguyễn Nhạc mưu trí xảo quyệt thu phục được khá nhiều bọn lục lâm thảo khấu võ nghệ cao cường như Võ Văn Dũng, vợ chồng Trần Quang Diệu Bùi Thị Xuân, Võ Văn Tuyết, Lê văn Hưng… Ngay cả bọn nho gia chữ nghĩa cũng cam tâm theo giặc như Võ Xuân Hoài, Nguyễn Thung, Trương Mỹ Ngọc, La Xuân Kiều, Cao Ðắc Tựu, Triệu Ðình Tiệp. Sáu tên văn nhân này thường được người Quy Nhơn ca tụng là Lục kỳ sĩ. Bọn cướp biển người Tàu là Tập Ðình và Lý Tài cũng đem hết lực lượng phù Nguyễn Nhạc. Bọn lính Tàu cao lớn, cạo tóc giắt bím. Trước khi xuất trận thường uống rượu say, cởi trần, cổ đeo giấy vàng bạc bùa phép rất đỗi quái dị khiến quân ta kinh sợ phải lùi. Thần nghĩ quân Tây Sơn tuy đông nhưng vẫn không quá mạnh khiến ta phải thua. Xin chúa thượng cấp ngay viện binh tinh nhuệ, đồng thời cử binh Gia Ðịnh đánh ở mặt nam chiếm lại những vùng đã mất. Tây Sơn tất khốn bởi lâm thế lưỡng đầu thọ địch…” Chúa y kế của Cửu Dật. Phúc Loan đành phải lấy nửa số quân canh dinh Quốc Phó sung vào viện binh do Chưởng Dinh Nguyễn Phúc Nghiễm làm Tiết Chế. Chúa truyền làm lễ xuất quân trọng thể, cờ bay rợp trời, chiêng trống khua vang cho quân tăng nhuệ khí. Ðoàn quân thẳng tiến vào mặt trận Quảng Nam. Chỉ vài ngày sau, chúa nhận hung tin từ Bố Chính dinh: Ba vạn quân Trịnh do Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc đang trên đường tiến vào nam. Chúa thất kinh hồn vía, Phúc Loan kinh sợ không kém khuyên chúa khẩn gọi đoàn quân tiếp viện Quảng Nam trở lại giữ đô thành.

***

Thăng Long thành mùa hạ năm Giáp Ngọ 1774 dưới thời chúa Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm. Chúa nối nghiệp Minh Vương vừa tròn bảy năm. Ðược học cả văn lẫn võ từ thuở ấu thơ, chúa thuộc nhiều kinh sử, thích làm thơ, thông minh quyết đoán cải tổ triều chính không nệ phép cũ, bên ngoài ra sức dẹp nội loạn. Kể từ năm Canh Dần 1770, đám phản nghịch cuối cùng do hoàng thân Lê Duy Mật cầm đầu, sau ba mươi năm hùng cứ vùng thượng du Thanh Hóa đã bị dẹp tan. Từ đấy bốn cõi yên ổn, chúa không vì thế lơ là việc luyện binh, dự trữ lương thực phòng khi chinh chiến. Triều thần nhiều người tài giỏi. Văn quan gồm đám danh sĩ Bắc Hà như Nguyễn Nghiễm (thân phụ thi hào Nguyễn Du), Nguyễn Hoàn, Lê Quý Ðôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Khản… Võ tướng có Hoàng Ngũ Phúc, Hoàng Ðình Thể, Hoàng Phùng Cơ, Bùi Thế Ðạt… đều là những danh tướng dầy công trận mạc. Tháng năm oi ả. Mặt trời khuất từ lâu mà trời vẫn nồng nực. Chúa ra hoa viên dạo mát, thẩn thơ quanh hòn non bộ ngắm nghía công trình tuyệt vời của Hồng Lĩnh Hầu Nguyễn Khản (anh ruột thi hào Nguyễn Du), tay nghệ sĩ tài hoa, phong lưu công tử lừng danh đất bắc. Chúa quý Khản coi như bè bạn, dành Khản đặc ân được vào nội cung bất cứ lúc nào. Bỗng viên nội quan xuất hiện, tâu chúa có biểu văn thượng khẩn của Trấn Thủ Nghệ An Bùi Thế Ðạt. Chúa bước vội vào thư phòng. Thế Ðạt tường trình tình hình rối loạn đang xảy ra ở Ðàng trong, trong triều Phúc Loan chuyên quyền tham ô nhũng lạm dân chúng oán ghét. Ngoài cõi giặc Tây Sơn do Nguyễn Nhạc cầm đầu đã chiếm gần hết dinh Quảng Nam. Ðạt tâu chúa nên thừa cơ động binh chinh phạt Nam Hà.

Chúa suy nghĩ hồi lâu, mỉm cười đắc ý, truyền nội quan đến dinh Tham Tụng Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm mời quan khẩn cấp vào nội cung. Nguyễn Nghiễm biết có việc cơ mật vội thay mũ áo, thay vì dùng kiệu chậm chạp. Nghiễm lệnh gia nhân thắng ngựa lên đường.

Chúa ngồi chờ sẵn tại thư phòng, đưa biểu văn cho Nghiễm đọc. Chúa nói:

-Ðã hơn trăm năm, các đời tiên vương cũng như ta ngưng chinh phạt họ Nguyễn bởi quốc sự đa đoan, chỉ muốn nuôi dân nên ngưng chinh chiến. Thực tâm ta vẫn mong có ngày cất quân hỏi tội lũ phản nghịch, dựng đại kỳ Tĩnh Vương trên đỉnh Hải Vân, lấp kín sông Gianh, thả thuyền nhàn du trên sông Hương, cho ngựa uống nước ngay giòng Lệ Thủy. Nay Ðàng trong tình thế rối ren, giòng ngụy Phúc Thuần ươn hèn ngu xuẩn để ngụy phó Phúc Loan chuyên quyền thao túng, ra sức bóc lột, lương dân đói khát khổ cực hận ngút trời cao. Ấy là lúc ta nên động binh trừng phạt, chiếm nước suy loạn. Khanh nghĩ thế nào?

Vị lão thần mái tóc điểm sương, khuôn mặt uyên bác đăm chiêu từ tốn:

-Thần cũng một ý như chúa thượng. Ðôi phen đến Bố Chính, nhìn giòng sông Gianh chia cắt mà lòng quặn thắt. Những mong có ngày nối nhịp cầu xum họp, người nam kẻ bắc thông thương qua lại. Chẳng còn phân biệt trong ngoài, tất cả cùng dưới mái nhà nước Việt rợp mũ áo triều đình.

-Ta vẫn còn e địa thế Ðàng trong hung hiểm, các chiến lũy xưa vẫn là chướng ngại khó qua.

-Ðàng trong nhân tâm ly tán, lâu không chinh chiến tướng mỏi quân lười, cho dù thành cao hào sâu chẳng ngăn được bước tiến quân ta. Cho dù Ðào Duy Từ có tái sinh cũng cuốn vó chạy dài.

Chúa nghe hoan hỉ:

-Khanh điềm đạm uyên thâm hẳn có kế sách?

-Thần nghĩ khởi binh phải chính nghĩa. Chúa thượng trước tiên tâu vua tế cáo Giao Miếu. Xuống dụ thiên hạ kể tội họ Nguyễn, vì đại nghĩa động binh chinh phạt nghịch cường thỏa lòng cùng dân trăm năm ngóng trông. Người họ Nguyễn lòng ngay quy thuận sẽ được toàn sinh, vỗ về tha thứ, cho phục chức bởi thương giòng dõi thế huân. Vả lại Ðàng trong đói kém, ta nên chuẩn bị đủ lương thực. Quân đi đến đâu lương theo tới đó, thật tâm cứu dân thoát cảnh cơ hàn. Ðạt hai chữ nhân hòa là yếu tố tất thắng.

Chúa vui mừng, lại hỏi:

-Theo khanh, ai đáng mặt thống suất đại binh?

-Thần thiết nghĩ, lĩnh ấn nguyên nhung chẳng ai xứng hơn Ðại Tư Ðồ Quốc Lão Việp Quận Công (Hoàng Ngũ Phúc).

-Quốc lão một đời lao nhọc chiến chinh, nay tuổi đã thất thập, ta nên để người ngơi nghỉ, lánh chốn đao binh.

-Thần mới đến vấn an người vài hôm, thấy người vẫn tráng kiện minh mẫn, chắc chi trai trẻ đã hơn. Thống suất phải là bậc anh hùng cái thế, bốn cõi vang danh, bọn nghịch vừa nghe táng đảm kinh hồn.

Chúa gật gù. Ðêm đã khuya, chúa nói quan Tham Tụng về nghỉ sáng mai bàn tiếp công việc. Ðêm ấy chúa trằn trọc, vừa chợp mắt đã mơ thấy trên kỳ đài Phú Xuân, đại kỳ thêu hai chữ Tĩnh Vương tung bay phất phới. Phần Nguyễn Nghiễm, quan Tham Tụng trắng đêm thao thức suy nghĩ kế sách bình nam. Trời chưa sáng rõ, Nghiễm giục gia nhân chuẩn bị lên kiệu vào thẳng nội cung. Chúa đã thức dậy ngồi thưởng trà, truyền nội quan ra ngoại thành triệu ngay Quốc Lão…

Quốc Lão Hoàng Ngũ Phúc hăng hái nhận trong trách. Phúc nói:

-Thần vinh hạnh được chúa giao trọng trách lúc đã ở cái tuổi “ thất thập cổ lai hy”. Cho dù thịt nát xương tan vẫn kết cỏ ngậm vành. Xưa Tử Nha tuổi bát tuần vẫn lĩnh ấn nguyên nhung, Phục Ba Mã Viện tuổi thất thập vẫn thanh gươm yên ngựa dãi dầu chiến địa. Thần nay vẫn tráng kiện quyết theo gót người xưa không phụ lòng chúa thượng chiếu cố.

Chúa mừng rỡ truyền xúc tiến ngay kế sách bình nam. Sắc phong Ngũ Phúc làm Thống Suất Bình Nam Ðại Tướng Quân, được toàn quyền xử dụng đám danh tướng Bắc Hà dưới trướng. Danh tướng lúc ấy nhiều người họ Hoàng như Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Ðình Thể, Hoàng Ðình Bảo hăng hái luyện binh. Tay gia nhân thân tín của Ngũ Phúc là Cống Chỉnh (Nguyễn Hữu Chỉnh) được điều vào trung quân bàn việc tham mưu. Trấn Thủ Nghệ An Bùi Thế Ðạt làm Ðốc Suất, phụ tá Thống Suất chuẩn bị dự trữ lương thực.

Cuối thu mọi việc chuẩn bị hoàn tất. Ba vạn quân Trịnh theo hai đường thủy bộ rầm rộ xuất chinh tiến thẳng vào Bắc Bố Chính. Nhờ nội tuyến, một đêm thượng tuần tháng mười, Ngũ Phúc hạ lệnh vượt sông Gianh. Quân Trịnh vượt sông ào ạt như vào chỗ không người. Trấn Thủ quân Nguyễn dinh Nam Bố Chính Quận Công Nguyễn Phúc Tiệp kinh hoảng, một mặt khẩn báo Phú Xuân, mặt khác dụng kế hoãn binh ngăn Trịnh. Phúc Tiệp sai hai thủ hạ thân tín mang rượu thịt sang doanh trại Thống Suất khao quân, gọi là đón mừng đại binh vua Lê chúa Trịnh không quản đường xa khó nhọc vào giúp quân Nguyễn dẹp loạn Tây Sơn. Trong thư riêng gửi Ngũ Phúc, Tiệp viết:“… nhờ hồng ân hoàng thượng, bọn ngụy Tây Sơn đã bị chận đứng, ở vào thế lưỡng đầu thọ địch tất sẽ bị diệt nên không dám nhọc công Thống Suất và đại binh…” Ngũ Phúc xem thư biết ý Phúc Tiệp gian trá nhưng ra vẻ bình thản, sai bày tiệc khoản đãi, ân cần phủ dụ sứ giả, hỏi han tình hình Ðàng trong. Sứ giả Kiêm Long cảm kích tỏ thật mọi chuyện, lại nói bóng gió:“Bẩm Thượng Công, cổ nhân từng dạy: Ðường không đi không đến, chuông không đánh không kêu. Tùy ý Thượng Công định đoạt”. Ngũ Phúc hiểu ý, ngay hôm sau ra lệnh tiến quân. Thế quân Trịnh rất mạnh, Phúc Tiệp lùi về giữ lũy Ðồng Hới. Lũy Trấn Ninh thất thủ, quân Trịnh thừa thắng chiếm dinh Quảng Bình tiến sâu vào Quảng Trị. Tại Thăng Long nhận tin chiến thắng, vua Lê chúa Trịnh thân chinh dẫn đại binh vào Nghệ An động viên tinh thần tướng sĩ. Ngũ Phúc viết hịch kể tội Phúc Loan:“… Quốc Phó Trương Phúc Loan là đứa tiểu khí tà tâm, chuyên dùng kẻ gian nịnh hãm hại người trung lương, ly cựu gián thân, giết kẻ này lập kẻ khác. Hắn chẳng khác giống sài lang, thích điều cay việc độc, lấy thuế dân nặng như hút máu mủ, bớt lương lính như nhổ răng nhổ móng, cách cai trị nguy cấp như lửa cháy lông mày, dụng hình phạt thâm độc như chọc thủng con ngươi. Lòng dân căm hận ngút trời khiến Tây Sơn kết tụ bọn gian manh làm đồ đảng, đông như ong như kiến, dữ tợn như sói như beo gây loạn chiếm cứ Quảng Nam. Vậy muốn cho dân sống lại, ta vâng mệnh Tĩnh Vương cất quân dẹp loạn tặc, khử cường thần. Vì nghĩa cứu nguy, tuyệt không có ý thừa lúc gian nan mà lợi dụng…” Bài hịch chẳng mấy chốc loan tới Phú Xuân.

***

Ðô thành Phú Xuân vốn là chốn phồn hoa đô hội. Khi Tây Sơn đánh Quảng Nam, Phú Xuân đã chấn động. Tin quân Trịnh tiến vào Quảng Trị càng làm dân đô thành kinh hoảng, nhất là giới giàu có quan lại. Nhiều người tản cư về vùng quê xa, kẻ lo đào hầm hố bí mật chôn châu báu. Nỗi lo âu sợ hãi biến chốn phồn hoa xưa trở nên vắng lặng như cảnh đìu hiu chợ chiều. Chúa Ðịnh Vương lo âu bứt rứt, nghĩ kế cùng sẽ trao quyền cho Hoàng Tôn Dương, còn mình và vương tộc tạm lánh vào Gia Ðịnh. Khu vực phủ chúa và dinh Quốc Phó, hàng ngàn lính canh gác cẩn mật, gươm giáo tuốt trần. Phúc Loan đọc tờ hịch của Hoàng Ngũ Phúc sợ toát mồ hôi, tính tình trở nên khó chịu thường cau có gắt gỏng, đâm ra ngờ vực mọi người. Ðám thủ hạ được lệnh chủ theo dõi gắt thành phần quan lại mưu chống Quốc Phó. Phúc Loan hỏi ý người con trưởng Phúc Thặng. Thặng đáp:“Con thấy thế quân Trịnh rất mạnh, họ nhất định sẽ chiếm Phú Xuân. Ta tẩu vi thượng sách, cha kíp chuẩn bị thuyền bè chở gia quyến và của cải vào Gia Ðịnh tạm lánh, ấy là kế vẹn toàn”. Phúc Loan nghe con bàn cho là phải. Loan nói:“Cha tính gọi đám quân của Chưởng Dinh Nguyễn và Thành Quận Công về bố trí phòng thủ rồi sẽ theo kế của con. Dẫu sao ta cũng phải bàn qua với chúa thượng cho phải lẽ trước khi lên đường ”. Thặng cho là phải.

Chưởng Dinh Nguyễn Cửu Pháp và Quận Công Nguyễn Phúc Thành (con thứ tư của chúa Võ Vương) đang luyện binh ở Qui Sơn nhận lệnh Quốc Phó, dẫn trên ba ngàn quân trở về Phú Xuân. Theo kế hoạch của Cửu Pháp, đoàn quân di chuyển đêm tránh làm dân kinh động. Hai vị chỉ huy cưỡi ngựa sánh đôi đi tập hậu. Cửu Pháp nói với Phúc Thành:“Mấy bữa trước Cửu Dật thư cho tôi nói mặt trận Quảng Nam khó giữ lâu bởi Nguyễn Nhạc quyết chiếm (Cửu Dật là con Cửu Pháp). Nay quân Trịnh lại vào, tôi e Phú Xuân khó giữ. Ông đã đọc tờ hịch của Hoàng Ngũ Phúc đòi bắt Quốc Phó giao nộp?” Phúc Thành yên lặng giây lâu, nói:

-Ông với tôi tình thân như huynh đệ nên chẳng có chi dấu diếm. Bấy lâu tôi khuất thân là bởi Phúc Loan thế mạnh, không làm gì được hắn nên đành ngộ biến tùng quyền. Hắn đã giết bao người trong vương tộc, hận ấy dễ gì tôi quên. Nay ta cũng nhân cơ hội này rửa mối thù, cùng là diệt cái họa cho Ðàng trong.

-Tôi cũng có ý ấy, nhưng kế sách ra sao, phải vẹn toàn bí mật. Lại phải ra tay ngay kẻo chẳng còn dịp khác.

-Ông nói đúng, ta phải làm ngay bởi tôi đoán Phúc Loan sẽ nhanh chân mang tài sản cùng gia đình chạy vào Gia Ðịnh. Ta đang ở lợi thế là được hắn tín cẩn. Tôi nghĩ thượng kế là tìm cách lấy bớt quân hiện đang bảo vệ dinh Quốc Phó của hắn, dụng kế điệu hổ ly sơn dụ hắn vào hậu cung, bắt giữ rồi giao ngay cho tướng Trịnh. Số quân ông và tôi chỉ huy khá đông đủ sức khống chế nếu đám con cái thủ hạ của hắn chống cự.

Chưởng Dinh Cửu Pháp yên lặng, gò cương cho ngựa bước chậm, hỏi tiếp:

-Việc hệ trọng, ta có nên bàn với chúa thượng?

Quận Công Phúc Thành không suy nghĩ trả lời ngay:

-Chúa thượng nhu nhược, nếu bàn với người chắc chi người dám quyết định. Như thế càng bất lợi cho ta, tôi nghĩ chỉ cần bàn sơ với Hoàng Tôn Dương, tôi vai chú tương đối dễ nói. Hoàng Tôn Dương vốn căm ghét Phúc Loan từ lâu chắc chắn sẽ thuận kế hoạch của ta.Thế quốc biến buộc ta phải làm không còn cách chi khác. Việc đã rồi chúa thượng cũng bó tay. Ðêm nay ta về Phú Xuân, mai chúa thượng họp khẩn. Tôi có sẵn chủ trương, ông cứ lặng yên hoặc nói xuôi theo ý tôi là việc sẽ thành.

Cửu Pháp thở dài:

-Mong việc sẽ thành, ông liệu bắt Phúc Loan giao nộp có ngăn được bước quân Trịnh?

-Không bao giờ, quân Trịnh dứt khoát sẽ chiếm Phú Xuân. Bắt xong Phúc Loan ta sẽ rút quân vào Quảng Nam trợ chiến cho Cửu Dật chống Tây Sơn, lập phòng tuyến ngay Hải Vân Sơn, dựa vào thế hiểm để ngăn quân Trịnh, lo bảo vệ chúa thượng và vương tộc chạy thẳng vào Gia Ðịnh củng cố lực lượng. Ðó là kế vẹn toàn.

Hai vị tướng về đến Phú Xuân theo đúng kế hoạch đến Quốc Phó gặp Phúc Loan. Cả hai vẻ như chưa biết gì về tờ hịch của tướng Trịnh Hoàng Ngũ Phúc. Thấy Loan bồn chồn lo lắng, Phúc Thành nói:

-Thượng công chớ quá lo lắng bởi tình thế không phải tuyệt vọng, ta nay yếu thế phải nhượng địch một bước, cũng như cho nó vào trọ một đêm rồi tìm cách đuổi đi. Kế của tôi, trước tiên ta tỏ ra hòa hoãn dụng kế hoãn binh, chúa thượng và thượng công tạm lánh vào Gia Ðịnh củng cố lực lượng. Tôi và quan Chưởng Dinh sẽ lùi về Quảng Nam yểm trợ Cửu Dật. Nếu Trịnh có ý diệt Tây Sơn, ta rút toàn bộ lực lượng về trấn giữ Phú Yên, nhường mặt trận cho Trịnh diệt Tây Sơn. Ta ở vào thế tọa sơn quan hổ đấu. Lực lượng ta ở Gia Ðịnh còn rất mạnh, lương thảo đầy đủ thừa sức ngăn cản hoặc đánh bại kẻ địch.

Cửu Pháp phụ họa:

-Tôi vừa nhận thư Cửu Dật cho biết Lưu Thủ Gia Ðịnh Tống Phúc Hợp đã chiếm lại toàn bộ Phú Yên, bắt đầu mở những trận đánh thăm dò chuẩn bị tái chiếm Qui Nhơn. Quân Tây Sơn đã núng thế, khí thế giảm sút không được như lúc mới khởi loạn.

Phúc Loan nghe lộ vẻ an tâm, Loan nói:

-Ngay chiều nay tôi và hai ông sẽ họp quân cơ với chúa thượng, việc đã liệu nên làm gấp, chớ để nước đến chân mới nhảy.

Trên đường trở lại dinh chúa, hai tướng Phúc Thành và Cửu Pháp tiếp tục bàn mưu. Thành nói:“Hôm nay tôi sẽ dụng kế lấy bớt quân của Phúc Loan, giả lập kế hoạch rút vào Gia Ðịnh, sớm lắm hai ngày nữa mới bắt Loan được. Tham Mưu Lê (Lê Công Bình) chỉ huy cấm quân bảo vệ vương phủ là người thân tín của tôi. Gia đình y hàm ân tôi nên tôi bảo nhảy vào lửa y cũng chẳng từ. Tôi sẽ phác họa sơ kế họach với Hoàng Tôn Dương. Phần ông cứ làm như tôi đã liệu. Nếu trời còn phù Nguyễn thì việc tất thành. Ta nên bình tĩnh chớ quá lo lắng”.

Quá ngọ, chúa Ðịnh Vương cùng Quốc Phó Phúc Loan, Quận Công Phúc Thành và Chưởng Dinh Cửu Pháp họp quân cơ ở hậu cung. Bọn nội quan không được phép lai vãng. Phúc Thành tường trình tình hình quân sự cặn kẽ. Thành nói cốt để chúa và Phúc Loan yên tâm:“Tâu chúa thượng, cái đáng ngại nhất là quân Trịnh ở mặt bắc. Thần đoán Trịnh sẽ khẩn cấp đánh Phú Xuân dù ta có nhượng bộ cách nào. Tuy nhiên bước đầu ta cứ nhượng để hoãn binh, bảo vệ việc chúa thượng và thượng công rút an toàn vào Gia Ðịnh. Tôi tính số quân của ta còn bảo vệ Phú Xuân chỉ non bốn ngàn, trong đó hai ngàn ở dinh Quốc Phó, năm trăm giữ dinh chúa. Số còn lại giữ an ninh các điểm trọng yếu trong đô thành. Trong tay quan Chưởng Dinh (Cửu Pháp) còn non ba ngàn, vậy cần tăng cường cho Chưởng Dinh khoảng ngàn quân gấp kéo ra lập phòng tuyến ngăn Trịnh. Ta giữ nguyên năm trăm quân giữ dinh chúa, năm trăm giữ dinh thượng công, số quân còn lại tôi sẽ điều động khi cần trong phạm vi đô thành. Việc di chuyển vào Gia Ðịnh sẽ dụng thủy binh. Tôi dành cho vương tộc và thượng công mỗi dinh năm mươi chiến thuyền vận chuyển đồ đạc và người, ngay ngày mai xúc tiến việc chuyển những gì cần thiết nhất xuống thuyền đậu trên sông Hương sẵn sàng di chuyển. Quân cơ khẩn cấp, chớ khá chần chờ”.

Chúa và Phúc Loan bàn tính hồi lâu, thuận kế hoạch Phúc Thành đề nghị. Mờ sáng hôm sau, đám quân gác phủ chúa cũng như dinh Quốc Phó như đàn kiến tha mồi chuyển đồ xuống thuyền đến tối mịt với xong. Người ta đồn một nửa số thuyền chở toàn vàng bạc châu báu của nhà chúa và Quốc Phó. Ngày kế tiếp, Chưởng Dinh Cửu Pháp nhận thêm quân kéo ra phía bắc. Phúc Thành dặn Cửu Pháp:“Ông cho quân di chuyển chậm, ém quân trong rừng gần Phấn Dương chờ ngày mai tôi bắt Phúc Loan xong sẽ đem hắn giao nộp ngay tướng Trịnh, ông đem quân trở lại bao vây dinh Phúc Loan đề phòng đám con cháu gia nhân hắn có thể phản ứng”. Cửu Pháp y kế ra lệnh xuất quân.

Sáng hôm sau Phúc Loan thức giấc khi trời còn mờ sương, hai cha con ngồi dùng trà ở nhà sau. Phúc Thặng báo cha biết mọi việc đã ổn, lại cắt cử ba trăm quân bảo vệ đoàn thuyền cẩn mật. Số vàng bạc châu báo, vật quý liệt kê cẩn thận hàng trăm trang giấy. Loan chăm chú đọc tỏ vẻ hài lòng. Thặng đề nghị cha nên đi ngay sợ sau này tình hình bất ổn. Loan suy nghĩ giây lâu trả lời:

-Con nghĩ phải. Chiều nay cha sẽ bàn với chúa thượng việc này, chắc chắn người cũng đồng ý. Cha yên tâm bởi dù quân Trịnh chiếm được Phú Xuân thì tài sản và người nhà ta vẫn an toàn mọi mặt. Phần con khi cha đã đi, nếu thấy tình thế nguy ngập nên bỏ Phú Xuân ngay, chớ chần chờ nguy hiểm. Cha nghĩ Quảng Nam trước sau gì cũng lọt vào tay Trịnh hoặc Tây Sơn. Tốt hơn ta nên rút vào nam nhường chiến địa họ. Khi tình hình ngã ngũ, bại thắng đã phân, ta sẽ nghĩ kế chiếm lại Phú Xuân.

Xế trưa, Phúc Loan lên kiệu vào cung, hai mươi vệ sĩ dàn hàng sau trước bảo vệ chủ lên đường. Thấy Phúc Loan rời dinh, tên gia nhân dọ thám phi ngựa như bay về báo tin Quận Công Phúc Thành. Thành đang ở nội cung, lệnh Tham Mưu Lê Công Bình chẩn bị thi hành độc kế. Khi Phúc Loan một mình đi vào dãy hành lang nhỏ trong nội cung, Công Bình bất ngờ bước tới cản đường, vòng tay thi lễ:“Thượng công, chúng tôi vô lễ”. Phúc Loan đang ú ớ kinh ngạc đã bị hai võ sĩ quật ngã, trói chặt, nhét giẻ vào miệng, trùm kín người bỏ vào tù xa. Phúc Thành và Hoàng Tôn Dương bước tới xoa tay mừng rỡ nói với Công Bình:“Ngươi chuyển hắn thẳng ra hành dinh Quảng Trị giao nộp Hoàng Ngũ Phúc”. Công Bình chỉ huy đoàn quân thẳng xuống bến sông theo đường thủy ra Quảng Trị. Cùng lúc tại Phấn Dương, Chưởng Dinh Cửu Pháp kéo quân vây dinh Quốc Phó, loan tin Quốc Phó đã bị bắt, gọi đích danh Trương Phúc Thặng buộc phải đầu hàng để tránh đổ máu…

Trở lại nội cung, chúa Ðịnh Vương đang ngồi bên án thư, nôn nóng chờ Quốc Phó và Quận Công Phúc Thành tiếp tục mật nghị quân cơ, tuyệt không hay biết chuyện xảy ra bên ngoài. Nghe tiếng chân người, chúa nhìn ra cửa kinh ngạc thấy Hoàng Tôn Dương đang từ hành lang bước tới thư phòng. Chúa không hề triệu sao Dương đường đột xuất hiện, lại thấy Phúc Thành đeo kiếm theo sau. Chúa không hiểu sao Thành lại mang vũ khí vào nội cung, linh cảm có việc bất tường.

Cả hai vừa bước vào phòng, Phúc Thành lên tiếng:“Tâu chúa thượng, chúng tôi vừa lập mưu bắt Phúc Loan giao nộp tướng Trịnh. Thế quốc biến, muốn cứu nguy ta không thể làm khác”. Chúa ú ớ kinh hãi mặt như chàm đổ, muốn đứng dậy mà chân cứ khụy xuống, miệng lắp bắp hỏi “tại sao tại sao”. Hoàng Tôn Dương dõng dạc:“Chúa thượng bình tâm, Phúc Loan lòng lang dạ thú, bấy lâu thao túng triều chính, mưu toan xô ngã cơ nghiệp liệt thánh bao đời dầy công xây dựng, nay là lúc hắn phải đền tội ác. Ta mượn tay Trịnh diệt hắn là lẽ phải, có chi phải tiếc nuối?” Chúa lặng yên cúi đầu, không khí nặng nề u uất. Hai người đang đứng trước mặt mình, Quận Công Phúc Thành và Hoàng Tôn Dương, một người vai anh, một người vai cháu nhưng chẳng thân cận gần gũi chúa bằng Phúc Loan. Thậm chí chúa còn ngờ vực người cháu là Dương đang mưu đồ giành ngôi vị của mình. Nếu không có Phúc Loan, chúa chẳng bao giờ có ngôi vị hôm nay. Do vậy tuy biết Phúc Loan chuyên quyền tham lam nhưng chúa nể trọng không dám có lời phiền trách. Lát sau chúa nói:“Ta chỉ xin các ông chớ làm hại đến gia quyến người…” Phúc Thành nói:“Chúa thượng yên tâm, nay lúc dầu sôi lửa bỏng, ta nên bình tâm nghĩ cách đối phó. Tôi nghĩ chúa thượng tức tốc dâng biểu văn lên vua Lê, tờ khải chúa Trịnh và thư riêng cho Hoàng Ngũ Phúc. Ðại lược nói Tây Sơn nay suy yếu, ta dư sức tự lo liệu không nhọc công vua chúa can thiệp xem ý họ thế nào. Nếu họ tiếp tục tiến quân, ta thi hành kế sách định sẵn là rút vào Gia Ðịnh”. Chúa thở dài nói:“Tùy các ông định liệu”. Phúc Thành gọi nội giám lệnh quan Hàn Lâm vào gấp nội cung. Bên ngoài trời thẫm, bóng đêm dần lan, những ngọn nến trong phòng tỏa sáng. Quan Hàn Lâm chăm chú ngồi soạn các bản văn, đắn đo từng câu chữ. Sau nhiều lần chỉnh đi chỉnh lại, mãi đến gần giờ tý mới buông bút. Quan bắt đầu đọc rành mạch từng bản, đầu tiên biểu văn dâng vua Lê, chúa chăm chú lắng nghe”… Thuận Quảng biên thần Nguyễn Phúc Thuần cẩn tấu Hoàng Thượng vạn vạn tuế”. Biểu văn lời lẽ cung kính ngắn gọn”… Thần kính cẩn dâng lễ mọn bái tạ lòng nhân của Hoàng Thượng như trời che đất chở, cẩn tấu dâng lễ mọn vàng 30 nén”. Chúa cúi đầu thở dài. Ðến tờ khải chúa Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm:“… Kẻ Biên Thần cúi đầu dâng lễ, tỏ chút lòng thành, cầu mong Vương Thượng thu nạp để đền đáp ơn cứu vớt che chở bao dung. Kính dâng vàng 20 nén”. Sau cùng là thư gửi Hoàng Ngũ Phúc:“Thuận Quảng đẳng xứ thiểm quốc thích Nguyễn Phúc Thuần kính trình Thượng Tướng Quốc Lão đài soi xét”. Chúa vừa nghe đọc hết câu, uất ức chẳng ngăn được giọt lệ long lanh khóe mắt:“Hỡi ơi, ta đường đường vị chúa phương nam, sao phải lụy người đến thế!” Hoàng Tôn Dương không nén được cảm xúc lên tiếng:“Chúa thượng chớ khá u sầu. Xưa Câu Tiễn nếm phân vua Ngô mà dựng lại nước. Chúa thượng so với cổ nhân lẽ nào chịu sút. Xin bình tâm giải quyết thế nguy cho quần thần phấn chấn tin tưởng”.

Mờ sáng hôm sau, năm mươi kỵ binh hộ tống sứ giả lên đường thẳng ra hướng bắc. Chúa lại tăng cường hàng ngàn quân tinh nhuệ cho Thống Binh Phúc Tiệp hòng ngăn quân Trịnh nếu Trịnh tiếp tục tiến binh. Khi sứ giả gặp Hoàng Ngũ Phúc dâng thư và hai trăm lạng vàng làm lễ khao quân. Phúc vui vẻ nhận, nói với sứ giả:“Giặc Tây Sơn chưa dẹp xong nên chưa thể lui quân, sẽ hội quân ở Phú Xuân mưu kế đánh dẹp”. Hai ngày sau, Phúc ra lệnh tiến binh. Tướng tiên phong Hoàng Phùng Cơ dễ dàng đánh tan quân Thống Binh Phúc Tiệp, thẳng đường tiến vào Phú Xuân…

Tại Phú Xuân, chúa Ðịnh Vương liên tiếp nhận tin thua trận. Ðám võ tướng người tử trận, kẻ đầu hàng. Dân quân nhốn nháo, mọi sinh hoạt ngừng trệ. Ðã có một số quan lại đem gia đình bỏ trốn về vùng quê, hoặc dùng thuyền đi về phía nam lánh nạn. Dân chúng lo trữ thóc gạo, đám du thử du thực tụ tập cướp phá. Ngay dinh Quốc Phó cũng bị hàng trăm tên dùng gậy gộc cuốc xẻng xông vào đánh lính canh hôi của. Phú Xuân hỗn loạn, chẳng còn ai nghĩ đến chuyện cúng tiễn Táo Quân về chầu trời.

Hai hôm sau, Hoàng Tôn Dương theo lệnh chúa bảo vệ số đông vương tộc theo đường bộ rút vào Quảng Nam. Ngày hai mươi bảy, chúa nghĩ đã đến lúc phải bỏ Phú Xuân, đích thân chúa cùng trăm cấm binh hộ tống đến chùa Phúc Thành bên bờ sông An Cựu, nơi mẫu thân (tức phu nhân Ngọc Cầu) đang tu trì khẩn khoản mời mẹ vào cung chuẩn bị lên đường. Từ ngày chúa Võ Vương mất, phu nhân buồn sự thế,cho trùng tu cảnh chùa hôm sớm vui cùng lời kệ câu kinh. Phu nhân nói:“Mẹ đã già, tâm nguyện xa lánh phàm trần nương náu cửa Phật, con cứ yên tâm ra đi lo việc nước. Ðưa mẹ theo ích chi, chỉ làm quẩn bước chân”. Biết không thể lay chuyển lòng mẹ, chúa khóc lạy từ biệt…

Cũng ngày ấy tại nhà Nguyễn phu nhân, quả phụ Quận Công Nguyễn Phúc Luân. Căn nhà nằm ven ông Hương, cách dinh chúa non hai dặm đường. Căn nhà vắng lặng được bao bởi hàng rào dâm bụt. Bên trong là vườn nhãn xum xuê bốn mùa xanh lá. Cụm mai trước nhà năm ấy nở vội như sợ mất mùa xuân. Những cánh hoa thản nhiên nhởn nhơ trước gió… Trong nhà, phu nhân vừa khóc, vừa soạn quần áo cho vào chiếc tay nải, hành trang của cậu con trai mười bốn tuổi Nguyễn Phúc Ánh. Ánh sẽ theo chúa vào Gia Ðịnh nay mai. Phu nhân biết chuyến đi hệ trọng, có thể là lần vĩnh biệt đứa con yêu quý. Phúc Ánh cặm cụi lau chùi xong thanh báu kiếm gia truyền từ hiên sau bước vào nhà. Thấy mẹ khóc, Ánh nói:“Hoàn cảnh buộc như thế, mẹ than khóc càng thêm não lòng con trẻ ra đi. Xin mẹ nén lòng, con đi rồi con sẽ về. Phú Xuân là đất liệt thánh dựng nghiệp quyết không thể bỏợ…” Ánh dơ cao thanh kiếm, ánh mắt cương nghị tự tin nhìn lưỡi thép xanh loang loáng chém sắt như bùn. Ánh nhìn lên bàn thờ có bài vị phụ thân nói tiếp:“Ðã ba đêm, đêm nào con cũng mơ thấy cha về. Cha không nói, trìu mến nhìn con, trao báu kiếm rồi quay gót. Con tin cha hiển linh hằng phù hộ mẹ con mình”. Phu nhân nhìn con, thiếu niên mới mười bốn nhưng thân hình vững chắc, tác phong đĩnh đạc như đã mười chín đôi mươi. Phu nhân đến ngồi trên sập gụ ra dấu Ánh ngồi cạnh:“Con sắp rời mẹ, lòng già đứt ruột. Nay đến lúc mẹ tỏ thật cùng con chuyện nhà bấy lâu dấu kín. Mười năm trước, khi ông nội từ trần ( chúa Võ Vương), người để di chiếu chọn cha con làm người kế vị. Phúc Loan gian ác cấu kết với bọn quyền thần sửa di chiếu, vu cha con tội phản nghịch tống giam ngục tối, đặt Phúc Thuần lên ngôi cao. Mấy tháng sau hắn thả cha con, người về được ít lâu lo buồn vong mệnh…” Phu nhân nói đến đấy nghẹn lời. Có tiếng vó ngựa dồn dập ngoài ngõ. Phúc Ánh biết đám cấm quân vâng mệnh chúa đến đón mình vào dinh chuẩn bị lên đường.

Viên đội trưởng bước vào nhà cung kính chào phu nhân, nói vâng mệnh chúa đến đón công tử vào dinh. Phu nhân khẽ gật đầu, bước tới bàn thờ chồng thắp hương đèn. Giữa ánh nến lung linh, hương trầm dần lan. Phúc Ánh thắp hương quỳ lạy trước bàn thờ thân phụ. Khấn vái xong Ánh đứng dậy, phu nhân khóc lớn. Ánh nghẹn ngào lạy mẹ, đeo kiếm khoác tay nải bước thẳng ra ngõ…

Ngày cuối năm Giáp Ngọ 1774, khi màn đêm buông bao phủ đô thành Phú Xuân thê lương vắng lặng. Chúa Ðịnh Vương cùng đoàn tùy tùng hơn trăm người lặng lẽ xuống thuyền. Ðầu canh ba, giờ giao thừa linh thiêng, đoàn thuyền đã xa bờ lênh đênh trong đêm đen gió lộng sóng gầm. Chúa bắt đầu thắp hương cúng liệt thánh. Ánh nến khi leo lét, khi bập bùng theo triều sóng nhấp nhô. Chúa bỗng nhớ những xuân xưa, giờ là lúc quần thần tụ họp chúc thọ chúa. Khắp đô thành Phú Xuân, tiếng pháo nổ vang đón chào xuân mới. Lòng người rộn rã reo vui trong cảnh thái hòa. Nay còn đâu!! Nghĩ đến đấy chúa cầm lòng chẳng nổi, nước mắt ngắn dài… Phúc Ánh tới gần bàn thờ quỳ lạy niệm hương, lễ xong lạnh lùng đeo kiếm bước ra mũi thuyền. Ánh nắm chặt chuôi kiếm, tia mắt long lanh nhìn xé màn đêm. Nào ai biết đó là lúc tận đáy lòng sâu thẳm, Nguyễn Phúc Ánh đang nói lời nguyền:“Phú Xuân, nay tạm chia ly mai ngày ta trở lại. Than khóc chi thêm nhục nhã. Chỉ có máu, máu kẻ thù mới rửa sạch mối hận này!”

***

Phú Xuân thất thủ. Con đường sắp tới chúa tôi họ Nguyễn phải trải qua đầy bất trắc gian nguy. Tây Sơn hòa Trịnh, dồn nỗ lực diệt Nguyễn. Ðám danh tướng Tây Sơn như Nguyễn Huệ, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng… mặc sức tung hoành trên khắp chiến trường Gia Ðịnh, đánh quân Nguyễn nhiều phen tơi tả. Lần lượt chúa Ðịnh Vương và Hoàng Tôn Nguyễn Phúc Dương Dương bị thảm sát. Nguyễn Phúc Ánh mới mười bảy tuổi được tôn làm Ðại Nguyên Súy nhiếp quốc chính. Quân Nguyễn vẫn không đương cự nổi sức mạnh Tây Sơn. Ðại Nguyên Súy Ánh gian lao khổ cực, bị lùng diệt phải trốn chạy khắp vùng châu thổ Cửu Long, trôi giạt qua nhiều hải đảo vùng vịnh Xiêm La, bao phen thoát chết trong đường tơ kẽ tóc như phép lạ. Vị chỉ huy trẻ tuổi Nguyễn Phúc Ánh trưởng thành trong gian truân máu lửa, trong thù hận ngút trời… Chất liệu biến Ánh thành con người quyền biến bản lĩnh, quyết định tàn nhẫn lạnh lùng miễn đạt được mục đích. Ánh phiêu dạt sang Xiêm La, cầu cứu vua Xiêm đem trên hai vạn quân về nước lại bị Nguyễn Huệ đánh tan tác mảnh giáp không còn. Ánh lại nương nhờ Giám Mục người Pháp Bá Ða Lộc đem con trai của mình Nguyễn Phúc Cảnh mới bốn tuổi sang cầu viện chính phủ Pháp, hứa dành cho Pháp nhiều quyền lợi sau này…

Hữu chí cánh thành, vận may mỉm cười với Ánh. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ băng, vua Thái Ðức Nguyễn Nhạc cũng từ trần. Người nối nghiệp Tây Sơn, vua Cảnh Thịnh nhu nhược, triều đình Tây Sơn bè phái chia rẽ mở đường thênh thang cho Phúc Ánh khôi phục cơ đồ.

Kể từ đêm giao thừa năm Giáp Ngọ 1774, đã hai mươi sáu năm Phúc Ánh rời Phú Xuân. Mùa hạ năm Tân Dậu 1801, thiếu niên năm xưa thực hiện đúng lời nguyền trở lại chốn cũ, không là kẻ chạy trốn, mà với tư cách kẻ chiến thắng cuối cùng…

 

Đôi Mắt Phượng

Tôi là một quân y sĩ ra trường năm 1974; đơn vị đầu tiên, cũng là đơn vị cuối cùng của tôi, là một tiểu đoàn Nhảy Dù. (Xin bạn đọc cho phép tôi được bất chấp văn phạm, viết hoa hai chữ “Nhảy Dù”, vì đó là những chữ tôi thương yêu nhất.)

Tôi lập gia đình nằm 22 tuổi, ngày còn là một sinh viên quân y. Mẹ tôi bảo “chờ ra trường, có việc làm, có lương nuôi vợ, rồi hẵng cưới vợ.” Tôi biết mẹ tôi có lý, nhưng tình yêu cũng không vô lý. Tình yêu thúc dục tôi cưới Phượng ngay. Nàng quá đẹp; thằng Quỳnh, thằng Khương, thằng Ðịnh, những đứa bạn cùng lớp bảo tôi, “Phượng đẹp ngây ngất.”

Phượng là nữ sinh đệ nhất Trưng Vương; nàng cũng yêu tôi nhưng xin một năm đính hôn để học hết trung học. Tôi chờ; một năm dài được chia thành 52 tuần lễ ngắn hơn, đánh dấu bằng 52 ngày chủ nhật chúng tôi gặp nhau.

Không phải là một nhà văn, tôi không mô tả được nét đẹp của Phượng; tôi chỉ biết là Phượng rất đẹp, và nhất là có một sức hút dễ sợ; chỉ cần gặp Phượng một lần là không người đàn ông nào quên được nàng.

Xin đừng hiểu lầm Phượng là “típ” người nở nang, ăn mặc khêu gợi; sức hút của Phượng là sức hút ngầm do duyên dáng, do tình ý, chuyển đi từ đôi mắt. Ðôi mắt thật là tình. Mẹ tôi phán là đôi mắt lẳng lơ; tôi không thích hai chữ này vì nó làm mất đẹp cặp mắt trữ tình của Phượng.

Trước hôn nhân tôi mê mệt với đôi mắt ấy; sau hôn nhân tôi khổ sở, bực bội cũng vì đôi mắt ấy. Không một người đàn ông nào, dù chỉ gặp Phượng lần đầu, không có cảm tưởng đã yêu nàng và tình yêu của họ không bị nàng hất hủi. Ít nhất Phượng cũng không xua đuổi, không vô tình với họ. Tôi mất một số bè bạn cũng vì Phượng. Chỉ một vài lần gặp Phượng, chạm mắt với Phượng cũng đủ để họ thầm nghĩ là tôi dã mọc sừng.

Dĩ nhiên vợ tôi không thể có tình ý với tất cả mọi người, nhưng cái khổ là đôi mắt đắm đuối của Phượng không nhìn mọi người một cách thản nhiên như người ta nhìn những vật vô tri quanh mình.

Giờ này, vợ tôi không còn trên cõi đời trần tục nữa tôi mới thấm thiá hiểu được một việc rất giản dị, rất tầm thường là không tạo ra đôi mắt của chính mình, Phượng không có trách nhiệm gì về những đổ vỡ đôi mắt gây ra. Chỉ có tác giả đôi mắt đó _ông Thợ Tạo_ mới đúng là người tôi phải oán trách.

Ði đôi với cặp mắt tình tứ là một đồng tiền rưỡi (một ở bên má trái, và một nửa ở cạnh môi dưới) trên khuôn mặt tươi như hoa, trắng mỏng manh. Cái đồng tiền rưỡi ấy _dù chỉ có đồng rưỡi_ có ma lực giết người. Xin hiểu hai chữ “giết người” theo nghĩa trắng của nó. Chỉ riêng tôi biết cũng đã có 2 người chết đuối trong cái vũng thịt sâu không đầy nửa ly này.

Một trong 2 người xấu số là bạn thân của tôi. Nó tự bắn vỡ toang đầu ngay trên bậc cửa nhà tôi. Lá thơ tuyệt mạng trong túi nó chỉ có mấy chữ “hình dung em đang nằm trong tay một người đàn ông khác, anh không còn can đảm sống nữa.” Tôi cũng không bao giờ đủ can đảm để tìm hiểu xem vợ tôi có nằm trong vòng tay nó không. Hai giòng chữ nó viết không cho phép tôi hiểu khác được.

Tôi chạy trốn trước mọi ngờ vực; tôi quan niệm đã không tránh được bão cát thì thà vùi đầu xuống cát để không còn biết tới giông bão bên ngoài nữa. Tôi hèn nhát? Có thể; nhưng tôi làm gì hơn được? Không chỉ yêu thương vợ, tôi vẫn còn say mê vợ tôi sau 3 năm chăn gối.

Mẹ tôi, chị tôi đề quyết vợ tôi đã cho tôi ăn bùa mê, thuốc lú. Tôi hiểu quan điểm những người thân của tôi; tôi hiểu cả định mệnh của tôi, của vợ tôi, và của cả những người say mê vợ tôi nữa.

Tôi vừa nói tôi hiểu định mệnh của vợ tôi. Ðiều đó cần được giải thích rõ hơn; đôi khi tôi nghĩ Phượng cũng đáng trách, nhưng trong đa số những đổ vỡ quanh nàng, Phượng chỉ thụ động, đáng thương. Phượng sợ và tránh né tất cả mọi gặp gỡ. Những buổi liên hoan của đơn vị tôi, những cuộc họp khóa, họp bạn của tôi, luôn luôn Phượng cáo bệnh hay tìm cớ bận con để không tham dự.

Cũng như tôi, Phượng sợ hậu quả của những cuộc giao tiếp, sợ cái bản chất đa cảm, đa tình của chính mình. Không phải là một người đàn bà trắc nết, vợ tôi thật sự chỉ là nạn nhân của bản ngã.

Sở dĩ tôi phải dài lời nói về vợ tôi như vậy, lả để người đọc hình dung được cái ray rứt, khổ sở của tôi trong 14 tháng tù khổ sai được cộng sản đánh bóng bằng hai chữ “cải tạo.”

Cũng như mọi sĩ quan cấp úy khác, tôi bị cộng sản lừa bằng cách chơi chữ. Trên đài phát thanh, chúng kêu gọi binh sĩ trình diện và đem theo 3 ngày ăn. Sau 3 ngày học tập, thành phần binh sĩ được ra về yên ổn. Tiếp theo đó, chúng kêu gọi các sĩ quan cấp úy trình diện với 10 ngày tiền ăn. Chúng tôi tin tưởng, hoặc ít ra chúng tôi cũng mong mỏi là thời gian cải tạo chỉ kéo dài 10 ngày. Ðó là cái lầm của tôi, cái ảo tưởng đưa đến chỗ tự diệt của mọi cán bộ chỉ huy.

Cộng sản hiểu rằng mặc dù nhất thời thất trận, lực lượng quân sự của miền Nam vẫn còn là một đe dọa nghiêm trọng đối với nền thống trị mà lúc ấy chúng mới rắp tâm đem đặt lên lưng người dân Nam Việt. Một triệu quân nhân bị đặt vào hoàn cảnh thất thế vì những lừa đảo, phản phúc chính trị, những dốt nát chiến lược đã bị những mũi dùi tấn công của 15 sư đoàn Bắc Việt xé thành từng mảng nhỏ. Muốn ngăn ngừa sự kết hợp lại của những mảng quân lực, cộng sản chủ trương đánh vỡ đầu rắn: chúng phải tiêu diệt bằng mọi giá hệ thống cán bộ chỉ huy của QLVNCH. Trong 3 ngày học tập, chúng đối xử hết sức nhã nhặn lễ độ với anh em hạ sĩ quan, binh sĩ. Không một hình thức hành hạ giam cầm, không một lời nói nặng, một đe dọa.

Sau 3 ngày học tập binh sĩ đem loan truyền với chúng tôi cái tin tưởng học tập qua loa, ra về đúng kỳ hạn. Ðiều đó làm đa số sĩ quan cấp úy chúng tôi yên lòng khăn gói lên đường với 10 ngày tiền ăn. Nhiều anh lười, không đem theo cả mùng mền, tính ngủ nhờ với bạn bè cũng đủ qua khoảng thời gian 10 ngày ngắn ngủi.

Dĩ nhiên là chúng tôi đã lầm; chỉ ngay sau khi cái bẫy xập xuống đầu chúng tôi, cộng sản trắng trợn vứt bỏ mặt nạ “đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ hận thù.”

Bài học đầu tiên chúng tôi được nghe qua giọng nói hằn học căm hờn của một anh cán bộ quản giáo Bắc Việt. Anh ta oang oang bảo chúng tôi, “Các anh quên hết địa vị xã hội của các anh đi. Kể từ ngày hôm nay, vợ con các anh sẽ ngửa tay xin nhân dân từng hột cơm; và vài tháng sau vợ các anh chỉ còn nước đi làm đĩ để sống.”

Chúng tôi thắc mắc về thời gian 10 ngày, hắn cười khẩy, vẻ mặt câng câng, đểu cáng, “Các anh chỉ có 10 ngày ăn thôi ư? Ðừng lo, cứ ăn hết 10 ngày đó đi đã; sau đó ăn bám vào sức sản xuất của nhân dân.”

Trước mỗi cửa phòng giam, cộng sản cắc cớ bắt chúng tôi phải dán lên khẩu hiệu “không có gì quý bằng độc lập, tự do.” Cán bộ Việt Cộng còn phụ giải “người đi trên sa mạc thấy không có gì quý bằng nước uống. Các anh sẽ thấy đối với các anh thì không có gì quý bằng tự do.”

Ðề cao cái giá của tự do trong nhà giam quả là việc làm vừa châm biếm, vừa độc ác. Nhưng không phải chỉ trong nhà giam tôi mới thấm thía hiểu tự do là quý. Sau này ra khỏi trại cải tạo, sống trong cái nhà giam lớn hơn là nguyên cả Miền Nam Việt Nam tôi càng thấy rõ không phải chỉ một mình tôi, mà cả 20 triệu người dân Nam Việt đều đang khắc khoải giữa sa mạc thống trị, thèm khát ngụm nước tự do.

Xin trở lại với trại cải tạo và với vợ tôi; tôi bị giam 2 tháng hơn thì một buổi chiều nghe loa gọi lên văn phòng. Tôi tái người, nghĩ ngay đến những vụ thủ tiêu, biệt giam, thường xẩy ra đối với những thành phần cộng sản gọi là ngoan cố.

Bản chất hiền lành, tôi không ra mặt chống đối bọn giảng viên, quản ngục. Cái tội của tôi chỉ là không nuốt trôi được mớ lý thuyết rẻ tiền, lẩm cẩm của cộng sản. Nhưng đối với chúng, đó không phải là một khinh tội. Tôi lo lắng chờ đợi một hình thức trừng phạt vì trọng tội trí thức.

Lên đến văn phòng, tôi được một anh binh ba Bắc Việt, mặt non choẹt, đưa vào phòng chính ủy. Và tôi đã chết đứng khi thấy Phượng trong đó.

Giọng đầy cải lương, nhân vật số một của trại giam bảo tôi, “Xét thành tích học tập tốt của anh, nhân dân đặc biệt cho anh được nhận sự chăm nuôi của gia đình.”

Tôi học tập tốt? Thật là mai mỉa; những âm thanh giảng huấn chan chát của bọn cán bộ cộng sản đối với tôi không một mảy may khác những tiếng cuốc đất trong giờ lao động sản xuất. Tôi đoán hiểu cái lý do đã khiến “nhân dân đặc biệt cho phép” tôi được nhận sự thăm nuôi của gia đình.

Cặp mắt nẩy lửa vì giận, tôi nhìn Phượng. Vợ tôi đã đến cái nước đi làm đĩ như bọn cộng sản tiên đoán rồi ư? Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt vẫn tình tứ, nhưng buồn thăm thẳm và ướt đẫm. Những giọt lệ lăn dài trên đôi má nhung mịn màng làm lòng tôi se thắt. Tôi thèm bước tới, ôm Phượng vào vòng tay, và hôn dài trên đôi mắt đắm đuối ấy. Nhưng dĩ nhiên ngoại cảnh không cho phép tôi làm việc tôi thường làm đó.

Vợ tôi nghẹn ngào, “Bé Mai nhớ anh lắm.”

Bé Mai! Ðứa con gái 2 tuổi của tôi, báu vật của vợ chồng tôi! Tôi đứng khựng như trời trồng trước cái hình ảnh nhỏ bé, thương yêu mà vợ tôi vừa gợi ra.

Suốt 10 phút gặp gỡ, tôi không nói được một lời nào với Phượng cả. Cổ họng tôi nghẹn cứng; rồi bên tai tôi văng vẳng thật xa có tiếng nói của tên chính ủy: “Thôi, xách đồ ăn về phòng đi, Tuần sau lại được thăm nuôi nữa.”

Ðêm đó tôi không chợp mắt. Tôi hình dung những chuyện đã xẩy ra giữa vợ tôi và tên chính ủy cộng sản trước khi tôi được dẫn vào và sau khi tôi bị đưa ra khỏi văn phòng hắn. Tôi không tin đã có gì quá đáng trong phòng làm việc. Nhưng sau đó hắn có thể đến nhà tôi hay bảo vợ tôi đến một chỗ nào đó.

Tuần sau và những tuần kế tiếp, Phượng đều đều đến thăm tôi, mỗi lần đem theo một món ăn mà trước kia tôi ưa thích. Tôi nuốt những món khoái khẩu mà có cảm tưởng như mình đang ăn rơm khô, không mùi, không vị. Mỗi lần thăm viếng chúng tôi được nói chuyện với nhau 10 phút. Toàn những chuyện bâng quơ. Cả hai đứa chúng tôi đều không dám đả động tới điểm ngờ vực đau xót của tôi.

Có lần Phượng nói với tôi bằng cái giọng thiết tha nhưng nghiêm trọng, “Em chỉ xin mình tuyệt đối tin tưởng là em yêu mình. Suốt đời em, em chỉ yêu có một mình mình. Mặc dù những gì đã xẩy ra hay sẽ xẩy ra thì tình em yêu mình vẫn mãi mãi là sự thật duy nhất.”

Qua tâm linh, tôi biết Phượng nói thật. Tôi muốn quên những việc đáng buồn đã xẩy ra; quên không được, tôi cố gắng bào chữa cho Phượng. Nhưng ghen tương, ích kỷ, cũng không phải là những cảm nghĩ nhỏ trong lòng người chồng.

Những cuộc thăm viếng kéo dài được 4 tháng thì một hôm Phượng bảo tôi, “Tuần sau em về Long Xuyên với má; sống ở thành phố không có sinh kế gì hết.”

Tôi hăng hái khuyến khích vợ tôi xa lìa Saigon. Ít nhất về ruộng sống với mẹ Phượng cũng đỡ phải lo 2 bữa ăn hàng ngày, cái lo to lớn của người thị dân sau ngày bị giải phóng.

“Mỗi tuần được gặp em là niềm an ủi lớn cho anh,” tôi bảo vợ. “Nhưng cái nhìn ngờ vực, khó chịu của 2,000 anh em đồng đội, đồng cảnh trước việc anh được uu đãi làm anh khổ sở. Anh muốn chịu chung những đầy ải với họ.”

Tuần sau Phượng không đến thăm tôi nữa. Cuộc sống khổ sai không hạn định trở thành dài hơn vì thiếu sự chia cắt của những tiêu mốc ngắn hạn. Tôi trở lại vị trí của cái máy người, vô tri giác, không phản ứng, bảo đi thì đi, bảo học thì học, bảo lao động thì lao động. Những bạn nào đã sống trong trại cải tạo của Việt Cộng hẳn đồng ý với tôi là cộng sản đã thành công trong việc làm chúng tôi mất hết tri giác. Không vui, không buồn, không hy vọng, thất vọng, không mong chờ bất cứ một điều gì nữa. Cuộc sống hàng ngày như một bộ máy được điều động bằng những tiếng còi, những khẩu lệnh. Phần ăn quá đói làm tất cả chúng tôi tìm được cái khôn ngoan của loài vật: không làm một cử động thừa, không nói một câu thừa để không phí phạm bất cứ một phấn thật nhỏ nào cái sinh lực le lói còn trong xác người.

Chính trong trạng thái vật vờ của một xác chết chưa chôn ấy, tôi nhận được giấy phóng thích. Cầm tờ giấy chấm dứt cuộc sống tù ngục của mình trong tay, tôi dửng dưng như cầm một tờ truyền đơn học tập. Nói dửng dưng cũng vẫn chưa đúng; tôi không ý thức được những thay đổi tờ giấy mang lại cho tôi. Nhẩn nha nhơi từng hột bắp của bữa ăn trưa đói khổ tôi nghe cơ thể khoan khoái với chút bồi dưỡng ít oi. Trái bắp có trong tay vẫn quý hơn hai chữ “tự do” mới viết trên giấy.

Một cán bộ bảo tôi, “Chiều nay anh khỏi lao động; về sửa soạn nóp, chén trả lại nhà kho.”

Khỏi lao động, một tin mừng khác. Tôi trở về căn phòng giam hôi hám nhưng mát rượi như một thiên đàng so sánh với cái hỏa ngục lao động sản xuất mà các bạn tôi đang chịu đựng ngoài trời.

Bốn giờ chiều Phượng đón tôi ngoài cổng trại giam. Người vợ đài các của một bác sĩ mặc cái áo bà ba vải bông và cái quần đen, đứng vịn một chiếc xe đạp đàn ông cũ kỹ. Có thể tôi sẽ ít ngỡ ngàng hơn nếu từ trong thế giới tù ngục bước ra được gặp lại thế giới cũ của mình với xe honda, với áo dài. Tôi đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ sau chưa đầy 2 năm mất nước.

Thế giới bên ngoài nhà tù không phải ít khe khắt, ít đọa đầy; suốt một năm trời tôi phải sống trong chế độ “quản chế của nhân dân”; tôi xin giải thích những chữ văn hoa này. Chế độ “quản chế của nhân dân” có nghĩa là tôi phải làm mọi không công, phải sợ sệt tất cả mọi người. Bất cứ ai trong phường cũng có quyền phán xét là tôi chưa giác ngộ, cần học tập thêm, là tôi lại đi tù nữa.

Tôi cúi mặt trước tất cả mọi người, dù đó chỉ là một đứa con nít. Tôi vâng dạ, tôi tuân lệnh, không cần biết lệnh đến từ đâu. Một bà hàng xòm gọi tôi đến coi chứng bệnh cho thằng con tám tuổi. Sau khi quan sát kỹ mọi triệu chứng, tôi bảo bà là con bà bị thương hàn và không có cách nào hay hơn là đưa nó đi bệnh viện. Bà quắc mắt, “Anh đi học tập ra mà con như vậy đó hả? Nhân dân có quá nhiều nhu cầu để bệnh viện thừa chỗ trống cho một đứa con nít nóng lạnh. Anh không biết cách nào khác nữa sao?”

Tôi đề nghị bà đừng cho con ăn gì hết để ruột không hư. Bà ta cáu kỉnh nạt, “Lang băm tư bản.”

Sau khi tôi về không hiểu bà có nghe lời tôi khuyến cáo không, nhưng rất may là đứa trẻ lành bệnh. Suốt nửa tháng trời tôi hồi hộp lo sợ: cái chết của đứa trẻ vì thiếu thuốc, thiếu chăm sóc có thể đưa tôi trở lại trại cải tạo như không.

Nguồn an ủi của tôi là số người thiếu ý thức như bà hàng xóm mà tôi vừa kể tương đối rất ít; đa số dân Saigon sống trong một tình đoàn kết ngấm ngầm nhưng khắng khít. Một bà cụ dúi cho tôi gói gạo nhỏ qua câu nói chí tình, “Bác sĩ phải ăn thêm mới sống nổi, tôi già rồi, thiếu thốn chút đỉnh cũng không đến nỗi nào.” Bà vợ của một công chức còn đang tù tội cho tôi đôi giầy. Ông hàng xóm sát vách cho cái áo.

Nhưng mọi nguồn vui của tôi đến từ Phượng thì nàng cũng là nguyên nhân của mọi buồn khổ. Phượng làm đĩ ra mặt, không còn e dè gì tôi nữa cả. Vợ tôi không chỉ tống tình cán bộ cộng sản để thăm nuôi tôi nữa, mà xuống đến tận chân thang của xã hội: mỗi ngày vài lần những anh phu xích lô đến gọi Phượng đi khách. Những lần đầu tiên Phượng còn ngượng với tôi, nhưng sau quen dần, nàng chỉ bảo tôi, “lát em về.”

Phần tôi, tôi vẫn phải tình nguyện xung phong trong mọi công tác nặng nhọc của phường như hốt rác, quét đường, trồng cây, thông cống, … . Tôi xung phong để được chấm điểm, xung phong để khỏi trở lại lao tù cải tạo. Ðôi khi nghĩ quẩn tôi cho rằng đi tù mà còn tự do hơn chế độ nhân dân quản chế.

Thêm một lần nữa, tôi tuyên dương sự thành công của cộng sản. Chúng đã hoàn toàn đập tan uy thế của giới chỉ huy, giới trí thức miền Nam. Suốt một năm ra khỏi tù, tôi không được phép làm bất cứ một việc gì cả. Nói một cách khác, tôi phải ăn bám vào đồng tiền vợ tôi ngày ngày bán thân tạo ra. Sau 31 năm, nghĩ lại tôi vẫn rùng mình khiếp sợ.

Tôi xin độc giả ngưng đọc một phút để hình dung cái nhục nhã của tôi, của tất cả giới trí thức miền Nam. Tôi không đủ can đảm để nói bất cứ câu gì với vợ tôi về việc làm của nàng; cả hai chúng tôi cúi đầu chịu phép trước guồng máy xã hội mới.

Nếu một ngày tù dài bằng một ngàn năm sống tự do thì 365 ngày bị trói tay, thất nghiệp, sống đói khổ dưới quyền quản chế của nhân dân, và nhìn vợ đi làm đĩ chắc phải dài hơn sự hiện hữu của cả hệ thống vũ trụ.

Giữa hai vợ chồng tôi nẩy sinh ra một tình trạng ngượng ngập khó tả, Ít khi tôi dám nhìn thẳng vào mắt Phượng, và gần như không bao giờ tôi dám nói với nàng chuyện gì khác hơn là những câu đối thoại tầm thường quanh sinh hoạt nho nhỏ trong nhà.

Thỉnh thoảng bà mẹ vợ tôi lén lút đem được ít gạo, ít thịt lên cho chúng tôi. Qua những cuộc tiếp tế lậu này, tôi khám phá thêm được một bí mật: vợ tôi không hề về Long Xuyên với mẹ như nàng đã nói với tôi. Phượng đã làm gì, ở đâu, trong 7 tháng trời tôi nghĩ nàng về quê sống với mẹ? Cả đến câu hỏi này cũng chưa lần nào tôi dám hỏi Phượng. Tôi trốn chạy một sự thật phũ phàng nào nữa đó sẽ đến, nếu Phượng phải trả lời tôi.

Tối 30 tháng Chín 1978, sau khi theo một anh xích lô “đi khách” về, Phượng kéo tôi vào phòng trong cùng với bé Mai. Trên bộ ván thay cho cái giường nệm đã đi vào chợ trời từ hai năm trước, Phương mở gói thịt quay ra rồi bảo tôi, “Mình ăn với em.”

Từ sau ngày mất nước đây là lần đầu tiên tôi lại được nhìn thấy miếng thịt quay; Phượng lăng xăng bới cơm, và vợ chồng con cái chúng tôi ăn uống ngon lành như chưa bao giờ được ăn ngon đến như thế.

Những đó không phải là điều ngạc nhiên duy nhất của tôi; ăn uống xong, vợ tôi kéo từ trên đầu tủ xuống một gói giấy: bên trong là một bộ đồng phục thanh niên xung phong. Tay chân run rẩy, Phượng trải bộ quần áo lên mặt bộ ván, rồi giọng nói cũng run rẩy nàng bảo tôi, “8 giờ sáng mai, mình mặc đồng phục này đứng đón tàu ở bến Bạch Ðằng.”

“Ðón tầu? Ðể đi đâu?”

Không trả lời câu hỏi của tôi, vợ tôi chỉ lập cập nói, “Em đã đóng đủ 10 cây cho họ rồi.”

Mười cây vàng! Tôi choáng váng với con số lớn khiếp đảm đó.

“Vàng đâu mà em có đến 10 cây?” Câu hỏi buột miệng không nuốt trở vào được nữa, tôi chỉ còn biết nhìn vợ tôi, câu xin lỗi ngầm chứa trong ánh mắt. Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt thăm thẳm tình tứ trên khuôn mặt vẫn còn đẹp dù đã gầy đi và dạn dầy phong trần.

Sau một phút im lặng, nàng nghẹn ngào, “Em không biết mình có tin hay không, nhưng sự thật lúc nào em cũng yêu mình.”

Tôi ôm Phượng vào lòng; giữa một xã hội thù hận, cái bóng mát yêu thương nhỏ bé thật là vô giá. Mặc dù Phượng chưa nói, nhưng tôi cũng đoán hiểu mục đích vượt thoát của chuyến đi ngày mai, và hiểu 10 lượng vàng, giá của chuyến đi là kết quả của những canh dài Phương đem thể xác ra cho thiên hạ dầy vò để góp nhặt từng đồng hầu mua tự do cho tôi.

Cổ nghẹn lại, tôi không nói được một tiếng nào cả; tôi vừa sung sướng trước những bằng chứng hiển nhiên của một mối tình to lớn, bền chắc, vừa xấu hổ nhận những hy sinh nhục nhã của vợ.

Phượng bảo tôi, “Em chỉ đủ tiền đóng cho mình; nhưng em với con vẫn đi theo mình.” Nàng giải thích cho tôi hiểu chuyến tầu vượt thoát là tầu thầu việc chuyên chở thanh niên xung phong đi làm rừng ở cửa Cần Giờ. Sáng mai, tôi sẽ cùng với 30 người nữa đội lốt thanh niên xung phong xuống tầu tại bến Bạch Ðằng. Ðàn bà, trẻ con đi đường bộ xuống ngã ba Ðồng Chanh, chờ tại đó và sẽ đổ lên tầu. Họ là những người đi lậu, không đóng vàng.

“Người ta đi lậu nhiều lắm,” Phượng bảo tôi. “Em cũng trà trộn vào đám người đó; không lẽ người ta xô mình xuống sông. Sợ gì?”

Tôi sợ. Rùng mình tôi nghĩ đến cảnh “người ta xô vợ con tôi xuống sông”, nhưng có sợ tôi cũng không giải quyết được cái khó không tiền và đành theo mọi xếp đặt của Phượng.

Ðêm đó tôi trằn trọc không ngủ, Phượng cũng không ngủ. Vào khoảng gần sáng nàng hỏi tôi, “Mình đã đủ tin vào tình em yêu mình để tha thứ hết mọi việc cho em chưa?”

“Anh tin. Anh yêu mình.”

“Em còn một tội nữa, chưa thú nhận được với mình.”

Trong bóng đêm, tôi lặng thinh lo lắng. Ngần đó bất hạnh chồng chất vào một cuộc sống ngắn ngủi, cay cực, còn chưa đủ nữa hay sao.

Vợ tôi thở dài, “Lúc đó em còn khờ quá nên chuyện mới xẩy ra. Em phải nói dối mình là em về Long Xuyên với má. Thật ra em không muốn mình buồn.”

Dù vợ tôi chưa nói ra, nhưng tôi cũng đoán hiểu.

“Em có con?” tôi hỏi.

Rúc đầu vào ngực tôi, vợ tôi thút thít khóc, “Mình tha cho em.”

Ðứa con chỉ là hậu quả đương nhiên cua những việc làm mà tôi đã nhìn vợ tôi hàng ngày đi theo những bác phu xích lô để làm. Bây giờ tôi lại hiểu mục đích cao cả của việc làm đê tiện đó. Tôi thương Phượng hơn là trách nàng.

“Ngày mai em muốn cho con cùng đi?”

“Nếu mình đồng ý.”

Dĩ nhiên tôi đồng ý; đồng ý đưa những người thân nhất đời mình vào chuyến đi địa ngục, vào vòng tay tử thần.

Trước 5 giờ sáng hôm sau, trong bộ đồng phục thanh niên xung phong, tôi chở Phượng và bé Mai trên chiếc xe đạp mà mấy tháng trước Phượng đã dùng để đón tôi ra khỏi trại tù cải tạo. Mặc dù giờ hẹn là 8 giờ, nhưng tôi vẫn đi sớm để hàng xóm đừng để ý đến bộ đồng phục của tôi. Hơn nữa, Phượng còn ghé Phú Nhuận, nơi nàng gởi nuôi thằng Vình, đứa trẻ ra đời trong thời gian tôi ở tù.

Mọi việc xuôi lọt, và tương đối dễ dàng: 7 giờ sáng tôi đến điểm hẹn; nhiều người cũng mặc đồng phục như tôi đã có mặt; nhìn thái độ ngỡ ngàng, dè dặt của họ, tôi hiểu họ cũng như tôi, ngoài bộ áo thanh niên xung phong, chúng tôi không xung phong làm gì hết.

Phượng bảo tôi, “Mình chờ ở đây, em qua Tân Thuận đón đò máy.”

Nhìn vợ lưng đai một đứa con, chở đứa thứ nhì trên thanh ngang xe, ra sức đạp chiếc xe cót két, tôi nghe đứt ruột. Nửa tiếng đồng hồ sau tôi xuống tàu, chọn chỗ ngồi ngay bên hông, hy vọng giúp đỡ Phượng đưa con lên. Khoảng 8 giờ 45, tàu đến ngã ba sông Ðồng Chanh; bốn chiếc đuôi tôm xáp lại, đàn bà trẻ con ồn ào dành nhau leo lên. Tôi đỡ bé Mai trên tay Phượng, rồi kéo Phượng, tay còn bồng thằng Vinh lên theo. Cuộc đổ bộ của khoảng 70 đàn bà, trẻ con lên tàu không những đã công khai mà còn ồn ào, hỗn độn, tranh dành, la lối, đính chánh hùng hồn cái huyền thoại gán cho cộng sản một hệ thống an ninh bao trùm và hữu hiệu. Hàng chục khách thương hồ và ít nhất là 4 người tài công đuôi tôm đã chứng kiến và chắc chắn cũng đã biết mục đích của chuyến đi, nhưng cộng sản vẫn không bắt buộc được họ khai báo, phản phúc đồng bào ruột thịt.

Mười rưỡi, tàu ra đến cửa biển Cần Giờ, và trưa hôm đó quê hương thương yêu chỉ còn là một vệt dài dậm hơn mầu biển. Ðến lúc này các “giới chức” trên tàu mới hò hét chửi mắng những người vượt thoát lậu. Họ bảo chỉ dự trù lương thực và nước uống cho những người có ghi tên và có góp vàng. Những người khác sẽ không có khẩu phần.

Phần ăn và nhất là phần nước uống ít oi của tôi được chia làm 4; bao tử trống nhưng tâm tư vợ chồng chúng tôi tràn đầy hạnh phúc. Vợ tôi ngồi sát bên tôi, tay ẵm thằng Vinh, bé Mai nằm gọn trong lòng tôi; đầu vợ chồng tôi đội chung một cái áo, vừa làm nón cho người lớn, vừa làm mái nhà cho trẻ con.

Ngồi bó rọ trong cái cảnh mà nếu được nhìn thấy, chắc mọi người phải gọi là địa ngục trần gian, vợ chồng tôi bàn chuyện thiên đàng mộng tưởng. Cái thiên đàng của chúng tôi rất giản dị: bất cứ nơi nào cho tôi được đem sức đàn ông ra đi làm, làm bất cứ việc gì để nuôi vợ, nuôi con.

Tôi bảo Phượng, “Anh sẽ làm việc, làm ngày, làm đêm, để không bao giờ em và con còn phải thiếu thốn khốn khổ nữa.”

“Em thương mình,” Phượng thủ thỉ bên tai tôi. “Không bao giờ em còn làm mình buồn nữa.”

Tất cả những cam kết, hứa hẹn, dự tính đẹp như mộng ấy, chúng tôi đem ra làm thức ăn để đánh lừa cơn đói. Khẩu phần của tôi mỗi bữa khoảng 2 chén cơm chỉ vừa đủ cho 2 đưa nhỏ. Phượng và tôi nhắp một đầu đũa để cầm hơi.

Qua đến ngày thứ 3, vì đói quá, khi đi lãnh cơm tôi thò tay vào nồi, vừa bốc thêm một nắm cơm vừa nói, “Cho tôi xin thêm chút cơm.”

Một quả đấm bay vào mặt tôi; yếu đuối sau 14 tháng bị giam cầm đói khổ, yếu đuối sau 3 ngày thiếu cơm, thiếu nước, tôi té ngửa dưới sức mạnh của quả đấm trời giáng.

“ÐM quân ăn cướp. Ðã đi lậu mà còn đòi ăn nữa hả.”

Quả đấm tuy đau, nhưng tôi vẫn mừng vì cà mèn cơm chưa đổ. Bưng cà mèn đầy cơm hơn nhờ bốc thêm được một nắm về mái lều to bằng manh áo, tôi sung sướng nhìn Phượng được ăn thêm miếng cơm thứ nhì. Tôi an ủi vợ, “Mình đi được 3 ngày rồi, nhiều lắm 2 ngày nữa cũng phải đến Thái Lan hay Mã Lai.”

Héo hắt cười, Phượng nhìn tôi. Tôi muốn thuyết phục cho vợ yên lòng, nhưng chính giọng nói của tôi cũng không vững.

Mũi tàu vẫn hướng về phía Nam, điều làm tôi thắc mắc. Mặc dù không có cả đến một tấm địa đồ nhỏ trong tay, nhưng tôi vẫn mường tượng được vị trí của Thái Lan và Mã Lai so với Việt Nam. Tôi góp ý với những người điều khiển tàu là nên cho mũi tàu chếch thêm về hướng Tây Nam. Tôi chưa nói dứt lời, một ông vạm vỡ nạt ngang, “Anh biết gì mà nói.”

Ðến ngày thứ 5 của chuyến hải hành, vợ tôi lả đi vì đói, vì mệt và say sóng. Phượng dựa vào thành tàu, mắt nhắm nghiền, đầu gục xuống. Tôi van xin ông ngồi cạnh nửa thước khoảng trống để vợ tôi có thể ngả lưng trong thế nằm co quắp. Hai đứa bé không còn khóc được nữa; tiếng khóc của chúng trở thành những tiếng rên nho nhỏ.

Tôi mò xuống bếp tán tỉnh xin phụ việc. Khoản thù lao tôi mong mỏi chỉ là mỗi bữa một chén nước cơm cho trẻ con uống. Chúng không còn sức để nhai và nuốt vật cứng nữa. Một ông “giới chức” hất hàm hỏi tôi, “Trước kia anh làm nghề gì?”

Dĩ nhiên việc đi cải tạo không phải là một nghề, mà cũng không phải là việc đem ra khoe được, tôi đành khai, “Thưa ông, tôi làm bác sĩ.”

“Biết chích không?”

“Dạ biết.”

Thế là tôi biến thành thầy Hai chích dạo. Bà vợ ông giới chức bị bệnh đái đường; ông đem theo một xách thuốc cần thiết cho bà, nhưng thiếu thầy Hai chích. Ðường lên, bà nằm mê man từ 2 ngày nay. Tôi được đưa vào khoang để chích insuline cho bà. Bữa đó không những có được chén nước cơm, mà trong cà mèn còn thêm được một miếng thịt.

Ðược dinh dưỡng, vợ tôi và 2 đứa trẻ cũng tỉnh táo hơn. Chiều hôm đó tôi lại có thêm một thân chủ: gia đình một người Trung Hoa nhờ tôi chăm sóc cho đứa con bị cảm nắng. Họ tạ thầy một hộp Sumaco, khiến bữa ăn chiều của chúng tôi có thể nói là thịnh soạn.

Cà mên cơm đầy ăn với cá hộp giúp Phượng đủ sức ngồi dậy săn sóc con. Hai đứa trẻ vẫn đuối, nhưng nhờ được uống nước cơm nên không đến nỗi bị lả đi như hôm trước nữa.

Sáng hôm sau tôi trở lại chích thuốc cho bà giới chức; nhờ insuline làm tan đường, bà đã ngồi dậy được, tỉnh táo hơn. Uy tín lang băm của tôi gia tăng nhanh chóng, số thân chủ cũng gia tăng vì sau 5 ngày ngồi bó rọ phơi nắng, gần như tất cả mọi người đều cảm thấy mệt đuối, đau nhức, nhiều người sốt, cảm, và ho.

Nỗi khổ tâm của tôi là trị bệnh không dược liệu; đem kinh nghiệm 14 tháng giúp bạn tù trị bệnh bằng phương pháp kháng bệnh, tôi chỉ dẫn mọi người cách hô hấp, cánh tập trung tư tưởng để tự kỷ ám thị.

Nhờ hành nghề bác sĩ, khẩu phần của gia đình tôi trở nên sung túc hơn rất nhiều. Mỗi gia đình vượt biển đều có thủ theo một vài thứ thực phẩm khô, họ chia cho tôi một ít để thù lao bác sĩ.

Ðến ngày thứ 7, nhờ được ăn no hơn vợ tôi đã bình phục và hai đứa trẻ cũng tỉnh táo. Trưa hôm ấy chúng tôi gặp hoạn nạn: chiếc áo mái nhà của tôi bị gió biển cuốn đi, vợ tôi lục giỏ tìm cái áo khác ra căng lều. Lần này tôi có ý cột kỹ tay áo vào thành tầu.

Tối hôm đó, đang gục đầu trong thế ngủ ngồi tôi nghe như một biến chuyển lớn đang xẩy ra. Giật mình tôi thức dậy trong tiếng reo hò của mọi người.

“Tới rồi. Thấy đất rồi.”

“Cảm ơn trời phật. Chuyến đi quá dài nhưng rồi cũng đến.”

Giọng quát của một giới chức, “Ngồi cả xuống; chạy tới, chạy lui, mất thăng bằng lật tàu chết cả đám bây giờ.”

Mọi người ngoan ngoãn ngồi trở xuống, nhưng tiếng ồn ào vẫn không ngớt. Người ta bàn tán, “Chắc là Mã Lai.”

“Có lẽ như vậy, vì nó là hòn đảo, chứ Thái Lan thì đã thấy lục địa.

“Không chừng Nam Dương.”

“Rất có thể là Úc.”

Vợ tôi nắm tay tôi bóp mạnh. Tôi nghe như những mừng vui của Phượng đang được chuyền sang tâm hôn tôi mà không cần một lời nói. Mọi người mừng vì chuyến hải hành 8 ngày đã đến đích. Cuộc hành trình của riêng tôi và Phượng đã kéo dài gần 4 năm, mà mỗi ngày là một cơn ác mộng bất tận cho cả 2 chúng tôi cũng đang chấm dứt với chuyến đi này. Nỗi mừng của chúng tôi, vì vậy mà to lớn hơn tất cả. Chúng tôi mừng đến không nói được nên lời, không hò reo được như mọi người. Tôi ngồi yên, không buồn chồm lên nhìn hòn đảo mà tàu đang tiến vào nữa. Niềm vui của tôi đã quá đầy từ ngày bước chân xuống tàu rời bỏ quê hương địa ngục, trên những bằng chứng xác nhận tình yêu tuyệt vời của Phượng đối với tôi. Không một người bạn đồng thuyền nào thỏa mãn bằng tôi.

Ông bạn ngồi cạnh gợi chuyện, “Hình như hòn đảo nhỏ quá.”

“Vâng,” tôi lơ đãng đáp.

“Không chắc đã có người trên đảo.”

“Vâng.”

Mũi tàu vẫn hướng vào hòn đảo cô đơn trong khi niềm lạc quan trên tàu lắng xuống. Khoảng cách thu ngắn dần làm mọi người thấy rõ kích thước nhỏ bé của hải đảo. Nhưng giữa khoảng ngàn trùng của đại dương nhấp nhô hòn đảo kia vẫn là đất, vẫn bảo đảm vững vàng. Hơn nữa, nó cũng lớn tối thiểu bằng 20 lần con tàu dài 15 thước, rộng 3 thước với 140 người trong lòng tàu.

Ða số góp ý kiến nên ngừng lại đảo.

“Biết đâu bờ bên kia lại không có một làng chài lưới.”

“Ghé nghỉ ngơi một ngày, đi lại cho dãn gân; ngồi bó gối mãi, mỏi quá.”

“Có thể tìm nước ngọt, đánh cá tăng thêm thực phẩm trước khi tiếp tục đi nữa.”

Cuối cùng, những giới chức trên tầu quyết định cho tầu chạy một vòng quanh đảo để quan sát trước. Và đó là quyết định cuối cùng của họ với tư cách chỉ huy chiếc tiểu hạm tử thần: mới chạy được nửa vòng đảo, tàu chạm đá ngầm, vỡ đáy, lật nghiêng qua 30 độ.

Phượng văng từ thành tàu bên này sang thành tàu bên kia, thằng Vinh tuột tay mẹ, rơi thẳng xuống biển. Trên đà nghiêng của con tàu, tôi phóng nhanh đến bên Phượng, trao vội bé Mai cho nàng và nhẩy xuống biển để chỉ vừa kịp nắm tay đứa bé chưa đầy năm, theo nó ngụp vào một đợt sóng lớn. Sóng đưa tôi và thằng Vinh vào gần bờ, và do đó tôi trở thành người đầu tiên đặt chân lên hòn đảo san hô thê lương, sau này biến thành nơi gởi xác của nhiều người trong chúng tôi.

Việc làm đầu tiên của tôi là bồng thằng Vinh đưa lên cao để vợ tôi nhìn thấy mà yên lòng. Cách bờ khoảng 15 thước, mọi người nhốn nháo; tiếng kêu khóc thật là thê thảm, nhiều người nhẩy xuống nước chạy vào bờ.

Sau khi bị vỡ đáy, con tàu mắc cạn đang từ từ trở lại thế thăng bằng, mặc dù vẫn còn hơi nghiêng, nhưng người trên tàu không đến nỗi phải bám cứng vào thành tàu để khỏi rơi xuống biển nữa.

Nhờ người coi chừng thằng Vinh, tôi lội xuống nước trở ra mạn tàu bồng bé Mai, và xách gói hành lý khiêm tốn của chúng tôi, rồi dắt Phượng lên đảo. Nhiều người khác cũng làm như chúng tôi; họ lìa bỏ con tàu mà không cần biết là đi đâu, nhắm mắt đưa chân, như 8 ngày trước rời bỏ quê hương Việt Nam.

Ðó là sai lầm của chúng tôi. Hòn đảo san hô khô cằn, lởm chởm, không dung nạp chúng tôi. Tìm được một chỗ bằng phẳng để ngồi xuống cũng đã khó chứ chưa nói đến việc ngả lưng.

Sau gần một tiếng đồng hồ loay hoay tìm kiếm, tôi chọn được một hốc đá tương đối rộng rãi để định cư. Cái áo làm mái nhà đổi vai trò trở thành tấm chiếu cho trẻ con ngồi.

“Ðau đít quá ba ơi,” bé Mai nhăn nhó nói.

Tôi ẵm con lên, đặt nó ngồi trên bọc quần áo, rồi bảo Phượng, “Em coi chừng con, anh đi quanh tìm xem có con ốc, con sò nào không.”

Tôi ngỡ mình là người nhanh chân trong việc đi kiếm ăn, nhưng hơn chục người khác cũng đã lom khom trong các hốc đá tìm kiếm như tôi. Cái may của tôi là trong một kẹt đá nhỏ, tôi chụp được hai vợ chồng một chú tôm hùm khá to, mỗi con khoảng hai kí.

Phượng reo mừng, “đồ biển sẵn thế này là không phải lo đói nữa.”

Phượng lầm, mà tôi cũng lầm. Ðồ biển không sẵn như chúng tôi tưởng, hoặc ít ra thì đó cũng không phải là nguồn thực phẩm đủ cung cấp cho 140 người đói khát.

Tôi đi nhặt rác và rong biển về làm củi nướng tôm; tôi cũng tìm được một mảnh ván nhỏ cho Phượng ngồi. Bữa ăn đầu tiên trên hoang đảo, cách tìm thực phẩm, nướng và ăn bốc theo kiểu thượng cổ, vừa ngon lại vừa vui. Vợ chồng, con cái chỉ ăn hết một con tôm, con thứ nhì để dành.

“Em chưa thấy con tôm hùm nào lớn đến như vậy,” Phượng vừa chôn vỏ tôm xuống cát vừa bảo tôi.

 Mới 6 giờ chiều, mặt trời còn cao mà gió biển nghe đã lạnh; tôi lo lắng bảo Phượng, “Có bao nhiêu quần áo em lấy mặc hết cho con. Cả em nữa.”

Gói hành lý được mở ra, tắp hết lên người. Mỗi đứa trẻ mặc 4 áo, 3 quần. Phượng được 3 áo, 2 quần. Tôi mặc thêm cái sơ mi nửa ra ngoài bộ đồng phục chưa thay từ ngày đi.

Gia đình ông hàng xóm sát hốc đá nhà tôi định xuống tầu tránh lạnh nhưng bị đuổi trở lên. Một số thanh niên tổ chức chiếm độc quyền cư ngụ trên tầu. Họ cũng ngưng, không phát thực phẩm như trước nữa.

Ðêm hôm đó một người đàn bà chết, có lẽ vì quá lạnh. Chúng tôi xuống tầu mượn được một cây xà beng và một cái búa để đục đá chôn người xấu số. Ðó là người đầu tiên và người cuối cùng được chôn. Lý do thứ nhất khiến chúng tôi không chôn người chết nữa là vì đục đá làm mồ là một công trình quá khó mà lại không hiệu quả. Lớp đá vụn lấp xác chết không chặt được như đất nên chỉ một ngày sau mùi thối đã xông lên nồng nặc. Lý do thứ nhì chua chát hơn: người ta không muốn vùi đi mấy chục kí thịt của người chết trong lúc tất cả đều đói.

Xác chết đầu tiên tôi thấy bị xẻ thịt là xác một thiếu nữ trắng trẻo, xinh xắn. Tôi đang đi nhặt ốc thì nhìn thấy xác cô, khuy áo bị cổi banh ra, chỗ đôi nhũ hoa chỉ còn thịt lầy nhầy và mấy rẻo xương lồng ngực. Một tiếng đồng hồ sau, tôi trở lại, cô đã bị lột truồng, bắp vế, bắp chuối bị xẻo mất.

Tôi rùng mình. Suốt 2 năm chinh chiến tôi cũng đã chứng kiến nhiều cái chết ghê rợn do súng đạn gây nên, nhưng quả thật chưa một xác chết nào làm tôi khiếp đảm hơn.

Thượng Ðế ơi, người đã sinh ra con người như sinh vật khôn linh hơn mọi sinh vật khác, sao người lại còn bày ra những thử thách trớ trêu đó để làm gì? Ðể chứng minh là con người cũng không hơn gì loài cầm, loài thú ư?

Tôi trở về hốc đá với khuôn mặt chắc phải vô cùng sầu thảm; nhìn tôi, Phượng bảo, “Mình đuối lắm rồi, để em đi kiếm thực phẩm thay mình.”

“Em không đi đâu hết,” tôi gạt phăng.

Vợ tôi nhìn tôi lo sợ; có thể Phượng thấy phản ứng của tôi không bình thường, chưa bao giờ tôi gắt gỏng với nàng, ngay cả những lần nàng theo bác phu xích lô đi khách. Quanh chúng tôi, người ta phát điên, người ta đánh nhau chỉ vì những chuyện không đâu. Tình trạng tuyệt vọng, kinh hoàng làm chúng tôi thành hốt hoảng. Có thể Phượng nghĩ tôi cũng đang có những triệu chứng bắt đầu. Tôi an ủi vợ, “Anh không muốn em đi đâu hết. Quanh chúng ta đang có trên 100 người mất tự chủ. Em phải ở cạnh anh.”

Thật ra tôi chỉ muốn tránh cho Phượng khỏi nhìn thấy xác người thiếu nữ không vú, không đùi. Kéo đầu Phượng gục vào vai, tôi vỗ về, “Rồi mọi chuyện sẽ khá hơn; thế nào chẳng có một thương thuyền đi qua đây.”

Tôi nói để mà nói, nhưng tôi nghĩ Phượng không mấy tin, không mấy quan tâm đến những điều tôi nói.

Chúng tôi đã đói khát gần 1 tuần lễ; quanh bờ biển không còn một cái vỏ hào nào nguyên vẹn. Người đầu tiên vừa đập vỡ con hào để lấy ruột, thì chỉ vài phút sau đã có người đến đập lần thứ nhì, hy vọng vớt vát một chút gì còn xót lại.

Ðến tuần thứ nhì không ai còn dấu diếm chuyện ăn thịt người nữa. Gần như tất cả mọi người đều đã ăn thịt đồng loại. Tệ hơn là họ không chờ nạn nhân chết hẳn mới xẻ thịt. Ðể thịt và ruột gan không lạnh tanh, họ xẻ thịt những người đang thoi thóp, ngắc ngoải. Xương và đầu người chết bị ném xuống biển, cám dỗ hàng bầy cá mập.

Nhìn những con cá hung hãn chồm vào đến tận bờ để chia phần thịt người, tôi bàn với ông hàng xóm phương pháp bẫy cá mập. Chúng tôi đào một vũng cạn, rồi lấy đá be bờ khá cao. Sườn vũng nước nghiêng vào bờ, bên trong sâu hơn bên ngoài bờ biển.

Mượn cái đầu của một bà lão vừa bị xẻ thịt, chúng tôi thả mồi chờ cá mập; thời gian chờ đợi không lâu hơn 20 phút: theo đà sóng một con cá mập nhỏ, khoảng trên dưới 40 kí, trườn vào bẫy.

Sóng rút ra, cá mập mắc cạn và chết ngay sau vài chục nhát búa và xà beng của chúng tôi. Chúng tôi lôi cá lên cạn xẻ thịt; khoảng vài chục người đến hôi món thịt cá mập. Việc xẻ thịt chưa xong, con cá mập thứ nhì đã lại trườn vào bẫy trước tiếng reo hò mừng vui của hơn 100 con người đói khổ.

Thịt cá mập béo ngậy và tanh rình, nhưng vẫn giúp chúng tôi tránh được ăn thịt người, và cái bẫy cá mập của tôi trở thành nguồn cung cấp thực phẩm khá dồi dào cho những nạn nhân mắc cạn.

Cái khổ của chúng tôi là trên đảo san hô không còn một thứ gì có thể sử dụng thay củi nữa cả; một vài người liều lĩnh xách búa ra định bửa tầu lấy gỗ, nhưng chỉ cần một phát súng bắn chỉ thiên của nhóm thanh niên khỏe mạnh, ăn uống đầy đủ, lại có võ khí, đang chiếm giữ con tàu, cũng đủ làm những người liều nhất trở thành khôn ngoan, lui nhanh vào bờ.

Cầm miếng cá sống, vừa xệu xạo cắn, Phượng vừa hỏi tôi, “Mình có còn tin được câu người ta thường nói ‘trời xanh có mắt’ nữa không?”

Tôi thở dài. Nếu quả trời có mắt thì cặp mắt đó đã nhắm lại từ 4 năm nay rồi. Bé Mai chỉ còn là một cái xác nhỏ xíu, gầy ốm, thoi thóp níu vào cuộc sống. Thằng Vinh khá hơn đôi chút, nhưng cũng nằm lả, đôi mắt gần như không bao giờ hé mở.

Tôi nhai miếng cá trong miệng đến thành nước rồi cúi xuống mớm cho con. Phượng thút thít khóc. Cũng như tôi, vợ tôi hiểu mạng sống của đứa con gái chúng tôi thương yêu, nâng niu, đang tàn lụi dần và sẽ tắt hẳn, khi gió biển, nắng cháy, và thiếu dinh dưỡng, cướp đi những sinh lực cuối cùng.

Bé Mai bỏ đi tối hôm đó. Ôm con trong tay tôi nghe hơi thở nó yếu dần, yếu dần trước khi tắt hẳn. Cơ thể của đứa con yêu thương vẫn mềm mại nhờ chút hơi ấm của tình phụ tử ủ ấp.

Tôi lặng đi ngồi ôm xác con trong gió biển cắt da; khoảng một tiếng đồng hồ sau Phượng hỏi tôi, “Con có khá hơn không mình?”

Tôi hiểu nghĩa câu hỏi này: Phượng muốn biết bé Mai đã chết chưa, nhưng chữ “chết” ghê rợn không phát ra được trên đôi môi người mẹ. Tôi lặng thinh để vợ tôi ngỡ là tôi đã thiếp đi trong mòn mỏi. Nhưng rồi tôi thiếp đi thật; sức chống đỡ của cơ thể chỉ có giới hạn. Giữa những hoàn cảnh phi lý nhất, thể chất vẫn giữ nguyên những đòi hỏi bình thường của nó. Ôm xác con trong tay, ngồi giữa một cô đảo Thái Bình Dương, tôi ngủ ngon lành.

Tôi bị mặt trời nhiệt đới đánh thức; mở mắt dạy trong ánh nắng chói lòa, tôi hốt hoảng nhận ra là bé Mai không còn nằm trong tay tôi nữa. Phượng cũng không thấy đâu cả. Tôi cất tiếng gọi vợ, tiếng sau lớn hơn tiếng trước, những tiếng cuối cùng trở thành tiếng gào kinh hoảng.

Những người chung quanh nhìn tôi; cặp mắt họ không thiện cảm, nhưng cũng không ác cảm, mà chỉ là những cập mắt vô can mất hết khả năng xúc động. Cái khổ đau, bất hạnh của tôi, tôi cứ tự gánh lấy. Phần riêng của họ cũng đã quá lớn, họ không thể chia xẻ thêm với ai chút gì nữa cả.

Tay ẵm thằng Vinh, tôi phóng nhanh xuống bờ biển vừa chạy quanh đảo, vừa gọi Phượng. Vợ tôi ngồi xẹp trên một phiến đá, vẻ mặt sầu khổ. Ôm chầm lấy vợ, tôi hỏi, “Em đi tìm con?”

Vợ tôi không nói được một tiếng nào cả.

“Họ đã xẻ thịt bé Mai?” Phượng gật đầu rồi gục vào vai tôi thút thít khóc; tôi lặng đi, tê tái.

Nguyên ngày hôm đó vợ chồng chúng tôi không nói thêm với nhau một câu nào nữa. Trước những đổ vỡ thương đau toàn diện, chúng tôi không còn khả năng khóc, than.

Sáng hôm sau, sau một vòng đi tìm thực phẩm thất bại như từ nhiều ngày nay, tôi trở về hốc đá và tình cờ khám phá ra nguyên nhân giúp bé Vinh còn tương đối mạnh khỏe: Phượng đang cho con bú. Tôi ngạc nhiên vì từ trước đến giờ Phượng không hề làm việc đó. Cả bé Mai cũng bú sữa bò từ khi mới lọt lòng.

Phượng bối rối nhìn tôi, trong lúc tôi nhìn bé Vinh: môi đứa bé đỏ lòm. Tôi kéo vú Phượng ra để thấy một vết cắt còn mới trên đầu vú. Tôi tìm thấy nhiều vết cắt khác ở đầu ngón tay, ở cổ tay người mẹ khốn khổ. Thở dài, tôi cúi đầu. Phượng đang trút tàn lực sang để nuôi một mầm sống. Việc làm vô cùng đáng kính phục đó chắc chắn sẽ làm tôi trở thành góa bụa sớm hơn.

Dĩ nhiên tôi không ngăn cản, cũng không phiền trách gì Phượng. Ðiều độc nhất tôi có thể làm là cố gắng hơn nữa trong việc tìm kiếm thực phẩm để nuôi Phượng và bé Vinh, nhưng số người đói khát thì đông mà số thực phẩm lại giới hạn nên gần như chúng tôi không còn tìm ra bất cứ một thứ gì, dù chỉ là cỏ, là cây, để nhai trong miệng. Bốn ngày sau ngày bắt gặp Phượng cho con bú bằng máu, tôi tìm được một con của khá lớn. Phượng ăn gượng gạo rồi lại nằm ngay. Vợ tôi đuối đến mức tôi phải xé từng miếng thịt cua, đút vào miệng cho nàng.

Suốt tuần sau, tôi chỉ tìm được vài con ốc. Nhìn những triệu chứng sắp chết của vợ, tôi nghe đứt ruột. Tôi không dám đi kiếm thực phẩm xa nữa, sợ người ta đến ăn thịt Phượng.

Hai ngày sau, đang nửa mơ, nửa tỉnh, tôi chợt nghe nhiều tiếng súng; tiếp theo là tiếng reo hò. Bàng hoàng choàng dậy, tôi nhìn theo hướng nhìn của mọi người và thấy một chiếc tàu đang từ từ tiến lại.

Tim tôi ngừng đập; cuối cùng trời vẫn còn có mắt, chúng tôi sắp được cứu sống, và tôi vẫn còn Phượng, còn người vợ mà trong hoạn nạn tôi thấy tình yêu trở thành to lớn hơn, bền chặt hơn. Tôi sẽ lại được mê mệt, được khổ sở với cặp mắt đa tình của Phượng.

Trong tiếng reo hò của những người đồng cảnh ngộ, tôi cúi xuống thủ thỉ bảo vợ, “Hôm trước em hỏi anh có còn tin là ‘trời xanh có mắt nữa không’; bây giờ anh trả lời em là anh tin. Anh tin cuối cùng rồi ông trời vẫn có mắt.”

Nhưng tôi đã lầm. Ðối với những kẻ bất hạnh, vô phước như tôi, ông trời (nếu có ổng) đã vĩnh viễn nhắm mắt, quay mặt đi.

Con tầu tôi đang nhìn theo là một ngư thuyền của Ðài Loan. Họ neo xa bờ chừng 2 cây số, rồi cho ghe nhỏ vào chở người đại diện của chúng tôi ra thương lượng. Cuộc thương lượng, nói trắng ra chỉ là một cuộc trả giá.

Người đại diện trở về cho chúng tôi biết tầu Trung Hoa đòi một số vàng lớn mới chịu cứu chúng tôi. Số người có vàng đề nghị chia số người Trung Hoa đòi hỏi trên đầu người; những kẻ trắng tay như tôi ngồi lặng thinh, dự thính.

Chiều hôm ấy người đại diện của chúng tôi trở ra ngư thuyền Trung Hoa với một phản đề nghị. Cuộc trả giá kéo dài cho đến tối, và ông ta ngủ lại trên tầu đánh cá. Sáng hôm sau ông trở lại với 3 người Tầu, và bắt đầu cuộc ghi danh, góp vàng.

Những người có vàng để góp lần lượt được xuống ghe máy để ra tàu trước cặp mắt thèm thuồng của chúng tôi. Khoảng xế chiều việc đưa những người góp vàng ra tàu hoàn thành. Người Trung Hoa chở vào cho chúng tôi một thùng cá và bảo, “Các anh ăn uống tạm tối nay. Sáng mai chúng tôi sẽ vào chở tất cả ra tàu.”

Thì ra họ chỉ muốn làm khó dễ để lột một số vàng của những người có tài sản. Sáng hôm sau toàn bộ chúng tôi được chở ra tàu; một thủy thủ Trung Hoa giúp tôi bồng bé Vinh, trong lúc tôi bồng Phượng xuống ghe.

Yếu đuối, tôi ngã mấy lần, Phượng mở mắt nhìn tôi, cặp mắt tình tứ, đắm đuối ngày xưa, giờ này đã mất thần.

Xuống tầu, tôi xin một ly sữa, đút cho Phượng, nhưng vợ tôi không còn nuốt được nữa. Tôi biết cơ thể nàng đã mất hết hydrate; giải pháp độc nhất còn lại là nuôi bằng nước biển, nhưng làm gì có thứ đó trên một ngư thuyền.

Phượng lịm dần và hơi thở thật sự tắt hẳn vào đêm hôm đó. Xác nàng bị chuồi xuống biển theo hình thức thủy táng.

TÔI DỨT CÂU CHUYẸN vào lúc 11 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 2004, rồi bảo thằng Vinh, “Ba hứa ngày con học xong, ba sẽ kể lại câu chuyện về mẹ con cho con nghe; ba đã thực hiện lời ba hứa.”

Nó bước đến trước ghế tôi ngồi, quỳ xuống, gục đầu lên đùi tôi, “Ba đau khổ nhiều quá,” lời nó nghẹn lại. “Con thương ba.”

Tôi vuốt tóc nó, “ba thương con.”

“Con muốn vinh danh mẹ,” thằng Vinh bảo tôi. Năm đó nó 26, vừa ra trường thuốc Austin, và đang tập sự tại nhà thương Memorial Hertman, Houston, nơi tôi làm việc.

“Bằng cách nào?” tôi hỏi nó.

“Con muốn về Việt Nam để cùng bác sĩ Nguyễn Ðan Quế tranh đấu giải thể chế độ cộng sản dã man đã giết mẹ con, giết chị Mai, và làm ba buồn khổ suốt cuộc đời.”

“Môi trường tranh đấu tại hải ngoại thuận lợi hơn môi trường quốc nội,” tôi bảo Vinh. “ Tiếng nói của con sẽ lớn hơn, vì có một đối tượng rộng hơn, quyền hạn hơn.”

Nó nghe lời tôi, và giờ này bác sĩ Trần Phượng Vinh, con của bác sĩ Trần Quang trở lại trường đại học; môn học mới của nó là điện ảnh.

Họa sĩ Thương Thương, hôn thê của nó đã vẽ xong từ năm ngoái bức tranh quảng cáo cuồn phim đầu tay ÐÔI MẮT PHƯỢNG của tài tử kiêm đạo diễn Phượng Vinh.

Nó đóng vai trung úy quân y của Sư Ðoàn Nhẩy Dù, trung úy Trần Quang.

Nguyễn Đạt Thịnh

 

Quốc Hận 30/4

Biến Cố Lịch Sử 30/04/1975 – The Fall of Saigon

Saigon 4/1975

Vượt Sóng

Vượt Sóng – phim về 2 triệu người Việt chết trên biển vì tự do

 

Nhân chứng sống kể về Hải Chiến Hoàng Sa 1974

Phỏng vấn cựu Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại

Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa 1974

 

Hộ chiếu “lưỡi bò” Trung Quốc: Đã đến lúc phải có giải pháp quyết liệt hơn – Thụy My

“…Trung Quốc họ làm là có ý đồ rõ ràng, bài bản từ đầu tới cuối. Một cái chiến lược có thể nói là trong vòng bao nhiêu năm, chứ không phải là làm một cách tự phát, theo nhiệm kỳ hoặc là theo một cá nhân nào đó…”


Hộ chiếu có hình “lưỡi bò”

Nhà cầm quyền Bắc Kinh vừa cho phát hành loại hộ chiếu điện tử mới, trong đó có in bản đồ có hình lưỡi bò, biểu thị yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên hầu như toàn bộ Biển Đông, trong đó có cả Hoàng Sa và Trường Sa. Chính quyền Việt Nam, Philippines, Đài Loan và Ấn Độ đã nhanh chóng lên tiếng phản đối với các mức độ khác nhau. 

Về phía người dân Việt Nam, thủ đoạn mới của Trung Quốc cũng đã làm cho dư luận hết sức xôn xao. Vừa trở về từ Ấn Độ và Nepal hôm nay 23/11/2012, ông Nguyễn Văn Mỹ, giám đốc công ty dã ngoại Lửa Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã dành thì giờ trao đổi với RFI Việt ngữ về vấn đề này, với tư cách một công dân Việt.

RFI Kính chào ông Nguyễn Văn Mỹ, rất cám ơn ông đã nhận trả lời phỏng vấn. Thưa ông, ông có cảm nghĩ như thế nào về hành động Trung Quốc in bản đồ có hình lưỡi bò lên hộ chiếu ?

Ông Nguyễn Văn Mỹ : Tôi vừa đi công tác ở Ấn Độ và Népal, nên chỉ mới nắm thông tin một cách tổng quát thôi. Nhưng điều đó thì bản thân tôi không hề ngạc nhiên, chỉ có điều họ đưa ra như vậy là rất sớm. Tức là chuyện đó trước sau gì cũng làm thôi. Mà phải chăng đây là cái món quà đầu tiên ra mắt thế giới của Tập Cận Bình.

Tại sao tôi không ngạc nhiên ? Bởi vì thật ra tham vọng của Trung Quốc thể hiện rẩt là rõ. Một mặt thì họ nói rằng họ không gây chiến, họ hết sức ôn hòa và tôn trọng các nước khác ; mà họ luôn luôn làm ngược lại. Tức là trong khi những tranh chấp đó chưa hề được giải quyết thì họ đơn phương tuyên bố là cái đó của họ. Mà điều này là trái với thông lệ ngoại giao, thể hiện tinh thần nước lớn. Người Việt mình dùng cái từ là « cả vú lấp miệng em » đó. Cái này gần như là bản chất của Trung Quốc.

Tháng trước tôi vừa đi Quảng Châu và Hải Nam về. Thì phải nói rằng là Trung Quốc đã đạt được rất nhiều thành tựu về kinh tế cũng như quản lý. Nhưng mà bên cạnh đó thì cũng đó những điều mà người nước ngoài họ rất là khó chịu.

Cái tinh thần bài Nhật, được hiểu ngầm gần như được sự hậu thuẫn của chính quyền, rất là quyết liệt. Hướng dẫn viên địa phương khuyến cáo chúng tôi không nên vào các nhà hàng Nhật để ăn, không vào các cửa hàng của Nhật để mua bán, bởi vì có thể bị hiểu lầm là người Nhật, và có thể bị hành hung. Một cái đất nước nếu mà có tinh thần tôn trọng nhau thì không thể giải quyết bằng cái kiểu đó được !

Việc thứ hai, tại sao tôi bảo là không ngạc nhiên. Bởi vì chúng tôi đi làm việc, khi vào các cơ quan nhà nước của Trung Quốc thì thấy một điều rất là rõ. Sau lưng bàn làm việc của nhân viên họ, và đặc biệt lãnh đạo của họ, luôn luôn có cái bản đồ hình lưỡi bò to đùng ! Và trên tất cả các tài liệu do họ phát hành, từ du lịch cho tới kinh tế… luôn luôn có hình lưỡi bò.

Họ kêu gọi đàm phán nhưng bản thân họ không thèm đàm phán, họ xem như cái đó đương nhiên là của họ rồi. Và tôi cho rằng đó là thái độ thách thức không chỉ Việt Nam, mà thách thức cả thế giới, khó mà chấp nhận được.

Trung Quốc có rất nhiều mặt mạnh, và thật ra nếu họ ôn hòa, thật lòng tôn trọng các nước khác một chút, thì họ có thể làm bá chủ thế giới, thay vì cái thái độ mà mình gọi là hung hăng, hiếu chiến hiện nay. Thái độ của họ rất thiếu tôn trọng các nước khác, kể cả những nước láng giềng có bề dày truyền thống hữu nghị như Việt Nam thì họ cũng chẳng thèm tôn trọng.

Cho nên đó là thách thức của cả thế giới. Và Trung Quốc họ làm là có ý đồ rõ ràng, bài bản từ đầu tới cuối. Một cái chiến lược có thể nói là trong vòng bao nhiêu năm, chứ không phải là làm một cách tự phát, theo nhiệm kỳ hoặc là theo một cá nhân nào đó.

RFI Như vậy theo ông Việt Nam phải đối phó như thế nào ?

Trong những năm kháng chiến chống Pháp trước đây, Hồ Chí Minh có nói một ý rất hay, là « Chúng ta càng nhu nhược thì kẻ thù càng lấn tới ». Hiện nay mình chưa nói Trung Quốc là kẻ thù, nhưng rõ ràng trong quan hệ đối ngoại song phương cũng vậy. Mình càng nhu nhược thì đối phương họ càng lấn tới. Và cha ông mình cũng thường nói là « Mềm nắm, rắn buông ».

Thì tôi nghĩ rằng có lẽ đã đến lúc mình phải có những giải pháp mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn. Bởi vì mình là người đụng chạm trực tiếp nhất, bị ảnh hưởng nhiều nhất, chứ còn các nước khác không bị trực tiếp như mình. Cho nên coi như mình là nạn nhân đi, mà mình không lên tiếng mạnh mẽ, mình phản ứng một cách yếu ớt, hoặc là chấp nhận chuyện đó là bình thường, thì khó mà đòi hỏi thế giới, bạn bè đồng tình ủng hộ mình. Và nhân dân sẽ trách Nhà nước là tại sao những việc như thế mà chúng ta lại không có cách gì hành xử.

Thật ra mình làm cái này không phải chỉ cho mình không thôi, mà cả cho những nước đang bị Trung Quốc o ép, cho cả bạn bè thế giới, và thậm chí giúp đỡ nhân dân Trung Quốc. Bởi vì suy nghĩ thật lòng, tôi cũng có qua Trung Quốc, có tiếp xúc thì không phải là người Trung Quốc nào cũng nghĩ như thế đâu. Họ cũng muốn hòa bình, hữu nghị anh em. Nếu càng sa vào những tranh chấp quyết liệt như thế, thì tất cả đều bị thiệt hại. Và điều đó là mình cũng giúp cho nhân dân Trung Quốc tránh khỏi những chuyện bị đầu độc, bị nhồi nhét những điều không có thực của lịch sử.

RFI : Về mặt cụ thể, không biết lượng khách du lịch Trung Quốc mỗi năm vào Việt Nam là bao nhiêu, chẳng lẽ không cho họ vào ? Còn nếu cho thì coi như mặc nhiên chấp nhận bản đồ hình lưỡi bò của họ, có phải không thưa ông?

Cái đó thì vì mình không phải là Nhà nước, mình chỉ có ý kiến thôi. Còn Nhà nước chắc họ cũng có những phương án đối phó, chưa biết là thế nào, và dựa trên cơ sở nào thôi. Nhưng lượng khách Trung Quốc vào Việt Nam hiện nay đông nhất là đường bộ, đi qua ngõ các cửa khẩu bằng giấy thông hành. Và lượng khách này thật ra là khách đi chơi qua Việt Nam, thì không phải là khách quan trọng đâu.

Lượng khách đi bằng đường hàng không qua Việt Nam cũng không phải là nguồn khách lớn tới mức mà chúng ta sợ bị ảnh hưởng, và chi tiêu của họ cũng không phải là nhiều. Khách Trung Quốc đi đến đâu thì ồn ào, và xin lỗi là, khách châu Âu họ cũng ngại, họ tránh ra. Thậm chí giả sử khách Trung Quốc mà có đông tới mức có thể áp đảo chăng nữa, thì cũng không phải vì cái chuyện đó mà chúng ta có thể bán rẻ chủ quyền lãnh thổ, cũng như uy tín của cả đất nước.

Cho nên theo tôi, mình không phải là Nhà nước, thì mình không thể đề ra chủ trương, nhưng nếu với tư cách công dân thì mình có quyền kiến nghị. Còn nghe hay không là chuyện quản lý của Nhà nước, đó là chuyện khác nữa. Tổ tiên mình đã dạy rồi, mềm nắm rắn buông. Khi có tranh chấp thì chúng ta mềm mỏng, kiên nhẫn nhưng mà không nhu nhược. Và chúng ta càng nhún nhường thì có khi đối thủ lại càng lấn tới – đây là quy luật của cuộc sống rồi, và nó chỉ bất lợi cho mình thôi.

Bản thân tôi trước hết với tư cách công dân, tôi nghĩ rằng có mấy biện pháp mình có thể thực hiện. Một là, việc đầu tiên về phía Nhà nước, mình sẽ gởi công hàm phản đối – chuyện đó là đương nhiên rồi – và thông báo lộ trình cho họ. Nếu trong vòng bao lâu mà anh vẫn sử dụng cái hộ chiếu đó, thì tôi sẽ không cấp nhập cảnh cho anh. Cái thứ hai, trong lúc chờ thay đổi hộ chiếu, mình có thể sẽ thu hồi cái hộ chiếu đó không cho sử dụng, cấp tạm cho một cái giấy thông hành gì đó, rồi về mình trả lại.

Tôi nghĩ rằng từ chối khách Trung Quốc cũng không có gì ghê gớm cả. Chính cái thái độ hung hăng của Trung Quốc đã làm cho một lượng khách du lịch Việt Nam cũng không muốn đi Trung Quốc. Người Trung Quốc tự làm cô lập mình – mất một lượng khách khá lớn đến Trung Quốc, mất một lượng bạn bè lâu nay có tình cảm với nhân dân Trung Quốc, qua những thành tựu mà họ đạt được về quản lý, về kinh tế…

Mất một lượng khách khá lớn từ Việt Nam và từ các nước có mâu thuẫn trực tiếp, với lại cả những người bình thường nữa. Bây giờ làn sóng không thích người Trung Quốc không phải chỉ có ở Việt Nam và Đông Nam Á không đâu, mà nó lan ra cả châu Phi ! Cả châu Âu, cả Mỹ. Thì cái đó lợi bất cập hại.

Cho nên tôi nhắc lại là đã đến lúc mình cần có thái độ mạnh mẽ và dứt khoát hơn, để khẳng định chủ quyền. Chúng ta không hung hăng, mình hết sức là kiên nhẫn, nhưng không có nghĩa là bạc nhược. Anh nói một đằng làm một nẻo thì dù tôi là nước nhỏ hơn, nhưng mà về mặt pháp luật tôi bình đẳng. Sau lưng Việt Nam có cả nhân dân thế giới nữa mà. Ở cái thời đại hiện nay, không phải như hồi xưa mà muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm.

RFI : Tóm lại là theo ông, chính quyền Việt Nam cần có thái độ dứt khoát và căn cơ hơn?

Đã đến lúc mà chúng ta, về phía Nhà nước, cũng cần phải có biện pháp mạnh mẽ hơn trong việc giáo dục. Đền Preah Vihear tranh chấp với Thái Lan, thì tôi đi qua Campuchia tôi thấy tất cả trên toàn lãnh thổ Campuchia họ trương một cái pa-nô « Preah Vihear là của chúng ta ! ». Thì tại sao mình không dám trương một cái bảng to đùng « Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam » trên khắp cả nước Việt Nam?

Mình có chứng minh lịch sử, thì tại sao Trung Quốc họ làm như thế mà mình không làm ngược lại cho nhân dân mình biết cái chuyện đó là chuyện không đúng. Và không chỉ làm với nhân dân trong nước mà còn với nhân dân thế giới biết rằng, chuyện đó là người Trung Quốc sai. Chứ không thể bây giờ Trung Quốc muốn làm gì thì làm, còn ta thì cứ im lặng. Im lặng ở đây không phải là vàng nữa, mà có nghĩa sẽ là bùn !

Với tư cách công dân thì tôi muốn là có thái độ mạnh mẽ, dứt khoát hơn, chứ không thể làm theo kiểu đối phó hiện nay. Từ trong tài liệu sách giáo khoa, trong các văn bản gởi ra nước ngoài, tất cả mọi cái…nếu Trung Quốc họ không đưa vào, ta tranh chấp thì ta tôn trọng. Nhưng vì Trung Quốc đã làm như thế bao nhiêu năm nay rồi.

Thậm chí tôi nhớ là trong một lần vào Việt Nam để giới thiệu chương trình du lịch Trung Quốc tại khách sạn Rex, Thành phố Hồ Chí Minh, thì người Trung Quốc đưa ngay tài liệu có đường lưỡi bò vào trong đó luôn. Không ai để ý, nhưng tới lúc về nhà mình mở tài liệu ra mới hết hồn. Thì phải nói là họ ngang ngược không còn chỗ nào mà nói nữa cả !

Nhân dân Việt Nam sẽ có những phán xét đối với những chính sách của Nhà nước trong việc đối phó. Mà đừng hy vọng rằng Trung Quốc thay đổi. Rất khó, cực kỳ khó !

Hồi nãy tôi có nói mình sẽ thông báo cho họ một thời hạn để họ thay đổi. Đó là về mặt pháp lý mình phải làm cho đúng thủ tục, chứ không phải đùng một cái mình ngưng không cho người ta vô, và để người ta không trách mình sau đó. Chúng tôi đã có thời hạn cho anh rồi, mà anh vẫn khăng khăng như thế thì thôi.

Anh vô nhà tôi mà anh lại bảo là nhà của anh thì ai mà chấp nhận. Ai mà lại đi tiếp một cái người, mà xin lỗi, phải dùng cái từ hơi nặng là, ai mà đi tiếp kẻ cướp bao giờ!

RFI : Xin rất cảm ơn ông Nguyễn Văn Mỹ, giám đốc công ty dã ngoại Lửa Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã dành thì giờ trả lời cuộc phỏng vấn hôm nay của chúng tôi.

Thụy My