Quốc Kỳ

Vì Tiền Đồ Tổ Quốc

Tháng Sáu 2026
H B T N S B C
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930  

ĐA HIỆU ONLINE

Bức Tượng “Thương Tiếc” và Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu

Lời giới thiệu: Trong lần về VN thăm quê hương nữ phóng viên Xuân Hương của chương trình Newland TV. đã có cơ hội gặp và nói chuyện với điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tại tư gia của ông. Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu là tác giả bức tượng đồng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Ông vừa là một sĩ quan trong QLVNCH với cấp bậc Thiếu tá . Liên tục trong hai ngày gặp gỡ, trò chuyện, P.V. Xuân Hương đã được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tiết lộ nhiều điều khá thú vị trong sự nghiệp nghệ thuật và 8 năm trong lao tù Viêt cộng của một chiến sĩ QLVNCH. Với giọng văn giản dị miền Nam, nữ phóng viên Xuân Hương đã kể lại cuộc gặp gỡ bất ngờ, kỳ thú. Newland T.V. xin hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc bốn phương thiên phóng sự đặc biệt này.

* New Land  T.V.

NghiaTrangBienHoa

Xuân Hương đã nhìn thấy hình ảnh Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa qua sách báo, qua các băng Video và DVD. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là nơi an nghỉ cuối cùng của hơn 18 ngàn chiến sĩ QLVNCH, đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia trong cuộc chiến Quốc-Cộng.

ThuongTiec

Trước cổng vào nghĩa trang có một bức tượng đồng người lính ngồi trên tảng đá, ôm súng thương nhớ đến những người bạn đã nằm xuống. Đó là, bức tượng Thương Tiếc do điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu thực hiện.

tuong-TiecThuong2

Bức tượng đồng có chiều cao 9 thước, sau ngày 30/4/75 đã bị bạo quyền Việt cộng gian ác giật sập, phá hủy

Xuân Hương trong dịp về thăm quê hương , may mắn đã gặp được điêu khắc gia NguyễnThanh Thu. Với hai lần gặp gỡ và nhiều tiếng đồng hồ trò chuyện, điêu khắc gia Thu kể cho Xuân Hương nghe nhiều điều vui , buồn, thú vị đã xảy ra trong đời ông chung quanh sự nghiệp điêu khắc và những tháng năm tù tội.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cho biết trong nhiều tác phẩm. Ông cảm tuong tethấy danh dự nhứt trong sự nghiệp của mình là tác phẩm “Ngày Về”. Tác phẩm này, diễn tả hình ảnh người chiến binh trở về từ chiến trường được người hậu phương choàng vòng hoa chiến thắng. Tác phẩm “Ngày Về ” của Nguyễn Thanh Thu đã được giải nhứt trong Ngày quốc khánh 26 tháng 10 năm 1963 về Văn Học Nghệ Thuật dưới thời Đệ Nhứt Cộng Hòa của TT. Ngô đình Diệm. Và tác phẩm thứ hai là Thương Tiếc, thời đệ nhị VNCH của TT. Nguyễn văn Thiệu.

Lịch sử bức tượng đồng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

tuong-thuongtiec2

Bức tượng đồng mang tên Thương Tiếc tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu hoàn thành vào năm 1966. Đây là thời điểm chiến tranh giữa VNCH và Cộng Sản Bắc Việt đang diễn ra tới mức độ ác liệt.

Vào thời đó, Nghĩa Trang Quân Đội tọa lạc ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Tình hình trong nước lúc bấy giờ rất lộn xộn. Dân chúng bị xách động biểu tình liên miên. Còn các đảng phái thì đua nhau tranh giành ảnh hưởng đối với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

Lúc bấy giờ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn đang là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Tổng thống Thiệu là người đã nghĩ ra việc xây dựng Nghĩa Trang Quân Đội nằm cạnh xa lộ Biên Hòa.

ĐKG. Thu tâm sự rằng, ông không biết tại sao lúc đó Tổng thống Thiệu lại biết đến ông để mời ông vào bàn về dự án xây Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Hòa. Nhưng sau này TT. thiệu cho biết đã biết tài điêu khắc của ông qua tác phẩm Ngày Về, khi TT. Thiệu còn là đại tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 bộ binh.

Khi gặp mặt TT. Thiệu, ông Thiệu đã nói với ĐKG. Thu, là ông muốn trước cổng vào nghĩa trang phải có một bức tượng to lớn đầy ý nghĩa đặt ở đó. Mục đích bức tượng để nhắc nhở, giáo dục người dân về sự hy sinh cao quý của các chiến sĩ VNCH.

ĐKG. Thu kể tiếp là sau năm lần, bảy lượt gặp TT. Thiệu bàn bạc, ông hứa sẽ trình dự án lên TT. Thiệu sau một tuần lễ nghiên cứu. Khi về nhà ông mất ăn, mất ngủ, lo lắng ngày đêm. Đầu óc ông lúc nào cũng suy nghĩ đến những đề tài có ý nghĩa như ý của TT. Nguyễn Văn Thiệu. Ông nhớ đến lời TT. Thiệu nói: “Những chiến sĩ VNCH, đã vì lý tưởng tự do hy sinh đời mình thì những người ở hậu phương như “chúng ta” phải làm một cái gì để nhớ đến sự hy sinh cao cả đó cho xứng đáng”. Những lời chân tình này đã làm điêu khắc gia Thu trăn trở không nguôi nên trong thời gian chờ đợi gặp lại TT. Thiệu, ngày nào ông cũng đến Nghĩa Trang Quân Đội tại Hạnh Thông Tây để suy ngẫm đề tài.

Trong bảy ngày hứa sẽ gặp lại TT. Thiệu thì hết sáu ngày, ĐKG. Thu đến Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây để phác họa những cảm xúc chân thật trong lòng tại chỗ. Ông đã chứng kiến cảnh, ngày ngày máy bay trực thăng đưa quan tài những người đã hy sinh vì tổ quốc về nơi an nghỉ cuối cùng với sự cảm xúc vô biên, nhưng vẫn chưa dứt khoát được một chủ đề rõ ràng.

Vào một buổi trưa của ngày thứ sáu trên đường về từ Nghĩa Trang Hạnh Thông Tây, giữa trời nắng chang chang, ĐKG. Thu ghé vào một tiệm nước bên đường để giải khát. Khi bước vào quán, ông thấy một quân nhân Nhảy Dù đang ngồi uống bia và trên bàn đã có 5,3 chai không. Đặc biệt trên bàn có hai cái ly. Ngồi bàn đối diện với người quân nhân kia, ông lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy người lính Nhảy Dù vừa uống bia vừa lẩm bẩm nói chuyện với cái ly không. Hình ảnh này cho thấy anh ta vừa uống vừa nói chuyện và vừa cúng một người đã chết. Khi nói chuyện với cái ly xong, người lính uống hết ly bia của mình. Sau đó, anh ta “xớt” bia của cái ly cúng còn nguyên vào ly mình, rồi lại kêu thêm một chai bia mới rót đầy vào ly kia. Thấy vậy, ông bước qua làm quen với người lính Nhảy Dù và đề nghị cho ông ngồi chung bàn. Người quân nhân quắc mắt tỏ vẻ không bằng lòng vì bị phá cuộc đối ẩm của anh và người đã chết. Thái độ này làm ông lúng túng. Đột nhiên, người lính kia móc ra cái bóp đựng giấy tờ của anh ta ra và đưa cho ông như trình giấy cho Quân Cảnh. Ông nghĩ rằng mình đâu phải là Quân Cảnh mà xét giấy ai. Tuy nhiên ông cũng cầm lấy bóp và trở về chỗ ngồi. Vì tò mò, ông mở bóp ra coi. Trong bóp, ông nhìn thấy những tấm hình trắng đen chụp cảnh các anh em đồng đội nơi chiến trường. Muốn làm quen với người lính Nhảy Dù, nên ông cố nhớ địa chỉ và KBC của anh ta trước khi cầm bóp trả lại cho chủ nó. Sau đó, ông ra về để chuẩn bị ngày hôm sau lên gặp TT. Thiệu .

Tối hôm đó, điêu khắc gia Thu vẽ liền 7 bản mẫu. Khi ngồi vẽ như vậy đầu óc ông cứ nhớ đến hình ảnh ngồi uống bia một mình với gương mặt buồn bã của người lính Nhảy Dù, mà qua căn cước ông biết tên là Võ Văn Hai.

Bảy bản mẫu của Nguyễn Thanh Thu phác họa là cảnh người lính đang chiến đấu ngoài chiến trường, cảnh mưa bão ngoài mặt trận—phản ảnh lại cảnh êm ấm của những người tại hậu phương. Khi ngồi vẽ đầu óc ông cứ liên tưởng đến vóc dáng buồn thảm của Võ Văn Hai và ông ngồi vẽ cho tới 6 giờ sáng.

Đến 8 giờ sáng thì có người đến rước ông vào gặp TT. Thiệu tại Dinh Gia Long. Đến nơi, đại tá Võ văn Cầm là Chánh Văn Phòng của TT. Thiệu cho biết TT. đang tiếp chuyện một vị tướng nào đó nên bảo ông đợi một chút. Trong lúc đợi, ông ra phía ngoài đi lang thang trên hành lang của dinh và vừa đi vừa nghĩ trong đầu là tại sao mình không vẽ Võ văn Hai cho rõ ràng. Nghĩ vậy ông ngồi xuống một chiếc ghế cẩn màu đỏ tưởng tượng đến hình ảnh Võ văn Hai ngồi buồn rầu, ủ dột trong quán nước. Ông trở vào phòng Đại tá Cầm định xin một tờ giấy để phác họa những ý tưởng đã nghĩ ra. Nhưng khi trở vào trong, ông ngại ngùng không dám lên tiếng. Ông nhìn phía sau lưng Đại tá Cầm thấy trong giỏ rác có một bao thuốc lá không. Ông lượm bao thuốc lá và trở ra ngoài. Điêu khắc gia Thu đã dùng mặt trong của bao thuốc lá phác họa bố cục bản thảo và cảm thấy hài lòng về bức hình đã vẽ ra.

Khi được Đại tá Cầm mời vào gặp TT. Thiệu, ông đã trình bày giải thích về 7 bản đã vẽ từ trước cho TT. Thiệu nghe. Xem xong TT. Thiệu hỏi: “Anh Thu à! Bảy bản, bản nào tôi cũng thích nhưng anh là cha đẻ của nó, anh nên cho tôi biết tấm nào hay nhứt.” Điêu khắc gia Thu rụt rè nói với TT. Thiệu : “Thưa TT, mới đây thôi trong khoảng 15 phút trong khi chờ gặp TT. tôi mới nghĩ ra một đề tài được phác họa trên một bao thuốc lá. Nhưng, tôi không dám vô lễ trình lên TT. Tuy nhiên, với phác họa này tôi thấy nó hay quá. Tổng thống hỏi, thì tôi muốn chọn bản này, nhưng tôi không dám trình lên Tổng Thống .”

TT. Thiệu bảo ĐKG. Thu đưa cho ông coi bản họa trên bao thuốc lá. Ông Thu đã giải thích cho TT. Thiệu nghe về trường hợp Võ Văn Hai mà ông đã gặp trong quán nước. Ông Thu cho biết, lúc đó ông cũng chưa dứt khóat đặt tên cho các bản phác họa đã trình cho TT. Thiệu xem dù rằng đã nghĩ trong đầu các tên như 1)Tình đồng đội, 2) Khóc bạn, 3) Nhớ nhung, 4) Thương tiếc, 5) Tiếc thương .

Cuối cùng điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu và TT. Thiệu đồng ý tên Thương Tiếc. Được sự đồng ý của TT. Thiệu, ông ra ngoài văn phòng của Đại tá Cầm phóng lớn bức họa Thương Tiếc bằng hình màu. Ông đã nhờ Đại tá Cầm ngồi trên một chiếc ghế đẩu để lấy dáng ngồi tưởng tượng trên tảng đá. Sau khi hoàn tất, Tổng thống Thiệu cầm bức họa tấm tắc khen. ĐKG. Thu đã đề nghị TT. Thiệu ký tên vào bức họa đó, mà ông đã nói với TT. Thiệu là “Cho ngàn năm muôn thuở” . TT. Thiệu đồng ý và đã viết “TT. Nguyễn văn Thiệu ngày 14 /8/1966 ”.

Sau khi được TT. Thiệu chấp thuận dự án làm bức tượng Thương Tiếc, điêu khắc gia N.T.T phải làm ngày, làm đêm để kịp khánh thành Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa vào ngày Quốc khánh 1/11/1966 đúng như dự định.

Một chiến sĩ QLVNCH can trường trong ngục tù cộng sản

Điêu khắc gia Thu tâm sự, khi còn ở trong tù lúc bị nhốt ở “cô–nét” ông nhớ đến tượng Thương Tiếc và đã vái thầm tất cả vong linh chiến sĩ VNCH trong ba ngày, hãy cho ông biết ông có thoát khỏi dự định xử bắn của VC hay không. Thì vào một buổi trưa, ông chập chờn thấy có người báo mộng cho biết ông không sao cả, nhưng thời gian tù tội còn lâu lắm.

Người điêu khắc gia tài ba kể tiếp. Trước đó, một người bạn đã dặn dò ông phải coi chừng và cẩn thận trong lúc ở tù VC vì ông quá nổi tiếng về những tác phẩm điêu khắc nên chắc chắn VC sẽ không để ông yên. Lúc đó, ông không quan tâm cho lắm, nhưng vào một buổi trưa trong lúc các tù nhân đang nghỉ ngơi , thì ông được một cán bộ quản giáo mời ra ngoài báo cho biết ông chưa khai báo thành thật, còn dấu diếm nhiều điều. Thiếu tá Thu hỏi dấu diếm những điều gì? Để trả lời, tên cán bộ lấy ra một danh sách tên tuổi các tù nhân, mà theo ông là do các người làm “ăng ten” trong trại báo cáo. Ông cho biết những người chịu làm ‘ăng ten” cho VC sẽ được lãnh tiêu chuẩn gạo 11 ký một tháng, thay vì 9 ký như mọi người. Ông còn nói thêm, những kẻ làm “ăng ten” không phải vì họ thù ghét ai, mà chỉ vì “miếng ăn” mà thôi.

Cầm bảng danh sách trên tay, tên cán bộ nói rằng thiếu tá Thu là tác giả bức tượng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nhưng tại sao lại không khai báo. Và phải cho anh ta biết, lý do tại sao ông lại làm ra bức tượng này. Điêu khắc gia Thu trả lời vì ông là một quân nhân trong QLVNCH, ông làm bức tượng Thương Tiếc là để cùng người dân miền Nam tỏ lòng thương tiếc sự hy sinh của các chiến sĩ chiến đấu cho tự do. Tên cán bộ lại hỏi, tại sao lại làm bức tượng Ngày Về. Ông giải thích cho tên cán bộ nghe rằng, đời lính hành quân nay chỗ này, mai chỗ kia, vài ba tháng mới được phép về thăm vợ con một lần. Ông làm tượng Ngày Về để nói lên sự vui mừng khi vợ chồng gặp lại nhau, thì đâu có gì gọi là không tốt.

Tên cán bộ quản giáo đề cập đến bức tượng An Dương Vương và thành Cổ Loa là biểu tượng của ngành Công binh QLVNCH với những lập luận ngây ngô. Tên cán bộ nói với Nguyễn thanh Thu, An Dương Vương là người lập quốc, còn bác Hồ là người giữ nước. Vậy tại sao ông không ghép hình bác Hồ vào. Ông trả lời tên cán bộ rằng, lúc làm tượng An Dương Vương ông đâu biết bác Hồ là ai, là người nào, nên không thể ghép vào được. Nghe nói vậy, tên cán bộ xám mặt lại, hắn ta ra lệnh cho ông đứng đó không được đi đâu hết. Tên này chạy về văn phòng gọi thêm 6 tên cán bộ nữa, súng ống đầy đủ, chạy đến chỗ Nguyễn thanh Thu đứng. Trong 6 người này có một tên là chính trị viên đã gằn giọng hỏi: “Khi nảy anh đã nói gì với anh Sáu ”. NTT trả lời: “Tôi không có nói gì hết”. Tên chính trị viên nói tiếp: “Anh Sáu cho tôi biết anh nói là dân Sài Gòn, người miền Nam không ai biết bác Hồ. Vì không biết nên anh không thể làm tượng bác kèm với An Dương Vương, có đúng không?”. Điêu khắc gia chay-loan-2Thu trả lời “Đúng vậy”. Nghe trả lời như thế , tên cán bộ chính trị viên nói cho ông 5 phút định trí, để nói lại. Đồng thời tên này còn hỏi gằn: “Anh bảo rằng anh không biết bác Hồ phải không?”. Thiếu tá Thu thẳng thắn trả lời: “Tôi không biết mặt, biết tên ông này”. Tên cán bộ nói : “Nếu anh không biết, tôi cho anh biết ”. Sau đó, chúng lôi điêu khắc gia Thu về văn phòng đánh đập tàn nhẫn liên tục trong ba ngày, ba đêm. Tuy bị đánh đập dã man, nhưng thiếu tá Thu chịu đựng và im lặng không lên tiếng gì hết. Thấy vậy một tên cán bộ nói: “ Bây giờ mầy nói về hai chữ Tự Do cho chúng tao nghe coi ”. Thiếu tá Thu bấy giờ mới lên tiếng: “ Nếu tôi không nói thì cán bộ nói tôi khinh, nhưng khi tôi nói thì cán bộ không tin. Bây giờ, tôi nói về Tự Do cho cán bộ nghe. Người miền Nam có tự do là họ được đi đứng dễ dàng, ăn nói thoải mái không có bị khó dễ gì hết. Còn những người CS các anh cũng có tự do, nhưng chỉ có những chữ viết trên các cổng ra vào được sơn son thiếp vàng, chỉ có trên vách tường tại các văn phòng làm việc, chớ người dân thì không có ”. Nghe nói vậy, bọn VC lại ra tay đánh đập NTT một trận tơi bời, đỗ máu mũi. Sau đó, chúng đem nhốt ông vào “cô–nét ”. Ông cho biết, sau nhiều tháng trong “cô-nét” ông chỉ còn xương và da, đứng lên muốn không nổi.

Một tình cảm khó quên

Một ngày nọ, vào khoảng 4 giờ sáng cửa “cô–net” được mở ra, và một họng súng AK chĩa ngay vào thiếu tá Nguyễn thanh Thu , rồi một giọng ra lệnh cho ông bước ra. Ngoài trời tối đen, lờ mờ sáng, ông đứng không vững khi bước ra cửa “cô-net” nên bị hụt chân té qụy. Tên cán bộ ra lệnh cho điêu khắc gia Thu đứng dậy và giơ tay ra để cho chúng móc còng vào. Sau đó, ông được bốn tên cán bộ kè đi về phía cổng trại để vào khu rừng chuối kế bên. Đang đi bổng nhiên có một chiếc xe Jeep chạy tới đèn pha sáng choang làm chói mắt mọi người. Chiếc xe Jeep ngừng lại tắt đèn, có tiếng nói chuyện trao đổi giữa hai bên chừng 5 phút. Sau đó, toán dẫn cán bộ quay lại bịt mắt ông và tiếp tục kéo lết đi vào rừng chuối. Đến nơi, tên cán bộ kéo thiếu tá Thu nhốt vào một nhà cầu của khu gia binh của VNCH bỏ hoang từ lâu. Quá mõi mệt nên ông đã ngủ thiếp lúc nào không hay. Gió theo khe hở thổi làm ông tỉnh dậy, qua khe hở ông thấy trời đã sáng và biết mình chưa chết. Thiếu tá Thu cười nói rằng, bị nhốt ở trong cầu tiêu nhưng ông cảm sung sướng, thoải mái hơn là lúc bị nhốt ở “cô–net” nhiều.

Kể tới đây, điêu khắc gia NTT cười và cho biết từ đó không ngờ lại xảy ra “Những tình cảm khó quên”. Ông kể tiếp là vào buổi trưa hôm đó, một cô gái người Bắc tay cầm chén cơm, bịch muối và đôi đũa tre đến mở cửa cầu tiêu đưa cơm cho ông ăn, nhưng cô ta mở không được vì bên trong ông đã móc cửa lại. Bên trong, ông hỏi vọng ra “Cô là Bắc kỳ phải không, nhưng Bắc kỳ nào? Bắc kỳ 54 hay Bắc kỳ giải phóng”. Cô gái trẻ khoảng 22, 23 tuổi trả lời: “Này nhé, tôi là chị nuôi của ông. Đem cơm cho ông ăn mà ông hỏi tôi như thế”. Nói xong cô ta cầm chén cơm bỏ ra về. Khoảng 3, 4 phút sau, một tên cán bộ đến ra lệnh cho ông phải mở cửa ra và mắng: “Lúc nào cũng láo khoét. Tha chết cho rồi mà còn láo khoét”. Nói xong tên cán bộ bỏ đi. Vào buổi chiều cô gái trở lại, thiếu tá Thu nhủ thầm trong bụng là không giỡn nữa, vì giỡn sẽ đói. Khi cô gái mở cửa bỏ phần cơm vào, ông phân trần với cô là ông chỉ giỡn một chút mà cũng đi mét.

Qua ngày kế, một tên cán bộ và hai người tù đến chỗ nhốt thiếu tá Thu, dùng đồ nghề khoét một cái lỗ vuông nhỏ trên cửa cầu tiêu. Xong đâu đó, tên cán bộ nói: “Từ nay không mở cửa nữa. Mỗi lần tới giờ cơm, anh dùng miếng gỗ đưa cái chén cũ ra và sẽ nhận được chén cơm mới đưa vào qua cái lỗ này”. 11 giờ trưa hôm đó “chị nuôi” của điêu khắc gia Thu đem cơm và muối đến cho ông. Theo như lời dặn, thì thiếu tá Thu khi nhận chén cơm mới ông phải trả cái chén không lại, nhưng ông không làm điều này. Cô gái lên tiếng hỏi, nhưng ông không trả lời. Cứ như vậy hai ba ngày liên tiếp, ông giữ lại tất cả 7 cái chén. Một hôm cô gái phàn nàn: “Ông giữ hết chén thì tôi đâu còn chén để đựng cơm cho ông”. Nghe vậy, thiếu tá Thu cuời nói: “Nếu cô muốn tôi trả lại mấy cái chén thì phải có điều kiện”. Cô gái hỏi: “Điều kiện gì?” Ông đáp: “Cô để bàn tay của cô lên tấm ván đưa cơm cho tôi rồi đưa vào cho tôi thấy” . Sau vài giây tần ngần, cô gái làm theo điều kiện của điêu khắc gia Thu. Ông đã tinh nghịch dùng đôi đũa tre đụng vào bàn tay của cô gái rồi sau đó đưa trả 7 cái chén cho cô gái. Cô gái ngạc nhiên hỏi: “Chỉ có vậy thôi à!”. Ông trả lời: “Chỉ có vậy thôi!”. Cô gái bỏ về.

Trong lúc thiếu tá Thu đang ngồi ăn cơm, thì cô gái trở lại với một bà già đi phía sau. Đến trước cửa cầu tiêu, nhìn vào lỗ đưa cơm bà già nói: “Ông này, con Lan nó đem cơm cho ông ăn, thế mà ông còn lấy đũa chích vào tay nó. Là cái gì vậy? Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cười nói: “ Vậy mà cũng không biết”. Nghe vậy bà cụ phàn nàn: “Ông làm kỳ quái quá ai mà biết được”. Bị hỏi dồn nhiều câu, Thiếu tá Thu nói nhỏ: “ Là yêu đấy!”. Nghe như vậy người con gái tên Lan đỏ mặt thẹn thùng, vội vả quay lưng bỏ đi.

Qua ngày hôm sau, cô gái tên Lan lúc đem cơm đến cho điêu khắc gia Thu, cô nhỏ nhẹ và tha thiết nói: “ Anh Thu à! Em khuyên anh, anh thôi đừng có “anh hùng” nữa. Như vậy, thiệt thòi cho anh lắm anh có biết không? Chúng nó đã tha chết cho anh đấy!” Rồi cô nói tiếp, giọng run run: “ Em thương mấy anh sĩ quan cải tạo các anh lắm. Kể từ nay, đến giờ cơm em sẽ để cục thịt nằm ở đáy chén. Khi em đưa cơm vào, anh hãy tìm cục thịt ăn liền trước nha! Để đề phòng cho cả em và anh không bị cán bộ bắt gặp làm khó dễ”.

Thiếu tá Thu cảm động hỏi: “ Cô Lan! Làm sao cô biết chúng nó tha chết cho tôi?” Cô gái khẻ nói: “Này nhé! Anh còn nhớ không? Khoảng 4 giờ sáng hôm đó, gần nhà bếp, em thấy đèn pha của chiếc xe Jeep chạy ngang. Và khoảng nửa tiếng sau, có bốn cán bộ súng ống trên vai bước vào nhà bếp bảo em pha cà phê cho họ uống. Họ kể cho em nghe là đáng lẽ có một tù nhân bị đưa đi bắn.. Nhưng sau đó bỗng nhiên “có lệnh hồi”. Nên tù nhân này được lôi vào nhốt tạm thời trong một cầu tiêu của một trại gia binh trước bỏ hoang”. Cô Lan kể tiếp: “ Có một lần em đón đường hỏi các anh đi lao động ngoài rừng về hỏi tại sao anh phạt bị nặng như vậy, thì mọi người cho biết vì anh là tác giả bức tượng “Thương Tiếc” tại Nghĩa Trang Quân Đội Biện Hòa. Nhắc đến bức tượng Thương Tiếc, em không lạ gì bước tượng này, vì hồi đó, chiều nào em và các bạn thường hay chơi quanh gần tượng.

Điêu khắc gia Thu hỏi cô gái: “Cô ở Hố Nai được bao lâu rồi?” Cô Lan kể lể: “Cha em là bộ đội VC ngoài Bắc, vào Nam đánh trận bị bom dội chết trong rừng. Mẹ em đã gánh em vào Hố Nai và em đã lớn lên từ đó”.

Kể đến đó, thiếu tá Thu không dấu được sự xúc động. Ông ngậm ngùi nói: “Cô Lan rất tận tình và tốt với tôi. Những chân tình ấy cùng với những kỷ niệm rất dễ thương tôi luôn trân quý. Cô là nguồn an ủi của tôi trong lúc bị tù đày, trong nỗi đau và sự bất hạnh của một đời người. Tôi rất muốn trả ơn cho cô, nhưng không biết đâu mà tìm. Tôi nghĩ những tình cảm này khó phai nhạt trong đời mình”.

Nỗi lòng biết tỏ cùng ai?

Thiếu tá Thu cho biết vào thời điểm đó, khoảng tháng 8, nhiều đổi thay xảy đến với ông. Một hôm, cán bộ quản giáo gọi ông lên làm việc. Tên cán bộ nói: “Anh Thu, chẳng lẽ anh muốn ở mãi trong thùng sắt sao? Tôi đề nghị là anh đừng nhận mình là tác giả “chính” đã làm tượng “Thương Tiếc” mà anh chỉ là người “phụ” thôi. Người “chính” đã vượt biên đi rồi. Anh viết bản tự thú như vậy, tôi sẽ cứu xét và giảm tội cho anh”. Nhưng ông đã khẳng khái trả lời: “Cám ơn cán bộ đã khuyên tôi, nhưng với tôi tác phẩm Văn hóa Nghệ thuật là con đẻ của mình. Sao tôi lại trốn tránh trách nhiệm và đổ thừa cho người khác? Tôi không thể làm như vậy được”.

Vài ngày sau, một tên cán bộ khác đến gặp ông và ra lệnh cho ông phải làm tượng HCM để kịp ngày Quốc khánh 2/9 của VC. Thiếu tá Thu cho biết là ông nhận lời đề nghị này, vì ông đã có ý định trốn trại. Ông nói với cán bộ quản giáo biết, là muốn làm tượng phải có đủ đồ nghề. Thế là ông được bốn tên bộ đội chở về nhà để lấy đồ nghề. Trên đường về ông xin ghé nhà mẹ mình để thăm bà. Đến nơi, mấy tên bộ đội thì ngồi chuyện trò với cô Hồng em gái của ông ở cửa trước. Còn ông vào nhà gặp mẹ. Hai mẹ con gặp nhau mừng rỡ rối rít. Bỗng bà cụ nghiêm mặt nói:“ Thu à! Má đẻ con ra mà không biết tánh con sao! Con hãy ráng ở trong tù thêm một năm nữa đi. Nếu con mà trốn, má sẽ chết cho con coi”. Nghe mẹ nói như vậy, ông quá sức bàng hoàng, tự nghĩ: “Trời ơi! Bao nhiêu ý định nhen nhúm giờ đây đã tiêu tan. Nỗi buồn tràn ngập trong lòng, vì ông sẽ trở về giam mình trong cái thùng sắt (2m x 1m) sừng sững ngoài trời, tiếp tục chịu đựng thời tíết khắc nghiệt, sức nóng như thiêu đốt của mùa Hạ, hay lạnh giá của mùa Đông rét mướt “.

Theo như thỏa thuận là sau khi được về thăm nhà và lấy đồ nghề, ông sẽ thực hiện điêu khắc tượng HCM. Tin này được nhanh chóng loan truyền trong trại giam. Từ đó, không biết bao nhiêu lời nguyền rủa vang lên làm ông đau khổ vô cùng.

Trước khi ra lệnh bắt ĐKG. Thu làm tượng HCM, cán bộ VC đã liên lạc trước với gia đình thiếu tá Thu. Chúng dàn cảnh cho vợ, con ông được đến thăm viếng đặc biệt. Tuy nghèo nhưng gia đình ông cũng mua thịt vịt quay, bánh mì, bày biện ra để cả nhà cùng ăn trong trại giam. Thật bất ngờ, trong tờ Tin Sáng cũ dùng để gói vịt quay, thiếu tá Thu nhìn thấy hình TT. Nguyễn văn Thiệu. Ông xé tấm hình đó, xếp nhỏ cất vào túi cất. Đến ngày nặn tượng chân dung HCM, thiếu tá Thu lại khắc nét của Tổng Thống Thiệu. Ông cho biết, rất phấn chấn trong lòng và thầm nghĩ: “ Tự mình, trí ta, ta hay, lòng ta, ta biết”.

Sau này, Nguyễn thanh Thu được kể lại. Một buổi chiều nọ, trên đường đi lao động về đám tù nhân đi ngang qua nhìn thấy pho tượng HCM sắp được hoàn tất, họ có vẻ thích thú xầm xì : “ Trời ơi! Tụi mày xem giống TT. Thiệu quá! Giống quá tụi bây ơi!” Tiếng xầm xì làm mấy tên “ăng ten” chú ý. Lập tức chúng trình báo cho cán bộ quản giáo hay.

Khoảng 4 giờ 30 chiều, vào thời điểm bức tượng HCM đang được điêu khắc gia Thu gắn râu mới được một bên mép thôi, thì một tên cán bộ bước đến hỏi: “Tượng sắp xong rồi chứ?” Miệng vừa hỏi, tên cán bộ nhanh tay thò vào túi áo ông lấy mảnh giấy báo có hình TT. Thiệu. Thế là xong! Việc bị đổ bể. Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu lại tiếp tục trở vào thùng sắt nhận thêm bốn tháng biệt giam, bị hành hạ đủ điều. Tại đây, ông kiệt sức, bất tỉnh, được đưa vào trạm bịnh xá.

Tại trạm xá, ông được một tù nhân khác là phi công Đỗ Cao Đẳng, chú của trung tướng Đỗ Cao Trí làm Trưởng trạm xá, và một số học trò cũ của ông, từ thời còn học trung học Võ trường Toản, hết lòng cấp cứu. Nhờ vậy, ba ngày sau ông mới tỉnh lại. Với tình trạng sắp chết, da bọc xương, điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu được VC tha cho về với gia đình kể từ đấy.

Hoài bão không nguôi

Điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu cho biết ông ở tù VC 8 năm. Sau khi ở tù về, ông tìm đủ mọi cách để vượt biên ra nước ngoài. Ông nghĩ rằng qua bên Mỹ ông dễ có cơ hội thực hiện những mộng ước của đời mình. Đó là, dựng lại tượng “Thương Tiếc” nơi quê hương thứ hai. Nhưng trong 15 năm sống tại Mỹ, ông không tìm ra được một mạnh thường quân nào giúp đở. Ông đành buồn bã trở về Việt Nam sinh sống. Ông cảm thấy cô đơn với mơ ước của mình. Nhưng, ông vẫn hy vọng một ngày nào đó sẽ thực hiện được, nên hàng ngày ông cố gắng tập thể thao để tinh thần và thể xác không suy nhược.

Điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu cho biết, khi còn ở Mỹ ông đã có hân hạnh gặp lại TT. Nguyễn văn Thiệu khi TT. Thiệu từ Boston đến Nam Cali thăm viếng và nói chuyện với đồng bào tỵ nạn. Tổng thống Thiệu được một người bạn của thiếu tá Thu sắp xếp hướng dẫn đến gặp nhà điêu khắc. Khi gặp thiếu tá Thu , TT. Thiệu vồn vả hỏi liền: “ Anh Thu có khỏe không? Tôi nghe nói ở trong tù anh đã làm tượng tôi phải không?” Điêu khắc gia Thu xúc động cho biết, là ông rất ngạc nhiên khi TT. Thiệu bất ngờ hỏi như vậy. Ông đã hỏi lại TT. Thiệu: “Làm sao tổng thống biết được?” TT. Thiệu nở nụ cười hiền hòa: “Làm sao tôi không biết được”. Giây phút gặp gỡ quá ngắn ngủi. Sau đó, vị tổng thống nền đệ nhị Cộng Hoà vội vã từ giã đồng bào ra phi trường trở về Boston cho kịp chuyến bay.

Khi nhắc tới TT. Nguyễn văn Thiệu, thiếu tá Thu mơ màng nhớ về dĩ vãng xa xưa. Vì đó là kỷ niệm mà trong đó có những tác phẩm nghệ thuật ông tạo hình, nhờ sự gợi ý của tổng thống Thiệu.

Thiếu tá Thu cho biết, sau 3 tháng khi tượng Thương Tiếc được khánh thành ở Nghĩa Trang QĐ Biên Hòa, TT. Nguyễn văn Thiệu đã tổ chức một bữa tiệc khoản đãi tại Dinh Độc Lập, và đã mời điêu khắc gia Thu đến dự. Trong khi trò chuyện với ĐKG. Thu , TT. Thiệu chỉ bồn nước phun trước Dinh Độc Lập ,và nói muốn làm một biểu tượng gì đó.

Kể đến đây, ĐKG. Thu không nén được xúc động và thành thật nói: “ Trông TT. thật tội nghiệp với vẻ buồn lo của ông”. Trầm ngâm một chút, TT. Thiệu nói với điêu khắc gia Thu: “ Anh nghĩ xem, xứ mình đang ở trong tình trạng chiến tranh. Người lính thì đang sống, chết ngoài tiền tuyến. Biểu tượng Thương Tiếc đặt tại Nghĩa Trang QĐ đã tạm yên. Nhưng, tôi nghĩ mình còn phải làm thêm một cái gì đó nữa, để giáo dục mọi người… Xin lỗi , người dân nhiều khi cũng thờ ơ với cuộc chiến lắm nên tôi muốn có một tác phẩm gây ý thức trong lòng người dân. Là dù đang chiến tranh, nhưng chúng ta cũng biết xây dựng, và biết “TỰ LỰC CÁNH SINH”. Chứ hoàn toàn trông cậy vào viện trợ cũng phiền toái lắm. Anh Thu, anh nghĩ sao ? Anh có thể trình một dự án như ý tôi vừa trình bày không?

Sau khi nghe TT. Thiệu bày tỏ tâm sự trên. Cũng như lần trước, điêu khắc gia N.T.T xin Tổng Thống tuần lễ để làm việc. Và sau một tuần, ông đã làm xong 7 bản vẽ về dự án với đề tài có tên Được Mùa. Được Mùa là hình ảnh “Cô gái ôm bó lúa” vừa mới gặt để diển tả sự trù phú của nông nghiệp miền Nam.

Điêu khắc gia Thu đã làm mẫu bức tượng Được Mùa cao 2m. Nhìn bức tượng cô gái ôm bó lúa với gương mặt hớn hở, hãnh diện với công sức mình đổ ra bằng những giọt mồ hôi, khiến người ta hình dung ra sự giàu mạnh của một nước phát triển nhờ nông nghiệp.

Theo điêu khắc Thu bức tượng Được Mùa, nói lên sức sống trù phú của đồng bằng sông Cửu Long với chín miệng Rồng phun nước. Do đó, tác phẩm này còn có tên là “ Cửu Long Được Mùa”.

Khi nhìn bức tượng mẫu Được Mùa với ý nghĩa của nó, TT. Thiệu chấp thuận ngay. Dự án tượng Được Mùa được thực hiện bằng đồng với tượng cô gái cao 9m, bệ 3m. Kinh phí dự trù là 45 triệu đồng.

Tuy đã chấp thuận, nhưng với số tiền khá lớn đã khiến TT. Thiệu không tránh khỏi lo nghĩ trong khi chiến tranh mỗi ngày càng leo thang. Rồi cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa kéo đến. Mọi chi phí đều phải ưu tiên hàng đầu cho ngân sách Quốc Phòng. Thế nên dự án Được Mùa phải đành gác lại và không được hoàn thành theo mong ước của TT. Nguyễn văn Thiệu.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu ngậm ngùi nói: “Tuy tượng Được Mùa không được ra mắt người dân miền Nam, nhưng quá trình dự án cũng đã thể hiện được cung cách của TT. Nguyễn Văn Thiệu – một nhà lãnh đạo luôn quan tâm đến sự hy sinh của Quân Đội, và tinh thần một nước tự lực, tự cường”.

Tượng mẫu Được Mùa cao 2m được TT. Thiệu chấp thuận từ 1971 , đến nay 2009 vẫn còn tại nhà của điêu khắc gia Thanh Thu. Gần đây nhất vào năm 2006 , dù đã 73 tuổi ĐKG. Thu vẫn khắc thêm tượng Cô Gái Được Mùa” thật sống động. Đây là hình ảnh cô gái với chiếc nón lá, ôm bó lúa tựa vào vai. Được Mùa hay Cô gái Được Mùa, kiểu nào cũng đầy ý nghĩa và đẹp vẹn toàn. Ông quả thật không những là thiên tài nghệ thuật, mà ông còn là một chiến sĩ yêu nước nồng nàn.

Cuối cùng, điêu khắc gia Thu cho biết, đến nay ông vẫn còn băn khoăn về một trường hợp mà ông nghĩ là hơi bất thường. Ông nói cách nay vài năm, có một người ở bên Mỹ về tự xưng là một ông cha đã tu xuất tên là Vũ văn Hoàng tuổi trên 70 mươi. Ông Hoàng cho biết đã cải táng được 18 ngàn ngôi mộ tại tỉnh Bình Dương, cũng như đã giúp đở rất nhiều cho thương phế binh. Ông Hoàng nói là muốn cùng với ông tạo dựng lại bức tượng “Thương Tiếc” cho những phần mộ vừa được trùng tu. Nghe như vậy, ông rất mừng rỡ vì đó là điều ông ôm ấp từ lâu. Sau một tháng gặp gỡ bàng bạc, ông Hoàng có hứa khi trở về Mỹ sẽ báo cho ông biết diễn tiến công việc mà hai người muốn thực hiện. Nhưng, công việc không đi đến đâu và nhiều năm trôi qua ông không còn liên lạc được với ông Hoàng nữa.

Điêu khắc gia tài ba của QLVNCH nói rằng, ông mong khi Xuân Hương về Mỹ sẽ nói cho người Việt hải ngoại biết được ý nguyện của ông. Là người có quốc tịch Mỹ, ông lúc nào cũng sẳn sàng trở qua bất cứ quốc gia nào để thực hiện bức tượng Thương Tiếc. Ông còn tâm sự, ở tuổi 75, nhưng ông ráng sống để một ngày nào đó xây dựng lại tác phẩm Tiếc Thương vì theo ông tác phẩm này, không thể mai một trong hoàn cảnh chính trị “khốn nạn”, là miền Nam bị cưỡng chiếm vào tay bạo quyền Việt Cộng như hiện nay.

Xuân Hương


TƯỞNG NHỚ NGHĨA TRANG BIÊN HÒA

Về thăm Nghĩa trang một chiều gío lộng,
Khung trời xưa chìm đắm ngủ say.
Xa lộ Biên hòa cuồn cuộn gío bay,
Biển đời ai oán, nỗi sầu chứa chan !

Ôi, DŨNG KHÍ ĐÀI âm cảnh mơ màng,
Linh hồn 30,000 Nghĩa sĩ, ngỡ ngàn bơ vơ !
VÀNH KHĂN TANG đẫm lệ sương mờ…
GƯƠM THIÊN lạnh lẽo, ngẩn ngơ gío chiều !

Anh LÍNH TIẾC THƯƠNG, thân ngả bệ xiêu,
Vì thương đồng đội chịu nhiều trái ngan !
ÂM DƯƠNG cách biệt đôi đàng…
Màng đen tội lỗi, bàng hoàng Thần linh.

Bao mầm non trai trẻ, cõi vô hình
Là nơi nương tựa, nghĩa tình nước non.
Niềm tin, sự sống, con cháu Lạc Hồng
Tự do, Hạnh phúc…non sông ba miền.

Với người sống, ỷ thế cậy quyền,
Buồn người khuất mặt..nhãn tiền không sai !
Dòng đời thác nước đổ mau,
Sông sâu ,Biển rộng…một màu trong xanh


TƯỢNG HAI LÍNH VIỆT MỸ

Chúng ta tuy hai mà một,
Vì trái tim chứa đựng MỘT Tình thương.
Trời Wesminster xinh đẹp lạ thường..
Mối tình VIỆT MỸ dưa lưng đội Trời.

Trải qua bôn ba, gian khổ một thời…
Kề vai sát cánh xây đời yêu thương !
Máu xương đổ khắp chiến trường !
Mississipy than thở, Cửu long nghẹn ngào !

Vì cõi đời còn lắm lao đao,
Là sóng phản bội…lật nhào thuyền mơ
Tan tành, chìm đắm..cảnh vật xác xơ !
Kẻ ra đi, người ở lại… lệ mờ lòng đau !

Trời Cali tình bạn nghẹn ngào,
Qua rồi thử thách, ngàn sao sáng ngời.
Những trái tim CÔNG CHÍNH yêu đời,
Lòng tin TƯỢNG ĐÁ, đất trời chứng tri.

Nhìn về tương lai, cùng môt hướng đi
Dắt dìu nhân loại, quản gì khó khăn.!
Mối tình VIỆT MỸ ghi đậm vầng trăng
Bình minh nở rộ, quả đất tròn long lanh.

Nghĩa Trang Quân Đội – Huyền Thoại Về Tượng Thương Tiếc

ThuongTiec

Chuyện hiển linh xưa nay không hiếm, nhưng những huyền thoại về Tượng Thương Tiếc, sống động như chuyện đời thường, chuyện hàng ngày trước mắt, khiến cho ai nghe cũng cảm động nghiêng mình kính cẩn và hết lòng thán phục.

Huyền thoại về Tượng Thương Tiếc được lan toả khắp nơi và khá nhiều chuyện tình tiết khó hiểu:

– Các xe chở rau từ Đà Lạt về khuya thường gặp một người lính ra chặn xe xin mua rau, khi tới bến kiểm lại tiền chỉ thấy toàn là tiền vàng mã.

– Một chuyện khác xảy ra ở Biên Hoà, vào một buổi sáng, có một quân nhân đặt mua bánh mì khá nhiều, khi giao hàng cho người quân nhân ra về, người chủ cất tiền vô tủ, đến lúc cần tiền lấy hàng, mở tủ ra chỉ thấy toàn tiền vàng mã, trong khi đó mỗi mộ ở nghĩa trang đều được cúng một khúc bánh mì…

– Có một cụ già ở chân núi Châu Thới, đêm nọ trời đã khuya, cụ nghe tiếng gọi ở ngoài xin nước uống. Khi đem nước và đèn ra cho người xin nước, thoạt đầu cụ tưởng như những lần quân đội hành quân vào xin nước. Nhưng khi người lính uống xong, ngẩng mặt lên cám ơn ra đi thì cụ chợt sửng sốt, tự nghĩ “sao lại có người lính giống Tượng Thương Tiếc đến như thế?”. Sáng hôm sau cụ già ra nghĩa trang để kiểm lại, cụ nhận thấy mặt mũi vóc dáng anh lính xin nước tối qua y hệt pho tượng Thương Tiếc, vết sình non hãy còn dính đầy đôi giầy trận, cụ cho rằng đêm qua bức tượng đã hiện thành người. Cụ về thuật lại với bà con ở Suối Lồ Ô, một người đi xem rồi về đồn mười, đồn trăm… lan khắp cả Thủ Đức, Tân Vạn, Biên Hoà, đổ nhau đi coi tượng đài Thương Tiếc làm xe cộ kẹt cứng cả một quãng đường trước cổng nghĩa trang.

– Một chuyện khác, những đêm trăng, những đêm mưa gió trở trời hiu hắt, dân chúng xung quanh vùng nghĩa trang có người nhất quyết chính mắt họ trông thấy người lính giống hệt Tượng Thương Tiếc đi lại trên xa lộ!

Chuyện huyền bí lan truyền rất nhiều trong dân chúng và trong Quân Đội. Một số sĩ quan yêu cầu Chuẩn Úy Thường Vụ Chung Sự Nghĩa Trang cho biết những gì thật sự mắt thấy tai nghe, Chuẩn Úy Thường Vụ Kể:

“Nhân một hôm đi Chợ Tam Hiệp sắm đồ giỗ ông già, khi mua xong, tôi cho tài xế đem về nhà trước. Tôi ghé thăm các bạn ở Tam Hiệp và mời họ đến nhà ăn giỗ ngày hôm sau. Khi về, trời sẩm tối, đến cổng nghĩa trang, tôi nghỉ chân dưới bức tượng. Không biết cao hứng thế nào, trước khi lội bộ về nhà, tôi nhìn lên tượng, và nói với giọng điệu cố hữu của một Thượng Sĩ đại đội:

– Ê mày, mai giỗ ông già tao, mày có rảnh ghé nhà tao 2 giờ chiều nhậu chơi.

Nói xong tôi bước về nghĩa trang vì tôi ở phía sau khu nhà phục dịch chung sự. Tám giờ sáng hôm sau, việc cúng giỗ bắt đầu và tiệc nhậu kéo dài đến một giờ chiều. Tiễn khách ra về xong, tôi đi ngủ, phần vừa say, phần vì đêm qua thức khuya. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi nghe tiếng gõ cửa ầm ầm. Nhà cửa rung rinh, tôi giật mình la to:

– Ai phá nhà tao đó?

Tiếng gõ cửa vẫn không dứt, tôi bực bội đứng dậy mở cửa, tôi sửng sốt, thấy Tượng Thương Tiếc đứng chình ình trước cửa và nói:

– Chuẩn Úy Thường Vụ Bê bối quá, kêu hai giờ chiều đến nhậu, nhưng ông nằm say sưa ngủ tôi nhậu với ai?…

Tôi hoảng, đóng sập cửa lại, không dám ngó ra ngoài. Tôi nghe tiếng cười khằng khặc và bước đi rung rinh nhà, tiếng chân xa dần rồi im bặt”.

Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Đại Đội Chung Sự Nghĩa Trang Biên Hoà kể trường hợp ông gặp Tượng Thương Tiếc ngồi sau xe Jeep của ông:

“Khi chạy xe vào Nghĩa Trang, tôi hay dừng lại, đón những binh sĩ đi bộ từ cổng vào, cho họ đỡ mỏi chân. Một buổi trưa, ăn cơm xong, trở lại làm việc, lúc tới cổng nghĩa trang, tôi dừng xe đón một Hạ Sĩ xin quá giang. Lúc anh ta ngồi vào phía sau, tôi bắt đầu rồ ga, sang tay số tiếp tục chạy vào trong. Rồ ga hoài mà xe không tiến thêm một tí nào… Tôi quay ra, định nhờ anh lính xuống đẩy giùm… thì thấy bức Tượng Thương Tiếc đang ngồi phía sau. Tôi chưa kịp phản ứng gì thì có tiếng nói cất lên:

– Xe jeep Thiếu Tá sao chở nổi tôi…

Tiếp đó là một tràng cười khằng khặc, đồng thời bức tượng cũng biến mất”.

Vị Thiếu Tá còn kể tiếp:

“Nghĩa trang ở trên đồi vào tháng mưa cỏ mọc um tùm nên phải thuê người vô cắt cỏ. Trong lúc một cô đang cắt cỏ, có một anh binh sĩ đến tán tỉnh, vì quen với lối trêu chọc của lính nên cô chẳng thèm quay lại xem hình dáng người tán tỉnh mình là ai. Cô nghe tiếng người lính hỏi:

– Cô có biết tôi là ai không?

Cô gái vẫn cắm cúi làm việc và trả lời:

– Ông là ai, kệ ông chứ mắc mớ gì tôi…

Bỗng cô gái nghe một tràng cười ngạo nghễ từ phía sau và những bước chân thật nặng nề rung chuyển cả đất. Bấy giờ cô mới quay lại, thấy bức tượng đài kỷ niệm đang đứng trước mặt. Cô la hoảng, chạy vào khu làm việc, kể lại sự tình vừa xảy ra cho tôi nghe, đồng thời cô cũng xin nghỉ việc ngay ngày hôm đó…”

– Một chuyện khác: “Vào giữa một đêm trăng mờ năm 1968, một chiếc xe đò chở đầy hành khách từ miền Trung về, khi tới xa lộ còn cách nghĩa trang quân đội 500 thước, viên tài xế bị ngủ gật nên thắng gấp, khiến bánh xe trợt một đoạn dài, rồi lật nghiêng. Trong lúc mọi người đang khóc than, đang tìm cách đập vỡ cửa kiếng chui ra, thì chợt có tiếng nói vang lên:

– Xin đồng bào bình tĩnh… xin đồng bào bình tĩnh… ai đâu ở đó… đã có lính nhảy dù đến cứu bồ.

Tiếng nói vừa dứt thì xe được đẩy lại dựng đứng như cũ, anh tài xế cùng lơ xe và khách vừa mở cửa ra ngoài, vừa hết lời khen sức mạnh ghê gớm của đại ân nhân. Thế nhưng mọi người chỉ thấy ân nhân dáng người cao lớn đứng sừng sững bên kia đường, rồi ông ta bước từng bước rất dài về phía trước. Tới trước cửa nghĩa trang quân đội thì biến mất. Anh tài xế bỗng la thất thanh, chỉ vào Tượng Thương Tiếc:

– Bà con ơi… ổng đó… ổng đó… Trời ơi… trời ơi… ổng hiển linh cứu bà con mình.

Thế là mọi người vội leo ngay vào trong xe, rồi ai nấy đều chắp tay lạy… đều đọc kinh râm ran… cả kinh Phật lẫn kinh Chúa”.

– Chuyện Tượng Thương Tiếc cứu người bị cướp: “Vào lúc 10 giờ tối tháng 3 năm 1969, có hai cặp tình nhân đi trên hai chiếc Honda ra xa lộ hóng gió, gần tới nghĩa trang thì bị ba chiếc khác chở 6 thanh niên tóc dài ép té bên đường. Liền sau đó 3 tên ngồi phía sau nhảy xuống dùng dao uy hiếp khổ chủ để cướp xe và lấy tiền. Trong lúc bọn cướp cạn đang trói các nạn nhân, thì bỗng có tiếng hét lớn trên đầu dốc:

– Chớ làm càn… chớ làm càn.

Rồi liền đó xuất hiện ở giữa đường xa lộ một bóng đen… Bóng đen khệnh khạng đi tới, một tên cướp hoảng hốt gào lên:

– Ối giời ơi… ma ma, chạy… chạy…

Thế nhưng không làm sao chúng chạy được, cứ thế đứng sững như trời trồng, bóng đen hai tay xách bổng hai chiếc Honda bỏ bên vệ đường, vừa lúc đó có bốn chiếc xe chạy đến, một xe Cảnh Sát đi tuần, một xe Jeep của bốn quân nhân nhảy dù, trên có một Trung Tá, còn hai xe kia là du lịch. Thấy chuyện lạ, các xe ngừng hết lại. Dưới bóng tối mờ mờ mọi người thấy trên đỉnh dốc có một bóng đen đứng hiên ngang lừng lững. Khi rõ chuyện, Cảnh Sát đến chỗ bọn cướp, đứa nào đứa nấy cứ như bị điểm huyệt. Một người lớn tiếng hỏi:

– Còn ai đứng ở trên kia đó…

Một tràng cười vang lên, rồi một giọng như sấm động…

– Cố gắng, Nhảy Dù… cố gắng.

Như hiểu ra chuyện, vị Trung Tá Nhảy Dù trấn an mọi người:

– Không sao đâu, pho tượng Thương Tiếc đi tuần thôi.

Sau đó ông vẫy tay la to:

– Về nghỉ đi em, khuya rồi… Nhảy Dù…

Bóng đen bỗng đứng nghiêm giơ tay chào:

– Cố gắng… Tuân lệnh Trung Tá”.

Tôi chợt nhớ một đoạn trong bài học thuộc lòng thời xa xưa:

Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.
Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một dãy sơn hà gấm vóc!

Chuyện hiển linh xưa nay không hiếm, nhưng những huyền thoại về Tượng Thương Tiếc, sống động như chuyện đời thường, chuyện hàng ngày trước mắt, khiến cho ai nghe cũng cảm động nghiêng mình kính cẩn và hết lòng thán phục. Sống nằm gai nếm mật bảo vệ quê hương, chết hồn thiêng còn hiện về giúp người hoạn nạn… Dù có bị làm nhục phỉ báng cũng không quên vai trò của người lính chiến.

Trần Công Nhung

Đà Lạt và những kỷ niệm về Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam — Lê Đình Cai Gs. VHV

Bây giờ, trên xứ lạ quê người, khi tóc đã hoa râm, ngồi đếm bóng thời gian chờ ngày trở về với cát bụi, lòng người đôi khi chùng xuống với những hồi ức xa xăm ….
Tháng 4/1968, sau khi đệ trình luận án Cao học Sử học (*) tại Đại học Văn Khoa Sài gòn cá nhân tôi chính thức được bổ nhiệm vào làm việc tại văn phòng đệ nhất Phó Chủ Tịch Thượng Nghị Viện. Cũng vào đầu tháng 10 năm nầy, tôi được Viện Đại học Đà Lạt mời lên giảng dạy tại Phân khoa Sử học kể từ niên khóa 1968-1969. Cũng xin được ghi lại vào thời điểm đó (1968), trong khi các trường Đại học Luật khoa và Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Sài gòn đều đã mở các lớp tiến sĩ và đã cấp văn bằng Tiến Sĩ cho các sinh viên thuộc các ngành nầy, thì trường Đại học Văn khoa Sài gòn vẫn chưa mở được cấp tiến sĩ.
Chúng tôi đã hòan tất chương trình Cao học từ 1968 nhưng mãi đến năm 1972 mới được ghi danh lớp tiến sĩ đầu tiên niên khóa 1972-1975 tại trường Đại học Văn khoa Sài gòn. Riêng vị đàn anh trong ngành của chúng tôi là GS Phạm Cao Dương, người lấy văn bằng Cao học sử đầu tiên tại Đại học Văn khoa Sài gòn đã phải ghi danh học Tiến sĩ tại Đại học Paris (Pháp).
Vào khỏang giữa tháng 10/1968 tôi giã từ thủ đô Sài gòn, lên xứ hoa đào để khởi sự những ngày đầu trên bục giảng của trường Đại học Văn khoa Đà lạt. Cũng vào dịp nầy tại trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, khóa 22 đã phân ra thành khóa 22A và khóa 22B. Khóa 22B theo học chương trình 4 năm như các sinh viên trường Võ Bị Westpoint của Hoa kỳ vậy.
Thiếu tướng Lâm Quang Thi vị chỉ huy trưởng của trường Võ Bị Quốc Gia vào thời đó đã có công rất lớn trong việc vận động để văn bằng tốt nghiệp VBQGVN được công nhận tương đương với Cử Nhân Khoa Học Nhân Văn và tương đương với Kỹ sư khoa học kỹ thuật. Tướng Thi đã phải tham gia nhiều cuộc họp với Hội đồng liên viện Đại học Sài gòn, Huế và Cần thơ để trình bày chương trình học về văn hóa của trường theo hệ thống tín chỉ (credit system). Người ủng hộ mạnh mẽ nhất trong việc công nhận văn bằng tương đương nầy cho sinh viên trường VBQGVN là Giáo sư Lê Thanh Minh Châu, Viện Trưởng Đại học Huế.
Kết quả là văn bằng tốt nghiệp của các sinh viên trường VBQGVN (hệ 4 năm) kể từ khóa 22B đã được Bộ Giáo Dục công nhận là tương đương với văn bằng cử nhân và kỹ sư của các đại học quốc gia thuộc lĩnh vực nhân văn và kỹ thuật. Sinh viên Võ Bị QGVN khi tốt nghiệp đựơc công luận trong xã hội đánh giá là văn võ toàn tài.
Để đáp ứng những điều kiện quy định của Bộ Giáo Dục, Trường Võ Bị QGVN (Đà lạt) đề nghị lên Bộ Quốc Phòng ra thông cáo tuyển dụng các giáo sư dân chính bổ sung vào thành phần giảng huấn đoàn thường trực (permanent teaching staff) cho sinh viên năm thứ tư thuộc khóa 22B khai giảng mùa văn hóa kể từ tháng 12 năm 1968.
Cá nhân tôi có tên trong một Nhiệm Vụ Lệnh do Bộ Quốc Phòng ký vào giữa tháng 10/1968 để trở thành giáo sư của trường Võ Bị QGVN cùng với hai vị giáo sư dân sự khác là Bùi Đình Rị (Thạc sĩ Vật lý Nguyên tử) và Từ Võ Hào (Kỹ sư Điện lực, tốt nghiệp ở Canada).
Được lên dạy học tại Viện Đại học Đà lạt là điều hết sức vui sướng đối với tôi vì hồi đó khi tốt nhgiệp Cao học Sử học tôi mới được 26 tuổi, nhưng phải nói được bổ nhiệm làm giáo sư tại trường Võ Bị QGVN, một trường Võ Bị lớn nhất Đông Nam Á vào thời bấy giờ, là một niềm hãnh diện lớn lao cho tuổi trẻ của tôi khi mới bước vào sự nghiệp đầu đời.
Vì thế trong phần hồi ức nầy, tôi dành để kể lại những kỷ niệm không thể nào quên, liên hệ về ngôi trường Võ Bị thân yêu nầy.
Tôi đáp máy bay từ Sài gòn xuống phi trường Liên Khương vào một buổi chiều mùa đông, mưa lất phất và trong cái lạnh tê cóng của vùng Cao nguyên Đà lạt. Tôi đưa mắt nhìn chung quanh núi đồi trùng điệp và những căn nhà sàn của người Thượng nhấp nhô bên vệ đường từ phi trướng về thành phố. Tất cả ẩn hiện trong làn mưa bụi, khiến tôi cảm thấy có một cái gì mất mát trong tâm tư khi đang từ một nơi náo nhiệt của thành đô, lạc bước vào một khung trời yên ắng, với sương mù và buốt giá quanh năm…
Tôi bắt đầu cuộc sống mới tại ngôi nhà số 7 đường Phan Đình Phùng Đà lạt với một vài người bạn, vốn thân quen từ hồi còn học tại trường Nguyễn Hòang Quảng trị.
Ngày hôm sau, tôi liên lạc với anh Bùi Đình Rị và anh Từ Võ Hào để cùng vào trình diện tại Văn Hóa Vụ trường Võ Bị.
Trước mắt tôi, ngôi trường Võ Bị uy nghi, đồ sộ, tọa lạc trên một ngọn đồi cao (ngọn đồi mang số 1515), giữa núi Lapbé Sub và hồ Than thở, được xây cất kể từ 1960. Đây là nơi tụ hội của bao chàng trai khôi ngô tuấn tú, chọn nghiệp kiếm cung để thoả mộng sông hồ. Vào những năm giữa thập niên 1950, khi tôi đang theo học các lớp đệ Thất, đệ Lục… hình ảnh oai phong, lẫm liệt của các sinh viên Võ Bị gốc ở Quảng trị, được phép về thăm quê nhà, xuất hiện trong bộ lễ phục uy nghi màu trắng, cổ cao, có sọc xanh, tua vai vàng, với thanh gươm bên cạnh… trong các dip lễ tại địa phưong đã gây ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn trẻ con của chúng tôi hồi đó. Lớn lên khi đỗ tú tài, tôi đã nộp đơn xin thi vào khóa 18 trường Võ Bị Đà lạt (cùng lúc với Lê Cung Vịnh, Lê Thí, bạn cùng lớp ở Nguyễn Hòang. Vịnh sau lên trung tá thiết giáp, nghe nói mất tích trong khi di tản ở Ban Mê Thuột; Lê Thi sau lên thiếu tá, nghe đâu đã qua Mỹ theo diện HO). Nhưng vào thời gian đó, anh ruột của tôi là Lê Đình Đàn lại vào học khóa 12 trường Sĩ quan Bộ Binh Thủ Đức nên ông thân sinh tôi khuyên tôi bỏ ý định nầy đi. Mộng ước trở thành SVSQ Võ Bị của tôi đành gác lại. Thế rồi, gần 8 năm sau tôi lại trở về ngôi trường nầy trong cương vị của một giáo sư Văn Hóa Vụ. Nghĩ lại, định mệnh của một đời người có những trùng phùng thật thú vị…
Trở lại buổi trình diện với Thiếu Tướng Lâm Quang Thi, chỉ huy trưởng trường VBQGVN vào thời đó là kỷ niệm mà tôi không thể nào quên được. Ba anh em chúng tôi (Bùi Đình Rị, Từ Võ Hào, Lê Đình Cai) vào một buổi sáng trong tháng 10 năm 1968 đến trình diện Chỉ Huy Trưởng. Chúng tôi ăn mặc chỉnh tề, veston, cà vạt hẳn hoi, được đưa vào văn phòng của Thiếu Tướng. Riêng cá nhân tôi có mang theo hai bức thư, một của Nghị sĩ đệ I Phó Chủ Tịch Thượng Nghi Viện, Hoàng Xuân Tửu gởi gắm cho Thiếu Tướng Thi; một của Nghị sĩ Nguyễn Văn Ngải (sau là Bộ Trưởng Bộ Xây Dựng Nông Thôn) gởi gắm cho Đại Tá Nguyễn Vân, Văn Hóa Vụ Trưởng. Cả hai bức thư nầy tôi đều giữ lại để làm kỷ niệm.
Khi vị sĩ quan tùy viên giới thiệu chúng tôi với Thiếu Tướng Lâm Quang Thi, chúng tôi thấy sắc mặt ông lạnh như tiền, với cái nhìn hết sức xa cách, ông lên tiếng “xin chào quý vị”. Rồi ông vẫn ngồi ở chiếc bàn có tấm biển khắc hai sao bạc và tên của ông, để bên cạnh một lá cờ đuôi nheo. Ông không đứng dậy để bắt tay chúng tôi. Ông cứ ngồi tại chỗ nói về một số điều liên quan đến kỷ luật của nhà trường, đến nhiệm vụ của các giáo sư văn hóa vụ… Tôi nhìn kỹ thấy ông có cái uy của một vị tướng chỉ huy. Chúng tôi, cả ba anh em, đứng im nghe ông chỉ thị khỏang gần 20 phút. Tự nhiên tôi đưa tay xin phát biểu: “Thưa Thiếu Tướng, xin Thiếu tướng cho chúng tôi ngồi xuống kẻo chúng tôi đứng lâu qúa rồi.” Khi đó Tướng Thi mới lên tiếng: “À, xin lỗi, mời qúy vị ngồi” và ông rời ghế qua ngồi cùng chúng tôi ở bàn salon tiếp khách.
Sau khi trình diện, chúng tôi trở lại khu Văn Hóa Vụ, bắt đầu nhận lãnh giáo trình để chuẩn bị giảng dạy.
Với phản ứng của mình vừa rồi với Tướng Thi, tôi nghĩ là chắc ông sẽ có ác cảm với tôi, Nhưng hồi ấy tôi còn trẻ, chưa lập gia đình nên trong lòng tôi nghĩ sao thì làm vậy, không lường đến hậu qủa.
Sau vài tháng chuẩn bị, tôi chính thức giảng dạy môn quân sử học (military history) cho các khóa 22B, 23, 24, 25….
Tôi nhớ lại thêm một kỷ niệm nữa… Vào một buổi sáng khỏang 10 giờ, một cuộc họp tòan thể giáo sư Văn Hóa Vụ được tổ chức tại hội trường với sự chủ tọa của Thiếu Tướng Lâm Quang Thi. Hồi đó giáo sư văn hóa vụ ngòai một số dân sự như chúng tôi ra, đa số là các giáo sư bị động viên rồi được biệt phái lên giảng dạy tại trường và họ phải mặc quân phục, theo kỷ luật quân đội như trong một quân trường. Còn chúng tôi vẫn mặc thường phục và chỉ có mặt ở trường khi có giờ dạy mà thôi.
Tướng Lâm Quang Thi, sau khi trình bày một số vấn đề liên quan đến việc dạy dỗ sinh viên, ông nhìn qua mấy anh em dân sự và nói: “Tôi muốn kể từ tuần tới, các vị giáo sư dân sự nầy phải hớt tóc ngắn như các vị sĩ quan, chứ không thể để tóc dài chải tém như thế nầy được.”
Tôi cảm thấy đây là một mệnh lệnh không hữu lý nên xin phát biểu. “Thưa Thiếu Tướng, chúng tôi là các giáo sư dân sự, hiện đang dạy tại Đại học Đà lạt, được Bộ Quốc Phòng điều qua dạy văn hóa tại Trường Võ Bị nầy. Xin Thiếu Tướng cho phép chúng tôi được hớt tóc theo kiểu dân sự. Thiếu tướng nghĩ sao khi chúng tôi mặc veston, cà vạt mà lại hớt tóc qúa ngắn theo kiểu các sĩ quan thì coi sao được”. Nghe xong,Thiếu Tướng Thi im lặng…
Sau khi cuộc họp giải tán, Bùi Đình Rị đến nói với tôi; “Sao cậu liều vậy, ông Tướng sẽ đì cậu sói trán.”
Những ngày sau đó tôi cũng lo lắng không biết rồi ông Tướng sẽ có biện pháp gì với mình đây? Với quyền uy sinh sát trong tay, vị Tứơng chỉ huy của ngôi trường nầy có thể đẩy đưa định mệnh của đời tôi vào ngõ tối… Tôi lo lắng chờ đợi. Nhiều lần tôi định mang bức thư của Nghị sĩ đệ I Phó Chủ Tịch Thượng Viện gởi gắm để trình lên ông. Nhưng mỗi lần như thế lương tâm tôi lại chống đối.
Nhiều bạn giáo sư đang khoác áo sĩ quan trong Văn Hóa Vụ cũng nói với tôi là cậu liều quá, chống lại lệnh của vị tướng chỉ huy trưởng như vậy là sẽ lãnh đủ…
Tôi chờ đợi… Một tuần, rồi hai, ba tuần… Không có gì xẩy ra cả. Tôi vẫn lên bục giảng và tiếp tục trách nhiệm giảng huấn của mình.
Vào giữa năm 1971, tôi đổi về dạy tại trường Đại học Văn khoa Huế và tại đây trong một dịp đón tiếpTrung Tướng Lâm Quang Thi, bấy giờ là Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đòan I, đến thăm viếng Đại học Huế, chúng tôi lại được dịp găp nhau và Tướng Thi rất vui vẻ: “Lại gặp ông giáo sư ở đây nữa rồi…”
Khi qua Hoa kỳ vào cuối năm 1994, tôi có dịp gặp lại Tướng Lâm Quang Thi nhiều lần trong các cuộc họp mặt gia đình Võ Bị Đà lạt tại San Jose . Và trong một dịp ra mắt sách năm ngoái tại Trung tâm Vivo về cuốn “Hell in An loc” của ông, tôi đã kể lại câu chuyện trên đây và hướng về ông Tướng, nguyên chi huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia, tôi phát biểu: “Thưa Trung Tướng, trong lòng tôi luôn giữ mãi niềm cảm phục đối với vị Tướng mà đã có lần trong đời mình làm việc dưới quyền. Lòng cao thượng và sự độ lượng của Trung Tướng mà tôi được cảm nghiệm, sống mãi trong tâm tư mình từ ngày ấy cho đến nay, dù biết bao đổi thay đi qua trong một đời người. Đằng sau khuôn mặt lạnh lùng của một vị Tướng với quyền uy sinh sát trong tay là một con người vị tha, đầy nhân bản. hình ảnh nầy của Tướng Lâm Quang Thi đã theo tôi từ tuổi thanh xuân cho đến bây giờ…

Những ngày tháng ở Đà Lạt thật là tuyệt diệu. Thời khắc biểu hàng tuần của tôi vào những ngày thứ hai, tư, sáu là dạy tại Trường Võ Bị về môn quân sử học cho năm thứ 3 và 4 thuộc khóa 22B, khóa 23, 24…. Thứ ba và thứ năm, phụ trách giảng dạy môn “34 năm cầm quyền của Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725 )” cho sinh viên năm cuối ngành Cử Nhân Sử Học, và môn Phương Pháp Sử cho sinh viên năm thứ nhất. Tôi luôn luôn mặc veston, thắt cà vạt, khuôn mặt lúc nào cũng cố giữ nghiêm nghị vì nhiều sinh viên lúc đó lớn tuổi hơn tôi, (một số vị là linh mục, là đại đức, và có các vị đã là giáo sư của các trường trung học …), điều nầy khiến một số bạn bè thường đùa là tôi đã già trước tuổi.
Mỗi buổi sáng, trường Võ Bị đều có xe búyt đưa rước các giáo sư và nhân viên hành chánh từ thành phố đến trường vào lúc 7:00 trước chợ Hòa Bình và trở lại thành phố khỏang 4:30 chiều. Đi xe búyt thì ấm áp vô cùng vì trời Đà lạt rất lạnh vào sáng sớm nhưng cũng có điều bất tiện là phải đúng giờ và phải đến chiều khi tan sở mới trở về. Trong khi chúng tôi, có những lúc chấm dứt giờ dạy rất sớm. Vì thế, sau đó tôi đã sử dụng xe Honda để đến trường, nhưng phải trùm đầu, nai nịt thật ấm, hai tay phải mang găng mới dám vượt đọan đường khá xa từ Phan Đình Phùng (đọan gần Bệnh Viện thành phố), vòng quanh bờ hồ Xuân Hương, vượt qua nhà ga Đà Lạt, qua hồ Than Thở, rồi mới tới khu đồi của trường Võ Bị… Lạnh ơi là lạnh, nhưng cảm giác vô cùng thú vị.
Tôi đã dạy học ở đây gần hết một niên khóa. Mùa hè năm 1969, tôi quyết định về Huế cưới vợ. Nhà tôi là một nữ sinh trường Đồng Khánh, tôi quen trước đó ba năm, và đang là sinh viên năm thứ nhất trường Đại Học Khoa Học Huế. Lễ cưới của chúng tôi được cử hành vào tháng 5 tại tư gia và buổi tiếp tân vào buổi chiều được tổ chức tại Câu Lạc Bộ Thể Thao Huế bên cạnh dòng Hương giang thơ mộng.
Vài hôm sau, nhà tôi theo tôi lên Đà Lạt. Một kỷ niệm đáng nhớ, bạn bè chúng tôi đã tổ chức một bửa tiệc ra mắt cô dâu, hiền thê của tôi. Tham dự gồm quý bằng hữu, các sinh viên Sử học mà tôi đang dạy tại trường Văn Khoa, cùng sinh viên đại diện các khóa của trường Võ Bị Đà Lạt. Ấn tượng sâu sắc mà tôi và nhà tôi không thể nào quên là khi phái đoàn đại diện của trường Võ Bị đến tham dự, do SVSQ Lê Viết Đắc khóa 22B hướng dẫn (anh Đắc hồi đó là Trung đoàn phó trung đòan SVSQ), trong bộ dạ phục màu rêu nhạt với gù vai alpha màu đỏ rất đẹp. Mọi người tham dự lúc đó đều tự động đứng lên vỗ tay chào đón nồng nhiệt khi các anh em SVSQ bước vào phòng hội (một điều rất tình cờ là anh Đắc trước đây khi còn ở Huế là thầy dạy toán cho nhà tôi trong một lớp luyện thi). Chiều ngày hôm sau, tại quán cà phê Thủy Tạ trên bờ hồ Xuân Hương, các sinh viên ban Sử Học lại dành cho nhà tôi một buổi đón tiếp rất thân tình mà chúng tôi không thể nào quên dù đã hơn bốn mươi năm trôi qua kể từ ngày ấy.
Có lần vào dịp cuối tuần, tôi dẫn nhà tôi vào thăm ngôi trường Võ Bị. Từ nhà khách ở ngay trước cổng trường, tôi chỉ cho nhà tôi ngọn núi cao nhất được gọi là đỉnh Lâm Viên đang ẩn hiện trong sương chiều mà tất cả khóa sinh Võ Bị đều phải chinh phục được trước khi làm lễ gắn alpha để thực thụ trở thành SVSQ của một trường Võ Bị danh tiếng nhất Đông Nam Á nầy.
Cuối năm 1969, sinh viên sĩ quan khóa 22B làm lễ ra trường. Đó là khóa đầu tiên cho chuơng trình 4 năm để nhận lãnh văn bằng tốt nghiệp, được Hội Đồng Liên Viện Đại Học Quốc Gia công nhận tương đương với Cử Nhân Khoa Học Nhân Văn và văn bằng Kỹ Sư Tạo Tác. Ngày lễ tốt nghiệp chính thức là ngày 12 tháng 12 năm 1969. Đêm trước đó là lễ truy điệu những anh hùng tử sĩ đã vị quốc vong thân… Không khí vô cùng trang nghiêm, uy nghi và hết sức cảm động. Lễ tốt nghiệp chính thức được tổ chức dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Vũ Đình Trường. Sau khi Quốc Kỳ và Quân Kỳ được rước qua lễ đài, cuộc diễn binh hùng tráng với những bước chân oai phong và lẫm liệt của các chàng trai Võ Bị trong bộ lễ phục màu trắng, giây biểu chương màu vàng, gù vai alpha và rua màu đỏ rực, đã khiến bao người tham dự hết sức xúc động và vô cùng hãnh diện. Những chàng trai nầy quả là niềm hy vọng của Tổ Quốc ngày mai. Họ là những cán bộ lãnh đạo tương lai của đất nước với kiến thức vững chải về quân sự, cùng với trình độ học vấn của bậc đại học. Khi Tổng Thống gắn cấp bậc Thiếu Úy cho sinh viên Nguyễn Đức Phống, anh đã nhận cung tên để bắn đi bốn phương trời tượng trưng cho chí nam nhi tang bồng hồ thỉ. Các SVSQ khóa 22B quỳ xuống để nhận lãnh cấp bậc Thiếu Úy và đứng lên để trở thành tân sĩ quan hiện dịch của QLVNCH.
Ngồi trên lễ đài dành cho gíao sư Văn Hóa Vụ, nhà tôi và tôi chăm chú theo dõi diễn tiến buổi lễ với niềm cảm xúc dâng trào… (Sau này, khi nghe tin anh Nguyễn Đức Phống, sinh viên tốt nghiệp thủ khoa, đã tử trận trong khi tham dự trận đánh ở biên giới Việt Miên vào khỏang tháng 7 năm 1970, tôi hết sức bàng hòang và đau đớn, thương tiếc một cựu sinh viên, thông minh tài ba mà mệnh bạc…).
Bây giờ, trên xứ lạ quê người, khi tóc đã hoa râm, ngồi đếm bóng thời gian chờ ngày trở về với cát bụi, lòng người đôi khi chùng xuống với những hồi ức xa xăm của một thời trai trẻ. Những buồn vui nhiều khi cuồn cuộn trở về… Nhớ nhớ quên quên… Ghi lại những gì trong miền ký ức xa xôi ấy để được tâm sự với người thân, với bằng hữu, và cũng là một cách nào đó, cho mình được sống lại với những hoài bão không thành của một thời vang bóng…

San Jose , những tháng ngày đi qua…

Lê Đình Cai (*) Văn bằng Cao học nầy, hiện nay trong nước gọi là văn bằng Thạc sĩ.

Tâm sự một tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa về ngày 30/4

Vietnam War
 
 
Tướng Lâm Quang Thi là tác giả tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn “The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon”và cuốn “Hell in An Lộc: The 1972 — Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam”, xuất bản hồi năm ngoái.
Tướng Lâm Quang Thi: “Tiếc thay, người Mỹ không có cái gan để đi ra Bắc, tiêu diệt ý chí chiến đấu của Hà Nội mà cũng không có sự kiên nhẫn để yểm trợ miền Nam trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống cộng sản.”

Tướng Lâm Quang Thi là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam. Ban Việt ngữ-VOA tiếp xúc với Tướng Lâm Quang Thi, vài ngày trước lễ mừng sinh nhật thứ 80 của ông.

VOA: Thưa, trước hết xin Trung Tướng cho biết ông có suy nghĩ gì về ngày 30 tháng Tư, 37 năm sau khi Sài Gòn thất thủ?

Tướng Lâm Quang Thi: “Mỗi lần 30 tháng Tư tới thì tôi lại vừa buồn vừa tức giận. Buồn vì bao nhiêu đồng bào mình phải bỏ nước ra đi, một số chết trên biển cả, và một số anh em chiến hữu của tôi thì bị Cộng sản nó bắt, tra tấn, đày đọa trong các trại tù ở Bắc Việt. Và tôi tức giận là bởi vì đồng minh của mình nó bỏ rơi mình trong những giờ phút đen tối nhất của lịch sử nước nhà.”

VOA: Thưa, như Trung Tướng nói, biết bao thảm họa đã xảy đến cho quân và dân miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư, thì trong tư cách một tướng lãnh, Trung Tướng có cảm thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn so với những người khác về những gì đã xảy ra?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi không phải là một chánh trị gia, nhưng với tư cách một tướng lãnh đã cầm quân, tôi thấy mình có phần nào trách nhiệm cũng như tất cả các tướng lãnh khác, các chỉ huy trưởng các đại đơn vị khác cũng phải có trách nhiệm phần nào về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.”

VOA: Thưa Trung tướng, là tác giả cuốn Autopsy: The Death of South Vietnam, phân tích sự cáo chung của miền Nam Việt Nam, xin Trung Tướng tóm tắt cho thính giả của đài chúng tôi một số nguyên do chính dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ Sàigòn?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi thấy rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam có 2 lý do chánh. Thứ nhất là người Mỹ họ không có một nhiệm vụ rõ ràng ấn định cho quân lực của họ, tức là cái “mission” không được định nghĩa rõ ràng. Theo tôi nghĩ, người Mỹ chỉ có 2 sự lựa chọn: thứ nhất là đi ra Bắc, tiêu diệt ý chí chiến đấu của Hà nội; hoặc là ở trong Nam thì phải có đủ kiên nhẫn để ủng hộ và yểm trợ một chánh phủ miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chiến đấu trường kỳ ở miền Nam. Nhưng mà tiếc thay người Mỹ không có cái gan để đi ra Bắc, mà lại không có sự kiên nhẫn để ở lại trong Nam. Đó là cái lý do thứ nhất. Thứ nhì là cơ quan truyền thông của Mỹ rất thiên vị, có thể nói là thiên tả, thành thử ra tất cả những gì xảy ra đều có thể bị bóp méo để chứng minh rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể nào thắng bởi vì quân đội Việt Nam chiến đấu kém và tham nhũng. Cái đó là tiền đề của truyền thông Mỹ, thành thử ra tất cả những sự kiện xảy ra mà đúng vào tiền đề đó thì họ dùng. Còn nếu không đúng thì họ có thể bóp méo để chứng minh tiền đề là chiến tranh Việt Nam không thể thắng được. Chẳng hạn như Tết Mậu Thân, Việt Cộng sát hại 5, 6 ngàn người dân vô tội ở Huế mà truyền thông Mỹ không nói tới. Trong lúc đó ông Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan ông ấy hành quyết một tên đặc công cộng sản thì nó đưa lên, được Giải Pulitzer đủ thứ trò, mà họ không nói rằng anh cộng sản đó đã tàn sát bao nhiêu gia đình cảnh sát của Tướng Loan ở Chợ Lớn.”

VOA: Thưa ông, ngoài vai trò của giới truyền thông phản chiến Mỹ, ngoài vai trò của người Mỹ mà Trung Tướng cho là không định nghĩa rõ ràng cái “mission”, thì thưa Trung Tướng, cái trách nhiệm của chính phủ Việt nam Cộng hòa nằm ở chỗ nào trong sự thất bại của miền Nam?

Tướng Lâm Quang Thi: “Thành thật mà nói rằng tất cả vấn đề viện trợ quân sự cũng như là tài chánh đều do người Mỹ cung cấp. Nếu họ rút tất cả những viện trợ đó thì chúng ta không còn khả năng để chiến đấu, chẳng hạn như trong trận chiến An Lộc năm 1972, không có quân đội Mỹ nào dưới đất mà mình chỉ có sự yểm trợ bằng không lực của Hoa Kỳ mà Sư đoàn 5 bộ binh của chúng ta đã chiến đấu và đã chiến thắng 3 sư đoàn Bắc Việt. Tôi tin chắc rằng nếu tiếp tục có được sự viện trợ hỏa lực của Mỹ thì quân lực Việt nam Cộng hòa sẽ đánh bại những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt. Tới năm 1974-75 thì viện trợ Mỹ đã rút xuống chỉ còn 700 triệu đôla mà trong 700 triệu đôla đó, 400 triệu đôla được dùng để phát lương cho nhân viên Tùy viên Quân lực Hoa Kỳ -DAO (Deputy Attaché Office), mình còn có 300 triệu đôla để đánh giặc trong một năm. Trong lúc đó, Do thái trong trận Yom Kippur năm 1973, Do Thái nhận viện trợ được 2 tỉ mốt mỹ kim để đánh giặc trong 3 tuần lễ! Thành thử ra lúc đó miền Nam đạn dược, súng trường cũng thiếu, lựu đạn cũng thiếu nữa, thì làm sao mà đánh giặc được! Mình không có cách nào có thể đương đầu được với một quân đội Bắc Việt được Nga Sô và Trung Cộng viện trợ ào ạt từ năm 1974 tới 1975. ”

VOA: Vậy giới lãnh đạo chính trị của miền Nam có lệ thuộc quá đáng vào viện trợ Mỹ mà không tự lực cánh sinh được?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tự lực cánh sinh, theo tôi cũng khó khăn là bởi vì trong lúc cộng sản Hà nội được sự viện trợ ào ạt của Nga Xô và Trung Cộng thì miền Nam Việt Nam chúng ta cần có một sự viện trợ của thế giới tự do mới có thể đương đầu được.”

VOA: Xin phép được hỏi một câu hơi có tính cách cá nhân. Thưa, được phong hàm Tướng từ thời còn rất trẻ, cuộc đời của Trung Tướng gắn liền với Quân lực Việt nam Cộng hòa, Trung Tướng có kỷ niệm nào muốn chia sẻ với Đài VOA về cuộc đời binh nghiệp của mình?

Tướng Lâm Quang Thi
: “Tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của tôi không phải là cầm quân mà thực sự tôi được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Lúc bấy giờ chương trình tăng lên từ 2 năm tới 4 năm và tôi đã tranh đấu hết sức để các sĩ quan tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia được hưởng bằng cấp Cử nhân Khoa học Ứng dụng, tương đương với Trường Võ Bị West Point của Hoa Kỳ. Đó là cái niềm hãnh diện nhất của tôi trong cuộc đời binh nghiệp”

VOA: Thưa Trung Tướng, Hoài Hương xin lỗi trước nếu câu hỏi này có gợi lại cho Trung Tướng những điều đau lòng, nhưng Hoài Hương có đọc một bài viết của Andrew Lâm kể lại cảnh Trung Tướng đã vất khẩu súng riêng trên chuyến tàu lúc bỏ nước ra đi, thành ra có lẽ nhiều độc giả cũng có thắc mắc như Hoài Hương, không biết lúc đó Trung Tướng nghĩ gì và có những cảm xúc như thế nào?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi rời Việt Nam ngày 30 tháng Tư trên chiếc tàu Hải Quân 2, và khi đoàn của Hải quân Việt Nam đến Phi Luật Tân thì chính phủ Phi Luật Tân không muốn thấy một Hải quân ngoại quốc tiến vào hải cảng của họ, cho nên Hải quân Việt Nam phải chuyển tất cả tàu bè lại cho Mỹ, và các sĩ quan trên tàu cũng phải mặc thường phục, trong khi tất cả những vũ khí trên tàu phải bỏ hết, thành thử tôi cũng phải tuân theo điều lệ đó. Tôi bỏ khẩu súng lục của tôi xuống biển Thái bình dương, tôi rất là, hết sức là đau lòng. Tới bây giờ mỗi lần nghĩ tới cái…cảnh đó, tôi vẫn còn thấy đau, nhất là khi mà quốc kỳ Việt Nam phải kéo xuống để kéo lá cờ Mỹ lên trước khi vào hải cảng Subic Bay của Phi Luật Tân. Thành ra cái đó là một cái kỷ niệm hết sức đau đớn đối với tôi, và tôi nghĩ cũng đau đớn đối với tất cả các tướng lãnh và các sĩ quan khác.”

VOA: Xin cám ơn Trung Tướng đã chia sẻ với thính giả của VOA những cảm xúc của mình lúc rời bỏ đất nước ra đi, thưa Trung Tướng, người tỵ nạn Việt Nam, dù lưu lạc tới nước nào cũng phải bắt đầu lại cuộc đời từ con số không, được biết Trung Tướng đã đi học lại để lấy bằng MBA ở Hoa Kỳ, vậy xin Trung Tướng kể lại những kinh nghiệm của ông trong thời gian đầu của cuộc đời tỵ nạn, và động lực nào đã thúc đẩy ông không ngừng phấn đấu?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi qua đây cũng nhờ hệ thống của Trường Võ Bị West Point bởi vì giữa Trường Võ Bị Việt Nam và Trường West Point có những liên hệ hết sức là gắn bó. Chính ông Chỉ huy trưởng Trường West Point, cũng là bạn của tôi ở Việt Nam, ông đã tìm cách để cho tôi có một địa vị xứng đáng trong hệ thống ngân hàng của nước Mỹ, và vì tôi có một địa vị tốt ở Mỹ, tôi phải đi học nên tôi tiếp tục học và lấy được bằng MBA. Tôi đã làm việc hết sức chăm chỉ và có thể nói là thành công trong cuộc đời của tôi bên Mỹ.”

VOA: Thưa Trung Tướng, vào tuổi này, ông có hoài bão gì cho tương lai?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi tin tưởng rằng thế nào cũng có ngày chúng ta có dịp trở lại thăm viếng một nước Việt Nam độc lập, tự do và không cộng sản. Đó là cái hoài bão cuối cùng của tôi và tôi tin chắc thế nào cũng thực hiện được.”

Thưa quý vị, vừa rồi là cuộc phỏng vấn với Trung Tướng Lâm Quang Thi, cựu Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam ở Đà Lạt, từng là Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh ở Sa Đéc và Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân đoàn 1 tại Huế. Tướng Lâm Quang Thi cư ngụ ở bang California và là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon và cuốn Hell in An Lộc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam, xuất bản hồi năm ngoái.

 
Hoài Hương — Voice Of America
 

9 Bài Bình Luận Về Cộng Đảng Trung Quốc – Bản Việt Ngữ

(1) Đảng cộng sản là gì?

(2) Cộng sản Trung Quốc xuất sinh như thế nào?

(3) Chính quyền bạo lực

(4) Một lực lượng phản vũ trụ

(5) Giang Trạch Dân và đảng cộng sản lợi dụng nhau đàn áp Pháp Luân Công

(6) Phá hoại văn hoá dân tộc

(7) Lịch sử giết chóc

(8) Bản chất tà giáo

(9) Bản tính lưu manh

IPower

Mặt Trận Tân Cảnh Và Tư Lệnh Chiến Trường: Từ Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển Đến Đại Tá Lê Ðức Ðạt

Trước những tín hiệu báo động về các cuộc chuyển quân ồ ạt của CSBV vào tháng 2/1972, bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã tăng cường lực lượng phòng thủ ở mặt trận phía Bắc tỉnh Kontum: trung đoàn 47 Bộ binh/Sư đoàn 22 Bộ binh cùng với bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn, và một thành phần Tiếp vận từ Bình Ðịnh lên khu vực Tân Cảnh Dakto. Tại Tân Cảnh, bộ tư lệnh Tiền phương đóng chung với bộ chỉ huy trung đoàn 42 Bộ binh—một trong 4 trung đoàn cơ hữu của sư đoàn—đã đóng quân tại đây từ trước. Căn cứ này gần ngã ba Quốc lộ 14 và Tỉnh lộ 512. Toàn bộ cuộc chuyển quân hoàn tất vào ngày 8 tháng 2/1972. Ðến ngày 1 tháng 3/1972, Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển—tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh bàn giao chức vụ chỉ huy sư đoàn này cho Đại Tá Lê Ðức Ðạt tư lệnh phó Sư đoàn để về bộ Tổng Tham Mưu nhận chức tham mưu phó Hành quân.

Ngay sau khi nhận chức tư lệnh, Ðại Tá Ðạt đã điều động các phòng tham mưu chính lên Tân Cảnh, bộ Tư lệnh Tiền phương trở thành bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn. Theo lời kể của cựu Đại Tá Trịnh Tiếu, nguyên trưởng phòng 2 Quân đoàn II và của một số sĩ quan cao cấp Sư đoàn 22 Bộ binh, khi đảm nhận chức vụ tư lệnh Sư đoàn, Đại Tá Lê Ðức Ðạt đã không có được yểm trợ của cố vấn trưởng Quân đoàn II—John Paul Vann như ông ta đã dành cho Đại Tá Lý Tòng Bá, tân tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, lại còn bị vị cố vấn này gây nhiều khó khăn trong chỉ huy và điều hợp các đơn vị. Như chúng tôi đã trình bày sơ lược trong loạt bài “Chiến trường Việt Nam, 30 năm nhìn lại”, do bất bình với Trung Tướng Ngô Dzu, tư lệnh Quân đoàn II, đã không sắp xếp nhân sự giữ chức tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ Binh theo ý của cố vấn trưởng, ông John Paul Vann đã từ chối yêu cầu của Tướng Dzu về kế hoạch dội B-52 “dập nát” hai sư đoàn Cộng quân đang bao vây Sư đoàn 22 Bộ binh, dẫn đến hậu quả là sư đoàn này đã bị bức tử.

Theo các tài liệu tổng hợp, chi tiết về chuyện bất đồng này đã diễn ra như sau: vào tháng 2/1972, ông John Paul Vann với chức danh cố vấn trưởng Quân đoàn 2 đã yêu cầu Trung Tướng Ngô Dzu phải thay thế hai vị tướng đang giữ chức tư lệnh hai sư đoàn của Quân đoàn II: Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển—tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh và Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh—tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh (tướng Cảnh thăng thiếu tướng vào tháng 4/1974 khi đang giữ chức vụ phụ tá đặc biệt của Tổng trưởng Nội vụ). Lý do ông John Paul Vann đưa ra là hai vị tướng này đã lớn tuổi cần được thay thế bởi các sĩ quan trẻ hơn. Vị cố vấn trưởng Quân đoàn đề nghị Đại Tá Lý Tòng Bá và Đại Tá Lê Minh Ðảo thay Tướng Triển và Tướng Cảnh. Sự tiến cử của ông John Paul Vann đã không được Trung Tướng Ngô Dzu đồng ý. Tướng Dzu nói với ông John Paul Vann rằng việc bổ nhiệm tư lệnh Sư đoàn là do Tổng Thống VNCH quyết định, hơn nữa hai Tướng Triển và Cảnh không phạm lỗi gì, nên không thể đề nghị thay đổi được. Tuy nhiên ông John Paul Vann làm áp lực đòi Trung Tướng Dzu phải thay thế hai vị tư lệnh Sư đoàn. Tướng Ngô Dzu hỏi tại sao ông John Paul Vann lại nằng nặc đề cử Đại Tá Bá và Đại Tá Ðảo mà ông đề cử một số đại tá trẻ và giỏi đang phục vụ tại Quân đoàn II, vị cố vấn trưởng này trả lời: Ðại Tá Lý Tòng Bá và Đại Tá Lê Minh Ðảo là các sĩ quan trẻ, năng động và kinh nghiệm chiến trường mà tôi đã biết tại Quân đoàn 3. (Ông John Paul Vann nguyên là trung tá Cố vấn trưởng Sư đoàn 7 Bộ binh trong thời gian 1961-1962, thời kỳ Tướng Huỳnh Văn Cao còn là đại tá tư lệnh Sư đoàn; sau đó, ông giải ngũ và về Hoa Kỳ. Năm 1966 ông trở lại Việt Nam, từ 1967-1969, với tư cách là quan chức dân chính cao cấp của Hoa Kỳ, ông chỉ huy cơ quan CORDS tại Vùng III chiến thuật, khi được bổ nhiệm làm cố vấn trưởng Quân đoàn II, ông được hưởng quyền lợi ngang hàng với một thiếu tướng Hoa Kỳ.)

John Paul Vann (mặc đồ dân sự) và các cố Vấn Mỹ

Cuối cùng, do tình hình quân sự ngày càng nghiêm trọng, đòi hỏi sự yểm trợ về Không quân của Hoa Kỳ qua trung gian của Cố vấn Quân đoàn, Trung Tướng Ngô Dzu đành phải thỏa mãn gấp các điều kiện của ông John Paul Vann, tuy nhiên vị tư lệnh Quân đoàn II cũng chỉ thỏa mãn một nửa số điều kiện của ông Paul Vann: ông đề nghị Tổng Thống VNCH bổ nhiệm Đại Tá Lý Tòng Bá giữ chức tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh thay vì tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh như đề nghị ban đầu của ông John Paul Vann, và Đại Tá Lê Ðức Ðạt—tư lệnh phó Sư đoàn 22 BB giữ chức tư lệnh Sư đoàn này. Giải pháp 50% của Trung Tướng Ngô Dzu vẫn không làm vừa lòng ông John Paul Vann, ông rất giận Tướng Dzu vì đã không cử Đại Tá Lê Minh Ðảo làm tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh khi Đại Tá Bá đã được đề nghị chỉ huy Sư đoàn 23 Bộ binh. Do đó, ông John Paul Vann đã trút tất cả sự bức tức lên Đại Tá Ðạt. Theo giải thích của cựu Đại Tá Trịnh Tiếu thì sở dĩ Tướng Dzu cử Đại Tá Lê Ðức Ðạt vì Đại Tá đang là tư lệnh phó Sư đoàn lên thay tư lệnh Sư đoàn là điều hợp lý. Hơn nữa Đại Tá Ðạt rất thân với Đại Tướng Cao Văn Viên, nên Tướng Dzu nghĩ rằng khi Đại Tá Ðạt lên làm tư lệnh mặt trận thì Đại Tướng Viên sẽ yểm trợ tối đa cho Đại Tá Ðạt. (Cũng cần ghi nhận rằng trong khoảng thời gian 1965, khi Đại Tướng Cao Văn Viên còn là Thiếu Tướng tư lệnh Quân đoàn III & Vùng III chiến thuật thì Đại Tá Ðạt là tỉnh trưởng/tiểu khu trưởng Phước Tuy với cấp bậc trung tá).

Ngày cuối cùng của Đại Tá Lê Ðức Ðạt và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 BB

Trở lại với chiến trường Tân Cảnh, trước khi Cộng quân mở cuộc tấn công cường tập vào căn cứ này, lực lượng bố phòng tại đây gồm có trung đoàn 42 Bộ binh, hai pháo đội 105 và 155 ly, một chi đội M 41 và một chi đội M-113, một đại đội Công Binh chiến đấu. Ngày 23 tháng 4/1972, lực lượng Cộng quân gồm các đơn vị của sư đoàn 2 CSBV phối hợp với các đơn vị đặc công, thiết giáp CQ thuộc B3 đã khởi động cuộc tấn công ở vòng đai Tân Cảnh. Trong ngày 23 tháng 4/1972, Cộng quân đã pháo kích dồn dập vào căn cứ. Ðịch quân mở một trận hỏa công bằng đủ loại pháo, trong đó có hỏa tiễn dây điều khiển Sagger 13 để làm tê liệt các chiến xa và công sự chiến đấu của lực lượng trú phòng. Từng chiến xa M 41 đang nằm trên các vị trí phòng ngự để bảo vệ Trung tâm Hành quân Sư đoàn đều bị trúng đạn. Tiếp đó, vào 10 giờ 30, trung tâm Hành quân cũng bị trúng đạn địch bắn trực xạ, hệ thống truyền tin bị hủy hoại, một số quân nhân thương vong.

Hoả tiễn AT-3 Sagger của Cộng quân

Buổi trưa, với sự giúp đỡ của các cố vấn Hoa Kỳ, một trung tâm Hành quân tạm thời đã được thiết lập chung với trung tâm Hành quân Sư đoàn 22 Bộ binh với các máy móc truyền tin lấy từ hệ thống dành cho các Cố vấn. Thế nhưng, Đại Tá Lê Ðức Ðạt tư lệnh Sư đoàn đã từ chối cùng với các sĩ quan Hoa Kỳ trong ban Cố vấn Sư đoàn đến làm việc tại trung tâm Hành quân mới, ông ở lại bộ chỉ huy cũ đã bị tan hoang cùng với vị Đại Tá Tôn Thất Hùng, tư lệnh phó, vài sĩ quan thân tín trong bộ Tham mưu cùng với một máy truyền tin liên lạc.

Buổi chiều, Đại Tá Lê Ðức Ðạt cho lệnh các pháo đội của Sư đoàn phản pháo vào các vị trí tình nghi là pháo binh của địch đặt súng, nhưng không có kết quả. Cùng lúc đó, từ trung tâm Hành quân mới, các cố vấn Hoa Kỳ đã hướng dẫn Không quân thực hiện phi vụ không yểm, oanh kích vào các mục tiêu của Cộng quân dựa theo báo cáo của các cố vấn trung đoàn. Nỗ lực của các cố vấn Hoa Kỳ vẫn không có hiệu quả do thời tiết quá xấu đã hạn chế phần quan sát, ngoài ra hệ thống phòng không dày đặc của địch đã bắn chận các oanh tạc cơ và chiến đấu cơ của Không quân Việt-Mỹ.

Gần tối, một thành phần đặc công CSBV đã xâm nhập vào vòng đai phi đạo của căn cứ và đặt chất nổ phá hủy một bãi đổ đạn dược gần đường baỵ Trong khi đó, Cộng quân tiếp tục pháo kích dữ dội vào khu vực trung tâm của căn cứ. Vào nửa đêm, các đơn vị của trung đoàn 42 phòng thủ quanh vòng đai căn cứ quan sát thấy 15 chiến xa địch di chuyển theo hướng Nam đến Tân Cảnh. Trong tình hình nguy kịch, nên Sư đoàn 22 khó tiến hành một kế hoạch nào kịp thời để ngăn chận Cộng quân, ngoại trừ một trận pháo ở mức độ nhỏ của Pháo binh và đợt phản pháo dữ dội nhưng không có kết quả của đối phương, trong khi đó hai chiếc cầu trên Quốc lộ 14 ở hướng Nam đến Tân Cảnh vẫn để nguyên vẹn nên chiến xa của địch đã di chuyển dễ dàng trên lộ trình chuyển quân.

Khoảng 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4/1972, 15 chiến xa T 54 của Cộng quân bao vây căn cứ Tân Cảnh, vào lúc này 10 chiến xa M 41 và M 113 bảo vệ bộ Tư lệnh đã bị địch bắn cháy 8 chiếc, 2 chiếc còn lại thuộc Thiết đoàn 22 đã ở trong tình trạng bất khiển dụng vì bị đứt dây xích. Nhận thấy tình hình vô vọng, Đại Tá Kaplan—cố vấn trưởng Sư đoàn đã liên lạc khẩn cấp yêu cầu cố vấn trưởng Quân đoàn II bay lên cứu ông và toán cố vấn. Khoảng 4 giờ sáng, ông John Paul Vann lái trực thăng trinh sát đặc biệt OH-58 Kiowa loại mới nhất của Hoa Kỳ đáp xuống một bãi đáp rất nhỏ bên cạnh bãi mìn để bốc đại tá Kaplan.

Trước khi trực thăng đáp xuống, Đại Tá Kaplan đã đến báo cho Đại Tá Lê Ðức Ðạt và yêu cầu ông cùng lên trực thăng ứng cứu của ông John Paul Vann, nhưng Đại Tá Ðạt đã từ chối. Vị tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh đã biết rõ tình hình rất bi đát, thế nhưng ông vẫn không yêu cầu Trung Tướng Ngô Dzu cho trực thăng bay lên cứu. Ðại Tá Ðạt ra lệnh cho tất cả các quân nhân còn lại trong căn cứ tìm cách thoát ra ngoài căn cứ trước khi trời sáng. Ông bắt tay vĩnh biệt các sĩ quan và Đại Tá Hùng tư lệnh phó. Và, ông đã ở lại với Tân Cảnh. Theo lời kể của Đại Tá Kaplan và một số nhân chứng, Đại Tá Lê Ðức Ðạt đã tự sát sau khi căn cứ bị Cộng quân tràn ngập.

Về các sĩ quan trong bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh vượt thoát ra ngoài căn cứ, một số đã bị địch bắt. Còn Đại Tá Tôn Thất Hùng đã thoát được ra ngoài nhưng bị thương, Ông đã cố chạy vào một buôn Thượng gần đó. Nhờ nói được tiếng Thượng rất rành, nên đã được một gia đình người Thượng che dấu, chăm sóc, sau đó dẫn đường đưa ông về đến tỉnh lỵ Kontum sau 15 ngày đi loanh quanh trong rừng. (Ba tháng sau, đại tá Hùng cùng gia đình lên Pleiku để đền ơn gia đình người Thượng này, vào lúc đó đang sống trong trại tỵ nạn bằng một số tiền và vàng rất lớn.) Riêng với đại gia đình Sư đoàn 22 Bộ binh, ngày 24 tháng 4/1972 là ngày mà vị tư lệnh Mặt trận Tân Cảnh mùa Hè 72 đã vĩnh viễn ở lại với chiến trường.

Vương Hồng Anh

Đà Lạt & Trường Võ Bị và Dấu Binh Lửa – Đinh Tiến Đạo K24

Bonsai in Bloom

Azalea


Rare tri-color Azalea


Pink Azalea

Bougainvillea

Azalea

Crabapple
Azalea


Hibiscus


Bougainvillea

Crepe Myrtle

Cherry

Cherry

Chinese Wisteria

Japanese Wisteria
Apple

Japanese Wisteria
Usually, bonsai is for the appreciation of the branches and leaves as well as the shape of the plant as a whole. We can never imagine these glorious creations can be fully bloomed until seeing with our own eyes!
They are truly out of this world and a great pleasure to watch, especially first thing in the morning!
Please save and share with good friends.

Sự Tích Gái Ngoan Dạy Chồng

Ngày xưa có một người đàn ông giàu, vợ chết sớm, chỉ có độc một người con trai. Đứa con vốn người xấu nết, đần độn, lại là tay chơi bời lêu lổng không chịu học hành hay làm ăn gì cả.

Thấy con không lo nối nghiệp nhà, người nhà giàu rất buồn phiền, biết rằng của cải của mình sẽ có một ngày đội nón ra đi mà thôị Bởi vậy, ông bèn tính chuyện kiếm cho con một người vợ khôn ngoan đảm đang, để may ra nó sẽ ngăn chặn tay chồng, bảo vệ một phần nào cơ nghiệp.

Nghĩ vậy, ông cất công đi khắp nơi tìm kiếm, nhưng đi đã nhiều nơi mà vẫn chưa thấy một người nào vừa ý.

Một hôm, đến một vùng kia, nhân mỏi chân, ông nghỉ lại một gốc đa bên đường. Ông bỗng thấy ở một cây táo gần đấy có một bọn trẻ đang tranh nhau trẩy ăn. Một chốc sau, một cô gái tuổi chừng đôi tám, cũng đến trẩy táọ Ông mới lân la lại gần hỏi xin ăn.

Lúc này, táo chín đã bị bọn người trước trẩy hết, chỉ còn những quả xanh, nhưng cô gái cũng cố chọn lấy những quả ương ương đưa cho khách.

Thấy cô gái tốt bụng, ông ta nghĩ: “Sởi lởi, trời gởi của cho, quăn co, trời gò của lạị Chỉ có người nào tốt bụng với mọi người mới xứng đáng được hưởng giàu có sung sướng”.

Bởi vậy, ông mới tìm đến nhà cô gái, giả làm một người lỡ độ đường, xin nghỉ trọ một tốị Và rồi ông được gia đình cô gái ân cần tiếp đãi.

Để thử xem cô gái có khôn ngoan không, ông lân la làm quen với nàng. Khi biết cô sắp đi chợ, ông đưa ra một quan tiền nhờ mua hộ cho mình “một nắm gió, một bó lửa”. Cô gái chẳng nói chẳng rằng, mua về cho ông một cái quạt và một con dao đánh lửạ Thấy thế, ông thầm khen ngợi, nhưng vẫn định thử thêm cho biết.

Qua ngày hôm sau, ông dậy sớm, giở tay nải đưa cho cô mấy bát gạo nếp, nhờ nàng thổi giúp cho mình một nồi vừa cơm vừa bánh để ăn và đem đi ăn đường. Cô gái không từ chối, vội lấy gạo ra vo. Trước khi cho vào nồi, nàng bớt lại một ít giã làm bột vắt bánh rồi hấp luôn vào cơm. Khi nàng bưng ra, ông già lấy làm vừa ý, cho là con người đó đủ cả đức hạnh, khôn ngoan, đảm đang ít có. Bèn quyết định trở về sửa soạn lễ hỏi cho con trai làm vợ.

Đứa con trai của ông từ ngày có vợ lại càng lêu lổng; hắn thường bỏ nhà đi đánh đàn, đánh đúm với bọn vô lại, làm cho ông hết sức buồn. Và điều làm ông lo lắng nhất là hắn thỉnh thoảng lại trộm tiền của ông, khi dăm bảy quan, khi một vài vác, tung vào cuộc đỏ đen. Mặc dù ông đánh đập, mặc dù vợ hắn khuyên lơn, nhưng hắn chứng nào vẫn tật ấỵ Dần dần ông buồn phiền thành bệnh. Một hôm, biết mình sắp chết, ông gọi con dâu đến bên giường dặn nhỏ:

– Này cha đã gần đất xa trờị Chồng con là một thằng “Phá gia chi tử”, cơ nghiệp này chỉ còn một sớm một chiều mà thôi. Cha rất thương con xấu số. Từ lâu cha làm ăn dành dụm, có để được một hũ vàng chôn ở sau vườn. Vậy cha cho riêng con hũ vàng đó, đừng cho chồng con biết. Sau này chồng con có thật sự ăn năn hẵng giúp cho nó làm lại cuộc đờị

Đứa con trai ông sau khi người cha qua đời, lại càng chơi bời mặc sức. Vợ hết khuyên lơn đến cầu khẩn, hắn chẳng những đã không nghe lại còn phũ phàng với vợ. Mỗi lần thua bạc, hai người lại càng xô xát. Nhiều lần vì vợ cản trở, hắn đánh đập vợ không tiếc tay và làm nhục nàng trước mặt mọi ngườị Một hôm để khỏi vướng, hắn viết giấy cho vợ đi lấy chồng khác rồi đuổi nàng ra khỏi cửa.

Từ đó, hắn phỉ chí tung hoành không một ai dám cản. Quả như lời đoán của bố hắn, mấy chục mẫu ruộng đều lần lượt “nướng” vào sòng bạc. Hết ruộng vườn tới nhà ở, chẳng bao lâu tất cả cơ nghiệp mấy đời lưu truyền lại đều sạch sành sanh. Cuối cùng không một đồng dính túi, không một nghề cầm tay, hắn đành bỏ làng mạc quê quán, đi lang thang khắp đầu đường xó chợ, ngửa tay xin ăn qua ngày.

Còn về người đàn bà sau khi bị chồng đuổi, mới đổi tên, tìm đến trấn thành mở một ngôi hàng nước. Sau ít lâu, kiếm được một số nhỏ, nàng bắt đầu buôn hàng tấm. Số vốn của nàng ngày một lớn dần. Một hôm, gặp hai em bé gái mồ côi đi ăn xin, nàng thương tình đưa về nuôi làm con, coi như ruột thịt. Cuộc đời dần dần nở hoa trước mắt nàng. Trong một dịp đi tìm kiếm củi, hai con nàng nhặt được một khúc gỗ mục, về chẻ ra thấy có mấy thoi vàng. Có vốn lớn lại có tài kinh doanh, nên chẳng bao lâu, nàng trở nên giàu có, nổi tiếng trong trấn. Tiền bạc tuôn về như nước. Tuy sống sung sướng nhưng nàng vẫn ở một thân một mình. Thấy nàng giàu có, nhiều kẻ ngấp nghé muốn “gá nghĩa Châu Trần”, nhưng người đàn bà ấy nhất thiết từ chối mọi lời đường mật. Mặc dù người chồng bạc bẽo và mặc dầu mười lăm năm xa cách, nàng vẫn không quên được tình xưa nghĩa cũ. Đã nhiều lần nàng thuê người lần đi các chợ búa phố phường dò hỏi nhưng tin tức của chồng càng hỏi, càng bặt tăm.

Năm ấy, sau mấy tháng hạn, lúa khoai chết mòn trên những cánh đồng nứt nẻ. Giá gạo cứ lên vùn vụt. Ngoài đường, người đi xin ăn kéo từng đoàn. Người đàn bà lúc này đã là bà chủ hiệụ Bà xin phép quan trên cho mình đem tiền gạo ra phát chẩn cho kẻ khó. Làm như thế, nàng còn mong một khi thấy yết thị dán khắp thôn xóm thì chồng mình tất sẽ lần mò về, nếu hắn còn sống. Y như thế thật, ngày bắt đầu phát, nàng đã thấy bóng dáng của chồng ngồi ở hàng cuối đội quân lĩnh chẩn. Đúng là hắn. Từ ngày bắt đầu cầm bị gậy đến nay, hắn vẫn chưa có cách gì để sống khá hơn và đỡ hèn hạ hơn trước. Bây giờ nghe nói có phát chẩn, hắn vội mò đến đây và ngồi đầu hàng về phía tả. Thế nhưng khi phát, những người giúp việc cho bà chủ hiệu lại được lệnh phát từ phía hữu lạị Khi sắp sửa đến lượt hắn thì bọn họ tự nhiên nói lớn:

— Hôm nay đã hết gạo, mời bà con về đợi đến ngày mai!

Hắn buồn bực trở ra. Qua ngày sau, hắn cố tìm đến thật sớm, ngồi vào đầu hàng bên hữụ Nhưng hắn không ngờ, những người phát chẩn hôm nay lại bắt đầu phát từ phía bên kia. Lúc sắp phát đến hắn thì chúng lại giơ thúng không lên:

— Hôm nay thế là lại hết gạọ Bà con hãy đợi đến mai.

Hắn thở than cho số đen đủi, lần trở ra về. Qua hôm sau, lại mò đến thật sớm. Lần này hắn len vào ngồi đúng chính giữa đội quân lĩnh chẩn. Trong bụng hắn nghĩ lần nầy thì không để mất phần được. Nhưng đến giờ phát, hắn không ngờ người nhà của bà chủ hiệu hôm nay lại phát hai đầu phát lại và cuối cùng người không được gì cả, vẫn lại là hắn. Ba lần hỏng cả ba, hắn rất ngao ngán, bèn đánh liều tìm đến dinh cơ bà chủ để xin ăn. Gặp hai đứa con gái nuôi của vợ, hắn ngả nón kêu van hết lờị Ở trong nhà; người đàn bà nhìn ra biết là chồng, đã do mưu của mình mà đến đây, bèn sai người hầu ra hỏi, xem hắn có biết làm việc gì không để thuê mượn. Nghe hỏi thế, hắn vội trả lời:

— Xin ông bẩm với bà lớn rủ lòng thương, cho tôi được ở hầu bà, rửa bát, quét nhà, mọi việc tôi đều xin hết sức. Chỉ cho tôi ăn ba miếng là đủ rồi!

Người nhà trở ra cho hắn biết bà chủ nhận lờị Từ đó, hắn chăm chỉ làm lụng, cố làm vừa lòng chủ. Nhưng chung quy hắn vẫn không biết chủ chính là vợ cũ của mình. Về phần người vợ cũng không hề để lộ một tí cho hắn biết, chỉ dặn hai con và người nhà đối đãi tử tế mà thôi. Sau một thời gian, thấy hắn chịu khó làm ăn, người đàn bà mừng lắm. Một hôm nàng cho gọi hắn lên nhà hỏi xem có biết chữ nghĩa gì không! Hắn đáp:

– Tôi lúc nhỏ được đi học có biết ít nhiều.

– Vậy từ mai trở đi, anh không hầu hạ nữa, cho anh ở gian nhà khách dạy đám trẻ học tôi sẽ trả mỗi năm ba mươi quan.

Nghe nói, hắn tưởng không có gì sung sướng hơn thế nữa, cảm thấy lòng nhân đức của bà chủ đối với mình bằng trời bằng biển, vội nhận lời ngay. Từ đó, hắn đóng vai thầy đồ cố sức làm cho chủ tin cậỵ Nhưng người vợ vẫn thử mãi không thôi.

Một lần, gặp ngày tết, bà chủ sai lấy tiền ra cho kẻ hầu người hạ. Nàng nói:

– Ta cho mỗi người năm quan, hãy mang đi đánh bạc cho vui, nếu hết sẽ cho thêm. Thầy đồ ta cũng được năm quan tiền. Nhưng trong khi mọi người đem tiền nướng vào xóc đĩa, bài mười, thì trái lại, hắn mang nguyên vẹn số tiền đó về gửi cho chủ. Bà chủ hỏi:

– Tại sao anh không thích đánh bạc? Hắn trả lời:

– Bẩm bà, tôi ngày xưa, vì cờ bạc mà đến nông nỗi nàỵ Cho nên bây giờ buộc chỉ cổ tay thề rằng không đụng đến nó.

Thế rồi luôn miệng, hắn kể hết cho chủ nghe, từ cuộc đời cũ có ruộng nhiều, có vợ ngoan như thế nào, rồi bán ruộng đuổi vợ ra sao, cho đến lang thang đói rách, và ngày nay đã ăn năn hối lỗi v.v… Bà chủ hỏi:

– Anh còn thương vợ nữa không? Hắn rầu rĩ:

– Tôi đã nhiều lần dò tìm mà không thấỵ

– Nghe anh nói tôi rất thương tình. Vậy tôi cho anh năm quan để anh đi tìm vợ. Nếu hết tiền mà vẫn chưa thấy, anh cứ về đây, tôi sẽ cho thêm mà tìm cho ra.

Hắn mừng rỡ vâng vâng, dạ dạ, mang tiền đi tìm. Nhưng sau ba tháng trở về với bộ mặt thiểu não, hắn cho chủ biết không hề thấy tung tích đâu cả, chắc là vợ hắn đã chết.

Từ đấy, vợ thấy chồng chí tình, lại có lòng tu tỉnh, nên rất mừng. Nhưng nàng vẫn chưa ra mặt vội, chỉ an ủi hắn hãy ở lại đây, may ra sẽ có ngày hội ngộ.

Một hôm, nhân ngày giỗ cha chồng, bà chủ nhờ thầy đồ chép bài văn tế. Hắn ta ngạc nhiên và bội phần mừng rỡ khi thấy bài vị của tổ tiên nhà chủ chính là bài vị tổ tiên mình. Lập tức, hai vợ chồng ôm nhau khóc lóc. Rồi sau khi cúng xong, họ mời làng xóm và người nhà ngồi lại kể rõ sự tình. Ai nấy đều cho là một cuộc tái ngộ hiếm có.

Về sau, hai vợ chồng dựng vợ gả chồng cho hai con nuôi, giao cửa hiệu lại cho chúng cai quản. Sau đấy, họ dắt nhau trở về quê hương xưa, chuộc lại vườn tược nhà cửa cũ. Và sau khi đã sống yên ổn ở quê nhà, vợ mới sai đào hũ vàng bố chồng cho mình ngày xưa lên. Nàng nói:

– Có vàng chưa chắc đã có hạnh phúc. Cho nên trong những cơn túng thiếu nhất, tôi vẫn không cần đến nó.

Nói đoạn, đem số vàng ấy cúng cho đền chùa để bố thí cho người nghèọ Từ đấy, hai vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc. Câu tục ngữ: “Làm trai rửa bát quét nhà. Vợ gọi thì ‘Dạ bẩm bà tôi đây!'” là do chuyện này mà ra.

Đà Lạt Xưa & Nay

Vài đoạn Video về cố Niên Trưởng Bùi Đình Đạm K1

Chuẩn bị cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 3

Tin Buồn

Lễ Phủ Kỳ Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm (phần 1)

Lễ Phủ Kỳ Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm (phần 2)

Chủ toạ Lễ Phủ Kỳ cho cố Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn (phần 3)

“Con có tội với bọn tham nhũng và bọn giặc Tàu, chứ không có tội với Tổ Quốc và Nhân Dân”

Phương Bích – Nhiều người đã viết về Phương Uyên, toàn những bậc lão làng thuộc hàng đại thụ cả. Tôi có viết nữa cũng bằng thừa vì đều chung cảm xúc. Nhưng nhìn bức ảnh chụp cô gái trước vành móng ngựa, lại xúc động đến trào nước mắt.
Bức ảnh đẹp quá. Có người bảo bức ảnh này đáng trao giải thưởng. Còn tôi nghĩ, nó sẽ nằm trong những bức ảnh đi vào lịch sử. Khuôn mặt cô gái trẻ căng đầy nhựa sống. Vẻ hồn nhiên, ngây thơ của tuổi đôi mươi qua 6 tháng bị giam trong tù, trở nên điềm đạm và rắn rỏi hơn xưa. Nhìn bức ảnh này, tôi chợt nhớ đến những vần thơ xa xưa từ thuở học trò: 
“Sao ơi, em là con bướm trắng 
Mắc giữa cành gai sắc dập vùi 
Bao giờ em hết đời tù ngục 
Về với lũ làng múa hát, ca vui?” 
Đó là những câu thơ trong bài “Chim Chơ Rao” của Tố Hữu (rất xin lỗi vì nhớ nhầm – bài thơ Chim Chơ Rao của nhà thơ Thu Bồn ạ ).
Đọc những căn cứ để buộc tội Phương Uyên, tôi lại nhớ đến câu nói của viên quản giáo trong nhà giam Hỏa Lò: “Nếu có tội thì chị có tội với đảng và nhà nước, chứ không phải có tội với chúng tôi”
Chính xác! Phương Uyên và Nguyên Kha cũng như nhiều người khác nữa, nếu họ chống tham nhũng, chống giặc Tàu xâm lược thì họ không có tội với nhân dân và đất nước này.
Báo An ninh thủ đô vừa giật tít bài về Phương Uyên : “Hot girl” vào tù vì tội tuyên truyền chống nhà nước
Tiến sỹ Nguyễn Hồng Kiên đã có lời bình: KHÔNG THỂ BÔI BẨN ĐƯỢC, KẺ CẢ KHI DÙNG TỪ “Hot girl”!
Rất đồng ý với tiến sỹ.

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, lễ mãn khóa 22 tháng 12 năm 1967

Vài Phim Việt Nam trước 1975

Chúng Tôi Muốn Sống (1956)

Nàng (1974)

Bão Tình (1972)

Sóng Tình (1972)

Người Cô Đơn (1972)

Như Giọt Sương Khuya (1972)

Tứ Quái Sài Gòn (1973)

Trường Tôi (1973)

Gánh Hát Về Làng (1974)

Giỡn Mặt Tử Thần (1975)

Hình Ảnh Sài Gòn Trước 1975

The Incredible Power Of Concentration – Miyoko Shida

Tống cổ nếp nhăn tự nhiên theo cách của Lena

(Tự trang điểm)- Nếu chị em nào cũng đang lo lắng về tình trạng các nếp nhăn trên khuôn mặt như Lena thì cũng có thể thử áp dụng các biện pháp này rồi cảm nhận hiệu quả từ chúng nhé.

Nếp nhăn là một trong những ám ảnh lớn nhất của phụ nữ tuổi 30 trở lên bởi nó cũng là một khiếu nại rõ nhất của quá trình lão hóa da. Và Lena cũng không ngoại trừ.

30 tuổi, dù rất chịu khó dưỡng da và chăm sóc sắc đẹp, nhưng Lena cũng đã xuất hiện nhiều nếp nhăn trên trán và khóe mắt. Thú thực, có lúc Lena cũng muốn áp dụng các phương pháp điều trị laser hay mài da và phẫu thuật để tránh nếp nhăn này. Nhưng qua tìm hiểu, Lena thấy những phương pháp điều trị trên tuy có vẻ có hiệu quả – nhưng lại rất tốn kém và mất nhiều thời gian.

Vì thế, để cứu cánh cho làn da khỏi những nếp nhăn, Lena buộc phải thử áp dụng những biện pháp tự nhiên để hạn chế điều này. Và sau nhiều lần áp dụng các phương pháp khác nhau, Lena thấy những biện pháp mà Lena đang tiếp tục chia sẻ dưới đây có hiệu quả hơn cả.

Vì thế, nếu chị em nào cũng đang lo lắng về tình trạng các nếp nhăn trên khuôn mặt như Lena thì cũng có thể thử áp dụng các biện pháp này rồi cảm nhận hiệu quả từ chúng nhé.

Những gì bạn cần

– Vitamin E, dầu ô liu hoặc dầu dừa

– Kem chống nắng

– Tẩy tế bào da chết

Bước 1

Để hạn chế và đánh bật nếp nhăn trên khuôn mặt, bạn có thể tăng độ ẩm cho làn da của bạn giống như cách của Lena dưới đây là sử dụng dầu ô liu, vitamin E hoặc dầu dừa chăm sóc da mặt hàng ngày.

Bởi thực tế khi làn da của bạn khô nẻ, nó có thể dẫn đến nếp nhăn hơn. Kem dưỡng ẩm da tự nhiên có thể ngăn chặn điều này xảy ra.

Chỉ cần thoa một chút dầu trên một quả bóng bông và áp dụng cho các khu vực có nếp nhăn tọa lạc. Để các loại dầu này khô hoàn toàn trong vòng 10 đến 15 phút sau đó rửa sạch lại bằng nước ấm.

Ảnh MH
Nếu chị em nào cũng đang lo lắng về tình trạng các nếp nhăn trên khuôn mặt như Lena thì cũng có thể thử áp dụng các biện pháp này rồi cảm nhận hiệu quả từ chúng nhé.

Bước 2

Bạn có tin hay không thì tùy nhưng Lena thấy nếu chịu khó thay đổi vị trí khi ngủ cũng có thể hạn chế được nếp nhăn.

Bạn có thể không nghĩ về điều này, nhưng đó là một thực tế nếu không muốn nếp nhăn xuất hiện thêm trên mặt.  Theo Học viện Da liễu Mỹ, bạn có thể ngủ trên một chiếc gối lụa mềm mại và thông thoáng cũng giúp ngăn chặn nếp nhăn.

Bước 3

Nếu muốn nếp nhăn không xuất hiện, chị em nào hút thuốc nên ngừng hút thuốc. Hút thuốc lá là một trong những thủ phạm chính làm cho nếp nhăn sớm xuất hiện vì chất nicotine co thắt các mạch máu của bạn.

Ngoài ra, chúng cũng cản trở khả năng hấp thụ của các chất dinh dưỡng cần thiết trên bề mặt da. Do đó có thể gây ra khô da.

Hoặc nếu bạn không hút thuốc lá thì cũng phải cố gắng tránh khói thuốc. Vì điều này khiến làn da trở nên tồi tệ hơn và dễ làm phát sinh nếp nhăn xuất hiện.

Bước 4

Không nên đi ra ngoài mỗi lúc trời nắng vì tiếp xúc với quá nhiều với tia UVA và UVB là một nguyên nhân chính cho các nếp nhăn xuất hiện.

Nếu bạn không thể tránh được việc phải đi ra ngoài nắng thì nên thoa kem chống nắng. Ngoài ra, mặc quần áo bảo hộ, mũ rộng vàng, kính râm để ánh nắng mặt trời không tác động trực tiếp trên da của bạn.

Bước 5

Tẩy tế bào chết cho khuôn mặt ít nhất một lần một tuần. Tẩy tế bào chết giúp làn da của bạn sáng một cách tự nhiên và làn da trẻ trung hơn làn da bên dưới.

Bước 6

Luôn cố gắng thư giãn để khuôn mặt bạn luôn thoải mái và cười. Thực tế, nếu bạn càng tiết kiệm nụ cười, hoặc có thói quen nheo mắt của bạn, nhiều khả năng bạn bị nếp nhăn nhiều hơn những người không có thói quen này.

  • Lena

Bật mí bí mật trắng da tự nhiên của phụ nữ Nhật

(Tự trang điểm)- Thực tế, thay vì sử dụng sản phẩm làm trắng da tổng hợp, phụ nữ Nhật Bản thường sử dụng rất nhiều phương pháp chăm sóc da tự nhiên hoặc tự chế để làm trắng và duy trì làn da trắng xinh đẹp của mình.

Người đẹp Đông Nam Á đặc biệt là phụ nữ Nhật Bản được biết đến với màu trắng, mịn. Đó là lý do tại sao rất nhiều phụ nữ trên khắp nơi trên thế giới muốn biết bí quyết làm đẹp của họ.

Song thực tế, thay vì sử dụng sản phẩm làm trắng da tổng hợp, phụ nữ Nhật Bản thường sử dụng rất nhiều phương pháp chăm sóc da tự nhiên hoặc tự chế để làm trắng và duy trì làn da trắng xinh đẹp của mình.

Nếu bạn muốn biết một số cách tự nhiên để làm trắng da một cách hiệu quả và an toàn, bạn có thể thử áp dụng những mẹo làm trắng da rất phổ biến của phụ nữ Nhật Bản sau nhé.

1. Sử dụng nước gạo để rửa mặt

Nước gạo có thể được lấy khi hàng ngày bạn vo gạo trước mỗi bữa cơm. Thay vì bỏ nước vo gạo đi, bạn có thể sử dụng nước gạo để rửa mặt.

Theo các chuyên gia da liễu, rất nhiều phụ nữ Nhật Bản sử dụng nước gạo để rửa mặt hàng ngày cho khuôn mặt của mình. Lý do bởi vì nước vo gạo rất giàu chất chống oxy hóa, giúp bảo vệ da khỏi tác hại của ánh mặt trời.

Vì vậy, sau khi bạn vo gạo để nấu cơm, bạn không nên đổ nước này đi mà sử dụng nó để rửa mặt. Bởi đây là một giải pháp làm trắng da với giá cả rẻ bèo.

2. Tắm hoặc đắp mặt nạ bằng sữa

Sữa là một thực phẩm cũng được biết đến để làm trắng da hiệu quả. Và phụ nữ Nhật Bản thường sử dụng sản phẩm thơm ngon và lành mạnh này để làm trắng dần làn da mình trong nhiều thế kỷ.

Nếu không có nhiều tiền, bạn không cần tắm cả cơ thể với sữa. Ngược lại, bạn có thể sử dụng sữa làm một mặt nạ trắng da.

Ảnh MH
Thực tế, thay vì sử dụng sản phẩm làm trắng da tổng hợp, phụ nữ Nhật Bản thường sử dụng rất nhiều phương pháp chăm sóc da tự nhiên hoặc tự chế để làm trắng và duy trì làn da trắng xinh đẹp của mình.

Bạn cũng có thể trộn sữa tươi và sữa bột hoặc bột mì lại với nhau. Nếu bạn sử dụng 1 ly hoặc muỗng cà phê sữa, bạn nên sử dụng 2 cốc sữa bột.

Bước tiếp theo là cắt gạc với kích thước đủ để phù hợp với khuôn mặt của bạn. Sau đó cắt lỗ cho mắt và miệng của bạn. Thoa hỗn hợp sữa và bột mì vào gạc và áp dụng nó vào khuôn mặt của bạn trong khoảng 15 phút sau đó rửa sạch với nước ấm.

3.  Mặt nạ sữa chua

Từ lâu, phụ nữ Nhật đã biết sữa chua là một sản phẩm khỏe mạnh, bạn có thể sử dụng để làm trắng da của bạn.

Sữa chua giàu probiotic, giúp làm dịu da bị kích thích cũng như bài trừ mụn trứng cá. Sữa chua cũng giúp loại bỏ tế bào da chết và thúc đẩy lỗ chân lông chặt chẽ hơn làm cho da trông mềm mại và khỏe mạnh. Nó cũng làm sáng da ngay cả làn da tối màu nhất.

Bạn có thể áp dụng một chút sữa chua dày trực tiếp trên khuôn mặt hay sử dụng một miếng bông. Để chúng lưu lại trên da từ 15 đến 20 phút hoặc cho đến khi sữa chua trở nên khô thì mới rửa sạch bằng nước ấm.

4. Chăm sóc da với chanh

Chanh là một thực phẩm rất phổ biến được phụ nữ Nhật hay sử dụng làm đẹp cho da.

Chanh là phẩm làm trắng da vì có chất tẩy trắng tự nhiên. Bạn có thể trộn nước chanh với mật ong hoặc nước ép dưa chuột, sau đó áp dụng trực tiếp trên da của bạn trong khoảng 15 phút.

Sử dụng nước ép dưa chuột với chanh thay vì mật ong là một lựa chọn nhiều phụ nữ Nhật đề nghị cho những người có làn da nhạy cảm. Họ cho rằng dưa chuột có tác dụng làm dịu và chữa lành cho da cân bằng.

Tóm lại, những phụ nữ Nhật có rất nhiều biện pháp tự nhiên khác để làm trắng da. Vì thế, nếu hợp với biện pháp nào thì bạn có thể áp dụng cho làn da của mình nhé.

Trước khi áp dụng các biện pháp khắc phục làm đẹp da tại nhà, hãy rửa mặt của bạn kỹ lưỡng để loại bỏ bụi bẩn và tăng hiệu quả khi áp dụng trên da.

  • Tuấn Thanh

How to make Vietnamese Fresh Spring Roll (Gỏi Cuốn)

UAV – VN: Bất Nhất và Ngạo Mạn

“Lắp ráp thành công thì nói là Lắp ráp thành công, có sao đâu, chứ sao lại lu loa là Tự Chế tạo? Tự Chế tạo mà 2 bộ phận cốt lõi: 1. Động cơ thì mua của Nhật, 2. Cánh quạt mua của Pháp…và hầu như mọi linh kiện khác đều nhập từ nước ngoài! Ai lắp ráp (assemblage) được cũng đáng khen, nhưng Nổ lắp ráp thành chế tạo (invention) lại đáng khinh (nhất là tiếng Nổ lại từ chư vị Gs-Ts KHKT, KHCN, nhơn nhơn lấy tay che trời)!”

 

Hôm mồng 3 tháng 5 năm nay (2013), cái tin Việt Nam chế tạo và thử nghiệm thành công Máy bay không người lái (UAV: Unmanned Aerial Vehicle / Drone) trên mạng lề phải lẫn lề trái, đã nổi sóng phản hồi – đổ đồng là hô hô in ít, hu hu nhiêu nhiều. Sau khi đọc vài lần và nhờ Bác Gu-gồ chi li kiểm chứng nội dung bài của Facebooker Mạnh Kim, tạm chạy tựa là “Vu vạ như thế người ta cười cho”, tôi có du di còm như sau:

[“UAV VN: Tự Lắp ráp hay tự Chế tạo?

Mấy chiếc VN UAV TOY = 12 tỉ VND (= ± 600.000 Ô-ba-má)!

Lắp ráp thành công thì nói là Lắp ráp thành công, có sao đâu, chứ sao lại lu loa là Tự Chế tạo? Tự Chế tạo mà 2 bộ phận cốt lõi: 1. Động cơ thì mua của Nhật, 2. Cánh quạt mua của Pháp…và hầu như mọi linh kiện khác đều nhập từ nước ngoài! Ai lắp ráp (assemblage) được cũng đáng khen, nhưng Nổ lắp ráp thành chế tạo (invention) lại đáng khinh (nhất là tiếng Nổ lại từ chư vị Gs-Ts KHKT, KHCN, nhơn nhơn lấy tay che trời)!

Nếu cái clip VN UAV TOY này và các bài báo ở VN được dịch ra ngoại ngữ, xin lỗi, chẳng biết Fans YouTube sẽ chọn kiểu cười nào cho thật xứng với cái căn Nổ bất trị này của các Gs-Ts UAV, nói riêng.

Chư vị Gs-Ts UAV yêu quỉ ! Xin đừng tiếp tục mục hạ vô nhân, đừng kiên định cái cốt tự bỉ, tự lừa, tự sướng và khinh nhờn dân trí VN. Nhân dân VN đã ê chề với món thịt Lừa lắm rồi. Thời đại Nét niếc nổ tung toé như hiện nay mà cứ khư khư tư duy Bao cấp-Tem phiếu. Tội nghiệp quá!”]

*

Còm như trên tôi tự cho là đã đầy đủ, bao gồm tính ‘trung dung’. Nhưng (chữ này độc lắm), tối 07 và 08-5-2013, đọc bài “Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng và việc chế tạo UAV Việt Nam” trên PetroTimes, tôi buộc phải lòi ra bài này.

1. Bất nhất

Ông Ts Phạm Ngọc Lãng – chủ nhiệm đề tài UAV-VN (03-05-2013) tuyên bố với trang Tuổi Trẻ, nguyên văn:

“… mặc dù đề tài được duyệt năm 2011, nhưng thực tế các nhà khoa học bắt tay nghiên cứu từ năm 2008 và đến nay kết quả thực hiện đã “vượt xa yêu cầu, chế tạo thành công năm mẫu máy bay không người lái hạng siêu nhẹ”. Nhóm nghiên cứu khẳng định đã thiết kế, chế tạo thành công các mẫu máy bay này từ những vật liệu linh kiện cơ bản và không có bất kỳ bóng dáng chuyên gia hay cố vấn nước ngoài nào hỗ trợ, hoàn toàn 100% người Việt Nam.”

Còn trao đổi với trang Thanh Niên, ông Ts Lãng lại nói, xa hơn một chút:

“…UAV nói trên Việt Nam đã hoàn toàn tự thực hiện các khâu từ nghiên cứu, thiết kế cơ bản, thiết kế chế tạo, vật liệu composite… Các chi tiết cho bộ điều khiển bay tự động từ tụ điện, chipset… được nhập rời rạc, không sử dụng chung với những loại phổ thông sẵn có để phòng ngừa yếu tố can thiệp từ bên ngoài. Hai chi tiết duy nhất và cũng là quan trọng nhất mà Việt Nam chưa thể sản xuất được và phải nhập hiện nay là động cơ (từ Nhật) và cánh quạt (từ Pháp).”

2. Ngạo mạn

Rồi PetroTimes lại viết, tận chân trời:

«Với những ai đã từng làm việc với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng thì chẳng lạ gì chuyện là cho đến nay, đối với điện thoại di động, ông vẫn chưa… thạo cách lập danh bạ, không rành chuyện nhắn tin, điện thoại đối với ông chỉ có mỗi hai nhiệm vụ là nghe và gọi; ông cũng không rành sử dụng máy tính… Nhưng ông lại nắm bắt công nghệ hiện đại rất nhanh và khi còn là Cục trưởng một Cục nghiệp vụ từ hơn 20 năm trước, ông đã có nhiều chủ trương biện pháp mang tính chiến lược để hiện đại hóa công tác nghiệp vụ của lực lượng an ninh… »

Thú thật, đọc bài trên PetroTimes, tuồng như ‘toàn tập’ máu trong người tôi hùa nhau xung ngược cả lên đầu. Qua một đêm đắn đo, tôi quyết định trưng ra ‘Hình chứng’ dưới đây thay câu kết cho bài tổng hợp nhỏ bé này:

Xin lặp lại: Chư vị Gs-Ts UAV yêu quỉ ! Xin đừng tiếp tục mục hạ vô nhân, đừng kiên định cái cốt tự bỉ, tự lừa, tự sướng và khinh nhờn dân trí VN. Nhân dân VN đã ê chề với món thịt Lừa lắm rồi. Thời đại Nét niếc nổ tung toé như hiện nay mà quí vị cứ khư khư tư duy Bao cấp-Tem phiếu. Tội nghiệp quá!

Người trên ở chẳng chính ngôi,
Cho nên kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.
Người trên vung vít tào lao,
Cho nên kẻ dưới lộn nhào lên trên!

Trần Thị Hải Ý

 

Ghi Chú:

Sau khi bài này được đưa lên mạng, một DLV có nick Đức Giang đã còm trong trang Dân Làm Báo như sau:

[«Chúng ta tự chế tạo được, chúng ta chỉ mua nguyên vật liệu cần thiết mà thôi, chúng ta phải tự hào điều đó chứ, và phải ủng hộ nhiệt tình để khoa học công nghệ nước nhà một ngày đi lên chứ, sao lại viết bài trù ẻo như thế này, đúng là bọn phá hoại mà, đất nước có thành tựu vượt bậc gì chúng cũng xuyên tạc lái làm sao cho nó thành tiêu cực, đúng là bọn vô liêm sỉ.»]

Cho nên, tôi thấy cần nói rõ thêm vài điều. Đọc kỹ Hình chứng trang VNExpress trên kia chúng ta thấy gì ?

– Bí mật ‘chế tạo’ VN-UAV TOY bị / đượcbật mí là ‘nhờ’ cái hình chứng ‘di hại’ chụp từ VNExpress đề ngày Thứ ba, 20-11-2012 (xem phiá trên, góc trái, dưới 2 chữ Khoa học).

Nói cho rõ, (ruột) VN-UAV TOY = Made in Ráp là sự thật 100%, hơn nữa do Thụy Điển (Sweden) tài trợ hướng dẫn trọn gói sau buổi ký kết hợp tác, ngày 20-11-2012. Con số 9,8 tỉ VND do ‘ngân sách’ hoặc 2,2 tỉ VND vô danh trong tổng kinh phí 12 tỉ VND được công bố phải chăng có xuất xứ từ cuộc ký kết này?

Nhóm ông Ts Phạm Ngọc Lãng và ông Gs Đỗ Trung Tá ‘nổ’ quá lố từ thực chất Lắp ráp thành công, hô biến ra Chế tạo thành công là ‘nhờ’ họ Quên Béng buổi lễ ký kết hợp tác giữa Chủ tịch Hiệp hội Hàng không Vũ trụ VN (VASA) là Gs Nguyễn Đức Cương và đại diện UAV Sweden, mà VNExpress đã có bài tường thuật ‘oan nghiệt’ ngày 20-11-2012.

Ngày 04-5-2103, chính VNExpress cũng loan tin «Việt Nam chế tạo máy bay không người lái», tức là VNExpress cũng quên bài tường thuật của mình ngày 20-11-2012. Về VNExpess, tôi chỉ nói ngần này, không muốn bàn sâu hơn.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản khởi đầu tại Ba Lan

Hai mươi năm trước, bức tường Berlin, biểu tượng của bức Màn Sắt phân chia thế giới thành hai khối: khối thế giới tự do và khối cộng sản, đã bị tháo dỡ bởi một hành động tự phát của người dân sống tại Đông Đức, mà thời đó bị cai trị bởi chế độ cộng sản.

Bóng của một nhóm du khách in trên một mảng tường gốc của bức tường Berlin tại Bernauer Strasse, trung tâm Berlin vào ngày 8 tháng 11. (Leon Neal/AFP/Getty Images)Bóng của một nhóm du khách in trên một mảng tường gốc của bức tường Berlin tại Bernauer Strasse, trung tâm Berlin vào ngày 8 tháng 11. (Leon Neal/AFP/Getty Images)

Hành động chờ đợi từ lâu này đã thực hiện được niềm khao khát tự do của người dân Đông Đức nhằm thoát khỏi sự khống chế tư tưởng, sự hạn chế mà ngăn cấm họ tự do đi lại giữa hai nửa của thành phố Berlin, cấm tự do ngôn luận, và cấm tự do trao đổi tư tưởng, quan điểm hay ý kiến.

Bức tường Berlin đã đứng vững trong hơn 28 năm như là biểu tượng của điều ghê sợ, như một cảnh báo cho những ai dám mơ ước tự do, bức tường mà dính đầy máu của những người dũng cảm dám trèo lên tìm kiếm tự do, đã bị sụp đổ trong vòng vài tháng. Những sự kiện nào đã dẫn tới sự sụp đổ này?

Thành lập công đoàn Đoàn kết

Vết nứt rạn biểu tượng đầu tiên trên bức tường Berlin đã xuất hiện khi một thỏa hiệp được ký kết để cho phép các công nhân Ba Lan được quyền thành lập công đoàn độc lập đầu tiên trong chế độ cộng sản đằng sau bức Màn Sắt. Thỏa hiệp được ký tại Gdansk Shipyard, nước Ba Lan vào ngày 31 tháng 8 năm 1980, chấm dứt một cuộc đình công ôn hòa của 17.000 công nhân trong xưởng đóng tàu.

Từ khi chủ nghĩa cộng sản thành lập tại Đông Âu, nhân dân bị đàn áp bởi các chế độ cộng sản đã cố gắng đứng lên chống lại kẻ áp bức. Các nỗ lực quả cảm ấy đã bị đàn áp bởi những chế độ sử dụng lực lượng quân đội hay cảnh sát chống bạo động. Cuộc đình công của công nhân xưởng đóng tàu tại Ba Lan vào tháng 8 năm 1980 là hành động thành công đầu tiên để kháng cự lại một chế độ cộng sản ở Đông Âu.

Lực lượng đối lập tại Ba Lan đã phát triển sau khi thời đại Stalin kết thúc năm 1956. Các nhà trí thức đã thành lập những nhóm hoạt động ngầm để tìm cách giải phóng xã hội khỏi sự đàn áp cộng sản, để xuất bản các bản tin và báo chí bí mật hầu cung cấp thông tin về các sự kiện bị bóp méo hay che dấu bởi tuyên truyền cộng sản, và để thiết lập cương lĩnh chính trị của họ. Mặc dù phải đối diện với nguy hiểm bị cầm tù hay bức hại, con số các người chống đối vẫn gia tăng. Việc làm của họ đã đặt nền móng cho sự thành công trong cuộc đình công năm 1980.

Một yếu tố khác đóng góp trong sự thành công của vụ đình công là sức mạnh của đức tin tôn giáo trong xã hội Ba Lan. Những người cộng sản không bao giờ có thể nhổ bỏ tận gốc đức tin này. Cuộc đắc cử năm 1978 của Giáo hoàng John Paul II người Ba Lan, tên là Karol Józef Wojtyla, đã tăng cường đức tin trong dân chúng Ba Lan và cho họ hy vọng cùng lòng dũng cảm. Chuyến thăm Ba Lan của đức Giáo Hoàng vào năm 1979 và câu nói nổi tiếng của ngài “Đừng sợ” đã đoàn kết nhân dân Ba Lan và nâng cao tinh thần của họ.

Từ khi chủ nghĩa cộng sản được thành lập, đã có nhiều cuộc phản kháng đông đảo, đình công và biểu tình khởi xướng bởi nhân dân Ba Lan nhằm chống lại chế độ cộng sản. Tuy nhiên, họ đều bị đàn áp bằng bạo lực và kết thúc trong sự đổ máu.

Ví dụ cho một hành động như vậy là cuộc đình công tại thành phố Gdansk năm 1970, nơi các công nhân đã xuống đường và cuộc đình công phát triển thành trận đụng độ với cảnh sát. Kết quả là nhiều công nhân đã bị chết hay bị thương. Người dân đã học được bài học từ kinh nghiệm này rằng vũ khí tốt nhất để chống lại đội ngũ cảnh sát đặc biệt và quân đội được vũ trang và huấn luyện đầy đủ chính là một cuộc đình công ôn hòa trong phạm vi nhà máy.

Một vài tuần sau cuộc đình công chiến thắng năm 1980 tại Gdansk, một công đoàn độc lập và tự quản tên là “Đoàn Kết” đã được thành lập. Công đoàn lớn mạnh nhanh chóng với số thành viên ước chừng 8 triệu người. Nó còn hơn là một công đoàn. Nó bắt đầu trở thành một phong trào xã hội mà đoàn kết toàn thể xã hội và dần dần liên hệ với những vấn đề chính trị.

Thiết quân luật

Nhưng chế độ cộng sản đã không bỏ qua. Chẳng bao lâu sau khi ký thỏa thuận với các công nhân đóng tàu tại Gdansk vào năm 1980, giới chức đảng Cộng sản đã bắt đầu chuẩn bị áp dụng lệnh thiết quân luật tại Ba Lan.

Mối quan hệ giữa các nhà chức trách và công đoàn Đoàn Kết dần dần trở nên căng thẳng. Bước ngoặt là một sự kiện xảy ra tại thành phố Bydgoszcz. Nông dân Ba Lan cũng muốn thành lập công đoàn Nông Dân độc lập và tự quản của riêng họ. Giới chức cộng sản đã từ chối hợp pháp hóa tổ chức này. Những người nông dân tại Bydgoszcz đã tuyên bố đình công trong tòa nhà của tổ chức nông dân được kiểm soát bởi Đảng. Vì vậy một vụ xung đột đã bắt đầu.

Các đại diện của công đoàn Đoàn Kết, Jan Rulewski và Mariusz Labentowicz cùng với một đại diện của công đoàn Nông Dân độc lập và mới thành lập, Michal Bartoszcze đã tham gia một phiên họp hội đồng cấp tỉnh để trình bày về tình cảnh của các nông dân. Đến giữa phiên họp, chủ tịch và một số thành viên hội đồng đã quyết định đóng cửa phiên họp và rời khỏi chỗ họp. Một đội cảnh sát đặc biệt đã đột nhập vào tòa nhà và đánh đập tàn nhẫn các nhà hoạt động cho công đoàn Đoàn Kết, những người này phải nhập viện vì thương tích.

Chế  độ cộng sản đã hoàn tất sự chuẩn bị cho việc áp đặt thiết quân luật và đang chờ dịp để ‘đánh mạnh’ và ‘nghiền nát’ phong trào Đoàn Kết. Cái cớ được sử dụng là những câu trích dẫn từ những diễn văn, lời nói qua việc theo dõi điện tử một buổi họp của ban lãnh đạo công đoàn Đoàn kết.

Thiết quân luật đã được ban hành tại Ba Lan ngày 13 tháng 12 năm 1981, và hàng ngàn người hoạt động cho công đoàn Đoàn Kết đã bị bắt và bị giam cầm mà không kết tội rõ ràng. Một số nhà hoạt động đã bị giết chết. Sự tự do công dân đã bị hạn chế nghiêm ngặt.

Sự đáp trả của nhân dân Ba Lan

Mặc dù cảm thấy vô vọng, người dân Ba Lan đã đứng biểu tình tại chỗ. Sau khi ban hành thiết quân luật, sự tín nhiệm đảng cộng sản Ba Lan (đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan) đã sụt giảm. Tới 850.000 đảng viên do thất vọng với chính quyền cộng sản đã tuyên bố rút ra khỏi đảng. Trong số họ, 36% là các công nhân nhà máy. Nhiều đảng viên công khai vứt bỏ sách của đảng viên để tham gia các cuộc đình công và biểu tình. Thiết quân luật đã được dỡ bỏ vào tháng 7 năm 1983.

Công đoàn Đoàn kết luôn tuyên bố rằng họ sẵn lòng ngồi lại để đối thoại với chế độ cộng sản, ngay cả khi tổ chức của công đoàn đã bị cấm trong những năm thiết quân luật. Tuy nhiên, việc đối thoại đã không bắt đầu cho đến tháng 2 năm 1989. Vào tháng 4 năm 1989, một hội nghị Bàn Tròn đã đi đến thỏa thuận cho phép một nửa Quốc hội và toàn bộ Thượng viện sẽ được bầu cử theo phương thức dân chủ. Cuộc bầu cử được tổ chức vào ngày 04-06-1989 đã tạo nên làn sóng chấn động trong giới chức cộng sản. Các ứng cử viên của công đoàn Đoàn Kết đã thắng tất cả các ghế Quốc hội được dành cho cách bầu dân chủ, gồm có toàn bộ Thượng viện.

Sự kiện này đã trải đường cho sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở các quốc gia khác thuộc khối Đông Âu và dẫn tới sự sụp đổ của bức tường ô nhục Berlin.

Theo vietdaikynguyen.com

Lòng Mẹ – Hoàng Oanh

Cách Cắt & Tách Trái Sầu Riêng

Cách Gỡ Hột Lựu nhanh

Boat People – Thuyền Nhân

Bao La Tình Mẹ

Tĩnh Tâm

Bạn có biết hiện nay hình thức tập để tăng cường sức khoẻ được ưa chuộng nhất trên thế giới không phải yoga, chạy chậm, hay nhảy Latinh… chính là ngồi thiền! Chỉ đơn giản là ngồi khoanh chân, hoặc ngồi tự nhiên trên ghế và tĩnh tâm lại.

...

Ngồi tĩnh tâm được gì?

Ngồi thiền không chỉ giúp tăng cường hệ miễn dịch, làm giảm tâm trạng mệt mỏi, mà còn mang lại tác dụng làm đẹp. Nếu bạn không có điều kiện chạy 1 tiếng mỗi ngày, có thể dành ra 10-20 phút tập ngồi thiền, tĩnh tâm để nhận được những hiệu quả dưới đây:
Giảm áp lực, tăng cảm giác hạnh phúc: Theo các chuyên gia ĐH Harvard, ngồi thiền có thể làm giảm mức độ căng thẳng của các cơ. Thực nghiệm đã chứng minh, mỗi ngày ngồi tĩnh tâm 20 phút, liên tục trong 1 tuần có thể cải thiện khả năng tập trung và khả năng khống chế cảm xúc; các cảm giác lo lắng, dễ cáu giận, xuống tinh thần…cũng theo đó giảm đáng kể.

Không chỉ vậy, ngồi tĩnh tâm còn thúc đẩy tuần hoàn máu lên não, giúp não bộ chuyển từ trạng thái “phản ứng hoặc đối kháng” sang “tiếp nhận sự thật”, nhờ đó làm tăng cảm giác hạnh phúc của mỗi người.

Bảo vệ gan: Sau bữa trưa, tốt nhất bạn nên ngồi tĩnh tâm nghỉ ngơi khoảng 30 phút trước khi làm những việc khác nhằm bảo vệ gan.

Sau khi ăn, lượng máu trong cơ thể sẽ tập trung về hệ tiêu hoá để tham gia vào quá trình tiêu hoá thực phẩm. Khi cơ thể thay đổi trạng thái liên tục từ ngồi sang đứng, rồi đi, hay nằm sẽ khiến lượng máu chuyển về gan bị giảm dần, từ đó gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động trao đổi chất.

Giảm huyết áp, tránh xa bệnh tim mạch: Một thực nghiệm của Mỹ với những người bị bệnh cao huyết áp được áp dụng liệu pháp ngồi thiền đã cho kết quả: ngồi thiền giúp huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của người bệnh lần lượt giảm 4,7mmHg và 3,2mmHg. Từ đó có thể thấy ngồi tĩnh tâm rất có công hiệu trong việc giảm huyết áp, nhờ đó ngăn ngừa nguy cơ mắc các chứng bệnh tim mạch.

Giảm cảm giác đau đầu, tránh xa thuốc giảm đau: Nghiên cứu đã chỉ ra, ngồi tĩnh tâm không làm giảm được mức độ các cơn đau, nhưng lại có thể cải thiện tâm trạng phản ứng do cảm giác đau đớn khó chịu mang lại. Bởi thói quen ngồi tĩnh tâm sẽ rèn cho não bộ khả năng “tĩnh” lại trước mọi hiện trạng xung quanh, giúp tâm trạng bạn thoải mái hơn.

Vậy ngồi tĩnh tâm càng lâu càng tốt
?
Khi mới bắt đầu tập, mỗi lần bạn chỉ nên ngồi khoảng 15-30 phút. Sau đó tăng dần thời gian lên 1 tiếng.

Tôi có nên dùng đồng hồ báo thức để nhắc nhở mình về thời gian?
Trong cả quá trình ngồi thiền, xem thời gian 1-2 lần không gây ảnh hưởng đến hiệu quả luyện tập. Khi số lần tập nhiều hơn, cơ thể bạn sẽ tự đặt ra cơ chế đồng hồ sinh học 20 phút. Tuyệt đối không dùng đồng hồ báo thức, bởi khi ngồi thiền cơ thể bạn ở trạng thái trao đổi chất rất thấp, mà sự kích thích do âm thanh của đồng hồ báo thức lại quá lớn, không có lợi cho sức khoẻ.

Nếu suy nghĩ quá nhiều, không thể tĩnh tâm nên làm thế nào?
Bạn có thể thử ngồi trong không gian có âm nhạc nhẹ nhàng, hoặc dùng loại nhạc dành riêng cho ngồi thiền, đồng thời chỉ tập trung vào sự hô hấp của cơ thể để dần giúp bản thân “tĩnh” lại.

Phạm Thúy

Truyện Ngắn

Người Mẹ Điên  Vương Hằng Tích
Đôi Mắt Phượng  Nguyễn Đạt Thịnh
Một Đêm Kinh Hoàng  Azit Nezin
Bản Đàn Thôn Dã  André Gide
Ví Dụ Ta Yêu Nhau  Đoàn Thạch Biền
Cầu Tre Lắt Lẻo  Hoàng Chính
Truyện của Thạch Lam  Thạch Lam
Thần Thoại  Hoàng Chính
Mái Tóc Ngày Xưa  Nguyễn Ðức Thiện
Người Thầy Học Cũ Mai Thảo
Đêm Tân Hôn Mai Thảo
Những Vì Sao Thứ Nhất Mai Thảo
Cô gái xứ Ipanema Haruki Murakami
Chuyện Cũ Nguyễn Ngọc Ngạn
Bắt Cá Hai Tay Trên Thiên Đường Aramis – Jean Kim
Hoa Tím Bằng Lăng Nguyễn Duy-An
Người Bạn Đường Mai Thảo
Dưới Bóng Hoàng Lan Thạch Lam
Người Đàn Ông Yêu Vợ DiễmTrinh
Thời Đại Ảo Họ Yêu Nhau DiễmTrinh-MỹDung
Đom Đóm Murakami Haruki
Françoise Sagan, tiểu yêu nữ khả ái Dịch thuật
Mười Điều Răn Quỳnh Dao
Giáng Sinh Buồn Hoàng Chính
Roméo và Juliette W. Shakespeare
Người Tình Bí Ẩn Françoise Sagan
Tháng Giêng Cỏ Non Mai Thảo
Một Chiều Qua Cửu Long Mai Thảo
Những Nhầm lẫn Khôi Hài Henryk Sienkiewicz
Đêm Giã Từ Hà Nội Mai Thảo
Nơi Kinh Đô Thế Giới Ernest Hemingway
Muộn Màng Hoàng Chính
Thiên Thần Hoàng Chính
Mưa Núi Mai Thảo
Những Ngày Gió Cát Dung Sàigòn
Chuyến Tầu Trên Sông Hồng Mai Thảo
Con Mọt Sách Biết Yêu Trúc Quỳnh
Con Sáo Của Em Tôi Duyên Anh
Người Bạn Đồng Hành Andecxen
Chiếc Xe Hàng Cũ Mai Thảo
Quà Cưới Cho Cô Bé D.Sàigòn &VHA
Bóng Người Trong Sương Mù Nhất Linh
Vầng Trăng Thơ Ấu Mai Thảo
Tiếng Dương Cầm Khái Hưng
Người Điên dưới chân sườn Tam Đảo Mai Thảo
Dễ Ghét Dung Sàigòn
Mưa Bụi Mường Mán
Đá Xanh Cũng Khóc Vành Khuyên
Nhà Mới Mai Thảo
Đường Về Vũ Thư Nguyên
Một Thoáng Qua Đi Dung Sàigòn
Người Cha Và Người Con Mai Thảo
Trái Xanh,Tình Xanh Mưa Bụi
Hình Như Anh Đã Yêu Em Vũ Thư Nguyên
Chấp Một Tay Mai Thảo
Người Yêu Dung Sàigòn
Nắng Mưa Là Bệnh Của Trời… Trần Kim Tuyến
Bản Tình Ca Cuối Cùng Thùy Dương
Những Tấm Hình Của Chị Thời Mai Thảo
Quả Chuông Pha Lê Đỏ Robert Arthur
Tình Yêu Cuồng Nhiệt Aziz Nesin
Giai Đoạn Chị Định Mai Thảo
Nụ Hôn và Ly Dị L. Palashti
Lên Mười Mai Thảo
Quà Giáng Sinh O´ Henri

Truyện Dài

Dưới Ánh Trăng Cô Đơn  Quỳnh Dao
Hãy Kể Giấc Mơ Của Em(Tell Me Your…) Sidney Sheldon
Yêu Người Ở Bên Ta (Love the One You’re…) Emily Griffin
Ô Cửa Nhỏ Mầu Trắng  Phương Oanh
Thương Người Xa Xứ  Quỳnh Dao
Sự Chọn Lựa Cuối Cùng (The Proud and…) Janet Dailey
Cảm Ơn Ký Ức (Thanks for the Memories) Cecelia Ahern
Nếu Em Thấy Anh Bây Giờ (If you could…) Cecelia Ahern
Kiếp Sau (La Prochaine Fois)   Marc Levy
Người Bảo Hộ  (Someone To Watch Over Me) Judith McNaught
Bông Hồng Vàng   Konstantin Pautovsky
Hậu Bố Già (The Last Don)   Mario Puzo
Hai Chị Em   Janet Dailey
Định Mệnh Đã An Bài   Hoàng Hải Thủy
Phố Cũ Hoa Vàng   Trần T. Bảo Châu
Hãy Hiểu Tình Em  Quỳnh Dao
Thủy Vân Giang  (Dấu Ấn Tình Yêu)  Quỳnh Dao
Điều Kỳ Diệu (Miracles)  Judith McNaught
Áo Tiểu Thư   Duyên Anh
Kế Hoạch Hoàn Hảo(The Best Laid Plans) Sidney Sheldon
Bỏ Vợ Hồ Biểu Chánh
Chút Phận Linh Đinh Hồ Biểu Chánh
Chú Tư Cầu Lê Xuyên
Số Đỏ Vũ Trọng Phụng
Hạt Đậu Tương Tư Quỳnh Dao
Chết Cho Tình Yêu Lệ Hằng
Tháng Ngày Có Em Từ Tốc
Mưa Là Anh, Nắng Cũng Là Anh Quỳnh Dao
Hỏi Áng Mây Chiều Quỳnh Dao
Người Lạ Trong Gương(A Stranger in…) Sidney Sheldon
Từ Khi Có Em(Until You) Judith McNaught
Nghị Lực Người Đàn Bà(Power of a…) Barbara T.Bradford
Dòng Sông Cỏ Mục Chu Sa Lan
Nhà Thờ Đức Bà Thành Paris  Victor Hugo
Ảo Vọng Tuổi Trẻ  Duyên Anh
Người Đàn Bà Đích Thực(A Woman of…) Barbara T.Bradford
Con Nai Trong Rừng M. Delly
Thiên Thần(Angel) Barbara T.Bradford
Hậu Hoàn Châu Cát Cát Quỳnh Dao
Thành Trì(The Citadel) Archibald J. Cronin
Mùa Thu Lá Bay Quỳnh Dao
Người Đàn Bà Trên Sàn Diễn(Theatre) Somerset Maugham
Một Giấc Mơ Xuân Quỳnh Dao
a (Rain) Somerset Maugham
Chỉ Một Lần Yêu(No Greater Love) Julie Ellis
Phía Bên Kia Nửa Đêm(The Other Side…) Sidney Sheldon
Một Lần Và Mãi Mãi(Once and Always) Judith McNaught
Giữa Hai Linh Hồn(Entre Deux Âmes) M. Delly
Vườn Thúy Quỳnh Dao
Hoàn Hảo(Perfect) Judith McNaught
Tình Yêu Sẽ Đến Trần T. Bảo Châu
Bên Giòng Nước Quỳnh Dao
Thiếu Nữ Đánh Cờ Vây Shan Sa
Papillon Người Tù Khổ Sai Henry Charrière
Song Ngoại Quỳnh Dao
Thiên Đường(Paradise) Judith McNaught
Xin lỗi, em chỉ là con đĩ Bảo Thê
Gặp Lại Người Xưa Junichi Watanabe
Dòng Máu(Bloodline) Sidney Sheldon
Phượng Vĩ! Duyên Anh
Vũ Hội Hoá Trang  (Masquerade) Janet Dailey
Cánh Buồm Mầu Đỏ Phương Oanh
Bản Tango Cuối Cùng Lệ Hằng
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh Võ Hà Anh
Khung Cửa Hẹp(La Porte Étroite) André Gide
Dòng Mực Cũ Nguyễn Ngọc Ngạn
Âm Mưu Ngày Tận Thế(Doomsday Cons…) Sidney Sheldon
Ngọn Núi Của Nhà MacKenzie Linda Howard
Ký Ức Nửa Đêm(Memories of Midnight) Sidney Sheldon
Tình Địch  (Rivals) Janet Dailey
Whitney, My Love Judith McNaught
Nếu Còn Có Ngày Mai(If Tomorrow Comes) Sidney Sheldon
Thiên Đường Rực Lửa Quỳnh Dao
Ước Mơ Xanh Trần T. Bảo Châu
Tay Cự Phách(Master of the Game) Sidney Sheldon
Nhớ Khi Đó (Remember When) Judith McNaught
Hoàn Châu Cát Cát Quỳnh Dao
Hoa Thảo Nguyên  (Notorious) Janet Dailey
Khói Lam Cuộc Tình Quỳnh Dao
Đất Tiền Đất Bạc(The Fortunate Pilgrim) Mario Puzo
Tình Khúc Chiều Thu Quỳnh Dao
Cát Bụi Thời Gian(The Sands Of Time) Sidney Sheldon
Những Ngày Xanh (The Green Years) Archibald J. Cronin
Trôi Theo Dòng Đời Quỳnh Dao
Như Cõi Thiên Đường (Almost Heaven) Judith McNaught
Thiên Thần Nổi Giận  (Rage of Angels) Sidney Sheldon
Khúc Giao Mùa Phương Oanh
Không Có Gì Là Mãi Mãi(Nothing Lasts…)  Sidney Sheldon
Đừng Nghi Ngờ Tình Yêu Của Anh Daisy Thomson
Sứ Giả Của Thần Chết(Windmills of the…) Sidney Sheldon
Yêu Ngay Lần Đầu  (At First Sight) Elizabeth Chandler
Trà Hoa Nữ  (The Lady of The Camellias) Alexandre Dumas
Như Tiếng Chuông Ngân Phương Oanh
Lẻ Loi  (Separate Beds) Lavyrle Spencer
Con Đường Đêm  (Night Way) Janet Dailey
Buổi Yêu Em Trần T. Bảo Châu
Đừng Bao Giờ Xa Em (Never Leave Me) Marge Pemberton
Cocktail Cho Tình Yêu Trần Thu Trang
Dạ Lan Hương Trần T. Bảo Châu
Người Tình Tuyệt Vời Ng. Thảo Uyên Ly
Vòng Tay Yêu Tinh Hoàng Hải Thủy
Cánh Buồm Đỏ Thắm Alexander Grin
Gái Trọ Hoàng Hải Thủy
Hoàng Hôn Cuối Cùng Quỳnh Dao
Sống Chỉ Một Lần Mai Thảo
Sống Chu Tử
Tình Buồn Quỳnh Dao
Yêu Chu Tử
Những Năm Ảo Mộng(The Valorous Years) Archibald J. Cronin
Đẹp Và Buồn Yasunari Kawabata
Những Người Thích Đùa Aziz Nesin
Công Nương Và Hoa Cẩm Chướng Archibald J. Cronin
Bông Hoa Bên Hẻm Vắng Mỹ Hạnh
Mịt Mù Mây Khói Quỳnh Dao
Hương Và Hoa Ariyoshi Sawako
Báu Vật Của Đời Mạc Ngôn
Rừng Nauy Haruki Murakami
Cây Tỏi Nổi Giận Mạc Ngôn
Đèn Không Hắt Bóng Watanabe Dzunichi
Lỡ Lầm Trần T. Bảo Châu
Tóc Mây Lệ Hằng
Tiếng Gõ Cửa Lúc Nửa Đêm Quỳnh Dao
Mắt Tím Lệ Hằng
Email Mùa Thu Trần T. Bảo Châu
Đường Tình Đôi Ngã Quỳnh Dao
Chiếc Áo Mộng Mơ Quỳnh Dao
Lời Hát Cho Anh Trần T. Bảo Châu
Tâm Hồn Cao Thượng Edmond De Amicis
Lời Tình Muộn Trần T. Bảo Châu
Hơn Cả Tuyệt Vời(Something Wonderful) Judith McNaught
Thiên Sứ Áo Đen Quỳnh Dao
Kiêu Hãnh và Định Kiến (Pride & Prejudice) Jane Austen
Bố Già  (The Godfather) Mario Puzo
Đời Kỹ Nữ (Memoires of a Geisha) Arthur Golden
Thạch Kiếm (Musashi) Eiji Yoshikawa
Truyền Thuyết Về Mộc Lan Laurent Divers
Cuốn Theo Chiều Gió(Gone with the Wind) Margaret Mitchell
Hậu Cuốn Theo Chiều Gió(Scarlett) Alexandra Ripley
Những Kẻ Khốn Cùng(Les Misérables) Victor Hugo
Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết C. McCullough
Và Nếu Như Chuyện Này Là Có Thật Marc Levy
Cuốn Theo Dòng Xoáy  Barbara Cartland
Lời Tỏ Tình Trong Mưa Mưa Bụi
Cỏ Hoa Và Tình Yêu Châu Liên
Hạ Đỏ Có Chàng Đến Hỏi Viên Linh
Những Bông Hồng Đầu Hạ M. Delly
Cám Ơn Em Đã Yêu Anh Duyên Anh
Ngày Mai Có Anh  Mưa Bụi
Mắt Giai Nhân  Hạ Thu
Bước Khẽ Nhé Em Dung Sàigòn
Những Sắc Cầu Vồng Rực Rỡ Châu Liên
Mong Manh Tơ Hồng Mưa Bụi
Yểu Điệu Thục Nữ Bùi Chí Vinh
Cho Một Nụ Hồng Châu Liên
Ánh Hồng Hạnh Phúc Khánh Vân
Hãy Ngủ Yên Tình Yêu Quỳnh Dao
Nước Chảy Hoa Trôi Khánh Vân
Tình Yêu Mênh Mang Khánh Mỹ
Mùa Hoa Nở Minh Hà
Mơ Yêu Khánh Vân
Thương Mầu Phấn Bảng Võ Hà Anh
Ấm Mãi Lòng Ta Trần T. Bảo Châu
Biệt Ly Ơi! Chào Mi! Quỳnh Dao
Chỉ Vì Anh Yêu Em Tử Y
Khi Mùa Mưa Tới Mai Thảo
Biết Tỏ Cùng Ai Quỳnh Dao
Sau Tấm Màn Nhung Mỹ Hạnh
Êm Ả Một Đời Dung Sàigòn
Ôm Đàn Tới Giữa Đời Mai Thảo
Mầu Xanh Mơ Ước Mỹ Hạnh
Xóm Vắng Quỳnh Dao
Giọt Nước Mắt Hồng Mỹ Hạnh
Ngày Tháng Trôi Qua Tình Yêu Còn… Dung Sàigòn
Lao Xao Trong Nắng Quỳnh Dao
Tiếng Sét Xanh(Double Standards) Judith McNaught
Đi Qua Miền Ký Ức Phương Oanh
Biển Biếc Uyên Uyên
Cánh Hoa Chùm Gửi Quỳnh Dao
Tờ Hứa Hôn Trần T. Thanh Du
Hồ Ly Trắng Quỳnh Dao
Tóc Tiên Bùi Chí Vinh
Mấy Nhịp Tim Yêu Tử Y
Điệp Khúc Tình Yêu Quỳnh Dao
Ba tuần ở Paris Barbara Bradford
Những Điều Kỳ Diệu Khánh Mỹ
Tình Yêu Muôn Thuở Trần T. Thanh Du

Ca Dao • Tục Ngữ • Thành Ngữ Việt Nam

Ca Dao • Tục Ngữ • Thành Ngữ Việt Nam
  • Công cha như núi Thái Sơn
    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
  • Có công mài sắt có ngày nên kim.
  • Nước chảy đá mòn.
  • Ði một ngày đàng học một sàng khôn.
  • Một cây làm chẳng nên non
    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
  • Bán anh em xa mua láng giềng gần.
  • Bầu ơi thương lấy bì cùng
    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
  • Lá lành đùm lá rách.
  • Kiến tha lâu đầy tổ.
  • Nhiễu điều phủ lấy giá gương
    Người trong một nước phải thương nhau cùng.
  • Cá không ăn muối cá ươn
    Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
  • Phép vua thua lệ làng.
  • Gần mực thì đen gần đèn thì rạng.
  • Con hơn cha nhà có phúc
  • Con trâu là đầu cơ nghiệp.
  • Thu thân, tề gia, trị nước, bình thiên hạ.
  • Chủ vắng nhà gà vọc niêu tôm.
  • Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
  • Ðói đầu gối phải bò.
  • Ðói cho sạch rách cho thơm.
  • Thua thầy một vạn không bằng kém bạn một phân.
  • Sai một ly đi một dặm.
  • Ðồng tiền đi liền khúc ruột.
  • Nhất nghệ tinh nhất thân vinh.
  • Cáo chết ba năm quay đầu về núi.
  • Lời chào cao hơn mâm cỗ.
  • Cây ngay không sợ chết đứng.
  • Sông có khúc người có lúc.
  • Khôn nhà dại chợ.
  • Một phút huy hoàng hơn ngàn năm le lói.
  • Chết vinh hơn sống nhục.
  • Không gì quý hơn độc lập tự do.
  • Trong nhà nhất mẹ nhì con
    Ra đường khối kẻ còn giòn hơn ta.
  • Dạy con từ thưở còn thơ.
  • Ði với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.
  • ở bầu thì tròn ở ống thì dài.
  • Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.
  • Quan nhất thời dân vạn đại.
  • Văn mình, vợ người.
  • Làm trai cho đáng nên trai
    Phú Xuân đã trải, Ðồng Nai đã từng.
  • Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.
  • Ðã mang tiếng ở trong trời đất
    Phải có danh gì với núi sông
  • Bao giờ tôi gặp em lần nữa
    Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
    Ðã hết sắc mùa chinh chiến cũ
    Còn có bao giờ em nhớ ta ?
    1949 , Quang Dũng
     
  • Ðường đi khó,
    không khó vì ngăn sông cách núi,
    mà khó vì lòng người ngại núi e sông
    Nguyễn Thái Học
     
  • Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc
    Trần Bình Trọng
     
  • Yêu giống nòi mình lầm than mãi rồi
    Yêu khiến lòng chẳng biết sao nguôi
    Du Ca
     
  • Chiều chiều ra đứng bờ ao
    Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều
  • Lời nói không mất tiền mua
    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
  • Anh em như thể tay chân
  • Ta về ta tắm ao ta
    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
  • Có phước làm quan
    Có gan làm giầu
  • Học ăn học nói
    học gói học mở
  • Một điều nhịn, chín điều lành
  • Tham thì thâm
  • Lá rụng về cội
  • Ði với bụt mặc áo cà sa
    Ði với ma mặc áo giấy
  • Giầu nhờ bạn, sang nhờ vợ
  • Mật ngọt chết ruồi
  • Một nụ cười bằng thang thuốc bổ
  • Giọt máu đào hơn ao nước lã
  • Tháng năm chưa nằm đã sáng
    Tháng mười chưa cười đã tối
  • Chị ngã em nâng
  • Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng
  • Cái khó bó cái khôn
  • Nam thực như hổ, nữ thực như miêu
  • Thất bại là mẹ thành công
  • Yêu nhau lắm cắn nhau đau
  • Phú quí sinh lễ nghĩa
    Bần tiện sinh đạo tặc
  • Lùi một bước tiến ba bước
  • Vỏ quít dầy có móng tay nhọn
  • Ði một đàng học một sàng khôn
  • Tiên học lễ, hậu học văn
  • Giấy rách phải giữ lấy lề
  • Góp gió thành bão
  • Hiếu để hơn lễ bãi
  • Kiến tha lâu cũng đầy tổ
  • Nói trăm thước không bằng bước một gang.
  • Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
    Như đứng đống lửa, như ngồi đống than !
  • Ba đồng một mớ trầu cay
    Sao anh không hỏi những ngày còn không
    Bây giờ em đã có chồng
    Như chim vào lồng, như cá cắn câu
    Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ
    Chim vào lồng biết thuở nào ra
  • Cô kia cắt cỏ một mình,
    Cho anh cắt với chung tình làm đôi
    Cô còn cắt nữa hay thôi,
    Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.
  • Cây xanh thì lá cũng xanh,
    Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
  • Có nghèo mới biết con hiếu,
    Có thiếu mới biết bạn hiền.
  • Ðêm đêm tưởng dạng Ngân-hà,
    Bóng sao tinh đẩu đã ba năm tròn,
    Ðá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
    Tào-khê nước chảy lòng còn trơ trơ
  • Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm
  • No mất ngon, giận mất khôn.
  • Biết thì thưa thốt,
    Không biết thì dựa cột mà nghe
  • Năng nói năng vấp.
  • Miếng ngon nhớ lâu, lời đau nhớ đời
  • Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo
  • Lửa thử vàng, gian nan thử đức.
  • Cái nết đánh chết cái đẹp.
  • Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời
  • Máu chảy ruột mềm.
  • Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
  • Con sâu làm rầu nồi canh.
  • Anh em như chân như tay
  • Môi hở răng lạnh.
  • Tay đứt, ruột xót.
  • Cha truyền, con nối
  • Gái mà chi, trai mà chi,
    Sinh ra có nghĩa có nghì là hơn.
  • Con út trút gia tài
  • Trẻ cậy cha, già cậy con.
  • Tre non dễ uốn.
  • Giặc đến nhà đàn bà phải đánh.
  • Nhà khó cậy vợ hiền,
    Nước loạn nhờ tướng giỏi
  • Yêu nhau chẳng quản lầm than,
    Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua
  • Tình thương quán cũng như nhà,
    Nhà tranh có nghĩa hơn toà ngói xây
  • Thương thì quả ấu cũng tròn,
    Không thương thì bồ hòn cũng méo
  • Thương nhau lắm, cắn nhau đau
  • Nói trăm thước không bằng bước một gang.
  • Chẳng tham vựa lúa anh đầy,
    Tham năm ba chữ cho tầy thế gian.
  • Ghét của nào trời trao của đó.
  • Thuận vợ thuận chồng, tát bể Ðông cũng cạn.
  • Ðường mòn nhân nghĩa không mòn.
  • Con có cha như nhà có nóc,
    Con không cha như nòng nọc đứt đuôi
  • Khó nhịn miệng, mồ côi nhịn lời
  • Con chị cõng con em.
  • Chim có tổ người có tông.
  • Con người có tổ có tông,
    Như cây có cội, như sông có nguồn.
  • Trên kính dưới nhường.
  • Lời nói chẳng mất tiền mua,
    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
  • Ai ơi chớ vội cười nhau,
    Cười người hôm trước hôm sau người cười
  • Lời thật mất lòng.
    Một sự nhịn là chín sự lành.
  • Nhập gia tùy tục
    Nhập giang tùy khúc
  • Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
    Uống nước nhớ kẻ đào giếng.
  • Ðo sông đo bể khó đo lòng người
  • ở chọn nơi, chơi chọn bạn.
  • Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
  • Học thầy chẳng tầy học bạn.
  • Gần lửa, rát mặt.
  • Khó giúp nhau mới thảo
  • Có nghèo mới biết con hiếu,
    Có thiếu mới biết bạn hiền.
  • Nhịn miệng đãi khách.
  • Ði hỏi già, về nhà hỏi trẻ.
  • Ði một ngày đàng, học một sàng khôn.
  • Chợ có lề, quê có thói
  • Ai làm nấy chịu
  • Nói có sách mách có chứng.
  • Của rề rề, không bằng một nghề trong taỵ
  • Nước lạnh phải đến giếng,
    Nước nóng phải hâm sôi
  • Buôn có bạn, bán có phường.
  • Ðừng nên trọng của hơn người
  • Của phù vân không chân mà chạy
  • Lấy của che thân,
    Ðừng lấy thân che của
  • Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
  • Có công mài sắt, có ngày nên kim.
  • Chết trong hơn sống đục.
  • Có học phải có hành.
  • Trâu ta ăn cỏ đồng ta
    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm.
  • Càng thắm thì lại càng phai,
    Thoang thoảng hoa lài càng được thơm lâu
  • Tiền bạc như nước thủy triều
  • Thức đêm mới biết đêm dài,
    Ở lâu mới biết lòng người phải chăng.
  • Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối
  • Dù xây chín bậc phù đồ,
    Không bằng làm phúc cứu cho một người
  • Còn thuyền còn chèo,
    Còn nước còn tát.
  • Có chí thì nên.
  • Non cao cũng có đường trèo,
    Ðường dẫu hiểm nghèo cũng có lối đi
  • Nhất quỉ, nhì ma,
    Thứ ba học trò.