Quốc Kỳ

Vì Tiền Đồ Tổ Quốc

Tháng Chín 2026
H B T N S B C
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

ĐA HIỆU ONLINE

Sexiest Performer – You won’t close your eyes for a while!

Mỹ lui bước lúc Bắc Kinh vẫn rụt rè?—Việt Long K23 – RFA

Trước sau “không như một”?

F-15

Chiến đấu cơ F-10 của Nhật Bản – US Airforce photo

Phó Tổng thống Mỹ Josepth Biden công du châu Á lần này để thực hiện đường lối ngoại giao tế nhị của Hoa Kỳ ở Đông Á: một mặt tìm cách hạ nhiệt mối căng thẳng quân sự với Trung Quốc, mặt khác bày tỏ lập trường ủng hộ đồng minh Nhật Bản giữa lúc Tokyo cương quyết đối đầu với Bắc Kinh trong cuộc tranh chấp lãnh hải trên biển Hoa Đông.

Chuyến đi Nhật Bản-Trung Quốc-Hàn quốc của ông Biden đã được Tòa Bạch ốc hoạch định từ lâu, để chứng minh chính sách chuyển trục chiến lược sang châu Á, giữa khi nhiều nước Á châu quan ngại rằng Mỹ đã lơ là với khu vực địa chính trị quan trọng này vì Tổng thống cùng các cố vấn hàng đầu phải chú tâm vào những cuộc tranh chấp chính trị nội bộ, trong khi Ngoại trưởng Kerry để hết thì giờ và tâm trí vào vấn đề Iran ở Trung đông.

Cuộc đối đầu Tokyo-Bắc Kinh đưa đến quyết định của Trung Quốc xác lập vùng xác định phòng không, ngôn ngữ quốc tế gọi là ADIZ, viết tắt nhóm từ Air Defense Idendification Zone. Khu vực ADIZ này bao gồm cả vùng đảo tranh chấp Senkakư/ Điếu Ngư với Nhật Bản và đảo Ieodo tranh chấp với Hàn quốc.

Hoa Kỳ chỉ trích Trung Quốc đã làm tình hình căng thẳng, và tái xác nhận quyền hành chính của Nhật Bản trên vùng đảo tranh chấp. Và đột nhiên hai pháo đài bay B-52 không võ trang từ Guam được điều động bay qua không phận này lúc sáng thứ ba, 3 ngày sau khi Bắc Kinh công bố về ADIZ của họ. Không ngoài dự kiến, Trung Quốc chỉ phản ứng bằng lời lẽ ngoại giao. Nhật Bản liền khuyến cáo các phi cơ dân dụng bay qua đó đừng thông báo theo Trung Quốc yêu cầu, như họ đã làm trước đó một ngày, và các phi cơ của All Nippon Ailines và Japan Airlines cùng với Peach Aviation đã ngưng thông báo.

J-10

Chiến đấu cơ J-10 của Trung cộng – Courtesy of ausairpower.net

Điều đáng lưu ý là trước khi B-52 bay qua ADIZ mới của Trung Quốc, chính Tokyo đã khuyên các hãng bay hãy thi hành quy định của Bắc Kinh về thông báo như vậy trong không phận này.

Sau đó Nhật Bản, Đài Loan và Hàn quốc liền theo chân phi vụ B-52 của Hoa Kỳ, điều động nhiều phi cơ thám sát và chiến đấu cơ bay qua đó trong những ngày kế tiếp. Trung Quốc cũng đưa phi cơ chiến đấu tới, gọi là để quan sát, theo dõi, và dành cơ hội cho báo chí Nhà nước tô vẽ lại thể diện của chính quyền Bắc Kinh. Báo chí và dư luận theo khuynh hướng quốc gia cực đoan của Trung Quốc liền thổi phồng điều họ gọi là “khả năng theo dõi và kiểm soát những hành vi phạm pháp của các phi cơ nước ngoài, để những lực lượng đó không dám hành động quá trớn!”

Nhưng, đang lúc Bắc Kinh còn rụt rè chỉ lên gân nửa chừng, thì lại một lần bất ngờ, vào lúc phó Tổng thống Biden lên đường đi Tokyo, tòa Bạch ốc thông báo rằng chính phủ Mỹ đã đề nghị những công ty hàng không quốc tế của Mỹ hãy tuân thủ quy định của Bắc Kinh về việc thông báo mọi chi tiết về đường bay của những phi cơ Mỹ bay qua không phận ADIZ mới được Trung Quốc thiết lập.

Tokyo hiển nhiên khá thất vọng trước thái độ gọi là “trước sau như hai, ba” của Washington, trong khi mọi đồng minh châu Á đang kỳ vọng vào lập trường “trước sau như một” của quốc gia đứng đầu phương Tây, mặc dù tòa Bạch ốc khẳng định ngay rằng đề nghị như vậy không phải là công nhận vùng ADIZ do Trung Quốc đơn phương áp đặt.

Lý do nào đưa đến quyết định xem ra như một bước lùi của Washington trong khi Bắc Kinh vẫn còn lấp ló chung quanh vùng ADIZ đó?

Lùi một bước, tiến bao nhiêu?

Các chuyên gia về Trung Quốc và châu Á đều đoan chắc là tại Tokyo phó Tổng thống Biden sẽ tái xác định một cách chắc chắn nhất rằng Hoa Kỳ luôn luôn có mặt đúng lúc và đúng nơi trong mọi tình huống an ninh của đồng minh Nhật Bản, thể theo chương 5 của Hiệp ước phòng thủ chung ký kết từ thập niên 1950, đồng thời khẳng định lại sự nhìn nhận quyền kiểm soát hành chính của Tokyo trên vùng tranh chấp, và phản kháng mọi hành động xâm hại đến quyền đó.

JapanAir

Chiến đấu cơ của Nhật Bản

Song song, một số nhân vật trong giới quan sát nhận định rằng Washington đã có hành động tế nhị về ngoại giao và giải quyết xung đột khi khuyến cáo các phi cơ dân dụng tuân thủ quy định của Bắc Kinh về ADIZ. Hành động tế nhị này, theo những chuyên gia ấy, nhằm tạo tiền đề thuận lợi cho phó Tổng thống Joseph Biden để giúp Trung Quốc thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng do họ gây nên.

Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia tại Luân Đôn, Jonathal Eyal, cho rằng ngày thứ tư này Phó Tổng thống Biden sẽ nêu ra với chủ tịch Tập Cận Bình một cách thức để thoát khỏi cuộc khủng hoảng, “Người Mỹ có thể sẽ nói với người Hoa rằng cuộc khua chiêng gõ trống này chẳng phải là điều khôn ngoan lắm, chỉ gây phản tác dụng, và lối thoát chỉ đơn giản là Trung Quốc hãy xuống thang trong việc khẳng định cứng nhắc vùng ADIZ như đã làm, và đừng cưỡng hành một cách cứng rắn quy định riêng của họ như đã đe dọa biện pháp quân sự vào lúc công bố không phận xác định phòng không này.

Nguyên cố vấn của phó Tổng thống Biden, bà Julie Smith, cho rằng ông Biden luôn luôn tự tin vào khả năng xã giao lịch thiệp hòa nhã cùng với tài năng riêng của ông trong những mối quan hệ cá nhân, khi ông diện kiến chủ tịch họ Tập, mà ông từng quen biết từ trước khi ông Cận-Bình bước lên ngôi vị tối cao của đại cường Trung Hoa. Bà Smith nói “Ông Biden biết cách nói chuyện, để cho người đối diện hiểu rằng ông không chỉ vẽ họ phải làm gì, mà chỉ nêu ra những điều tư vấn để bên ấy tham khảo. Vì họ đã có quan hệ cá nhân từ trước, phía ông Tập sẽ lắng nghe nghiêm chỉnh và cân nhắc kỹ lưỡng những đề nghị ấy”.

Vai trò lãnh đạo

Một năm sau khi ông Tập bước lên ngôi vị tối cao ở Hoa lục, Hoa Kỳ tuy còn đối đầu quân sự với Trung Quốc nhưng đã thấy nhiều tiến bộ trong công cuộc hợp tác với Trung Quốc trên sân khấu quốc tế, từ vấn đề thay đổi khi hậu đến vấn đề tham vọng hạt nhân của Bắc Hàn, mới nhất là vấn đề hạt nhân tại Iran.

Giáo sư Jia Qingguo, phó viện trưởng Học viện nghiên cứu quốc tế của đại học Bắc Kinh, cho rằng một giải pháp lập tức cho vấn đề ADIZ có thể không thành hình. Ông nói :”Có thể phía Trung Quốc sẽ hỏi rằng đó là hành động thông thường của trên 20 quốc gia, sao phải ầm ỹ thế? Vì vậy hai bên nên tìm hiểu ý định của nhau, và minh định ý muốn, rồi cùng tìm hiểu xem nên cùng mong đợi điều gì. Tuy vậy vấn đề này có thể vẫn dai dẳng. Dù sao thì ông Biden đến Bắc Kinh lần này cũng là điều hay để vấn đề được thảo luận ở cấp tối cao. Ngoài ra còn những vấn đề khác cũng cần được nói tới”

KoreanAir

Chiến đấu cơ của Hàn quốc – Courtesy of Wikimedia Commons

Nhà nghiên cứu Jonathal Eyal thì cho rằng chuyến công tác của phó Tổng thống Biden đi đến với cả các đồng minh cũng như đối thủ chính yếu trong khu vực là nhằm chứng tỏ rằng Hoa Kỳ là cường quốc duy nhất đủ sức duy trì sự cân bằng của khu vực, và đó là mục đích chính khi người Mỹ xác định chính sách chuyển trục sang châu Á”

Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia tại Luân Đôn, Jonathal Eyal, cho rằng Trung Quốc đã mạnh bạo thiết lập ADIZ là vì quan điểm phổ biến tại châu Á rằng Washington không dám đụng tới biện pháp quân sự sau những tổn thất sinh mạng và phí tổn tài chính khổng lồ ở Iraq, Afghanistan, cùng với mối nghi ngờ của người châu Á về sự lơ là của người Mỹ với khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Vì thế Hoa Kỳ đã đi đầu trong phản ứng mang tính cách quân sự đối với ADIZ, và lại dịu ngọt xuống thang để đóng vai trò cường quốc duy nhất có khả năng hòa giải, lấy lại thăng bằng cho cán cân lực lượng và sự ổn định cho khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Việt Long – RFA

Thép Đen—Đặng Chí Bình

Tâm Sự Người Viết

Trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ tới lại có một ngày ngồi viết câu chuyện của đời tôi. Từ bối cảnh của đất nước, do những xô đẩy của giòng đời, tôi đã nhận một nhiệm vụ nhỏ bé để xâm nhập vào đất địch, và tôi đã rơi vào tay kẻ thù. Như vậy, trước sau gì tôi cũng chỉ là một kẻ bất tài, thất bại, chẳng có gì đáng kể lại cho người khác. Hơn nữa, một số bạn bè thân quen còn ngăn cản tôi đừng viết.

“Anh hãy lo cho cuộc đời của anh trước đã, đời anh đã khổ nhiều rồi. Vả lại, dù anh có cặm cụi viết ra, tác phẩm của anh rồi cũng chung số phận như bao nhiêu tác phẩm khác, của những người đã đi tù về viết lại. Người ta thờ ơ, không thèm đọc. Trên xứ người, lớp trẻ còn phải lo học hành, lớp lớn phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày và lo cho tương lai, họ đâu còn quan tâm đến những chuyện đã qua của quê hương dân tộc. Anh nên đi tìm một công việc làm nào đó, là thực tế nhất.”

Nhìn vào thực tế, rồi nghĩ lại hoàn cảnh tỵ nạn của mình, tôi thừa nhận những lời khuyên của bạn bè là xác đáng, và tôi đã xông vào cuộc đời mưu sinh. Nhưng rồi nhiều đêm nằm khắc khoải, tâm sự trĩu nặng, vơi đầy với bao niềm quặn thắt vẫn thấp thỏm không yên về quê hương đất nước và đời sống, bao nỗi giằng co vò xé, gậm nhấm cõi lòng. Những tiếng kẻng của nhà tù Cộng Sản, đi theo gần hết cả cuộc đời, vẫn như ám ảnh, quấn chặt hồn tôi:

Thoảng nghe “phôn” réo bên tai,
Giật mình tưởng kẻng sớm mai nhà tù!

Hình ảnh những bộ xương vẫn còn di động trên chốn lao trường, những nấm mồ hoang lạnh giữa rừng sâu; dư âm những tiếng thở dài lê thê xen lẫn những tiếng rên xiết quằn quại trong đêm dài tăm tối… Và những cặp mắt khát khao nhắn nhủ ngày tôi chia tay, vẫn lảng vảng vấn vít trong hồn; tất cả như đang khẩn nài, gào thét, đòi hỏi tôi phải thực hiện “bản di chúc sống” của họ.

Tôi biết, dù mình sức hèn tài mọn, nhưng vẫn còn may mắn hơn biết bao các bạn bất hạnh còn lại trong tù. Cho nên, tôi tự cảm thấy mình đang khoác lấy một trách nhiệm, mang một bổn phận – nếu có thể được phép nói như vậy – để vuốt mắt cho những người đang uất hận, ứa máu bầm gan trong gông cùm xiềng xích của bè lũ cộng nô Hà Nội.

Tôi ước mong tập hồi ký nhỏ mọn này, sẽ là một ngọn nến nhỏ trong trăm ngàn ngọn nến to lớn khác, được thắp lên trong mờ mịt u tối của chế độ phi nhân Việt cộng. Nếu đốt được ngọn nến đó. Dù leo lét, tôi cũng cảm thấy vui sướng đã thể hiện được phần nào trách nhiệm của mình đối với “bản di chúc sống” kể trên.

Lời chót, tôi chỉ biết lần lượt tường thuật lại sự việc, như tháo dần một cuộn chỉ ra từ đầu đến cuối. Và, vì vấn đề an ninh cùa năm, bẩy người đặc biệt, nên tôi bắt buộc phải đổi tên và địa điểm sống ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Cũng từ ý thức tôn trọng sự thật, kính mong quý vị thông cảm và tha thứ.

Đặng Chí Bình

Tựa

Trong xà lim Hỏa Lò của Việt Cộng, người tù bị cùm hai chân trên bệ xi măng, bề ngang chừng 65 phân. Cùm sắt dầy và lạnh, được đóng đai kiên cố để nghiến chặt cổ chân của nạn nhân. Hai tay bị xiềng ngược ra sau, nên tù nhân phải nằm nghiêng. Và dịch, lết ra mép sàn xi măng để giải quyết nhu cầu vệ sinh, phân rơi vãi tung toé ra khỏi mặt bô đặt dưới đất. Ngày này qua ngày khác, nạn nhận bị liệt cả hai chân, và sống trong hôi thối ẩm mốc của xà lim như một con thú.

Nhưng nạn nhân còn cái mồm, nghĩa là còn được một chút tự do có giới hạn của những tiếng thều thào, những lời rên xiết, hay những tiếng la hét chưởi rủa.

Và khi đó, một vật dụng kỳ quái tượng trưng cho nền dân chủ ưu việt của chế độ Cộng Sản mới được đem ra áp dụng. Đó là cái cùm mồm. Bằng sắt, có bắt đinh ốc và lò xo, để khóa cứng hàm nạn nhân. Để người tù không thể chửi chế độ, chưởi lảnh tụ hay la hét gì được nữa. Người tù đã nêu đích danh Hồ Chí Minh ra chửi, ngay giữa Hỏa Lò Hà Nội, để mong được giết, hoặc được bắn, để sớm chấm dứt cảnh dở sống dở chết của mình. Nhưng Việt Cộng, chúng không nóng ruột hấp tấp như vậy, chúng đã phát minh ra cái cùm… mồm.

Không có gì quý hơn độc lập tự do. Câu nói mới thấm thía và khốn nạn làm sao!

*

Trong dãy xà lim, tù nhân được một con chuột nhắt, gầy bé như ngón tay, chui vào thăm.

Trong tù, ngoài đá, mồ hôi và máu kết đen trên nền xi măng, còn có gì để quyến rũ một con chuột? Vậy mà con chuột đã chui vào, bị bắt, chạy thoát, rồi ít bữa sau lại bò vào. Vì ở bên ngoài, trong vùng tự do của súc vật, nó đói. Trong nhà tù, nó con hy vọng mong manh là tranh hạt cơm với người tù bị xiềng, bị liệt.

Mỗi ngày, người tù để dành vài hạt cơm cho người bạn bốn chân này. Đấy là cõi giải thoát của người tù, một chút tình cảm san xẻ với một con vật xấu số, để thấy là mình vẫn còn sống.

Con chuột nhắt này cũng có tội, nó đã bị tên công an quản giáo lấy chân di chết. Trong Hỏa Lò tù nhân không có một sự giải thoát nào, dù chỉ bằng cách kết bạn với một con chuột nhắt đã bị bẻ răng.

Không có gì quí hơn độc lập tự do. Câu nói mới hiểm độc và ghê khiếp chừng nào.

*

Cũng trong Hỏa Lò, tù nhân được biết đến một người đã có hình ảnh nổi tiếng thế giới. Người anh hùng Điện Biên, trong Đại đội năm xưa đã hồ hởi cắm lá cờ chiến thắng trên nóc hầm Bộ Chỉ Huy của de Castrie. Anh đã kết thúc cuộc đời vẻ vang của anh trong Hỏa Lò, như một tù chính trị. Tội của anh là đã lầm tưởng những điều Việt cộng nói là sự thật. Không, điều đó chưa phải là một cái tội. Tội của anh là đã nêu lên câu hỏi về sự thật đó. Người bộ đội gốc tiểu tư sản yêu nước này, là một điển hình của biết bao người khác đã vỡ mộng và chết kẹt, giữa những điều đảng nói và những điều đảng làm. Bị nghiền nát không âm vang.

Trong Hỏa Lò, điều ghê rợn nhất chính là sự im lặng. Đời sống im lặng và cái chết im lặng. Tất cả đều âm u một mùi tử khí của nghĩa địa. Và, khác biệt giữa sự sống và cái chết có khi chỉ là một tiếng thở nhẹ trong xà lim số 7, không ai hay biết. Làm sao con người có thể nghe thấy cái chết khi bị bao vây giữa đám quỷ sống.

Cũng vì vậy, dù chẳng được ai nói, chỉ qua những dấu vết còn ghi trên mặt đá, người tù cũng được biết nơi đây đã có thời cùm hãm Thụy An. Nhà văn nữ một thời nổi tiếng vì cái chết tức tưởi của nhà cách mạng Đỗ Đình Đạo. Cũng tưởng là mình có công với chế độ.

Trong Hỏa Lò Hà Nội, có rất nhiều người đã tưởng lầm như vậy. Họ là cán bộ, là đảng viên, là thường dân, là trí thức… Họ là chiếu rọi của xã hội bên ngoài, với những điển hình kinh hãi như dưới một ống kính hiển vi. Chỉ vì tưởng lầm.

*

Tác giả thì không nhầm lẫn về bản chất chế độ. Ông là người đã di cư vào Nam thời Genève. Ông được huấn luyện bởi Cục Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa, thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, để tung ra Bắc hoạt động. Ông là một điệp viên, một trong những chiến sĩ của bóng tối, đã tìm ra tới Hà Nội, để thi hành những điệp vụ, cho đến nay vẫn còn được giữ bí mật.. Công tác vừa hoàn tất, thì ông bị bắt. Năm đó là năm 1962, thời mà miền Nam chúng ta vẫn còn mù mờ về thực trạng miền Bắc. Mười tám năm tù đã cho ông một kinh nghiệm hiếm có.

Ông đã sống, và đã thấy tận mắt với cái nhìn tỉ mỉ, những cảnh tượng, tưởng chỉ có thể xảy ra trong trí não một người bất bình thường. Một cuốn phim kinh dị được dựng lên bởi nhiều tên đạo diễn bịnh hoạn. Toàn thể chế độ Việt cộng, và trong đáy sâu của Hỏa Lò, đời sống lao tù Việt cộng, và kết quả những phát minh ghê khiếp nhất.

Nếu sự thực có vượt khỏi trí tưởng tượng của chúng ta, chỉ vì chúng ta đánh giá sai chế độ Cộng Sản, đánh giá sai cái bệnh quỷ quái của chúng.

Điều đáng nói ở đây, tác giả Đặng Chí Bình, bút hiệu hay bí danh điều đó thực không quan trọng, đã không đi vào một cuộc thi đua kinh tởm. Nghĩa là không phải nhớ lại, hay nặn ra những chi tiết ghê người nhất. Sự thật bình thường vốn đã đủ làm ta khiếp hãi…

Tác giả Đặng Chí Bình không phải là một nhà văn. Ông chưa khi nào cầm bút viết văn. Và, chính như ông tâm sự “Trước sau gì tôi cũng chỉ là một kẻ bất tài, thất bại, chẳng có gì đáng kể lại cho người khác”.

Ông chỉ bị thúc giục phải thực hiện một bản di chúc sống cho những người hiện vẫn kéo lê kiếp sống trong lao tù Việt cộng. Ông phải viết để nhắc nhở mọi người là dưới ánh mặt trời, vẫn còn một cõi mờ mịt u tối của chế độ Việt cộng phi nhân. Ông muốn thắp một ngọn nến nhỏ để soi vùng quỷ dữ, để vuốt mắt những người đã gục ngã vì đại nghĩa dân tộc, để vuốt ngực cho những người đang ứa máu bầm gan trong gông cùm Việt cộng.

Chính vì ông không muốn làm văn chương, mà chỉ viết theo ký ức được lần giở như tháo dần một cuộn chỉ từ đầu tới cuối, hồi ký của ông mới làm ta khiếp sợ. Tất cả ngôn ngữ ông dùng, lối nhìn lối nói, và cả cách đem chính mình ra hồn nhiên châm biếm. Tất cả bút pháp của ông đều phản ảnh một điều: Ông nghĩ sao, và nhớ thế nào thì viết ra như vậy. Có cái gì đó làm ta muốn run bắn lên trong cách ông thản nhiên kể lại câu chuyện.

Hơn hai mươi năm đã qua rồi. Ông bình thản lần giở cuộn chỉ của đời mình trong tù… Những tiếng rên xiết, tiếng người tra tấn người, tiếng xích lê trên sàn đá, và cả sự yên lặng cuồng nộ vẫn vang lên từng nhịp, theo giòng chỉ kéo dài từ những ngày tháng âm u của cõi chết.

Ông không làm văn chương, nhưng khi văn của ông mới làm ta rùng mình.

*

Tuy nhiên, điều đáng nói nhất trong hồi ký vẫn chưa phải là những mô tả về vùng đất của quỷ. Điều làm ta sững sờ nhất cũng không phải là sự sống trong cõi chết âm u, mặc dù sức phấn đấu của con người vẫn làm ta bàng hoàng theo từng trang sách.

Điều đáng nói, và đây là sự kỳ diệu nhất của tập hồi ký, chính là sự trỗi dậy của tình người trong thế giới của loài thú.

Ngay trong Hỏa Lò, đêm đêm tù nhân vẫn biết là có ai đó kín đáo qua lại giúp đỡ họ. Nhiều khi chỉ là một câu hỏi thăm ngắn gọn, lạc giọng, hoặc một tiếng thở dài thông cảm. Hay một mẩu thuốc lào được luồn qua kẽ cửa, để giúp người tù cầm máu… Vào giờ đó, chỉ có quản giáo canh giữ Hỏa Lò mới được đi lại bên ngoài. Người đó là ai? Tù nhân không biết, chỉ biết là trong đám quản giáo, vẫn còn có người có được một chút nhân tính, và lặng lẽ làm cử chỉ của con người. Lặng lẽ thôi, nếu không, chính họ sẽ bị đổi vị trí, từ ngoài vào trong xà lim.

Việt cộng muốn biến con người thành loài thú. Nơi chúng có thể thành công nhất, chắc phải Hỏa Lò Hà Nội. Nhưng, cũng tại nơi đây, tác giả đã sống và đã thấy sự chiến thắng của loài người. “Cộng sản không thể nhuộm đỏ được hết tâm hồn loài người”. Ông kết luận như vậy.

Và ông đã nhìn ra rất đúng. Vì công tác của ông chỉ có thể hoàn tất, khi ở miền Bắc có những người vẫn tiếp tục chiến đấu, từ những năm 1960. Một vị linh mục, một người bác sĩ, một thiếu nữ áo nâu quần ka ki… Và biết bao nhiêu người anh hùng vô danh khác. Ngay cả những người nông dân hồn hậu, những nạn nhân hàng đầu của chế độ Việt cộng, họ sống chật vật trong cảnh tăm tối mà vẫn có những hành động chói sáng tình người…

Sự kiện Đặng Chí Bình đã trải qua tuổi thanh xuân trong một thế giới thú vật, và đã trở lại nguyên vẹn cùng chúng ta, với những mô tả tinh nghịch, những lời nói thành thật về những lầm lẫn của chính mình, với những phê phán rất bình thản và độ lượng về thói xấu của con người, sự kiện đó cũng chẳng là một điều kỳ diệu sao?….

Ông là người đã đội mồ sống dậy, và cái sống nhất trong tác phẩm của ông, chính là cái chất “người” mà nhiều khi ông đã sợ mất, nhiều khi ông đã thấy mất ở nơi khác…

Cũng vì vậy, Thép Đen là một tác phẩm lớn. Không chỉ ở nội dung, tình tiết, mà còn ở ý nghĩa rất nhân bản của tác giả. Xin cảm ơn Đặng Chí Bình, đã tranh đấu để tồn tại, để vượt thoát, và để ghi lại chon chúng ta sự thắng thế của loài người trên loài quỷ.

(Lời tựa của nhà xuất bản Đồng Tiến, năm 1987)

o0o

(Tập I gồm Chương 1 đến Chương 42)

Cuộc Họp Đầu Tiên …

Vào một buổi tối cuối Xuân 1959, trời thật nhiều gió. Những hàng me trên đường “16” vật vờ, nghiêng ngã theo từng đợt gió mạnh. Từng đám lá me khô nhỏ dảy dụa cuốn đuổi nhau như đám ong vàng, gây nên những tiếng xào xạc, trên mặt đường.

Buổi tối đó là ngày thường nên khu nhà thờ Tân Sa Châu, gần Lăng Cha Cả Tân Sơn Nhất Sài Gòn rất vắng vẻ. Xa xa một vài ánh điện từ ngoài đường Trương Minh Ký hắt vào, càng làm cho khu vực nhà thờ mập mờ, chỗ sáng chỗ tối.

Nhìn sang phía bên kia nhà thờ, tôi thấy thấp thoáng trong một góc tối mấy người cũng có vẻ như chúng tôi, nghĩa là cùng chờ giờ hẹn với một người.

Mãi 8 giờ 15, từ đầu đường “16”, một chiếc xe “díp” thường dân đi tới và từ từ đỗ lại, trong bóng tối của một cây me bên đường, cách xa nhà thờ một khoảng.

Một bóng người bước xuống và đi về phía nhà thờ. Chúng tôi chả ai nói ra, nhưng cùng hiểu đó là người chúng tôi đang đợi. Lẩn trong bóng tối, chúng tôi chỉ thấy người đó mặc áo blouson xám, đội mũ “phớt”. Ông ta đi vào khu buồng cha Khuê phía đầu nhà thờ.

Chừng 10 phút sau, một chú bé giúp lễ ra sân mời chúng tôi vào. Cha Khuê không giới thiệu, nên chúng tôi chỉ biết gật đầu chào. Sau khi ông ta nói với Cha Khuê, xin mượn một phòng học ở trên lầu, ông quay lại phía chúng tôi với giọng Huế nặng chình chịch:

– Mời tất cả các anh em lên trên gác!

Chúng tôi nhìn nhau, chẳng ai nói một lời lục tục bước theo ông lên trên lầu.

Trong phòng, chúng tôi gồm 8 người, kể cả ông chú họ tôi. Chính tôi lúc này cũng không hiểu vì sao chú tôi cũng vào ấy ngồi. Hầu hết chúng tôi đều ở lứa tuổi thanh niên; chú tôi trông riêng biệt hẳn không những về tuổi tác, mà còn vì dáng dấp phong độ như một “chính khách” nữa. Chính sự hiện diện của chú tôi, cũng đang làm cho ông người Huế không ít băn khoăn. Ông nhìn chú tôi, nửa như muốn hỏi, nửa như e ngại đắn đo. Có lẽ chú tôi cũng thấy vậy, nên ông đã đứng dậy, rồi cùng ông người Huế đưa nhau ra chỗ ban công nói gì với nhau một lúc. Sau đó, chú tôi xuống lầu.

Tôi nhớ lại hơn một tuần trước, thằng em trai đi phố về, gọi tôi rối rít:

– Chú Thường gọi anh ra gặp cô chú có việc cần.

Ông Thường là một người từ trước tới giờ tôi vẫn kính nể, ông những ông là bậc cha chú, mà vì kiến thức uyên bác trong nhiều lãnh vực, và sự giao thiệp rộng rãi của ông trong xã hội. Vì vậy, tôi đã vội vàng ra nhà chú tôi ngay.

Sau những phút ân cần thăm hỏi thằng cháu về học hành, thi cử, mắt ông sáng thêm ra nhìn tôi, nói:

– Hiện nay, Phủ Tổng Thống tổ chức một lớp học đặc biệt chỉ dành cho mươi người. Những người phải được bảo đảm với Phủ Tổng Thống bởi những người có thế lực. Vậy nếu cháu thích, chú sẽ giới thiệu cho.

Những năm tháng mài đũng quần trên ghế nhà trường, kết hợp với thực tiễn cuộc sống đã dần hình thành trong tôi một nhân sinh và thế giới quan. Một người con trai được sinh ra trong đời này, lớn lên, lấy vợ, đẻ con, già, bệnh rồi … chết. Như vậy đi không rồi cũng trở về … không; có khác gì con người chỉ là cái mắc áo, và là cái nơi để hàng ngày đổ cơm vào? Tư tưởng hào hùng đầy lửa sống của cụ Nguyễn Công Trứ đã cuốn hút, thấm đậm vào tâm hồn non trẻ của tôi; đã luồn lách vào từng tế bào của trái tim nóng hổi; để rung lên những điệu nhạc tang bồng vẫy vùng ngang dọc của người con trai. Cho nên, mới nghe chú nói, tôi đã vồ vập nhận lời ngay, và nhờ chú tôi giới thiệu.

Ngày hôm sau, chú đã dẫn tôi sang gặp linh mục Mai Ngọc Khuê để giới thiệu tôi với người.

Cha Khuê đã hỏi nhiều về thân thế, gia đình, quá trình cuộc sống, và một số quan điểm của tôi đối với xã hội, đối với quê hương dân tộc.

Người rất chú ý, khi chú tôi giới thiệu từ bé tôi đã có nhiều năm luyện tập võ thuật. Cuối cùng người tỏ ra hài lòng nhìn tôi vừa gật gù:

– Như vậy là một thanh niên văn võ toàn tài.

Câu khen quá đáng của người đã làm tôi đỏ mặt. Khi từ giã cha Khuê, trên đường về nhà, tôi hỏi chú tôi có biết gì về lớp học đặc biệt này hay không?

Thực ra, chú chỉ là một người quen thân với Cha Khuê qua nhiều lần trao đổi về chính trị, thời cuộc… chứ về lớp học này, chú chẳng biết gì hơn những điều tôi nghe Cha Khuê nói.

Khi chú tôi đã xuống dưới lầu, ông người Huế trở lại lớp học. Ông quay nhìn tôi, nở một nụ cười thiện cảm trong lúc tay ông mở chiếc cặp đen để trên bàn. Sau đó, ngững lên nhìn tất cả chúng tôi, nét mặt nghiêm trang, ông nói rành rọt:

– Các anh là những người được giới thiệu bảo đảm để theo lớp học này. Tôi rất hân hoan, tin tưởng, vậy trước hết các anh hãy điền, ghi vào tập lý lịch sau đây.

Ông vừa giơ một tập giấy, vừa nói nội dung và cách thức ghi chép vào những chỗ trống theo câu hỏi. Tập lý lịch in sẵn này cũng như nhiều tập lý lịch khác, ngoài phần đề cập về bản thân và cuộc sống, còn thêm hai mục:

– Quan điểm tư tưởng, hoài bão.
– Kể 3 người bạn thân nhất, ghi rõ tên tuổi và địa chỉ.

Gần 1 giờ sau, khi chúng tôi làm xong thủ tục lý lịch, ông căn dặn mấy việc:

– Trở về nhà, chỉ được nói với gia đình, bạn bè là chuẩn bị để đi dự một lớp huấn luyện, về thanh niên Cộng Hòa.

– Mỗi người hãy chờ ở nhà! Ông sẽ đến tiếp xúc riêng từng người theo địa chỉ trong bản lý lịch. Nếu có việc gì cần kíp phải đi đâu, viết giấy ghi rõ nơi đến và khi nào trở về, để lại dặn người nhà.

– Lúc đầu phải nhờ người giới thiệu là trung gian; nhưng bây giờ tuyệt đối không nói là nhận được hay không. Nếu người giới thiệu có hỏi, chỉ nói vẫn chờ, chưa thấy gọi.

Khi chúng tôi ra về, đã 10 giờ 30 tối. Chú tôi đã về nhà. Cha Khuê đã vào phòng đọc kinh. Đến lượt tôi chào ông người Huế, ông tiến lại bên tôi, nói:

– Bình, tí nữa theo tôi ra xe nói chuyện nhé!

Hơi ngạc nhiên, nhưng tôi chợt hiểu. Hẳn là Cha Khuê, hoặc chú tôi đã có lời nhắn nhủ.

Lúc ra tới đướng 16, ông đi thong thả bên tôi, đặt tay lên vai tôi ra chiều thân mật, ông hỏi tôi về cuộc sống, về học hành, v.v… Cuối cùng, ông nói:

– Tôi rất mến và tin tưởng ở Bình. Do đó, tôi muốn Bình giới thiệu cho tôi một người bạn thân, đồng chí hướng như Bình.

Là một thanh niên hãy còn nhiều bồng bột; nghe ông nói tôi thấy lòng tự hào và nghĩ ngay tới Nguyễn Vĩnh Lý, một người bạn rất thân học ở Chasselop Laubat. Anh vừa đậu phần I Tú Tài Pháp, anh cũng có một số hoài bão, ước mơ như tôi.

Sau khi ông ghi xong số nhà, đường phố của Lý do tôi nói, ông lại đặt tay lên vai tôi, giọng tình cảm dịu dàng:

– Tôi sẽ tiếp xúc với Lý, bây giờ Bình về, chúng ta sẽ gặp lại.

Trên đường về nhà và cả đêm hôm đó trước khi đi ngủ, tôi miên man suy nghĩ về diễn tiến của buổi tối ở nhà thờ Tân Sa Châu. Mặc dù chưa biết chút gì về lớp học, nhưng những hiện tượng mà tôi đã nhìn và nghe cả buổi tối hôm trước, đã làm tôi triền miên tưởng tượng viễn ảnh của một ngày mai, trong giấc ngủ muộn.

Sáng hôm sau, tôi phóng xe sang nhà Lý ở khu Đa Kao Cầu Bông rất sớm. Tôi kể cho Lý nghe về sự việc tối trước và nói đã giới thiệu với ông đó rồi. Lý rất mửng rỡ và hỏi liên tiếp những câu mà tôi cũng mù tịt:

– Lớp này là lớp gì? Học ở đâu và học gì? Thời gian bao lâu? Học xong, làm gì?

Tuy vậy Lý rất vui và tin tưởng tôi nên Lý sẽ chờ ông người Huế đó đến gặp. Tôi dặn Lý:

– Mày tiếp xúc với ông ấy, thử moi thêm, may ra biết rõ hơn.

Chừng 10 ngày sau, Lý xuống nhà cho biết: Đã gặp và hoàn tất lý lịch. Lý có hỏi tên, được ông bảo cứ gọi ông là Hương (tôi cho là tên giả). Ngoài ra Lý không biết gì hơn những điều tôi đã biết.

Chúng tôi phải chờ hơn một tháng trời. Có lẻ đây là thời gian sắp xếp chuẩn bị lớp học. Cũng có thể có những người đã bí mật đến xóm giềng, thẩm tra về từng người của chúng tôi. Một hôm, Lý xuống nhà tối với một vẻ phấn khởi:

– Ông Hương bảo tối nay mày đến nhà tao ngủ, 8 giờ sáng mai (tức là ngày 28 tháng 4), ông sẽ đến đón đi tham dự lớp học. Phải chuẩn bị quần áo, sinh hoạt trong một tuần.

Chúng tôi, hai đứa xốn xang bàn tán rất nhiều nhưng vẫn chẳng hiểu được gì hơn. Đêm hôm ngủ ở nhà Lý, hai anh em nằm bên nhau trong căn gác hẹp, nhỏ to rì rầm rồi đi dần vào giấc ngủ nhiều mộng mơ, về ngày mai của cuộc đời.

Thép Đen: Tập I – Chương 2

Cuốn Sổ Tay Tai Hại …

Sáng hôm sau, trời Sài Gòn thật đẹp. Một vài vầng mây trắng lững lờ trên nền trời xanh nhạt.

Đúng 8 giờ, ông Hương đậu xe ở một góc phố, đi bộ lại (đó là cách thận trọng thường xuyên của ông ta). Chúng tôi đã nhìn thấy, mỗi người một túi xách ra xe. Một cái bắt tay, vài nụ cười, không một lời nói, chúng tôi cùng lên xe.

Xe ra khu Bạch Đằng, đón một người cuối đường Hai Bà Trưng, quẹo về Trương Minh Giảng, lên khu Vườn Lài đón thêm hai người nữa. Không kể ông Hương, xe đã năm người, như vậy là hết chỗ.

Trong khi xe lao về phía Chợ Lớn, cả năm chúng tôi không biết xe sẽ đi về đâu.

Khi xe ra tới đầu Quốc Lộ số 4 đường xuống Mỹ Tho, một trong ba người kia tỏ vẻ hiểu biết nói nhỏ:

– Chắc đến trường Cây Mai.

Tôi chẳng biết trường Cây Mai dạy cái gì nên đưa mắt hỏi, anh đó khẻ giải thích:

– Đào tạo tình báo cảnh sát.

Thực tế không phải vậy, khi đi tới ngã tư Phú Lâm, xe đi chậm lại, rẽ vào chiếc cổng có hai cánh cửa sắt đóng im ỉm mang số: 365.

Như đừng chờ sẵn ở phía trong, một người quần áo bà ba nâu vội vàng ra mở cổng. Xe đi thẳng vào, đến cửa một ngôi nhà to thì ngừng lại. Chúng tôi xuống xe theo ông Hương lên gác.

Trên lầu đã có chín người nữa, trong đó, một người đã lớn tuổi vào khoảng ba mươi lăm, bốn mươi, làm tôi chú ý nhiều hơn vì hâu hết chúng tôi từ hai mươi đến hai mươi lăm.

Trong căn nhà rộng có nhiều buồng nhỏ, nhưng một phòng thật to, có lẽ là phòng khách đã kê sẵn 14 chiếc giường vải, có mùng, chăn, gối của quân đội thứ tự theo từng giường. Điều này nói lên số người đã được đón đủ.

Một người mặc pyjama xanh nhạt, đeo kính trắng, chừng ba mươi tuổi, từ dưới nhà lên. Ông Hương quay lại phía chúng tôi giới thiệu:

– Đây là ông Lâm giám thị, một người sẽ thường xuyên ở với các anh em, khi có điều gì cần thiết, các anh đến gặp ông sẽ được giải quyết.

Ông Lâm mỉm cười và bắt tay mọi người, ông cũng là người miền Trung. Sau đó, lại có hai người mặc đồ nâu nữa từ dưới nhà lên. Ông Hương cho biết họ sẽ phục vụ chúng tôi về cơm nước. Tất cả ba người này nói tiếng miền Trung.

Theo ông Hương và ông Lâm, đây là một lớp học tập thể. Bất cứ tập thể nào cũng có nội quy để ổn định trật tự. Vậy, trước hết chúng tôi phải tự đặt bí danh, và từ nay, trong mọi sinh hoạt học tập cũng như ăn ở, chúng tôi sẽ bắt buộc gọi nhau theo bí danh đó. Tôi là J. hay John. Lý là K. hay Karl. Giới hạn tối đa việc ra ngoài phố. Ra ngoài, nếu gặp ai hỏi, chỉ trả lời, chúng tôi là một số sinh viên Kinh Tế Và Chính Trị, vì muốn tìm hiểu Chủ Nghĩa Nhân Vị, nên mượn căn nhà này để nghiên cứu học hành trong mấy tháng Hè.

Đây là một ngôi nhà hai tầng, rất kiên cố, có nhiều phòng. Chung quanh có tường xây, dây thép gai bao bọc.

Theo dân chúng ở chung quanh, ngôi nhà này trước đây thuộc Phòng Nhì của Pháp, nay thuộc về Phủ Tổng Thống. Cuối cùng, ông Hương nhìn chúng tôi, gợi ý:

– Để thuận tiện trong sinh hoạt, có lẽ các anh nên chọn, bầu ra một người trưởng toán.

Chúng tôi toàn những người chẳng hề biết nhau (điều này ông Hương biết nên đã có dụng ý). Làm sao biết được đạo đức và khả năng của nhau, cho nên tất yếu đều nhìn về người lớn tuổi nhất. Ông Hương đồng ý ngay. Anh đó tên Đạo.

Qua những bữa cơm, và trong tủ lạnh luôn luôn có đầy đủ nước ngọt, bia, chanh, đường để giải khát thoải mái, tất cả chúng tôi đều phấn chấn tin tưởng vào viễn ảnh ngày mai của lớp học.

Tối hôm đó tôi xuống buồng của giám thị, theo lời hẹn của ông ta. Ngay buối nói chuyện đầu này, ông đã có vẻ có cảm tình với tôi như một người em, tên ông là Cao Đình Tiệu, tu xuất, vào quân đội. Qua ông, tôi đã biết được nhiều chuyện chung quanh lớp học.

Sáng hôm sau, cả mười bốn người chúng tôi lên một chiếc xe “Dodge 4” mui phủ kín mít. Xe đi lên phía Sài Gòn, nhưng chẳng ai biết sẽ đi về đâu. Cuối cùng, xe đi thẳng vào một tòa nhà to lớn chẳng khác gì một tòa lâu đài, có hai cổng to hai bên để xe ra vào, không có lính gác. Trong sân, vài con ngỗng kêu í ới, sân có trồng cỏ và hoa, êm đềm như một tư gia. Đó là căn nhà số 2 đường Jacques Rousseau. Sau này, tôi biết là nhà của Cựu Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, tham mưu trưởng Quân Đội Quốc Gia thời 1954 về trước.

Chúng tôi được hướng dẫn vào một phòng phía bên phải. Trong phòng, đã có mặt ông Hương và mấy người lạ đóng bộ đàng hoàng. Họ chạy lăng xăng chuẩn bị bàn ghế, cờ quạt. Vách tường, cửa của văn phòng đều được bọc da, để ngăn cản âm thanh với bên ngoài. Trên cao, giữa tường, treo một lá cờ Tổ Quốc lớn, và ảnh cụ Ngô, phía trên đình hương trầm nghi ngút. Bên cạnh, phía dưới, có máy ghi âm. Chúng tôi 14 người ngồi mấy hàng ghế phía cuối.

Đúng 9 giờ, một người đi vào. Có tiếng hô nghiêm, chúng tôi đứng dậy. Người đó bước lên bục. Sau khi làm thủ tục chào cờ hát quốc ca, mặc niệm, ông ta với cặp mắt như tỏa ánh sáng sau đôi kính trắng thật dầy, và bằng giọng Huế ấm và nặng, ông vừa tha thiết nhắn nhủ, vừa nghiêm nghị ra lệnh. Nội dung:

– Các anh là những thanh niên, sẽ trở thành rường cột của Tổ Quốc trong tương lai. Bởi thế, hãy ra sức cố gắng học tập, công tác, để không phụ lòng tin tưởng và thương yêu của tổng thống. Lúc này, đang đi công cán đặc biệt, nên tổng thống không kịp ra dự buổi khai giảng lớp học hôm nay. v.v..

Ba mươi phút sau, người đó về ngay.

Chiều hôm đó, ông Minh (phó giám đốc lớp học) giảng về Chủ Nghĩa Nhân Vị.

Giờ sau, ông Hương giảng về Chủ Nghĩa Cộng Sản.

Lần đầu tiên chúng tôi được nhìn hai tấm nình to tướng khổ 40×60 phân của Engels và Karl Max. Ông lướt qua những nét chính vể Chủ Nghĩa Cộng Sản với những diễn tiến theo thời gian từ Đệ Nhất Quốc Tế đến Đệ Ngũ là Tito Nam Tư, (dĩ nhiên là đứng từ góc độ của thế giới tự do để nhìn về Chủ Nghĩa Cộng Sản). Ông Tạo, chủ sự Phòng Thương Mại, giảng về Kinh Tế và Xã Hội. Ông Đức giảng về tự do và con người, v.v…

Tất cả chỉ là mở ra một bức tranh khái niệm về từng lãnh vực. Tuy vậy, chúng tôi vẫn phải làm bài với những đề tài như:

– Con người và Xã Hội.
– Chủ nghĩa Cộng Sản và con người.
– Nền Kinh Tế chỉ huy và tự phát. v.v…

Chúng tôi được tha hồ tham khảo sách báo ngoài xã hội. Phải nói, lúc đầu tôi cũng hơi ngạc nhiên, tại sao lại cho chúng tôi học những món như vậy. Phải hơn một tháng sau, tôi mới hiểu rõ.

Hằng ngày đi học bằng xe bít bùng, bọc kín như bưng… Tôi để ý, thường thấy những chiếc xe du lịch ra vào đậu trong sân số 2 Jean Jacques Rousseau, lại phải lấy vải bịt số xe. Những người trên xe hầu hết là ngoại quốc, nam cũng như nữ. Thái độ của họ tỏ ra nhanh nhẹn và cũng kín đáo khác thường.

Trong những giờ giải lao, chúng tôi lang thang ngoài sân, khi gần ra phía cổng thì bị giảng viên gọi vào. Họ nói:

– Các anh không nên ra ngoài đó, có thể bị chụp ảnh.

Những điều như vậy, càng gợi trí tò mò của tôi. Tôi suy đoán, có thể không chừng đây là một chỗ tới lui của nhiều tay điệp viên quốc tế chứ không chơi đâu, do đó, tôi tìm mọi cách để mong biết được tên thật của các giảng viên. Tôi hiểu họ dùng toàn tên giả. Thí dụ: Ông Minh giảng về Chủ Nghĩa Nhân Vị lại có cái thắt lưng mang chữ K. Hoặc ông Đức, có lần thoáng trong lần giải lao, ông Minh lại gọi là ông Thái. Tôi muốn biết rõ tên thật và chức vụ thực của họ. Phần khác, tôi còn ghi tất cả những số xe, bất kể loại gì ra vào ngôi nhà số 2 này. Tôi cho rằng rồi đây ở Sài Gòn, hay ở đâu, nếu tôi gặp những chiếc xe đó, địa điểm và chủ nhân ấy đều có dính dáng đến tình báo. Điều đáng trách của tôi, là ghi tất cả tên cũng như số xe vào một cuốn sổ tay, mà tôi thường bỏ trong người.

Trong những buổi lên lớp cũng như những bài làm ở nhà, nhiều lần tôi được khen là có những ý kiến sâu sắc; nhất là ông Hương, giám đốc, càng tỏ ra thân mật quý mến tôi hơn.

Hàng tuần, trưa thứ Bảy, chúng tôi được nghỉ học, về nhà. Tối Chủ Nhật trở lại.

Qua chuyện trò sinh hoạt, sau nửa tháng, tôi đã biết trong số 14 người này có nhiều anh đã có phần I, phần II Tú Tài. Đa số là con ông cháu cha, con cháu tỉnh trưởng, chủ sự,v.v… Vì vậy, tôi và Lý càng hoan hỉ tin tưởng vào tương lai của mỗi người.

Học được hơn nửa tháng, một hôm, tôi không thấy cuốn sổ tay nhỏ của tôi đâu, tôi thắc mắc tìm hoài mọi chỗ, hỏi cả Lý, cũng không thấy. Tôi cho là, có thể nhiều lần đi trên xe, xe vừa đông lại vừa xóc, cuốn sổ rơi xuống đường rồi chăng, chứ tôi đã tìm hết mọi chỗ rồi. Tôi cũng đã hỏi toàn thể anh em, nhưng không một ai biết. Mãi rồi cuốn sổ tay đó cũng đi vào lãng quên.

Một buổi tối, sau khi học và làm bài vở xong, tôi chợt nhớ tới cuốn sổ tay, tôi quyết định mở va li tìm hết lại một lần nữa may ra thấy chăng. Lục lọi, tìm mãi cũng không thấy. Tôi chợt nhìn thấy gần nửa bánh pháo “Đại Quang” ở trong góc va li, thứ pháo nổ xác tan nhỏ như vảy ốc. Bánh pháo này hồi Tết còn thừa, tôi định để dành cho Tết sang năm.

Sẵn tinh nghịch ngợm ngang tàng, tôi rút ra một chiếc pháo trước mặt Lý và mấy anh em còn thức. Miệng đang ngậm điếu thuốc, tôi bình thản từ từ đưa ngòi pháo vò đầu điếu thuốc đang cháy; khi ngòi đã xì lửa, tôi vẫn lạnh lùng nhìn chiếc ngòi xì dần rồi nổ ngay ở tay, ngang ngay trước mặt tôi chừng hai mươi phân, chỉ vì tính ngông cuồng tỏ với mọi người là mình gan lì.

Mọi người ngồi đó không ai nghĩ là tôi dám đốt pháo như vậy, mà chỉ cho tôi đùa bỡn, nên không kip có ý kiến can ngăn.

Tiếng nổ dữ dội, âm vang trong ngôi nhà như tiếng lựu đạn khiến mọi người xanh mặt, kể cả tôi! Anh em đứng cả dậy. Ba người bếp ở dưới nhà cũng hộc tốc chạy lên, mặt mày nhớn nhác. Sau khi biết nội vụ mấy người làm bếp và tất cả anh em giúp tôi nhặt từng mảnh pháo vụn. Giám Thị Lâm hôm đó tình cờ lại đi chơi vắng. Lúc đó đã 10 giờ tối.

Tôi liếc nhìn xuống đường chỗ ngã tư Phú Lâm, thấy một người quân cảnh và hai cảnh sát, đều ngước nhìn lên lầu tòa nhà 365, rồi một người lấy xe gắn máy chạy về phía Sài Gòn.

Tôi xuống nước năn nỉ ba người bếp và các anh em đừng để sự việc này cho Ban Giám Đốc biết.

Dọn xong, tất cả đều đi ngủ lại. Riêng tôi nằm bồn chồn lo lắng. Tôi cảm thấy sự việc sẽ không đơn giản. Tôi không yên lòng, với tay sang lay Lý dậy, thì thầm:

– Tao thấy sự việc này sẽ không phải lộ từ phía dưới lên, mà có khi từ phía trên xuống.

Lý trấn an tôi:

– Không sao đâu, hãy đi ngủ đi!

Tôi nằm, tuy có lo lắng, nhưng tuổi trẻ, nên dễ đi vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Tôi đang say mê ngủ, ai đó đến lay người tôi, tôi mở mắt: Cao Đình Tiệu. Ông nhớn nhác, mắt không kính, tóc rối bù, chắc cũng bị đánh thức dậy, ông nói hổn hển:

– Dậy, mặc quần áo xuống ngay dưới nhà gặp ông Hương!

Thật là chết! Tôi ngồi bật dậy. Xuống đến lưng cầu thang, đã nhìn thấy ông Hương, ông Minh, quần áo lôi thôi, dáng vẻ còn ngái ngủ. Lúc đó đã 2 giờ đêm.

Tôi hồi hộp nhìn các ông ấy. Điều làm tôi buồn khổ, hổ thẹn nhiều là ông Hương, ông Minh, ông Tiệu, nghĩa là cả Ban Giám Đốc, cũng như giám thị, trước đây đề cao và quý tôi nhất, cho nên tôi chỉ biết cúi đầu.

Chắc hẳn ông Hương đã hỏi ba người bếp chi tiết sự việc rồi. Ông Tiệu không biết gì vì đi chơi. Câu đầu tiên ông Hương hỏi tôi:

– Bình có biết hôm nay là ngày gì không?

Tôi tường ý của ông muốn hỏi như vậy để tôi phải trả lời. Hôm nay là ngày tôi đã gây ra một việc đáng tiếc, nên cứ cúi đầu, ngồi im.

Có lẽ ông Hương (45 tuổi) đã hiểu cái bồng bột quá trớn của một người thanh niên, ông nói luôn:

– Hôm nay là ngày 15 tháng 5, sinh nhật của Karl Marx (thảo nào ngã tư Phú Lâm được tăng cường thêm hai cảnh sát và một quân cảnh). Ông Hương nói tiếp:

– Bình có biết việc Bình làm đã chấn động nhiều cơ quan, kể cả Phủ Tổng Thống không?

Vì là ngày sinh nhật của Karl Marx, nên các cơ quan an ninh tăng cường hoạt động để ngăn chận, những manh nha của Cộng Sản. Khi nghe tiếng nổ, nếu ở một chỗ bình thường, cảnh binh chỉ việc vào điều tra tìm hiểu; và thấy do đốt pháo thì chỉ phạt 20 đồng theo quy định hồi ấy.

Ở đây, tiếng nổ lại phát ra từ ngôi nhà 365. Cảnh sát cũng như quân cảnh đều hiểu ngôi nhà đó thuộc trung ương, nên không dám vào khám xét. Nhưng vì sự việc xảy ra trong khu vực trực tiếp trách nhiệm của họ, nên bắt buộc họ trình báo cáo cấp trên. Đồn trưởng báo Quận, Quận hỏi ý kiến Nha Giám Đốc. Nha Giám Đốc cho căn nhà đó là của An Ninh Quân Đội, thuộc Phủ Tổng Thống. Lời tường trình được báo về cấp cao nhất, và cuối cùng truyền ngược xuống Ban Giám Đốc lớp học.

Mặt của ông Hương, Minh, Tiệu như bàn tay bà già. Mặt tôi có lẽ dài ra gấp rưỡi ngày thường.

Ông Hương chậm rãi nói:

– Không thể dùng quyền để ém nhẹm vụ này, vì như vậy càng làm cho các cơ quan khác nghi ngờ. Cho nên, ngày mai cảnh sát sẽ vào đây lập biên bản. Vậy, hãy nói với họ đây là một số sinh viên, học tập Chủ Nghĩa Nhân Vị trong dịp Hè. Một người trong lúc vui chơi đã nghịch, gấp một chiếc pháo giấy đập mạnh bằng tay, vì ở trong tòa nhà, nên nó đã vang to như vậy.

Ông Hương bắt ông Tiệu lấy giấy gấp thành một cái pháo, mà học sinh vẫn chơi. Tôi phải thực tập, cũng nổ. Nhưng làm sao bằng pháo thật!

Đến đây, tôi cũng suy nghĩ. Tại sao ông Hương không nói thẳng với cảnh sát là tôi nổ pháo, mà phải làm trò như thế, cảnh sát tin sao được. Tôi cho rằng, có lẽ một phần ông Hương muốn cho đỡ khuyết điểm cho tôi với trên, phần khác cho chính ông ta (tại sao lại tuyển mộ một học viên có những hành động nhố nhăng như thế).

Sáng hôm sau, một xe “díp” cảnh sát chở ba người, kể cả đồn trưởng, vào gặp ông Tiệu và tôi. Thái độ cảnh sát rất nhã nhặn, dè dặt, và tỏ ý, đây chỉ là nguyên tắc, vì vậy, họ cũng không bắt tôi phải đập pháo giấy. Nghĩa là họ không tin, nhưng việc phải làm, cho nên họ ghi đầy đủ sự việc theo lời khai vào sổ trực.

Ông Tiệu còn nhăn nhó nói:

– Địa điểm học này đã bị lộ, có thể sẽ phải chuyển đi nơi khác.

Sóng gió lại bình lặng! Chúng tôi lại tiếp tục học hành. Tuy vậy, từ đấy tôi rất ngượng nên thường tránh mặt, không muốn gặp ông Hương và ông Minh nữa.

Hơn một tuần sau, vào lúc 7 giờ tối, một anh bếp gọi tôi xuống gặp ông Giám thị. Khi xuống tới buồng ông Cao Đình Tiệu, tối thấy trên bàn một chai rượu mạnh. Mặt ông đỏ gay và thật buồn. Thấy tôi, ông hất hàm ra hiệu cho tôi ngồi xuống. Rồi quay mặt nhìn ra cửa sổ, chậm rãi:

– Bình có một quyển sổ tay nhỏ phải không?

Thoáng nghe tim thót lại, tôi gật đầu lo lắng nhìn ông.

– Bình có biết quyển sổ đó hiện nay đang ở đâu không?

Tôi nói trong đắn đo, dè dặt:

– Đã mất hơn nữa tháng nay và tìm mãi không thấy.

Ông quay ngoắt lại, nhìn thẳng vào mặt tôi, dõng dạc:

– Hiện giờ, nó đang nằm trên Phủ Tổng Thống!

Ôi chao, sao tôi có nhiều việc thế này! Lòng tôi hoang mang, hoảng sợ nhìn ông. Ông hỏi tiếp:

– Ai là người giới thiệu và bảo lãnh Bình vào lớp học này?

– Cha Mai Ngọc Khuê.

Mặt ông buồn thiu, thổ lộ:

– Tôi không có em trai, từ ngày tôi gần Bình, tôi rất mến và coi Bình như em trai của tôi. Chiều nay tôi đã tham dự một cuộc họp hai tiếng đồng hồ. Tôi đã vận dụng nhiều lý luận để binh vực cho Bình, nhưng địa vị và quyền của tôi chỉ có giới hạn. Cuộc họp đã quyết định xong vể Bình rồi. Họ sẽ giao Bình sang An Ninh Quân Đội, Bình sẽ bị sát hạch, khai thác, có khi bị tra khảo nữa. Vậy ngay bây giờ, Bình vể khẩn khoản nói với Cha Khuê, may ra uy tín của người sẽ cứu được Bình.

Ông còn hỏi:

– Có tiền đi tắc xi không?

Ông mở ví móc đưa tôi 50 đồng.

Tôi như ngồi trên lửa, khua tay rối rít cám ơn nói là đã có tiền rồi. Tôi đứng lên chuẩn bị đi ngay sang khu Lăng Cha Cả, ông còn kéo tay tôi lại:

– Tại sao Bình ghi hơn chục cái số xe để làm gì? Cả tên thật và chức vụ của các giảng viên nữa?

Mặt tôi buồn rười rượi. Tôi thú thật với anh là vì tò mò. Anh giục tôi đi ngay, về thú thực hết với cha Khuê. Trên đường về, tôi nghĩ ngay tới Đạo, ngưởi trưởng toán. Mục đích ở trên đưa nó vào để theo dõi chúng tôi về tư tưởng. Nghĩ cho cùng, tôi chỉ giận mình ngu xuẩn, nhố nhăng, không thể trách Đạo được vì đó là nhiệm vụ của anh ta.

Những năm tháng sau này, nhiều khi suy nghĩ lại sự việc trên, tôi thấy, trong cuộc đời, chuyện may rủi không một ai dám phủ nhận, nhưng cũng phải thừa nhận là “bản tính tạo nên cuộc đời”. Thực tế, tính một người ưa động, coi thường nguy hiểm, thích đấm đá, dao búa, buôn lậu, hoặc hoạt động chính trị, làm cách mạng, v.v… Đời người ấy, nói chung, sẽ nổi chìm bất thường. Ngược lại, một người sợ chuyện nguy hiểm, rụt rè trước những việc mới lạ, cá biệt không kể, nói chung, đời người đó trôi đều phẳng lặng. Cho nên, bản tính của tôi đã như thế, tôi phải gánh lấy hậu quả tất yếu, kêu trời làm chi!

Về gặp Cha Khuê. Trước đây người vồn vã vui tươi với tôi, bây giờ, sau khi tôi trình bày sự việc, mặt người thật lạnh lùng xa lạ. Người chỉ nói một câu: “Làm như vậy đấy!” Tôi thật buồn và thẹn. Nếu không vì chuyện cấp bách, tôi chẳng đến người làm chi nữa.

Trở về, hôm sau tôi vẫn tiếp tục đi học ở số 2 Jean Jacques Rousseau, nhưng là những ngày đầy lo âu, nghe ngóng.

Buổi học cuối tháng đó, chúng tôi đến lớp nhưng không học. Chúng tôi được lệnh ngồi chờ. Từng người được gọi vào một căn buồng phía trái để làm việc, khá lâu. Mỗi khi một người mở cửa buồng bước ra, tôi hỏi, họ đều lắc đầu. Mãi tới lúc Lý ra, tôi hỏi, hắn chỉ vắn tắt:

– Lấy tiền, và viết giấy cam đoan, ông ấy dặn tao tuyệt đối không nói gì với người khác.

Gần về cuối, tôi mới được gọi. Gặp ông Hương, tôi ngượng ngùng, nhưng ông lờ đi. Nội dung sinh hoạt riêng từng người là:

– Ký vào mấy tờ giấy và lĩnh 2,500đ.00 một tháng (học, được nuôi ăn ở lịch sự, lại còn có lương!)
– Một tờ cam đoan đã đánh máy sẳn. Tuyệt đối không kể một sự việc gì vể lớp học cho một ai khác, kể cả gia đình. Nếu vi phạm, sẽ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn.
– Về nhà chờ, khi nào có người tới đón, sẽ đi học tiếp tục.

Sau đó, chúng tôi ra về. Tôi những tưởng tai qua nạn khỏi, nhưng không phải vậy. Thỉnh thoảng, tôi vẫn đến nhà Lý chơi để xem tình huống gọi, đón như thế nào. Một hôm, tôi đến nhà Lý như mọi lần, được người nhà Lý cho biết, sáng sớm đã có người đến đón Lý đi rồi. Thôi, thế là tôi đã bị thải. Để cho sáng tỏ hơn, tôi phải liều. Tôi vội vàng phóng xe xuống 365. Lúc đó đã là giờ trưa, rất im vắng. Tôi lên tuột trên gác thấy Lý và 9 người nữa đang ngủ. Tôi lay vai Lý dậy, rồi chúng tôi cùng xuống dưới nhà. Lý nói, mặt buồn buồn:

– Ông Hương đến đón tao đi ngay, nên không kịp viết giấy để lại cho mày. Tao có hỏi ông Hương về mày. Ông trả lời “Hãy biết phận mình thôi”.

Tôi thấy Lý cũng không biết gì hơn, tôi hẹn Lý cuối tuần về sẽ nói chuyện. Tôi vào buồng anh Tiệu, anh cho biết: “Không gọi, có nghĩa là loại rồi” và “Lớp học bây giờ chỉ còn mười người!”

Như vậy là tôi đã hiểu. Mục đích của một tháng học đó chỉ là để tìm hiểu và để lọc người. Trừ anh Đạo trưởng toán có nhiệm vụ riêng không kể, 3 người đã bị loại.

Ruột tôi thật là héo úa! Anh Tiệu thây tôi buồn, anh đặt tay lên vai tôi, vừa như tâm tình vừa như an ủi:

– Dù học lớp này hay không, Bình hãy đến với tôi. Nhưng không nên đến đây nữa. Bây giờ là giao thiệp giữa cá nhân tôi và Bình.

Anh cho tôi số nhà riêng và hẹn gặp vào những ngày cuối tuần.

Trên đường về nhà, tâm tư tôi nặng chĩu trái sầu. Tôi nghĩ đến lời anh Tiệu khi nãy: “Trong lớp học đó, Bình được Ban Giám Đốc khen ngợi là trội nhiều mặt, tháo vát, nhanh nhẹn, nhưng …”

Vâng, trong cuộc sống con người, chữ “nhưng” và chữ “nếu”, hai chữ quái quỷ này có lúc làm cho con người sung sướng ngất ngây bao nhiêu, thì nhiều khi chúng cũng làm cho người ta đau khổ chất chồng, đầy máu và nước mắt bấy nhiêu. Đôi khi tàn lụi cả cuộc đời cũng vì chúng.

o0o

Thép Đen -Tập I – Chương 3

Vào Ngành Tình Báo …

Tôi về nhà nằm buồn mấy ngày. Lại đúng vào mấy ngày mưa. Mưa thật nhiều, mịt mờ cả đường phố. Tôi nằm nghe mưa rơi trên mái nhà, những hạt mưa rơi xối xả âm vang như tiếng cười đùa trêu chọc. Nhưng, có lúc lại như tiếng reo hò, hối hả thúc giục người con trai không thể nằm buồn tiêu cực trong cuộc sống, phải dậy và nổ lực với những khó khăn trước mặt! Thế là tôi ngồi bật dậy và nỗi buồn của tôi đã như áng mây, trôi về phương trời xa mất hút…

Ít ngày sau, tôi được biết Bộ Tổng Tham Mưu thông báo thi tuyển vào lớp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức khóa 11. Tôi nộp đơn, ngoài những thủ tục cần thiết, tôi còn nộp kèm theo giấy chứng chỉ của trường Cao Đẳng Quân Sự (giai đoạn đó, học sinh đệ nhị cấp, đều phải qua lớp huấn luyện quân sự này) chứng nhận tôi là chuẩn úy trừ bị.

Do một số tin tức tôi thâu lượm được, không kể Cần Thơ và Huế, riêng Sài Gòn đã có hơn 1.000 người xin dự thi, trong khi tôi được nghe đồn, khóa Thủ Đức 11 này đặc biệt sẽ lấy 800, vì nhu cầu tình hình chính trị đòi hỏi. Dù thế nào, tôi vẫn phải đem sách vở ra miệt mài học lại. Tuy tôi cũng tự tin vào khả năng của mình.

Một ngày cuối tuần, tôi đến Tiệu chơi, anh hỏi tôi:

– Bình có thích hoạt động tình báo không? Với khả năng như Bình, nếu Bình thích, tôi sẽ giới thiệu qua ngành quốc ngoại, vì tôi có quen biết.

Vừa qua, tôi đã nếm mùi vị tí chút về tình báo, nên tôi gật đầu. Tôi cho anh địa chỉ nhà tôi, và sẽ chờ người đến gặp.

Qua những buổi trao đổi với Cao Đình Tiệu, tôi đã hiểu tình báo quốc ngoại ở đây là tình báo ngoài miền Bắc. Lúc đó, quan điểm tư tưởng của tôi thật là đơn thuần. Con người của tôi tự bản tính không sợ những chuyện nguy hiểm, nên luôn luôn ôm ấp một hoài bão, phải làm được một cái gì đó hữu ích cho cuộc đời này, mặc dù tôi chưa hề định hướng việc đó là việc gì. Lý tưởng chống Cộng Sản của tôi, lúc đó vẫn còn lẩn quất chưa rõ mầm. Tôi chưa ý thức được vì sao, tôi một người con trai Việt lại phải ra miền Bắc, vào đất kẻ thù để chống Cộng Sản. Lỗi này là do những người lãnh đạo chế độ miền Nam đã hời hợt sao nhãng, việc giáo dục trong học đường đối với thanh thiếu niên về vấn đề Cộng Sản.

Hơn một tháng sau, đến ngày thi tuyển vào trường Thủ Đức. Sau mấy ngày thi, bài vở so với mọi người chung quanh, tôi làm được, nhờ hai bài toán Hình, Đại thì một bài trúng tủ. Thầy Phú đã ra trước đây ở trường Hưng Đạo. Còn bài Việt, tôi hơi vững dạ, vì trong các môn học, môn Việt Văn của tôi vẫn thường có chỗ đứng tạm được. Dù vậy, khi chưa công bố, ai dám cho là mình đã qua. Chính vì thế, trong khi chờ đợi kết quả tôi vẫn cần phải lo chuyện khác nữa.

Tôi thi được hơn mười ngày, một hôm có một người chừng ba mươi lăm tuổi tìm tới nhà. Lại là người Trung nữa! Sao trên trung ương nhiều người miền Trung thế? Ông ta tự giới thiệu tên là Cẩn, Ngọc Cẩn, mặc thường phục. Ông ta nói:

– Được ông Lâm (tên giả của Cao Đình Tiệu ở lớp học) giới thiệu và nói nhiều về anh. Hôm nay, tôi đến gặp anh. Chúng ta sẽ trao đổi vài câu chuyện.

Câu chuyện xoay quanh mấy vấn đề quan điểm, hoải bão, trách nhiệm của người thanh niên đối với dân tộc, Tổ Quốc v.v…

Buổi nói chuyện kéo dài chừng hai tiếng đồng hồ, Sau đó, ông Cẩn hẹn buổi khác sẽ đến.

Ông đến gặp tôi hai ba lần nữa. Một hôm, ông mang theo một tập lý lịch, bảo tôi ghi điền vào chỗ trống theo yêu cầu. So với tập lý lịch làm ở nhà thờ cha Khuê, lần này thêm một vài chi tiết nữa. Riêng chỗ bạn thân phải 5 người.

Lúc ra về, ông nhìn tôi, có tình cảm:

– Trong khi chờ đợi sự sắp xếp ở trên, tôi hàng ngày cũng rỗi, vậy thỉnh thoảng anh em mình đi chơi phố hỉ?

Tôi đồng ý. Chúng tôi có lúc ra bờ sông ngồi chơi, có khi vào quán uống. Một hôm, ông đến bằng xe Lambretta, chở tới vài khu trung tâm Sài Gòn chơi. Trong khi đi đường, ông hỏi chuyện về nhiều lảnh vực khác nhau. Một lần đang đèo đi chơi, bất chợt ông nói:

– Quên, có chút việc chúng mình phải sang khu Cầu Cống Khánh Hội.

Khi sang tới đó, ông lái xe vào sâu mãi trong một ngỏ hẻm, qua nhiều ngóc ngách ngang dọc, rồi ông để tôi đứng ở ngoài chờ. Ông vào một căn nhà, chừng 5 phút ông trở ra.

Khi trở về Sài Gòn, chúng tôi vào nhà hàng Thanh Thế uống nước. Lúc tôi và ông đang cầm ly uống, chiếc mũ của ông để trên bàn, bất ngờ rơi xuống nền gạch chỗ giữa ông và tôi.

Ông nhìn tôi, và tôi cũng nhìn ông, cùng đang cầm ly nước. Tôi vẫn thong thả uống và từ từ đặt ly nước xuống bàn. Tôi tiếp tục nói hết câu chuyện và ung dung dụi tàn thuốc lá, rối mới cuối xuống nhặt mũ lên bàn cho ông. Tôi nghĩ, mũ của ông rơi đã rơi rồi, chẳng cần phải vội vàng nhặt ngay, kẻo nó bị hư hỏng hơn. Cho nên, tôi vẫn đường hoàng làm xong việc tôi đang làm giở.

Phải nói, lúc đó tôi chưa biết là ông thử sự bình tĩnh của tôi. Lần thứ hai, tôi đã thấy dụng ý của ông.

Một lần đang ăn uống, ông rót bia rồi, còn già nửa chai ông đặt ghé lên chiếc khăn lau tay để trên bàn. Lát sau, như vô tình, ông rút chiếc khăn để lau miệng, chai bia tất yếu nghiêng đổ. Phản xạ cấp thời, tôi chộp lấy được.

Một lần khác, chúng tôi đang ngồi ở Hòa Hưng, như chợt nhớ ra điều gì, ông quay lại tôi:

– Nhờ Bình một chút, tôi ngồi ở đây chờ, Bình lấy xe tôi xuống chỗ công “piscine” Cộng Hòa mua hộ tôi 5 bao thuốc Pall Mall với một bao Capstan, họ bán phía trong cổng ấy.

Trên đường đi, tôi thấy vô lý, từ Hòa Hưng xuống Ông Tạ có biết bao nhiêu hàng thuốc lá, tại sao lại xuống mãi hồ bơi Cộng Hòa? Dù suy nghĩ như vậy, nhưng tôi vẫn đến chỗ đó mua cho ông. Khi ông và tôi trở về, ông làm như băn khoăn hỏi:

– Mai Bình có rỗi không?

Nhìn ông tôi dè dặt:

– Tôi chưa biết rõ, nhưng ông cần cái gì ông cứ nói.

Ông rút trong túi áo ra một lá thư dán kín, bì thư để trống trơn, đưa cho tôi ông căn dặn:

– Ngày mai, Bình có solex, hãy đưa hộ tôi lá thư này cho cái nhà mà hôm nọ Bình với tôi đến, ở trong chợ Cầu Cống đó.

Đã gần nửa tháng rồi, vô tình ai để ý làm gì, nhưng do cá tính hay để ý của tôi, tôi đã nhớ. Hôm ấy, tôi thấy ông Cẩn vào một ngôi nhà, tôi nghĩ ông là một người làm tình báo của chính quyền. Như vậy, ngôi nhà đó có dính dáng ít nhiều đến tình báo; nếu không, ít ra chủ nhân cũng quen biết thân thuộc đến đời riêng của ông Cẩn, nên tôi chú ý hơn. Vì vậy, hôm sau tôi đáp ứng được việc ông nhờ, không khó khăn gì cả.

Tóm lại, thời gian đó, có thể ông đã thử thách tôi nhiều, nhưng tôi chỉ thấy được 4 lần:

– Về đức tính bình tĩnh.
– Về tính chấp hành kỷ luật nghiêm chỉnh.
– Về trí nhớ cần thiết để hoạt động.
– Về phản xạ bén nhậy, chính xác khi sự việc xẩy ra bất ngờ.

Về việc mua thuốc lá, nếu ông muốn kiểm tra, chỉ cần trở lại chỗ bán thuốc lá ở hồ bơi Cộng Hòa, hỏi người bán hàng.

Một vài phương pháp thử thách như trên, chưa đủ xác định khả năng của một con người. Vì vậy, sau này trong quá trình đào tạo, huấn luyện, còn nhiều thử thách khác nữa.

Sau đó, cứ dăm ba ngày, lại một lần ông Cẩn đến đón tôi đi chơi cho tới một hôm, sau buổi đi chơi về, ông thân mật dặn dò:

– Kỳ này, tôi có một số công việc bận, vậy Bình về nhà hãy đợi chờ nhé!

o0o

Thép Đen Tập I – Chương 4


Nghiệp Dĩ …

Tôi về nhà nằm chờ đợi. Hàng ngày, tôi vẫn lấy sách vở ra miệt mài xem lại để sang năm, bằng mọi giá tôi phải lấy xong phần I Tú Tài. Tôi đã ăn vỏ chuối 2 năm rồi! Chỉ vì sự suy nghĩ của tôi chưa đủ chín chắn, còn ham chơi. Chỉ có những quyết tâm nửa vời, thiếu hẳn ý chí kiên nhẫn, cho nên, tôi đã phải trả một giá đích đáng cho sự học vấn của tôi. Tôi nhớ lại những năm tháng trước đây, vì hoàn cảnh cuộc sống, vì đất nước chia đôi, tôi di cư vào miền Nam và gián đoạn việc học hành.

Trước kia, tôi đã biết nghề kim hoàn từ hàng Bạc, Hà Nội. Vào Nam, do gia đình và họ hàng giúp đỡ, cuối 1956 tôi đã mở hiệu bán vàng bạc “Bảo Tín” ở chợ Cây Điệp. Khách hàng là quân nhân trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và mấy làng người miền Nam quanh vùng. Sau gần một năm, càng ngày cửa tiệm càng phát đạt, dù người chủ tuổi đời chỉ mới mười tám, mười chín (bố mẹ và các em tôi ở cùng nhà). Khi ấy, đồng tiền đối với tôi thật dễ dàng. Thỉnh thoảng, một vài người bạn từ Sài Gòn xuống chơi, nói chuyện về các giáo sư, về học hành, về xã hội… Với đầu óc còn quá non dại, tôi nhìn cuộc đời cũng quá đơn giản. Vì thế, tôi cũng đi vào cái chung của mọi người là coi thường những gì mình đang có, và hướng tìm về những cái mình chưa có. Nghĩa là, trong tôi đang dần hình thành những suy nghĩ về cuộc sống của con người trong xã hội.

Khi ấy, tôi nghĩ thật đơn giản. Xã hội và con người mỗi ngày mỗi tiến bộ. Vậy, một thanh niên sống trong thời đại đó, ít nhất phải có một kiến thức nhất định nào đó để hiểu biết được , ít ra là khái niệm, về tất cả lãnh vực trong thời đại mà mình đang sống.

Hãy tạm thời lấy sự học vấn làm ý niệm đo lường. Những năm 50 trước đây, chỉ cần mức độ là Trung Học Đệ Nhất Cấp là tạm đủ, cho kiến thức của một con người. Nhưng, thập niên 60 phải cần có Tú Tài; chứ Trung Học Đệ Nhất Cấp đã là lạc hậu rồi, không theo kịp đà tiến triển chung của xã hội. Và tới thập niên 70, nếu không đáp ứng được yêu cầu tương đối ấy, người thanh niên sẽ không đủ kiến thức để hiểu biết, dù không cần quán triệt, những sự việc xã hội xẩy ra chung quanh mình.

Vậy, bây giờ tôi có tiền để làm gì, khi đầu óc tôi còn mơ hồ về chuyện đất nước và thế giới. Hơn nữa, con người được sinh ra trên thế giới này, phải ít nhất biết một số nơi danh tiếng của nó. Nếu không, thì cũng sẽ chỉ sống một cuộc đời tầm thường, thiếu thốn, chưa đủ ý nghĩa của cuộc sống.

Từ những suy nghĩ lẩm cẩm ngây thơ trên, tôi quyết định thôi hiệu vàng. Bố mẹ cũng như họ hàng, trước đây ca ngợi tôi bao nhiêu, bây giờ trách móc tôi bấy nhiêu. Tôi còn nghĩ rất đơn giản là, bây giờ mình còn trẻ hãy gắng học đã, rồi phải đi đây đó để biết nhiều về thế giới này. Đến khi nào ba, bốn mươi tuổi, lúc đó lại trở về mở hiệu vàng (vì ít ra mình đã có kinh nghiệm về mở hiệu vàng rồi). Thật là những suy nghĩ ấu trĩ! Chuyện đời không đơn giản như suy nghĩ của một cậu thanh niên mới lớn.

Sau đó, tôi đến ở Trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ, Chợ Lớn (Pavie La Mothe) và tiếp tục đi học. (Bao nhiêu kỷ niệm, bạn bè ở trại học sinh này! Sau 30 mươi năm, không biết bây giờ số phận của mỗi người như thế nào?).

Tôi ngồi nhà học và chờ ông Cẩn mãi, đã hai, ba tháng rồi mà chẳng thấy ông đến. Vì thế, tôi không còn tin tưởng mấy vể chuyện tình báo ngoại quốc. Tôi nghĩ rằng, trong khi chờ đợi, nếu Thủ Đức có trước thì đi Thủ Đức. Nghĩa là, cái nào có trước tôi sẽ đi cái đó. Cuối 1960, tôi nhận được giấy báo trúng tuyển Thủ Đức và hẹn ngày đi khám sức khoẻ.

Thôi, giã từ tình báo miền Bắc! Tôi sẽ đi theo đường binh nghiệp! Về lãnh vực này, tôi cũng có một số khả năng. Sau mấy ngày đi khám sức khoẻ ở bịnh viện Cộng Hòa, rồi đến ngày nhập trường. Hơn một tuần lễ với bao nhiêu sự việc, người mới, sinh hoạt mới của đời quân ngũ! Bỗng một hôm, tôi được gọi lên văn phòng chỉ huy.

Tôi vừa đi vừa băn khoăn không hiểu có chuyện gì. Khi tôi vừa bước chân vào cửa phòng, tôi giật mình ngạc nhiên: Ông Cẩn đang ngồi ở một chiếc ghế, đăm đăm nhìn tôi. Hôm nay, ông mặc quân phục, mang lon Đại úy. Chẳng biết ông Cẩn đã chuẩn bị trước với nơi đây như thế nào, ông dẫn tôi sang một phòng trống. Khi tôi vửa ngồi vào ghế, ông cau có, hỏi giật giọng:

– Sao Bình lại đi Thủ Đức? Không thể được!

Ông lặp đi, lặp lại hai, ba lần câu “Không thể được”.

Tôi hơi ngượng ngùng trả lời:

– Vì chờ ông lâu quá! Hơn nữa, tôi nghĩ rằng, tôi vào Thủ Đức thì cũng là phục vụ dân tộc, Tổ Quốc vậy.

Tay ông khoáng lên lia lịa, ông nói một thôi một hồi:

– Không thể được! Không trẻ con như thế được! Thủ Đức thì hàng trăm người có thể vào, còn việc này, không phải ai cũng được. Bình có biết là từ 4 tháng nay, đã bao nhiêu người phải bận rộn về việc này không? Kế hoạch đã đặt xong, nhà cửa đã mướn, mọi việc chuẩn bị đã sẵn sàng. Trên Phủ Tổng Thống đã quyết định có lệnh lấy Bình về bằng bất cứ giá nào.

Tôi vô cùng bối rối, lúng túng chẳng biết trả lời thế nào cho xuôi, vì ngay trong thâm tâm tôi cũng ưa đời binh nghiệp. Cuối cùng, tôi mạnh bạo nói:

– Thôi, hay ông để theo quân đội cũng thế!

Ông ta mở mắt to nhìn tôi, vừa như ngạc nhiên về thái độ từ khước của tôi, vừa như bất mãn khó chịu. Cuối cùng, mắt ông dịu xuống, ông nói một cách cởi mở:

– Bình muốn có lon à! Được, nếu Bình muốn, về Sài Gòn sẽ có. Bình cũng sẽ là quân đội vậy.

Có lẽ lúc ấy ông sợ hỏng kế hoạch, sẽ bẽ mặt với câp trên, nên ông xuống nước hết mình với tôi. Và, chẳng biết ông Cẩn có lệnh can thiệp như thế nào, ngay hôm đó, tôi đã phải theo ông về Sài Gòn. Tôi vội vàng từ giã mấy người bạn mới lý do “Bố sắp chết nên được phép về ngay”.

Sau này với những năm tháng đau thương chất chồng, nhiều lúc tôi ngồi nghĩ lại, nếu lúc ấy tôi cương quyết ở lại Thủ Đức – “Lại chữ nếu quái ác” – có lẽ cuộc đời tôi sẽ thay đổi hoàn toàn trong tương lai. Sai một ly đi một dặm! Những giai đoạn đầu của cuộc đời, ở những chỗ rẽ, nếu chỉ cần xê dịch khác một chút, kết quả sau này sẽ khác nhau một trời một vực. Âu cũng là do nghiệp chướng của đời tôi.

o0o

Thép Đen Tập I – Chương 5

Huấn Luyện Tình Báo …

Ngay tối hôm đó, tôi về tới thành đô. Nhìn cảnh phố phường đầy mầu sắc, lòng tôi vẫn vời vợi, bâng khuâng với nhiều nẻo đi của cuộc đời. Hồn tôi đang chìm ngập trong nỗi ngơ ngác đầy vơi thì xe ngừng lại ở một góc đường Võ Tánh. Ông Cẩn móc túi lấy chùm chìa khóa trao tôi, thân mật dặn dò:

– Đây là chìa khóa đã ghi sẵn số phòng ở tầng ba, số 8 đường Nguyễn Văn Tráng.

Trước khi chia tay ông còn căn dặn thêm:

– Nhớ đừng về nhà, sáng mai tôi đến sẽ nói chuyện.

Sau một lúc lò dò tìm kiếm, tôi đã đến được căn phòng đó. Trong phòng đã có sẵn một chiếc radio transitor với một số sách báo ngoại ngữ, cũng như Việt ngữ.

Sáng hôm sau ông Cẩn đến. Nội dung những điều ông căn dặn hướng dẫn:

– Tôi sẽ đóng vai trò là một sinh viên Văn Khoa, gia đình tôi thuộc loại khá giả, từ Bắc di cư vào miền Trung. Tôi vào Sài Gòn trọ học. Đó là đối với tất cả người chung quanh, kể cả với người quản lý building.

– Còn riêng với gia đình, một tháng chỉ nên về một hoặc hai lần. Nói là: Khi lên tới trường Thủ Đức, họ khám sức khoẻ lại, thấy có bệnh yếu tim, nên không thể theo học quân sự được. Hiện nay, đã chuyển sang ngành công tác xã hội, phải đi học tập một thời gian.

– Ít đi ra phố, chỉ ra khi đi ăn cơm. Hàng ngày, sẽ có người đến huấn luyện. Chiều Thứ Bẩy và Chủ Nhật nghỉ.

– Trong thời gian huấn luyện, mỗi tháng tôi sẽ được lãnh 2500 đồng (lại cũng giống như số lương ở số 2 Jean Jacques Rousseau!).

Thời gian đầu, chính ông Cẩn, sáng cũng như chiều, mang tài liệu sách vở đến giảng dậy cho tôi.

Lúc đầu, ông đưa tài liệu ra giảng cho tôi về:

* Thế nào là một tổ chức bí mật. Lãnh đạo những tổ chức này, có khi do một cá nhân, một tập thể, hoặc một quốc gia.
* Xác định bạn và thù. Những người cùng chung một công tác là bạn. Ngoài ra, tất cả là thù; kể cả bố mẹ, vợ con, anh em, bè bạn và các cơ quan khác như cảnh sát, công an, an ninh quân đội. v.v… (theo ý nghĩa ngăn cách, bí mật).

Tôi rất ngạc nhiên về điểm này. Ông Cẩn giải thích, đại ý:

– Về lãnh vực tình báo trên thế giới, từ xa xưa cho tới bây giờ, biết bao sự việc lắt léo ly kỳ đã xảy ra. Trong hòa bình cũng như lúc chiến tranh, có khi hai quốc gia chống nhau, hoặc có khi hai khối quốc gia chống nhau. Bên nước này, cũng như bên kia đều đầy dẫy những nhân viên tình báo của đối phương. Những nhân viên này, tùy theo điều kiện và nhiệm vụ, có thể ở mọi nơi, mọi lãnh vực, thậm chí đôi khi còn nằm ngay trong chính quyền trung ương của nước sở tại. Nhiệm vụ của họ có nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng có một cái chung là tìm tòi, nghe ngóng để biết trước được những âm mưu, ý đồ về tình báo của nước nọ đối với nước kia, ngõ hầu có những biện pháp thích ứng để ngăn chận, hoặc lợi dụng, có khi tiêu diệt. Vậy, điều quan trọng là người điệp viên cần phải biết những ai là nhân viên tình báo của đối phương, nhất là những nhân viên bí mật.

Thời đại ngày nay là thế giới tự do và Cộng Sản. Một thí dụ:

– Một người đang được bí mật đào tạo huấn luyện để nhận một nhiệm vụ bí mật vào đất địch, phá một công xưởng sản xuất vũ khí chẳng hạn.

Anh này có vợ, vì anh là tình báo nên đi về thất thường, nguyên tắc không được nói với vợ, nên anh này thường nói dối quanh. Người vợ càng nghi ngờ có lẽ chồng đã đi với cô này, cô nọ, cho nên đã làm cho anh ta nhiều lần khốn đốn. Anh này vì chưa đủ ý thức về bí mật, an ninh công tác nên có ý nghĩ:

– Tuy nguyên tắc là như thế, nhưng vợ của mình, đấu gối tay ấp trọn cuộc đời với nhau, chẳng lẽ lại hại nhau, chẳng lẽ vợ mình lại là Cộng Sản ư?

Và một đêm, anh đã thú thực với vợ, không quên căn dặn vợ là tuyệt đối không được nói với bất cứ ai. Người vợ lại có một người mẹ, thỉnh thoảng nàng hay sang nhà mẹ chơi. Bà mẹ thường bảo:

– Này, cái thằng chồng của mày độ này nó làm ăn cái gì mà tao thấy nó đi suốt ngày, có khi cà đêm nữa? Mày ngốc, mày không để ý theo dõi xem thế nào, biết đâu nó chẳng mèo chuột, v.v…

Người vợ tuy đã nghe chồng dặn kỹ, nhưng lại nghĩ:

– Mẹ đẻ ra mình chứ ai, chẳng lẽ mẹ lại hại vợ chồng mình? Mà mẹ mình là Cộng Sản hay sao?

Và, rồi một hôm nào đó nàng đã nói thực với mẹ, cũng không quên căn dặn mẹ: Đừng, chớ có nói chuyện này với một ai mẹ nhé!

Bà mẹ lại có một người bạn chí thân. Trong một lần nào đó, bà bạn hỏi thăm về thằng con rể của bà bạn mình. Bà mẹ không được học về nguyên tắc bí mật, nên muốn khoe với bà bạn thân:

– Ấy, chẳng hiểu nó làm cái gì bí mật lắm, ở mãi trên Phủ Tổng Thống cơ! v.v…

Bà bạn chí thân này lại có chồng, có con thân mật ruột thịt khác. Cứ như thế, đến lúc nào đó, tình báo của đối phương sẽ đánh hơi thấy (cái này nó thính lắm) truy nguyên ra được tông tích và hành tung của anh chàng không kín miệng. Nếu anh đó, dùng bất cứ hình thức nào để xâm nhập đất địch, nếu không hai năm mươi thì cũng vào trong ấp mà nằm.

Như vậy, nguyên nhân vì đâu mà anh ta bị như thế? Rõ ràng, xuất phát từ vấn đề người vợ, khiến anh ta đã thất bại.

Hơn nữa, người ta đánh giá một công tác, thường chỉ căn cứ vào thành công hay thất bại mà thôi. Còn nguyên nhân tại sao, lý do thế nào, xét sau. Bất kể nguyên nhân ra sao, do đối phương ngăn chận không thể thực hiện được công tác, hoặc tư tưởng của nhân viên muốn lẩn trốn không dám thi hành công tác, v.v… dù nguyên nhân khách quan hay chủ quan thì cũng dẫn đến chung một kết quả là công tác đó bị thất bại, không thực hiện được.

Qua thí dụ trên, về một khía cạnh nào đó, người vợ cũng như là một kẻ thù, một đối phương vậy.

Từ những vấn đề trình bày ở trên, tôi nhớ lại trước đây khi xem những phim tình báo gián điệp của Thế Chiến I và II, những tiểu thuyết tình báo trong đó có Z 28 chẳng hạn. v.v… Tôi cho rằng những điệp viên quái kiệt đã được đào tạo ở những trường điệp báo khét tiếng như: Hắc Long, Intelligent Service, Gestapo, CIA hay KGB, v,v… đều bắn các loại súng như máy, cưỡi ngựa như gió, sử dụng máy bay, xe hơi một cách điêu luyện tinh vi. Tôi thật ấu trĩ! Từ những nguyên tắc bí mật và ngăn cách, chẳng có một trường nào công khai đào tạo điệp viên cả. Nếu có một trường như vậy, chẳng khác gì những điệp viên ấy đã tự trình bầy với đối phương, thưa các ông: “Chúng tôi đang ở trong bụi rậm này!”. Cho nên thực tế, có nhiều vấn đề chẳng giống như tiểu thuyết và phim ảnh.

Trở lại Ngọc Cẩn. Sau đó, tôi tiếp tục được giảng dạy nghiên cứu và mổ xẻ các loại nhân viên: Nhân viên giữ nhà an toàn, nhân viên trung gian, nhân viên đi hoạt động bí mật, nhân viên liên lạc, nhân viên công khai và bán công khai, nhân viên nhị trùng hay hai mang, v.v…

Trong khoảng bốn tháng, ông Cẩn đến với tôi hàng ngày như vậy. Tôi nhớ một hôm, vào cuối tháng 4 – 1960, ông Cẩn vào phòng tôi với một người nữa. Ông này cao, lớn con, đầy phong độ. Ông Cẩn quay lại tôi, rồi nhìn về phía người cao lớn vừa như dặn dò bàn giao, vừa như giới thiệu:

– Tôi bận một số công tác đặc biệt khác, nên đây là ông Phan, Ông cũng như tôi, người của Cục, ông sẽ thay tôi phụ trách Bình. Tôi bắt tay và nhìn ông Phan. Ngay từ buổi đầu, chỉ vài câu chuyện trao đổi, tôi đã thấy ông dễ mến vì thái độ cởi mở. Qua tiếng nói, tôi hiểu ông là người miền Nam.

Sau đó, ông Cẩn thân mật bắt tay từ giã chúng tôi.

Còn lại một mình ông Phan và tôi. Qua ánh mắt và nét mặt, ông nhìn tôi như muốn trao cho tôi nhiều thiện cảm. Đúng như tôi nhận xét về ông từ lúc đầu, ông Phan thật xuề xòa và tỏ ra là một người rất phóng khoáng. Nghe ông nói chuyện, tôi có cảm tưởng như đã quen ông thân mật từ lâu rồi.

Ông Phan đến tủ sách của tôi, lật xem vài quyển, rồi quay lại nói:

– Từ nay, tôi sẽ tiếp tục đào tạo và huấn luyện Bình.

Rồi ông quay hẳn lại, đến bàn ngồi trước mặt tôi, giọng đầy gần gũi, thân mật:

– Bình có biết không? Trong Cục tôi nghe nói, Bình là một nhân viên mới có nhiều khả năng, tôi đã tìm mọi cách để xem hồ sơ của Bình, mặc dù theo nguyên tắc ngăn cách thì thật khó. Tôi thấy rằng, nếu trao cho Bình một công tác khác thì hơn. Bình làm công tác này hơi…phí.

(Phải nói, lúc đó tôi không hiểu câu nói này của Phan, mãi về sau, khi ra miền Bắc rồi tôi mới hiểu) Phan nói tiếp:

– Vì thế, trong những ngày tới, tôi sẽ bàn với Bình sau. Bây giờ, Bình hãy tiếp tục học hành, nghiên cứu. Nhưng, ở đây lâu không tiện. Vậy ngày mai, tôi sẽ đem xe đến chuyển Bình về Kỳ Đồng.

Về building Kỳ Đồng, tôi tiếp tục học các môn:

– Các loại chữ bí mật.
– Cách viết thư bí mật.
– Mật mã.
– An ninh cá nhân và công tác.
– Hộp thư sống, chết.
– Hội kiến.
– Vỏ học.
– Tuyên truyền, phản tuyên truyền.
– Cách lấy tin tức, moi tin.
– Ngăn cách.
– Đánh giá nguồn tin.

Mỗi môn đều phải nghiên cứu, mổ xẻ từng chi tiết lắt léo nhất, đồng thời thực tập nhiều lần. Phan cũng thử thách tôi liên tục, lợi dụng mọi hoàn cảnh, điều kiện để biết rõ về khà năng cũng như khuyết điểm của tôi.

Càng ngày, Phan càng có thiện cảm với tôi hơn, thường gọi “toa” xưng “moa”. Có những buổi sau giờ học, Phan và tôi bên nhau chuyện trò tâm tình. Từ đấy, tôi biết được ít nhiều về Phan. Phan đã có 15 năm nghiệp vụ tình báo. Trước đây, Phan đã ở Phòng Nhì của Pháp nhiều năm. Theo Phan nói, 1952, Phan đã bị Cộng Sản ám sát ở Cân Thơ. Tên Cộng Sản đặc công bắn Phan từ khoảng cách 25 mét nhưng rất chính xác. Y đã ghim viên đạn vào ngực phía trái, chỗ trái tim của Phan. Phan có vạch ngực cho tôi xem vết sẹo. Phan may mắn thoát chết là do hộp thuốc lá bằng kim loại đắt tiền ở túi áo ngực. Dù vậy, viên đạn cũng găm vào ngực Phan, tuy không vào sâu. Tất nhiên, tên Cộng Sản đó bị bắt. Rồi, tính quân tử và lòng hào hiệp của Phan đã lôi cuốn được trái tim của tên Cộng Sản ấy. Chính Phan đã bảo đảm và lãnh tên đó từ trong tù ra. Cho tới khi Phan đến huấn luyện cho tôi, tên đó vẫn là tay chân đắc lực của Phan.

Theo nguyên tắc, Phan không được kể những chuyện như vậy với tôi, nhất là về đời tư của mình. Nhưng, vì Phan là người cởi mở, và là người Nam, nên nói chung đã không quá kín đáo như người Trung hay Bắc.

Một buổi vào đầu tháng 10 – 1960, Phan đến nói với tôi:

– Hiện nay trong vùng bưng biền, tụi Cộng Sản đang chuẩn bị thành lập một “mặt trận”, rồi có thể sẽ tiến tới thành lập một chính phủ lâm thời. Do đấy, tôi muốn chuẩn bị cho Bình đóng vai là một sinh viên bất mãn với chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm. Một mặt Bình sẽ tiếp tục đi học ở trong trường, lớp, Bình sẽ tổ chức ra một số vụ chống đối, để dẫn bắt mối với một sớ phần tử thực của Cộng Sản ở trong sinh viên và học sinh. Mặt khác, chính quyền sẽ tạo nên một cú bao vây, rượt bắt. Bình sẽ nhân thế đó, chạy vào bưng, v.v…

Sau khi nói xong, Phan hỏi ý kiến tôi.

Tôi hiểu, nói chung, vào “vùng giải phóng” thì ít nguy hiểm hơn ra ngoài Bắc. Nhưng đối với tôi, vấn đề nguy hiểm nhiều hay ít không phải là điều đầu tiên tôi quan tâm. Điều tôi nghĩ đến trước hết là công tác ấy có hào hứng và kỳ thú hay không. Vì thế, tôi chậm rãi trả lời:

– Tùy sự quyết định ở trên.

Có thể Phan thấy sự trả lời của tôi không dứt khoát, hoặc có những tính toán thay đổi trong Cục, hay tình hình diễn biến có khác; những ngày sau đó, không thấy Phan nhắc nhở gì về vấn đề vào bưng nữa.

Hàng ngày, Phan vẫn đến tiếp tục giảng dậy cho tôi. Một thời gian sau, tôi lại được chuyển về building ông Thọ.

Một mặt, tôi vẫn theo học, mặt khác, tôi xem lại bài vở nộp đơn thi Tú Tài I. Chính Phan cũng khuyến khích tôi.

Một hôm, Phan dẫn đến hai người Mỹ, giới thiệu tên là Brown và Dale, để huấn luyện thêm một số môn khác. Cả hai đều mặc thường phục, ông Brown đeo kính trắng. Tuy mỗi người dạy những môn khác nhau, nhưng hai người hay thường xuyên đi cùng.

Thế là từ đấy ba người, Phan Brown và Dale liên tục giảng dạy cho tôi về các môn:

– Phương pháp tổ chức.
– Điện đài.
– Theo dõi và chống theo dõi.
– Phương pháp tuyển mộ.
– Huấn luyện, đào tạo nhân viên.
– Vũ khí, mìn.
– Tự mưu sinh (núi, rừng, biển).
– Phân tách tâm lý, khả năng từng dạng người trong xã hội.
– Phương pháp hình thành một mạng lưới hoạt động bí mật.

Thời gian này thực vất vả. Lý thuyết rồi thực hành. Tiếng Anh của tôi viết hay đọc thì còn được chút ít, nghe và nói thì thật là cập quạng, nên Phan thường xuyên phải thông dịch vì có rất nhiều từ chuyên môn.

Một điều thật phấn chấn cho tôi, kỳ thi Tú Tài phần I năm đó tôi lại đậu. Vì thế, Phan và hai người Mỹ dự tính một công tác dài hạn rất chi tiết để tôi vào miền Bắc hoạt động. Nội dung, kế hoạch tổng quát:

Cộng Sản miền Bắc thường ve vãn, mồi chài, lôi kéo những sinh viên du học tốt nghiệp ở ngoại quốc về miền Bắc xã hội chủ nghĩa để xây dựng (!) đất nước, tổ quốc, v.v…

Do đấy, tôi sẽ nhận một học bổng đi du học Hồng Kông, hay Tân Gia Ba về Điện hay Hóa theo năng khiếu của tôi. Khi tốt nghiệp rồi, Cộng Sản sẽ tìm đến. Lúc ấy, tùy theo hoàn cảnh thích ứng mà theo họ về miền Bắc; rồi từ đấy, sẽ bí mật hoạt động cho Sài Gòn.

Tôi thấy công tác này quá lâu dài, có khi hàng chục năm, cho nên tôi không tỏ ý thích lắm, tôi cũng nói thẳng ý nghĩ đó với Phan. Thực ra, lúc đó tôi không biết, hoặc cũng chẳng chú ý đến việc lợi dụng cơ hội để đi du học trước đã, để dù có thế nào thì cũng có một mảnh bằng. Phan thấy thái độ ơ hờ của tôi như vậy nên lại thôi.

o0o

Thép Đen: Tập I – Chương 6

Công Tác “Columbus” …

Thời gian trôi qua, thấm thoát đã lại tới tháng Tám, cái tháng của Sài Gòn nắng thật nhiều. Tôi lại được chuyển về số 62 đường Trần Hưng Đạo.

Đây là một phòng rất rộng, có hai buồng, với đầy đủ tiện nghi của một khu có nhiều người ngoại quốc ở. Như vậy mới tạo vẻ bình thường, khi có những người Mỹ thường xuyên ra vào phòng của tôi.

Thời gian này, vừa tiếp tục đào tạo huấn luyện tôi, vừa chuẩn bị kế hoạch công tác tung ra Hà Nội.

Công tác trực tiếp ra Hà Nội:

Bí danh công tác: COLUMBUS
Bí danh từ khi tôi vào ngành: X20.
Thời hạn: 25 ngày (công tác ngắn hạn).
Nội dung:

Chính:

1. Tài liệu X cho Z5 (Hoàng Đình Thọ).
2. Tài liệu M cho … (theo quy ước).
3. Mang 3 tâm thư bằng máu của Linh Mục Hoàng Quỳnh cho các linh mục A, B, C.
4. Tuyển mộ huấn luyện.

Phụ:

Theo dõi với khả năng và điều kiện tối đa những hiện tượng:

6 Cầu Gỗ, 1 Đường Thành, 27 Hàng Đường.
MIG 15, 19 – Về chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự.
Tư tưởng chung của quần chúng, cán bộ, bộ đội v.v…

Vỏ bọc:

Học sinh lớp 10 Phổ Thông Vĩnh Linh, đau tim ra Hà Nội chữa bệnh.
Buôn lậu.
Mang thư của Sư Bà Đàm Hướng chùa Phước Hải về sư Tuệ Chiếu với Thẩm Hoàng Tín.
Theo dõi Sư Đoàn 308, phòng thủ Thủ Đô Hà Nội do Thiếu Tướng Vương Thừa Vũ làm sư trưởng.

Giai đoạn chuẩn bị:

– Một kế hoạch nghiên cứu tỉ mỉ thấu đáo, phòng hờ mọi tình huống, suốt hơn một năm trường cho tới tháng 4/1962.
– Hết thực tập lại nghiên cứu. Brown, Dale, Phan và tôi thường xuyên làm việc, theo phương châm: Càng học tập, nghiên cứu kỹ lưỡng trong “giai đoạn chuẩn bị” thì đường vào đất địch càng rộng, càng bằng phẳng.

Chi tiết toàn bộ công tác:

Bí danh X20 (ngay khi là nhân viên chính thức của Cục họ đã đặt bì danh cho tôi là X20, và bây giờ, trong công tác COLUMBUS, vẫn duy trì bí danh đó).

Nhiệm vụ chính:

1- Tài liệu X cho Z5 Hoàng Đình Thọ.

Vì là đích danh, nên tôi đã được cầm tấm hình bán thân (4×6) của ông Thọ một tuần lễ, thỉnh thoảng lấy ra xem cho quen mặt và ghi dần vào tiềm thức của tôi.

Theo tin tức của Cục cho: Lúc đó, Hoàng Đình Thọ là bác sĩ Nội Khoa bệnh viện Phủ Doãn cũ (bây giờ đổi lại là Việt Đức).

Khi về tới Hà Nội, có giấy giới thiệu để khám bệnh tim. Tìm thời cơ thuận tiện để trao “tài liệu X” cho Thọ.

Mật khẩu: “Nhờ bác sĩ chữa bệnh tim nhịp đập một trăm hai mươi”. Đúng 12 chữ.

Trả lời: “Tôi chỉ chữa tim nhịp đập một trăm ba mươi”. Đúng 10 chữ.

Tài liệu X: Bọc ny lông đen, dầy 2 ly, dài 4 phân rưỡi, rộng 2 phân. Kín, không thấm nước. Tôi không được phép biết gì về tài liệu này.

Nếu Hoàng Đình Thọ không còn làm ở bệnh viện Việt Đức. Hủy tài liệu ngay.

2- Tài liệu M theo quy ước.

Giờ và ngày quy định:

Từ 8 giờ đến 10 giờ sáng (2 tiếng).
Ngày 16 và 18 (phòng hờ nếu trục trặc ngày16 thì ngày18).

Địa điểm: Trên cầu Thê Húc (cầu bằng gỗ) của đền Ngọc Sơn, hồ Hoàn Kiếm.

Tôi quần xanh, áo trắng xắn tay, đi dép Thái Lan, đội mũ xanh công nhân. Tay cầm tờ báo Quân Đội Nhân Dân.

Đối tượng: (Bất cứ ai) mặc quần ka-ki xám, áo nâu, dép Bình Trị Thiên (dép râu). Tay cầm 3 quyển vở học trò.

– Khi tôi nhìn thấy bất cứ ai vào giờ ấy, ngày ấy, trên cầu Thê Húc. Chờ người ấy nhìn thấy, tôi đang cầm tờ báo gấp đôi, bây giờ tôi gấp thành tám.

– Người ấy trả lời bằng cách: Chuyển 3 quyển vở từ tay này sang tay kia. (Luôn luôn ở cách xa ít nhất 10 mét). Sau đó, tôi cứ đi, chính tôi phải chủ động tìm một địa điểm thuận tiện như công viên chẳng hạn. Tìm ghế đá, hoặc chỗ ngồi nào đó để đối tượng, từ xa 50 mét trở lên, có thể dễ dàng quan sát được tôi.

Tôi sẽ ngồi bình thường ở một cái ghế xi măng nào đó. Mở báo xem, che trên hai đùi, rồi (tùy cơ ứng biến) chờ đối tượng nhìn thấy. Gãi khuỷu tay, tuy gãi nhưng một ngón tay chỉ thẳng vào chỗ bỏ tài liệu. “Gãi” là dấu hiệu đã bỏ tài liệu, bây giờ là chỉ chỗ.

Khi thấy đối tượng “gãi đầu”, tức là đối tượng đã nhìn thấy. Chừng 5, 10 phút sau, với một thái độ bình thường, tự nhiên đứng dậy đi (nếu có đuôi, dẫn đuôi đi). Nhưng phải kín đáo, dùng phương pháp nghiệp vụ quan sát, kiểm tra khi đối tượng lại lấy tài liệu. Chỗ để tài liệu tùy theo cái kẹt hay cái góc nào mà người ta vô tình không thể nhìn thấy nhưng phải tạo thuận tiện cho người ấy.

Tài liệu M:

Bọc ny lông nâu, dầy 3 ly, dài 4 phân, rộng 3 phân; kín, không thấm nước. Cũng như tài liệu X, tôi không được phép biết gì về tài liệu này.

Về mục tài liệu M này, tôi phải nhắc đi nhắc lại. Học thuộc lòng những mật khẩu, và những quy ước phải thực tập nhiều lần. Bây giờ đã 23 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ.

Tôi nhớ thời gian này, những lúc tâm sự hoặc đi chơi với Phan (theo đúng nguyên tắc, tôi không bao giờ được đi với Phan ngoài phố, vì Phan đã bị lộ, là một cán bộ của cơ quan tình báo miền Nam, tôi mà đi với Phan thì cũng gần như bị lộ). Lúc đó, tôi là một thanh niên mới vào nghề, làm sao tôi có ý thức quán thấu mọi mặt, vậy lỗi này do Phan). Phan nói, trong cơ quan hiện nay, đang hình thành hai phe:

a) Gồm Cục Trưởng và đa số: Quan niệm tình báo theo lối cổ, bào thủ, rập theo nguyên tắc cứng ngắc. Thí dụ: Sai một người đi chợ mua một ký táo chẳng hạn. Phải dặn: Lấy xe đạp đi, lúc đi phải đi sát lề phía phải đường đi, phải đi từ từ, chú ý xe cộ ở ngã ba, ngã tư, khi quẹo, nhớ phải giơ tay làm hiệu. Khi đến chợ, khóa xe thế nào, gửi ở đâu, vào chợ thì mua loại táo nào, mặc cả ra sao, cách thức chọn táo; cũng như trên đường vể v.v…

b) Gồm Cục Phó và một số ít người, trong đó có Phan là người điển hình. Quan niệm, tình báo phải sống động linh hoạt, khích lệ cho nhân viên có óc sáng tạo, bén nhậy trong mọi tình huống. Cũng là sai một người ra chợ mua một ký táo, chỉ cần dặn: Nhớ mua, mặc cả táo ngon, đi đường phải cẩn thận. Nhưng, với khả năng khôn khéo sẵn có của anh, tôi tin rằng anh sẽ mua được táo ngon và rẻ.

Theo tôi nghe và nhận định: Tuy tôi chẳng phải là loại người ba phải, tôi thấy cả hai quan niệm trên đều có cái ưu và khuyết. Vậy cần trộn lẫn, rồi nhặt những cái ưu ra dùng, không cần biết của phe nào cả. Đó cũng chỉ là ý nghĩ của tôi, chứ không dám phát biểu với Phan. Tôi chỉ hỏi: Vậy hiện nay, kết quả phe nào có ưu thế? Phan nói: Thực tế bây giờ đánh giá bằng những kết quả của công tác; theo lối cổ điển thì thành công nhiều hay ngược lại, từ đấy phe này sẽ phải theo phe kia.

Do quan niệm trên, Phan nhiều lần giảng dậy cho tôi rất phiến diện, hời hợt. Vì thế, nhiều vấn đề tôi cần sáng tỏ, rõ ràng thì lại phải yêu cầu.

Chẳng bù với Ngọc Cẩn, hoặc sau này là Hoàng Công An, lại quá ư chi tiết, nhàm chán, đôi khi thành lẩn thẩn. Riêng Brown và Dale, thì tôi hiểu là của CIA, tuy tôi chưa hiểu lắm, vì trình độ Anh văn của tôi. Nhưng qua một số hiện tượng, phong cách, thái độ của họ, tôi thừa nhận họ có nhiều cái đúng. Nghĩa là, cái nào họ cần chi tiết, thì rất tỉ mỉ từng ngóc ngách một, đoạn nào không cần thiết thì họ cũng phiến diện, khái quát.

Trong thời gian học tập và chuẩn bị công tác này, tôi được cung cấp một radio transitor với cả ống nghe. Tôi được toàn quyền nghe đài miền Bắc, và có rất nhiều sách báo của miền Bắc gồm đủ loại: Tuần báo, nguyệt san, nhật báo, sách vở v.v… Mục đích là để tôi quen sự sinh hoạt, cũng như ngôn từ của Cộng Sản miền Bắc.

Vào khoảng tháng 9/1961, một hôm Phan dẫn một người đeo kính trắng đến giới thiệu là ông Hoàng Công An. Vì Phan có một số công tác đặc biệt không ở Sài Gòn, nên ông An sẽ thay Phan phụ trách tôi. Ông An là người miền Trung.

Qua sự huấn luyện và học tập, và kinh nghiệm từ số 2 Jean Jacques Rousseau, tôi đã hiểu đầy đủ về sự tò mò tìm hiểu những điều mình không cần biết, một nguyên tắc ngay trong cuộc sống, thường thường đã là không tốt rồi và bất lợi rồi. Vì vậy, ngay những người đến giảng dạy huấn luyện cho tôi gần 2 năm trời, tôi chẳng, hoặc không cần biết tên thật của họ, chức vụ của họ. Họ ở đâu đến, xong họ đi đâu, tôi không biết.

3) Mang 3 tâm thư của Linh Mục Hoàng Quỳnh.

Đây là một vấn đề phức tạp và nghiêm trọng. Nó có liên quan ảnh hưởng đến toàn bộ Thiên Chúa Giáo miền Bắc. Có lẽ vì vậy mà Cục đưa Hoàng Công An, một tu sĩ gần thành linh mục, đến phụ trách tôi.

Nội dung: Tôi sẽ mang tâm thư của cha Hoàng Quỳnh cho:

– Linh Mục A ở nhà thờ X (Hà Nội).

– Linh Mục B ở nhà thờ Y (Hà Nội).

– Linh Mục C cũng ở nhà thờ Y (Hà Nội).

Tôi đã được xem 3 bản giấy đánh máy, nói rõ về thân thế đặc tính của từng linh mục trên, kèm theo 3 tấm hình bán thân (4×6).

a) Linh Mục A.

Đã có bằng tiến sĩ ở Pháp. Tháo vát, cương quyết, tinh thần chống Cộng Sản rất cao. Có nhiều thành tích và uy tín với giáo dân. Lời hẹn ước xưa với cha Quỳnh. Do tình trạng thiếu linh mục nên Linh Mục A còn phải phụ trách thêm Phúc Xá Thượng và Phúc Xá Hạ nữa.

Yêu cầu của cấp trên nói rõ:

Sau khi Cha A xem xong thư của Cha Quỳnh, đồng ý tự nguyện hoạt động cho thế giới tự do, điều đó là thành công nhất. Khi đó, tôi sẽ nằm luôn tại nhà xứ trong một nơi an toàn, theo sự sắp xếp của Cha A. Hàng ngày, chính tôi sẽ huấn luyện cho người những nét chính yếu, cơ bản về hoạt đống tình báo. Trong vòng 10 ngày, phải xác minh được tinh thần, năng khiếu, hoàn cảnh, điều kiện của người. Giao mật khẩu và mật vật là nửa đồng bạc 1 đồng miền Bắc xé đôi: một nửa giao cho người, một nửa tôi sẽ mang về miền Nam. Sau này, bất cứ thời gian nào đó, hoặc nơi chốn nào, có một người nào đó, đến gặp Cha, nói đúng mật khẩu và đưa mật vật, người đó chính là đại diện của Sài Gòn, và sẽ cung cấp những nhu cầu cần thiết cũng như nhiệm vụ cho Cha.

Nếu vì một lý do nào đó, Cha vẫn có tinh thần chống Cộng Sản, nhưng lại không đồng ý hoạt động trực tiếp cho Sài Gòn, yêu cầu Cha giới thiệu người tin cẩn, thân tín nhất, có khả năng và tinh thần. Lúc đó, tôi sẽ trực tiếp gặp riêng, rồi tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của người đó, sẽ quyết định nơi huấn luyện. Nếu không có điều kiện thuận lợi, yêu cầu Cha giúp đỡ rồi cũng bí mật nằm im 10 ngày để huấn luyện.

Tuyển mộ nhân viên: Không phân biệt tuổi tác, thành phần, nữ hay nam, nếu là người của chính quyền địch thì càng tốt. Tìm hiểu kỹ thân thế, quan hệ họ hàng, hoàn cảnh, điều kiện sống của người nhân viên mới đó. Cân nhắc xác đáng, phù hợp để cho họ hai địa chỉ ở Pháp và Campuchia để liên lạc.

Địa chỉ ở Pháp: Paul Lạng, 14 rue du Four, Paris 6è, France. Cung cấp cho nhân viên đó rõ thực tế: Paul Lạng, 42 tuổi. Pháp lai có vợ là Marie Nguyễn cũng là Pháp lai. Trước năm 1954 ở Sài gòn. Đầu năm 1954 cùng vợ và 5 con gái về Pháp trên chuyến tàu Espérance. Hiện y đang làm chủ một hiệu giặt ủi máy lớn ở cùng địa chỉ.

Địa chỉ ở Kamphuchea (tên và địa chỉ đánh máy thiếu)… Phnom Penh, 28 tuổi là nhân viên làm trong maternité. Vợ là người miền Nam, quốc tịch Kampuchea, có đứa con trai 4 tuổi.

Lý do phải tương đối hợp lý về quan hệ họ hàng cũng như quan hệ xã hội để nhân viên mới đó giao thiệp thư từ với 2 địa chỉ nói trên: có thể là anh em chú bác bạn bè v.v…. thỉnh thoảng vẫn thư từ thăm hỏi sức khoẻ của nhau từ trước. Có thư từ giao thiêp một thời gian sau đó lẫn vào những lá thư sẽ có những câu hỏi an ninh thí dụ như:

1) Anh dạo này có khoẻ không? – Trả lời vẫn khoẻ, là bị theo dõi. Trả lời ốm bịnh là vẫn bình thường, không ai theo dõi cả.

2) Anh có ước mong có tiền để mua một chiếc xe đạp mới không? – Trả lời không thích tự do.

3) Anh có thích nhạc Phạm Duy không? – Không thích là bị theo dõi. Thích nghe là tự do.

4) Anh thích ăn thịt gà không? – Trả lời thích là bị theo dõi. Không thích là tự do.

5) Người dân dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, sống có thoải mái không? Thoải mái là bị theo dõi. Không thoải mái là tự do.

Ngoài ra, còn hai quy định nữa trong những thư viết cho hai địa chỉ trên để báo cho Sài Gòn biết là mình đang bị công an cưỡng bức ngồi viết thư:

1) Đầu lá thư viết ngày tháng, nếu không để chữ “Ngày” là bị theo dõi. Thí dụ: 20-10-1963: Bị theo dõi. Ngày 20-10-1963: Không bị theo dõi.

2) Tuy có viết ngày hay không, mà dưới niên hiệu năm không có “dấu chấm” là bị theo dõi. Có “dấu chấm” là tự do. Thí dụ: 20-10-1963: Bị theo dõi; 20-10-1963.: Tự do.

Bắt nhân viên đó học thuộc lòng. Cần nhớ nguyên tắc 5 câu hỏi trên là: Hợp lý: Bị theo dõi. Không hợp lý: Tự do.

Bởi vì, nếu không có ai để ý theo dõi, hoặc ngồi trong phòng: Công an dí súng bắt viết báo cho Sài Gòn, thì viết ngược cũng không thành vấn đề.

Quy ước có hàng nghìn kiểu, chỉ có trời biết, nhưng với điều kiện phải nhớ, không được lẫn lộn.

b) Linh Mục B.

Là một người rất trầm tĩnh, ít nói. Làm việc hết khả năng, dù gặp trở ngại cũng tìm mọi cách để hoàn thành công việc. Có óc tổ chức. Còn nặng về tôn giáo hơn xã hội. Theo Cục cho biết cha B vẫn ở trong nhà thờ Y.

c) Linh Mục C.

Cũng ở nhà thờ Y, Hà Nội. Cha năm nay đã già. Tuy vậy, tinh thần của ông rất cao. Ông rất có uy tín với giáo dân Hà Nội, cũng như hàng giáo phẩm Việt Nam.

Theo ý của Cục:

– Cần nhất là Linh Mục A. Nếu vì lý do nào đó mà người không còn ở nhà thờ X; hoặclý do nào khác mà người từ chối thì hãy tới Linh Mục B.

Nếu vì lý do nào đó mà không thể được Linh Mục B, thì mới tới Linh Mục C.

Theo Hoàng Công An cho biết. Ba linh mục trên, không những cùng hàng giáo phẩm thờ Chúa, chăn chiên như Linh Mục Hoàng Quỳnh, mà còn là những người thân, những đồng chí đã có nhiều hẹn ước khi cha Hoàng Quỳnh từ giã theo đàn chiên di cư vào Nam. Tuy vậy, đã 8 năm rồi, dưới chế độ Cộng Sản tàn bạo, chẳng hiểu tinh thần của các người bây giờ thế nào. Hơn nữa, sức khoẻ cũng là một vấn để đối với ba linh mục kể trên.

Riêng tôi, tôi đã suy nghĩ nhiều: Tôi thấy và hiểu rằng công tác này quá nặng nề và nghiêm trọng, đòi hỏi phải một người có khả năng 10 mà tôi chỉ có 2, nghĩa là không có trâu thì phải bắt nghé đi cầy. Vì thế, tôi đã mạnh dạn nói ý này với An.

An nói:

– Trên Cục đã nghiên cứu về vấn, đề này rất kỹ, nhất là về tôn giáo. Không phải ai cũng giao được công tác này, bởi vì, nếu thất bại, Cộng Sản sẽ lấy đó để hạ uy tín của Công Giáo và tăng cường kìm kẹp giáo dân cũng như các hàng giáo phẩm hơn nữa. Không những thế, công tác còn đòi hỏi rất nhiều mặt, nhất là địa bàn hoạt động lại là thủ đô của Cộng Sản. Bình yên tâm, Cục đã cân nhắc, tìm tòi nhiều, cuối cùng mới quyết định Bình đấy chứ.

Dù An nói sao, tôi vẫn tự nghĩ thầm. Những người đầy đủ khả năng thì không ai dám đi, vì đầy nguy hiểm, chết chóc trước mắt. Vì thế, trong số những người liều bất tử, dù không đủ yêu cầu thì cũng đành chọn vậy.

Tuy trong lòng tôi đầy vơi nghĩ suy như vậy. Nhưng nhìn lại, thế của tôi đã ngồi lên lưng cọp rồi. Quan điểm của tôi là đã trót ngồi lên lưng ông Ba Mươi, phải thúc gót thêm cho ông phóng mạnh, rồi muốn ra sao thì ra.

Một hôm, Hoàng Công An đến nói với tôi: Theo ý cha Hoàng Quỳnh, trước khi người viết thư, người yêu cầu được gặp chính người lãnh sứ mạng đặc biệt đó ra Hà Nội. Cục đã chấp nhận. Vậy, sáng mai, 9 giờ tôi đến, chúng ta cùng đi.

Tôi hỏi đi đâu, có xa không?

An nói:

– Ở xứ Bình An, bên Bình Xuyên.

Tôi nhớ lại ngày xưa, ngày tôi còn là cậu bé, cha Hoàng Quỳnh là trưởng đoàn võ: Đinh Bộ Lĩnh mà tôi là một võ sinh tí hon theo đoàn đi các nơi biểu diễn những bài song kiếm hoặc Mai Hoa Quyền trêm một võ đài. Chắc giờ đây tôi có nói ra thì cha mới nhớ được, vì tôi lúc này đã lớn rồi. Bởi thế, tôi đã định, nếu khi gặp, cha không nhận ra thì tôi cũng không nhắc lại.

Hôm sau An đến, chúng tôi cùng đi xe tới xứ Bình An. Tôi và An ngồi chờ cha ờ phòng khách. Một lát sau, cha ra. Ôi, mới hơn 10 năm trời mà khi tôi nhìn thấy người, tôi rất ngỡ ngàng. Da mặt người đã nhăn nheo, tóc người đã điểm sương. Chỉ còn dáng dấp quen thuộc, nhanh nhẹn của người thì vẫn như ngày nào.

Hơn một giờ chuyện trò, Cha thường nhìn tôi, nói: “Dũng cảm nhỉ!”. Lúc tiễn An và tôi ra cổng, cha nói:

– Cha rất cảm phục con. Trước ngày con đi, cha muốn ăn cơm với con một bữa, để thỏa lòng cha, gọi là trách nhiệm của một người tiễn đưa một tráng sĩ mang tinh thần oanh liệt của Phạm Hồng Thái, con có đồng ý không?

Tôi không dám trả lời và nhìn sang An. An nói:

– Con xin lĩnh ý cha. Con về xin ý kiến, rồi sẽ gọi điện thoại đến cha ngay.

Trên đường về, An nói:

– Chưa chắc cấp trên đã đồng ý, vì Bình còn nhiều việc lắm.

Tôi biết uy tín của cha Quỳnh không phải là nhỏ. Người đã làm cho Hồ Chí Minh bẽ mặt một lần, khi người còn là phó chủ tịch Mặt Trận “Liên Tôn Diệt Cộng” hiển hách năm nào ở ngoài Bắc, mà sư Tuệ Chiếu là chủ tịch; cái thời cáo Hồ còn bịp bợm ve vãn, mua chuộc, quỳ gối trước Đức Cha Lê Hữu Từ xin chịu rửa tội nhập đạo.

4. Tuyển mộ huấn luyện:

Nếu do lòng nhiệt tình và ý thức dân tộc nên các cha đồng ý, tối sẽ huấn luyện. Nếu không, xin các cha giới thiệu những người tin cẩn và thân tín, lúc đó, chính tôi sẽ tuyển mộ và huấn luyện họ. Đối với tôi, điều này không khó khăn gì lắm. Ban đầu, chỉ cần nói những nét cơ bản về nghiệp vụ. Điều khó khăn là tìm biết được khả năng và bản tính của mỗi người, phát hiện ngay được cái ưu, cái khuyết của họ.

Tuy tôi cũng đã được học tập gần 2 năm, Dale, Brown và An vẫn nhấn mạnh:

– Bản tính con người ta vô cùng phức tạp, có rất nhiều vấn đề khác biệt. Nhưng nói chung, con người gồm ba loại:

a) Loại bộp chộp, ruột để ngoài da. Vui, buồn hay có vấn đề gì, chung quanh ai cũng biết. Loại ngưòi này ta ít phải quan tâm.

b) Loại thâm trầm, ít nói. Họ ghét hay họ yêu mình, họ đồng ý hay không đồng ý việc mình làm, thái độ của họ không thay đổi. Loại người này, khi sống gần, ta phải luôn luôn cảnh giác, giữ ý và coi chừng. Nếu họ bắt đầu có hành động hay thái độ gì không bình thường, ta đã chuẩn bị đối phó. Nhưng họ không nguy hiểm bằng loại thứ ba.

c) Loại người này, họ vẫn cười nói với mình, đôi khi lại tỏ ra thắm thiết thân mật hơn, ta có khó khăn gì họ sẵn sàng giúp đỡ, chia xẻ. Khi họ chiếm được lòng tin của ta, bất ngờ cho một mũi dao vào tim ta. Loại này thường làm mất cảm giác của ta. Gây cho ta sự chủ quan rồi hại ta v.v…

Tóm lại: Để có thể phân loại được bản tính của đối tượng, ta phải có sự nhận xét tinh tế và bén nhậy. Dù đối tượng nói gì, nấp dưới bất cứ hình thức nào, ta vẫn phải nhìn rõ bản chất, nghĩa là con người thực của họ. v.v… Người đi tuyển mộ phải biết.

Bản tính con người khó thay đổi. Vì vậy, trong giai đoạn thử thách, tùy theo hoàn cảnh, điều kiện cho phép có thể ngắn dài, nếu thấy người mình định tuyển mộ có những khuyết điểm về cơ bản thuộc bản chất, ta phải loại bỏ ngay. Khác với các lãnh vực khác còn có thể sửa chữa được, bản chất thì không.

Một người có tính huênh hoang, có thể đã bị đời đập cho méo mặt vì cái tính huyên hoang, khoác lác này, cũng chỉ chừa được ít ngày, rồi sau đó, đâu lại hoàn đấy.

Một người có tính tự ái cao, thì suốt đời cũng không thể bỏ được tính đó. Chính vì tính tự ái này, họ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội thăng tiến, lỡ lầm nhiều chuyện tình cảm, để phải ân hận lâu dài.

Ông bà ta đã chẳng từng nói: “Cái nết đánh chết không chừa”. Phương tây cũng có những câu chuyện về “Ông vua và chiếc tai Lừa”, hoặc “Con mèo và ông quan đại thần”… Ông cha đã dậy con cháu là chúng ta: Giang sơn dễ đổi, bản tính khó chừa!

Thép Đen: Tập I – Chương 7

Những Chuyện Tình Báo …

Nhiệm vụ phụ :

Ngoài những nhiệm vụ chính mà tôi phải đem hết nghị lực, khả năng để phải thực hiện bằng được, trong quá trình sống và di chuyển ở Hà Nội, tôi phải để ý tới những hiện tượng dưới con mắt nghiệp vụ những số nhà sau đây:

– Số 6 phố Cầu Gỗ.

– Số 1 phố Đường Thành.

– Số 27 phố hàng Đường

Theo nguồn tin tình báo, ba nơi này thường xuyên đào tạo, huấn luyện gián điệp rồi tung vào miền Nam hoạt động. Tình báo miền Nam đã bắt được hai vụ nổi tiếng, và Cục đã cho tôi biết chi tiết để rút ra nhiều kinh nghiệm như một bài học. Dưới đây là hai vụ điển hình. Tất nhiên còn nhiều vụ khác nữa:

1. Khoảng 1957, do nhân dân bí mật tố cáo, tình báo miền Nam đã bố trí bắt được một nhân vật có hạng về tình báo của miền Bắc. Khi đem về khai thác, điều tra. Sau hơn một năm trời, dùng mọi khả năng của những nhà chuyên môn, ta cũng đành chịu khuất phục trước sự kiên trì, lì lợm của y.

Nếu ở trong tay công an dưới chính quyền miền Bắc, nhận tội hay không, tội nhân cũng cứ bị tù cho tới khi nào cơ thể không chịu được nổi, hoặc cho tới già, rồi về với ông vải, thì thôi.

Nhưng chính quyền miền Nam, nếu thiếu chứng cớ cụ thể, chỉ giam tội nhân tới một mức quy định, rồi cũng phải thả ra. (Cụ thể như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình v.v…)

Anh ta, trước sau chỉ một mực chối lá vô tội. Ta đã dùng nhiều biện pháp tinh vi hơn như: Khổ nhục, tra tấn, dụ dỗ, khích lệ v.v… cũng đều vô hiệu. Việc này đã làm điên đầu những người có trách nhiệm của Cục tình báo miền Nam.

Sau nhiều phiên họp gay cấn, chính ông Cục Trưởng đã đưa ra một kế hoạch, và ông xin chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch đó.

Vào một buổi cuối Đông, bầu trời Huế xám xịt, những cơn gió mùa Đông Bắc về muộn mang theo những trận mưa rả rích, nhạt nhòa … Từ cổng nhà lao Thừa Thiên, hai chiếc xe Dodge 4 phủ mui kín mít, lao về quốc lộ 1 hướng về Nam, chuyển tù vào Sài Gòn.

Xe trước, băng sau chở 4 phạm nhân bị khóa tay, trong đó có tên Cộng Sản lì lợm nói trên, và hai người mặc quân phục có vũ trang áp tải. Băng trên, ngoài tài xế, còn có một trung úy và một hạ sĩ. Ông hạ sĩ này chính là ông Cục Trưởng mà tên Cộng Sản đó chẳng lạ gì.

Xe sau, chở một thiếu úy và nửa tiểu đội, tất cả đều mặc quân phục và có vũ trang. Hai chiếc xe theo nhau chạy mãi vào đêm tối. Hơn 4 tiếng đồng hồ sau, lúc đó khoảng 11 giờ khuya, giữa quãng đường dài vắng vẻ, hai bên là triền rừng; bất chợt hai loạt trung liên nổ ròn rã phía trước xe. Đạn réo lên ngay phía trên mui. Ngay lúc đó, tài xế và mọi người đều đã nhìn rõ một chướng ngại vật là một thân cây to nằm chặn ngang đường. Biết là đã lọt vào ổ phục kích, các quân nhân trên hai xe vội vàng nhẩy xuống đường, tìm địa thế cấp thời để chống trả.

Nhưng, tất cả đã nằm gọn trong vòng vây, với đầy mũi súng tua tủa của đoàn quân phục kích. Chỉ sau 10 phút, tất cả quân nhân trên hai xe đều bị tước hết vũ khí, bị trói gô và bắt ngồi tập trung vào một chỗ. Một người, có lẽ là chỉ huy đoàn quân phục kích, ra lệnh lục soát trên hai xe, tịch thu một số đồ cần thiết, trong đó có cả giấy tờ, hồ sơ, v.v…

Riêng 4 phạm nhân, tay vẫn bị khóa, bị dẫn xuống bắt ngồi cùng với đám quân nhân, sau khi biết họ đều là tù hình sự can tội an cướp hoặc giết người.

Người chỉ huy đoàn quân phục kích nhìn những quân nhân đang bị trói, dõng dạc tuyên bố:

– Các anh là ngụy quân, lầm đường lạc lối, làm tay sai cho đế quốc Mỹ bắn lại nhân dân, làm hại đồng bào, lẽ ra chúng tôi bắn bỏ hết. Nhưng, theo chính sách khoan hồng của đảng (lúc đó chưa có Mặt Trận Giải Phong Miền Nam), chúng tôi sẽ tha hết, kể cả 4 phạm nhân hình sự. Các anh hãy trở về cải tà quy chính. Riêng hai tên sĩ quan, vì đã có nhiều nợ máu với nhân dân, chúng tôi phải mang vào bưng xử lý.

Rồi người đó ra lệnh cởi trói cho hết các quân nhân, còn bắt đưa chìa khóa mở còng cho 4 người tù. Giữa lúc đó, tên tù Cộng Sản lì lợm, đứng bật dậy, rút ở trong ve áo ra một miếng vải đỏ hình vuông mỗi bề 4 phân, ở giữa có hai ngôi sao vàng nằm trên sọc trắng. Y đưa cho tên chỉ huy đoàn quân phục kích xem và nói:

– Các đồng chí, tôi là Trưởng K 10 nội thành Sài Gòn, thuộc cục R. Hôm nay, vô tình các đồng chí đã lập được một kỳ công vô cùng to lớn. Các đồng chí hãy trói ngay tên hạ sĩ kia, nó chính là tên Cục Trưởng Trung Ương tình báo của Sài Gòn.

Cả đoàn quân phục kích sáng mắt hân hoan. Bốn, năm mũi súng đều chĩa vào ông hạ sĩ và trói nghiến lại.

Thay vì đưa vào bưng, người chỉ huy mặc áo bà ba đen ra lệnh tất cả lên xe trở về miền … sông Hương, núi Ngự.

2. Sự việc xẩy ra vào năm 1959 ở ngôi nhà, hình như mang số 126 hay 128 (tôi không nhớ rõ), đường Phan Đình Phùng Sài Gòn.

Ngôi nhà này có cửa sắt, tuy ở mặt phố nhưng không bao giờ thấy mở, trừ đôi lúc có người ra vào. Chủ ngôi nhà là một quả phụ, gần 60 tuổi. Trước đây, bà có một người em trai ở cùng. Ông này học hành đã thành đạt, nên hiện đang làm việc trong Phủ Tồng Thống. Người ta chẳng biết ông làm gì, chỉ nghe đồn ông rất có uy thế, thường gần gũi với ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Có thể do đòi hỏi của công việc, hoặc vì lý do nào khác, ông đã được cấp một căn biệt thự ở đường Công Lý, gần dinh Độc Lập, để đi vể được thuận tiện. Và vì vậy, ngôi nhà ở Phan Đình Phùng càng vắng vẻ đìu hiu. Ngoài bà Hân là chủ nhà, trong nhà chỉ còn một bà giúp việc cũng họ gần xa với gia đình bà Hân.

Những người mới đến ở dãy phố này không biết chồng con bà ra sao, chứ những người đã ở lâu gần đó đều hiểu hoàn cảnh gia đình bà. Bà Hân rất hiền lành phúc hậu, bà thường hay đi chùa đền để niệm phật ăn chay và làm việc phúc đức. Theo câu chuyện bà kể lại với những người quen biết, vợ chồng bà đều là con những gia đình giàu có thế phiệt trước đây ở Huế. Bà hiếm hoi, chỉ sinh được một cậu con trai duy nhất, đúng vào lúc xẩy ra những biến cố lớn lao của đất nước 1945. Khi Việt Minh cướp chính quyền, ông Hân là một thành phần đảng phái, ông đã hiểu rõ sự hiểm độc của Việt Minh nên cương quyết không hợp tác trong Chính Phủ Liên Hợp của cáo Hồ bịp bợm. Ông đã bị chúng bí mật thủ tiêu ngay thời gian ấy. Giữa cảnh hỗn loạn Nhật, Pháp, Anh, Tàu, và Việt Minh thời đó, dân chúng đã phải trôi dạt, đẩy đưa khắp nơi, và bà đã thất lạc đứa con trai yêu quý, niềm an ủi độc nhất của đời bà. Sau đó, theo giòng đời, bà đã trôi dạt về Sài Gòn với người em trai nói trên.

Do của cải trước đây để lại, hiện bà là người giầu có, thừa thãi tiền tài, nhưng lại rất thiếu nghèo tình đầm ấm của gia đình. Bà đã mất biết bao tiền bạc, tâm lực để thăm dò, tìm kiếm người con thất lạc, nhưng đều bặt vô âm tín. Nỗi nhớ thương buồn phiền của bà suốt 14 năm càng ngày càng cô đọng lại, dồn nén dần vào chỗ sâu kín nhất của tâm hồn bà. Nhũng người quen biết bà đều hiểu rõ như thế. Nhưng, Cộng Sản lại đào sâu, nghiên cứu kỹ, nên đã hiểu biết hơn thế nữa. Chúng đã triệt để lợi dụng, khai thác bối cảnh này. Chúng thấy đây là cơ hội để chúng đưa người lọt vào ở sát nách cơ quan đầu não của chính quyền miền Nam.

Chúng đã tìm và tuyển mộ được một thanh niên theo ý chúng muốn. Chúng ra sức đào tạo, huấn luyện, từng động tác, thái độ, lời ăn tiếng nói, kể cả về tình cảm để đóng vai trò người con thất lạc của bà Hân.

Nói về ngôi nhà của bà Hân. Ngôi nhà này thường đóng cửa, cho nên ở phía trước sát vỉa hè, một người đàn bà nghèo trong xóm đã kê một chiếc ghế dài nhỏ và một cái phản gỗ con, trên bày ít kẹo, chuối, nước sôi…bán cho các bác xích lô…ít tiền.

Tên điệp viên là một cậu trai 19- 20 tuổi, khôi ngô, quần áo lam lũ; thuy khoẻ mạnh đầy sức trai, nhưng bộ mặt lúc nào cũng đăm chiêu mang nặng một nỗi niềm. Hàng ngày, sau những cú xe đường dài mệt nhọc, anh thường ghé chiếc xích lô đạp sát lề, uể oải ngồi vào ghế, gọi mua nước trà, nhấm nháp, lúc thì cái kẹo, lúc thì quả chuối…anh tỏ ra rất ít nói. Dần dần, hà hàng quen mặt. Bà cũng để ý và đôi khi nhìn bằng ánh mắt thương hại người còn trẻ, mặt mũi sáng sủa mà đã phải lam lũ cuộc đời! Trước, còn là những câu hỏi bâng quơ:”Hôm nay chạy khách có khá không?”, “Trời này, lại sắp mưa!”, “Sao hôm nay cậu đến muộn?” v.v… Cậu trai càng tỏ ra rất ít nói. Mặt lúc nào cũng buồn như che dấu một tâm sự riêng tư. Khi đã có thiện cảm với một cậu bé nghèo, cái tính tất nhiên của người đàn bà là sẽ dần dà thăm hỏi đến gia đình, thân thế, bố mẹ ra sao? v.v…

Lúc đầu, cậu tỏ ra không muốn nói về cuộc đời bất hạnh hẩm hiu của mình, sau thấy bà già nghèo tử tế nên dần dần kể sự tình…

Cậu chẳng biết bố mẹ là ai cả. Ngay từ lúc 4- 5 tuổi đã đi làm con nuôi cho người ta. 9- 10 tuổi phải đi ở , hầu hạ nhiều người. Rồi phiêu bạt đi làm đồn điền cao su đầy gian chuân, cực khổ. Cuối cùng, trôi dạt về Sài Gòn thân cô, thế cô, phải đi đạp xích lô mưu sinh.

Bà bán nước, đã biết về câu chuyện của bà chủ nhà, nên cũng hơi nghi, vì vậy hỏi tới:

– Thế cậu có nhớ ngày xưa bố mẹ cậu như thế nào không?

Cậu trả lời, mường tượng, lúc nhỏ sung sướng, được mặc quần áo đẹp, được ngồi xe với bố có người kéo…Bà bán nước càng hỏi tiếp, hình như chạnh nỗi niềm đau buồn, cậu không muốn trả lời nữa, và trả tiền, đứng dậy đi.

Bà bán nước tưởng tượng, càng suy nghĩ, biết đâu đây chả là chuyện cơ trời, nên chiều đó, sau khi gửi phản, ghế, bà nói với người giúp việc muốn gặp bà Hân.

Khi gặp bà chủ nhà, bà bán nước thuật lại câu chuyện về người đạp xích lô trẻ tuổi. Đến đây ai cũng hiểu. Có bệnh thì vái tứ phương. Khi nỗi lòng của bà Hân như vậy, hỏi sao lòng bà chả xốn xang, bồi hồi, mong sớm gặp người xích lô đó để hỏi rõ đầu đuôi. Vì thế bà Hân vồn vã dặn:

– Khi nào cậu ấy đến, bà dẫn vào đây ngay cho tôi hỏi chuyện.

Ngày hôm sau, và cả mấy ngày sau nữa; bẵng đi bốn năm ngày không thấy cậu xích lô đó lại, khiến bà hàng nước lẫn bà Hân càng nôn nóng, bồn chồn mong đợi.

Mãi tới hơn một tuần sau; vào một buổi chiều mưa giăng ẩm ướt, cậu xích lô ướt át ghé lại bà hàng nước. Bà hàng tíu tít hỏi:

– Sao mấy bữa nay cậu không ghé đến?

Sau khi rót ly nước trà để đó, bà hàng vội vàng bấm chuông vào nhà bà Hân. Chừng 5 phút sau, bà hàng nước hơ hải ra bảo:

– Này cậu, mời cậu vào đây chơi một tí đã!

Y tỏ vẻ không muốn vào, nên lắc đầu. Bà hàng nước lại vồn vã như níu kéo:

– Cậu vào đây một chút thôi mà, đàng nào trời cũng đang mưa, cho bả chủ ở đây hỏi thăm cậu một câu chuyện.

Rồi đến lúc bà hàng nước phải cầm tay lối kéo, y mới miễn cưỡng đi theo. Ngay khi bà Hân thấy người xích lô bước vào nhà, ánh mắt của bà hình như đã tràn đầy tình thương yêu, mặc dù bà chưa thấy dấu hiệu nào chứng tỏ người con trai ấy là con bà. Lòng bà bồi hồi xốn xang, đến nỗi bà quên cả mời người xích lô đó ngồi. Khi bà mời, cậu xích lô ấy dè dặt ngồi xuống chiếc ghế gụ cạnh bàn, đầu cuối gầm. Bà hàng xóm cũng thấy lòng không yên, bỏ cả quán nước để mong được chứng kiến cái giây phút hồi hộp rấp ranh này. Mãi sau, như dằn được lòng xốn xang, bà Hân mới hỏi với một giọng còn xúc động:

– Cậu bây giờ có họ hàng thân thích gì không?

Y lắc đầu mà không nói.

– Cậu có nhớ ngày xưa, gia đình cậu như thế nào không?

Y vẫn đăm chiêu im lặng. Bà lại hỏi, trong niềm nghẹn ngào dâng trào:

– Có phải cậu nhớ, lúc nhỏ cậu đi xe với bố có người kéo phải không?

Y gật đầu. Bà Hân nôn nóng, tiếp tục hỏi:

– Cậu cố nhớ lại xem, lúc nhỏ cậu hay chơi gì, làm gì?

Y nhìn ra phía cửa sổ, mắt như dõi về một phía trời xa, về những quãng đời ấu thơ. Tới khi bà Hân nhắc lại câu hỏi, y mới chậm rãi:

– Cháu chẳng nhớ gì rõ lắm….Cháu chỉ nhớ láng máng lúc nhỏ, cháu được bố mua cho con cù, con cù có cái đinh rất dài…..

Bà Hân mắt sáng lên long lanh, hỏi như hết hơi:

– Gì nữa?

– Cháu có một quyển sách, có hình con rùa, bố cháu dạy cháu tô theo bằng bút chì màu đỏ.

– Còn gì nữa không cháu?

Y càng cúi gằm, trong khi không khí căn buồng như rên lên, căng đầy xúc động đợi chờ, cuối cùng y giơ ra ngón tay cái trái, chỉ vào một cái sẹo nhỏ, ngập ngường nói:

– Một lần ở bếp với mẹ, cháu nghịch dao, đứt tay chảy máu. Mẹ đã khóc.

Không kìm được nữa, bà Hân xô đến, ôm chầm lấy cậu xích lô, nước mắt chan hòa, nức nở:

– Ôi, con ơi!

Y cũng khóc, cả bà bán nước người ngoài cũng nước mắt vòng quanh. Hình như bao nhiêu niềm thương nỗi nhớ của tình mẫu tử thiêng liêng bây giờ cuồn cuộn chảy ra theo giòng nước mắt, bà hổn hền tưởng như xỉu đi, dù vậy bà vẫn cố gắng lôi tay đứa con yêu:

Con ơi! Con cù và quyển sách của con má vẫn giữ, vì đó là di vật duy nhất của con, má vẫn để ở ngăn tủ đầu giường má.

Bà vừa nói vừa kéo người con trai lên gác. Bà rối rít hết sờ mặt, xoa tay, lại vuốt lưng cậu xích lô thân yêu, trong khi bà bán nước cũng lây nỗi vui mừng, cứ chạy lăng xăng hết đầu này, đầu kia chẳng biết làm gì cả.

Ngay chiều hôm ấy, bà Hân báo tin gọi người em trai về. Thôi thì cậu cháu, mẹ con hàn huyên nỗi niềm máu mủ ruột thịt, của buổi trùng phùng nước mắt đầy vơi.

Thương bà chị cả cuộc đời cô đơn heo hút, ông cậu nhìn thằng cháu khoẻ mạnh, khôi ngô, ông hứa sẽ đem hết khả năng dạy dỗ, nâng đỡ đứa cháu yêu đến khi thành đạt. Ông bàn, nào là đón giáo sư về kèm cặp, nào là tập lái xe để chở mẹ đi chùa,v…v…Ngôi nhà giờ đây tràn ứ đầy sự sống, sự ấm cúng và niềm vui tươi.

Riêng tên điệp viên, ngay khi vào Sài Gòn đã được cấp trên y chỉ định phải thường xuyên liên lạc, cặp bồ với cô Ngân làm chiêu đãi viên cho một quán cà phê ở ngã Bảy, để dự phòng, nếu sau này bà Hân và ông cậu bắt lấy vợ thì phải cương quyết đòi lấy cho bằng được cô Ngân. Dĩ nhiên, cô Ngân cũng trong mạng lưới hoạt động của Cộng Sản ở Sài Gòn.

Đến đây, mọi việc tường êm xuôi trôi lọt như ý Việt cộng mong muốn, nhưng không, trái lại đã bắt đầu trục trặc. Nguyên nhân cũng chỉ vì diễn viên đã không khéo đóng trọn vai trò.

Bà Hân tin tên xích lô là con nên tình bà vẫn thắm thiết thương yêu. Ngược lại, y biết y không phải con bà. Mẹ y hiện đang ở ngoài Bắc. Lúc đầu, vì cố gắng nổ lực để công tác thành công, nên y đã xuất thần thủ đúng vai trò. Sau một thời gian, những biểu lộ thương yêu với người mẹ giả trở nên cứng ngắc, không có hồn. Nỗi buồn của bà càng ngày càng khoét sâu, càng lớn. Bà thổ lộ với người thân quen và tất yếu, cả với em trai.

– Tôi không hiểu sao, tôi thương yêu nó như trời biển, nhưng hình như có cái gì ngăn cách, tôi chỉ cảm thấy sự tẻ nhạt, gắng gượng ở bên trong của nó.

Sự phàn nàn, ca thán của bà dần dần đến tai những nhân vật phản gián. Một sự việc không bình thường! Tình mẹ con ruột thịt là sự thiêng liêng, phải có những chiếc dây vô hình gắn bó. Thấy một sự không bình thường thì phải đặt vấn đề. Mà nguyên tắc tình báo cũng như công an, nếu đã đặt vấn đề thì phải tìm mọi cách để biết rõ hư thực của vấn đề đó, cho nên, họ đã dùng chính ông cậu trong nhà làm tấm bình phong để bí mật theo dõi và phanh phui sự việc.

Gần một năm sau, trọn ổ gián điệp vùng đó đều bị sa lưới.

Trở lại nhiệm vụ phụ:

Dale và Brown mang đến hai chiếc máy bay MIG –15 và MIG- 19 dài chừng 20 phân, nhưng thật tinh vi, sắc sảo như máy bay thật, thu nhỏ; với đầy đủ cả động cơ, phù hiệu, cờ quạt…..Hai ông đã giảng cho tôi rõ ràng tính năng từng loại; để suốt quá trình thời gian tôi ở miền Bắc, nếu thấy loại máy bay đó trên bầu trời, về báo lại.

Ngoài hai máy bay MIG, hai ông còn đưa tôi xem hai cuốn sách có hình mầu: lon, phù hiệu các binh chủng, từ lính cho tới nguyên soái; cả y phục mùa Đông cũng như mùa Hè của quân đội Trung Cộng và Bắc Triều Tiên.

Ngoài ra, trong thời gian ở Hà Nội, tôi phải quan sát các hiện tượng ngoài đường phố. Theo dõi các báo chí, phát thanh những đơn vị nhỏ tập tành. Tiếp xúc quan hệ với mọi từng lớp người dân, v.v…Để từ đấy đánh giá (nếu ghi được số lượng cụ thể càng tốt) những điều tai nghe mắt thấy, nói chung về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, xã hội…và tư tưởng chung của quần chúng, cán bộ, bộ đội.

o0o

Thép Đen: Tập I – Chương 8

Những “Vỏ Bọc” …

Vỏ bọc I

Tôi sẽ đóng vai là một học sinh trường trung học phổ thông cấp III ở Vĩnh Linh với tên là Lê Viết Hùng, lý lịch giả như sau: Gia đình bố mẹ tôi, do đói kém, loạn ly năm 1945, đã phiêu bạt từ Nam Định vào lập nghiệp ở xã Vĩnh Quan, Vĩnh Linh. Bố tên là Lê Văn Thông, mẹ là Vũ Thị Sàng. Tôi có 3 anh chị em: Chị Lê Thị Thu, em trai Lê Tuấn. Tôi phải nhớ tên: Giám hiệu trưởng Phổ Thông cấp III Vĩnh Linh, chủ tịch và phó chủ tịch huyện V.L., chủ tịch và phó chủ tịch xã Vĩnh Quang. Và, vì tôi cũng là đoàn viên thanh niên, nên tôi cũng phải biết tên của bí thư và phó bí thư chi đoàn. Ngoài ra, tôi phải biết một số sự kiện lớn xảy ra ở Vĩnh Linh, nhất là ở xã tôi, vùng giáp ranh khu phi quân sự.

Qua những tin tức cố định trên, tôi sẽ tùy theo trường hợp để ứng biến sao cho hợp lý.

Tôi (Lê Viết Hùng) có nhiều triệu chứng mắc bệnh tim đã lâu, bây giờ càng ngày càng trầm trọng hơn, nên đã xin được giấy giới thiệu của thị trấn Vĩnh Linh về Hà Nội nhân dịp He để đến nhà thương Việt Đức điều trị.

Tôi mang theo đủ giấy tờ hợp lệ: Giấy giới thiệu chữa bệnh, thẻ học sinh, giấy nghĩa vụ quân sự, thẻ đoàn viên, giấy thông hành thời hạn một tháng, có chữ ký của công an trưởng huyện Vĩnh Linh.

Vỏ bọc này, tôi phải nghiên cứu và học thuộc lòng, sao cho từ nếp suy nghĩ đến hành động, coi như mình là Lê Viết Hùng có thực bằng xương bằng thịt.

Để thực tập, tôi phải đến gặp ba, bốn lần một người lạ rất hách dịch, đóng vai công an Cộng Sản, lúc thì ở khách sạn Catinat, lúc thì ở Majestic. Ông ta hạch sách, nạt nộ tôi đủ điều, hỏi những câu bất chợt lắt léo, xem tôi có trả lời hợp lý hay không. Tôi còn nhớ lần cuối cùng, khi nói chuyện vãn, ông tự giới thiệu tên là Đang đã từng sống và làm việc cho Cộng Sản nhiều năm, (ông không nói, nhưng tôi đoán hẳn ông đang làm việc cho Cục), ông nói:

Tôi nói thực với Bình, cái chính là đừng để cho công an của Cộng Sản nghi ngờ. Khi nó đã đặt thành vấn đề nghi mà sát hạch thì ‘mả bố ở đâu, mà nó bảo đào đưa cho nó, thì cũng phải đào.”

Kể ra, ông không nên nói câu đó, nhất là với một nhân viên sắp vào đất địch, chỉ làm hoang mang tinh thần của người đi. Sau này càng nghĩ, tôi lại càng thấy những người huấn luyện mình thiếu ý thức, thiếu tinh thần trách nhiệm, vì thiếu lý tưởng thực sự!

Vỏ bọc II

Trong trường hợp bị Cộng Sản bắt giữ. Nếu vì lý do nào đó, Cộng Sản không tin hoặc đã xác minh giấy tờ đều là giả mạo và tôi không phải là Lê Viết Hùng ở Vĩnh Linh. Lúc đó, tôi sẽ khai: Gia đình bố mẹ, gốc tích thực, nhà nghèo. Học hành thi hoài không đậu, chán chường, nhưng tính thích làm những việc táo bạo, không sợ nguy hiểm miễn việc đó có tiền để giải quyết cuộc sống và giúp đỡ bố mẹ già. Do bạn bè giới thiệu, tôi gặp một ông tên là Lân. Vì là nhân vật tưởng tượng, nhưng lại cần nhớ chi tiết để đề phòng sau này công an hỏi lại, do đấy, tôi phải lấy một người có thật để mô tả, và tôi đã lấy hình dáng một ông cậu to lớn, béo tốt, chủ một hảng xuất nhập cảng ở Sài Gòn, để tả về ông Lân.

Ông Lân thường hẹn gặp tôi ở một quán nước. Sau một, hai lần thăm dò, nói chuyện, biết về con người và tâm nguyện của tôi, ông đi thẳng vào vấn đề: Ông có “truy-ô” nhiều thuốc Tây quý cần tiêu thụ. Ở ngoài Bắc, các loại thuốc này vô cùng hiếm nên giá rất cao. Vậy, nếu tôi muốn làm giầu, phải mạo hiểm. Ông sẽ lo giấy tờ giả cho. Tôi sẽ bí mật, lén lút lội qua sông Bến Hải, đem theo hơn một chục mẫu loại thuốc quý, móc nối, mua bán đặt hàng với những con buôn bí mật có thể lực ở Hà Nội. Sau này, lời lãi sẽ chia đôi, ông đó một nửa và tôi một nửa. Còn bây giờ, tốn phí ông đài thọ và cho tới khi đi sẽ trả trước cho tôi 10.000 đồng.

Một hôm, Dale và Brown dẫn đến một người Mỹ khác khoảng 40-45 tuổi, giới thiệu là Bác Sĩ Harry. Ông Harry đưa gần 20 lọ thuốc Tây, chỉ dạy cách dùng và tính năng của từng loại. Theo ông Phan, cho tới ngày tôi đi, Harry cũng sẽ là bác sĩ riêng của tôi để săn sóc sức khoẻ và những cần thiết về y lý cho chuyến đi.

Vỏ Bọc III

Sau khi khai vỏ bọc II, nếu Cộng Sản vẫn không tin, hoặc tìm ra được những chứng cớ cụ thể là tôi nói láo, không đúng, có thể chúng sẽ cùm kẹp tra tấn, tôi không thể chịu đựng nổi, lúc bấy giờ tôi sẽ dùng vỏ bọc III. Vẫn chưa là chuyện chính trị.

Phần thân thế, gốc tích gia đình cũng như vỏ bọc II, vì đó là thực tế. Cảnh học hành, thi cử cũng chỉ ăn vỏ chuối nên chán chường, và tính tình thích làm những chuyện mạo hiểm cũng vậy. Phần khác biệt. Do quan hệ xã hội, đã được một người quen giới thiệu với Sư Bà Đàm Hướng ở chùa Phước Hải, khu Vườn Chuối, Phan Đình Phùng Sài Gòn, nội dung như sau:

Trong thời Pháp thuộc trước 1945. Sư Bà Đàm Hướng và Sư Ông Tuệ Chiếu là hai sinh viên yêu nước thiết tha, nhục nhã đau lòng trước cảnh dân tộc bị thực dân Pháp thống trị. Hai ông bà nối chí những bậc cách mạng tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học v.v… Đã bí mật hoạt động trong giới sinh viên ở Hà Nội, gây nên nhiều vụ chống đối sôi động, với bọn cầm quyền thực dân và đã bị chính quyền thực dân, ra lệnh truy lùng ráo riết.

Hai ông bà không những là đồng chí mà còn là đồng sàng, vì cùng nhau đã trải qua nhiều gian nan nguy hiểm nên hai trái tim đã cùng rung đều một nhịp. Trước sự truy nã lùng sục của mật thám, để che mắt chúng, và cũng để tỏ với chúng là mình đã chán chường cuộc đời, hai người đều xuống tóc, nup1 bóng cửa thiền. Ông thì tu ở chùa Quan Thánh Hà Nội, pháp danh là Tuệ Chiếu; còn bà tu ở đâu, tôi không biết, chỉ biết pháp danh là Đàm Hướng, hiện trụ trì ở chùa Phước Hải, Vườn Chuối Phan Đình Phùng Sài Gòn.

Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền, chúng lòi ra ý đồ diệt tôn giáo. Bề ngoài cổ vũ “Lương Giáo đoàn kết” để chống Pháp, xây dựng đất nước. Bên trong thì chúng ngấm ngầm tìm mọi điều kiện, lợi dụng mọi mâu thuẫn tôn giáo để kích động, khơi sâu mối chia rẽ. Nghĩa là, luôn luôn đổ dầu vào những đốm lửa mâu thuẫn, dị biệt của tôn giáo. Nhìn rõ trái tim đen bẩn thỉu của Cộng Sản, Sư Ông Tuệ Chiếu và Sư Bà Đàm Hướng đã dùng khả năng và uy tín vạch trần ý đồ nham hiểm của Cộng Sản trước tín đồ, và còn ngấm ngầm trao đổi bàn luận cùng bên Công giáo, lập ra Mặt Trận Liên Tôn Diệt Cộng mà chủ tịch là sư ông Tuệ Chiếu và phó chủ tịch là linh mục Hoàng Quỳnh cùng nhiều nhân vật lãnh đạo trong Mặt Trận.

Sư Ông Tuệ Chiếu và nhiều người khác đã bị Cộng Sản bí mật thủ tiêu ngay. Chỉ vì khi đó phía Phật giáo chưa có sự đoàn kết thống nhất, nên chưa có áp lực mạnh với Cộng Sản. Còn Linh Mục Hoàng Quỳnh, trước áp lực sức mạnh của quần chúng Công Giáo, chúng đã không dám giết ngay. Công giáo khi ấy đã là một tổ chức thống nhất nên Cộng Sản ít nhiếu kiêng nể (tôi nói thời gian đó thôi, vì lúc đó chúng chưa mạnh, chúng còn cần sự giúp đỡ hoặc không chống phá của Công Giáo. Chứ sau 1975, chúng không còn e dè nể nang gì cả).

Chúng chỉ dám quản thúc linh mục Hoàng Quỳnh ở nhà thờ Lạc Đạo, thuộc địa phận Bùi Chu. Con chiên vẫn được phép thăm nuôi bình thường, theo quy định.

Sư Bà Đàm Hướng nghe tin chồng chết, quá đau thương, chỉ còn đành tìm xác người chồng bất khuất, chết anh hùng, oanh liệt hy sinh cho dân tộc, bí mật đem về thành Hà Nội, vùi lấp ở nghĩa trang Hợp Thiện Bắc Việt.

Hội Nghị Genève chia đôi đất nước, bà cùng đứa con trai di cư vào Nam.

Vào Nam, tuy vẫn ở trong cửa Phật, nhưng bà vẫn không quên quê hương dân tộc, nên ngay trong chùa cũng như ngoài xã hội, bà diễn thuyết cổ vũ, khích lệ, tổ chức đoàn thể với mục đích chống kẻ tử thù Cộng Sản. Ngoài ra, từ ngày vào Nam, bà cũng còn ấp ủ trong trái tim một điều thầm kín nhất, là bà ước mong có cách gì đó, hay có ai ra miền Bắc, bà sẽ không tiếc tiền để xây cho ông một nấm mồ yên ấm. Gọi là chút lòng của người đồng chí, của người tình, của người vợ, đối với người ngàn đời kính yêu đã ra về nơi ngút ngàn mây gió, hy sinh vì Tổ Quốc.

Chính với nỗi niềm ấy của bà, nên khi gặp tôi, một thanh niên, cành đời đã làm cho bất đắc chí, và sau nhiều lần tìm hiểu, bà rất mừng rỡ. Bà sẽ lo liệu giấy tờ giả cho tôi để vượt tuyến. Bà sẽ trả cho tôi 100.000 đồng sau khi hoàn thành công việc. Trước khi ra đi, bà sẽ đưa trước cho tôi 10.000 đồng để giúp đỡ gia đình bố mẹ già. Tôi sẽ trốn qua sông Bến Hải về Hà Nội, mang theo một lá thư của bà gửi cho ông Thẩm Hoàng Tín, thị trưởng thành phố Hà Nội hồi 1954. Ông là dược sĩ, trước có hiệu thuốc Tây ở Hàng Da Hà Nội.

Ông Tín là bạn chí thân của hai ông bà. Nội dung lá thư nhờ ông Tín vì tình bạn thiêng liêng đứng trông nom xây cho ông Tuệ Chiếu một ngôi mộ gọn ghẽ khang trang.

(Sau Hội Nghị Genève 1954, lý do tại sao một đương kim thị trưởng của thủ đô Hà Nội vẫn ở lại với Cộng Sản, không di cư vào Nam sẽ được đề cập ở chương “Những Bài Học Xương Máu Với Cộng Sản”.)

Chính Hoàng Công An đã dẫn tôi đến chùa Phước Hải gặp Sư Bà Đàm Hướng mấy lần, để tôi nhìn rõ cảnh sinh hoạt của chùa và con người của bà. Tôi cũng đã gặp người con trai của sư bà, lúc đó 19 tuổi, đang theo phần II Tú Tài, năm 1961.

Vỏ Bọc IV

Đến đây, thì đành phải nhận ra Bắc vì chính trị. Theo chỉ thị của Cục, vỏ bọc IV, đồng thời cũng là vỏ bọc cuối cùng, dù tôi có phải nhận mã tấu hay ăn kẹo đồng.

Đến giai đoạn này, Cộng Sản đã cùm kẹp tra khảo, khai thác nhiều. Chúng đã nêu ra đầy đủ băng cớ những điều tôi khai báo là sai. Vậy, nếu bị đánh đập, hành hạ đến lúc cơ thể không thể chịu đựng được nữa, lúc đó sẽ khai theo vỏ bọc IV: Là trung sĩ trong đại đội thám báo của Sư Đoàn 7, thích làm những chuyện mạo hiểm và coi thường những việc khó khăn mà nhiều người khác e sợ, v.v… Trong quân ngũ, lần lần quen biết Trung úy Xương nên nha an ninh quân đội. Ông này đã giới thiệu với bên tình báo. Cuối cùng, tôi được về Sài Gòn dự lớp đào tạo và huấn luyện trong 3 tháng ở một ngôi nhà thuê trong xòm Cầu Cống, khu Khánh Hội (nếu nói ở khách sạn, building, Cộng Sản sẽ để ý những nơi ấy, sẽ gây khó khăn cho những lớp huấn luyện sau này.) Chỉ nói một số lớp học hợp lý, thời gian huấn luyện ngắn và học tập sơ sài để địch đánh giá sai mức độ, khả năng của nhân viên tình báo miền Nam.

Chỉ một người huấn luyện duy nhất, định tả ai phải nhớ người ấy. Chớ nói tới Mỹ, vì năm 1961 Mỹ chưa vào miền Nam nhiều. Huấn luyện nặng về lãnh vực quân sự, tính năng và các loại vũ khí của bộ đội miền Bắc thường dùng, v.v… Nhiệm vụ:

– Theo dõi Sư Đoàn 308 phòng thủ Thủ Đô Hà Nội. Do tên Thiếu Tướng Vương Thừa Vũ làm tư lệnh.

– Tên tuổi, tính tình các cấp chỉ huy, càng xuống sâu càng tốt, nghĩa là đến cấp đại đội.

– Các loại vũ khí trang bị của sư đoàn.

– Những nơi bố trí đại pháo và xe tăng.

– Các phương tiện vận chuyển.

– Cách bố trí trại, địa hình chung quanh với các đường giao thông.

– Cách sinh hoạt học tập, huấn luyện.

– Các trang bị, quân trang, quân dụng.

– Tinh thần của bộ đội và sĩ quan.

– Khả năng chiến đấu và tinh thần chiến đấu.

Muốn biết được những tin tức này chính xác, tôi phải làm quen, chuyện trò, tâm sự với bộ đội trên đường phố Hà Nội. Tóm lại, khai gì, nói gì thì nói, nhưng không bao giờ được nói tới nhiệm vụ thực của mình cả.

Thép Đen: Tập I – Chương 9

Thăm Giòng Bến Hải …..

Cầu Hiền Lương

Để phục vụ cho công tác COLUMBUS, tôi phải học và thực tập cũng như nghiên cứu về cách tiếp xúc với các linh mục. Trong một xã hội với bao chế ngự trong chính sách kìm kẹp của Cộng Sản đối với người dân, các linh mục đã có nhiều kinh nghiệm xương máu, cho nên dù trong lòng có muốn tiêu diệt Cộng Sản đến đâu chăng nữa, cũng không thể vội vàng lớ ngớ tham gia vào những chuyện không mấy tin cẩn để thiệt thân, chết lây. Do đó, là một cán bộ tình báo miền Nam, trước hết tôi phải tỏ ra điềm đạm, bình tỉnh, đủ khả năng, bản lĩnh xoay chuyển tình thế nếu gặp sự bất thường. Thêm nữa, các linh mục là những người có địa vị, có học, vậy ít ra tôi phải có kiến thức về nhiều mặt của xã hội, cộng với tư cách, tác phong. Có như vậy, tôi mới khả dĩ lôi cuốn được các linh mục. Thế mà tôi lại không đủ sức, cho nên tôi rất băn khoăn.

Sau đấy, tôi thực tập rất nhiều buổi tiếp xúc với một, đôi người lạ, đóng vai các linh mục ở miền Bắc. Ông An cũng như ông Phan, và cả những người tôi phải tiếp xúc thực tập, đều nói:

– Thế là Bình làm được rồi!

Tôi nghĩ, bắt buộc họ phải nói “được rồi,” chả lẽ nói “không hay chưa được,” làm sao tôi đi!

Tôi yêu cầu cho tôi được tiếp xúc với một người nào đó đã ra ngoài Bắc vửa mới trở về để học hỏi kinh nghiệm. Sự yêu cầu này đã không được đáp ứng, và cũng không được trả lời. Lúc đó, tôi ngây thơ nghĩ rằng, có thể vì sự ngăn cách an ninh về cả hai phía, cho nên lời yêu cầu của tôi đã không được giải quyết. Sau này khi ra miền Bắc, có điều kiện nhìn được thực tế, cũng như có thêm được một số kiến thức để phân tích và lý luận, tôi thấy những điều tôi nghĩ trước kia là không đúng.

Để đáp ứng lời yêu cầu của tôi, thay vào đó, Cục cho tôi gặp 4 người vượt tuyến mới nhất. Thậm chí có người chỉ mới vào nửa tháng, ở Trung Tâm Tiếp Đón đồng bào vượt tuyến bên Gia Định. Tôi và An đóng vai nhân viên Phòng Báo Chí phủ Tổng Thống cầm giấy giới thiệu sang gặp Thiếu tá (tôi quên tên) Trưởng trại.

Tôi sang hai lần, mỗi lần gặp hai người, mỗi người gặp vào một giờ khác nhau. Hôm đầu, chúng tôi tiếp xúc với một người là bộ đội và một người là giáo viên cấp III, trường Thăng Long Hà Nội. Hôm sau, một người tài xế xe đò, một người là giáo viên cấp II ở Thanh Hóa. Dĩ nhiên, tất cả những người này kể cả trưởng trại; không thể hiểu ý đồ thực của chúng tôi. Để đánh lạc hướng, thỉnh thoảng chúng tôi mới xen vào giữa những câu phỏng vấn thông thường, vô bổ là một số câu hỏi câu hỏi cần thiết mà chúng tôi muốn tìm hiểu. Bốn cuộc gặp gỡ này đã giúp chúng tôi hiểu biết nhiều vấn đề, rất hữu ích khi tôi ra Bắc.

Trên tấm bản đồ quân sự loại lớn, bằng giấy dầy, bóng. Từng miếng 40×60 phân, ghép lại kín cả nền một căn phòng rộng. Hàng ngày, Brown và Dale hướng dẫn tôi nghiên cứu về quốc lộ 1 (từ Vĩnh Ling ra tới Hà Nội,) khu phi quân sự; thành phố Hà Nội, tỉ mỉ, chi tiết; nhất là khu phi quân sự Bắc và huyện Vĩnh Linh. Để phòng hờ biết bao tình huống có thể trục trặc không đón được tôi; tôi phải về bằng đường bộ. Vì thế, tôi đã hai lần phải ra tận bờ sông Bến Hải; dùng ống nhòm quan sát thực tế các điểm chuẩn, của khu phi quân sự Bắc.

Một điều tôi không quên, một lần tôi và Hoàng công An xuống trường bay Phú Bài. Người trách nhiệm đón chúng tôi không ai xa lạ, lại chính là ông Hương. Ông Hương và tôi nhìn nhau ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Chính An cũng ngạc nhiên không ít, không hiểu sao tôi lại biết ông Hương từ trước.

Từ ngày tôi bị loại ra khỏi lớp học đặc biệt, tôi chỉ nghe Lý nói loáng thoáng là ông Hương sau này mắc khuyết điểm gì đó về tài chính, nên không còn làm Giám Đốc lớp học đó nữa. Có lẽ do ý thức nghề nghiệp cho nên khi bắt tay tôi, ông Hương chỉ nói:

– Bình vẫn như xưa, tay hay gầy, nhưng vẫn đẹp trai!

Ông không hề nhắc nhở đến những chuyện cũ ở số 2 J.J. Rousseau. Ông Hương sau đó, lái xe đưa chúng tôi về một khách sạn ở Huế. Những ngày ở đây, đêm ngủ, luôn luôn có người canh gác tôi. Cũng từ đó cho đến gần cuối cuộc đời, lúc thức cũng như lúc ngủ; lúc nào tôi cũng có người canh gác. Cứ nghĩ đến, tôi lại nhếch mép tự mỉm cười.

Ông Hương lái xe đưa chúng tôi vào khu phi quân sự. Trong rừng bên này bờ Nam, tôi thấy đó đây có những người mặc đồ nâu, gài một miếng vải đỏ bằng hai đốt ngón tay ở khuy áo, lầm lũi canh gác. Có lẽ họ đã giấu súng trong người. Qua ánh mắt và thái độ của họ, tôi hiểu ông Hương là người chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ hệ thống canh gác bờ phía Nam.

Tôi ngắm giòng Bến Hải. Con sông đã đi vào lịch sử đau thương của dân tộc, vẫn lững lờ chảy xuôi về phía cầu Hiền Lương. Đây đó, một vài chiếc thuyền nan chài lưới phía bờ bên này, cũng như phía bờ bên kia. Tôi biết những người dân “chài lưới” này, dứt khoát không phải là dân bình thường. Bởi vì theo thỏa hiệp Genẻve giữa hai bên: Ranh giới hai miền là giữa giòng sông Bến Hải, và giữa cầu Hiền Lương. Vậy, vì lý do vô tình hay hữu ý, những thuyền này lấn sang khỏi ranh; phía bên kia có quyền bắt giữ. Lúc đó, những người dân chài này không còn thuộc quyền kiểm soát của bên bờ cũ nữa.

Tôi đi sát dọc bờ sông, có chỗ hai bờ cách nhau chỉ chừng ba chục mét. Nhìn thấy cô gái áo nâu, phía bên kia bờ, quần đen lăng xăng, chạy ra, chạy vô tưới mấy luống rau. Lòng tôi bỗng bâng khuâng, mắt dõi về hướng Bắc xa vời, nơi có Hà Nội cam go đợi chờ. Bất chợt, các cô ấy rối rít vẫy tôi, miệng cười duyên. Ý các cô ấy muốn tôi lội xuống nước, bơi sang. Thấy vậy, ông Hương nói với tôi:

– Tất cả những người dân tron khu phi quân sự Bắc, đều bị Cộng Sản bắt rời khỏi, ra ngoài 5 cây số, kể từ bờ Bếb Hải. Rồi chúng đưa toàn công an mật vào, làm nhà cửa, cầy cấy, trồng tỉa như thường dân. Bình hãy dùng ống nhòm nhìn kỹ vào trong rừng sẽ thấy có những vật di chuyển; thậm chí còn có người bí mật ngồi trên cây canh gác nữa.

Đúng như vậy! Sau này, tôi thấy biết bao người vượt tuyến, bị bắt với bao nhiêu tình huống cười ra nước mắt ở trong nhà tù Cộng Sản.

Nhìn chéo xa ca phía bên kia, ngôi nhà thờ Hải Cụ bị rêu phong và cây cối che phủ, chỉ còn là một hình thù xám xịt, nhô lẫn trong lùm cây xanh. Cảnh hoang liêu cô tịch của nhà thờ khiến lòng tôi tím thẫm. Tôi hình dung đến cảnh sống của người dân Công giáo miền Bắc; hẳn không khỏi khắc khoải tối tăm.

Ông Hương bổng nói:

Sông Bến Hải, đi ngược quá vào phía trong; mùa nước cạn, nhiều chỗ chỉ cần xắn quần lội qua cũng được.

Giòng sông nhỏ bé và nông cạn như thế! Vậy mà nó đủ sức ngăn đôi một dân tộc, trong bao nhiêu năm trường! Đối với một dân tộc có truyền thống thương yêu, đùm bọc của người cùng một nước:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương.

Người trong một nước phải thương nhau cùng. (Ca dao)

Vậy, lỗi này do ai?

Sau khi về tới Sài Gòn, cũng đã gần tới ngày lên đường, do đó, một số công việc còn lại cần phải làm khẩn trương và dồn dập hơn. Tôi phải tập xử dụng một số loại thuốc hóa trang, hồng ngoại tuyến…..

Một điều tôi quên. Khi đi vào đất địch, tất yếu tôi sẽ gặp muôn ngàn điều chưa thể biết. Vì vậy, để phòng hờ; từ hơn hai tháng trước, Phan đã đưa cho tôi một chiếc nhẫn bạc mặt vuông có khắc chữ thọ. Chiếc nhẫn này, cũng như trăm ngàn chiếc khác; chỉ khác một điểm là, mặt trong có đóng chìm xuống con số 42. Phan bắt tôi đeo, nhìn cho quen mắt và phải nhớ nhập tâm. Phan cũng còn đưa cho tôi một tấm hình cỡ 6×9, hình chùa Một Cột ở Hà Nội. Phía sau lưng và góc trên của tấm ảnh, có ghi con số 1618 nhỏ xíu bằng bút chì. Tôi nhớ được con số 1618, vì nó liên quan đến ngày tôi trao tài liệu M.

Hơn một tuần sau, Phan lấy lại và hỏi:

– Bình đã nhớ chưa?

Tôi gật đầu, Phan nói tiếp:

– Nếu sau này, bất cứ ở đâu, thời gian nào và bất cứ ai đưa tấm hình này ra; thì người đó chính là người sẽ trao lệnh của Sài Gòn cho Bình.

Một hôm, Dale và Brown đến gặp tôi, bảo:

– Hôm nay, Bình sẽ tập xử dụng bút chì mật.

Họ giải thích:

– Đây là một loại dụng cụ mới nhất trong ngành tình báo. Bút chì mật nhỏ bằng 2/3 của lõi bút chì thường. Dài độ 6- 7 phân, mầu đen xám, không mùi vị. Một đầu hơi vát, nhờn nhợn, giống như một mẩu sợi ni lông thường. Brown và Dale nói là: Mẩu bút chì này hiện nay nếu muốn bán cho Cộng Sản hàng triệu nó cũng mua. Nó sẽ phân chất và sẽ biết cách phát hiện những chữ ta ghi, từ đó nó sẽ tìm ra được nhiều sự việc.

Bởi vì, khi ghi chép, nét chữ không có dấu vết. Muốn đọc, phải dùng một loại hóa chất đặc biệt bôi lên mặt giấy, chữ mới hiện ra. Điệp viên ghi tài liệu mật vào những khoảng trống trên ngay sách báo của địch. Thấy trước mặt, chúng cũng không biết; kể cả mẩu bút chì cũng vậy.

Tôi phải tập biết bằng mẩu chì mật này nhiều lần, trong nhiều ngày. Sao cho khi viết, không để lại vết gợn nào trên mặt giấy. Nghĩa là tờ giấy vẫn bình thường, và cũng không được mất nét chữ; sau này, khó đọc và khó đoán ra. Khi tôi ra tới miền Bắc, thực tế cho thấy, là thời gian này Cộng Sản chưa hế biết gì về bút chì mật. Tôi đã giấu mẩu chì này tới 1975, khi miền Nam thất thủ, tôi mới tiêu hủy.

Tôi đã biết rất nhiều loại mực để viết thư mật, nhưng tôi thừa nhận, loại chì mật là đơn giản và thuận tiện nhất. Có thể ngày nay, điệp viên của nhiều nước vẫn còn dùng.

13 Công Dụng Bí Ẩn Của Muối

13-CONG-DUNG-BI-AN-CUA-MUOI-d0104

326 Món Ăn Ngon


image
image

Happy Thanksgiving!

 

 photo Thanksgiving2013_zps0313ad26.jpg

Photoshop Live—Street Retouch Prank

Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên Houston – Texas

Avoid Internet Scams—Nguyên Thiều K30

ScreenShot-2

Hình thức của một email lừa đảo (Hình trên)

Khi những kẻ lừa đảo internet đóng vai một doanh nghiệp (như email Yahoo giả mạo trong hình trên đây chẳng hạn) để lừa bạn đưa ra thông tin cá nhân, đó được gọi là phishing. Đừng trả lời email, văn bản, hoặc tin nhắn pop-up yêu cầu thông tin cá nhân hoặc thông tin tài chính của bạn. Đừng bấm vào các đường link của họ—ngay cả khi các tin nhắn có vẻ như từ một tổ chức mà bạn quen biết và tin tưởng (như Yahoo ở trên). Các doanh nghiệp hợp pháp không yêu cầu bạn gửi thông tin nhạy cảm thông qua các kênh không an toàn.

Ví dụ về các tin nhắn lừa đảo

Bạn mở một email hoặc message, và thấy một thông báo đại loại như thế này:

“This is a courtesy notice that you are nearing your 2GB data plan limit. You would be blocked from sending and receiving emails if not confirmed withing 24hrs of receiving this automated mail. You are advised to Click Here and re-login to effect the change” (“Đây là một thông báo nhã nhặn về việc bạn đang tiến gần đến giới hạn 2GB dữ liệu của bạn. Bạn sẽ bị ngăn chặn việc gửi và nhận emails nếu không xác nhận trong vòng 24 giờ sau khi nhận được mail tự động này. Bạn nên Click Vào Đây và đăng nhập lại để thực hiện việc thay đổi”).

ScreenShot-5 copy

Hình thức của một email lừa đảo khác—đừng bao giờ click vào những đường link (Hình trên)

“We suspect an unauthorized transaction on your account. To ensure that your account is not compromised, please click the link below and confirm your identity.” (“Chúng tôi nghi ngờ một giao dịch trái phép vào trương mục của bạn. Để bảo đảm rằng trương mục của bạn không bị tổn hại, xin vui lòng bấm vào liên kết dưới đây và xác nhận danh tính của bạn”).

“During our regular verification of accounts, we couldn’t verify your information. Please click here to update and verify your information.” (“Trong quá trình xác minh thường xuyên về trương mục, chúng tôi không thể xác minh thông tin của bạn. Xin bấm vào đây để cập nhật và xác minh thông tin của bạn”).

“Our records indicate that your account was overcharged. You must call us within 7 days to receive your refund.” (“Hồ sơ của chúng tôi cho thấy rằng tài khoản của bạn đã bị tính tiền quá lố. Bạn phải gọi cho chúng tôi trong vòng 7 ngày để nhận tiền hoàn lại”).

Người gửi đang lừa đảo để lấy thông tin của bạn và sử dụng nó để gian lận.

Làm thế nào để đối phó với Phishing Scams

Xóa email và tin nhắn yêu cầu bạn xác nhận hoặc cung cấp thông tin cá nhân như thẻ tín dụng, số tài khoản ngân hàng, thông tin trương mục, số an sinh xã hội, mật khẩu, v.v… Công ty hợp pháp không yêu cầu thông tin này bằng email hoặc văn bản qua internet.

Các tin nhắn có thể xuất hiện từ các tổ chức bạn làm kinh doanh với—ví dụ như ngân hàng. Họ có thể đe dọa đóng tài khoản của bạn hoặc có hành động khác nếu bạn không trả lời.

Đừng trả lời và tuyệt đối không bấm vào bất kỳ các liên kết hoặc số điện thoại nào được cung cấp trong messages. Các thông báo hướng dẫn bạn đến các trang web giả mạo—các trang web mà thoạt nhìn có vẻ thực, nhưng mà mục đích là để ăn cắp thông tin của bạn rồi từ đó có thể lần mò đến hóa đơn, trương mục… hoặc hơn nữa—phạm tội dưới chính tên tuổi của bạn .

Mã số khu vực có thể gây hiểu lầm. Một số kẻ lừa đảo yêu cầu bạn gọi một số điện thoại nào đó để cập nhật tài khoản của bạn hoặc để nhận lại tiền refund. Đừng gọi những số phone đó, chẳng có gì bảo đảm rằng, bạn không phải trả tiền international long distance.

Nếu bạn lo ngại về tài khoản của bạn hoặc cần phải liên lạc với tổ chức mà bạn làm kinh doanh với, hãy chỉ gọi số phone trên báo cáo tài chính của bạn hoặc trên mặt sau của thẻ tín dụng của bạn mà thôi.

Những việc cần làm

Bạn có thể thực hiện những việc sau đây để tránh lừa đảo qua internet:

Sử dụng phần mềm bảo mật đáng tin cậy và thiết lập nó để cập nhật tự động. Ngoài ra, sử dụng các biện pháp bảo mật máy tính.
Không gửi email thông tin cá nhân hoặc tài chính. Email không phải là một phương pháp an toàn truyền tải thông tin cá nhân.
Chỉ cung cấp thông tin cá nhân hoặc tài chính thông qua trang web của một tổ chức nếu bạn gõ vào địa chỉ trang web chính mình và bạn thấy tín hiệu rằng trang web này là an toàn, như một URL bắt đầu https (“s” là viết tắt của secure). Thật không may, không chỉ là hết sức rõ ràng, một số kẻ lừa đảo cũng có thể đã giả mạo được URL này.
Xem xét thẻ tín dụng và tài khoản ngân hàng ngay khi bạn nhận được chúng để kiểm tra các khoản phí trái phép. Nếu statements của bạn trễ hơn một vài ngày, hãy gọi để xác nhận địa chỉ thanh toán và tài khoản còn thiếu.
Hãy thận trọng về việc mở file đính kèm và download file từ email, bất kể ai đã gửi. Những tập tin này có thể chứa virus hoặc malwares có thể làm tổn hại việc bảo mật cho chính bạn và máy tính của bạn.

Báo cáo Phishing email

Forward email lừa đảo đến spam@uce.gov và các công ty, ngân hàng, tổ chức mạo nhận trong email. Bạn cũng có thể báo cáo email lừa đảo đến reportphishing@antiphishing.org. Nhóm công tác Anti-Phishing, một nhóm các ISP, nhà cung cấp an ninh, tổ chức tài chính và các cơ quan thực thi pháp luật, sử dụng các báo cáo này để chống lại lừa đảo.

Nếu bạn có thể đã bị lừa bởi một email lừa đảo:

– Báo cáo lên Ủy ban Thương mại Liên bang (Federal Trade Commission) tại www.ftc.gov/complaint.
– Truy cập trang web Identity Theft của FTC: www.consumer.ftc.gov/features/feature-0014-identity-theft.

Nạn nhân của lừa đảo có thể trở thành nạn nhân của hành vi trộm cắp danh tính. Có rất nhiều điều bạn có thể làm để giảm thiểu rủi ro cho bạn, cho bạn bè và những người thân của bạn.

Nguyên Thiều

Exclusive: The Making of Asia 72 – Dòng nhạc Y Vân (Full Show) .

Phân Ưu cùng Tang Quyến cố Trung Tướng Phan Trọng Chinh K5

K5PhanTrongChinh

Trốn Trại—Nguyễn Ngọc Thạch K20

alt

     Sau khi ở tù cải tạo được 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa, thì có một số tù được đua lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long. Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này. Đơn vị đầu tiên khi tôi mới ra truờng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long. Và trong suốt thời gian phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở trong vùng rừng xanh đất đỏ này.
     Giữa tháng 5 năm 1980, họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại Tống Lê Chân. Đây là một trại tù ở giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẽm gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín, không nhìn thấy được bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh được trí súng đại liên. Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn càng sớm càng tốt.
     Khi ở trại Suối Máu Biên Hòa tôi có lượm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu ngón tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm được treo trên sợi chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng Bắc, còn đầu kia là hướng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi phải dùng dầu hắc nhựa đường để làm dấu đầu hướng Bắc.
     Trong thời gian ở tù chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu, một nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp. Thu cũng cho biết là có thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình. Bình là một nguời rất tháo vát, lanh lợi và đã từng đỗ đầu khóa học “Rừng Núi Sình Lầy” ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Bình đã làm đuợc một cái kềm để cắt kẽm gai. Kềm này làm bằng hai quai xách của cuộn kẻm gai concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng. Khi một đầu được đập dẹp, mũi mài nhọn và đục lỗ, thì trông giống như lưỡi dao. Nhưng khi hai cái luởi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm trục xỏ xuyên qua hai lỗ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.
     Để chuẩn bị cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải ngụy trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối v.v… Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc nylon thật kín cho khỏi ướt, để bên trong áo trước ngực, mặc đồ trận áo lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để cất giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu hướng Bắc bằng dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là biết để đi cả ban đêm. Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải, đồ đạc mang theo tất cả đều phải được ngụy trang cho tiệp với màu cây lá trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào. Ngoài ra chúng tôi còn sắp đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy tạo như là có ý định sẽ đi xa, tức là sẽ đi về hướng Bắc để qua biên giới Kampuchia.
     Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem tất cả những gì ngon đem ra ăn, ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi. Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn dấu. Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè. Tôi có cho một người bạn cùng khóa là Lương Văn Thìn mấy gói mì, mà bạn tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên tôi không có đá động gì tới chuyện trốn trại.
     Suốt trong ba tuần lể liền, Thu đã phải theo dõi thật kỹ các toán tuần tra canh gác, giờ nào đi tuần, giờ nào đổi gác v.v… Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ xuất phát là 9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra. Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho công an coi truyền hình, đến 9 giờ thì tắt. Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần. Và theo như chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để cắt kẻm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua con đường tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài. Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại. Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở dưới đất được, theo đúng nguyên tắc canh gác ban đêm là phải ở dưới thấp. Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối tuần trăng, để khi chui ra thì trời còn tối, đến nửa đêm trăng lên dễ thấy đường để đi. Chúng tôi chọn đêm 22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là không tốt.
     Đúng 8 giờ ruỡi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm 1980, chúng tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để chuẩn bị cắt dây lạt của lớp hàng rào tre trước, để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện vừa tắt là chui ngay. Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở ngoài suối có ánh đèn của công an đang đi bắt cá ở dưới suối, nên chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thường lệ.
     Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa, vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ. Lần này cũng đúng 8 giờ rưỡi là ra cầu tiêu, vì cầu tiêu là chỗ tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý. Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẳn sàng chui ra. Lớp hàng rào tre này được chôn sâu dưới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy đặc. Vì vậy rất khó gỡ ra, phải đào sâu xuống đất mới vạch ra một lỗ vừa chui và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn tre. Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu chui, thì bất ngờ có hai người đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng trốn. Bình chui ra trước là để cắt kẽm gai rồi đến tôi chui kế, tiếp theo là hai người trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng.
     Sau khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẻm gai thứ nhứt. Nhưng phía dưới lớp hàng rào kẽm gai này là rãnh thoát nước với đất bùn xình hôi thúi, nên chui lòn qua được mà khỏi phải cắt. Đến lớp hàng rào kẽm gai thứ hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẽm gai của VC rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ. Họ bắt phải đào một cái rảnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẻm gai ngay từ phía dưới rào lên, rồi lấp đất lại, nên không có cách nào vén lên để chui lòn qua được, mà chỉ có cách duy nhứt là phải cắt thì mới chui ra đuợc. Mà cái kềm cắt kẽm gai của Bình biến chế nên không cắt dễ dàng nhanh chóng được. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn xình hôi thúi, tôi nhìn lên bầu trời đầy sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến, vì không còn cách nào hơn để lựa chọn được nữa.
     Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua được và còn một lớp sau cùng cũng mất 5 phút nữa. Và cuối cùng chúng tôi chui qua được hết và phải bò thật nhanh, chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hỏa lực, vuợt thật nhanh qua khoảng đất trống, rồi trườn mình xuống suối. Lúc đó tôi có cảm giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực. Tiếng thở dồn dập hổn hển mà tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng nước khi ngâm mình trong nước để lội qua suối.
     Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rễ cây để leo lên vì lòng suối sâu thẳm. Lên khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre, rồi băng qua con đường mòn. Con đường mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới. Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ nhau kéo Thu lên. Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm.

Không bao lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nổ ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần. Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài con đường mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì vậy chúng tôi hết đường chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó. Sau này được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời chui trốn theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuổi theo để bắt chúng tôi.

     Chúng tôi cố nằm yên không động đậy. Một lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong trại, chắc là VC đang ra lệnh tập họp điểm danh. Một hồi lâu sau thấy yên tịnh, không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay là đã đi chỗ khác. Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò đi vì không thể chần chờ ở đây lâu được.

Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật nhẹ nhàng, nếu lỡ có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò được một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi được bao nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì. Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chỗ này, nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, bước đi thật nhẹ nhàng im lặng. Tôi lấy thẳng huớng Nam mà đi, đi ngược với hướng Bắc là hướng qua biên giới. Chúng tôi giữ đúng hướng, không đi theo đường mòn hay chỗ trống, bất kể là băng qua các đám ôrô dưới suối hay bụi lùm gai góc. Và càng lúc nghe tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần.

     Khi đó nghe có tiếng xe molotova, loại xe chở quân của VC, chạy đổ ra tứ phía. Chúng tôi phải đi chậm lại, sửa soạn đồ đạc cho thật gọn gàng, tuyệt đối không được gây tiếng động và phải quan sát cho thật kỹ. Mỗi nguời nhìn một hướng, khi đến chỗ trống hay gặp đường mòn là dừng lại lủi ngay vô bụi rậm gần nhứt rồi từ từ quan sát sau. Có nhiều lúc gặp họ đang đi bằng xe đạp, chạy ngang qua rất gần mà họ không thấy. Mỗi khi muốn băng qua đường mòn hay trảng trống, chúng tôi dừng lại nghe ngóng quan sát rất kỹ rồi mới chạy nhanh qua từng người một. Bỗng đâu có một tốp nguời Thượng, vợ chồng con cái vừa đi vừa nói chuyện lào xào, nên chúng tôi lủi tránh kịp thời.
     Lúc trời sáng hẳn chúng tôi đổi huớng đi về phía Đông tức là hướng ra quốc lộ 13. Đi trong rừng hoang vắng nhưng thỉnh thoảng nghe có tiếng đốn cây chặt củi, chúng tôi phải tránh xa ra. Đi tới chiều thì gặp con đường lộ đá đỏ, đó là đường vô Minh Thạnh. Chúng tôi chuẩn bị kỹ rồi băng qua đường cho thật nhanh và lủi vô sâu trong rừng một khoảng xa rồi dừng lại nghỉ. Chúng tôi lựa chỗ kín đáo để dừng lại nghỉ, bởi vì từ đêm tới giờ gần một ngày tròn đã đem hết sức lực để cố vượt thoát xa vùng nguy hiểm, nên bây giờ thấy thấm mệt, nhứt là vấn đề nước uống rất là khan hiếm. Tôi mang theo lon guigoz đựng nuớc uống nhưng đã bị đổ mất hết vì nắp đậy của lon guigoz không kín chắc, giờ thấy khát rát cổ họng. May sao Bình tìm đuợc một giếng nước bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, nhìn xuống giếng tối om không thấy nước, nhưng khi thòng lon guigoz xuống, múc lên được những lon nuớc thật trong veo, uống thật ngon thật đã, nhờ đó chúng tôi ăn mì gói với nước lạnh. Xong rồi lấy thêm đầy nuớc rồi đi ngay, tiếp tục lấy hướng Đông để ra Quốc lộ 13.
     Trời bắt đầu tối, nhưng khi tiếp tục đi thì nghe có nhiều tiếng súng trong rừng, chắc có lẻ là họ đi săn, mà cũng có thể là bọn công an, vì vậy chúng tôi phải dừng lại để tìm cách lẩn tránh. Chúng tôi ra giữa đám trảng tranh lớn cao quá ngang đầu, vạch đuờng ra ở giữa đám tranh, trải một tấm nylon để nằm nghỉ lưng và canh chừng mọi động tĩnh chung quanh. Nếu có nguời đi tới thì chúng tôi sẽ thấy dễ dàng để tìm đường lẫn tránh, nhưng nguợc lại họ sẽ không thấy chúng tôi được vì tranh cao quá khỏi đầu. Khi đó hỏi chuyện nhau mới biết tên hai nguời đi chui theo, đó là Tường phi công phản lực A37 và một nguời nữa tên là Thạch, hình như là nguời Việt gốc Hoa, tôi không biết đơn vị, cả hai anh đều mang dép nên rất khó đi.
     Sáng sớm hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đuờng sau khi xóa mọi dấu vết. Khi đi thỉnh thoảng gặp các bẫy của người Thuợng rất là nguy hiểm, như bẫy cò ke, nếu vướng chân vào thì cần bật sẽ bung lên rất là mạnh, có thể làm bị thương, hay bẫy bắn tên khi đụng vào cần bật thì bao nhiêu mũi tên tẩm thuốc độc sẽ bắn xuống. Vì vậy khi thấy khả nghi là phải dừng lại xem xét cho thật kỹ rồi tránh xa ra. Chúng tôi rất khát nước vì đi cả ngày mồ hôi ra nhiều mà không có miếng nước uống nên khát dữ lắm. Gặp một cây nói là trái gấm, Bình leo lên hái xuống ăn thử, vừa ngứa miệng, vừa khát nước thêm. Có lần gặp được nước đọng trong các lằn bánh xe bò và trên những lá cây khô còn đọng nước của những trận mưa truớc, chúng tôi góp nhặt lại hớp những giọt nước đó cho đỡ khát.

Đến chiều thì trong lúc đang đi bất chợt gặp một em bé trai độ 11, 12 tuổi đang lang thang trong rừng. Chúng tôi giả dạng như là cán bộ đi khảo sát địa chất và hỏi em bé ở đâu có suối, thì em bé đó chỉ về hướng trước mặt, đi thêm vài chục thước là thấy suối, một con suối rất lớn. Nhìn ở phía xa kia là một khu rừng đã được phát quang và có các cây to bị đốt cháy nám đen, một đám người đang cuốc đất làm rẫy, chắc là dân vùng kinh tế mới. Chúng tôi lội xuống suối uống một bụng nước thật no nê. Sau đó chúng tôi tìm chỗ bụi lùm kín đáo để nấu cơm, nấu bằng lon guigoz, hai đứa thay phiên nhau quạt để khói đừng bốc lên cao. Chúng tôi ăn bữa cơm này thật là ngon, ăn cơm nóng với bột ngọt trong gói mì.

     Sau khi ăn xong, trời đã xế chiều, chúng tôi thấy đoàn nguời làm rẫy đi về nhà đi theo hướng Đông, như vậy là ra Quốc lộ 13, nên chúng tôi đợi cho họ đi hết rồi mới men theo con đuờng mòn đó để đi cho nhanh. Đi độ chừng một tiếng đồng hồ thì ra tới ấp, tôi đoán chừng là vùng Tân Khai hay Tàu Ô, nằm cạnh Quốc lộ 13. Thấp thoáng nhìn từ xa thì thấy có lớp hàng rào tre bao bọc, và hình như có cổng ra vào, giống như một trại tập trung, nên chúng tôi không dám đến gần và cũng không muốn vô đó làm gì.
     Sau khi trời xụp tối thì chúng tôi tiếp tục đi, chúng tôi dự định đi trong bìa rừng theo đường rầy xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh nằm song song với Quốc lộ 13 để đi, dự định sẽ đi qua khỏi quận Chơn Thành, rồi mới ra đường đón xe. Riêng hai nguời trốn theo là Tuờng và Thạch thì không dám đi nữa, mà họ có cho địa chỉ nếu ai về được đến Sài Gòn thì nhắn dùm gia đình họ lên đón. Chúng tôi ba đứa đi lần mò trong đêm và vì trời tối quá nên không đi đuợc bao xa, mà đành phải dừng lại nghỉ qua đêm.

Sáng sớm hôm sau lên đường đi tiếp, đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ bên cạnh một cái ao nhỏ xung quanh có cây cối um tùm, dễ ẩn náu để nấu cơm ăn. Xong rồi lại đi tiếp, đến chiều chạng vạng tối thì đến một cái ấp khác, một xóm nhà lô nhô ngoài gần quốc lộ, chúng tôi ở bìa rừng trốn trong hầm hố cũ đuợc che phủ bởi những lùm tre rất kín đáo. Buổi chiều dân trong làng đi lao động về, họ đi ngang qua khá gần chỗ chúng tôi đang trốn, tiếng chó sủa dữ dội nhưng họ không để ý mà chỉ lo đi cho mau về nhà.

     Chiều hôm đó nằm nghe tiếng chó sủa, tiếng trẻ con đùa giỡn trên đường, nhìn khói lam chiều từ một mái nhà tranh quyện bay lên không trung mà lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn. Chạnh lòng nhớ đến vợ con, thầm nghĩ đến một mái ấm gia đình bên vợ hiền con thơ mà tôi uớc mơ đuợc như họ. Được sống đầm ấm trong một căn nhà tranh vách đất ở một miền thôn quê rừng núi nào đó. Nhưng nghĩ lại thân phận tôi là một người tù trốn trại, tương lai rất mờ mịt, không biết ngày mai sẽ ra sao. Một ước muốn tầm thuờng, được làm một nguời dân bình thường để sống mà lo cho gia đinh nuôi vợ nuôi con cũng không được. Tôi buồn cho thân phận bơ vơ lạc lõng của tôi trong cái xã hội mới này. Hoàn cảnh của tôi thật đúng với câu “nước mất nhà tan, gia đình ly tán”. 
     Đêm đó chúng tôi khát nước vô cùng, cồn cào lên cổ họng. Bình với ý định lẻn vô nhà dân để xin nước uống, nhưng tôi với Thu cản lại, vì bao công trình giờ rủi ro vô gặp phải nhà của công an thì nguy khốn, đành chịu nhịn khát qua đêm. Nhưng không ngờ đến khoảng nửa đêm thì trời đổ xuống một trận mưa thật lớn. Chúng tôi mừng quá lấy tấm nylon ra căng để hứng nuớc uống. Uống no bụng xong rồi, đổ đầy vô lon guigoz mà trời vẫn tiếp tục mưa càng lúc càng lớn. Chúng tôi bị lạnh quá phải ôm lấy nhau trên đầu phủ tấm nylon và mỗi đứa phải lo ôm thật chặt bộ quần áo tốt ở trong bọc nylon, ôm kỹ ở trước ngực để gưữ cho khô. Trận mưa này thật lớn thật lâu sau cùng rồi cũng dứt hẳn. Vì không thể đi tiếp trong rừng cho đến quận Chơn Thành, vì đường còn xa mà đường rầy xe lửa thì không còn nguyên như truớc nữa, mà chỉ còn là những đám rừng tre che phủ um tùm rất là khó đi, chỉ có thể chui lòn dưới đám tre gai, cho nên chúng tôi quyết định là sẽ chia tay nhau ở đây, phân tán ra mỗi nguời tự tìm cách để đi về Sài Gòn rồi sẽ gặp lại nhau sau.

Trời hừng sáng chúng tôi thay bộ đồ thật tốt thật tươm tất, đồ đạc còn lại đem chôn dấu trong bụi, xong chờ cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là lần lượt ra đường, lựa khoảng trống giữa hai nhà mà ra đón xe. Bình lên đường trước tiên, một lúc sau thì đến Thu, và tôi là người ra đường sau cùng. Khi bước ra quốc lộ 13 tôi lấy bình tĩnh đi men theo bên đường chờ đón xe. Tôi không thấy Bình đâu hết mà chỉ thấy Thu đang đi phía truớc tôi một khoảng xa. Có chiếc xe Lam (xe ba bánh chở hành khách hiệu Lambretta) chạy trờ tới tôi liền đón để đi, vì xe đã đầy nguời nên tôi phải đeo theo xe đứng ở phía sau. Thu cũng lên được chiếc xe đi trước tôi. Xe chạy qua cầu Tàu Ô và như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ ở giửa khoảng Tàu Ô – Tân Khai. Trước kia, đây là đoạn đường nguy hiểm nhứt của quốc lộ máu mang số 13 và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận chiến vô cùng ác liệt, mà dấu vết các hầm hố còn lại rất nhiều, dọc theo bìa rừng trông ra quốc lộ.

     Khi xe vô quận lỵ Chơn Thành tôi xuống xe ở đầu ấp Chơn Thành 2 để đi bộ vô, vì sợ vô tới bến xe sẽ gặp công an. Đi bộ dọc theo con đuờng vào quận lỵ, tôi nhớ lại các nơi mà ngày xưa quen biết như Trại cưa Lê Quang, Trại cưa Mai Chấn Hung, Lò than ông Năm Thãnh, sau này ông Năm Thãnh cũng lập thêm trại cưa. Đi gần đến chợ là đến bến xe và tại ngã tư đường đi Đồng Xoài có một đồn cảnh sát hồi xưa, bây giờ là đồn công an Việt Cộng. Tôi dự định đi bộ ra khỏi quận lỵ rồi mới đón xe để đi Bình Dương. Tôi đi ngang qua dãy phố chợ mà ngày xưa có các tiệm ăn như Nghĩa Thành, Bạch Tuyết, nổi tiếng với món canh chua cá lóc, cá kho tộ. Đi ngang qua ngôi chùa, qua cây cầu là gần đến đầu quận lỵ. Tôi nhìn thấy Thu đang đi phía truớc bỗng dưng đổi huớng qua trái tấp vô một quán nước. Tôi nhìn kỹ về phía truớc phía bên phải thì thấy có một trạm kiểm soát nên tôi cũng đổi hướng qua trái tấp vô một quán nuớc. Tôi nhớ mài mại hình như đây là quán của bà Năm Chích, có cô con gái ra tiếp. Tôi kêu một ly cà phê, ngồi uống để quan sát coi trạm kiểm soát đó nó hoạt động như thế nào. Tôi thấy rõ hai thằng công an coi tù ở trong trại ra đây chận xét xe để nhìn mặt bắt chúng tôi, hai tên này đứng bên cạnh trạm kiểm soát tài nguyên. Mỗi khi xe đến đó, tài xế vô trình giấy tờ cho trạm kiểm soát tài nguyên ở bên trong, thì hai tên công an đứng bên ngoài đi ra lục soát xe.
     Tôi đoán chắc là nó sẽ bố trí chận xét ở đây để bắt tù trốn trại, vì đây là quân lỵ gần nhất, mà muốn ra khỏi quận thì phải đi ngang qua trạm kiểm soát này. Nếu đi bằng xe đạp, xe thồ, mặc đồ như nguời đi làm cây làm củi trong rừng thì mới lọt qua đuợc. Còn nếu bây giờ băng vô trong rừng để đi bọc qua thì cũng sợ gặp phải người lạ mặt họ dễ nghi ngờ, vì mình mặc đồ sạch sẽ tươm tất quá. Tôi còn đang phân vân không biết phải làm cách nào để qua khỏi trạm kiểm soát này, thì thấy Thu đi ngược trở lại, ngang qua chổ tôi. Thu trở lại bến xe để đón xe đi, còn Bình thì không còn thấy tâm dạng đâu hết, chắc là đã đi thoát rồi.
     Tôi ngồi chờ một hồi thì thấy chiếc xe lô chạy trờ tới, tôi nhìn thấy Thu ngồi ở băng sau cùng. Xe tới trạm kiểm soát thì ngừng lại, trong khi người tài xế vô trình giấy tờ thì một tên công an đi ra nhìn vào xe, một lúc sau thì tài xế trở ra và nó cho xe chạy đi. Tôi mừng cho Thu đã thoát nạn, giờ đây chỉ còn lại một mình tôi, tôi không còn biết cách nào khác hơn là trở lại bến xe để đón xe đi. Đây là chổ nguy hiểm nhứt mà tôi cố tránh nhưng không đuợc nên đành phải liều mạng.
     Khi vô bến xe thì thấy có một chiếc xe lô, loại xe nhỏ để chở khách, tôi thấy xe trống trơn chưa có ai, tôi lên ngồi băng sau cùng. Ngồi một lúc lâu thấy nóng ruột nên mới hỏi bác tài là xe chừng nào chạy, ông ta nói chờ khách lên đầy thì đi, mà thường là khách ở trong Minh Thạnh ra nhiều. Tôi hơi lo vì khách ở trong Minh Thạnh ra có thể là công an trong trại ra đi phép. Ngồi một hồi lâu thì chợt có một tốp người đi buôn than họ lên gần đầy. Bỗng tôi thấy có hai đứa nhỏ độ hơn mười tuổi tay cầm một con gà, tay xách một giỏ đồ, tôi liền nhanh miệng kêu hai em bé đó vô ngồi gần bên tôi và tôi phụ xách dùm đồ, làm như vậy thấy đỡ trống trải vì có hai em nhỏ che đỡ phần nào.

Khi xe chạy tới trạm kiểm soát thì dừng lại, bác tài vào trình giấy tờ trong trại kiểm soát tài nguyên. Tôi thấy một thằng công an, đứng bên cạnh trạm kiểm soát, bước ra để nhìn mặt nguời trên xe. Nó nhìn vào băng trước, trên đó có hai người ngồi, tôi nghe tiếng quát tháo của tên công an là hai nguời ngồi đằng truớc là “tại sao đầu tóc để dài bù sù nhu cao bồi du đãng, đâu đưa giấy tờ coi”. Sau khi coi xong giấy tờ hai người phía truớc là nó liệng vô xe rồi ra lệnh cho đi một cách thật oai quyền. Cũng vừa lúc bác tài đã trở ra xe, bác tài liền rồ ga cho xe chạy đi, mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa thoát được một trạm kiểm soát thật là vô cùng nguy hiểm.

     Xe chạy qua khỏi Tham Rớt, Bầu Bàn, Bầu Lòng rồi đến quận Bến Cát, ở đây cũng có trạm kiểm soát nhưng là trạm kiểm soát tài nguyên nên không có gì trở ngại. Xe chạy về tới Chánh Hiệp Bình Dương, một trạm kiểm soát rất lớn, nơi cửa ngỏ vô thành phố nên xe đậu nối đuôi nhau rất dài. Chiếc xe tôi đi là xe nhỏ chở than lậu nên tài xế đã biết cách vô trình giấy tờ và nộp tiền mãi lộ là xong ngay. Xe đi tiếp vô thành phố vào đậu ở bến xe, tôi xuống xe cũng vẫn còn nắm tay hai em bé vô mua giấy xe để về Sài Gòn, vì hai em bé đó cũng về Sài Gòn. Tôi thấy người ta sắp thành hàng dài để chờ mua vé xe, tôi cũng sắp vô hàng chờ đợi. Nhưng khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy mỗi người khi mua vé xe đều phải trình ra một thứ giấy tờ gì đó, hình như là giấy phép đi đường hay là giấy căn cước, mà trong mình tôi thì không có thứ giấy tờ nào nên tôi hơi sợ, nên mới nói với hai em nhỏ là cứ sắp hàng để mua vé về Sài Gòn truớc đi còn tôi thì sẽ đi sau. Tôi bỏ ra ngoài tìm đường khác để đi, chớ khi mua vé họ hỏi đến giấy tờ là mình không biết trả lời ra sao, vì trong mình tôi không có thứ giấy tờ nào hết. Tôi vào quán nước kêu ly nước đá chanh vừa uống vừa quan sát để tính kế. Bỗng chợt thấy xe Honda ôm, tôi liền nghĩ ra phương cách hay nhứt để đi về Sài Gòn là bằng xe ôm. Tôi dự định là sẽ về nhà của chị Đồ ở Phú Thọ. Trong những lần đi thăm nuôi, vợ tôi thường đi chung với chị Đồ nên hai gia đinh rất thân nhau và trước khi trốn trại tôi có dọ hỏi anh Đồ địa chỉ nhà cho thật kỷ, thật đầy đủ chi tiết đuờng đi nước bước, làm sao vô nhà, đi vô ngõ hẻm nào v.v…. Tôi chỉ hỏi chơi chơi chứ không cho anh biết ý định trốn trại của tôi.
     Anh lái xe ôm ra giá đi Sài Gòn là 50 đồng, tôi không có đủ tiền nhưng tôi nói với anh là đưa tôi về đến nhà tôi lấy tiền rồi trả sau. Sau khi bằng lòng giá cả anh ta mới đi đổ xăng và trở lại đón tôi. Trên đường đi tôi cũng nói thêm với anh là tôi vừa ở vùng kinh tế mới về, bị mất hết giấy tờ nên nhờ anh chạy làm sao để tránh các trạm kiểm soát. Anh ta nói là tụi công an nó chỉ xét coi có buôn đồ lậu, chứ như ông đi mình không, thì không có gì để xét thì đừng có lo. Tôi nghe mừng trong bụng và trong lúc đi đuờng tôi có hỏi chuyện thì anh có cho biết hồi truớc anh là lính của Sư đoàn 5 Bộ Binh. Nghe biết vậy thôi chứ tôi cũng không có hỏi thêm gì về chuyện ngày trước. Xe chạy qua các trạm kiểm soát Búng, Lái Thiêu rồi Bình Triệu. Thấy xe kẹt đậu dài dài để chờ xét, còn xe Honda ôm này chạy qua hết mà không bị hỏi han gì và sau cùng vô Sài Gòn qua ngả cầu cư xá Thanh Đa rồi qua cầu Phan Thanh Giản và chạy trên đường Phan Thanh Giản để về Phú Thọ.
     Nhìn quang cảnh thành phố Sài Gòn sau 5 năm trở lại, tôi cảm thấy như bơ vơ lạc lõng, như lạc vào một thế giới nào xa lạ lắm. Đây không phải là thủ đô Sài Gòn năm xưa, một thời đã từng đuợc mệnh danh là một  “Hòn Ngọc Viễn Đông”.  Nay tôi thấy trên đường toàn là xe đạp, mà người người trông lam lũ tả tơi, không cười không nói, với dáng vẻ buồn thiu ảm đạm, thật đúng với câu “nguời buồn mà cảnh có vui đâu bao giờ”.

Khi đến Phú Thọ, xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ, một số con nít chạy theo. Khi xe vô đúng số nhà mà tôi đã học thuộc lòng, tôi gỏ cửa và chị Đồ ra mở cửa. Khi thấy tôi chị buột miệng la lên: “Ủa anh Thạch mới đuợc thả về, còn ông Đồ của tôi đâu”. Tôi lật đật nói nhanh là tôi mới đuợc thả về và xin mượn chị 50 đồng để trả tiền xe. Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe. Khi xe đi rồi và đám con nít đã tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là tôi trốn trại và nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay. Chị hốt hoảng cho biết là mới vừa tuần truớc đây thằng em trai của chị vừa mới vượt biên đã đi thoát được. Nhà chị đang bị công an phường khóm điều tra theo dõi, cho nên chị không dám chứa tôi trong nhà, mà bảo tôi ra ngoài đường đón xe autobus để ra bến xe Xa Cảng miền Tây, ở Phú Lâm, rồi sẽ tính sau. Trước khi đi tôi còn hỏi mượn chị đôi giày, vì đôi giày tôi đang đi là loại giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không tiện. Chị cho tôi mượn đôi giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị nói là chị sẽ đem lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới.

     Tôi ra khỏi hẻm ra ngoài đuờng thì thấy có một quán hủ tiếu, tôi liền tấp vô ăn một tô hủ tiếu, uống một ly cà phê sữa, rồi mới ra đón xe autobus để đi ra Xa Cảng miền Tây. Khi ra đến bến xe Xa Cảng miền Tây, tôi thấy cả một rừng nguời hỗn độn la liệt khắp nơi. Họ trải chiếu, trải tấm nylon hay kê tấm ván tùm lum tứ tung không theo một lề lối nào cả. Hỏi ra mới biết đây là những nguời bỏ vùng kinh tế mới trở về, nhà cửa bị tịch thu không nơi nương tựa đành phải sống lang thang đầu đường xó chợ bến xe. Sau khi thấy cảnh hổn độn này tôi nghĩ thầm là mình có thể trà trộn để ngủ tạm qua đêm ở đây.
     Trong khi đó thì chị Đồ đạp xe đạp từ Phú Thọ vô Gia Định để báo tin cho vợ tôi biết. Sau này gia đình kể lại là khi chị Đồ vào nhà, chị rất lo sợ có người theo dõi, nên chị kéo vợ tôi ra phía sau nhà, không cho mấy đứa con tôi lại gần, rồi chị mới nói cho vợ tôi hay là tôi đã trốn trại. Tôi đang ngồi uống nước đá chanh ở xe nước đá và định chỗ ngủ qua đêm, thì bỗng thấy chị Đồ đạp xe đạp ra tới. Chị đưa cho tôi 50 đồng và một giấy cử tri của vợ tôi gởi và căn dặn tôi sáng mai ra mua vé xe đò để về Mỷ Tho.

Sáng sớm hôm sau trước khi ra bến xe tôi đi tìm nhà của Thạch, là một trong hai người trốn chui theo. Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng và có dặn là nếu ai có thoát về được Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ biết tin, để tìm cách lên đón. Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở gần Phú Lâm nên tôi sẵn dịp ghé qua báo tin. Lúc đó trời còn lờ mờ chưa sáng hẳn, đường vắng vẻ. Khi đi ngang qua trạm xe chữa lửa có vài tên công an đang đứng nói chuyện ở phía truớc, tôi cố giử bình tỉnh khi đi ngang qua. Sau cùng tôi tìm được nhà của Thạch, tôi gõ cửa một hồi thì có người ra mở cửa nhưng với dáng vẻ bực bội vì tôi đánh thức họ quá sớm. Tôi hỏi có phải là nhà của Thạch không, thì họ không trả lời mà đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ một lúc, vì tiếc là không báo tin cho gia đinh Thạch được. Tôi cũng không biết là có đúng nhà không, hay là họ sợ không dám tiếp tôi. Cho đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì về hai nguời trốn chui theo, có thoát được không và bây giờ ra sao.

     Tôi trở ra bến xe ngồi xếp hàng chờ để mua vé xe về Mỷ Tho, trong túi có 50 đồng và thẻ cử tri nên thấy hơi yên tâm. Một hàng rất dài ngồi chờ mua vé xe rồi từ từ nhích lần lên. Tôi ngồi chòm hỏm hai tay bó gối gục đầu rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng đâu có nguời vỗ vai kêu tên tôi, tôi giật mình nhìn lên thì thấy chị Đồ, chị bảo tôi vô quán nước ở bên kia đuờng để gặp bà xã tôi. Vừa mừng vừa lo, chỉ sợ công an theo dõi vợ tôi để đón bắt tôi nên tôi hơi luỡng lự. Chị Đồ vô đứng thế chổ tôi để mua vé xe.

Tôi vô quán để gặp bà xã tôi, vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu, bánh bao, xiếu mại v.v…. Bà xã tôi kêu tôi ăn đi ăn đi. Tôi hỏi coi có ai biết hay theo dõi gì không, thì thấy không có dấu hiệu gì. Ba đứa con tôi đang ở nhà chưa hay biết gì về chuyện này. Sau này kể lại mới biết là chúng nó đói khổ lắm, đâu có được ăn hủ tiếu bánh bao như thế này. Từ ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp, có bao giờ dám ăn các món cao lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ tôi cùng ăn, bà xã tôi cứ kêu tôi ăn đi ăn đi. Phần thì lo sợ công an nó theo dõi, phần thì không biết là về Mỹ Tho rồi sẽ làm gì, nên tôi cố nhét cho đầy bụng rồi đi liền. Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỹ Tho, mà nên ở nhà lo cho mấy đứa con còn nhỏ dại, đừng để bị nguy hiểm cho cả hai, rồi không ai lo cho các con.

     Tôi trở ra chỗ mua vé xe thì chị Đồ đã mua vé xong xuôi và chị còn cẩn thận mua cho tôi tờ báo Nhân dân, chị bảo lên xe đọc báo này người ta tưởng là cán bộ. Tôi lên xe ngồi gần băng phía sau. Xe chạy qua hết các trạm kiểm soát một cách dễ dàng vì ở mỗi trạm bác tài đều biết thủ tục đầu tiên, là tiền đâu. Qua Bình Chánh, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương rồi vô thành phố Mỹ Tho.
     Xe vô đến bến, tôi xuống xe và vô tìm đứa em gái tôi. Vợ tôi có cho biết là em gái tôi bây giờ làm ở tổ hợp may mặc phường 4 ở bến xe này. Mới vừa vô gặp mặt em tôi, nó mừng rỡ rồi la lớn “Ủa anh Tư mới đuợc thả về”. Tôi hơi bối rối vì sát bên cạnh tiệm may là đồn công an phường 4, có một số công an đang đứng gần đó sợ nó nghe được. Tôi giả bộ như thiệt nói một hơi là anh mới đuợc thả về bây giờ em có rảnh ra quán uống nuớc. Em tôi lật đật xin phép bà hội truởng hợp tác xã rồi đi liền. Ra tới quán nuớc tôi mới nói thiệt với em tôi là tôi trốn trại. Em tôi giật mình mặt tái xanh vì quá bất ngờ. Tôi dặn dò em tôi về nhà cho má hay và coi chung quanh có ai không rồi cho anh biết để anh về nhà. Em tôi đạp xe đạp chạy về báo tin xong trở lại làm việc, còn tôi một mình đi bộ về nhà. Má tôi đã biết truớc nên đã mở cửa sẳn chờ. Khi vô nhà tôi đi thật nhanh và đi thẳng ra phía sau nhà vì sợ lối xóm nhìn thấy.
     Sau đó em tôi đi làm về có mua cho tôi một dĩa cơm suờn và hôm sau là cơm tấm bì chả và mua hủ tiếu bánh bao v.v…. toàn là các món ăn ngon đắt tiền mà tôi cũng quên hỏi là em tôi đi may lương tháng bao nhiêu. Má tôi thì già yếu không có làm gì ra tiền. Hồi truớc Má tôi đi may đồ quần áo ở trong nhà thương Mỷ Tho, nhưng đã nghỉ lâu rồi. Sau này mới biết là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo, đôi khi còn phải bán máu để đổi lấy mấy bát cơm, thì nói gì đến thức ăn sang trọng. Thì ra em tôi chạy qua Chợ Củ để xin Cô tôi. Cô Ba tôi có mở tiệm ăn, Cô rất thương tôi, vì vậy khi hay tin tôi về, cô tôi liền gởi cơm và đồ ăn rất ngon qua cho tôi.
     Ở đây đuợc mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi làm cho tôi càng thêm lo sợ, vì sợ công an theo dõi. Tôi mới tính tìm đuờng vuợt biên chớ ở đây lâu thế nào cũng bị bại lộ. Mà tìm đuờng dây để vượt biên không phải là chuyện dễ dàng.  Phần thì không có tiền, phần thì không dám đi lại nên cũng không biết cách nào để vuợt biên, mà tội vuợt biên lúc đó bị coi như là tội phản quốc, chạy theo đế quốc, bọn công an biên phòng bắt đuợc là chỉ có chết. Hồi đó đã có xảy ra những cảnh vuợt biên bị đổ bể, bị công an tàn sát như ở cầu Chữ Y Sài Gòn, như ở bãi biển Vũng Tàu, nhu ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa biển Gò Công v.v…. Họ tàn sát không nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ thơ, hay những lời van xin lạy lục, của những nguời khốn khổ cùng đuờng. Tôi dự định nếu không tìm được đuờng đi bằng ghe tàu, thì như đã hẹn với Thu và Bình, là sau một tháng chúng tôi sẽ gặp lại nhau, để bàn tính để đi bằng đuờng bộ.

Vợ tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của tôi. Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai, vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn. Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ, thì có một người anh bà con cô cậu, đi cùng với một nguời bạn, xuống thăm để từ giã Má tôi, để sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia, và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên, và anh muốn xin địa chỉ của em tôi, hiện đang sống ở Mỹ, để anh liên lạc khi cần. Thật là một điều quá may mắn cho tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn.

     Thế là phải trở về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đuờng đi Kampuchia. Tôi từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà Nội. Tôi và vợ tôi đi theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn. Tôi ra đi mà lòng buồn vô hạn, rồi không biết sẽ đi tới đâu trên buớc đuờng bôn ba vô định này. Ở lại Mỷ Tho thì không được, mà đi qua Kampuchia thì cũng không biết ra sao, thật là đau lòng truớc cảnh chia tay, rồi đây không biết có còn được gặp lại nhau. Trong đêm đó hai bà cháu đã tụng niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được bình an. Trời đã tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài Gòn. Chúng tôi đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương, hy vọng ở đó sẽ có nhiều xe miền Tây lên, dể đón hơn. Ông xe lôi, đạp không muốn nổi, vì trên xe có tới 4 nguời, nên chúng tôi phải thay phiên nhau nhảy xuống để đẩy phụ, nhứt là khi lên dốc cầu Trung An, thì phải nhảy xuống hết rồi qua cầu mới nhảy lên lại.
     Vô tới ngã ba Trung Lương là trời đã tối, nên không còn thấy xe miền Tây nào hết, mà chỉ thấy có một chiếc xe hàng bị hư máy và nguời tài xế đang sửa chửa. Chúng tôi mon men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi xin quá giang về Sài Gòn, nhưng ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ điều gì nên lắc đầu trả lời một cách sẳn giọng là xe đang hư mà làm sao cho quá giang đuợc, vì vậy chúng tôi lại lủi thủi đi tiếp. Ở đây có một trạm công an khá lớn để xét xe từ miền Tây lên, nên có nhiều công an ở đồn bót này, nên trong đêm tối mà đi lang thang ở đây cũng nguy hiểm lắm. Tình cờ có một chiếc xe lô chạy từ Mỷ Tho lên huớng về Sài Gòn, chúng tôi mừng quá đón ngoắc lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một khoảng, rồi bỗng đâu xe dừng lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang. Bác tài chỉ cho đi quá giang một quãng đuờng lên đến Tân Hương để đón xe khác mà đi, vì xe này đi về nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn.
     Trong khi xe đang chạy và qua tài giao thiệp của anh Long, cũng là lơ xe, nên anh biết nhiều nguời trong nghề xe đo nên câu chuyện dần dần trở nên thân mật và bác tài dần dần có cảm tình với chúng tôi. Và sẳn đó anh Long đề nghị bao xe đi Phú Lâm rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách cho chuyến trở về. Vợ tôi móc trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị bao xe 200 đồng và nhờ anh Long nói thêm vô, nên sau cùng bác tài chịu đi Phú Lâm với giá 200 đồng. Thật là hết sức may mắn, chớ nếu tới Tân Hương chưa chắc gì có xe để đi, mà nếu không lên kịp Sài Gòn trong đêm nay thì ngày mai xe sẽ đi sớm rồi, sẽ mất đi một dịp may hiếm có ngàn vàng.
     Khi xe chạy qua khỏi trạm công an Tân Huong một quảng, thì gặp một tốp công an ra chận đuờng. Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác, chỉ có gia đinh tôi, nên rất khó xoay sở trà trộn. Tôi có ý dò hỏi bác tài coi tính sao, nhung bác tài cho biết là xe không có ngừng đâu vì tụi này là tụi chuyên chận xe dọc đuờng để ăn cuớp, bác tài rất rành về bọn này. Tôi nghe thế cũng thấy mừng thêm, vì thà là chạy luôn nó có bắn theo cũng khó trúng. Bác tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần bọn chúng thì tống hết ga vuợt nhanh qua, nên chúng trở tay không kịp, nên xe chạy vuợt qua một cách êm xuôi. Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế tiếp sợ tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn. Tôi hỏi ý bác tài thì bác tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo đừng có lo, nên tôi càng yên tâm tin tuởng bác tài muôn phần. Xe qua khỏi Tân An, Bến Lức, Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi.
     Sau khi trả tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối rồi mà còn phải chạy lo kiếm mượn tiền để đi. Chúng tôi về nhà của Nghĩa cũng ở gần đó, vợ chồng tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ. Vô tới nhà chị Đồ là đúng nửa đêm, giờ giới nghiêm. Chị Đồ không có sẳn vàng chị rút chiếc nhẩn đang đeo trên tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở. Tôi đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của Nghĩa trong lúc đã quá giờ nghiêm nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại thì trể chuyến xe sáng sớm mai đi. Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi, vợ tôi phải xuống xe đẩy phụ qua cầu, nguời của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh xao.
     Về tới nhà Nghĩa, là chúng tôi phải đi ngay đến chổ đậu xe, để kịp chui vô trong xe sắp xếp truớc khi trời sáng. Đây là chiếc xe hàng dân sự bị VC trưng dụng để chở chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên Kampuchia. Long là lơ xe của chiếc xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô trong đống chiếu mà tài xế không hay biết gì. Sau khi sắp lại đống chiếu, vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô, xong rồi Long mới gát hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên như cũ rất là kín đáo. Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với một gói muối.
     Ngoài hai chỉ vàng của chị Đồ cho muợn, vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cuới đang đeo ở tay đưa cho tôi, như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới. Lúc đó cũng khoảng 3,4 giờ sáng, vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn ngồi đâu đó để chờ sáng ra xe chạy. Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi biết là vợ tôi và má của Nghĩa khóc nhiều lắm, vì không biết chúng tôi đi làm sao, vì không ai có tiền hay có vàng đem theo, không biết rồi sẽ đi đến đâu. Riêng tôi thì tôi quyết ra đi mặc dầu không biết ra sao, nhưng vẫn còn tốt hơn là ở lại Việt Nam.

Sáng sớm hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang, nhìn qua khe ván ở sàn xe trời còn lờ mờ nghe tiếng nguời nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền. Khi đến trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì đây là chuyến xe công tác chở đồ cho bộ đội VC. Xe chạy càng nhanh đống chiếu trên đầu càng đe nặng, vì cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên vị trí củ, mà vì sự lúc lắc của chiếc xe đa làm lệch đi và hai đứa tôi phải đưa lưng chống đở sức nặng bên trên đè xuống. Tệ hại hơn nữa là dọc đuờng VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu chúng tôi. Nghe tiếng họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay trên đầu mình. Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng, vì chỉ sợ nó sụp xuống thì bị lộ ngay, rất là nguy hiểm. Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy nhanh rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên ngoài không thấy không biết.

     Đến chiều thì xe tới nơi đậu vào một chổ nào đó mà tôi nghe có tiếng nhạc của những bản nhạc ngày xua. Tôi mừng thầm vì được nghe lại những tiếng hát quen thuộc đầm ấm nồng nàn tràn đầy kỷ niệm của ngày truớc. Tiếng nhạc hòa lẫn tiếng nguời nói chuyện lao xao gần bên cạnh xe. Chúng tôi vẫn nằm im trong xe chờ khi nào có hiệu lệnh của Long thì mới ra đuợc. Một hồi lâu sau khi bên ngoài hoàn toàn im vắng và khi nghe ba tiếng hiệu lệnh của Long thì chúng tôi chui ra. Khi nhảy xuống xe, tôi không thể đứng được vì bị ngồi lâu trong thế co ro nên chân bị tê cứng, mà Long thì thúc hối phải đi khỏi nơi đây ngay vì sợ tài xế và an ninh đoàn xe họ biết, nên tôi và Nghĩa phải cố lết đi ra khỏi xe thật xa.
     Nhìn chung quanh, đây là một bồn binh khá lớn ở cuối đại lộ, bên cạnh một sân vận động, xe đậu một đoàn dài chừng vài chục chiếc, tài xế và lơ xe khá đông, có nhiều xe họ mang theo cả gia đinh vợ con với đồ đoàn nồi niêu soong chảo, nên tôi thấy cũng dễ trà trộn ẩn thân. Tối đó tôi và Nghĩa ngủ ở một đám cỏ bên cạnh đường khoảng giữa đoàn xe và không dám gần xe nào cả vì sợ họ báo với an ninh đoàn xe.
     Ngay tối hôm sau, tôi bán chiếc nhẩn cuới đuợc 75 đồng Riel, tiền Kampuchia, và nhờ Long môi giới mời một số tài xế lơ xe ra quán nuớc uống cà phê nghe nhạc, để tìm cách lân la làm quen gây cảm tình với họ. Tôi và Nghĩa đóng vai lơ xe, bạn với Long. Vì Nghĩa cũng là lơ xe nên nói chuyện dễ dàng, còn tôi thì cảm thấy hoàn toàn xa lạ, nên trong các câu giao tiếp tôi thuờng cuời nhiều hon là nói vì sợ bị bại lộ tông tích.

Ban ngày thì ra chợ Nam Vang, bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi nguời thấy, và vì không biết đường, mấy lần sau thì đi bộ. Đi ngang qua mấy con đuờng rất đẹp với hai hàng cây phủ mát bên đuờng, với những ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu villa của Pháp, giống nhu khu đường Duy Tân, Yên Đổ ở bên xứ mình. Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ là dinh của VC, treo cờ đỏ sao vàng và có lính canh truớc cổng. Mỗi khi đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi giấy tờ bất tử.

     Uống nuớc phong tên ở gần đó, ăn cơm thì mua của mấy gánh bán hàng rong, cơm một dĩa 10 đồng Riel. Ra ngoài chợ thì đi lòng vòng coi nhìn cái này cái nọ cho hết thì giờ, thỉnh thoảng công an chạy ruợt đuổi bắt người ở trong chợ, làm mình cũng sợ giật mình. Tôi thì có ý định tìm mua một quyển sách địa lý để coi bản đồ vùng Battambang, Siem Rệp, vùng biên giới Thái Lan. Họ bày bán sách cũ rất nhiều nhưng đều là tiếng Miên. Tôi lựa xem mấy cuốn sách có hình bản đồ rồi mua một quyển. Nhưng vì tôi không biết tiếng Miên mà mua sách Miên trong đó có hình bản đồ địa lý, nên họ có ý nghi ngờ. Mua xong tôi lật đật đi bộ về chổ đậu xe vì sợ họ báo với công an chợ. Sau khi nghiên cứu bản đồ để biết địa thế, đường đi nuớc buớc, cũng như khoảng cách bao xa. Tôi cố học thuộc lòng vùng Battambang, Siem Rep, vùng gần biên giới Thái Lan, rồi xé bỏ quyển sách đó ngay.
     Lúc bấy giờ bên Miên hoàn toàn do VC kiểm soát, thỉnh thoảng có mấy tên lính Miên trẻ mặt còn non choẹt, mang khẩu AK dài đụng tới đất. Ở đây họ mắc loa phóng thanh cứ sáng sớm và chiều tối là nghe tiếng nhạc Miên, một âm điệu đều đều nghe buồn não ruột, nghe nhớ nhà, nhớ vợ nhớ con, nhớ quê hương mình vô cùng. Cuộc đời tôi cũng không ngờ lại lưu lạc đến noi đây, xứ lạ quê nguời, rồi cũng không biết ngày mai sẽ ra sao. Nghĩ lại thân phận mình, lêu bêu bình bồng, mà cảm thấy buồn vô hạn.

Tôi lân la mấy quán nuớc làm quen hỏi chuyện để tìm đuờng đi, thì đuợc biết là xe lửa chạy từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn chạy nữa, bây giờ chỉ còn đuờng xe, nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm soát để chận bắt đào binh, nên rất khó mà lọt qua đuợc. Tôi ra phía đầu thành phố đường đi về huớng Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra sao. Tôi thấy rất ít xe đi về phía đó và họ kiểm soát rất kỹ. Xe thì không thấy loại xe đò chở khách, mà toàn là xe chở hàng hay xe quân sự. Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng thoát qua đuợc, giá mà còn xe lửa thì tốt hơn.

alt

     Ở đây đuợc ba ngày thì nghe tin đoàn xe được lệnh đi xuống hải cảng Kompong Som tức là Sihanoukville. Tôi không biết hải cảng này ra sao, nhưng nghe nói ở đó có tàu ngoại quốc ra vào. Trước đó tôi có dọ hỏi đuờng lên Battambang, thì họ nói là phải có nguời dẫn đuờng và phải trả bằng vàng, ít nhứt là hai lượng.  Trong mình tôi chỉ đuợc hai chỉ vàng thì làm sao mà đi và hơn nữa chúng tôi không biết tiếng Miên nên rất khó khăn, thành ra tôi đã bỏ ý định đi lên Battambang. Bây giờ nghe tin đi xuống hải cảng Kampong Som thì tôi thấy cứ đi đại xuống đó rồi sẽ tính sau, dầu sao ở hải cảng cũng còn có hy vọng hơn.
     Buổi trua hôm đó tôi và Nghĩa ra chợ mua một nải chuối, lên chùa Năm Tháp gần đó để cúng Phật, để cầu xin Đức Phật Từ Bi độ trì đưa đuờng dẫn lối cho chúng tôi thoát ra đuợc khỏi nạn cộng sản. Sau khi quỳ lạy cầu nguyện Đức Phật xong, khi đứng lên là không còn thấy nải chuối đâu hết, mà trong lúc chúng tôi quỳ lạy thì có nguời tới chớp nải chuối đi mất thật là nhanh.
     Đêm đó suy tính cách theo xe để đi, vì Long bảo phải tìm xe khác mà đi, chứ không được đi theo xe cũ vì sợ tài xế biết. Trong thời gian mấy ngày ở đó tôi cũng đã quen biết nhiều nên họ nhận cho tôi đi theo. Đoàn xe đi đến trạm kiểm soát thì ngừng lại để xét truớc khi ra khỏi thành phố, nhưng vì đoàn xe này có sự vụ lệnh đi công tác xuống hải cảng để chở hàng cho bộ đội VC nên không bị lục soát hay hỏi han gì và qua trạm kiểm soát này một cách dễ dàng.
     Trên đuờng đi VC đóng đồn dọc theo đường, thỉnh thoảng đón xe quá giang, nhưng tôi ngồi phía trước chung với tài xế và lơ xe, nên rất là yên tâm. Trên xe bác tài có khoe một khẩu súng AK47 đuợc phát cho mỗi xe, nhưng chưa chắc là bác tài đã biết sử dụng. Tôi nhớ bữa đó trời mua tầm tả và xe bị hư máy phải dừng lại để sửa chữa, nhưng bác tài rất rành nghề chỉ sửa một chút là xong ngay, nhưng phải câu một bình xăng phụ ở bên ngoài. Đến chiều thì xe đến hải cảng Kampong Som, xe dừng trước cổng trên con đường lộ đá dẫn vào hải cảng. Khi xe vừa đến nơi thì tài xế và lơ xe đi vô cổng một cách tự nhiên mà không bị hỏi giấy tờ gì hết, nên tôi, Long và Nghĩa cũng đi theo vô trong hải cảng một cách dễ dàng.

Hải cảng này ở xa khu dân cư, có mấy lớp hàng rào kẻm gai bao bọc chung quanh, và một trạm kiểm soát tại cổng chính ra vào, với một số công an biên phòng VC canh gác. Đóng trên một ngọn đồi gần đó là một đồn công an biên phòng. Bên trong hải cảng là một bến đá, xây bằng đá tảng, để tàu cặp bến. Tôi cố nhìn thật kỹ quanh bến tàu để tìm xem có chiếc tàu nào của nuớc tự do, nhưng tôi chỉ thấy toàn cờ đỏ búa lìềm, toàn cờ cộng sản, thật là thất vọng vô cùng. Gần bến tàu là hai nhà kho rất lớn bằng sắt cất theo kiểu tiền chế của Mỹ. Có một đuờng rầy xe lửa, và ở phía trong xó góc có vài toa xe lửa bỏ không, không thấy nguời lai vãng, gần đó có một phong tên nuớc. Ở phía ngoài cổng bên cạnh con đuờng lộ đá là một cái ao khá lớn, mà thỉnh thoảng thấy có công an đến câu cá. Chiều tối đó tôi trở ra xe để ngủ qua đêm.

     Sáng sớm hôm sau xe vô đậu truớc nhà kho lớn để chất hàng lên. Họ chất lên những bao bắp hột do nhân đạo quốc tế viện trợ để cứu đói cho dân Kampuchia, nay thực phẩm đó đuợc dùng để nuôi ăn cho bộ đội VC. Tôi chỉ còn bửa nay để đi lại thong thả trong hải cảng này, đến sáng mai khi đoàn xe đi rồi thì tôi không còn chuờng mặt ra đây đuợc nữa, vì bọn công an thấy sẽ biết ngay.
     Chúng tôi đang lân la trong hải cảng thì bỗng có một chiếc tàu tuần của công an biên phòng VC vào cặp bến để lấy nước ngọt ở cái phong tên nuớc. Khi đó họ có hỏi tụi tôi, có muốn mua mấy món đồ lậu như ruợu, thuốc lá, đồng hồ, máy radio cassette v.v….Chúng tôi làm bộ nhận chịu, nhưng hẹn với họ ngày mai sẽ gom tiền cho nhiều để mua một lần cho tiện. Họ nghe nói thế tuởng là trúng mối to. Sau khi lấy nuớc xong là họ đi, truớc khi rời bến họ rủ chúng tôi lên tàu. Long nhanh chân nhảy lên truớc, tôi còn đang luỡng lự ngần ngừ, vì không biết họ đi đâu và đi làm cái gì, họ không nói gì cả, chỉ rủ lên tàu để đi thế thôi. Long đã ở trên tàu rồi nên thúc hối tôi lên tàu. Khi tàu mở dây cột tàu sắp chạy và vì sự thúc hối của Long nên tôi cũng nhảy lên theo, còn Nghĩa thì không đi.
     Tàu chạy ra ngoài, nghe họ kể về những chuyện đi bắt ghe tàu vuợt biên. Họ đã bắt rất nhiều ghe tàu vuợt biên và lên giọng rất là sắt máu. Nguyền rủa những nguời vuợt biên là bọn phản quốc, chạy ra nuớc ngoài, bám chân đế quốc để ăn bơ thừa sữa cặn v.v… Tôi thầm nghĩ đến những chiếc ghe tàu vuợt biên nếu bị chiếc tàu tuần này bắt, thì coi như là thân tàn ma dại. Có những chuyến ghe tàu vuợt biên bị công an VC xả súng tàn sát mặc dầu họ biết đa số là đàn bà con trẻ.
     Họ dẫn chúng tôi xuống hầm tàu để quảng cáo mấy món hàng mà chúng tôi hứa sẽ mua. Tàu chạy một lúc rồi cặp bến vô đậu trong căn cứ hải quân của chúng, rồi bảo chúng tôi lên bờ. Tôi cứ tuởng là tàu trở lại bến cũ cho mình lên, ai dè lại vô căn cứ VC nên cũng hơi ngại ngại. Hai đứa tôi đi ra cổng và đi theo con đuờng lộ đá dẫn vô bờ. Căn cứ này nằm xa bờ chừng vài chục thuớc, có con đuờng lộ đá làm bằng những tảng đá núi mà xe loại lớn có thể chạy đuợc.
     Vô tới bờ đi bộ nguợc trở về hải cảng, dọc theo bờ biển thấy có một xóm chài, có một số tàu đánh cá, hai đứa tôi vô hỏi thăm. Lên một chiếc tàu thì gặp một nguời có mang một khẩu súng AK47, lỡ rồi nên tôi làm bộ hỏi để mua cá. Anh này nguời Miên gốc Việt nên nói được tiếng Việt. Anh ta ngó tới ngó lui rồi hỏi tụi tôi có muốn vuợt biên không. Chắc có lẽ họ thấy bộ dạng mình vô đây là định tìm đuờng vuợt biên nên mới hỏi thẳng như vậy. Thấy anh ta có súng thì hơi sợ, nhưng trong bụng thì muốn tìm cơ hội để đi, nên tôi cũng trả lời lưng chừng là bây giờ mà tính chuyện vuợt biên đâu phải dễ, tụi tôi ở đoàn xe vận tải đang đi công tác ở hải cảng. Ông ta tiếp thêm là nếu muốn vuợt biên thì ba ngày nữa trở lại đây rồi họ sẽ đưa ra hải đảo, ở đó họ sẽ chuyển qua tàu đánh cá Thái Lan, mỗi nguời hai lượng vàng, ba ngày nữa tàu sẽ ra khơi, nếu muốn đi thì lại đây. Nói xong ông ta cho một con cá to và hối tụi tôi đi ngay, vì ở đây lâu không tiện dễ bị nghi ngờ.
     Tôi và Long trở về hải cảng, trên đuờng đi thỉnh thoảng gặp các toán tuần tiểu của công an biên phòng, họ đi tuần tra dọc theo bờ biển. Chúng tôi giả vờ mò cua bắt cá trong các hóc kẻ đá, khi họ đi qua khỏi rồi thì tiếp tục đi. Đi bộ một đoạn đường khá xa chừng vài cây số. Khi về đến chỗ đậu xe thì thấy có gánh bán cơm, tôi đổi cho họ con cá để lấy hai dĩa cơm. Sau khi ăn xong, tôi bàn với Long và Nghĩa là tối nay phải vô ngủ ở trong hải cảng, vì sáng sớm đoàn xe sẽ chạy trở về Nam Vang, khi đó thì mình không còn có chỗ ẩn thân ở bên ngoài đuợc. Long và Nghĩa thì có ý định trở lại Nam Vang, rồi trở về Việt Nam kiếm thêm tiền, vàng rồi trở qua đây, để đi theo mấy ghe tàu đánh cá. Riêng tôi thì tôi quyết tâm ở lại, kiếm chỗ ẩn náu quanh đây, may ra có dịp tìm đường đi, chớ quay trở lại Việt Nam thì không thể đuợc. Tôi quyết tâm là sẽ đi tới mãi chớ không quay lui. Riêng Long và Nghĩa đều là lơ xe nên chuyện đi hay trở về đều không có gì là nguy hiểm cả. Sau khi bàn tính một lúc thì Long và Nghĩa đồng ý ở lại vì thấy tôi quá quyết tâm. Chúng tôi mua ba ỗ bánh mì và lấy theo một bình nuớc rồi vô trong hải cảng ngay, truớc khi trời tối.
     Tôi đã để ý từ truớc thấy có mấy goong xe lửa bỏ không ở một xó góc không có nguời lui tới. Vì vậy chúng tôi đợi đến khi trời tối, kín đáo lẻn vô trong toa xe đó và trốn luôn trong đó. Ngồi trong goong xe nhìn qua khe ván thấy đồn công an canh gác ở cổng cũng không xa lắm, vì vậy chúng tôi phải giữ gìn thật hết sức im lặng, đề phòng thật kỹ luỡng. Trong những lúc nguy hiểm tôi thuờng cảnh giác thức suốt đêm, quan sát nghe ngóng mọi động tịnh bên ngoài. Sợ khi ngủ hết, lỡ mà có nguời nào ngủ mớ la hoảng hay phát ra tiếng ngáy thì nguy hiểm lắm.
     Khi trời sáng hẳn, tiếng đoàn xe rời hải cảng để trở về Nam Vang. Lúc bấy giờ bên ngoài không còn nguời lui tới, không còn thấy bóng dáng tài xế hay lơ xe nữa, vì vậy chúng tôi phải ẩn mình cho thật kỹ.  Chúng tôi nằm im trong toa xe lửa đó, buổi trưa trời nóng như thiêu, chúng tôi cởi trần, nhờ khe ván hở nên cũng không đến đỗi nào. Tôi chỉ sợ nếu có nguời muốn sử dụng goong xe này, họ đến kéo đi thì rất là nguy, chúng tôi sẽ bị phát giác ngay.
     Cho đến chiều thì may quá có một đoàn xe khác xuống cùng vào đậu ở phía cổng như truớc. Tôi mừng quá vì lại có dịp ra ngoài trà trộn với đám tài xế lơ xe mà không ai để ý. Và cũng vào khoảng  4 , 5 giờ chiều hôm đó, bỗng đâu xuất hiện một chấm đen từ ngoài biển khơi đang tiến dần vô bờ, càng lúc càng lớn dần và sau cùng hiện rõ ra một chiếc tàu đang huớng vô hải cảng, rồi từ từ cặp vào bến đá. Một chiếc thương thuyền quá lớn mang tên PEP STAR, đặc biệt là lá cờ trên tàu không phải là cờ đỏ búa liềm, chắc chắn không phải là tàu cộng sản. Hơn nữa chữ PEP STAR có vẻ là tiếng Anh hơn là tiếng Nga.
 alt
     Sau khi tàu cặp bến xong xuôi, thấy có nhiều nguời đi lại gần chiếc tàu, khi đó tài xế và lơ xe ra vô tấp nập. Trời đã tối chúng tôi chui ra khỏi chỗ trốn và tìm cách lại gần chiếc tàu. Lúc đó có nhiều công nhân nguời Miên đang lên tàu, tôi liền hỏi nguời thủy thủ trên tàu họ cho biết là tàu của nuớc Đan Mạch, mà Đan Mạch là một nuớc ở Âu Châu, nên tôi yên trí chắc chắn không phải là một nuớc cộng sản, tôi mừng quá vì có thể xin tị nạn đuợc.
     Trong bóng tối chúng tôi ngồi ở xa xa nhìn lên chiếc tàu thấy công nhân nguời Miên lên xuống theo chiếc cầu sắt cặp sát bên hông tàu. Ở trên tàu ngay chỗ đầu cầu lên xuống có hai tên công an đang đứng canh gác kiểm soát mọi nguời lên xuống rất là kỹ lưỡng. Tôi tập trung quan sát mọi hoạt động trên tàu để tìm cách lẻn trốn lên tàu, nhưng rất là khó khăn vì hai tên công an đang canh gác quá kỹ. Nếu lở lên tàu mà chúng bắt tại trận thì hết đuờng chối cãi chỉ có nuớc vô tù, mà riêng tôi thêm tội trốn trại nữa thì chắc chúng sẽ không tha.
     Kể từ khi chui ra khỏi hàng rào ở trại tù Tống Lê Chân cho đến bây giờ là tôi đã vuợt đuợc một quảng đuờng khá xa, đã ra khỏi nuớc và ra đến biển và con đuờng duy nhất là phải lên cho bằng đuợc chiếc tàu này.  Nhìn lên trên tàu mà thèm thuồng uớc gì mình đuợc trốn vô nằm trong chiếc thuyền cấp cứu đang treo lủng lẳng đong đưa trên đó thì quá kín đáo. Tôi cứ nhìn hoài, tàu này chở những chiếc xe truck, chỉ có phần đầu máy với cái suờn phía sau. Đây là những chiếc xe viện trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc. Cần trục trên tàu đang hoạt động liên tục đang bốc hàng xuống, mỗi lần một chiếc xe, cho nên rất là nhanh. Theo tôi nghĩ thì trong đêm nay sẽ bốc hàng xong và ngày mai tàu sẽ đi, mà tàu của các nuớc Âu Châu thì hiếm khi vào hải cảng của nuớc cộng sản này.
     Trời tối dần mà Long và Nghia thì cứ hối thúc hoài, định leo đại theo dây cột tàu mà ra tàu. Nhưng đèn pha chiếu sáng khắp tứ phía thì làm sao mà leo ra đuợc, mà làm sao thoát hết đuợc ba đứa. Rồi Long lại tính đuờng nhảy xuống nuớc bơi qua bên kia thành tàu rồi tìm cách leo lên tàu. Tàu thì cao sừng sững đâu có dễ gì leo lên được, mà chung quanh đèn chiếu sáng choang, vừa nhảy xuống nuớc là bị bắn liền chứ đừng nói gì tới bơi ra tàu.
     Tôi cứ chờ đợi dịp thuận tiện, mắt tôi cứ dán sát vào hai tên công an đang đứng gác trên tàu, một tên mang súng AK47, còn một tên mang K54 có lẽ là cán bộ. Quan sát theo dõi họ thật kỹ để mong tìm một chút sơ hở, nhưng mỗi lần có ai lên tàu là nó chận lại xét hỏi rất kỹ càng. Với lại mình không biết tiếng Miên, không giống nguời Miên, nên khó qua mặt đuợc nó.
     Bỗng dưng trời xui đất khiến hai tên công an này đồng lúc rời bỏ vị trí buớc vô trong cabin tàu. Tôi vụt chạy lên tàu tức khắc kéo theo Long và Nghĩa. Khi lên đuợc trên tàu chúng tôi chạy băng qua bên kia thành tàu và tìm chỗ ẩn trốn, thì khi đó hai tên công an lại trở ra canh gác như cũ, nhưng chúng chỉ nhìn về phía cầu thang lên xuống, chứ không để ý gì về phía chúng tôi. Tôi nhìn quanh quất không thấy có chỗ nào để ẩn thân, không thể chui vô đống dây luột hay đống cây gỗ bên cạnh đó, vì dấu đầu lòi đuôi không thể che dấu hết ba nguời. Nhìn xuống hầm tàu thì thấy nhân công Miên đang làm ở duới đó và không thể lẫn quẫn ở đây lâu đuợc vì thủy thủ hay công nhân Miên bất chợt họ thấy họ sẽ nghi.
     Ở trên tàu có hai cần trục một cần trục ở phía bên kia đang hoạt động liên tục, còn một cần trục phía gần bên tôi thì không hoạt động. Ở phía trên là phòng điều khiển bằng kiến, ở bên duới là phòng máy, có một lỗ tròn vừa nguời chun vô, tôi liền thử chui vô rồi kéo Long và Nghia vô theo. Tôi cố ép sát nguời vô trong để vừa đủ chỗ cho ba đứa ẩn mình. Lần lần tôi dọn dẹp các lon dầu, đồ đạt dụng cụ để chui sâu vào trong. Nếu có ai bất chợt đi ngang qua thì sẽ không thấy chúng tôi đuợc, nhưng nếu ló đầu vô trong thì sẽ thấy ngay. Hơi yên tâm một chút, lúc đó chắc cũng vào khoảng 11, 12 giờ đêm.
     Cần trục bên kia vẫn còn đang tiếp tục hoạt động, độ một giờ sau thì chấm dứt. Sau đó công nhân lần luợt rời khỏi tàu, duy chỉ còn hai tên công an vẫn đi tới đi lui canh gác bên kia thành tàu. Sau đó nắp hầm tàu đuợc đóng lại, nắp hầm tàu làm bằng những lá sách bằng sắt nó chạy từ trong ra ngoài nghe rền vang. Sau khi nắp hầm tàu đậy xong, bây giờ chúng tôi có thể chui vô sâu thêm nằm truờn mình trên nóc hầm tàu và mọi sự trở lại vắng lặng hoàn toàn.
     Tôi suy nghĩ, truớc khi tàu rời bến chắc chắn công an biên phòng và quan thuế sẽ kiểm soát rất kỹ, cho nên tôi phải tìm chỗ trốn khác kín đáo hơn, chớ không thể trốn ở đây đuợc. Lúc còn ở duới nhìn kỹ mọi hoạt động trên tàu, tôi thấy thỉnh thoảng có thủy thủ lên xuống ở phía truớc mủi tàu, như vậy phải có cầu thang lên xuống ở mũi tàu.
     Đợi đêm thật khuya vắng lặng, tôi dặn dò Long và Nghĩa từng nguời một lần luợt chui ra và phải chờ khi nào công an quay lưng lại thì mới cho chui ra. Bò theo thành tàu, bò ra phía truớc mũi tàu để tìm cầu thang đi xuống hầm tàu. Trên tàu rất trống trải mà đèn thì sáng choang, do đó phải bò thật thấp để không thấy lộ hình lên trên nền trời. Sau cùng tôi đợi khi tên công an vừa xây lưng lại là tôi chui ra sau cùng, bò dọc núp duới thành tàu đến gần mủi tàu thì thấy có một cửa nhỏ, tôi mở chốt cửa rồi chui vào trong, có một cầu thang bằng sắt hình khu ốc, tôi lần theo xuống.
     Xuống đến hầm tàu thì tôi thấy Long và Nghĩa nằm dài ở đó. Đây là khoang tàu nơi chứa hàng, sau khi hàng bốc đi rồi thì trống trơn không có chỗ nào để ẩn thân, mấy cây cột bằng sắt cũng không lớn đủ để che thân. Tôi thấy trốn ở đây không đuợc vì sẽ bị lộ ngay. Tôi lần theo cầu thang khu ốc để đi xuống nữa, thì khi xuống duới đáy hầm tàu, tôi thấy có một đống cây gỗ ở ngay mũi tàu, tôi mừng quá vì tìm đuợc chỗ trốn tốt. Tôi sắp lại đống cây gỗ để chừa ra một lỗ trống, đủ chỗ để cho ba đứa chui vào, xong rồi kéo thanh gỗ đậy lại, trông giống như cũ, không có dấu vết gì khả nghi. Lúc đó chắc khoảng 3, 4 giờ sáng, tôi nằm im trong đó, không dám ngủ và dặn kỹ Long và Nghĩa phải giữ thật im lặng, không được thở mạnh hay ho hen.
     Độ khoảng 6 giờ sáng, tôi nghe tiếng lộp cộp đi xuống cầu thang, họ quét đèn lên trên đống cây, nhưng không thấy gì khả nghi, họ bỏ đi trở lên. Một lúc sau nữa tôi nghe tiếng còi tàu hụ lên ba tiếng, tôi mừng quá vì “tàu souffler ba là tàu ra cửa biển”. Một hồi sau tôi nghe tiếng sóng nước rào rào ở mủi tàu, tôi chợt biết là tàu đã chạy. Vì đang ở mủi tàu nên tôi không nghe tiếng máy tàu, mà chỉ nghe tiếng sóng nước đập vào thân tàu nghe rào rào và càng lúc càng mạnh. Đến một hồi nữa nghe ầm ầm, tôi biết là tàu đang chạy nhanh, đang rẽ sóng ra khơi. Một hồi sau chúng tôi chui ra khỏi đống cây gỗ.
     Tôi định chờ một ngày một đêm rồi mới lên trình diện vì sợ nếu còn trong hải phận Kampuchia hay Việt Nam, thì họ có thể kêu tàu tuần đến bắt chúng tôi. Nhưng đến chiều thì Long bị ói mửa vì say sóng, càng lúc càng nặng, mặc dù trong bụng không còn thức ăn, chỉ ói ra nuớc, ói ra mật xanh. Sau cùng Long năn nỉ tôi phải lên trình diện, nếu không sẽ chết. Lúc đó tôi nghĩ là tàu đã chạy đuợc khoảng 8, 9 tiếng đồng hồ, chưa được xa lắm, chắc là còn trong hải phận Việt Nam, nhưng vì Long năn nỉ quá, nên sau cùng tôi đành phải lên trình diện.
     Một mình tôi lên truớc, theo cầu thang khu ốc để lên và khi vừa chui ra khỏi cửa ở mủi tàu nhìn lên phía phòng lái bằng kính, tôi thấy nguời hoa tiêu đang nhìn xuống phía chỗ tôi, chỗ mũi tàu. Tôi tức tốc tìm cách đi thật nhanh lên đó ngay, vì sợ họ kêu tàu tuần đến bắt. Tôi đi thật nhanh, leo lên cầu thang lên tầng trên cùng và đi thẳng vô phòng lái.
     Thấy tôi vừa buớc vô phòng hoa tiêu, ông ta nỗi giận dậm chân đùng đùng, bấm còi báo động. Ông hỏi tôi là ai, làm gì vô đây. Tôi liền trả lời tôi là sĩ quan Việt Nam trốn từ trại tù ở Việt Nam sang Kampuchia và trốn xuống tàu hồi đêm qua, tôi xin được tị nạn. Nhờ tôi nói bằng tiếng Anh, mặc dù không được trôi chảy, nhưng cũng hiểu đuợc phần nào. Lúc đó quần áo mặt mày tôi lem luốt dính đầy dầu nhớt, mạt cưa trông không giống ai. Tôi nói tiếp tên họ số quân của tôi và tôi đã học khóa Bộ Binh Cao Cấp tại truờng Fort Benning, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ và xin ông vui lòng liên lạc với tòa đại sứ Mỹ nào gần đây thì sẽ xác đinh đuợc lý lịch của tôi. Tôi xin ông một điều là nếu ông không nhận cho tôi tị nạn, thì xin ông bỏ tôi xuống biển, chớ đừng gọi tàu tuần đến bắt tôi, vì họ sẽ giết tôi.
     Sau khi nghe tôi trình bày sự việc, tình hình bắt đầu lắng dịu, tôi liền nói thêm là hiện còn có hai nguời nữa còn đang trốn duới hầm tàu. Ông ta lại nỗi giận lên, kêu nguời đi xuống dẫn Long và Nghĩa lên. Long và Nghĩa đuợc dẫn lên ngồi trong góc, trông rất thãm não, mặt mày xanh xao, quần áo lem luốc bẩn thỉu. Xong rồi ông Thuyền truởng gọi báo về công ty, một lúc sau thì công ty chấp nhận cho chúng tôi tị nạn. Tôi mừng quá đỗi, coi như được sống lại và tôi có hỏi ông là hiện giờ tàu đang ở đâu, có còn trong hải phận Việt Nam không, thì ông chỉ cho tôi thấy một hòn đảo trông mờ mờ từ xa đó là đảo Thổ Chu của Việt Nam và ông cũng nói thêm rằng là kể từ bây giờ không ai có quyền lên tàu này để bắt chúng tôi lại, vì đây là tàu của Đan Mạch là đất nuớc Đan Mạch.
     Một số thủy thủ đứng chung quanh, nghe thấy, dần dần họ có cảm tình với chúng tôi, họ đưa cho quần áo giày dép rồi dẫn chúng tôi đi tắm. Cho chúng tôi vô ở trong một căn phòng, đây là phòng của một ông kỹ sư đã đi phép. Trên giường nệm có hai tấm nệm tôi lấy một tấm đặt xuống sàn nằm ngã lưng xuống một cách thoải mái tuyệt trần. Một lúc sau chúng tôi được dẫn đi ăn, một bửa ăn thật tuyệt diệu trong đời, trong đó có cơm chiên dương châu và mấy khúc cá thu hấp rất thơm ngon chưa từng có. Đây là một bửa ăn tuyệt diệu nhất, tự do nhất, thoải mái nhất, mà tôi cảm thấy như đuợc sống lại sau bao nhiêu ngày trốn tránh lang thang vất vả căng thẳng tột cùng, có đôi khi gần nhu tuyệt vọng.
     Sau khi ăn xong bửa cơm tuyệt diệu đó, chúng tôi đuợc dẫn đi thăm viếng tàu. Truớc hết đến phòng ông thuyền truởng, ông rót ruợu uống mừng cho chúng tôi đã thoát nạn cộng sản và chụp hình lưu niệm. Sau đó đi tiếp qua các phòng và được biết trên chiếc tàu này có nhiều nguời thuộc quốc tịch khác nhau như Hòa Lan, Đan Mạch, Ba Tây, Phi Luật Tân v.v….Các thủy thủ trên tàu cho chúng tôi xem hình ảnh gia đình của họ và chuyện trò rất là thân mật, thật là hết sức lịch sự và đầy tình nhân ái. Nghĩa có mang theo một số tiền Việt Nam không còn xài được nữa, nên mới đưa cho các thủy thủ. Họ rất tốt bụng đã cho lại chúng tôi mỗi nguời 20 US dollars và chọn cho chúng tôi mỗi đứa một bộ đồ vừa vặn đẹp đẽ để mặc khi lên bờ.
     Chúng tôi được cho lên phòng hoa tiêu để ngắm nhìn hoàng hôn trong buổi chiều tàn, nhìn mặt trời lặn trong cảnh nuớc trời bao la, thật là tuyệt đẹp, mà tuởng chừng như trên chốn bồng lai tiên cảnh nào vậy, trong khi con tàu đang luớt sóng thật êm đềm. Đây là một chiếc thương thuyền rất lớn nên chạy thật là êm ái, khác xa với cảnh tuợng của những chiếc ghe vuợt biên bé nhỏ, chở đầy nguời, bập bềnh trên biển cả mênh mông, sóng gió hãi hùng, và còn phải lo sợ bị hải tặc hảm hiếp, cuớp của giết nguời thật là ghê rợn.
     Buổi tối hôm sau tàu tiến vô một hải cảng với muôn ngàn ánh đèn rực rỡ, trong một vùng vịnh bao la, với vô số thương thuyền tàu bè đủ loại, trông thật hùng vĩ huy hoàng tráng lệ. Đó là hải cảng Singapore. Theo thủ tục của luật di trú thì chúng tôi phải vô trong phòng và thuyền truởng sẽ khóa cửa lại, để giử chúng tôi trong đó. Tuy nhiên nếu có cần gì thì cứ gọi, thỉnh thoảng có nguời đến thăm chừng, thật là hết sức lịch sự tử tế và chu đáo vô cùng.
     Chừng vài tiếng đồng hồ sau thì có hai nhân viên của sở di trú Singapore đi xuồng máy ra lên tàu và mở khóa cửa phòng, thẫm vấn chúng tôi và làm thủ tục giấy tờ, xong rồi họ đi ngay. Sau đó thì có một phái đoàn của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, UNHCR, xuống phỏng vấn và làm thủ tục. Tôi trình bày bằng tiếng Anh, nhưng bất ngờ nguời đó trả lời bằng tiếng Việt và bảo tôi cứ nói bằng tiếng Việt Nam đuợc rồi. Tôi mừng quá vì đuợc gặp nguời đồng hương, sau này tôi đuợc biết đó là cô Bích làm việc trong văn phòng Cao Ủy Tị Nạn ở Singapore. Khi làm thủ tục giấy tờ, và trong nguyện vọng xin đi định cư nuớc nào, thì tôi xin đuợc đi Mỹ, vì hiện tôi có một đứa em đang ở Mỹ, và tôi cũng đã từng du học ở Mỹ, nên nghĩ rằng sẽ đuợc cứu xét dễ dàng hơn. Chúng tôi ngủ thêm một đêm trên tàu và sáng hôm sau thì có nguời của Cao Ủy Tị Nạn ra đón ba đứa tôi lên bờ, tôi còn nhớ đó là cô Robin, nguời nuớc New Zealand.
     Sau một thời gian 22 ngày đêm vuợt thoát từ trại tù Tống Lê Chân, nay tôi được đặt chân lên một đất nuớc tự do là nuớc Singapore vào ngày 27 tháng 6 năm 1980. Chúng tôi đuợc đưa về tạm trú ở khách sạn YMCA. Ở đây hiện có chừng muời nguời Việt Nam tị nạn cũng mới đến chừng vài ngày truớc và họ giao nhiệm vụ cho tôi làm thông dịch viên. Điều đầu tiên là tôi ra Bưu điện để đánh điện tín về Việt Nam cho gia đình tôi biết tin. Vì có tiền 20 dollars nên tôi gọi taxi ra Bưu điện và gởi điện tín về cho vợ tôi với nội dung nhu sau: “Đã giải phẩu xong bình an” , đó là câu mật hiệu để cho vợ tôi biết là tôi đã thoát nạn và đã đến nơi an toàn. Điện tín này đã đến nhà tôi vào ngày 30 tháng 6 năm 1980. Vợ tôi hết sức vui mừng khi nhận đuợc điện tín này, phân vân không biết Singapore là nước nào ở đâu. Vợ tôi liền đi xuống Mỹ Tho để báo tin mừng và vô Trung Lương, nơi đất hương quả mồ mã tổ tiên để cúng tạ.
     Chúng tôi ở khách sạn YMCA vài ba ngày để làm thủ tục. Buổi chiều rỗi rảnh chúng tôi dắt nhau ra chợ Tàu. Đi bộ chừng 15 phút là đến, một dãy kios quán ăn rất là đông vui và ngon miệng. Long biết nói tiếng Tàu nên rất dễ giao tiếp. Ở Singapore 80% là người Hoa, còn lại là nguời Ấn và người Mã Lai.
     Sau đó chúng tôi đuợc đưa vào Trại Tị nạn Sambewang, còn gọi là trại Hawkins. Khi vừa buớc vô văn phòng trại tị nạn, tôi chợt thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn treo trên tường mà lòng hân hoan vui mừng quá độ. Tôi và nhóm nguời mới tới đều vui mừng sung suớng đến rơi nuớc mắt, đuợc hôn lên Lá Cờ  Quốc Gia Dân Tộc và biết chắc rằng mình đã thật sự thoát khỏi ngục tù cộng sản và đã đến đuợc bến bờ tự do.
     Chúng tôi đuợc lãnh tiền trợ cấp mỗi nguời 2.50 đồng một ngày, một đồng Singapore lúc đó trị giá vào khoảng 0.8 dollar Mỹ. Ngoài ra còn đuợc phát mỗi nguời một chiếc chiếu, và cứ 6 nguời thì đuợc phát một cái lò nấu ăn. Đây là một trại lính với nhiều tòa nhà có hai tầng khang trang, trại viên trải chiếu trên sàn gạch rất mát mẻ sạch sẽ, không có ruồi muỗi. Phía ngoài là sân cỏ, đuợc giử gìn chăm sóc cắt xén rất đẹp như một tấm thảm xanh.
     Cuộc sống ở trại tị nạn này rất là thoải mái, có khu chợ nhỏ ngay trong trại, đa số là nguời Ấn độ, bán đủ loại thực phẩm, rau cải, trái cây, đặc biệt là trái sầu riêng ở đây có rất nhiều. Ở ngoài vòng rào và cách trại chừng vài trăm thuớc, có một con rạch rất lớn, có nhiều cá, nhứt là cá rô Phi. Có nguời chui rào ra, luới đuợc rất nhiều cá, đem về bán chui qua các nhà.
     Những nguời đuợc đưa về trại này thuờng là chỉ đuợc tạm trú ở đây khoảng 3 tháng, để làm thủ tục đi định cu, hoặc là những nguời từ trại đảo Galang đưa đến chờ máy bay để đi định cư. Hàng ngày công việc của trại là theo dỏi tin tức phát thanh trên loa, để biết khi nào đuợc gặp phái đoàn để đuợc phỏng vấn và khám sức khỏe.
     Khi mới đến trại khai hồ sơ lý lịch, vì tôi đã từng du học bên Mỹ nên được Ban Chỉ huy trại giao nhiệm vụ làm Thông dịch viên. Công việc thường ngày của tôi là giúp thông dịch nếu có phái đoàn vô trại. Còn không thì phải đưa người đi ra các toà Đại Sứ Anh, Mỹ, Úc v.v…Hoặc đưa người đi bệnh viện, để khám sức khỏe để đi định cư. Ở trong trại cũng có bệnh xá để điều trị các bệnh nhẹ thông thường như ho, đau bụng, nhức đầu, nóng lạnh v.v…Lúc đó có Bác sĩ Rạng trách nhiệm bệnh xá, ông cũng là người tị nạn và trước kia ông từng là bác sĩ của Bệnh viện 3 Dã chiến ở Phú lợi Bình Dương.
     Ở trong trại tôi thấy có nhiều hoàn cảnh rất là thương tâm. Có nhiều nguời mất vợ mất con mất cha mất chồng trên đường vượt biển. Như có một ông bác sĩ, tôi nhớ mang máng tên là Phùng, Bác sĩ Phùng, ông bị khủng hoảng tinh thần gần như điên loạn, vì cả gia đinh vợ con đều bị chết. Tôi thấy ông cứ đi lang thang nói nhảm suốt cả ngày.  Vì ông mắc bệnh tâm thần như vậy nên không được phái đoàn nào phỏng vấn, rồi không biết sau này ra sao.
     Sau khi đến trại đuợc một tuần, tôi liền gởi gói quà nhỏ đầu tiên về cho gia đình, trong đó có vài thước vải đen, chai dầu xanh và kẹo bánh. Ba tháng sau vào tháng 10 năm 1980 thì tôi được đi định cư qua Mỹ. Long và Nghĩa thì được định cư ở Đan Mạch.
     Với lòng tri ơn sâu xa, tôi xin ghi lòng tạc dạ công ơn cứu tử của thuyền trưởng và toàn thể thủy thủ đoàn trên chiếc thương thuyền Pep Star, thuộc công ty hàng hải của nước Đan Mạch, đã cứu vớt tôi và giúp cho tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản và cho tôi đến được bến bờ tự do. Đây quả là một công ơn quá lớn lao mà suốt đời tôi không bao giờ quên đuợc.
     Tôi cũng không bao giờ quên nghĩa cử cao đẹp, đầy lòng nhân đạo của Cơ quan Tị nạn Liên Hiệp Quốc UN/HCR và dân tộc các nuớc trên thế giới, đã mở rộng vòng tay cứu vớt, trợ giúp và cưu mang chúng tôi, những người tị nạn trốn chạy khỏi chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân bản.
     Sau khi đến Hoa Kỳ được một năm thì tôi được vào quy chế thường trú, năm năm thì đuợc vào quốc tịch. Ngay khi đến Hoa Kỳ, tôi lo ngay việc nạp đon xin bảo lãnh gia đình qua chương trình ODP và 9 năm sau thì vợ tôi và ba đứa con đã đến được Hoa Kỳ. Sau hơn 14 năm xa cách kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản, nay gia đinh tôi được đoàn tụ lại như xưa, đã thoát khỏi gông cùm cộng sản và được sống trên quê hương mới đầy lòng nhân ái bao dung.
     Đây quả như là một phép lạ do Ơn Trên ban phuớc cho.
     Nguyễn Ngọc Thạch, K20

Thông Báo Đa Hiệu

ThongBao

Xin Trời để lại còn tôi còn bà—Vô Danh

80 tuoi

Mất gì thì mất bà ơi
Xin trời để lại còn tôi còn bà
Nếu mà có phải đi xa
Để tôi đi trước còn bà đi sau
Mong bà đừng ốm đừng đau
Để tôi có bát cơm rau sớm chiều
Càng già càng quý, càng yêu
Bâng khuâng lại nhớ ít nhiều ngày xưa
Mất gì thì mất bà ơi
Xin trời để lại còn tôi còn bà
Tôi bà nay tuổi đã già
Mà tôi vẫn sợ còn tôi mất bà…

Thuyền Trưởng Đại Hàn Vớt Thuyền Nhân Việt Nam

The California Coast

Thăm Niên trưởng Đông Anh Nguyễn Đình Tạo K10P

DSC05462

DSC05464

DSC05467

DSC05453

DSC05450

DSC05447

DSC05445

DSC05441

DSC05439

DSC05440

Ngọn nến hiệp thông cùng giáo xứ Mỹ Yên bừng sáng khắp nơi

“Hiệp thông trong đau thương, ta cùng nhau thắp sáng lên, những ngọn nến cháy tỏa lan mọi nơi. Nguyện cầu cho đoàn chiên xứ Mỹ Yên được bình an, cho giáo phận Vinh vững niềm tin, để khổ đau tan biến dần. Con xin dâng lên bao nhiêu oan trái những ngày qua, khi muôn con tim luôn luôn khát khao sống trong bình an. Nguyện cầu cùng Chúa ban thêm đức tin xuống trên đoàn con, gìn giữ xác thân hồn con, qua muôn khổ đau trần gian…” (Ngọn nến hiệp thông – Huyền Phạm).

Giáo hạt Nguồn Son (Quảng Bình)
 
Kể từ sau sự kiện công an Nghệ An “bày binh bố trận” để đàn áp bà con giáo dân giáo xứ Mỹ Yên (04/09/2013), mặc dầu rất xa xôi về mặt địa lý, quý cha cùng bà con giáo dân ở Quảng Bình nói chung và Giáo hạt Nguồn Son nói riêng luôn hướng lòng về Mỹ Yên để hiệp thông  chia sẻ bằng những lời cầu nguyện, sự hy sinh… Quý cha trong Giáo hạt đã đọc Thư Chung của vị Chủ chăn giáo phận, Bản tường trình, Văn thư phản đối báo đài và truyền hình, để bà con giáo dân được hiểu đúng chân tướng sự việc. Đặc biệt, tối Chúa nhật 22.09.2013,  quý cha trong Giáo hạt Nguồn Son đã tập trung về thánh đường giáo xứ Đồng Tróoc, trụ sở của Hạt để hiệp dâng thánh lễ Chúa nhật.Sau thánh lễ, quý cha cùng cộng đoàn trị sở đã tổ chức chầu Thánh Thể long trọng, bày tỏ tình liên đới hiệp thông với bà con giáo xứ Mỹ Yên trong giai đoạn khó khăn và thử thách này. Đồng thời, quý cha cùng cộng đoàn tha thiết cầu xin Chúa Giêsu Thánh Thể soi lòng mở trí cho các nhà lãnh đão quốc gia và địa phương biết tôn trọng phẩm giá và sự tự do chính đáng của con người, hầu mọi người được hưởng một nền hoà bình thực sự và viên mãn.

———————————-
 
Giáo xứ An Nhiên

———————————-
 
Giáo xứ Kinh Nhuận (Quảng Bình)

———————————-
 
Giáo xứ Lộc Thủy (Nghệ An)


———————————-
 
Giáo xứ Mỹ Hòa


 
———————————-
 
Giáo xứ Ngọc Long



———————————-
 
Cộng đồng Công giáo Việt Nam tại San Jose, Cali, Hoa Kỳ 
 
Tình trạng đàn áp tôn giáo tại Việt Nam với vụ nhà cầm quyền tấn công thô bạo gần đây tại Giáo xứ Mỹ Yên, Giáo phận Vinh, đã khiến đông đảo tín hữu tại giáo phận San Jose, và các nơi lân cận thuộc vùng Bắc Cali, quy tụ trong một thánh lễ và thắp nến cầu nguyện hiệp thông vào tối ngày 20 tháng 9, 2013 tại Trung tâm Công giáo Việt Nam, San Jose.
 
Buổi lễ long trọng được Hội Ái hữu Giáo phận Vinh Bắc Cali, phối hợp với các hội đoàn bạn tại địa phương tổ chức. Linh mục Phaolô Lưu Đình Dương, Tuyên úy của Hội, đã chủ trì thánh lễ và cuộc đốt nến, cùng với 7 linh mục và phó tế hiện diện…
 
Trần Hiếu




———————————-
 
Giáo xứ Song Ngọc

———————————-
 
Sinh viên Công giáo Vinh tại Quảng Bình

———————————-
 
Giáo xứ Thịnh Lạc (Hương Khê – Hà Tĩnh)


———————————-
 
Giáo xứ Thọ Ninh




———————————-
 
Giáo xứ Thuận Giang


———————————-
 
Giáo xứ Thu Chỉ




 
———————————-
 
Giáo họ Yên Lưu (xứ Thuận Nghĩa)


———————————-
Giáo xứ Tràng Lưu


———————————-
 
Giáo xứ Thuận Nghĩa


———————————-
 
Giáo xứ Mỹ Dụ

———————————-
 
Giáo xứ Trung Song

———————————-
 
Giáo xứ Tĩnh Giang

———————————-
 
Giáo xứ Phú Linh


 

Tôi là Ai? Việt hay Mỹ?—Kim Thu

Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.

Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose , hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là người Việt Nam , để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.

Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.

Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.

Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.

Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.

Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.

Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.

Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại.

Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?

Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.

Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.

Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.

Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam .

Lại có những lần ở Việt Nam , tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.

Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.

Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ!

So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?

Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.

Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.

Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.

Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam , gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!

Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.

Khi về đổi họ thay tên.
Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng.

Kim Thu

Từ Hà Nội đến Sài Gòn năm 1954—Lữ Tuấn K12

Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cực kỳ lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia Việt Nam (QGVN) sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.

TuHaNoiDenSaigon1954b
Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 trên tàu USS Bayfield với những Bắc di cư đang quan sát phố xá tại bến tàu Saigon. Sau Hiệp Ðịnh Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam. (HÌNH ẢNH: Trung Tâm Quân Sử Hải Quân Hoa Kỳ)

Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.

Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.

Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.

Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.

Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.

hanoi06

Ðường phố Hà Nội, tháng 7 năm 1954. (HÌNH ẢNH: sưu tầm)

Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.

Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”

Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.

Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm, có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.

Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.

Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.

Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.

Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.

Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19?

Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người Pháp.

Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.

Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của quân đội Quốc Gia Việt Nam đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.

Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.

Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.

Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.

Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.

Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.

Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.

Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.

Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Ông ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ máu ấy. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.

Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vào Nam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.

Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.

Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.

Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.

Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.

Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.

Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.

Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.

Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.

Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.

Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.

Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vào Nam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.

Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.

Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.

Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.

Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.

Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.

Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.

Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.

Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.

Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.

Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.

Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng.

Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.

Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.

Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.

TuHaNoiDenSaigon1954c

Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư. (HÌNH ẢNH: sưu tầm)

Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.

Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.

Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nam bị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng.”

Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.

Một số người cho rằng người miền Bắc di cư đã là chứng nhân lịch sử khiến đồng bào miền Nam hiểu rõ bản chất của chế độ Cộng Sản. Điều đó có thể đúng một phần nhỏ. Phần quan trọng hơn là chính vì thực tế những đường lối mà Cộng Sản thi hành tại miền Nam tại nông thôn từ khoảng năm 1961 trở đi. Từ đó họ đã thấy rằng chế độ Cộng Sản đi ngược lại quyền lợi và sự an hòa của nhân dân ta nhất là giai cấp nghèo khổ ở nông thôn.

Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm.

Lữ Tuấn

Hồ Chí Minh “sao y bản chánh” cách mạng vô sản của Trung Cộng—Hứa Hoành GS/VHV

“Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó, không phải là vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không, mà chính là vấn đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyển hay không” (Tưởng Vĩnh Kính, sách Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, trang 356-357).

– Ít ai ngờ rằng ông Hồ từng tâm sự với cán bộ thân tín rằng “Thà để cho thực dân Pháp đô họ thêm 5, 10 năm nữa, còn hơn để các đảng phái quốc gia giành được chánh quyền một nước Việt Nam độc lập!

“Nhằm tranh thủ quần chúng, ông (Hồ) dựng cờ chống Pháp và tranh thủ độc lập dân tộc, trong khi đó, ông lại bán rẻ và bài trừ các đảng phái chống Pháp và tranh thủ độc lập dân tộc chân chính khác… Ông tuyệt đối cần ngoại viện, nhưng ông không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào nhận ngoại viện. Ông cũng cần tranh thủ quần chúng, nhưng không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào tranh thủ quần chúng…..” (Sách đã dẫn, trang 373).
Những năm gần đây càng ngày càng có nhiều học giả khám phá thêm nhiều tài liệu lịch sử, làm sáng tỏ nhiều vấn đề từ trước tới nay ít người biết. Các sử liệu ấy đã đánh đổ nhiều huyền thoại về Hồ Chí Minh, mà đảng cộng sản của ông đã thêu dệt, bịa đặt để thần thánh hóa ông ta. Sự thật ông Hồ không có sáng kiến gì cả. Cái gọi là “sự vận dụng nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác Lê”, chẳng qua là sự sao chép, cóp nhặt, vay mượn của người khác. Nếu không có cuộc cách mạng vô sản ở Trung Cộng, liệu ông Hồ có thành công ở Việt Nam hay không?
Ông Hồ chỉ học lớp 7 trung học phổ thông. Ông chưa biết hết khái niệm thông thường của khoa học thường thức. Tuy nhiên, vì ra đời sớm, tự lập để mưu sinh bằng đủ thứ nghề: bồi tàu hạng bét, phu quét tuyết trên đường phố Luân Đôn, bồi khách sạn, thợ rửa ảnh…. ông Hồ có nhiều mưu gian mẹo vặt và thủ đoạn gian hùng. Ông sáng trí trong việc bắt chước. Ông không bao giờ nêu xuất xứ. Đó là thái độ thiếu minh bạch.

Hơn 20 năm làm cán bộ tình báo, gián điệp (1924 – 44), ông Hồ ăn lương, lãnh phụ cấp, giấy thông hành của Liên Xô để qua các nước Á Châu hoạt động. Liên Xô không trả tiền để ông đi “giải phóng dân tộc” Việt Nam của ông. “Ai chi tiền, người ấy chỉ huy”, đó là một định luật. Ông Hồ ăn cơm chúa phải múa tối ngày. Những từ ngữ “đi tìm đường cứu nước”, “giải phóng dân tộc” là những huyền thoại mà đảng CSVN thêu dệt, bịa đặt thêm sau nầy, để tôn ông lên hàng “cha già dân tộc”. Sự thật thủy chung ông Hồ vẫn là một cán bộ cộng sản quốc tế, có nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa CS sang các nước. Ông phải ngụy trang dưới chiếc áo dân tộc, để lừa gạt mọi người. Ông tới Trung Hoa trước sau 5 lần. Mỗi lần ông ở lại một thời gian khác nhau và lấy những bí danh khác nhau, để hoạt động gián điệp trá hình, và xuất cảng chủ nghĩa CS theo lịnh của nước chi tiền.

ÔNG HỒ KHÔNG THIẾT THA GÌ ĐẾN “ĐỘC LẬP DÂN TỘC”:

Những ai từng nghiên cứu về cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh cũng nhận ra một điều quan trọng: Đối với ông, không có tình yêu nước hay dân tộc. Tuy nhiên, lúc nào ông cũng ngụy trang, nép mình dưới chủ nghĩa dân tộc để truyền bá chủ nghĩa cộng sản. Đó chính là lý tưởng suốt đời của ông. Nó thôi thúc ông trong bữa ăn, trong giấc ngủ. Nó biến thành một bản năng mãnh liệt.

Vào năm 1941, từ biên giới Trung Quốc, ông lén lút về hoạt động, ngụ tại hang Pác Bó (Cao Bằng). Thấy mình chưa có địa vị và quyền hành gì trong đảng CSVN, ông đã nghĩ ra mưu sâu kế độc “tiêu diệt trung ương đảng ở tại Nam Kỳ”. Ông bí mật chỉ điểm cho Pháp hốt trọn ổ trung ương đảng ở Nam Kỳ, rồi lập ra trung ương đảng mới, cử Trường Chính làm tổng bí thư. Theo sự nghiên cứu của các học giả Trung Quốc: “Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó, không phải là “vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không mà chính là vấn đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyền hay không?”

Với thực lực còn yếu kém, cho nên vào các năm 1942 – 43, ông Hồ đã nghĩ đến việc phải thương lượng bắt tay với kẻ thù chánh là Pháp. Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/46 của Hồ Chí Minh và Pháp sau nầy đã manh nha từ mấy năm trước.

Khi tiếp xúc được với đại diện phái bộ Đồng minh đi tìm phi công bị bắn rơi, ông Hồ tìm cách lợi dụng họ. Ông luôn che giấu bộ mặt thật cộng sản của mình. ông còn tuyên truyền lừa bịp rằng “Việt Minh là một sự liên minh của các đảng phái quốc gia…..?”

Ông gấp rút lập một căn cứ địa trong rừng núi Việt Bắc để đón tiếp “phái bộ không trợ trên mặt đất của Mỹ” để xin viện trợ, xin cung cấp võ khí và huấn luyện. Đổi lại, Việt Minh có cứu được vài phi công dẫn qua biên giới, trao cho đại diện của Đồng minh. Tại căn cứ, ông Hồ tỏ ra thân thiện với phái bộ Mỹ. Ông đã dùng điện đài của một viên trung sĩ Mỹ tại căn cứ nầy để liên lạc với đại diện của phe De Gaulle tại Côn Minh để xác nhận:

– Pháp phải hứa với ông (có giấy bảo chứng) sẽ trả độc lập cho VN từ 5 tới 10 năm nữa, thì ông sẽ cộng tác với Pháp.

– Yêu cầu Pháp giúp võ khí và huấn luyện.

Cũng qua các cuộc điện đàm, Hồ Chí Minh hứa sẽ thân thiện với Tây phương, đặc biệt là Pháp và Mỹ. Đồng thời ông tố cáo đảng Đại Việt (Đại Việt Duy Tân thân Nhựt) đang chĩa mũi nhọn vào người Pháp. Ông tiếp “Việt Minh sẽ ra lịnh cho hai triệu đảng viên và dân chúng ủng hộ, hãy đem hết khả năng đề phòng cẩn mật, cùng ngăn chận kế hoạch phạm pháp nầy của đảng Đại Việt……” (Đối với Việt Minh, đảng Đại Việt đang chống Pháp là “phạm pháp”, còn VM thì bắt tay và ủng hộ Pháp!). Xem “Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, của Tưởng Vĩnh Kính, trang 359).

“Hồ Chí Minh nói xấu và bán rẻ đảng Đại Việt, không những để tranh thủ ân sủng của người Pháp, mà còn gián tiếp phản Hoa….” (Sách đã dẫn trang 359)…Trong một đoạn khác cùng tài liệu đã dẫn, cho biết: “Trước ngày Nhựt đầu hàng không lâu, John (Người Mỹ trong phái bộ Đồng minh đến căn cứ của ông Hồ) đã dùng điện đài của hắn đánh đi bức điện tín sau đây giùm ông Hồ:

“Đảng Đại Việt (chống Việt Minh) đang trù tính gây cuộc khủng bố chống Pháp đại quy mô và mưu toan giá họa cho Việt Minh…”

(Sách đã dẫn, trang 358).

Như vậy trong thâm tâm ông Hồ chẳng thiết tha gì đến độc lập dân tộc. Đó chỉ là chiêu bãi để ông sử dụng trong giai đoạn. Ông chỉ băn khoăn lo sợ rằng các đảng phái quốc gia sẽ phỏng tay trên ông, cướp chánh quyền trước, cho nên ông sẵn sàng liên kết với kẻ thù để tiêu diệt anh em cùng chung một mục đích. Đó là mưu kế gian manh, phản trắc của ông Hồ và tập đoàn đảng CSVN. Hồ Chí Minh suốt đời chỉ ôm ấp một giấc mộng đem chủ nghĩa cộng sản du nhập vào nước ta, và biến dân tộc nầy trở thành chư hầu của Liên Xô, cho nên đi đâu và lúc nào nhìn ở đâu ông cũng thấy hình ảnh Các Mác, Lenin, Engels…. Khi về ẩn náu trong hang Pác Bó, ông đặt tên ngọn núi phía sau hang là “núi Các Mác”, suối trước mặt là “Suối Lenin”, còn rừng xung quanh là “rừng Engels”, hoa dại ven rừng là “hoa vô sản”… Nhìn đâu, ông cũng thấy các lãnh tụ cộng sản, các lý thuyết gia cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản đã thâm nhập vào đầu óc ông ta mấy mươi năm, cho nên ông đâu có màng gì đến độc lập, tự do của dân tộc? Nước ta đang bị hai từng áp bức bốc lột của Pháp Nhựt, dân chúng nhứt là miền Bắc và Trung đang rên xiết, oằn oại dưới sự bốc lột của thực dân, ông đâu có đau khổ……? Ông chỉ mượn các thảm cảnh ấy làm chiêu bài đấu tranh giai đoạn mà thôi.

Ít ai ngờ rằng ông Hồ từng tâm sự với các cán bộ thân tín rằng “Thà để cho thực dân Pháp đô hộ thêm VN 5, 10 năm nữa, còn hơn để các đảng phái quốc gia giành được chánh quyền một nước Việt Nam độc lập” (Sách đã dẫn).

Nếu như không tình cờ có cuộc “chiến tranh giải phóng” ở Trung Quốc, để đưa toàn dân Trung Hoa vào quỹ đạo cộng sản, liệu ông Hồ có tìm ở đâu cái khuôn mẫu để tổ chức kháng chiến ở Việt Nam?

Ngụy trang dưới chiêu bài quốc gia dân tộc, giấu bộ mặt thật cộng sản để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi tiến hành cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam, giết biết bao nhiêu người vô tội cũng chỉ vì yêu nước, theo kháng chiến, lập nhiều chiến công, rồi lại bị quy chụp là “giả vờ kháng chiến, leo cao, chui sâu vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại….” Đó là cách kết tội những người đi theo kháng chiến trước khi hạ sát họ. Chiếm được phân nửa đất nước miền Bắc, ông Hồ dựng lên chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước” (Lại bắt chước Trung Cộng “Kháng Nhựt cứu nước”) để lừa bịp toàn dân vào cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt, chiếm cho bằng được miền Nam, mệnh danh là “giải phóng dân tộc?”

Chữ nghĩa đã bị cộng sản làm thay đổi ý nghĩa nguyên thủy. Nếu như không sống với cộng sản thì không thể hiểu được tâm địa và mặt mũi họ. “Giải phóng” gì mà một nước nghèo nàn lạc hậu, dân trí thấp, đời sống cơ cực… đem quân chiếm một nước giàu có, phồn thịnh hơn mình để cướp của, cướp tài sản…. thì gọi là “giải phóng dân tộc đó ư?”

MẶT TRẬN VIỆT MINH (1914) VÀ “MẶT TRẬN GPMN”, SAO Y BẢN CHÁNH CỦA TRUNG CỘNG:

Năm 1938, từ Liên Xô, ông Hồ trở qua Trung Quốc lần thứ 3. Tại căn cứ địa Diên An, ông Hồ gia nhập làm đảng viên của Trung Cộng do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Rồi ông gia nhập quân đội của Mao để làm lính đánh thuê cho Mao. Muốn thấy rõ tiến trình hoạt động của ông Hồ, chúng tôi xin nhắc lại giáo điều của Cộng Sản Quốc Tế:

“Hồ Chí Minh đã rập khuôn các giáo điều của CSQT, đem cuộc vận động cách mạng VN chia làm 2 giai đoạn:

– Giai đoạn 1: Dùng chủ nghĩa dân tộc làm chiếc áo che ngoài, và thiết lập chính quyền dân chủ của giai cấp tư sản (Chính phủ liên hiệp hồi 1946 và “chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam VN” 1973).

– Giai đoạn 2: thực sự đi vào cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hồi đó báo “Thanh Niên” do “Đồng chí hội” phát hành, cũng là “tiếng nói của giai đoạn 1”. Nó không hề nói đến chủ nghĩa Mác Lê một cách trực tiếp, mà các luận đề thảo luận trước tiên về chủ nghĩa dân tộc, rồi khéo léo xen vào một vài giáo điều cơ bản cùng quan điển của Lénin, để “chuẩn bị chuyển hướng đến giai đoạn 2”. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, dùng làm tài liệu học tập cho cán bộ, ông Hồ công khai nói rõ chủ nghĩa Mác Lê…..” (Sách đã dẫn, trang 96).

Nên nhớ vào năm 1935, trong kỳ Đại hội CSQT kỳ 7, đã chỉ thị cho Trung Cộng: “Phải thay đổi đường lối là sau khi Mao Trạch Đông chạy thoát cuộc bao vay của Quốc Dân Đảng, còn gọi “Vạn lý trường chinh”, là phải thành lập “Mặt trận dân tộc”, rồi dùng chiêu bài “Kháng Nhựt cứu nước”. Tất cả các tổ chức “cứu quốc” của ông Hồ đều mô phỏng y chang tổ chức của Trung Cộng mà thôi….”Mặt trận dân tộc”, các tổ chức “Cứu quốc”, rồi căn cứ địa, khu giải phóng…. đều được ông Hồ bê y chang đem về VN để lập “Mặt trận Việt Minh”, và các tổ chức phụ thuộc cùng tên gọi với các tổ chức của Trung Cộng. Khi Nhựt vào VN, uy hiếp Pháp, ông Hồ lợi dụng thời cơ lập ra cái gọi là “Mặt trận Việt Minh”, để xây dựng chính quyền địa phương và chuẩn bị cướp chính quyền y chang như bên Trung Cộng.

Trong thời gian làm lính đánh thuê cho Trung Cộng, ông Hồ học được nhiều kinh nghiệm về tổ chức huấn luyện cho binh sĩ, tổ chức các khóa học chính trị, và lập ra các tổ chức bịp bợm, ngụy trang dưới hình thức chính nghĩa. Ngoài ra, ông Hồ cũng học kinh nghiệm cùng phương pháp xâm nhập, lũng đoạn các tổ chức khác, để phá hoại lôi cuốn người của họ về phe mình.

Có thể nói Mặt trận Việt Minh (1941 – 51) rồi “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (1960 – 75) cũng như khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước” chính là bắt chước các tổ chức của Trung Cộng mà thôi. Sách lược của tổ chức nầy, ngoài mặt “kêu gọi đoàn kết rộng rãi các dân tộc và đảng phái”, nhưng ý đồ sâu kín của họ là phân hóa hàng ngũ những người quốc gia, tiêu diệt các đảng theo hệ phái dân tộc chủ nghĩa, đồng thời khuếch xung lực lượng của riêng CS lớn mạnh thêm. Trước khi chọn danh xưng”Mặt trận Việt Minh”, ông Hồ giả bộ thảo luận để chọn lựa từng chữ: “trước cục diện mới, vấn đề đoàn kết dân tộc càng quan trọng. Chúng ta phải cân nhắc kỹ để thành lập một mặt trận mà hình thức và tên gọi sao cho tuyệt đối phù hợp với cục diện đó”. “Chữ Việt Minh” do “VN Độc lập đồng minh”). (Sách đã dẫn, trang 186).

Từ đó, ông Hồ tìm sự mập mờ giữa các đảng “VN cách mạng Đồng Minh Hội” và “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” của những người quốc gia, có trước bên Trung Hoa, để lập ra “VN độc lập Đồng Minh” tức “Việt Minh”, rồi lại định nghĩa “Việt minh là sự liên minh các đảng phái quốc gia….”

Tưởng cũng nên nhắc lại rằng “VN Cách mạng đồng minh hội” là một tổ chức hợp pháp của các đảng theo xu hướng chủ nghĩa dân tộc, của các nhà cách mạng VN sống lưu vong tại Trung Hoa năm 1942. Thực chất “Việt Minh” là CS trá hình nhằm ngụy trang để lôi cuốn mọi từng lớp nhân dân. Khi mặt trận “Việt Minh” ra đời, ông Hồ đem các tổ chức “thanh niên cứu quốc”, “phụ nữ cứu quốc”, “công nhân cứu quốc”, “nông dân cứu quốc”……(đều bắt chước Mao) làm nồng cốt, núp dưới mỹ từ chính nghĩa “cứu quốc”.

Các tổ chức mệnh danh là “cứu quốc” thật ra khủng bố đồng bào trong các vùng họ chưa thiết lập được chính quyền. Các tổ chức “cứu quốc” còn tranh công với phe quốc gia đang xả thân kháng chiến, rồi tìm cách tiêu diệt người quốc gia tiểu tư sản, bằng cách vu khống, chụp mũ, rồi thủ tiêu….

Khai sinh ra “Mặt trận Việt Minh” thì ông Hồ nhằm mục đích lợi dụng danh nghĩa “VN Độc Lập Đồng Minh Hội”, để chiêu tập tổ chức quần chúng của tổ chức này, và đồng thời chiêu dụ tàn quân của phe thân Nhựt. Ông Hồ lợi dụng danh nghĩa “VN Độc Lập Đồng Minh Hội” để lôi cuốn phe thân Nhựt, cũng giống như việc ông lợi dụng danh nghĩa “Giải Phóng Đồng Minh Hội” của Trung Quốc, để lôi cuốn phe thân Hoa. Mục tiêu thật sự của ông nhằm phân hóa hàng ngũ đối phương và xây dựng thêm lực lượng riêng của ông ta. Có thể nói không lầm lẫn rằng: khi lập Mặt Trận “Việt Minh”, ông Hồ muốn che giấu bộ mặt thật cộng sản của mình và tổ chức của mình. Lý do hai chữ “cộng sản” đã bị dân chúng ghét bỏ vì nó đã tàn sát dã man người Việt trong vụ “cộng sản dậy năm 1940”, mà sách của cộng sản gọi “Nam Kỳ khởi nghĩa”. Mặt trận “Việt Minh” là sự ngụy trang chủ nghĩa dân tộc, bắt chước tổ chức “Mặt trận dân tộc” tung khẩu hiệu “Kháng Nhựt cứu nước”, thì mục đích chánh của nó không phải đánh Nhựt, mà chỉ làm tiêu hao lực lượng của chính phủ Quốc Dân Đảng, đồng thời khuếch trương lực lượng của riêng ông ta. Theo cách đó, ông Hồ lập “Mặt trận Việt Minh”, kêu gọi đoàn kết chống Pháp, nhưng mục tiêu thật sự của nó nhằm phân hóa hàng ngũ của phe quốc gia, để tiêu diệt họ. Khi mặt trận “Việt Minh” ra đời rồi, ông Hồ cũng bắt chước phương pháp của Trung Cộng để tiến hành:

– Cho cán bộ thụ huấn về chánh trị ở Tỉnh Tây làm nòng cốt.

– Củng cố và phát triển căn cứ địa.

Ông nói: “Muốn củng cố thì phải lấy huấn luyện chính trị làm cơ bản. Muốn phát triển phải tuyên truyền. Trong chế độ cộng sản, sự tuyên truyền (lừa bịp) là quốc sách hàng đầu….Khi chính phủ lâm thời tự phong đầu tiên trong rừng Thái Nguyên, ông Hồ có lập Bộ Tuyên Truyền, giao cho Trần Huy Liệu làm Bộ Trưởng. Cách tổ chức “chiến khu” thời kháng Pháp là bắt chước phương thức của Quốc Dân Đảng Trung Hoa thời kháng Nhựt. Hai chữ “chiến khu” thời kháng chiến như có ma lực, quyến rũ nhờ cách tuyên truyền qua các bài hát thịnh hành lúc đó:

“Chiều nay nhớ chiến khu,

“Trong rừng chiều….

Tôi chắc rằng quý vị ở tuổi cổ lai hi hôm nay, nhiều ngời còn nhớ bài hát rất được thanh niên ưa thích nầy. Chánh sách của Việt Minh gồm hai mặt: điểm và diện. Nói chỗ nầy nhằm tấn công chỗ khác. Nói thẳng mình là cộng sản, và muốn làm cách mạng vô sản thì phần đông dân chúng chán ghét, sẽ thất bại. ông phải “nói một đàng, làm một nẻo”. Muốn vậy phải học tập chính trị, nhồi sọ “chính nghĩa giai đoạn” cho mọi cán bộ. Cán bộ sẽ bảo đảm thi hành đúng đường lối và chánh sách của đảng đề ra. Trong sách “Hồ Chí Minh tại Trung Quốc”, tác giả Tưởng Vĩnh Kính có nhắc tới: “Ông Hồ tỉ dụ: “Cuộc vận động cách mạng (không phải kháng chiến giải phóng đất nước như họ đã tuyên truyền), giống như thủy triều lên. Các phần tử trung kiên giống như hàng cọc đóng xuống đất cát; khi thủy triều xuống, hàng cọc nầy sẽ chận giữ đất cát lại, không để cho trôi đi” (Sách đã dẫn, trang 210).

Phương pháp tuyên truyền của VC trước sau như một: trước hết dùng lời lẽ ngọt dịu để quyến rũ. Sau đó, tới giai đoạn làm áp lực, buộc thanh niên nam nữ gia nhập các tổ chức. Ai không theo bị gán tội “Việt gian” sẽ bị giết bất cứ lúc nào và tịch thu gia sản. Vì lẽ đó, thời kháng chiến chống Pháp, nhiều gia đình trung lưu phải bỏ vùng “giải phóng”, để ra vùng Pháp chiếm mới bảo toàn được sinh mạng, tuy bị mang tiếng phản bội.

Hồi mới về tuyên truyền lập các căn cứ du kích tại vùng của dân tộc Nùng, Thái đâu biết gì đến “độc lập” “tự do”. Họ chỉ biết có một điều “cơm no, áo ấm”, và cán bộ Việt Minh bảo họ cứ theo “Kê Hồ” tức có đủ hai thứ đó, thế thì nhiều người theo. Tuyên truyền với dân tộc thiểu số rất dễ dàng, và ông Hồ nhờ đó thành công bước đầu.

Chẳng những ông Hồ nhập nhằng giữa danh xưng các tổ chức có sẵn để lợi dụng, mà ông còn xâm nhập vào các tổ chức có trước, để lũng đoạn, phá hoại. Khi ở Liễu Châu (1942 – 44), ông Hồ tìm cách gia nhập “VN Cách Mạng Đồng Minh Hội” (lập 10 – 1942) để tìm viện trợ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng….Tuy nhiên, ông chỉ gia nhập với tư cách cá nhân, chớ không đem cái mặt trận Việt Minh của mình theo. Về chiến thuật này, ông Hồ từng nói với cán bộ: “Ta phải lợi dụng cơ hội đó mà gia nhập “VN Cách Mạng Đồng Minh Hội” để biến tổ chức của địch làm tổ chức của ta. Ta cũng lũng đoạn tổ chức của họ, khiến nó phân hóa”. Thủ đoạn nầy được ông Hồ áp dụng triệt để trong thời chiến tranh Quốc Cộng Nam Bắc 1954 – 75.

Sách lược của ông Hồ là bất luận phe phái nào, tổ chức nào, miễn có lợi cho quyền lợi riêng của đảng CS, thì ông không bao giờ bỏ qua. Ông lợi dụng triệt để, để tiến hành công tác riêng của đảng CS.

Vì không biết rõ tâm địa của Hồ Chí Minh, nhiều trí thức, đảng phải quốc gia chỉ trích ông ta “trước ở hải ngoại thì cùng chung tranh đấu giành độc lập, nay về nước thì phản bội”. Thật sự, chủ trương của ông Hồ chỉ giả vờ “đoàn kết”, thế thôi, ông Hồ “đoàn kết cuội”, để lừa dối họ, chớ đâu có thiết tha gì đến độc lập!

Nỗi ưu tư lớn nhứt của ông hồ là làm sao nắm chính quyền hợp pháp. Cướp chính quyền tháng 8 – 1945, chỉ có giá trị bằng sức mạnh, nhưng thiếu tư cách pháp lý để quốc tế nhìn nhận. Ông cần tư cách ấy, để kết tội những kẻ chống đối bằng những tội trạng bịa đặt, vu khống rồi tiêu diệt hoặc thủ tiêu. Sau đó mượn chánh nghĩa “Kháng chiến” giành độc lập để tiến hành cuộc cách mạng vô sản, để trở thành một nước xã hội chủ nghĩa, chư hầu của Nga, Tàu.

Nói tóm lại, thái độ của ông Hồ và đảng CS thay đổi như cái chong chóng: Khi thân Hoa, khi thân Mỹ, khi thân Pháp….có lúc lại biến tất cả thành kẻ thù. Lại có khi “liên hiệp” với các đảng quốc gia, nhứt cử nhứt động của ông ta, đều là những cử chỉ, thái độ giả trá. Mục đích của ông là làm sao cho Việt Minh cướp được chánh quyền. Khi có danh chánh ngôn thuận, tư cách chánh phủ hợp pháp, ông Hồ liền loại tất cả những ai không ở trong tổ chức Việt Minh. Sau khi bầu cử quốc hội cuội xong, ông Hồ, với tư cách chủ tịch nước, được quốc hội phê chuẩn, liền dùng mánh khóe, chụp mũ, vu cáo “những người quốc gia làm loạn”, giết người cướp của….rồi hạ lệnh cho bọn “tự vệ”, “cứu quốc” lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu. Mặt khác, ông Hồ cho liên tục mở các khóa huấn luyện chánh trị cho cán bộ, để làm cái nhân của Việt Minh CS. Lẽ ra. “kháng chiến”, một cuộc chiến tranh chống xâm lăng như dưới đời nhà Trần, nhà Lê, nó đâu cần “nhồi nhét” lý thuyết chánh trị vào đầu óc cán bộ, binh sĩ. Kháng chiến tự nó đã có chánh nghĩa, chớ không phải “có chánh nghĩa giai đoạn” như Việt Minh đề ra. Vai trò làm bình phong và cũng để lừa gạt dư luận của các trí thức như các ông Nguyễn Văn Huyên, Trần Đăng Khoa, Trần Thiện Lộc, Bùi Bằng Đoàn, Hoàng Minh Giám, Đặng Phúc Thông…. bị gạt bỏ, khi sự lừa bịp đã bị phơi bày. Hồi mới sang sảng kêu gọi, thúc giục toàn dân kháng chiến của ông Hồ, thanh niên cứ đinh ninh có một điều: “ta chiến đấu để đuổi quân thù ra khỏi đất nước, để nư?c nhà độc lập, rạng rỡ, quang vinh. Nào ngờ, cuộc kháng chiến cứ đi ngoằn ngoèo từng giai đoạn. Đó là “chỉnh huấn”. Đó là “rèn cán chỉnh quân”. Đó là “Cải cách ruộng đất”. Rồi phải học tập chỉ thị của đảng “đi theo cách mạng” (không còn kháng chiến nữa) là để cải tạo tư tưởng thối tha, để xưng đáng “là người của đảng, của xã hội mới”, chớ không phải kháng chiến để mong tới ngày độc lập như họ đã hứa, đã tuyên truyền mấy năm trước! Những cán bộ sau khi thụ huấn ở Tỉnh Tây về, trở thành những kẻ giảng dậy cho binh sĩ tân tuyển. Huấn luyện xong, cán bộ, binh sĩ trở thành “những kẻ bảo vệ quyền lãnh đạo của đảng”. Họ được đưa vào Nam, để thay thế các chức vụ then chốt mà những người có tài, có khả năng, được binh sĩ, dân chúng kính trọng nắm giữ…. Xin nhắc lại nỗi bận tâm duy nhứt của ông Hồ và đảng CS tức Việt Minh không phải là vấn đề “VN có sớm được độc lập hay không, mà là vấn đề bản thân Việt Min có thể đoạt thủ chánh quyền hay không” (sách đã dẫn, trang 357). Vì thế, khi Nhựt đầu hàng, các đảng quốc gia từ Trung Quốc kéo về, bị Việt Minh liên tục chận đánh và tiêu diệt dọc đường. Từ tháng 5 – 1945, Việt Minh cũng đổi thái độ từ thân ra thù với Trung Hoa Quốc Dân Đảng, vì sợ chánh phủ Tưởng Giới Thạch lãnh đạo, sẽ giúp người quốc gia “hãm Việt Minh vào thế bất lợi.”

Mở các khóa huấn luyện, ông Hồ bí mật cho phân loại thành phần xã hội những người đã theo Việt Minh để kháng chiến. Binh sĩ, cán bộ thuộc các gia đình tiểu tư sản, con cháu quan lại cũ, công chức thời Pháp, các gia đình điền chủ…. đều cảm thấy không còn chỗ đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa. Họ đã vì yêu nước mà theo Việt Minh, đã lập nhiều chiến công để Việt Minh nổi tiếng, bây giờ đến lúc “phải anh dũng hy sinh trong các trận đánh với Pháp”. Mỗi khi lâm trận, con em các gia đình tiểu tư sản bị dồn ra phía trước, làm bia đỡ đạn. Họ là những thành phần “phải xung phong trong chiến thuật biển người” của CS. Lợi dụng kẻ thù hy sinh cho đảng hưởng lợi là sách lược trước sau như một. Chánh sách nầy còn được tiếp diễn trong cuộc nội chiến Quốc Cộng (1954 – 75) và ngay cả tới ngày nay. Những người tị nạn CS, chạy thụt mạng trên biển Đông, bây giờ, trở thành “Việt kiều yêu nước”, đem tiền bạc, trí tuệ về “xây dựng quê hương”, tức vỗ béo cán bộ, đảng viên CS!

Từ khi Mặt Trận Việt Minh ra đời (5-1941) cho tới khi chiếm được chánh quyền (2-9-1945), đảng CS và bản thân ông Hồ, đều ngụy trang dưới hình thức chủ nghĩa dân tộc. Trong tiến trình khuếch trương lực lượng để cướp chính quyền, ông Hồ có quá nhiều kẻ thù: Pháp, Nhựt, Trung Hoa Quốc Dân Đảng, Mỹ…. và các đảng phái quốc gia. Ông Hồ quỷ quyệt dùng nhiều thủ đoạn nay bạn, mai thù, sớm đầu tối đánh, khi thân, khi chống…. Ông còn giả vờ hợp tác với các đảng quốc gia trong “chánh phủ liên hiệp”, để phá hoại và tiêu diệt đối phương. Đời ông chỉ có hai nước mà thủy chung ông vẫn tôn thờ, sùng bái là Liên Xô, Trung Quốc. Tuy nhiên, lãnh tụ các nước ấy khinh bỉ ông ra mặt. Năm 1949, Mao Trạch Đông là chủ tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ông Hồ cũng là chủ tịch nước Việt Nam 4 năm rồi. Vậy mà ông Hồ cầm đầu một phái đoàn đi xin viện trợ, phải băng rừng lội suối đến biên giới. Nhà cầm quyền Trung Cộng dùng một chiếc xe hàng (truck) chở phái đoàn lên Quảng Tây, bất chấp nghi thức ngoại giao không kèn, không trống. Sau đó, ông đi Liên Xô. Ông Lê Phát, thành viên của phái đoàn nầy kể lại: “….Sau nầy khi xem cuốn hồi ký “Memoires Inedites” của Nikita Kroutchev do nhà xuất bản Pierre Belfont dịch và in ở Paris, tôi biết thêm về chuyến “vi hành đầy gian khổ của ông Hồ. Tác giả (Nikita Kroutchev kể lại:

“Tôi nhớ Hồ Chí Minh đã đến Moscou để xin viện trợ vật chất và vũ khí để chống Pháp. Staline không tin vào cuộc chiến ở VN, nên đối xử với ông Hồ một cách nhục mạ. Tôi không thấy ở ông ta chút cảm tình nào đối với một người CS như Hồ……”Đáng lẽ phải kính trọng, biết ơn…. Tôi còn nhớ một việc khác xúc phạm đến Hồ. Staline nói với chúng tôi là Hồ xin được đón với tư cách là chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Staline không chấp nhận, đã trả lời Hồ: ” Cơ hội ấy đã qua rồi. Ông đến Moscou không ai biết, không thể thông báo việc ông đến được”…….Hồ chỉ đề nghị Staline cho một máy bay và chuẩn bị diễn văn đón Hồ, có thể từ trên máy bay xuống, để được đón như chủ tịch nước. Staline từ chối và ông ta cười khoái trá khi kể cho chúng tôi nghe việc ấy……” (Hồi ký Lê Phát, Quê Mẹ, số 140).

Chúng tôi xin mượn lời kết của Tưởng Vĩnh Kính: “Nhằm tranh thủ quần chúng, ông (Hồ) dựng cờ chống Pháp và tranh đấu độc lập dân tộc, trong khi đó, ông lại bán rẻ và bài trừ các đảng phái chống Pháp và tranh thủ độc lập dân tộc chân chính khác. Khi cần thiết, ông thà từ bỏ nhu cầu độc lập, để mưu cầu sự sinh tồn và phát triển cho bản thân ông. Ông cũng tuyên truyền chống Nhựt, nhưng lại kết hợp và lợi dụng các thế lực thân Nhựt, thậm chí còn cùng với Nhựt hành động song hành, hiệp trợ nhau chống lại kẻ địch khác, chỉ cốt mưu cầu bành trướng thế lực của bản thân ông. Ông cũng bày tỏ thái độ thân Hoa, nhưng chỉ là lợi dụng tổ chức thân Hoa nầy, để bài trừ hoặc tiêu diệt các đảng phái thân Hoa khác. Lúc cần thiết, ông lại thực thi các hành động bài Hoa để đạt mục đích khác. Ông tuyệt đối cần ngoại viện, nhưng ông không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào nhận ngoại viện. Ông cũng cần tranh thủ quần chúng, nhưng không muốn cho cá nhân hoặc đảng phái nào khác tranh thủ quần chúng. Ông lớn mạnh không phải từ những hô hào về chủ nghĩa cộng sản. ông đã dùng rất nhiều tên giả, lấy chủ nghĩa dân tộc để ngụy trang, lợi dụng tất cả các cơ hội có lợi, để bảo tồn và phát triển lực lượng bản thân ông. Ông cũng lợi dụng những nhược điểm của đối phương để làm cho lực lượng đối phương yếu đi, hoặc bị tiêu diệt hẳn… Bởi vậy, mỗi một hành động của ông đều cho thấy ông là một người theo cơ hội chủ nghĩa, chỉ biết lấy sự sinh tồn, lợi hại của bản thân mình làm mục tiêu chính.” (Sách đã dẫn, trang 373).

Hứa Hoành

Đóng cửa chính phủ, nước Mỹ đi về đâu?

Hậu quả của việc chính quyền Hoa Kỳ ngừng hoạt động—Tổng hợp

Ðài Tưởng niệm Lincoln ở Washington đóng cửa, ngày 1/10/2013.

Hai đảng đổ lỗi nhau khi chính phủ Mỹ ngừng hoạt động

Tổng thống thuộc đảng Dân chủ của Mỹ chỉ trích các thành viên của đảng Cộng hòa tại Hạ viện “trốn tránh trách nhiệm” khiến chính phủ Mỹ phải đóng cửa, trong khi đảng Cộng hòa cho biết họ đang nỗ lực để tìm hướng giải quyết chung.

USA Todaydẫn lời Tổng thống Barack Obama cho rằng các nghị sĩ của đảng Cộng hòa phải chịu trách nhiệm về việc chính phủ Mỹ ngừng hoạt động, đồng thời khẳng định kế hoạch về y tế của ông sẽ “tiếp tục thực hiện”.

Cuối ngày, tổng thống Mỹ có cuộc nói chuyện điện thoại với Chủ tịch Hạ viện John Boehner cùng một số nhà lập pháp hàng đầu khác nhưng không tìm được hướng giải quyết bế tắc.

“Quốc hội có hai trách nhiệm, thông qua một dự luật về nâng trần nợ ngân sách và giải quyết các khoản nợ của chính phủ. Đảng Cộng hòa Mỹ đang trốn tránh cả hai việc đó”, ông Obama nói.

Hạ viện Mỹ nhanh chóng có sự đáp trả sau phát biểu của tổng thống Mỹ. Telegraph dẫn lời ông Boehner cho biết các thành viên đảng Cộng hòa trong Hạ viện không hề có ý định làm chính phủ Mỹ phải đóng cửa. “Chúng tôi đã bỏ phiếu để chính phủ Mỹ tiếp tục hoạt động”, ông nói.

John Boehner còn kêu gọi “sự công bằng” cho tất cả công dân Mỹ khi đạo luật chăm sóc sức khỏe (Obamacare) được thực hiện. Ông cho rằng Thượng viện và Hạ viện Mỹ cần ngồi lại với nhau trong một cuộc họp để xóa bỏ sự khác biệt.

Nancy Pelosi, lãnh đạo phe thiểu số của đảng Dân chủ trong Hạ viện, lại cho biết việc buộc chính phủ Mỹ đóng cửa nằm trong kế hoạch của đảng Cộng hòa và là sản phẩm của hệ tư tưởng chống chính phủ trong đảng này.

“Đó là một sự bất đồng không cần thiết, làm thổi bay nước Mỹ”, Harry Reid, lãnh đạo phe đa số ở Thượng viện cho biết khi thời hạn đêm ngày 30/9 đã trôi qua được 2 phút.

Người dân Mỹ đã có nhiều phản ứng khác nhau sau khi biết tin Quốc hội thất bại trong việc đưa ra ý kiến thống nhất chung, buộc chính phủ Mỹ phải tạm ngừng hoạt động.

“Họ nên cùng nhau thỏa hiệp. Tuy nhiên, tôi cảm thấy thất vọng vì họ không có đủ khả năng làm điều đó”, Emily Enfinger, một người thích đi du lịch nói sau khi biết tin tượng Nữ thần Tự Do buộc phải đóng cửa.

“Hóa đơn hàng tháng, học phí con gái. Tôi còn nhiều vấn đề cần giải quyết bằng tiền lương của mình”, ông Smith, một bảo vệ 23 tuổi ở Công viên lịch sử di sản hàng không quốc gia Dayton, bang Ohio cho biết. “Tôi đang rối loạn và cũng chỉ biết chờ đợi như bao người khác”.

Nguyễn Tâm

Mỹ: Hết ngân sách, 800.000 công chức nghỉ việc không lương (RFI, 01/2013)

Nước Mỹ gần như tê liệt. Những lời kêu gọi của Tổng thống Barack Obama không làm thay đổi tình thế. Quốc hội lưỡng viện Hoa Kỳ không đạt được đồng thuận về Đạo luật Tài chính cho phép tránh được cái gọi là « bức tường ngân sách ». Các cuộc thương lượng vẫn tiếp tục, nhưng trong khi chờ đợi, nước Mỹ phải hoạt động chậm lại do không còn tiền. Khoảng 800 000 công chức buộc phải nghỉ việc không lương.

Từ Washington, thông tín viên Anne-Marie Capomaccio tường trình  :

“Trong những giờ qua, các văn bản được trao đổi liên tục giữa Hạ viện và Thượng viện. Nhưng trên thực tế, các cuộc thương lượng giữa các nghị sĩ không hề tiến triển. Hạ viện chuyển tới Thượng viện Đạo luật tài chính đẩy lùi một năm việc thực hiện cải cách bảo hiểm xã hội. Các văn bản này, sau khi được sửa đổi và tái lập lịch trình thực hiện cải cách bảo hiểm xã hội, gọi là « Obamacare », được Thượng viện gửi trả lại Hạ viện. Có thể gọi đây là cuộc đối thoại giữa những người điếc. Do Đạo luật tài chính không được thông qua, một phần ba công chức rơi vào tình trạng thất nghiệp kỹ thuật kể từ hôm nay, 01/10/2013.

Các lời kêu gọi của Tổng thống Barack Obama về trách nhiệm của các nghị sĩ cũng như các tiếp xúc của ông với các lãnh đạo đảng Cộng Hòa không làm thay đổi được tình thế, cho dù, theo các cuộc thăm dò dư luận do các phương tiện truyền thông thực hiện, người dân Mỹ mệt mỏi về cuộc khủng hoảng này và đa số quy trách nhiệm cho đảng Cộng Hòa về việc đóng cửa các cơ quan Nhà nước.

Tuy nhiên, bên trong đảng Cộng Hòa đã bắt đầu có những thay đổi. Bởi vì giờ đây, khủng hoảng đã xảy ra và không ai chịu nhượng bộ cả, các dân biểu do vậy phải thương lượng với nhau. Mọi việc đều có thể. Bên trong đảng Cộng hòa , vào đêm qua, đã có một sự nổi dậy của những chính trị gia ôn hòa, họ đã bỏ phiếu chống lại đảng của mình để tránh một tìnht trạng thất nghiệp kỹ thuật đối với các công chức. Nhưng họ không đủ đông, thiếu mất vài phiếu. Điều này có nghĩa là một số chính trị gia bắt đầu chán ngán cuộc chiến chống Đạo luật về bảo hiểm xã hội – Obamacare, được bỏ phiếu thông qua cách nay ba năm.

Bởi vì, các nhà phân tích đều đồng ý với nhau trên một điểm  : Cuộc khủng hoảng này có hại cho đảng Cộng Hòa. Được hưởng lợi từ cuộc khủng hoảng này là các dân biểu cực hữu, thuộc Tea Party. Chính đảng cực đoan này chống lại mọi sự can thiệp của Nhà nước và bác bỏ thẳng thừng mọi đề xuất, được đánh giá là chính đáng, của Tổng thống Barack Obama.

Lãnh đạo Tea Party Amy Kremer tuyên bố  : Luật cải cách bảo hiểm xã hội đã được thông qua mà không có lấy một phiếu ủng hộ của đảng Cộng Hòa. Tôi nghĩ là kết quả cuộc bầu cử tổng thống lẽ ra sẽ khác. Đúng là ông Obama đã tái đắc cử nhưng Hạ viện đã được bầu lại, với đa số thuộc đảng bảo thủ. Bà Kremer còn tố cáo Thượng nghị sĩ Harry Reid, thuộc đảng Dân Chủ là muốn đóng cửa các cơ quan của Nhà nước bởi vì ông ta nghĩ rằng đó sẽ là một thắng lợi đối với đảng Dân Chủ trong năm 2014.

Đối với các nghị sĩ ôn hòa thuộc đảng Cộng Hòa, họ có nguy cơ bị mất ghế trong cuộc bầu cử vào năm tới.
Trong khi chờ đợi các dân biểu đạt được thỏa thuận, 800 000 công chức Mỹ bị thất nghiệp kỹ thuật. Điều đó có nghĩa là nhiều lĩnh vực phải hoạt động chậm lại hoặc không hoạt động gì hết.

Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA gần như bị đóng cửa  : 97% trong tổng số 18 000 nhân viên buộc phải ở nhà. Đây cũng là trường hợp các công chức làm việc trong Cơ quan bảo vệ môi trường  ; hậu quả là các khuôn viên quốc gia phải đóng cửa từ 01/10/2013.

Các lĩnh vực Y tế, Quốc phòng bị mất 50% nhân viên. Trong các bệnh viện, chỉ có những nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân còn làm việc. Trong lĩnh vực Quốc phòng, tất cả những gì liên quan đến an ninh quốc gia thì vẫn hoạt động, như cuộc chiến chống khủng bố. Các binh sĩ vẫn ở vị trí của mình, các hoạt động kiểm tra hải quan không bị ảnh hưởng.

Những công chức nói trên tuy vẫn làm việc, nhưng lương của họ sẽ bị trả chậm, trong khi đó, số nhân viên được coi là « không cần thiết » thì phải nghỉ không ăn lương.

Cuộc khủng hoảng này gây ra những rối loạn trong tổ chức công việc, nhưng việc đóng cửa các cơ quan của Nhà nước gây tốn kém khoảng 200 triệu đô la mỗi ngày cho nước Mỹ”.

Anne-Marie Capomaccio

Viễn cảnh nước Mỹ khi chính phủ đóng cửa

Tượng Nữ thần Tự do, biểu tượng của New York và nước Mỹ, sẽ đóng cửa với khách tham quan, trong khi hầu như toàn bộ Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ ngừng hoạt động khi chính phủ Mỹ đóng cửa.

Dưới đây là viễn cảnh của nước Mỹ khi chính phủ ngừng một phần từ hôm nay do không được bơm tiền hoạt động.

Công chức

Tổng thống Obama hôm qua cho biết hàng trăm nghìn nhân viên chính phủ làm việc trên khắp thế giới sẽ thấy bị chậm lương do chính phủ đóng cửa, và thêm hàng trăm nghìn người nữa sẽ phải nghỉ phép vô thời hạn.

Theo dự tính của hãng tin Reuters, sẽ có tới một triệu nhân viên liên bang có thể phải đối mặt với cảnh nghỉ việc không lương từ ngày 1/10.

“Thứ sẽ không được chi trả tất nhiên sẽ là các hóa đơn, tài sản thế chấp, tiền học, tiền xe của họ. Họ sẽ bị chịu thiệt hại nặng nề, và kết quả là tất cả chúng ta sẽ bị ảnh hưởng nặng nếu Quốc hội quyết định đóng cửa chính phủ của người dân”, Obama nói.

Văn phòng Ngân sách Quốc hội tuyên bố “sẽ đóng cửa trên quy mô lớn” nếu chính phủ không còn tiền. Hầu hết các nhân viên Cơ quan Bảo vệ Môi sinh và Ủy ban Giao dịch hàng hóa giao sau cũng sẽ bị nghỉ việc không lương.

Giao thông hàng không

Các nhân viên kiểm soát không lưu liên bang vẫn làm việc bình thường ; các bộ phận kiểm tra an ninh sân bay cũng vậy. Thanh tra liên bang sẽ làm việc để đảm bảo các quy định an toàn bay.

Di chuyển quốc tế

Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ tiếp tục xử lý đơn xin visa từ nước ngoài và đơn xin cấp hộ chiếu Mỹ, bởi chi phí làm đơn dùng để trang trải cho các dịch vụ này. Các đại sứ quán, lãnh sự ở nước ngoài sẽ tiếp tục cung cấp dịch vụ cho công dân Mỹ. Tuy nhiên, bộ tuần này cảnh báo rằng hoạt động lãnh sự tại Mỹ và nước ngoài sẽ chỉ mở chừng nào “còn có đủ tiền hỗ trợ hoạt động”.

Từ 20.000-30.000 đơn xin visa đã không được xử lý mỗi ngày trong suốt hơn hai chục ngày chính phủ ngừng hoạt động vào giữa những năm 1990, theo cơ quan nghiên cứu của Quốc hội. Gần 200.000 đơn xin cấp hộ chiếu Mỹ cũng không được xử lý, gây thất thoát hàng triệu USD cho ngành công nghiệp du lịch và hàng không Mỹ, báo cáo cho hay.

Tòa án liên bang

Tòa án liên bang thông thường sẽ tiếp tục hoạt động trong vòng tầm10 ngày làm việc sau khi việc đóng cửa chính phủ bắt đầu, có thể cho tới khoảng giữa tháng 10. Nếu việc đóng cửa tiếp diễn, cơ quan tư pháp có thể sẽ phải cho nghỉ phép không lương đối với những nhân viên làm những việc không được coi là thiết yếu. Nhưng các vụ án sẽ vẫn được thụ lý.

Bộ Tư pháp thông báo họ sẽ đình chỉ nhiều vụ việc dân sự, nhưng những vụ án hình sự sẽ tiếp tục bình thường.

Giải trí

Tất cả công viên quốc gia nhiều khả năng sẽ đóng cửa, bên cạnh các bảo tàng Smithsonian, Vườn thú Quốc gia ở Washington. Những người đến công viên để cắm trại qua đêm hay sử dụng cơ sở vật chất công viên sẽ được cho 48 giờ để sắp xếp và rời công viên. Các trung tâm tham quan khác sẽ bị đóng cửa còn có : Tượng Nữ thần Tự do và Đảo Ellis ở New York, Hội trường Độc lập ở Philadelphia, đảo Alcatraz gần San Franciso và Đài tưởng niệm Washington.

Số nhân viên sẽ ở mức “tối thiểu nhằm thực hiện các chức năng thiết yếu”, theo Bộ Nội vụ. Điều này đồng nghĩa với việc có thể tới 70.000 nhân viên sẽ bị phải nghỉ việc không lương.

Việc đóng cửa 368 địa điểm công viên quốc gia làm mất đi 7 triệu khách tham quan trong vụ đóng cửa năm 1995 và 1996. Còn việc đóng cửa các công viên, tượng đài quốc gia dẫn thất thu hàng triệu USD cho cộng đồng địa phương.

Y tế

Các bệnh nhân mới sẽ không được tiếp nhận vào nghiên cứu y học tại Viện Y tế Quốc gia (NIH), nhưng những bệnh nhân hiện có sẽ tiếp tục được chăm sóc. Hoạt động nghiên cứu y học tại NIH sẽ bị đình chỉ và một số nghiên cứu sẽ bị trì hoãn. Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Bệnh dịch cũng sẽ bị hạn chế mạnh trong việc phát hiện và nghiên cứu những nạn dịch, từ cúm tới virus MERS bí ẩn từ Trung Đông.

An toàn thực phẩm

Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ sẽ xử lý những khiếu nại có nguy cơ cao và có khả năng đình chỉ hầu hết những cuộc thanh tra định kỳ. Công tác thanh tra thịt liên bang dự kiến diễn ra như thường lệ.

Thuế

Người Mỹ sẽ vẫn phải đóng thuế và khai thuế, nhưng Sở Thuế Vụ nói họ sẽ đình chỉ tất cả hoạt động kiểm toán. Có thắc mắc ? Rất tiếc, dịch vụ dành cho người nộp thuế, trong đó có đường dây giải đáp câu hỏi cũng sẽ đóng cửa.

Nhiều người đi vay thu nhập từ thấp tới trung bình, và những người mua nhà lần đầu muốn xin một khoản thế chấp có sự hỗ trợ của chính phủ sẽ bị trì hoãn trong quá trình đóng cửa. Cơ quan Quản lý Nhà Liên bang, vốn đảm bảo 30% số thế chấp nhà, sẽ không bảo lãnh phát hành hay chấp nhận bất cứ khoản vay mới này trong quá trình đóng cửa. Các hoạt động cho vay do chính phủ hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ cũng sẽ bị đình chỉ.

Khoa học

Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) “sẽ đóng cửa gần như toàn bộ”, tổng thống Mỹ nói. Chỉ có những nhân viên tại Trung tâm Điều khiển bay ở Houston và một số nơi khác sẽ tiếp tục làm việc để hỗ trợ trạm Vũ trụ Quốc tế, nơi hai phi hành gia Mỹ và 4 người khác đang được triển khai.

Dịch vụ Thời tiết Quốc gia Mỹ sẽ tiếp tục dự báo thời tiết và phát cảnh báo, còn Trung tâm Bão quốc gia vẫn sẽ theo dõi bão. Tuy nhiên, hoạt động khoa học tại Cục Khảo sát Địa chất Mỹ sẽ bị đình chỉ.

Nhà tù

Tất cả 116 nhà tù liên bang vẫn mở cửa, và kiện tụng hình sự vẫn diễn ra. Tuy nhiên, tiền lương dành cho quản tù có thể sẽ bị chậm.

Quân đội

Tổng thống hôm qua ký luật đảm bảo rằng 1,4 triệu binh sĩ đang làm nhiệm vụ sẽ vẫn được trả lương trong giai đoạn chính phủ đóng cửa.

“Quốc hội đã thông qua, và tôi đang ký thành luật, đảm bảo rằng các bạn nhận lương đúng thời hạn. Và chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc để giải quyết bất cứ tác động nào mà vụ đóng cửa này gây ra đối với các bạn và gia đình”, Obama nói trong một thông điệp video dành cho quân đội Mỹ và gia đình họ.

Tuy nhiên khoảng một nửa số nhân viên dân sự của Lầu Năm Góc sẽ được cho nghỉ việc không lương.

Trọng Giáp

Tài chính thế giới phản ứng trái chiều với tin xấu từ Mỹ

Việc Mỹ tạm đóng cửa chính phủ chưa gây “sóng gió” đáng kể trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, đồng đôla đã giảm nhẹ và giá vàng đi lên.

Tin Quốc hội Mỹ không tin được tiếng nói chung trong chính sách y tế (Obamacare) khiến chính phủ nước này đóng cửa gây ảnh hưởng trái chiều lên thị trường tài chính quốc tế, sau ít giờ được công bố. Tính đến giữa chiều nay (1/10) theo giờ Hà Nội, đôla Mỹ đã giảm giá 0,1% so với các đồng tiền trong rổ tiền tệ phổ biến, xuống mức thấp nhất trong vòng 7 tháng.

Trên thị trường hàng hóa, vàng tăng 0,1%, lên mức 1.328,6 USD một ounce. Trước đó, kim loại quý đã tăng liền 7,6% trong quý III, giúp đồ thị đảo chiều sau 3 quý giảm trước đó. Ngược lại, giá dầu thô Brent hạ 0,5%, ở ngưỡng 107,8 USD một thùng sau khi tăng 6% trong 3 tháng.

Trên thị trường chứng khoán, do các thị trường tại Mỹ và châu Âu chưa bước sang ngày 1/10 nên diễn biến chủ yếu được ghi nhận tại châu Á. Chỉ số MSCI Châu Á Thái Bình Dương tăng 0,4%, đạt 139,05 điểm vào giữa phiên tại Tokyo. Angus Gluskie, Giám đốc đầu tư của quỹ quản lý tài sản White Funds đánh giá : “Các số liệu về kinh tế tại châu Á đã tốt hơn và điều này đem lại cho các nhà đầu tư chút gì đó lạc quan”.

Chỉ số Nikkei 225 của Nhật cũng tăng 0,2% lên gần 14.485 điểm, Kospi của Hàn Quốc tăng 0,1% và Straits Time (Singapore) thêm gần 0,5%, Taiex (Đài Loan – Trung Quốc) tăng 0,16%… Trong khi đó, ASX của Australia dao động liên tục giữa tăng và giảm. Riêng thị trường Hong Kong và Trung Quốc đang đóng cửa nghỉ Quốc khánh 1/10.

Dường như quên đi vấn đề của Mỹ, các nhà đầu tư tại châu Á đang đợi chờ tuyên bố của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe về gói kích cầu kinh tế và kế hoạch tăng thuế tiêu dùng tại đất nước Mặt trời mọc.

Đây là lần đầu tiên sau 17 năm nhiều cơ quan liên bang Mỹ phải ngừng hoạt động khi hai viện không thông qua được ngân sách. Hệ quả sáng ngày 1/10 (theo giờ Mỹ) sẽ có khoảng 800.000 lao động phải nghỉ việc vô thời hạn, trong đó ước tính 400.000 người đang làm việc trong Bộ Quốc phòng, 30.000 người thuộc Bộ Thương mại và hàng chục nghìn nhân lực thuộc các Bộ khác. Chỉ có 3 bộ phận vẫn hoạt động bình thường là điều phối không lưu, an ninh quốc phòng, năng lượng và vũ khí hạt nhân

Khánh Linh

Lãng Mạn Cà Phê Hè Phố Ở Paris—Lynne

LUNDI
Ở từng góc phố, những quán cà phê nhỏ bé, nên thơ với những giỏ hoa sắc màu sặc sỡ như một nét điểm xuyết đáng yêu cho Paris tráng lệ. Chọn một góc khuất, nhâm nhi một tách cà phê thơm nồng để tận hưởng cuộc sống êm đềm nơi đây.

Sự thực đến Paris mà không vào quán uống cà phê, bạn sẽ “không thấy và không có Paris”. Những quán cà phê nhỏ bé, xinh xắn hiện diện ở mỗi góc phố, bên bờ sông, bên cạnh quảng trường, dã chiến với những bộ bàn ghế gỗ đơn giản, những chiếc dù che nắng duyên dáng hay thực đơn được viết đơn giản bằng bảng đen phấn trắng.

Suốt con đường dài bên tả ngạn sông Seine gọi là đường của các quán cà phê. Mỗi góc phố đều có một quán cà phê với lối trang trí đặc biệt Pháp, mở thông ra hè phố.

*

 ca-phe5-4442-1379317646

Các quán cà phê ở khắp các đường phố, ngõ ngách của Paris hoa lệ.

Ảnh: Colourofviet.com

*

Dưới mái hiên che bằng nhựa trong để lấy ánh sáng là những chiếc ghế mây nhỏ, những bàn tròn hay vuông gọn gàng cho hai, ba người ngồi hay những bộ bàn ghế sắt sơn trắng uốn lượn xinh xắn, được phủ lên môt lớp khăn ren hay kẻ sọc thanh nhã.

Du khách không thể nào không dừng bước trước những mùi thơm dễ chịu tỏa ra từ những quán ngoài trời giản dị mà tinh tế với những giỏ hoa tươi ngập tràn màu sắc trải dài khắp quán.

Thú vị nhất là ngồi ở quán Procope ở tả ngạn sông Seine, một trong những quán cà phê cổ nhất Paris, nhấm nháp một ly cà phê thơm nồng, phóng tầm mắt và cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn của xứ sở tình yêu này.

*

quan-ca-phe-8487-1379317646

Quán cà phê nổi tiếng ở Paris luôn hấp dẫn bất kỳ du khách nào đến thăm. Ảnh: Le Procope

*

Người Pháp hay nhâm nhi tách cà phê trên góc phố cùng với chiếc bánh croissant, hay mấy thanh chocolate đen, kẹo nougat…

Cà phê cũng thường được chia ra làm 2 loại:

Café au lait và Café noir. Cafe au lait có pha trộn từ cafe với sữa, kem, bơ tươi. Đó có thể là Café noisette – espresso đậm đặc pha chút sữa tươi hảo hạng.

Cafe Noir nguyên chất, vị nặng và đằm, thường được phân loại dựa theo xuất xứ, chất lượng của hạt cà phê cũng như nồng độ pha chế.

ca-phe-phap1-6257-1379317646.jpg

Một bữa sáng phong cách của người Pháp. Ảnh: colourofviet.com

Nếu một lần đến Paris, hãy chọn một góc khuất ở bất cứ ngã tư nào của thành phố, gọi một cốc cà phê sữa, ngắm nụ cười mỉm đặc biệt của người Pháp, tận hưởng cuộc sống êm đềm trôi nơi đây.

Lynne

Đọc Hồi Ký Của Một Vị Niên Trưởng—Nguyên Thiều

Cuốn Hồi Ký này thuật lại những sự thực hiển nhiên trong Chiến Tranh Việt Nam, để hậu thuẫn cho chính nghĩa của phe Quốc Gia ở Miền Nam, để khẳng định đức hạnh và danh dự của quân nhân VNCH và Hoa Kỳ (và Đồng Minh) đã chiến đấu cho Tự Do của Miền Nam. Cựu chiến sĩ Mỹ và VNCH nên đọc và lưu lại cho con cháu. Đây là cuốn sách đầu tiên của một quân nhân Việt Nam viết bằng tiếng Anh dài 598 trang về Chiến Tranh Việt Nam.

Tôi không là nhà báo hay văn sĩ, lại càng không phải là người điểm sách. Với tầm hiểu biết của một độc giả bình thường, xin được nêu ra vài nhận xét nhỏvà cũng nhân đó giới thiệu về quyển sách mà một vị niên trưởng đồng môn của tôi đã viết. Độ dày của sách khiến tôi tò mò vì xưa nay ít có nhà xuất bản Mỹ nào chịu in những quyển sách dày như vậy. Tò mò của tôi đã nhanh chóng chuyển thành ngạc nhiên sau khi đọc qua những mẩu chuyện “thật thà như đếm” mà lại lôi cuốn một cách nhẹ nhàng kỳ thú chứa đựng trong đó. Tôi dán theo những nhận xét của tôi vài tấm hình; quý vị sẽ không thể thấy được hình ảnh nếu đọc message trong Yahoo Group (do hạn chế html của new version). Hình sẽ chỉ hiển thị nếu được đọc trong inbox cá nhân hoặc Google Group. Tôi rất xin lỗi về sự bất tiện này.

Viện Đại Học Indiana cho ra mắt một quyển sách có nhan đề về Chiến Tranh Việt Nam vào mùa xuân năm 2012. Không kể trang bìa, 15 trang mục lục, dẫn nhập và giới thiệu, sách dầy 598 trang, in trên khổ giấy 6X9, bìa cứng, được viết theo thể hồi ký, không viết theo mẫu mực sưu tầm nghiên cứu. Sách gồm 6 phần, 30 chương với tựa đề: Nationalist in the Viet Nam Wars—the Memoirs of a Victim turned Soldier. Tạm dịch là, Người Quốc Gia trong Chiến Tranh Việt Nam—Hồi Ký của một Nạn Nhân trở thành Chiến Binh.

 
Khi tự nói về mình, tác giả một mực khiêm tốn cho rằng, ông là “nobody”; nhưng đọc qua vài chương, bị cuốn hút vào những câu chuyện sôi nổi và nhận chân được giá trị của cuốn sách, độc giả chắc chắn hiểu rằng—người viết chẳng phải là “nobody” mà phải là “somebody”. Sách tường thuật lại những biến cố, những kinh nghiệm bản thân và thực tế cuộc đời trong chiến tranh mà tác giả đã trải qua—hoặc biết được và tin chắc là sự thật từ đầu thập niên 1940 khi ông còn tấm bé, cho đến tháng 10 năm 1990 khi ông cùng gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ. Ngay sau khi xuất bản, quyển sách đã được quảng bá và đón nhận rộng rãi; thế nhưng, ngay tại địa phương nơi tác giả cư ngụ, có vẻ như—vẫn không mấy người biết đến. Người ta có thể tìm được phần nhận xét, điểm sách, giới thiệu… của nhiều nhân vật tiếng tăm đã đọc quyển sách này và viết ra những nhận xét của họ như:
 
– Đại Tá Gregory Fontenot, Tiến Sĩ–Giám Đốc University of Foreign Military and Cultural Studies (Army magazine, trang 65):
…”This book is a first-rate contribution to correcting the record. Readers who approach writer with their hackles well down will find a new and refreshing view of what happened in Vietnam from the end of WWII through 1975″…
– Cố Vấn Daniel J. Cragg, Luật Sư–Chánh Án Toà Thượng Thẩm: 
…”Never once in this long book does he refer to Saigon as “Ho Chi Minh City.” He is still a Vietnamese patriot although now fate has decreed that one day his bones will rest in foreign soil. For the people of his generation that may be the greatest tragedy of the Vietnam War”.
 
– Luật Sư Đoàn Thanh Liêm:
…”Người viết rất hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn hồi ký rất trung thục và lý thú này của vị cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là một người có tấm lòng yêu nước nồng nhiệt chân thành. Sau cùng, người viết xin được bày tỏ lòng biết ơn và quý trọng chân thực đối với tác giả vì sự đóng góp thật quý báu này”.
 
– Nhà Văn Mặc Giao:
…”Đây là một cuốn sách rất đáng đọc, đáng được giới thiệu cho bạn bè ngoại quốc, nhất là cho những người trẻ Việt Nam để họ hiểu được, thấy được những lầm than, nỗ lực và hy sinh của thế hệ cha anh cho đất nước và cho chính họ”. 
 
– Thiếu Tướng David T. Zabecki:
…”An important book. One of the most compelling and thoughtful ARVN (Army of the Republic of Viet Nam) accounts I have ever read…. It is an unblinking, unflinching account… a very honest book, the author’s integrity comes through on every page.” 
 
Giáo Sư Williamson Murray:
“The study of the Vietnam wars is too often a cottage industry of Americans, many of whom seem to believe the war only began with increasing U.S. involvement in the early 1960s. Admittedly, interesting work from the North Vietnamese perspective, largely in literary form, has begun to emerge, but the perspective of those who fought for the Republic of Vietnam has largely gone unreported. That is why this is an important book”. 
 
– Trung Tướng Lawson Magruder:
“Of all the many books I have read about the Vietnam War, this one pays the ultimate tribute to the incredible sacrifices made by the courageous soldiers and people of South Vietnam. Through the eyes of a true patriot, the history and decisive operations of the conflict are reviewed from the unique perspective of a victim turned soldier. I have known the author for nearly four decades and can attest to his personal courage, his passion for life, and his intense love for his country. This book is a must read for those who want the complete picture and whole truth about a tragic war that consumed the world for over two decades.”
 
– Giáo Sư Olga Dror:
“His work provides us with a unique voice from the South Vietnamese side of the conflict in Vietnam. But it does much more than this. The author skillfully entwines memories of his and his family’s life with the broader picture of the events taking place in his country. As his book is unique, so has been his life”. 
 
– Đại Tá John Swindells:
“This detailed history of the life of a Vietnamese officer offers the best understanding of the wars in Southeast Asia that I have found. Even after two year-long tours in country, I learned much from this book about the history of the region and the culture of the Vietnamese people. No one who has not read this book can claim to understand what happened. As an American officer, some of the detail is quite painful to me. Nevertheless, I strongly recommend it”. 
 
Người Việt có câu: “Bụt Chùa nhà không thiêng”. Người Mỹ bảo rằng: “No man is a prophet in his own land”. Người Pháp cũng nói: “Nul n’est prophète en son pays”. Cả 3 câu nói Việt–Mỹ–Pháp vừa kể nếu đem áp dụng vào trường hợp của quyển Nationalist in the Viet Nam Wars xem chừng cũng có vài phần thích hợp. 
 
Tác giả quyển sách là Niên Trưởng Nguyễn Công Luận—cựu sinh viên sĩ quan Khoá 12 của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Ông là một cây viết từng cộng tác với nhiều tờ báo tại Sài Gòn từ trước năm 1975—(kể cả tờ Diều Hâu) dưới bút hiệu Lữ Tuấn. Được biết, cùng với 4 học giả Hoa Kỳ khác—mà niên trưởng là nhân vật số 2, ông đã cộng tác với Giáo Sư—Nhà Sử Học Spencer C. Tucker trong vai trò associate editor soạn thảo pho sách Encyclopedia of the Vietnam War xuất bản hồi năm 1998 (ABC-CLIO). Hiện nay, niên trưởng cũng viết cho đặc san Đa Hiệu của Tổng Hội Võ Bị và một vài tờ nhật báo, tuần báo tại California.   
 
Nội dung Nationalist in the Viet Nam Wars thuật lại các biến cố đáng kể xảy ra đối với cuộc đời của một người Việt Nam bình thường điển hình—tiêu biểu cho thế hệ của tác giả trong hai cuộc chiến tranh 1946-1954 và 1955-1975 tại Việt Nam, những trận giao tranh ác liệt, những cảnh giết chóc tàn bạo, những hành hạ và tù đầy thảm khốc, những tấm lòng nhân ái hay tàn ác trong chiến tranh, về con người trước súng đạn và thù hận. Sách này không phải là tài liệu nghiên cứu, mà là hồi ký có góc nhìn trung thực từ những vị trí thấp bé của người dân, người lính, không phải từ vị trí của các nhân vật quyền lực luận bàn về chuyện quốc gia đại sự.
  
Toàn bộ cuốn sách được trình bầy như một quyển truyện—quyển tiểu sử viết về một cá nhân theo diễn tiến thời gian song song với lịch sử quốc gia, mà trong đó bao trùm những sự kiện và các biến cố của dân tộc về mọi mặt văn hóa, chính trị, xã hội—khi chiến tranh và lúc thanh bình. Những vấn đề được nêu lên trong sách rất đa dạng, người đọc khó có thể liệt kê hết vào nội dung của vài lời nhận xét ngắn ngủi. Hầu như vấn đề nào có liên quan đến chiến tranh, đặc biệt là những sự thật đã bị Việt cộng, giới truyền thông Mỹ và ngoại quốc xuyên tạc, vu cáo đều được ghi lại.
 
Tác giả chú trọng nhiều đến những biến cố hoặc sự kiện mà đa số người ngoại quốc và một số người Việt Nam không biết, hoặc biết nhưng không quan tâm đến tác động và hậu quả. Rất nhiều điều mà người Việt Nam ai cũng rõ như một cộng một là hai; thế nhưng, nhiều người ngoài cuộc vẫn hiểu ngược lại vì thiếu dữ kiện so sánh; và nhất là, vì từ lâu đã bị đầu độc bởi những tuyên truyền xuyên tạc ác ý. Tác giả thuật lại những gì mình ghi nhận được về nhiều mặt, những sự kiện cũng như sắc thái của cuộc tranh chấp quốc-cộng qua những đoạn đời từng trải, từ thuở ấu thơ là nạn nhân của chiến tranh cho đến khi trưởng thành nhập ngũ, trực tiếp tham dự vào cuộc chiến ấy. Người đọc sẽ thấy những tâm tư của một người Việt trong một đất nước nghèo hạnh phúc và an vui, mà lại giầu bom đạn và lòng hận thù qua những mẩu chuyện nho nhỏnhững nhận xét khách quan về nhiều mặt hay dở, tốt xấu, thành bại của giới cầm quyền và quân đội của cả đôi bên diễn ra tại hạ tầng cơ sở. Nhiều vấn đề không được thế giới bên ngoài, nhất là dư luận phương Tây và Hoa Kỳ biết đến hoặc đã bị hiểu một cách sai lệch được vạch trần và kể lại trong quyển sách này. Thí dụ như, chiến tranh tại Việt Nam không phải chỉ xẩy ra từ đầu năm 1962 khi quân lực Mỹ bắt đầu can thiệp vào Việt Nam như báo chí ngoại quốc vẫn lầm tưởng.
 
Tác giả thẳng thắn kể đến những bất cập của chính quyền và quân đội VNCH về chính trị hành chánh, chiến thuật, về tệ nạn tham nhũng, về thực chất chế độ dân chủ ở Miền Nam và những hạn chế nỗ lực chiến tranh không thể vượt qua; về quân sự như chiến thuật (sử dụng lực lượng), quản trị nhân sự (thăng thưởng bừa bãi); gánh nặng gia đình binh sĩ cũng như gánh nặng “tự do báo chí” và những nhiễu loạn chính trị… Chẳng hạn như, CSVN bỏ xa VNCH về kỹ thuật xảo trá–quỷ quyệt trong tuyên truyền và phản tuyên truyền.
 
Tác giả chứng minh rằng VNCH không dám mạnh tay với dân chúng để đẩy mạnh nỗ lực chiến tranh chống Việt cộng trong khi hệ thống tuyên truyền lưu manh cùng với bộ máy khủng bố cùng hung cực ác của Việt cộng tại thôn quê đã nắm chặt từng mảnh vườn, từng căn nhà và từng mạng sống của người dân. Dân chúng phải làm mọi việc mà CSVN ra lệnh và chúng đã kiểm soát họ bằng súng, lựu đạn, dao găm… CSVN thực hành các phương pháp khủng bố rất hữu hiệu song song với các thủ đoạn tuyên truyền chinh phục đối tượng một cách tài giỏi. Rất nhiều anh em ruột theo 2 phe đã giết nhau không nhân nhượng chỉ vì một bên đã mù quáng nghe theo lời tuyên truyền của cộng sản. Ở nhiều chỗ trong sách cũng nói về chế độ tù đầy của cộng sản và quốc gia; thí dụ như, sự thực về vụ Phú Lợi (Chương 13).
 
Bằng những hiểu biết và kinh nghiệm từng trải khi phục vụ ở nhiều nơi như Kontum, Quy Nhơn, Sài Gòn, v.v… tác giả nêu lên những sự thật về cuộc chiến ở nông thôn cũng như ở thành thị—tác dụng của chiến tranh trên mọi lãnh vực như tình yêu và hôn nhân, đạo đức và sa đọa, khuynh hướng hiện sinh và tệ nạn băng đảng…
 
Tác giả ghi nhận đóng góp của những người vợ lính nghèo nàn nhưng hết lòng hy sinh cho chồng (Chương 23). Nhiều người tham dự trực tiếp trên chiến hào hay công sự phòng thủ hoặc chuyển đạn dược tiếp tế cho chồng và các chiến hữu của chồng. Trong số này có người bạn đời của tác giả, đã hỗ trợ đắc lực cho chồng, đặc biệt trong việc giúp đỡ cuộc sống của gia đình binh sĩ thuộc quyền. Chính bà cũng là sức cản mạnh mẽ giúp chồng tránh khỏi những vụ tham nhũng lớn nhỏ. Tác giả có những mối tình sâu đậm mang nặng ảnh hưởng của chiến tranh. Mối tình sôi nổi hồi năm 1957 đến 1961 không mấy phai mờ. Cho đến nay, hình ảnh người đẹp của hơn 50 năm trước vẫn còn thường xuyên ám ảnh chàng trai ngày nào trong những giấc mơ chập chờn lúc nửa đêm.
 
Trong đời sống công vụ và quân vụ, tác giả chủ trương thừa hành nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phải đối phó bằng tình cảm thích đáng song song với kỷ luật và pháp chế đối với thuộc cấp, với dân chúng và với địch quân. Là một cựu Giám Đốc Nha Tiếp Nhận thuộc Bộ Thông Tin Chiêu Hồi, ông đã nhắc đến thành công lớn của chế độ VNCH về chính sách Chiêu Hồi, một chính sách độc đáo mà trên thế giới không nước nào có (Chương 19). Lòng khoan dung của người quốc gia đã thu hút về phía mình hơn 150.000 sĩ quan, cán bộ và binh sĩ CSVN (tương đương với 20 sư đoàn cộng sản) trong thời gian 12 năm (1963-1975) được rất ít người biết đến.
 
Cuốn sách cũng nhắc đến những người Mỹ ở nhiều cơ quan, đơn vị tại Việt Nam, trên trận địa cũng như trong bar, night club hay trên đường phố để xác định người lính Mỹ không giống như lính Pháp trong chiến tranh 1946-1954sang VN để tái lập chế độ thuộc địa Pháp, giết chóc hãm hiếp bừa bãi như cộng sản đã ra rả xuyên tạc (và đã thành công). Khi nhìn bề ngoài, lính Pháp và lính Mỹ giống nhau (cũng nón sắt, quân phục màu olive, mũi lõ, mắt xanh, da trắng). Tuy vậy, Mỹ cũng mắc nhiều lỗi lầm chủ quan như thiếu hiểu biết về địch và bạn, không biết và không khai thác những chỗ yếu của đảng, quân đội và xã hội Miền Bắc, không biết bản chất cuộc chiến tranh du kích, ỷ lại vào hỏa lực mạnh và vũ khí tinh vi, đánh giá thấp chiến tranh tâm lý. Về phương diện tích cực, nhiều người Mỹ đến VN với thiện chí cao đẹp, các đơn vị Mỹ không ngại nguy hiểm khi hết lòng cấp cứu nạn nhân thiên tai và chiến tranh. Đa số các cố vấn quân sự tỏ ra khiêm tốn, thân thiện và gắn bó với các đơn vị mà họ chịu trách nhiệm. Họ truyền thụ tay nghề cho các chuyên viên VN với nhiều nhiệt tình, làm thay đổi bộ mặt khoa học kỹ thuật của Miền Nam trong chiến tranh (và cả nước ngày nay).
 
Một chương trong sách (Chương 12) được dành ra để nói về những cải tổ sâu rộng toàn diện của quân đội Miền Nam cũng như Trường Võ Bị Đà Lạt (quân phục sinh viên sĩ quan, chương trình huấn luyện, hệ thống tự chỉ huy, nghi lễ) sau khi VNCH ra đời cuối năm 1955, khi Khóa 12 đang thụ huấn. Tinh thần và khả năng của lớp sĩ quan trẻ. Ngoài ra còn có một số tin tức và vấn đề đặc biệt mà ít người được biết về Chiến Tranh Việt Nam, như so sánh tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá giữa 2 miền Nam Bắc trong chiến tranh.
 
Người đọc có thể thấy, một trong những mục tiêu của tập hồi ký là xác định vai trò lịch sử, bản chất xấu tốt và chính nghĩa của người Việt quốc gia và quân đội VNCH trong cuộc tranh chấp đổ máu quốc cộng tại Việt Nam mở màn ngay từ 1945 đến những năm tháng của bắt bớ và tù đày sau 30/4/1975. Mục tiêu hàng đầu của cuốn hồi ký là nhắm vào các thế hệ trẻ gốc Việt ở nước ngoài chỉ thông thạo Anh ngữ và các cựu chiến binh Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam. Đây là 2 lớp người cần hiểu biết rõ ràng, chính xác và đầy đủ về lịch sử Việt Nam thời cận kim để thấy Chiến Tranh Việt Nam đã bị bóp méo, xuyên tạc với những tin tức không đầy đủ, với những phóng sự vu cáo, bịa đặt, thiên vị làm lợi cho cộng sản.
 
Hiển nhiên, cuốn hồi ký góp phần không nhỏ vào việc phục hồi danh dự, đồng thời vinh danh sự hy sinh cao quý của người lính Quân Lực VNCH cũng như Quân Lực Hoa Kỳ và Đồng Minh. Ở mức độ cao hơn, cuốn sách thực sự đóng góp vào nỗ lực xác định vị trí chính nghĩa vững vàng và vinh quang của chính thể VNCH trên trường quốc tế. VNCH và quân đội đã đóng góp thành công như thế nào trong việc xây dựng đất nước—đặc biệt về kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa giáo dục… vào những thời kỳ mà chiến tranh đang lên đến mức ác liệt nhất. Sau năm 1975, các tiến bộ về khoa học kỹ thuật của VNCH để lại đã giúp cho chế độ CSVN rất nhiều trong việc xây cất, phát triển kỹ nghệ. Khi tiếp thu Sài Gòn, các kỹ thuật gia Liên Xô rất ngạc nhiên trước trình độ hiểu biết tân tiến của chuyên viên Miền Nam—thừa nhận rằng, ngay tại Mạc Tư Khoa, họ cũng chỉ nghe nói đến một số kỹ thuật cao cấp ở Miền Nam Việt Nam chứ chưa hề được ứng dụng.
 
Lập trường về CSVN được nói rõ ở nhiều phần trong sách. Đối với những lời khuyên chúng ta quên hận thù, tác giả khẳng định rằng người quốc gia không thù hận các cán bộ, đảng viên ở cấp thừa hành có hành động tàn ác, dã man, xảo quyệt, hại dân vì họ chỉ là tay sai phải làm những việc do cấp trên của họ chỉ định và bắt buộc. Nhưng lòng thù hận sắt máu đối với các lãnh tụ cộng sản cao cấp thì không thể quên được vì chúng đã cố tình đem chủ nghĩa cộng sản tàn độc vào làm hại đất nước, gây chết chóc cho nhiều triệu đồng bàotàn phá quê hương, làm suy đồi nhân bản, văn hóa, đạo đức. Chúng ta không bao giờ quên mối thù sâu đậm đối với bọn lãnh tụ trung ương đảng cũng như chúng ta không thể quên được vết cắn đau đớn của con chó dại trên bắp chân mình.
 
Để trả lời câu hỏi “Chúng ta sẽ đối xử với người CSVN như thế nào nếu chúng ta là kẻ thắng trận?”; tác giả cho rằng, “Chắc chắn VNCH sẽ không kỳ thị, không phân biệt đối xử, không cầm tù, không trả thù người cộng sản, không thủ tiêu hoặc xử tử như họ đã đối xử với chúng ta”.  
 
Untitled-1
Encyclopedia of the Vietnam War (1998) và Nationalist in the Viet Nam Wars (2012)
 
Không dễ dàng gì mà nhà xuất bản của một viện đại học lớn danh tiếng chịu ấn hành tác phẩm của một người Việt “nobody” dài 600 trang về đề tài Chiến Tranh Việt Nam—một đề tài vốn đã cũ, bị xem là nhàm chán với hàng trăm quyển sách đã được viết ra trong hơn bốn thập niên vừa quanếu quyển sách này không thực sự có một giá trị đặc biệt độc đáo. Việc Viện Đại Học Indiana tuyển chọn và xuất bản tác phẩm đã nói lên tầm mức uy tín và giá trị hàn lâm của cuốn sách. So với hàng núi báo chí, sách vở được các nhà in vô danh ấn hành và xuất bản một cách dễ dàng hiện nay, quyển sách này là một tác phẩm chứa đựng nhiều công phu, đem lại sự trung thực và đang góp phần làm sáng tỏ chính nghĩa VNCH.
 
Hiện nay, Nationalist in the Vietnam War đã nhanh chóng trở thành tài liệu cho sinh viên dân sự tại nhiều thư viện của các Viện Đại Học như: Stanford University, Cal Poly, UC DavisUCLA, University of Oklahoma,  University of Wyoming, University of Denver, University of Idaho, Portland State… Đồng thời cũng được lựa chọn đưa vào tủ sách của các Trường Võ Bị Hải Lục Không Quân Hoa Kỳ như: US Air Force Academy, US Naval Academy, US Military Academy
 
Bằng lối hành văn giản dị, trong sáng với những tình tiết trung thực—30 chương sách với vô số câu chuyện tách biệt nhưng không rời rạc—lôi cuốn người đọc một cách nhẹ nhàng thú vị. Tác giả đưa độc giả đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, đặc biệt đối với những độc giả thuộc giới trẻ, chỉ biết đến chiến tranh Việt Nam qua sách báo ngoại quốc. Sự trung thực và chính xác của các vấn đề do tác giả trình bày được xem là hết sức thành thật. Độc giả có thể đọc sách tuỳ theo cảm hứng của mình đối với từng chương sách, mà không nhất thiết cần phải theo đuổi một thứ tự nào nhất định nào.

Mỗi gia đình người Việt có con cháu chỉ thông thạo Anh ngữ, nhất là các anh chị em TTN/Đa Hiệu nên và cần đọc qua quyển sách này để thấu hiểu một cách thông suốt và chính xác về lịch sử Việt Nam.
 
 
nguyencongluan
Tác giả quyển Nationalist in the Viet Nam WarsNiên Trưởng Nguyễn Công Luận K12 (2010)
 
Ngay sau khi được xuất bản—từ mùa xuân 2012, Nationalist in the Vietnam War đã được giới thiệu và bày bán tại nhiều hiệu sách khắp nơi như: nhà xuất bản Indiana University Press, Booktopia, Barnes & Noble, Amazon.com, Tower Books, Powell’s, AbeBooks, Whitcoulls
 
381912_orig
Flyer mời tham dự buổi giới thiệu quyển Nationalist in the Viet Nam Wars tại San Jose
8908478_orig
Đọc Nationalist in the Viet Nam Wars bằng Kindle Fire

Do yêu cầu của bạn đọc, của văn thi hữu, của đồng môn, đồng ngũ và thân nhân, Nationalist in the Viet Nam Wars sẽ được chính thức giới thiệu vào chiều Chủ Nhật sắp tới—ngày 6 tháng 10 năm 2013 tại thành phố San Jose. Được biết, cựu Trung Tướng Lawson William Magruder III, Luật Sư Đoàn Thanh Liêm, Nhà Văn Mặc Giao, Luật Sư Jimmy Nguyễn và chính tác giả sẽ giới thiệu về quyển sách đến độc giả bốn phương. Nếu quý vị cảm thấy muốn tìm hiểu thêm về quyển sách và buổi giới thiệu này, xin vui lòng tham khảo tại http://vietnamesenationalist.org hoặc liên lạc trực tiếp với Niên Trưởng Nguyễn Công Luận K12 qua đ/c e-mail: lutuan.k12@gmail.com

Và, để có quyển Nationalist in the Viet Nam Wars—bìa cứng với chữ ký lưu niệm của tác giả, xin mời quý vị đến tham dự buổi giới thiệu (rất ngắn—vì lý do sức khoẻ của tác giả) được tổ chức tại: Mount Pleasant High School—1750 S. White Rd. San Jose, CA 95127 từ 2 giờ trưa đến 5 giờ chiều ngày Chủ Nhật 6 tháng 10 năm 2013.

Sau hết, một điều khiến tôi rất lấy làm tiếc về Nationalist in the Viet Nam Wars—là, một quyển sách hay mà lại có vẻ như rất thiếu hình ảnh!

Nguyên Thiều

Truyền Thông và Cách Mạng—Nguyễn Hưng Quốc

Xã hội, bất cứ hình thức xã hội gì, cũng đều được xây dựng trên nhiều nền tảng, nhưng một trong những nền tảng căn bản và quan trọng nhất là: truyền thông. Không có truyền thông, một tập thể người, dù đông đảo đến mấy, cũng không thể trở thành một xã hội.
Điều kiện để một xã hội được hình thành không phải là số đông mà là sự nối kết. Điều kiện để có sự nối kết là một mẫu số chung nào đó. Cái mẫu số chung ấy, dù rất hiển nhiên, như là huyết thống và quyền lợi kinh tế, vẫn không thể được ghi nhận và chia sẻ nếu thiếu một yếu tố: truyền thông. Đó là lý do tại sao, ngay từ xưa, trong quá trình lập quốc, người ta đã đề cao việc có một ngôn ngữ chung; trường hợp không có một ngôn ngữ chung, người ta cố gắng xây dựng một hệ thống chữ viết chung (như trường hợp chữ Hán của Trung Hoa).
Theo Benedict Anderson, trong cuốn Imagined Communities (Verso, 1983), hầu hết các biến chuyển lớn ở Tây phương thời hiện đại đều gắn liền với kỹ nghệ ấn loát mới với việc nở rộ của sách và báo khắp châu Âu. Trước, La Mã dễ dàng đánh bại mọi kẻ thù nhờ họ làm chủ một phương tiện truyền thông hoàn hảo và có ưu thể hơn hẳn (tr. 39). Sau, với sự xuất hiện của máy in, kiến thức được phân phối rộng rãi và tự do, làm cơ sở cho sự nảy nở và phát triển của phong trào Cải cách, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành với vai trò nổi bật của Martin Luther, người có sách bán chạy nhất trong nửa đầu thế kỷ 16 – được xem là tác giả best-seller đầu tiên trong lịch sử (tr. 39). Kỹ nghệ ấn loát mới cũng dẫn đến sự hình thành của quốc gia và chủ nghĩa quốc gia (nationalism): Qua sách báo được xuất bản, mọi người, bất kể những khác biệt về huyết thống, giai cấp và phái tính, có một ký ức chung và một tưởng tượng chung vốn là những yếu tính để hình thành một cộng đồng có tên là dân tộc hay quốc gia.
Giống xã hội hay quốc gia dân tộc, các cuộc cách mạng cũng được xây dựng trên truyền thông. Xin lưu ý, cách mạng là một khái niệm khá mới, chỉ xuất hiện trong thời hiện đại. Xưa, người ta có thể cướp ngôi nhau nhưng lại không có cái gọi là cách mạng. Để được xem là cách mạng, ngoài việc thay đổi tầng lớp thống trị, người ta còn phải thay đổi cả hệ thống quyền lực và ý thức hệ làm nền tảng cho hệ thống quyền lực mới ấy cũng như toàn bộ cấu trúc xã hội. Với ý nghĩa như thế, hai cuộc cách mạng lớn được ghi nhận nhiều nhất là: một, cuộc cách mạng tư sản Pháp vào năm 1789 và cuộc cách mạng vô sản ở Nga vào năm 1917.
Hai cuộc cách mạng vừa kể khác hẳn nhau, trong đó, hai sự khác biệt lớn nhất là: một mở đầu cho trào lưu dân chủ và một mở đầu cho hệ thống toàn trị; một thành công, càng ngày càng thành công, và một thất bại sau hơn 70 năm thử nghiệm một cách đẫm máu. Tuy nhiên cả hai lại giống nhau ở một điểm: tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại. Trong Cách mạng Pháp, truyền đơn và các cuốn sách tuyên truyền mong mỏng (pamphlet) được in và phân phát khắp nơi. Trong Cách mạng Nga cũng vậy. Ngoài truyền đơn, lãnh tụ của cuộc cách mạng Lenin còn là một tác giả có sức sáng tác dồi dào dưới nhiều hình thức khác nhau (sau, ở Nga, người ta sưu tập và in các tác phẩm của ông thành 54 tập, mỗi tập dày khoảng 650 trang, như vậy, tổng cộng khoảng 35000 trang!).
Ở Việt Nam, vào đầu thế kỷ 20, trong cuộc vận động chống lại thực dân Pháp để giành độc lập, hầu như tất cả các sĩ phu yêu nước đều ý thức rất rõ tầm quan trọng của truyền thông. Họ làm thơ và viết văn để cổ vũ lòng tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết cũng như bất khuất. Quan trọng nhất, họ sẵn sàng hy sinh tự ái dân tộc để chấp nhận chữ quốc ngữ do các cố đạo Tây phương sáng chế và được thực dân Pháp ủng hộ như hệ thống chữ viết mới cho cả nước, thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, với hy vọng, với thứ chữ viết mới ấy, trình độ dân trí sẽ nhanh chóng được nâng cao và quá trình hiện đại hóa đất nước sẽ dễ dàng được thực hiện.
Ngay từ giữa năm 1944, chưa cướp được chính quyền, Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, cũng đã ý thức được ngay tầm quan trọng của truyền thông. Đội quân chủ lực đầu tiên do họ thành lập mang tên là Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với hai nhiệm vụ chính: vừa quân sự vừa chính trị, trong đó, chính trị được xem là quan trọng hơn quân sự. Thực chất đó là “đội tuyên truyền”. Ngay sau khi cướp chính quyền, Hồ Chí Minh đã nêu lên ba nhiệm vụ chính của chính phủ mới: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Nhiệm vụ trung tâm của chiến dịch “diệt giặc dốt” là phong trào Bình dân Học vụ nhằm xóa nạn mù chữ để ai cũng có thể đọc được… truyền đơn.
Chính vì ý thức rất sớm tầm quan trọng của truyền thông như vậy nên trong suốt thời gian đảng Cộng sản cầm quyền, từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trong cả nước, giới lãnh đạo Cộng sản luôn luôn chủ trương độc quyền về truyền thông. Kinh tế có thể đa nguyên hóa. Giáo dục có thể đa nguyên hóa. Xã hội có thể đa nguyên hóa. Nhưng với truyền thông thì tuyêt đối không: Tất cả mọi cơ quan truyền thông, từ xuất bản đến báo chí, từ báo in đến báo nói và báo hình, đều nằm trong tay nhà nước và đều bị kiểm soát và kiểm duyệt nghiêm ngặt. Giới lãnh đạo xem đó là một trong những biện pháp chính yếu để bảo vệ quyền lực của họ.
Nói chung, có ba loại quyền lực chính: Thứ nhất là quyền lực ý tưởng (idea power) thể hiện qua các phương tiện truyền thông, nhằm chinh phục cả trái tim lẫn khối óc của quần chúng để họ không những tin và phục mà còn sẵn sàng vâng lệnh nhà cầm quyền. Thứ hai là quyền lực kinh tế (ở Việt Nam, trước, thể hiện qua chính sách phân phối lương thực, sau, qua vai trò ưu tiên của hệ thống quốc doanh) nhằm kiểm soát bao tử và túi tiền của dân chúng khiến họ phải khuất phục. Và thứ ba, quyền lực vật lý (physical power) thể hiện qua quân đội, cảnh sát, công an, hệ thống tòa án và nhà tù nhằm làm cho mọi người khiếp sợ.
Đối với ba loại quyền lực trên, những nhà đối kháng và muốn đấu tranh cho dân chủ, phần lớn chủ trương bất bạo động, đã né tránh việc đối đầu với chính quyền ở góc độ quyền lực vật lý và, thành thực mà nói, hoàn toàn không có điều kiện và khả năng để thách thức chính quyền về quyền lực kinh tế. Chỉ còn một không gian duy nhất có thể biến thành nơi tranh chấp và có thể làm xuất hiện một thứ đối-quyền lực (counterpower) với chính quyền: quyền lực ý tưởng.
Tập trung vào quyền lực ý tưởng là chọn truyền thông làm mặt trận chính.
Cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, chủ yếu là cuộc đấu tranh trên phương diện truyền thông để giành giật phần thắng về ý tưởng. Trong cuộc đấu tranh ấy, người Việt có một phương tiện mới rất đắc dụng: internet.
Với internet, người ta có thể xây dựng được một thứ quyền lực từ dưới lên (power from below), hay nói theo chữ của Vaclav Havel, “quyền lực của những kẻ vốn không có quyền lực” (the power of the powerless).
Nhưng đó là chuyện dài. Xin đề cập sau.

Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể còn tồn tại được bao lâu?

thienanmon-030-danlambao
How long can the Communist party survive in China?
 
Trong khi kinh tế phát triển chậm và sự bất mãn của giới trung lưu gia tăng, đây là vấn đề đang được hỏi không những ở nước ngoài mà ngay cả ở trong nước. Ngay tại Trường Trung Ương Đảng, có cuộc thảo luận về điều không thể nghĩ đến: sự sụp đổ của chế độ cộng sản Trung Quốc.
Nép vào giữa trường gián điệp cao cấp của Trung Quốc và hoàng cung mùa hè về phía tây của Bắc Kinh là một nơi duy nhất trong nước mà người ta có thể bàn cãi công khai về cái chết của đảng Cộng Sản đang cai trị Trung Quốc mà không sợ bị trả thù. Nhưng địa chỉ nhiều bóng cây này không phải là trụ sở của một cơ quan nghiên cứu do Hoa Kỳ tài trợ hay là một tổ bí mật của những người bất đồng chính kiến. Đây là trường huấn luyện đảng của Ủy Ban Trung Ương Cộng Sản Trung Quốc, một học viện dành cho những nhà lãnh đạo chuyên quyền, “một lò luyện để nuôi dưỡng tinh thần của đảng viên” như được mô tả trong tài liệu tuyên truyền chính thức.

455cec11-6675-45ce-af86-da37c9ea1614_img
Trường Trung Ương Đảng – học viện dành cho các thành phần chính trị ưu tú  
©Eric Gregory Powell
 
Trường Trung Ương Đảng được thành lập vào năm 1933 để truyền bá cán bộ về chủ nghĩa Marx và Lenin và sau này là Tư Tưởng Mao Trạch Đông và những viện trưởng quá khứ bao gồm chính Mao Trạch Đông, và lãnh tụ mới được tấn phong gần đây là Tập Cận Bình và người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào. Chương trình giảng dậy được thay đổi triệt để để đáp ứng với những thay đổi quan trọng trong xã hội Trung Quốc. Học viên vẫn phải nghiền ngẫm về sự khôn ngoan của Tư Bản Luận và “Lý Thuyết Đặng Tiểu Bình” nhưng cũng được học những lớp về kinh tế, luật, tôn giáo, quân vụ, và những tư tưởng chính trị tây phương. Những cán bộ trung cấp và cao cấp là những học viên được học về cách thưởng thức ca vũ kịch và phép xã giao cũng như là xem những phim tài liệu về chống tham nhũng và tham gia vào việc hát những ca khúc cách mạng tập thể.
Một sự thay đổi quan trọng hơn đối với một học viện được thành lập để thực thi sự thuần khiết tư tưởng là việc thiết lập một khu vực thảo luận tự do, theo đó không có điều gì bị cấm bàn cãi. Đây là một vai trò tương đối mới. Một giảng viên của trường không muốn nêu tên vì không được phép nói chuyện với báo chí nước ngoài nói rằng “Chúng tôi vừa có một cuộc hội thảo với một nhóm đông người gồm những những đảng viên có thế lực và họ hỏi chúng tôi đảng sẽ còn nắm quyền được bao lâu và chúng tôi hoạch định những gì khi đảng sụp đổ. Thành thật mà nói, đây là câu hỏi bất cứ ai tại Trung Quốc cũng đang đề cập đến nhưng tôi sợ rằng nó rất khó để trả lời.”
Những người thừa kế cuộc cách mạng 1949 của Mao có thể bám vào quyền lực trong bao lâu là một câu hỏi từ năm này qua năm khác kể từ khi có cuộc tàn sát Thiên An Môn vào năm 1989 và sự tan rã của Liên Xô. Đã có nhiều tiên đoán thảm khốc về sự sụp đổ sắp xảy ra nhưng đảng vẫn tồn tại và lại còn phát triển mạnh, đặc biệt kể từ khi nó mở cửa đón nhận những nhà tư bản lần đầu tiên một thập niên trước đây. Ngày nay, đảng cách mạng của giai cấp vô sản có thể được mô tả một cách hay nhất là một phòng thương mại lớn nhất thế giới và quy chế đảng viên là cách hay nhất cho những nhà kinh doanh móc nối và lấy được hợp đồng lời nhiều.
Trong khoảng chưa tới năm năm, đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ thử thách Liên Xô (69 hay 74 năm cầm quyền tùy theo cách đếm) và Đảng Cách Mạng Định chế (Institutional Revolutionary Party) của Mexico (71 năm cho đến 2000) để trở thành một đảng chính trị cai trị liên tục lâu nhất. Theo lý thuyết hiện đại hóa, một chính thể độc tài có khuynh hướng dân chủ hóa khi lợi tức gia tăng, sự thành hình một tầng lớp trung lưu lớn sẽ đẩy mạnh tiến trình và khi nền kinh tế trì trệ tiếp theo một giai đoạn phát triển nhanh và lâu dài sẽ làm cho sự chuyển tiếp dễ xẩy ra hơn. Tình trạng bất quân bình trầm trọng và ngày càng tệ hại hơn cộng thêm với nạn tham nhũng cao sẽ là những lực thúc đẩy sự thay đổi.
Trung Quốc hiện nay đang có tất cả những yếu tố này, nhưng những lý thuyết gia chính trị kể cả những nhân vật tại Trường Trung Ương Đảng, lập luận rằng Trung Quốc là một trường hợp đặc biệt về phương diện văn hóa và chính trị và làn sóng làm sụp đổ các chế độ độc tài còn đang lên cao trong thế giới Ả Rập sẽ không bao giờ đến bờ Trung Quốc. Những người khác, kể cả những nhà trí thức có uy thế Trung Quốc, những chuyên gia tây phương về Trung Quốc nổi tiếng, và ngay cả những đảng viên cao cấp có đầu óc cởi mở, tin rằng đây là những ngày cuối cùng của thời đại Cộng Sản và đảng sẽ bị cuốn trôi đi nếu không sớm có một cuộc cải tổ chính trị quan trọng.
“Một ngàn mùa thu và một vạn thế hệ”
Ông Chen Shu là một giáo sư về lịch sử đảng, “xây dựng đảng” và Tư Tưởng Mao Trạch Đông tại Trường Trung Ương Đảng. Quan điểm của ông phản ảnh lối suy nghĩ chính thống của thành phần cao cấp của đảng. Với tất cả những khích động trí thức và tự do trao đổi ý kiến bên trong những bức tường của trường, người nước ngoài vẫn còn bị cấm vào nếu không có phép đặc biệt, luật lệ này có từ thời khi sự hiện diện của trường còn là một bí mật quốc gia. Ông Chen đồng ý gặp Financial Times tại một quán trà bên kia đường đối diện với Hoàng Cung Mùa Hè, nhưng ông thiếu kiên nhẫn khi được hỏi ông nghĩ gì về tương lai của đảng.
Ông trả lời với một giọng làm cho từ “tây phương” có nghĩa xấu: “Tất cả những lý thuyết về cuộc khủng hoảng ở Trung Quốc hay Trung Quốc sụp đổ là hoàn toàn có tính cách tây phương. Càng nhiều áp lực đặt trên văn hóa và đảng Cộng Sản Trung Quốc, họ sẽ càng đoàn kết và càng có khả năng để làm những phép lạ.”
temp-danlambao-43
Giáo sư Lin Zhe ở phía ngoài
Trường Trung Ương Đảng.
©Eric Gregory Powell
Lin Zhe là giáo sư của Trường Trung Ương Đảng, một người đã nghiên cứu làm sao giải quyết nạn tham nhũng trong hàng ngũ đảng. Cũng tại cùng quán trà, bà vui vẻ tiên đoán rằng đảng sẽ đón mừng 100 năm cầm quyền vào năm 2049 và nói rằng đảng đang chuẩn bị, theo một tục ngữ của Trung Quốc, sẽ lãnh đạo “một ngàn mùa thu và một vạn thế hệ.” Nhưng cả Bà Lin lẫn Ông Chen cũng cảnh cáo rằng tính cách chính danh của đảng bị đe dọa bởi nạn tham nhũng địa phương. Nó đã lan tràn vào mọi tầng lớp trong xã hội. Bà Lin nói “Vấn đề này rất nghiêm trọng, như những nhà lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc đã nói, nó có thể tiêu diệt đảng và quốc gia.”
Sự bền bỉ độc đoán
Trong cuốn sách xuất bản vào năm 1992, Tận Cùng của Lịch Sử và Người Cuối Cùng (The End of history and The Last Man), Francis Fukuyama lập luận rằng nền dân chủ cấp tiến tây phương là một dạng chính quyền sau cùng của loài người và mục tiêu cuối cùng của cách mạng tư tưởng. Lập luận này được hỗ trợ bởi sự bành trướng của chế độ dân chủ trong thế kỷ 20. Vào năm 1900, không một quốc gia nào trên thế giới có một chính thể cạnh tranh đa đảng và phổ thông đầu phiếu và chỉ có khoảng 12% nhân loại được sống dưới một chính thể được xem như là dân chủ theo một tổ chức Hoa Kỳ phi chính phủ Freedom House. Vào đầu thế kỷ 21, 120 nước trong số 192 quốc gia được quốc tế công nhận có chính thể dân chủ bầu phiếu với và 60% dân số thế giới sống dưới sự lãnh đạo của những nhân vật được bầu lên theo thể thức dân chủ.
 
Ông Fukuyama, hiện nay là một nhà nghiên cứu cấp cao tại Standford University, nói rằng ông tin rằng Trung Quốc sẽ theo con đường của phần đông các quốc gia khác, qua sự cởi mở tự do dần dần để sau cùng tiến đến dân chủ. Ông nói, nhưng nếu điều này không xẩy ra, có thể dân chúng sẽ nổi dậy tương tự như Mùa Xuân Ả Rập.
Ông Fukuyama nói: “Mô hình chính trị của Trung Quốc không thể tồn tại được vì thành phần trung lưu ngày càng lớn mạnh – một thế lực thúc đẩy dân chủ ở khắp mọi nơi. Thế hệ mới tại Trung Quốc rất khác biệt với thế hệ đã rời bỏ ruộng vườn và thúc đẩy đợt công nghiệp hóa đầu tiên – họ có trình độ học vấn cao hơn nhiều, giầu hơn nhiều và nhiều đòi hỏi mới như không khí trong sạch, nước trong sạch, thực phẩm an toàn, và những vấn đề khác không thể giải quyết được chỉ bằng phát triển kinh tế nhanh chóng.”
Ước tính kích thước của thành phần trung lưu của Trung Quốc thay đổi tùy thuộc định nghĩa nhưng một điều chắc chắn là giai cấp này không hiện hữu hai chục năm về trước nay phát triển rất nhanh chóng. Theo công ty tư vấn McKinsey, từng lớp trung lưu trên cùng – phần dân số có lợi tức gia đình hàng năm trong khoảng $17,350 – $37,500 – chiếm 14% số gia đình thành thị vào năm vừa qua, nhưng sẽ gia tăng đến 54% trong chưa tới 10 năm tới.
Trung Quốc thường hay dấu những bằng chứng để làm thuyết Fukuyama mất giá trị với những nhà phê bình lập luận rằng tiến trình tái sáng tạo của đảng đáp ứng được nhiều hơn đối với nhu cầu và đòi hỏi của dân chúng so với những chế độ độc tài theo lỗi cổ. Ông David Shambaugh, giám đốc Chương Trình Chính Sách Trung Quốc tại George Washington University và một chuyên gia về hệ thống chính trị Trung Quốc, từng ủng hộ quan điểm này. Nhưng vài năm gần đây, ông đã thay đổi ý kiến và hiện nay tin rằng đảng đang ở trong tình trạng đi xuống. Sự kiện này lập lại những ngày cuối cùng của các triều đại trong lịch sử.
Dấu hiệu bao gồm lý tưởng quốc gia trỗng rỗng mà xã hội không tin tưởng nhưng giả vờ làm theo cho đúng nghi thức, tham nhũng ngày càng tồi tệ, không cung cấp cho công chúng được đầy đủ an sinh xã hội, cảm giác bất ổn và thất vọng lan tràn trong quần chúng. Những dấu hiệu khác bao gồm gia tăng bất ổn xả hội và sắc tộc, nạn bè phái, thuế quá cao với tiền thâu phần lớn chui vào túi của giới chức nhà nước, bất quân bình lợi tức ngày càng trầm trọng và không có chế độ pháp trị đáng tin cậy.
Ông Shambaugh nói rằng một dấu hiệu mạnh mẽ về sự thiếu tin tưởng vào hệ thống là số dân giàu có ưu tú có tích sản và tài sản ở ngoại quốc, chương mục ngân hàng ở nước ngoài, và cho con cái học tại các đại học tây phương.
Ông Shambaugh nói “Những cá nhân này sẵn sàng bỏ trốn khi được thông báo, ngay khi hệ thống chính trị vào giai đoạn lâm chung – nhưng họ sẽ ở lại Trung Quốc để có thể thâu tóm được những đồng nhân dân tệ cuối cùng. Hành vi phòng thân của họ nói lên rất nhiều về tình trạng ổn định mong manh của đảng Cộng Sản Trung Quốc ngày nay.”
Xác ướp trong quan tài pha lê
82ed11d5-11e4-4ecf-9ee3-280a3eb9d131_img
Quảng trường Thiên An Môn, ©Eric Gregory Powell
 
Chân dung khổng lồ của Mao Trạch Đông được treo ở ngay trên Thiên An Môn – lối vào phía nam của Tử Cấm Thành, nhìn chằm chằm, qua quảng trường mang tên ông, vào lăng tẩm oai nghiêm nơi thể xác được ướp của ông được quấn trong một lá cờ Cộng Sản. Mỗi buổi sáng trong tuần ngoại trừ thứ Hai, du khách Trung Quốc xếp hàng dài tại quảng trường để được nhìn thấy lãnh tụ vĩ đại trong chiếc quan tài bằng pha lê.
Một thập niên trước, người ta thường được chứng kiến những xúc động bộc phát lớn lao và những người hành hương quỳ xuống trước “hoàng đế đỏ” đã quá cố của Trung Quốc. Nhưng vào một ngày trong tuần mới đây, cảm nghĩ nổi bật của những người đến xem có vẻ lãnh đạm (dửng dưng) hoặc thất vọng vừa phải. Một người ở tuổi trung niên với giọng địa phương nói rằng “Tôi xếp hàng một tiếng đồng hồ để thế này sao? Tôi tin rằng xác này làm bằng sáp; Thật là phí thời giờ.”
Sự thay đổi thái độ tinh tế này trong 10 năm qua thể hiện sự biến chuyển sâu sa hơn trong xã hội Trung Quốc tuy khó đo lường nhưng ngày càng rõ rệt. GS Perry Link tại Đại Học California ở Riverside, một trong những chuyên gia tây phương về Trung Quốc được kính trọng, nói rằng “Nền tảng tư tưởng của đảng thật rất nông cạn. Người dân gia nhập đảng ngày nay để móc nối và tiến thân không vì bất cứ một lý tưởng xã hội nào.”
Có lẽ truyền thông đại chúng qua Internet là một nhân tố quan trọng khích động sự chỉ trích chua cay và nghi ngờ giới nắm quyền lực. Chế độ kiểm duyệt Internet của Trung Quốc chặt chẽ nhất thế giới với Twitter, Facebook, Youtube và vô số mạng và dịch vụ trực tuyến bị ngăn chặn vì đảng lo sợ rằng những phương tiện này có thể được sử dụng để tổ chức đối lập chính trị. Nhưng sự bành trướng của những hệ thống thông tin tương tự trong nước, đặc biệt những mạng cực nhỏ “Weibo” giống như Twitter, vẫn cho phép dân chúng phá vỡ được sự kiểm soát của đảng đối với cuộc thảo luận công cộng theo một cách mà trước đây không thể làm được.
Trong khi kinh tế Trung Quốc phát triển chậm lại và sự tức giận tăng lên do một số vấn đề phát xuất từ sự thiếu vắng một thể chế cho phép người dân tham gia vào chính trị, đảng thật sự lo lắng về sự mất kiểm soát về tư tưởng, ý kiến, và thông điệp.
“Bẩy điều không thể nói đến”
temp-danlambao-44
GS Shen Zhihua – 
East China Normal University
©Eric Gregory Powell
Ông Shen Zhihua là một giáo sư tại Đại Học Sư Phạm Hoa Đông, chuyên về Liên Bang Xô Viết và là con của một trong những sĩ quan trong quân Đội Giái Phóng Nhân Dân từng phục vụ sát cánh với Mao trong cuộc cách mạng. Ông bị giam tù hai năm vào đầu thập niên 1980 sau khi bị kết tội oan làm gián điệp cho CIA. Vào tháng 9, 2009, Ông Shen trong một nhóm gồm một số ít học giả được tín cậy và được cựu Chủ Tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân triệu tập để thảo luận về sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết. Ông Giang hỏi họ về những yếu tố rõ ràng nào đã đưa đền sự tan rã của Xô Viết và nói rằng “Gorbachev đã phản bội cuộc cách mạng.”
Theo ông Shen, quan điểm của Giang Trạch Dân cũng là niềm tin chính thống của những nhà lãnh đạo Trung Quốc kể cả Tập Cận Bình. Trong bài diễn văn dành cho đảng viên sau khi ông được chọn làm người lãnh đạo đảng và quân đội vào cuối năm vừa qua, Tập Cận Bình nói rằng đế quốc Xô Viết đổ vỡ “bởi vì không có ai đủ dung cảm để đứng lên và chống lại.”
GS Shambaugh của George Washington University nói rằng “Tôi có thể không nhấn mạnh đủ về một sự kiện là những nhà lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục sống dưới bóng Liên Xô – Họ ý thức tối đa về những cải tổ Gorbachev thực hiện và tuyệt đối không đi theo con đường này.”
Tập Cận Bình bày tỏ quyền lực phù hợp với lập trường quả quyết của ông trên võ đài quốc tế vì Trung Quốc tiếp tục bành trướng vai trò của một siêu cường thứ hai của thế giới. Nhưng trong khi chính quyền mới biểu dương sức mạnh ở nước ngoài trong những cuộc tranh chấp sôi sục về lãnh thổ với những quốc gia láng giềng về phía đông, nam, và tây, chính quyền này tỏ ra lo âu và hoang mang hơn ở trong nước.
GS Link nói “Trung Quốc có sức mạnh về quân sự, ngoại giao và kinh tế hơn so với quá khứ và có thể bảo những nước như Anh và Hoa Kỳ nhượng bộ theo cách mà trước đây không thể làm được. Nhưng với tất cả sức mạnh đối ngoại mới, chính quyền Trung Quốc xem ra yếu ớt rất nhiều ở quốc nội, lo ngại rất nhiều về vấn đề bao lâu chính quyền nay có thể kiểm soát được chiếc vạc đang sôi sục này.”
Kể từ khi nhậm chức, Tập Cận Bình thi hành một loạt những cuộc đàn áp không nương tay đối với những người bất đồng chính kiến, tự do ngôn luận, những người sắc tộc ly khai, và xã hội dân sự. Ông tuyệt đối không cho thấy một dấu hiệu nào chứng tỏ rằng ông là một người chủ trương cải tổ ngầm mà một số người đã hi vọng. “Tài Liệu Số Chín”, một giác thư bí mật được phổ biến cho cán bộ vào tháng Tư và bị tiết lộ ra ngoài qua truyền thông Trung Quốc ở hải ngoại, cho thấy giới lãnh đạo mới lo ngại như thế nào về những đe dọa nhận thấy được đối với sự cai trị của đảng. Tài liệu nói rằng “Những lực lượng thù nghịch tây phương và những kẻ chống đối ở quốc nội không ngừng xâm nhập vào lãnh vực tư tưởng. Để có thể duy trì quyền lực của đảng, cần chú ý đến những cách thức suy nghĩ, lập trường, và hành động sai lầm.”
Theo tài liệu này, đảng đang thực hiện một cuộc đấu tranh khốc liệt liên hệ đến bẩy mối đe dọa trầm trọng mà trong giới hàn lâm gọi là “bẩy điều không thể nói đến”. Đứng đầu danh sách là “nền dân chủ hiến định tây phương” và tiếp theo là những điều cấm kỵ như nhân quyền, tư pháp độc lập, báo chi độc lập và phê bình quá khứ của đảng.
GS Shen Zhihua nói “Nhiều người cực kỳ thất vọng về lời nói và hành động của Tập Cận Bình. Nhưng có một số người bênh vực ông và nói rằng một khi ông củng cố được quyền lực và ổn định được tình trạng chính trị, lúc đó ông sẽ thúc đẩy những cải tổ.” Theo lý lẽ này, những hành động độc đoán của Tập Cận Bình trong giai đoạn chập chững này có tính cách chiến thuật hơn là chiến lược, một cách để tập hợp những người trung thành trong đảng cho chương trình cải tổ khó khăn sắp đến.
Một người chủ trương cải tổ, “hoàng tử” của một cựu lãnh tụ cao cấp Trung Quốc, biết rõ Tập Cận Bình, yêu cầu không nêu tên để tránh hậu quả chính trị, nói rằng “Cách giải thích bi quan hơn và thực tế một cách ngay thật hơn là Tập Cận Bình không có một sáng kiến nào cả. Vì vậy ông chỉ trích dẫn Mao và cố gắng nắm chặt lấy quyền hành. Trong trường hợp này, Trung Quốc không có hi vọng và sau cùng sự căm phẫn trong xã hội sẽ nổ tung thành một cuộc nổi dậy của dân chúng.”
Không còn phép lạ?
Trong ba thập niên kể từ khi Đặng Tiểu Bình phát động cuộc cải tổ theo định hướng thị trường và bắt đầu mở Trung Quốc đón tiếp thế giới, kinh tế phát triển trung bình khoảng 10% mỗi năm. Thành quả ngoạn mục này đã giải thoát hàng trăm triệu người ra khỏi tình trạng nghèo đói và đã khiến cho một vài người lập luận rằng chủ nghĩa “thị trường Lenin” đã thách đố học thuyết rằng các xã hội dân chủ hóa khi trở nên giàu có hơn. Nhưng theo Phó Giáo Sư chính trị học Liu Yu của Đại Học Tsinghua tại Bắc Kinh và GS Chen Dingding của Đại Học Macau, viết trong tạp chí Washington Quarterly năm vừa qua rằng “Những người biện minh rằng Trung Quốc là một trường hợp cá biệt không chú ý tới một sự kiện là hiện nay còn quá sớm để bảo Trung Quốc chấp thuận hay không tán thành học thuyết hiện đại hóa.”
Tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product – GDP) trung bình đầu người của Trung Quốc tính theo sức mua bình giá vào năm 2012 là $8,200, nhưng theo hai giáo sư Liu và Chen, con số này chưa đạt tới mức khiến cho các quốc gia với nền tảng văn hóa và lịch sự tương tự bắt đầu chuyển tiếp qua chế độ dân chủ. Cũng theo hai giáo sư Liu và Chen Vào năm 1988, hai nước đang dân chủ hóa Nam Hàn và Đài Loan có tổng sản phẩm nội địa trung bình đầu người theo sức mua bình giá lần lượt là $12,221 và $14,584 (theo giá đồng dollar 2010). Mức lợi tức của Liên Xô và Hung Gia Lợi vào năm 1989, khi hai nước này bắt đầu những chuyển tiếp chính trị lần lượt là $16,976 và $11,257 (theo giá đồng dollar 2010).
Những con số này cho thấy rằng việc kinh tế tiếp tục phát triển nhanh chóng sẽ làm Trung Quốc tự biến đổi chính trị chỉ trong vòng vài năm. Theo lý lẽ này, kể từ khi từ bỏ chủ nghĩa Mao, tính cách chính đáng của đảng chủ yếu dựa vào khả năng duy trì phát triển nhanh và nâng cao mức sống – nhưng đây cũng sẽ chính là lý do sau cùng làm cho đảng mất quyền kiểm soát tuyệt đối.
Ngày nay có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng mô hình kinh tế của Trung Quốc – đầu tư nhiều, định hướng xuất cảng, nhà nước chế ngự đang mất sức và sự phát triển sẽ chậm lại rõ rệt hơn là Bắc Kinh tiên đoán. GDP theo thời giá phát triển hàng năm chậm lại từ 17% trong quý thứ tư của năm 2011 xuống còn 8 % trong quý thứ hai của năm nay và mức phát triển của năm vừa qua xuống thấp nhất trong vòng 13 năm qua. Phần đông những kinh tế gia trông đợi mức phát triển sẽ còn ôn hòa hơn trong một ít năm sắp đến.
Bằng hầu hết các cách đo lường, Trung Quốc Cộng Sản là một xã hội bất quân bình nhất trên trái đất, với hầu hết sự giầu có tập trung vào trong tay một ít người ưu tú kết nối với nhau về mặt chính trị. Nếu sự giảm tốc độ hiện nay biến thành một cuộc khủng hoảng kinh tế hay gây ra nạn thất nghiệp rộng lớn, phần đông những phân tách gia tin rằng chính quyền sẽ nhanh chóng phải đương đầu với một cuộc nổi dậy của dân chúng. Ông Mao Yushi, kinh tế gia, 84 tuổi, được xem là cha đỡ đầu của nền kinh tế vĩ mô của Trung Quốc, nói rằng “Trong vòng hai thế kỷ, 30 năm vừa qua là một giai đoạn kéo dài duy nhất không có chiến tranh, nạn đói, hay hành hình hàng loạt, một giai đoạn mà đời sống của mọi người ngày càng tốt đẹp hơn. Tính cách chính đáng của chế độ chủ yếu dựa vào sự thành công của cải tổ kinh tế, nhưng vấn đề to lớn là hiện nay những kỳ vọng rất cao.
temp-danlambao-45
Kinh tế gia Mao Yushi
©Eric Gregory Powell
Nhà kinh tế già nua này bị thanh trừng nhiều lần trong thời đại Maoit. Ông làm lao động khổ sai trong 20 năm nhưng không liên tục tại vùng thôn quê và bị đánh đập và làm nhục. Sau việc phục hồi chính trị, ông tiếp tục sống và vào năm 1993 thành lập Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Unirule, một trung tâm nghiên cứu độc lập, và ông tiếp tục có ảnh hưởng trong những người chủ trương cải tổ trong đảng và chính quyền.
Ông Mao tiên đoán rằng Trung Quốc sẽ phải đương đầu với cuộc khủng hoảng tài chánh không thể tránh được trong một đến ba năm tới vì nợ xấu chồng chất và tình trạng thị trường bong bóng nhà đất, nhưng ông nghĩ rằng chính sự kiện này sẽ đẩy Trung Quốc đến chế độ dân chủ. Ông Mao nói “Tôi nghĩ rằng cuộc khủng hoảng tài chánh có thể thật sự tốt cho Trung Quốc vì nó sẽ buộc chính quyền phải thực hiện những cuộc cải tổ kinh tế và chính trị. Đây sẽ là kịch bản tốt nhất nhưng kịch bản xấu nhất là một cuộc nổi dậy hung bạo, tiếp theo là một giai đoạn dài với bất ổn và kinh tế suy sụp, giống như tình trạng chúng ta thấy tại Ai Cập.”
Những nhà phân tách chính trị Trung Quốc và Tây phương không ngừng dẫn chứng thí dụ tiêu cực Ai Cập. Giống như cựu lãnh tụ độc tài Hosni Mubarak, đảng Cộng Sản khá thành công trong việc đè bẹp bất cứ một lực lượng có tổ chức nào trước khi nó có thể mọc rễ.
GS Link nói “Chế độ Trung Quốc hiện nay chắc chắn sẽ sụp đổ ở một thời điểm nào đó – có thể vài tháng, vài năm, hay vài thập niên nhưng khi nó tan vỡ, mọi người sẽ nói dĩ nhiên nó sẽ xẩy ra. Vấn đề làm tôi lo âu là điều gì sẽ tiếp theo. Đảng loại trừ mọi nhóm mà nó không kiểm soát hoặc không nhìn thế giới như đảng và sẽ không có gì cả để thay thế đảng.”
Tai họa Olympic
Chắc chắn chỉ là một sự trùng hợp duyên dáng của lịch sử mà không một chế độ độc tài nào ngoại trừ chế độ dộc tài Mexico tồn tại hơn một thập niên sau khi tổ chức Thế Vận Hội Olympic – hãy nghĩ đến Berlin 1936, Moscow 1980, Sarajevo 1984 và Seoul 1988. Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thấy những cuộc tranh đua tại Bắc Kinh vào năm 2008 như một “tiệc ra mắt” của đảng trên sân khấu thế giới. Năm năm tới, đảng không những sẽ bất chấp tai họa Olympic này mà còn qua mặt chu kỳ sinh tồn của Liên Xô và giúp đánh đổ học thuyết dân chủ hóa.
Nhưng ngay cả những người bảo vệ chế độ hăng say nhất thừa nhận rằng những lãnh tụ Trung Quốc không thể tiếp tục cai trị vô thời hạn mà không đáp ứng những đòi hỏi được tham gia vào hoạt động chính trị của giới trung lưu ngày càng lớn mạnh. Họ lưu tâm nhiểu đến không khí trong sạch, nước trong sạch, chính quyền trong sạch và thực phẩm an toàn hơn là mức phát triển GDP.
Sau ba chục năm kinh tế bành trướng xuất sắc, mô hình phát triển của Trung Quốc bắt đầu mất sức và nếu Trung Quốc phải đối mặt với sự giảm sút bất ngờ đảng sẽ mất phương tiện chính đáng và dễ thuyết phục nhất để bảo vệ tính cách chính danh. Nếu chủ tịch mới của Trung Quốc Tập Cận Bình nắm lấy sáng kiến và phát động những cuộc cải tổ chính trị ý nghĩa, khi đó Trung Quốc có thể đi theo con đường của Đài Loan và Nam Hàn trong hai thập niên 1980 và 1990 và điều khiển một cuộc chuyển tiếp ôn hòa sang một thể chế dân chủ đa nguyên.
Trong sân Trường Đảng xanh tươi, một vài giáo sư đã nghiên cứu làm thế nào để thực hiện kỳ công này. Nhưng cho đến nay, Tập Cận Bình không bầy tỏ một khuynh hướng nào muốn làm một điều gì ngoại trừ xiết chặt quyền lực trong tay đảng và trừng phạt những kẻ nghi ngờ một chế độ độc đảng vĩnh viễn.
Nhiều người trong và ngoài đảng lo ngại rằng bằng cách chèn ép sự bất mãn của đại chúng bằng những dụng cụ đàn áp cổ điển, chính quyền mới một ngày nào đó ngủ dậy sẽ thấy đại chúng tràn ngập đường phố. GS Shen Zhihua nói “Tập Cận Bình và chính quyền này tạo cho Trung Quốc một cơ hội cuối cùng để thực hiện sự thay đổi xã hội thành một hệ thống chính trị cởi mở hơn từ trong nội bộ của đảng và trong hệ thống. Không có những cải tổ này, chắc chắn sẽ có cuộc bùng nổ xã hội.”20-9-2013

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Hát Cho Ngày Sài Gòn Quật Khởi—Nguyệt Ánh & Việt Dũng

Nhà Văn Phan Nhật Nam nói về Chuẩn Tướng Phan Hoà Hiệp—SBTN