Quốc Kỳ

Vì Tiền Đồ Tổ Quốc

Tháng Một 2026
H B T N S B C
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

ĐA HIỆU ONLINE

Quốc Ca VNCH Vang Lên Tại Sài Gòn Tối 18/5.

Đánh Dân Như Kẻ Thù – Tận Cùng Của Tội Ác—Đất Khách

Biểu Tình ngày 8/5/2016 tại Sài Gòn xuống đường bảo vệ môi trường.

 

Happy Mothers Day

mothers-day-flowers2

Mother Of Mine—Paul Mauriat

Nhật Ký Của Mẹ—Hiền Thục

Biển Chết – Cáp Anh Tài

Thương Cá Miền Trung – Hồ Minh Tài

Bài thơ “Đất Nước Mình” của Cô Giáo Trần Thị Lam—Thuỳ Trang Nguyen

Phải nói bài thơ đã làm cho Thùy Trang khóc trong tâm trạng đau đớn cùng đất nước. Cô giáo Trần Thị Lam đã đem được cảm xúc đó tới cho người dân Việt Nam.
image-143
Cô giáo Lam và học trò của cô

Từng lời thơ của cô nếu đọc sơ qua thì chưa đủ thấm, phải đọc ngấu nghiến từng lời và nhắm mắt lại để cảm nhận hình ảnh đất nước quanh mình.

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…
“Chữ “ngộ” trong đoạn đầu diễn tả một sự “ngạc nhiên!” Một đất nước đã có 4 nghìn năm văn hiến mà vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”, vẫn còn “bú mớm” như một đứa trẻ thơ, không chịu phát triển, không khôn lớn … vì đâu nên nỗi.
Một đoạn thơ kế tiếp cô giáo Lam viết:
Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…
Đoạn thơ nầy diễn đạt như một câu đối, so sánh giữa VẬT và NGƯỜI, vì kỳ lạ thay tại sao đất nước ta lại xem trọng vật chất hơn cả tính mạng của con người, khi “chiếc bánh chưng” là VẬT thì được xem trọng, được làm to lớn, vĩ đại như là một kỳ công, một chiến tích cùng với thảm trạng tham ô qua “dự án và tượng đài nghìn tỉ” để rồi sinh mạng con người Việt Nam chỉ còn xem nhỏ bằng “cái móng tay”.
Cô giáo Lam sử dụng cách hành văn so sánh một bức tranh nghịch cảnh của đất nước lồng vào thời sự mới nhất khi một ông tướng Công An xem sinh mạng chủ quán cafe’ Xin Chào nhỏ như “cái móng tay”!
Đoạn giữa, cô giáo Lam đưa tất cả hình ảnh đất nước nằm gọn trong 4 câu thơ:
Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…
Nước Việt từ xưa cho đến nay, trong văn học, lịch sử các sách giáo khoa luôn ca ngợi là một đất nước có tài nguyên phong phú, tiền rừng, bạc biển, ruộng lúa phì nhiêu cò bay thẳng cánh … Rồi bỗng nhiên “Rừng đã hết và biển thì đang chết!”, để rồi những con thuyền của ngư dân không dám ra khơi.
Đây là hình ảnh thật của đất nước chúng ta, môi trường sống bị hủy hoại một cách đáng sợ mà chỉ trong mấy câu thơ thôi nhưng cô giáo Lam đã diễn đạt hết một viễn cảnh của dất nước …nghĩ lại quá đúng đến rùng mình.
Đoạn kết thì ai cũng cảm nhận được qua lời thơ tả chân đất nước đang nghèo đói, đang phải cúi đầu với Năm Châu… và cho dù có hỏi trời, có hỏi đất, hỏi từ thế hệ trước đến thế hệ sau thì vẫn không ai có đáp án…vì sao và sẽ về đâu!!!
Đây là một bài thơ của cô giáo dạy văn Trần Thị Lam trường THPT CHUYÊN HÀ TĨNH, mà Thùy Trang nghĩ RẤT KHÓ để có một bài thơ thứ hai có thể thu gọn viễn tượng của một đất nước trong vòng mấy câu thơ.
Cô giáo Lam làm bài thơ nầy phải với cả tấm lòng trăn trở của một người yêu nước nồng nàn … Bài thơ đã đi vào lịch sử văn học Việt Nam, cho dù là có 10 năm, hay 20 năm nữa thì cũng khó có thể đọc được một bài thơ thứ hai nói lên hết tâm trạng của người Việt Nam, của đất nước trong nghịch cảnh hôm nay…
Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…
Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…
TRẦN THI LAM (Hà Tĩnh)
(Thùy Trang Nguyen)


SBTNOfficial

Saigon trước 1961

Giã Từ Đà Lạt (Khóa 26 Võ Bị)—Peter Han

Buổi phát thanh đặc biệt “Giã Từ Đà Lạt” dịp mãn khóa tốt nghiệp của Khóa 26 (18/1/ 1974)

Một người Việt được vinh danh Người Hùng Thầm Lặng—RFA

dace3bba-60e8-4a98-acba-be68f5473b79-620

Cựu Trung Tá Trần Ngọc Huế và 2 nữ sinh Mỹ thắng giải phim tài liệu “Người Hùng Thầm Lặng” nói về  ông, do Lowell Milken Center trao tặng. Photo courtesy of lowellmilkencenter.org
 

Lowell Milken Center là một trung tâm giáo dục đào tạo tầm vóc quốc tế, hoạt động trong tư cách một tổ chức vô vị lợi với mục đích tìm tòi, khám phá và phổ biến những câu chuyện lịch sử về những cá nhân mà việc làm và cuộc đời của họ đã tạo ảnh hưởng sâu rộng, tích cực đến người khác.

Tại Hoa Kỳ, Lowell Milken Center tọa lạc tại Fort Scott mạn Nam thành phố Kansas City, tiểu bang Kansas vùng Trung Tây Hoa Kỳ.

Vào ngày 24 tháng Tư tới đây, trung tâm Lowell Milken ở Fort Scott sẽ khánh thành LMC Hall Of Unsung Heroes, phòng triển lãm những người hùng thầm lặng, trong đó một góc được dành ra để trưng bày hình ảnh về một chiến binh Việt Nam, cựu trung tá Trần Ngọc Huế, mà những người Mỹ quen biết gọi ông là Harry Huế.

Cùng ngày, cuốn phim tài liệu về cuộc đời binh nghiệp, những chiến công cùng những năm tháng tù đày của tù binh chiến tranh Trần Ngọc Huế cũng được trình chiếu tại LMC Hall Of Unsung Heroes.

Nhờ cuốn phim này mà hai nữ sinh trung học Seaman ở thành phố Topica, Andie Sovergren và Hailey Reed đoạt giải thưởng 10.000 đô la của LMC For Unsung Heroes.

Chuyện bắt đầu từ tháng Tám 2014, cô giáo Susan Sitternauer, được chọn làm thành viên của Phòng Triển Lãm Những Người Hùng Thầm Lặng 2 năm trước, đã  hướng dẫn Andie Sovergren cũng như Hailey Reed thu thập  mọi thông tin để dựng một cuốn phim tài liệu ngắn về cựu trung tá Trần Ngọc Huế.

Thành  tích của Harry trong cuộc chiến Việt Nam cho chúng tôi thấy ông là một người hùng thầm lặng, sự can đảm vô cùng của ông trong lúc chiến đấu, đặc biệt trong việc giải cứu các binh sĩ Mỹ tại Huế…

– Ông Norm Connard

Tháng Năm 2015, cuốn phim hoàn tất, được LMC chọn vào phòng triển lãm Những Người Hùng Thầm Lặng sẽ khai trương ngày 24 tới đây như Thanh Trúc vừa thưa cùng quí vị:

Khi được chọn làm thành viên của phòng triển lãm Những Người Hùng Thầm lặng, thử thách họ đề ra cho tôi là tìm ra một người bình thường nhưng lại có thành tích khác thường, mà đã tác động lớn lao đến nếp nghĩ và lối sống của những người chung quanh.

Là giáo viên dạy sử, điều bà Sitternauer thường chú ý đến là chiến tranh Việt Nam. Bên cạnh đó, bà có người chú vốn là phi công trực thăng trong thời chiến ở Việt Nam. Trung úy Gary Worthy bị trúng đạn và tử thương trong một phi vụ trên chiến trường Việt Nam. Chính vì lẽ đó, giáo viên Sitternauer kể tiếp, thoạt đầu bà chỉ nghĩ là nên chọn  trường hợp tiêu biểu về một chiến binh Mỹ để khai thác:

Thế nhưng khi đọc mẩu chuyện về một người lính Việt Nam là ông Harry Trần Ngọc Huế ở trên mạng, tôi đã đổi ý và nghĩ là nên tìm hiểu về ông kỹ càng hơn hầu có thể thực hiện một cuốn phim tài liệu về ông.

Sau khi hỏi ý kiến học sinh trong lớp, cô giáo Sitternauer được sự hưởng ứng của Andie và Haily cùng với cô khai thác đề tài cựu trung tá Trần Ngọc Huế:

Với tôi Harry là một người lính can trường, trung thành, đáng tin cậy. Tôi nghĩ ông ta đã mang vinh dự lại cho những sĩ quan trong quân lực miền Nam Việt Nam. Ông là một sĩ quan hết lòng với binh sĩ của mình để có thể hoàn thành nhiệm vụ khó khăn nhất của một người lính khi lâm trận. Có dịp gặp ông một lần trước đây tôi biết mình đã không lầm khi gán cho ông những đức tính như vậy.

Đó là dịp ông Trần Ngọc Huế về Kansas dự buổi lễ trao giải thưởng của Trung Tâm Lowell Milken cho hai nữ sinh tác giả cuốn phim tài liệu nói về ông.

Một con người dũng cảm

unnamed[2]-400
Bộ phim Vietnam, The War That Made Australia, do Hội Cựu Chiến Binh Vietnam Australia thực hiện, có phần nói về ông Trần Ngọc Huế.

 

Đến lúc này thì hai tác giả trẻ tuổi của cuốn phim tài liệu về ông Trần Ngọc Huế đã lên lớp 12 của trung học Seaman. Chia sẻ cảm tưởng với Thanh Trúc, Andie Sovergren nói:

Chúng tôi  hãnh diện vì cuốn phim đã hoàn tất và được chọn. Cuộc đời của ông Trần Ngọc Huế là câu chuyện lịch sử mà không phải ai cũng biết đến. Không có nhiều người ở đây biết tới thì mình phải làm sao cho mọi người biết bởi vì ông ta  xứng đáng được như vậy. Chuyện cứu hai binh sĩ Hoa Kỳ là một phần, còn phần khác cũng quan trọng không kém là ông đã tìm cách bảo toàn sinh mạng của thuộc cấp ngay trong lúc ông đã bị thương rất nặng. Theo tôi đó là hành động của một con người dũng cảm và biết hy sinh cho người khác.

Dưới mắt Hailey Reed, câu chuyện về một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, một chiến binh như ông Trần Ngọc Huế và cuộc chiến Việt Nam là những điều một người trẻ như cô không hề biết đến:

Thế nhưng câu chuyện của ông ấy đã tác động rất nhiều đến bản thân tôi. Tôi nhận thức được ông là người đã làm nhiều điều xứng đáng nhưng việc làm của ông không được nhiều người biết tới.

Điều này rất quan trọng bởi cuộc chiến Việt Nam đã bị nhìn một cách sai lệch, tôi tin phải có lúc người Mỹ cần hiểu rõ hơn về những người từng chiến đấu cùng quân đội Mỹ ở Việt Nam, cần hiểu rõ về những con người như ông Harry Huế, những người đã bị mang tiếng xấu vì những thông tin thiên lệch. Rất quan trọng để giới trẻ Hoa Kỳ có cái nhìn trung thực hơn về cuộc chiến Việt Nam, về những gì đã thực sự xảy ra cho những người cầm súng chiến đấu trong quân đội của miền Nam lúc bấy giờ.

Về lý do trường hợp Harry Trần Ngọc Huế được chọn như một trong những biểu tượng của ngày khai trương, nhà giáo dục, giám đốc điều hành Trung Tâm Lowell Milken, ông Norm Connard, cho biết:

Thành tích của Harry trong cuộc chiến Việt Nam cho chúng tôi thấy ông là một người hùng thầm lặng, sự can đảm vô cùng của ông trong lúc chiến đấu, đặc biệt trong việc giải cứu các  binh sĩ Mỹ tại Huế, là một hành động dũng cảm. Chúng tôi ghi nhận nơi ông từ  một người đến Mỹ trong tư cách di dân để rồi trở thành một công dân tốt, yêu nước, trở thành một biểu tượng gương mẫu cho mọi người trẻ ở đất nước này noi theo.

Chiến tranh nào cũng có tù binh mà gian khổ nhất của trần gian phải nói là tù binh của cộng sản Bắc Việt … Họ cho ăn đói, mặc rét rồi họ cách ly họ đánh đập này kia, đủ thứ hết trên đời.
– Ông Trần Ngọc Huế

Tưởng cần nhắc trước đó, cuộc đời binh nghiệp của cựu trung tá Trần Ngọc Huế đã được thể hiện qua ngòi bút của tiến sĩ Andrew Wiest, đại học Southern Mississipi. Tác  phẩm mang tên Vietnam’s Forgotten Army, Heroism And Betrayal In The ARVN, tạm dịch Một Quân Đội Bị Lãng Quên, Anh Hùng Và Sự Phản Bội Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mô tả những trận đánh của cựu trung tá Trần Ngọc Huế từ Mậu Thân cho đến Hạ Lào cho đến lúc ông bị vây bắt ở Tchepone. Một chi tiết về sự phản bội là chuyện trung tá Phạm Văn Đính, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 56 Sư Đoàn 3, đã dẫn một trung đoàn ra đầu hàng quân Bắc Việt. Viết lời tựa cho quyền sách là thượng nghị sĩ Hoa Kỳ James Webb, một cựu chiến binh Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam.

Đối với ông Trần Ngọc Huế, hiện ngụ tại tiểu bang Virginia từ năm 1991 khi qua Mỹ theo diện HO, điều ông sẽ bày tỏ khi được mời phát biểu trong ngày khánh thành phòng triển lãm Những Người Hùng Thầm lặng ở Trung tâm Lowell Milken là:

Người Mỹ đã nghĩ đến cá nhân tôi, nhưng tôi sẽ đọc diễn văn và tôi xin trân trọng nói với họ rằng người anh hùng vĩ đại và không được ca tụng nhất đó là quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Cá nhân tôi chỉ là một đóng góp nhỏ bé trong tập thể quân đội và đất nước của tôi. Tôi nghĩ danh dự này là một cơ hội để các thế hệ hôm nay và mai sau nhớ đến một quân lực bất hạnh, hy sinh rất nhiều, chiến đấu rất anh dũng nhưng cuối cùng đã bị quên lãng.

Xuất thân là  thiếu sinh quân, sau gia nhập sinh viên sĩ quan khóa 18 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, khi ra trường ông được điều về Sư Đoàn 1 Bộ Binh, trú đóng tại thành phố Huế. Trong vụ tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, trung úy Trần Ngọc Huế chỉ huy một đại đội Hắc Báo đã chiến đấu  giải vây cho Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, từ đó cùng các đơn vị bạn dốc toàn lực lấy lại  thành phố Huế bị quân miền Bắc tiến chiếm:

Trận đánh Mậu Thân Huế kéo dài 26 ngày đêm, cuối cùng giải phóng được thành phố Huế, treo lại cờ Việt Nam Cộng Hòa trên kỳ đài Phú Vân Lâu. Mậu Thân Huế đó là đơn vị Hắc Báo cũng đã cứu được hai Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ canh gác trực thăng tại phi trường trong thành nội.

Giải cứu 2 lính Mỹ

Sự kiện Đại Đội Hắc Báo của ông Trần Ngọc Huế phá vòng vây, chiếm lại phi trường thành nội và giải cứu 2 lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trong phi trường này, được ghi trong quyền sách của tiến sĩ Andrew Wiest. Vị sĩ quan cố vấn Mỹ, chứng kiến hành động giải cứu 2 người lính Mỹ là trung tá James Coolican.

Lowell-Milken-and-Norm-Conard1
Ông Lowell Milken (trái) và ông Norm Conard. Photo courtesy of mff.org

 

Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, quân lực miền Nam tấn công qua Lào nhằm mục đích cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh và khu hậu cần của  quân cộng sản tại thành phố Tchepone của Nam Lào. Khi đó ông Trần Ngọc Huế là trung tá tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Tháng Ba năm 1971, trong lúc chỉ huy trận đánh giải vây cho các đơn vị bạn, ông  bị thương nặng và bị bắt, khởi đầu 13 năm tù đày của một tù binh chiến tranh qua các trại giam khét tiếng ở miền Bắc:

Tôi đã bảo lính của tôi cố gắng chạy thoát và tôi nằm lại sau cùng là họ bắt tôi.

Họ đưa tôi ra Hà Nội và tôi bị nhốt tại Hỏa Lò, mà Mỹ gọi là Hanoi Hilton đó, ba bốn tháng thì về trại tù Sơn Tây mà trước đó biệt kích Mỹ từng đổ bộ xuống để giải cứu tù binh Mỹ nhưng tù binh Hoa Kỳ đã được di chuyển đi chỗ khác. Tôi ở Sơn Tây đến năm 72 thì họ đưa lên Cao Bằng. Trại đó rất kiên cố, nhốt tù bằng những cell nhỏ lắm,  không đủ không khí để thở nữa mà trên đó lại lạnh.

Sau đó họ đưa lên Yên Bái là trại tù mà khi chúng tôi lên thì thấy còn giam giữ những tù binh hồi thời Điện Biên Phủ. Cuộc sống tù binh là di chuyển nhiều chỗ lắm, Yên Bái, Cao Bằng, trở về lại Yến Bái rồi sông Kỳ Cùng, nhiều chỗ lắm.

Đó là giai đoạn tù binh, ông Trần Ngọc Huế kể tiếp, đến sau ngày 30 tháng Tư 1975 thì chuyển qua giai đoạn quân dân cán chính miền Nam ra các trại tù lao cải ở miền Bắc :

Sau tháng Tư năm 75, khi anh em cải tạo trong này ra thì chúng tôi được qua nhập chung với cải tạo và đi nhiều chỗ lắm. Năm 78 họ đưa tù binh lên Tây Bắc làm con đường chiến lược, đó là khu vực khi mình đi qua con sông  Bảo Hà thì dân thường bảo chỉ thấy tù đi qua không bao giờ thấy tù đi trở lại. Tôi nhớ vùng đó là anh em tù binh mình chết nhiều lắm.

Ông cũng từng đi qua trại tù Ba Sao, cũng là một nhà tù khắc nghiệt mà Thanh Trúc có nhắc đến với quí vị trong bài trước. Tháng Tư năm 1982 ông được đưa về Nam, cuối năm 1983 ông được trả tự do, kết thúc gần 13 năm tù gian khổ:

Chiến tranh nào cũng có tù binh mà gian khổ nhất của trần gian phải nói là tù binh của cộng sản Bắc Việt. Họ đối xử không giống như chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đối xử với tù binh của họ. Họ cho ăn đói, mặc rét rồi họ cách ly họ đánh đập này kia, đủ thứ hết trên đời.

Nhất là chúng tôi, tù binh của Hạ Lào,  giống như tù binh mà vô thừa nhận. Cộng sản bảo chúng tôi là tù binh của Mặt Trận Lào Yêu Nước. Quân đội chính qui cộng sản bắt được chúng tôi bên Lào rồi đưa ra giam giữ tại Hà Nội, Sơn Tây, Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái. Sau Hiệp Định Paris đáng lẽ chúng tôi được trao trả thì họ bảo chúng tôi thuộc thẩm quyền Mặt Trận Lào Yêu Nước họ giam giữ lại. Tôi là tù binh được thả sau cùng đó.

Ngày khánh thành Phòng Triển Lãm Những Người Hùng Thầm Lặng của Trung Tâm Lowell Milken ở Kansas rơi  vào thời điểm người Việt hải ngoại chuẩn bị tưởng niệm 41 năm Sài Gòn sụp  đổ.

Cùng lúc với sự kiện này ở Kansas , tại Australia Chúa Nhật tuần tới  đài truyền hình SBS sẽ cho chiếu tập 3 của cuốn phim Vietnam, The War That Made Australia.

Đây là bộ phim dài 3 tập do Hội Cựu Chiến Binh Australia thực hiện, nói về chiến tranh Việt Nam mà quân đội Úc từng tham chiến, trong đó có sự đóng góp của cựu trung tá Trần Ngọc Huế khi ông được mời sang Úc hơn một năm về trước.

Thanh Trúc RFA

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thẩm Phán Trang Sỹ Tấn nói về Dương Văn Minh


Khi Toàn Dân Biểu Tình Vì Việt Nam

Tại Sài Gòn

Tại Hà Nội

Tại Nghệ Tĩnh

Thành Kính Phân Ưu cùng Anh Lê Kim Ngô K4

PhanUCaoThiLuanK4

Cảm Tạ của GĐ. Anh Chị Trịnh Trân & Anh Chị Nguyễn Thanh Đức K20

ec

Nhà hàng Úc bị chống đối sẽ đổi tên thành ‘Uncle Bia Hơi’—Huy Lam | SBTN

Brisbane, Úc — Một nhà hàng ở ngoại ô thành phố Brisbane đặt tên theo lãnh tụ cộng sản họ Hồ loan báo sẽ đổi tên sau khi bị hàng trăm người Việt Nam biểu tình chống đối.

Sau một ngày đóng cửa hôm Chủ Nhật 10/04, nhà hàng mang tên Uncle Ho loan báo trên mạng xã hội rằng họ sẽ đổi tên thành Uncle Bia Hơi. Trước đó từ buổi sáng cùng ngày, hơn 100 người Việt ở địa phương tụ tập biểu tình ở bên ngoài nhà hàng ở Fortitude Valley, hô to những khẩu hiệu chống cộng sản và mang theo những biểu ngữ với nội dung như: Hồ Chí Minh không phải là Uncle của ai hết.

Cái tên mới sẽ chỉ nhắc đến một loại bia thay vì tên của nhà độc tài từng gây ra cái chết cho hàng trăm ngàn người và khiến cho hàng triệu người khác phải rời bỏ đất nước đi tị nạn. Giám đốc nhà hàng Anna Demirbek loan báo việc nhà hàng đổi tên trên mạng Instagram hôm Chủ Nhật, và xác định rằng nhà hàng này không phải là một tổ chức rửa tiền, cũng như chủ nhân nhà hàng không phải là những người ủng hộ cộng sản. Mặc dù bà Demirbek cho hay nhà hàng đã nhận được nhiều lời dọa giết và dọa phóng hỏa, nhưng không có dấu hiệu cảnh sát đang điều tra về những lời đe dọa này.

Một số người cho rằng nhà hàng cần đưa ra lời xin lỗi đối với cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Úc. Một người bình luận từ Sài Gòn, viết trên mạng Instagram rằng tại thành phố mang tên họ Hồ, người dân bị buộc phải chứng kiến các nội dung tuyên truyền đầy tính chất áp bức tại mỗi góc đường, nhưng họ không có chọn lựa nào khác và cũng không có cả tự do để kể lại lịch sử theo một cách khác. Người này viết rằng: Quý vị có thứ tự do mà chúng tôi chỉ có thể mơ ước, tại sao quý vị lại chọn làm điều này?

Huy Lam | SBTN

Thành Kính Phân Ưu cùng Anh Chị Trịnh Trân K20 & Anh Chị Nguyễn Thanh Đức K20

PU


CP1

The U.S. Military Academy at West Point (USMA)—Maharbal5022

 


The U.S. Military Academy at West Point (USMA) (documentary)—Maharbal5022

 

“Con” Bính—Topa

Trong phòng chờ đợi để ra máy bay đầy người. Có nhiều người phải đứng. Trong số những người đứng có nhiều người đưa mắt nhìn đến những cái ghế không có người ngồi với vẻ mặt không vui. Những cái ghế trống đó đã bị những hành khách có hành lý xách tay để lên nên họ phải đứng.

Ngoài trời tuyết vẫn đang rơi, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ làm cho không khí lạnh buốt vào những ngày cuối đông. Trong phòng chờ có để sưởi vậy mà một người đàn ông trung niên lấy cái khăn quàng cổ định quàng cho người đàn bàcó lẽ là vợ của ôngnhưng bị người đàn bà có dáng sang trọng cằn nhằn và nói là đang bị nực.

Thái độ của người đàn bà đã làm cho Thành, trưởng toán nhóm làm vệ sinh máy bay phải chú ý đến, để rồi, anh nhận ra người đàn bà sang trọng đó chính là “con” Bính ngày xưa. Thời gian bốn mươi hai năm dài không một lần gặp lại nhưng Thành dễ dàng nhận ra “con” Bính vì sự thay đổi trên khuôn mặt không nhiều. Thành không ngạc nhiên khi thấy “con” Bính còn đẹp hơn ngày trước nữa. “Người có tiền khác với người nghèo là vậy”. Thành nghĩ như vậy rồi lại nhìn khắp phòng; nhìn những người sẽ đi chuyến bay hôm nay để về thăm quê hương. Thành lại nhìn “con” Bính và chợt nhớ năm nay là năm Bính Thân thì “con” Bính, mà tên đầy đủ trong giấy khai sinh là Ngô Thị Hoàng Bính; cũng được đúng sáu mươi tuổi. Ngày trước người đàn bà sáu mươi tuổi, như má của Thành, đã là bà già. Nhưng, với “con” Bính và với rất nhiều người đàn bà thời nay thì khác. Hình ảnh của “con” Bính, của những ngày xa xưa thân ái, của một thời tuổi thơ khi đất nước đang thanh bình, và, của một thời mới lớn chợt hiện ra trong đầu của Thành…

***

Năm Bính Thân 1956, khi đó Thành được năm tuổi, một hôm má của Thành nói:

– Con theo má qua bên nhà bác Hai hàng xóm có chút việc. Bác Hai mới sinh một bé gái chắc con thích lắm.

Sở dĩ má của Thành nói vậy vì Thành cứ hỏi khi nào má sinh em bé. Trong lúc má của Thành và bác Hai nói chuyện thì Thành đến cầm tay đứa bé và nựng nó cách sung sướng như thể đó chính là em ruột của Thành vậy. Thành quay đầu nhìn má hỏi:

– Má ơi con nhỏ này  tên gì hả má?

Bác Hai trả lời thay:

– Tên của em là Bính đó con. Con thương em không?

– Dạ…

Má của Thành trách yêu:

– Con phải gọi là em chứ sao lại gọi con.

– Nó là con gái thì con gọi nó là con.

– Nó là con gái thì con gọi nó là con. Mà… mà sao nó giống con khỉ quá vậy má?

Hai người đàn bà nhìn nhau cười thật lớn nhưng không ai nói thêm điều gì nên Thành đinh ninh cách gọi của Thành là đúng. Sau này khi lớn lên Thành mới được biết là “con” Bính khi mới sinh cái mặt của nó nhăn nhiều nên trông giống con khỉ con. Má “con” Bính định đặt tên cho con là Bính Thân vì sinh  năm Bính Thân, nhưng rồi ba má nó chỉ đặt tên Bính thôi.

Sau đó má của “con” Bính cầm tờ giấy một đồng đưa cho Thành và nói:

– Mỗi sáng con cầm cái tô đựng nước tiểu của con qua đây rồi bác lại cho con một đồng.

Thành còn đang ngơ ngác không hiểu má của “con” Bính nói gì thì má của Thành đã giục:

– Cám ơn bác và chào bác rồi đi về con.

Tối hôm đó trước khi đi ngủ má của Thành để một cái tô ngay chân giường và căn dặn:

– Sáng ra con cứ đái vào cái tô này rồi cầm đem qua cho má của bé Bính và bác ấy sẽ cho con tiền. Còn cái tô thì cứ để ở bên ấy chiều má qua lấy, hoặc bác ấy sẽ đem qua sau.

Từ đó mỗi sáng Thành đều làm đúng như má dặn và Thành cũng không thắc mắc tại sao má của “con” Bính lại… mua nước tiểu của Thành để làm gì. Cho đến một buổi sáng nọ, sau khi Thành đưa tô nước tiểu và nhận một đồng, thay vì Thành đi ăn sáng ngay như mọi khi thì vì muốn nựng “con” Bính nên Thành được chứng kiến má của “con” Bính cầm tô nước tiểu của Thành uống một hơi cạn hết tô. Thành vội vàng chạy thật nhanh về nhà để nói cho má nghe điều mà Thành cho là… khủng khiếp.

Vừa bước chân vào đến nhà Thành kêu lên thật lớn:

– Má ơi má. Má ơi má.

– Chuyện gì vậy Thành.

Má của Thành vội vã đi từ nhà sau lên và vừa đi vừa hỏi với vẻ lo lắng.

– Má của “con” Bính cầm cái tô nước tiểu của con rồi uống một hơi hết trơn hết trọi luôn.

Má của Thành vội đưa một ngón tay trỏ lên miệng của mình ra dấu cho Thành đừng nói lớn.

– S…u…ỵ…t… Sao con lại la toáng lên như vậy là sao hả, thằng quỷ. Bác ấy bị… gì đó nên thầy Hòa dặn bác ấy là mỗi sáng phải uống nước tiểu của đứa con trai còn nhỏ như con thì mới tốt. Nhà bác ấy giàu và hơn nữa bác ấy thương con nên cho một đồng chứ ai lại làm vậy bao giờ. Con đừng nói cho ai biết chuyện này nghe hôn. Con mà nói thì bác ấy không cho con tiền nữa đâu.

Thành gật đầu và anh cũng không nói cho ai biết điều đó vì Thành sợ không được một đồng. Trước đó thì mỗi sáng má của Thành chỉ cho anh năm cắc thôi. Tuy chỉ là năm cắc nhưng Thành cũng mua được gói xôi bắp hoặc khúc bánh mì bì ăn no căng bụng luôn. Bây giờ có một đồng thì Thành ăn sáng cũng chỉ năm cắc, còn năm cắc thì để đến giờ ra chơi Thành sẽ mua một cây cà-rem ba cắc và một bịch nước đá nhận si-rô hai cắc.

Một thời gian ngắn sau đó khi má của “con” Bính không cần uống nước tiểu nữa thì cũng vừa lúc Thành được gia đình đưa lên học nội trú trên Đàlạt. Từ đó Thành cũng quên “con” Bính và chuyện tô nước tiểu luôn. Vì gia đình của Thành cách Đàlạt khá xa và hơn nữa tiền bạc cũng eo hẹp nên một vài năm Thành mới về thăm nhà một lần. Khi Thành về thăm nhà lần đầu vào dịp Tết năm 1960, Thành có qua thăm gia đình “con” Bính và có vài lần nắm tay dẫn nó đi loanh quanh nhà. Năm năm sau cũng vào dịp Tết Thành trở về thăm gia đình thì anh nhìn thấy một cô bé khoảng chín tuổi rất xinh trong bộ đầm mới toanh đứng trong sân nhà của Thành. Thấy Thành nhìn con bé với vẻ thích thú nên má của Thành nói:

– Bé Bính đó con. Con nhìn nó không ra là đúng rồi. Lớn cứ như thổi và xinh vô cùng.

Khi nghe má nói như vậy  thì hình ảnh… tiểu vào tô những buổi sáng vừa thức dậy chợt hiện ra nên Thành vội vã hỏi:

– Má của “con” Bính…

– Bác ấy mất khoảng hai năm nay rồi con à.

Thành cảm thấy như bị một vật gì chận ngay cổ làm cho anh bị nghẹn và làm cho hai con mắt của anh bị cay cay. Thành tội nghiệp cho má của “con” Bính vì bác ấy đối xử rất tốt với Thành. Thành đi ra sân gặp “con” Bính. Thành gọi:

– Bính.

“Con” Bính quay nhìn Thành với hai con mắt mở lớn ngạc nhiên. “Con” Bính quay người toan bỏ đi thì má của Thành cũng vừa đến bên:

– Bính à, đây là anh Thành con của bác đó con. Vô đây con. Vô đây bác cho con ăn mứt bí ngon lắm con.

“Con” Bính vui vẻ đi theo má của Thành vô nhà. Con Bính tỏ ra dạn dĩ với Thành chứ không rụt rè. “Con” Bính vừa ăn mứt vừa nghe Thành kể chuyện. Khi Thành kể chuyện ma thì “con” Bính nói:

– Em sợ ma quá à.

Thành cười thật lớn và nói:

– Em đừng có sợ. Đâu có ma đâu mà sợ.

“Con” Bính nhìn Thành không nói nhưng Thành nghĩ là nó không tin không có ma.

Những ngày sau đó Thành dẫn “con” Bính, lúc thì đi xem hội chợ rồi sau đó đi ăn chè. Hôm khác thì đi xi-nê rồi sau đó đi ăn hủ tiếu bò viên. “Con” Bính tỏ ra quyến luyến Thành nên thường xin ba cho qua ăn cơm tối với Thành. Ba của “con” Bính khen Thành còn nhỏ mà đã tỏ ra chững chạc và trí thức. Ngày anh từ giã để trở về Đàlạt học tiếp thì “con” Bính khóc lóc đòi đi theo làm cho anh phải dỗ mãi với những lời hứa sẽ mau về và đưa nó đi hội chợ và đi ăn hủ tiếu bò viên là món mà nó rất thích thì nó mới chịu nín. Vậy mà mãi đến tám năm sau, tức là năm 1973 khi Thành tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Đàlạt, khi đó Thành hai mươi hai tuổi, anh mới quay trở về lại căn nhà xưa. Lúc này má của Thành đã già nhưng vẫn còn mạnh khỏe lắm. Khi Thành vừa bước vô nhà thì thấy một cô thiếu nữ xinh đẹp và cao ráo đang bước ra khỏi nhà. Thành vội vã chào:

– Chào cô.

Cô gái nhìn ngay Thành và nở nụ cười thật tươi đưa ra hai hàm răng trắng muốt và thật đều. Cô gái nhí nhảnh hỏi Thành vẻ thật thân mật:

– Anh Thành phải không? Anh nhớ em không?

Thành còn đang ngơ ngác thì cô gái bĩu cái môi dưới ra và hỏi vẻ thách đố:

– Chắc anh quên rồi chứ gì?

Thành còn đang ngờ ngợ thì cô gái đã tự giới thiệu:

– Em là… con Bính nè.

Thành vội buông cái túi xách xuống đất rồi hai tay chắp lại với nhau như tỏ vẻ muốn xin lỗi. Thành nói:

– Cô… em… em Bính… mau lớn quá anh nhìn không ra. Anh không ngờ…

Bính nhắc lại chuyện xưa mà Thành đã hứa làm cho anh ngượng vô cùng:

– Anh không ngờ anh hứa lèo mà… con Bính này thì không quên phải hông?

Thánh ấp úng nói:

– Anh… Anh thật có lỗi… với em quá….

– Ủa, sao anh Thành không gọi em là “con” Bính nữa mà lại gọi là em?

Bất chợt hình ảnh của đôi song ca kích động rất nổi tiếng Mai lệ Huyền và Hùng Cường chợt hiện ra làm cho Thành mỉm cười vì trong một bài hát kích động có câu: “Sao không kêu người ta như ngày xưa. Không kêu người ta con nhỏ…”

Má của Thành nãy giờ đứng nhìn Thành và Bính, bây giờ bà mới lên tiếng:

– Bính à. Con về nói với ba là bác mời ba và con chiều nay qua nhà bác ăn cơm mừng anh Thành về phép nghe con.

– Dạ.

Bính nhìn Thành với ánh mắt thật tình cảm:

– Em về nha anh Thành.

Khi tiễn Bính ra tới cổng, Thành nói nhỏ:

– Em và ba nhớ qua sớm nghe… em Bính.

***

Cuối năm sau 1974 Trung uý Thành về phép thăm gia đình. Bây giờ “con” Bính đang làm việc trong trường mẫu giáo có hai mươi bốn em. Trong thời gian gần một năm qua Thành gởi về sáu cái thư cho “con” Bính với những lời thật  tình cảm nhưng “con” Bính chỉ hồi âm có một lần. Vừa gặp mặt Thành liền gặng hỏi:

– Em lười viết thư hay em không thích viết cho anh?

– Em sợ…

– Em sợ ma?

– Không. Bây giờ em không còn sợ ma nữa. Nhưng em sợ… anh đi rồi không về thì chắc em sẽ là ma.

– Em không bao giờ là ma đâu. Em là thiên thần. Thiên thần thì chế ngự được ma quỷ và sẽ… phù hộ cho anh; cho… cả hai đứa mình.

– Anh có giận em không?

– Giận em thì anh không gặp lại em hôm nay. Má anh có cho biết tin về em nên anh cũng yên tâm. Anh chỉ sợ em… có người khác rồi quên anh thôi.

– Em không bao giờ quên anh đâu. Mãi mãi không bao giờ em quên anh.

– Bính à, chắc em cũng hiểu lòng anh như thế nào rồi. Chiến tranh đã làm cho chúng mình phải tạm thời xa cách nhưng anh cũng không bao giờ quên em. Nếu em đồng ý thì má anh sẽ qua nhà nói chuyện với ba em rồi khoảng giữa năm sau hai đứa mình sẽ làm lễ cưới. Em thấy anh tính như vậy có được không thì cho anh biết.

– Anh tính sao cũng được hết.

Nhưng, lễ cưới của Thành và “con” Bính đã không bao giờ được thực hiện như dự tính. Cho đến một ngày đầu xuân năm 1983, Thành mới được ra khỏi trại cải tạo sau tám năm bị giam trong cái gọi là, trại học tập cải tạo. Đơn vị mà Thành là Đại úy Đại đội trưởng đã bị một đơn vị của Bắc quân tràn ngập. Trong tám năm tù Thành không được một lần thăm viếng vì gia đình tưởng anh bị mất tích. Tang thương đã đến với gia đình Thành khi má anh qua đời trong cô đơn và đói nghèo mà anh thì hoàn toàn không nhận được tin tức; kể cả tin của người vợ sắp cưới. Ngày ra tù Thành phải sống lang thang rày đây mai đó cho đến một năm sau thì anh thoát ra khỏi nước và đến định cư tại thủ đô Paris.

***

Hành khách đang lần lượt đi vào máy bay. Khi “con” Bính và chồng đi ngang qua chỗ Thành đứng anh liền quay mặt qua hướng khác. Thành rất muốn gặp lại “con” Bính nhưng lại sợ làm cuộc sống của nàng bị xáo trộn. Tự trong thâm tâm Thành vẫn tin tuyệt đối là “con” Bính không quên anh như anh không bao giờ quên. Thành nhìn đồng hồ thì thấy chỉ còn tám phút nữa máy bay sẽ cất cánh. Tuy không nhìn ngay hai người, nhưng nghe lỏm câu chuyện họ đang trao đổi, và chuyến bay sẽ đáp ở Seattle, Thành nghĩ là hai người sống đâu đó trong nước Mỹ. Trong lòng, anh rất muốn xem tên người trong vé có phải là “Ngo” không, như để xác quyết trí nhớ của mình, nhưng sau đó anh lại nghĩ: “biết để làm gì, chuyện gì đã yên thì để nó yên đi”. Như anh, hết ca làm mỗi ngày thì anh sẽ lại về nhà, dùng bữa tối trong gia đình hay thỉnh thoảng ghé quán nhậu với bạn. Không ai muốn tự dưng nếp sống đều đặn này bị xáo lên vì một chuyện “không đâu”. Tuy thế, mắt anh vẫn thấy cay cay, và anh nhìn mãi cánh cửa dẫn ra hành lang vào phi cơ giờ đã đóng. Thành  muốn biết “con” Bính đang ở thành phố nào. Trong danh sách hành khách của chuyến bay, tên Ngô Thị Hoàng Bính là công dân Mỹ và sinh sống ở tiểu bang Texas.

Rồi khi Thành nhìn chiếc máy bay đang từ từ chạy ra phi đạo. Anh nói nhỏ như đang nói với “con” Bính: “Vĩnh biệt em. Vĩnh biệt “con” Bính yêu quý của anh.”

Lần thứ hai trong đời Thành thấy như bị một vật nào đó chận ngay cổ và hai con mắt bị cay cay.

Topa (Hoà Lan)

 

Nơi An Nghỉ Cuối Cùng Của Niên Trưởng Đỗ Kế Giai K5—Photos by Lương Dũng Sinh K30

Cảm Tạ của GĐ. Anh Chị Lê Văn Mễ K18

ThuCamTa

Thành Kính Phân Ưu Cùng Anh Chị Lê Văn Mễ K18

 

PUNhacMauAnhMeK18_600

CPNhacMauAnhMe18

CPNhacMauAnhMe18(2)

Lễ Truy Điệu và Phủ Cờ Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai—Hội Võ Bị DFW & Thu Nga, SBTN

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai – Một Vì Sao Chợt Tắt—Huy Tâm


Lễ Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai—Hội Võ Bị Dallas-Fort Worth

 


DoKeGiai

Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai Khóa 5 Hoàng Diệu TVBQGVN

Một buổi lễ “ Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai Khóa 5 Hoàng Diệu TVBQGVN” do Hội CSVSQTVBQG-DFW tổ chức đã diễn ra thật trang trọng; với sự hiện diện gần 200 quan khách cùng rất nhiều đồng hương; hội đoàn; các cơ quan truyền thông báo chí:

Thời gian từ 2pm đến 5pm ngày 26-2-2016 tại Sparkman Crane Funeral Home tại 10.501 Garland Rd Dallas,Texas 75218.

Chương trình do MC Lưu Xuân Phước K24 VB đảm trách khai mạc đúng giờ. Hầu hết các vị đại diện các chức sắc tôn giáo, cộng đồng hội đoàn đều được mời lên phát biểu.

NT Nguyễn Quang Vinh K14 đã đại diện Tổng Hội CSVSQTVBQGVN ngỏ lời cám ơn toàn thể quan khách tham dự và chuyển lời Phân Ưu của Tổng Hội cùng tang quyến.

Thượng tọa Thích Huyền Việt đến từ Houston phát biểu những tình cảm sâu đậm của mình với một Tướng Lãnh liêm khiết vì yêu quân đội và đất nước nên phải chịu đọa đày 17 năm trong các nhà tù cộng sản

HT Ngô Văn Tuận đã đại diện hội thành kính phân ưu cùng tang quyến và nói lên tình cảm của tất cả CSVSQTVBQGVN – DFW đối với một vị NT đáng kính cùng thành thật cám ơn tất cả mọi người đến tham dự buổi lễ hôm nay:

Thiếu Tướng KQ Đặng Đình Linh, Bà Pham Nguyễn Thanh Thúy Hội Trưởng Hội Cao Niên hạt Tarrant , ông Hà Thúc Thanh Phó chủ tịch Ngoại vụ Cộng đồng Hạt Tarrant , ông Phan Văn Phúc Tổng Hội Cựu TNCT, ông Nguyễn Ngọc Quý Liên Hội CCSVNCH-DFW, ông Đoàn Tống Hội Trưởng CSQG-DFW, ông Huỳnh Công Đấu TQLC, ông Nguyễn Văn Nở HT Hội Hải Quân –DFW, NT Cựu Trung Tá Lê Chu, ông Trương Sĩ Lương Bán Nguyệt San TGM, bà Thu Nga Giám Đốc Đài Truyền Hình DFW và Radio 1600am …tất cả đều bùi ngùi xúc động trước sự mất mát lớn lao nầy và thành kính phân ưu cùng tang quyến.

CSVSQ Phạm Văn Tiền Khóa 20 đã đại diện Hội CSVSQTVBQGVN-DFW đọc bài điếu văn tiễn biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai trước khi tất cả mọi người nghiêm chỉnh đứng im lặng dành “ Một Phút Mặc Niệm” để cầu nguyện NT bình an trên đường về nước Chúa ..theo truyền thống truy điệu của TVBQGVN . Qua bài Thơ Tù của NT cũng được phát âm qua giọng đọc của NT vẫn còn văng vẳng đâu đây….trước khi nghi lễ kết thúc.

Buổi lễ đã chấm dứt đúng 5pm cùng ngày trong niềm đau tận cùng của thân phận mỗi một con người còn lại hôm nay.

 00_VB_1

 

 

 

Điếu Văn: Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai DFW ngày 26-2-2016

 

Thưa Cựu Thiếu Tướng NT Đỗ Kế Giai,

Thưa gia đình cùng tang quyến,

Trời Dallas đang vào Xuân mọi người còn đang vui Tết thì được tin NT mất. Không ai ngạc nhiên nhưng thật xúc động khi nhận được tin nầy vì biết NT không còn đủ sức khỏe và đã nhập viện vào nhà dưỡng lão từ lâu …

Trên cõi đời nầycó sinh là phải có tử, có đến rồi cũng có đi và NT đã ra đi ở vào giai đoạn cuối một đời người ở tuổi trường thọ 87. Mặc dầu rất buồn nhưng sự ra đi của NT hôm nay như vậy là quá đủ, quá đủ ân phúc mà Thương Đế đã ưu ái dành cho NT nào mấy ai có được!

Mới đây thôi , lần cuối cùng mọi người gặp NT vào ngày 17-1-2016, nhân dịp Xuân Chiến Sĩ của Liên Hội -DFW, măc dầu sức khỏe yếu phải ngồi xe lăn nhưng NT vẫn cố gắng đến với đàn em chúng tôi trong đậm đà của tình chiến hữu thuở nào. Có ai ngờ đây là lần cuối cùng và cũng là lần các cựu quân nhân chúng tôi vĩnh biệt người NT đáng kính, một vị tướng lãnh anh hùng liêm khiết của QLVNCH.

Từ lâu NT là một trong những cánh chim đầu đàn của Tổng Hội CSVSQ-TVBQGVN. Niên trưởng là vị tướng mẫu mực trên chiến trường và cũng là người đàn Anh đáng kính của tập thể CSVSQ/TVBQGVN. Thiếu vắng NT trong gia đình Võ Bị là thiếu đi những lời chỉ dạy ân cần cho công cuộc đấu tranh chung vì độc lập tự do dân tộc còn đang dang dở.

Biến cố 30 tháng Tư 1975, sẵn phương tiện trong tay mặc dầu có Tướng Times bên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp đưa cả gia đình đi Mỹ, nhưng NT quyết định ở lại vì trách nhiệm của một tướng lãnh. Ngày 15 tháng 5, 1975, Cộng Sản đến nhà mời NT đi họp và đưa thẳng vào khám Chí Hòa, sau đó đưa NT cùng với các vị tướng lãnh khác ra Bắc Việt.

Ðến ngày 5 tháng 5 năm 1992, sau 17 năm NT mới được trả tự do, là một trong 4 vị cấp tướng cuối cùng ra trại tù CS cùng với Cựu Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Trần Bá Di va Lê Văn Thân.

NT và gia đình được xếp vào danh sách H.40 nhưng cuối cùng được đôn lên H.07, đến Mỹ vào tháng 11 năm 1994 định cư tại thành phố Garland, Texas. Và cũng từ đó NT là thành viên của Hội Võ Bị Dallas-Fort Worth Texas.

Vài năm sau nầy khi phải vào viện dưỡng lão, mỗi lần có ai vào thăm NT rất vui mừng. Hội CSVSQTVBQGVN – DFW vẫn thường xuyên sát cánh cùng NT: NT Nguyễn Du Nghi K13 & NĐ Lương Dũng Sinh K30 là người tận tình với NT nhiều nhất, thế mà NT Nghi cũng đã ra đi vài năm trước rồi!

Niên trưởng thường tâm sự mỗi khi có ai hỏi NT về cuộc chiến Việt Nam: Vài năm trước đây và ngay bây giờ, có nhiều nhà xuất bản Mỹ và Việt đề nghị tôi viết hồi ký và họ sẽ giúp xuất bản.  Không! Tôi dứt khoát là không. Tôi trả lời là đối với tôi điều nầy khó quá. Bởi nếu đã viết, thì phải nói hết, nói thật, mọi sự việc mà tôi nghe, tôi biết, tôi thấy. Như vậy e rằng sẽ làm mất lòng nhiều người. Hơn nữa, vấn đề nầy tôi xin bày tỏ quan niệm tôi qua hai câu của người xưa:

“BẠI BINH CHI TƯỚNG, BẤT KHẢ NGÔN DŨNG VONG QUỐC CHI ĐẠI PHU, BẤT KHẢ NGÔN TRÍ.” (Tướng bại trận không thể nói mạnh. Quan mất nước, không thể nói hay)

Thưa NT,

Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng, Đến trần truồng và đi vẫn tay không. Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng, Nay rũ sạch…lên bờ, thuyền đến bến…

NT đã sống thật thanh liêm khi làm Tướng và rất bình dị thanh thản lúc ra đi! Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi, Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…

Bây giờ NT đã không còn là Thiếu Tướng nữa mà là Cụ Ông. Kính chúc Cụ Ông Edmond Marie Đỗ Kế Giai bình an trên đường về nhà Chúa…

GIA ĐÌNH HỘI CSVSQTVBQGVN-DFW THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Nói Chuyện Với Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai—Tạp Chí Trẻ

Tạp Chí TRẺ trong Số Tháng Tư 2009 có bài tường thuật Cuộc Nói Chuyện giữa Phóng Viên Trẻ và Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai

Lời nói đầu của Phóng viên Tạp Chí Trẻ:

Qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Trọng Huấn, một Cựu Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, thành viên Hội Quảng Đà Dallas-Fortworth, Texas, đã đưa chúng tôi đến thăm Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai tại Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt Cao Niên Garland, Texas

Chúng tôi đến Trung Tâm vào giờ ăn trưa của các cụ nơi đây và được bác Đỗ, Giám đốc Trung Tâm tiếp đón. Bác Đỗ nhờ người thưa với Cựu Thiếu Tường Đỗ Kế Giai là có nhà báo chúng tôi xin được gặp ông, và mời ông Tướng ra phòng khách để cho chúng tôi được gặp, bác Đỗ cho chúng tôi biết ông Đỗ Kế Giai hôm nay không được khoẻ lắm.

Rồi tôi thấy Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đi vào phòng khách của Trung Tâm. Hình ảnh một vị cao niên chống gậy vẫn không che được phong cách và uy nghi của một vị Tướng lãnh từng một thời oai vũ.

Chân dung và tiểu sử Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai được ghi lại không đầy đủ như sau: Ông xuất thân Khoá 5 Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, ra trường Tháng 4/1952, ông về phục vụ Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội. Năm 1954, ông là sĩ quan hành quân “Officier Adjoint” cho Thiếu tá Mollo ở Đồng Đế, Nha Trang, với cấp bậc Trung úy. Cấp bậc cuối cùng của ông là Thiếu Tướng Biệt Động Quân, chỉ huy Lực Lượng bảo vệ Sài Gòn cho tới khi nhận lệnh buông súng…

Những người đàn anh của tôi ở đây là những cựu Trung úy, cựu Đại úy đang làm thiện nguyện ở Trung Tâm, các anh lo bữa ăn trưa cho vài chục cụ người Việt cao niên ở đây, các cụ đang… nói chuyện, chơi cờ, xem ca nhạc Asia và chờ cơm. Thấy Thiếu Tướng đi tới các anh đến mới ông đến chiếc ghế êm ả nhất phòng. Tôi cúi chào Thiếu Tướng.

Phóng Viên Trẻ: “Thưa bác, cháu là phóng viên Tạp Chí Trẻ. Xin được chào bác, chúc bác sức khoẻ. Xin được hỏi bác đôi điều…”

Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai: “Từ ngày xưa, tôi đánh giặc đã không thích kể chuyện đăng báo vì kể lể chiến công với báo chí tôi cho là việc tự kể cho đối phương nghe, biết chiến thuật của mình”

PV Trẻ: “Thưa bác, cháu xin không hỏi bác nhiều về những chuyện đã qua. Thay mặt Nhóm thực hiện báo Trẻ, cháu đến thăm hỏi sức khoẻ bác vì được nghe bác đã tham gia sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên Garland.”

CTT ĐKGiai: “Nếu anh muốn hỏi gì thì phải đợi tôi nói xong hãy hỏi tiếp, đừng hỏi ngang làm tôi quên chuyện tôi đang nói…”

PV Trẻ: “Thưa bác, bác có viết quyển hồi ký nào không?”

CTT ĐKGiai: “Tôi không viết hồi ký vì những đánh bóng cá nhân hay chạy tội trước lịch sử đều không phải là hồi ký. Theo thời gian, tôi chỉ nói ra những gì tôi thấy là cần thiết…”

PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã trả lời. Xin hỏi bác đã đi “cải tạo” bao nhiêu năm?”

CTT ĐKG: “Tôi không có đi cải tạo. Tôi đi tù.”

PV Trẻ: “Xin lỗi bác, cháu chỉ muốn dùng lời nói cho nó nhẹ nhàng thôi!”

CTT ĐKG: “Ngày tôi đi phỏng vấn ở Trụ Sở ODP để sang đây, có người thông dịch viên cũng hỏi tôi một câu như thế. Tôi cũng trả lời rõ ràng như thế. Và ông nhân viên Mỹ nói luôn với tôi: “Mời ông ký giấy tờ để hoàn tất thủ tục.”

PV Trẻ: “Thưa bác, thời gian… ở tù của bác bao lâu?”

CTT ĐKG: “17 năm thiếu 10 ngày.”

PV Trẻ: “Xin hỏi: Có phải bác là người đi tù sớm nhất và về trễ nhất?”

CTT ĐKG: “ Có thể. Ngày 15 tháng 5, 1975, họ đến nhà tôi, mời tôi đi họp nhưng thật ra là bắt tôi đi luôn từ đó. Lệnh tập trung những sĩ quan Quân lực VNCH vào Tháng 6, họ bắt tôi giữa Tháng 5. Có thể tôi là người đi tù sớm nhất!”

PV Trẻ: “Nhưng khi ấy họ chưa tổ chức kịp những trại tập trung thì họ đưa bác đi giam ở đâu?”

CTT ĐKG: “Khám Chí Hoà. Một năm sau họ đưa tôi từ Nhà Tù Chí Hoà đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cũ. Bữa sau nữa, họ đưa tôi ra Bắc.”

PV Trẻ: “Bác tù ở ngoài Bắc 17 năm. Khi trở về Nam, bác thấy miền Nam sau 17 năm kiểu cộng sản “giải phóng” thế nào?”

CTT ĐKG: “Tôi không thích tiếng: giải phóng”!

Bác Giai im lặng-hồi tưởng. Mọi người im lặng-chờ đợi. Ở đây chỉ có những người trẻ làm thiện nguyện là đến trung tâm sinh hoạt cao niên này để phục vụ người già. Trong thái độ, ánh mắt, giọng nói của những người lính cũ, tôi cảm nhận được sự kính trọng Tướng Giai của họ như ngày họ còn tấm thẻ bài lính chiến trên ngực. Hình như với những người lính cũ, kỷ luật quân đội vẫn sống trong họ.

Bác Giai nói tiếp: “Hôm đó trong trại tù, một người thuộc Mặt Trận Giải Phóng miền Nam nói với tôi: “… Trong Quốc ca của các anh có câu: Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…, thì hôm nay chúng tôi đã giải phóng cho các anh rồi! Còn thắc mắc gì nữa!” Tôi nghe anh ta nói câu đó thì tức đến chết được, để rồi tôi nói cho các anh nghe về lịch sử bài quốc ca của Quốc Gia VNCH…”

Cuộc nói chuyện ngưng vì bác Đỗ đến mời vị Cựu Tướng đi ăn cơm, anh Tuấn và tôi được mời cùng ăn với vị Cựu Tướng. Bác Giai chống gậy, đi đứng đã có phần khó khăn, nhưng vẫn đi được một mình. Nhìn bác tự lo cho mình bữa ăn, tôi không biết ngày xưa, cấp Tướng thì có bao nhiêu người phục vụ? Tôi thấy ở ông phong cách tự tại, bình thản của một cụ già người Việt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên. Một chút ngậm ngùi nổi lên trong lòng tôi dù tôi thấy là vô lý. Bác Giai rất an nhiên, tự tại.

Tôi nói với bác Giai: “Hôm qua, cháu nói điện thoại với cô Kiều Mỹ Duyên. Cô gởi lời thăm bác.”

Ông ngồi yên như hồi tưởng lại những người quen biết cũ.

Thấy ông có vể xúc động, tôi hỏi thêm câu nữa: “Ngày xưa, chắc cô Kiều Mỹ Duyên đẹp lắm hả bác?”

Ông cười, nụ cười bí hiểm với ánh mắt trầm mặc sau làn kính cận dày. Nhưng sau đó… ông tỏ ra bớt “quạu”, chắc tâm tư sảng khoái nên ông ăn cơm thấy ngon.

Tôi hỏi: “Cơm ngon không bác? Cháu thấy món thịt kho rất ngon.”

Ông trả lời nhẹ nhàng: “ Ngon hơn cơm tù.”

Trên chiếc bàn trải khăn trắng muốt, đơn sơ, mỗi người một đĩa cơm có thịt kho, cải xào, chén canh đậu hũ trắng nấu với cà chua và thịt bằm. Trước mặt có ly trà, trái chuối để tráng miệng. Một phần ăn trưa rất bình thường ở Mỹ, bình thường đến nỗi người ăn chỉ làm công việc ăn chứ ít ai nghĩ đến ân sủng của Ơn Trên đã ban cho lương thực hàng ngày hay công lao người nấu bữa ăn, hoặc tiền chợ có từ đâu? Nhưng nghe bác Giai vừa ăn vừa nói chuyện, mọi người như mới nhận thức ra giá trị của bữa ăn hàng ngày, bác nói:

“Từ ngày tôi ra tù đến nay, không bao giờ tôi bình phẩm về món ăn.”

Là một phóng viên chuyên thực hiện những cuộc phỏng vấn, nhưng lần này có lẽ là lần thứ nhất tôi không muốn đóng vai trò phóng viên đặt câu hỏi mà chỉ muốn ngồi nghe câu chuyện của một chứng nhân lịch sử, một trong những “Tự điển sống” hiếm hoi còn lại tới bây giờ. Những câu hỏi về lịch sử không phù hợp với không gian, thời gian. Từng câu hỏi như những mũi kim chích vào ung nhọt quá khứ, nó có cái “đã” của một vết thương mưng mủ được tuôn ra, nhưng tiếp theo sau là nỗi buồn vết sẹo không lành sau mỗi câu trả lời của vị Cựu Tướng. Tôi tự thấy mình có lỗi trong những câu hỏi có thể gợi sự bất an, hay không vui trong lòng vị Cựu Tướng nên tôi chuyển sang chuyện khác, may ra cuộc trò chuyện được vui vẻ hơn.

PV Trẻ: “Thưa bác, hiện nay bác đến Trung Tâm này sinh hoạt hàng ngày hay sao?”

CTT ĐKG: “Không, một tuần tôi đến đây ba ngày thôi.”

PV Trẻ: “Vậy, những ngày ở nhà thì bác làm gì? Bác đang sống với ai?”

CTT ĐKG: “Tôi sống với hai người con trai của tôi, hai con tôi qua đây đã lỡ tuổi, dở dang mọi chuyện nên chúng không lập gia đình. Công việc hàng ngày thì tôi làm được gì thì làm, được tới đâu hay tới đó.”

PV Trẻ: “Bác có thường xuyên liên lạc với bạn hữu và các vị tướng lãnh xưa không ạ?”

CTT ĐKG: “Ít khi. Từ hôm ra tù đã thế. Ngày ra tù, họ cho hay trong nửa ngày phải thu xếp rời trại. Tưởng chuyển trại thôi vì tôi tin là tôi sẽ ở tù tới chết. Không ngờ họ cho về. Tôi với Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo là 4 người trong 100 người mà họ muốn giam tù cho tới chết. Nhưng nhờ sự đấu tranh của các chiến hữu, các vị đồng hương ở hải ngoại, tạo thành áp lực buộc họ phải thả chúng tôi. Bốn người chúng tôi là đợt cuối cùng trong 8 đợt thả 100 người tù cuối sổ. Lúc đợi xe đưa về Sài Gòn bốn chúng tôi tính với nhau: tôi sẽ được đưa về nhà trước vì là người lớn tuổi nhất trong anh em, kế đến là Trần Bá Di, tới Lê Văn Thân. Lê Minh Đảo trẻ tuổi nhất, sẽ về sau chót. Nhưng khi xe đưa chúng tôi về đến Sài Gòn thì thì những người áp giải chúng tôi làm ngược lại! Lê Minh Đảo được đưa về nhà trước nhất, tôi là người về nhà sau cùng.”

PV Trẻ: “Vậy, bác đúng là người đi tù trước nhất và về nhà sau cùng. Bác có không được vui về chuyện ấy không?”

CTT ĐKG: “Từ những ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, sau khi Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã rời Sài Gòn thì ngày 28, 29 Tháng Tư, tướng Times bên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp tôi đưa cả gia đình tôi đi ra nước ngoài. Nhưng tôi quyết định ở lại vì trách nhiệm.”

PV Trẻ: “Bác có ân hận về quyết định ở lại đó với 17 năm tù và về sau chót?”

CTT ĐKG: “Không. Tôi đã làm tròn trách nhiệm của một Tướng lãnh với Tổ Quốc, với Quân đội, với đồng bào và đồng đội. Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ tác phong, danh dự của Quân Lực VNCH. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.”

PV Trẻ: “Đối với bên kia, thì đã rõ về tác phong của bác. Nhưng đối với đồng đội, đặc biệt là với các vị Tướng đã bỏ nước ra đi vào những phút chót dầu sôi lửa bỏng, Bác nghĩ gì về họ?”

CTT ĐKG: “ Tôi quyết định ở lại vì tôi thấy hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích những người ra đi Tháng Tư năm 1975. Bởi vì trường hợp mất Nam Việt Nam thật đặc biệt, không thể qui trách cho những người cầm súng giữ nước. Các đơn vị quân đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chạy trước cộng quân. Quân đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quí vị Tướng có ở lại trong nước thì trước sau các ông cũng vô tù như tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát được ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cứu vãn những người còn kẹt lại. Về mặt kinh tế, những người đi trước đa số đã thành công trong việc xây dựng được cuộc sống ổn định ở nước ngoài, nhờ đó ta có thể có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên nói nhiều nữa về chuyện đi hay không đi, đi trước- đi sau, mà mọi người nên, và phải cùng chung lưng xây dựng một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.”

PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã cho nghe về lịch sử và những biến động ở Sài Gòn cũng như miền Nam vào những ngày cuối cùng của nền Cộng Hoà. Trong tương lai, bác có suy tư nào để chia sẻ với những người đời sau?”

CTT ĐKG: “Những ngày lễ, ngày Tết, đặc biệt là Ngày 30 Tháng Tư hàng năm, đều có những người trẻ tìm đến tôi để hỏi thăm. Tôi cảm ơn nhiều. Phần các cháu hỏi, thì câu trả lời của tôi còn đó, đến năm sau có thể ta sẽ lại gặp nhau. Các cháu hãy làm đi, làm những gì có thể làm cho quốc gia, dân tộc chúng ta khá hơn, hay hơn.”

PV Trẻ: “Cảm ơn lời chỉ dạy của bác. Xin được chào bác và để bác nghỉ. Xin chúc bác được nhiều sức khoẻ để làm chỗ dựa tinh thần cho lớp trẻ dấn thân vào việc xây dựng tương lai chung của chúng ta. Kính chào bác.”

Khi ngồi nghe chuyện Cựu Tướng Đỗ Kế Giai sau bữa ăn trưa ở Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt cao niên, những câu hỏi tôi đã chuẩn bị để hỏi ông không có cơ hội được tôi nói ra vì dòng hồi tưởng của vị Tướng Già cứ tuôn chảy theo ký ức và tâm cảm của ông. Hai nữa có những chuyện tôi không muốn hỏi sợ làm ông buồn.

Thế rồi bác Đỗ lái xe đưa bác Giai về tư gia. Trongcuộc sống âm thầm nơi viễn xứ, những người lính cũ vẫn sống bên nhau với tình đồng đội ngày nào. Thật đáng kính phục những người Lính Chiến của một Quân Lực oai hùng nay không còn nữa.

Tôi trở về toà soạn, ngồi gõ keyboard viết những dòng chữ này để Tưởng Niệm Tháng Tư 2009 gửi đến quí vị độc giả Tạp Chí Trẻ.

Người viết Phóng Viên Trẻ

Cô Bé Tỵ Nạn Việt Nam Thành Thẩm Phán Mỹ—BBC

Báo New York Times nêu tên bà Jacqueline Nguyễn trong số sáu người có khả năng được bổ nhiệm thành Thẩm phán Tòa Thượng thẩm, sau khi ông Antonin Gregory Scalia, vị thẩm phán kỳ cựu, qua đời.

Năm nay 51 tuổi, bà Jacqueline Nguyễn “sang Hoa Kỳ năm 10 tuổi cùng gia đình, sau khi chính quyền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975”, tờ báo Mỹ viết.

“Hiện đã là thẩm phán Toà Phúc thẩm Hoa Kỳ, bà được Tổng thống Obama bổ nhiệm vào tháng 5/2012,” trang báo cho hay.

Các báo tiếng Việt cho biết bà tên là Nguyễn Thị Hồng Ngọc, sinh năm 1965 tại Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam.

Một trang web của người Việt tại Hoa Kỳ viết rằng cha bà, cựu thiếu tá Quân lực Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Bình đưa gia đình sang tị nạn tại Hoa Kỳ năm 1975, ban đầu ở Trại Pendleton, sau đó định cư ở Los Angeles.

Các trang báo cũng nói khi mới sang Hoa Kỳ cô bé Jacqueline “đi phụ bán bánh với mẹ để kiếm sống”

Thẩm phán liên bang

Tốt nghiệp Occidental College và trường Luật UCLA, bà đã từng hành nghề luật, chủ yếu trong các vụ kiện tụng dân sự, và sau đó giữ các chức vụ trong bộ máy tư pháp ở California, theo New York Times.

T̀háng 5/2012, với số phiếu 91-3, bà được phê chuẩn trở thành thẩm phán Tòa Phúc thẩm Liên Bang Hoa Kỳ Khu Vực 9 (Ninth Circuit U.S. Court of Appeals).

Judge Jacqueline Nguyen.jpg
Bà Jacqueline Nguyễ́n hiện là thẩm phán liên bang Hoa Kỳ khu vực 9

Ngoài bà Jacqueline Nguyễn, năm nhân vật được tờ New York Times nêu lên là các “ứng viên tiềm năng” lên thay vị trí củ̃a ông Antonin Scalia là các ông Merrick B. Garland, (63 tuổi), Padmanabhan Srikanth Srinivasan (48 tuổi, sinh tại Ấn Độ), Cory Booker (46 tuổi, thượng nghị sỹ New Jersey), các bà Kamala D. Harris (51 tuổi, người gốc Á – Phi), Patricia Ann Millet (52 tuổi).

Cùng thời gian, một tờ báo khác ở Hoa Kỳ nêu ra tên bảy ứng viên tiềm năng vào chức tân thẩm phán Toà Thượng Thẩm.

Họ là Jane Kelly, Sri Srinivasan, Amy Klobuchar, Merrick Garland, Paul Watford, Pam Karlan và Jacqueline Nguyễn.

Trang Vox.com viết rằng nếu được bổ nhiệm, bà Nguyễn sẽ là người Mỹ gốc Đông Á đầu tiên nắm chức vụ này.

Tuy nhiên, trang web này cũng cho rằng hiện khó biết bà Jacqueline Nguyễn sẽ là một thẩm phán Tòa Thượng thẩm ra sao vì bà “như một trang giấy trắng’ (blank slate), hàm ý không có thành tích biểu quyết rõ rệt.

Trái lại, người vừa tạ thế năm 79 tuổi, thẩm phán Antonin Scalia, có quan điểm bảo thủ, nổi tiếng với các quyết định làm biến đổi lịch sử ngành tư pháp và chính trị Mỹ.

BBC

Happy Valentine’s Day

Crazy in Love

Nghệ Thuật Quàng Khăn

Vài Hình Ảnh Viếng Thăm Anh Nguyễn Văn Xuân K10

Hình Ảnh Sinh Hoạt ngày 24/1/16 — Hồ Ngọc Hiệp K25 & Nguyễn Gia Thiếu K30

Photos by Hồ Ngọc Hiệp K25   Photos by Nguyễn Gia Thiếu K30