Category Archives: Sinh Hoạt

Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Spiegel 1979—Phạm Thị Hoài dịch

Spiegel: Thưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để “bóp nát trái tim Hoa Kỳ”. Vì sao ông lại cản trở như vậy?

Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi. Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

Spiegel: Kissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ý. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy vì ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ý với các đề xuất của Mỹ chỉ vì ông chắc mẩm rằng đằng nào thì Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.

Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rõ rằng đối với người Mỹ đã đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ vì thế mà họ vội vã như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền hòa bình lâu dài.

Spiegel: Kissinger có ý cho rằng ông không thực sự muốn ký kết một thỏa thuận về hòa bình, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng ông đồng ý với nhiều đề xuất từ phía Mỹ – trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ vì trong thâm tâm ông không tin rằng hòa bình sẽ được ký kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đã bịp, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải ngửa bài lên?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ thì có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi thì phải ở lại Nam Việt Nam. Chúng tôi có quyền chính đáng để đòi hỏi một hiệp định hòa bình toàn diện. Không phải là vài ba năm hòa bình, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.

tumblr_inline_nn6aicNQN91sx2bvb_1280Nguyễn Văn Thiệu và Richard Nixon tại Midway Island ngày 8/6/1969

Spiegel: Vậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái Bình Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?

Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đã không còn là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đã loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. Vì sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm dò, tiết lộ thông tin trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đã rồi.

Spiegel: Tức là ông đã nắm được tình hình?

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rất rõ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đã không hình dung sai điều gì và đã làm chủ tình thế. Không có gì phải lo lắng, và tôi đã rất vững tâm.

Spiegel: Khi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một mình và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.

Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, vì Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.

Spiegel: Và ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đã hình dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã trình bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của mình. Quan trọng hơn, tôi đã bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ý với tôi ở mọi điểm; về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía…

Spiegel: … và mang tính tượng trưng?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rõ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ý rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn thì chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy thì đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lý hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.

Spiegel: Mỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hãnh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng thì chúng tôi không thiếu.

Spiegel: Ông đánh giá thế nào về tình thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc “phi Mỹ hóa” cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đã thể hiện rõ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?

Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài Gòn vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đã nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch trình mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: “Hãy giúp chúng tôi giúp ông.” Tôi đáp: “Tôi giúp ông giúp chúng tôi.” Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.

Spiegel: Nhưng không đưa ra một lịch trình cụ thể?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.

Spiegel: Ở thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần thì Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?

Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đã ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

Spiegel: Có lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi ký của Kissinger cho thấy khá rõ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng “đình chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đã khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một kênh TV khác.” Rõ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đã tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.

Spiegel: Ông đã oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng mình chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá trình đàm phán, còn sau khi ký kết thì Hà Nội phải rút quân. Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi ký rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đã chấp thuận như Kissinger nói thì lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đã chẳng phản đối quyết liệt như thế. Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đã tuyên bố rõ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó thì không có ký kết. Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: “Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận.” Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.

Spiegel: Có lẽ Liên Xô không thể làm khác, vì Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ còn phủ nhận việc họ đã đưa quân đội chính quy vào miền Nam.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nhìn ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh thì chúng ta phải nhìn vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.

Spiegel: Ông có lập luận như thế với Kissinger không?

Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: “Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lãnh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đã ký kết thành công một hiệp định hòa bình với Liên Xô không?”

Spiegel: Ông ấy trả lời sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lý. Còn gì mà nói nữa.

Spiegel: Nhưng Kissinger thì có câu trả lời trong hồi ký. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, vì họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng “lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất.”

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được gì từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao. Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, vì sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho mình là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ? Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đã có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những gì Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi thì không. Vì thế mà tôi đã cương quyết đòi Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn hòa bình thì họ ở lại miền Nam làm gì?

Spiegel: Vậy Kissinger nói sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Còn nói gì được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và đảm bảo việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực thì họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.

Spiegel: Kissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đã đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, còn Sài Gòn thì muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi mình là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Bắc Việt giao nộp lãnh thổ. Tôi chưa bao giờ đòi có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?

Spiegel: Về vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đã đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi ký, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông còn chấp thuận.

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đã thay đổi lập trường và tìm cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách huơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: “Hình ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!” Hoặc: “Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ.” Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đã biết, tiết lộ thông tin cho báo giới và đặt tôi trước sự đã rồi. Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: “Ông ta đòi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về.” Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: “Ông mà chống thì sẽ bị cắt viện trợ.”

Spiegel: Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới hình thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ý kiến ông trước.

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ý kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói “Không”, nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.

Spiegel: Bây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đã đồng ý rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ý tưởng đó ban đầu là của ai?

Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ý định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một mình. Đến khi phía Mỹ đề xuất thì chúng tôi sẵn sàng đồng ý, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rõ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, còn phía Mỹ thì hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.

Spiegel: Vì sao? Vì Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng vì chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ thì không đời nào chúng tôi đồng ý thực hiện chiến dịch tại Lào.

Spiegel: Kissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, vì gần như không có báo vụ viên nói được tiếng Anh.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có thì chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đã mất rất nhiều phi công trực thăng. Vì thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.

Spiegel: Tinh thần binh lính bị suy sụp?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả tiến độ của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng.

Spiegel: Kissinger nêu ra một lý do khác. Rằng ông đã lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó thì không đời nào họ đồng ý tham gia chiến dịch này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lý. Nếu TS Kissinger nói thế thì ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đã rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết gì?

Spiegel: Tức là ông đã thông báo cho họ?

Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức hình một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: “Nhát như cáy”. Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.

Spiegel: Một điểm gây rất nhiều tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi ký của Kissinger thì ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đã thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà còn ủng hộ đề xuất này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định hòa bình. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm thì hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.

Spiegel: Kissinger viết: “Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác.” Phía Mỹ đã không hiểu rằng ông đem những “chiến thuật né tránh” mà “người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc” ra dùng.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép mình dùng những thủ đoạn nào đó.

Spiegel: Khi Mỹ đã rút, còn Hà Nội thì được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đã thua trong cuộc chiến này?

Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đã hứa khi chúng tôi đặt bút ký hiệp định. Ngay cả khi ký, tôi đã coi đó là một nền hòa bình tráo trở. Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. Vì hai lý do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

Spiegel: Mặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào.
Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được đảm bảo là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực lòng giữ lời hứa thì chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.

Spiegel: Về điều này thì ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, vì sau đó Tổng thống Mỹ không còn đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa thì đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.

Spiegel: Nếu Hoa Kỳ giữ lời thì theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.

Spiegel: Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?

Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đã ký kết, vì chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đã nói, mà hiệp định đó còn được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc đảm bảo.

Spiegel: Trong cuốn hồi ký, TS Kissinger có những bình luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông thì bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao “trí tuệ”, “sự can đảm”, “nền tảng văn hóa” của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào “thái độ vô liêm sỉ”, “xấc xược”, “tính vị kỷ chà đạp” và “chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng” trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. Vì thế, cuối cùng Kissinger nhận ra “sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực”. Ý kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét gì về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

Spiegel: Hay ông đã làm gì khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?

Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đã ngạc nhiên vì gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi mình là vô cùng quan trọng. Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, vì thật chẳng bao giờ tôi có thể hình dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.

Spiegel: Như trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nhìn xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc phòng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đã rất bất ngờ vì Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.

Spiegel: Trong hồi ký, Kissinger phàn nàn là đã bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon còn quá lời hơn. Theo Kissinger thì Nixon đã gọi ông là “đồ chó đẻ” (son of a bitch) mà Nixon sẽ dạy cho biết “thế nào là tàn bạo”.

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép mình đáp lại những lời khiếm nhã, thô tục đó của Nixon, vì tôi xuất thân từ một gia đình có nề nếp. Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker thì đơn giản chỉ vì chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đã cần đến 4 năm, vậy vì sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong vòng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài lòng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ý kiến Quốc hội.

Spiegel: TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ “lòng oán hận độc địa”.

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đã có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.

Spiegel: Kissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn “thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng” của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?

Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.

Nixon_and_Zhou_toast

Richard Nixon và Chu Ân Lai tại Bắc Kinh

Spiegel: Kissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu “theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường vòng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề”, rằng ông “chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện”.

Nguyễn Văn Thiệu: Hãy thử đặt mình vào tình thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đã thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những gì mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đã tin tưởng rằng đồng minh của mình sẽ không bao giờ lừa mình, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi. Các ông có hình dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một. Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị gì khác thì Kissinger phải trở lại hội ý với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy. Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi trình ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định hòa bình sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?

Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đòi bản tiếng Việt, đòi bằng được. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đã soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế thì có chân thành và trung thực không?

Spiegel: Một số quan chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ý kiến của ông thì thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

Spiegel: Nhưng Kissingger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy.

Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ tìm cách ép chúng tôi phải đồng ý. Để họ có thể hãnh diện là đã thoát ra được bằng một “thỏa thuận danh dự”. Để họ có thể tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: “Chúng ta rút quân về nước, chúng ta đảm bảo việc phóng thích tù binh Mỹ.” Và ở ngoài nước Mỹ thì họ nói rằng: “Chúng tôi đã đạt được hòa bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự.”

Spiegel: Kissinger viết như sau: “Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh.”

Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nhìn miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay thì biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định hòa bình, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đã biện hộ cho ác quỷ.

Spiegel: Có bao giờ ông thấy một chút gì như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đã làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của mình, Kissinger viết rằng: “Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt.”

Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy thì tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy còn tỏ ý sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ còn sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.

Spiegel: Cá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực lòng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi thì nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đã lập công với miền Bắc thì may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền hòa bình thực sự với Hà Nội thì miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đã không như vậy. Nhìn vào những hậu quả của nền hòa bình ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục hình tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đã gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ấy đã đạt được. Đó là hòa bình của nấm mồ.

Spiegel: Xin cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

(Nguồn: “Die Amerikaner haben uns verraten”, tạp chí Spiegel số 50/1979. Những người thực hiện: Engel, Johannes K., Lohfeldt, Heinz P.) – See more at: danluan.org

Lão Lượm “Ve Chai”—Philato

Vào giờ nghỉ trưa, đa số công nhân của hãng L.A Laundry tụ tập quanh xe “lunch”, còn tôi đang loay hoay kiểm soát mấy bộ quần áo “samples” để mang giao cho hãng Guess, thì nghe có tiếng la hét ồn ào quanh xe lunch. Ngó ra tôi thấy lão Tony Joseph (tạm gọi tên Việt Nam là Tôn) đang bị thằng Mexi-Guapo nắm hai cổ tay lão kéo tới, xô lui như mèo vờn chuột, còn lão Tôn thì cố vùng vẫy và miệng la “F…you”, trong khi đó đám đông, những người anh em gốc “thích đậu, thích đỗ” thì hò reo, cổ võ cho hai người đánh nhau để đứng ngoài vỗ tay cười chơi.

Tôi không ưa lão Tôn, nhưng khi thấy thằng Mexi-Guapo hành hạ lão ta quá, tự ái dân tộc nổi lên, tôi đi tới can họ ra, nhưng Guapo lại mạnh tay hơn, túm cổ lão Tôn nhấc lên. Tôi kín đáo dùng ngón tay cái và ngón trỏ bấm mạnh vào tử huyệt ở bàn tay Guapo khiến nó đau quá vội buông lão Tôn ra rồi hắn gườm gườm nhìn tôi, tôi nói lớn cho đám đông nghe: “Sorry Guapo, this old man is my brother”, rồi tôi nhìn vào mắt Guapo và nói nhỏ, hù hắn một câu:

– Cùi-đa-đồ (đại khái là mày coi chừng tao).

Vì ông chủ và tôi là chỗ quen biết từ trước nên tôi “mượn oai hùm nhát khỉ” để hù tên Guapo này để hắn không còn bắt nạt lão Tôn nữa. Hai đối thủ cố lải nhải với nhau vài câu rồi bỏ đi, còn đám đông quay lại ăn uống bình thường, tôi thì về thu xếp các mẫu hàng đem đi giao, không thèm hỏi lão Tôn một câu lý do tại sao thằng Guapo lại đánh ông ta.

Hãng L.A Laundry thầu giặt quần áo “Jean” cho các hãng Guess, Bongo, Infinity, Lewis. Công nhân đại đa số là dân vùng Nam Mỹ, chỉ có Tôn và tôi là người Việt. Tôn làm trong toán xếp quần áo, còn tôi phụ trách đi nhận và giao các mẫu hàng từ các hãng kể trên. Tôn cũng là dân “ho-hen” (H.O) như tôi, anh đến làm việc ở đây trước tôi nên khi mới vào làm việc, tôi rất mừng và lễ phép với “niên trưởng” Tôn, nhưng dần dà vì làm khác nhiệm vụ và nhất là thấy Tôn làm “mất mặt” người Việt nên tôi rất bực mình, không tiếp xúc nữa, nay khi thấy tên Guapo hành hạ đồng hương tôi buộc phải ra tay mà thôi.

Lý do tôi không ưa lão Tôn vì lúc nào bên hông ông ta cũng đeo cái túi nylon, hễ thấy cái chai nhựa hay lon nhôm nào mà công nhân uống xong rồi vất đi là Tôn nhặt lên, bóp dẹp rồi bỏ vào bịch, trong khi đó thằng Mexi-Guapo cũng làm chuyện tương tự, cũng đi nhặt lon nhôm Coca, chai nhựa, v.v… thế là họ thường cãi nhau khiến tôi không thích Tôn, Tôn đi nhặt rác, làm rát mặt lây sang tôi, trong lòng tôi coi thường Tôn từ đó.

Sau một thời gian tôi can thiệp chuyện cãi nhau thì Tôn “quít-gióp”. Trước khi nghỉ việc, Tôn đến chào và bắt tay tôi:

– Tạm biệt bạn, cám ơn bạn đã bênh vực tôi, chắc trong thời gian qua bạn ngứa mắt và bực mình vì tôi đi lượm rác, nay tôi đi chỗ khác để bạn khỏi phải trông thấy cảnh đồng hương đi lượm rác nữa. Tôi kiếm được job mới ở Little Saìgon rồi, lương xì-tạc 13.75$. Hy vọng chúng ta có dịp gặp lại nhau thì bạn sẽ hiểu lý do tại sao tôi lại đi lượm mấy cái vỏ chai, lon nhôm.

Từ Little Saigon tôi lái xe qua free-way 22, 405, 605, 5 để đến hãng ở El Monte làm việc với lương 5.75$/1 giờ, nay nghe Tôn nói có job mới ngay tại Litlle Saigon với lương cao gần gấp 3 lần, tôi nghĩ hắn nổ, làm gì có job nào ngon như thế cho dân “H.O” nên tôi trả đũa và hững hờ chạm tay lão rồi nói:

– Chúc Tôn may mắn, có job mới lương cao thì đừng lượm lon nữa nghe.

Tôi đã không vui khi thấy mấy cụ già trong khu chung cư của tôi đi lựơm chai nhựa lon nhôm trong thùng rác. Ở Mỹ này với tuổi của các cụ thì có trợ cấp tiền già của chính phủ để đủ ấm no, việc gì phải đi moi móc như thế coi bệ rạc quá! Có lần tôi cầm mấy vỏ lon bia đưa cho một cụ thường lượm ve chai và nói:

– Cụ đừng mở thùng rác nữa, nhỡ có vi trùng hay rắn rết thì rất hại cho sức khỏe tuổi già, mà cụ lượm mấy lon nhôm này để làm gì vậy?

Cụ rất vui khi tôi cho mấy cái lon nhôm rồi cụ giải thích rằng cụ gom các thứ này lại để đem bán, “năng nhặt chặt bị”, từ vài đồng rồi thành vài chục, lâu lâu được một trăm thì gửi về cho con cháu hoặc cô nhi viện. Nghe cụ già giải thích vậy thì biết vậy, nhưng tôi vẫn cảm thấy ái ngại, không thoải mái khi nhìn các cụ đi lượm lon.

Khi hãng L.A Laundry dẹp tiệm thì tôi đi làm “thợ đụng” (truyện dài của nhà văn PKK), nghĩa là đụng việc nào là làm việc đó, không có việc thì đứng ngó trời-trăng hay “ta buồn ta đi lang thang”… và rồi bất ngờ đụng Tôn tại đại nhạc hội Cám Ơn Anh TPB kỳ 4 do Hội Cứu Trợ TPB & Quả Phụ tổ chức tại Garden Grove ngày 1/8/2010.

Đang ngồi ghế xem ca nhạc thì tôi thấy Tôn mang những chai sữa đậu nành len vào các hàng ghế để bán cho khán giả và vẫn lượm loon, tôi lờ hắn đi nhưng khi hắn bước tới hàng ghế tôi ngồi và trao tận tay tôi chai sữa đậu nành thì không lờ được nữa, tôi bèn chào qua loa cho có lệ và lại càng ghét thêm vì tội hắn nổ, kiếm được “good job” với start 13,75$/1 giờ mà vẫn đi lựơm loon và bán dạo sữa đậu nành. Tôi hỏi móc họng lại:

– Chắc hồi này lương của Tôn lên tới 19$/1 giờ rồi?

– Không, 20.25$ rồi. Nếu bạn muốn đổi job như tôi thì tôi chỉ cho, thật đấy, đây là số tele của tôi, 714-987-xxxx khi nào muốn thì liên lạc.

Tôn cười thân thiện rồi tiếp tục đi bán, mang chai sữa đậu nành trao tay cho khán giả xem đại nhạc hội*. Hình như Tôn không biết tôi hỏi móc họng nên anh ta trả lời có vẻ thành thật, nhưng tôi vẫn nghi ngờ. Làm cái khỉ gió gì mà lương 20.25$ trong khi bằng cấp chỉ là ngón trỏ ngày xưa dùng để bóp cò…súng.

Nghề thợ đụng của tôi ngày càng lâm vào thế bí, bị số đông người anh em gốc “Xì” đứng trước cửa chợ Người Việt cạnh tranh, nhưng tôi vẫn cóc cần gọi “Tôn Nổ” như lời hắn dặn. Rồi một ngày, bất ngờ Tôn gọi tôi và mời đến nhà chơi. Tự ái như được vuốt, tôi nhận lời đến thăm dân nổ cho biết sự tình.

Tôi đến thăm Tôn vào chiều cuối tuần, người đón tôi ngoài cửa không phải là Tôn như tôi nghĩ mà là một chị rất đẹp với cử chỉ lịch sự, chị nói:

– Xin lỗi anh, nhà tôi đang bận ngoài góc vườn, anh ấy nói tôi dẫn anh ra vườn, tôi cự nự thì anh ấy nói: “khách muốn coi việc anh ấy làm”. Vậy xin lỗi anh trước.

– Cám ơn chị, chính tôi muốn xem công việc của anh Tôn.

“Bê-Ka” thì có vẻ khách sáo với nhau tí chứ thực tâm thì tôi có biết Tôn làm cái gì đâu, mời khách đến chơi mà dẫn ra góc vườn thì chỉ có “dân chơi cầu ba cẳng” chứ dân Bolsa ai làm thế, nhưng lỡ rồi, cứ vào và quả thật tôi choáng váng khi cái mùi chua-chua, thiu-thiu trong đống chai lọ chất góc vườn xông vào mũi. Tôn ngừng làm việc, tháo đôi găng tay ra rồi bắt tay tôi và cùng ngồi vào cái bàn dưới cái dù che ở góc vườn, đúng lúc đó chị Tôn mang ra hai ly cafe sữa. Tôn mời tôi uống và vào đề ngay:

– Tôi đang làm ở học khu Garden Grove, tháng tới họ sẽ mở một lớp học buổi tối về “custodian”, sau một tháng nếu ai đủ điểm thì sẽ có chứng chỉ, và cái chứng chỉ này sẽ giúp chúng ta đi tìm việc làm ở các học khu tương đối dễ dàng, nếu anh muốn thì đến ghi danh ngay đi, họ chỉ lấy 40 học viên thôi. Trước đây tôi cũng làm thế và tôi đã tìm được job ở học khu GG, lương bắt đầu vào khoảng từ 12-14$/1 giờ và lên dần maximun là 23$ giờ tùy học khu.

– Custodian là nghề gì, có cần nói thông thạo tiếng Mỹ không, chứ tôi thì thì…

– Là trông coi, quét dọn, hút bụi, đổ rác, v.v… ở các trường học, việc còn nhẹ nhàng hơn ở nhà khi bà xã nhờ vả, về tiếng Mỹ thì tôi tệ hơn anh mà còn qua cầu thì anh dư sức, v.v…

Thế rồi Tôn hướng dẫn tôi cách ghi tên, cách học thi lấy “lai-xân”, khi có licence rồi thì Tôn chỉ tôi cách tìm job ở các học khu trong vùng Orange. Ở các học khu có rất nhiều công việc, từ săn sóc bảo trì trường học, cắt cỏ, tỉa cây, điện, thư viện, phụ giáo, v.v…

Sau khi hướng dẫn tôi tìm việc làm xong, Tôn quay về chuyện cũ ở L.A Laundry:

– Hồi còn làm ở L.A Laundry, tôi biết bạn khinh tôi về cái vụ tôi đi lựơm mấy cái chai nhựa, lon nhôm, nhưng thây kệ, mắc mớ gì giải thích, sau khi anh trị thằng Guapo cứu tôi, tôi hứa là sẽ có ngày giải thích cho anh và hy vọng anh sẽ hiểu tôi hơn và đây là lúc cần nói. Sau khi về làm tại học khu G.G, vì là công việc quét dọn nên số chai nhựa, loon nhôm nhiều hơn và anh thấy đống bao ở góc vườn kia kìa, chiều nay mang tới “recycle center” bán, trung bình mỗi tháng kiếm 40-50 đô, chừng nào đủ 100 đô thì tôi tới đổi cho lão Bà-Bà Hạnh Nhơn, một “rì-xíp”, còn lão Bà-Bà Hội trưởng Hội H.O dùng tiền đó vào việc gì thì anh và cả cộng đồng này biết rồi.

– Xin lỗi anh Tôn, xin anh tha lỗi, bây giờ thì tôi hiểu rồi, cái bữa đại nhạc hội TPB mà anh đi bán sữa đậu nành cho khán giả cũng là mục đích tình nguyện kiếm lời cho ĐNH?

– Đúng thế, trong các đại nhạc hội Cám Ơn Anh TPB, nếu anh để ý thì sẽ thấy có anh Long HQ đứng mũi chịu sào gian hàng bán thực phẩm, anh Thục KQ bê các khay trái cây len vào các hàng ghế để bán cho khán giả, tôi theo chân hai anh ấy, ngoài ra còn có rất nhiều các cháu thanh thiếu niên Phật Tử đi bán nữa, tất cả vì TPB, rất buồn là anh Thục đã “đi xa” rồi!

– Tôn, anh làm công việc này chị nhà và các cháu có biết không, phản ứng ra sao?

– Bạn bè coi thường tôi là chuyện bình… thường, “ai đông khe”, nhưng vợ con tôi không hiểu, phiền trách, ngăn cản mới đau. Lúc đầu thấy tôi tha về những chai nhựa lon nhôm để góc vườn là nhà tôi la um xùm, mang bỏ vào thùng rác, còn hai đứa con thì chúng không thèm ra vườn, cực chẳng đã, khi phải ra vườn thì chúng bịt mũi! Cuối cùng tôi đành phải nói thật, tôi có dẫn nhà tôi theo khi tôi tới thăm cái ga-ra của chị Hạnh Nhơn làm nơi chứa 20 ngàn hồ sơ TPB. Nhà tôi hiểu chuyện và rồi bà ấy giải thích cho hai đứa nhỏ hiểu việc làm của tôi.

– Các cháu phản ứng ra sao với ông bố đi lựơm rác?

– Nhà tôi thì trực tiếp tham gia, “đặt hàng” các bà lối xóm, bạn bè, ai có lon nhôm thì cho, thế là bả mang về góp vào đống rác kia. Có nhiều thân chủ còn gom chai “dầu gió xanh”, nhưng có lần vác bao chai nặng quá, tôi bị xụm lưng nên sợ rồi, không dám nhận vỏ chai nữa.

Thú thật từ khi có vợ tiếp tay, tôi không còn gửi tiền lẻ tẻ cho chị Hạnh Nhơn nữa mà xin chị cho chúng tôi “take care” 3 hồ sơ TPB, mới đây có một anh TPB đã qua đời khi tôi chưa kịp gửi tiền về, vì thông thường tôi chỉ gửi tiền vào dịp gần tết. Sau khi anh TPB chết, tôi hoàn lại Hội hồ sơ này cho chị Hạnh Nhơn, mà chỉ còn giữ 2 hồ sơ thôi. Riêng hai cháu, con tôi, không trực tiếp tham gia như mẹ, nhưng mới đây, khi hai cháu tốt nghiệp luật sư, hai cháu đã hỏi tôi là xin tình nguyện làm Public Defender, đại khái là làm luật sư bào chữa miễn phí, dĩ nhiên tôi OK, và hiện nay hai cháu thường xuyên đến trại giam thăm các thanh thiếu niên nghi can gốc Việt để tìm hiểu tâm tư và hoàn cảnh nào các em bị vướng vào vòng lao lý. Hai cháu cho tôi biết có nhiều hoàn cảnh các em nghi can rất đáng thương, hai cháu dùng mọi tình lý để giúp các em.

– Chắc là hai cháu thấy bố đi lựơm rác, không lựơm cho mình mà để lo cho người khốn cùng thì các cháu noi theo gương bố, đi lựơm “rác” cho những tuổi trẻ vướng vòng lao lý, “cha nào con nấy”, chúc mừng anh.

– Tâm sự cho bạn biết đầu đuôi để bạn khỏi bực mình khi tôi khi tôi đi lựơm lon, nếu mai mốt bạn kiếm được job ở trường học thì nhớ tiếp tay với tôi trong công việc tiếp hơi cho anh em thương phế binh (TPB) của chúng ta hiện đang ngắc ngoải trong địa ngục trần gian. Nhưng nhớ đừng viết linh tinh về việc này, nhiều bạn bè không hiểu lại “bỉu môi” với tôi, cực chẳng đã tôi mới tâm sự cho bạn biết, kinh thánh đã nói: “tay phải làm việc thiện thì đừng cho tay trái biết”.

A collector of recyclable bottles and cans that can be redeemed for a cash deposit, takes advantage of the recycling that has piled up on William Street, one block from the New York Stock Exchange, Thursday, Nov. 8, 2012 in New York. Recycling pickup has been suspended in the wake of Superstorm Sandy. (AP Photo/Henny Ray Abrams)

Tính tôi hay viết lách lăng nhăng, nhưng tôn trọng lời anh Tôn dặn, tôi đã giữ kín việc này lâu rồi, nay đã tới lúc có nhiều lý do mà tôi đành phải bật mí một chuyện bí mật. Tôi vẫn tôn trọng lời anh dặn, không nêu tên thật của anh. Còn việc kinh thánh nói “tay phải làm việc thiện đừng cho tay trái biết” thì đó là chuyện hai ngàn năm về trước, hồi đó chưa có TPB/VNCH, còn ngày nay, các TPB đang chết dần chết mòn nên tôi phải viết câu chuyện “Lão Lựơm Ve Chai” coi như một thí dụ điển hình để chúng ta cùng nhau, không phải làm việc thiện, mà hãy nghĩ đến món nợ của chúng ta đối với các anh kẻo không kịp… Theo tôi biết thì trong năm 2014 đã có 20 anh em thương binh của TQLC đã ra đi, như vậy số TPB của tất cả các đơn vị mà Hội H.O “take care” hẳn là đang nối đuôi nhau để xung phong “lên đồi” không phải ít.

Người TPB trẻ nhất cũng đã 58 rồi, (18+40=58)! Với tuổi đời 58, chúng ta ở hải ngoại sinh sống và thuốc men đầy đủ như thế nào thì ắt sẽ hiểu với điều kiện sinh sống thiếu đủ thứ, thiếu cả một phần thân thể thì các anh ra đi sớm không có chi là ngạc nhiên, điều cần nghĩ đến là nếu chúng ta quá thờ ơ với việc “nợ nần dan díu bấy lâu nay” mà chưa thanh toán để “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo” thì…!

Lý do nữa mà tôi phải viết bài này vì San Jose, Bắc CA sắp tổ chức Đại Nhạc Hội TPB kỳ 9, viết để tặng các thiện nguyện viên (TNV) và cầu mong các TNV dấn thân hơn nữa trong việc tiếp tay với hội HO. Tôi viết để xin các đồng đội, đồng môn, đồng bào tiếp tay để gửi gói quà cho các anh em TPB tại quê nhà.

Không nhiều thì ít, ít nhất là nếu chúng ta, những cựu quân nhân ở hải ngoại này có uống bia thì cứ uống, nhưng xin giữ lại cái loon nhôm hay vỏ chai, cả hai thứ đó đều rất có ích đối với người lượm ve chai. Nếu các bạn là những nhà “tu”, sau khi tu xong thì để cái loon nhôm dưới đất, co chân lên đạp một cái “rụp”, loon nhôm dẹp lép, gom nó lại, cho vào túi nylon đầu hè, ới một cái là có người pick up, 5-7 cents 1 cái loon chứ ít sao. Năng nhặt chặt bị, gom lại sẽ có một tí quà cho đồng đội bị cụt chân tay, mù con mắt!

Chúng ta uống bia thì cứ uống thoải mái, nhưng xin tặng lại cho anh em TPB cái vỏ chai bia, chúng ta uống Coca Cola thì tặng lại cho anh em TPB cái loon nhôm. Hãy tự cứu anh em TPB của mình trước đã trong khi chờ đợi…

Chờ đợi điều gì?

Gần đây báo chí loan tin hai vị dân cử gốc Việt là Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn, Tiểu Bang CA và Giám Sát Viên Andrew Đỗ, Quận Orange có đưa ra dự luật mà hai vị dân cử này yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận cho các sĩ quan TPB/VNCH sang định cư tại Hoa Kỳ. Sau khi hai vị họp báo xong là hộp thư của tôi đầy ắp những e-mails từ các bạn TPB trong nước gửi sang hỏi đó là chuyện thực hay hư và chừng nào thì được đi? Đọc e-mails của các bạn làm tôi nhớ lại tâm trạng của mình vào những năm 1985-1990, khi vừa ra tù, đi đâu cũng nghe tin đồn chính phủ HK sẽ đón “tù chính trị” sang Mỹ, cấp cho nhà ở và được trả lương!

Nay “có tin vui trong giờ tuyệt vọng” khiến các bạn tôi hy vọng, nhưng tôi không biết trả lời sao cho các bạn yên tâm như cai tù VC đã nói với chúng tôi: “Các anh cứ yên tâm học tập cải tạo, bao giờ tiến bộ thì sẽ được cho về”.

Thôi thì tôi xin trả lời cho các bạn ta rằng: “chờ dự luật thành luật”.

Trong khi khuyên các bạn TPB tại Việt Nam chờ thì tôi đi hỏi một vị dân cử gốc Việt, vị dân cử này giải thích vắn tắt như thế này:

– Chuyện di trú thuộc quyền Liên Bang. Nếu Thượng Nghị Sĩ Nguyễn đệ trình dự luật… lên Thượng Viện (TV) CA cứu xét, nếu được TV chấp thuận thì phải chuyển sang Hạ Viện (HV). Nếu cả TV và HV tiểu bang cùng thuận thì mới chuyển lên Quốc Hội Liên Bang. Nếu lưỡng viện Liên Bang đồng thuận thì sẽ chuyển sang Tổng Thống v.v..

Để tìm hiểu xem thủ tục cứu xét và chuyển một dự luật từ viện này sang viện kia có nhanh không, tôi đi tìm một chuyên viên hỏi thăm thì anh PL.. trả lời như sau:

Cách đây khoảng 6 tháng, khi cựu bộ trưởng tư pháp Mỹ Eric Holder từ chức, Tổng Thống Obama đề cử bà Loretta Lynch, một người nổi tiếng là làm việc rất công tâm, cũng người da đen, Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ cho vào chương trình nghị sự để phỏng vấn và để chuẩn y hay từ chối, 6 tháng sau, bà Lynch mới được quốc hội chấp thuận sau nhiều lần thúc đẩy từ phe Dân Chủ.

Nước Mỹ cần 6 tháng mới bổ nhậm được một Bộ Trưởng Tư Pháp, chỉ vì phe Cộng Hòa cho rằng bà Lynch có khuynh hướng ủng hộ Tổng Thống Obama trong Immigration Reform.

Thiếu Bộ Trưởng Tư Pháp một thời gian, nước Mỹ vẫn bình chân như vại. Nói như vậy để thấy chuyện mình nôn nóng vì lo nghĩ tới anh em TPB của mình, nhưng không phải việc quan trọng của Mỹ.

Trước kia Tổng Thống Reagan muốn mang những quân nhân VNCH sang Mỹ theo một chính sách nào đó, nhưng chỉ tới khoảng năm 1988, hay 89 mới có tên gọi cho chương trình HO. Nghĩa là người tù của VNCH cũng phải chịu tối thiểu từ 3 tới 17 năm trong cái mà VC gọi là trại “cải tạo”, thời gian đủ để nghiền ngẫm cho tình đồng minh.

Nếu một dự luật của một dân cử Tiểu Bang, cho dù vị dân cử này có nhiều Lobby thế nào đi nữa, cũng cần một thời gian để được đưa vào nghị trình của Quốc Hội Tiểu Bang, nghe điều trần về mục đich, đối tượng của dự án…. sau khi nghe, thảo luận, bỏ phiếu, có hay không được đi tiếp lên Quốc Hội Liên Bang và chờ đó để lại bắt đầu từ cây số số 0.

California là thành trì của đảng Dân Chủ, giống như Massachusetts. Cali là tiểu bang giàu trong quá khứ, nhưng hiện nay, có nhiều vấn đề về kinh tế, nạn khan hiếm nước trầm trọng, một tiểu bang nhiều người chờ trợ cấp của chính phủ, tất nhiên Dân Biểu và TNS Cali phải lo vấn đề cấp bách tại Mỹ trước tiên và rất cấp bách.

Tóm lại, chuyện TNS Nguyễn tại Cali đưa ra cũng giống như trái cây, mứt kẹo ngày tết, bầy ra cho vui, chụp hình chụp ảnh, nhưng dù sao cũng là một ý tốt của bà, nhưng biết đến bao giờ dự luật của bà được trình làng tại Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ.

Đừng bao giờ nói “không bao giờ, never say never”.

Vậy thì các bạn TPB của tôi ờ VN cứ chờ và hy vọng. Còn chúng ta ở đây, đừng chờ mà hãy bắt tay ngay vào việc “save lon nhôm” và tích cực yểm trợ cho đại nhạc hội Cám Ơn Anh TPB kỳ 9 tổ chức tại San Jose Bắc CA vào tháng 7/2015.

Philato

Trên Mỗi Bước Ta Đi—Đặng Văn Thái K15

Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế Hague Phán Quyết Đường 9 Đoạn Lưỡi Bò Của Trung Cộng Là Vô Giá Trị

10915149_783716588364150_6387758967830848409_n

Phiên xử kéo dài 3 tháng, vào ngày 10/3/2015 Các thẩm phán của TÒA ÁN QUỐC TẾ HAGUE, trong đó có Thẩm phán Thomas A. Mensah (Chủ tịch), thẩm phán Jean-Pierre Cot, thẩm phán Stanislaw Pawlak, Giáo sư Alfred HA Soons, và Thẩm phán Rüdige, đã đưa ra PHÁN QUYẾT về Bản Đồ 9 đoạn mà Trung Quốc đưa ra ở Biển Đông (Biển Đông), hay còn được gọi là Biển Tây Philippines là VÔ GIÁ TRỊ đối với LUẬT LỆ Quốc Tế.

Bản án này rất quan trọng vì đã chứng minh rằng hành vi hung hăng của Trung Quốc trên biển Đông là bất hợp pháp. Trung Quốc đã vượt quá giới hạn của nước nầy để đơn phương đưa ra bản đồ gây tranh cãi cho các nước trong vùng. Quyết định của TÒA ÁN HAGUE đã gây tổn hại danh tiếng của Trung Quốc về cách ứng xử trong khu vực, đồng thời ảnh hưởng xấu với quốc tế về tính chất tiêu cực của nước nầy.

Việc không tuân thủ phán quyết của Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế sẽ làm cho Cộng Đồng Quốc Tế thấy rằng Trung Quốc đang tiếp tục hành động như một quốc gia hiếu chiến.

Trong bản án mà Philippines đưa ra trước Hội Đồng Thẩm Phán, lên án Trung Quốc là một kẻ bắt nạt các nước láng giềng, Trung Quốc tìm cách cưỡng chiếm các nguồn tài nguyên của họ.

Tòa án cho biết hành động của Trung Quốc không những là khiêu khích mà có thái độ gây nguy hiểm cho Hòa Bình trong khu vực.

Sau khi Trung Quốc tranh lấn đảo Scarborough Shoal, thì Philippines đã không có cách nào khác và đã kiện Trung Quốc thông qua trọng tài quốc tế.

588

Đường lưỡi bò của Trung cộng

Dĩ nhiên, điều này không chỉ là một trận đấu tại tòa án giữa Trung Quốc và Philippines, nhưng quan trọng hơn là một thách thức đối với Luật của Liên Hợp Quốc, Luật Biển (UNCLOS) được xây dựng vào năm 1982 mà Trung Quốc đã không tuân thủ.

Quyết định của tòa án mang ý nghĩa là bây giờ Hành Động TUYÊN BỐ ĐƠN PHƯƠNG của TRUNG QUỐC KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ luật pháp QUỐC TẾ, các nước láng giềng trong khu vực Biển Đông có đầy đủ quyền hạn để theo đuổi và bảo vệ lợi ích của họ trên Biển Đông.

Bs. Võ Đình Hữu

VRNs

Ghi Lại Một Phần Đời — Nguyễn Trần Diệu Hương

Tác giả một mình vượt biển giữa thập niên 80 khi còn tuổi học trò. Dự Viết Về Nước Mỹ từ năm đầu tiên, cô nhận giải danh dự 2001. Bốn năm sau, cô nhận thêm giải vinh danh tác phẩm 2005 với bài viết “Tháng Tư, Còn Đó Ngậm Ngùi,” kể về tình gia đình chung thuỷ của người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ. Bài viết mới của cô là chuyện về một bé gái thuyền nhân chào đời trên con thuyền giữa đại dương. (more…)

Phân Ưu cùng anh chị Ngô Đức Giang K25

TMNgoDucGiang

Năm Xưa Chồng Tôi Là Người Lính — Nguyễn Thị Thanh Dương

Năm xưa chồng tôi là người lính,
Nơi vùng lửa đạn,
Mồ hôi anh đã đổ,
Từ Hố Bò Bình Dương, Bình Long,
Đến Thừa Thiên, Quảng Trị.
Rồi một ngày anh gục ngã,
Tại chiến trường Tây Ninh.

Tôi góa phụ xuân xanh,
Con thơ chưa tròn tuổi,
Tiễn đưa anh lần cuối,
Về nghĩa trang quân đọi Biên Hòa

Đã bao nhiêu năm qua,….
Bây giờ,
Tôi ở nơi xa,
Đã có cuộc đời khác.
Nhưng đôi lúc nghĩ đến anh tôi vẫn khóc,
Thương tiếc xa xăm.

Tôi về tìm mộ bia anh giữa chập chùng cỏ dại cây hoang,
Để thắp một nén nhang,
Nhớ người lính của một thời chinh chiến,
Nhớ người chồng của một thuở gối chăn.

Năm xưa chồng tôi là người lính,
Một lần hành quân,
Anh đã bị thương,
Máu anh loang ướt vạt cỏ ven đường.
Ôi, mảnh đất không tên,
Đã giữ chút máu xương người lính trẻ.

Đã bao nhiêu năm qua,
Bây giờ,
Anh thương binh tàn tạ.
Sống trên quê hương đôi khi vẫn thấy mình xa lạ,
Bạn bè anh,
Kẻ mất người còn,
Kẻ quên người nhớ,
Kẻ vô tình giữa dòng đời vất vả.

Năm xưa chồng tôi là người lính,
Nồng nhiệt tuổi đôi mươi,
Lần đầu tiên ra chiến trường,
Anh mất tích không tìm thấy xác.
Mẹ anh khóc cạn khô dòng nước mắt,
Lòng tôi nát tan.

Đã bao nhiêu năm,
Vẫn không có tin anh,
Anh ơi, dù quê hương mình đã hết chiến tranh,
Tàn cơn khói lửa,
Nhưng không phải là một quê hương như anh ước mơ.
Anh đã biết chưa?

Hỡi người tử sĩ không tên không một nấm mồ.!!!
Năm xưa chồng tôi là người lính,
Sống sót trở về sau cuộc đao binh,
Sau những tháng năm tù tội,
Bây giờ anh không còn trẻ nữa.
Lìa xa quê hương,
Sống ở xứ người.
Những năm tháng chinh chiến đã đi qua,
Nhưng vết thương đời còn ở lại,
Trong lòng anh,
Trong lòng những người lính năm xưa.

Nguyễn Thị Thanh Dương

Videos & Hình Ảnh Tiệc Tân Niên Ất Mùi Của Hội Võ Bị Bắc Cali—Nhiều Tác Giả

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Vài Hình Ảnh Tang Lễ Chị Kim Chi

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

A1

DiQuan1

B2

A2

C1

F1

E1

20151003_143339a

Mưu Đồ Của Trung Cộng Tại Biển Đông—Việt Long K23—RFA

Đêm Tri Ân Võ Bị Đà Lạt—Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu Houston

Vài Hình Ảnh Thăm Viếng Ông Bà Lâm Quang Thi K3 Tại Fremont

anigif

Thành Kính Phân ƯU cùng Bà Vũ Quang K6/1

white_background_red_rose

Vài Hình Ảnh Thăm Viếng Anh Trần Văn Loan K23 Tại Bệnh Viện

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Cây Mùa Xuân Ất Mùi—Ban Xã Hội Tổng Hội

CayMuaXuan

Kính thưa:
       – Quý Niên trưởng, quý Bạn,
       – Quý cựu Giáo sư, Huấn Luyện viên,
       – Quý Phu nhân, quý Cháu,
       – Quý Thành viên Diễn đàn, cựu Quân-Cán-Chính Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Năm cũ sắp hết & một năm mới Ất Mùi sắp trở về trên quê hương Việt Nam. Trong thời tiết giá lạnh của những ngày cuối năm, cứ mỗi lần nhớ về quê nhà, ai ai trong chúng ta cũng không khỏi ngậm ngùi khi nghĩ đến đời sống bất hạnh của các Thương Binh, Cô Nhi & Quả Phụ đồng môn Võ Bị đang lâm cảnh đau ốm cơ hàn suốt gần 40 năm qua, họ và gia đình đã phải chịu đựng nhiều sự phân biệt đối xử, ngược đãi, và vô số thiệt thòi đã ảnh hưởng lâu dài đến đời sống gia đình, con cái của họ đến tận bây giờ.….
Năm nay, BXH/TH sẽ thực hiện công tác mà quý vị đã & đang quan tâm: gây quỹ “Cây Mùa Xuân” cho TB & CNQP trong đại gia đình VBQGVN. 
  
       – Họ là những cựu SVSQ/TVBQGVN đã hy sinh một phần thân thể cho Tổ Quốc. Theo thời gian, vết thương thân xác có trở nên chai lì, nhưng nỗi đau tinh thần chẳng bao giờ mờ nhạt…
       – Họ là những quả phụ – vợ hiền Tử Sĩ, những người bà, người mẹ của các cô nhi, đang ngày đêm vật lộn với cuộc sống khốn cùng, tảo tần nuôi con, nuôi cháu ăn học chỉ mong sao cuộc sống bớt lầm than… 
       – Họ là những cựu SVSQ qua bao nhiêu tháng năm chồng chất, nay sức khoẻ hao mòn – đau ốm, bệnh tật đang cô đơn đối đầu với cuộc sống khó khăn mọi mặt…
Để phần nào xoa dịu những vết thương thể xác, khích lệ tinh thần, biểu lộ tình tự Võ Bị, BXH/TH kêu gọi và phát động công tác gây quỹ Cây Mùa Xuân Ất Mùi – 2015. Đây là việc làm mang nhiều ý nghĩa, không những thắt chặt tình liên đới giữa các anh em đồng môn, đồng khoá mà còn là dịp để chúng ta bày tỏ sự lưu tâm đến các TB, CN, QP và cựu SVSQ đang lâm cảnh cơ hàn cùng cực. 
Kính thưa quý vị,
Đây cũng là cơ hội để mỗi người trong chúng ta, những người may mắn đến bến bờ tự do thể hiện tình tự Võ Bị cao quý của những người con xuất thân từ Trường Mẹ để cùng nhau chia xẻ nỗi đau triền miên của họ nhân dịp Xuân về.
Trên tinh thần đó, BXH/TH thiết tha kêu gọi sự hưởng ứng của:
– Toàn thể Thành viên – Thân hữu thuộc TH/CSVSQ/TVBQGVN
– Quý Cựu SVSQ/TVBQGVN và gia đình trên toàn thế giới
– Quý Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên
– Quý Đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu
Để có thời gian chuẩn bị và quà được đến tay người nhận trước dịp Tết Ất Mùi, kể từ ngày 1 tháng 12 năm 2014, BXH/TH chính thức kêu gọi và nhận sự giúp đỡ từ quý vị. Việc quyên góp sẽ chấm dứt vào lúc 24 giờ (giờ Cali) ngày 15 tháng 1 năm 2015.
Ngân phiếu xin gửi về địa chỉ Uỷ Viên Xã Hội Tổng Hội: CSVSQ/K29 Lê Thi:
       Thi Le                                
       180 Rawls Ct. 
       San Jose, CA 95139-1304 USA
 Hoặc chuyển qua Paypal: Dalat29@sbcglobal.net   
     – Email: Dalat29@sbcglobal.net   
     – Điện thoại: (408) 859-8340

Xin quý BCH Liên Hội, quý BCH Hội, quý BĐD Khoá giúp đỡ chúng tôi bằng cách phổ biến và vận động sự hưởng ứng tới toàn thể thành viên thuộc Liên Hội, Hội và Khoá của mình, để chương trình Cây Mùa Xuân Ất Mùi – 2015 đem lại kết quả tốt đẹp. Chúng tôi sẽ thường xuyên tổng kết và nhật tu danh sách đóng góp tại diễn đàn Tổng Hội. 

Xin chân thành cám ơn toàn thể quý vị.

      Trân trọng,
CSVSQ Lê Thi K29
Ủy Viên Xã Hội

Chúc Mừng Anh Đặng Văn Thái K15—Trưởng Ban Văn Nghệ

ChucMungAnhThaiK15

Happy Thanksgiving

ThanksPNLV
1290072587_03

Thư Mời Họp của Hội Võ Bị Bắc Cali

ThuMoiHop9.11

Dự án Tượng đài Chiến sĩ Việt-Mỹ Được Chính Thức Chấp Nhận Tại San Jose—Việt Vùng Vịnh

Sau hai năm chuẩn bị và vận động, Dự án Tượng đài Chiến sĩ Việt-Mỹ do tổ chức Thank You America Foundation đề xướng đã được hội đồng Santa Clara County Supervisors chính thức chấp thuận trong một phiên họp vào lúc 10 giờ sáng thứ Năm ngày 18 tháng 9 năm 2014 vừa qua tại San Jose.

Một số đông đảo đồng bào và lãnh đạo cộng đồng đã đến tham dự, lắng nghe, và lên tiếng phát biểu trong buổi điều trần quan trọng nầy với sự chủ tọa của hai ông GSV Dave Cortese và GSV Mike Wasserman.

Mở đầu phần điều trần, Kiến trúc sư Dave Barry thuộc Ủy Ban Quy chế Santa Clara County đã trình bày sơ lược về quá trình thành lập và tiến triển của dự án tượng đài. Ông Barry cho biết đây là dự án kiểu mẫu đầu tiên hoàn toàn do người Việt đứng ra thành lập và tài trợ, do đó không trở thành gánh nặng ngân sách cho County. Dự án xây dựng tượng đài cũng là một công trình cần thiết, một nghĩa cử cao đẹp ghi lại dấu tích lịch sử của cộng đồng người Việt tại địa phương.

Đến phần phát biểu, ông Dave Cortese đã mời LS Nguyễn Tâm, chủ tịch UB Tượng đài cùng với một số thân hào nhân sĩ cộng đồng lên diễn đàn. LS Nguyễn Tâm tỏ lòi cám ơn hội đồng GSV và đặc biệt ông Dave Cortese đã tích cực yểm trợ và hướng dẫn trong tiến trình vận động và thủ tục thành lập. LS Tâm cũng giới thiệu một số thành phần trong Ủy ban hiện đang có mặt như anh Bùi Nghiệp, BS Phạm Đức Vượng, v.v.. Ngoài ra, cũng có những phát biểu ủng hộ tích cực của Vũ Văn Lộc, giám đốc IRCC và Việt Museum, BS Phạm Đức Vượng, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH TT Tây Bắc Hoa Kỳ, ông Lê Văn Ý thuộc tổ chức Lương Tâm Công Giáo và ông Trương Thành Minh, Chủ tịch Ban Đại Diện Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Bắc Cali.

Được biết, Ủy Ban Tượng Đài hiện đã phối hợp chặt chẽ với CĐNVQG để chuẩn bị một đại hội tường trình công tác xây dựng tượng đài và khai mạc chiến dịch gây quỹ. Đã có một số đông nhân sĩ và thương gia ghi tên vào danh sách mạnh thường quân. Cũng theo lời LS Nguyễn Tâm, kiến trúc mô hình tượng đài sẽ có những bảng bia đá khắc tên các cá nhân hay tổ chức ủng hộ gây quỹ xây dựng tượng đài. Mọi chi tiết xin liên lạc LS Nguyễn Tâm: 408-876-8766.

VVVNews


Hình Ảnh Picnic Hè 2014

PinicSlide

Nội Quy và Tu Chính

_NoiQuyVaTuChinh2012

Nội Quy Tổng Hội CSVSQ/TVBQGVN

NoiQuy2012

_NoiQuyVaTuChinh2012

Cách Viết Hoa Trong Tiếng Việt—Đào Văn Bình

Trong văn chương Hoa Kỳ, viết hoa gọi là “capital letter,” còn viết chữ thường gọi là “lower case”. Ðây là quy tắc thống nhất được áp dụng ở khắp mọi nơi. Ít khi thấy nhà văn, nhà thơ, nhà báo Hoa Kỳ vi phạm quy tắc này. Nguyên do chính là vì xã hội của họ đã ổn định cả hai trăm năm nay, việc gì cũng đã trở thành quy củ, nề nếp, có trường ốc.

Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.

Ðiều này cũng dễ hiểu vì tôi không tốt nghiệp hoặc chưa theo học một trường hoặc một lớp dạy viết văn nào. Mặc dầu tôi đã trải qua sáu năm đại học nhưng ở đại học người ta không chấm điểm theo nghệ thuật viết văn mà chấm điểm theo nội dung bài vở. Cho nên khi khởi đầu viết tác phẩm “Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ” năm 1987 thì kỹ thuật viết văn của tôi như nguyên tắc viết hoa, cách chấm câu v.v.. hoàn toàn là của Lớp Ðệ Thất, Ðệ Lục với lời dạy của thầy, cô trong môn Việt Văn rất đơn sơ mà tôi chỉ còn nhớ lõm bõm.

Sau mười năm sống ở Mỹ tức khoảng năm 1995 và sau khi đã làm việc trong các trường học, theo dõi các bài giảng dạy viết văn của học sinh Mỹ, đọc các sách biên khảo về văn chương Hoa Kỳ tôi mới bắt đầu hiểu một số vấn đề như quy tắc viết hoa:

I. Quy tắc viết hoa trong văn chương Việt Nam

Trước khi nói về nguyên tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ chúng ta thử tìm hiểu xem nguyên tắc viết hoa của văn chương Việt Nam như thế nào. Theo tôi, khi tổ tiên chúng ta còn xử dụng tiếng Hán để làm văn tự thì chắc chắn không có quy tắc viết hoa. Khi chữ quốc ngữ được sáng tạo thì quy tắc viết hoa của chúng ta đã được mô phỏng hoặc bắt chước theo lối viết hoa của văn chương Pháp. Thế nhưng quy tắc mà chúng ta ứng dụng hoặc bắt chước lại hỗn loạn và không thống nhất. Tôi không hiểu lỗi này do cha ông chúng ta không có một Hàn Lâm Viện để đặt một quy tắc thống nhất hoặc giả đây là lỗi của nhà văn, nhà xuất bản, của ban biên tập, của người sắp chữ (sau này là người đánh máy)? Riêng bản thân tôi, cho mãi tới năm 2000 – tức là sau 15 năm viết văn tôi mới chính thức tuân thủ lối viết hoa thống nhất theo văn chương Hoa Kỳ.

Ðiều này qúy vị độc giả có thể nhận thấy trong cuốn Ký Sự 15 Năm xuất bản năm 2000. Chứ còn 5 tác phẩm về trước, lối viết hoa của tôi hoàn toàn không thống nhất và hết sức lộn xộn. Sau đây là lối viết hoa trong văn chương Việt Nam theo thứ tự thời gian mà tôi đưa ra như những điển hình.

1) Viết hoa theo Việt Nam Tự Ðiển Khai Trí Tiến Ðức (1931):

Chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa và có gạch nối giữa các chữ.

Thí dụ: Kinh-dương-vương, Hà-nội, Hà-nam, Hà-tĩnh, Giáo-sư, Giáo-sĩ, Hương-giang, Nga-la-tư, Thái-bình-dương.

Thế nhưng: A-di-đà-Phật (chữ Phật cuối cùng lại viết hoa.)

2) Lối viết hoa không thống nhất trong tác phẩm Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng:

– Tên người: Viết hoa cả họ, tên và chữ lót theo văn chương Mỹ nhưng vẫn có gạch nối theo lối cũ.

Thí dụ: Dương-Huy, Nguyễn-Thiết-Thanh, Nguyễn-Yên. Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết: Dương-thị-Mai (chữ thị không viết hoa). Tước hiệu, chức vụ: Thường không viết hoa và rất lộn xộn.

Thí dụ: cụ tú Ninh-Bắc, cụ tú Lãm, ông hàn Thanh

nhưng ở một chỗ khác lại viết Bà Cán, ông Tham Lộc

(Tham ở đây là một tước vị lại viết hoa.)

– Ðịa danh, dinh thự, công viên, thành phố, trường học:

Khái Hưng chỉ viết hoa chữ đầu và vẫn có gạch nối theo lối cũ.

Thí dụ: Phúc-yên, Hà-nội, chùa Bách-môn

Thế nhưng ở những chỗ khác tất cả lại viết hoa.

Thí dụ: Thạch-Lỗi, Quan-Thánh, Phú-Thọ, Trù-Mật, Ninh-Bắc, Nam-Ðịnh, Gia-Lâm

Các con đường, con sông Khái Hưng viết hoa cũng không thống nhất:

Thí dụ: đường Quan-Thánh (Quan Thánh viết hoa)

Sông Tô-lịch (sông viết hoa, lịch lại không viết hoa.)

Ngày, tháng Khái Hưng không viết hoa. Thí dụ: thứ bảy.

3) Lối viết hoa của Nhất Linh trong Bướm Trắng:

– Về địa danh, Nhất Linh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối theo lối cũ.

Thí dụ: Sầm-sơn, Hà-nội, Khâm-thiên, Chợ-lớn. Thế nhưng Sài Gòn có chỗ lại viết:

Sài gòn (không gạch nối.)

Sài-gòn (có gạch nối.)

Nhật bản (không gạch nối)

– Về tên người Nhất Linh viết hoa theo lối Mỹ. Thí dụ: Bác sĩ Trần Ðình Chuyên (không gạch nối, chữ lót viết hoa.) Nhưng ở một chỗ khác lại viết: Vũ-đình-Trương (có gạch nối và chữ lót lại không viết hoa)

4) Lối viết hoa không thống nhất của Thanh Tịnh trong Quê Mẹ: các địa danh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối.

Thí dụ: phá Tam-giang, trường Mỹ-lý, Trung-kỳ, Hà-nội. Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Trường Mỹ-lý (trường viết hoa mà không phải ở đầu câu,) làng Hòa ấp (lại không có gạch nối,) chùa Ðồng Tâm (chữ tâm lại viết hoa và không có gạch nối.)

– Chức vụ chỉ viết hoa chữ đầu. Thí dụ: Hương-thơ

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

ông đốc (đốc không viết hoa)

ông Huyện Phong (hai chữ sau lại viết hoa)

Miếu Thần Ðá (tất cả lại viết hoa)

miễu Thánh (chữ miễu không viết hoa)

– Các tên người đều viết hoa theo lối Mỹ nhưng có gạch nối. Thí dụ:

Hoàng-Thiên-Y, Khổng-Tử, Lý-Tịnh, Na-Tra

Nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Lê Bá Xuân (không gạch nối)

5) Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Văn Chí (1964):

Về tên các quốc gia: Viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Việt-Nam, Ðông-Nam-Á, Ðông-Dương, Hòa-Lan

Nhưng ở nhiều chỗ khác chỉ viết hoa chữ đầu:

Hoa-kỳ, Thái-lan, Ấn-độ, Trung-cộng, Tây-tạng,

Tên các nhân vật: Có lúc viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Khuyển-Dưỡng-Nghị, Tôn-Văn, Vương-Dương-Minh

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

Phan-đình-Phùng, Tôn-thất-Thuyết (chữ lót không viết hoa)

– Nhóm, hội đoàn, đoàn thể: Viết hoa không thống nhất, chỗ có gạch nối, chỗ không. Thí dụ:

Phong trào Cần-Vương

Phong trào Ðông Du (không gạch nối)

Phong trào Văn-Thân

phong trào cộng sản (cả bốn chữ lại không viết hoa)

– Các địa danh viết hoa cũng không thống nhất.

Thí dụ: Thượng-Hải, Hồng-Kông, Trà-Lùng, Hàng-Bông, Làng Cổ-Am, Yên-Báy, Hải-Phòng

Thế nhưng ở những chỗ khác lại chỉ viết hoa chữ đầu mà thôi. Thí dụ: Hà-nội, Quảng-châu, Quảng-nam, Lạng-sơn, Dương-tư, Nam-đàn, v.v…

9) Lối viết hoa của Nguyễn Hưng Quốc trong Tạp Chí Văn Học năm 2000

Nguyễn Hưng Quốc là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học. Là một nhà bình luận văn học rất kỹ lưỡng thế nhưng Nguyễn Hưng Quốc cũng không chú ý đến quy luật viết hoa.

– Tên các tác phẩm đều viết hoa như:

Truyện Kiều

Thơ Mới của Hoài Thanh

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

thơ Nguyễn Công Trứ (chữ thơ không viết hoa)

– Các tên nhóm, hội đoàn đều viết hoa như:

Nhóm Sáng Tạo (chữ nhóm viết hoa)

trường phái Phê Bình Mới (đáng lẽ chữ trường phái cũng phải viết hoa)

Rồi ở một chỗ khác lại viết:

nhóm Ngôn ngữ học tại Moscow (đáng lý phải viết: Nhóm Ngôn Ngữ Học tại Moscow.

II. Quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ

Trong văn chương Hoa Kỳ, viết hoa gọi là “capital letter ”, còn viết chữ thường gọi là “lower case”. Ðây là quy tắc thống nhất được áp dụng ở khắp mọi nơi. Ít khi thấy nhà văn, nhà thơ, nhà báo Hoa Kỳ vi phạm quy tắc này. Nguyên do chính là vì xã hội của họ đã ổn định cả hai trăm năm nay, việc gì cũng đã trở thành quy củ, nề nếp, có trường ốc. Ngoài ra tờ báo nào, nhà xuất bản nào cũng có một ban biên tập chịu trách nhiệm về vấn đề này chứ không “tự biên tự diễn, tự đánh máy, tự in, tự sáng chế” như chúng ta.

Giới thiệu quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ ở đây không có nghĩa là cái gì của Mỹ cũng nhất. Quy tắc nào cũng tốt cả nhưng với điều kiện phải thống nhất. Không thể ở đầu trang viết:Phong trào Ðông du rồi ở cuối sách lại viết Phong Trào Ðông Du. Nếu cứ tiếp tục viết lộn xộn như thế này thì con cháu chúng ta cũng sẽ tiếp tục thừa kế cái lộn xộn đó và hậu quả là cả ngàn năm sau nền văn chương Việt Nam vẫn cứ tiếp tục lộn xộn làm người ngoại quốc điên đầu khi nghiên cứu văn chương Việt Nam. Sau đây là quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ:

1) Tên người: Thí dụ: Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Lê Chân, Ông Tô Hiến Thành, Ông Cao Bá Quát, Ông Tôn Thất Thuyết, Bà Ðoàn Thị Ðiểm, Ông Ðặng Trần Côn, Cô Nguyễn Thị Giang, Cô Bắc.

2) Các con vật mình nuôi và thương mến/thú cưng (pet): con Vàng, con Vện, con Loulou, con Cún, con Bống.

3) Các chức vụ, tước hiệu và các chữ tắt của tên:

Thí dụ: Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sử Gia Lê Văn Hưu, Chúa Sãi, Chúa Trịnh, Bà Huyện Thanh Quan, Ðô Ðốc Tuyết, Cai Tổng Vàng, Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Giáo Sư Nguyễn C. Hách, GS. Phạm B. Tâm, Ðại Sứ Cabot Lodge, Tiến Sĩ Kissinger, Tổng Thống Roosevelt.

4) Ngôi thứ trong gia đình:

Thí dụ: Cô Bảy, Bác Ba, Bà Cả Tề, Thím Năm, Cô Ba Bến Tre, Cô Năm Phỉ, Út Trà Ôn.

5) Ðịa danh, dinh thự, công viên, thành phố, quận:

Thí dụ: Thành Phố Ðà Lạt, Dinh Ðộc Lập, Phủ Thủ Hiến, Phủ Thủ Tướng, Tòa Thị Chính Nha Trang, Công Viên Tao Ðàn, Vườn Hoa Con Cóc, Vườn Hoa Chéo, Công Viên Tao Đàn, Chùa Hương Tích, Thành Phố Hải Phòng, Quận Hương Điền, Quận Châu Thành Mỹ Tho, Xã An Hội …

6) Bến, cảng, phi trường:

Thí dụ: Phi Trường Tân Sơn Nhất, Ga Hàng Cỏ, Bến Vân Ðồn, Bến Sáu Kho, Bến Ðò Bính, Bến Ðò Lèn, Bến Nhà Rồng, Cảng Hải Phòng.

7) Ðường:

Thí dụ: Ðường Trần Hưng Ðạo, Xa Lộ Biên Hòa, Quốc Lộ 1, Liên Tỉnh Lộ 7, Hương Lộ 8…

8) Chợ:

Thí dụ: Chợ Bến Thành, Chợ Ðồng Xuân, Chợ Tân Ðịnh, Chợ Bà Chiểu, Chợ Lớn, Chợ Huyện Thanh Vân…

9) Núi, đèo, cửa ải:

Thí dụ: Núi Hoàng Liên Sơn, Núi Sam, Núi Ba Vì, Núi Ngũ Hành, Núi Ông Voi, Núi Ngự, Ðèo Hải Vân, Ðèo Cả, Ải Nam Quan…

10) Sông, thác, hồ, suối:

Thí dụ: Sông Hồng, Sông Mã, Sông Chu, Sông Hương, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Than Thở, Hồ Ba Bể, Thác Bản Giốc, Suối Giải Oan…

11) Vịnh, biển, đảo:

Thí dụ: Vịnh Hạ Long, Vịnh Cam Ranh, Rạch Cái Cối, Vũng Rô, Quần Ðảo Hoàng Sa, Quần Ðảo Trường Sa, Ðảo Tây Sa, Côn Ðảo, Hòn Bà, Hòn Chồng, Hòn Vọng Phu, Phá Tam Giang.

12) Ngày tháng:

Thí dụ: Tháng Giêng, Thứ Hai, nhưng mùa thu, mùa xuân (các mùa lại không viết hoa)

13) Ngày lễ:

Thí dụ: Lễ Hai Bà Trưng, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Ðán, Tết Ðoan Ngọ, Ngày Thiếu Nhi Toàn Quốc, Ngày Quốc Tế Nhân Quyền…

14) Nhóm, hội đoàn:

Thí dụ: Nhóm Sáng Tạo, Nhóm Ngàn Lau, Hội Ðua Ngựa Phú Thọ, Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Hội Ái Hữu Gò Công, Câu Lạc Bộ Lướt Sóng, Môn Phái Vovinam, Môn Phái Thiếu Lâm, Trường Phái Siêu Thực, Trường Phái Dã Thú, Trường Phái Ấn Tượng.

15) Ban nhạc:

Thí dụ: Ban Thăng Long, Ban Tiếng Tơ Ðồng, Ban The Rolling Stone, Ðoàn Cải Lương Hương Mùa Thu, Ðoàn Thoại Kịch Tiếng Chuông Vàng.

16) Báo chí, tựa đề các cuốn sách, thơ, bài báo, vở kịch, bức hoạ, bản nhạc, truyện, cuốn phim và tựa đề của một bài viết:

Thí dụ: Nam Phong Tạp Chí, Tạp Chí Bách Khoa, Nhật Báo Người Việt, Ðoạn Tuyệt, Thơ Vũ Hoàng Chương, Truyện Kiều, Kịch Lôi Vũ, Trường Ca Con Đường Cái Quan, Cầu Sông Qwai…

17) Thánh thần và kinh sách:

Thí dụ: Trời, Phật, Chúa, Ðức Thánh Trần, Bà Chúa Liễu Hạnh, Mẹ Âu Cơ, Kinh Kim Cang, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Coran, Kinh Cựu Ước..

18) Miền, vùng của một đất nước (nhưng không phải để chỉ phương hướng). Thí dụ:

Miền Nam, Miền Bắc, Miền Trung, Vùng Cao Nguyên, Miền Tây, Vùng Tây Bắc, Bắc Bình Ðịnh…

19) Các biến cố lịch sử, tài liệu, mốc thời gian:

Thí dụ: Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ, Ðệ II Thế Chiến, Thời Kỳ Chiến Tranh Lạnh…

Thời Kỳ Bắc Thuộc, Thời Kỳ Trịnh – Nguyễn Phân Tranh, Thời Kỳ Phục Hưng, Nhà Hậu Lê, Bình Ngô Ðại Cáo…

20) Ngôn ngữ, chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo:

Thí dụ: Anh Ngữ, Pháp Ngữ, Hoa Ngữ, Nhật Ngữ, Việt Ngữ

Thái, Nùng, Dao, Mèo, Kinh, Thượng, Mường, Ra-Ðê, Việt, Hoa v.v…

Việt Tịch, Pháp Tịch, Ấn Tịch… Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Ấn Ðộ Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo…

21) Tên các con tàu, xe lửa, máy bay hoặc nhãn hiệu xe hơi:

Thí dụ: Tuần Dương Hạm Yết Kiêu, Khu Trục Hạm Vạn Kiếp, Hàng Không Mẫu Hạm Trần Hưng Ðạo…La Dalat, Citroyen, Toyota v.v…

Thiên Lôi (Thunderchief), Con Ma (Phantom)

22) Chữ đầu của câu trích dẫn:

Thí dụ: Trần Bình Trọng dõng dạc nói, “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.”

Xin  quý vị nào nghiên cứu về văn phạm Việt Nam đóng góp thêm ý kiến để sau này có thể hình thành một quy tắc viết hoa thống nhất cho văn chương Việt Nam.

Đào Văn Bình (Trích Tuyển Tập 20 Năm Viết Văn xuất bản năm 2004)

Hình Ảnh Cầu Nguyện Tại Nhà Anh Nguyễn Vạn Xuân K23

NguyenKinh

Thông Báo Picnic Hè 2014 của Hội Võ Bị Bắc Cali

ThongBaoPicnic2014

Kính thưa:

– Quý Niên Trưởng, quý Phu Nhân cùng các Bạn và Gia Đình,

– Quý cựu Giáo Sư, cựu Cán Bộ TVBQGVN và Gia Đình,

– Quý Chị PNLV cùng các Cháu TTNĐH và Gia Đình,

– Quý Chiến Hữu, quý Thân Hữu Võ Bị,

Trân trọng kính mời quý vị đến tham dự Picnic Hè 2014 do Hội Võ Bị Bắc Cali tổ chức:

Thời gian: từ 10 giờ sáng tới 5 giờ chiều ngày Chủ Nhật 31 tháng 8 năm 2014

Địa điểm: tại Family Circle, Kelley Park 1500-1690 Senter Rd. San Jose, CA 95112

(Mời click vào đ/c trên để xem bản đồ).

Đúng như tên gọi, Family Circle tại Kelley Park—toạ lạc giữa Japanese Friendship Garden và History Park—là một địa điểm sinh hoạt ngoài trời mang đậm tính chất thân mật của gia đình.

454_1d6340_aea4366_oj

*** Family Circle—địa điểm picnic; ** Parking lot tại Phelan Avenue; * Parking lot tại Senter Road

2d7_1d64bd_66a7df77_oj

Landmark của Family Circle

2d3_1d64c1_6477cc7_oj

Với nhiều cây cao bóng mát, Family Circle thích hợp cho những buổi picnic mùa hè

2d8_1d64bc_2186b99f_oj

Những tia nắng gay gắt hầu như không thể xuyên thủng được những tàn cây xanh

2d4_1d64c0_398a7da1_oj

Lò BBQ hình tròn tại trung tâm tạo không khí gia đình—hết sức thân mật

2dc_1d64b8_f7ff1cff_oj

Kế bên là Japanese Friendship Garden với những cảnh sắc tuyệt đẹp (đi bộ sang)

457_1d633d_37b3ddf6_oj

Một trong những cây cầu nhỏ tại Japanese Friendship Garden

2db_1d64b9_b85c8cdf_oj

Kế bên còn có Viet Museum với nhiều di ảnh, di vật lịch sử (đi bộ sang)

452_1d6342_f9c9d322_oj

Bia Tưởng Niệm trong khuôn viên Viet Museum

2d9_1d64bb_612949bf_oj

Parking lot nhỏ trên đường Senter dẫn đến Family Circle chỉ mất vài bước đường tắt

453_1d6341_2772c4c_oj

Quang cảnh lối vào parking lot nhỏ trên đường Senter, từ hướng đường Tully

Đến tham dự pinic hè, quý vị có thể:

– Đậu xe tại parking lot nhỏ trên đường Senter (giữa E. Alma Ave. và Phelan Ave.) kế bên Viet Museum để vào Family Circle rất gần và thuận tiện.

– Dùng xe bus số 73: north bound dừng tại góc Senter Rd. và Phelan Ave; south bound dừng tại góc E. Alma Ave. và Senter Rd.

2d2_1d64c2_24f96d65_oj

Không ảnh Kelley Park với Family Circle. Đậu xe ở parking lot nhỏ rất thuận tiện để đến địa điểm picnic

Picnic Hè là một sinh hoạt ngoài trời để đại Gia Đình Võ Bị chúng ta cùng trò chuyện & hàn huyên, thưởng thức những món ăn ngon do chính tay quý Phu Nhân đảm trách; cùng vui chơi và thưởng lãm một chương trình văn nghệ & biểu diễn “cây nhà lá vườn” của các “nghệ sĩ Võ Bị”, của quý Chị PNLV và các Cháu TTNĐH.

Kính nhờ quý Niên Trưởng và quý Bạn Đại Diện Khoá phổ biến Thư Mời này đến mọi thành viên thuộc Khoá của mình; đồng thời vận động & mời gọi tham dự để chúng ta có một ngày vui mùa hè trọn vẹn.

Cũng nhân dịp này, Hội Võ Bị Bắc Cali kính mời quý Niên Trưởng, quý Phu Nhân và Gia Đình từ phương xa, nếu có dịp ghé thăm San Jose, xin cùng đến tham dự picnic hè thân mật với chúng tôi.

Trân trọng kính mời,

TM. Hội Võ Bị Bắc Cali

Hội Trưởng

CSVSQ Nguyễn Thanh Lương K24

_________________________________________________________________________

picnic11

Xin mời xem lại một vài hình ảnh picnic hè trước đây

_________________________________________________________________________

456_1d633e_a71d56_oj

Một Vài Hình Ảnh Picnic Hè

Picnic1

Vài Hình Ảnh Phát Hành Đa Hiệu 101—Doanh Doanh K20

San Francisco Biểu Tình Chống Trung Cộng Xâm Lược Ngày 12/5/2014—Việt Vùng Vịnh

Trung Quốc đã lộ dã tâm, Việt Nam phải làm gì?—Việt Long K23—RFA