Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc » Quân Trường Và Chiến Trường—Trương Văn Út K22

Quân Trường Và Chiến Trường—Trương Văn Út K22

Thư viện

MỤC LỤC

Tôi nhập trường VBĐL tháng 12 năm 1965. Tính đến nay chỉ còn một năm nữa là một phần hai thế kỷ. 2015. Năm mươi năm trôi qua cũng khá dài so với đời của một con người. Chiều dài vừa đủ để ký ức đong đầy ngập tràn những kỷ niệm tưởng đã lãng quên hay nhạt nhòa đâu đó. Nhưng không! Nó vẫn còn lởn vởn quanh đây vô ảnh vô hình, nhưng khi được nhắc đến thì nó lại hiện ra như một đoạn phim sống thực còn lưu trữ tận trong tiềm thức của mình. Nửa đời đầy oan nghiệt lẫn lộn tiếc nuối chua xót cho thân phận của một thế hệ “Sinh Bất Phùng Thời”

scan0189copyHai năm trong Quân Trường, tám năm với Chiến Trường, ba mươi chín năm tù tội và lưu vong, nay Tổ Quốc là tổ quốc của người, Dân Tộc là dân tộc của người, quê hương tổ tiên đất đai mồ mả lạ quắc lạ quơ… Nhưng tôi không mất hết, tôi vẫn còn lại trong tôi Quân Trường và Chiến Trường.
– Quân Trường, nơi đó tôi có đàn anh đàn em (K21 K22 K23) và các Sĩ Quan Cán Bộ, Sĩ Quan Tham Mưu Hành Chánh được gọi là “Đồng Môn” cùng đổ mồ hôi như nhau, cùng dìu dắt nhau trên ngưỡng cửa binh nghiệp với vô vàn kỷ niệm chắc rằng khó có mấy ai quên.
– Chiến Trường, nơi đó tôi có đồng đội cùng đồng cam cộng khổ với máu và nước mắt, với những tháng năm miệt mài khói lửa mà cái sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi chỉ hồng, cái còn cái mất như trong một khoảng cách phù du. Chiến Trường đã in sâu vào tâm thức của tôi như một dấu ấn khằn vết khi tôi nhớ lại những lần vuốt mắt cho bạn bè đồng đội dưới đạn pháo của quân thù.
Quân Trường Đổ Mồ Hôi – Chiến Trường Đổ Máu Mắt

83037395

Tháng 12 Năm 1967

Tốt nghiệp K22 VBQGVN, trình diện Bộ Tư Lệnh LLĐB và được bổ nhiệm về TĐ81BCND cùng hai người bạn cùng khóa. Hãnh diện sung sướng biết bao khi trình diện vị Tiểu Đoàn Trưởng Lê Như Tú Thiếu Tá K11 VBĐL… rồi được giới thiệu TĐP Đại Úy Nguyễn Quang Vinh K14, Đại Úy Bình Ban Ba K17, Đại Úy Táo Ban Truyền Tin K20, Đại Úy Hưởng Ban An Ninh K19, ĐĐT ĐĐ1 Trung Úy Thăng K20, ĐĐ6 Trung Úy Tuấn K20, ĐĐ3 Trung Úy Lâu K21… còn nhiều nữa kể không hết…
Tôi cảm thấy ấm lòng vì ngây thơ với ý nghĩ ngộ nghĩnh may quá mình may mắn về tiểu đoàn khét tiếng này mà Đà Lạt không hà, chắc mẩm thế nào cũng được bao che và nâng đỡ. Nhưng tôi đã lầm. Dù các Niên Trưởng của mình có “phe đảng” bao che cho mình thì có tài thánh cũng không bao che được đạn tên vô tình, dù có quyền có thế Niên Trưởng cũng không nâng đỡ cho mình được nếu mình tỏ ra hèn nhát và khiếp nhược trước quân thù, nhất là trước mặt thuộc cấp trong lúc dầu sôi lửa bỏng.
Chỉ có một tuần lễ sau, đêm giao thừa Tết Mậu Thân (1968)… Thiếu Tá Tú TĐT K11 tử trận, Đại Uý TĐP Vinh K14 bị thương nặng không còn khả năng tác chiến, ba người bạn cùng khóa của tôi Chẩn, Tiễn, Lợi K22 phút chốc đã trở nên người thiên cổ, một ĐĐT tử thương, một cụt chân. Cũng may ĐĐP/ĐĐ3 là Niên Truởng Nguyễn Đăng Lâu K21 thay thế ĐĐT bị cụt chân!!!
Chỉ có bốn tháng kể từ ngày ra trường tôi đã trải qua ba cuộc hành quân chớp nhoáng đẫm máu trên ba vùng chiến thuật, II, I và III. Giải tỏa thị xã Nha Trang. Thung Lũng Ashao Alưới (vùng địa đầu giới tuyến 17). Giải tỏa mặt trận Cây Quéo Cây Thị (Gò Vấp Gia Định), thay đổi bốn vị ĐĐT và vị ĐĐT thứ năm là: Niên Trưởng Nguyễn Văn Lân K17.

 

Anh Lân (xin phép tôi gọi bằng Anh) từ trại LLĐB biên phòng Pleimơreng về đây. Dáng người cao dong dỏng, gương mặt trẻ măng như sinh viên đại học dù nước da hơi sạm nắng, ứng xử với ngôn ngữ nhã nhặn dịu dàng lịch sự với cả cấp trên lẫn dưới. Khi nhận bàn giao xong, Anh bảo tôi giới thiệu đơn vị và quân nhân các cấp cho Anh, sau đó gọi tôi vào phòng riêng căn dặn:
– Út đã ở đơn vị này từ ngày ra trường cho đến bây giờ, Út giúp cho Anh trông coi đơn vị, có gì trở ngại hay cần những quyết định quan trọng báo cho Anh biết. Nếu đơn vị dưỡng quân ở hậu cứ, ngày thường Anh tà tà rong chơi, Út cùng anh em sinh hoạt như huấn luyện, chiến tranh chính trị, bảo trì vũ khí quân trang quân dụng… chú trọng vấn đề lãnh đạo chỉ huy cho các cấp trưởng v.v. và v.v… Ngày cuối tuần, Anh cho xả trại 100%, riêng Anh thì Anh tự cấm trại 100%… Út có thể xử dụng xe jeep của Anh cùng các sĩ quan đi chơi, nhưng nhớ giữ kỷ luật đừng đánh lộn đánh lạo mang tiếng.
Nhưng rồi “tai nạn” xảy ra. Không đánh lộn mà bắn lộn. Tôi bị mấy đệ tử của Nguyễn Cao Kỳ bắn lộn qua thằng khác, thằng đàn em của “Sáu Vĩnh”, tay chân bộ hạ của NCK chuyên đi thâu tiền “khuyển mã” các chị em bán ba Mỹ… Anh Lân nghe báo, vội phóng ra đồn Quân Cảnh Nha Trang thì gặp Ông Đồn Trưởng là Đại Úy Trương Văn Cao K18! Thế là mọi việc êm xuôi như “khỉ có giồng” (khổng có gì) với vài lời khiển trách nhẹ nhàng của hai Niên Trưởng :
– Mi mới ra trường chưa nứt mắt mà bắt đầu làm trò khỉ rồi…
Tham dự hai cuộc hành quân kế tiếp, xâm nhập chiến khu C-Đ, giải tỏa núi Bà Đen, núi Heo, núi Cậu… Anh Lân đã trao truyền hết cho tôi những kinh nghiệm máu xương của chiến trường. Chính Anh là người đã đúc những viên gạch cho tôi để tôi vững bước trên con đường khói lửa sau này.
Anh chỉ chỉ huy ĐĐ3/BCND chưa đầy một năm, Anh được chỉ định giữ chức vụ TĐP cho Thiếu Tá Trần Phương Quế K10. Một người khác về thay thế Anh Lân, tôi vẫn là ĐĐP. Ba tháng sau, Anh gọi tôi lên Bộ CHTĐ cười cười nói:
– Chuẩn bị tâm tư nhận lệnh phạt đó em!
Anh Lân và các niên trưởng khác đã hết lời thuyết phục TĐT bổ nhiệm tôi quyền ĐĐT/ĐĐ5/BCND, khi tôi vừa tròn 23 tuổi, một ĐĐT miệng còn hôi sữa, chưa dày dạn chiến trường so với các ĐĐT khác cùng với một vài phàn nàn dèm pha của một vài sĩ quan cấp trung úy thâm niên hơn tôi.
“Phe Đảng! “Đảng gì đây? Đảng Tự Thắng!”
Nhưng họ hiểu lầm! Bổ nhiệm chức vụ ĐĐT81BCND là của BTLLLĐB qua đề nghị hay “đề bạt” của TĐT.

Tháng 10 Năm 1969

Đơn vị của tôi được cải danh là Đaị Đội II Trinh Sát Nhẩy Dù, thống thuộc quản trị hành chánh của Bộ TL/SĐND. Thời gian này LLĐB đang trong tiến trình giải thể.
Sau hai tháng thụ huấn khóa viễn thám Dục Mỹ, TTHL Vạn Kiếp, một số HSQ được gửi đi học mật mã truyền tin, tình báo thì bắt đầu tham dự hành quân cùng với các đơn vị khác. Phương thức và kỹ thuật tác chiến của hai binh chủng có nhiều khác biệt. 81BCD không bao giờ xử dụng pháo yểm mà hoàn toàn lệ thuộc vào không yểm. ND thì phối hợp cả hai trong bất cứ trạng huống nào. Tôi bỡ ngỡ bối rối vì là một đại đội biệt lập, đơn vị trưởng phải phối hợp trực tiếp với LĐ hoặc SĐ lo liệu mọi bề.
May mắn thay, lù khù có Ông Cù độ mạng. Thiếu Tá Trần Đăng Khôi K16, Trưởng ban ba hành quân của LĐIIND.
Anh Khôi trạc trên dưới 30 tuổi, dáng người trang nhã với ống bíp havana trên tay, bụng hơi xệ, nếu nói khẳng khái không nịnh hót thì mọi điều hợp hành quân đều do Anh thiết kế. Tôi tham dự chiến dịch “lùng và diệt địch”, kế hoạch của Tướng Westmoreland và Tướng Đỗ Cao Trí. Hành quân “Toàn Thắng” vùng Tây Ninh Phước Long và Campuchia.
Tôi lạng quạng lờ quờ ngu ngơ đến nỗi Anh Khôi phải gọi tôi trình diện riêng trong hầm hành quân của LĐ (TOC). Anh nói từ tốn và chậm rãi cố cho tôi hiểu:
– Báo cáo diễn tiến hành quân, báo cáo tổn thất, báo cáo tình hình địch…v.v… anh còn quá luộm thuộm, nhất là phối hợp pháo binh ND và trực thăng võ trang. Anh nên nhớ rằng có rất nhiều cặp mắt đang nhìn vào anh và họ thèm nhỏ dãi chỗ của anh. Điều quan trọng nhất là chúng ta đang phối hợp hành quân với SĐI Không Kỵ Hoa Kỳ… chỉ một lời báo cáo của cố vấn Mỹ bên cạnh anh thì anh bị trả về đơn vị gốc của anh ngay…
Tôi yên lặng thẫn thờ ngồi nghe nhưng Anh lại tiếp :
– Thôi được… tôi nói sơ sơ rồi ngày mai bay với tôi và Thiếu Tá Tường (TĐT/TĐ2PBND)
“GAP” chữ viết tắt Ground & Air Preparation. Tức là kỹ thuật dùng pháo binh và hỏa lực không quân cùng một lúc để dọn bãi đáp (LZ) hay bãi bốc (PZ), sơ xuất hay không chính xác (độ chính xác này được tính từng giây) là pháo binh bắn rớt máy bay, hoặc máy bay nã rocket vào đầu quân bộ thì cả đám đi chỗ khác để ngồi chơi sơi nước muôn đời lục quân VN. Anh (Khôi) còn sắp xếp thời giờ tôi gặp trưởng ban bốn tiếp liệu, ban một quản trị quân số, ban hai tình hình địch v.v… để nắm vững dữ kiện trước khi lên C & C thả toán viễn thám hay trung đội trinh sát.
Như vậy trên những bước đường chập chững của hai binh chủng BCD và ND tôi đã may mắn – quá may mắn – được hai Niên Trưởng đàn anh “đỡ đầu hướng dẫn bao che” cho đến khi đủ lông đủ cánh. Nói lên lời ” biết ơn ” thì khách sáo quá, tôi chỉ xin hứa cái đầu của tôi là mũ nồi VB, hai cầu vai là Greenberet và Redhat.

Năm 1972 – Đường Vào Binh Lửa

Nhắc đến 1972 là phải nói đến “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Đã có NT Phan Nhật Nam K18, có NT Đoàn Phương Hải K19, NT Huỳnh Văn Phú K19 viết quá nhiều rồi, lại còn thêm hàng vạn trang sách báo viết về nó bằng máu và nước mắt của tất cả quân binh chủng QL/VNCH, nên tôi chỉ gói ghém ngắn gọn những gì tôi còn nhớ, để làm nổi bật “Tình Tự VB trên những mặt trận khốc liệt nhất trong thời gian này. Có những bông hồng cho những Huynh Đệ khi nghe tin chiến thắng được tưởng thưởng vinh thăng thì cũng có những vết thưong rỉ máu không bao giờ thành xẹo cho những Huynh Đệ vừa xanh cỏ để tôi được đỏ ngực.
Tháng 3 -1972, đơn vị (ĐĐ2TSND) được triệt xuất khỏi đồn điền Memot trở về hậu cứ Long Bình chờ lệnh. Hai ngày sau lên C130 trực chỉ Kontum. Xuống phi trường “tái ngộ” ngay với NT Lân, Anh đang giữ chức vụ LĐP/LĐ81BCD vừa được triệt xuất ra khỏi vùng Tam Biên. Anh kéo tôi ra nói vội vài ba câu trước khi lên C130 về Sài gòn:
– Út… Em phải hết sức thận trọng… nhớ và áp dụng kỹ thuật tác chiến của Biệt Cách Dù để tránh tổn thất. Sư Đoàn Thép 320 của chúng nó đã áp sát Kontum với trọng pháo 130 và tăng T54 nữa đó…
Hai ngày sau cả ĐĐ được trực thăng vận ngay trên đỉnh 1049 (CC Delta) cách hơn 10Km về hướng tây CC Vỏ Định, BCH/LĐ2ND. Bị “phục kích độn thổ” ngay tức khắc. Hand by hand, Đại Úy Budard hét lên trong máy với cấp chỉ huy của hắn. Tôi lại nghe trong máy của tôi tiếng của Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành tự là Thành Râu K19 phụ tá hành quân của LĐ từ chiếc trực thăng C & C do Đại Úy Phạm Công Cẩn K21(Trưởng Trung Tâm Hành Quân PĐ 229, Thiếu Tá Lê Văn Bút K16 PĐTrưởng ) đang vần vũ trên không vùng đồi delta :
– Út Bạch Lan… Cho tôi biết cái gì đang xãy ra!
– Đích thân chờ một chút… Tôi bị phục kích độn thổ.

Lại có tiếng réo của NT Nguyễn Trọng Nhi K20 Trưởng ban ba LĐ
– Út Bạch Lan… Báo cáo tình hình ngay… 207 đang ngồi đây chờ (207 là Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐ2ND)
Chờ thì chờ, tôi làm gì có thì giờ để báo với cáo. Tay đâu mà ôm hai ba cái ống liên hợp trong khi tôi và mấy ông cố vấn Mỹ đang vật lộn với… vi xi. Ném lựu đạn xuống hầm đếm chưa tới sáu thì nó quăng trở lên, thầy trò bò lăn bò càng… Mọi người sốt ruột lo lắng cho tôi, nhất là NT Thành Râu trên trực thăng C & C 24/24. NT Nhi cứ năm ba phút thì gọi hỏi ra sao rồi. NT Cẩn thì bảo :
– UBL qua tần số UHF, tôi sẽ cho biết chung quanh của UBL… UBL đang bị bao vây rồi đó. Chúng nó đông như kiến, nói với thằng CV Mỹ xin khẩn cấp trực thăng võ trang (Cobra) trang bị M79, ngồi với tôi có NT Thành, ở dưới đất có NT Nhi lo pháo rồi…
Trước áp lực của địch quân càng lúc càng nặng nề nhưng tôi cảm thấy yên tâm vì trên trời dưới đất lúc nào cũng có những ông thần hộ mạng. Những ông thần đó không ai khác hơn là những NIÊN TRƯỞNG đã một thời là “Hung Thần” hét ra lửa của khóa đàn anh. Trên trời ban ngày thì Thành Râu 19 với Công Cẩn 21, ban đêm thì Thẩm quyền Bút 16. Dưới đất thì Trọng Nhi 20 sáng trưa chiều tối thường trực trên tần số, kề bên có NT Ngọc Ngà K19 TĐP/TĐ2ND, Lê Thơm K22, Nguyễn Hữu Minh K23 ngày đêm ghìm súng chờ giặc từ ngoài bắc…zô đây…zô đây…
Hai ngày sau Delta tạm lắng dịu vì phi pháo. Ngậm điếu thuốc hớp một hớp cà phê tôi chợt nhớ đến NT Khôi. Giờ này TĐ7ND của Anh đang trên đường vào vùng cùng TĐ11ND để tăng cường với TĐ2 và TS2. Nhớ đến NT Khôi vì hôm nay tôi đã phối hợp hữu hiệu với cố vấn Mỹ và pháo binh nhẩy dù áp dụng kỹ thuật “GAP” mà NT Khôi đã chỉ dạy cho tôi hai năm về trước.
Một tuần lễ sau
– TĐ11 vào thay TĐ2 ở Charlie, cách phía bắc Delta khoảng hơn một cây số…
TĐ11ND… TĐT: NT Bảo K14, TĐP: NT MỄ K18, Ban Ba: NT Hải K19, ĐĐT113 Hùng Mập K22, ĐĐT112 Hùng Móm K22, NVN Long K23, ĐĐT111 Thinh (ĐĐP của TS2) vừa được bổ nhiệm.
– TĐ7 vào thay thế TS2 ở Delta
TĐ7ND…TĐT: NT Khôi K16, TĐP: NT Lô K18, Ban Ba: NT Em K19, ba ĐĐT nòng cốt Đăng K22, Hải K22, Cao K22, Tưởng văn Quyền K23.

Trinh Sát II được bốc về CC Vỏ Định “dưỡng sức” hai ngày dưới giao thông hào tránh pháo 130, sau đó lại được bốc thả vào Charlie tăng cường cho TĐ11. Vừa đặt chân xuống bãi đáp nằm bên cạnh sườn đồi Charlie thì NT Hải (ĐPH) K19 chờ sẵn đó rồi:
– Út theo tôi lên gặp đích thân cái đã…
Trong căn hầm tối thui với ánh đèn pin vừa đủ soi bản đồ, NT Nguyễn Đình Bảo nói :
– Út giúp cho tôi tăng cường phía bắc với Hùng Mập, phía nam có Hùng Móm, phía đông có Thinh, phía tây tương đối không lo ngại vì phải qua một khe núi sâu khỏang 100 mét…
Ba lô súng đạn lên đường gặp Hùng Mập ngồi chàng hảng dưới gốc cây bên cạnh hố cá nhân. Thằng ma cà rồng này cùng ĐĐE22 với tôi, nó là dân Bắc Kỳ di cư nên địt bố địt cụ lia chia, tôi hỏi nó :
– Đồi này tên gì vậy ?
– Đồi Bắc… Đồi bên kia (Charlie) là đồi 1515…

Tôi cho lệnh nghỉ ngơi ăn uống đồng thời ba toán viễn thám chuẩn bị sẽ đi ăn đêm… đêm nay. Thằng Hùng mập cười khình khịch trong cuốn họng, đầu lắc qua lắc lại có ý chế diễu :
– Địt mẹ…Tăng nó nằm ở dưới chân đồi mấy ngày nay, tao không hiểu sao nó đéo thèm bò lên… Nghe mày nói các toán viễn thám của mày sẽ đi ăn đêm tao tức cười… Mày ngồi đây với tao chưa chắc mày có thời giờ ăn ngày nữa nói chi ăn đêm… Chờ một chút đi! Nó đút cơm cho con ăn liền đó con ạ!!!
Đúng như lời Hùng Mập bông đùa chiều nay, đêm hôm đó ba toán VT báo cáo y chang với vài tấm ảnh T54 chụp được bằng máy hình hồng ngoại tuyến. Tôi được lệnh trở lại Charlie để qua hướng tây. Một ngọn đồi thấp hơn Charlie về phía tây khoảng 150 mét nhưng qua đó phải vượt qua khe núi đá dựng đứng sâu 100 mét. Phải mất 3 tiếng đồng hồ tòan bộ Đại Đội mới lên được đỉnh đồi vì hai tóan viễn thám đã thám sát trước. Không nghỉ ngơi được chút nào, chưa kịp bố trí quân thì bị “táp pi” ngay… Đại Úy Budard (CV TS2) hét trong máy với Đại Úy Muffy (CV TĐ11):
– Hefl..Hefl… Do or die… Do or die!
Đại Tá Mike (CV LĐ2) xen vào tần số :
– Budard! Listen to me… Calmdown… I give you somthings rightnow… Calmdown…OK…OK…
Chúng nó tràn lên như kiến, tôi hét Budard :
– Be carefull… Don’t shoot to my people back!
Năm phút sau John Paul Van (CV QĐ2) với chiếc Log và chiếc C & C của NT Cẩn cùng Đại Tá Lịch và NT Thành đã có mặt trên không phận. Lệnh của ĐT Lịch:
– UBL… Step by step Romeo-Juliet… You understand what I mean?
– I got it!

Tôi áp dụng “rút lui nhẩy cóc” vì rút lui đồng loạt là bị tràn ngập ngay, mặc cho cấp trên điều động thế nào tôi không “quởn” nghĩ tới, chỉ thấy sau lưng của tôi là một biển lửa với tiếng gầm thét của phản lực cơ Hoa Kỳ giống như trong phim “We are the soldier”. Bom napal.
Bỏ lại hai toán VT và hơn 20 HSQ-BS. Một số chết tại chỗ một số bị thương nặng nhẹ. Thôi đành xin lỗi các bạn. Không phải tại anh cũng không phải tại em, tại trời xui khiến nên chúng mình… xa nhau!

Mình cùng thức giữa đêm gọi rừng cùng thức
Lửa đạn thù đốn ngã từng thân cây
Xương với thịt nơi tận cùng mơ ước
Còn thấy mặt trời là còn thấy ngày mai

(Dấu giày chinh chiến – Trạch Gầm)

Vietnam War

Ngày hôm sau TS2 được bốc ra khỏi Charlie sau một đêm cùng TĐ11 nằm vắt giò lên miệng hầm nghe tiếng bom rơi từ hai pass B52 cách Charlie chừng 300 mét. Điều này xảy ra đã phá lệ quy định, duy nhất chỉ ở Charlie vì khoảng cách an toàn cho B52 tối thiểu phải 1000 mét. Tôi ngồi trên chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng rời Charlie, không một vẫy tay chào, không một lời giã từ “Đồi Bắc” nơi đó có Hùng Mập E22, “Đồi 1515” nơi đó có các NT thân yêu của tôi mà chỉ cách đây hai tuần lễ ăn nhậu mệt nghỉ tại CLB-TĐ11ND… NT Bảo, NT Mễ, NT Hải, Hùng Móm, Thinh…

Hai ngày hôm sau số phận Charlie kết thúc, để người Anh đáng kính của CC Nguyễn Huệ Long Bình có tên “Người ở lại Charlie” qua giòng nhạc xót xa tiếc nuối của Nhật Trường cùng bao nhiêu anh em bạn bè khác.
“Anh nằm xuống…không bạn bè, không có ai, không có ai đời đời ru Anh ngũ vùi trong cánh rừng già chỉ có loài chim thôi”
Tưởng như vậy là xong, nhưng có bao giờ Nhẩy Dù biết đến hai chữ “chấm hết”, chỉ trừ phi nhắm mắt ngủ giấc ngủ nghìn thu. Có lệnh LĐ2ND được Galaxy C5 tại phi trường Pleiku không vận về Sài gòn khẩn cấp để “trên đường ra Quảng Trị…” Trước khi rời khỏi Kontum, QĐ2 “cân hồ” xử dụng ND theo kiểu vơ vét cú chót. TĐ7 và TS2 lại được có vé “trực thăng” của Thiếu Tá Lê Văn Bút K16 và Đại Úy Phạm Công Cẩn K21 PĐ 229 “tham quan” đỉnh Chupao trước khi về phi trường Pleiku. Lại một lần nữa, ngó qua ngó lại, ngó lên ngó xuống sao mà Đàlạt không zầy nè. NT Lô18 cùng Đăng 22, Hải 22 đằng vân hạ thổ ngay trên đỉnh Chupao, NT Khôi 16, NT Em 19 cùng Cao 22 “tam bộ nhất… Bắn” xuôi nam, UBL nhẩy xuống phía tây nam dưới chân đồi. NT Cẩn (C&C) ban ngày, NT Bút ban đêm. Mạnh ai nấy lo trong tình huống tứ bề thọ địch giông giống như Quan Vân Trường đang đi trên Hoa Dung Lộ trong khi Triệu Tử Long múa trường bản trên đỉnh Chupao. Rồi nhiệm vụ nào cũng mission accomplished.
Đứng sắp hàng chờ lên C5 (lần đầu tiên ND được không vận bằng C5 của Mỹ) ở phi trường Pleiku, từ thầy đến trò, từ anh xuống em nhìn nhau với ánh mắt không nói nên lời vì đả bỏ lại sau lưng bao nhiêu đồng đội cùng thành phố Kontum với giòng sông PoKo đang dậy sóng, có cô sơn nữ phà ca mang gùi đi đổi muối tủm tỉm cười.

Đường Vào Quảng Trị

Có thể ví von là Phái Đoàn Đà Lạt du ngoạn Quảng Trị !!!.
LĐ2ND là mũi dùi chính trên đường chiếm lại cổ thành Đinh Công Tráng. Thành có dạng hình vuông. Sông Thạch Hãn bao bọc phía tây uốn quanh một phần phía bắc. Đông là Làng Tri Bưu, Hạnh Hoa Thôn nơi đóng quân của BTL SĐ304 CSBV, phía nam là nhà thờ La Vang và ngã ba Long Hưng.
Phái đoàn du ngoạn của Đà Lạt gồm có:
TĐ5ND: NT Hiếu K14, NT Quyền K16, NT Chí K20, TĐSĩ K21, NTViệt K23
TĐ7ND: NT Khôi K16, NT Lô K18, NT Em K19, ba ĐĐ nòng cốt Đăng, Hải, Cao K22, TV Quyền K23
TĐ11ND: NT Mễ K18, NT Thành K19, NT Hải K19, Hùng Móm K22, NVN Long K23
Tăng cường:
TĐ6ND: NT Đỉnh K15, NT Tùng K19, Lý Văn Phúc K23
Hai Biệt Đội 81BCD dưới quyền chỉ huy của NT Lân K17.

Phái đoàn du ngoạn này không gọi là “Phái đoàn Đà Lạt” thì phải gọi là phái đoàn gì đây?
TĐ7+TS2 đi bằng xe “Ngựa” của công ty LĐI KỴBINH vào Long Hưng
TĐ5+TĐ11 đi máy bay của air VN đến làm lễ ở nhà thờ La Vang
Hai mươi bảy (27) ngày đêm phái đoàn được đón tiếp bằng pháo bông liên tù tỳ rực rỡ không thua gì đêm pháo bông Tết Tây ở Time Square New York, chỉ có điều trớ trêu là phái đoàn thưởng lãm pháo bông dưới giao thông hào hay hố cá nhân ngập nước. Chỉ ăn uống cầm chừng vì đã no bụng với 130ly xào tỏi ớt, 122ly hầm với SA7, gỏi T54 trộn với PT76. Một kỷ niệm khó quên. Khi tôi đã xâm nhập vào được Quận châu thành Mai Lĩnh, nín thở ém quân chờ TĐ7 còn đang khựng lại ở ngã ba Long Hưng, đêm hôm sau nửa đêm về sáng, Sông Lô TĐP một mình với hai HSQ mang máy vượt một đoạn đường gần một cây số để bắt tay với TS2 trong khi chiến xa của VC đang tuần tiễu trên đoạn đường này. Khóa 18 ôm Khóa 22 cười khằng khặc:
– Mạ mi, ta không ngờ mi mò vô tới đây.
– Chuột mà… niên trưởng! (Huy hiệu TS Dù là con Hải Sư tác giả là NT Cứ Thế Hoài K14.. nhưng khi in ra giống con chuột y chang, lại có ba tia sét màu đỏ trước miệng nên “tụi nhỏ” chọc quê là con chuột học máu)
Khi vào Tri Bưu, từng bước từng bước thầm… mò mẫm lên Hạnh Hoa Thôn tìm người tình bắc kỳ 304 (SĐ Điện Biên), tôi bị nó tạt một trái át xít B41 vào mặt tưởng trở về trình diện NT Bảo ở charlie rồi, cũng may chỉ ngủ một giấc “dăm ba phút trở về chốn cũ…” và nhận được tiếp viện khẩn.. trà rượu, cam táo của Tố Quyên K16, Minh Hiếu K14 gọi vấn an và cho biết UBL sẽ có ngay “Silver Star & V” vào vài ngày tới.
Vì “Danh Dự, Trách Nhiệm, Tổ Quốc”…. mà đàn anh đàn em cùng một trường Mẹ… rủ nhau lao vào những cuộc chơi bằng máu và nước mắt. Tôi đã mất đi một NT Tùng K19, một thằng bạn cùng khóa Hùng Móm K22, một đàn em NVN Long K23… Còn bao nhiêu nữa đã bị loại ra khỏi vòng chiến làm sao mà nhớ hết để kể lại ra đây ?
Có rất nhiều “Cây Viết có tầm cỡ” mô tả lại Kontum, An Lộc và Quảng Trị với nhiều công sức truy tầm nghiên cứu trên tài liệu sách báo, nhưng chắc không diễn đạt hết những cực kỳ man rợ tàn khốc của cái sống và cái chết trên chiến trường. An Lộc là Tử Thủ. Quảng Trị là Tử Chiến. Một là thủ hai là công, hai cái khác biệt nhau nhiều lắm. Cho nên dù là TQLC hay ND, BĐQ, 81BCD, Bộ Binh, Thiết Giáp, Không Quân… đã có không biết bao nhiêu đứa con yêu của trường Mẹ nói riêng và của Tổ Quốc nói chung đã một mai rơi rụng như chiếc lá lìa cành dưới những tràng “pháo bông” và tiếng xích sắt của những “xe hoa” không tương nhượng của bọn khát máu đồng bào và anh em cùng sinh ra một bọc Âu Cơ. Cớ chi giờ đây phải so bì hơn kém, công tội, hay dở… khi trò chơi bằng máu của hằng triệu người VN máu đỏ da vàng đã kết thúc.
Thua cuộc hay thắng cuộc? Tôi còn nhớ trong Đệ Nhất Thế Chiến khi Danh Tướng FOX đi ngang ngôi mộ của Napoleon có ghé lại chào và viết một câu trên bia:
“Công danh sự nghiệp của một con người không phải là lúc khởi đầu mà là lúc kết thúc…”
Hay câu viết của NT Lâm Quang Thi:
“Chúng ta thua một trận chiến, chứ chưa phải thua một cuộc chiến…”.

7799845404_a45d092852_c

Trải qua bao thế sự thăng trầm, sau nửa đời người một phần hai thế kỷ, ngày nay kẻ còn người mất, kẽ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn có khác gì nhau khi đã mang chung một giòng máu “Võ Bị”, cùng tung cánh dù lộng gió khỏi cửa phi cơ (ND), cùng nhẩy ào ra khỏi lòng trực thăng (BĐQ) hay nhẩy ùm xuống bờ biển nông lõm bõm lội vào bờ trước họng súng đang chờ của cọng nô (TQLC), hay lắc cánh “né đạn” dày đặc phòng không mà không biết hông, đuôi của mình lủng thủng lỗ đạn (KQ) hay đang ngồi trên pháo tháp chiến xa chợt nghe tiếng cà xịch cà xịch của SA7 đang ngoằn ngoèo lao tới vội phóng mình xuống đất (TG)…v.v và v.v…

Năm mươi năm rồi có khi nào Thầy giở sổ
Ngồi điểm danh lại… mấy đứa học trò xưa
Những đứa học trò đi vào khói lửa
Vắt tương lai trong bom đạn mịt mờ

(Trạch Gầm)

Quân trường chỉ có đổ mồ hôi, nhưng chiến trường đổ tới ba thứ: mồ hôi, máu và nước mắt. Các cấp Tướng lãnh, các Đại Niên Trưởng thì…thì…đổ mồ hôi “hột” nhiều hơn, bởi… “Nhất Tướng Công Thành…” cũng phải lau giọt lệ khi nghe tin một khóa đàn em hay một học trò của mình vừa nằm xuống, hay vừa bị mất một quận một tỉnh nào đó. Không biết giọt mồ hôi hột đó có nóng hơn giọt máu đào hay không?!

“Nỗi nhớ ngập tràn qua ly rượu
Ngồi mênh mang tưởng lại nẻo đường về
Đường Kontum bỏ lại sau lưng bao niên trưởng?
Vào An Lộc nằm xuống mấy kẻ “đồng môn”?
Ra Quảng Trị chôn vùi bao thân bách chiến?
Đoạn đường nào đốt cả quãng trời xanh?
Màu xanh đó…
Màu xanh của chiếc áo dài Võ Bị
Màu gợi nhớ…
Niên Trưởng Niên Đệ trên khắp nẻo chiến trường”


Út Bạch Lan K22
Tháng Giêng 2014

Quốc Kỳ

%d bloggers like this: