Trang chủ » Nữ Công Gia Chánh » Tiêu Khiển

Category Archives: Tiêu Khiển

Bức Tường Đá Đen ‘The Wall of Heals’ đến North Texas—Đinh Yên Thảo

TìmBạnCũ

Tìm bạn cũ (Hình: Đinh Yên Thảo

Đã đi qua khoảng 600 thành phố lớn nhỏ khắp nước Mỹ, bức tường đá đen The Wall that Heals đã về đến thành phố Garland, nơi tập trung đông đúc người gốc Việt tại Dallas, Texas. Đây là bức tường di động mô phỏng theo tượng đài tưởng niệm hơn 58 ngàn binh lính Hoa Kỳ tử nạn trong chiến tranh Việt Nam và vinh danh ba triệu lính Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam, đặt tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Bức tường ắt đã mang lại nhiều cảm xúc cho những người trực tiếp hay gián tiếp can dự vào cuộc chiến Việt Nam đến viếng.

Hình ảnh người đàn ông mang chiếc nón lưỡi trai có hàng chữ “Cựu chiến binh Việt Nam” đang tìm và tô tên một đồng đội nào đó của mình trên bức tường đá đen đập vào mắt, đã gây trong tôi một sự xúc động tức thời. Ông không phải là người duy nhất làm điều này vì có những người khác cũng đang dò tìm hay tô tên môt ai đó, có lẽ thân nhân của họnhững người đã nằm xuống trên mảnh đất Việt Nam xa xôi. Của trên dưới 50 năm trước. Vậy mà cuộc chiến đã chấm dứt gần nửa thế kỷ rồi sao?

Không mang những chiếc áo khoác có những hàng chữ liên quan đến Việt Nam như nhiều người cựu chiến binh khác đang đứng trò chuyện quanh đó, người chiến binh già gốc Mexico mang kính đen, nón lưỡi trai có thêu chữ “Vietnam Veteran” tên Rodriguez trông khá rắn chắc và khoẻ mạnh ở độ tuổi của ông. Rodriguez điềm đạm nhưng thân thiện, từng là một lính thủy quân lục chiến, 18 tuổi nhập ngũ và sang Việt Nam, phục vụ tại chiến trường Quảng Trị vào năm 1969. Con gái tôi hỏi ông bị quân dịch hay tình nguyện gia nhập quân đội. “Tôi tình nguyện”- ông trả lời. “Tại sao?” – con gái tôi hỏi tiếp, cô bé học lớp báo chí trong trường được đôi năm nay nên đã khá dạn dĩ để đặt câu hỏi và tiếp tục câu chuyện. Ông trả lời rất tự nhiên, “Quốc gia cần thì mình tham gia, có đúng không?”. Tôi gật đầu. Đất nước này là quê hương của ông, là nơi ông lớn lên, sống và phục vụ cho nó. Như bạn, như tôi, như con cái chúng ta, bất kể màu da nào. Trên bức tường kia ắt có hàng trăm cái tên họ như ông.

Chiến trường Quảng Trị khốc liệt, lại là Thủy Quân Lục Chiến nên ắt giao tranh nhiều. Tôi hỏi có bao nhiêu đồng đội của ông đã nằm xuống. Ông lắc đầu không nhớ. Người ông vừa tô tên trên bức tường là một người bạn láng giềng cùng nhập ngũ với ông. Rồi nằm xuống đâu đó tại Việt Nam, cùng với một người bạn khác mà ông đã dò tìm. Chúng tôi khá xúc động khi nghe ông kể thêm rằng, khi những người lính trẻ trúng đạn, lúc nào cũng kêu mẹ. Ông nói thêm, “có lẽ con trai luôn thương mẹ”. Quả thật, người lính trẻ chỉ vừa rời trung học, còn nhớ bữa cơm gia đình với mẹ, với cha đã vội đối diện với sợi tơ của hai bờ tử sinh. Rồi nằm xuống. Hầu hết những người lính tham chiến tại cuộc chiến Việt Nam là những thanh niên trên dưới 20, độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời.

Nó là câu chuyện về gói bánh cookie gói giấy của một người mẹ gởi con trai, được trưng bày trên bệ cửa kính của một bảo tàng dã chiến nho nhỏ mà chúng tôi vừa được xem và nghe kể trước đó. Bà gởi sang Việt Nam cho con trai để cuối cùng nhận trả về với hàng chữ lạnh lùng “KIA 10-31-1972”. Đã tử trận, “Killed in Action”. Đau khổ và giận dữ, bà giữ y gói bánh nhiều năm sau cho đến tận năm 1987, sau khi bức tường đã xây xong và đem đặt trước tên con tại bức tường đá đen với những hàng chữ yêu thương.

Hay câu chuyện về chiếc xe mô-tô “Gold Star Bike” cũng được đặt ngay khu trưng bày. Nó là chiếc xe mô-tô của một người cựu chiến binh tên là Steve Davenport tặng cho hội các bà mẹ có con tử trận rồi hội này tặng lại cho tổ chức VVMF (Vietnam Veterans Memorial Fund). Steve và Robert Cupp là bạn thân từ thiếu thời tại Virginia. Cả hai cùng nhập ngũ, Steve đồn trú tại Đức và Robert sang Việt Nam, rồi tử nạn năm 1968. Steve không dám gặp cha mẹ Robert vì sợ gợi cho họ sự đau đớn quá mức nhưng cuối cùng ông nghĩ ông sẽ thay bạn mình để an ủi người mẹ, trở thành như đứa con trong gia đình. Chiếc xe mô-tô của Steve có khắc tên Robert cùng tên vài chục người lính khác, trở thành một “đài” tưởng niệm những người lính tử trận và vinh danh những người mẹ mất con một cách thật đặc biệt.

Có bao nhiêu câu chuyện thương cảm tương tự như vậy? Chiến tranh quả tàn bạo với những người can dự, bất cứ phe nào. Cuộc chiến Việt Nam vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng khó lòng để nhìn chính xác từ một phía.

Dăm người cựu chiến binh khác chúng tôi trò chuyện có vẻ vui vẻ hơn, cười to trong những câu chuyện kể. Như Larry, dân Texas chính cống, sinh ra và lớn lên tại Dallas từng đồn trú tại căn cứ Không Quân tại Nha Trang năm 71-72. Chưa ra Đà Nẵng nhưng có vào Sài Gòn vài lần, Larry lặp lại với chúng tôi rằng Việt Nam đẹp. Ông có vẻ thú vị khi biết tôi từ Sài Gòn, quay sang chỉ tôi và nói với những người bạn cựu chiến binh khác về điều này. Không giao tranh, chạm súng với kẻ địch và chứng kiến những cái chết, tôi nghĩ có lẽ nỗi ám ảnh của ông về cuộc chiến nhẹ nhàng hơn những người như Rodriguez.

Từng viếng đài tưởng niệm tại Washington DC đã vài lần nhưng có lẽ lần này lại đã làm chúng tôi xúc động và có nhiều suy nghĩ hơn qua những điều nghe-thấy được. Tôi bảo con gái hãy cảm ơn những người cựu chiến binh và trò chuyện, hỏi thăm đôi điều với họ. Một phần là tôi muốn các con tôi hiểu thêm về cuộc chiến Việt Nam qua dăm câu chuyện sống thực với những người cựu chiến binh này. Những gì tạo nên cảm xúc sẽ đọng lại lâu hơn, khác với những bài học lý thuyết trong trường.

Như người cựu chiến binh gốc Mexico, Rodriguez, bất kể màu da nào thì các em cũng sẽ là những thế hệ di dân xem nước Mỹ là đất nước của mình, nơi các em sinh ra, lớn lên và sẽ phục vụ cho nó. Các em sẽ nhìn lại cuộc chiến với cái nhìn khác hơn những thế hệ đi trước, nhìn trong tâm thức cái tên “hàn gắn” mà bức tường đã mang hay bằng một tâm tình lạc quan, tri ân hơn. Bởi tác giả của đài tưởng niệm đầy ý nghĩa và được xem là một trong những công trình kiến trúc được yêu thích nhất tại Mỹ chỉ là một sinh viên kiến trúc trường Yale mới 21 tuổi là Maya Lin lúc bấy giờ. Maya chọn đá hoa cương màu đen cho bức tường để trong ánh nắng, người viếng sẽ thấy bóng mình phản chiếu trong đó. Để thấy mình là một phần của quá khứ. Và hiện tại. Cùng tương lai.

Nó tựa câu chuyện về chiếc mũ football của một em học sinh tặng cho tổ chức VVMF và được trưng bày tại đó. Em tặng chiếc nón chơi football và dải đeo tay đã gắn bó thân thiết với em suốt thời trung học. Em viết rằng sân banh là “chiến trường” của các em, nó không phải một chiến trường máu lửa mà những người nằm xuống đã đối diện để cho các em có được ngày hôm nay. Tôi nghĩ đó là tâm tình mà những thế hệ tiếp nối của nước Mỹ sẽ cưu mang khi nhìn về cuộc chiến Việt Nam hay bất cứ cuộc chiến nào.

Đinh Yên Thảo

 

Mừng Xuân 2020—Asia Entertainment

Vài Hình Ảnh Tập Văn Nghệ

Rước Xuân Về Nhà—Motif Music Group

Hài Kịch Cơm Và Phở—Asia Entertainment Official

Trang Lịch Sau Cùng—Trần Thị Phương Lan

Tờ lịch cuối cùng phơ phất bay
Sau cùng ngày cuối đến rồi đây
Ngày mai từ giã trần gian nhé
Sống trọn một năm hết kiếp này
Hãy nói đôi lời giã biệt thôi
Một năm bao hạnh phúc đầy vơi
Nắng cháy, mưa dầm, hay bão tố
Hòa bình, chinh chiến trọn buồn vui
Vừa Tết xong rồi đã Tháng Ba
Thu tàn, hạ tới lại đông qua
Noel, Phật Đản hay Nguyên Đán
Mới đến thì xưa sẽ nhạt nhòa
Ngẫm lại một năm có chạnh lòng
Thứ Hai chưa hết, Thứ Tư xong
Quay tới quay lui tuần lại hết
Ngày tháng thoi đưa thật lạnh lùng
Mỗi tờ lịch sống một ngày thôi
Ngày mai năm mới lại sang rồi
Tre già chết nhường măng búp mọc
Lâu mau gì, miễn sống phải vui
Một hai ba bốn năm giờ, phút 
Sáu bảy tám chín mười tháng, ngày
Vẫy chào lần cuối rồi vĩnh biệt
Ngoài kia trái đất vẫn cuồng quay…
tolichsaucung
Trần Thị Phương Lan
(Bút nhóm Hoa Nắng

Người Bạn Bên Đường—Nguyên Nhung

Từ lâu rồi tôi đã quen xem nó là người bạn thầm lặng của tôi, ở góc đường nơi gần đó có một trạm xe bus, mỗi tuần lễ tôi có 5 ngày, mỗi ngày có ít nhất 10 phút để gửi cho nó những tâm sự vẩn vơ của mình, khi không dễ tìm được ai đó biết nghe những điều mình muốn kể.

Mỗi buổi sáng bất cứ thời tiết nào, trạm xe bus này luôn luôn có một đám hành khách quen thuộc chờ xe đi làm, gần như đều biết mặt nhau và câu chào ngắn nhất là “Hi!” mỗi lần gặp. Theo thói quen, tôi thích ra khỏi nhà sớm hơn mười phút, đứng chờ xe mà cũng để tựa người vào gốc thông ven đường, gửi cho người bạn thầm lặng dễ thương vài điều suy nghĩ của mình trước những đổi thay của thời tiết, một biến động nào đó trong tâm hồn, hay những gì tôi bắt gặp trong đời sống xung quanh.

Những khuôn mặt hành khách thường xuyên gặp gỡ nhau trên một đoạn đường nào đó, bỗng làm cho mọi người dễ gần gũi nhau hơn, hôm nào vắng cũng cảm thấy hơi thắc mắc. Người ta có thể làm bạn với nhau từ những chuyện nhỏ nhặt như vậy. Isabel sau này là bạn đồng hành với tôi trên một quãng đường, và ngay cả Bob, ông tài xế da đen tôi tưởng là rất khó thương kia cũng có một tâm hồn dễ thương hơn màu da của ông nhiều lắm.

Tôi có thói quen đêm nào cũng đọc sách trước khi ngủ, hôm ấy khi mò đến cái kính thì không biết là mình đã đánh rơi ở đâu. Tôi nghĩ đến chuyện hôm sau phải đi mua cặp kính khác, nhưng sáng hôm sau khi lên xe, ông tài xế sau khi bấm thẻ, đã giơ ra trước mặt tôi cái bao kính màu nâu. Thật ngạc nhiên, thì ra ông tuy có vẻ lầm lì như không thèm biết những khách quen đi xe mỗi ngày, vẫn chưa hẳn là người không tử tế. Đứa bé gái chưa đầy năm rất bụ bẫm được mẹ bế tới nhà trẻ trước khi đi làm, ngày nào cũng nhoẻn miệng cười có vài chiếc răng sữa trắng nõn với những người hành khách ngồi gần mẹ nó, nụ cười trẻ thơ rất hồn nhiên như ly cà phê nóng, như chiếc “donut” tươm đầy mật gửi cho những người xung quanh một chút vui tươi, an bình cho một ngày vật lộn vì sinh kế.

Tối qua trời lạnh, gió rền rĩ trong những vòm cây trong vườn, gió gào thét trên mái nhà rồi luồn vào mái hiên, khiến tôi nghĩ đến cái tổ chim sẻ bằng cỏ khô, vẫn liếp chiếp mượn mái hiên nhà tôi làm tổ ấm. Trời rét, gió thổi rung bần bật những thân cây trong vườn, chắc người bạn thầm lặng là cây thông bên đường của tôi cũng quằn quại chống trả với cơn gió mùa đông khắc nghiệt. Sáng nay gió đã rủ nhau đi xa, trời lại yên tĩnh với cái rét ngọt luồn vào xương tủy. Đứng nép sau gốc thông là ông già râu bạc, người khách quen của chuyến xe bus, mỉm cười chào tôi, cả khuôn mặt trốn kỹ trong chiếc mũ len chỉ thò ra đôi mắt, cái miệng có chòm râu bạc. Ngày nào ông cũng đợi chuyến xe đi vào “down town”, chẳng biết ông làm gì nhưng rồi có một ngày tôi cũng biết, khi bắt gặp ông với tấm bảng giấy đứng bên lề đường, giữa dòng xe cộ qua lại đông đúc. Hóa ra ông là một người “homeless” sống ở dưới cái gầm cầu nằm trong khu ngoại ô ít xe qua lại, tôi đã nhìn thấy ông ở một góc đường trong “down town”, với mảnh giấy carton viết xiên xẹo mấy dòng chữ.

Mỗi sáng ông chịu khó đón xe đi vào một nơi không ai biết ông là ai, để trốn tránh một hiện tại đau khổ. Không một mái nhà, không gia đình,  hình như có hôm đi dạo quanh khu nhà, tôi đã nhìn thấy một người homless sống dưới gầm cầu, che chắn kỹ lưỡng chỗ ngủ của mình bằng những mảnh thùng cứng chất xung quanh một cái xe lấy ở khu chợ nào đó. Không hiểu có phải ông già râu bạc đã chui từ dưới gầm cầu lên để nhập vào đám hành khách mỗi ngày trên chuyến xe lúc bảy giờ sáng.

Ông thường ngồi ở hàng ghế phía sau con bé con chưa đầy năm, để được nhìn ánh mắt trong veo và cái miệng toe toét cười của nó dành cho ông. Con bé thỉnh thoảng nhoai người xuống để cười với ông, giơ bàn tay bụ bẫm bé xíu ra như muốn nắm lấy ngón tay thô kệch của người đàn ông nghèo khổ đang ngoắc ngoắc nó, nhưng ông không bao giờ dám chạm vào bàn tay non nớt của đứa bé thiên thần, chỉ vì đâu đó có một khoảng cách mà ông tự cảm thấy toát ra trong đôi mắt của mọi người xung quanh.

Năm nào tôi cũng nhận được nhiều tấm thiệp Giáng Sinh, hình ảnh và màu sắc tươi vui từ bằng hữu xa gần gửi đến, kèm theo những lời chúc tuyệt vời cho mùa Lễ đẹp nhất trong năm. Tôi nghĩ đến ông già râu bạc, đến người con gái Mễ Tây Cơ hay bấm chuông cho tôi xuống khi xe sắp đến trạm, người mẹ bế đứa con thơ, bà Mary hay ngồi ở hàng ghế đầu cạnh cửa đi lên đi xuống, hay người tài xế da đen quen thuộc trên chuyến xe quen mỗi ngày. Sáng hôm đó trước khi lên xe, tôi đã hỏi thầm điều đó với người bạn thầm lặng của mình, nghe tiếng reo vi vu trong gió, chắc chắn là đã đồng cảm về dự định của tôi trong mùa Giáng Sinh năm nay, đó là chuyện sao không gửi cho những người bạn mỗi ngày của mình một tấm thiệp Giáng Sinh đơn sơ mua ở một tiệm 99 cents phía bên kia đường, với câu chúc đẹp nhất trong mùa Giáng Sinh.

Vài ngày trước lễ Giáng Sinh, những tấm thiệp đã được tôi gửi đến từng người bạn đồng hành thân thiết của tôi trên chuyến xe buổi sáng, tôi nhận thấy nét hân hoan cảm động trên khuôn mặt mỗi người, và nụ cười với hàm rắng trắng bóng của người tài xế da đen bỗng dễ thương hơn, ông ta đang huýt sáo một bản nhạc giáng sinh có âm điệu vui tươi. Ông già râu bạc vẫn nháy mắt cười với đứa bé nằm trong nôi, con bé hôm ấy được mẹ quấn thêm lớp chăn mới rất ấm. Ông có vẻ xúc động khi nhận tấm thiệp giáng sinh của tôi, hàm râu bạc rung rung khi đôi môi muốn nhếch một nụ cười mà lại méo xệch đi vì cảm động, rồi khi nhìn thấy tờ giấy mười đồng tôi gấp nhỏ trong lòng tấm thiệp, dường như đôi mắt ông mờ đi dưới màn lệ mỏng. Dù không nói ra nhưng chắc ông đã hiểu hết tâm tình của tôi khi gửi đến ông món quà nhỏ bé ấy, như cây thông bên đường, người bạn thầm lặng của tôi, tôi chỉ âm thầm kể cho nó nghe những gì ấp ủ trong lòng mình, rồi khi gió reo vi vu những cung đàn êm ái từ ngọn thông xanh, đấy có phải là câu trả lời dịu dàng nhất mà tôi nhận được.

nguyennhung

Buổi chiều trước tuần lễ Giáng Sinh, tôi trở về nhà với một nỗi buồn ngổn ngang nặng trĩu trong lòng. Bao giờ cũng thế, những buổi chiều đông nhạt nhòa ẩm lạnh cũng làm tâm hồn gây gây một nỗi buồn không duyên cớ. Đi ngang ngôi nhà thờ nhỏ đã thấy người ta giăng đèn sáng trưng, chỉ một màu trắng lung linh trên cây thánh giá. Vẳng trong chiều tà là tiếng chuông trong trẻo vang lên trong ngôi giáo đường thơm mùi gỗ thông, gợi cho tôi nhớ đến những mùa Giáng Sinh thời trẻ tuổi. Bên này đường, người bạn dễ thương của tôi vẫn lặng lẽ trong bóng tối của buổi chiều tà, khi đi qua tôi không bao giờ quên sờ vào thân gỗ xần xùi của nó, một mảnh vỏ bé xíu rơi vào tay tôi để lại một mùi thơm hăng hắc mà dễ chịu vô cùng. Tôi nhìn lên ngọn thông, chào nó và đi về nhà với mùi hương của miếng vỏ thông còn vương trên những ngón tay, như ngày xưa thời hoa mộng, mùi hương của buổi hẹn hò vẫn còn vương vấn trong lòng người thiếu nữ.

Sáng nay, trước khi lên xe tôi đã đứng chờ khá lâu nơi gốc thông ven đường, không thấy ông già râu bạc chờ xe như thường lệ, tự nhiên tôi lại băn khoăn chờ đợi. Bà Mary đã nghỉ sớm để sửa soạn nhà cửa mừng lễ Giáng Sinh với đứa con ở xa về, chuyến xe hôm đó chỉ có cô bé Mễ Tây Cơ luôn miệng kể chuyện, người phụ nữ trẻ vẫn bế đứa bé gái lên xe đúng giờ, rồi khi xe sắp chạy mà vẫn chưa thấy bóng ông già râu bạc. Isabel nhanh miệng tỏ ý thắc mắc về người bạn đồng hành già nhất đã vắng mặt trong chuyến xe, rồi lại quên ngay khi quay sang hỏi tôi về cách nấu món “soup” phở mà cô đã thưởng thức một lần ở quán ăn Việt Nam.

Buổi tối về nhà trong căn phòng ấm áp, cây thông nhỏ ở góc bàn vẫn thi nhau chớp lên những tia sáng nhiều màu thật đẹp, hắt lên khuôn mặt xinh xắn của con búp bê tật nguyền đứng trong tủ sách một vẻ đẹp huyền ảo. Con búp bê tật nguyền mà tôi luôn mang theo đời mình từng chặng đường đời, vẫn là một kỷ niệm Tình yêu Giáng Sinh đẹp nhất trong đời tôi. Mỗi năm, gần bốn mươi năm rồi nhỉ, năm nào tôi có lúc như một đứa trẻ con, say sưa may cho con búp bê tật nguyền một cái váy đẹp, thắt một cái nơ cùng màu áo lên mái tóc xác xơ của nó. Ngày xưa con búp bê xinh đẹp như một thiếu nữ tuổi mười lăm, lành lặn và duyên dáng trong bàn tay của tôi ở tuổi hai mươi, đã bị mấy đứa trẻ con nghịch ngợm dành giựt đến nỗi một chân của nó bị kéo lìa ra và không còn trở lại được tình trạng cũ. Nó vẫn đứng đó với khuôn mặt kiều diễm không bao giờ thay đổi, đôi mắt to và hàng mi cong nhìn tôi như thuở ban đầu. Con búp bê vẫn thế, chỉ khác là cái chân bị tật nguyền nên dáng đứng hơi lệch lạc, còn tôi, tôi không phải tôi của những năm tháng cũ.

Ôi kỷ niệm! Dường như con người hay mang theo trong đời mình những kỷ niệm, mặc dù kỷ niệm đẹp nhưng với thời gian bao giờ cũng trở thành kỷ niệm buồn. Tôi cũng không vượt qua được điều đó dù tiếng chuông trong trẻo mùa Giáng Sinh của hiện tại, vẫn gieo vào lòng tôi nỗi khắc khoải sầu muộn. Tôi vẫn chỉ kể cho người bạn thầm lặng bên đường toàn những nỗi buồn vu vơ, để rồi nghe tiếng lá reo trên khoảng trời mênh mông, tôi nhận lại làm niềm vui mỗi ngày của đời mình. Dưới gốc thông ấy có bao nhiêu người dừng chân ở đó, họ có bao giờ nghĩ nó như một người bạn thầm lặng bên đường? Ông già cựu chiến binh râu bạc vào mùa Đông cũng hay nép vào đó trốn gió, có khi nào ông cảm nhận được sự chia xẻ của nó qua tiếng lá reo trên khoảng không bát ngát?

Đêm đã khuya mà tôi vẫn trằn trọc khó ngủ, cảm thấy thiêu thiếu một điều gì trong khoảng không gian quạnh vắng. Tôi nghĩ đến những bản nhạc Giáng Sinh qua tiếng đàn của Clayderman, trong cái CD người bạn gửi tặng. Tiếng đàn dương cầm của người nhạc sĩ tài ba lan lan, bồng bềnh theo giấc ngủ, ở đó có một mùa Giáng Sinh và những bức tượng Thánh trong ngôi giáo đường xa tít tắp, lâu lắm rồi tôi đã bỏ quên trong ký ức. Tôi còn hình dung ra khuôn mặt say sưa của người nhạc sĩ và đôi tay của ông đang lướt trên phím đàn, đêm trôi đi như một dòng sông. Tiếng dương cầm của Clayderman dìu dặt thánh thót đưa những cung bậc của âm nhạc trong đêm khuya làm tim tôi chảy ra những giọt lệ…

Buổi sáng tôi dậy sớm, dù đêm ngủ không ngon giấc, lại nghĩ đến người đàn ông râu bạc hôm qua không thấy đón xe đi về down town, làm người hành khất đứng bên lề đường với tấm carton viết lộn xộn những hàng chữ. Ông ta có đau ốm gì không, cuộn mình trong cái túi ngủ dưới gầm cầu có đủ ấm trong mùa đông, những mảnh thùng giấy có đủ sức che được những hạt mưa và gió lạnh lùa vào tấm thân khốn khổ của kiếp không nhà? Bao nhiêu câu hỏi cứ chờn vờn trong óc tôi với một sự so sánh đơn giản thế nào là hạnh phúc và không hạnh phúc. Tôi định rằng sáng nay, một buổi sáng áp lễ Giáng Sinh, tôi sẽ đón xe sớm hơn bình thường để thủ thỉ với người bạn bên đường nỗi trăn trở của mình, và cũng muốn biết hôm nay ông già râu bạc có đến trốn gió sau cây thông để đi “down town” như mọi ngày không?

Buổi sáng áp lễ Giáng Sinh năm nay tự nhiên trời ấm áp và ít gió, thật là một điều may mắn hạnh phúc cho ông già râu bạc ở gầm cầu. Tôi linh tính như ngày hôm nay mọi điều đều tốt đẹp hơn cho mình, kể cả cây thông bên góc đường gần trạm xe bus. Đúng như tôi nghĩ, ông già râu bạc đã lấp ló đứng sau gốc thông, thấy tôi đi tới ông toe miệng còn vài chiếc răng sún ra cười, và điều ngạc nhiên hơn cả là nơi gốc thông, có một vòng nơ quấn quanh gốc cây, lại thêm chùm trái châu lóng lánh bạc gắn lên chiếc nơ đỏ. Món quà Giáng Sinh mà ông già râu bạc nghèo khổ đã mang đến cho người bạn bên đường, cây thông của chúng tôi, tôi bỗng chợt nhận ra hạnh phúc là niềm vui mà mọi loài có thể chia cho nhau lại từ những nhỏ nhoi nhất.

Nguyên Nhung   

Gheorghe Zamfir & Andrea Griminelli in Andrea Bocelli World Tour

Cám Ơn Nước Mỹ, Cám Ơn Cuộc Đời—Lê Xuân Mỹ

Tác giả đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2019. Là con của một sĩ quan tù cải tạo, ông đã góp 3 bài viết xúc động, kể lại việc một mình ra miền Bắc, đạp xe đi tìm cha tại trại tù Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa Sau đây là bài viết mới nhất của Ông nhân ngày lễ Tạ ơn

****

Như trong bài hát ” Khóc một dòng sông” của nhạc sĩ Đức Huy, ” Cũng may thời gian qua vun vút không như Sài Gòn”, quay qua quay lại cũng đến ngày về hưu. Mới đó thấm thoát cũng đã trôi qua hơn 20 năm trên nước Mỹ này.

Gần 70 năm cuộc đời với bao nhiêu gập ghềnh sóng gió. 25 năm dưới chế độ Cộng Hoà, 23 năm với Cộng Sản và 21 năm trên một miền đất thật xa quê nhà. Những quảng đời với những xúc cảm thật khác nhau. Những ngày hạnh phúc thời Việt Nam Cộng Hoà, những năm tháng tủi nhục sau 1975 và thời gian an bình trên xứ người. Kỷ niệm nhiều không kể xiết. Có những giây phút rất muốn giữ lại trong trí nhớ nhưng cũng có những khoảnh khắc muốn quên nhưng không thể nào quên được.

Đã đi qua hết ¾ của cuộc đời. Đã đến lúc phải dừng lại những đam mê, những tham vọng, những toan tính. Thanksgiving là ngày tôi chọn để “gác kiếm, qui ẩn”. Một ngày rất dễ nhớ cho một quyết định đặc biệt và quan trọng của đời người.

Vê hưu chính là lúc nhìn lại chặng đường đã qua để chuẩn bị một cuộc sống sắp tới. Nếu ví đời người như thời gian với 4 mùa, thì tôi đang bắt đầu những tháng ngày mùa đông. Nhìn lại không phải để hối tiếc mà để nói với đời một tiếng cám ơn, mặc dầu thế hệ chúng tôi thật sự không may mắn. Sinh ra trong những năm 1950-1951, cho đến ngày mất nước, thời gian thanh bình quá ngăn ngủi. Nhưng cũng trong nhờ vậy chúng tôi mới cảm nhận hết được nỗi bất hạnh của những ngày còn ở lại quê nhà, để tự mình chứng kiến, trải qua những đau khổ tột cùng và do đó mới thấy hết cái giá trị của sự tự do và hạnh phúc nơi quê nguời.

Ở xứ Mỹ này có rất nhiều ngày để nhớ: lễ mẹ , lễ cha, lễ độc lập, lễ tình nhân…Ngày lễ nào cũng có một ý nghĩa rất riêng, nhưng có lẽ Thanksgiving là một ngày ưa thích nhất của tôi. Bởi vì không có gì ý nghĩa hơn là lúc nhắc ta nhớ đến những ơn nặng nghĩa sâu. Nhớ để cám ơn đời, cám ơn người.

Trên tất cả xin được nói lời cám ơn nước Mỹ, cám ơn miền đất không phải nơi tôi sinh ra nhưng chắc chắn sẽ ôm ấp tôi những ngày còn lại. Cám ơn một đất nước có thể không phải là thiên đường nhưng chắc chắn không là địa ngục. 21 năm sống trên đất nước này, có nhiều điều rất thích nhưng cũng có những việc không bằng lòng. Vẫn còn đó những bất công, vẫn còn đó khoảng chênh lệch quá mức giữa giàu nghèo. Không chiến tranh nhưng vẫn có những bất an của súng đạn. An nhàn nhưng vẫn còn những nỗi lo của những ngày hưu trí. Những băn khoăn về bảo hiểm…Những điều không vừa lòng vẫn còn nhiều lắm, nhưng để ghét, để rời bỏ đất nước này như lần giã biệt quê nhà 21 năm về trước, chắc chắn sẽ không bao giờ vì với tôi, với gia đình tôi, nước Mỹ là ân nhân.

Và có lẽ chỉ những ai sống trong hoàn cảnh của gia đình tôi, những người con của một sĩ quan Cộng Hoà chết trong trại cải tạo, ở lại lây lất trong một thành phố đầy thù hận suốt mấy mươi năm mới hiểu hết được cái ý nghĩa của cảm kích, ý nghĩa của ân huệ, của tự do và tình người.

Những năm sau này, mặc dầu vẫn còn quá nhiều người nghèo khổ tại quê nhà, nhưng cũng có những người bằng những cách khác nhau trở nên giàu có. Đi ra nước ngoài để chơi, để định cư là một việc không quá khó khăn. Nhiều người thích đất nước này nhưng cũng có không ít xem miền đất này như một nơi tạm dừng chân. Có người bạn tôi tuyên bố: Việt Nam sướng hơn nhiều, tội gì định cư ở đây. Mỗi người có một hoàn cảnh, chỉ có điều khi tôi thắc mắc hỏi: “ông chê sao ông qua đây mua nhà, tốn tiền chạy chọt cho con cháu học rồi ở lại luôn”. Hình như không có thằng bạn nào trả lời.

Tôi nhớ có lần thằng bạn thời trung học từ Úc qua thăm, đem cho tôi bảng danh sách những thành phố đáng sống nhất trên thế giới. Hắn nói Melbourne của Úc đứng nhất nhì gì đó, rồi đến Canada, Na Uy… và hình như không có thành phố nào của Mỹ trong 10 hạng đầu. Hắn nói y tế Mỹ không bằng Úc. Cuối cùng hắn phán một câu xanh rờn. Có dịp mày qua Úc chơi sẽ biết. Tôi thì chưa có dịp đi Úc chỉ biết, nó có 2 đứa con trai, cả hai đứa đều sang Mỹ học, tốt nghiệp ra làm việc và định cư luôn tại Cali.

Bạn tôi nhiều đứa sau này ở lại Việt Nam, làm ăn khấm khá, năm nào cũng qua Mỹ chơi.

Hắn nói ở Việt Nam sướng hơn, nhưng con cái thì toàn ở Mỹ. Nhiều người ở đây ba bốn mươi năm nói “nghỉ hưu về Việt Nam dưỡng già”. Nói thì nói vậy chứ chuyển từ ” dự định” đến “thực hiện” chắc đến hết đời người vẫn chưa xong.

Mà thôi nói cho vui, ai về thì về,chứ biểu tôi rời bỏ nước Mỹ, không bao giờ. Sẽ không bao giờ tôi rời bỏ đất nước này bởi vì quên làm sao được cái nghĩa tình của những ngày đầu khốn khó.

Nhớ lại những ngày đầu tiên chân ướt chân ráo đến Mỹ, tôi về sống tại Tulsa. Một thành phố nhỏ bé thật hiền hoà, tuy không có nhiều người Việt Nam như Cali nhưng tình cảm thật đậm đà. Luôn nhớ đến những chăm sóc thật thân tình của những người Việt và cả của những người bản xứ đối với một gia đình đang còn lạ lẫm trên thành phố này. Nhà thờ Việt Nam đem cho những thùng áo quần, nhà chùa đem cho những đồ dùng, nồi cơm điện, nhà thờ Tin Lành đem cho đồ chơi cho hai cháu nhỏ. Những người hàng xóm đem từng món ăn. Những ngày đầu chưa có xe ở tạm nhà em gái, có một mục sư cùng xóm mỗi ngày chở đi làm giấy tờ, đi xin trường cho các cháu, tìm việc làm cho hai vợ chồng.

Giáng sinh đoàn tụ đầu tiên của đại gia đình chúng tôi thật ấm áp mặc dầu bên ngoài trời mưa tuyết. Tôi cứ nhớ mãi cái hình ảnh của bà người Mỹ già nhà đối diện. Nửa đêm đội mưa gõ cửa nhà chúng tôi để chỉ đưa một dĩa bánh cokkies nóng hổi kèm theo lời chúc “Merry Christmas and Happy New Year”. Không bao giờ chúng tôi quên được tình cảm của những người láng giềng dành cho chúng tôi trong thời gian đầu định cư. Ngay cả khi về ở với mẹ tôi trong khu low income Meadow, thời gian đầu vợ chồng con cái ít khi ra khỏi nhà nhất là vào ban đêm. Cái khu toàn người nghèo, lợi tức thấp đủ mọi sắc dân. Một ít gia đình người châu Á còn toàn là người Mễ và Mỹ đen. Nhìn bộ dạng mấy ông bà to lớn, hay tụ tập thành từng nhóm quanh khu xóm, cười nói ồn ào, nên cũng hơi sợ. Nhưng ở lâu lại thấy mến cái hiền lành và tốt bụng. Có lần trên đường đi làm về, tôi bị trượt xe dạt vào lề vì đường đông đá sau mưa tuyết, phải nhờ ông Mỹ hàng xóm ra kéo xe về giùm. Ở một thời gian rồi cũng quen dần cái nhộn nhịp và ồn ào của xóm nghèo nhưng cũng rất nghĩa tình này. Có lần mưa đá làm lũng một lỗ thật lớn trên mái nhà phòng ngủ. Nước vào đầy nhà từ mái. Qua hàng xóm cầu cứu báo hại nửa đêm 2 tay Mỹ đen cởi trần trùng trục leo lên mái hì hà hì hục lấy tăng che tạm cho khỏi dột. Sau này dọn nhà đi chỗ khác nhưng cứ thấy nhớ cái khu Meadow, lâu lâu lại chạy về thăm lại mấy ông bà hàng xóm.

Sau này vì cuộc sống vì nỗi khao khát được làm việc trong một công ty kỹ thuật lớn, có công việc phù hợp tôi di chuyển qua San Jose . Mặc dầu chưa bao giờ hối tiếc về sự lựa chọn của mình sau gần 20 năm sống trên miền đất phía Bắc Cali này, nhưng tôi luôn nhớ về thành phố hiền hoà nhỏ bé đó. Tulsa như Huế quê ngoại của tôi, trầm lắng, dễ thương và nghĩa tình.

Không chỉ Tulsa, San jose cũng đối xử với tôi thật ấm áp. Người Việt Nam đông, bạn bè nhiều, khí hậu tuyệt vời, Silicon valley cũng giống như thành phố Sài Gòn nhộn nhịp của tôi những năm trước 1975. Nơi bắt đầu lại của tôi và cũng là nơi đã cứu sống mẹ tôi không biết bao nhiêu lần.

Về sống với gia đình tôi khi bệnh của mẹ trở nặng. Mẹ vừa bị alzheimer, vừa bị tiểu đường, vừa cao huyết áp, vừa cao mở. Nói chung ở cái tuổi 76 khi mẹ vê đây, mẹ có đủ thứ bệnh. Nhờ khí hậu ấm áp, bác sĩ Việt Nam nhiều, vấn đề theo dõi bệnh dể dàng, sức khoẻ mẹ cũng đở hơn. Nhưng ở cái tuổi già thì những rũi ro, biến chứng cũng càng nhiều. Mẹ ra vào nhà thương không biết bao nhiêu lần.

Có lần đang ngồi coi tivi, cảm thấy hơi mệt nằm xuống sofa, mặt mày tái mét. Đo đường xuống dưới 40. Chưa kịp cho ăn ngọt thì mắt dại ra, mẹ gần như coma. Gọi cấp cứu. May mà chỉ 5 phút xe emergency tới ngay trước cửa nếu không là đi luôn.

Có lần áp huyết tăng cao (chắc là nửa đêm mở tủ bếp ăn hết chén mắm khoái khẩu), lại xỉu. Lại 911 cấp cứu. May mà tại xứ này chứ ở Việt Nam như mẹ vợ tôi thì ra đi từ lâu. Nội cái đợi xe cấp cứu vô được cái xóm nhỏ, qua hai ba cái chợ chồm hổm đầu đường chắc là không kịp với cái ông thần chết đang đứng chờ chực cạnh giường.

Phải công nhận với những người ở cái class lưng chừng như tôi thì mới lo chứ với những người già không tài sản như mẹ tôi, nước Mỹ đúng là thiên đường. Hàng tháng có tiền già, vô bệnh viện, tiền thuốc men không tốn một xu. Mà thuốc đâu phải rẽ. 13 loại thuốc. Vừa uống vừa chích. Nhìn cái giá thuốc chính phủ phải trả thay cho bệnh nhân là đủ chóng mặt. Chưa kể khi vào bệnh viện, nhìn cái bill bảo hiểm trả cho bệnh viện là xỉu.

Nội cái chi phí chữa chạy cái chân gãy của mẹ chắc cũng mất toi số tiền dành dụm của tôi trong suốt 20 năm trên đất Mỹ. Cũng nhờ vậy dù nhớ nhớ quên quên mẹ vẫn còn sống với chúng tôi cho đến hôm nay.

Cám ơn đất nước này và cám ơn cuộc đời đã cho tôi sống những thời gian với đầy đủ cung bậc của cảm xúc. Những vô tư của tuổi nhỏ, những lãng mạn của một thời mới lớn, những hạnh phúc của tháng ngày đoàn tụ và tự do. Dù không mong muốn nhưng cũng phải cám ơn cuộc đời đã cho tôi nếm được nỗi đớn đau của những chia xa trong những tháng ngày đen tối. Nỗi cô đơn của những ngày lưu lạc xa quê. Để rồi là những hạnh phúc của những lần gặp lại mẹ, anh em và bạn bè .

Xin được cám ơn ba, người sĩ quan chế độ Cộng Hoà chết trong trại cải tạo. Không có ba, không có những hy sinh của cha ông, đồng đội, bạn bè, chúng con đã không có những tháng năm thanh bình. Và khi cuộc chiến kết thúc, ba vẫn kịp đánh đổi mạng sống cùng với những tháng ngày bi thảm trong trại cải tạo để cho mẹ và các con, các cháu của ba cơ hội qua miền đất tự do này. Bao nhiêu năm ba vẫn luôn theo dõi và phù hộ gia đình chúng tôi.

Cám ơn mẹ, người đàn bà vĩ đại đã dành hết tuổi thanh xuân và đời mình cho chồng cho con. Người đàn bà goá chồng ở tuổi 49, một mình với 9 đứa con còn nhỏ dại, lăn lóc để tồn tại qua những nhiểu nhương và hận thù. Người vợ của một sĩ quan thua trận, vượt qua từng ngày, trải qua từng bữa, cuối cùng cũng đem được toàn bộ gia đình đến bến bờ tự do.

Xin được cám ơn em, đã cùng tôi vượt qua bao gập ghềnh sóng gió. Em đã luôn cạnh tôi trong những giờ phút bi thảm cũng như những khoảnh khắc yêu thương. Mới đó mà chúng ta đã ở bên nhau trọn vẹn 43 năm. Bắt đầu bằng một đám cưới với chiếc nhẫn đính hôn 1 phân vàng và thiệp mừng đám cưới là tấm giấy “mời” đi kinh tế mới vào ngày hôm sau, em đã cùng tôi nếm đủ mùi vị của gian khổ, cay đắng và tủi nhục. Vẫn luôn nhớ mãi cái chặng đường đã qua đó. Cám ơn tình yêu của em.

Còn phải cám ơn nhiều nhiều nữa. Cám ơn tình nghĩa bạn bè. Cám ơn tấm lòng những đứa cháu. Cám ơn những đứa em. Cám ơn những đứa con lương thiện của tôi. Trong những ngày cuối thu của miền Thung Lũng Silicon, đứa con trai đầu của một người tù chết trong trại cải tạo năm nào đã không còn trẻ nửa. Đang bước vào tuổi” Thất thập cổ lai hy”, rổi sẽ có ngày sẽ nhớ nhớ quên quên như mẹ. Nên trong cái ngày Thanksgiving này không thể nào không viết, không thể nào không nói những lời cảm ơn.

Sẽ chưa phải là lần cuối cùng, xin được nói tiếng cám ơn Việt Báo và Viết Về Nước Mỹ. Việt Báo đã làm một nhịp cầu cho chúng tôi được trải lòng qua những mẫu chuyện đời. Những câu chuyện thật đời thường nhưng nếu không được ghi, kể lại có lẽ rồi sẽ đi vào quên lãng. Có lẽ sẽ mất hút đâu đó trong cái trí nhớ đang già nua của tôi. Nhờ Việt Báo, qua những bài viết về cuộc đời, tôi đã tìm gặp lại những người bạn, những người thân đang lưu lạc khắp nơi. Như những mãnh vỡ của quê hương được góp nhặt để ghép lại thành một quê nhà thứ hai trên xứ người. Nhờ vậy chúng tôi sẽ không bao giờ mất đi quê hương Việt Nam yêu dấu.

Lê Xuân Mỹ (Việt Báo)

San Jose, Thanksgiving 2019

 

The 10 Happiest Countries To Live In The World 2019—Around The World

World By Drone—theworldtravelguy

Saving Private Ryan (1998) | War Movies HD

Đừng Nhớ Người Xa—Hoàng Thục Linh | Motif Music Group

 

 

Đoàn Vượn Vói Trăng—Nguyễn Thị Hải Hà

Ban đầu bà không chú ý, nhưng gặp nó nhiều lần bà bỗng đâm ra nghi ngờ, phải chăng đó chỉ là ảo giác của bà?

Hôm nọ, bà đi đám tang. Người qua đời là chị vợ của anh xếp, người Mỹ. Nhà quàn ở gần trạm xe lửa Fanwood cách trạm Dunellen của bà, ba trạm. Mặc dù những người làm việc chung đề nghị bà đi chung xe với họ, bà khăng khăng từ chối.

– Giữa mùa đông mà trời ấm đẹp quá tôi muốn lợi dụng cơ hội này đi bộ vài con phố chừng năm phút cho thoải mái. Sau đó tôi sẽ đón xe lửa về nhà, giản dị lắm, các bạn không phải mất công đưa đón tôi.

Bà thích đi một mình. Nhất là bà biết trong số người đi dự đám tang có bà thư ký thối mồm. Cứ tưởng tượng ngồi chung xe, bà ta nói luôn mồm, và hơi thở của bà được dịp toát ra. Chỉ nghĩ đến thế bà đã thấy buồn nôn.

Bà đến trạm xe lửa Fanwood sớm hơn giờ ấn định khoảng 15 phút. Mùa Đông năm nay ấm bất thường. Người ta bảo rằng đây là triệu chứng bầu khí quyển bị hâm nóng. Fanwood là một trạm xe lửa nhỏ, thuộc loại di tích cổ, xinh xắn nhưng ít người dùng. “Nó,” ngồi cạnh bụi hoa tú cầu. Hồi mùa hè, bụi cây mọc um tùm cao hơn đầu người lấn che khuất cả lối đi hơi hẹp. Bây giờ, bụi cây chỉ còn là cành khô nên lối đi dường như rộng hơn. Nó ngồi quay lưng về hướng bà, cách độ mười mét. Thoạt nhìn bà tưởng nó là con sóc. Nếu là sóc thì hơi bé và màu đen thì khá hiếm. Chung quanh vắng tanh, không có gì để nhìn ngắm nên bà để ý đến nó hơn. Nhìn một hồi, cách nó bóc vỏ hạt dẻ đưa vào miệng nhấm nháp thì bà nhận ra nó là con vượn. Vượn đen. Xứ này là xứ lạnh, khu này tuy vắng nhưng vẫn là phố xá, làm gì có vượn chạy rong ngoài đường? Loại vượn này cũng rất hiếm vì nó rất bé, có thể nắm gọn trong lòng bàn tay. Tò mò bà đứng dậy đi gần đến nó thì nó bỏ đi. Đi bằng hai chân sau, lom khom với hai cánh tay thật dài. Một tay sờ đầu tay kia để thõng chạm mặt đất. Từ xa, xe lửa đang hú còi trước khi vào trạm, ánh đèn lấp lánh làm bà lóa mắt. Bà quay lại nhìn có ý tìm nhưng nó biến mất.

Trước đó, bà đã thấy nó ở nhà quàn. Trong tấm ảnh treo trên tường, bà chỉ thấy cái lưng của nó thôi. Một phụ nữ tuy còn còn trẻ nhưng đã béo xồ xề, mặc áo màu xám bạc lóng lánh như dát kim tuyến với xâu chuỗi thật to che lấp cả vùng ngực đồ sộ của cô ta. Cô ta ngồi phía trước, lấp đi một phần tấm ảnh. Tấm ảnh sống động đến độ bà có cảm tưởng con vượn ngồi trên vai của cô ta. Bà thầm nghĩ, không biết cô này chưng diện để đi đám tang hay đi dạ tiệc. Ối sao bà khắt khe, bà tự mắng thầm. Nhà quàn vẫn là chỗ cho người ta tìm cách ký hợp đồng mua bán, hay móc nối để thăng quan tiến chức từ trước đến nay kia mà. Bà tò mò ngắm chung quanh, tự hỏi đến ngày mình qua đời khung cảnh có như thế này không. Khi mắt bà quay trở lại chỗ cũ, cô gái to béo mặc áo màu xám bạc lóng lánh đã rời chỗ ngồi. Con vượn không còn ở trong tấm ảnh nữa mà thay vào đó là con đường hun hút đi vào vô tận. Chắc là mắt mình quáng chứ ai lại treo ảnh vượn trong nhà quàn. Bà thầm trách mình.

Bà lại thấy nó ở cánh rừng sau nhà. Nó ngồi thu lu trên cành cây khô, thoạt nhìn tưởng con chim quạ. Nhưng khi nó đánh đu vắt vẻo rồi chuyền từ cành nọ qua cành kia. Lại cũng chính là nó, con vượn bà nhìn thấy ở nhà quàn. Bà gặp nó trước đó nhiều lần, ở góc phố, gần tiệm Pizza, thậm chí trong tường kính cửa sổ. Bà cho đó là ảo giác nhưng tự hỏi tại sao lại là con vượn mà không là một cái gì khác. Con vượn xuất hiện cùng lúc với cơn đau âm ỉ ở phía sau cần cổ, phía phải. Thỉnh thoảng hai chân bà yếu hẳn. Bà ngồi nhiều hơn đi.

Rừng có rất nhiều dây leo. Những sợi dây leo thật chắc, nhỏ thì bằng ngón tay, to thì bằng cổ chân. Có sợi từ bên trên thòng xuống khoanh thành nhiều vòng trên mặt đất. Nhìn thấy những dây leo này tận mắt sẽ nghĩ rằng chuyện đu dây của Tarzan, không phải chỉ hoàn toàn dựa vào tưởng tượng. Có sợi dây leo, lại dường như mọc từ dưới đất lên, vì nó chôn cứng dưới mặt đất và mọc song song với chiều cao của cây. Những sợi dây này giúp con vượn tuột từ trên cao xuống mặt đất dễ dàng và nhanh chóng.

Bà muốn gọi báo Cảnh sát là có con vượn ở đằng sau nhà, nhưng ngại hình ảnh con vượn chỉ là ảo giác trong mắt bà, khi Cảnh sát đến không thấy nó bà sẽ khó giải thích. Dẫu con vượn là sự thật thì chưa chắc nó đã ngồi yên một chỗ. Dự báo thời tiết sẽ lạnh nhiệt độ đêm nay sẽ rơi rất nhanh và có tuyết làm bà lo ngại. Đây không phải là vượn trắng mặt đỏ của người Nhật nên chắc là nó không chịu lạnh nổi. Bà tự hỏi có cách nào để dụ con vượn vào nhà để tránh cơn tuyết đêm nay không?

Con vượn dần dần đến gần bà. Từ trên ngọn cây, tụt xuống gốc cây, mon men đến ngồi trên đầu hàng rào bê tông, vượt khoảng sân nhỏ, rồi lên trên sàn gỗ. Nó ngồi ở bụi cúc khô nhìn bà như chờ được cho ăn. Da mặt nó đen bóng nhưng nét mặt giống một đứa trẻ. Một con vượn rất bé cao chừng chưa đầy hai tấc. Bà nhớ có nghe đến một loại vượn màu đen rất bé gọi là Hầu Viên, người bình dân gọi là con lọ nồi. Có mấy hạt walnut bóc vỏ sẵn đang cầm trên tay bà đưa cho Hầu Viên. Bà ngạc nhiên khi nó tiến đến gần đưa tay nhận walnut mà không có chút gì sợ hãi. Khi bà mở cửa sau trở vào nhà, Hầu Viên, như một đứa bé, nắm tay bà đi theo.

– Hầu Viên không sợ loài người à? Tôi đang định gọi Cảnh Sát đây.

Bà hỏi, không nghĩ là sẽ được nghe câu trả lời. Tuy nhiên, khi Hầu Viên chạm tay, bà nghe, âm thanh như vọng từ giếng sâu. Hầu Viên móc từ lỗ tai ra một cái gì đó giống như một quả nho đen, đưa cho bà rồi ra hiệu cho bà nhét vào lỗ tai. Đó là một viên ngọc đen bóng loáng. Hầu Viên giải thích.

– Đây là cái máy thông dịch các loại ngôn ngữ giữa người-và-người và người-và-vật. Chỉ cần một người có nó là cả hai sẽ hiểu ngôn ngữ của nhau như cùng nói một ngôn ngữ. Mãi đến lúc này bà vẫn không tin là bà nhìn thấy một con vượn đi theo bà khắp nơi nên tôi biết bà sẽ không nói với ai cả. Bà sợ người ta nghĩ là bà bị bệnh ảo giác. Bà chỉ than đau đầu mà người ta đã bắt đầu soi rọi bộ não của bà mấy lần.

– Vâng, họ bảo sợ rằng tôi có bệnh khối u trong não. Bà nói.

– Thật ra, chỉ có người tôi muốn cho thấy mới có thể nhìn thấy tôi. Vả lại, loài người không phải ai cũng đáng sợ. Chỉ có bóng tối trong tâm hồn họ mới đáng sợ thôi. Tôi không sợ bà vì biết tôi bà đã lâu, tôi biết bà trước khi bà nhận ra tôi, biết cả bóng tối trong tâm hồn bà.

– Biết tôi? Sao hay vậy?

– Tôi ở trong nhà bà từ lâu. Chỉ có điều là bà không nhìn thấy tôi thôi.

– Ở trong nhà tôi? Bằng cách nào? Bà hỏi. Nếu đã ở sẵn trong nhà tôi thì tại sao lại đi theo tôi vào cửa sau. Có phải tôi đã gặp Hầu Viên ở Fanwood không?

– Vâng. Chính là tôi đó. Còn ở nhiều nơi nữa, bà biết những nơi bà đã nhìn thấy tôi mà. Tôi muốn bà quen với sự hiện diện của tôi, kẻo đột ngột quá tôi e bà sẽ có những phản ứng không hay. Bà đã khá yếu rồi dù bà cứ tưởng là bà còn khỏe lắm. Chúng ta gặp nhau từ mấy mươi năm về trước, ở cửa hiệu bán quà trong viện bảo tàng Sackler Washington DC. Hôm ấy bà mua một món đồ giá chín mươi chín đồng chín mươi chín xu. Bà trả bằng tờ giấy một trăm. Người bán hàng không có một xu để thối lại. Bà quên mang thẻ tín dụng. Người bán hàng cứ dặn dò bà phải trở lại để anh ta có thể thối tiền cho bà. Bà còn nhớ không?

– Tôi không nhớ vụ một xu, nhưng tôi nhớ mang máng có mua vài món quà trong đó có một xâu chuỗi chữ.

– Đúng là nó. Xâu chuỗi màu đen, bao gồm những chữ có nghĩa là khỉ bằng nhiều thứ ngôn ngữ trên thế giới. Hầu Viên đáp lời tôi. Ngưng một chút, nghiêng đầu nhìn tôi, Hầu Viên nói tiếp. Tôi là một chữ trong xâu chuỗi chữ ấy.

– Thảo nào, tôi nhìn thấy hình dáng Hầu Viên rất quen thuộc mà tôi không nhớ là gặp ở đâu.

– Thân người tôi, hai tay, và hai chân là hình chữ K, cùng với cái đuôi tạo thành chữ Khỉ theo tiếng Việt.

– Tuy nhiên cặp mắt của Hầu Viên rất giống cặp mắt của chữ Viên tiếng Hàn, người ta tạc làm sao mà đôi mắt giống như hai đóa hoa nho nhỏ.

– Cám ơn bà, đã khen tôi có đôi mắt đẹp như hai đóa hoa. Ít ra tôi cũng không đến nỗi xấu xí như Yoda.

Nghĩ cũng lạ, vì là loài vượn nên bà không sợ, chứ nếu đây là một người đàn ông chưa chắc là bà đã dám mời vào nhà. Dù đã nhiều lần nghe kể về loài khỉ hay bắt chước người, bật diêm quẹt làm cháy nhà, thấy người ta tắm trẻ bắt chước rồi nhận chìm đứa trẻ, thậm chí con vượn có thể giết người vì nổi giận; bà không thấy sợ hãi. Có lẽ một phần vì Hầu Viên có vẻ hiền lành thân thiện. Và có lẽ cũng vì Hầu Viên nhỏ bé lại có khuôn mặt giống người.

Ở cửa hàng bán quà của bảo tàng viện Sackler, bà nhìn xâu chuỗi, khắc bằng gỗ thông, sơn đen, giống y như xâu chuỗi chữ do Từ Băng sáng tác nhưng nhỏ hơn. Mỗi chữ to cỡ bàn tay của bà. Chuỗi chữ của Từ Băng treo từ tầng cao nhất của viện bảo tàng thòng xuống tầng hầm rồi chấm dứt nơi mặt hồ tĩnh tâm[1]. Khi cầm trên tay xâu chuỗi chữ bà cảm thấy như có luồng điện chạy dọc trên người rồi thoát ra trên từng đầu ngón tay. Trong lúc cảm thấy luồng điện bà cũng nhìn thấy những vùng sáng lóa. Trong những vùng sáng ấy là hình ảnh giống như những đoạn phim ngắn, hay những giấc mơ ngắn không ý nghĩa. Xâu chuỗi nóng ran lên, và bà có cảm tưởng xâu chuỗi sẽ thay đổi cuộc đời bà. Không biết là sẽ tốt hay xấu hơn nhưng sẽ là một thay đổi lớn.

– Lần đó tôi đi chơi với một người bạn trai. Không hợp tính, cãi nhau luôn, chuyến đi là cơ hội để chúng tôi suy nghĩ có nên tiếp tục duy trì mối tình không hạnh phúc hay không. Sau chuyến đi chúng tôi không còn gặp nhau. Anh ấy biến mất như tan loãng vào hư không. Không một lời từ biệt. Tôi ngỡ là anh ấy giữ xâu chuỗi và tôi vì không muốn gặp lại, cũng không muốn anh ấy ngờ rằng tôi viện cớ để gặp lại anh ấy nên cũng không gọi điện thoại hay nhắc nhở gì cả. Tôi không ngờ xâu chuỗi chữ vẫn ở trong nhà tôi. Và hôm nay gặp Hầu Viên, chắc phải có duyên gì, chứ không lẽ Hầu Viên gặp tôi chỉ để hoàn lại một xu mà ngay từ đầu đã không phải là món nợ của Hầu Viên?

– Bà sẽ ngạc nhiên vô cùng khi thấy cuộc đời là những chuỗi nợ chỉ nhỏ bằng một xu. Hầu Viên mỉm cười, giọng thong thả như nói đùa.

– Thế Hầu Viên sẽ trả nợ như thế nào?

– Tôi sẽ chữa bệnh cho bà.

– Tôi không có bệnh gì cả.

– Bà bị bệnh chấn thương tâm lý sau chuyến vượt biển của bà. Tuy bệnh của bà không phá hủy nếp sống thầm lặng của bà, nhưng nó ngăn cản bà có một cuộc sống hạnh phúc. Bà sợ hãi nhiều thứ và bà quá cầu toàn.

Hầu Viên kê khai chứng bệnh của tôi và tôi công nhận là nhiều cái cũng có lý. Thí dụ như tôi sợ đi xa vì đi xa thì phải lái xe. Tôi sợ lái xe vì sợ hư xe, xe chết máy

dọc đường, và những bất trắc trên đường như gặp kẻ xấu lúc xe hư. Tôi sợ người yêu giết tôi chết bằng cách dàn xếp cho xe gặp tai nạn, chọn đường nhỏ vắng để dễ giết tôi. Đi máy bay thì sợ máy bay rớt, sợ không tặc. Đi tàu thì sợ tàu chìm và nhớ lại cảm giác khi vượt biển bằng thuyền. Tôi luôn luôn nhìn thấy những thói hư tật xấu của bạn bè và người thân. Tôi đòi hỏi sự sạch sẽ, ngăn nắp tuyệt đối do đó tôi không thể sống chung với người khác hay nuôi thú vật. Tôi không muốn đi du lịch sang các nước khác vì sang Nhật thì sợ phóng xạ, sóng thần, động đất. Sang Việt Nam thì sợ bắt bớ vô cớ, xe cộ không theo đúng luật lưu thông, thức ăn có chất độc.

– Tôi thấy khó đồng ý với Hầu Viên. Cho dù bản tính tôi có hơi kỳ quặc nhưng tôi không nghĩ đó là bệnh tâm lý. Tôi yêu đàn ông nhưng không đủ để chịu đựng nỗi khổ do sống chung với họ. Và tôi cũng từng nuôi mèo. Con mèo cũng là nỗi khổ của tôi vì tôi phải thu dọn săn sóc nó, nhưng dẫu sao vẫn ít nhọc nhằn hơn nuôi một đứa bé. Nhưng giả tỉ như Hầu Viên nói đúng thì Hầu Viên sẽ chữa trị bằng cách nào? Dùng trò chuyện như một phương pháp trị liệu tâm lý? Hay đưa tôi vào bệnh viện tâm thần?

Hầu Viên dẫn tôi xuống hầm. Khi người bạn trai của tôi biến mất, anh ấy có để lại một ít đồ vụn vặt chứa trong một cái thùng nằm khuất ở góc hầm. Tôi tránh nhìn đến nó. Thỉnh thoảng nhìn thấy nó tôi hậm hực, tình yêu ra đi nhưng rác rưới còn sót lại. Hầu Viên biết chỗ của xâu chuỗi chữ vì nó đã từng là nơi trú ẩn của Hầu Viên. Mang xâu chuỗi chữ lên tầng trên, Hầu Viên treo một đầu của xâu chuỗi chữ lên cái đèn treo trên trần. Sau đó, Hầu Viên giúp tôi đẩy cái bàn trong phòng học dạt qua một bên.

Chuỗi chữ dài chấm đất trông giống như một đàn khỉ đang níu tay nhau. Hầu Viên, lấy hộp phấn màu, loại dùng để vẽ lên mặt đất tôi mua vào dịp xem triễn lãm vẽ trên đường phố, vẽ thoăn thoắt trên nền nhà. Nền nhà tôi biến thành một cái hồ gợn sóng.

Đúng như thời tiết đã dự đoán. Trời đổ tuyết. Những hạt tuyết mềm rơi tạt vào cửa kính những âm thanh dịu dàng. Ngoài tiếng tuyết vơi vạn vật trở nên êm đềm tĩnh lặng.

– Bà rời bỏ quê hương xứ sở vì không thể sống ở đó. Bà cũng không thích nơi bà ở bây giờ, coi nó chỉ là nơi tạm trú. Bà có một nơi chốn lý tưởng nào không?

– Ý của Hầu Viên muốn hỏi là tôi có mơ ước được sống ở thiên đàng hay một utopia phải không? Hầu Viên có tin là có thiên đàng hay không?

– Tôi tin là có một thế giới hoàn hảo hơn thế giới chúng ta đang sống. Hầu Viên trả lời. Nhưng trước hết tôi phải chữa bệnh cho bà đã. Bệnh của bà là do có quá nhiều tính khỉ trong người.

Hầu Viên nắm nhẹ ngón tay út của bà, và từ từ rút ra, ban đầu chỉ là sợi tơ rồi sợi tơ dần dần lớn lên biến thành một người giống như bà nhưng nhỏ hơn, chỉ cao cỡ bàn tay, đầu ngón tay út của người này vẫn còn nối vào đầu ngón tay út của bà. Hầu Viên bứt sợi tơ giữa hai đầu ngón tay út, nhẹ nhàng hơn bứt một cọng kẹo kéo. Bà có cảm giác một phần tư tưởng bị rứt ra khỏi thể xác nhưng không làm cho bà cảm thấy đau đớn. Trái lại bà thấy người nhẹ nhõm như vừa trút được một mối lo âu nào đó. Hầu Viên rút một hơi ra cả chục người bé tí như thế. Hầu Viên chỉ từng người và giải thích. Bà này tự cao, cứ nghĩ là mình giỏi, thông minh hơn người những lời bà thốt ra toàn là chân thiện mỹ. Bà này ghét người giàu, người đẹp hơn bà. Bà này ham mê quyền lực, muốn mọi người phải phủ phục tuân lệnh bà. Bà này tuy giàu nhưng có tật ăn cắp vặt, vì cho rằng những thứ người ta bán quá đắt, không xứng đáng với giá trị món đồ. Bà này yêu người có vợ và luôn nuôi ý tưởng ngoại tình. Bà này cố chấp và ngoan cố không biết phục thiện. Bà này có tật thù dai. Bà này lường gạt vài mối tình chân thật dùng lời ngon ngọt chinh phục trái tim người ta rồi bỏ vì chán. Bà này cứ tự cho những gì mình viết là văn chương đáng lưu giữ muôn đời, cố gắng cạnh tranh dùng mưu mẹo để được ghi vào văn học sử.

Những người phụ nữ bé nhỏ này có hình dáng rất giống bà. Họ rủ nhau ra phòng khách chuyện trò sôi nổi về văn học, âm nhạc, và phim ảnh. Tuy nhiên chỉ một lúc sau họ đã tranh cãi chí chóe những vấn đề về nữ quyền, dịch thuật, văn học di dân. Và chính trị nữa, Giời ạ! Họ ném nhau bằng cà chua và trứng bẩn thỉu cả cái phòng khách sạch sẽ của bà.

– Không ngờ trong tôi có nhiều cái tính khỉ đến thế. Bà thở dài nói với Hầu Viên. Cái xấu đã ra khỏi người tôi và bây giờ tôi phải sống trong cảnh hỗn độn này. Tôi không thể mang họ trở lại vào bên trong tôi.

– Bà đừng buồn. Chập sau họ sẽ rủ nhau ra đi cả trả lại nếp sống yên tĩnh của ngôi nhà này. Nếu bà muốn tôi sẽ tặng bà một chuyến đi chơi xa, coi như là một hình thức chữa bệnh cho bà.

Hầu Viên dẫn bà đến xâu chuỗi chữ thòng xuống mặt hồ bảo bà nhìn vào. Bên cạnh bà, trong hồ là một thanh niên mặt vuông, tóc dợn sóng. Bà thấy quen mà không nhớ ra là ai. Anh ta bảo rằng bà nợ anh ta một món nợ lớn. Và hôm nay là ngày bà phải trả nợ. Mặt hồ biến thành một màn ảnh, và trên màn ảnh là một khúc phim xưa đã phai màu.

Bà thấy những hình ảnh như sau. Chàng trai đứng trong một nhà thờ nói chuyện với những người ăn mặc đơn giản nghèo nàn như những người tị nạn. Chàng trai dẫn một cô gái trẻ đi mua sắm ở một thương xá đắt tiền. Chàng đòi hôn, cô gái từ chối. Kẹt xe, chàng trai cáu kỉnh mắng chửi người lái xe chung quanh. Chàng trai người dính đầy máu, cảnh sát còng tay, đang ấn đầu chàng trai cúi xuống lúc vào xe cảnh sát.

– Bà vừa xem lại quá khứ của bà ở hồ tĩnh tâm. Bà không nhớ gì phải không? Khi tâm lý của bà không chịu đựng được một sự thật đắng cay, ký ức bị đẩy vào lãng quên. Mấy mươi năm về trước, khi bà mới sang Mỹ, bà có quen một người Thân, người đàn ông bà nhìn thấy trong mặt hồ. Anh ta là người H’ Mong sống ở Lào. Bà và Thân gặp nhau ở nhà thờ nơi bà học Anh ngữ. Thân nhiều lần đưa bà đi chơi và mua sắm quần áo quà cáp cho bà. Bà nhận quà và Thân nghĩ là bà cũng yêu Thân nên bày tỏ tình yêu. Bà lợi dụng Thân và khi thấy Thân muốn tiến xa hơn, bà tuyệt giao với Thân. Những món quà ngày xưa là món nợ lớn của bà.

– Bây giờ tôi nhớ ra rồi. Anh ta làm phụ bếp cho một nhà hàng Tàu, so với đồng lương của anh ta thì những món quà anh ta cho tôi quả là rất lớn, rất tốn kém. Lúc ấy tôi nghèo quá, Thân cho tôi những món quà quá xa xỉ và nó khêu gợi lòng kiêu căng và tham lam muốn sở hữu những thứ mà đàn bà con gái đều yêu thích. Tôi không yêu anh ấy không phải vì anh ấy nghèo và ít học, mà vì anh ấy rất nóng nảy cộc cằn. Tôi nhìn thấy vẻ hung tợn của anh ấy và e ngại sau này sẽ trở thành nạn nhân dưới tay của anh ta. Tôi dứt khóat không gặp anh ta nữa. Ngoài tôi ra anh ấy còn quen nhiều người nhưng ai cũng lảng tránh anh ta. Tôi nghĩ tôi đã quyết định khôn ngoan.

– Sự từ chối tình yêu của bà, cộng thêm sự từ chối của nhiều phụ nữ khác, với Thân đó là sự phản bội. Anh ta nảy sinh lòng thù hận phụ nữ. Anh cưới một người phụ nữ người Hispanic. Nghi là người phụ nữ này ngoại tình, anh ta giết chết người phụ nữ này. Giết bằng dao, moi móc cả tim gan ra ngoài để xem trái tim của người đàn bà ra thế nào mà người nào cũng phản bội anh ta.

– Vâng, tôi có đọc tin ấy trên báo. Cảnh Sát đến bắt người anh ta đầy máu me. Và nội tạng của người phụ nữ vương vãi khắp phòng.

– Bây giờ tôi phải làm gì? Tôi không nghĩ những món quà anh ta cho tôi có thể xem là nợ, tại vì anh ta tự nguyện tặng quà cho tôi.

– Anh ta tặng quà cho bà với ý nghĩ tặng quà cho người yêu. Hễ bà nhận quà tức là đồng ý đáp lại tình yêu.

– Cho dù ban đầu tôi có cảm tình với anh ta thì tôi cũng sẽ rời bỏ vì cái tính hung tợn của anh ta. Anh ta trút nỗi hận vào một người đàn bà điều đó không làm anh ta đáng được tha thứ và cũng không làm tôi cảm thấy đó là lỗi của tôi. Thật đáng thương cho người phụ nữ bị anh ta giết chết như vậy. Tôi rất tiếc đã không thể đáp

lại những món quà anh ta cho tôi nhưng không đồng ý với quan điểm của Hầu Viên. Người Việt Nam thường nói, bắc thang lên hỏi ông trời, có tiền cho gái có đòi được không. Dẫu đó là nợ thì tôi cũng sẽ không trả nợ này.

Hầu Viên khoát tay, tỏ ý không muốn tranh cãi với bà. Bà nghĩ thầm chuyện kỳ lạ thật. Hầu Viên không phải là người nợ bà một xu, bà cũng không hề đòi món nợ này, thế mà hắn vẫn tìm đến bà để trả nợ. Giả tỉ như Thân cứ nhất định đòi nợ thì bà phải phản ứng thế nào đây?

– Tôi không đòi nợ. Tôi chỉ muốn rút ra hết những tính khỉ trong người bà và sau đó sẽ giới thiệu với bà một thế giới khác có thể hợp ý với bà, sẽ được xem là tốt đẹp hơn cái cõi người mà chúng ta đang sống.

Những người phụ nữ nhỏ bé, một phần trong con người bà ở ngoài phòng khách đã thôi cãi nhau. Mỗi người cắm cúi vào smart phone, tablet, notebook, laptop hướng về cõi người của riêng họ. Hầu Viên mời bà nhìn vào mặt hồ tĩnh tâm lần nữa.

Bên ngoài, tuyết rơi lặng lẽ, bầu trời đầy mây có ánh sáng màu hồng nhạt như thể ở bên kia lớp mây dày có một vầng ánh sáng. Hồ tĩnh tâm, hay là cái hình vẽ không gian ba chiều giống như vũng nước ngay bên dưới xâu chuỗi chữ khỉ, lăn tăn gợn sóng với vầng trăng. Hầu Viên nói như một hướng dẫn viên du lịch.

– Đi theo hướng vầng trăng, bà sẽ đến nơi đó. Một vùng đất gần như toàn hảo. Không khí sạch, thức ăn sạch, có thiên nhiên ngay trong thành phố, không chiến tranh, không tội ác. Người ta có thể kiểm soát cái chết, tự thiết kế cách chết cho mình trong tương lai. Thí dụ như một người sau khi sống lâu quá cảm thấy muốn chọn cho mình một cái chết không đau đớn hay bệnh tật thì ý muốn này có thể thực hiện được.

– Bằng cách nào?

– Người ta đến một trại an dưỡng dành cho người tự thiết kế cái phần kết thúc cuộc sống, chọn chương trình và ghi vào máy.

– Như là programming vậy? Tôi ngắt lời.

– Vâng. Hầu Viên gật đầu, nói tiếp. Người ấy sẽ rút ra một phần người (hay nói đúng hơn, một phần khỉ) để nằm ngủ ở trại an dưỡng và cái phần người muốn làm gì tùy thích cho đến lúc cái program ấy bắt đầu.

– Thú vị nhỉ?

– Thú vị gấp nhiều lần hơn cái tôi vừa kể. Tôi không thể miêu tả cho hết cuộc sống ở thế giới đó. Mỗi người phải tự trải nghiệm mà thôi.

– Giả tỉ như tôi đến đó một thời gian sau tôi muốn quay về nơi này, thì điều này có thể thực hiện không?

– Có chứ. Thì bà cứ đi ngược hướng trở lại. Xâu chuỗi chữ này sẽ là nhịp cầu nối của hai thế giới. Tôi tin là khi đến đó bà sẽ không muốn quay về.

– Nguyên xâu chuỗi này có nhiều chữ, tại sao chỉ có một mình Hầu Viên đến đây? Bà hỏi.

– Đây không phải là xâu chuỗi độc nhất. Và mỗi chữ khỉ đi về nơi ngôn ngữ gốc của nó, nơi có nguồn nợ của nó.

– Hầu Viên rút ra từ tôi nhiều người giống tôi và chứa tính khỉ của tôi. Những người này sẽ như thế nào?

– Họ có thể biến thành khỉ và đi đến bất cứ nơi nào họ thích. Hay họ có thể ở lại nhà này. Họ sẽ là bạn của nhau, là chị em với nhau, vì không ai biết rõ ý thích và tính nết của họ hơn.

– Suốt đời tôi ở mãi một nơi, nhiều khi lòng tôi mơ ước được thăm viếng hay sống một nơi hoàn toàn khác hẵn cuộc sống hiện nay. Tôi muốn thử đến nơi có vầng trăng dưới hồ tĩnh tâm. Nếu không thích sống ở đó tôi sẽ quay trở lại.

Hầu Viên gật đầu, nắm tay bà dẫn đến miệng hồ. Tay bà cầm lấy một đầu xâu chuỗi chữ. Chân bà vừa chạm mặt nước hồ thì ngay lập tức bà biến thành một con khỉ nhỏ bằng bàn tay, leo thoăn thoắt xuống lòng hồ về hướng mặt trăng. Hầu Viên nói vọng theo.

– Nếu bà trở ngược đầu, bà sẽ nhìn thấy vầng trăng biến thành mặt trời, và ánh đèn này sẽ trở thành mặt trăng. Một trong những cách có thể giúp bà trở lại căn nhà này là bà phải tìm cho ra một người nào đó đồng ý mua xâu chuỗi chữ khỉ này và làm sao cho họ thiếu nợ bà ít nhất là một xu. Phần tiếp theo là tất cả những chi tiết vừa xảy ra tối hôm nay, bà biết rồi. Bà cần gom lại tất cả tính khỉ của bà, mỗi con người rút ra từ thân xác của bà có mang một phần trí tuệ của bà. Nếu thiếu nhiều phần người, bà sẽ bị mất trí nhớ.

Hầu Viên tháo xâu chuỗi từ đèn treo trên trần rồi ném vào nó vào trong hồ tĩnh tâm. Mặt nước khô dần để lại sàn nhà với nhiều nét phấn vẽ. Hầu Viên chọn một tấm ảnh của bà đắp lên mặt và từ từ biến thành một phụ nữ giống như bà. Những người đàn bà nhỏ bé biến thành một những con khỉ nhỏ rất đáng yêu. Người đàn bà ra đứng cạnh cửa sổ, hé rèm nhìn ra bên ngoài. Tuyết đã ngưng rơi.

Hầu Viên vốn là một người sống ở thế giới dưới đáy hồ đi về hướng mặt trăng. Sau một thời gian sống quá lâu ở một nơi thật nhạt nhẽo, không có cái xấu vì thế không có cái tốt, không có nỗi buồn nên không có niềm vui, không có cái chết nên cái sống trở nên vô nghĩa. Hầu Viên chọn cách chết cho Hầu Viên bằng cách trở lại cõi thế gian.

[1] Từ Băng, nghệ sĩ điêu khắc đương đại, đã sáng tác một xâu chuỗi khắc bằng gỗ bao gồm chữ khỉ của nhiều ngôn ngữ trên thế giới như tiếng Ả rập, Đại hàn, Trung quốc, và Anh quốc. Xâu chuỗi chữ này được treo từ trên tầng cao nhất đến tầng hầm của viện bảo tàng Sackler (Washington DC). Chuỗi chữ này chấm dứt bên trên một hồ nước. Xâu chuỗi chữ là hiện thân của một câu chuyện dân gian. Ngày xưa có một đàn vượn chơi đùa trên cây cao dưới bóng trăng. Một con khỉ nhìn thấy bóng trăng trong hồ tưởng rằng mặt trăng đã rơi xuống nước nên kêu gọi cả đàn đi vớt mặt trăng. Từ trên ngọn cây đàn vượn nắm tay nhau tạo thành một chuỗi dài thả xuống hồ. Khi đụng vào mặt nước mặt trăng vỡ vụn. Loài vượn bảo nhau mặt trăng, kho tàng quí giá của thiên nhiên mất rồi, buồn quá kêu khóc vang trời. Một con vượn khác bình tĩnh hơn chỉ lên trời bảo rằng, mặt trăng vẫn còn, dưới hồ chỉ là bóng trăng trong nước.

Nguyễn Thị Hải Hà

Chuyện Tình—Quốc Khanh & Hoàng Thục Linh | Motif Music Group

Theo Con Thuyền Ngược—Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Cơn sốt hành hạ Trần Vũ đã một tháng liền. Những liều thuốc xuyên tâm liên, ký ninh nội địa không đủ độ triệt hạ họ hàng lũ vi trùng sốt rét độc địa đã bám trụ cả ngàn năm tại khu rừng già nầy. Nhìn khuôn mặt tóp rọp vì thiếu ăn thêm màu da vàng tái vì mất máu, không ai nhận ra chàng phi công  hai mươi tám tuổi lái chiến đấu cơ thuở nào..

Trần Vũ  dáng người dong dỏng cao, khuôn mặt thanh tú. Cặp mắt to đen với hàng lông mi dài đậm lại thêm ánh mắt nhìn cuả Vũ đầy quyến rũ. Thời “oanh liệt”, không biết có bao nhiêu con tim nữ giới đã đắm đuối trong vòng tay chàng trai pilot hào hoa nầy?

Khi ra khỏi bệnh xá, Vũ hoàn toàn kiệt sức. Ban giám thị trại sắp xếp cho  hắn vào toán làm việc nhẹ. Vì còn trẻ và nhanh nhẹn nên Vũ được điều đến giúp việc cho cán bộ Quản lý..
Buổi sáng đầu tuần, nhận lệnh của cán bộ trực ban, Vũ đến trình diện cán bộ Hạnh. Hắn lững thững đến khu nhà tập thể của cán bộ  tìm chị quản lý. Vừa tới khu chứa thóc, Vũ chợt thấy một cô gái mặc áo trắng quần tây xanh với mái tóc đen dài xõa kín bờ vai rất “nữ sinh” cũng lững thững đi ngược chiều. Vũ gục đầu chào và lên tiếng hỏi:

– Có phải tên cô là Hạnh không ạ?

Cô gái dừng chân, trừng mắt nhìn Vũ rồi nghiêm nghị hỏi lại:

– Nội qui có cho phép Tù Cải Tạo gọi cán bộ bằng cô không nhỉ?
Vũ chưa kịp trả lời, chị tiếp:

– Anh phải gọi tôi là cán bộ Hạnh.

– Vâng ạ, báo cáo cán bộ, tôi tên Trần Vũ thuộc toán làm việc nhẹ được lệnh Ban Giám Thị điều lên kho phụ việc.

Ánh mắt chị quản lý lướt nhanh trên tòan thân Vũ rồi với giọng chua chát:

– Mất sức còn cho lên đây làm gì nhỉ? Kho, đâu phải là chỗ dưỡng sức, các đồng chí trên ấy… Chị bỏ lửng câu nói rồi hất đầu về phía dãy nhà chứa thóc bảo:

– Thôi được, anh vào đấy ngồi chờ, tôi đến làm việc với thủ trưởng một khắc, sẽ bố trí công tác cho anh sau.

Chị quày quả bước chân về hướng khu nhà của Ban Giám Thị. Những căn nhà xây, mái ngói đỏ rực, đứng ngạo nghễ trên đỉnh đồi. Một công trình do sức lực, mồ hôi và nước mắt của tù dựng lên. Vũ thở dài ngao ngán. Dãy nhà kho nằm lưng chừng đồi nối dài ba căn. Tất cả đồ tiếp liệu cho trên một ngàn tù nhân và cán bộ được chứa trong đó.

Nửa giờ sau, cán bộ Hạnh trở lại, hất hàm bảo:

– Tôi tạm thời dùng anh một tuần lễ. Nếu anh không đủ sức làm việc, tôi sẽ trả anh về trại.

Vũ lặng thinh, bụng bảo dạ: “Nước sông công tù, nơi nào vẫn thế!”

Chị quản lý vừa mở cửa kho vừa gọi:

– Anh vào đây.

Vũ bước theo. Mùi gạo mốc, cá khô, nước mắm xông lên nồng nặc.

– Anh hốt hết gạo đổ trên nền kho, lượm sạch sạn, cứt chuột, xong dồn vào bao.

Chị quản lý ra lệnh cho Vũ,  rồi chỉ tay về hướng góc nhà:

– Đồ dùng ở đằng kia.

Vũ lặng lẽ đến nơi chứa dụng cụ lấy cây chổi quét gom số gạo vung vãi vào một nơi. Cán bộ Hạnh  đưa cho hắn chiếc sàng và nia. Vũ xúc gạo vào sàng, hai tay đưa chiếc sàng qua lại. Đất bột, cát và những hạt tấm lọt qua các lỗ nhỏ, còn lại trên mặt sàng là gạo, sạn, lúa và cứt chuột trộn lẫn với nhau. Vũ cố nhớ ngày xưa mẹ hắn đã sàng bằng cách nào mà gạo nhóm vào giữa, sạn thóc nổi lên trên.
Chị cán bộ xẵng lời:

– Nhìn cách làm của anh đủ thấy cái thói ăn bám vào nhân dân, không chịu lao động.
Vũ tức điên người trước thái độ xấc láo của con bé quản lý. Anh cố đè nén cơn giận đang bùng lên. Vũ muốn thét to vào mặt ả:

– Nghề nghiệp của tao là lái máy bay, đâu phải nghề làm gạo hàng xáo!

Vũ được đào tạo tại Hoa Kỳ và đã thực hiện hàng bao nhiêu chục  phi vụ với mấy trăm  giờ bay. Mỗi lần máy bay cất cánh là Cộng quân “hồn xiêu phách lạc”. Anh luôn luôn mang về chiến thắng. Điều khiển một chiếc máy bay biết bao là động tác phức tạp. Tấm bảng điều hướng phi cụ chằng chịt những đồ thị, đối với anh chỉ là việc thường tình. Vậy mà cái công việc sàng gạo đối với Vũ lại khó khăn, nhiêu khê đến thế!

Sàng gạo, một việc làm thường xuyên của mẹ. Với đôi tay mềm dẻo, mẹ nhẹ nhàng hất sàng lên, tay quay đều là gạo nhóm vào giữa, những hạt thóc nổi lên trên mặt sàng. Mẹ đã chọn những hạt gạo trên sàng dành cho anh mang ra tỉnh ăn học. Mẹ giữ lại phần gạo nát, tấm mẳn cho suốt cuộc đời mình. Ngày Vũ trở về nước, mẹ không còn nữa. Người chưa kịp thấy mảnh bằng phi công của con trai mình.

Cha Mẹ mất cả rồi. Người chị giờ lưu lạc phương trời nào. Vũ cảm thấy thương thân mình đơn độc, bỗng dưng nước mắt Vũ trào ra rơi trên sàng gạo. Anh giật mình, sợ cán bộ Hạnh trông thấy những giọt lệ, Vũ vội vàng lau mắt vào cánh tay áo. Chợt nhìn vào sàng gạo, Vũ ngạc nhiên thấy gạo trên sàng nhóm vào giữa chẳng khác gì sàng gạo của mẹ chàng ngày xưa. Thì ra, khi sàng gạo không nên chú ý quá vào đôi tay của mình, Vũ đã tìm ra nguyên tắc…

Chị cán bộ đi đâu đó quay về, nhìn đôi tay Vũ quay đều có vẻ sành sỏi y thị gúc gắc đầu.
Mồ hôi vã ra ướt đẫm cả lưng áo, Vũ đã gắng hết sức mình vượt thắng đôi tay rã rời để hoàn tất một công việc mà anh cho là của đàn bà con gái. Công việc nhẹ của nhà kho dành cho người mất sức trong buổi đầu như thế đấy!

Kẻng điểm giờ ăn trưa. Vũ báo cáo cán bộ về trại. Chị quản lý đưa cho chàng một trái chuối chín. Chuối, trước kia là món ăn tráng miệng hàng ngày, bây giờ là món “cao lương.” Qua bốn năm trong tù, lần đầu tiên Vũ mới ngửi được mùi chuối chín. Tay anh thọc vào túi áo vuốt ve vỏ chuối mịn màng, mát rượi. Vũ mân mê, trân quí nó như thuở còn bé mẹ đi chợ mua quà về cho con mà bé Vũ cố để dành thật lâu.

Ăn xong chén sắn độn cơm, Vũ mới bắt đầu thưởng thức cái giây phút ngất ngây: “ăn chuối chín.” Cắn từng miếng nhỏ, nuốt thật chậm, Vũ sợ không cảm nhận hết chất ngọt ngào và hương vị thơm lừng của chuối. Nhìn cái vỏ chuối vàng rực, Vũ chợt nhớ đến bài viết về Tân Dưỡng Sinh của một tác giả người Nhật đã khuyên rằng: “Ăn rau thì dùng luôn cả rễ, ăn trái cây đừng bỏ vỏ. Có như thế mới kết hợp được âm dương vốn luôn luôn cân bằng của thiên nhiên.” Một chén sắn trộn cơm đối với tù có thấm vào đâu. Nó chỉ làm kích thích thêm cái bao tử thèm ăn kinh niên. Và Vũ không đắn đo, nhai ngấu nghiến cái vỏ chuối còn đắng chát, rồi tự an ủi mình: “không bổ bề dọc cũng bổ bề ngang!”

Trở lại nhà kho, Vũ ngạc nhiên thấy cán bộ Hạnh đã có mặt. Chị trao cho Vũ hai tập vở học trò đã cuốn góc, bảo anh rà soát lại phần xuất và nhập hàng tiếp liệu có ăn khớp với nhau không. Nhìn vào hai cuốn sổ, đầu Vũ lùng bùng trước sự ghi chép vô cùng cẩu thả, chứng tỏ nghiệp vụ của “con bé” còn rất lơ tơ mơ.

Điểm đầu tiên được lòng cán bộ là anh đã phát hiện những nhầm lẫn sai biệt giữa phần xuất và nhập. Qua mấy ngày kế tiếp, Vũ đã bỏ ra rất nhiều thời gian để trình bày hai cuốn sổ điều hành mới có tính “chính quy” hơn. Mỗi trang đều có chung cột ghi ngày tháng, số lượng, tên loại hàng, chữ ký của người nhận, tên giới chức ra lệnh xuất, v. v…
Khi hai cuốn sổ khổ lớn bìa cứng trình bày khá đẹp mắt hoàn tất, cán bộ Hạnh mới thật sự cảm phục óc sáng kiến và sự khéo tay của Vũ. Qua hai tuần lễ thử thách, giờ đây Vũ nghiễm nhiên trở thành người giúp việc cho cán bộ quản lý.

Câu nói ví von của tù: “Làm nhà bếp đánh chết cũng no, gần nhà kho có lo gì đói,” giờ đây Vũ mới nhận chân được ý nghĩa của nó. Thân thể của Vũ có phần đầy đặn và da dẻ hồng hào nhờ những phần ăn từ nhà bếp do cán bộ Hạnh mang cho cùng với trứng vịt, chuối, đường bồi duỡng hàng ngày.

Vào ngày cuối tháng, Vũ ngồi liệt kê các loại thực phẩm đã xuất ra. Bàn bên cạnh, cán bộ Hạnh lo phần báo cáo số hàng tồn kho. Bất chợt nàng gọi:

– Anh Vũ!
Vũ ngửng đầu chờ đợi.

– Tôi muốn hỏi anh một điều. Nàng ngập ngừng…, nhưng phải trả lời thẳng thắn kia. Vũ gật đầu.

– Anh còn nhớ ngày đầu tiên lúc sàng gạo, anh đã khóc. Tôi ngại ngùng bỏ ra ngoài. Có phải vì câu nói của tôi đã làm anh tủi thân?

– Tôi bực mình thì đúng hơn. Vũ nhìn vào mắt chị cán bộ, trung thực tiếp, nhưng đó không phải là nguyên nhân đâu.

– Vậy, vì lý do nào?

– Thuở bé, khi mẹ tôi sàng gạo, tôi thường ngồi bên chờ lượm những hạt lúa  trên sàng vứt cho bầy gà đang đứng trước hiên. Đôi tay mẹ quây sàng thuần thục như ngày nay tôi điều khiển phi cơ. Những thao tác nghề nghiệp trở thành phản xạ tự nhiên. Tôi ngồi sàng gạo mà nghĩ đến mẹ. Ngày xưa Người không bao giờ tưởng tượng sẽ có ngày con trai mình phải cặm cụi làm cái công việc tầm thường này, bỗng nhiên tôi nhớ mẹ xót xa. Mẹ tôi góa bụa từ  lúc còn thanh xuân, thủ tiết thờ chồng, nuôi con. Ngày tôi giã từ mẹ lên đường sang Mỹ theo học lái máy bay, miệng mẹ nở nụ cười mà nước mắt Người đầm đìa trên khuôn mặt nhăn nheo. Mẹ vừa mừng, vừa thương đứa con trai đã hai mươi năm chưa lần nào xa mẹ. Người dặn dò tôi phải giữ gìn sức khoẻ, cố gắng học tập để mang mảnh bằng phi công về cho mẹ hãnh diện. Nhưng ngày về, mẹ tôi đã lìa đời. Mẹ mất vì bạo bệnh mà người chị đã cố ý giấu tôi.

– Chị anh bây giờ ở đâu? Hạnh tò mò hỏi.

– Bặt tin từ sau ngày 30 tháng 4.  Vũ lặng lẽ tiếp tục làm việc. Hạnh buông tiếng thở dài:

– Anh lái loại máy bay nào?

–  F5E.

– Có phải máy bay cánh cụp cánh xoè?

– Không, đây chỉ là loại khu trục chiến đấu dội bom và tác xạ.

– Nghe nói các nữ sinh Miền Nam mê mấy ông giặc lái lắm phải không?  Hạnh hỏi Vũ với giọng giè bỉu… Danh từ  giặc lái khiến cho Vũ khó chịu. Anh cúi đầu làm việc, giả vờ không nghe.

Cán bộ Hạnh không có nét đẹp quý phái nhưng khá duyên dáng, mặn mà. Một thân hình đầy đặn, cân đối.  Màu da nâu sáng khoẻ mạnh, thể hiện một mẫu người nghị lực và xốc vác. Khuôn mặt trái soan, với đôi hàm răng trắng đều, khiến cho nụ cười của nàng toát lên tính hồn nhiên đầy quyến rũ.

Vũ đến giúp việc cho cán bộ quản lý mới đó mà đã hơn ba tháng rồi.

Khác với ngày đầu tiên khi anh đến trình diện nhận việc, tính đanh đá, chua ngoa, đốp chát ở cán bộ Hạnh gần như biến mất mà thay vào đó là tính điềm đạm, lời nói trở nên dịu dàng lịch sự. Thái độ dằn mặt làm Vũ hụt hẫng trong buổi đầu dường như Hạnh đã cảm thấy mình vụng về. Dẫu biết địa vị mình là một “cán bộ cách mạng” và bên kia là tù cải tạo, nhiều lúc Hạnh lại thấy lúng túng khi xưng hô xẵng xớm với Vũ. Mỗi lần tiếp xúc với chàng, nàng không giữ được bản lãnh của một cán bộ quyền uy… Có một chút gì len lỏi trong nàng như tình cảm giữa hai người khác phái. Tính hồn nhiên trong Hạnh dần dà bộc lộ không gìn giữ như những ngày đầu đối với chàng. Từ những câu hỏi vụn vặt cách riêng “con gái”, cung cách xưng hô, sai bảo đã khiến Vũ cảm nhận có cái gì khang khác nơi người cán bộ quản lý.

Những ngày có Vũ, nhà kho trở nên ngăn nắp, sạch sẽ. Cán bộ Hạnh tiến bộ nhiều về mặt nghiệp vụ. Đặc biệt hơn cả là nàng đã bỏ cách nói năng kiểu “ bài học thuộc lòng như loài vẹt,” trở nên ngọt ngào và trí thức hơn. Sau nầy, Vũ còn phát hiện bản chất hiền hoà và thương người của Hạnh. Có lần nàng tâm sự:

– Tôi không chịu nổi cái cảnh tù cải tạo bị đói phải ăn cả cào cào, châu chấu.

Anh biết không, Hạnh nhìn Vũ rồi hạ thấp giọng:

–  Gia đình ông nội của Hạnh theo đạo Thiên Chúa, bố theo cách mạng bỏ đạo. Lần đầu tiên vào miền Nam, điều làm cho tôi ngạc nhiên nhất là nhà thờ nào cũng đồ sộ, còn ngoài Bắc thì tàn tạ. Ngừng một lúc, nàng đột ngột hỏi:

– Tại sao cấp trung học ở miền nam lại phải học tới mười hai  năm?

Vũ không trả lời trực tiếp câu hỏi mà chỉ nở nụ cười kiêu hãnh:

– Vì lẽ đó mà trình độ của học sinh tốt nghiệp Trung học giữa hai miền cách nhau một trời một vực.

Hạnh đồng ý với nhận xét của chàng và thú thật:

– Ngày giải phóng miền Nam, tôi đang theo ngành Quản lý Xí Nghiệp tại Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Khi tốt nghiệp ra trường họ xét lí lịch đưa tôi vào đây coi như trong giai đoạn thực tập. Qua nhiều lần tiếp xúc, gặp gỡ với các anh chị ở trong nầy tôi mới thấy mình còn rất non kém.

Hạnh nói một hơi dài như ngại không có cơ hội bày tỏ một tâm sự thầm kín. Vũ lặng im nhưng rất ngỡ ngàng và lòng đầy xúc động. “Con bé” đã nói thật lòng mình. Rất hiếm những tên cán bộ cộng sản lại bày tỏ lai lịch mình cho tù nhân nghe. Hình như tâm hồn trong sáng của một nữ sinh chưa bị tập nhiễm lề thói dối mình dối người. Vũ đưa ánh mắt nhìn Hạnh với lòng mến phục và thoáng chút biết ơn. Nàng bắt gặp ánh mắt đó và đáp lại chàng bằng nụ cười đầy cảm thông và trìu mến.

*  *  *

Từ sáng sớm, cán bộ quản lý nhận thêm một số tiếp liệu gồm gạo, mắm, bột ngọt và áo quần tù. Hạnh và Vũ phải làm tất bật cả ngày.

Thời tiết chuyển mùa, khí trời oi bức, ngột ngạt. Cây rừng đứng chết lặng trước sức ép của bầu khí quyển nặng nề. Rồi mây đen kéo về che kín cả bầu trời. Gió thổi. Sấm sét. Trận mưa đầu mùa trút xuống mờ mịt cả núi đồi. Mưa đổ trên mái ngói, mưa nổi bong bóng ngoài sân.

“ Nước! nước!”

Nước dột từ trên nóc nhà chảy xuống kho, Hạnh vừa hốt hoảng kêu lên vừa vội vã lấy vải nhựa đi mưa phủ lên đống hàng mới nhập. Vũ phát hiện một viên ngói trên nóc nhà bị bể.  Anh nhanh chân bắc thang trèo lên mái nhà thay viên ngói lành.

Mưa mỗi lúc mỗi đậm lại thêm sấm sét, gió to. Năm phút rồi mười phút Vũ vẫn chưa làm xong. Hạnh cuống cuồng lo cho Vũ, nàng chạy ào ra mưa gọi chàng. Đúng lúc Vũ vừa thay xong viên ngói, tuột khỏi mái nhà. Cả người Vũ ướt sũng nước, lưng áo bị rách toạc một đường dài. Hạnh bảo Vũ vào trong nhà thay bộ đồ khác. Anh chần chừ, định chạy về trại, nhưng Hạnh nói như ra lệnh: “Vào đi!.”  Nàng đẩy Vũ vào trong rồi đóng cửa lại để tránh những cơn gió thốc. Hạnh lấy bộ áo quần tù mới nhập đưa cho Vũ. Anh đứng yên, ngần ngại. Nàng năn nỉ:

– Anh nghe lời em, đừng để nước mưa đầu mùa thấm vào người, vi trùng sốt rét sẽ hành hạ anh trở lại.

Vũ thật sự ngỡ ngàng đến độ bàng hoàng khi nghe Hạnh xưng em với mình. Vũ một mực đòi về trại thay áo dù cơn lạnh đã làm cho môi chàng thâm tím và hai hàm răng đánh vào nhau không còn kìm giữ được. Hạnh xốc tới tự động cởi nút áo cho Vũ. Bộ ngực nở nang đầy nam tính hiện ra, bất giác Hạnh áp mặt vào ngực chàng khóc nức nở. Lòng chùng xuống, Vũ đưa tay vuốt mái tóc ướt đẫm nước mưa của nàng.

Hạnh ngẩng đầu lên với ánh mắt dỗi hờn:

– Anh bướng bỉnh quá làm cho em đau khổ!

Trời tạnh mưa. Vũ xin Hạnh về trại trước nửa giờ. Chàng không muốn ở đó lâu hơn. Hạnh có tình ý với chàng, Vũ cảm thấy lo âu, rồi sẽ xảy ra những bất trắc mà nàng không thể lường trước được. Bạo lực sẽ bóp nát trái tim nàng. Người ta sẽ không để cho trái tim cán bộ cách mạng có cùng chung một nhịp đập yêu đương với trái tim của người tù.
Những ngày sau đó, Vũ thố lộ những cảm nghĩ của chàng và yêu cầu nàng trả chàng về đội. Hạnh buồn bã trả lời:

– Anh nhát gan quá. Hạnh mới là người chủ động. Em không để phiền lụy đến anh.

Lễ Lao động kết hợp với ngày kỷ niệm 30 tháng 4, cả Ban giám thị được lệnh về thành phố nhận khen thưởng. Tù nhân được nghỉ một buổi. Đang sửa lại vạc giường nằm, Vũ có lệnh lên văn phòng quản lý gặp cán bộ Hạnh.

– Chào cán bộ.

– Đâu cần phải cẩn trọng như thế! Hạnh vừa vén mái tóc qua một bên vừa buông lời trách móc.

Vũ cười, giả lả hỏi:

– Hạnh không về thành phố à?

– Các đồng chí ấy có công trạng. Em đâu được cái danh dự đó. Hạnh nhoẻn miệng cười nhìn Vũ:

– Hôm nay ngày lễ, cán bộ được bồi dưỡng, em đem ít thịt heo và xôi để anh ăn tối.  Nàng vừa nói vừa đứng lên cầm gói thức ăn trao cho Vũ. Anh nhận gói giấy từ tay Hạnh, nói đùa:

– Vậy là cán bộ hối lộ cho tù nhân đấy nhé.

– Ừ, thế đấy! Hạnh nhìn Vũ thách thức, rồi choàng tay ôm cổ chàng, thỏ thẻ:

– Chỉ là món quà hối lộ nhỏ nhoi đầu tiên cho anh.

Hạnh lại ôm chầm lấy Vũ, ép đôi vú căng đầy vào ngực chàng khiến máu trong người Vũ chạy rần rật, nóng bừng trong từng tế bào trương cứng. Cảnh vắng lặng của văn phòng kho như đồng lõa cơn dục tình quật ngã ý chí chàng. Vũ nâng đầu Hạnh hôn vào môi, đôi môi dày đầy dục tính. Lưỡi chàng quyện lấy lưỡi nàng. Hạnh run lên, toàn thân như tê dại. Gió đánh bật cánh cửa văn phòng khép lại, tạo điều kiện thuận lợi cho hai người. Hạnh nằm xuống kéo Vũ theo. Nàng nhanh tay lột hết áo quần phơi bộ ngực trắng ngần vun cao. Không kìm chế nổi, Vũ đặt môi vào núm vú son hồng đó. Hạnh trân người, siết Vũ vào lòng. Đã trên bốn năm vắng bóng đàn bà, tất cả sinh lực tích tụ dồn vào trong đó. Nàng ưỡn người lên, bấu vào lưng Vũ. Anh chủ động dìu nàng qua những cơn sóng ngầm cho đến khi oà vỡ. Ánh mắt Hạnh đắm đuối nhìn Vũ với gương mặt tràn đầy hạnh phúc.

Sau lần ân ái đầu tiên, Hạnh thường tạo điều kiện thuận lợi cho hai người gặp nhau. Càng ngày nàng càng gắn bó với Vũ hơn. Có lần Hạnh thủ thỉ với chàng:
– Em muốn có con với anh.

– Hạnh sẽ không đạt được ý nguyện đó đâu.

Vừa trả lời, Vũ vừa xoa nhẹ bàn tay nàng, lo ngại tiếp:

– Nếu Hạnh bảo vệ được đứa bé thì sau nầy, nó sẽ mồ côi cha, tội nghiệp. Nàng xoay người lại, ôm cổ Vũ hỏi:

– Câu nói của anh có ý gì vậy?

– Vũ vén những sợi tóc mai loà xoà trên mặt nàng rồi điềm tĩnh trả lời:

– Họ sẽ giết anh!

Hạnh thở dài trước sự thực phũ phàng mà nàng chưa hề nghĩ tới.

* * *

– Em đi công tác bảy ngày. Hạnh báo cho Vũ và dặn dò thêm:

– Anh vẫn làm việc tại kho với cán bộ Toả, ngày mai em lên đường, anh ghi những vật dụng cần dùng để em mua cho.

– Cám ơn Hạnh, đời sống tù quen rồi, tôi chẳng cần gì đâu, Vũ thẳng thắn trả lời.

Ngày hôm sau, Toả đến kho. Hắn coi sơ qua hai sổ xuất nhập hàng tiếp liệu. Hắn luôn giữ khoảng cách giữa hai người. Toả là cán bộ chỉ huy đơn vị võ trang, tạm thời thay Hạnh, vì vậy phần ghi chép đều nhờ tay Vũ… Tỏa không nghiêm khắc mà cũng không thân thiện. Hình như hắn muốn truy tìm cái gì đó nên hay lục lọi trong tủ hồ sơ của Hạnh.

Buổi chiều, chị cán bộ nuôi quân đến lãnh gạo hàng ngày. Tỏa sai Vũ mang gạo xuống nhà bếp. Chị nuôi nhìn Vũ rồi nói với Toả:

– Người ta đồn “ Có kẻ chê thuốc Bắc khoái thuốc Nam cũng có lý đấy chứ!” Cả hai cùng cười.

Cán bộ Hạnh đi công tác về sớm hai ngày. Chiều thứ Hai nàng trở lại làm việc. Vũ vừa bước vào phòng, Hạnh vội kéo anh vào góc nhà ôm hôn cuồng nhiệt.

Vũ đẩy nàng ra xa vì sợ có người vào bất chợt. Hạnh thì thầm:

– Em nhớ anh, nhớ điên người! Nàng bồng bột tiếp:

– Từ nay em bất chấp tất cả. Mấy ngày qua gặp Hoàng, em đã trả lời dứt khoát với anh ta rồi.

– Có vấn đề gì thế? Vũ ngạc nhiên hỏi.

– Em hủy bỏ lời hứa hôn. Hạnh thẳng thắn trả lời.

Vũ sững sờ. Chẳng biết điều gì đã xảy ra cho Hạnh. Tên Hoàng là ai. Tại sao từ hôn? Chờ nàng bình tĩnh, Vũ yêu cầu Hạnh giải thích.

Hai tay chống cằm, mắt nhìn về hướng hàng cây bạch đàn chạy dài theo con đường đất đỏ ngập ánh nắng chói chang, Hạnh tâm sự:
– Trước đây, anh đã từng trông thấy một người đàn ông thường đến với Hạnh vào những ngày lễ hoặc cuối tuần. Đó là Thiếu tá Hoàng, người dự tính sang năm cưới em. Hoàng hiện giờ là Trưởng Phòng Hình Sự Ty Công An. Chuyến công tác vừa rồi em đã gặp anh ấy và nói rõ quyết định của em.
– Ông ta đã nói gì với Hạnh? Vũ thận trọng hỏi.

– Anh ấy bảo: “Quyết định đó là đồng chí tự hủy hoại sự nghiệp của mình”

Việc xảy ra quá bất ngờ khiếnVũ vô cùng băn khoăn và lo lắng. Chúng sẽ theo dõi, điều tra tìm hiểu nguyên nhân nào khiến cho Hạnh thay đổi tình cảm. Hạnh ngây thơ và nông nổi. Nàng sống cho mình, theo tiếng gọi trái tim mà quên đi những thủ đọan tàn độc. Vũ thở dài, rồi nhẹ nhàng trách:

– Hạnh cần phải đắn đo trước khi quyết định một việc làm có ảnh hưởng đến cả cuộc đời mình. Hạnh có biết việc từ hôn đó sẽ mang đến một hậu quả vô cùng tai hại không?

– Biết chứ, nhưng lấy Hoàng em sẽ không có hạnh phúc.

– Hạnh mạo hiểm quá và cả Vũ nầy cũng thế! Ngày mai Hạnh trả tôi về lại đội, trả gấp. Tôi không muốn thấy sau nầy Hạnh phải chịu khổ đau và ân hận. Tôi cũng tránh được ngón đòn thù giáng trả.

Kẻng cơm chiều cũng vừa điểm, chàng vội vã về trại. Nàng nhìn theo Vũ với ánh mắt cảm thông.

Sáng hôm sau, chờ các đội xuất trại xong, Vũ mới báo cáo cán bộ gác cổng lên kho. Hạnh đang sắp xếp lại giấy tờ với đôi mắt đăm chiêu. Hình như có vấn đề gì rắc rối, trông gương mặt của nàng phờ phạc hẳn đi. Vũ lấy sổ ghi chép báo cho Hạnh biết số lượng thực phẩm mà cán bộ Tỏa đã xuất mấy ngày nàng đi công tác. Hạnh vừa đến bên Vũ, bất ngờ hai công an xông vào phòng la lên:
“Mày làm gì cán bộ Hạnh đấy?”

Cán bộ quản giáo bảo vệ chính trị đứng bên ngoài cửa văn phòng Quản lý ra lệnh còng tay Vũ trước cặp mắt ngơ ngác của Hạnh. Họ đẩy Vũ ra khỏi cửa tiến thẳng đến khu kỷ luật. Sau khi cùm hai chân Vũ,  một người trừng mắt bảo:
“Mầy cả gan thật, dám cuỡng hiếp cả cán bộ”.
Vũ đặt lưng xuống mặt sàn, hai cổ chân đau nhói. Chàng thở dài: “Điều mình tiên đoán đã đến rồi!”

Mỗi ngày, Vũ bị áp giải lên phòng trực hỏi cung và viết kiểm điểm. Chủ tâm của họ là gán ghép cho anh tội cưỡng hiếp Hạnh. Hai ngày, rồi một tuần, Vũ cương quyết không chịu nhận tội. Đến ngày thứ tám quản giáo hỏi cung bảo:
– Cán bộ Hạnh gởi đơn tố cáo anh đã cưỡng hiếp đồng chí ấy và có kèm theo vật chứng. Anh nên khai báo sự thật và sớm nhận tội. Nếu ương ngạnh, chúng tôi sẽ chuyển nội vụ qua hình sự. Chừng đó, anh sẽ ngồi tù đến mọt gông.
Hắn ngừng nói, đưa cho Vũ điếu thuốc, chàng từ chối. Hắn tiếp:
– Anh khai rõ tình cảm của anh đối với cán bộ Hạnh kể cả quà cáp mà cán bộ Hạnh đã cho anh. Hắn châm lửa điếu thuốc, hít một hơi dài:

– Như anh thấy đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương giáo dục chứ không trừng trị. Tội giặc lái của anh đã giết hại biết bao dân lành vô tội, làng quê bị tàn phá tiêu điều, đổ nát là do bom đạn của anh trút xuống. Thế mà cách mạng vẫn khoan hồng, tha tội chết, lại còn nuôi dưỡng bảo vệ các anh khỏi sự trả thù cuả nhân dân. Một lần nữa, tôi lưu ý anh, đây là lần viết kiểm điểm cuối cùng, nếu không thành khẩn, buộc chúng tôi phải đưa anh ra trước tòa án nhân dân.
Vũ nhủ thầm: “ Đây là thủ đọan họ cố hại mình.” rồi lặng lẽ viết và ký tên vào tờ tự kiểm.

Đọc bản tự kiểm Vũ vừa trao, cán bộ đập bàn quát:

– Mầy cứng đầu thật. Đã mấy chục tờ rồi mà tờ nào cũng chừng ấy lời khai. Mầy không phạm tội gì à, còn đồng lõa với “tên hủ hóa” đó nữa hả? Đôi mắt hực lửa, hắn nhìn Vũ rồi ra lệnh đưa anh vào phòng kiên giam, cắt thêm tiêu chuẩn phần ăn tối đa để trừng phạt.

Ba ngày yên ổn, Vũ không bị đưa đi hỏi cung. Những cơn đói hành hạ anh mấy ngày qua, giờ đã trở lại bình thường, bao tử bớt phần đau rát. Vũ nghĩ đến Hạnh, không biết tình trạng của nàng hiện giờ ra sao. Chắc chắn là lũ chúng nó quần thảo dữ lắm. Chẳng thế mà tên quản giáo đã miệt thị nàng là “tên  hủ hóa” trước mặt anh.

Tiếng mở khóa lách cách, Vũ giật mình nhìn ra cửa, ánh đèn pin chiếu thẳng vào mặt. Hai bóng đen tiến vào phòng:

– Ngồi dậy!

Một người ra lệnh, người kia mở cùm chân. Cả hai xốc vai Vũ đẩy ra khỏi cửa hầm kỷ luật.

Họ đưa vào một căn phòng lạ, ấn anh ngồi xuống ghế. Ánh sáng bóng điện tròn tỏa màu vàng vọt trong căn phòng xông mùi ẩm mốc. Một người đàn ông trung niên mặc áo quần đại cán màu xanh rêu bước vào và ra hiệu cho lính bảo vệ mở khóa cùm tay Vũ.

Người cán bộ có dáng cao gầy, mặt vuông. Phần quai hàm bạnh ra trông khắc khổ. Nhờ đôi gương cận thị gọng vàng giúp cho khuôn mặt ông ta cân đối phần nào và có vẻ trí thức. Hắn nhếch mép cười gượng gạo, rồi một giọng nói sắc, khô của người xứ Nghệ:

– Tôi là Thanh Hoàng, cán bộ Công an hình sự. Cấp trên có nhận được đơn tố cáo của đồng chí Quản lý Đỗ thị Hồng Hạnh về việc anh đã cưỡng dâm đương sự. Hôm nay tôi cần làm việc với anh một số vấn đề. Nhưng trước hết hãy xác nhận tên anh có phải là Trần Vũ không?

– Vâng, tên tôi là Trần Vũ.

-Anh làm những công việc gì ở kho?

– Làm theo lệnh của cán bộ Quản lý..

– Mà lệnh đó thường là công việc gì?

– Quét dọn, khuân vác hàng tiếp liệu, giúp làm sổ sách cho cán bộ Hạnh.

– Láo, anh là tù nhân, ai cho phép anh làm sổ sách. Anh biết cóc gì về kế toán mà lo chuyện sổ sách. Vũ ngước mắt nhìn ông ta. Ông ta trừng mắt nhìn lại Vũ trấn áp, rồi hỏi tiếp:

– Thời gian ở kho, cán bộ Hạnh có cho anh quà cáp gì không?

– Không.

Anh thành khẩn đi, cán bộ Hạnh đã báo cáo cho cấp trên đầy đủ rồi. Im lặng…

Công an Hoàng tiếp:

– Ngày 25 tháng 5 năm 1979 anh đã cưỡng bức và xâm phạm tiết hạnh cán bộ Đỗ thị Hồng Hạnh?

– Không, không bao giờ, Vũ xác định.

– Láo, láo! Hắn đập bàn hét lên giận dữ. Đây là bản chất của lính ngụy. Trước đây, các anh đã cưỡng hiếp biết bao đàn bà con gái trong các trận càn. Chứng nào tật nấy. Đã cải tạo trên bốn năm mà chưa bỏ được thú tính. Có cả vật chứng và người chứng, anh làm sao chối cãi. Hãy thật thà khai đúng, chúng tôi sẽ đề nghị cấp trên ân giảm, anh mới hy vọng có ngày đoàn tụ với gia đình. Vũ im lặng, nghĩ ngợi:  “Họ muốn đánh gục mình.”

Trước sự lặng thinh khá lâu, tưởng Vũ đã bị khuất phục, cán bộ Hoàng mỉm cười, với giọng đầy kịch tính, bảo:

– Như thế là tốt đấy, anh chỉ cần viết vào đây một câu thôi. Hắn chìa cây viết và trang giấy cho Vũ rồi đọc: “Tôi xin nhận đã có hành động sai trái với cán bộ Quản lý trong ngày 25 tháng 5 năm 1979.”  Ngưng một chốc, hắn bồi thêm lời khuyến dụ:

– Chừng ấy cũng đủ chứng minh anh đã ăn năn hối lỗi.

Vũ điềm tỉnh cầm viết ghi:

“Tôi Trần Vũ không hề có một hành động nào mang tính cách cưỡng hiếp cán bộ Đỗ Thị Hồng Hạnh trong ngày 25 tháng 5 năm 1979.”

Cán bộ Hoàng nhìn vào tờ khai cung, đôi môi đang cười gượng gạo, chợt khuôn mặt đanh lại. Hàm răng cắn chặt vào nhau khiến cho quai hàm của y đã bạnh lại càng bạnh hơn, nom như đầu loài rắn mang gương xứ Ấn Độ. Hắn đứng dậy chồm qua bàn, một tay nắm bâu áo của Vũ, tay kia đấm tới tấp vào mặt Vũ. Hắn vừa đấm vừa hét lên: “Khốn nạn, đểu cáng.” Máu từ mũi Vũ phụt ra văng tung tóe, đỏ cả xấp hồ sơ. Thuận đà, y kéo Vũ về phía mình. Cạnh sắc của chiếc bàn chấn ngang bụng, Vũ cong người lại vì đau đớn rồi ngất xỉu trên bàn. Cán bộ Hoàng bỏ giấy tờ vào túi dết, gọi lính bảo vệ áp giải Vũ về lại hầm kỷ luật.

*  *  *

Tin Trần Vũ giúp việc trên kho đã cưỡng hiếp nữ cán bộ Quản lý gây xôn xao trong toàn trại. Đề tài nầy được xem là nóng hổi mấy ngày qua. Sau buổi cơm chiều, anh em tù thường tản bộ trên sân hội trường chuyền miệng cho nhau những mẫu chuyện vừa nghe lóm được. Một bạn nhận xét:

– Quả là một việc làm tầy trời, chỉ nghe thoáng qua cũng đủ xanh máu mặt, nổi da gà. Thế mà thằng Vũ dám “rờ dái ngựa!”

Phần lớn tù nhân đều chê trách Vũ, nào là: “ăn no bò cỡi, được voi đòi tiên.”

Những bạn gần gũi thì tỏ ra không tin, bởi họ hiểu Vũ là người có tư cách và giàu ý chí.

“Biết đâu, vì gần gũi lâu ngày nên hai người ghiền nhau, nhất là Trần Vũ vừa đẹp trai, lịch sự vừa có nghệ thuật đắc nhân tâm thuộc loại siêu đẳng.” Anh đội trưởng rau xanh nhận xét, rồi ghé tai anh bạn bên cạnh hỏi:

– Đằng ấy có nghe mấy cha cán bộ đùa cợt với nhau câu: “Thuốc bắc không chịu uống, lại đi ghiền thuốc nam!” trong mấy ngày qua không?

Một bạn tù thuộc đội chăn nuôi đột ngột đến báo:

– Thằng Vũ bị bắt tại trận khi có tiếng kêu cứu của chị Quản lý và tịch thu được bộ áo quần của nó.

Người đứng bên cạnh bổ túc thêm:

– Tên trật tự đem cơm vào nhà cùm, tiết lộ rằng Vũ bị cán bộ Hạnh đánh vào mặt để thoát thân, mặt mày hắn còn sưng vù.

Một bạn tù cao niên tỏ ra am tường luật pháp phát biểu:

– Phàm“ bắt dâm bôn lấy l… làm chứng” là áp dụng cho tội ngoại tình kia. Tội hiếp dâm chỉ cần nạn nhân tố cáo là đủ rồi, đằng nầy còn  tịch thu được cái quần là thừa tang chứng kết tội rồi.

Một bạn trẻ xen vào:

– Ăn vụng mà còn ham cởi cả áo thì bị bắt là đúng thôi.

Cả bọn cười ồ! Ông bạn già với giọng từng trải tiếp:

– Án cải tạo của thằng Vũ nhiều lắm sáu năm, bây giờ vướng vào án hình sự nầy e ngày ra tù của nó chắc phải chống gậy!

Sáng Thứ Bảy, tù nhân cơm nước xong đợi giờ lên đường lao động. Bỗng có lệnh trên ban xuống: “Tất cả nghỉ làm ngày hôm nay, chuẩn bị lên hội trường.”

-“Lại có chuyện gì đây?” Mọi người xôn xao.

Mười lăm phút sau, tiếng kẻng gióng lên. Tù nhân hồi họp kéo đến hội trường. Cán bộ quản giáo, cán bộ vũ trang, các chị nuôi đều có mặt. Trên sân khấu được đặt ba chiếc bàn theo hình chữ U. Một tốp người vận đồng phục công an tiến vào hội trường, rồi lần lượt ngồi vào ghế đã được phân định trước. Bàn giữa gồm có: Giám thị trưởng, Thiếu tá công an Thanh Hoàng, và một người được giới thiệu là cán bộ phòng Kiểm Sát Nhân Dân của huyện. Hai Phó Giám Thị và một thư ký ngồi bàn cánh trái. Bàn bên phải bỏ trống.

Thiếu Tá Thanh Hoàng mở đầu cuộc họp bằng giọng nói đầy uy quyền:

– Ty Công An nhận được bản tường trình của Ban giám thị trại về vụ cưỡng dâm đã xảy ra tại văn phòng quản lý trong ngày 25 tháng 5 năm 1979. Can phạm là cải tạo viên Trần Vũ, nghề nghiệp: Trung uý lái máy bay của ngụy quyền Sài Gòn. Nạn nhân là cán bộ Quản lý Đỗ Thị Hồng Hạnh. Đây là cuộc họp xét tội công khai trong nội bộ để lấy đầy đủ lý chứng chuyển qua Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh. Dù có bằng chứng rõ ràng, tên Trần Vũ vẫn ngoan cố không chịu nhận tội. Để chứng tỏ công tác thi hành luật pháp của Nhà Nước là vô tư và đúng đắn, hôm nay chúng tôi cho nạn nhân, đồng chí Đỗ Thị Hồng Hạnh đến đây đối chất trực tiếp với can phạm Trần Vũ và trưng dẫn vật chứng để chúng tôi đúc kết hồ sơ truy tố can phạm ra trước Tòa Án Nhân Dân. Trước tiên, yêu cầu các đồng chí vũ trang áp giải phạm tù Trần Vũ ra trước Chủ Tọa Đoàn. Yêu cầu đồng chí Hạnh vào bàn bên phải.

Tiếng rì rào nổi lên khi Trần Vũ xuất hiện giữa hội trường. Với bộ áo quần tù màu xám tro còn mới, trước ngực dính lấm tấm những vệt máu khô, Vũ bước đi xiêu vẹo, khó khăn bởi dây xích chân quá ngắn. Khuôn mặt Vũ bị biến dạng do những vết sưng bầm. Cùng lúc, cán bộ quản lý Hồng Hạnh cũng bước vào ngồi trên ghế đã chỉ định, với khuôn mặt bơ phờ, tư lự.

Mở đầu buổi tố khổ, cán bộ thư ký đọc bản tường trình nội vụ gồm có những điểm chính sau:

“Ngày 25 tháng 5 năm 1979, lúc 8 giờ sáng, tù cải tạo Trần Vũ bị bắt tại văn phòng quản lý về tội cưỡng dâm nữ cán bộ Đỗ Thị Hồng Hạnh. Tang chứng thứ nhất là bộ áo quần của can phạm bị tịch thu tại phạm trường. Tang chứng thứ hai là vết bầm trên mặt Trần Vũ là do nữ nạn nhân đánh để thoát thân. Thứ ba là chứng từ  trong lời khai của Trần Vũ đã thú nhận có cảm tình với cán bộ Hạnh.” Bản tường trình kết thúc với ý kiến đề nghị: “Yêu cầu cấp trên làm sáng tỏ nội vụ để trừng phạt đích đáng kẻ phạm pháp hầu ngăn chận hành vi tương tự của kẻ khác.”

Công an Hoàng với tư cách là người trách nhiệm điều tra vụ án phát biểu:

– Sau đây là phần xác minh của nạn nhân Đỗ Thị Hồng Hạnh. Lời khẳng định nầy là dữ kiện chính yếu để truy tố đương sự. Yêu cầu đồng chí Hạnh đứng lên.

Với thái độ điềm tĩnh, cán bộ Hạnh nói:

– Tôi xét thấy sẽ vấp phải sai lầm lớn lao nếu không đứng ra tố cáo kẻ phạm pháp. Tôi đoán biết thế nào Trần Vũ cũng sẽ không nhận tội. Điều đó không quan trọng mà quan trọng là điều xác minh của chính tôi. Nhưng trước tiên tôi yêu cầu Trần Vũ hãy trung thực trả lời câu hỏi của tôi:

– Anh có công nhận vết sưng bầm trên mặt anh là do tôi đánh? Không thành khẩn, anh là kẻ yếu hèn.

– Đồng chí Hạnh không cần phải nhiều lời, nên đi thẳng vào vấn đề. Cán bộ  Hoàng chận lại.  Hạnh tiếp:

– Tôi muốn chứng tỏ cho mọi người thấy bản chất của con người mang tên Trần Vũ, một tù cải tạo, có đủ nghị lực nhận tội hay không.

Bỗng, từ dưới chân khán đài, Vũ la lớn:

-Tôi xác nhận là không đúng! Vết thương trên mặt tôi là do cán bộ điều tra gây ra. Công an Hoàng quắc mắt nhìn Vũ rồi nhìn Hạnh. Chị Quản lý quay mặt về phía bàn chủ tọa, tiếp:

– Được, bây giờ tôi đề cập đến vật chứng… Hạnh vừa nói vừa cầm bộ đồ tù đặt trên bàn đưa ra trước mặt hỏi:

– Trần Vũ hãy xác nhận bộ áo quần nầy của ai?

Trần Vũ lớn tiếng trả lời:

– Của tôi.

Hoàng lên tiếng:

– Tôi xét thấy lời xác nhận của can phạm về vật chứng như thế là đủ rồi.

– Không, hãy cho tôi trình bày diễn tiến của sự việc. Hạnh bác bỏ ý kiến của công an Hoàng, tiếp:

– Cách đây trên một tháng, trong trận mưa đầu mùa, nước từ viên ngói bể trên nóc kho  đổ xuống đống hàng tiếp liệu, Trần Vũ đích thân lên thay viên ngói bể ấy. Chiếc áo bị rách toạc sau lưng, nước mưa ướt đẫm cả áo quần, tôi đã tự động ứng trước cho Vũ bộ áo quần mới và giữ lại bộ áo quần cũ để đối chiếu khi vào sổ sách sau nầy.

Đây là lưng áo bị rách, cán bộ Hạnh vừa nói vừa trình chiếc áo ra trước cử tọa, rồi tiếp:

– Bộ đồ cũ nầy tôi cất trong kho, bỗng nhiên biến mất từ hơn hai tuần nay.”

Hoàng đập bàn đứng lên, nhưng Hạnh vẫn tiếp tục nói với nhịp độ nhanh và quả quyết hơn:

– Tôi xin xác định rằng Trần Vũ không hề cưỡng hiếp tôi… Tôi không phải là nạn nhân của Trần Vũ mà là nạn nhân của ông, thưa ông Thanh Hoàng. Vừa dứt lời, Hạnh ôm mặt gục lên bàn khóc tức tưởi.

Những lời chứng của cán bộ Đỗ Thị Hồng Hạnh là cú tát đau điếng đối với Thanh Hoàng. Hắn tái da mặt, đôi hàm răng nghiến lại.

Bên dưới hội trường, tù nhân xúc động, âm thầm bấm tay nhau. Những âm thanh lào xào nổi lên như khi ta đứng giữa rừng lau sậy trong cơn gió. Đó là âm thanh của hàng trăm bàn tay tù xoa vào nhau trong niềm phấn kích.

Cuộc tố khổ bất thành. Nhân chứng đã can đảm lội ngược dòng. Giám thị trưởng cho lệnh giải tán. Trần Vũ trở lại nhà kỷ luật.

Đêm nầy, đôi chân của Vũ nằm trong cùm, nhưng trái tim chàng ở bên Hạnh, người con gái can trường.

Hai ngày sau, Hạnh nhận được lệnh về trình diện ty Công an. Dù vô tội, Trần Vũ cũng bị cùm thêm bảy ngày nữa mới được thả. Đôi chân sưng vù, chàng phải lê từng bước. Máu rỉ ra từ những vết thương do miệng cùm cứa đứt. Niềm hân hoan trong trận “chiến thắng con tim” đã xoa dịu phần nào cơn đau đang hành hạ thể xác Trần Vũ.

*    *    *

Đã hai tháng qua rồi, cán bộ Hạnh không quay lại trại tù nầy nữa. Trần Vũ được trả về đội sản xuất rau xanh cùng làm việc với anh em những tháng ngày vui vẻ. Bạn tù đều cảm thông và thương mến chàng hơn.

Buổi sáng Chủ nhật, tù nhân lần lượt xuất trại làm công tác xã hội chủ nghĩa. Riêng Trần Vũ và bốn bạn tù nữa được lệnh ở lại thăm nuôi. Đây là lần đầu tiên trên suốt bốn năm Vũ mới được diễm phúc nầy. Anh vô cùng hồi hộp và nôn nóng tự hỏi, ai là thân nhân đến thăm mình. Hảo, người chị ruột đã mất tin tức sau ngày 30 tháng 4 năm 75? Tân, thằng bạn không quân được tha trước? Thời gian đợi chờ là lò lửa đốt nóng tim gan.

Một giờ, rồi hai giờ người ta mới kêu tên năm người ra khu thăm nuôi. Bốn bạn kia gặp được ngay vợ con. Họ nắm tay nhau mừng mừng tủi tủi. Riêng Vũ thì ngơ ngác tìm thân nhân. Chợt, một thiếu phụ đến bên Vũ hỏi nhỏ:

– Chú là Trần Vũ?

Hai người cùng đến bàn ngồi. Thiếu phụ thấp giọng giới thiệu:

– Tôi tên là Hồng, chị của Hạnh. Cô ấy nhờ tôi lên thăm chú. Nó gởi ít quà và mười đồng cho chú bồi dưỡng. Tôi đã khai báo với cán bộ rằng, tôi là chị bà con của Trần Vũ và đưa số tiền đó cho ông ấy “quản lý” theo nội qui của trại. Chị vừa nói vừa luồn tay dưới bàn chuyển cho Vũ một gói giấy. Vũ vội lận vào lưng quần. Hai bên trao đổi với nhau về sức khỏe của Hạnh và đặc biệt Vũ muốn biết hiện giờ nàng đang làm gì, ở đâu? Chị Hồng không trả lời trực tiếp mà chỉ bảo từ từ rồi sẽ rõ.

Hai mươi phút trôi qua, giờ thăm nuôi chấm dứt. Dù mới gặp nhau lần đầu mà phút chia tay cũng nghe lòng quyến luyến.

Về đến trại, Vũ vứt xách quà trên sạp, vội mở gói giấy xem bên trong có gì. “Ôi, thư của Hạnh!”, Vũ thốt lên mừng rỡ. Tim anh vừa rộn ràng, vừa thương cảm. Nét chữ thân quen dịu dàng trải đều trên mặt giấy vàng đục:

Anh Vũ Yêu Thương;

Không thể lên thăm anh được, nên Hạnh nhờ chị Hồng, người chị cả của em cũng trạc tuổi chị ruột anh. Em muốn mượn chị em để thay thế hình ảnh chị Hảo của anh hiện giờ ở rất xa. Em đã đến tận quê anh thăm dò mới biết chị ấy đang sống ở Mỹ cùng với chồng và một con. Đã có người hứa giúp liên lạc với chị Hảo để báo tin về anh. Sức khỏe của em vẫn tốt. Em đã nộp đơn xin chuyển cơ quan và đang chờ đợi cấp trên giải quyết.

Bố em đã biết mọi chuyện đã xảy ra. Ông mắng em là thiển cận và hồ đồ. Chị Hồng là người cảm thông và thương em nhiều nhất.

Anh yêu ơi, hôm trên hội trường, nhìn những vết sưng bầm trên mặt anh, em rất đau lòng. Thanh Hoàng đã buộc em làm chứng gian để trị tội anh, bởi anh là nguyên nhân của việc em quyết định từ hôn. Đối với Thanh Hoàng sự phản bội là một sỉ nhục ông ta. Hôm ấy em nói như kẻ lên đồng. Em không nói bằng lý trí mà nói bằng trái tim em. Trước đây, em đã có giao tình với Hoàng. Làm vợ Hoàng, trên một bình diện nào đó thì có lắm phụ nữ mong ước. Bởi anh ấy xuất thân từ  một gia đình có bề dày công lao cách mạng.

Từ ngày gặp anh, ngoài những kiến thức hiểu biết tổng quát, anh còn cho em những xúc cảm rất mới mẻ về thể xác lẫn tâm hồn. Hoàng đã đến với em gần một năm nay, thật tình mà nói em rất khờ khạo. Nhờ anh, em mới phát hiện sự cục mịch, thô lỗ và ích kỷ của người đàn ông trong tình trường.

Vũ ơi! anh là tù nhân của chế độ. Nhưng trái tim không là tù nhân của một ai. Con tim không phân biệt kẻ chiến thắng, người bại trận, không phân biệt chủ ngục với người tù. Con tim chỉ biết yêu và dâng hiến. Tại sao phải dựng bức tường ý thức hệ để ngăn cản tình yêu? Em ngồi viết cho anh mà nghe lòng mình tận cùng cô đơn. Em chán ngấy cái xã hội nầy, cứ để hận thù dày xéo con tim. Em yêu anh và muốn được sống bên anh. Có lẽ trọn đời em sẽ không quên quảng thời gian trên ấy. Dù rất ngắn ngủi nhưng lại sâu đậm hơn bất cứ lúc nào. Ta đã từng yêu nhau trong khoảnh khắc, vụng trộm, nhưng đầy ngọt ngào nồng ấm. Với Hoàng, chỉ để lại cho em những giây phút nhạt nhẽo và chán chường.

Em không hề đặt hy vọng hai ta là đối tượng hôn nhân của nhau, nhưng em vẫn quyết định từ chối làm vợ của Hoàng, bởi em tin rằng làm vợ Hoàng sẽ không còn hạnh phúc.

Thư không viết được nhiều đâu. Bị phát hiện sẽ làm khổ anh. Chị Hồng sẽ thay em thỉnh thoảng lên thăm anh. Rất nhớ anh.

Hồng Hạnh.   

Thời gian qua nhanh, nhưng “Hội chứng Trần Vũ” vẫn còn âm ỷ trong đám tù nhân. Ngoài hiện trường lao động hay trong láng trại hễ có dịp là bạn bè trêu chọc. Một bạn tù cuốc đất bên Vũ ngâm nga:

“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối, còn hơn tù thui thủi biết bao năm?” (nhại theo thơ Xuân Diệu)

Những cặp mắt đổ dồn về phía Vũ rồi những tiếng cười ha hả vang lên. Bạn khác chen vào với giọng thương cảm:

“Thương cho cây quế giữa rừng, để cho con Mán mụ Mường nó leo.” (nhại theo ca dao)

Tiếp theo là một giọng than vãn:

 “Muội ơi nắng quá bình khô nước, đời vắng nị rồi ngộ chết khô!” (nhại theo thơ Vũ Hoàng Chương)

Bốn tháng sau, Vũ lại được chị Hồng lên thăm. Lần nầy, sau khi lén đưa được bức thư, chị dặn Vũ phải cẩn thận. Chị cho biết Hạnh chưa được cápp trên chấp thuận chuyển cơ quan và hiện phục vụ tại thành phố Hội An.

Về đến trại, Vũ vội vàng bóc thư ra đọc:

Anh yêu thương, mới đó mà đã xa nhau hơn sáu tháng rồi. Em nhớ anh ray rứt trong những đêm dài thao thức. Có lẽ anh là người mới cảm nhận sâu sắc nỗi đau của đợi chờ vô vọng. Hiện giờ, người ta dùng thế lực gây sức ép không cho em chuyển cơ quan. Hoàng bảo với em hắn sẽ không bao giờ tha thứ trước hai cái tát phản bội của em: Một tình yêu và một nghề nghiệp. Tay nầy khá nhiều thủ đoạn. Em biết hắn đang tìm cách trả thù em. Em nhắc anh nhớ hãy hủy bỏ những thư em gởi. Thân phận tù đày của anh như “chỉ mành treo chuông”xin anh cẩn thận giữ thân mình. Không cần phải viết cho em. Vắn tắt mấy lời tin anh rõ. Nhớ anh.   

Hồng Hạnh.

*  *  *

Vũ nhận lệnh mang hết đồ dùng cá nhân trình diện Ban Trực Trại. Họ xáo tung áo quần của Vũ và lục soát tất cả không bỏ sót cả lai quần, bâu áo. Chỗ nằm của Vũ cũng có người đến lật từng thanh giường từng miếng gỗ. Chẳng có kết quả nào, Vũ bị chuyển đến một đội khác, đội hình sự. Chỗ nằm của Vũ được sắp vào giữa hai tay tù hình sự khét tiếng ngoài đời, Đại và Phi. Cả hai mang án tù mười năm về tội đâm chết người trong sòng bạc.

Tính trầm tĩnh và kiên nhẫn là hai yếu tố giúp cho Vũ vươn lên và yêu đời. Chàng làm việc rất hăng say và xốc vác, sẵn sàng tiếp tay cho những bạn tù yếu sức. Những kiến thức trong trường, ngoài đời của Vũ đã giúp cho đội đi cây đạt được tiêu chuẩn của trại ấn định dễ dàng mà lại bớt phần vất vả. Công tác thường xuyên của đội là hạ những cây danh mộc xẻ thành ván chuyển về cho toán thợ mộc sản xuất bàn, ghế, tủ, giường.

Trời vào Đông, cơn mưa phùn rả rích đêm ngày. Đây là thời điểm gây khốn khổ nhiều nhất cho đội đi rừng.  Với dốc đèo trơn trợt, loài vắt, loài ve xuất hiện dày đặc trên lá cây rừng. Vắt bám vào lưng, vào cổ người tù. Vắt luồn lách vào nơi kín đáo nhất của con người. Chúng hút máu mà ta không hề hay biết, đến khi no nê là tự động buông mình rơi xuống đất để lại vết cắn  máu vẫn tiếp tục chảy ra.

Trời tạnh mưa, nhưng rừng già còn sũng nước… Đội đi rừng khá vất vả mới hạ được cây gỗ lim. Toán dùng cưa dứt cây thành từng đọan. Vũ cùng anh em khác có trách nhiệm tỉa cành.

Ngọn cây ngã đổ về hướng dốc đứng cao, bên dưới là con suối, nước nguồn đang chảy về cuồn cuộn. Vũ khó khăn lắm mới bám được bờ dốc đổ thoai thoải về hướng suối làm nơi đứng để chặt cành. Tên Phi và Đại với áo mưa trùm đầu, cũng đến bên Vũ tìm chỗ đứng. Vũ đưa chiếc rựa ra xa, người chênh vênh trên bờ dốc. Bỗng một bàn chân đạp mạnh vào lưng Vũ. Mất đà, anh lộn nhào từ trên cao rơi dọc theo triền dốc đầy đá tảng rồi rớt xuống dòng suối.

Chiếc áo mưa đang mặc trở thành cái phao cứu Vũ. Nước đẩy trôi một đoạn, anh bình tĩnh nắm được ngọn cây chìa ra trên mặt nước. Khi nghe tiếng la: “tai nạn, tai nạn!” của tên Phi, mọi người chạy dọc theo bờ suối cứu Vũ. Chân trái bị gãy, đầu và mặt có nhiều thương tích. Quản giáo cho người khiêng Vũ về trạm xá.

Những ngày chân bị bó bột, nằm buồn, Vũ chợt nhớ đến mẫu chuyện Phúc Họa Khôn Lường trong Cổ Học Tinh Hoa, rồi ngâm nga câu thơ của Huỳnh Thúc “Kìa tụ tán chẳng qua là tiễn biệt, Ngựa Tái Ông họa phúc biết về đâu”.

Vài ngày sau Trần Vũ được chuyển qua toán làm việc nhẹ, ngày ngày chẻ mây đan giỏ. Từ khi Hạnh thẳng thừng bác bỏ những cáo buộc Vũ về tội cưỡng dâm do cán bộ Hoàng sắp đặt, anh luôn canh cánh nhớ ơn nàng vì mình mà Hạnh phải gánh chịu bao đắng cay, trù dập.

*   *    *
Sáng ngày 15 tháng 2 năm 1980, sáu tháng sau ngày Vũ bị tai nạn, tù nhân chuẩn bị xuất trại đi làm, Vũ được lệnh mang tất cả đồ dùng cá nhân trình diện Ban Giám Thị. “Lại có chuyện gì sắp xảy ra cho hắn?”, bạn tù xì xào bàn tán. Người đoán Vũ bị chuyển qua đội khác, kẻ hoài nghi chẳng lẽ họ đưa hắn đi Bắc?  Dự đoán nào cũng khoác màu đen lên cuộc đời Vũ. Riêng Vũ thì rất điềm nhiên tự tại, bởi anh sẵn sàng chấp nhận bất cứ hoàn cảnh nào.

–  “Anh đã thể hiện một cải tạo viên tiến bộ về mặt tư tưởng và lao động. Nay, Đảng và Nhà Nước  quyết định tha anh về đòan tụ với gia đình.”

Lời tuyên bố quá bất ngờ của Giám thị trưởng, khiến Vũ đứng ngây người như trong cơn mơ. Anh không tin lỗ tai mình nữa, đến khi quản giáo trực gọi chàng vào ký giấy tờ, Vũ mới chắc chắn rằng chàng thật sự thoát được cảnh đọa đày.

Sau một giờ làm thủ tục, Vũ nhận một giấy “Quyết Định Ra Trại” và 20 đồng bạc đi đường. Vũ rời trại với bộ áo quần tù mới phát. Tất cả đồ cá nhân còn lại, Vũ yêu cầu cán bộ chuyển cho hai tù hình sự tên Đại và Phi kèm theo mảnh giấy có ghi lời nhắn: “Xem như món quà mọn dành cho hai bạn với lời cảm ơn chân thành của tôi. Trần Vũ.”

Vũ lê đôi nạng gỗ suốt quãng đường dài mười cây số. Khi mặt trời chiều vừa gối đầu trên đỉnh ngọn núi cao nhất của Trường sơn, Vũ mới đến được bến xe huyện lỵ. Bác tài xế đỡ Vũ lên chiếc xe khách cuối cùng rời thị trấn.

Quyết định đầu tiên của Vũ là đến nhà chị Hồng để hỏi thăm tin tức của Hạnh. Có thể Hạnh đã lấy chồng hoặc đã thuyên chuyển đến một đơn vị nào rất xa. Điều quan tâm của Vũ là phải cảm ơn nàng lần cuối cùng, trước khi gởi đời mình vào nơi bị cưỡng bức cư trú: Khu Kinh Tế Mới.

Nhà chị Hồng ở làng Cẩm Lệ, một địa phương nổi tiếng trồng thuốc lá. Ngôi nhà màu vàng nhạt, mái ngói lâu đời đã xanh rêu, nổi bật là chiếc sân rộng lát gạch bát tràng. Nghe tiếng chó sủa, chị Hồng  ra mở cửa. Chị trố mắt, kinh ngạc kêu lên:

– Vũ, chú được tha rồi hả? Nhìn vào cặp nạng với ánh mắt đầy lo âu:

– Chuyện gì đã xảy ra cho chú thế? Vũ không trả lời ngay, anh lục túi lấy tiền trao cho bác xe ôm. Chị Hồng ngăn lại dành phần trả, bác xe ôm tươi cười nói:

– Tôi chở giúp đấy, người anh em cũ của chúng tôi mà. Vũ chưa kịp cám ơn, anh xe ôm đã vội vàng phóng xe đi.

Vũ quay qua chị Hồng hối hả hỏi:

– Hạnh thế nào, bây giờ làm gì, ở đâu?

Chị Hồng nhìn Vũ bảo:

– Việc ấy sẽ nói sau, giờ đây mời Vũ dùng cơm với mẹ chị và gia đình.

Bóng đêm phủ trùm cảnh vật, nhà nhà đều lên đèn. Bữa cơm đầu tiên với không khí gia đình đầm ấm khiến cho lòng Vũ cảm xúc dâng trào. Được biết chồng chị Hồng là công nhân của một Lâm trường cách xa nhà, lâu lâu mới được phép về thăm gia đình. Hồng và Hạnh là hai chị em cùng cha khác mẹ. Chị Hồng ở lại miền Nam với mẹ. Người cha tập kết ra Bắc lấy vợ khác, sinh ra Hạnh tại thành phố Vinh.

Đầu mùa Xuân mà tiết trời khá oi bức. Chị Hồng bắc ghế ngoài hiên cùng Vũ ngồi tâm sự. Sau khi nghe Vũ tường thuật những việc xảy ra cho chàng từ ngày Hạnh bị triệu hồi về Ty, cùng mưu đồ ám hại do hai tên tù hình sự thực hiện, Chị Hồng lắc đầu thốt lên:

– “Ghê thật!”  rồi tiếp:

– Đã trên một năm rồi, Hạnh không cho chị lên thăm Vũ vì tên Hoàng theo dõi chị. Phần Hạnh thì gặp muôn vàn khó khăn. Một mặt chúng lưu giữ không cho nó chuyển cơ quan, mặt khác cố truy tìm những vật chứng về sự liên hệ mật thiết giữa hai người. Đó là phương cách duy nhất để hủy họai danh dự của Hạnh mà Hoàng đã thề sẽ không bao giờ tha thứ.

Chị Hồng ngưng kể, nhìn Vũ một hồi lâu rồi ân cần bảo:

Đêm nay Vũ nghỉ lại đây. Ngày mai chị sẽ đưa chú đến thăm Hạnh. Con nhỏ vẫn còn tốt số, Chúa đã che chở cho nó! Vũ giật mình, nôn nóng ngắt lời:

– Hạnh đã gặp tai nạn phải không?

Gần như thế, thằng Hoàng hăm he sẽ đòi lại món nợ đời mà Hạnh đã gây ra cho nó. Rất may là thư của Hạnh chú đã tiêu hủy. Bằng không, lần khám xét trên ấy mà họ bắt gặp chỉ một bức thư của Hạnh là hai người sẽ bị khốn đốn. Thằng ấy đầy mưu mô quỉ kế.

Mới đây, Thanh Hoàng bỗng làm lành với Hạnh. Hắn yêu cầu cô ấy rút lời từ hôn và  trở lại với hắn. Con nhỏ cứng rắn bảo:  –  Nước đổ ra sàn còn mong gì hốt lại, đồng chí tìm một người khác xứng đáng hơn.    Hoàng gằn từng tiếng:

– Đến bây giờ mà cô vẫn còn mê muội.

Con nhỏ nổi giận quát lên:

– Đồng chí nói ai mê muội?

Hoàng trợn mắt, hét vào mặt Hạnh:

– Tôi nói đồng chí mê muội đấy, được không? Tao sẽ trị thằng giặc đó liệt đời luôn.

Con bé không vừa, dang tay tát vào mặt Hoàng một cái như trời giáng, rồi thét lên:

– Quân đốn mạt!

Bất ngờ, Hoàng rút súng lẫy cò. Một tiếng nổ vang lên chát chúa. Hạnh ngã xuống, máu chảy tràn trên mặt đất. Người ta vội chở cô ấy đi bệnh viện cấp cứu ngay. Rất may là viên đạn không trúng tim mà đi chệch lên trên làm gãy xương vai.

– Sự việc xảy ra bao lâu rồi hả chị? Vũ lo lắng hỏi.

– Vừa tròn một tháng. Với tấm chân tình Hồng tiếp:

– Hạnh, nó yêu em thật lòng Vũ à. Con nhỏ nầy cứng đầu lắm. Mẹ ruột nó mắng chửi, ông già khuyên răn mãi mà nó cương quyết không chịu trở lại với thằng Hoàng, nó bảo:

-Vợ chồng mà không hòa hợp làm sao chung sống với nhau cho tròn vẹn.

Thiếu Tá Thanh Hoàng hiện nay đã bị ngưng chức. Hắn ra Hà Nội đã nửa tháng nay.

Suốt cả đêm Vũ không hề chợp mắt, trông trời mau sáng. Tình yêu trong trái tim đóng kín giờ đây như được thoát ra khỏi lớp vỏ bọc mặc cảm thân phận người tù và đang thôi thúc Vũ nhanh chân đến với Hạnh.

Trời còn tối mịt, chị Hồng cùng Vũ đón xe đi Hội An, một thành phố cổ nổi tiếng ngày xưa nằm về hướng đông nam Đà Nẵng.

Hội An mới trải qua 6 năm sau ngày “giải phóng” mà như người mắc bệnh cùi, khuôn mặt lở lói, nhớp nháp, xanh xao. Đường phố loang lổ ổ gà. Nhà nhà cửa đóng then cài, lưa thưa một vài bóng người thất thểu trên vỉa hè đầy rác rưởi.

Hạnh ở trong một tòa nhà chung cư ba tầng. Thang gác chật hẹp lại thêm dốc đứng, với đôi chân đi nạng, Vũ trèo lên vô cùng khó khăn. Trên lan can, người ta phơi áo quần giăng mắc khắp nơi. Ngay cả những quần đùi, xì líp họ cũng chẳng ngần ngại bày ra.

Dọc theo một hành lang tối tăm, ẩm thấp là những cánh cửa có ghi số phòng: P311, P312, P313… Chị Hồng dừng lại cửa P319 rồi gõ vào đó bốn tiếng. Vũ hồi họp đợi chờ.

Cánh cửa từ từ xịch mở. Hạnh xuất hiện nơi khung cửa, vai trái bó bột, gương mặt xanh xao, tiều tụy nhưng đôi mắt nàng vẫn còn ngời lên ánh tự tin. Hạnh cười với chị Hồng. Bất chợt nàng trông thấy người đàn ông đi nạng đứng ngoài xa. Hạnh nhìn chị Hồng, rồi nhìn Vũ, bỗng nàng la lên:

– Vũ, anh đã về!

Hạnh chạy tới ôm chầm lấy Vũ. Chàng buông cặp nạng gỗ, hai tay giữ đầu Hạnh. Họ gục mặt vào nhau. Dòng nước mắt nhớ thương tích tụ lâu ngày của đôi tình nhân đầy nghịch cảnh đã chan hòa. Họ uống những giọt lệ hạnh phúc qua làn môi mặn. Chị Hồng lặng lẽ lau khô dòng  nước mắt xúc động đang chảy dàn dụa trên má.

Vừng thái dương đã lên cao. Đôi bồ câu tha những sợi rác về làm tổ cũng vừa sà cánh trên nóc dãy nhà dân trước mặt. Nắng chan hòa trên mái ngói rêu xanh làm dịu bớt nét già nua của thành phố cổ.

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Phim “Chiến Tranh Việt Nam Dưới Cái Nhìn Của Chúng Tôi” và Những Câu Chuyện Chưa Kể—RFA

Tiếng Hát Hậu Phương Kỳ 251 | Cựu Thiếu Tá Hoàng Đình Khuê K16—Hồn Việt TV

Bông Hồng Cài Áo—Như Hương & Hiếu Thuận K30/1

 

Bò Cách Ly—Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Minh Hải Hồ là họ tên quay nôi của cha mẹ Việt gốc Tàu đặt lúc anh mới chào đời tại Chợ Lớn. Suốt hai mươi năm trong quân ngũ, từ cấp binh nhì dần dà được thăng cấp lên Trung sĩ. Vì có tinh thần chiên đấu xuất sắc nên được cấp trên cho đi thụ huấn khóa sĩ quan đặc biệt. Từ năm 1974 thượng cấp bổ nhiệm anh giữ chức Đại đội phó kiêm sĩ quan CTCT thuộc một đại đội Địa Phương Quân bảo vệ an ninh vòng đai phi trường.
Sau cuộc “đổi đời 1975”, Đại úy Minh Hải Hồ vào tù. Dù tuổi đời tròn trèm bốn mươi nhưng bạn bè đùa chơi cứ gọi anh là Bác mỗi khi không có cán bộ. Bác Minh Hải Hồ chẳng phiền trách mà lấy đó làm vui.
Một hôm, cả đội đang trồng sắn trên đồi, Hải Hồ xin phép cán bộ đi “đại tiện.” Lúc điểm danh thấy vắng mặt, anh em hỏi: “Bác đâu?” Bỗng, từ trong bụi rậm anh vội vàng chạy ra, vừa cột dây lưng quần vừa la lớn: “có Bác Hồ đây.” Cả đội sửng sốt, lạnh cả người.
Quản giáo đội nghe được, gọi anh lại hỏi:
-Anh tên gì ?
-Thưa cán bộ, tên Hồ.
-Họ gì?
-Minh.
-Ai đặt tên cho anh thế?
Cha mẹ đặt trong khai sinh.
Anh có biết anh đã xúc phạm đến tên thiêng liêng của Bác không? từ nay trở đi, tôi cấm anh không được xưng tên đó nữa.
-Thưa cán bộ, vậy gọi tên gì?
Muốn kêu tên gì tùy ý trừ cái tên thiêng liêng đó. Tối nay anh viết kiểm điểm, ngày mai nộp cho tôi.
Minh Hải Hồ trình bày trước đội Tù về lệnh của cán bộ quản giáo buộc anh đặt tên khác. Ai ai cũng bụm miệng cười.

Để giải quyết sự khó khăn của Hồ, bạn bè góp ý tìm cho anh một tên mới. Ác thay, cái họ Minh của anh cũng “phạm húy”. Vì vậy có người đề nghị lấy tên lót Hải thay tên Hồ để gọi nhau, nhưng trong đội đã có Hải trắng và Hải đen.
Ông bà ta thường nhắm người mà đặt tên, nên cả đội đồng ý lấy tên Hải Vồ là hợp hơn cả. Dù sao thì cái tên Vồ vẫn còn giữ được âm ồ mà cha mẹ anh đã chọn. Đồng thời lại hợp với chiếc trán dô ra quá cỡ của anh.
Sáng hôm sau, Hải Vồ nộp tờ kiểm điểm cho quản giáo. Nhìn vào tờ giấy, cán bộ hỏi:
-Anh tên gì ?
-Thưa cán bộ, tên Hải Vồ,
Trong danh sách đội không có tên nầy. Ai bảo anh đổi tên?
Cán bộ ra lệnh.
Tôi bảo anh đừng xưng tên của Bác, đâu bảo anh sửa tên trong tờ kiểm điểm!
-Tại sao anh không thừa nhận có khuyết điểm ?
-Thưa cán bộ, tôi đâu có vi phạm nội quy.
-Anh ù lỳ đấy à? Anh xúc phạm đến tên thiêng liêng của Bác mà dám bảo là không sai phạm.
-Thưa cán bộ, cha mẹ đặt tên cho tôi đấy chứ!
Cha mẹ đặt nhưng anh mang tên đó. Anh rõ chưa ?
Dạ, rõ ạ.
Đúng là lý luận của loài cáo đối với chú cừu con “mầy không lỗi thì đời cha mầy lỗi, đời cha không lỗi thì đời ông mầy vậy.”(Thơ Ngụ ngôn của La Fontaine.) Ông Quản giáo lôi lý lịch cả ba đời ra, tha hồ mà bắt tội!
Hải Vồ trong suốt ba năm cải tạo không có một lần thăm nuôi. Tuy vậy, anh rất yêu đời và tin tưởng tuyệt đối vào lời hứa của cách mạng: “Trước sau như một, trại viên nào lao động tốt sẽ được tha.”
Hải Vồ bản chất cục mịch thiệt thà, làm việc cật lực, lúc nào cũng vượt chỉ tiêu của trại đề ra. Hàng tuần, hàng tháng, hàng năm, anh luôn luôn được xếp hạng thành tích lao động đầu bảng. Anh em trong đội đều kiêng dè không dám khuyên can. Những buổi kiểm điểm công tác lao động trong tuần, tên Hải Vồ thường được quản giáo phát huy để nêu gương phấn đấu cho toàn đội. Đặc biệt nhất là cuộc tổng kết bình bầu tròn ba năm.
Trong ngày lễ mồng 2 tháng 9, Hải Vồ được tuyên dương “Tù Cải Tạo Lao Động Tiên Tiến”. Lần nầy, Hải Vồ lại viết thư, mặc dầu những lá thư trước chẳng có hồi âm. Anh dặn vơ: “Em ở nhà phải thi hành nghiêm chỉnh chính sách của Đảng, nhà nước, chính quyền địa phương. Cần kết hợp giữa gia đình và cải tạo viên, hai bên cùng phát huy lao động tốt thì ngày về của anh không còn bao xa nữa. Đảng đã hứa trước sau như một em à.”
Lao động đã tốt mà còn thuộc bài như thế, hỏi ai không tin Hải Vồ được đảng sắp vào hàng ưu tiên!
Chiều ngày 15 tháng 10 năm 1977, lệnh từ Tổng trại ban ra : “Các đội nhận cơm vắt và chuẩn bị hành trang đi lao động xa.” Tù nhân bắt đầu xôn xao. Cộng sản nói một đường, làm một nẻo. Vì thế, kẻ đoán đi đào kênh người nghi dời trại. Theo kinh nghiệm, mỗi lần dời trại là có đợt phóng thích. Chung quy đều là những dự đoán.
Riêng Hải Vồ lần nầy chắc mẩm sẽ được ra tù. Anh nghĩ như thế và tin như thế bởi đảng nói trước sau như một mà. Ba năm liền có ai lao động hơn anh đâu. Tháng vừa rồi đại úy Toà, trưởng ban tiếp liệu không quân đã bị cảnh cáo toàn trại “tội lười lao động” với lý do gánh rạ không chịu bó chặt bị cán bộ quản giáo bắt gặp còn được phóng thích về đoàn tụ với gia đình huống hồ anh đã từng gánh sắn vượt chỉ tiêu gấp hai lần, từ tám đến chín chục cân.
Chính ủy Sư đoàn trực tiếp tuyên dương anh trước tổng trại. Hải Vồ còn nhớ nằm lòng câu nói của người cán bộ cấp cao : “Lao động như anh Minh Hải Hồ mới thực sự là tự giác và thể hiện sự tiến bộ của cải tạo viên.” Đêm đó, Hải Vồ sướng ran người mặc dù anh cảm thấy chất gì nhột nhạt trong cổ họng, khạc ra có vị mằn mặn và ngực hơi khó thở. Anh nghĩ thầm : “Ồ, chỉ vài sợi máu vấy trong đờm, nhằm nhò gì. Mình sẽ được về với vợ con nay mai, cách mạng hứa là phải giữ lời với tù chứ!”
Hải Vồ thao thức gần trọn đêm. Anh tưởng tượng giờ phút cán bộ gọi tên mình lên văn phòng nhận giấy ra trại, lại có thêm phần tuyên dương: “Một cải tạo viên tiến bộ về tư tưởng, có thành tích lao động vượt chỉ tiêu suốt ba năm.” Anh nghĩ đến đôi mắt sửng sốt của vợ khi trông thấy chồng lù lù xuất hiện nơi khung cửa và bầy con bảy đứa nhào đến đứa ôm cổ, đứa ôm chân bố! Niềm hân hoan chạy rần rật trong cái thân thể da bọc xương của anh như vừa “phi” một hơi thuốc phiện.
Kẻng báo thức từ lúc màn sương còn phủ dày đặc trên khắp miền thung lũng. Chim rừng lặng tiếng trước cái lạnh nhức mắt của những ngày cuối Đông. Tù nhân run rẩy tập họp trước sân trại. Những ba lô, xách tay, chiếu mùng, xoong nồi cồng kềnh như đám dân du mục, họ lần lượt lên chiếc xe tải bịt bùng khi tên mình được xướng lên.
Danh sách đầu tiên gồm thành phần An ninh, Tình báo, Chiến tranh Chính trị, và các sĩ quan cấp tá. Điều đáng ngạc nhiên là Minh Hải Hồ có tên trong danh sách nầy. Không còn nghi ngờ gì nữa, tù bị chuyển đi trại khác. Tù ở Bắc hay tù ở Trung vẫn là những ngày khổ ải tiếp tục kéo dài.
Hải Vồ bắt đầu khóc cùng lúc với đoàn xe lăn bánh. Anh khóc như một người vợ khi nghe tin chồng tử trận. Ôm đầu vật vã tưởng chừng anh sắp lên cơn điên. Niềm tin trong anh vừa bị bức tử từ lúc gọi tên mình lên xe. Cách mạng đã dối trá, lừa gạt cái đầu quá đơn giản của anh. Và chính cái đầu đơn giản đó đã làm cho bao nhiêu đồng đội phải lao đao, khốn khổ vì mức lao động vượt chỉ tiêu của mình.
Chỉ là một đại đội phó Địa Phương Quân bảo vệ phi trường, Hải Vồ đã thật thà khai báo cho thêm phần quan trọng “Đại đội phó an ninh phi trường kiêm Sĩ quan CTCT.” Hai chữ An ninh và Chiến Tranh Chính Trị khốn khổ đã đẩy anh thêm mấy năm tù nữa… Kể từ đó, cái tên Hải Vồ được thay bằng tên “Minh Sáng Mắt.”

Đoàn xe mười hai chiếc gầm gừ leo lên dốc tiến vào cổng trại Cải Tạo An Điềm. Lần lượt từng chiếc một đổ đám tù lếch thêch tả tơi giữa khu sân rộng. Trại tù nằm trên đỉnh đồi với hai mươi căn nhà xây vách gạch, mái ngói trông rất bề thế, được bao bọc bởi bức tường cao bằng gạch xi măng kiên cố, trên đầu tường thêm mấy hàng kẻm gai.. Là nhà tù chính thức do lực lượng công an là Cai tù chuyên nghiêp Xã hội Chủ nghĩa điều hành nên khác xa cảnh trại tập trung tạm thời do bộ đội quản lý.
Đám công an đồng phục màu vàng, tay lăm le cò súng, chĩa thẳng nòng vào đoàn tù xơ xác đang sắp thành bốn hàng ngang chờ cán bộ khám xét đồ dùng trước khi nhập tù. Không khí nặng nề, nghẹt thở.
Ban giám thị trại gọi tên từng người tuần tự vào các nhà số 1, số 2, số 3… Đủ sáu mươi người là cánh cửa đồ sộ được đóng lại. Cán bộ công an bảo vệ chốt cửa bằng một thanh gỗ lớn từ phía bên ngoài.
Nỗi chán chường hiện rõ trên nét mặt tối sầm của từng tù nhân. Thế là hết, chút hy vọng về nhà tù mới được thoải mái hơn đã tắt theo ánh sáng khung cửa duy nhất của phòng giam vừa đóng kín. Bóng tối lờ mờ từ các khung cửa sổ tò vò rọi vào những khuôn mặt chập chờn như bóng ma. Ánh mắt không hồn nhìn nhau ẩn chứa một điều duy nhất: “Những ngày tháng khắc nghiệt hơn, đau khổ hơn đang chờ đợi người tù…”

Cái Tết đầu tiên tại trại tù do công an quản lý, ban giám thị cho tù nhân bồi dưỡng ba con bò và một trăm ký nếp gói bánh ú. Khi tin ấy được thông báo, mọi người rất hồ hởi. Anh em mừng thầm : “Tết nầy có chất tươi khấm khá”.
“Ai bảo công an là chúa khắc nghiệt đối với tù? Ai bảo công an là hiện thân của hung thần chốn trần gian?…” Đó là ý niệm đầu tiên về lực lượng “Công an Nhân dân” mà người tù miền Nam xem chúng chẳng khác gì lực lượng SS của Đức quốc xã, mật vụ KGB cuả Staline. Ai đã đọc truyện Một Ngày Trong Đời Ivan Denissovitch hoặc Tầng Đầu Địa Ngục của tác giả Nga Soljenitsyne thì không ít nhiều đều khiếp sợ.
Dù sao thì không khí lo âu trong những ngày đầu mới đến đây có phần lắng dịu.
Chiều ba mươi Tết, đến giờ lãnh thức ăn, kẻ cầm ca, người cầm gô, khuôn mặt người nào cũng hớn hở. Họ vui mừng sắp có một bữa thịt bò tươi sau bao ngày thèm thuồng đói khát. Ai cũng thầm mong có được một chén thịt đầy, tươm mỡ.
Món thịt bò xào thơm ngào ngạt từ nhà bếp bay đến tận các láng trại. Tù nhân hít hà, nước miếng tuôn ra. Người dự tính chén ngay phần thịt bò trước tiên cho đã cơn ghiền. Một bạn khác có ý kiến chí lý hơn, khuyên nên ăn một nửa thịt thôi, còn nửa kia dành lại để ăn trước khi đi ngủ cho đỡ phần xót bụng. Người bạn nằm bên nhắc khéo: “Nầy, đằng ấy chớ nên ăn vội vàng nhé, nhớ nhai thật nhỏ, mình mới thưởng thức hết hương vị ngọt ngào, béo ngậy của miếng thịt bò tươi.” Ôi, niềm hạnh phúc to lớn của tù đang căng đầy trên năm mươi cặp mắt sáng rỡ.
Toán trực bưng thức ăn về đến cửa. Cả phòng gióng mắt đợi chờ. Khi mười hai ô thịt được đặt “an vị” trên sạp nằm, mọi người ồ lên thất vọng. Một phần ba ô thịt chia cho mười người. Kết quả, mỗi tù nhân vỏn vẹn có bốn miếng da dính thịt, hai miếng gân, một cục xương với nửa chén nước luộc da bò! Hy vọng càng nhiều thất vọng càng lớn. Ở đây, nỗi thất vọng càng làm cho ruột gan mọi người “xót như muối, nhàu như dưa” trước cái thân phận tù đày của mình! Cơn vui đang căng phồng tột đỉnh, đột ngột xẹp nhanh như chiếc bong bóng xì hơi khi từng người nhận về phần thịt và da ít oi của mình.
Ngay chiều hôm đó, một “bản tin truyền tai” được đánh đi từ nhà bếp : “Lòng ưu ái của đảng và nhà nước dành cho 1200 tù cải tạo trong ngày Tết thiêng liêng của dân tộc là ba con BÒ CÁCH LY!”
Nhà tù cộng sản nào cũng có khu cách ly dành cho tù bị bệnh truyền nhiễm như lao phổi, kiết lỵ, thương hàn… Thành phần nầy toàn là những người suy nhược, mất sức, thân thể gầy còm chỉ còn da bọc xương.
Những ngày mùa đông nắng ráo, nhìn những thân thể trần trụi của bệnh nhân phơi nắng trong khu tù cách ly, ta có cảm tưởng là khu triển lãm lộ thiên những bộ xương người. Thân hình vặn vẹo, co quắp, bày ra những chiếc xương sườn được bọc lớp da xanh xao, vàng tái đầy ghẻ lở. Chân tay là những khúc xương khẳng khiu nối liền với các khớp sưng vù do bệnh thấp khớp kinh niên. Đôi chân rã rời bước đi như người máy hết pin, run run, chập chững. Đôi tay buông thõng bất lực trước lũ ruồi đang tranh nhau đục khoét những ổ vi trùng trong đám ghẻ lở.
Đêm ba mươi, lệnh từ trên ban xuống: “Tù nhân không được ngủ, phải hát những bài đồng ca, đón giao thừa tập thể. Ngồi nghiêm chỉnh nghe lời chúc Tết của Chủ tịch nước được truyền qua loa phóng thanh. Đội nào im tiếng hát là có ý đồ chống đối.
Tội nghiệp cho thân tù, với bốn miếng da bò dai như da giày, một cái bánh ú gạo nếp bằng nắm tay trẻ con mà phải thức trả nợ suốt cả đêm. Lời chúc Tết năm xưa phát ra từ cái Tết Mậu Thân đầy máu và nước mắt: “…Đánh cho Mỹ cút ngụy nhào. Tiến lên chiến sĩ đồng bào, Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn…” được truyền thanh liên tục mấy cái Tết liền, nhân dân cả nước đã nhét đầy lỗ tai đến độ tràn ra ngoài, không còn chỗ nào nhét nổi, bây giờ vẫn còn tiếp tục phát đi.

Tối mồng hai Tết, lệnh tập họp khẩn trương toàn trai. Công An bảo vệ súng trong tay, nét mặt đằng đằng sát khí tràn ngập cả khu tập thể. Sau khi các khối tù ngồi ổn định trên sân, hai tù nhân được áp giải ra trước sân hội trường trình diện Ban giám thị. Hai phạm tù bị xích tay chung một còng số tám do hai công an áp giải. Ánh sáng ngọn đèn điện vàng vọt soi vào khuôn mặt hốc hác của hai bạn tù thoạt trông như hai chiếc đầu lâu đang di động. Chúng đẩy hai tù phạm đến dưới chân cột đèn đối diện với đám người áo vàng đang ngồi trên dãy ghế cao. Từng người một lần lượt tự đọc tờ kiểm điểm về bản tin đã loan truyền “ba con bò cách ly” mà các bạn ấy nói đùa trong lúc vô tình.
Giám thị trưởng đóng vai quan tòa đọc bản lên án hai phạm tù : “Trần Siêng và Minh Hải Hồ đã tung tin thất thiệt, dùng danh từ “bò cách ly” để ám chỉ Đảng và Nhà nước ta cho tù ăn thịt bò ốm đau, có toan tính làm hạ uy tín cán bộ và lãnh đạo trại, tuyên truyền xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước. Để chận đứng hình thức tuyên truyền phản động, nay quyết định dành hình phạt để giáo dục hai phạm tù Trần Siêng và Minh Hải Hồ như sau: Cùm sấp hai mươi bốn giờ, nhốt phòng biệt giam một tuần lễ, hạ tiêu chuẩn phần ăn, cấm thăm nuôi một năm và đuổi ra khỏi nhà bếp đi lao động ngoài.”
Trần Siêng và Hải Hồ thuộc đội nhà bếp phụ trách làm thịt bò. Họ đã chứng kiến ba con bò già, bịnh hoạn, phế thải chỉ còn da bọc xương mà ban giám thị dành bồi dưỡng cho tù.
Sự hài hước châm biếm cười ra nước mắt của họ là dùng từ “bò cách ly.” Và ba chữ “bò cách ly” trở nên thành ngữ của tù mỗi khi đùa cợt.

Về sau, mỗi đợt được gia đình thăm nuôi, thế nào cũng có anh than vãn đại loại như:
“Từ ngày vào hợp tác xã, bầy con tớ thiếu ăn gầy như đàn” bò cách ly”, trông thấy chúng mà ruột mình như xát muối”.
Hay một anh bạn khác trong toán cày bừa vừa bắt được ếch ngoài ruộng lén mang vào trại lên tiếng:
“Tớ tóm được hai chú ếch thuộc loại “bò cách ly” đây, ông nào tình nguyện chạy bếp nấu cháo, hai bên cùng có lợi, chia hai.”

Như thế đó, đám tù cùng khổ thỉnh thoảng cũng có một vài phút giải sầu. Xin cảm ơn hai bạn tù nhà bếp đã làm giàu thêm cho bộ từ điển nhân gian nhóm từ ngữ rất hiện đại: “Bò cách ly.” Các nhà biên soạn từ điển thuộc nhóm Khoa học Xã hội ở Hà Nội nhớ đừng quên bổ túc thành ngữ mới đầy ý nghĩa nầy vào bộ Đại Từ Điển Tiếng Việt với ghi chú nơi xuất xứ: “từ nhà tù Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam!”

(Lưu Dấu Ngày Xưa)—Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

“Sea of Black”—Trúc Hồ | SBTN

 

Trump speaks to reporters after G20 summit | FULL PRESS CONFERENCE—Fox News

Một Ngày Với Mùa Xuân Hà Nội—Kim Thanh

I. Tôi sinh ra, và lớn lên, tại Nha Trang. Gia đình bên ngoại gốc “Nhe Treng” rặt, và bên nội, gốc Quảng Trị, cũng rặt. Bởi vậy, anh em tôi trong nhà nói một thứ tiếng lai căng, ở trường học không nói tiếng Việt, thành thử ra ngoài không có cái giọng, kiểu “chu che bữ nê mềnh lợi eng cuôm dí ké nữ” (dịch nghĩa: Chu cha bữa nay mình lại ăn cơm với cá nữa) cố hữu của dân địa phương thứ thiệt, như mấy đứa bạn cùng xóm. Rồi sau năm 1954, người Bắc di cư vô Nam nói, ôi thôi, đủ thứ tiếng Bắc kỳ, nghe rất mệt tai. Trong số, tôi chỉ chấm, và mê, tiếng hát mượt mà, đài các, phát âm chuẩn xác của những nữ ca sĩ chính gốc Hà Nội, như Kim Tước, Thái Thanh, Mộc Lan, Tâm Vấn, và những minh tinh, như Kiều Chinh, Mai Trâm. Tất cả những mỹ nhân một thời ấy đã mang theo vào Miền Nam dáng vẻ thanh lịch và giọng nói quý phái từ Hà Nội cổ kính, và cố đô Thăng Long ngàn năm văn vật.

Hà Nội mà tôi chưa bao giờ được thấy, nhưng biết qua thơ văn nhờ hồi đi lính bắt đầu đọc những tiểu thuyết tiền chiến và những tạp chí của mấy ông nhà văn, nhà thơ Bắc kỳ di cư. Nhất là nghe những ca khúc đương thời thương về Hà Nội. Trong đó có một câu, trong một bài, mà ông cậu ruột mười sáu tuổi, em út của mẹ tôi, nghĩa là dân Nhe Treng đặc sệt, cứ âm ư mãi, riết rồi thành lố bịch: “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu…” Lố bịch là phải, bởi lẽ không ai có thể gây xúc động mạnh lên trái tim thính giả trong những bài hát nhớ Hà Nội cho bằng những nhạc sĩ, ca sĩ di cư chánh hiệu Hà Nội của thời trước 1975.

      Quả vậy, Trịnh Công Sơn, tên nằm vùng phản chiến, gốc Huế, sau 1975, muốn lấy điểm với chế độ mới, cũng bắt chước viết hai ca khúc về Hà Nội, nhưng không hay bằng, vì cảm xúc, nguồn hứng rất giả tạo, và hình ảnh rất ước lệ, khuôn sáo, mặc dù cũng vẫn là Hồ Tây, cũng mùa thu mây bay, cũng mùi hoa sữa, cũng cây bàng lá đỏ… Chưa kể, câu kết, trong bài “Nhớ mùa thu Hà Nội”,“Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội / Nhớ đến một người để nhớ mọi người”, muốn nhắn gửi gì đây? Chưa vội chụp nón cối, người ta phải thắc mắc: Mùa thu nào? Tổng khởi nghĩa 1945 ư? Một người  nào? Đồ tể Hồ Chí Minh, với khẩu hiệu “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, mà các tù binh cải tạo đã phải nghe lải nhải hoài, phát ớn đến tận cổ?
 
      II. Hà Nội, tôi đã thấy, đã nghe, đã gặp một lần, vào tháng 4 năm 1983. Cách đây ba mươi hai năm. Không như một du khách, hay một Việt Kiều yêu nước. Mà như một tù binh cải tạo. Đúng ra gặp hai lần.       
      Lần đầu, cuối năm 1975, một cách chớp nhoáng, bất đắc dĩ. Tại bến cảng Hải Phòng, tôi được bốc từ tàu Sông Hương ra và tống lên xe lửa, chực sẵn để chở, cùng với hàng trăm ngàn đồng đội, lần lượt, đến các trại giam vùng biên giới, Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cổng Trời… Khi đoàn tàu đi ngang Hà Nội, chắc quá nửa đêm, tôi cố nhướng mắt nhìn ra bên ngoài, từ song cửa sổ hẹp. Tàu chạy nhanh, trời lại tối, và đèn đường leo lét, chỗ có chỗ không, nên tôi không thấy gì cả, ngoài một Hà Nội còn đang ngủ say, phố xá lặng thinh, sương rơi lả tả, và những hàng cờ đỏ sao vàng giăng mắc, ủ rũ, trên những góc phố. Làm nhớ đến hai câu thơ oan nghiệt –đã bóp chết đời tác gỉả, Trần Dần: 
      Tôi bước đi, không thấy phố, thấy nhà / 
      Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ… 
      Rồi tàu rẽ lên cầu Long Biên, khá dài. Tôi thấy hai bên đường sắt vài người dân đi bộ hay đạp xe, không biết về đâu, co ro trong chiếc áo tơi thô sơ. Trên sông, vài chiếc thuyền câu đậu bến im lìm.
      Lần thứ hai, lần này, tám năm sau, được tiếp xúc với Hà Nội lâu hơn, đúng một ngày, nghĩa là mười hai tiếng đồng hồ. Quả thế, một buổi sáng đẹp trời, tại trại giam Vĩnh Phú, K1, đang chuẩn bị đi lao động, tôi nghe đọc tên mình được thả – áp chót trong danh sách một trăm mười người thuộc tất cả các trại Miền Bắc, mà Vĩnh Phú chiếm nhiều nhất: có bốn mươi tên trúng số độc đắc, trên toàn năm K, trong khi ở một số trại, nhỏ hơn, chỉ có vài mạng thôi. Tôi ngạc nhiên, không biết tại sao mình lại được thả, nhưng chắc chắn không phải vì công đức cải tạo tốt, trái lại. Thây kệ, tôi tự nhủ, thắc mắc làm chi. Vội vàng về “buồng” (phòng), vì chỉ được mười phút sửa soạn tư trang. Không có gì, ngoài bộ đồ tù đang mặc trên người, và mùng, mền, khăn mặt, bàn chải đánh răng, một bịch đường táng đen, một gói bánh mì khô, hai hộp sữa đặc, và một mớ thuốc cảm, đau đầu, đầu bụng, để dành từ những lần thăm nuôi trước. Tôi tặng hết đồ ăn và thuốc men cho những anh em, lúc ấy, khai bệnh nằm nhà.
      Rồi tất cả lội bộ xuống K5, tức K chỉ huy, cách khoảng 15 km, để làm thủ tục xuất trại. Tại đây, được trả lại quần áo “dân sự”, đồng hồ, và tiền bạc bị “đăng ” để “Cách mạng giữ hộ” khi bước chân vào trại tù đầu tiên, ở Miền Nam. Không biết đủ, thiếu thế nào, vì sau tám năm, không nhớ và điều đó không quan trọng nữa. Tù binh được thả sinh hoạt tại một buồng riêng, không được “quan hệ linh tinh” với các cải tạo viên khác.
      Khoảng 10 giờ sáng hôm sau, chúng tôi trút bỏ bộ đồ tù, mặc lại quần áo cũ, có anh diện giày da thay dép râu. Ai nấy mặt mày tươi rói, đẹp trai hẳn ra, như dưới chiếc đũa thần của một bà tiên, không còn hốc hác, bèo nhèo như dạo nào, nhất là sau mấy ngày được vỗ béo, ăn no ngủ kỹ. Được xe trâu chở ra tận bến phà trên sông Hồng. Sau hơn nửa giờ, cập bờ Ấm Thượng. Ở đây, phải chờ đến 10 giờ đêm mới có chuyến xe lửa từ Lào Cai đến “rước” về Hà Nội. Đi theo có hai cán bộ. Hai tên này, bình thường thuộc loại hắc ám, bữa nay có vẻ dễ dãi, chắc vì được dịp đi chơi Hà Nội hoặc tin rằng không thằng tù binh nào được thả lại dại dột âm mưu làm điều “phản động”. Để giúp thời gian qua mau, chúng tôi tụm năm tụm ba nói chuyện, cười đùa rổn rảng, hoặc mua bún, bắp luộc, xôi vò và bánh gai của các bà và em bé bán hàng rong tại chỗ – đã quá quen thuộc với những đợt thả tù binh. Nghe nói Ấm Thượng có đền thờ Hùng Vương, tôi và một anh bạn xin phép đi viếng, nhưng cán bộ bảo xa lắm, không cho. Trời hơi nóng, tôi bèn cởi áo quần nhảy xuống sông tắm. Nước phù sa đỏ ngầu, nhuộm cả ra quần đùi mới, trắng tinh. Lội ra xa, thấy sóng lớn quá, sợ bị cuốn đi, chết uổng mạng, tôi bơi vào, lên bờ nằm nghỉ, phơi nắng, đợi xe lửa.
 
      III. Ấm Thượng không xa Hà Nội bao nhiêu, trên dưới 100km, mà ì ạch mãi đến 8 giờ sáng hôm sau, tàu mới đến ga Hàng Cỏ, sau khi dừng lại nhiều trạm dọc đường. Đám tù phải đợi đến 8 giờ tối mới có chuyến tàu Thống Nhất vào Sài Gòn. Hai tên cán bộ điểm danh, và bắt tất cả “tập trung” ở một góc nhà ga, dặn không được đi đâu xa, “vì các anh chưa được phát giấy ra trại”. Ga tấp nập hành khách và bộ đội chờ đi các tỉnh phía Bắc, và rất đông “gian thương” (buôn bán chui) lượn tới lượn lui, rình mồi, nhiều nhất là những người mua đi bán lại quần áo, vai vác bao tải to kềnh, trông như một cảnh chợ trời, sau 30 tháng 4, 1975 tại Sài Gòn. Tất cả đều quay nhìn chúng tôi, biết ngay là đám sĩ quan tù binh cải tạo từ biên giới được thả về Nam, với cặp mắt tò mò, hoặc cảm thông. Một vài thanh niên, thiếu nữ còn dạn dĩ, đến bắt chuyện, hỏi về “quân hàm” (cấp bậc) của anh em, và xuýt xoa với nhau: “Ghê nhỉ! Trông trẻ thế mà đã là đại úy, thiếu tá cả, gần mười năm trước cơ đấy!”
 
      1) Các cô, các bà mua bán chui thấy một số tù binh, trong đó có tôi, mặc quần jeans, mà họ gọi là “quần bò”, liền sà đến, gạ mua. Một cô, khá xinh, mồm dẻo kẹo, chỉ vào cái quần xanh, bạc màu, bụi đời (càng bụi càng có giá, cô nói) của tôi, và bắt đầu dụ, ngon lành:
      – Ônanh bán cái quần bò này cho em nhá!
      Tôi giật mình, khoát tay:  
      – Đâu được cô! Hiện giờ tôi chỉ có mỗi cái quần này trên người, bán cho cô, lấy gì mặc?
      Cô vẫn nài nỉ:
      – Thì em đổi rẻ cho anh cái quần tây thường khác.        
      Tôi vẫn lắc đầu. Rồi cặp mắt thiện nghệ của cô bỗng rà lên khắp châu thân tôi, như radar, ngừng trên chiếc áo pull trắng, cổ cao, tôi đang mặc, tuy còn mới, nhưng sau tám năm “biệt giam” trong nhà kho kín mít, đã ngả sang màu vàng nhạt, và thoang thoảng có mùi mốc, pha lẫn với hương nách cũ, chưa kịp giặt, bay ra… khá nồng. Cô lên tiếng tán, ngọt xớt:
      – Hay là ônanh bán cái áo này cho em!
      Trong túi xách tôi còn một áo sơ mi xanh, nên đồng ý bán. Cô ta trả giá 3 đồng. Tôi ngồi im re. Từ hồi cha sanh mẹ đẻ đến nay, tôi có đem áo quần đi bán bao giờ đâu, làm sao biết giá cả? Một bà già, hàm răng đen láy, ngồi cạnh cô bỗng lớn tiếng nói: “Ối giời, chỉ có quân ăn cướp ngày mới giả cái giá đó. Tôi giả 5 đồng đấy, cậu bán, tôi lấy ngay!” Tôi lại càng phân vân, chưa biết xử trí thế nào thì cô nọ liếc xéo bà kia: “Tôi tăng lên 10, mụ già nhà quê Quảng Ninh có theo nổi không nào?” Nghe hai người sừng sộ với nhau, đám tù binh và cả tên cán bộ xúm lại, xem màn bán đấu giá “đột xuất”, càng lúc càng hấp dẫn. Một anh thiếu tá đồng tù đập đập tay xuống thềm xi măng, hỏi: “Mại dô, mại dô. Có ai trả thêm nữa không?” Bà già cười khẩy: “Tôi giả 12 đồng đấy, con nặc nô Hà Tĩnh có ý kiến gì không nhỉ?” Cô gái tức khí, đáp lễ: “Tôi trả thêm 3 đồng, tổng cộng 15, mụ già nhà quê Quảng Ninh thấy thế nào?” Cả đám vỗ tay rào rào, tên cán bộ cũng cười. “Mụ già nhà quê Quảng Ninh”, cuối cùng, chịu không thấu, bỏ cuộc. Anh thiếu tá chỉ vào “con nặc nô Hà Tĩnh”, phán: “Không ai trả thêm nữa, tôi khóa sổ nè và long trọng tuyên bố rằng cô em gái Hà Tĩnh này được trúng tuyển mua áo pull của anh trai đại úy tù binh ngụy Vĩnh Phú, với giá 15 đồng chẵn, không bớt xu nào”. Cả đám, tù cũng như dân, ôm bụng cười lăn. Tiền trao áo múc, tôi bèn cởi ra ngay tại chỗ, giao tận tay cho cô. Vào thời điểm đó, 15 đồng là món tiền phải chăng, vì giá một tô phở khoảng 7 đồng, một ly bia 3 đồng. Tổng kết, có hai mươi tù binh “bị” mua áo, mua quần trong buổi sáng đó. Đủ tiền bát phố Hà Nội trong một ngày.
 
      2) Bất ngờ có tiền phụ trội trên trời rớt xuống, cộng vào món tiền khiêm tốn được trại trả lại, tôi bỗng nổi hứng, đóng vai trưởng giả học làm sang: tắm nước nóng. Phòng tắm kế bên sân ga, thấp, nhỏ, mái tôn và vách lợp bằng tre đan. Trên cửa, viết nguệch ngoạc ba chữ bằng vôi trắng: Tắm lước lóng. Phòng chỉ có một lối ra vào. Giá vé là 2 đồng, trả trước cho một chị sồn sồn, hô răng, ngồi gác bên ngoài. Vừa lom khom chui vào, đóng cửa lại, chưa kịp làm gì, tôi nghe có tiếng nước xối ở gian trong, và dưới ánh nắng lùa qua khe hở, thấy vắt ngang trên tấm liếp ngăn hai gian một quần tây xanh đậm, và một áo lụa vàng, có thêu chim cò, kèm theo hai mảnh đồ lót, trên trắng, dưới hồng, rất “hiện đại”, rất khêu gợi mà, tôi đoán nhanh, chủ nhân chắc chắn không thể là một trong những “mụ già nhà quê Quảng Ninh” khi nãy. Tôi đang đứng lóng ngóng, chưa biết phải làm gì, thì từ phía trong vọng ra một giọng Bắc còn trẻ, nhưng không phải âm hưởng Hà Nội, của một cô chắc đã nhìn thấy tôi qua khe liếp, trong gian ngoài đầy ánh sáng: “Anh là tù cải tạo hả? Đừng ngại, cứ vô tư cởi quần áo ra, phòng tắm công cộng, ai cũng làm như thế cả!” Tôi im lặng, vì sợ gặp phải thứ dữ, chứ có gái nhà lành nào cả gan dám tắm truồng chung đụng như thế, chưa kể tắm xong, làm sao đi ra, nếu gian ngoài đang có người? Tôi đứng bất động như người trúng gió, căng mắt dòm vào, nhưng bị bóng tối ghen tuông che kín, không cho thấy chi hết. Sau tám năm thiếu đàn bà, trí tưởng tượng vụt bay lên, bay cao, bay xa, rạo rực, nhưng cố dằn xuống kịp thời.
      Tôi múc, bằng gáo, nước từ trong hai cái vò sành, bắt đầu súc miệng. Nước quá lạnh, buốt thấu răng, và óc, làm tê liệt giây thần kinh thèm muốn. Tôi mở hé cửa ngoài, thò đầu ra, khiếu nại với chị bán vé. Chị ta trả lời, đúng bài bản, như quá quen với “sự cố” này: “Bữa lay, nhiều khách tắm quá, bác ạ, đến nượt bác thì lước lóng hết đột xuất, em đun không kịp, bác cố gắng khắc phục tắm bằng lước nạnh hộ em!” Tôi đành rửa mặt, và nhúng khăn lau sơ phần trên, rồi mặc lại áo, đi ra. Xong một buổi tắm “lước lóng”. Tại thủ đô nước CHXHCNVN, năm 1983. Không biết bây giờ phòng tắm dã chiến bên hông ga Hàng Cỏ ngày ấy có còn không.
 
     3) Vì thời gian chờ xe lửa quá lâu, theo đề nghị của anh em, trưởng đoàn tù binh, trung úy người Huế – được bầu một cách “khẩn trương” do nhu cầu công vụ – xin cán bộ cho phép anh em đi “tham quan” Hà Nội mùa xuân. Hai cán bộ “hội ý” với nhau, và chấp thuận, với điều kiện không đi xa và phải trở lại ga trước 7 giờ tối, ai trễ sẽ bị bỏ lại, ráng chịu. Lúc đó mới 11 giờ trưa. Tất cả hồ hởi phấn khởi xuất quân. Một vài anh em già, yếu, bệnh, mệt, ở lại nhà ga và tình nguyện giữ hộ các túi xách với lời bảo đảm sẽ được “đền ơn bội hậu” khi anh em đi chơi về.
      Tôi rủ ba người bạn khá thân cùng đội tù K1 đi chung, trong số có một ông Thiếu tá già Tiếp Liệu Bộ Tổng Tham Mưu, cởi mở, chính gốc Hà Nội, nói năng lúc nào cũng từ tốn, chậm rãi, rề rà, nghe sốt cả ruột. Vừa rời sân ga, ông Thiếu tá bỗng dừng lại, vẻ mặt đăm chiêu, mắt ngó ngang ngó dọc, chỉ chỏ cho ba chúng tôi, không phải dân Bắc kỳ, và nói:
      – Hồi năm 1954, nhà tớ ở gần ga Hàng Cỏ này, trong khu Hàng Bông-Thợ Nhuộm, tức phía Cửa Nam. Không biết căn nhà có còn đấy không.
      Rồi ông dẫn cả bọn đi loanh quanh, và cuối cùng chui vào một dãy phố, đối diện ga. Những túp nhà chạy dọc theo con phố đều cũ mèm, mái đã rêu phong với những viên ngói lung lay, như răng bà lão, không biết bay theo gió lúc nào, tường vôi lâu ngày loang lổ thành màu trắng đục, có chỗ lòi ra một lớp gạch xám xịt. Phía trước là những hiệu buôn, đượcông thiếu tá gọi là “hàng”, thấp lè tè, bước vào sơ ý là bị đụng vỡ đầu, nối liền với những “căn hộ” phía sau, cao hơn, lớn hơn. Sau một phút lưỡng lự, ông bước vô một gian “hàng”, không biết tên gọi là gì, có lẽ hàng Giày, vì bán toàn giày dép. Nghe ông kể, khi cả gia đình ông leo lên tàu há mồm vào Nam, thì, dĩ nhiên, cửa hiệu bán guốc và nhà ở của gia đình ông bị tịch thu và đổi chủ. Chủ mới, không biết mấy đời rồi, là một anh trung niên, nói tiếng Quảng Bình giả giọng Bắc, lịch sự hỏi: “Các bác muốn gì ạ?” Ông thiếu tá già cười, mà như mếu, theo nghĩa hoàn toàn đen, vì tám năm dài đằng đẵng trong tù bạn bè đã bẻ giùm ông, bằng những sợi chỉ bện lại, mất hết năm răng cửa và hai răng hàm: “Trước năm 1954, tôi đã ở nhà này”, ông trả lời. Rồi xin ra phía sau để nhìn lại nó, và kể hết đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong thiên tình sử, anh chủ mới mủi lòng, ân cần mời ông chủ cũ lên cầu thang gỗ thăm lại căn nhà của chính ông.  
 
      4) Ba thằng chúng tôi, hai Nam kỳ, và một Trungkỳ, không có dây mơ rễ má gì với cố đô Hà Nội, hay tàu há mồm, xin rút lui, để mặc ông thiếu tá già thoải mái đi tìm thời gian đã mất, như văn sĩ Pháp Marcel Proust. Lúc ấy có hai đồng tù trẻ, khác K, xin nhập bọn. Tiếp tục dạo phố. Vừa đi tôi vừa quan sát, ngắm nhìn thiên hạ, vừa nghĩ đến những giai nhân Hà Thành trước kia, mà suốt bao năm tôi đã ấp ủ trong tim bóng hình thướt tha và giọng ca vàng đầy chất Hà Nội được phát thanh trực tiếp trên các làn sóng Sài Gòn. Hay lãng mạn, hư cấu hơn, những nữ nhân vật có học, duyên dáng trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng –mà khung cảnh đều là Hà Nội của những thập niên 30, 40. Và, trên hết, các công chúa Mỵ Châu, Lý Chiêu Hoàng, Trần Huyền Trân, Lê Ngọc Hân của Thăng Long nghìn tuổi, mang kiếp hồng nhan bạc phận trong thực tại lịch sử, đã làm ngây ngất trí tưởng nơi người hậu thế “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” (Kiều), như những giấc mơ huyền thoại quyến rũ, dị kỳ.
      Những cô gái, gọi là Hà Nội, dưới thời Việt Cộng, mà hôm nay tôi mới được diện kiến trực tiếp, thấy khác lạ quá đỗi. Đã thiếu nhan sắc, và thước tấc, mà lại kênh kiệu, nói năng cộc lốc, không bao giờ được học và nói hai chữ “cám ơn” và “xin lỗi.” Mặc áo sơ mi nhét trong quần tây, theo mốt hiện hành, bỏ chiếc áo dài cổ truyền, và chân đi “sa-bô” (sabot?), danh từ tôi mới nghe lần đầu, tức loại giày nhựa, bịt kín phía mũi, gót để trống, đế rất cao, như một thứ dép tân thời, thay cho “thanh bình tiếng guốc reo vui” ngày xưa của nhạc sĩ Hoàng Dương. Lại còn giọng nói nữa. Lạ lắm, trời ạ! Tiếng Hà Nội gì mà nghe như pha với giọng Nghệ An của “Bác”, hay Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình. Những dấu sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã phát ra lung tung, loạn xạ, tùy tiện. Nghe chua lè, còn hơn giấm. Bởi thế, khi giọng nói Hà Nội ấy bay vào Miền Nam, sau cuộc đổi đời, người dân Sài Gòn nhận ra ngay sự khác biệt rõ rệt giữa hai thứ tiếng Bắc kỳ, (19)54 = 9 nút, của Kim Tước, Thái Thanh… và Bắc kỳ, (19)75 = 2 nút, rất lơ lớ, chói tai, của những ca sĩ trẻ, từ Hà Nội, ồ ạt Nam tiến, rồi sau đó và bây giờ, thừa thắng xông lên, xâm nhập luôn những Cộng đồng Việt Nam tỵ nạn tại Mỹ, vô tình hay hữu ý thực hiện chủ trương “giao lưu văn hóa” của VC, tiếp tay bởi tên nhà văn MC thò lò hai mặt. Về dung nhan, các ca sĩ ấy vượt trội những cô gái mà tôi đã gặp tại Hà Nội năm 1983. Nhưng giọng nói “2 nút” chua lè thì vẫn y chang.
 
      5) Lang thang mãi, mỏi chân, và đói bụng, chúng tôi tắp vào một quán phở, không xa ga Hàng Cỏ là bao. Ba cô gái “phục vụ” (chạy bàn), mặc đồng phục, sơ mi và quần tây, đứng ở quầy hàng, thấy năm ông khách quý bước vào, trơ mắt ngó, không thèm chào mời. Và phớt lờ, tiếp tục trò chuyện với nhau. Quán lúc ấy không có ai ngoài năm đứa tôi.       
      Chờ lâu, một anh, cựu trung úy Biệt Động Quân, người Nam hiền khô, nhưng tướng rất ngầu, da ngăm ngăm đen, nói năng bạt mạng, lại ngọng nữa, sốt ruột, lớn tiếng hỏi:     
      – Nè, bộ mấy bà chê tụi tui không tiền hay sao mà không ai ga (ra) tiếp dzậy?
      Một cô trả lời, giọng Bắc the thé như lai tiếng Thanh Hóa, Nghệ An:
      – Ăn gì thì đến quầy mà gọi.     
      Anh BĐQ đứng lên, khệnh khạng tiến tới quầy, hai tay thọc trong hai túi quần. Tôi bước theo, sợ to chuyện, và nhắc nhở “tụi mình vẫn còn là tù binh, chưa được phát giấy ra trại”. Anh hiểu, và nói mộthơi:    
      – Cho tụi này năm tô phở bò tàu bay Hiền Vương, tái, chín, nạm, gầu, gân, sách, nước béo, giá trụng, hành trần, chanh, ớt, tương đen, ngò gai, nhiều bánh, nghe kịp không?
       Ba cô, dĩ nhiên, nghe sao kịp, không hiểu, hay chỉ hiểu lõm bõm, trợn tròn mắt, tưởng anh nói tiếng Ấn Độ. Một cô, có lẽ tổ trưởng, xẵng giọng:
      – Đây là cửa hiệu quốc doanh. Chỉ có một loại phở mà thôi, không có thứ gì khác. Rõ chưa?
      Anh quay nhìn tôi, rồi ngó thấy cô “chằn” quá, liền xuống nước:
      – Gõ gồi (rõ rồi). Ờ, thì cô bán cho năm tô đi. Và năm chai bia.
      – Không có bia chai, mà chỉ bia “bốc” thôi.
      Anh lại hỏi:
     – Bia “bốc” là bia gì dzậy?        
     – Là bia hơi rót từ cái bình thủy tinh lớn kia, ông cụ nội ạ, chứ còn là bia gì nữa
 Tôi cười cười, cố tình nói đùa cho tình hình bớt căng thẳng:
     – Nghĩa là chưa uống nó đã “bốc hơi” bay đi hết, phải không cô?  
      Nhưng cô quốc doanh nguýt tôi, rồi lườm anhBĐQ, mắt tóe lửa, như muốn nhai tươi nuốt sống hai thằng. Và bảo “trả tiền trước đi đã”, tổng cộng cả bia lẫn phở cho năm tên “ngụy” là 50 đồng.
      Hai thằng trở lại bàn. Ngồi chờ mãi, gần nửa tiếng, mà phở, bia chưa thấy mang ra, anh lại bực bội, gõ chiếc muỗng vào cái ly nghe leng keng, rồi nói lớn:
       – Sao lâu quá gồi mà không thấy ai bưng phở, đem bia ga dzậy cà?
        Cô “tổ trưởng” từ quầy cũng to tiếng, đáp lễ:
       – Đến đây mà bê ra, không ai hầu cho đâu!
      Cả đám bật đứng lên, bước đến phía quầy, thấy một lô tô phở, không nước, làm sẵn đồng loạt từ lâu, nằm chình ình trên một cái khay lớn. Nghĩa là khách địa phương, rành thủ tục, chỉ có việc đến quầy trả tiền, lúc đó các cô “phục vụ” mới đổ nước lèo nóng vào, rồi tự động ai nấy bưng tô phở ra bàn. Phở lơ thơ vài cọng rau, chỉ có một lát thịt bò thái mỏng như lưỡi lam cạo râu, sẵn sàng bay theo cơn gió vô tình lướt qua. Nước phở còn nhạt hơn nước ốc. Bia “bốchơi” thì khỏi nói: không khác chi nước trà lên men.       
      Ăn uống tạm no, nhưng còn ấm ức, anh trung úy BĐQ rút điếu thuốc Điện Biên ra hút, mơ màng nhả khói, như triết gia Jean-Paul Sartre trên vỉa hè Paris, rồi than nhỏ với tôi: “ĐM. Cái gì cũng quốc doanh, không khá nổi. Phở, bia, hay cha, thầy, sư quốc doanh gì cũng đều cà chớn gáo (ráo) trọi.”
      Ra đường, gặp một toán khác đi ngược chiều – khoe vừa mới nhậu thịt chó xong. Hỏi ngon không, thì một anh hậm hực trả lời: “Ngon gì mà ngon. Thịt chó quốc doanh chỉ có độc mỗi món luộc chấm với mắm tôm, không ớt, mùi tanh lắm. Nhưng lỡ trả tiền rồi, cũng phải ráng nuốt thôi. Thịt chó Hà Nội gì mà bết bát hết sức, thua xa thịt chó Hố Nai.”
 
      IV. Rồi năm đứa chia tay nhau, đường ai nấy đi, hồn ai nấy giữ. Hẹn trở về ga Hàng Cỏ trước 7 giờ tối, hoặc sớm hơn. Còn nhiều thời gian để mà giết. Làm gì cho hết nửa ngày nữa?
      Tôi nẩy ý muốn đi xem phong cảnh Hà Nội. Bèn vẫy một chiếc xích lô. Phu xe là một thanh niên trên ba mươi, tên Tứ, dáng dấp khỏe mạnh, nói nhiều, giọng Bắc Khu Tư (Vinh). Tôi thương lượng:    
      – Anh chở tôi đi chơi vòng vòng xem cho biết Hà Nội, cứ đạp từ từ, đến chỗ nào cũng được, tùy ý anh, trong ba tiếng, rồi chở tôi trở lại ga Hàng Cỏ trước 7 giờ. Anh lấy bao nhiêu?
      Anh mau mắn đáp:
– Dạ, bèo lắm thì cũng 40 đồng đấy anh ạ…
      Tôi vừa ngồi lên nệm xe, anh đã đề nghị đi Hồ Hoàn Kiếm trước. Hà Nội đang còn mùa xuân, hai bên đường hoa nở rộ, thắm tươi. Những cành đào nặng trĩu hoa, rực rỡ một màu đỏ hồng, cong xuống, la đà theo gió. Thấy tôi mải mê ngắm nghía một cách thích thú, Tứ góp chuyện:
      – Còn một loài hoa nhỏ, chỉ nở từ tháng 3 đến cuối tháng 4, tức tháng này, trắng xóa ven đường, lại tỏa hương thơm nhè nhẹ. Tuyệt vời, anh ạ. Đó là hoa sưa… Đấy, anh ngắm đi, kia kìa, đúng là một cảnh tuyết, giống ở Sapa…
       Tôi hỏi lại:
      – Hoa sưa hay hoa sữa?
      – Dạ sưa. Du khách Sài Gòn ra, ai cũng lộn.
      Dọc đường, ít thấy xe hơi, xe gắn máy hay bộ hành qua lại. Du khách ngoại quốc, hay Việt kiều, cũng vắng. Một thủ đô đang hấp hối hay đang ngái ngủ, tôi có cảm tưởng, lạc hậu nhất trên hành tinh này. Lãnh đạo tự phong toàn là một lũ thất học, ngu đần, lúc bấy giờ còn say men chiến thắng, còn bận nhiều việc: trả nợ cho hai nước “anh em vĩ đại”, Liên Xô và Tàu Cộng, trả thù người chế độ cũ, lừa và lùa hàng trăm ngàn tù binh “ngụy” vào rọ “học tập cải tạo”, đày dân đi vùng kinh tế mới để cướp nhà của họ, vơ vét và chia chác của cải từ Miền Nam khuân ra Bắc, khoác lác khoe khoang với thế giới rằng “VN đã đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, Pháp và Mỹ”, và “VN chúng tôi có quá nhiều anh hùng, vừa ra ngõ là gặp anh hùng”… Nên chúng chưa có kế hoạch phát triển kinh tế, làm cho đất nước giàu mạnh.
      Xích lô chạy một hồi, đến hồ Hoàn Kiếm lúc nào không hay. Tôi bước xuống, đi bộ lên thảm cỏ xanh. Những nhánh liễu ven hồ, rũ xuống, tàn lá lưa thưa, không đủ “che nửa mặt hoa” (Bạch Cư Dị) của những cô gái trẻ ngồi tâm sự bên tình nhân, trên ghế đá. Tôi thấy họ có vẻ ngượng nghịu, lúng túng đến tội nghiệp khi nắm lấy tay nhau, nói chi ôm nhau, hôn nhau. Thương cho họ. Và ở một cảnh ngộ khác, thương cho chính tôi và những chiến hữu bất ngờ trở thành tù binh, không kịp hẹn trước với Định Mệnh, vừa đứng trước cổng trại giam là đã phải bỏ lại tất cả: quá khứ, vị lai, tình yêu, ước mơ, và thảm não hơn, hy vọng. Dường như những cặp tình nhân này mới dưới quê lên thành phố, hoặc vừa được Bác và Đảng “cởi trói” cho phép yêu nhau, sau tám năm “chiến thắng” Miền Nam, trong khi Bác và bè lũ, những con yêu râu xanh thời đại, tha hồ “đồi trụy”, vợ nọ con kia, mà mồm cứ phun ra những lời sặc mùi đạo đức giả.
      Những tia nắng lấp lánh đuổi nhau trên mặt hồ. Nhìn xa thấy màu nước đẹp lung linh, xanh như một tấm thảm rêu trải dài. Gần bờ, trái lại, nước hồ quá bẩn, có chỗ lềnh bềnh những rác rưởi, giấy báo, bao ni lông, lon, ca, cóng do ai vứt xuống bừa bãi, tắt nghẽn, không trôi đi được. Trước kia, tôi đã đọc trong một quyển tiểu thuyết và nghe các ông bạn lớn tuổi, chính gốc Hà Nội ba mươi sáu phố phường, kể rằng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm thời trước 1954, sạch sẽ lắm, là nơi tụ họp vui chơi cuối ngày, và cuối tuần, của đông đảo dân Hà Thành, có những kiosques bán kem và lạc rang húng lìu nóng dòn, có giọng ca nhí nhảnh của Joséphine Baker phát ra từ đĩa nhạcxưa, “J’ai deux amours: mon pays et Paris..”  nhưng bây giờ, đứng đấy, tôi không nghe, không thấy gì hết. Cũng như, theo lời Tứ kể, ở Hồ Tây, mà anh ngại xa không muốn chở đến, không còn những chiếc périssoires (thuyền thoi) – mà dân Đà Lạt rất quen thuộc trước 1975, trên hồ Xuân Hương. Hay người Cộng sản không biết ăn kem Bờ Hồ, không biết nhai lạc rang, không biết nghe nhạc Pháp, không biết bơi thuyền thoi, cho đó là sản phẩm của Thực dân, Đế quốc? Vua Lê Lợi nếu sống lại chắc sẽ cămgiận lắm về những hậu sinh khả ố, mất dạy, mê muội hiện tại, nhắm mắt theo đuôi chủ nghĩa Cộng sản khốn nạn. Tôi cầu xin, khi mùa đông về, mưa bay lất phất, rùa thần nổi lên mặt hồ, cho ngài mượn lại thanh kiếm báu để chém bay đầu bè lũ chúng nó, như trưóc kia đã chém bay đầu Liễu Thăng và giặc Minh…
      Rời hồ Hoàn Kiếm, Tứ chở tôi dạo một vòng Bưu điện gần đó, là một tòa nhà đồ sộ xây theo lối Tây, và xa hơn, những “phố” (thực ra là những con đường) Huế, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng… mà tại mọi góc đều có Công An đứng gác, súng ống trang bị đến tận răng, mắt cú vọ nhìn gốc cây nào cũng thấy “phản động”, mặc dù đất nước đã thanh bình lâu rồi.
      Khi tôi ngỏ ý muốn đi thăm Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Tứ lẩm nhẩm tính:
      – Đến Văn Miếu thì phải vòng trở lại ga Hàng Cỏ, qua phố Hàng Lọng, theo phố Sinh Từ…
       Tôi cắt ngang:
      – Anh có nói, tôi cũng chẳng biết phố nào là phố nào. Thôi, tôi nhắm mắt để anh chở tôi đi đường nào cũng được.
       Như tên gọi, đó là một khu “miếu” lớn, với lối kiến trúc cổ xưa, từ thế kỷ XV, trang nghiêm, thanh nhã, gồm một gian thờ Khổng Tử và môn đệ, một lầu vuông tám mái gọi là Khuê Văn Các, nơi bình thơ của các sĩ tử, cạnh giếng Thiên Quang mà hai bên tả, hữu thấy dựng hai hàng bia đá khắc tên tám mươi hai vị đỗ tiến sĩ, qua các triều đại. Trên cổng ngoài cùng có vẽ hình hai con cá chép theo điển tích “cá vượt vũ môn”, ngụ ý người học trò đi thi được ví như cá chép phải vượt ba đợt sóng dữ, tại cửa sông, mới biến thành rồng, chỉ sự thành công tột bực. Chứ không phải, tôi nghe ai kể, các thí sinh thích ăn cá chép, theo cách hiểu của đa số học sinh XHCN bây giờ. Bước đi, tôi thấy người bỗng thoát trần, xa rời tục lụy và thực tế tối đen, xấu xí hiện nay, để lòng nhẹ tênh. Như bay bổng trong không gian và thời gian lồng lộng. Như nghe tiếng thiết tha gọi về từ đáy Hôn Dân Tộc thanh cao của bốn ngàn năm văn hiến và từ những trang Sử Việt oai hùng qua bao dòng đời hưng phế, với Trưng, Triệu, Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn… những triều đại bị bọn “đỉnh cao trí tuệ” Trường Sơn chê là phong kiến, lạc hậu, độc tài, mà người dân vẫn được tự do đi lại, vẫn được ăn no mặc ấm, vẫn được vua chúa thương yêu như con, vẫn được học hành đến nơi đến chốn theo truyền thống nhân bản, vẫn được gọi mời tham gia vào công cuộc trị nước và giữ nước. Mà những tiến sĩ, đang hiện diện trong Văn Miếu kia, được vinh danh và trọng vọng nhờ vào thực tài, đức hạnh, chứ không bởi văn bằng dỏm, văn bằng lậu, văn bằng tậu được do tiền bạc và mánh mung, như trong thời kỳđồ đá, đồ khỉ, đồ đểu hiện nay…
 
      V. Từ giã Văn Miếu, thấy còn dư một tiếng, tôi đề nghị Tứ chở đi xem giếng ngọc của Trọng Thủy và Mỵ Châu – mà chuyện tình diễm ảo và bi thảm đã ám ảnh, mê hoặc hồn tôi, từ lúc còn trẻ cho mãi đến bây giờ, hơn bất cứ chuyện tình diễm ảo và bi thảm nào trong văn chương thế giới, kể cả Tristan et Iseut  hay Romeo and Juliet. Tứ đáp:
      – Xa lắm anh ạ, tận mãi Cổ Loa, quận Đông Anh, phía Bắc, cách Hà Nội 16km, không đi xích lô được, vả lại không kịp giờ lên xe lửa đâu.       
      Đành trở lại ga Hàng Cỏ, trước giờ qui định. Trao tặng những anh giữ-hộ-viên-túi-xách một bịch chuối ép khô mua tại cửa Bưu điện và kể sơ về chuyến du hành bằng xích lô. Hai cán bộ đã có mặt. Rồi lục tục, các đồng tù trở về “trình diện” kịp, hay trước, giờ, vì không ai dại, làm lỡ chuyến tàu xuôi Nam. Đúng 8 giờ tối, tất cả lên tàu, ngồi trong một toa, do “trên” (nhà nước) dành riêng, sau khi cán bộ đọc tên và phát cho từng người giấy ra trại, kèm theo lời dặn dò, hay mệnh lệnh chót, “các anh nhớ thi hành tốt lệnh quản chế địa phương, và phấn đấu làm ăn tốt, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đừng trốn chạy ra nước ngoài”. Hai tên cán bộ ở lại ga và chúng tôi hoàn toàn tự do, từ đây, ít ra trong đêm đó.
 
      Tàu khởi hành trễ nửa giờ. Chạy khoảng một tiếng thì ngừng lại tại một ga nhỏ, đón khách “nhảy tàu” (buôn bán lậu trên xe lửa) ra Bắc và trở vào Nam. Đa số là phụ nữ Miền Nam, còn trẻ, biết có một toa tù cải tạo được thả, họ đem hàng đến gửi, nhét đại phía dưới ghế ngồi, vì qua kinh nghiệm, tin rằng công an không bao giờ vô lục khám. Chúng tôi thông cảm, để mặc và ngược lại họ mua bánh trái đãiđằng để trả công ơn đồng lõa. Vài người, mà thân nhân còn trong tù cải tạo, đứng nán lại, hỏi han, tâm sự. Và bất ngờ, tôi được biết trong số có một chị là vợ của một trung úy, đồng đội K1, không được thăm nuôi, đói, nhưng rất có bản lĩnh, tư cách. Tôi nói nhỏ với chị:
      – Ảnh đói lắm. Chị ráng thu xếp ra thăm ảnh một chuyến.
      Chị bật khóc, nước mắt đầm đìa, trả lời:
       – Em biết. Và thương ảnh lắm. Nhưng nhà nghèo quá, phải nuôi đàn con nhỏ nữa. Khi nào dành dụm được chút ít, chắc chắn em sẽ ra thăm ảnh
      Cảm động, tôi móc từ túi quần được một nắm tiền, chừng hơn 100 đồng của trại trả lại, kín đáo đưa tặng chị, nói để “mua quà cho các cháu”. Chị không nhận và vì tế nhị, tôi không nài ép. Cách đây hai năm, tình cờ tôi gặp lại anh chị – qua Mỹ theo diện HO, và làm ăn khá giả, con cái thành đạt – tại nhà một người bạn chung. Sau ba mươi năm, chị nhìn tôi, xa lạ, không nhận ra là ai và tôi cũng không nhắc gì về chuyến tàu đêm năm cũ ấy.
 
      Tàu chạy thâu đêm, qua những địa danh lịch sử, tôi chỉ nghe nói đến mà chưa hề thấy tận mắt, như Hà Tĩnh, quê hương tuổi nhỏ của đại thi hào Nguyễn Du. Hay Quảng Bình, nơi sinh quán của Tổng thống Ngô Đình Diệm, với Đèo Ngang nổi tiếng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan và sông Gianh phân chia ranh giới Bắc Nam giữa quân Trịnh và quân Nguyễn, thếkỷ XVII. Khi đến Cửa Tùng, An Du Tây, Quảng Trị, quê nội tôi, trước khi tàu qua cầu Bến Hải, tôi nhìn chăm chú ra ngoài, như một phản xạ, nhưng không thấy gì cả ngoại trừ một vùng đồng ruộng tăm tối, bao la. Tự nhiên, một cảm giác xa lạ, trống vắng xâm chiếm tâm hồn. Và thấy đắng chát trong cổ họng… Bởi một nơi không đến bao giờ, và không có một chút kỷ niệm, dù là quê cha đất tổ, cũng chỉ là một chấm đen trên bản đồ. Tôi gục đầu xuống thành cửa sổ, muốn khóc. Bỗng nhớ ba tôi quay quắt, đã mất không lâu trước đó, mà tôi không được gặp mặt. 
     
      Ngược lại, tại sân ga Huế, sáng trưng ánh đèn, một cảnh sinh hoạt náo nhiệt diễn ra, dù đã quá nửa khuya. Khi những em bé bán bánh, nước trà bắt gặp chúng tôi ngồi la liệt trong toa đặc biệt, biết là tù “ngụy” trở về, liền báo động cho những đồng nghiệp lớn tuổi, và một đám các bà, các o chạy túa đến, reo vui: “Sĩ quan cải tạo về kia tề, anh mô cũng đẹp trai hết, không như mấy cha bộ đội. Thấy các anh cực khổ mà thương chi lạ!”. Vài anh thò đầu qua cửa sổ mua bánh, chuối, thịt gà chiên, nhưng họ không lấy tiền. Lại còn, khi tàu chuyển bánh, chạy theo, ném thêm qua cửa sổ…
 
      Sáng hôm sau, tàu ngừng tại ga Nha Trang, lúc 9 giờ. Tôi thuê xích lô trở về nhà. Xuất hiện tại cửa như một bóng ma hiện hình. Mẹ và Bội Trân đứng sững giây lâu, rồi cả hai ôm chầm lấy tôi, khóc nức nở. Tôi hôn lên má, lên tóc Mẹ và qua vầng trán nhăn nheo và mái đầu bạc trắng, ngậm ngùi tưởng nhớ dung nhan của Mẹ ngày xưa và tình thương bao la suốt đời Mẹ dành cho từng đứa con. Tôi nhìn Bội Trân, người em tiếp viên Air Vietnam kiều diễm của tôi, sau ngày đất nước đổi chủ, đổi tên, đã bị trời xanh quen thói má hồng đánh ghen bắt chịu nhiều nỗi truân chuyên, như người chinh phụ trong Đoàn Thị Điểm. Ôm em trong tay mà tưởng như ôm một khối tình sầu hóa thân chất ngất, chưa tan, mà biết rằng em, qua dòng lệ mừng cho tôi, cũng đang khóc nhớ hôn phu – một phi công, vì em không đi, đã ở lại Sài Gòn sáng 30 tháng 4, để bây giờ vĩnh viễn gãy cánh, nằm xuống tại một nơi nào trong trại tù Thanh Phong. Bởi em buồn, tủi phận, tôi cũng thấy hồn mình nát tan, không muốn bộc lộ nỗi vui được thả, không muốn kể gì về những trại tù đã đi qua… Xem tất cả như một chương đời khổ nạn khép lại, một cơn ác mộng phải quên. Cho riêng tôi, và cho giùm em gái và những người vợ tù khác.
 
      VI. Ba mươi hai năm qua, kể từ ngày ấy. Biết bao nhiêu chuyện đời xảy đến. Từ Mỹ, tôi đã đi thăm nhiều thủ đô lớn, nhỏ trên thế giới. Nhưng vẫn không sao quên được hình ảnh Hà Nội tuyệt đẹp, mà tôi đã gặp trong sử sách, cùng với hình ảnh cố đô Thăng Long cổ kính và huyễn mộng qua hàng chục thế kỷchiến tranh giữ nước. Thăng Long hay Hà Nội. Của một Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân, rồi cưỡi thiết mã bay về trời. Của một Lý Thường Kiệt đứng trên sông Như Nguyệt, sang sảng ngâm bài thơ, được xem là bản tuyên ngôn đầu tiên về chủ quyền quốc gia Việt Nam, cách đây mười thế kỷ, độc đáo nhất, quyết liệt nhất: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư...”, trước khi xuất trận đánh tan quân xâm lược. Của một Trần Nhân Tông và các bô lão trong Hội Nghị Diên Hồng, đồng thanh quyết chiến đến cùng. Của một Trần Hưng Đạo với câu nói, có một không hai trong lịch sử nhân loại về sự hy sinh tột độ cho đất nước: “Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng” – là danh tướng duy nhất trong quân sử thế giới đã đánh bại đế quốc Mông Cổ (tức nhà Nguyên), hùng mạnh nhất lúc bấy giờ, bách chiến bách thắng, mà vó ngựa đã giẫm nát toàn cõi Đông Âu, Nga, Trung Đông và Đông Nam Á. Của một Trần Bình Trọng, bị bắt, với thái độ hiên ngang, ngẩng cao đầu trước địch quân: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Của một Lê Lợi với hơn mười năm kháng chiến nằm gai nếm mật. Của một Nguyễn Trãi với chính sách thu phục nhân tâm diệu kỳ“Lấy trí nhân thay cường bạo”. Của một Nguyễn Huệ với những chiến thắng mùa xuân thần tốc lẫy lừng. Của một Hoàng Diệu, tổng đốc trung liệt, đã tuẫn tiết cùng chết với thành Hà Nội. Của toàn dân, qua các triều đại, đã sát cánh với vua, quan, tướng lãnh đánh đuổi bọn Đại Hán xâm lược, mà dù là Ân, Ngô, Tống, Nguyên, Minh, Thanh xưa kia, hay Mao (Cộng) ngày nay – tất cả đều là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
 
      Cũng như tôi không sao quên được hình ảnh, ngược lại, điêu tàn của một Hà Nội mà tôi đã gặp vào một ngày mùa xuân 1983, cổ lỗ và rách nát trong tay giặc Việt Cộng. Dưới sự thống trị của bọn lãnh đạo ma đầu thay nhau tự phong, ngu dốt, tham tàn, phản bội dân tộc, rước voi về giày mả tổ, thấy kẻ thù là run như cầy sấy, nhưng đối với dân thì hung bạo, đánh đập, bắn giết, bỏ tù. Hà Nội trong mắt tôi, ngày xuân ấy và nhất là bây giờ, dưới xích xiềng giặc Việt Cộng, chỉ là thủ đô của hận thù, của hạ tiện, của xảo trá, của băng hoại về mọi giá trị đạo đức, xã hội, giáo dục, kinh tế, an sinh và lương tâm. Chỉ là biểu tượng của một đất nước mà dân nghèo phải đầu tắt mặt tối, bươn chải kiếm sống, mà học sinh phải đu dây qua sông để đến trường, mà dân giàu lo ăn chơi, trụy lạc, say xỉn, mà tướng tá và công an được mua bằng tiền, tự biến thành chó ngựa, cung cúc phục vụ chế độ phi nhân, mà tất cả, trong những hoàn cảnh sống khác nhau như thế, cũng đều quên đi nhiệm vụ cao cả do tiền nhân giao phó: đứng lên chiến đấu giữ nước, trước hiểm họa Bắc thuộc do Tàu Cộng đang mưu toan với chiến thuật mới, mềm dẻo hơn, tinh vi hơn, nghĩa là bằng chính tay những thằng lãnh đạo Việt Cộng.
      Hà Nội ấy, một lần đi qua, tôi sẽ không bao giờ trở lại, dù chỉ một giờ, một phút, nếu tổ quốc Việt Nam yêu dấu chưa sạch bóng nội thù Việt Cộng, nếu người dân chưa, hay chưa thể, đứng lên tiêu diệt bọn lãnh đạo bây giờ, và ném vào sọt rác lịch sử cái chủ nghĩa Cộng sản quái thai, quái dị, quái đản, đã ngự trị từ hơn ba phần tư thế kỷ trên đất nước tang thương, bất hạnh này –đã vô phúc sản sinh ra một tên Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, còn bỉ ổi, ghê tởm hơn Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống.     
 
      VII. Khát vọng và ước mơ tuyệt vời đó về một Việt Nam tương lai phi Cộng sản, tôi lo, khó thành hiện thực cho tôi và những ông bạn chiến binh già, trong cuộc đời này. Thời gian vô tình cứ trôi đi, và bóng đời cứ nghiêng đổ, mà giật mình ngoảnh lại, thấy chưa làm gì được cho đất nước thân yêu còn mãi quằn quại trong nanh vuốt Việt Cộng. Có thể không kịp nữa. Họa may, kiếp sau. Nếu Thần Chết không bắt chúng tôi bỏ lại tất cả mọi hy vọng,  khi bước qua bờ tử sinh. Và nếu trong Inferno, thi hào Dante cũng tha, cho những kẻ đứng trước cửa địa ngục, hình phạt nặng nề nhất, tức là phải mang theo mối tuyệt vọng đời đời. Lasciate ogni speranza voi ch’entrate (Hãy vứt bỏ tất cả hy vọng, hỡi các ngươi đang bước vào.)
Kim Thanh (NLGO)

Space Needle: Remaking an Icon—King 5 Evening

Part 1


Part 2


Part 3


Part 4—The Big Reveal


 

Happy Father’s Day

FathersDay2019

Tình Cha—Lê Văn Ở | Papa—Paul Anka | Daddy’s Little Girl—The Shires




 

D-Day 75th Anniversary—Donald J. Trump

DonaldTrump1

2019 West Point Graduation Closing Minutes Alma Mater to Toss—USMA


Mưa Lạnh Tàn Canh—Hoàng Thục Linh

Khi Người Cao Tuổi Lái Xe—Bảo Huân

Cứ mỗi ngày ở Mỹ có 10 ngàn người bước vào tuổi 65, và đa số những người này vẫn còn lái xe. Những kỹ thuật mới của xe hơi, và số lượng càng ngày càng đông đảo xe cộ lưu thông, nhiều thay đổi của cảnh quan và đường sá, tất cả đều tạo thêm nhiều thách đố hơn đối với những vị lái xe cao tuổi.

09_urgent_signs_loved_one_stop_driving_driving_behavior_changes_monkeybusinessimages

Một số sai phạm mà người lái xe hay mắc phải là chạy quá tốc độ cho phép, vượt đèn đỏ, không ngừng ở nơi có bảng stop, lái xe không đúng lane, quẹo trái không đúng cách… Đã vậy, đối với người cao tuổi, lại còn có những yếu tố khác như tâm tính thay đổi hoặc những hạn chế do sức khỏe gây ra, cũng làm cho việc lái xe thêm phần nguy hiểm.

Nếu quý vị, hoặc người thân là người tài xế cao tuổi, có nhiều phương cách để giúp quý vị an toàn trên xa lộ và tiếp tục lái xe thêm nhiều năm nữa. Điều cốt yếu là phải biết khả năng thể lý bị hạn chế ra sao lúc về già. Sau đây là một số gợi ý của AARP (American Association of Retired Persons, Hiệp hội Người Mỹ Cao niên).

1. Theo dõi về sức khỏe: Cẩn thận khi có những thay đổi về sức khỏe như tầm nhìn, âm độ nghe, trí nhớ và sự tập trung.

2. Giữ khoảng cách an toàn. Áp dụng luật “3 giây đồng hồ” khi lái xe sau một xe khác để kịp đủ thời giờ phản ứng lại những nguy hiểm có thể xảy ra. (Luật ba giây: Nhìn xe phía trước khi xe đó chạy ngang qua một đối tượng nào đó, như cột đèn, bảng chỉ dẫn lưu thông… rồi bắt đầu đếm (một ngàn một, một ngàn hai, một ngàn ba) xem xe mình đã tới đối tượng đó chưa. Nếu chưa đủ 3 giây mà đã tới đối tượng đó rồi thì là ta chạy quá gần xe trước, nên chậm lại để khoảng cách với xe đó không quá gần).

3. Tránh phân tâm. Bất cứ chuyện gì khiến mắt ta không nhìn mặt đường là sự phân tâm, như dùng cell phone, ăn uống, dùng GPS, thay đổi tần số đài radio…

4. Điều chỉnh cho thích hợp. Ghế ngồi, gương chiếu hậu, gương hai bên xe… nên được chỉnh sao cho vừa với tầm nhìn để có thể thấy được xe cộ di chuyển phía sau và hai bên hông xe.

5. Tự hạn chế. Tránh lái xe trong giờ cao điểm, ban đêm, hoặc thời tiết xấu, mà nên lái lúc ban ngày sáng sủa vào những giờ ít xe cộ lưu thông vội vã.

6. Quẹo phải. Thay vì quẹo trái ở những đường quẹo nguy hiểm nhiều xe cộ qua lại, nên quẹo phải, có thể tới ba lần để đến hướng quý vị cần đi.

7. Đừng quên stop. Ở nơi có bảng stop, nhìn kỹ đường trước khi ngưng xe. Nếu có xe đi trước, đợi hai giây cho xe đó đi rồi mới tiến tới chỗ stop, ngừng hẳn rồi mới tiếp tục đi.

8. Kiểm tra lại thuốc men. Hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ xem thứ thuốc ta dùng có gây hậu quả gì khi lái xe hay không.

9. Cảnh giác về người khác. Xe đạp, xe gắn máy, người đi bộ… đều tạo thêm những thử thách cho người cao niên khi lái xe. Hãy rất mực cẩn thận tại các ngã tư đường và khi nhập xe vào dòng xe cộ trên đường.

10. Sao cho có khoảng đệm. Giữ sao cho có khoảng trống chung quanh xe của quý vị, trên đường hoặc ở bãi đậu xe, để còn chỗ xoay xở khi cần.

Có một số tài xế còn trẻ thường tỏ ra bực bội khi chạy gần xe những vị cao niên, hoặc vì tốc độ thường chậm hay vì những phản ứng không mấy nhanh lẹ của những vị này. Xin hãy có tấm lòng bao dung đối với người già cả để thông cảm hơn là tỏ thái độ bực tức.

Driving-01
Bảo Huân