Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc (Trang 25)

Category Archives: Quê Hương và Tổ Quốc

Hồn Việt—Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam

Phỏng Vấn & Giới Thiệu

 

Hồn Việt—Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam

Cách Gõ Việt Ngữ

Cách gõ Việt ngữ bằng bộ gõ VietUni, VietKey…

  Nếu bạn đã từng sử dụng VietKey, UNIkey để viết Việt ngữ thì việc sử dụng các bộ gõ VietUni, VietKey trên Web hoàn toàn tương tự. Thậm chí còn dễ dàng hơn rất nhiều vì các bộ gõ trên Web đã được tích hợp & bật sẵn. Bạn chẳng phải làm gì ngoài việc Gõ.

  VietUni sử dụng kiểu gõ tổng hợp. Nghĩa là cho dù bạn gõ kiểu gì: Telex, VNI hay VIQR thì đều ra chữ Việt cả. Do đó bạn có thể yên tâm sẽ gõ ra tiếng Việt mà không cần quan tâm đến các nội dung tiếp theo của tài liệu này.

  Nếu bạn chưa từng gõ hoặc chưa rõ về các kiểu gõ Việt ngữ thì có thể xem cách gõ dấu trong bảng dưới đây

 

Nguyên âm và Dấu Kiểu gõ Telex Kiểu gõ VNI Kiểu gõ VIQR
â aa a6 a^
ê ee e6 e^
ô oo o6 o^
ă aw a8 a(
ơ ow,] o7 o+
ư w, uw, [ u7 u+
đ dd d9 dd
dấu sắc s 1
dấu huyền f 2 `
dấu nặng j 5 .
dấu hỏi r 3 ?
dấu ngã x 4 ~
xoá dấu z 0
Ví dụ để gõ chữ:
Tiếng việt
Bạn gõ:
Tieengs Vieetj
Bạn gõ:
Tie6ng1 Vie6t5
Bạn gõ:
Tie^’ng Vie^.t

 

Lưu ý:

  • Sửa dấu: Trong trường hợp gõ nhầm dấu, có thể sửa lại bằng cách chuyển con trỏ tới cuối từ đó và gõ luôn vào phím dấu đúng mà không cần phải xoá cả từ đi gõ lại. 
  • Xóa dấu: Nhấn phím z
  • Lặp dấu: Để gõ những ký tự đã được dùng làm phím đánh dấu thì gõ phím đó 2 lần, ví dụ: để gõ chữ w bạn nhấn 2 lần phím w, để gõ oo (2 chữ o) bạn nhấn ooo (nhấn phím o 3 lần) …

  Nếu bạn không hiểu tài liệu này nói gì, hãy đặt chuột vào ô soạn thảo dưới đây và gõ lần lượt dãy ký tự sau sẽ rõ: Gox tieengs Vieetj deex nhuw awn chaos

Chúc bạn thành công!


VietUni — Hoán Chuyển Các Bảng Mã

Xử dụng VietUni để hoán chuyển các dạng mã thường dùng

Phụ Nữ Lâm Viên — Phiêu Bồng

Tức Nước Vỡ Bờ

Hướng Dẫn tạo blog WordPress

 

Để bắt đầu làm quen với wordpress, có lẽ đầu tiên bạn nên đăng ký 1 account tại wordpress.com để tạo lập một blog miễn phí để làm quen với cách sử dụng mã nguồn mở hấp dẫn này. (Về việc lập blog cá nhân với tên miền dạng .com .net .org và sử dụng wordpress sẽ đề cập sau).

Một điều thật tuyệt vời là wordpress hỗ trợ rất tốt tiếng Việt, bạn có thể xem chi tiết tại vi.wordpress.com

Sau đây là bài viết của identical về việc hướng dẫn sử dụng wordpress.com.

Trước hết, phải nói rằng tạo mới một account tại WordPress.com hết sức đơn giản, tất cả những gì bạn cần làm là truy cập trang Get your own WordPress.com account. Bạn sẽ thấy xuất hiện một màn hình cho phép nhập username và địa chỉ email của mình:

Như có thể thấy trong hình, username bạn chọn bắt buộc phải có từ 4 ký tự trở lên, trong đó không có các ký tự đặc biệt nào ngoài các số và chữ cái.

Địa chỉ email của bạn phải chưa được sử dụng tại WordPress.com bao giờ và, hiển nhiên, nó phải có thật để WordPress.com có thể gửi email chứa password đến cho bạn.

Một lẽ tất nhiên là bạn phải tick vào ô có ghi I have read and agree to the fascinating terms of service.

Và cũng bởi bạn đang tạo cho mình một blog nên bạn hãy để dấu tick ở ô Gimme a blog! (Like username.wordpress.com).

Ngay khi bạn bấm nút Next », bạn sẽ được chuyển qua màn hình thứ 2:

Tại đây, bạn có thể đặt subdomain cho blog của mình, dưới dạng cái_gì_đó.wordpress.com, đặt tên cho blog, chọn ngôn ngữ bạn sẽ dùng để viết blog cùng với thông tin liên quan đến vấn đề bảo mật cho nội dung blog.
Subdomain cho blog của bạn, cũng như username, phải là duy nhất và chưa được sử dụng bao giờ. Subdomain này sẽ là vĩnh viễn, nghĩa là bạn không có khả năng thay đổi nó. Vì vậy, hãy lựa chọn một cách sáng suốt.

Hãy chú ý một vài điểm sau khi chọn cho mình một subdomain:

Thứ nhất, mỗi người có thể tạo cho mình một số lượng không giới hạn các blog. Chính vì vậy, một khi blog đã được đăng ký, thì subdomain của blog đó sẽ nằm trong trạng thái in-used, không cần biết blog có nội dung hay không. Nếu bạn không nhanh chân thì subdomain mà bạn muốn có thể bị người khác đăng ký mất.

Thứ hai, WordPress.com không bao giờ xóa bỏ một blog đã được đăng ký, cho dù nó không có nội dung trong một thời gian rất, rất dài. Để có thể dùng một blog đã được đăng ký, bạn phải liên hệ với chủ nhân blog đó, nhờ họ transfer sang cho bạn. Việc này sẽ mất khá nhiều thời gian.

Một lần nữa xin nhắc lại, đã có hơn 300 nghìn blog được đăng ký tại WordPress.com, tương ứng với hơn 300 nghìn subdomain. Hãy nhanh tay đăng ký ngay một subdomain cho mình!

Tên blog, cùng với ngôn ngữ bạn chọn để viết blog đều có thể thay đổi bất cứ lúc nào bạn muốn. Vì vậy, chẳng có lý do gì để bạn phải suy nghĩ lâu về hai vấn đề này.

Nếu bạn viết blog bằng tiếng Anh, hãy chọn en – English. Nếu là tiếng Việt, chọn vi – Tiếng Việt. Tương tự với các ngôn ngữ còn lại.

Ô chọn cuối cùng, về Privacy, nếu bạn để dấu tick ở đó, blog của bạn sẽ có thể được tìm kiếm qua Google hay công cụ tìm kiếm blog chuyên dụng Technorati. Với một blog cá nhân, không muốn nhiều người đọc, thì bạn có thể bỏ dấu tick ấy đi.

Kết thúc quá trình đăng ký, bạn bấm nút Signup ».

WordPress.com sẽ thông báo việc đăng ký đã hoàn tất. Bạn cần login vào địa chỉ email của mình, mở mail mà WordPress.com gửi tới để tiến hành kích hoạt (activate) blog vừa đăng ký, đồng thời lấy password để login.

Password mặc định sinh ra là ngẫu nhiên, khoảng 6 – 7 chữ cái. Password này hoàn toàn có thể thay đổi được thông qua Admin Panel.

Cần nhớ, nếu bạn không thực hiện việc kích hoạt trong vòng 2 ngày, bạn sẽ phải làm lại các bước trên. Từ đầu.
Nhóc JackSep 20 2007, 08:59 AM
Típ nha
Admin Panel của WordPress.com
Sau khi đăng ký cho mình được một blog tại WordPress.com, bạn sẽ nhận được một email chứa thông tin về tài khoản của mình. Bạn có thể đăng nhập với mật khẩu được ghi trong email và bắt đầu làm quen ngay với các tính năng trong Admin Panel của blog

Như bạn có thể thấy trong hình: Trên cùng của Admin Panel là tên blog của bạn, kèm với một link View site » để bạn có thể xem blog của mình. Ngay dưới là thanh menu, bao gồm các mục Dashboard, Write, Manage, Blogroll, Presentation, Users, Options và Upgrades.

Mặc định khi đăng nhập bạn ở trang Dashboard. Do đó, submenu bên dưới sẽ hiển thị các mục Dashboard, Tag Surfer, My Comments, Blog Stats và Feed Stats. Bạn có thể dễ dàng chuyển đến các menu khác cùng với các submenu của nó bằng cách bấm vào liên kết tương ứng trong Admin Panel của mình.

Sau đây sẽ là giới thiệu sơ qua chức năng của menu và các submenu:
1. Dashboard:

* Dashboard: Xem tin tức của WordPress.com, danh sách các blog nổi nhất trong ngày, các bài viết mới nhất, thông tin về các phản hồi nhận được…

* Tag Surfer: Thông qua các tag đặt cho nội dung trong blog, bạn có thể tìm thấy những bài viết hay hợp sở thích của mình.

* My Comments: Danh sách các phản hồi bạn đã gửi, ở blog của bạn và các blog khác.

* Blog Stats: Số liệu liên quan đến khách thăm blog.

* Feed Stats: Số liệu liên quan đến người đọc RSS feed của blog.

2. Write:

* Write Post: Nơi soạn thảo các bài viết sẽ đăng trên blog của bạn.

* Write Page: Nơi soạn thảo các trang tĩnh như About, Contact me. Whatever.

3. Manage:

* Posts: Quản lý các bài viết đã lưu.

*  Page: Quản lý các trang tĩnh đã tạo.

* Comments: Quản lý các phản hồi đã đăng trên blog.

* Awaiting Comments: Quản lý các phản hồi đang đợi kiểm duyệt.

* Import: Nhập nội dung từ blog khác vào blog hiện tại.

* Export: Xuất nội dung từ blog hiện tại ra blog khác.

* Askimet Spam: Các phản hồi linh tinh bị nghi là rác.

4. Blogroll:

* Manage Blogroll: Quản lý các link bạn yêu thích.

* Add Link: Bổ sung thêm các link vào danh sách.

* Import Links: Nhập link từ nơi khác vào danh sách.

5. Presentation:

* Themes: Danh sách các theme bạn có thể chọn cho blog của mình.

* Sidebar Widgets: Quản lý các widget bạn có thể đặt trên sidebar của blog.

* Edit CSS: Thay đổi CSS của theme.

6. Users:

* Authors and Users: Danh sách các tác giả và người đăng ký account tại blog của bạn.

* Your Profile: Thay đổi hồ sơ cá nhân của bạn.

* Invites: Mời bạn bè của bạn sử dụng WordPress.com.

7. Options:

* General: Các tùy chọn chung nhất về tên blog, tagline, ngày tháng…

* Writing: Tùy chọn về cách thức bạn viết blog.

* Reading: Tùy chọn về cách thức người khác đọc blog của bạn.

* Discussing: Tùy chọn về cách thức mọi người thảo luận trong blog của bạn.

* Privacy: Tùy chọn về độ bí mật của blog.

* Delete Blog: Xóa blog của bạn. Vĩnh viễn.

8. Upgrades: Nơi nâng cấp blog của bạn. Có tính phí.
Nhóc JackSep 20 2007, 09:10 AM
Nữa
Viết bài trong blog

Một blog mà không có các bài viết thì nó không được coi là blog.
Bài viết này sẽ nói đến vấn đề viết bài trong blog tại WordPress.com

Trước hết, để viết bài, bạn cần vào Admin Panel > Write > Write Post. Nếu bạn muốn tạo 1 trang tĩnh, hãy vào Write Page thay vì Write Post.

Ví dụ bạn đang ở trang Write Post. Bạn sẽ thấy trước mặt mình là một vài ô textbox để viết bài, bao gồm ô Title và ô Post. Title hiển nhiên là nơi đặt tiêu đề cho bài viết, còn Post chứa nội dung bài viết.

Nếu bạn đang dùng trình soạn thảo mặc định của WordPress.com – WYSIWYG – bạn sẽ thấy việc viết bài đơn giản như gõ WinWord. Mọi thứ như chữ đậm, chữ hoa, chữ nghiêng… đều có thể được lựa chọn một cách nhanh ***ng và dễ dàng.

Còn nếu bạn dùng trình soạn thảo dạng raw – nghĩa là HTML “thô” – thì bạn sẽ thấy một số nút như b, i, link, b-quote,… Đây chính là các tag sẽ được thêm vào để định dạng nội dung trong bài viết của bạn. Nói chung, nếu coi WYSIWYG là một bộ phim hoàn chỉnh thì raw HTML chính là phần “Behind the scene”
Việc chuyển đổi 2 loại trình soạn thảo hết sức dễ dàng, bạn chỉ việc bấm vào link My Profile nằm ở góc phải trên màn hình, sau đó chọn / bỏ chọn ở ô Use the visual rich editor when writing tùy theo nhu cầu của mình.

Cũng cần nói thêm, trong bài viết bạn có thể sử dụng các smiley như , , … Danh sách các smiley như thế có thể tìm thấy ở trang web: What smilies can I use?
Bên dưới ô Post là 3 nút: Save and Continue Editing, Save và Publish.

Save nhằm mục đích lưu lại bài viết đang gõ như một bản nháp, và bạn có thể chuyển qua làm việc khác.
Ngược lại, Save and Continue Editing vừa lưu, vừa cho phép bạn gõ tiếp bài viết. Tuy nhiên, với một nâng cấp gần đây, WordPress.com đã trang bị thêm tính năng AutoSave tương tự WinWord, cho phép bạn tự do gõ bài mà không cần lo đến việc lưu lại thủ công. Bài viết của bạn được tự động lưu lại mỗi 1 phút.
Cuối cùng, tính năng Publish giúp bạn đưa bài viết của mình xuất hiện trên blog. Có thể coi đây là công đoạn dọn thức ăn ra đĩa sau khi đã nấu nướng chán chê

Tiếp tục cuộn trang Write Post xuống, bạn sẽ thấy một khu vực dùng để upload ảnh hay chèn video vào blog. Cách sử dụng các công cụ này khá đơn giản

Nằm dưới khu vực Upload, cũng như bên phải ô Post là các docking box, các “hộp” có tiêu đề màu xanh mà bạn có thể dễ dàng kéo thả tới vị trí mà mình muốn, cũng như mở ra / thu gọn tùy ý

Các “hộp” này có tính năng cụ thể như sau:

1. Categories: Bài viết của bạn thuộc mục nào thì hãy tích vào mục tương ứng.
2. Discussion: Chọn xem bạn có muốn người đọc gửi phản hồi và blog khác ping đến bài viết không.
3. Post Password: Nếu là một bài viết “nhạy cảm” , không có lý gì mà bạn không bảo vệ nó bằng mật khẩu
4. Post Slug: URL bài viết của bạn.
5. Post Status: Chọn xem bài viết bạn đang gõ nằm ở dạng Đã xuất hiện trên blog, Bản nháp, hay Nội dung riêng tư cá nhân mỗi mình bạn đọc
6. Post Timestamp: Thời gian bài viết xuất hiện trên blog.
7. Post Author: Tác giả bài viết, trong trường hợp blog có nhiều người tham gia đóng góp bài viết.
8. Optional Excerpt: Hãy coi đây như phần tóm tắt bài viết của bạn.
9. Trackbacks: Những trackback bạn muốn gửi đến các blog khác.

Cuối cùng, đó là nút Delete this post, cho phép bạn ném bài viết mình đang gõ vào thùng rác , và phần Post Preview để bạn xem trước bài viết của mình. Phần Post Preview được cập nhật mỗi khi bạn bấm Save and Continue Editing.

Trên đây là những gì cơ bản nhất mà bạn cần nắm khi viết bài ở một blog WordPress.com. Chúc thành công
Nhóc JackSep 20 2007, 09:13 AM
Típ tục
Quyền hạn trong blog
Khi bạn tạo một blog tại WordPress.com, bạn được trao quyền Administrator. Như bạn có thể đoán, là một Admin, bạn được phép làm bất cứ những gì mình muốn, trong phạm vi blog của bạn. Tạo mới, sửa đổi các bài viết, đổi theme của blog, chỉnh các thiết đặt hay sao lưu và khôi phục dữ liệu – tất cả đều nằm trong tầm tay của một Admin.

Nếu bạn vào Admin CP > Users, bạn có thể thấy mục Add User From Community, cho phép bạn thêm user vào blog của mình. Mặc định, có 5 loại user khác nhau: Administrator, Editor, Author, Contributor và Subscriber.
Hãy thử xem xem, mỗi loại user đó khác nhau như thế nào

Trước hết, ta nói đến quyền Subscriber. Đây là quyền thấp nhất, chỉ những người có khả năng đọc blog – nhưng không thể thay đổi cũng như tạo thêm nội dung cho blog.

Cao hơn một chút là quyền Contributor. Là một contributor, người dùng có thể tham gia viết bài, sửa chữa bài của chính mình, tuy nhiên không thể xuất bản bài viết đó. Nghĩa là, bài viết do họ soạn thảo sẽ không hiện lên trên blog cho đến khi có người dùng cấp cao hơn cho phép.

Tiếp đến là Author – những người có thể tạo mới, chỉnh sửa, xuất bản cũng như xóa bỏ bài viết của chính mình.

Nếu như trong forum có Moderator, thì ở blog có Editor. Họ có thể xuất bản, sửa chữa, xóa bỏ bất cứ bài viết nào. Họ cũng có quyền thông qua các phản hồi nhận được, quản lý các thể loại trong blog cũng như sắp xếp các liên kết trong Blogroll.

Cuối cùng, là Administrator. Là bạn, người có quyền lực tối cao trong blog của mình.

Ngoài những điều trên, bạn hãy chú ý thêm 2 điểm quan trọng:
1. Hãy thật thận trọng khi cấp quyền cho người dùng, đặc biệt là quyền Editor hay Administrator.
2. Nếu vì một lý do nào đó, bạn nhỡ tay xóa bỏ quyền Administrator của mình, hãy gửi Feedback tới bộ phận hỗ trợ của WordPress.com. Đó là cách duy nhất để bạn lấy lại quyền hạn của mình.
Bài viết được tổng hợp từ FAQ của WordPress.com.
Nhóc JackSep 20 2007, 09:13 AM
Fần Fụ Chú :
Widget là các ứng dụng nhỏ đặt trong blog của bạn, hỗ trợ thêm các chức năng hay đơn giản giúp trang trí blog của bạn.

Trong mục Sidebar Arrangement, ở phần trên là liệt kê các widget hiện có trong blog của bạn, bạn có thể céo thả thay đổi vị trí giữa các widget này, click vào icon bên phải mỗi widget để thiết lập các thông số.

Ở dứơi là một số widget chưa được dùng, ta có thể hiểu chúng như những cầu thủ dự bị (và tất nhiên là không giới hạn cầu thủ đá chính, bạn có thể sử dụng tất cả các widget trên). Tương tự. bạn kéo thả các widget ở dưới lên khung trên nếu muốn sử dụng chúng, ngược lại nếu muốn loại bỏ.

44 sẽ nói qua về chức năng một số widget thông dụng :

Flickr : Giống như photostream trong blog 360 Yahoo vậy, tuy nhiên, widget Flickr có thể hiện thị ảnh từ nick khác chứ không chỉ của bạn, bạn chỉ cần nhập link RSS của flickr photos bất kì.

Tag Cloud : Liệt kê tag của bạn

Blog Stats : Bộ đếm lượt truy cập blog (pageviews đó )

Categories : Liệt kê các chủ đề tại blog của bạn.

Calendar : Lịch

Còn rất nhiều widget hay nữa chờ bạn khám phá.

http://thuviensrovn.wordpress.com/soft/h%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-blog-wordpress/

Võ Phiến – Đọc Thơ Cao Tần

Gần đúng hai năm sau ngày chúng ta bỏ nước ra đi, tờ báo Bút Lửa số 1 tung ra hai bài thơ lạ lùng của một tên tuổi lạ hoắc: CAO TẦN. Thơ Cao Tần được tán thưởng ngay. Nó gây chấn động. Nó thành một biến cố trong sinh hoạt văn nghệ tha hương. Trong giới độc giả và giới cầm bút nổi lên một thắc mắc: “Thơ hay đấy. ‘Tới’ lắm. Nhưng Cao Tần là ai vậy?”

CaoTan1 copy

Cao Tần hành tung bí mật như T.T.KH.; vì vậy người ta e rằng rồi cũng chỉ thoảng qua trên thi đàn trong chốc lát như T.T.KH. Nhưng không. Từ số nọ sang số kia Bút Lửa tiếp tục đăng thơ Cao Tần gần một năm trời. Và thơ ấy càng ngày càng “tới”. Nó không phải là một phút ngẫu nhiên may mắn, mà dần dần chứng minh một tài năng có bản lãnh vững vàng. Vào khoảng tháng 11-1977 nhà văn Mặc Đỗ “riêng nhắn Cao Tần: Cảm lắm”. Sau đó, nếu nhà văn còn theo dõi, còn đọc nữa, chắc chắn còn sẽ “cảm” hơn nữa.

Vì kỹ thuật làm báo, Bút Lửa đã dành cho Cao Tần một sự xuất hiện đột ngột, cố ý gây một kinh ngạc. Thực ra sau này chúng ta lần lần nhận thấy sự ngạc nhiên của độc giả không hẳn chỉ là kết quả do kỹ thuật nghề nghiệp: Trong bản chất thơ Cao Tần vẫn có cái gì đột ngột, luôn luôn khiến người đọc ngạc nhiên.

Cái ấy trước hết là đề tài. Nhiều bài thơ của Cao Tần được kết cấu như truyện, những câu chuyện khá ly kỳ: chuyện hai người bạn tịnh khẩu uống tì tì giữa sa mạc; chuyện thằng Cù Lần có cái túi nhỏ; chuyện dăm thằng khùng bàn chuyện vá trời: kẻ vượt suối trèo non về nước phất cờ khởi nghĩa như “hùm thiêng cựa móng thét rung trời”, người leo lên tượng thần Tự Do Mỹ quốc tự đốt mình làm lửa sáng để soi tìm trong đáy biển “những oan hồn ai bỏ giữa bao la”, v.v.

Cái đột ngột ấy lại ở những hình ảnh độc đáo, ý tưởng bất ngờ. Hoặc về những lá thư gửi từ Sài Gòn qua ngoại quốc, vừa phải ca ngợi cách mạng vừa tiết lộ sự thực bi đát qua lời lẽ úp mở:

“Thư quê hương như tên hề ốm nặng
Hồn tang thương sau mặt nạ tươi cười”

Hoặc thất vọng vì những lời thư bất lực của vợ, kẻ tha hương bảo vợ thay vì viết lách quanh co, hãy gửi vài sợi tóc mẹ già, gửi viên sỏi nhỏ bên đường…
“Và gửi cho anh một tờ giấy trắng
Thấm nước trời quê qua mái dột đêm mưa
Để anh đọc: mênh mông đời lạnh vắng
Em tiếc thương hoài ấm áp gối chăn xưa”.

Hoặc về tấm hình nhợt nhạt trên thẻ căn cước mà mỗi chúng ta còn mang theo:
“Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ”

Cái đột ngột còn ở những lời những chữ, những cách nói không thường thấy trong văn chương, càng không thường trong thi ca:
“Mày có linh thiêng qua đây tao cúng
Một chầu phim X, một quả tắm hơi
(…)
Cũng ngất ngư đời như con… củ khoai”

Chắc chắn sẽ có lời cật vấn: “Cái đột ngột thì dính dáng gì đến giá trị thi ca?”

Quả vậy. Thật khó xác nhận rằng thơ hay là thơ kỳ lạ, mặc dù xưa nay không hiếm những trường hợp thi nhân đua nhau biểu diễn các trò quái đản: tự dưng điên loạn, đòi uống ánh sáng, bay lên trăng, đớp các vì sao v.v.

Đột ngột, kỳ lạ, có thể không phải là một giá trị. Nhưng ai biết được đích xác đâu là những yếu tố làm nên giá trị của thơ, gây nên xúc cảm thơ? Chẳng qua thi ca là địa hạt của tình cảm, của tưởng tượng, và nhà thơ vẫn khoái chứng tỏ một sức tưởng tượng phóng khoáng phi phàm, ai nấy ra sức vượt thoát ra ngoài khuôn sáo tầm thường. Giữa những kẻ đớp sao uống trăng v.v. Cao Tần không chọn kiểu quái dị nhất. Vậy mà Cao Tần vẫn gây được cảm tưởng đột ngột độc đáo. Có phải chính vì thế mà cái kỳ lạ này đâm ra ít sáo hơn cả?

Tứ thơ lạ, câu thơ đẹp — trong hoàn cảnh một cuộc sống thanh bình tại quê hương, đó hẳn là những mộng ước của kẻ chọn nghiệp thi ca. Những cái ấy đều có ở thơ Cao Tần. Nhưng trong cảnh ngộ lưu lạc hiện nay, liệu còn có ai cầm bút chỉ vì những lý do nghệ thuật như thế? Và trong số độc giả liệu mấy ai còn tìm đọc thơ vì tứ lạ lời hay?

Chắc chắn khi nhà văn Mặc Đỗ “cảm” Cao Tần, cái cảm ấy không vì một hình thức nghệ thuật độc đáo hay điêu luyện. Cái hấp dẫn của Cao Tần đó là một tâm sự vừa bi thống vừa phẫn uất, một phong thái ngang tàng trong tuyệt vọng. Người tị nạn nhìn vào thơ Cao Tần thấy niềm đau đớn xót xa: niềm đau của mình; thấy nỗi cay đắng: nỗi cay đắng của mình; thấy chán nản mênh mông: của mình… Và trên chừng ấy nét tâm trạng của chính mình là một khí phách hào hùng, dù là cái hào hùng của người lâm vào mạt lộ.

Nghĩ đến cảnh sa cơ lỡ vận, người thơ cười: “Ông thượng đẳng cu-li”. Nói đến một phi công thất thế, lại cười: “Đời khốn kiếp đã quăng ông xuống đất”. Kể chuyện một người trân trọng giữ từng chút kỷ niệm của mẹ, của vợ, của bạn bè trong cái túi nhỏ mang kè kè theo mình, lại cười: đó là chàng Cù Lần! Trong thơ Cao Tần thường ẩn hiện nụ cười, cười như người Việt Nam vẫn cười trong tận cùng đắng. Đối với người ngoại quốc đang sống quanh ta không biết họ thấy thế nào; riêng đối với chúng ta tiếng cười ấy làm xao xuyến đến tận đáy tâm hồn: cách xa quê hương muôn vạn dặm, có thơ Cao Tần lúc đau đớn ta “được” đau đớn trong cách thế biểu hiện đặc biệt của dân tộc. Chẳng cũng khoái sao?

Cao Tần cười cay đắng, nói huênh hoang ngạo mạn, lắm khi đến tục tằn, như thế chỉ vì không muốn phơi bày chỗ thảm hại. Sự thực phía sau tiếng cười ấy, phía sau cái nghênh ngang ấy là một cảnh thảm hại: chỗ gặp gỡ chung của tất cả chúng ta. Gặp gỡ để thương nhau.

Con người cười cợt ngạo nghễ có thể là người “yếu” hơn bất cứ ai khác. Năm chàng tráng sĩ họp nhau bàn chuyện lớn suốt đêm, quất ngã la liệt nhiều chai rượu mạnh, để rồi mờ sáng hôm sau:
“Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới
Ta làm gì cho hết nửa đời sau?…”

Chàng Cù Lần bị giật cái túi nhỏ bí mật:
“Cù Lần dọa đêm nay đâm chết hết
Ôi ví dầu chú mở được tim anh
Chú cũng thấy một kho tàng thảm thiết
Với khăn tay nhàu nát chữ thêu xanh”.

Cái nghênh ngang bên ngoài chỉ đẹp vì cái “kho tàng thảm thiết” bên trong. Nếu không thế nó vô duyên biết mấy.

Kho tàng của Cao Tần chưa mở hết — thời gian xuất hiện trên thi đàn của Cao Tần còn quá ngắn đối với một đời văn thơ — tuy nhiên chúng ta đã bắt gặp bao nhiêu cái thảm thiết: hoặc những nhớ nhung hướng về từng chiếc ghế công viên, từng cái tháp chuông nhà thờ, từng viên gạch vỡ ở góc vườn quê xưa, vì:
“Dưới ghế công viên anh giấu thời thơ dại
Trên tháp nhà thờ anh giấu niềm tin
Trong vườn cũ anh giấu thời hạnh phúc
Nơi nụ cười em anh giấu trái tim”.

hoặc những thắc mắc vẩn vơ: Ở cái xứ sở muôn trùng xa cách, ở nơi thành phố mình đã rời bỏ ra đi không hẹn ngày về buổi sáng hôm nay những ai đang bước đi trên con đường quen thuộc trước nhà mình? trưa nay ai ngồi trên ngọn đồi thở mùi gió thông mà mình nhớ quay quắt? và:
“Chú nào ngồi trước hiên nhà ta chiều nay
Nghe mưa Sài Gòn rạt rào thơm mát
Sau một ngày nắng lóa chín tầng mây
Những mái tôn mưa cười ran hạnh phúc?”

Trong thơ Cao Tần có cả cái cao ngạo của tráng sĩ lẫn cái yếu đuối vô vàn của chàng Cù Lần. Và đó cũng là hai khía cạnh của mỗi một tâm hồn di tản tha hương. “Cảm” nhau vì thế.
Ôi, mối cảm thông thảm thiết giữa những tráng sĩ… Cù Lần.

Trường hợp thơ Cao Tần gợi lên một vấn đề: khả năng sáng tác của người di dân lưu lạc.

Đầu tháng tư năm ngoái tạp chí Newsweek có bài kiểm điểm về cái thế giới thầm lặng của di dân: từ 1972 đến nay, nhà cầm quyền Xô-viết đã cưỡng bức tống xuất “gần trọn một thế hệ những văn nghệ sĩ xuất sắc nhất của nước Nga”, thực hiện “cuộc thanh trừng văn học lớn lao nhất kể từ thời Staline”, và những văn nghệ sĩ nọ đã mất sức sáng tạo khi ra khỏi nước.

Thi sĩ Alekxandr Galich kêu rằng ở Paris họ mất ngôn ngữ và tất cả xung quanh đều câm nín, họ sống giữa một thế giới câm. Phong phú như Alekxandr Solzenitsyn, tiếng rằng tiếp tục viết hăng vẫn không thấy cho in được gì đáng kể sau 1974. Vladimir Maximov vừa xuất bản tờ tạp chí của di dân Nga vừa bảo “bây giờ chuyện làm người quan trọng hơn làm nhà văn”.

Jerry Kosinski, nhà văn Ba-lan di cư thành công bằng các tác phẩm Anh ngữ, đã mỉa mai các đồng nghiệp Nga nọ: Thay vì viết lách, họ ngồi trong các quán cà-phê Pháp mà nói tiếng Nga, bàn chuyện giải phóng cố quốc. Thoát ra khỏi một ngục tù, họ lại tự giam mình vào một ngục tù khác, cái ngục từ của thứ ngôn ngữ và văn hóa riêng biệt của họ.

Chúng ta lo lắng: Thế giới Tây phương quanh mình đối với chúng ta càng câm lặng hơn là đối với các văn nghệ sĩ Nga. Có phải do đó mà thắc mắc: “Cao Tần là ai?”

Câu hỏi ấy chứng tỏ người ta không tin cuộc sống di cư có thể là khung cảnh xuất hiện một tài năng mới…
Trong lúc chúng ta đang suy nghĩ về một sự may mắn xảy đến trong sinh hoạt văn nghệ ly hương của người Việt Nam thì thi sĩ Minoru Fujita từ Los Angeles bay về Đông Kinh để đọc trước Nhật hoàng bài đoản ca của ông trong dịp đầu năm.

Đó là một tục lệ đã có từ lâu đời: hàng năm nước Nhật chọn lấy mười bài hay nhất trong số những đoản ca được viết ra khắp trong và ngoài nước; Tết đến trong một buổi lễ long trọng các tác giả được mời vào hoàng cung tự mình ngâm thơ trước mặt vua.

Minoru Fujita là thi sĩ hết sức hiếm hoi thành công ở hải ngoại. Người thi sĩ ấy lại đoạt được cái vinh dự này những hai lần: một lần vào năm 1971, lần nữa năm 1977.

Fujita xa quê hương từ 1953, tức đã một phần tư thế kỷ. Ngày ấy ông chưa từng làm thơ. Tại sao cái năng khiếu đối với loại thơ cổ điển có một lịch sử xưa hàng nghìn năm lại bỗng dưng nẩy sinh rồi phát triển rực rỡ nơi người cựu thủy thủ sống trong hoàn cảnh tha hương? Cuộc sống vẫn dành quyền thỉnh thoảng tung ra một chuyện lạ thường, khó hiểu.

Fujita khiến Cao Tần không đến nỗi kỳ quái; nhưng liệu có khiến nổi những người cầm bút lưu vong của Việt Nam trở nên lạc quan?

Nghĩ ngợi về trường hợp Fujita, một ký giả của tờ Los Angeles Times đã tìm gặp một bài đoản ca Nhật mà ông ta dịch:
“I no longer know
What they are saying
In my native land,
But I know the flowers
Smell the same.”

Một người lưu lạc lâu năm, biết rằng quê hương đã trải qua nhiều biến đổi, biết mình đã xa lạc các vấn đề của xã hội cũ đến nỗi không còn biết nơi cố quốc đồng bào đang suy nghĩ về những gì, đang nói năng những gì nữa. Dù sao người ấy còn thấy có điều an ủi là ở nơi đó hoa xưa vẫn tỏa mùi hương cũ: cái ấy thì muôn đời không thay đổi.

Thời gian Cao Tần xa nước chỉ bằng một phần mười thời gian của Fujita. Thế nhưng sự cách biệt giữa Việt Nam hiện nay với Cao Tần, với chúng ta, lớn lao hơn nhiều: chẳng những bộ mặt xã hội đổi khác, mà tâm lý con người, mà tư tưởng, ngôn ngữ ở nước ta cũng đổi khác. Thật vậy, cái tiếng nói mới do cách mạng đưa vào Sài Gòn gần đây khác trước nhiều chứ.
“Quê xưa người đổi tiếng người
Trước sau hoa vẫn một mùi hoa thơm”

Và thế là ông Fujita cứ yên trí làm thơ, và làm thơ hay, và thơ ông được tán thưởng cả trong nước lẫn ngoài nước.

Cao Tần không có được hoàn cảnh ấy. Người cầm bút Việt Nam lưu vong không có được hoàn cảnh ấy. Hoa quê hương vẫn thơm một mùi, nhưng ngửi hoa bây giờ phải có lập trường, một lập trường ngửi hoa mới lạ. Bị bức tường lập trường ngăn cách hoàn toàn đường giao tiếp với quê hương, Cao Tần vừa làm thơ vừa kêu hoảng:
“Tiếng Việt trong ta ngày mỗi héo
Hồn Việt trong ta ngày mỗi khô”.

Dù đang thành công Cao Tần không lạc quan nổi, không hề lạc quan chút nào; tuy vậy thơ Cao Tần nhất thời cũng tránh cho chúng ta một cảnh trạng rất đáng bi quan. Bởi vì làm thơ trong cảnh sợ… hết tiếng hết chữ, chuyện đã đáng thương; nhưng đáng thương hơn có lẽ là khi một tập thể di dân đông đảo và buồn thảm như chúng ta mà không có được một tiếng thơ nói lên cái cảnh ngộ của mình.

Võ Phiến

 

Tiếc Thương

Không nhận ra người nữa
Đầu người vỡ tan rồi
Toàn thân đầy vết đạn
Ôi tượng hình tả tơi

Súng trận không còn đó
Nón sắt vương nơi nào
Bệ ngồi trơ sương gió
Người ơi người về đâu?

Tôi vịn vào pho tượng
Tượng trách non sông mình
Rằng sao tàn lửa khói
Hận thù vẫn sục sôi?

Linh hồn tôi rơi lệ
Chạnh nhớ xưa nơi này
Bao người vì quê hương
Chết trong mộ tiếc thương

Viên đạn ai thù oán
Bắn nát pho tượng này
Để giờ lật trang sử
Run mười đầu ngón tay

Viên đạn ai thù oán
Bắn nát pho tượng này
Để giờ lật trang sử
Run mười đầu ngón tay…

                 Cao Tần

Tiếc Thương — thơ Cao Tần, nhạc Anh Bằng

Trình bày Như Quỳnh & Lâm Nhật Tiến

Lễ Phủ Cờ Cựu Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao—SBTN

Thương Tiếc chị Tuyết Nga

CaoPho2

ChiTuyetNga

PhanUu2

CamTa2

ChuaLieuQuan

Thương Tiếc Chị Thanh Nhàn

CaoPho1scan0279X

PhanUu1

CamTa1

Đại Họa Mất Nước


Video Đại Họa Mất Nước

Văn Tế Tử Sĩ Hoàng Sa—Lữ Tuấn

tu-si-hoang-sa-600x372

Trấn giữ Phương Nam, oai hùng dòng giống Việt
Dựng bờ Đông Hải, vinh quang đất nước ta.

Trai gái trải nhiều đời chung vai bảo vệ giang sơn khi anh dũng—đối đầu cơn sóng gió,
Già trẻ từng lắm phen giang tay giữ gìn đất nước lúc kiên trì—chống đỡ cuộc phong ba.

Đem quyết tâm mà ngăn cường tặc
Lấy chính nghĩă để chống gian tà.
Từ ngày dựng nước Văn Lang, trải qua trăm trận chiến hào hùng, vùng Đông Á an cư một giống dòng dũng cảm,
Tiếp nối khí hùng Âu Lạc, áp đảo nhiều cơn phong ba hung ác, đất Nam Việt sáng danh trang lịch sử chói lòa.

Ngày 19 tháng 1 năm 1974:

Lũ giặc hung hăng xâm lấn, lãnh hải Việt bàng hoàng cơn khói lửa,
Quân ta anh dũng phản công, khung trời Đông u ám cảnh can qua.

Khi có giặc xâm lăng đất nước, quân đội mạnh bước chân xung trận—giữ gìn bờ cõi
Lúc kẻ thù đe dọa quê hương, Hải Quân vững tay lái tiên phong—bảo vệ sơn hà.

Gục ngã trên lớp sóng biển ngang tàng, chìm sâu xương máu
Trôi nổi với ngọn thủy triều vô tận, tan nát thịt da.
Thân Biệt Hải đã ghi dấu Cam Tuyền, Duy Mộng,
Hồn thủy binh còn vấn vương Vĩnh Lạc, Quang Hòa.
Máu anh hùng đỏ rực nhuộm thắm dẫy san hô Bạch Quỷ
Cờ quyết chiến vàng tươi rạng rỡ bãi cát nóng Hoàng Sa.

Tất cả năm chiến hạm Việt Nam luôn kiên trì chiến đấu—hiên ngang về đáy biển Hạm Phó Nguyễn Thành Trí.
Hơn bẩy chục chiến sĩ Hải Quân đã vinh quang gục ngã—anh dũng chết theo tầu Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà.

Đời đời ghi công ơn to lớn của các tử sĩ, coi thường—ác tâm của giặc nước, luôn kiên trì bám tầu chiến đấu,
Mãi mãi nhớ thành tích vẻ vang của toàn hải đội, bất chấp—lửa đạn của quân thù, vẫn hiên ngang cưỡi sóng xông pha.

Toàn dân tưởng niệm các lịệt sĩ với vạn lời xưng tụng
Tổ Quốc tri ân những anh hùng bằng trăm khúc hoan ca.

Gìn giữ một ngàn dặm non sông gấm vóc, là nhiệm vụ thiêng liêng—của con cháu
Xây dựng bốn ngàn năm lịch sử, ấy công lao vĩ đại—của ông cha.

Nay chúng tôi:

Nguyện noi theo tấm gương quả cảm uy linh giữa biển trời—vô tận,
Xin chứng giám một mối thành tâm tưởng niệm trong hương khói—nhạt nhòa.

Lữ Tuấn

***

Đây là một bài phú độc vận để dùng như Văn tế các Chiến sĩ Hoàng Sa. Phú độc vận rât khó viết vì bị bắt buộc chỉ theo một vần, trong bài văn tế Chiến Sĩ Hoàng Sa thì đó là vần “Sa.” Cứ mỗi hai câu lại làm thành hai câu đối nhau, đối từng chữ, từng vần, từng nghĩa. Thời xưa các cụ thường viết phú liên vận là lối viết chừng năm ba cặp hai câu lại đổi vần, để dễ viết.

Thời nay không còn ai viết phú nữa. Nhưng nếu văn tế thì nên viết theo thể phú mới đúng truyền thống. Thời trước 1975 chi có hai người viết phú thường xuyên trên báo Diều Hâu là Thầy Khóa Tư và Lữ Tuấn (bút hiệu của Cựu SVSQ Nguyễn Công Luận, khoá 12 Trường VBQG.)


Ô Nhục Ải Nam Quan — Chân Mây

Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam!
Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn.

Hãy tiếp tục nhìn những gì mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại!

Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không còn ngày phải tôn thờ hỉnh Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm buồn. Rất buồn!
Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là mãi mãi!

Chương I : NHỮNG HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

Trong chương này, việc sắp đặt hình ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà phân chia thành các nhóm hình theo ký tự A,B,C…Để sự diễn tả rõ ràng hơn, những hình ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng hình ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.

– Nhóm A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến A4)
– Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4)
– Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4)
– Nhóm D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2)
– Nhóm E: không xác định (E1 đến E3)
– Nhóm F: hình quân sự và bản đồ (đánh số F1 đến F6)
– Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất định sẽ đưa trực tiếp vào nơi hình cần thêm minh họa.

Diễn tả :

1. Nhóm hình A :

Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn thủy về hình ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc). Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)

A1. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (1) :

Còn gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (Họa đồ bố trí phòng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Trung Quốc. Địa hình đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung):

a

A2. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (2) :

Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nhìn từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo hình B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dãy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dãy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1):

a

A3. “Trấn Nam Quan Đại Chiến” :

Minh họa cảnh giao chiến giữa quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức họa không rõ nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam Quan của hình A2:

a

A4. “Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ” :

Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hãy quan sát vị trí cổng theo khung hướng dẫn trong hình:

a

2. Nhóm hình B :

Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.

B1. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng :

Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không còn qui mô như xưa.
Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên vì dựa theo hình phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm hình C):

a

Phụ ảnh:(B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.

a

B2. Ải Nam Quan nhìn từ hướng Đồng Đăng :

Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới hình là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo hình F1 sẽ thấy rõ vị trí lô cốt nhìn từ bên Trung Quốc):

a

B3. Bang giao tại Ải Nam Quan :

Quan sát các nhân vật trong hình, ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của hình có những người nhà Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan:

a

B4. Cổng Ải Nam Quan :

Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng. Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ còn dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung Quốc (nhóm hình C):

a

Phụ ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng

a

3. Nhóm hình C :

C1. Trấn Nam Quan (1) :

Nhìn từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đã khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đã mất, chỉ còn lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dãy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm hình chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa hình đồi núi :

a

C2. Trấn Nam Quan (2) :

Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với hình thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rõ bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự dòm ngó thẳng vào nhà mình từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đình làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên còn gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn còn tồn tại cho đến nay :

a

C3. Toàn cảnh Trấn Nam Quan :

Có một khu trại và hai dãy nhà mái lá cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của hình. “Trấn Nam Quan” là đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ còn là ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung trong hình dùng để xác định vị trí so với hình C4 :

a

C4. Trấn Nam Quan (3):

Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung Quốc. So sánh các khung vị trí với hình C3:
Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng:

a

Chữ “Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc gìn giữ, ổn định. “Trấn” còn là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Trung Quốc. Thì đây, “Trấn Nam Quan” đã xác định là những hình này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dãy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên bình. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngõ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đã thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp thì nhà Thanh đã chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm hình B.

4. Nhóm hình D :

D1. Cổng Nam Quan (1):

Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các nhóm hình trên. Có vẻ sơ sài vì đã mất hẳn phần kiến trúc phía trên trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đã mất). Theo sử liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 thì toàn bộ phần trên cổng đã bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo hình E2):

a

D2. Cổng Nam Quan (2):

Hình đăng trên tạp chí “National Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rõ niên đại. Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với hình ảnh của Ải Nam Quan. Tuy nhiên so sánh với hình D1, ta đã thấy kiến trúc cùng kiểu của hai hình. Tại đây, dãy tường thành chạy lên cao đến vách núi trắng tương ứng với hình C3-C4, có thể xác định là hình được chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam :

a

5. Nhóm hình E :

E1. Không xác định (1):

Một hình ngôi chùa trên đường đi Long Châu nơi có cổng giao thiệp với Việt Nam là Bình Nhi Quan. Cùng với Nam Quan và Bình Nhi Quan còn có Thủy Khẩu Quan là 3 cổng quan yếu để vào đất Việt Nam nên gọi chung là “Tam Quan”, có khi cổng Nam Quan còn gọi là riêng là “Tam Quan” do ở vị trí quan trọng hàng đầu so với hai cổng Bình Nhi-Thủy Khẩu. Nơi hình này có tiêu đề “Chine – NAM QUAN – Loc Hang Thiap”. Chưa rõ chữ “Loc Hang Thiap” là gì nhưng hình xác định là Nam Quan trên đất Trung Quốc, có phải là một ngôi chùa trong “Trấn Nam Quan” hay không? Hay là thuộc Trấn Bình Nhi Quan? :

a

E2. Không xác định (2):

Quân đội Trung Cộng đứng trên tường thành giương cờ trong cuộc chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch vào ngày 11.12.1949 tuyên bố giải phóng Quảng Tây. Thế tường thấp với cổng và trên mặt tường cổng có chữ “Trấn Nam Quan”:

a

Phụ ảnh: Hình chụp chính diện của Trấn Nam Quan trong ngày giải phóng Quảng Tây tháng 12.1949. Trên mặt tường cổng thành ta thấy rõ chữ “Trấn Nam Quan”. (phòng trưng bầy lịch sử Hữu Nghị Quan):

a

E3. Không xác định (3):

Quân đội Trung Cộng đứng trước cổng nhỏ có khắc chữ “Trấn Nam Quan”. Không rõ niên đại của hình. Chung với hình E2, có lẽ đây là “Trấn Nam Quan” mà tôi đã giải thích (mục 3, nhóm hình C):

a

6. Nhóm hình F :

F1. Toàn cảnh Ải Nam Quan :

Do trinh sát quân Nhật Bản chụp vào tháng 6 năm 1940 trước khi tiến hành “cuộc chiến 3 ngày” nhằm đạt mục đích đưa quân vào lãnh thổ Đông Dương. Hình được mô tả: “…thấy được đường xe lửa Lao Cai-Côn Minh. Lại có đường xe ô-tô từ Đồng Đăng lên tận Trấn Nam Quan. Bờ tường thành này bên trong là đất Trung Quốc, ngay bên ngoài là Bắc bộ Đông Dương”.

Từ cao điểm như trong hình ta thấy rõ vị trí lô cốt như đã xem qua hình B2. Có khả năng lô cốt đã xây dựng trên một nền kiến trúc cổ xưa của Việt Nam . Và còn “Suối Phi Khanh” nơi thấm lệ của Nguyễn Trãi, có ai nhận ra chưa?…Nước mắt!:

a

Phụ ảnh: Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng)

Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940):

a

F2. Cột Mốc Số 18 :

Do quân đội Nhật Bản chụp tháng 7 năm 1940 ngay tại tường thành Trấn Nam Quan. Cột mốc số 18 lịch sử xác định biên giới Trung-Việt vào năm 1887. Xác định lãnh thổ bảo hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và cũng là khởi điểm Nam tiến của quân đội Thiên Hoàng giao tranh với các nước Châu Âu.
Trên Cột mốc số 18 ta đọc được: “ Trung Việt Quốc Giới , Trấn Nam Quan Ngoại, Đệ Thập Bát Hiệu – No.18 – FRONTIERE ”

a

F3. Bản đồ vị trí Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 :

Do chính quyền Tưởng Giới Thạch họa vào năm Dân Quốc 13 (1925). Khu vực Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 (có đóng khung):

a

F4. Hữu Nghị Quan (tên gọi cổng Nam Quan do Trung Cộng đặt ra vào năm 1965):

Đây là một bằng chứng sống động nhất cho kết qủa “bác cháu ta cùng giữ nước” trong thời cộng sản cầm quyền tại Việt Nam. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng (tham gia chiến tranh biên giới Trung-Việt 1979) chụp vào năm 2005. Các vạch và khung đánh dẩu trên ảnh là của tác giả ảnh và được giải thích như sau :

a

“Hình trên là từ trên núi Kim Kê chụp xuống. Bên trái là Hữu Nghị Quan, vòng tròn màu vàng là cao điểm tranh chấp Trung-Việt, hiện thời do quân ta khống chế; Vùng màu xanh lá cây hình tam giác là khu vực gài địa lôi. Vạch dài màu tím là con đường sắt qua lại với Đồng Đăng. Vùng trắng giữa hình có hai cửa đường hầm là điểm cuối của cao tốc Nam Ninh đến Bằng Tường”.

Nguyên văn:
上图]这是在金鸡山上往下拍的。左侧是友谊关,黄圈部分为中越有争议的高地,目前为我军控制;草绿色的三角为雷区 ,蓝线是通往同登的铁路。图片中间灰白处有两个遂道洞口为南宁至凭祥高速公路的终点站。

Tôi xin thuyết minh thêm : Núi Kim Kê là cao điểm chiến lược nằm ở cánh trái cổng Nam Quan, ngay vị trí chụp ảnh của tên cựu chiến binh này chính là đất Việt Nam. Khu vực tam giác trong hình chính là khu vực của cột cây số Km0 của Việt Nam là nơi mà vào đầu tháng 7.2007, phía Trung Cộng đã tuyên bố hoàn tất gỡ bỏ tấm đạn địa lôi (mìn) cuối cùng, bảo đảm thông thương an toàn cho “vùng Hữu Nghị, Hòa bình vạn tuế!”. Trong các hình ảnh của chương tiếp theo ta sẽ rõ hơn về vị trí này. Ở đây ta đã có khái niệm về việc Ải Nam Quan đã mất trong cự ly ra sao! Việc mất lãnh thổ qủa là nghiêm trọng! không phải là 100m, 150m, hoặc 200m. Cự ly trong hình có thể tính bằng Km! Hai lỗ đen gần giữa tâm hình là đường ra vào của cao tốc Nam-Hữu (Nam Ninh-Hữu Nghị Quan với chiều dài 179.2 Km. Nam Hữu khởi công vào ngày 28.04.2003 và chính thức khai thông vào ngày 28.12.2005, cũng là đường quốc lộ số 322 của Trung Cộng với điểm tận cùng giáp với Km0 của QL1 Việt Nam. Một âm mưu mới hơn đang hình thành!).
Như ta thấy, cả một vùng đồi núi của Việt Nam đã bị Trung Cộng ngang nhiên san bằng và xây dựng công trình trong nhiều năm, vẫn không hề có một chút phản ứng nào của bọn cầm quyền CSVN. Hay nói đúng hơn là đã có một sự thỏa thuận nhượng Ải Nam Quan từ hàng chục năm trước?

F5. Ảnh chụp vệ tinh vị trí của Hữu Nghị Quan :

Khu vực Hữu Nghị Quan ( đóng khung ) so với đường biên giới Trung – Việt màu vàng. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng thiết kế để mô tả lại chiến trận biên giới Trung – việt năm 1979 . Lúc này , Hữu Nghị Quan đã nằm sâu trong đất Trung Cộng từ đời … Hồ Chí Minh !:

a

” Con đê đầu khấn lạy Chư Phật mười phương…”
Ải Nam Quan đã mất, Đất thiêng đã mất! Có ai còn nhớ Phi Khanh-Nguyễn Trãi?

—————–

Chương II :“ Kẻ Bán Ải Nam Quan và Km Zéro ô nhục !”

Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi vào VN làm nhiệm vụ :

a

Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN :

a

Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn: “Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!”. Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC :

a

Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN :

a

Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN . Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN :

a

Huy chương “Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ” do chính HCM ký tặng :

a

Hoặc do PVĐ ban thưởng :

a

Năm 1968, hai bác Hồ – Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam VN :

a

” Nam man ! Ta cho ngươi cơm ăn , áo mặc , ta cho ngươi súng đạn , nhưng chính ngươi đã lấy súng đạn bắn vào da thịt ta !”( người anh em đồng chí TC nói !):

a

Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978 :

a

Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đã xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng biên giới tìm kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đã đẩy lui lãnh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hàng trăm thước.

Dấu đạn giao tranh Trung – Việt trên khắp tường thành ” Hữu Nghị Quan “:

a

Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến thắng :

a

Ngày 28.05.1980 , Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại ” Km 0 ” trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu vực Hữu Nghị Quan :

a

Phụ ảnh tham khảo “Cột Mốc Số 18” giả mạo (?) :

Đây là “Cột Mốc Số 18” mà TC cho rằng đã đặt tại cổng Nam Quan. Khác với “Cột Mốc Số 18” theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đã trình bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng: “BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam”. Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN ký kết Hiệp ước Biên giới với chính quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đã tiêu biến nơi đâu ? Không ai biết rõ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói gì không về hiện tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm 1940 đã chủ trương một cách mù quáng: “Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN ký kết với quốc gia khác !”

a

Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đã trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đã ký văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt thì Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng thì làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lãnh hải được. Còn cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hãy xem hình (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).

Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm rì, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm thước nào cả. Nó đã nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt :

a

” Km 0 ” trong những năm 1990. Biên phòng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía VN . Đáng nể !:

a

” Km 0 ” trong những năm đầu 2000 , khi đang xây dựng lại cảnh quan ” Hữu Nghị ” và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột còn ghi “Hữu Nghị Quan ” và ” cây si PVĐ ” còn đó :

a

” Cây si PVĐ ” bị đốn bỏ dã man vào năm 2005 . Cột mốc cũng chỉ còn chữ “Hữu Nghị “. Đảng CSVN không dám nhận thêm chữ ” Quan “. Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa lòng đàn anh TC !:

a

” Km 0 ” của VN trơ trọi so sánh với bia đá ” Nam Cương Quốc Môn ” của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan !:

a

” Km 0 ” trong những ngày năm 2006 :

a

Gần lại một chút . Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan TC:

a

Nhìn sang bên phải để thấy rõ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam – Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan TC :

a

Ngang với ” Km 0 ” là giao điểm Quốc lộ 322 ( điểm cuối ) của Trung cộng và Quốc lộ 1A ( điểm khởi đầu ) của VN !:

a

” Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm “:

a

Nhìn sang Việt Nam . Đi thêm khoảng 100m nữa mới tới Cổng kiểm soát của Hải quan Việt Nam . Khoảng cách ” thủ lễ ” đã xuống dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản . Không còn nằm trước mặt cổng Nam Quan như ngày xa xưa . Đúng vậy ! Ải Nam Quan nào là của VN ? Bọn Ô nhục !:

a

Hàng trăm thước đất của Ải Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt Nam , nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận… Đất biển tổ tiên mất qúa dễ dàng ! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung Cộng , công nhận lãnh thổ bắt đầu từ cột “ Km 0 ”. Đảng CSVN đã chà đạp lên hồn thiêng sông núi , thay ngọai bang thảm sát dân tộc , giết chết lịch sử quê hương !

 ——————————

Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này còn “bản lĩnh” đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!

a

Ngày 28.12.2005 , cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam :

a

Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp hình ngay tại giao giới biên cảnh Trung – Việt . Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng CSVN . Những khuôn mặt muộn phiền , ngơ ngác :

a

Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù lòa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng !
Còn người Việt Nam ? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không ? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố vì tấm hình ôm cột mốc Trung-Viêt . Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ còn nằm trong Chí Hòa . Và tôi cũng từng bị biên phòng VN hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh ” Hữu Nghị “!:

a

Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại , nhàn nhã như ở nhà . Chụp hình ư ? Chuyện nhỏ ! Đố tên biên phòng VN nào dám làm khó dễ !:

a

Bước một bước là qua đến VN ! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km 0 Ô nhục !:

a

Đứng hai chân trên biên giới !:

a

Chụp các kiểu !:

a

Và ngồi lên ” Km 0 ” của bọn Nam man ! Chúng ta là chủ nhân của lãnh thổ Việt Nam !:

a

Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 ( tháng 04.2007 ):

a

Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ , hoành tráng . Từng đợt học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về lòng yêu nước !:

a

Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung – Việt hành hương :

a

Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này . Việc đòi hỏi Trung Cộng trả lại vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng ! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước !
” Tổ Quốc Tại Ngã Tâm Trung ” ( Tổ quốc trong tim ta )
:

a

Tháng 11 năm 2007 , kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây . Có cả đại biểu VN tham dự , ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gì ? Hay là họ vẫn cười ?:

a

a

Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung – Việt . Bản đồ Việt Nam đã nối vào khu tự trị Quảng Tây !:

a

Phi Khanh hỡi! Người còn ngồi nói những lời xưa?

“Con yêu hỡi chớ xuôi lòng mềm yếu!…”

Chân Mây

Dấu Hỏi (?) & Dấu Ngã (~)


Cao Chánh Cương K15
Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngàn mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi ngã Thật thế, dấu hỏi ngã trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng. Viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hóa Việt Nam.

Chúng tôi xin đơn cử một vài trường hợp như sau : Danh từ nhân sĩ, chữ sĩ phải được viết bằng dấu ngã để mô tả một vị chính khách có kiến thức văn hóa chính tri… , nhưng nếu vô tình chúng ta viết nhân sỉ, chữ sỉ với dấu hỏi thì ý nghĩa của danh từ nhân sĩ sẽ bị đảo ngược lại, vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn.
 
Một chữ thông thường khác như là hai chữ sửa chữa, nếu bỏ đi dấu hỏi ngã sẽ có nhiều ý khác nhau: sửa chữa (sửa dấu hỏi, chữa dấu ngã) tức là chúng ta sửa lại một cái gì bị hư hỏng, thí dụ sửa chữa xe hơi. Nhưng nếu cho dấu ngã vào thành chữ sữadấu hỏi trên chữ chửa tức có nghĩa là sữa của những người đàn bà có thai nghén.
 
Người sai lỗi nhiều nhất về viết sai dấu hỏi ngã là người miền Nam và Trung (người viết bài này là người miền Trung).May mắn nhất là người thuộc miền Bắc khi sinh ra là nói và viết dấu hỏi ngã không cần phải suy nghĩ gì cả. Nhưng khốn nỗi có khi hỏi họ tại sao chữ này viết dấu hỏi chữ kia lại đánh dấu ngã thì họ lại không cắt nghĩa được mà chỉ nở một nụ cười trên môi…
 
Bài viết này nhằm mục đích đóng góp một vài qui luật về dấu hỏi ngã của tiếng mẹ đẻ Việt Nam chúng ta.
 
Dấu hỏi ngã được căn cứ vào ba qui luật căn bản: Luật bằng trắc, chữ Hán Việt và các qui luật ngoại lệ.
 
A. LUẬT BẰNG TRẮC
 
Qui luật bằng trắc phải được hiểu theo ba qui ước sau.
 
1. Luật lập láy
 
Danh từ lập láy tức là một chữ có nghĩa nhưng chữ ghép đi theo chữ kia không có nghĩa gì cả.

Thí dụ: vui vẻ, chữ vui có nghĩa mà chữ vẻ lại không nghĩa, chữ mạnh mẽ, chữ mạnh có nghĩa nhưng chữ mẽ lại không hề mang một ý nghĩa nào hết, hoặc chữ lặng lẽ, vẻ vang…
 
2. Luật trắc
 
Không dấu và dấu sắc đi theo với danh từ lập láy thì chữ đó viết bằng dấu hỏi (ngang sắc hỏi).
 
Thí dụ:
 
Hớn hở: chữ hớn có dấu sắc, thì chữ hở phải là dấu hỏi.
Vui vẻ: chữ vui không dấu, thì chữ vẻ đương nhiên phải dấu hỏi.
Hỏi han: chữ han không dấu, như thế chữ hỏi phải có dấu hỏi.
Vớ vẩn: chữ vớ là dấu sắc thì chữ vẩn phải có dấu hỏi.
Tương tự như mắng mỏ, ngớ ngẩn, hở hang,…
 
3. Luật bằng
 
Dấu huyền và dấu nặng đi theo một danh từ lập láy thì được viết bằng dấu ngã (huyền nặng ngã).
 
Thí dụ:
 
Sẵn sàng: chữ sàng có dấu huyền thì chữ sẵn phải là dấu ngã.
Ngỡ ngàng: chữ ngàng với dấu huyền thì chữ ngỡ phải để dấu ngã.
Mạnh mẽ: chữ mãnh có dấu nặng, do đó chữ mẽ phải viết dấu ngã.
Tương tự như các trường hợp lặng lẽ, vững vàng,…
 
B. CHỮ HÁN VIỆT
 
Văn chương Việt Nam sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, chúng ta hay quen dùng hằng ngày nên cứ xem như là tiếng Việt hoàn toàn. Thí dụ như các chữ thành kiến, lữ hành, lãng du, viễn xứ,… tất cả đều do chữ Hán mà ra.
 
Đối với chữ Hán Việt được sử dụng trong văn chương Việt Nam, luật về đánh dấu hỏi ngã được qui định như sau:
 
Tất cả những chữ Hán Việt nào bắt đầu bằng các chữ D, L, V, M và N đều viết bằng dấu ngã, các chữ Hán Việt khác không bắt đầu bằng năm mẫu tự này sẽ được viết bằng dấu hỏi.
 
Thí dụ:
Dĩ vãng: hai chữ này phải viết dấu ngã vì dĩ vãng không những là hán tự mà còn bắt đầu bằng chữ D và V.
Vĩ đại: vĩ có dấu ngã vì chữ vĩ bắt đầu với mẫu tự V.
Ngẫu nhiên: chữ ngẫu dấu ngã vì áp dụng qui luật Hán Việt nói trên.
Lẽ phải: lẽ dấu ngã vì chữ L, phải dấu hỏi vì có chữ P.
Tư tưởng: chữ tưởng phải viết dấu hỏi vì vần T đứng đầu.
Tương tự như: lữ hành, vĩnh viễn,…
 
Để có thể nhớ luật Hán tự dễ dàng, chúng tôi đặt một câu châm ngôn như thế này:
 
“Dân Là Vận Mệnh Nước”
 
để dễ nhớ mỗi khi muốn sử dụng qui luật Hán tự nói trên.
 
C. CÁC QUI ƯỚC KHÁC

1. Trạng từ (adverb)
 
Các chữ về trạng từ thường viết bằng dấu ngã.
 
Thí dụ:
 
Thôi thế cũng được.Trạng từ cũng viết với dấu ngã.
Xin anh đừng trách em nữa.Trạng tự nữa viết với dấu ngã.
Chắc anh đã mệt lắm rồi.Trạng từ đã viết với dấu ngã.
 
2. Tên họ cá nhân và quốc gia
 
Các họ của mỗi người và tên của một quốc gia thường được viết bằng dấu ngã.
 
Thí dụ:
Đỗ đình Tuân, Lữ đình Thông, Nguyễn ngọc Yến…
Các chữ Đỗ, Lữ, Nguyễn đều viết bằng dấu ngã vì đây là danh xưng họ hàng.
Nước Mỹ, A phú Hãn,…
Các chữ Mỹ và Hãn phải viết bằng dấu ngã vì đây là tên của một quốc gia.
 
3. Thừa trừ
 
Một qui ước thừa trừ ta có thể dùng là đoán nghĩa để áp dụng theo luật lập láy và bằng trắc nói trên.
 
Thí dụ:
Anh bỏ em đi lẻ một mình.Chữ lẻ viết dấu hỏi vì từ chữ lẻ loi mà ra, chữ loi không dấu nên chữ lẻ viết với dấu hỏi. 
Anh này trông thật khỏe mạnh, chữ khỏe ở đây có dấu hỏi vì do từ khỏe khoắn mà ra, khoắn dấu sắc thì khỏe phải dấu hỏi.
 
D. KẾT LUẬN
 
Văn chương là linh hồn của nền văn hóa, viết sai dấu hỏi ngã có thể làm sai lạc cả câu văn, đó là chưa kể đến nhiều sự hiểu lầm tai hại cho chính mình và người khác cũng như các việc trọng đại. Không gì khó chịu cho bằng khi đọc một cuốn truyện hay nhưng dấu hỏi ngã không được chỉnh tề.
 
Một ký giả người miền Nam trong câu chuyện thân mật tại một quán phở thuộc vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã thành thật công nhận điều thiếu sót và tầm quan trọng của dấu hỏi ngã trong văn chương Việt Nam.Và cũng chính vị ký giả lão thành nói trên đã khuyến khích chúng tôi viết bài này trong mục đích làm sống lại sự phong phú của nền văn chương, văn hóa Việt Nam chúng ta, nhất là đối với những thế hệ trẻ hiện đang lưu lạc trên xứ người.
Cao Chánh Cương

Nói Về 2 Tác Phẩm “Tiếc Thương” Và “Vá Cờ”

Nguyễn Ngọc HạnhNhiếp Ảnh Gia Quân Đội

TIẾC THƯƠNG

… Khoảng năm 1965, Việt Cộng tấn công vào một đồn lính ở Củ Chi, ngoại thành Sài Gòn. Chúng tôi đến giải vây. Khi Việt Cộng rút đi, họ để lại 6 xác chết không đầu của những người Nhân Dân Tự Vệ. Chúng tôi đến chỗ để xác thì thấy một cô gái khóc lóc thảm thương, đang lần mò tìm xác chồng. Tôi giúp cô tìm thẻ bài để nhận diện, sau đó cho cuốn xác tất cả lại đem về. Hôm sau tôi đến nhà cô gái mong có thể chụp một tấm hình của cô nhưng cô vẫn khóc lóc thảm thương quá nên không thực hiện được. Khi về dưỡng quân ở rừng cao su Ngã Ba Ông Tạ, tôi nhờ con gái tôi, lúc đó 11 tuổi tìm giúp một người bạn gái nào đó có một hoàn cảnh tương tự như cô gái ở Củ Chi để dựng tấm hình ‘Tiếc thương’. Cô Tâm là người con gái mà con tôi tìm được. Hiện nay cô đang sống tại thành phố Oklahoma. Lúc đó cô mới 19 tuổi, ý trung nhân của cô trong một chuyến bay nhảy toán ngoài Bắc bị Bắc Việt bắn rơi máy bay và bị bắt làm tù binh. Tôi đến gặp gia đình cô và xin phép được mời cô đi chụp hình với tôi. Gia đình cô đồng ý. Chỗ chụp hình là một quán bia ở xa lộ Biên Hòa. Tôi nhờ một anh bạn biết thổi sáo và nói anh ta ngồi phòng bên cạnh chơi những bản nhạc chiêu hồn như chương trình đài Saigon. Con tôi cũng ở đó, đọc những lá thư của ý trung nhân cô Tâm viết cho cô. Tôi chải tóc cho cô như trong hình, đưa tấm thẻ bài cho cô cầm, tấm thẻ bài này tôi mua chợ đen, một tấm thẻ bài được làm từ thời Pháp. Trong không khí u buồn, và bị tác động bởi tiếng sáo não lòng cùng với những lời lẽ trong bức thư của ý trung nhân, cô ta khóc nấc lên. Những giọt nước mắt lăn trên má, rớt xuống tay là những giọt nước mắt thật. Hai giọt nước mắt trên tấm thẻ bài là do tôi tạo ra. Chụp được 6 tấm thì cô tỉnh lại, không khóc nữa. Ðây là tấm hình lúc cao điểm nhất khi cô ấy nấc lên…

VÁ CỜ

…Tôi quen với anh chị Hải Bằng, chị bằng lòng làm người mẫu cho tôi chụp bức hình ‘Vá cờ’ này. Tôi mua một cái nón sắt ở chợ trời, mượn cây súng trường của anh bạn Bùi Ðức Lạc là cả một chuyện khó khăn. Tôi dùng hai thứ đó làm hậu cảnh. Lá cờ được tôi đốt lỗ chỗ để chị ấy vá. Chị cứ ngồi vá cờ và tôi cứ chụp. Ðến động tác như trong hình thì tôi nói chị giữ nguyên động tác đó, tôi mở hé cửa sổ chỉ cho một phần ánh sáng rọi vào lá cờ, rọi vào nón sắt. Tuyệt vời. Bức hình chỉ có một ý nghĩa duy nhất: Chúng ta hãy vá lại những mảnh đời, những mảnh tình, những đơn vị chia rẽ, vá lại tình đoàn kết…

Nguyễn Ngọc Hạnh

Phụ Nữ Lâm Viên Hành Khúc — Đặng Văn Thái K15

Ngày 30/4 – Tâm Sự Một Tướng Lãnh Việt Nam Cộng Hòa—Hoài Hương | VOA

lamquangthi-2XX

Tướng Lâm Quang Thi—Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam đang duyệt qua hàng ngũ các Sinh Viên Sĩ Quan

Tiếp tục loạt bài xoay quanh ngày 30 tháng Tư, câu chuyện Việt Nam do Hoài Hương phụ trách tuần này xin gửi đến quý vị quan điểm của một cựu tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa về chiến tranh Việt Nam. Trung Tướng Lâm Quang Thi, cựu Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, cựu Tư Lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh và Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân Đoàn 1 tại Huế, chia sẻ những ký ức và cảm xúc của ông trên chuyến tàu định mệnh, đã đưa ông ra khỏi quê hương vào đúng ngày 30 tháng Tư năm 1975. Tướng Lâm Quang Thi là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam. Ban Việt ngữ-VOA tiếp xúc với Tướng Lâm Quang Thi, vài ngày trước lễ mừng sinh nhật thứ 80 của ông.

VOA: Thưa trước hết xin Trung Tướng cho biết ông có suy nghĩ gì về ngày 30 tháng Tư, 37 năm sau khi Sài Gòn thất thủ?

Tướng Lâm Quang Thi: “Mỗi lần 30 tháng Tư tới thì tôi lại vừa buồn vừa tức giận. Buồn vì bao nhiêu đồng bào mình phải bỏ nước ra đi, một số chết trên biển cả, và một số anh em chiến hữu của tôi thì bị Cộng sản bắt, tra tấn, đày đọa trong các trại tù ở Bắc Việt. Và tôi tức giận là bởi vì, đồng minh của mình bỏ rơi mình trong những giờ phút đen tối nhất của lịch sử nước nhà.”

VOA: Thưa, như Trung Tướng nói, biết bao thảm họa đã xảy đến cho quân và dân miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư, thì trong tư cách một tướng lãnh, Trung Tướng có cảm thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn so với những người khác về những gì đã xảy ra?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi không phải là một chánh trị gia, nhưng với tư cách một tướng lãnh đã cầm quân, tôi thấy mình có phần nào trách nhiệm cũng như tất cả các tướng lãnh khác, các chỉ huy trưởng các đại đơn vị khác cũng phải có trách nhiệm phần nào về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.”

VOA: Thưa Trung tướng, là tác giả cuốn Autopsy: The Death of South Vietnam, phân tích sự cáo chung của miền Nam Việt Nam, xin Trung Tướng tóm tắt cho thính giả của đài chúng tôi một số nguyên do chính dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ Sàigòn?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi thấy rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam có 2 lý do chánh. Thứ nhất là người Mỹ họ không có một nhiệm vụ rõ ràng ấn định cho quân lực của họ, tức là cái “mission” không được định nghĩa rõ ràng. Theo tôi nghĩ, người Mỹ chỉ có 2 sự lựa chọn: thứ nhất là đi ra Bắc, tiêu diệt ý chí chiến đấu của Hà nội; hoặc là ở trong Nam thì phải có đủ kiên nhẫn để ủng hộ và yểm trợ một chánh phủ miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chiến đấu trường kỳ ở miền Nam. Nhưng mà tiếc thay, người Mỹ không có cái gan để đi ra Bắc, mà cũng không có sự kiên nhẫn để ở lại trong Nam. Đó là lý do thứ nhất. Thứ nhì là cơ quan truyền thông của Mỹ rất thiên vị, có thể nói là thiên tả, thành thử ra tất cả những gì xảy ra đều có thể bị bóp méo để chứng minh rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể nào thắng bởi vì quân đội Việt Nam chiến đấu kém và tham nhũng. Cái đó là tiền đề của truyền thông Mỹ, thành thử ra tất cả những sự kiện xảy ra mà đúng vào tiền đề đó thì họ dùng. Còn nếu không đúng thì họ có thể bóp méo để chứng minh tiền đề là chiến tranh Việt Nam không thể thắng được. Chẳng hạn như Tết Mậu Thân, Việt Cộng sát hại 5, 6 ngàn người dân vô tội ở Huế mà truyền thông Mỹ không nói tới. Trong lúc đó ông Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan ông ấy hành quyết một tên đặc công cộng sản thì nó đưa lên, được Giải Pulitzer đủ thứ trò, mà họ không nói rằng anh cộng sản đó đã tàn sát bao nhiêu gia đình cảnh sát của Tướng Loan ở Chợ Lớn.”

VOA: Thưa ông, ngoài vai trò của giới truyền thông phản chiến Mỹ, ngoài vai trò của người Mỹ mà Trung Tướng cho là không định nghĩa rõ ràng cái “mission”, thì thưa Trung Tướng, cái trách nhiệm của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nằm ở chỗ nào trong sự thất bại của miền Nam?

Tướng Lâm Quang Thi: “Thành thật mà nói rằng tất cả vấn đề viện trợ quân sự cũng như là tài chánh đều do người Mỹ cung cấp. Nếu họ rút tất cả những viện trợ đó thì chúng ta không còn khả năng để chiến đấu, chẳng hạn như trong trận chiến An Lộc năm 1972, không có quân đội Mỹ nào dưới đất mà mình chỉ có sự yểm trợ bằng không lực của Hoa Kỳ mà Sư Đoàn 5 Bộ Binh của chúng ta đã chiến đấu và đã chiến thắng 3 sư đoàn Bắc Việt. Tôi tin chắc rằng, nếu tiếp tục có được sự viện trợ hỏa lực của Mỹ thì quân lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ đánh bại những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt. Tới năm 1974-75 thì viện trợ Mỹ đã rút xuống chỉ còn 700 triệu đôla mà trong 700 triệu đôla đó, 400 triệu đôla được dùng để phát lương cho nhân viên tùy viên Quân Lực Hoa Kỳ -DAO (Deputy Attaché Office), mình còn có 300 triệu đôla để đánh giặc trong một năm. Thử so sánh, trong lúc đó, Do Thái trong trận Yom Kippur năm 1973, Do Thái nhận viện trợ được 2 tỉ mốt mỹ kim để đánh giặc trong 3 tuần lễ! Thành thử ra lúc đó miền Nam đạn dược, súng trường đều thiếu thốn, lựu đạn cũng thiếu nữa, thì làm sao mà đánh giặc được! Mình không có cách nào có thể đương đầu được với một quân đội Bắc Việt được Nga Sô và Trung Cộng viện trợ ào ạt từ năm 1974 tới 1975.”

VOA: Vậy giới lãnh đạo chính trị của miền Nam có lệ thuộc quá đáng vào viện trợ Mỹ mà không tự lực cánh sinh được?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tự lực cánh sinh, theo tôi cũng khó khăn là bởi vì trong lúc cộng sản Hà Nội được sự viện trợ ào ạt của Nga Xô và Trung Cộng thì miền Nam Việt Nam chúng ta cần có một sự viện trợ của thế giới tự do mới có thể đương đầu được.”

VOA: Xin phép được hỏi một câu hơi có tính cách cá nhân. Thưa, được phong Tướng từ thời còn rất trẻ, cuộc đời của Trung Tướng gắn liền với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Trung Tướng có kỷ niệm nào muốn chia sẻ với Đài VOA về cuộc đời binh nghiệp của mình?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của tôi không phải là cầm quân mà thực sự tôi được chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Lúc bấy giờ chương trình huấn luyện tăng lên từ 2 năm tới 4 năm và tôi đã tranh đấu hết sức để các sĩ quan tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia được hưởng bằng cấp cử nhân Khoa Học Ứng dụng, tương đương với Trường Võ Bị West Point của Hoa Kỳ. Đó là cái niềm hãnh diện nhất của tôi trong cuộc đời binh nghiệp.”

VOA: Thưa Trung Tướng, Hoài Hương xin lỗi trước nếu câu hỏi này có gợi lại cho Trung Tướng những điều đau lòng, nhưng Hoài Hương có đọc một bài viết của Andrew Lâm kể lại cảnh Trung Tướng đã vất khẩu súng riêng trên chuyến tàu lúc bỏ nước ra đi, thành ra có lẽ nhiều độc giả cũng có thắc mắc như Hoài Hương, không biết lúc đó Trung Tướng nghĩ gì và có những cảm xúc như thế nào?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi rời Việt Nam ngày 30 tháng Tư trên chiếc tàu Hải Quân 2, và khi đoàn của Hải Quân Việt Nam đến Phi Luật Tân thì chính phủ Phi Luật Tân không muốn thấy một táu Hải Quân ngoại quốc tiến vào hải cảng của họ, cho nên Hải Quân Việt Nam phải chuyển tất cả tàu bè lại cho Mỹ, và các sĩ quan trên tàu cũng phải mặc thường phục, trong khi tất cả những vũ khí trên tàu phải bỏ hết, thành thử tôi cũng phải tuân theo điều lệ đó. Tôi bỏ khẩu súng lục của tôi xuống biển Thái Bình Dương. Tôi rất là, hết sức là đau lòng. Tới bây giờ mỗi lần nghĩ tới cái… cảnh đó, tôi vẫn còn thấy đau, nhất là khi mà quốc kỳ Việt Nam phải kéo xuống để kéo lá cờ Mỹ lên trước khi vào hải cảng Subic Bay của Phi Luật Tân. Thành ra cái đó là một cái kỷ niệm hết sức đau đớn đối với tôi, và tôi nghĩ cũng đau đớn đối với tất cả các tướng lãnh và các sĩ quan khác.”

VOA: Xin cám ơn Trung Tướng đã chia sẻ với thính giả của VOA những cảm xúc của mình lúc rời bỏ đất nước ra đi, thưa Trung Tướng, người tỵ nạn Việt Nam, dù lưu lạc tới nước nào cũng phải bắt đầu lại cuộc đời từ con số không, được biết Trung Tướng đã đi học lại để lấy bằng MBA ở Hoa Kỳ, vậy xin Trung Tướng kể lại những kinh nghiệm của ông trong thời gian đầu của cuộc đời tỵ nạn, và động lực nào đã thúc đẩy ông không ngừng phấn đấu?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi qua đây cũng nhờ hệ thống của Trường Võ Bị West Point bởi vì giữa Trường Võ Bị Việt Nam-Đà Lạt và Trường Võ Bị Hoa Kỳ-West Point có những liên hệ hết sức là gắn bó. Chính ông Chỉ huy trưởng Trường West Point, cũng là bạn của tôi ở Việt Nam, ông đã tìm cách để cho tôi có một địa vị xứng đáng trong hệ thống ngân hàng của nước Mỹ, và vì tôi có một địa vị tốt ở Mỹ, tôi phải đi học nên tôi tiếp tục học và lấy được bằng MBA. Tôi đã làm việc hết sức chăm chỉ và có thể nói là thành công trong cuộc đời của tôi bên Mỹ.”

VOA: Thưa Trung Tướng, vào tuổi này, ông có hoài bão gì cho tương lai?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi tin tưởng rằng thế nào cũng có ngày chúng ta có dịp trở lại thăm viếng một nước Việt Nam độc lập, tự do và không cộng sản. Đó là cái hoài bão cuối cùng của tôi và tôi tin chắc thế nào cũng thực hiện được.”

Thưa quý vị, vừa rồi là cuộc phỏng vấn với Trung Tướng Lâm Quang Thi, cựu Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Đà Lạt, từng là Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh ở Sa Đéc và Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân Đoàn 1 tại Huế. Tướng Lâm Quang Thi cư ngụ ở tiểu bang California và là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon và cuốn Hell in An Lộc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam, xuất bản hồi năm ngoái.

Hoài Hương

Voice of America

Lữ Đoàn 147: Từ một cuộc di tản chiến thuật 1975—Mũ Xanh Phạm Văn Tiền K20

tqlc

LTG: Bài viết này xin dành tặng các chiến hữu TQLC, những người vì nhiều lý do đã không hiện diện tại mặt trận phía Bắc vùng đất trách nhiệm của SĐ/TQLC vào những ngày cuối cùng tháng 3 năm 1975 buồn thảm. Tôi kể lại những gì mắt thấy tai nghe về những đau thương, mất mát, cay đắng, nghiệt ngã của cuộc lui binh lịch sử ngoài khả năng hiểu biết của một người lính mà sự khổ đau, thua thiệt chịu đựng quá nhiều, còn niềm hy vọng sống còn chỉ là điều hiếm mọn ít oi.

Republic_of_Vietnam_Marine_Division_SSIĐầu tháng 3 năm 1975, CS Bắc Việt dốc toàn lực lượng tấn công hầu cưỡng chiếm toàn bộ miền Nam. Bình Long, An Lộc thất thủ. Thị xã Ban Mê Thuộc sau đó cũng bị bỏ ngõ hoàn toàn với sự rút quân ồ ạc như nước vỡ bờ của Quân Đoàn 2 về Nha Trang và nhiều nơi khác. Trong khi đó phòng tuyến phòng thủ phía Bắc do SĐ/TQLC đảm trách vẫn còn là một vùng đất yên tĩnh trong sự cẩn thận, dè dặt chờ đợi lẫn nhau. Sau sự phối hợp nhịp nhàng của 2 SĐ tổng trừ bị thiện chiến nhất là Nhảy Dù và TQLC, với thế đánh gọng kìm liên tục từ 2 phía Đông Tây, đã buộc địch phải tháo chạy với nhiều tổn thất nặng nề, bằng chiến thắng t1i chiếm Cổ Thành Quảng Trị ngày 14-9-72. SĐ Nhảy Dù được điều động về mật trận Đức Dục, Quảng Nam. SĐ/TQLC ở lại chịu trách nhiệm trên một tuyến khá rộng trải dài từ bờ biển Đông sang tận những mỏm núi tận cùng phía Tây thuộc dãi Trường Sơn, qua các vùng Mỹ Thủy, Long Quang, Bích La, Triệu Phong, Nam sông Thạch Hãn, Như Lệ, Tích Tường, La Vang, Động Ông Đô, Barbara, Anne, Cổ Bi, Hiền Sĩ, Thanh Tân, Lồ Ồ… Liên đoàn 911 và các đại đội biệt lập ĐPQ tiểu khu Quảng Trị được đặc dưới quyền điều động của BTL/SĐ/TQLC hành quân trong việc phòng thủ này. Mặc dù là đơn vị được giao nhiệm vụ phòng thủ, nhưng SĐ/TQLC vẫn luôn chứng tỏ khả năng cơ động tấn cộng tận sào huyệt địch, như cuộc đổ bộ vượt sông Thạch Hãn của TĐ6/TQLC vào tháng 10 năm 72, cuộc hành quân thần tốc tái chiếm cửa Việt tah1ng 1 năm 1973 trước giờ ngưng bắn có hiệu lực của hiệp định Paris và đạc biệt Lữ Đoàn 258 TQLC đã hạ một tàu vận tải lớn tiếp tế địch đang mon men ngoài khơi bờ biển Mỹ Thủy tháng 6 năm 1973. Ngược lại, địch quân chưa có lần nào dám liều lĩnh tấn công vào các đơn vị TQLC. Có chăng chỉ là những hành động phá hoại lén lút, đặc công, giật mìn lẻ tẻ trên các trục lộ giao thông tiếp tế. Phải nói rằng đây là phòng tuyến phòng thủ vững chắc nhất, thưà sức ngăn chận mọi cuộc xâm lăng từ phương Bắc xuống của CS Bắc Việt.

Do tình hình xáo trộn chung của đất nước và vì nhu cầu đòi hỏi cấp bách của chiến trường lúc này, bộ TTM – QLVNCH đã quyết định điều động phân lớn các lục lượng TQLC về Nam gồm các LĐ-258, LĐ-369 và LĐ-486 vừa mới được thành lập. LĐ-147 do Đại Tá Nguyễn Thế Lương chỉ huy gồm các Tiểu đoàn 3, 4, 5, TĐ Pháo binh, 2 đại đội Viễn Thám và Tiểu đoàn 7/TQLC thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm Tango do Đại Tá Tư Lệnh Phó trực tiếp chỉ huy đang nằm sẵn trên các tuyến. Thay vào lỗ hỏng to lớn trên là 2 Liên Đoàn BĐQ với trang bị quân số thiếu hụt. Đây là khởi điểm cho tất cả sự bỏ ngỏ sau này ở mật trận Bắc Quảng Trị. Mãi đến chiều tối ngày 7/3/1975, địch bắt đầu mở cuộc tấn công đầu tiên thật mãnh liệt vào một trung đội tiền đồn tại đồi 51 thuộc căn cứ Tư Tưởng, hướng Tây Quốc Lộ 1, cây số 23. Đơn vị này được chỉ huy bởi Trung Úy Sàng ĐĐP/ĐĐ1 tiểu đoàn 4 TQLC đã chiến đấu thật can cường, đẩy lui nhiều đợt xung phong biển người của địch. Lần liên lạc sau cùng qua máy PRC-25 vào lúc 4 giờ sáng, anh đã yêu cầu pháo binh chụp thẳng trên đầu mình vì vị trí bị địch tràn ngập. Anh đã tử thương sau đó trong cuộc cận chiến bằng lựu đạn với kẻ thù.

175mm1

Sáng sớm ngày 9/3/75, Thiếu Tá Trần Ngọc Toàn TĐT/TĐ4/TQLC điều động toàn bộ lực lượng còn lại, nhờ có sự yểm trợ thật chính xác của các phi vụ A-37 thuộc không lực vùng I chiến thuật, ta đã hoàn toàn làm chủ tình hình. Xác địch nằm ngổn ngang trong các bãi mìn của hàng rào phòng thủ, một số đồng bọn khác đang lẩn tránh trong các bụi rậm bị ta bắt sống. Cũng cùng trong đêm đó, tại một nơi khác, tiểu đoàn 121/ĐPQ Tiểu Khu Quảng Trị đã tóm nguyên trung đội địch khi chúng tìm cách tiến về hướng quận Hương Điền. Ngày 22/3/75, đoàn xe tiếp tế cuối cùng của đơn vị rời hậu trạm Máng Cá Huế vào vùng hành quân. Chúng tôi được biết hầu hết dân chúng đã di tản vào Đà Nẵng và hậu trạm cũng được BTL/SĐ mang tất cả trang thiết bị về cửa biển Thuận An chờ lệnh. Tôi chỉ thị cho các đại đội thu gọn lại các trang bị và phải gấp rút di tản các thương bệnh binh đi theo chuyến tiếp tế này. Ngày 23/3/75 vào lúc 3 giờ chiều, sau khi đồng loạt pháo kích dữ dội vào tất cả các vị trí, địch từ thượng lưu sông Bồ, xung phong tấn công vào các tuyến của ĐĐ2/TĐ5/TQLC. Vì quá bất ngờ và thiếu cảnh giác nên 2 Trung đội tận cùng cánh trái của đại đội này bị bung tuyến. Tôi liên lạc với Đại-úy Trần Văn Loan ĐĐT hãy cố gắng gom con cái lại và chỉnh đốn đội hình, đồng thời báo cáo tình hình này về BCH Lữ-đoàn. Đại Tá LĐT ra lệnh là phải bằng bất cứ giá nào cũng phải chiếm lại vị trí vừa mất. Chấp nhận mọi hy sinh thiệt hại, ĐĐ4 của Đại-úy Nguyễn Văn Hai được tăng cường và đã hoàn tất nhiệm vụ vào lúc 6 giờ sáng ngày 24/3/75. Cũng trong thời gian này, hầu hết tất cả các đơn vị Biệt Động Quân, Địa Phương Quân tự động rã ngũ bỏ tuyến phòng thủ Bắc Quảng Trị kéo về Huế thật hỗn độn. Thị xã Quảng Trị coi như bị bỏ ngỏ hoàn toàn. Tiểu đoàn 4/TQLC được điều động về làm nút chặn tại phía Nam cầu An Lỗ. TĐ7/TQLC trấn dọc sông Mỹ Chánh từ cầu Viên Trình ra biển Đông, phòng tuyến cao nhất phiá Bắc của miền Nam.

tqlc1

Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, nhận được  lệnh về tham dự cuộc họp khẩn cấp tại BCH/LĐ. Đại-tá Lương, LĐT cho chúng tôi biết rõ tình hình tổng quát và nhiệm vụ phải thi hành đêm nay là một cuộc di tản chiến thuật cho tất cả các lực lượng về cửa biển Thuận An, vùng đất từ Bắc đèo Hải Vân trở ra rồi sẽ lọt vào tay địch…Cũng như thành phố Quảng Trị bị vất bỏ một cách vô tội vào sáng hôm nay khi mới chỉ có một vài loại pháo kích lẻ tẻ đâu đó. Thế là hết, còn gì đâu hào quang chiến thắng “Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…” máu của hàng vạn đồng bào, máu của hàng vạn đồng bào, máu của chiến hữu nằm xuống cho vùng đất hồi sinh và ngay bây giờ, từ tối nay Huế cũng sẽ chịu chung số phận. Cố Đô đầy niềm kiêu hãnh tự hào dân tộc rồi sẽ bị nhuộm đỏ bởi lũ người khát máu CS. Hàng trăm nấm mồ chôn sống tập thể còn đó, máu xương mồ hôi nước mắt của bao chiến sĩ QLVNCH còn đây trong lời thề quyết tử bảo vệ cố đô Mậu Thân 1968. Còn đâu nữa những ngày tháng vàng son nhất của người lính chiến nơi tuyến đầu lửa đạn lúc nào cũng hùng dũng hiên ngang. Có nổi đau nào hơn niềm tủi nhục của người lính bại trận.

tqlc21

Việc cần thiết trước nhất là phải làm sao bảo đảm đuợc đơn vị rút lui một cách trọn vẹn, an toàn hầu đủ sức chịu đựng một cuộc dạ hành trên đoạn đường dài gần 30 km. Thiếu-tá Ngô Thành Hữu, Tiểu đoàn phó và Đại úy Gianh Văn Nhân, ban 3 đang chờ đợi tại BCH Tiều đoàn. Chúng tôi cùng đồng ý với nhau bằng một cuộc lui binh trong bí mật, bất ngờ. Tất cả vũ khí nặng, cồng kềnh như 90 ly, súng cối 81 ly, hỏa tiển TOW chống chiến xa, đạn dược và những trang bị nặng nề được lệnh phá hủy tại chỗ hay ném xuống dòng sông. Đại đội 1 của Đại úy Hồ Văn Chạnh đóng chốt từ xa được di chuyển trước, chúng tôi không xử dụng đoạn đường quen thuộc hàng ngày, phải băng qua một xóm nhỏ để đến cây số 17 cầu An Lỗ mà là dọc con đường sắt suôi Nam, rồi sau đó sẽ đổi hướng vế quốc lộ 1 khi các đại đội đã bám sát được với nhau. Đã có chừng cả trăm người lính đủ mọi binh chủng, không còn đơn vị đang tự tập vây quanh 4 chiến xa M48 nằm chơ vơ giữa lộ, nòng súng chĩa thẳng về hướng quân thù, bình thản cười nói vui vẻ như đang tham dự một cuộc dạ hành ngoài trời. Đến trường trung học Hương Trà nằm sát lề Đông quốc lộ, tiểu đoàn dừng lại để kiểm điểm quân số và củng cố lại đội hình. May mà trong tay chúng tôi còn 1 xe Jeep hành quân, cứ thế chạy lên, chạy xuống để “tha” những người lính bết bát, trể nải sau cùng. Điều tưởng như không ngờ, thế mà đã xảy ra một cách thật tội nghiệp cho trung đội Nghĩa Quân quận Hương Trà, tập họp và bị bỏ quên tại đây chờ lệnh thượng cấp từ mấy ngày nay. Người trung đội trường già đến xin tháp tùng cùng chúng tôi. Vài chiếc xe M41 nữa cũng bắt đầu nổ máy rầm rộ tiến giữa đoàn quân. Nhiều đám đông dân chúng hòa lẫn hoặc nối đuôi phía sau họ ra đi từ chợ Cạn, Hội Yên, Vân Trình, Hải Lăng, Mỹ Chánh… từ bgày hôm qua hay sớm hôm nay vì không còn gì để hy vọng vào sự bảo vệ của người lính chúng tôi. Tiếng khóc than vang vọng thấu trời xanh, họ, những kẻ bất hạnh, còn lại sau cùng đang lê lết từng bước một lần mò tìm “tự do” vì một cuộc chủ nghĩa CS bạo tàn. Vài cụ gìà chống gậy, các trẻ thơ vô tội kia rồi sẽ ra sao? Liệu có còn đủ súc hay phải kiệt hơi ngã qụy dọc đường.
Rời ngã ba An Hòa rẽ phải tiến về Huế, thành phố bỏ ngỏ tối tăm rải rác còn lại vài bóng bên đường. Nhiều vết lửa tung tóc lên bầu trời u tối do những trái sáng dược ném từ các toán lính tan hàng mất đơn vị chẳng biết phải làm gì. Súng vẫn nổ lẹt đẹt đó đây hòa lẫn tiếng chó tru vọng ra từ các căn nhà vắng chủ. Phú Văn Lâu vẫn nằm đây bên bờ sông Hương, nhưng còn đâu bóng dáng các con đò quen thuộc hàng ngày. Tiều đoàn bắt đầu tiến quân qua chiếc cầu đúc mới xây bên dưới bến bờ Nam dòng sông, rồi từ đó quẹo trái về Đông, hướng ra biển. Tôi cho xe dừng lại ở phía bên này cầu. chờ đợi cho hết người lính sau cùng. Cảm thấy khá an tâm và một chút hãnh diện về những binh sĩ thuộc quyền, tất cả đều can đảm, hy sinh chịu đựng và luôn tuân lệnh cấp chỉ huy ngay trong những giờ phút nguy hiểm nhất như lúc này. Tôi không nhớ là bao nhiêu lần mình đã nhân danh thẩm quyền để mà ra lệnh cho thuôc cấp xung phong vào chỗ chết. Với 12 năm trong cuộc đời binh nghiệp con số này chắc không ít lắm đâu? Dĩ nhiên là cấp chỉ huy nhỏ, tôi cũng chỉ là kẻ truyền và kiểm soát lệnh và cá nhân mình cũng bị xoay quanh trong các vòng lẩn quẩn ấy! Vài con gió mạnh thổi từ mặt biển vào, cũng nơi đây cây cầu, dòng sông một thời kỷ niệm, tôi bỗng cảm thấy luyến tiếc thèm khác tìm gặp lại một vài nơi chốn quen thuộc lần cuối may ra hình ảnh cũ để nhớ người xưa! Cho tài xế lùi xe lại tiến về hướng đại lộ Trần Hưng Đạo và dự định theo cầu Trường Tiền cũ qua sông. Đường trống vắng chẳng có một chiếc xe nào lai vãng, xa xa trong bóng tối chập chờn, lác đác vài bóng người. Tôi bắt đầu cảm thấy ớn lạnh. Bây giờ ngoài đơn vị TQLC ra, các đơn vị khác chẳng còn gì nữa để mà phân biệt lẫn nhau, qủa thật chẳng còn tình nghĩa gì ràng buộc, nếu có ai đó nổi hứng “bóp cò”.

Có lệnh cho tôi tiến về phía trước để gặp Đại Bàng Long Mỹ (Đại tá LĐT), ông giao cho một sấp bản đồ và thay đổi lộ trình về phía phà Tân Mỹ, đoạn đường từ đầu thôn Vỹ Dạ về cửa biển Thuân An không thể nào nhúc nhích nổi, nhiều dòng người di tản cùng các đơn vị tan hàng đổ về đây với không biết bao nhiêu xe cộ. Thượng sĩ Thương, thường vụ tiểu đoàn, chẳng biết từ đâu mang về vài két bia 33, có lẽ từ khách sạn Hương Giang bỏ trống? Anh nói với tôi:
– Nhậu đi Đại Bàng, đang buồn ngủ mà gặp chiếu manh.
– Thôi nhanh lên mà đi ông ơi! Non nước này mà còn nhậu với nhẹt.

tqlctanhang1

Từ hướng quán cơm Âm Phủ, một người đàn ông già trạc 60 tuổi tìm đến phàn nàn về một số lính vào đập phá, lục lạo nhà của ông ta.
– Coi chừng việt cộng đó Đại Bàng.

Thử hỏi ai mà biết được ai trong thời buổi tranh tối, tranh sáng này, ngay cả toán lính đập phá kia – có điều tại sao trong hoàng cảnh như thế này mà ông ta là kẻ dửng dưng như vậy! Qua khỏi cầu Đập Đá một quãng nữa, bắt đầu tẽ phải vào con đường đất, thôn Vỹ Dạ chìm đấm trong màn đêm u tịch. đó đây leo lét nhiều ngọn đèn dầu từ khắp các miếu thờ, vết tích vàng son của một thời vua chúa. Chó càng lúc càng sủa vang bên những khu vường trống vắng, đoàn quân vẫn tiến đều. Đến khúc lộ bị hư, đành phải vất bỏ xe lại dọc đường.
– Phá hủy xe đi ông thầy.
– Không cần, mình đang di chuyển, không nên gây tiếng nổ.

Lẩm bẩm trong miệng, Liên, tài xế mò vào túi quần lấy ra con dao, cắt hết tất cả dây trong đầu máy xe và quăng bình điện vào một bụi rậm gần đó. Anh cũng không quên hốt thật nhiều cát bỏ vào bình xăng và nói:
– Ai ngu để cho lũ ác ôn xử dụng, mình không dùng, phá hư luôn…hì…hì…

Đến tờ mờ sáng thì toàn thể đơn vị đã có mặt bên này phá Tam Giang mêng mông, nềm vui rạng rỡ trên mặt mọi người. Phải mất thêm 3 tiếng đồng hồ nữa mới đến được bờ bên kia sát biển bằng một số “ghe gọ” của dân còn lại ở xóm chài. Từ lâu mới có một ngày nắng đẹp như hôm nay, bầu trời trong xanh với nhiều tia nắng long lanh chiếu vào mặt biển. Gió vi vu vừa để mơn trớn các con sóng vỗ ì ạch vào bờ. Không còn gì thích bằng ngồi đây, dưới bóng râm của hàng dương xanh thẩm, trên đồi cát, hướng mắt về đại dương bao la, nơi đó nhấp nhô nhiều con tàu như người tình mơn trớn hưá hẹn. Ăn vội ít cơm ở bao gạo xấy còn lại, trong chớp mắt chập chờn, tiếng la khóc, than van còn mãi ám ảnh trong trí tôi trên đường rút chạy sáng hôm nay. Cuộc đời khổ đến thế là cùng! Tỉnh giấc khi có lệnh cho đơn vị chuẩn bị ra bải bốc để lên tàu. Đó là khoảng 2 giờ ngày 25/3/75. Cả Lữ Đoàn tập họp trên bãi các trắng xóa theo thứ tự sẵn sàng như một cuộc hành quân đổ bộ ngày nào. Đâu phải chỉ việc sắp hàng chờ lệnh lên tàu là xong, địch đã rượt theo ta đêm hôm qua, đã mò sát đít chúng tôi sáng hôm nay, địch đã có mặt bên kia bờ phà, địch đã trà trôn trong đòan quân. Theo lệnh của mặt trời Papazulu nào đó (Tướng Lâm Quang Thi, TLP/QĐ1!!!), chiếc HQ-801 dành riêng cho TQLC đã chực sẵn cách bờ khoảng 50m. Nhưng đâu phải chỉ có chúng tôi cần sống, còn dân chúng, những người lính mất đơn vị hỗn lộn kia, họ cũng cần cứu vớt như chúng tôi, mà chẳng ai có kế hoạch gì riêng để giúp đỡ họ. Trong cơn quẫn bách này, không ai cần nghĩ đến ai, chà đạp tranh dành nhau mà sống, mạnh được yếu thua, khi con rắn đã mất đầu chỉ còn lại cái đuôi tha hồ mà ngóc nguẩy. Như sức bật của cáo lò xo, tất cả ùa nhau mà ra tàu, người không biết lội ôm sát người biết bơi, ngụp lặn với tử thần trong sóng nước, vài chiếc xe M-113 lội nước ủi tới đè kên, tiếng rên la gào thét. Một sơn sóng nhồi lên, hai cơn sóng đập xuống, những cái đầu lô nhô, nhiều thân hình chìm lỉm, mất hút trong khi con tàu vẫn nổ máy đợi chờ. Địch đã vượt phá Tân Mỹ, đã có mặt ở cái miếu trên đồi cát đầu làng. Địch đã bắt sống một số lính trễ nải phía sau, địch bắt đầu pháo rải rác khắp nơi trên mặt biển.

Bãi bốc đã không còn an ninh mà trật tự cũng chẳng có. Con tàu đành bất lực rời bến. Để được an toàn hơn, Lữ Đoàn quyết định dời bãi bốc về hướng Nam và bằng đủ mọi cách phải tách rơi đám đông hỗn loạn kia hầu dễ dàng đối phó với tình hình mới. Dọc theo mé nước đầy rẫy xác người, những bộ mặt nhợt nhạt, bất động, ngừng thở theo cơn sóng biển dập vùi, có lạ, có quen. Người dể nhận ra nhất là Đại úy Ân, ĐĐT/ĐPQ Tiểu khu Quảng Trị.

Chúng tôi đã di tản chiến thuật bằng con đường máu ở mặt trận Hạ Lào 1971, đã rời bỏ Đông Hà, Quảng Trị dọc đại lộ kinh hoàng mùa hè đỏ lửa năm 1972. Với sự nguy hiểm cùng cực nhưng tinh thần đâu có quá tuyệt vọng như bây giờ vì dù sao cũng còn chút gì để hy vọng ở đoàn quân tiếp tế phiá sau. Còn ở đây rơi vào tình thế vô cùng tuyệt vọng. Cả nguyên LĐ có hơn 3000 quân, tiến thoái lưỡng nan trong cái túi càn khôn chỉ vỏn vẹn 4 km 2, đang gìơ lưng chịu trận. Tàu chiến Hải Quân QLVNCH vẫn trương cờ lảng vảng ngoài khơi, nhưng các khẩu đại bác đâu rồi?! Niềm hy vọng mong manh còn nhen nhóm là sẽ được tàu vào đón, nhưng sẽ ưu tiên theo thứ tự nào? Đơn vị nào sẽ phải nằm lại chịu trận và làm vật hy sinh sau cùng? Bóng chiều bắt đầu trải dài trên bãi cát trắng xóa mênh mông để báo hiệu màn đêm buôn xuống. Lữ Đoàn quyết định rải quân phòng thủ. TĐ4 và 7 phụ trách mặt trận Tây, TĐ3 phía Nam, TĐ5 chúng tôi phía Bắc. Đại uý Tô Thanh Chiêu, ĐĐT/ĐĐ2 và Thiếu tá Nguyễn Trí Nam TĐP/TĐ4/TQLC đã hy sinh trong giờ phút thứ 25 này cùng một loạt đạn của tên du kích hèn mhát bắn lén trong khi làm nhiệm vụ điều động quân rải tuyến. Điều đáng thương tâm nhất là hai người vừa mới lập gia đình và cả hai bà vợ đang mang thai. Cái chết thật quái ác, tình cờ bởi bàn tay oan nghiệt của tạo hóa. định mệnh! Tin từ BCH/LĐ cho biết là tàu sẽ vào đón đêm nay hay trễ nhất là sáng sớm ngày mai theo thứ tự như sau: BCH/LĐ, TĐ2PB, TĐ4, TĐ3, TĐ5, TĐ7…Đúng theo sự suy nghĩ dự đoán của chúng tôi, lẽ dĩ nhiên các đơn vị tan hàng hay bị sứt mẻ không còn khả năng chiến đấu thì ưu tiên mang họ đi càn sớm càng tốt để không làm vướng bận các đơn vị còn lại. Nhưng cả BCH/LĐ đi hết thì ai sẽ là người chỉ huy chúng tôi. Điều này thật cần thiết và quan trọng nhất. Cái thứ tự di chuyển mà không một binh thư nào viết ra hoặc chúng tôi chưa hề áp dụng trước đây.

di-tan2copy

Qua ánh trăng mờ ảo, dòng người bị bỏ lại ban chiều đang ồ ạt kéo về tuyến phòng thủ. Không còn cách gì hơn là phải chận họ lại nằm sát phòng tuyến trong tầm bảo vệ hỏa lực để khỏi làm xáo trộn cho sự điều động chỉ huy của quân bạn bên trong. Súng vẫn nổ đều khắp nơi và chẳng có con tàu nào cập bến. Trăng vẫn lên ca, khuya dần. Cùng lúc, vài tốp người xé lẻ, hèn nhát tách bến rã ngũ ra khơi.

Rạng sáng ngày 26/3/75, khi ánh bình minh vừa ló dạng ở phương Đông thì con tàu cùng thủy thủ đoàn cũng bắt đầu tiếp tục nhiệm vụ, ủi thẳng vào bờ theo sự điều động của BCH. Đã có chuẩn bị sắp xếp từ trước, nên việc di chuyển lần này tương đối trật tự hơn. Ưu tiên vẫn là BCH/LĐ và các thương phế binh từ các đơn vị mang đến. Địch thừa thắng xông lên cố ra sức đánh vào đầu chúng tôi những đòn thù chí tử. Đây là điều nghiệt ngã nhất của chiến tranh, có vay có trả. Chúng tôi đã diệt gọn nguyên trung đoàn 48 địch một cách không thương tiếc khi quét sạch chúng ra khỏi hang cuối cùng tại cổ thành Quảng Trị. Những vòng sắt oan nghiệt của đoàn chiến xa M48 và M41 đã nghiền nát vô số lính CS Bắc Việt, sinh Bắc tử Nam, qua các dãy địa đạo ngầm trong hầm khi tấn công tiến vào cửa Việt. Pháo địch cùng lúc càng mãnh liệt hơn và chiếc tàu nằm chình ình giữa biển khơi vẫn là mục tiêu tốt nhất để chúng điều chỉnh tác xạ ngắn, dài…Một cục lửa, hai cục lửa, rồi quá nhiều cục lửa của loại hỏa tiễn tầm nhiệt AT3 rải rác đó đây. Có cái rớt ngay dòng người di tản ngụp lặn theo sóng nước. Có cái trúng thẳng vào thân tàu. Con tàu chòng trành nhổ neo tách bến. Để bớt căn thẳng, tôi chui ra khỏi hố trú ẩn làm một vùng quanh tuyến. Những vệt sáng của lằn đạn đạo thẳng cùng nhiều quả đạn pháo kích đan chéo nhau vi vút trong gió biển. Các khẩu súng cối 60 ly và phóng lựu M79 của ta đáp lễ cầm chừng, không khả năng nhiều lắm nhưng cũng để chứng minh rằng “vẫn đang có ta đây“. Dọc theo mé nước sát biển, thầy trò Thiếu tá Võ Đằng Phương, TĐT/TĐ2/PB/TQLC, Đại uý Lê Tự Hào cùng một vài người lính đang gấp rút xử dụng các mũ sắt của mình để cào cào moi hố. Họ là những người sau cùng bị sót lại khi hầu hết đơn vị mình đã được lên tàu.
– 207 đây 416 gọi. Anh ở lại take care con cái.

di-tan3

– Vâng! Nhận rõ 416!

207 là biệt hiệu của Thiếu tá Phạm Cang TĐT/TĐ7/TQLC, người thâm niên và giỏi nhất trong đoàn bạn tôi. Còn 416 là danh xưng của Trung tá Nguyễn Đằng Tống LĐP/LĐ147.

Nắng chiều nhạt dần, sóng biển rì rào và bờ cát lại trống vắng đến lạnh lùng, không còn một bóng người lai vãng, họ đang chiến đấu ở tuyến đầu, họ tránh núp đạn dưới hố sâu, họ hối tiếc, thèm thuồng về một con tàu khác. Các đại đội lại thêm một số bị thương, lại thêm vài người chết nữa. Đạn dược, lương thực cạn dần trong khi chúng tôi cố hết sức giữ vững tinh thần binh sĩ bằng cách liên lạc máy thường xuyên với các đại đội. Cảm giác bị vất bỏ bắt đầu nhen nhúm trong ý nghĩ mình, nhưng tôi vẫn chưa dám tin rằng điều này có thật, vì nếu như vậy thì còn thể thống gì đến quân đội và tổ quốc mà biết bao người đã hết lòng yêu thương và phục vụ. Mò mẫm vào cuốn đặc lệnh truyền tin, tôi vận máy qua tần số BTL/SĐ đang ở đâu trên đèo Hải Vân, với trạm liên lạc chuyển tiếp giữa Huế và Đà Nẳng. Người tiếp tôi là Đ/U Đan, tùy viên tư lệnh:
– Đại Dương, cho tôi xin gặp Lạng Sơn (biệt danh của Thiếu tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh SĐ/TQLC).
– Lạng Sơn đang bận lắm. Có gì ông anh nói, tôi sẽ chuyển.
– Nhờ Đại Dương trình với Lạng Sơn cho chúng tôi lệnh kế tiếp.
– Ở đây cũng đang lu bù lắm, không ai có thể giúp gì được cho ông anh. Tốt hơn hết là self-service. Good luck ông anh!

Mặt mày tối tâm, xây xẫm, thất vọng, tôi ném ống liên hợp xuống cát…self service…có nghĩa là tự lực cánh sinh, tùy cơ ứng biến, có thể là mạnh ai náy lo, có thể là tan hàng!
Khoảng quá xế trưa, mặt trời Papazulu lại xuất hiện bằng một giọng thật đanh thép, ông ra lệnh cho một chiếc HQ khác, bằng bất cứ giá nào cũng phải bốc tiếp chùng tôi. Con tàu lại tách sóng hướng thẳng vào bờ phiá Bắc tuyến phòng thủ chừng 200m. Lần này, TĐ4 sẽ lên tàu dưới sự sắp xếp chỉ huy của Thiếu tá Đinh Long Thành, tân TĐT của đơn vị này. Bất kể là đơn vị nào, bất cứ là ưu tiên cho ai, thật nhiều đám người từ mọi hướng đổ ập về đây tràn xuống như thác lũ. Con tàu quá tải tròng trành trên mặt nước, chân vịt ngưng quay nằm bất động vì máy đã hỏng rồi. Lại thêm một đêm nữa rồi sẽ đến với tình thế mỗi lúc một tồi tệ hơn. Phải quyết định ngay bây giờ, nhưng giải quyết bằng cách nào đây? Tôi gọi HS1 Lê Hồng Quảng Nam, người cận vệ thân tín nhất đến, sau khi đã cạo nhẫn bộ râu quai nón của mình, chính nhờ nó mà tôi đã ăn nên làm ra trong đời binh nghiệp và được giấy phép của bộ TTM cấp hẳn hòi với lý do: “uy tín cấp chỉ huy”.
– Anh chuẩn bị cho tôi một ít nước uống và vài gạo sấy để phòng thân.

Nam do dự mếu máo:
– Ông thầy đừng bỏ tụi em, có gì cho tụi em theo với. Thuận, Thành hai hiệu thính viên cũng oà lên khóc.
– Yên trí, thầy trò mình sẽ sống chết có nhau mà.quando4

Đầu óc tôi cứ mãi bị ám ảnh bởi lời đề nghị của Đ/U Đan là ông anh nên “self service”. Nhưng chuyện này cũng có 5, 7 cách khác nhau. Hãy tìm một vài người lính thật khỏa mạnh, bơi nhà nghề, mà phải là dân chuyên đi biển ở Nha Trang hay Phan Thiết, mò vào nhà dân hay dọc theo mé nưóc, tìm sẵn một chiếc ghọ thật tốt, chuẩn bị sẵn sàng, thừa nước đục thả câu sẽ cùng bỏ trốn như loài chuột. Nhưng cũng chẳng phải dễ dàng lắm đâu! Chúng tôi sẽ bị bắn chết bởi đồng đội trước khi nạp mình cho bầy cá mập, hay là tuyên bố hoạch toẹt rõ ràng, đơn vị tan hàng, mạnh ai nấy lo, đâu phải lỗi ở mình. Điều này quá trắng trở và trắng trợn, chẳng còn tình nghĩa gì. Nếu còn sống làm sao dám nhìn lại mặt nhau như Hai Chồn, Pake, Loan Mắt Nhung, Chanh Trọc, Ba Ngành, các ĐĐT lương đen lì lợm, nhậu rượu như uống nước mà đánh giặc rất chí tình. Tôi liên lạc máy với Thiếu Tá Cang TĐT/TĐ7 cùng Thiếu Tá Sử TĐT/TĐ3, chúng tôi cùng đồng ý với nhau là chẳng còn cách nào khác hơn, mở đuờng máu xuôi Nam về cửa biển Tư Hiền còn nước, còn tát.

Nói là mở đường máu chứ thực ra chỉ là cách thối thác cho một sự tan hàng, đường về bít bối, vì nếu có trầy da tróc vẩy đến nơi thì cũng chỉ là vùng trời mây nước mênh mông, ngồi đó chờ nộp thịt cho chằng. Di chuyển cũng theo thứ tự lớp lang, nhưng đội hình chẳng còn. Sức mòn, lực kiệt, súng cầm tay, tinh thần đã mất, đạn dược cũng không, cứ nhắm mắt nhắm mũi mà chạy 1,2,3,4… 1,2,3,4 “đường trường xa con chó nó tha con mèo…” càng xa địch bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhiều tiếng nổ chát chúa phía sau, của địch thì ít mà của ta thì nhiều. Những người lính bị thương không còn khả năng thep kịp đòan quân, bò lết lại với nhau, bung chốt lựu đạn nổ để “thà chết vinh, còn hơn sống nhục”. Đứa con đầu của TĐ3 Sói Biển đang bị một đại đội du kích chận lại, phía trước ùa về, ở sau đung tới, vô vọng, tuyệt vọng, chưa bao giờ tôi cảm thấy thèm sự sống bằng lúc này, miệng luôn luôn lẩm bẩm xin Phật Trời giá hộ “cùng tắc biến, biến tắc thông”.

Nhóm chúng tôi gồm 5 người tấp vào xóm dân chài, hy vọng sẽ được giúp đỡ bởi tình quân dân cá nước ngày nào, nhưng hiện tại quân đã tan thì tình cũng chẳng còn, mặc dầu đã cố gắng nài nỉ hết sức kể cả tiền bạc thuê mướn, nhưng họ đã từ chối thẳng thừng. Chủ nghe là gã trung niên lực lưỡng, mặt rỗ hoa mè chắc là VC nằm vùng hay du kích gì đó. Thôi thì “tam thập lục kế”, kê súng vào đầu là thượng sách nhất. Đây là lần thứ hai tôi chạy giặc, lúc nhỏ vào lúc 5 tuổi theo mẹ trốn vào rẫy mỗi lần “mới sớm mai thằng Tây nó bố vào rừng ta quyết trốn”. Và bây giờ sau 26 năm khi đã trưởng thành trong quân ngũ… vẫn còn súng đạn trong tay cùng những chiến hữu bạn bè, tôi phải chạy trốn giặc cộng, thằng chủ nghe đang ngồi với tôi bây giờ là một tên VC chín rõ muời mươi, hắn phá máy cho ghe ngừng, hắn làm dấu chỉ điểm mỗi lần kề sát ghe địch. Nhân (B3), Ngọc (B2) đã làm thịt tại chổ, tôi ngăn không cho, chuyện gì rồi cũng phải tính đường về, nếu nhỡ thì sao!

Chỉ vỏn vẹn mấy ngày phù du mà bao điều biến đổi dồn dập bất ngờ, không biết số phận của tôi và bao nhiêu người khác nữa rồi sẽ ra sao khi ánh bình minh của một ngày mới xuất hiện, hy vọng sống còn chỉ là việc hiếm mọn nhỏ nhoi trong cái chết xảy đến mới là điều chắc chắn. Tờ mờ saág hôm sau, sau khi đã cạn hết nhiên liệu, chiếc ghe đành nằm chênh vênh trên mặt nước mênh mông vùng Tư Hiền, giữa rừng cờ giặc. Xa xa là những dãy núi chập chờn xanh thẳm của đỉnh đèo Hải Vân như réo gọi, mời mọc, thèm thuồng, tiếc rẻ. Và như số phận đã an bài, nhưng rồi cũng có lúc “chí tuy còn mong tiến bước mà sức không kham nổi đọan đường dài, sự nghiệp bao năm đeo đuổi thôi cũng đành gián đoạn từ đây… bởi đâu? do đâu? vì đâu?

U1737385

Giã từ vũ khí, ném súng xuống dòng sông định mệnh, ngồi chờ địch đến, đổi đời lịch sử sang trang. Chúng tôi bị trói tay lùa lên bờ. Chúng tôi bị “giải phóng” tất cả quần áo, đồng hồ, dây chuyền, đồ đạc. Một vài người bị dẫn đi xử bắn dã man. Chúng tôi bị xỉ vả, đấu tố làm tay sai cho đế quốc. Chúng tôi không còn là chúng tôi nữa, chỉ vì chúng tôi là chiến sĩ QLVNCH bảo vệ miền Nam tự do, bị bỏ rơi lại phía sau thề sống chết thủy chung và chiến đấu hết mình. Cuộc đời tù đầy của vài ngàn quân cũng bắt đầu từ cái ngày đáng nhớ ấy…27/3/75 tại một địa danh nhỏ, hẻo lánh, quen thuộc: thôn Vĩnh Lộc, Thừa Thiên, Huế ngay trên tổ quốc thân yêu của chúng tôi.

Mũ Xanh Phạm Văn Tiền

Phân Ưu Cùng CSVSQ Nguyễn Phán K24

NPNguyenPhanK24gif

Phero

Vài Hình Ảnh Thăm Viếng Chị Lương Công Cẩn K18 Tại Fresno

DSC05849
DSC05855
DSC05850
DSC05853
DSC05855a

Lễ Khánh Thành Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ Westminster

 

Lễ Khai Mạc Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ Tại Westminster | California 2003

An Lộc: Từ Địa Ngục Đến Anh Dũng—Đức Hà

 

“Nếu có người Mỹ nào thật sự muốn biết liệu kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh có thành công, hay liệu những đồng minh của người Mỹ có xứng đáng với sự hy sinh của biết bao binh lính Mỹ và gia đình, thì “Hell in An Loc” sẽ dứt khoát trả lời câu hỏi đó…”

George J. Veith, tác giả cuốn “Code-Name Bright Light: The Untold Story of U.S. POW Rescue Efforts During the Vietnam War.”

09-1226-03-hell

Từ căn hộ tại lầu ba một chung cư hiền hòa yên bình ở Fremont, người ở có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn những hàng cây với tàn lá đổi màu theo ngày tháng, mùa hè xanh biếc, sang thu chuyển vàng rồi rụng rơi trải thảm khắp mặt đường khi đông tới. Đó là một nơi tuyệt vời để nghỉ hưu và an hưởng tuổi già sau những ngày tháng vật vã với cuộc sống và quên đi dư âm vang vọng của đại bác, chiến xa, khói lửa chiến tranh. Nhưng người ở lại là một cựu tướng, một người từng cầm quân chỉ huy thế nên tâm hồn ông, trái tim ông, suy nghĩ của ông luôn khắc khoải về đất nước mà ông đã phải bỏ lại cách nay hơn 30 năm.
“Tuy gặp may mắn hơn nhiều người Việt tỵ nạn khác khi đến định cư tại Mỹ – kể cả những người ngang cấp bậc, nhưng tôi vẫn thấy buồn. Buồn vì mất nước và buồn vì nhiều người phải vướng vào lao tù, bao nhiêu gia đình ly tán,” cựu tướng Lâm Quang Thi chia xẻ trong một buổi chiều cuối thu lạnh giá.
Gần 80 tuổi, người ông vẫn thẳng đứng, dáng mảnh khảnh, giọng nói lớn sang sảng như khi còn chỉ huy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I năm nào. Có thể chăng vì nỗi u sầu ẩn khuất đó, nên ít thấy ông cười, cho dù câu chuyện trao đổi đôi lúc cũng ra ngoài đề tài về địa ngục An Lộc.
“Trận An Lộc được xem là trận chiến lớn nhứt trong suốt cuộc chiến Việt Nam – mà Sir Robert Thompson, cố vấn đặc biệt của Tổng Thống Nixon từng mô tả là chiến thắng quân sự lớn nhứt của Thế Giới Tự Do chống lại Cộng Sản sau Thế Chiến II, thế mà chưa bao giờ được truyền thông Mỹ nhắc tới,” ông bày tỏ sự bực tức và khẳng định rằng nếu mất An Lộc năm 1972 thì chỉ 24 tiếng đồng hồ sau quân Bắc Việt – dùng An Lộc làm bàn đạp, sẽ tiến thẳng vào Sài Gòn mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể nữa.
Nếu chiến thắng An Lộc giúp miền Nam đứng vững thêm được ba năm nữa nhưng cũng là tiền đề cho sự xụp đổ hoàn toàn của Cộng Sản vài năm sau đó, theo lời tác giả Lâm Quang Thi. Ông giải thích:

“Đó là điều mà ít người nhận thấy. Họ (truyền thông Mỹ) chỉ đề cao những chiến thắng của người Mỹ, và sự thật về An Lộc chưa bao giờ được nhắc đến cho đến ngày hôm nay, trong cuốn sách này.”
Những trăn trở đó đã khiến vị tướng quê Bạc Liêu không tiếc thời gian, bỏ công sức hơn bốn năm dài để nghiên cứu thu thập tài liệu, sử liệu, phỏng vấn những chỉ huy mặt trận còn sống sót, tiếp xúc những quân nhân tham dự trận đánh, so sánh các tài liệu của hai phía Việt và Mỹ, kể cả tranh luận với các tác giả Mỹ để hoàn thành cuốn “Hell in An Loc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam.”
Khi góp ý rằng hồi ký chiến tranh của người Việt xuất bản rất nhiều, phần lớn thổi phồng cá nhân, tài liệu dựa vào trí nhớ hay viết nhằm mục đích riêng tư nào đó nên người đọc đôi khi cảm thấy chán ngán và nghi ngờ thì cuốn Hell in An Lộc được tác giả nhấn mạnh là hoàn toàn trung thực. Ông nói:
“Năm 1972 tôi làm Tư Lệnh tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương điều động ba sư đoàn Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh trấn giữ hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên ở phía bắc và không liên quan gì đến chiến sự tại Vùng III nơi diễn ra trận chiến An Lộc. Thế nên tôi tin rằng có cái nhìn chính xác hơn, khách quan hơn và chủ yếu không phải phóng đại hay tâng bốc bất cứ ai.”
Ông cho biết thêm rằng khi nhà xuất bản University of North Texas Press bằng lòng cho in, sau khi hội đồng biên tập tranh luận về tính xác thực của các tài liệu, các chứng cứ ghi trong bản thảo và chấp nhận những phản bác có giá trị của ông đưa ra, thì đó là một thắng lợi nữa của An Lộc, tuy hơn muộn màng.
“Tôi không tin rằng đưa cuốn sách này ra vào thời điểm bây giờ là quá muộn cho dù câu chuyện xảy ra từ 1972; thêm vào đó sự thật về cuộc chiến An Lộc – mà tất cả người dân miền Nam đều biết dưới tên gọi Bình Long Anh Dũng trong Mùa Hè Đỏ Lửa, chưa bao giờ được nói tới.”
Tướng Thi cho hay mục đích của sách không ngoài việc cho thế hệ đi sau biết bậc cha ông đã chiến đấu dũng cảm vượt bực trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam, đồng thời cũng không quên nhắc đến vai trò thiết yếu của cố vấn Mỹ và sự yểm trợ hỏa lực tối đa của không quân và lục quân Mỹ cho An Lộc. Ông nói rằng từ cuốn sách này cộng đồng thế giới, các trường đại học, giới quân sự, các học giả có thêm một tài liệu tham khảo và biết thêm là quân dân Miền Nam đã bảo vệ sự vẹn toàn của đất nước như thế nào – trái với những tuyên truyền sai lệch và ác ý trước đây.
Tác giả cuốn “A Sense of Duty: My Father, My American Journey,” Quang X. Phạm, một cựu phi công Thủy Quân Lục Chiến Mỹ nhận xét: “Cuốn sách thứ hai đáng lẽ phải được viết từ lâu của Tướng Lâm Quang Thi đã cung cấp một góc độ nhìn thiếu sót hết sức quan trọng từ phía những người bạn đồng minh Mỹ trên chiến trường Nam Việt Nam. Có thể quan trọng hơn nữa, công trình nghiên cứu của ông đã thu thập được những tài liệu về những nỗ lực dũng cảm của quân lực Nam Việt Nam trong trận chiến quy mô nhứt, không hề được truyền thông Mỹ, quân đội Mỹ và điện ảnh Mỹ quan tâm nhắc nhở. Những cố vấn Mỹ hiện nay và những nhà lãnh đạo quân đội Iraq đang hình thành có thể học hỏi được nhiều từ cuốn sách này trong sứ mạng cùng nhau đánh một mặt trận.”
Vì thế nên khi đến thị sát An Lộc ngày 7 tháng Bẩy, 1972 Tổng Thống Thiệu đã phát biểu: “Chiến thắng Bình Long không chỉ là chiến thắng của Nam Việt Nam chống Cộng Sản Bắc Việt, chiến thắng Bình Long còn là chiến thắng của Thế Giới Tự Do đối với thuyết chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng thế giới của Cộng Sản.”
Vậy thì tại sao thắng lợi đó không được truyền thông Mỹ đề cao?

Phản Chiến

Giải thích về sự thờ ơ của truyền thông Mỹ, ông Thi cho hay năm 1972 khi Mỹ bắt đầu thi hành kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, báo chí chỉ nhắm chỉ trích sự yếu kém, nhu nhược và tham nhũng của quân lực VNCH, thậm chí viết cả sách bôi nhọ chưa kể là lúc đó họ có xu hướng phản chiến và thiên tả.
Tuy nhiên sự thật vẫn là sự thật. Với mức thiệt hại hơn 10,000 quân địch thuộc ba Công Trường 5, 7, và 9 trang bị hiện đại với chiến xa hạng nặng và không đầy 2,300 tử vong, 8,500 bị thương bên tử thủ, phía VNCH đã phải đối đầu với một lực lượng đông gấp ba lần và vẫn chiến thắng. Và mọi người vẫn còn nhớ câu chuyện về quân trú đóng An Lộc phải tìm cách hạ tăng địch bằng khẩu phóng lựu M-72 khiêm nhường.
Tướng Thi tin rằng nếu sự yểm trợ quân sự của đồng minh vẫn tiếp tục thì ngày 30 tháng Tư, 1975 không chắc đã xảy ra.
“Tiếc rằng người Mỹ không đủ kiên nhẫn để tham gia một trận chiến trường kỳ và cũng không dám đánh thẳng ra Bắc. Lúc đó người Mỹ có một sứ mạng rõ rệt là chận đứng đà bành trướng của Cộng Sản nhưng lại không có một chiến lược rõ ràng khi tham chiến tại Việt Nam, và đó là điều đưa đến thất bại.”
Tuy vậy vẫn theo lời tác giả Lâm Quang Thi sự kiện Nam Việt Nam mất là cơ hội để các nước láng giềng như Thái-Lan, Indonesia, Malaysia … không bị Cộng Sản hóa và tiếp tục tồn tại trong tự do.
Chuyển lời đến người Mỹ, người viết hai đầu sách về chiến tranh Việt Nam, ông George J. Veith gợi ý rằng “nếu có người Mỹ nào thật sự muốn biết liệu kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh có thành công, hay liệu những đồng minh của người Mỹ có xứng đáng với sự hy sinh của biết bao binh lính Mỹ và gia đình, thì “Hell in An Loc” sẽ dứt khoát trả lời câu hỏi đó…”

Và bên cạnh câu chuyện về viết sách, dịch sang tiếng Việt, bán sách gởi tiền giúp các cựu quân nhân thiếu thốn còn ở quê nhà, ông còn chia xẻ về niềm vui chăm sóc đưa đón ba cháu nội trai chỉ ở cách đó mươi phút. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó mới thấy gương mặt ông bớt đăm chiêu nghiêm nghị. Thế nhưng hạnh phúc hiện tại dường không thể đè lên nỗi bứt rứt của người quân nhân buộc lòng phải thua trận mất nước, vẫn sống bằng hy vọng về một tương lai sáng sủa hơn cho quê hương. Sau cùng khi hỏi về một nước Việt mai sau sẽ biến chuyển như thế nào. Ông nói rằng nước Việt phải là một – đương nhiên rồi, nhưng phải thống nhứt dưới một thể chế dân chủ tự do và điều đó chưa hẳn là không thể xảy ra:
“Với tôi, cuộc chiến Việt Nam chưa hề kết thúc, mà đang diễn ra dưới một hình thức khác,” ông cả quyết.

Đức Hà
OneViet.com

Trung Tướng Lâm Quang Thi và Tác Phẩm Hell in An Lộc—Nguyễn Vạn Bình

Benedit5copy

Bản đồ hành quân của cố Thiếu Tướng Lê Văn Hưng với chữ ký và thủ bút

Cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi, một vị tướng tác chiến tài giỏi của QLVNCH. Ông là cựu Chỉ Huy Trưởng trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, cựu tự lệnh Sư Đoàn 7 và 9 Bộ Binh, nguyên là Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I và Tư Lệnh Bộ Tư lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I. Ông là tác giả của quyển hồi ký “Hai Mươi Năm Thế Kỷ” được xuất bản vào năm 2005. Nay ông lại cho xuất bản tác phẩm: “Hell in An Lộc” được viết bằng Anh ngữ và đã được Viện Đại Học University of North Texas cho xuất bản. Đây là một tác phẩm ghi lại những diễn tiến của trận chiến khốc liệt tại An Lộc giữa quân đội VNCH và quân đội Bắc Việt vào năm 1972 và sau cùng đã mang lại thắng lợi vẻ vang cho QLVNCH.

Để tìm hiểu về tác phẩm nầy, nhà báo Nguyễn Vạn Bình chủ nhiệm bán nguyệt san Ý Dân đã có cuộc phỏng vấn trung tướng Lâm Quang Thi.

Và sau đây là nội dung của cuộc phỏng vấn:

1- Xin Trung Tướng cho biết sơ qua về hình thức quyển sách HELL IN AN LOC và lý do nào Trung Tướng được trường đại học Mỹ đứng ra cho xuất bản quyển sách nầy?

Quyển HELL IN AN LOC bìa cứng, dầy 290 trang, gồm có một số hình ảnh và 14 bản đồ. Thiết tưởng cũng nên biết rằng trận đánh An Lộc là một trận đánh lớn nhất trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam và cuộc Chiến Tranh Đông Dương trước đó. Tuy nhiên cơ quan truyền thông Mỹ đã không đề cập đến trận đánh này. Và một số rất ít sử liệu Mỹ nói đến trận đánh này tìm cách đề cao vai trò của Không Lực và cố vấn Hoa Kỳ và hạ thấp sự đóng góp của QLVNCH. Lý do chánh là tường thuật một cách trung thực chiến thắng này sẽ đi ngược lại tiền đề căn bản của cơ quan truyền thông Mỹ: đó là cuộc chiến tranh không thể thắng được vì QĐVNCH kém khả năng. Quyển HELL IN AN LOC được viết ra để nói lên tinh thần chiến đấu vượt bực của quân đội Miền Nam Việt Nam và phản bác lại sự bóp méo sự thật của cơ quan truyền thông Mỹ, một cơ quan truyền thông phần lớn thiên tả và phản chiến.

Trường Đại Học University of North Texas, sau khi điều nghiên sự sưu tầm của tôi và các sử liệu tôi dùng để viết quyển HELL IN AN LOC, đã đồng ý với quan điểm của tôi và đã cho xuất bản quyển sách này.

2- Trong cuộc chiến bảo vệ Miền Nam , QLVNCH đã đụng độ nhiều trận với quân đội Bắc Việt, tại sao Trung Tướng lại chọn trận chiến An Lộc là nội dung của quyển sách HELL IN AN LOC lần nầy?

Cái tựa “Hell in An Loc: The 1972 Easter Invasion and the Battle that Saved South Viet Nam” đã nói lên tầm quan trọng của trân đánh An Lộc, vì nếu địch chiếm được An Lộc thì các sư đoàn Bắc Việt tăng cường bởi chiến xa có thể hăm dọa trực tiếp thủ đô của Miền Nam Việt Nam.

3-  Xin Trung Tướng cho biết sơ qua diễn tiến của trận đánh An Lộc cùng cán cân lực lượng giữa đội bên?

Sau khi tràn ngập Chi Khu Lộc Ninh do thành phần của Trung Đoàn 9/Sư Đoàn 5 chiếm giũ ngày 7 tháng Tư, 1972, Bắc Việt tập trung Công Trường (Sư Đoàn) 5 và 9 để tấn công thị trấn An Lộc; trong lúc đó công Trường 7 của chúng đóng chốt dọc theo Quốc Lộ 13 để chận đường tiến quân của lực lượng tiếp viện tiến lên từ phía Nam. Trong giai đoạn đầu, lực lượng phòng thủ gồm có Trung Đoàn 8/SĐoàn 5, Liên Đoàn 3 BĐQ, thành phần của Trung Đoàn 7 /SĐ 5 và các đơn vị ĐPQ, NQ và Nhân Dân Tự Vệ Tiểu Khu Bình Long. (Về sau lực lượng trú phòng được tăng cường Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù va Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù). Lực lượng tấn công địch gồm 2 sư đoàn (không kể một sư đoàn chận viện) và các trung đoàn biệp lập và các đơn vị pháo và thiết giáp, quân số vào khoảng 21,000 người. Lực lượng phòng thủ trong giai đoạn đầu gồm khoản 7,500, tức là gần như 1 chọi 3.

Lực lượng BV tổ chức ba cuộc tấn công quy mô. Cuộc tấn công lần thứ 3 ngày 11 tháng Năm, là cuộc tấn công mạnh mẽ nhất vì địch dốc toàn nỗ lực chiếm lấy An Lộc để làm thủ đô của cái gọi là Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời. Có lúc chiến xa địch đã tiến gần Bộ Tư Lệnh của Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 và địch bắn trực xạ B-40 vào hầm chỉ huy của ông. Tướng Lê Văn Hưng đã kịp thời ra lệnh LĐ1ND phản công đẩy lui địch.

4- Theo Trung Tướng lý do nào đã giúp QLVNCH anh dũng chiến thắng quân đội Bắc Việt trong trận chiến nầy?

Theo tôi có ba lý do khiến chúng ta chiến thắng An Lộc. Thứ nhất, BV đã phạm những lỗi lầm chiến lược và chiến thuật quan trọng, mà tôi không tiện nêu ra đây trong khuôn khổ hạn chế của bài phóng vấn này. Hai lý do khác là sự hữu hiệu của không yểm Hoa Kỳ, nhứt là sự yểm trợ của pháo đài bay B-52, và, quan trọng nhất, là tinh thần chiến đấu cao độ của QLVNCH.

Để trả lời những lời phê bình của các phóng viên phản chiến Mỹ cho rằng chiến thắng An Lộc là nhờ Không Quân Hoa Kỳ, Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam, nói rằng : “Tôi nghi ngờ cuộc phòng thủ có thể giữ vững nếu không có Không Quân Mỹ. Nhưng điều phải xảy ra, đó là người Việt Nam phải đứng lên và chiến đấu. Nếu họ không làm điều đó thì mười lần không yểm Mỹ cũng không chận đứng được địch quân.” Chúng ta đã đứng lên và đã chiến thắng.

5- Trung Tướng có tham dự trận chiến nầy không?

Lúc xảy ra trận An Lộc, tôi ở QĐI. Thiết tưởng cũng nên nhớ rằng một người viết sử một giai đọan hoặc một trận chiến nào đó không cần thiết phải sống trong giai đoạn lịch sử hoặc trận chiến mà người viết sử đang viết. Khi viết tác phẩm HELL IN AN LOC, tôi đã truy cứu rất nhiều tài liệu liên quan đến trận này, nhứt là những tài liệu Việt ngữ. Tôi cũng đã phỏng vấn hầu hết những đơn vị trưởng tham gia trận chiến An Lộc hiện còn đang sống sót. Sự kiện quyển HELL IN AN LOC được một trường đại học lớn Hoa Kỳ xuất bản cũng đủ bảo đảm giá trị lịch sử của tác phẩm.

6- Đại tá hồi hưu Edward P. Metznez đã so sánh trận chiến tại An Lộc cũng khốc liệt không kém gì trận chiến tại Điện Biên Phủ và Khe Sanh, theo Trung Tướng điều nhận xét nầy có đúng không?

Đại Tá Edward P. Metzner, tác giả quyển “More Than a Soldier’s War”cho rằng sự so sánh An Lộc với các trân chiến Điện Biên Phủ và Khe Sanh sẽ cho phép đưa ra “một nhãn quan đứng đắn về ý nghĩa lịch sử của sự phòng thủ An Lộc và sự anh dũng và can trường của binh sĩ trú phòng.” Khi tuyên bố điều này, Đại Tá Metzner chỉ muốn nhấn mạnh đến ý nghĩa lịch sử của trận chiến An Lộc và sự can trường của quân nhân QLVNCH. Các nhà phân tích gia quân sự cho rằng trận An Lộc lớn hơn các trận Điện Biên Phủ và Khe Sanh. Trận công hãm Điện Biên Phủ chẳng hạn kéo dài hai tháng trong lúc chiến sĩ phòng thủ An Lộc phải chiến đấu suốt ba tháng và phải gánh chịu vào khoảng 80,000 quả pháo binh, hỏa tiễn hoặc súng cối, tức là ba lần số đạn pháo binh bắn vào Điện Biên Phủ. Tuy nhiên sự khác biệt lớn nhất giữa ba cuộc công hãm đó là người Pháp thua Điện Biên Phủ, người Mỹ rút bỏ Khe Sanh vì sợ nó trở thành một Điện Biên Phủ thứ hai, và chúng ta thắng lợi tại An Lộc.

anloc10

Binh sĩ VNCH nhắm bắn xe tăng cộng quân đang tiến vào thị trấn An Lộc

Một buổi ra mắt tác phẩm “Hell In An Loc: The 1972 Easter Invasion and the Battle that Saved Viet Nam” (do Viện Đại Học Unitersity of North Texas xuất bản) sẽ được tổ chức vào Chúa Nhật 24 tháng Giêng, 2010, tại Trung Tâm Sinh Hoạt VIVO, 2260 Quimby Road, San Jose, từ 1:00 đến 4:00 PM.

Nguyễn Vạn Bình

Trận Chiến Chưa Kết Thúc—Nguyên Thiều

Hồi năm 1998, khi nói chuyện với các cựu chiến binh Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam ở Houston – Texas nhân ngày lễ Veteran Day, cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi đã nhận được sự hoan nghênh và biểu lộ đồng tình từ các cựu chiến binh khi ông cho rằng họ đã chiến đấu dũng cảm cho một lý tưởng tốt, và một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thất bại trong cuộc chiến là bởi vì những tường thuật lệch lạc đầy ác ý của giới truyền thông thiên tả về cuộc chiến này.
Vào lúc mà cộng sản Bắc Việt không ngần ngại đổi chác lãnh thổ cho ngoại bang để tìm kiếm thêm quân viện thì Việt Nam Cộng Hoà lại bị đồng minh lâu năm của mình rũ áo, cuốn gói, bỏ rơi. Tiếp theo, người ta tìm cách đổ hết mọi lỗi lầm dính líu đến cuộc chiến lên đầu những người lính thua trận. Trong bài diễn văn nhận trách nhiệm về vụ Bay of Pigs (Vịnh Con Heo)—Cuba bị thất bại hồi tháng 4 năm 1961, Tổng Thống John F. Kennedy nói một câu chua chát: “Victory has a thounsand fathers, but defeat is an orphan.” (Chiến thắng có ngàn người cha, nhưng thất bại lại là một đứa con mồ côi). Được tạm hiểu như là, khi chiến thắng thì ai cũng muốn có công lao, nhưng lúc thất bại không một người nào chịu nhận làm tác giả.
Trong khi giới truyền thông thiên tả và phản chiến Mỹ luôn tự xem rằng những tuyên truyền (vô tội vạ) là công lao chính dẫn đến hoà bình cho Việt Nam thì chính phủ và quốc hội của họ lại chẳng bao giờ chịu nhận trách nhiệm đã bội ước đối với đồng minh để dẫn đến thất bại cay đắng. Ngay cả một vài cố vấn Mỹ đã từng tham chiến tại Việt Nam, khi viết về cuộc chiến này, cũng chỉ cố nói cho được về phần mình, tô bóng một cách quá lố đến sự hiện diện và công lao của quân đội Hoa Kỳ và của chính tác giả. Sách báo viết bằng Anh ngữ của họ hầu như chỉ nhằm đề cao vai trò của người Mỹ. Một khi đã đề cao vai trò của người Mỹ, tất nhiên người ta còn cần phải tìm cách hạ thấp khả năng và giá trị trung thực của chính phủ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà càng nhiều càng tốt. Ai cũng có thể gặp nhan nhản những người bản xứ cứ luôn tin tưởng rằng cuộc chiến thất bại tại Việt Nam là do Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà quá yếu kém. Nếu không có ai đó đứng ra cải chính và làm sáng tỏ điều này, lịch sử sẽ được biết đến một cách méo mó mãi mãi như thế. Ngay cả đến con cháu của các cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hoà rồi cũng sẽ hỏi ông cha của họ, tại sao lại đánh giặc quá tồi tệ như vậy!
Cover(1)
Hình bìa mặt trước của tác phẩm “Hell In An Loc”
Cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi luôn thao thức về việc lịch sử đã bị người ta bóp méo đến độ thảm hại. Ròng rã suốt 4 năm trời, ông bỏ nhiều tâm huyết tìm tòi tài liệu, phỏng vấn nhân chứng, phân tích dữ kiện, tìm cách viết trung thực lại lịch sử. Ông nắn lại cho ngay ngắn những chỗ mà người ta đã cố ý bẻ cong, mong lấy lại lẽ phải, sự thật và công bằng cho chiến binh và quân đội của ông. Đã có nhiều quyển sách viết bằng Việt ngữ nói về mức độ thiện chiến, lòng dũng cảm, tánh can trường của người lính Việt Nam Cộng Hoà, nhưng tựu trung vẫn chỉ là những tác phẩm để cho người Việt đọc, người Việt biết và người Việt thông hiểu với nhau mà thôi. Những tác phẩm này dù được phát hành và đón nhận mạnh mẽ trong các cộng đồng người Việt trên khắp địa cầu cũng chưa hẳn đã gây nên ảnh hưởng lớn có thể thay đổi quan điểm vốn đã bị đầu độc nặng nề của những người bản xứ – những người không nói tiếng Việt, nơi mỗi quốc gia có người Việt cư ngụ. “Hell in An Loc” là một đáp ứng cần thiết và quý báu vào thị trường sách báo hiếm hoi bằng Anh ngữ do người Việt viết trung thực về chiến tranh Việt Nam.
Một thời, từng là sĩ quan trẻ tuổi nhất nước được thăng cấp tướng, nay ông Lâm Quang Thi sắp bước sang tuổi bát tuần. Vị tướng văn võ song toàn, xuất thân từ khoá 3 của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam vẫn âm thầm miệt mài chiến đấu cho đất nước và quân đội của mình. Không còn mang gươm, không còn cầm súng như những ngày xưa giữa nơi trận mạc sa trường, ông viết sách, viết blog để tiếp tục chiến đấu. Người ta có thể tìm đọc những bài viết ngắn, xúc tích và giá trị của ông về các vấn đề Việt Nam, Đông Nam Á… tại một số trang blog uy tín như: New America MediaRedroom, Pacific News
Viết “Hell In An Loc“, cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi muốn vạch cho cả thế giới thấy rõ, trong chiến tranh quy ước, nếu được yểm trợ đầy đủ, thì với một lực lượng ít ỏi, chỉ bằng một phần ba quân số so với địch, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà vẫn có khả năng đánh bại những đạo quân được trang bị, yểm trợ hùng hậu và thiện chiến nhất. Những chân giá trị mà giới truyền thông, chính phủ và quân đội Hoa Kỳ cố tình lảng tránh, nhận chìm được tác giả ghi chép lại như một tài liệu quân sử. Người ta tìm gặp vô số điều mới mẻ mà những quyển sách viết về trận An Lộc trước đây chưa nhắc đến. “Hell In An Loc”, sẽ giữ lại cho thế hệ mai sau, nhất là thế hệ sinh trưởng tại hải ngoại – không thông thạo Việt ngữ những trang sử trung thực và giá trị.
“Hell In An Loc” được University of North Texas chọn lọc và xuất bản đủ nói lên tầm mức uy tín và giá trị chân thực của tác phẩm. So với hàng núi báo chí, sách vở được các nhà in vô danh ấn hành và xuất bản một cách vô tội vạ hiện nay, quyển sách này là một sưu khảo công phu, trung thực và phong phú. Trước đây, cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi đã từng cho xuất bản “Autopsy: The Death of South Viet Nam” hồi năm 1985 (do Sphinx Publishing ấn hành) và “The Twenty-Five Year Century” hồi năm 2002 (do University of North Texas Press ấn hành).
“Hell In An Loc: 1972 Easter Invasion and The Battle That Save Vietnam” sẽ chính thức ra mắt độc giả tại Trung Tâm Sinh Hoạt VIVO, 2260 Quimby Road, San José, California từ 13:00 giờ đến 16:00 giờ vào ngày Chủ Nhật 24/1/2010 sắp tới. 
Độc giả sinh sống tại Bay Area và Silicon Valley sẽ có cơ hội gặp gỡ và trực tiếp phỏng vấn tác giả trong ngày ra mắt sách. Độc giả phương xa có thể nhờ bạn hữu tại địa phương đặt sách giùm (để kèm chữ ký của tác giả) hoặc tìm mua tại các hiệu sách như Barnes & Noble, Flipkart, Eurospan… Các bậc phụ huynh rất nên có quyển sách này trong tủ sách gia đình, đặc biệt cho con em mình.
Được biết, cựu Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, xuất thân từ khoá 10 của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam cũng đã kể lại trận đánh An Lộc qua tác phẩm “An Loc – The Unfinished War” hồi năm 2009 (do Texas Tech University Press ấn hành). Ông cố công làm việc này cũng không ngoài mục đích nói ra những điều mà người ta chưa nhắc đến, lấy lại chút công đạo đã bị cướp mất cho những cựu chiến binh thua thiệt, nói lên tiếng nói cho những người vẫn còn sống và những người đã vị quốc vong thân. Độc giả có thể tìm mua tác phẩm này tại các hiệu sách như B&N, THENILE, INFIBEAM
Cả hai vị tướng xuất thân từ trường Võ Bị Đà Lạt đều cho rằng trận chiến chưa kết thúc và họ vẫn miệt mài chiến đấu.
Nguyên Thiều

Nguyên-Tắc về Việc Viết Chữ Hoa trong Tiếng Việt—Khải Chính Phạm Kim Thư

Khi viết Việt-văn, ngoài việc áp-dụng cho đúng về cú-pháp, văn-pháp, tiến- trình viết văn, nguyên-tắc sử-dụng các dấu chấm câu hay các dấu của câu văn, và cách đánh dấu các chữ Việt, các nhà văn còn phải áp-dụng cho đúng những nguyên-tắc về việc viết chữ hoa thì bài văn mới có giá-trị cả về nội-dung lẫn hình-thức.
Để giúp các bạn trẻ học-hỏi về cách viết văn tiếng Việt cho đúng, chúng tôi đã trình-bày và phổ-biến những bài viết về cú-pháp tiếng Việt, văn-pháp tiếng Việt và tiến-trình viết văn, cách sử-dụng nguyên-âm “i” và “y,” cùng cách đánh dấu các chữ Việt. Sau đây chúng tôi xin trình bày nguyên-tắc về việc viết chữ hoa trong tiếng Việt.

 I. Nguyên-Tắc về Việc Viết Chữ Hoa trong Tiếng Việt Theo ngữ-pháp tiếng Việt, các danh-từ và các chữ trong những trường-hợp sau đây phải được viết hoa:

           1. Viết Hoa Các Danh-Từ Riêng
a- Các danh-từ riêng liên-quan đến tên người phải được viết hoa: Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Du, và Trần Trọng San, v.v.
Ghi-Chú:
* Ở Việt-Nam trước đây, nhất là vào khoảng từ năm 1925 đến năm 1975, các nhà văn thường dùng gạch nối (gạch ngang) để viết tên người, các danh-từ riêng khác, và các danh-từ kép: Dương-Quảng-Hàm, Phan-Bội-Châu, Việt-Nam Tiểu-Học Tùng-Thư, Việt-Nam Văn-Học Sử-Yếu, Thu-Giang Nguyễn-Duy-Cần, Cái Cười của Thánh-Nhân, chính-trị, và phong-tục, v.v.
Hiện nay một số đông các nhà văn cũng dùng gạch nối (gạch ngang) để viết các danh-từ kép và tên người: phụ-âm, nguyên-âm, giađdình, học-đường, Hoa-Hoàng-Lan, vĩ-cầm, và Phạm Quang-Vinh, v.v. Nếu dùng gạch nối (gạch ngang) ở giữa các danh-từ kép và danh-từ riêng, đó là điều rất hợp-tình hơ.p-lý. Tuy-nhiên, nếu không dùng gạch nối thì cũng không sao vì chúng ta chưa có hàn-lâm-viện để quy-định các tiêu-chuẩn về việc sử-dụng Việt-Ngữ. Hàn-lâm-viện (academy) là một cơ-quan chính-thức do chính-phủ của một nước thành-lập ra để nghiên-cứu về văn-chương, khoa-học, hay mỹ- thuật, v.v.
* Trong trường-hợp tên người là tên kép thì cả tên họ và tên kép đều phải được viết hoa: Phạm Trung-Hậu, Phạm thị Thanh-Bình, và Phạm Tường-Lân, v.v.
* Về cách đặt tên người, người Việt mình thường dùng chữ lót như chữ “văn” để chỉ phái-nam và chữ “thị” để chỉ phái-nữ. Hai chữ này thường không được viết hoa: Nguyễn thị Loan, Bùi văn Hùng. Tuy-nhiên, trong trường-hợp chữ “văn” hay chữ “thị” đi kèm với các chữ khác làm thành danh-từ kép như  “văn-minh” và “thị-uy” v.v. mà tên người lại được đặt với các danh-từ kép này thì chữ “văn” và chữ “thị” phải được viết hoa: Phạm Văn-Minh, Nguyễn Thị-Uy.
* Ngày nay, tất cả mọi chữ trong tên người đều được viết hoa như các trường-hợp của các tên sau đây: Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Văn Thảo, Nguyễn Văn Khôn, và Nguyễn Thị Hồng, v.v. Viết hoa các chữ trong tên người Việt kiểu này rất phù-hợp với cách viết hoa tên của người Bắc-Mỹ hiện nay, tức là chữ nào của tên người cũng được viết hoa kể cả khi viết tắt.

b- Các danh-từ riêng về địa-lý liên-quan đến năm châu bốn bể, các quốc-gia, các phần của nước, các tỉnh, các thành-phố hay đô-thị, các phố-phường, xóm làng, thôn-xã, các con sông, các dãy núi, các hồ, các cầu, tên các tươ.ngđdài, và tên các cây tháp, v.v. cần phải được viết hoa: Châu Á (Á-Châu), Nam-Hải, Việt-Nam, Miền Nam, Nam-Việt, Miền Trung, Trung-Việt, Miền Bắc, Bắc-Việt, Cần-Thơ, Sài-Gòn, Phố Hàng-Đào, Xóm Bồ-Đề, Làng Quần-Phương-Đông, Huyện Hải-Hậu, Tỉnh Nam-Định, Sông Cửu-Long, Cửu-Long Giang, Núi Tản-Viên, Hồ Hoàn-Kiếm, Cầu Ông-Lãnh, Chợ Lương, Cầu Ngói, Tượng-Đài Đức Phù-Đổng Thiên-Vương, Tượng-Đài Chiến-Sĩ Việt-Mỹ, Tháp Chàm, Trường Trung-Học Phan Bội-Châu, và Xa-Lộ Biên-Hòa,v.v.
Ghi-Chú:
* Nếu các danh-từ chỉ phương-hướng được dùng để chỉ phương-hướng không thôi thì chúng không được viết hoa: Anh ta đi về hướng nam. Nếu danh-từ chỉ phương- hướng được dùng để chỉ miền đặc-biệt của một nước như trên đã nói thì phải viết hoa: Tôi ở Miền Nam.

c- Các danh-từ riêng liên quan đến tổ-chức xã-hội, các cơ-quan chính-phủ, các trường học, các chợ-búa, các tổ-chức thương-mại hay các tiệm buôn, các chùa-chiền, các nhà thờ, các đảng-phái hay tổ-chức chính-trị, các sắc-dân, các năm âm-lịch, các ngày lễ tết, và các trận-chiến, v.v. cần phải được viết hoa: Hội Cựu Học-Sinh Trưng-Vương, Bộ Quốc-Gia GiáoĐục, Nha Sư -Phạm, Trường Cao-Đẳng Sư-Phạm Sài-Gòn, Trường Trung-Học Phan Bội-Châu, Chợ Lương, Yiễm-Yiễm Thư-Quán, Chùa Hương, Nhà Thờ Bùi-Chu, Đảng Cần-Lao Nhân-Vị, Đảng Dân-Chủ, Đảng Tự-Do, Mường, Mán, Quý-Mùi, Da Đỏ, Tết Nguyên-Đán, Thế-Chiến Thứ Hai, v. v.
d- Các chữ viết tắt của danh-từ riêng hay danh-từ chung đứng trước danh-từ riêng để bổ nghĩa cho danh-từ riêng đều phải được viết hoa: VNCH (Viê.t-Nam Cộng-Hòa), QLVNCH (Quân-Lực Viê.t-Nam Cộng- Hòa), VBVNHN (Văn-Bút Viê.t-Nam Hải-Ngoại), QĐ3 (Quân-Đoàn 3), GS Doãn Quốc-Sỹ, LS Hoàng Duy Hùng, VH Trần Thy Vân, v.v. (GS: Giáo-Sư; LS: Luật-Sư, VH: Văn Hữu).
Thường thường các chữ viết tắt phải có dấu chấm đứng ngay sau chữ đó (L.S., G.S., V.H.).  Tuy nhiên, riêng các chữ viết tắt ở trên đã từng được viết như thế từ trước tới nay và được mọi người công-nhận.

           2. Viết Hoa Những Danh-Từ Chung trong Trường-Hợp Đặc-Biệt
a- Khi các danh-từ chung đứng ở vi.-trí trọng-yếu trước danh-từ riêng hay đứng một mình ở vị-trí của danh-từ riêng để vói về chức-tước, việc tôn-sùng các bậc vua chúa thần-thánh, và nghề-nghiệp cao-cấp:
Đức Thánh Trần, Đức Chúa Giê-Su, Đức Phật Thích-Ca, Tổng-Thống Ngô-Đình Diệm; Ngô-Đình Diệm, Tổng-Thống của Việt-Nam Cộng-Hòa; Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu; Đại-Tá Hồ Ngọc Cẩn; Bác-Sĩ Phạm Quang-Khải; Giáo-Sư Doãn Quốc-Sỹ; Tổng-Thống đã đến rồi; thưa Gíao-Sư, kính thưa Đại-Tá, v.v.
Ghi-Chú:
Khi các danh-từ chung như “tổng-thống,” “đại-tá,” “bác-sĩ,” “giáo-sư,” “hòa-thượng,” v.v. không đi chung với danh-từ riêng thì những danh-từ này không được viết hoa: Hồi trước nắm 1975, anh ta là một đại-tá. Con trai út của gia-đình ấy là bác-sĩ. Ông ta là một giáo-sư rất lỗi-lạc. Vị tổng-thống đầu tiên của nước ta là Tổng-Thống Ngô-Đình Diệm. Vị hòa-thượng là vị ở bậc trên cả trong chùa.

b- Viết hoa những danh-từ chung nói về thân-nhân trong gia đình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, v.v.) khi những danh-từ này đứng trước tên riêng hay đứng một mình ở vị-trí của tên riêng :
Cậu Oánh; Anh Phạm Trung-Hậu; lá thư này của Má; Chị Thu- Hương; Ông đi chơi với Ba rồi; v.v.
Ghi-Chú:
Nếu các danh-từ chung này không đứng trước danh-từ riêng hoặc đứng trước sở-hữu từ: “của tôi,”  “của anh,” và “của chị,” v.v. thì chúng không được viết hoa: các anh, các chị, ông của tôi, anh của tôi, chị của anh, ba của chị, cậu của tôi, v.v.

           3.Viết Hoa Các Chữ của Tựa-Đề Các Cuốn Sách, Các Tờ Báo, Bài Văn,   Bài Thơ, và Tiểu-Đề của Từng Đoạn Văn trong Một Bài Văn, v.v. :
           Dòng Mực Hưng-Quốc (tác-phẩm của Lê Bá Kông); Sức Khỏe và Đời Sống (tác-phẩm của Bác-Sĩ Nguyễn Ý Đức); Án-Tích Cộng-Sản Viê.t-Nam (tác-phẩm của Sử-Gia Trần Gia Phụng); Công Việc Họ Trịnh Làm ở Đất Bắc (Chương V), Việc Giao-Thiệp với Nhà Thanh (tiểu-đề số 1), Việt-Nam Sử-Lược (tác-phẩm của Sử-Gia Trần Trọng Kim); Pháp-Âm (tâ.p-san do Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu làm chủ- nhiệm); Chủ-Nghĩa Sát-Nhân (tên bài thơ của Ý Nga), Trái Đắng Quê-Nhà (thi-phẩm của Ý Nga); v.v.
Ghi-Chú:
* Trên đây là cách viết hoa về các tựa-đề cùng tiểu-đề được áp-dụng ngay trên các cuốn sách hay tờ báo. Tuy-nhiên, nếu chúng ta viết bài tham-luận mà đề-cập đến những tài-liệu của các tác-phẩm hay báo-chí để dẫn chứng thì tên sách hay tên tờ báo không những phải được viết hoa mà còn phải được viết nghiêng (khi đánh máy) hay gạch dưới (khi viết tay): Dòng Mực Hưng-Quốc, Dòng Mực Hưng-Quốc; Trái Đắng Quê Nhà, Trái Đắng Quê Nhà; Pháp Âm; v.v.
* Nếu trong các tư.ađdề hay tiểuđdề này có các giới-từ (với, tại, ở, trong, của, v.v.) và liên-từ (và, hoặc, hay, nhưng, v,v,) thì các giới-từ hay liên-từ này không được viết hoa: Công-Việc Họ Trịnh Làm ở Đất Bắc, Việc Giao-Thiệp với Nhà Thanh.
* Đối với các bài văn hay bài thơ trong sách hay báo-chí mà ta dùng để tham- khảo thì khi đề-cập tới, ta không những phải viết hoa mà còn phải dùng dấu ngoặc kép (” “) nữa:  Bài “Vụ Án Điển-Hình của Chế-Độ Độc-Tài Không Luật-Lệ,” trang 217, trong tác-phẩm Án-Tích Cộng-Sản Việt-Nam của Sử-Gia Trần Gia Phụng. Bài “Công Việc Họ Trịnh Làm ở Đất Bắc,” trang 51, trong tác-phẩm Việt-Nam Sử-Lược, Quyển II, của Sử-Gia Trần Trọng Kim. Bài thơ “Nghĩ Đến Quê-Hương,” trang 12, trong thi-phẩm Trái Đắng Quê Nhà của Nữ Thi-Sĩ Ý Nga.

4- Viết Hoa Chữ Đầu Tiên của Mỗi Câu Văn
Phải viết hoa chữ đầu tiên của mỗi câu văn của mình, chữ đầu tiên của câu văn được trích trong tác-phẩm của người khác dù là câu này được viết giữa câu văn của mình, và chữ đầu tiên của mỗi câu thơ dù là ở cuối câu thơ trên có dấu phảy (phết):
– Từ khi khai-thiên lập-địa đến này, không có loài vật nào độc-ác bằng bọn Việt-Minh, tức là bọn Cộng-Sản Việt-Nam.
– Toàn-dân đã có câu ca-dao như sau:
“Từ khi có đất có trời,
“Không gì độc-ác bằng loài Việt-Minh.”
– Bạn tôi bảo tôi rằng: “Chúng ta đều được mời đi tham-dự buổi nói chuyện của Ông Ernie Eves, Thủ-Trưởng Tỉnh-Bang Ontario, vào lúc 6 giờ 30 chiều ngày 12-9-2003 tại London, Ontario.”

 II. Các Lỗi-Lầm Mà Một Số Nhà Văn Đã và Đang Mắc Phải về Việc Viết Chữ   Hoa hay Không Viết Chữ Hoa.

  1. Thời xưa, đối với các danh-từ riêng về địa-lý, người ta chỉ viết hoa chữ cái của danh-từ đầu tiên mà thôi, chữ thứ hai không được viết hoa như: Việt-nam, Cửu-long, Thái-bình, Vĩnh-long, Vân-nam, Vân -đồn, Tây-ban-nha. Cách viết này không thích-hợp với ngữ-pháp tiếng Việt về cách viết hoa các danh-từ riêng. Các chữ trong những danh-từ địa-lý này đều phải được viết hoa thì mới đúng: Việt-Nam, Cửu-Long, Thái-Bình, Vĩnh-Long, Vân-Nam, Tây-Ban-Nha.
    2. Đa-số người cầm bút thường có thói quen không viết hoa các danh-từ chung đứng trước các danh-từ riêng như: sông Cửu-Long, núi Tản-Viên, phố HàngĐDào, trường trung-học Phan Bô.i-Châu, xa-lộ Biên-Hòa, thủđdô Sài-Gòn, v.v. Cách viết này không đúng với nguyên-tắc viết hoa các danh-từ riêng. Khi những danh-từ chung đi với danh-từ riêng để bổ-nghĩa cho danh-từ riêng thì tất cả các danh-từ này đều phải được viết hoa: Sông Cửu-Long, Núi Tản-Viên, Phố Hàng-Đào, Trường Trung-Học Phan Bội-Châu, Xa-Lộ Biên-Hòa, Thủ-Đô Sài-Gòn, v.v.
    3. Trong một vài tác-phẩm được xuất-bản vào năm 1971, một số tác-giả viết danh-từ riêng về tên người bằng cách chỉ viết hoa chữ đầu (họ) và chữ cuối cùng của tên. Các chữ đứng ở giữa của tên dù là một phần của tên kép cũng đều không được viết hoa. Họ viết những tên kép này có khi có gạch nối có khi không và chỉ viết hoa chữ đầu hay chữ thứ hai của tên kép này mà thôi:  Lê Thái-hậu, Lê Thái-tổ, Lý Thần-tông, Lý Anh-tông, Nguyễn thành Ý, Nguyễn quang Hiển, Phan quí Hữu, v.v. Cách viết này không đúng với nguyên-tắc viết chữ hoa về tên riêng của người vì các chữ trong danh-từ riêng về tên người đều phải được viết hoa, nhất là các tên kép. Các danh-từ riêng về tên người ở trên phải được viết lại như sau mới đúng: Lê Thái-Hậu, Lê Thái-Tổ, Lý  Thần-Tông, Lý Anh-Tông, Nguyễn Thành-Ý, Nguyễn Quang-Hiển, Phan Quí-Hữu.
    4. Hiện nay, trong một số báo-chí và sách-vở, người ta không viết hoa cả tựa-đề bài thơ hay bài văn lẫn tên tác-giả của bài thơ hay bài văn đó. Cách viết này trái với nguyên-tắc viết hoa các danh-từ riêng về tên người và về tựa-đề các bài thơ hay bài văn. Tên tác-giả dĩ-nhiên phải được viết hoa, nếu không viết hoa thì đó là sự sai-lầm nghiêm-trọng vì vừa trái nguyên tắc vừa phạm tội vô-lễ. Sởđĩ tư.ađdề của các bài văn hay bài thơ phải được viết hoa là vì chúng là danh-từ riêng, tức là tên riêng của bài thơ hay bài văn. Đã là tên riêng thì phải được viết hoa, nếu không viết hoa thì đó là sự sai-lầm
    trầm-tro.ng.
    5. Trong quá-khứ cũng như hiện-tại đã có người viết hoa những danh-từ chung một cách vô lý như sau: “dung Da So truoc, roi dung Luat Le Sau de bat phe Thieu so phai phuc tung.” Điều này chứng-tỏ tác-giả của câu văn này không biết nguyên-tắc về cách viết chữ hoa và cách dùng kỹ-thuật để nhấn mạnh các chữ hay ý- kiến cho bạn đọc chú-ý.
    Khi viết văn, muốn nhấn mạnh những chữ thuộc loại danh-từ chung thì ta không được viết hoa những chữ đó mà nên để những chữ đó trong dấu “ngoặc kép,” nên gạch dưới các chữ đó, nên viết nghiêng các chữ đó, hay nên viết nét đậm cho các chữ  đó. Nếu viết hoa những chữ đó là ta đã làm điều sai lầm. Khi những chữ mà ta muốn nhấn mạnh lại là danh-từ riêng thì ta vừa phải viết hoa những chữ đó vừa viết đậm nét, viết chữ nghiêng, hay gạch dưới các chữ đó. Câu văn có các danh-từ chung  được viết hoa ở trên phải được sửa lại như sau mới đúng: “… dùng đa-số trước rồi dùng luật-lệ sau để bắt phe thiểu-số phải phục-tùng.”

     III. Kết-Luận
    Nguyên-tắc viết chữ hoa trong tiếng Việt hết sức rõ-ràng và dễ nhớ. Tuy-nhiên, đã viết văn thì thế nào cũng có khi mắc lỗi-lầm không những về việc viết chữ hoa mà còn vướng phải các lỗi-lầm khác nữa. Việc mắc lỗi trong khi viết văn là chuyện bình-thường. Khi viết văn, bất cứ ai cũng có lỗi, không nhiều thì ít. Tuy-nhiên, các nhà văn càng có kinh-nghiệm viết văn thì lỗi càng ít.
    Vấn-đề chính-yếu là sau khi viết xong bài nào, chúng ta phải đọc đi đọc lại càng nhiều lần càng tốt để sửa-chữa, tu-chính, hay nhuận-sắc bài viết của mình. Nếu có thể, nên nhờ người có kinh-nghiệm viết văn và có kiến-văn về đề-tài của bài mình viết để họ đọc giùm và sửa bài đó cho mình. Có như thế thì các lỗi sẽ bớt đi chứ chưa chắc đã sửa hết được. Chính vì thế mà có nhiều nhà văn đã dành rất nhiều thì giờ để sửa-chữa tác-phẩm của họ đến cả chục lần trước khi cho xuất-bản nên tác-phẩm của họ có rất ít lỗi chứ không phải hoàn-toàn không có lỗi. Tuy đã được sửa đi sửa lại mà tác-phẩm vẫn còn có lỗi, đó là chuyện bình-thường vì con người có thất-tình nhục-dục nên việc mắc lỗi-lầm là lẽ dĩ-nhiên.
    Chính vì lỗi-lầm ai cũng có thể mắc phải nên một trường học ở Canada đã công-khai phổ-biến cho ho.c-sinh các tài-liệu về “Rights” (Quyền-Lợi) và “Responsibilities” (Trách-Nhiệm) mà trong đó có hai câu như sau: “I have the right to make mistakes” (Tôi có quyền làm điều sai-lầm) và ” I have a responsibility to respect the rights of others to make mistakes” (Tôi có trách-nhiệm tôn-trọng quyền của người khác làm điều sai-lầm). Thấy điều kỳ-cục này, tôi đã viết thư cho nhà trường đó để phản đối việc này với đại-ý là lỗi-lầm thì ai cũng có thể mắc phải nhưng chỉ do vô-tình hay sơ-ý mà thôi. Nếu chấp-nhận có quyền làm lầm lỗi, tức là biết đó là điều sai lầm mà vẫn còn cố tình làm, và chấp nhận quyền làm điều sai lầm của người khác thì có nghĩa là nhà trường đã khuyến-khích  học-sinh cứ việc nói bậy, làm bậy, và viết bậy. Như thế thì việc này có tính cách phản giáođục. Họ không viết thư trả lời tôi mà chỉ gọi điện-thoại cho tôi để cám ơn và nói là lời góp ý của tôi rất hữu-lý.
    Điều quan-trọng là khi ta mắc lỗi mà có người góp ý sửa cho mình thì mình phải vui vẻ đón nhận để nghiên-cứu lại. Những nhà văn chân-chính bao giờ cũng vui vẻ đón nhận sự góp ý của đô.c-giả để cứu-xét lại bài của mình. Nếu lời góp ý đúng, ta phải viết thư cảm ơn họ, nếu họ góp ý sai thì ta cũng phải giải-thích một cách lịch-sự và lễ-độ cho họ hiểu rõ chứ không được chửi-bới người ta. Khi người ta có lòng tốt chỉ bảo điều lầm-lẫn của mình mà mình lại vì tự-ái chửi-bới người ta thì mình là loại người vô-lễ, vô-liêm-sỉ, và là hạng tiểu-nhân.
    Tóm lại, muốn viết văn cho giỏi, ta phải luôn-luôn nghiên-cứu và học-hỏi những điều mình chưa rõ để viết cho đúng cho hay vì biển học mênh-mông mà trí người có hạn. Vả lại, người xưa cũng nói rằng: “Người ta thông-minh thánh-trí đến đâu cũng không sao biết cho hết mọi sự-vật được.” Chính vì thế, chúng ta phải luôn-luôn tìm hiểu, nghiên-cứu, và ho.c-hỏi thêm để làm cho kiến-văn của mình càng ngày càng uyên-thâm và kỹ-thuật viết văn càng ngày càng tinh-nhuệ.

    Canada, 2003

Cách Sử Dụng “I” và “Y” và Nguyên Tắc Đánh Dấu trong Tiếng Việt—Khải Chính Phạm Kim Thư

Nhiều bạn trẻ ta thán rằng khi viết văn, một số người có khuynh hướng đổi “y” thành “i” trong các trường hợp như “Bắc Mỹ” thành ra “Bắc Mĩ,” “Quý Mùi” thành ra “Quí Mùi,” và “thế kỷ” thành ra “thế kỉ,”v.v. Họ yêu cầu tôi viết bài để giúp họ hiểu rõ tại sao lại có những trường hợp như thế. Chính vì thế, chúng tôi mới có động lực để viết bài “Cách Sử Dụng ‘i’ và ‘y’ trong Tiếng Việt.” Muốn hiểu rõ về cách ghép vần với nguyên âm “i” hay “y” và phương pháp đánh dấu trong tiếng Việt, trước hết chúng ta cần ôn lại về các chữ cái (tự mẫu) cũng như các nguyên âm và phụ âm.

I. Nguyên âm và Phụ âm trong Tiếng Việt

Chữ ” i ” là chữ cái (tự mẫu) thứ 9 trong 23 chữ cái của tiếngViệt và “y” là chữ cái cuối cùng trong 23 chữ cái của tiếng Việt.

23 chữ cái của tiếng Việt gồm có: a, b, c, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n, o, p, q, r, s, t, u, v, x, y. Trong 23 chữ cái này, có 6 nguyên âm chính (a, e, i, o, u, y) và 17 phụ âm đơn (b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x). Bốn nguyên âm “a, e, o, u” trong số 6 nguyên âm chính “a,e, i, o, u, y” này còn có thêm các dấu nữa (ă, â, ê, ô, ơ, ư) nên 4 nguyên âm này trở thành 10 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, o, ô, ơ, u, ư. Chính vì lý do này mà tiếng Việt có tất cả 12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y. Ngoài 17 phụ âm đơn, tiếng Việt còn có các phụ âm kép. Các phụ âm kép do hai hay ba phụ âm đơn làm thành (ch, gh, kh, ng, ngh, nh, ph, th, tr) hoặc do một phụ âm đơn và một nguyên âm chính (i hay u) làm thành (gi, qu). Chính vì thế, tiếng Việt có tất cả 28 phụ âm: b, c, ch, d, đ, g, gh, gi, h, k, kh, l, m, n, ng, ngh, nh, p, ph, q, qu, r, s, t, th, tr, v, x, và 12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y.

II. Cách Sử Dụng Nguyên Âm “I” và “Y”

Tùy theo mỗi vần và theo nghĩa của mỗi chữ, có những trường hợp ta chỉ được dùng “y” hay “i” để viết, chứ không thể dùng “i” để thay thế cho “y” hay dùng “y” để thay thế cho “i” được. Ở một số trường hợp khác, trong cùng một chữ, có người viết bằng “i” có người viết bằng “y” như trong trường hợp “quí” hay “quý” chẳng hạn. Tuy nhiên, theo phong tục tập quán, hầu hết các nhà văn thường viết các chữ với nguyên âm “y” hơn là”i” khi các chữ này có cùng một nghĩa và phát âm giống nhau. Lý do chính là vì các chữ có nguyên âm “y” trông có vẻ lịch sự, kính trọng, quý mến, trang nhã, mỹ thuật, và đầy tình cảm hơn những chữ viết bằng nguyên âm “i,” chẳng hạn như trong trường hợp của nhóm chữ “quý văn hữu,” “quý ông quý bà,” “quý quan khách,” “quý bạn,” “quý vị,” “quý chiến hữu,” hay “quý cụ,”v.v.

A. Những Trường Hợp Có Thể Dùng “I” hay “Y” Cũng Được

Tùy theo tập quán hay thói quen, có người dùng “i” hay “y” để viết cùng một chữ. Dù là được viết dưới dạng bằng nguyên âm “i” hay “y,” nhưng khi được đọc lên thì chữ này vẫn có cùng một âm thanh và cùng một nghĩa.

Thí dụ:

– Ì ạch, ỳ ạch; ì ra, ỳ ra; i như, y như; v.v.

– Hi hữu, hy hữu; du hí, du hý; hí đài, hý đài; hí hởn, hý hởn; hí hửng, hý hửng; hí họa, hý họa; hí kịch, hý kịch; hí viện, hý viện; hí trường, hý trường; báo hỉ, báo hỷ; hoan hỉ, hoan hỷ; hỷ tín, hỉ tín; v.v.

– Kí cóp, ký cóp; kì cạch, kỳ cạch; kì cọ, kỳ cọ; một li, một ly (millimeter), v.v.

– Mỹ lệ, mĩ lệ; mỹ cảm, mĩ cảm; mỹ mãn, mĩ mãn; mỹ miều, mĩ miều; mỹ nữ, mĩ nữ; mỹ nghệ, mĩ nghệ; mỹ nhân, mĩ nhân; mị dân, mỵ dân; v.v.

– Ti tiện, ty tiện; ty tiểu, ti tiểu; tự ty mặc cảm, tự ti mặc cảm; ty trưởng, ti trưởng; năm tý, năm tí; tỳ bà, tì bà; tỳ nữ, tì nữ; tỳ tướng, tì tướng; thị tỳ, thị tì; tỳ thiếp, tì thiếp; tỳ vết, tì vết; tỳ vị, tì vị; tỉ dụ, tỷ dụ; một tỉ đồng, một tỷ đồng; tỉ lệ, tỷ lệ; tỉ mỉ, tỷ mỉ; tỷ muội, tỉ muội; tỉ như, tỷ như; tỉ số, tỷ số; tỉ thí, tỷ thí; tỉ trọng, tỷ trọng; năm tỵ, năm tị; tỵ nạn, tị nạn; tị nạnh, tỵ nạnh; v.v.

– Qui, quy (con rùa); nội qui, nội quy; chính qui, chính quy; vu qui, vu quy; qui chế, quy chế; qui củ, quy củ; qui định, quy định; qui hàng, quy hàng; qui hồi, quy hồi; qui luật, quy luật; qui mô, quy mô; qui nạp, quy nạp; qui phục, quy phục; qui tắc, quy tắc; qui thuận, quy thuận; qui tiên, quy tiên; qui tội, quy tội; qui tụ, quy tụ; qui ước, quy ước; qui y, quy y; quí báu, quý báu; quí danh, quý danh; quí hóa, quý hóa; quí hồ, quý hồ; quí hữu, quý hữu; quí khách, quý khách; Quí Mùi, Quý Mùi; quí nhân, quý nhân; quí nữ, quý nữ; quí ông, quý ông; quí phái, quý phái; quí phi, quý phi; quí quốc, quý quốc; quí san, quý san; quí tòa, quý tòa; quí tộc, quý tộc; quí trọng, quý trọng; quí tử, quý tử; quí vật, quý vật; quí vị, quý vị; quì gối, quỳ gối; quì lạy, quỳ lạy; quỉ kế, quỷ kế; quỉ quái, quỷ quái; quỉ quyệt, quỷ quyệt; quỉ sứ, quỷ sứ; quỉ thần, quỷ thần; thủ quĩ , thủ quỹ; ngân quĩ, ngân quỹ; ký quĩ, ký quỹ; quĩ đạo, quỹ đạo; quị lụy, quỵ lụy…

Ghi Chú:

* Khi viết văn, nhiều người chỉ ghép phụ âm kép “qu” với nguyên âm “y.” Tuy nhiên, trong vài quyển Việt Nam Tự Điển, tác giả chỉ đề cập trường hợp của các chữ do phụ âm kép “qu” ghép với nguyên âm “i” mà thôi. Còn về phụ âm kép “qu” ghép vời nguyên âm “y” thì các tác giả chỉ ghi: “quy, xt qui; quý, xt quí; quy,ø xt quì; quỷ, xt quỉ; quy,õ xt quĩ; quỵ, xt quị” (chữ “xt” là dạng viết tắt của “xem từ”). Có quyển tự điển lại ghi “quy (qui),” “quý (quiù),” “quỳ (quiø),” “quỷ (quỉ),” “quỹ (quiõ),” và “quỵ (quị).” Điều này có nghĩa là ta dùng “y” hay “i” để viết chữ có cùng một nghĩa cũng được.

* Trong trường hợp danh từ riêng như tên thành phố, tên nước, hay tên người, v.v., nếu các chữ đã được viết bằng “i” hay “y” thì ta không được quyền tự ý thay đổi như trong trường hợp của tên thành phố hay tên người sau đây: Thị xã Qui Nhơn, Mỹ Quốc, Mỹ Châu, tỉnh Mỹ Tho, Mị Châu (con gái vua Thục An Dương Vương lấy Trọng Thủy, con của Triệu Đà), Mị Nương (con gái vua Hùng Vương), GS. Doãn Quốc Sỹ, và CH Trần Thy Vân, v.v.

* Khi đánh các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, và nặng lên chữ “quy” hay “qui,” chúng ta phải đánh dấu lên trên nguyên âm “y” hay “i” vì chữ “u” trong chữ phụ âm kép “qu” đã cùng vơiù “q” để biến thành phụ âm kép chứ không còn là một nguyên âm nữa. Trong trường hợp phụ âm kép “th” ghép với vần “ui” hay “uy” thì các dấu phải đánh lên nguyên âm thứ nhất “úi” (thúi) và “úy” (thúy). Nếu nguyên âm thứ 2 có dấu sẵn như “uê” hay “uơ” thì các dấu phải đánh lên nguyên âm thứ 2 này “uế” (thuế) và “uở” (thuở). Xin xem tiếp phần “III” nói về Nguyên Tắc Đánh Dấu Trong Tiếng Việt ở dưới đây.

B. Những Chữ Chỉ Được Viết với Nguyên Âm I”

1. Những Chữ Có Các Vần Sau Đây Chỉ Được Viết với Nguyên Âm “I”: ai, ia, ich, iêc, iêm, iên, iêng, iêp, iết, iêu, im, in, inh, ip, it, iu, oai, oi, ôi, ơi, ui, uôi, ưi, ươi, v.v.

-Ai: Ai oán, thất bại, cải dạng, chài lưới, dai dẳng, khán đài, gái tơ, âm giai, hài lòng, khai giảng, tương lai, mái nhà, van nài, ngái ngủ, lải nhải, lẽ phải, quái kiệt, rải rác, sai bảo, tai vạ, thái độ, từng trải, vai trò, tiêu xài, v.v.

– Ia: Ỉa đái, bia miệng, địa chỉ, đôi hia, trông kìa, khía cạnh, lia lịa, mỉa mai, cái nĩa, nghĩa cử, tứ phía, chầu rìa, sỉa xuống, tia sáng, cái thìa, tría lịa, hú vía, xỉa răng, v.v.

– Ich: Ích lợi, bích chương, chích thuốc, xê dịch, mục đích, hích nhau, đả kích, khiêu khích, lý lịch, tĩnh mịch, chật ních, nghịch ngợm, nhúc nhích, phình phịch, cũ rích, sình sịch, diện tích, sở thích, chỉ trích, xích đạo, v.v.

– Iêc: Xanh biếc, chiếc thuyền, cá diếc, điếc tai, liếc mắt, mắng nhiếc, thương tiếc, ấm thiếc, công việc, xem xiếc, v.v.

– Iêm: Châm biếm; chiêm ngưỡng, bao diêm, điềm lành, hiếm hoi, kiếm hiệp, liêm sỉ, niêm luật, truyền nhiễm, chuyện phiếm, siểm nịnh, tiêm thuốc, thiêm thiếp, viêm lương, Xiêm La, v.v.

– Iên: Biên bản, chiến tranh, diễn thuyết, điên đảo, hiên ngang, kiên cố, xui khiến, liên bang, miền xuôi, nghiên cứu, tất nhiên, luân phiên, trước tiên, thiên vị, triền miên, viên mãn, xiên xẹo, v.v.

– Iêng: Biếng nhác, chiêng trống, chết điếng, tháng giêng, hiêng hiếng, kiêng khem, khiêng vác, liểng xiểng, súc miệng, nghiêng ngửa, riêng biệt, siêng học, hòm siểng, mang tiếng, linh thiêng, xiềng xích, v.v,

– Iêp: Ngọc diệp, trùng điệp, hiếp đáp, duyên kiếp, khiếp sợ, tầy liếp, cơ nghiệp, nhiếp ảnh, trực tiếp, thiệp mời, v.v.

– Iêt: Biết điều, chiết cây, diệt vong, giết giặc, kiệt lực, tinh khiết, quyết liệt, miệt mài, ác nghiệt, nhiệt huyết, quân phiệt, chạy riết, siết chặt, trinh tiết, kiến thiết, triết lý, viết văn, Việt Nam, xiết chặt, v.v.

– Iêu: Phát biểu, chiếu cố, cái diều, điêu luyện, hiếu đễ, kiêu ngạo, cô liêu, văn miếu, nồi niêu, phì nhiêu, phiêu bạt, bún riêu, siêu nhân, tiêu chuẩn, thiếu phụ, thủy triều, xiêu vẹo, v.v.

– Im: Im lặng; bím tóc, con chim, dìm thuyền, him híp, kim chỉ, lim dim, mỉm cười, con nhím (dím), chiếu phim, rim cá, trái sim, tìm tòi, chú thím, v.v.

– In: In sách, bịn rịn, chín chắn, gìn giữ, kín đáo, mịn màng, nín hơi, nghìn đời, nhịn nhục, đèn pin, phin cà phê, nước rịn ra (nhỏ ra, rỉ ra), tin cậy, năm thìn, vịn cớ, xin lỗi, v.v.

– Inh: Inh ỏi, binh lính, chính giữa, dinh dưỡng, đỉnh chung, hình ảnh, kinh đô, khinh bỉ, linh thiêng, minh bạch, an ninh, nghinh chiến, nhinh nhỉnh, má phính, rình mò, sinh khí, tinh khiết, thính giả, vĩnh biệt, xinh đẹp, v.v.

– Ip: Lừa bịp, chíp chíp, dịp may, híp mắt, kịp thì, nhịp điệu, v.v.

– It: Ít ỏi, bịt miệng, chi chít, đá đít, hít hơi, đen kịt, khít khao, lít nước, mịt mờ, con nít, đông nghịt, quịt nợ, ríu rít, đen sịt, xa tít, thin thít, con vịt, xịt thuốc, v.v.

– Iu: Ỉu xịu, bận bịu, chịu khó, dịu dàng, hiu hắt, kĩu kịt, líu nhíu, níu lại, nhíu mắt, phụng phịu, ríu rít, tiu nghỉu, thiu thối, trìu mến, víu vào, bé xíu, v.v.

– Oai: Oai hùng, choai choái, đoái hoài, khoái chí, loài vật, năm ngoái, ngoại cảm, mệt nhoài, soái phủ, toại nguyện, thoải mái, xoai xoải, v.v.

– Oi: Oi bức, thầy bói, cõi Phật, chọi gà, theo dõi, đòi nợ, gọi dạ bảo vâng, giỏi giang, hói đầu, khỏi bệnh, lòi tói, mỏi mệt, nòi giống, ngòi bút, nhoi nhói, rọi đèn, soi gương, củ tỏi, thói đời, trói buộc, vòi nước, xoi bói, v.v.

– Ôi: Ôi chao! Bối rối, cỗi rễ, chồi cây, dồi dào, đôi khi, gội đầu, giồi phấn, hối cải, khôi phục, lôi thôi, mối tình, nối dõi, ngồi xuống, nhồi thịt, phối hợp, rối loạn, sôi nổi, tối cao, thôi thúc, trôi chảy, vội vã, xối xả, v.v.

– Ơi: Ới trời ơi! Bơi lội, dời đổi, đời người, giới thiệu, hơi thở, khởi hành, lợi hại, mới tinh, nơi chốn, ngợi khen, phơi phới, rời khỏi, sợi dây, tơi bời, thời sự, trời biển, vời vợi, xới đất,v.v.

– Ui: Ủi quần áo, búi tóc, cúi đầu, chùi tay, dùi trống, đui mù, giúi tiền, húi tóc, khui thùng gạo, lui lủi, mui xe, nùi lửa, ngùi ngùi, nhủi vào lỗ, phủi bụi, rủi ro, sui gia, túi bụi, thui thủi, trụi lủi, vui vẻ, xui khiến, v.v.

– Ưi: Khung cửi, chửi mắng, gửi thư, ngửi hơi,v.v.

– Uôi: Buổi sáng, cuối cùng, chuỗi hạt, duỗi chân, đuôi ngựa, muối mặt, nuôi dưỡng, nguôi giận, ruổi theo, suối vàng, tuổi tác, xuôi lòng, v.v.

– Ươi: Quả bưởi, cưới hỏi, dưới nước, lười biếng, mười mươi, người ta, rười rượi, lò sưởi, tươi cười,v.v.

2. Những Chữ Sau Đây Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “I” Bằng Cách Ghép Phụ Âm Đơn với Nguyên Âm “I.”

-“B-i”: Bi ai, hòn bi, bí ba bí bô, bí mật, quả bí, vận bí, say bí tỉ, li bì, so bì, phong bì, bì bạch, bì phu, bỉ sắc tư phong, bỉ thử, bỉ mặt, bĩ cực, bị tù, bị động, phòng bị, bị gậy, bị té, v.v.

– “D-i”: Di cư, Di Đà, di tích, man di, tru di, di ngôn, di hài, di họa, di truyền, di vật, dí vào, bẹp dí, dì ghẻ, dỉ tai, bất đắc dĩ, khả dĩ, dĩ nhiên, dĩ vãng, kỳ dị, dị đoan, dị nghị, v.v.

– “Đ-i”: Đi bộ, đi đời, đi cầu, đi đứt, đi thi, đi tu, đi vắng, đi đò, lờ đi, bỏ đi, lẹ đi, đi lẹ, làm đi, đì đẹt đì đùng, đĩ điếm, v.v.

– “G-i”: Gí mũi vào, can gì, có gì đâu, v.v.

– “H-i”: Khóc hi hi, cười hi hỉ, ngựa hí, hí hởn, hí hoáy, hí hởn, hí hửng, hì hà hì hục, cười hì hì, hỉ mũi, hỉ hả, v.v.

– “K-i”: Ki lô mét, một kí, kì kèo, kị (cụ), v.v.

– “L-i”: Li bì, nhỏ li ti, lí la lí lô, lí nhí, lì lợm, lì xì, v.v.

– “M-i”: Mi (mày), mi (nốt đàn), lông mi, mí mắt, bánh mì, Mị Châu, mị dân, Mị Nương, v.v.

– “N-i”: Chỗ ni chỗ nớ (chỗ này chỗi kia), ni cô, nỉ non, nỉ (dạ, len), v.v.

– “R-i”: Khóc như ri, làm ri (làm thế này), nước chảy ri rỉ, nhỏ rí, xanh rì, rì rầm (thì thầm), chậm rì rì, mưa rì rào, mưa rỉ rả, rỉ từng giọt, rỉ tai, rỉ hơi, v.v.

– “S-i”: Cây si, si tình, ngu si, gắn si, đen sì, bán sỉ, liêm sỉ, sỉ nhục, sỉ vả, văn sĩ, kẻ sĩ, sĩ tử, sĩ hoạn, sĩ phu, nghệ sĩ, sĩ quan, binh sĩ, sĩ diện, sĩ khí, v.v.

– “T-i”: Tôn ti trật tự, kẻ tôn người ti, ti hí, ti ma (để tang 3 tháng), ti toe, ti trúc, ti hí, ti tỉ tì ti, tí hon, một tí, tí nhau, tí teo, tí tẹo, tí xíu, tí ti, tí tị, tí nữa, tí chút, tí tách, tí toe tí toét, cậu bé Tí, tí xíu, tì tích, tì hưu, tì tì, tì tay xuống, ngọc tỉ, tỉ tê, lòi tĩ, ganh tị, ghen tị, tị tẹo, v.v.

– “V-i”: Vi cá (vây cá), vi trùng, vi hành, chu vi, hiển vi, huyền vi, hành vi, vi hiến, vi âm, vi vu, vi vút, cái ví, ví von, ví bằng, ví dụ, ví như, trị vì, tại vì, nể vì, vì đâu, vì rằng, bởi vì, làm vì, thay vì, vì thế, vì vèo, vỉ đập ruồi, thủ vĩ, vĩ tuyến, vĩ đại, vĩ đạo, vĩ đại, vĩ nhân, vĩ tuyến, ngôi vị, vô vị, quý vị, bài vị, tự vị, vị chi, tì vị, vị lai, vị tha, vị chi, mùi vị, gia vị, vị giác, vị hôn thê, vị kỷ, vị lai, vị lợi, vị nể, vị tất, vị thành niên, vị trí, vị vong nhân, v.v.

– “X-i”: Xi đái, gắn xi, xi măng, chuồng xí, xí gạt, xí nghiệp, cờ xí, xí chỗ, xí phần, xí xóa, xí xa xí xô, xì hơi, xì xào, xì dầu, xì gà, xì xằng, xì xụt, xì xụp, xì xồ, bạch xỉ, xỉ mũi, xa xỉ, xỉ vả, xị mặt ra, v.v.

3. Những Chữ Sau Đây Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “I” Bằng Cách Ghép Phụ âm Kép với Nguyên Âm “I.”

“Ch-i”: Làm chi vậy, tứ chi, hình chữ chi, thập nhị chi, chi thu, chi nhánh, chí khí, chi lan, tạp chí, chí hiếu, chí cuối, con chí, hạ chí, bút chì, chỉ chỏ, chỉ biết, sợi chỉ, tôn chỉ, chứng chỉ, cấm chỉ, Giao Chỉ, điểm chỉ, chỉ bảo, chỉ số, chỉ trích, chị em, v.v.

“Gh-i”: Ghi chép, ghi nhớ, ôm ghì, v.v.

“Kh-i”: Khi xưa, khinh khi, khi không, khi quân, khi đi, không khí, khí cụ, khí cốt, tức khí, tinh khí, khí cầu, khí hậu, khí phách, khí quản, khí tiết, khí tượng, khí huyết, khí khái, khí sắc, khí vật, đồ khí gió, cười khì, ngủ khì, con khỉ, khỉ khô, v.v.

“Ngh-i”: Nghi hoặc, nghi lễ, tiện nghi, nghi gia, nghi ngút, nghí ngoáy, vô nghì, nghỉ ngơi, nghĩ ngợi, lo nghĩ, hữu nghị, quyết nghị, nghị lực, nghị luận, v.v.

“Nh-i”: Nhi đồng, nhí nhảnh, hạng nhì, nhì nhằng, to nhỉ, đẹp quá nhỉ! Nhĩ mục(tai mắt), mộc nhĩ, nhị đào, đệ nhị, nhị tì, Nhị Độ Mai, Nhị Hà, v.v.

“Ph-i”: Chánh phi, phi mỡ, phi cơ, phi tang, phi mã, phi chiến, phi đạn, Phi Châu, Phi Luật Tân, phi tần, phi phàm, phi lý, phí phạm, phát phì, phì cười, phì nhiêu, phì phà phì phèo, thở phì phì, phỉ lòng, thổ phỉ, phỉ báng, phỉ chí, phỉ sức, phỉ nhổ, phỉ vào mặt, phị mặt ra, v.v.

“Th-i”: Thi cử, thi sĩ, Kinh Thi, con nhà thi lễ, dòng dõi thi thư, thi hài, cỏ thi, thi ân, thí sinh, thí nghiệm, bố thí, thí mạng, thí phát, thí dụ, đói thì ăn, thì giờ, dậy thì, cây thì là, thì ra, thì thầm, thì thọt, thì thùng, hồ thỉ, quả thị, dấu hoa thị, thị vệ, thị giác, thị thực, thị uy, kỳ thị, thị hiếu, yết thị, thị dục, Phạm Thị Thu, miệt thị, thị phi, đích thị, thị vệ, thị nữ, thị xã, v.v.

“Tr-i” Bạn tri âm, bố trí, tri giác, trí mạng, tri phủ, trí sĩ, trí tuệ, thông tri, trí thức, trí trá, bảo trì, duy trì, đan trì, trì giới, trì hoãn, phù trì, thành trì, trì trọng, trụ trì, ấu trĩ, bệnh trĩ, chim trĩ, bình trị, cai trị, giá trị, trị liệu, trị tội, trị thủy, v.v.

C. Những Chữ Chỉ Được Viết với Nguyên âm “Y”

1. Những Chữ Có Các Vần Sau Đây Chỉ Được Viết với Nguyên Âm “Y”: ay, ây, oay, uây, uy, uya, uych, uyên, uyêt, uynh, uyt, uyu, yên, yêt, và ynh.

– Ay: Áy náy, tụi bay, cay cú, ăn chay, day dứt, dạy bảo, đáy nồi, gay gắt, giày dép, hay chữ, khay nước, lay động, may mắn, nảy mầm, ngay thật, nhay nháy, dao phay, quay mình, ray rứt, say mê, tay chân, thay đổi, trảy (hái) quả mơ, vay nợ, xảy ra, v.v.

– Ây: Cái ấy, bây giờ, cây cảnh, cây đàn, chầy cối, dây thép, đây này, gây gổ, giây phút, hây hây, lầy nhầy, mấy quyển sách, nẩy mầm, ngây ngất, nhầy nhụa, phây phây, quây quần, rầy rà, sẩy đàn, tầy trời, thầy mẹ, trẩy hội, vây cánh, xây nhà,v.v.

* Trường hợp sau đây là ngoại lệ vì chữ viết và đọc khác nhau nhưng có cùng một nghĩa: quải gánh, quảy gánh, hay quẩy gánh (đều có cùng một nghĩa là gánh trên vai).

– Oay: Cái khoáy, loay hoay, nghí ngoáy, xoay vần, v.v.

– Uây: Khuây khỏa, ngoe nguẩy, v.v.

– Uy: Uy danh, cung thương giốc chủy vũ, duy ngã, huy hiệu, khuy áo, lũy tre, nguy cấp, suy nhược, tuy nhiên, thủy chung, truy tố, cổ xúy, v.v.

– Uya: Thức khuya, v.v.

– Uych: Ngã uỵch, huých nhau, huỳnh huỵch, v.v.

– Uyên: Uyên bác, chuyên cần, duyên dáng, huyên náo, khuyên bảo, luyến ái, nguyên chất, nhuyễn thể, bệnh suyễn, tuyên dương, thuyên chuyển, truyền thống, xuyên tạc, v.v.

– Uyêt: Chuyết kiến (ý kiến thô thiển của tôi), duyệt binh, huyết mạch, khuyết điểm, nguyệt liễm, tuyệt diệu, thuyết phục, điểm xuyết, v.v.

– Uynh: Huynh đệ, khuynh hướng, luýnh quýnh, v.v.

– Uyt: Huýt sáo, lườm nguýt, xuýt chết, v.v.

– Uyu: Khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, v.v.

– Yên (qu + yên): Quyên sinh, quyến thuộc, quyền lợi, chính quyền, lưỡng quyền, quyền quý, quyển sách, ống quyển, v.v.

– Yêt (qu + yêt): Cương quyết, bí quyết, hành quyết, quyết nghị, xảo quyệt, v.v.

– Ynh (qu + ynh): Mừng quýnh, cây quỳnh, quỳnh bôi, quỳnh tương, v.v.

2. Những Chữ Sau Đây Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “Y” Đứng Một Mình hay Đứng Đầu Mỗi Chữ:

– Nguyên Âm “Y” Đứng Một Mình:

Y đến rồi, y án, vàng y, qui y, chuẩn y hay y chuẩn, y hẹn; y hi, y sĩ, qui y, y theo, ý chí, ý định, ý nhị, ý kiến, ý nghĩa, ý thích, ý tứ, ý vị, ỷ mình, ỷ lại, ỷ lại, ỷ quyền, béo ỵ, v.v.

– Nguyên Âm “Y” Đứng Đầu Mỗi Chữ:

Yêm hoạn (hoạn quan), yếm thế, yểm bùa, cái yếm, yểm trợ, v.v.; Yên Đổ (Nguyễn Khuyến), Bình yên, yên hà, yên xe, yên đổ (tửu sắc yên đổ), yên trí, yến tiệc, yến oanh, yến sào, v.v.; con yểng; yết hầu, yết kiến, niêm yết, yết thị, yết hậu (lối thơ mà câu cuối cùng chỉ có một chữ), v.v.; yêu cầu, yêu chuộng, yêu đạo, yêu quái, yêu vận, phái yếu, yếu điểm, yếu tố, chết yểu, yểu điệu, yểu tướng, v.v.

3. Những Chữ Sau Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “Y” Bằng Cách Ghép Phụ Âm Đơn với Nguyên Âm “y.”

-“H-y”: Hy Lạp, hy vọng, hy sinh, hy hãn, hý lộng, hý ngôn, hỷ lạc, hỷ nộ, hỷ sự, v.v.

-“K-y”: Ký âm, bi ký, chữ ký, ký danh, ký giả, ký hiệu, ký lục, nhật ký, ký quỹ, ký sinh trùng, ký sự, ký tên, ký túc xá, ký thác, thư ky,ù ký ức, Bắc Kỳ, cầm kỳ thi hoạ, kỳ cục, kỳ cùng, cực kỳ, kỳ cựu, kỳ diệu, kỳ duyên, kỳ đà, kỳ đài, đến kỳ, kỳ đồng, kỳ được, kỳ ghê, kỳ hạn, kỳ hào, hiếu kỳ, học kỳ, kỳ khôi, kỳ khu, kinh kỳ, kỳ lạ, kỳ lão, kỳ lân, kỳ lưng, kỳ mục, Nam Kỳ, kỳ ngộ, phân kỳ, kỳ phùng địch thủ, kỳ quặc, kỳ quái, kỳ quan, quốc kỳ, kỳ thị, kỳ thú, kỳ thực, Trung Kỳ, kỳ vọng, kỷ cương, ghế trường kỷ, ích kỷ, kỷ luật, kỷ lục, kỷ niệm, kỷ nguyên, tự kỷ, thế kỷ, kỷ yếu; kỹ càng, kỹ nghệ, làm kỹ, kỹ nữ, ngủ kỹ, kỹ nhé, kỹ sư, kỹ thuật, nhà có kỵ (ngày giỗ), đố kỵ, kỵ binh, kỵ gió, kỵ mã, kỵ nhau, kỵ sĩ, v.v.

– “L-y”: cái ly, ly biệt, quẻ ly, hồ ly, ly bôi (chén rượu uống lúc chia tay), ly dị, ly gián, ly hương, ly khai, ly kỳ, ly tán, giáo lý, lý ngư, cố lý, hành lý, đào lý, lý lẽ, lý hóa, lý lịch, lý sự, lý tài, lý thuyết, lý trí, lý tưởng, lý trưởng, mạ lỵ, bệnh kiết lỵ, v.v.

– “M-y”: Bắc Mỹ, Mỹ Châu, Mỹ Quốc, Mỹ kim, hoa mỹ, mỹ sắc, thẩm mỹ, Mỹ Tho, mỹ thuật, mỹ tục, mỹ từ pháp, mỹ tửu, mỹ xảo, mỹ vị, mỹ viện, mỹ ý, v.v.

– “T-y”: Ty mật thám, công ty, tỳ tạng, tỳ kheo, tỳ vị, tỷ đối, tỵ hiềm, v.v.

III. Nguyên Tắc Đánh Dấu trong Tiếng Việt:

– Nếu một chữ có phụ âm đơn hay phụ âm kép ghép với một nguyên âm, thì các dấu phải đánh vào nguyên âm đó: bé, tá, phò mã, khỉ, xạ thủ, v.v.

– Nguyên âm “u” và “i” trong phụ âm kép “qu” và “gi” đã cùng với phụ âm “q” và “g” để biến thành phụ âm kép chứ không còn là một nguyên âm nữa. Chính vì thế mà hai phụ âm kép này ghép với 1 hay 2 nguyên âm thì các dấu phải đánh vào nguyên âm ở ngay sau phụ âm kép này: quý, quí, quá, quà, quả, quỹ quạ, già, giá, giữa, giác, giải, giả, v.v.

– Nếu trước 2 nguyên âm mà có phụ âm đơn hay kép và sau 2 nguyên âm này lại không có phụ âm nào thì các dấu phải đánh vào nguyên âm thứ nhất như: chùa, chúa, thúy, thùy, thúi, lũy, gào, góa, bùa, của, bùi, chúa, khói, khảo, khóa, lìa, trào tráo, khéo, khỏe, khóe, chúi, thủy, và trụy, v.v.

– Trong một chữ có 2 hay 3 nguyên âm mà1 nguyên âm đã có dấu sẵn như: ă, â, ê, ô, ơ, ư, v.v. thì các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, và nặng phải đánh vào nguyên âm đó: thuế, thuấn, thuyền, thuở, uyển chuyển, chữa, suyễn, diễm, truyện, diệu, v.v. Nếu 2 nguyên đều có dấu cả như “ư và ơ” thì các dấu phải đánh lên nguyên âm thứ hai: tướng lãnh, thường lệ, thưởng phạt, dưỡng khí, thượng lộ, v.v.

– Nếu trong một chữ chỉ có 2 nguyên âm mà trước và sau 2 nguyên âm này đều có phụ âm đơn hay kép thì các dấu phải đánh vào nguyên âm thứ hai: đoán, khoáng, khoát, khoét, toàn, khoảng, loãng, loạng choạng, v.v.

– Khi một chữ tận cùng bằng 3 nguyên âm, thì các dấu phải đánh lên nguyên âm ở giữa như: thoái thác, ngoéo cổ, cười, bải hoải, khúc khuỷu, choãi chân, hải ngoại, v.v.

IV. Tổng Kết

Những điều chúng tôi trình bày trên đây là có ý định giúp các bạn trẻ ở hải ngoại có tài liệu học hỏi về cách ghép vần với nguyên âm “i” và “y” cùng với cách đánh dấu tiếng Việt. Việc ghép vần và đánh dấu tiếng Việt hết sức là quan trọng. Chúng ta cần phải học hỏi và nghiên cứu mới thấu đáo được. Có thấu đáo được cách ghép vần và đánh dấu tiếng Việt thì mới giỏi tiếng Việt. Có giỏi tiếng Việt ta mới xứng đáng là người Việt và mới có cơ hội học hỏi về lịch sử, phong tục, và truyền thống của tổ tiên. Có như thế thì nước Việt của chúng ta mới thoát khỏi ách Cộng Sản. Có thoát khỏi ách Cộng Sản, nước ta mới hùng cường và toàn dân mới được hưởng dân chủ, tự do, nhân quyền, âm no, và hạnh phúc muôn đời.

Canada, 2003
Khải Chính Phạm Kim Thư