Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc (Trang 22)

Category Archives: Quê Hương và Tổ Quốc

Hồ Chí Minh “sao y bản chánh” cách mạng vô sản của Trung Cộng—Hứa Hoành GS/VHV

“Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó, không phải là vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không, mà chính là vấn đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyển hay không” (Tưởng Vĩnh Kính, sách Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, trang 356-357).

– Ít ai ngờ rằng ông Hồ từng tâm sự với cán bộ thân tín rằng “Thà để cho thực dân Pháp đô họ thêm 5, 10 năm nữa, còn hơn để các đảng phái quốc gia giành được chánh quyền một nước Việt Nam độc lập!

“Nhằm tranh thủ quần chúng, ông (Hồ) dựng cờ chống Pháp và tranh thủ độc lập dân tộc, trong khi đó, ông lại bán rẻ và bài trừ các đảng phái chống Pháp và tranh thủ độc lập dân tộc chân chính khác… Ông tuyệt đối cần ngoại viện, nhưng ông không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào nhận ngoại viện. Ông cũng cần tranh thủ quần chúng, nhưng không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào tranh thủ quần chúng…..” (Sách đã dẫn, trang 373).
Những năm gần đây càng ngày càng có nhiều học giả khám phá thêm nhiều tài liệu lịch sử, làm sáng tỏ nhiều vấn đề từ trước tới nay ít người biết. Các sử liệu ấy đã đánh đổ nhiều huyền thoại về Hồ Chí Minh, mà đảng cộng sản của ông đã thêu dệt, bịa đặt để thần thánh hóa ông ta. Sự thật ông Hồ không có sáng kiến gì cả. Cái gọi là “sự vận dụng nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác Lê”, chẳng qua là sự sao chép, cóp nhặt, vay mượn của người khác. Nếu không có cuộc cách mạng vô sản ở Trung Cộng, liệu ông Hồ có thành công ở Việt Nam hay không?
Ông Hồ chỉ học lớp 7 trung học phổ thông. Ông chưa biết hết khái niệm thông thường của khoa học thường thức. Tuy nhiên, vì ra đời sớm, tự lập để mưu sinh bằng đủ thứ nghề: bồi tàu hạng bét, phu quét tuyết trên đường phố Luân Đôn, bồi khách sạn, thợ rửa ảnh…. ông Hồ có nhiều mưu gian mẹo vặt và thủ đoạn gian hùng. Ông sáng trí trong việc bắt chước. Ông không bao giờ nêu xuất xứ. Đó là thái độ thiếu minh bạch.

Hơn 20 năm làm cán bộ tình báo, gián điệp (1924 – 44), ông Hồ ăn lương, lãnh phụ cấp, giấy thông hành của Liên Xô để qua các nước Á Châu hoạt động. Liên Xô không trả tiền để ông đi “giải phóng dân tộc” Việt Nam của ông. “Ai chi tiền, người ấy chỉ huy”, đó là một định luật. Ông Hồ ăn cơm chúa phải múa tối ngày. Những từ ngữ “đi tìm đường cứu nước”, “giải phóng dân tộc” là những huyền thoại mà đảng CSVN thêu dệt, bịa đặt thêm sau nầy, để tôn ông lên hàng “cha già dân tộc”. Sự thật thủy chung ông Hồ vẫn là một cán bộ cộng sản quốc tế, có nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa CS sang các nước. Ông phải ngụy trang dưới chiếc áo dân tộc, để lừa gạt mọi người. Ông tới Trung Hoa trước sau 5 lần. Mỗi lần ông ở lại một thời gian khác nhau và lấy những bí danh khác nhau, để hoạt động gián điệp trá hình, và xuất cảng chủ nghĩa CS theo lịnh của nước chi tiền.

ÔNG HỒ KHÔNG THIẾT THA GÌ ĐẾN “ĐỘC LẬP DÂN TỘC”:

Những ai từng nghiên cứu về cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh cũng nhận ra một điều quan trọng: Đối với ông, không có tình yêu nước hay dân tộc. Tuy nhiên, lúc nào ông cũng ngụy trang, nép mình dưới chủ nghĩa dân tộc để truyền bá chủ nghĩa cộng sản. Đó chính là lý tưởng suốt đời của ông. Nó thôi thúc ông trong bữa ăn, trong giấc ngủ. Nó biến thành một bản năng mãnh liệt.

Vào năm 1941, từ biên giới Trung Quốc, ông lén lút về hoạt động, ngụ tại hang Pác Bó (Cao Bằng). Thấy mình chưa có địa vị và quyền hành gì trong đảng CSVN, ông đã nghĩ ra mưu sâu kế độc “tiêu diệt trung ương đảng ở tại Nam Kỳ”. Ông bí mật chỉ điểm cho Pháp hốt trọn ổ trung ương đảng ở Nam Kỳ, rồi lập ra trung ương đảng mới, cử Trường Chính làm tổng bí thư. Theo sự nghiên cứu của các học giả Trung Quốc: “Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó, không phải là “vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không mà chính là vấn đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyền hay không?”

Với thực lực còn yếu kém, cho nên vào các năm 1942 – 43, ông Hồ đã nghĩ đến việc phải thương lượng bắt tay với kẻ thù chánh là Pháp. Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/46 của Hồ Chí Minh và Pháp sau nầy đã manh nha từ mấy năm trước.

Khi tiếp xúc được với đại diện phái bộ Đồng minh đi tìm phi công bị bắn rơi, ông Hồ tìm cách lợi dụng họ. Ông luôn che giấu bộ mặt thật cộng sản của mình. ông còn tuyên truyền lừa bịp rằng “Việt Minh là một sự liên minh của các đảng phái quốc gia…..?”

Ông gấp rút lập một căn cứ địa trong rừng núi Việt Bắc để đón tiếp “phái bộ không trợ trên mặt đất của Mỹ” để xin viện trợ, xin cung cấp võ khí và huấn luyện. Đổi lại, Việt Minh có cứu được vài phi công dẫn qua biên giới, trao cho đại diện của Đồng minh. Tại căn cứ, ông Hồ tỏ ra thân thiện với phái bộ Mỹ. Ông đã dùng điện đài của một viên trung sĩ Mỹ tại căn cứ nầy để liên lạc với đại diện của phe De Gaulle tại Côn Minh để xác nhận:

– Pháp phải hứa với ông (có giấy bảo chứng) sẽ trả độc lập cho VN từ 5 tới 10 năm nữa, thì ông sẽ cộng tác với Pháp.

– Yêu cầu Pháp giúp võ khí và huấn luyện.

Cũng qua các cuộc điện đàm, Hồ Chí Minh hứa sẽ thân thiện với Tây phương, đặc biệt là Pháp và Mỹ. Đồng thời ông tố cáo đảng Đại Việt (Đại Việt Duy Tân thân Nhựt) đang chĩa mũi nhọn vào người Pháp. Ông tiếp “Việt Minh sẽ ra lịnh cho hai triệu đảng viên và dân chúng ủng hộ, hãy đem hết khả năng đề phòng cẩn mật, cùng ngăn chận kế hoạch phạm pháp nầy của đảng Đại Việt……” (Đối với Việt Minh, đảng Đại Việt đang chống Pháp là “phạm pháp”, còn VM thì bắt tay và ủng hộ Pháp!). Xem “Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, của Tưởng Vĩnh Kính, trang 359).

“Hồ Chí Minh nói xấu và bán rẻ đảng Đại Việt, không những để tranh thủ ân sủng của người Pháp, mà còn gián tiếp phản Hoa….” (Sách đã dẫn trang 359)…Trong một đoạn khác cùng tài liệu đã dẫn, cho biết: “Trước ngày Nhựt đầu hàng không lâu, John (Người Mỹ trong phái bộ Đồng minh đến căn cứ của ông Hồ) đã dùng điện đài của hắn đánh đi bức điện tín sau đây giùm ông Hồ:

“Đảng Đại Việt (chống Việt Minh) đang trù tính gây cuộc khủng bố chống Pháp đại quy mô và mưu toan giá họa cho Việt Minh…”

(Sách đã dẫn, trang 358).

Như vậy trong thâm tâm ông Hồ chẳng thiết tha gì đến độc lập dân tộc. Đó chỉ là chiêu bãi để ông sử dụng trong giai đoạn. Ông chỉ băn khoăn lo sợ rằng các đảng phái quốc gia sẽ phỏng tay trên ông, cướp chánh quyền trước, cho nên ông sẵn sàng liên kết với kẻ thù để tiêu diệt anh em cùng chung một mục đích. Đó là mưu kế gian manh, phản trắc của ông Hồ và tập đoàn đảng CSVN. Hồ Chí Minh suốt đời chỉ ôm ấp một giấc mộng đem chủ nghĩa cộng sản du nhập vào nước ta, và biến dân tộc nầy trở thành chư hầu của Liên Xô, cho nên đi đâu và lúc nào nhìn ở đâu ông cũng thấy hình ảnh Các Mác, Lenin, Engels…. Khi về ẩn náu trong hang Pác Bó, ông đặt tên ngọn núi phía sau hang là “núi Các Mác”, suối trước mặt là “Suối Lenin”, còn rừng xung quanh là “rừng Engels”, hoa dại ven rừng là “hoa vô sản”… Nhìn đâu, ông cũng thấy các lãnh tụ cộng sản, các lý thuyết gia cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản đã thâm nhập vào đầu óc ông ta mấy mươi năm, cho nên ông đâu có màng gì đến độc lập, tự do của dân tộc? Nước ta đang bị hai từng áp bức bốc lột của Pháp Nhựt, dân chúng nhứt là miền Bắc và Trung đang rên xiết, oằn oại dưới sự bốc lột của thực dân, ông đâu có đau khổ……? Ông chỉ mượn các thảm cảnh ấy làm chiêu bài đấu tranh giai đoạn mà thôi.

Ít ai ngờ rằng ông Hồ từng tâm sự với các cán bộ thân tín rằng “Thà để cho thực dân Pháp đô hộ thêm VN 5, 10 năm nữa, còn hơn để các đảng phái quốc gia giành được chánh quyền một nước Việt Nam độc lập” (Sách đã dẫn).

Nếu như không tình cờ có cuộc “chiến tranh giải phóng” ở Trung Quốc, để đưa toàn dân Trung Hoa vào quỹ đạo cộng sản, liệu ông Hồ có tìm ở đâu cái khuôn mẫu để tổ chức kháng chiến ở Việt Nam?

Ngụy trang dưới chiêu bài quốc gia dân tộc, giấu bộ mặt thật cộng sản để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi tiến hành cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam, giết biết bao nhiêu người vô tội cũng chỉ vì yêu nước, theo kháng chiến, lập nhiều chiến công, rồi lại bị quy chụp là “giả vờ kháng chiến, leo cao, chui sâu vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại….” Đó là cách kết tội những người đi theo kháng chiến trước khi hạ sát họ. Chiếm được phân nửa đất nước miền Bắc, ông Hồ dựng lên chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước” (Lại bắt chước Trung Cộng “Kháng Nhựt cứu nước”) để lừa bịp toàn dân vào cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt, chiếm cho bằng được miền Nam, mệnh danh là “giải phóng dân tộc?”

Chữ nghĩa đã bị cộng sản làm thay đổi ý nghĩa nguyên thủy. Nếu như không sống với cộng sản thì không thể hiểu được tâm địa và mặt mũi họ. “Giải phóng” gì mà một nước nghèo nàn lạc hậu, dân trí thấp, đời sống cơ cực… đem quân chiếm một nước giàu có, phồn thịnh hơn mình để cướp của, cướp tài sản…. thì gọi là “giải phóng dân tộc đó ư?”

MẶT TRẬN VIỆT MINH (1914) VÀ “MẶT TRẬN GPMN”, SAO Y BẢN CHÁNH CỦA TRUNG CỘNG:

Năm 1938, từ Liên Xô, ông Hồ trở qua Trung Quốc lần thứ 3. Tại căn cứ địa Diên An, ông Hồ gia nhập làm đảng viên của Trung Cộng do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Rồi ông gia nhập quân đội của Mao để làm lính đánh thuê cho Mao. Muốn thấy rõ tiến trình hoạt động của ông Hồ, chúng tôi xin nhắc lại giáo điều của Cộng Sản Quốc Tế:

“Hồ Chí Minh đã rập khuôn các giáo điều của CSQT, đem cuộc vận động cách mạng VN chia làm 2 giai đoạn:

– Giai đoạn 1: Dùng chủ nghĩa dân tộc làm chiếc áo che ngoài, và thiết lập chính quyền dân chủ của giai cấp tư sản (Chính phủ liên hiệp hồi 1946 và “chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam VN” 1973).

– Giai đoạn 2: thực sự đi vào cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hồi đó báo “Thanh Niên” do “Đồng chí hội” phát hành, cũng là “tiếng nói của giai đoạn 1”. Nó không hề nói đến chủ nghĩa Mác Lê một cách trực tiếp, mà các luận đề thảo luận trước tiên về chủ nghĩa dân tộc, rồi khéo léo xen vào một vài giáo điều cơ bản cùng quan điển của Lénin, để “chuẩn bị chuyển hướng đến giai đoạn 2”. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, dùng làm tài liệu học tập cho cán bộ, ông Hồ công khai nói rõ chủ nghĩa Mác Lê…..” (Sách đã dẫn, trang 96).

Nên nhớ vào năm 1935, trong kỳ Đại hội CSQT kỳ 7, đã chỉ thị cho Trung Cộng: “Phải thay đổi đường lối là sau khi Mao Trạch Đông chạy thoát cuộc bao vay của Quốc Dân Đảng, còn gọi “Vạn lý trường chinh”, là phải thành lập “Mặt trận dân tộc”, rồi dùng chiêu bài “Kháng Nhựt cứu nước”. Tất cả các tổ chức “cứu quốc” của ông Hồ đều mô phỏng y chang tổ chức của Trung Cộng mà thôi….”Mặt trận dân tộc”, các tổ chức “Cứu quốc”, rồi căn cứ địa, khu giải phóng…. đều được ông Hồ bê y chang đem về VN để lập “Mặt trận Việt Minh”, và các tổ chức phụ thuộc cùng tên gọi với các tổ chức của Trung Cộng. Khi Nhựt vào VN, uy hiếp Pháp, ông Hồ lợi dụng thời cơ lập ra cái gọi là “Mặt trận Việt Minh”, để xây dựng chính quyền địa phương và chuẩn bị cướp chính quyền y chang như bên Trung Cộng.

Trong thời gian làm lính đánh thuê cho Trung Cộng, ông Hồ học được nhiều kinh nghiệm về tổ chức huấn luyện cho binh sĩ, tổ chức các khóa học chính trị, và lập ra các tổ chức bịp bợm, ngụy trang dưới hình thức chính nghĩa. Ngoài ra, ông Hồ cũng học kinh nghiệm cùng phương pháp xâm nhập, lũng đoạn các tổ chức khác, để phá hoại lôi cuốn người của họ về phe mình.

Có thể nói Mặt trận Việt Minh (1941 – 51) rồi “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (1960 – 75) cũng như khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước” chính là bắt chước các tổ chức của Trung Cộng mà thôi. Sách lược của tổ chức nầy, ngoài mặt “kêu gọi đoàn kết rộng rãi các dân tộc và đảng phái”, nhưng ý đồ sâu kín của họ là phân hóa hàng ngũ những người quốc gia, tiêu diệt các đảng theo hệ phái dân tộc chủ nghĩa, đồng thời khuếch xung lực lượng của riêng CS lớn mạnh thêm. Trước khi chọn danh xưng”Mặt trận Việt Minh”, ông Hồ giả bộ thảo luận để chọn lựa từng chữ: “trước cục diện mới, vấn đề đoàn kết dân tộc càng quan trọng. Chúng ta phải cân nhắc kỹ để thành lập một mặt trận mà hình thức và tên gọi sao cho tuyệt đối phù hợp với cục diện đó”. “Chữ Việt Minh” do “VN Độc lập đồng minh”). (Sách đã dẫn, trang 186).

Từ đó, ông Hồ tìm sự mập mờ giữa các đảng “VN cách mạng Đồng Minh Hội” và “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” của những người quốc gia, có trước bên Trung Hoa, để lập ra “VN độc lập Đồng Minh” tức “Việt Minh”, rồi lại định nghĩa “Việt minh là sự liên minh các đảng phái quốc gia….”

Tưởng cũng nên nhắc lại rằng “VN Cách mạng đồng minh hội” là một tổ chức hợp pháp của các đảng theo xu hướng chủ nghĩa dân tộc, của các nhà cách mạng VN sống lưu vong tại Trung Hoa năm 1942. Thực chất “Việt Minh” là CS trá hình nhằm ngụy trang để lôi cuốn mọi từng lớp nhân dân. Khi mặt trận “Việt Minh” ra đời, ông Hồ đem các tổ chức “thanh niên cứu quốc”, “phụ nữ cứu quốc”, “công nhân cứu quốc”, “nông dân cứu quốc”……(đều bắt chước Mao) làm nồng cốt, núp dưới mỹ từ chính nghĩa “cứu quốc”.

Các tổ chức mệnh danh là “cứu quốc” thật ra khủng bố đồng bào trong các vùng họ chưa thiết lập được chính quyền. Các tổ chức “cứu quốc” còn tranh công với phe quốc gia đang xả thân kháng chiến, rồi tìm cách tiêu diệt người quốc gia tiểu tư sản, bằng cách vu khống, chụp mũ, rồi thủ tiêu….

Khai sinh ra “Mặt trận Việt Minh” thì ông Hồ nhằm mục đích lợi dụng danh nghĩa “VN Độc Lập Đồng Minh Hội”, để chiêu tập tổ chức quần chúng của tổ chức này, và đồng thời chiêu dụ tàn quân của phe thân Nhựt. Ông Hồ lợi dụng danh nghĩa “VN Độc Lập Đồng Minh Hội” để lôi cuốn phe thân Nhựt, cũng giống như việc ông lợi dụng danh nghĩa “Giải Phóng Đồng Minh Hội” của Trung Quốc, để lôi cuốn phe thân Hoa. Mục tiêu thật sự của ông nhằm phân hóa hàng ngũ đối phương và xây dựng thêm lực lượng riêng của ông ta. Có thể nói không lầm lẫn rằng: khi lập Mặt Trận “Việt Minh”, ông Hồ muốn che giấu bộ mặt thật cộng sản của mình và tổ chức của mình. Lý do hai chữ “cộng sản” đã bị dân chúng ghét bỏ vì nó đã tàn sát dã man người Việt trong vụ “cộng sản dậy năm 1940”, mà sách của cộng sản gọi “Nam Kỳ khởi nghĩa”. Mặt trận “Việt Minh” là sự ngụy trang chủ nghĩa dân tộc, bắt chước tổ chức “Mặt trận dân tộc” tung khẩu hiệu “Kháng Nhựt cứu nước”, thì mục đích chánh của nó không phải đánh Nhựt, mà chỉ làm tiêu hao lực lượng của chính phủ Quốc Dân Đảng, đồng thời khuếch trương lực lượng của riêng ông ta. Theo cách đó, ông Hồ lập “Mặt trận Việt Minh”, kêu gọi đoàn kết chống Pháp, nhưng mục tiêu thật sự của nó nhằm phân hóa hàng ngũ của phe quốc gia, để tiêu diệt họ. Khi mặt trận “Việt Minh” ra đời rồi, ông Hồ cũng bắt chước phương pháp của Trung Cộng để tiến hành:

– Cho cán bộ thụ huấn về chánh trị ở Tỉnh Tây làm nòng cốt.

– Củng cố và phát triển căn cứ địa.

Ông nói: “Muốn củng cố thì phải lấy huấn luyện chính trị làm cơ bản. Muốn phát triển phải tuyên truyền. Trong chế độ cộng sản, sự tuyên truyền (lừa bịp) là quốc sách hàng đầu….Khi chính phủ lâm thời tự phong đầu tiên trong rừng Thái Nguyên, ông Hồ có lập Bộ Tuyên Truyền, giao cho Trần Huy Liệu làm Bộ Trưởng. Cách tổ chức “chiến khu” thời kháng Pháp là bắt chước phương thức của Quốc Dân Đảng Trung Hoa thời kháng Nhựt. Hai chữ “chiến khu” thời kháng chiến như có ma lực, quyến rũ nhờ cách tuyên truyền qua các bài hát thịnh hành lúc đó:

“Chiều nay nhớ chiến khu,

“Trong rừng chiều….

Tôi chắc rằng quý vị ở tuổi cổ lai hi hôm nay, nhiều ngời còn nhớ bài hát rất được thanh niên ưa thích nầy. Chánh sách của Việt Minh gồm hai mặt: điểm và diện. Nói chỗ nầy nhằm tấn công chỗ khác. Nói thẳng mình là cộng sản, và muốn làm cách mạng vô sản thì phần đông dân chúng chán ghét, sẽ thất bại. ông phải “nói một đàng, làm một nẻo”. Muốn vậy phải học tập chính trị, nhồi sọ “chính nghĩa giai đoạn” cho mọi cán bộ. Cán bộ sẽ bảo đảm thi hành đúng đường lối và chánh sách của đảng đề ra. Trong sách “Hồ Chí Minh tại Trung Quốc”, tác giả Tưởng Vĩnh Kính có nhắc tới: “Ông Hồ tỉ dụ: “Cuộc vận động cách mạng (không phải kháng chiến giải phóng đất nước như họ đã tuyên truyền), giống như thủy triều lên. Các phần tử trung kiên giống như hàng cọc đóng xuống đất cát; khi thủy triều xuống, hàng cọc nầy sẽ chận giữ đất cát lại, không để cho trôi đi” (Sách đã dẫn, trang 210).

Phương pháp tuyên truyền của VC trước sau như một: trước hết dùng lời lẽ ngọt dịu để quyến rũ. Sau đó, tới giai đoạn làm áp lực, buộc thanh niên nam nữ gia nhập các tổ chức. Ai không theo bị gán tội “Việt gian” sẽ bị giết bất cứ lúc nào và tịch thu gia sản. Vì lẽ đó, thời kháng chiến chống Pháp, nhiều gia đình trung lưu phải bỏ vùng “giải phóng”, để ra vùng Pháp chiếm mới bảo toàn được sinh mạng, tuy bị mang tiếng phản bội.

Hồi mới về tuyên truyền lập các căn cứ du kích tại vùng của dân tộc Nùng, Thái đâu biết gì đến “độc lập” “tự do”. Họ chỉ biết có một điều “cơm no, áo ấm”, và cán bộ Việt Minh bảo họ cứ theo “Kê Hồ” tức có đủ hai thứ đó, thế thì nhiều người theo. Tuyên truyền với dân tộc thiểu số rất dễ dàng, và ông Hồ nhờ đó thành công bước đầu.

Chẳng những ông Hồ nhập nhằng giữa danh xưng các tổ chức có sẵn để lợi dụng, mà ông còn xâm nhập vào các tổ chức có trước, để lũng đoạn, phá hoại. Khi ở Liễu Châu (1942 – 44), ông Hồ tìm cách gia nhập “VN Cách Mạng Đồng Minh Hội” (lập 10 – 1942) để tìm viện trợ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng….Tuy nhiên, ông chỉ gia nhập với tư cách cá nhân, chớ không đem cái mặt trận Việt Minh của mình theo. Về chiến thuật này, ông Hồ từng nói với cán bộ: “Ta phải lợi dụng cơ hội đó mà gia nhập “VN Cách Mạng Đồng Minh Hội” để biến tổ chức của địch làm tổ chức của ta. Ta cũng lũng đoạn tổ chức của họ, khiến nó phân hóa”. Thủ đoạn nầy được ông Hồ áp dụng triệt để trong thời chiến tranh Quốc Cộng Nam Bắc 1954 – 75.

Sách lược của ông Hồ là bất luận phe phái nào, tổ chức nào, miễn có lợi cho quyền lợi riêng của đảng CS, thì ông không bao giờ bỏ qua. Ông lợi dụng triệt để, để tiến hành công tác riêng của đảng CS.

Vì không biết rõ tâm địa của Hồ Chí Minh, nhiều trí thức, đảng phải quốc gia chỉ trích ông ta “trước ở hải ngoại thì cùng chung tranh đấu giành độc lập, nay về nước thì phản bội”. Thật sự, chủ trương của ông Hồ chỉ giả vờ “đoàn kết”, thế thôi, ông Hồ “đoàn kết cuội”, để lừa dối họ, chớ đâu có thiết tha gì đến độc lập!

Nỗi ưu tư lớn nhứt của ông hồ là làm sao nắm chính quyền hợp pháp. Cướp chính quyền tháng 8 – 1945, chỉ có giá trị bằng sức mạnh, nhưng thiếu tư cách pháp lý để quốc tế nhìn nhận. Ông cần tư cách ấy, để kết tội những kẻ chống đối bằng những tội trạng bịa đặt, vu khống rồi tiêu diệt hoặc thủ tiêu. Sau đó mượn chánh nghĩa “Kháng chiến” giành độc lập để tiến hành cuộc cách mạng vô sản, để trở thành một nước xã hội chủ nghĩa, chư hầu của Nga, Tàu.

Nói tóm lại, thái độ của ông Hồ và đảng CS thay đổi như cái chong chóng: Khi thân Hoa, khi thân Mỹ, khi thân Pháp….có lúc lại biến tất cả thành kẻ thù. Lại có khi “liên hiệp” với các đảng quốc gia, nhứt cử nhứt động của ông ta, đều là những cử chỉ, thái độ giả trá. Mục đích của ông là làm sao cho Việt Minh cướp được chánh quyền. Khi có danh chánh ngôn thuận, tư cách chánh phủ hợp pháp, ông Hồ liền loại tất cả những ai không ở trong tổ chức Việt Minh. Sau khi bầu cử quốc hội cuội xong, ông Hồ, với tư cách chủ tịch nước, được quốc hội phê chuẩn, liền dùng mánh khóe, chụp mũ, vu cáo “những người quốc gia làm loạn”, giết người cướp của….rồi hạ lệnh cho bọn “tự vệ”, “cứu quốc” lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu. Mặt khác, ông Hồ cho liên tục mở các khóa huấn luyện chánh trị cho cán bộ, để làm cái nhân của Việt Minh CS. Lẽ ra. “kháng chiến”, một cuộc chiến tranh chống xâm lăng như dưới đời nhà Trần, nhà Lê, nó đâu cần “nhồi nhét” lý thuyết chánh trị vào đầu óc cán bộ, binh sĩ. Kháng chiến tự nó đã có chánh nghĩa, chớ không phải “có chánh nghĩa giai đoạn” như Việt Minh đề ra. Vai trò làm bình phong và cũng để lừa gạt dư luận của các trí thức như các ông Nguyễn Văn Huyên, Trần Đăng Khoa, Trần Thiện Lộc, Bùi Bằng Đoàn, Hoàng Minh Giám, Đặng Phúc Thông…. bị gạt bỏ, khi sự lừa bịp đã bị phơi bày. Hồi mới sang sảng kêu gọi, thúc giục toàn dân kháng chiến của ông Hồ, thanh niên cứ đinh ninh có một điều: “ta chiến đấu để đuổi quân thù ra khỏi đất nước, để nư?c nhà độc lập, rạng rỡ, quang vinh. Nào ngờ, cuộc kháng chiến cứ đi ngoằn ngoèo từng giai đoạn. Đó là “chỉnh huấn”. Đó là “rèn cán chỉnh quân”. Đó là “Cải cách ruộng đất”. Rồi phải học tập chỉ thị của đảng “đi theo cách mạng” (không còn kháng chiến nữa) là để cải tạo tư tưởng thối tha, để xưng đáng “là người của đảng, của xã hội mới”, chớ không phải kháng chiến để mong tới ngày độc lập như họ đã hứa, đã tuyên truyền mấy năm trước! Những cán bộ sau khi thụ huấn ở Tỉnh Tây về, trở thành những kẻ giảng dậy cho binh sĩ tân tuyển. Huấn luyện xong, cán bộ, binh sĩ trở thành “những kẻ bảo vệ quyền lãnh đạo của đảng”. Họ được đưa vào Nam, để thay thế các chức vụ then chốt mà những người có tài, có khả năng, được binh sĩ, dân chúng kính trọng nắm giữ…. Xin nhắc lại nỗi bận tâm duy nhứt của ông Hồ và đảng CS tức Việt Minh không phải là vấn đề “VN có sớm được độc lập hay không, mà là vấn đề bản thân Việt Min có thể đoạt thủ chánh quyền hay không” (sách đã dẫn, trang 357). Vì thế, khi Nhựt đầu hàng, các đảng quốc gia từ Trung Quốc kéo về, bị Việt Minh liên tục chận đánh và tiêu diệt dọc đường. Từ tháng 5 – 1945, Việt Minh cũng đổi thái độ từ thân ra thù với Trung Hoa Quốc Dân Đảng, vì sợ chánh phủ Tưởng Giới Thạch lãnh đạo, sẽ giúp người quốc gia “hãm Việt Minh vào thế bất lợi.”

Mở các khóa huấn luyện, ông Hồ bí mật cho phân loại thành phần xã hội những người đã theo Việt Minh để kháng chiến. Binh sĩ, cán bộ thuộc các gia đình tiểu tư sản, con cháu quan lại cũ, công chức thời Pháp, các gia đình điền chủ…. đều cảm thấy không còn chỗ đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa. Họ đã vì yêu nước mà theo Việt Minh, đã lập nhiều chiến công để Việt Minh nổi tiếng, bây giờ đến lúc “phải anh dũng hy sinh trong các trận đánh với Pháp”. Mỗi khi lâm trận, con em các gia đình tiểu tư sản bị dồn ra phía trước, làm bia đỡ đạn. Họ là những thành phần “phải xung phong trong chiến thuật biển người” của CS. Lợi dụng kẻ thù hy sinh cho đảng hưởng lợi là sách lược trước sau như một. Chánh sách nầy còn được tiếp diễn trong cuộc nội chiến Quốc Cộng (1954 – 75) và ngay cả tới ngày nay. Những người tị nạn CS, chạy thụt mạng trên biển Đông, bây giờ, trở thành “Việt kiều yêu nước”, đem tiền bạc, trí tuệ về “xây dựng quê hương”, tức vỗ béo cán bộ, đảng viên CS!

Từ khi Mặt Trận Việt Minh ra đời (5-1941) cho tới khi chiếm được chánh quyền (2-9-1945), đảng CS và bản thân ông Hồ, đều ngụy trang dưới hình thức chủ nghĩa dân tộc. Trong tiến trình khuếch trương lực lượng để cướp chính quyền, ông Hồ có quá nhiều kẻ thù: Pháp, Nhựt, Trung Hoa Quốc Dân Đảng, Mỹ…. và các đảng phái quốc gia. Ông Hồ quỷ quyệt dùng nhiều thủ đoạn nay bạn, mai thù, sớm đầu tối đánh, khi thân, khi chống…. Ông còn giả vờ hợp tác với các đảng quốc gia trong “chánh phủ liên hiệp”, để phá hoại và tiêu diệt đối phương. Đời ông chỉ có hai nước mà thủy chung ông vẫn tôn thờ, sùng bái là Liên Xô, Trung Quốc. Tuy nhiên, lãnh tụ các nước ấy khinh bỉ ông ra mặt. Năm 1949, Mao Trạch Đông là chủ tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ông Hồ cũng là chủ tịch nước Việt Nam 4 năm rồi. Vậy mà ông Hồ cầm đầu một phái đoàn đi xin viện trợ, phải băng rừng lội suối đến biên giới. Nhà cầm quyền Trung Cộng dùng một chiếc xe hàng (truck) chở phái đoàn lên Quảng Tây, bất chấp nghi thức ngoại giao không kèn, không trống. Sau đó, ông đi Liên Xô. Ông Lê Phát, thành viên của phái đoàn nầy kể lại: “….Sau nầy khi xem cuốn hồi ký “Memoires Inedites” của Nikita Kroutchev do nhà xuất bản Pierre Belfont dịch và in ở Paris, tôi biết thêm về chuyến “vi hành đầy gian khổ của ông Hồ. Tác giả (Nikita Kroutchev kể lại:

“Tôi nhớ Hồ Chí Minh đã đến Moscou để xin viện trợ vật chất và vũ khí để chống Pháp. Staline không tin vào cuộc chiến ở VN, nên đối xử với ông Hồ một cách nhục mạ. Tôi không thấy ở ông ta chút cảm tình nào đối với một người CS như Hồ……”Đáng lẽ phải kính trọng, biết ơn…. Tôi còn nhớ một việc khác xúc phạm đến Hồ. Staline nói với chúng tôi là Hồ xin được đón với tư cách là chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Staline không chấp nhận, đã trả lời Hồ: ” Cơ hội ấy đã qua rồi. Ông đến Moscou không ai biết, không thể thông báo việc ông đến được”…….Hồ chỉ đề nghị Staline cho một máy bay và chuẩn bị diễn văn đón Hồ, có thể từ trên máy bay xuống, để được đón như chủ tịch nước. Staline từ chối và ông ta cười khoái trá khi kể cho chúng tôi nghe việc ấy……” (Hồi ký Lê Phát, Quê Mẹ, số 140).

Chúng tôi xin mượn lời kết của Tưởng Vĩnh Kính: “Nhằm tranh thủ quần chúng, ông (Hồ) dựng cờ chống Pháp và tranh đấu độc lập dân tộc, trong khi đó, ông lại bán rẻ và bài trừ các đảng phái chống Pháp và tranh thủ độc lập dân tộc chân chính khác. Khi cần thiết, ông thà từ bỏ nhu cầu độc lập, để mưu cầu sự sinh tồn và phát triển cho bản thân ông. Ông cũng tuyên truyền chống Nhựt, nhưng lại kết hợp và lợi dụng các thế lực thân Nhựt, thậm chí còn cùng với Nhựt hành động song hành, hiệp trợ nhau chống lại kẻ địch khác, chỉ cốt mưu cầu bành trướng thế lực của bản thân ông. Ông cũng bày tỏ thái độ thân Hoa, nhưng chỉ là lợi dụng tổ chức thân Hoa nầy, để bài trừ hoặc tiêu diệt các đảng phái thân Hoa khác. Lúc cần thiết, ông lại thực thi các hành động bài Hoa để đạt mục đích khác. Ông tuyệt đối cần ngoại viện, nhưng ông không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào nhận ngoại viện. Ông cũng cần tranh thủ quần chúng, nhưng không muốn cho cá nhân hoặc đảng phái nào khác tranh thủ quần chúng. Ông lớn mạnh không phải từ những hô hào về chủ nghĩa cộng sản. ông đã dùng rất nhiều tên giả, lấy chủ nghĩa dân tộc để ngụy trang, lợi dụng tất cả các cơ hội có lợi, để bảo tồn và phát triển lực lượng bản thân ông. Ông cũng lợi dụng những nhược điểm của đối phương để làm cho lực lượng đối phương yếu đi, hoặc bị tiêu diệt hẳn… Bởi vậy, mỗi một hành động của ông đều cho thấy ông là một người theo cơ hội chủ nghĩa, chỉ biết lấy sự sinh tồn, lợi hại của bản thân mình làm mục tiêu chính.” (Sách đã dẫn, trang 373).

Hứa Hoành

Đóng cửa chính phủ, nước Mỹ đi về đâu?

Hậu quả của việc chính quyền Hoa Kỳ ngừng hoạt động—Tổng hợp

Ðài Tưởng niệm Lincoln ở Washington đóng cửa, ngày 1/10/2013.

Hai đảng đổ lỗi nhau khi chính phủ Mỹ ngừng hoạt động

Tổng thống thuộc đảng Dân chủ của Mỹ chỉ trích các thành viên của đảng Cộng hòa tại Hạ viện “trốn tránh trách nhiệm” khiến chính phủ Mỹ phải đóng cửa, trong khi đảng Cộng hòa cho biết họ đang nỗ lực để tìm hướng giải quyết chung.

USA Todaydẫn lời Tổng thống Barack Obama cho rằng các nghị sĩ của đảng Cộng hòa phải chịu trách nhiệm về việc chính phủ Mỹ ngừng hoạt động, đồng thời khẳng định kế hoạch về y tế của ông sẽ “tiếp tục thực hiện”.

Cuối ngày, tổng thống Mỹ có cuộc nói chuyện điện thoại với Chủ tịch Hạ viện John Boehner cùng một số nhà lập pháp hàng đầu khác nhưng không tìm được hướng giải quyết bế tắc.

“Quốc hội có hai trách nhiệm, thông qua một dự luật về nâng trần nợ ngân sách và giải quyết các khoản nợ của chính phủ. Đảng Cộng hòa Mỹ đang trốn tránh cả hai việc đó”, ông Obama nói.

Hạ viện Mỹ nhanh chóng có sự đáp trả sau phát biểu của tổng thống Mỹ. Telegraph dẫn lời ông Boehner cho biết các thành viên đảng Cộng hòa trong Hạ viện không hề có ý định làm chính phủ Mỹ phải đóng cửa. “Chúng tôi đã bỏ phiếu để chính phủ Mỹ tiếp tục hoạt động”, ông nói.

John Boehner còn kêu gọi “sự công bằng” cho tất cả công dân Mỹ khi đạo luật chăm sóc sức khỏe (Obamacare) được thực hiện. Ông cho rằng Thượng viện và Hạ viện Mỹ cần ngồi lại với nhau trong một cuộc họp để xóa bỏ sự khác biệt.

Nancy Pelosi, lãnh đạo phe thiểu số của đảng Dân chủ trong Hạ viện, lại cho biết việc buộc chính phủ Mỹ đóng cửa nằm trong kế hoạch của đảng Cộng hòa và là sản phẩm của hệ tư tưởng chống chính phủ trong đảng này.

“Đó là một sự bất đồng không cần thiết, làm thổi bay nước Mỹ”, Harry Reid, lãnh đạo phe đa số ở Thượng viện cho biết khi thời hạn đêm ngày 30/9 đã trôi qua được 2 phút.

Người dân Mỹ đã có nhiều phản ứng khác nhau sau khi biết tin Quốc hội thất bại trong việc đưa ra ý kiến thống nhất chung, buộc chính phủ Mỹ phải tạm ngừng hoạt động.

“Họ nên cùng nhau thỏa hiệp. Tuy nhiên, tôi cảm thấy thất vọng vì họ không có đủ khả năng làm điều đó”, Emily Enfinger, một người thích đi du lịch nói sau khi biết tin tượng Nữ thần Tự Do buộc phải đóng cửa.

“Hóa đơn hàng tháng, học phí con gái. Tôi còn nhiều vấn đề cần giải quyết bằng tiền lương của mình”, ông Smith, một bảo vệ 23 tuổi ở Công viên lịch sử di sản hàng không quốc gia Dayton, bang Ohio cho biết. “Tôi đang rối loạn và cũng chỉ biết chờ đợi như bao người khác”.

Nguyễn Tâm

Mỹ: Hết ngân sách, 800.000 công chức nghỉ việc không lương (RFI, 01/2013)

Nước Mỹ gần như tê liệt. Những lời kêu gọi của Tổng thống Barack Obama không làm thay đổi tình thế. Quốc hội lưỡng viện Hoa Kỳ không đạt được đồng thuận về Đạo luật Tài chính cho phép tránh được cái gọi là « bức tường ngân sách ». Các cuộc thương lượng vẫn tiếp tục, nhưng trong khi chờ đợi, nước Mỹ phải hoạt động chậm lại do không còn tiền. Khoảng 800 000 công chức buộc phải nghỉ việc không lương.

Từ Washington, thông tín viên Anne-Marie Capomaccio tường trình  :

“Trong những giờ qua, các văn bản được trao đổi liên tục giữa Hạ viện và Thượng viện. Nhưng trên thực tế, các cuộc thương lượng giữa các nghị sĩ không hề tiến triển. Hạ viện chuyển tới Thượng viện Đạo luật tài chính đẩy lùi một năm việc thực hiện cải cách bảo hiểm xã hội. Các văn bản này, sau khi được sửa đổi và tái lập lịch trình thực hiện cải cách bảo hiểm xã hội, gọi là « Obamacare », được Thượng viện gửi trả lại Hạ viện. Có thể gọi đây là cuộc đối thoại giữa những người điếc. Do Đạo luật tài chính không được thông qua, một phần ba công chức rơi vào tình trạng thất nghiệp kỹ thuật kể từ hôm nay, 01/10/2013.

Các lời kêu gọi của Tổng thống Barack Obama về trách nhiệm của các nghị sĩ cũng như các tiếp xúc của ông với các lãnh đạo đảng Cộng Hòa không làm thay đổi được tình thế, cho dù, theo các cuộc thăm dò dư luận do các phương tiện truyền thông thực hiện, người dân Mỹ mệt mỏi về cuộc khủng hoảng này và đa số quy trách nhiệm cho đảng Cộng Hòa về việc đóng cửa các cơ quan Nhà nước.

Tuy nhiên, bên trong đảng Cộng Hòa đã bắt đầu có những thay đổi. Bởi vì giờ đây, khủng hoảng đã xảy ra và không ai chịu nhượng bộ cả, các dân biểu do vậy phải thương lượng với nhau. Mọi việc đều có thể. Bên trong đảng Cộng hòa , vào đêm qua, đã có một sự nổi dậy của những chính trị gia ôn hòa, họ đã bỏ phiếu chống lại đảng của mình để tránh một tìnht trạng thất nghiệp kỹ thuật đối với các công chức. Nhưng họ không đủ đông, thiếu mất vài phiếu. Điều này có nghĩa là một số chính trị gia bắt đầu chán ngán cuộc chiến chống Đạo luật về bảo hiểm xã hội – Obamacare, được bỏ phiếu thông qua cách nay ba năm.

Bởi vì, các nhà phân tích đều đồng ý với nhau trên một điểm  : Cuộc khủng hoảng này có hại cho đảng Cộng Hòa. Được hưởng lợi từ cuộc khủng hoảng này là các dân biểu cực hữu, thuộc Tea Party. Chính đảng cực đoan này chống lại mọi sự can thiệp của Nhà nước và bác bỏ thẳng thừng mọi đề xuất, được đánh giá là chính đáng, của Tổng thống Barack Obama.

Lãnh đạo Tea Party Amy Kremer tuyên bố  : Luật cải cách bảo hiểm xã hội đã được thông qua mà không có lấy một phiếu ủng hộ của đảng Cộng Hòa. Tôi nghĩ là kết quả cuộc bầu cử tổng thống lẽ ra sẽ khác. Đúng là ông Obama đã tái đắc cử nhưng Hạ viện đã được bầu lại, với đa số thuộc đảng bảo thủ. Bà Kremer còn tố cáo Thượng nghị sĩ Harry Reid, thuộc đảng Dân Chủ là muốn đóng cửa các cơ quan của Nhà nước bởi vì ông ta nghĩ rằng đó sẽ là một thắng lợi đối với đảng Dân Chủ trong năm 2014.

Đối với các nghị sĩ ôn hòa thuộc đảng Cộng Hòa, họ có nguy cơ bị mất ghế trong cuộc bầu cử vào năm tới.
Trong khi chờ đợi các dân biểu đạt được thỏa thuận, 800 000 công chức Mỹ bị thất nghiệp kỹ thuật. Điều đó có nghĩa là nhiều lĩnh vực phải hoạt động chậm lại hoặc không hoạt động gì hết.

Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA gần như bị đóng cửa  : 97% trong tổng số 18 000 nhân viên buộc phải ở nhà. Đây cũng là trường hợp các công chức làm việc trong Cơ quan bảo vệ môi trường  ; hậu quả là các khuôn viên quốc gia phải đóng cửa từ 01/10/2013.

Các lĩnh vực Y tế, Quốc phòng bị mất 50% nhân viên. Trong các bệnh viện, chỉ có những nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân còn làm việc. Trong lĩnh vực Quốc phòng, tất cả những gì liên quan đến an ninh quốc gia thì vẫn hoạt động, như cuộc chiến chống khủng bố. Các binh sĩ vẫn ở vị trí của mình, các hoạt động kiểm tra hải quan không bị ảnh hưởng.

Những công chức nói trên tuy vẫn làm việc, nhưng lương của họ sẽ bị trả chậm, trong khi đó, số nhân viên được coi là « không cần thiết » thì phải nghỉ không ăn lương.

Cuộc khủng hoảng này gây ra những rối loạn trong tổ chức công việc, nhưng việc đóng cửa các cơ quan của Nhà nước gây tốn kém khoảng 200 triệu đô la mỗi ngày cho nước Mỹ”.

Anne-Marie Capomaccio

Viễn cảnh nước Mỹ khi chính phủ đóng cửa

Tượng Nữ thần Tự do, biểu tượng của New York và nước Mỹ, sẽ đóng cửa với khách tham quan, trong khi hầu như toàn bộ Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ ngừng hoạt động khi chính phủ Mỹ đóng cửa.

Dưới đây là viễn cảnh của nước Mỹ khi chính phủ ngừng một phần từ hôm nay do không được bơm tiền hoạt động.

Công chức

Tổng thống Obama hôm qua cho biết hàng trăm nghìn nhân viên chính phủ làm việc trên khắp thế giới sẽ thấy bị chậm lương do chính phủ đóng cửa, và thêm hàng trăm nghìn người nữa sẽ phải nghỉ phép vô thời hạn.

Theo dự tính của hãng tin Reuters, sẽ có tới một triệu nhân viên liên bang có thể phải đối mặt với cảnh nghỉ việc không lương từ ngày 1/10.

“Thứ sẽ không được chi trả tất nhiên sẽ là các hóa đơn, tài sản thế chấp, tiền học, tiền xe của họ. Họ sẽ bị chịu thiệt hại nặng nề, và kết quả là tất cả chúng ta sẽ bị ảnh hưởng nặng nếu Quốc hội quyết định đóng cửa chính phủ của người dân”, Obama nói.

Văn phòng Ngân sách Quốc hội tuyên bố “sẽ đóng cửa trên quy mô lớn” nếu chính phủ không còn tiền. Hầu hết các nhân viên Cơ quan Bảo vệ Môi sinh và Ủy ban Giao dịch hàng hóa giao sau cũng sẽ bị nghỉ việc không lương.

Giao thông hàng không

Các nhân viên kiểm soát không lưu liên bang vẫn làm việc bình thường ; các bộ phận kiểm tra an ninh sân bay cũng vậy. Thanh tra liên bang sẽ làm việc để đảm bảo các quy định an toàn bay.

Di chuyển quốc tế

Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ tiếp tục xử lý đơn xin visa từ nước ngoài và đơn xin cấp hộ chiếu Mỹ, bởi chi phí làm đơn dùng để trang trải cho các dịch vụ này. Các đại sứ quán, lãnh sự ở nước ngoài sẽ tiếp tục cung cấp dịch vụ cho công dân Mỹ. Tuy nhiên, bộ tuần này cảnh báo rằng hoạt động lãnh sự tại Mỹ và nước ngoài sẽ chỉ mở chừng nào “còn có đủ tiền hỗ trợ hoạt động”.

Từ 20.000-30.000 đơn xin visa đã không được xử lý mỗi ngày trong suốt hơn hai chục ngày chính phủ ngừng hoạt động vào giữa những năm 1990, theo cơ quan nghiên cứu của Quốc hội. Gần 200.000 đơn xin cấp hộ chiếu Mỹ cũng không được xử lý, gây thất thoát hàng triệu USD cho ngành công nghiệp du lịch và hàng không Mỹ, báo cáo cho hay.

Tòa án liên bang

Tòa án liên bang thông thường sẽ tiếp tục hoạt động trong vòng tầm10 ngày làm việc sau khi việc đóng cửa chính phủ bắt đầu, có thể cho tới khoảng giữa tháng 10. Nếu việc đóng cửa tiếp diễn, cơ quan tư pháp có thể sẽ phải cho nghỉ phép không lương đối với những nhân viên làm những việc không được coi là thiết yếu. Nhưng các vụ án sẽ vẫn được thụ lý.

Bộ Tư pháp thông báo họ sẽ đình chỉ nhiều vụ việc dân sự, nhưng những vụ án hình sự sẽ tiếp tục bình thường.

Giải trí

Tất cả công viên quốc gia nhiều khả năng sẽ đóng cửa, bên cạnh các bảo tàng Smithsonian, Vườn thú Quốc gia ở Washington. Những người đến công viên để cắm trại qua đêm hay sử dụng cơ sở vật chất công viên sẽ được cho 48 giờ để sắp xếp và rời công viên. Các trung tâm tham quan khác sẽ bị đóng cửa còn có : Tượng Nữ thần Tự do và Đảo Ellis ở New York, Hội trường Độc lập ở Philadelphia, đảo Alcatraz gần San Franciso và Đài tưởng niệm Washington.

Số nhân viên sẽ ở mức “tối thiểu nhằm thực hiện các chức năng thiết yếu”, theo Bộ Nội vụ. Điều này đồng nghĩa với việc có thể tới 70.000 nhân viên sẽ bị phải nghỉ việc không lương.

Việc đóng cửa 368 địa điểm công viên quốc gia làm mất đi 7 triệu khách tham quan trong vụ đóng cửa năm 1995 và 1996. Còn việc đóng cửa các công viên, tượng đài quốc gia dẫn thất thu hàng triệu USD cho cộng đồng địa phương.

Y tế

Các bệnh nhân mới sẽ không được tiếp nhận vào nghiên cứu y học tại Viện Y tế Quốc gia (NIH), nhưng những bệnh nhân hiện có sẽ tiếp tục được chăm sóc. Hoạt động nghiên cứu y học tại NIH sẽ bị đình chỉ và một số nghiên cứu sẽ bị trì hoãn. Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Bệnh dịch cũng sẽ bị hạn chế mạnh trong việc phát hiện và nghiên cứu những nạn dịch, từ cúm tới virus MERS bí ẩn từ Trung Đông.

An toàn thực phẩm

Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ sẽ xử lý những khiếu nại có nguy cơ cao và có khả năng đình chỉ hầu hết những cuộc thanh tra định kỳ. Công tác thanh tra thịt liên bang dự kiến diễn ra như thường lệ.

Thuế

Người Mỹ sẽ vẫn phải đóng thuế và khai thuế, nhưng Sở Thuế Vụ nói họ sẽ đình chỉ tất cả hoạt động kiểm toán. Có thắc mắc ? Rất tiếc, dịch vụ dành cho người nộp thuế, trong đó có đường dây giải đáp câu hỏi cũng sẽ đóng cửa.

Nhiều người đi vay thu nhập từ thấp tới trung bình, và những người mua nhà lần đầu muốn xin một khoản thế chấp có sự hỗ trợ của chính phủ sẽ bị trì hoãn trong quá trình đóng cửa. Cơ quan Quản lý Nhà Liên bang, vốn đảm bảo 30% số thế chấp nhà, sẽ không bảo lãnh phát hành hay chấp nhận bất cứ khoản vay mới này trong quá trình đóng cửa. Các hoạt động cho vay do chính phủ hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ cũng sẽ bị đình chỉ.

Khoa học

Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) “sẽ đóng cửa gần như toàn bộ”, tổng thống Mỹ nói. Chỉ có những nhân viên tại Trung tâm Điều khiển bay ở Houston và một số nơi khác sẽ tiếp tục làm việc để hỗ trợ trạm Vũ trụ Quốc tế, nơi hai phi hành gia Mỹ và 4 người khác đang được triển khai.

Dịch vụ Thời tiết Quốc gia Mỹ sẽ tiếp tục dự báo thời tiết và phát cảnh báo, còn Trung tâm Bão quốc gia vẫn sẽ theo dõi bão. Tuy nhiên, hoạt động khoa học tại Cục Khảo sát Địa chất Mỹ sẽ bị đình chỉ.

Nhà tù

Tất cả 116 nhà tù liên bang vẫn mở cửa, và kiện tụng hình sự vẫn diễn ra. Tuy nhiên, tiền lương dành cho quản tù có thể sẽ bị chậm.

Quân đội

Tổng thống hôm qua ký luật đảm bảo rằng 1,4 triệu binh sĩ đang làm nhiệm vụ sẽ vẫn được trả lương trong giai đoạn chính phủ đóng cửa.

“Quốc hội đã thông qua, và tôi đang ký thành luật, đảm bảo rằng các bạn nhận lương đúng thời hạn. Và chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc để giải quyết bất cứ tác động nào mà vụ đóng cửa này gây ra đối với các bạn và gia đình”, Obama nói trong một thông điệp video dành cho quân đội Mỹ và gia đình họ.

Tuy nhiên khoảng một nửa số nhân viên dân sự của Lầu Năm Góc sẽ được cho nghỉ việc không lương.

Trọng Giáp

Tài chính thế giới phản ứng trái chiều với tin xấu từ Mỹ

Việc Mỹ tạm đóng cửa chính phủ chưa gây “sóng gió” đáng kể trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, đồng đôla đã giảm nhẹ và giá vàng đi lên.

Tin Quốc hội Mỹ không tin được tiếng nói chung trong chính sách y tế (Obamacare) khiến chính phủ nước này đóng cửa gây ảnh hưởng trái chiều lên thị trường tài chính quốc tế, sau ít giờ được công bố. Tính đến giữa chiều nay (1/10) theo giờ Hà Nội, đôla Mỹ đã giảm giá 0,1% so với các đồng tiền trong rổ tiền tệ phổ biến, xuống mức thấp nhất trong vòng 7 tháng.

Trên thị trường hàng hóa, vàng tăng 0,1%, lên mức 1.328,6 USD một ounce. Trước đó, kim loại quý đã tăng liền 7,6% trong quý III, giúp đồ thị đảo chiều sau 3 quý giảm trước đó. Ngược lại, giá dầu thô Brent hạ 0,5%, ở ngưỡng 107,8 USD một thùng sau khi tăng 6% trong 3 tháng.

Trên thị trường chứng khoán, do các thị trường tại Mỹ và châu Âu chưa bước sang ngày 1/10 nên diễn biến chủ yếu được ghi nhận tại châu Á. Chỉ số MSCI Châu Á Thái Bình Dương tăng 0,4%, đạt 139,05 điểm vào giữa phiên tại Tokyo. Angus Gluskie, Giám đốc đầu tư của quỹ quản lý tài sản White Funds đánh giá : “Các số liệu về kinh tế tại châu Á đã tốt hơn và điều này đem lại cho các nhà đầu tư chút gì đó lạc quan”.

Chỉ số Nikkei 225 của Nhật cũng tăng 0,2% lên gần 14.485 điểm, Kospi của Hàn Quốc tăng 0,1% và Straits Time (Singapore) thêm gần 0,5%, Taiex (Đài Loan – Trung Quốc) tăng 0,16%… Trong khi đó, ASX của Australia dao động liên tục giữa tăng và giảm. Riêng thị trường Hong Kong và Trung Quốc đang đóng cửa nghỉ Quốc khánh 1/10.

Dường như quên đi vấn đề của Mỹ, các nhà đầu tư tại châu Á đang đợi chờ tuyên bố của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe về gói kích cầu kinh tế và kế hoạch tăng thuế tiêu dùng tại đất nước Mặt trời mọc.

Đây là lần đầu tiên sau 17 năm nhiều cơ quan liên bang Mỹ phải ngừng hoạt động khi hai viện không thông qua được ngân sách. Hệ quả sáng ngày 1/10 (theo giờ Mỹ) sẽ có khoảng 800.000 lao động phải nghỉ việc vô thời hạn, trong đó ước tính 400.000 người đang làm việc trong Bộ Quốc phòng, 30.000 người thuộc Bộ Thương mại và hàng chục nghìn nhân lực thuộc các Bộ khác. Chỉ có 3 bộ phận vẫn hoạt động bình thường là điều phối không lưu, an ninh quốc phòng, năng lượng và vũ khí hạt nhân

Khánh Linh

Đọc Hồi Ký Của Một Vị Niên Trưởng—Nguyên Thiều

Cuốn Hồi Ký này thuật lại những sự thực hiển nhiên trong Chiến Tranh Việt Nam, để hậu thuẫn cho chính nghĩa của phe Quốc Gia ở Miền Nam, để khẳng định đức hạnh và danh dự của quân nhân VNCH và Hoa Kỳ (và Đồng Minh) đã chiến đấu cho Tự Do của Miền Nam. Cựu chiến sĩ Mỹ và VNCH nên đọc và lưu lại cho con cháu. Đây là cuốn sách đầu tiên của một quân nhân Việt Nam viết bằng tiếng Anh dài 598 trang về Chiến Tranh Việt Nam.

Tôi không là nhà báo hay văn sĩ, lại càng không phải là người điểm sách. Với tầm hiểu biết của một độc giả bình thường, xin được nêu ra vài nhận xét nhỏvà cũng nhân đó giới thiệu về quyển sách mà một vị niên trưởng đồng môn của tôi đã viết. Độ dày của sách khiến tôi tò mò vì xưa nay ít có nhà xuất bản Mỹ nào chịu in những quyển sách dày như vậy. Tò mò của tôi đã nhanh chóng chuyển thành ngạc nhiên sau khi đọc qua những mẩu chuyện “thật thà như đếm” mà lại lôi cuốn một cách nhẹ nhàng kỳ thú chứa đựng trong đó. Tôi dán theo những nhận xét của tôi vài tấm hình; quý vị sẽ không thể thấy được hình ảnh nếu đọc message trong Yahoo Group (do hạn chế html của new version). Hình sẽ chỉ hiển thị nếu được đọc trong inbox cá nhân hoặc Google Group. Tôi rất xin lỗi về sự bất tiện này.

Viện Đại Học Indiana cho ra mắt một quyển sách có nhan đề về Chiến Tranh Việt Nam vào mùa xuân năm 2012. Không kể trang bìa, 15 trang mục lục, dẫn nhập và giới thiệu, sách dầy 598 trang, in trên khổ giấy 6X9, bìa cứng, được viết theo thể hồi ký, không viết theo mẫu mực sưu tầm nghiên cứu. Sách gồm 6 phần, 30 chương với tựa đề: Nationalist in the Viet Nam Wars—the Memoirs of a Victim turned Soldier. Tạm dịch là, Người Quốc Gia trong Chiến Tranh Việt Nam—Hồi Ký của một Nạn Nhân trở thành Chiến Binh.

 
Khi tự nói về mình, tác giả một mực khiêm tốn cho rằng, ông là “nobody”; nhưng đọc qua vài chương, bị cuốn hút vào những câu chuyện sôi nổi và nhận chân được giá trị của cuốn sách, độc giả chắc chắn hiểu rằng—người viết chẳng phải là “nobody” mà phải là “somebody”. Sách tường thuật lại những biến cố, những kinh nghiệm bản thân và thực tế cuộc đời trong chiến tranh mà tác giả đã trải qua—hoặc biết được và tin chắc là sự thật từ đầu thập niên 1940 khi ông còn tấm bé, cho đến tháng 10 năm 1990 khi ông cùng gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ. Ngay sau khi xuất bản, quyển sách đã được quảng bá và đón nhận rộng rãi; thế nhưng, ngay tại địa phương nơi tác giả cư ngụ, có vẻ như—vẫn không mấy người biết đến. Người ta có thể tìm được phần nhận xét, điểm sách, giới thiệu… của nhiều nhân vật tiếng tăm đã đọc quyển sách này và viết ra những nhận xét của họ như:
 
– Đại Tá Gregory Fontenot, Tiến Sĩ–Giám Đốc University of Foreign Military and Cultural Studies (Army magazine, trang 65):
…”This book is a first-rate contribution to correcting the record. Readers who approach writer with their hackles well down will find a new and refreshing view of what happened in Vietnam from the end of WWII through 1975″…
– Cố Vấn Daniel J. Cragg, Luật Sư–Chánh Án Toà Thượng Thẩm: 
…”Never once in this long book does he refer to Saigon as “Ho Chi Minh City.” He is still a Vietnamese patriot although now fate has decreed that one day his bones will rest in foreign soil. For the people of his generation that may be the greatest tragedy of the Vietnam War”.
 
– Luật Sư Đoàn Thanh Liêm:
…”Người viết rất hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn hồi ký rất trung thục và lý thú này của vị cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là một người có tấm lòng yêu nước nồng nhiệt chân thành. Sau cùng, người viết xin được bày tỏ lòng biết ơn và quý trọng chân thực đối với tác giả vì sự đóng góp thật quý báu này”.
 
– Nhà Văn Mặc Giao:
…”Đây là một cuốn sách rất đáng đọc, đáng được giới thiệu cho bạn bè ngoại quốc, nhất là cho những người trẻ Việt Nam để họ hiểu được, thấy được những lầm than, nỗ lực và hy sinh của thế hệ cha anh cho đất nước và cho chính họ”. 
 
– Thiếu Tướng David T. Zabecki:
…”An important book. One of the most compelling and thoughtful ARVN (Army of the Republic of Viet Nam) accounts I have ever read…. It is an unblinking, unflinching account… a very honest book, the author’s integrity comes through on every page.” 
 
Giáo Sư Williamson Murray:
“The study of the Vietnam wars is too often a cottage industry of Americans, many of whom seem to believe the war only began with increasing U.S. involvement in the early 1960s. Admittedly, interesting work from the North Vietnamese perspective, largely in literary form, has begun to emerge, but the perspective of those who fought for the Republic of Vietnam has largely gone unreported. That is why this is an important book”. 
 
– Trung Tướng Lawson Magruder:
“Of all the many books I have read about the Vietnam War, this one pays the ultimate tribute to the incredible sacrifices made by the courageous soldiers and people of South Vietnam. Through the eyes of a true patriot, the history and decisive operations of the conflict are reviewed from the unique perspective of a victim turned soldier. I have known the author for nearly four decades and can attest to his personal courage, his passion for life, and his intense love for his country. This book is a must read for those who want the complete picture and whole truth about a tragic war that consumed the world for over two decades.”
 
– Giáo Sư Olga Dror:
“His work provides us with a unique voice from the South Vietnamese side of the conflict in Vietnam. But it does much more than this. The author skillfully entwines memories of his and his family’s life with the broader picture of the events taking place in his country. As his book is unique, so has been his life”. 
 
– Đại Tá John Swindells:
“This detailed history of the life of a Vietnamese officer offers the best understanding of the wars in Southeast Asia that I have found. Even after two year-long tours in country, I learned much from this book about the history of the region and the culture of the Vietnamese people. No one who has not read this book can claim to understand what happened. As an American officer, some of the detail is quite painful to me. Nevertheless, I strongly recommend it”. 
 
Người Việt có câu: “Bụt Chùa nhà không thiêng”. Người Mỹ bảo rằng: “No man is a prophet in his own land”. Người Pháp cũng nói: “Nul n’est prophète en son pays”. Cả 3 câu nói Việt–Mỹ–Pháp vừa kể nếu đem áp dụng vào trường hợp của quyển Nationalist in the Viet Nam Wars xem chừng cũng có vài phần thích hợp. 
 
Tác giả quyển sách là Niên Trưởng Nguyễn Công Luận—cựu sinh viên sĩ quan Khoá 12 của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Ông là một cây viết từng cộng tác với nhiều tờ báo tại Sài Gòn từ trước năm 1975—(kể cả tờ Diều Hâu) dưới bút hiệu Lữ Tuấn. Được biết, cùng với 4 học giả Hoa Kỳ khác—mà niên trưởng là nhân vật số 2, ông đã cộng tác với Giáo Sư—Nhà Sử Học Spencer C. Tucker trong vai trò associate editor soạn thảo pho sách Encyclopedia of the Vietnam War xuất bản hồi năm 1998 (ABC-CLIO). Hiện nay, niên trưởng cũng viết cho đặc san Đa Hiệu của Tổng Hội Võ Bị và một vài tờ nhật báo, tuần báo tại California.   
 
Nội dung Nationalist in the Viet Nam Wars thuật lại các biến cố đáng kể xảy ra đối với cuộc đời của một người Việt Nam bình thường điển hình—tiêu biểu cho thế hệ của tác giả trong hai cuộc chiến tranh 1946-1954 và 1955-1975 tại Việt Nam, những trận giao tranh ác liệt, những cảnh giết chóc tàn bạo, những hành hạ và tù đầy thảm khốc, những tấm lòng nhân ái hay tàn ác trong chiến tranh, về con người trước súng đạn và thù hận. Sách này không phải là tài liệu nghiên cứu, mà là hồi ký có góc nhìn trung thực từ những vị trí thấp bé của người dân, người lính, không phải từ vị trí của các nhân vật quyền lực luận bàn về chuyện quốc gia đại sự.
  
Toàn bộ cuốn sách được trình bầy như một quyển truyện—quyển tiểu sử viết về một cá nhân theo diễn tiến thời gian song song với lịch sử quốc gia, mà trong đó bao trùm những sự kiện và các biến cố của dân tộc về mọi mặt văn hóa, chính trị, xã hội—khi chiến tranh và lúc thanh bình. Những vấn đề được nêu lên trong sách rất đa dạng, người đọc khó có thể liệt kê hết vào nội dung của vài lời nhận xét ngắn ngủi. Hầu như vấn đề nào có liên quan đến chiến tranh, đặc biệt là những sự thật đã bị Việt cộng, giới truyền thông Mỹ và ngoại quốc xuyên tạc, vu cáo đều được ghi lại.
 
Tác giả chú trọng nhiều đến những biến cố hoặc sự kiện mà đa số người ngoại quốc và một số người Việt Nam không biết, hoặc biết nhưng không quan tâm đến tác động và hậu quả. Rất nhiều điều mà người Việt Nam ai cũng rõ như một cộng một là hai; thế nhưng, nhiều người ngoài cuộc vẫn hiểu ngược lại vì thiếu dữ kiện so sánh; và nhất là, vì từ lâu đã bị đầu độc bởi những tuyên truyền xuyên tạc ác ý. Tác giả thuật lại những gì mình ghi nhận được về nhiều mặt, những sự kiện cũng như sắc thái của cuộc tranh chấp quốc-cộng qua những đoạn đời từng trải, từ thuở ấu thơ là nạn nhân của chiến tranh cho đến khi trưởng thành nhập ngũ, trực tiếp tham dự vào cuộc chiến ấy. Người đọc sẽ thấy những tâm tư của một người Việt trong một đất nước nghèo hạnh phúc và an vui, mà lại giầu bom đạn và lòng hận thù qua những mẩu chuyện nho nhỏnhững nhận xét khách quan về nhiều mặt hay dở, tốt xấu, thành bại của giới cầm quyền và quân đội của cả đôi bên diễn ra tại hạ tầng cơ sở. Nhiều vấn đề không được thế giới bên ngoài, nhất là dư luận phương Tây và Hoa Kỳ biết đến hoặc đã bị hiểu một cách sai lệch được vạch trần và kể lại trong quyển sách này. Thí dụ như, chiến tranh tại Việt Nam không phải chỉ xẩy ra từ đầu năm 1962 khi quân lực Mỹ bắt đầu can thiệp vào Việt Nam như báo chí ngoại quốc vẫn lầm tưởng.
 
Tác giả thẳng thắn kể đến những bất cập của chính quyền và quân đội VNCH về chính trị hành chánh, chiến thuật, về tệ nạn tham nhũng, về thực chất chế độ dân chủ ở Miền Nam và những hạn chế nỗ lực chiến tranh không thể vượt qua; về quân sự như chiến thuật (sử dụng lực lượng), quản trị nhân sự (thăng thưởng bừa bãi); gánh nặng gia đình binh sĩ cũng như gánh nặng “tự do báo chí” và những nhiễu loạn chính trị… Chẳng hạn như, CSVN bỏ xa VNCH về kỹ thuật xảo trá–quỷ quyệt trong tuyên truyền và phản tuyên truyền.
 
Tác giả chứng minh rằng VNCH không dám mạnh tay với dân chúng để đẩy mạnh nỗ lực chiến tranh chống Việt cộng trong khi hệ thống tuyên truyền lưu manh cùng với bộ máy khủng bố cùng hung cực ác của Việt cộng tại thôn quê đã nắm chặt từng mảnh vườn, từng căn nhà và từng mạng sống của người dân. Dân chúng phải làm mọi việc mà CSVN ra lệnh và chúng đã kiểm soát họ bằng súng, lựu đạn, dao găm… CSVN thực hành các phương pháp khủng bố rất hữu hiệu song song với các thủ đoạn tuyên truyền chinh phục đối tượng một cách tài giỏi. Rất nhiều anh em ruột theo 2 phe đã giết nhau không nhân nhượng chỉ vì một bên đã mù quáng nghe theo lời tuyên truyền của cộng sản. Ở nhiều chỗ trong sách cũng nói về chế độ tù đầy của cộng sản và quốc gia; thí dụ như, sự thực về vụ Phú Lợi (Chương 13).
 
Bằng những hiểu biết và kinh nghiệm từng trải khi phục vụ ở nhiều nơi như Kontum, Quy Nhơn, Sài Gòn, v.v… tác giả nêu lên những sự thật về cuộc chiến ở nông thôn cũng như ở thành thị—tác dụng của chiến tranh trên mọi lãnh vực như tình yêu và hôn nhân, đạo đức và sa đọa, khuynh hướng hiện sinh và tệ nạn băng đảng…
 
Tác giả ghi nhận đóng góp của những người vợ lính nghèo nàn nhưng hết lòng hy sinh cho chồng (Chương 23). Nhiều người tham dự trực tiếp trên chiến hào hay công sự phòng thủ hoặc chuyển đạn dược tiếp tế cho chồng và các chiến hữu của chồng. Trong số này có người bạn đời của tác giả, đã hỗ trợ đắc lực cho chồng, đặc biệt trong việc giúp đỡ cuộc sống của gia đình binh sĩ thuộc quyền. Chính bà cũng là sức cản mạnh mẽ giúp chồng tránh khỏi những vụ tham nhũng lớn nhỏ. Tác giả có những mối tình sâu đậm mang nặng ảnh hưởng của chiến tranh. Mối tình sôi nổi hồi năm 1957 đến 1961 không mấy phai mờ. Cho đến nay, hình ảnh người đẹp của hơn 50 năm trước vẫn còn thường xuyên ám ảnh chàng trai ngày nào trong những giấc mơ chập chờn lúc nửa đêm.
 
Trong đời sống công vụ và quân vụ, tác giả chủ trương thừa hành nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phải đối phó bằng tình cảm thích đáng song song với kỷ luật và pháp chế đối với thuộc cấp, với dân chúng và với địch quân. Là một cựu Giám Đốc Nha Tiếp Nhận thuộc Bộ Thông Tin Chiêu Hồi, ông đã nhắc đến thành công lớn của chế độ VNCH về chính sách Chiêu Hồi, một chính sách độc đáo mà trên thế giới không nước nào có (Chương 19). Lòng khoan dung của người quốc gia đã thu hút về phía mình hơn 150.000 sĩ quan, cán bộ và binh sĩ CSVN (tương đương với 20 sư đoàn cộng sản) trong thời gian 12 năm (1963-1975) được rất ít người biết đến.
 
Cuốn sách cũng nhắc đến những người Mỹ ở nhiều cơ quan, đơn vị tại Việt Nam, trên trận địa cũng như trong bar, night club hay trên đường phố để xác định người lính Mỹ không giống như lính Pháp trong chiến tranh 1946-1954sang VN để tái lập chế độ thuộc địa Pháp, giết chóc hãm hiếp bừa bãi như cộng sản đã ra rả xuyên tạc (và đã thành công). Khi nhìn bề ngoài, lính Pháp và lính Mỹ giống nhau (cũng nón sắt, quân phục màu olive, mũi lõ, mắt xanh, da trắng). Tuy vậy, Mỹ cũng mắc nhiều lỗi lầm chủ quan như thiếu hiểu biết về địch và bạn, không biết và không khai thác những chỗ yếu của đảng, quân đội và xã hội Miền Bắc, không biết bản chất cuộc chiến tranh du kích, ỷ lại vào hỏa lực mạnh và vũ khí tinh vi, đánh giá thấp chiến tranh tâm lý. Về phương diện tích cực, nhiều người Mỹ đến VN với thiện chí cao đẹp, các đơn vị Mỹ không ngại nguy hiểm khi hết lòng cấp cứu nạn nhân thiên tai và chiến tranh. Đa số các cố vấn quân sự tỏ ra khiêm tốn, thân thiện và gắn bó với các đơn vị mà họ chịu trách nhiệm. Họ truyền thụ tay nghề cho các chuyên viên VN với nhiều nhiệt tình, làm thay đổi bộ mặt khoa học kỹ thuật của Miền Nam trong chiến tranh (và cả nước ngày nay).
 
Một chương trong sách (Chương 12) được dành ra để nói về những cải tổ sâu rộng toàn diện của quân đội Miền Nam cũng như Trường Võ Bị Đà Lạt (quân phục sinh viên sĩ quan, chương trình huấn luyện, hệ thống tự chỉ huy, nghi lễ) sau khi VNCH ra đời cuối năm 1955, khi Khóa 12 đang thụ huấn. Tinh thần và khả năng của lớp sĩ quan trẻ. Ngoài ra còn có một số tin tức và vấn đề đặc biệt mà ít người được biết về Chiến Tranh Việt Nam, như so sánh tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá giữa 2 miền Nam Bắc trong chiến tranh.
 
Người đọc có thể thấy, một trong những mục tiêu của tập hồi ký là xác định vai trò lịch sử, bản chất xấu tốt và chính nghĩa của người Việt quốc gia và quân đội VNCH trong cuộc tranh chấp đổ máu quốc cộng tại Việt Nam mở màn ngay từ 1945 đến những năm tháng của bắt bớ và tù đày sau 30/4/1975. Mục tiêu hàng đầu của cuốn hồi ký là nhắm vào các thế hệ trẻ gốc Việt ở nước ngoài chỉ thông thạo Anh ngữ và các cựu chiến binh Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam. Đây là 2 lớp người cần hiểu biết rõ ràng, chính xác và đầy đủ về lịch sử Việt Nam thời cận kim để thấy Chiến Tranh Việt Nam đã bị bóp méo, xuyên tạc với những tin tức không đầy đủ, với những phóng sự vu cáo, bịa đặt, thiên vị làm lợi cho cộng sản.
 
Hiển nhiên, cuốn hồi ký góp phần không nhỏ vào việc phục hồi danh dự, đồng thời vinh danh sự hy sinh cao quý của người lính Quân Lực VNCH cũng như Quân Lực Hoa Kỳ và Đồng Minh. Ở mức độ cao hơn, cuốn sách thực sự đóng góp vào nỗ lực xác định vị trí chính nghĩa vững vàng và vinh quang của chính thể VNCH trên trường quốc tế. VNCH và quân đội đã đóng góp thành công như thế nào trong việc xây dựng đất nước—đặc biệt về kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa giáo dục… vào những thời kỳ mà chiến tranh đang lên đến mức ác liệt nhất. Sau năm 1975, các tiến bộ về khoa học kỹ thuật của VNCH để lại đã giúp cho chế độ CSVN rất nhiều trong việc xây cất, phát triển kỹ nghệ. Khi tiếp thu Sài Gòn, các kỹ thuật gia Liên Xô rất ngạc nhiên trước trình độ hiểu biết tân tiến của chuyên viên Miền Nam—thừa nhận rằng, ngay tại Mạc Tư Khoa, họ cũng chỉ nghe nói đến một số kỹ thuật cao cấp ở Miền Nam Việt Nam chứ chưa hề được ứng dụng.
 
Lập trường về CSVN được nói rõ ở nhiều phần trong sách. Đối với những lời khuyên chúng ta quên hận thù, tác giả khẳng định rằng người quốc gia không thù hận các cán bộ, đảng viên ở cấp thừa hành có hành động tàn ác, dã man, xảo quyệt, hại dân vì họ chỉ là tay sai phải làm những việc do cấp trên của họ chỉ định và bắt buộc. Nhưng lòng thù hận sắt máu đối với các lãnh tụ cộng sản cao cấp thì không thể quên được vì chúng đã cố tình đem chủ nghĩa cộng sản tàn độc vào làm hại đất nước, gây chết chóc cho nhiều triệu đồng bàotàn phá quê hương, làm suy đồi nhân bản, văn hóa, đạo đức. Chúng ta không bao giờ quên mối thù sâu đậm đối với bọn lãnh tụ trung ương đảng cũng như chúng ta không thể quên được vết cắn đau đớn của con chó dại trên bắp chân mình.
 
Để trả lời câu hỏi “Chúng ta sẽ đối xử với người CSVN như thế nào nếu chúng ta là kẻ thắng trận?”; tác giả cho rằng, “Chắc chắn VNCH sẽ không kỳ thị, không phân biệt đối xử, không cầm tù, không trả thù người cộng sản, không thủ tiêu hoặc xử tử như họ đã đối xử với chúng ta”.  
 
Untitled-1
Encyclopedia of the Vietnam War (1998) và Nationalist in the Viet Nam Wars (2012)
 
Không dễ dàng gì mà nhà xuất bản của một viện đại học lớn danh tiếng chịu ấn hành tác phẩm của một người Việt “nobody” dài 600 trang về đề tài Chiến Tranh Việt Nam—một đề tài vốn đã cũ, bị xem là nhàm chán với hàng trăm quyển sách đã được viết ra trong hơn bốn thập niên vừa quanếu quyển sách này không thực sự có một giá trị đặc biệt độc đáo. Việc Viện Đại Học Indiana tuyển chọn và xuất bản tác phẩm đã nói lên tầm mức uy tín và giá trị hàn lâm của cuốn sách. So với hàng núi báo chí, sách vở được các nhà in vô danh ấn hành và xuất bản một cách dễ dàng hiện nay, quyển sách này là một tác phẩm chứa đựng nhiều công phu, đem lại sự trung thực và đang góp phần làm sáng tỏ chính nghĩa VNCH.
 
Hiện nay, Nationalist in the Vietnam War đã nhanh chóng trở thành tài liệu cho sinh viên dân sự tại nhiều thư viện của các Viện Đại Học như: Stanford University, Cal Poly, UC DavisUCLA, University of Oklahoma,  University of Wyoming, University of Denver, University of Idaho, Portland State… Đồng thời cũng được lựa chọn đưa vào tủ sách của các Trường Võ Bị Hải Lục Không Quân Hoa Kỳ như: US Air Force Academy, US Naval Academy, US Military Academy
 
Bằng lối hành văn giản dị, trong sáng với những tình tiết trung thực—30 chương sách với vô số câu chuyện tách biệt nhưng không rời rạc—lôi cuốn người đọc một cách nhẹ nhàng thú vị. Tác giả đưa độc giả đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, đặc biệt đối với những độc giả thuộc giới trẻ, chỉ biết đến chiến tranh Việt Nam qua sách báo ngoại quốc. Sự trung thực và chính xác của các vấn đề do tác giả trình bày được xem là hết sức thành thật. Độc giả có thể đọc sách tuỳ theo cảm hứng của mình đối với từng chương sách, mà không nhất thiết cần phải theo đuổi một thứ tự nào nhất định nào.

Mỗi gia đình người Việt có con cháu chỉ thông thạo Anh ngữ, nhất là các anh chị em TTN/Đa Hiệu nên và cần đọc qua quyển sách này để thấu hiểu một cách thông suốt và chính xác về lịch sử Việt Nam.
 
 
nguyencongluan
Tác giả quyển Nationalist in the Viet Nam WarsNiên Trưởng Nguyễn Công Luận K12 (2010)
 
Ngay sau khi được xuất bản—từ mùa xuân 2012, Nationalist in the Vietnam War đã được giới thiệu và bày bán tại nhiều hiệu sách khắp nơi như: nhà xuất bản Indiana University Press, Booktopia, Barnes & Noble, Amazon.com, Tower Books, Powell’s, AbeBooks, Whitcoulls
 
381912_orig
Flyer mời tham dự buổi giới thiệu quyển Nationalist in the Viet Nam Wars tại San Jose
8908478_orig
Đọc Nationalist in the Viet Nam Wars bằng Kindle Fire

Do yêu cầu của bạn đọc, của văn thi hữu, của đồng môn, đồng ngũ và thân nhân, Nationalist in the Viet Nam Wars sẽ được chính thức giới thiệu vào chiều Chủ Nhật sắp tới—ngày 6 tháng 10 năm 2013 tại thành phố San Jose. Được biết, cựu Trung Tướng Lawson William Magruder III, Luật Sư Đoàn Thanh Liêm, Nhà Văn Mặc Giao, Luật Sư Jimmy Nguyễn và chính tác giả sẽ giới thiệu về quyển sách đến độc giả bốn phương. Nếu quý vị cảm thấy muốn tìm hiểu thêm về quyển sách và buổi giới thiệu này, xin vui lòng tham khảo tại http://vietnamesenationalist.org hoặc liên lạc trực tiếp với Niên Trưởng Nguyễn Công Luận K12 qua đ/c e-mail: lutuan.k12@gmail.com

Và, để có quyển Nationalist in the Viet Nam Wars—bìa cứng với chữ ký lưu niệm của tác giả, xin mời quý vị đến tham dự buổi giới thiệu (rất ngắn—vì lý do sức khoẻ của tác giả) được tổ chức tại: Mount Pleasant High School—1750 S. White Rd. San Jose, CA 95127 từ 2 giờ trưa đến 5 giờ chiều ngày Chủ Nhật 6 tháng 10 năm 2013.

Sau hết, một điều khiến tôi rất lấy làm tiếc về Nationalist in the Viet Nam Wars—là, một quyển sách hay mà lại có vẻ như rất thiếu hình ảnh!

Nguyên Thiều

Truyền Thông và Cách Mạng—Nguyễn Hưng Quốc

Xã hội, bất cứ hình thức xã hội gì, cũng đều được xây dựng trên nhiều nền tảng, nhưng một trong những nền tảng căn bản và quan trọng nhất là: truyền thông. Không có truyền thông, một tập thể người, dù đông đảo đến mấy, cũng không thể trở thành một xã hội.
Điều kiện để một xã hội được hình thành không phải là số đông mà là sự nối kết. Điều kiện để có sự nối kết là một mẫu số chung nào đó. Cái mẫu số chung ấy, dù rất hiển nhiên, như là huyết thống và quyền lợi kinh tế, vẫn không thể được ghi nhận và chia sẻ nếu thiếu một yếu tố: truyền thông. Đó là lý do tại sao, ngay từ xưa, trong quá trình lập quốc, người ta đã đề cao việc có một ngôn ngữ chung; trường hợp không có một ngôn ngữ chung, người ta cố gắng xây dựng một hệ thống chữ viết chung (như trường hợp chữ Hán của Trung Hoa).
Theo Benedict Anderson, trong cuốn Imagined Communities (Verso, 1983), hầu hết các biến chuyển lớn ở Tây phương thời hiện đại đều gắn liền với kỹ nghệ ấn loát mới với việc nở rộ của sách và báo khắp châu Âu. Trước, La Mã dễ dàng đánh bại mọi kẻ thù nhờ họ làm chủ một phương tiện truyền thông hoàn hảo và có ưu thể hơn hẳn (tr. 39). Sau, với sự xuất hiện của máy in, kiến thức được phân phối rộng rãi và tự do, làm cơ sở cho sự nảy nở và phát triển của phong trào Cải cách, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành với vai trò nổi bật của Martin Luther, người có sách bán chạy nhất trong nửa đầu thế kỷ 16 – được xem là tác giả best-seller đầu tiên trong lịch sử (tr. 39). Kỹ nghệ ấn loát mới cũng dẫn đến sự hình thành của quốc gia và chủ nghĩa quốc gia (nationalism): Qua sách báo được xuất bản, mọi người, bất kể những khác biệt về huyết thống, giai cấp và phái tính, có một ký ức chung và một tưởng tượng chung vốn là những yếu tính để hình thành một cộng đồng có tên là dân tộc hay quốc gia.
Giống xã hội hay quốc gia dân tộc, các cuộc cách mạng cũng được xây dựng trên truyền thông. Xin lưu ý, cách mạng là một khái niệm khá mới, chỉ xuất hiện trong thời hiện đại. Xưa, người ta có thể cướp ngôi nhau nhưng lại không có cái gọi là cách mạng. Để được xem là cách mạng, ngoài việc thay đổi tầng lớp thống trị, người ta còn phải thay đổi cả hệ thống quyền lực và ý thức hệ làm nền tảng cho hệ thống quyền lực mới ấy cũng như toàn bộ cấu trúc xã hội. Với ý nghĩa như thế, hai cuộc cách mạng lớn được ghi nhận nhiều nhất là: một, cuộc cách mạng tư sản Pháp vào năm 1789 và cuộc cách mạng vô sản ở Nga vào năm 1917.
Hai cuộc cách mạng vừa kể khác hẳn nhau, trong đó, hai sự khác biệt lớn nhất là: một mở đầu cho trào lưu dân chủ và một mở đầu cho hệ thống toàn trị; một thành công, càng ngày càng thành công, và một thất bại sau hơn 70 năm thử nghiệm một cách đẫm máu. Tuy nhiên cả hai lại giống nhau ở một điểm: tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại. Trong Cách mạng Pháp, truyền đơn và các cuốn sách tuyên truyền mong mỏng (pamphlet) được in và phân phát khắp nơi. Trong Cách mạng Nga cũng vậy. Ngoài truyền đơn, lãnh tụ của cuộc cách mạng Lenin còn là một tác giả có sức sáng tác dồi dào dưới nhiều hình thức khác nhau (sau, ở Nga, người ta sưu tập và in các tác phẩm của ông thành 54 tập, mỗi tập dày khoảng 650 trang, như vậy, tổng cộng khoảng 35000 trang!).
Ở Việt Nam, vào đầu thế kỷ 20, trong cuộc vận động chống lại thực dân Pháp để giành độc lập, hầu như tất cả các sĩ phu yêu nước đều ý thức rất rõ tầm quan trọng của truyền thông. Họ làm thơ và viết văn để cổ vũ lòng tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết cũng như bất khuất. Quan trọng nhất, họ sẵn sàng hy sinh tự ái dân tộc để chấp nhận chữ quốc ngữ do các cố đạo Tây phương sáng chế và được thực dân Pháp ủng hộ như hệ thống chữ viết mới cho cả nước, thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, với hy vọng, với thứ chữ viết mới ấy, trình độ dân trí sẽ nhanh chóng được nâng cao và quá trình hiện đại hóa đất nước sẽ dễ dàng được thực hiện.
Ngay từ giữa năm 1944, chưa cướp được chính quyền, Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, cũng đã ý thức được ngay tầm quan trọng của truyền thông. Đội quân chủ lực đầu tiên do họ thành lập mang tên là Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với hai nhiệm vụ chính: vừa quân sự vừa chính trị, trong đó, chính trị được xem là quan trọng hơn quân sự. Thực chất đó là “đội tuyên truyền”. Ngay sau khi cướp chính quyền, Hồ Chí Minh đã nêu lên ba nhiệm vụ chính của chính phủ mới: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Nhiệm vụ trung tâm của chiến dịch “diệt giặc dốt” là phong trào Bình dân Học vụ nhằm xóa nạn mù chữ để ai cũng có thể đọc được… truyền đơn.
Chính vì ý thức rất sớm tầm quan trọng của truyền thông như vậy nên trong suốt thời gian đảng Cộng sản cầm quyền, từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trong cả nước, giới lãnh đạo Cộng sản luôn luôn chủ trương độc quyền về truyền thông. Kinh tế có thể đa nguyên hóa. Giáo dục có thể đa nguyên hóa. Xã hội có thể đa nguyên hóa. Nhưng với truyền thông thì tuyêt đối không: Tất cả mọi cơ quan truyền thông, từ xuất bản đến báo chí, từ báo in đến báo nói và báo hình, đều nằm trong tay nhà nước và đều bị kiểm soát và kiểm duyệt nghiêm ngặt. Giới lãnh đạo xem đó là một trong những biện pháp chính yếu để bảo vệ quyền lực của họ.
Nói chung, có ba loại quyền lực chính: Thứ nhất là quyền lực ý tưởng (idea power) thể hiện qua các phương tiện truyền thông, nhằm chinh phục cả trái tim lẫn khối óc của quần chúng để họ không những tin và phục mà còn sẵn sàng vâng lệnh nhà cầm quyền. Thứ hai là quyền lực kinh tế (ở Việt Nam, trước, thể hiện qua chính sách phân phối lương thực, sau, qua vai trò ưu tiên của hệ thống quốc doanh) nhằm kiểm soát bao tử và túi tiền của dân chúng khiến họ phải khuất phục. Và thứ ba, quyền lực vật lý (physical power) thể hiện qua quân đội, cảnh sát, công an, hệ thống tòa án và nhà tù nhằm làm cho mọi người khiếp sợ.
Đối với ba loại quyền lực trên, những nhà đối kháng và muốn đấu tranh cho dân chủ, phần lớn chủ trương bất bạo động, đã né tránh việc đối đầu với chính quyền ở góc độ quyền lực vật lý và, thành thực mà nói, hoàn toàn không có điều kiện và khả năng để thách thức chính quyền về quyền lực kinh tế. Chỉ còn một không gian duy nhất có thể biến thành nơi tranh chấp và có thể làm xuất hiện một thứ đối-quyền lực (counterpower) với chính quyền: quyền lực ý tưởng.
Tập trung vào quyền lực ý tưởng là chọn truyền thông làm mặt trận chính.
Cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, chủ yếu là cuộc đấu tranh trên phương diện truyền thông để giành giật phần thắng về ý tưởng. Trong cuộc đấu tranh ấy, người Việt có một phương tiện mới rất đắc dụng: internet.
Với internet, người ta có thể xây dựng được một thứ quyền lực từ dưới lên (power from below), hay nói theo chữ của Vaclav Havel, “quyền lực của những kẻ vốn không có quyền lực” (the power of the powerless).
Nhưng đó là chuyện dài. Xin đề cập sau.

Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể còn tồn tại được bao lâu?

thienanmon-030-danlambao
How long can the Communist party survive in China?
 
Trong khi kinh tế phát triển chậm và sự bất mãn của giới trung lưu gia tăng, đây là vấn đề đang được hỏi không những ở nước ngoài mà ngay cả ở trong nước. Ngay tại Trường Trung Ương Đảng, có cuộc thảo luận về điều không thể nghĩ đến: sự sụp đổ của chế độ cộng sản Trung Quốc.
Nép vào giữa trường gián điệp cao cấp của Trung Quốc và hoàng cung mùa hè về phía tây của Bắc Kinh là một nơi duy nhất trong nước mà người ta có thể bàn cãi công khai về cái chết của đảng Cộng Sản đang cai trị Trung Quốc mà không sợ bị trả thù. Nhưng địa chỉ nhiều bóng cây này không phải là trụ sở của một cơ quan nghiên cứu do Hoa Kỳ tài trợ hay là một tổ bí mật của những người bất đồng chính kiến. Đây là trường huấn luyện đảng của Ủy Ban Trung Ương Cộng Sản Trung Quốc, một học viện dành cho những nhà lãnh đạo chuyên quyền, “một lò luyện để nuôi dưỡng tinh thần của đảng viên” như được mô tả trong tài liệu tuyên truyền chính thức.

455cec11-6675-45ce-af86-da37c9ea1614_img
Trường Trung Ương Đảng – học viện dành cho các thành phần chính trị ưu tú  
©Eric Gregory Powell
 
Trường Trung Ương Đảng được thành lập vào năm 1933 để truyền bá cán bộ về chủ nghĩa Marx và Lenin và sau này là Tư Tưởng Mao Trạch Đông và những viện trưởng quá khứ bao gồm chính Mao Trạch Đông, và lãnh tụ mới được tấn phong gần đây là Tập Cận Bình và người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào. Chương trình giảng dậy được thay đổi triệt để để đáp ứng với những thay đổi quan trọng trong xã hội Trung Quốc. Học viên vẫn phải nghiền ngẫm về sự khôn ngoan của Tư Bản Luận và “Lý Thuyết Đặng Tiểu Bình” nhưng cũng được học những lớp về kinh tế, luật, tôn giáo, quân vụ, và những tư tưởng chính trị tây phương. Những cán bộ trung cấp và cao cấp là những học viên được học về cách thưởng thức ca vũ kịch và phép xã giao cũng như là xem những phim tài liệu về chống tham nhũng và tham gia vào việc hát những ca khúc cách mạng tập thể.
Một sự thay đổi quan trọng hơn đối với một học viện được thành lập để thực thi sự thuần khiết tư tưởng là việc thiết lập một khu vực thảo luận tự do, theo đó không có điều gì bị cấm bàn cãi. Đây là một vai trò tương đối mới. Một giảng viên của trường không muốn nêu tên vì không được phép nói chuyện với báo chí nước ngoài nói rằng “Chúng tôi vừa có một cuộc hội thảo với một nhóm đông người gồm những những đảng viên có thế lực và họ hỏi chúng tôi đảng sẽ còn nắm quyền được bao lâu và chúng tôi hoạch định những gì khi đảng sụp đổ. Thành thật mà nói, đây là câu hỏi bất cứ ai tại Trung Quốc cũng đang đề cập đến nhưng tôi sợ rằng nó rất khó để trả lời.”
Những người thừa kế cuộc cách mạng 1949 của Mao có thể bám vào quyền lực trong bao lâu là một câu hỏi từ năm này qua năm khác kể từ khi có cuộc tàn sát Thiên An Môn vào năm 1989 và sự tan rã của Liên Xô. Đã có nhiều tiên đoán thảm khốc về sự sụp đổ sắp xảy ra nhưng đảng vẫn tồn tại và lại còn phát triển mạnh, đặc biệt kể từ khi nó mở cửa đón nhận những nhà tư bản lần đầu tiên một thập niên trước đây. Ngày nay, đảng cách mạng của giai cấp vô sản có thể được mô tả một cách hay nhất là một phòng thương mại lớn nhất thế giới và quy chế đảng viên là cách hay nhất cho những nhà kinh doanh móc nối và lấy được hợp đồng lời nhiều.
Trong khoảng chưa tới năm năm, đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ thử thách Liên Xô (69 hay 74 năm cầm quyền tùy theo cách đếm) và Đảng Cách Mạng Định chế (Institutional Revolutionary Party) của Mexico (71 năm cho đến 2000) để trở thành một đảng chính trị cai trị liên tục lâu nhất. Theo lý thuyết hiện đại hóa, một chính thể độc tài có khuynh hướng dân chủ hóa khi lợi tức gia tăng, sự thành hình một tầng lớp trung lưu lớn sẽ đẩy mạnh tiến trình và khi nền kinh tế trì trệ tiếp theo một giai đoạn phát triển nhanh và lâu dài sẽ làm cho sự chuyển tiếp dễ xẩy ra hơn. Tình trạng bất quân bình trầm trọng và ngày càng tệ hại hơn cộng thêm với nạn tham nhũng cao sẽ là những lực thúc đẩy sự thay đổi.
Trung Quốc hiện nay đang có tất cả những yếu tố này, nhưng những lý thuyết gia chính trị kể cả những nhân vật tại Trường Trung Ương Đảng, lập luận rằng Trung Quốc là một trường hợp đặc biệt về phương diện văn hóa và chính trị và làn sóng làm sụp đổ các chế độ độc tài còn đang lên cao trong thế giới Ả Rập sẽ không bao giờ đến bờ Trung Quốc. Những người khác, kể cả những nhà trí thức có uy thế Trung Quốc, những chuyên gia tây phương về Trung Quốc nổi tiếng, và ngay cả những đảng viên cao cấp có đầu óc cởi mở, tin rằng đây là những ngày cuối cùng của thời đại Cộng Sản và đảng sẽ bị cuốn trôi đi nếu không sớm có một cuộc cải tổ chính trị quan trọng.
“Một ngàn mùa thu và một vạn thế hệ”
Ông Chen Shu là một giáo sư về lịch sử đảng, “xây dựng đảng” và Tư Tưởng Mao Trạch Đông tại Trường Trung Ương Đảng. Quan điểm của ông phản ảnh lối suy nghĩ chính thống của thành phần cao cấp của đảng. Với tất cả những khích động trí thức và tự do trao đổi ý kiến bên trong những bức tường của trường, người nước ngoài vẫn còn bị cấm vào nếu không có phép đặc biệt, luật lệ này có từ thời khi sự hiện diện của trường còn là một bí mật quốc gia. Ông Chen đồng ý gặp Financial Times tại một quán trà bên kia đường đối diện với Hoàng Cung Mùa Hè, nhưng ông thiếu kiên nhẫn khi được hỏi ông nghĩ gì về tương lai của đảng.
Ông trả lời với một giọng làm cho từ “tây phương” có nghĩa xấu: “Tất cả những lý thuyết về cuộc khủng hoảng ở Trung Quốc hay Trung Quốc sụp đổ là hoàn toàn có tính cách tây phương. Càng nhiều áp lực đặt trên văn hóa và đảng Cộng Sản Trung Quốc, họ sẽ càng đoàn kết và càng có khả năng để làm những phép lạ.”
temp-danlambao-43
Giáo sư Lin Zhe ở phía ngoài
Trường Trung Ương Đảng.
©Eric Gregory Powell
Lin Zhe là giáo sư của Trường Trung Ương Đảng, một người đã nghiên cứu làm sao giải quyết nạn tham nhũng trong hàng ngũ đảng. Cũng tại cùng quán trà, bà vui vẻ tiên đoán rằng đảng sẽ đón mừng 100 năm cầm quyền vào năm 2049 và nói rằng đảng đang chuẩn bị, theo một tục ngữ của Trung Quốc, sẽ lãnh đạo “một ngàn mùa thu và một vạn thế hệ.” Nhưng cả Bà Lin lẫn Ông Chen cũng cảnh cáo rằng tính cách chính danh của đảng bị đe dọa bởi nạn tham nhũng địa phương. Nó đã lan tràn vào mọi tầng lớp trong xã hội. Bà Lin nói “Vấn đề này rất nghiêm trọng, như những nhà lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc đã nói, nó có thể tiêu diệt đảng và quốc gia.”
Sự bền bỉ độc đoán
Trong cuốn sách xuất bản vào năm 1992, Tận Cùng của Lịch Sử và Người Cuối Cùng (The End of history and The Last Man), Francis Fukuyama lập luận rằng nền dân chủ cấp tiến tây phương là một dạng chính quyền sau cùng của loài người và mục tiêu cuối cùng của cách mạng tư tưởng. Lập luận này được hỗ trợ bởi sự bành trướng của chế độ dân chủ trong thế kỷ 20. Vào năm 1900, không một quốc gia nào trên thế giới có một chính thể cạnh tranh đa đảng và phổ thông đầu phiếu và chỉ có khoảng 12% nhân loại được sống dưới một chính thể được xem như là dân chủ theo một tổ chức Hoa Kỳ phi chính phủ Freedom House. Vào đầu thế kỷ 21, 120 nước trong số 192 quốc gia được quốc tế công nhận có chính thể dân chủ bầu phiếu với và 60% dân số thế giới sống dưới sự lãnh đạo của những nhân vật được bầu lên theo thể thức dân chủ.
 
Ông Fukuyama, hiện nay là một nhà nghiên cứu cấp cao tại Standford University, nói rằng ông tin rằng Trung Quốc sẽ theo con đường của phần đông các quốc gia khác, qua sự cởi mở tự do dần dần để sau cùng tiến đến dân chủ. Ông nói, nhưng nếu điều này không xẩy ra, có thể dân chúng sẽ nổi dậy tương tự như Mùa Xuân Ả Rập.
Ông Fukuyama nói: “Mô hình chính trị của Trung Quốc không thể tồn tại được vì thành phần trung lưu ngày càng lớn mạnh – một thế lực thúc đẩy dân chủ ở khắp mọi nơi. Thế hệ mới tại Trung Quốc rất khác biệt với thế hệ đã rời bỏ ruộng vườn và thúc đẩy đợt công nghiệp hóa đầu tiên – họ có trình độ học vấn cao hơn nhiều, giầu hơn nhiều và nhiều đòi hỏi mới như không khí trong sạch, nước trong sạch, thực phẩm an toàn, và những vấn đề khác không thể giải quyết được chỉ bằng phát triển kinh tế nhanh chóng.”
Ước tính kích thước của thành phần trung lưu của Trung Quốc thay đổi tùy thuộc định nghĩa nhưng một điều chắc chắn là giai cấp này không hiện hữu hai chục năm về trước nay phát triển rất nhanh chóng. Theo công ty tư vấn McKinsey, từng lớp trung lưu trên cùng – phần dân số có lợi tức gia đình hàng năm trong khoảng $17,350 – $37,500 – chiếm 14% số gia đình thành thị vào năm vừa qua, nhưng sẽ gia tăng đến 54% trong chưa tới 10 năm tới.
Trung Quốc thường hay dấu những bằng chứng để làm thuyết Fukuyama mất giá trị với những nhà phê bình lập luận rằng tiến trình tái sáng tạo của đảng đáp ứng được nhiều hơn đối với nhu cầu và đòi hỏi của dân chúng so với những chế độ độc tài theo lỗi cổ. Ông David Shambaugh, giám đốc Chương Trình Chính Sách Trung Quốc tại George Washington University và một chuyên gia về hệ thống chính trị Trung Quốc, từng ủng hộ quan điểm này. Nhưng vài năm gần đây, ông đã thay đổi ý kiến và hiện nay tin rằng đảng đang ở trong tình trạng đi xuống. Sự kiện này lập lại những ngày cuối cùng của các triều đại trong lịch sử.
Dấu hiệu bao gồm lý tưởng quốc gia trỗng rỗng mà xã hội không tin tưởng nhưng giả vờ làm theo cho đúng nghi thức, tham nhũng ngày càng tồi tệ, không cung cấp cho công chúng được đầy đủ an sinh xã hội, cảm giác bất ổn và thất vọng lan tràn trong quần chúng. Những dấu hiệu khác bao gồm gia tăng bất ổn xả hội và sắc tộc, nạn bè phái, thuế quá cao với tiền thâu phần lớn chui vào túi của giới chức nhà nước, bất quân bình lợi tức ngày càng trầm trọng và không có chế độ pháp trị đáng tin cậy.
Ông Shambaugh nói rằng một dấu hiệu mạnh mẽ về sự thiếu tin tưởng vào hệ thống là số dân giàu có ưu tú có tích sản và tài sản ở ngoại quốc, chương mục ngân hàng ở nước ngoài, và cho con cái học tại các đại học tây phương.
Ông Shambaugh nói “Những cá nhân này sẵn sàng bỏ trốn khi được thông báo, ngay khi hệ thống chính trị vào giai đoạn lâm chung – nhưng họ sẽ ở lại Trung Quốc để có thể thâu tóm được những đồng nhân dân tệ cuối cùng. Hành vi phòng thân của họ nói lên rất nhiều về tình trạng ổn định mong manh của đảng Cộng Sản Trung Quốc ngày nay.”
Xác ướp trong quan tài pha lê
82ed11d5-11e4-4ecf-9ee3-280a3eb9d131_img
Quảng trường Thiên An Môn, ©Eric Gregory Powell
 
Chân dung khổng lồ của Mao Trạch Đông được treo ở ngay trên Thiên An Môn – lối vào phía nam của Tử Cấm Thành, nhìn chằm chằm, qua quảng trường mang tên ông, vào lăng tẩm oai nghiêm nơi thể xác được ướp của ông được quấn trong một lá cờ Cộng Sản. Mỗi buổi sáng trong tuần ngoại trừ thứ Hai, du khách Trung Quốc xếp hàng dài tại quảng trường để được nhìn thấy lãnh tụ vĩ đại trong chiếc quan tài bằng pha lê.
Một thập niên trước, người ta thường được chứng kiến những xúc động bộc phát lớn lao và những người hành hương quỳ xuống trước “hoàng đế đỏ” đã quá cố của Trung Quốc. Nhưng vào một ngày trong tuần mới đây, cảm nghĩ nổi bật của những người đến xem có vẻ lãnh đạm (dửng dưng) hoặc thất vọng vừa phải. Một người ở tuổi trung niên với giọng địa phương nói rằng “Tôi xếp hàng một tiếng đồng hồ để thế này sao? Tôi tin rằng xác này làm bằng sáp; Thật là phí thời giờ.”
Sự thay đổi thái độ tinh tế này trong 10 năm qua thể hiện sự biến chuyển sâu sa hơn trong xã hội Trung Quốc tuy khó đo lường nhưng ngày càng rõ rệt. GS Perry Link tại Đại Học California ở Riverside, một trong những chuyên gia tây phương về Trung Quốc được kính trọng, nói rằng “Nền tảng tư tưởng của đảng thật rất nông cạn. Người dân gia nhập đảng ngày nay để móc nối và tiến thân không vì bất cứ một lý tưởng xã hội nào.”
Có lẽ truyền thông đại chúng qua Internet là một nhân tố quan trọng khích động sự chỉ trích chua cay và nghi ngờ giới nắm quyền lực. Chế độ kiểm duyệt Internet của Trung Quốc chặt chẽ nhất thế giới với Twitter, Facebook, Youtube và vô số mạng và dịch vụ trực tuyến bị ngăn chặn vì đảng lo sợ rằng những phương tiện này có thể được sử dụng để tổ chức đối lập chính trị. Nhưng sự bành trướng của những hệ thống thông tin tương tự trong nước, đặc biệt những mạng cực nhỏ “Weibo” giống như Twitter, vẫn cho phép dân chúng phá vỡ được sự kiểm soát của đảng đối với cuộc thảo luận công cộng theo một cách mà trước đây không thể làm được.
Trong khi kinh tế Trung Quốc phát triển chậm lại và sự tức giận tăng lên do một số vấn đề phát xuất từ sự thiếu vắng một thể chế cho phép người dân tham gia vào chính trị, đảng thật sự lo lắng về sự mất kiểm soát về tư tưởng, ý kiến, và thông điệp.
“Bẩy điều không thể nói đến”
temp-danlambao-44
GS Shen Zhihua – 
East China Normal University
©Eric Gregory Powell
Ông Shen Zhihua là một giáo sư tại Đại Học Sư Phạm Hoa Đông, chuyên về Liên Bang Xô Viết và là con của một trong những sĩ quan trong quân Đội Giái Phóng Nhân Dân từng phục vụ sát cánh với Mao trong cuộc cách mạng. Ông bị giam tù hai năm vào đầu thập niên 1980 sau khi bị kết tội oan làm gián điệp cho CIA. Vào tháng 9, 2009, Ông Shen trong một nhóm gồm một số ít học giả được tín cậy và được cựu Chủ Tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân triệu tập để thảo luận về sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết. Ông Giang hỏi họ về những yếu tố rõ ràng nào đã đưa đền sự tan rã của Xô Viết và nói rằng “Gorbachev đã phản bội cuộc cách mạng.”
Theo ông Shen, quan điểm của Giang Trạch Dân cũng là niềm tin chính thống của những nhà lãnh đạo Trung Quốc kể cả Tập Cận Bình. Trong bài diễn văn dành cho đảng viên sau khi ông được chọn làm người lãnh đạo đảng và quân đội vào cuối năm vừa qua, Tập Cận Bình nói rằng đế quốc Xô Viết đổ vỡ “bởi vì không có ai đủ dung cảm để đứng lên và chống lại.”
GS Shambaugh của George Washington University nói rằng “Tôi có thể không nhấn mạnh đủ về một sự kiện là những nhà lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục sống dưới bóng Liên Xô – Họ ý thức tối đa về những cải tổ Gorbachev thực hiện và tuyệt đối không đi theo con đường này.”
Tập Cận Bình bày tỏ quyền lực phù hợp với lập trường quả quyết của ông trên võ đài quốc tế vì Trung Quốc tiếp tục bành trướng vai trò của một siêu cường thứ hai của thế giới. Nhưng trong khi chính quyền mới biểu dương sức mạnh ở nước ngoài trong những cuộc tranh chấp sôi sục về lãnh thổ với những quốc gia láng giềng về phía đông, nam, và tây, chính quyền này tỏ ra lo âu và hoang mang hơn ở trong nước.
GS Link nói “Trung Quốc có sức mạnh về quân sự, ngoại giao và kinh tế hơn so với quá khứ và có thể bảo những nước như Anh và Hoa Kỳ nhượng bộ theo cách mà trước đây không thể làm được. Nhưng với tất cả sức mạnh đối ngoại mới, chính quyền Trung Quốc xem ra yếu ớt rất nhiều ở quốc nội, lo ngại rất nhiều về vấn đề bao lâu chính quyền nay có thể kiểm soát được chiếc vạc đang sôi sục này.”
Kể từ khi nhậm chức, Tập Cận Bình thi hành một loạt những cuộc đàn áp không nương tay đối với những người bất đồng chính kiến, tự do ngôn luận, những người sắc tộc ly khai, và xã hội dân sự. Ông tuyệt đối không cho thấy một dấu hiệu nào chứng tỏ rằng ông là một người chủ trương cải tổ ngầm mà một số người đã hi vọng. “Tài Liệu Số Chín”, một giác thư bí mật được phổ biến cho cán bộ vào tháng Tư và bị tiết lộ ra ngoài qua truyền thông Trung Quốc ở hải ngoại, cho thấy giới lãnh đạo mới lo ngại như thế nào về những đe dọa nhận thấy được đối với sự cai trị của đảng. Tài liệu nói rằng “Những lực lượng thù nghịch tây phương và những kẻ chống đối ở quốc nội không ngừng xâm nhập vào lãnh vực tư tưởng. Để có thể duy trì quyền lực của đảng, cần chú ý đến những cách thức suy nghĩ, lập trường, và hành động sai lầm.”
Theo tài liệu này, đảng đang thực hiện một cuộc đấu tranh khốc liệt liên hệ đến bẩy mối đe dọa trầm trọng mà trong giới hàn lâm gọi là “bẩy điều không thể nói đến”. Đứng đầu danh sách là “nền dân chủ hiến định tây phương” và tiếp theo là những điều cấm kỵ như nhân quyền, tư pháp độc lập, báo chi độc lập và phê bình quá khứ của đảng.
GS Shen Zhihua nói “Nhiều người cực kỳ thất vọng về lời nói và hành động của Tập Cận Bình. Nhưng có một số người bênh vực ông và nói rằng một khi ông củng cố được quyền lực và ổn định được tình trạng chính trị, lúc đó ông sẽ thúc đẩy những cải tổ.” Theo lý lẽ này, những hành động độc đoán của Tập Cận Bình trong giai đoạn chập chững này có tính cách chiến thuật hơn là chiến lược, một cách để tập hợp những người trung thành trong đảng cho chương trình cải tổ khó khăn sắp đến.
Một người chủ trương cải tổ, “hoàng tử” của một cựu lãnh tụ cao cấp Trung Quốc, biết rõ Tập Cận Bình, yêu cầu không nêu tên để tránh hậu quả chính trị, nói rằng “Cách giải thích bi quan hơn và thực tế một cách ngay thật hơn là Tập Cận Bình không có một sáng kiến nào cả. Vì vậy ông chỉ trích dẫn Mao và cố gắng nắm chặt lấy quyền hành. Trong trường hợp này, Trung Quốc không có hi vọng và sau cùng sự căm phẫn trong xã hội sẽ nổ tung thành một cuộc nổi dậy của dân chúng.”
Không còn phép lạ?
Trong ba thập niên kể từ khi Đặng Tiểu Bình phát động cuộc cải tổ theo định hướng thị trường và bắt đầu mở Trung Quốc đón tiếp thế giới, kinh tế phát triển trung bình khoảng 10% mỗi năm. Thành quả ngoạn mục này đã giải thoát hàng trăm triệu người ra khỏi tình trạng nghèo đói và đã khiến cho một vài người lập luận rằng chủ nghĩa “thị trường Lenin” đã thách đố học thuyết rằng các xã hội dân chủ hóa khi trở nên giàu có hơn. Nhưng theo Phó Giáo Sư chính trị học Liu Yu của Đại Học Tsinghua tại Bắc Kinh và GS Chen Dingding của Đại Học Macau, viết trong tạp chí Washington Quarterly năm vừa qua rằng “Những người biện minh rằng Trung Quốc là một trường hợp cá biệt không chú ý tới một sự kiện là hiện nay còn quá sớm để bảo Trung Quốc chấp thuận hay không tán thành học thuyết hiện đại hóa.”
Tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product – GDP) trung bình đầu người của Trung Quốc tính theo sức mua bình giá vào năm 2012 là $8,200, nhưng theo hai giáo sư Liu và Chen, con số này chưa đạt tới mức khiến cho các quốc gia với nền tảng văn hóa và lịch sự tương tự bắt đầu chuyển tiếp qua chế độ dân chủ. Cũng theo hai giáo sư Liu và Chen Vào năm 1988, hai nước đang dân chủ hóa Nam Hàn và Đài Loan có tổng sản phẩm nội địa trung bình đầu người theo sức mua bình giá lần lượt là $12,221 và $14,584 (theo giá đồng dollar 2010). Mức lợi tức của Liên Xô và Hung Gia Lợi vào năm 1989, khi hai nước này bắt đầu những chuyển tiếp chính trị lần lượt là $16,976 và $11,257 (theo giá đồng dollar 2010).
Những con số này cho thấy rằng việc kinh tế tiếp tục phát triển nhanh chóng sẽ làm Trung Quốc tự biến đổi chính trị chỉ trong vòng vài năm. Theo lý lẽ này, kể từ khi từ bỏ chủ nghĩa Mao, tính cách chính đáng của đảng chủ yếu dựa vào khả năng duy trì phát triển nhanh và nâng cao mức sống – nhưng đây cũng sẽ chính là lý do sau cùng làm cho đảng mất quyền kiểm soát tuyệt đối.
Ngày nay có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng mô hình kinh tế của Trung Quốc – đầu tư nhiều, định hướng xuất cảng, nhà nước chế ngự đang mất sức và sự phát triển sẽ chậm lại rõ rệt hơn là Bắc Kinh tiên đoán. GDP theo thời giá phát triển hàng năm chậm lại từ 17% trong quý thứ tư của năm 2011 xuống còn 8 % trong quý thứ hai của năm nay và mức phát triển của năm vừa qua xuống thấp nhất trong vòng 13 năm qua. Phần đông những kinh tế gia trông đợi mức phát triển sẽ còn ôn hòa hơn trong một ít năm sắp đến.
Bằng hầu hết các cách đo lường, Trung Quốc Cộng Sản là một xã hội bất quân bình nhất trên trái đất, với hầu hết sự giầu có tập trung vào trong tay một ít người ưu tú kết nối với nhau về mặt chính trị. Nếu sự giảm tốc độ hiện nay biến thành một cuộc khủng hoảng kinh tế hay gây ra nạn thất nghiệp rộng lớn, phần đông những phân tách gia tin rằng chính quyền sẽ nhanh chóng phải đương đầu với một cuộc nổi dậy của dân chúng. Ông Mao Yushi, kinh tế gia, 84 tuổi, được xem là cha đỡ đầu của nền kinh tế vĩ mô của Trung Quốc, nói rằng “Trong vòng hai thế kỷ, 30 năm vừa qua là một giai đoạn kéo dài duy nhất không có chiến tranh, nạn đói, hay hành hình hàng loạt, một giai đoạn mà đời sống của mọi người ngày càng tốt đẹp hơn. Tính cách chính đáng của chế độ chủ yếu dựa vào sự thành công của cải tổ kinh tế, nhưng vấn đề to lớn là hiện nay những kỳ vọng rất cao.
temp-danlambao-45
Kinh tế gia Mao Yushi
©Eric Gregory Powell
Nhà kinh tế già nua này bị thanh trừng nhiều lần trong thời đại Maoit. Ông làm lao động khổ sai trong 20 năm nhưng không liên tục tại vùng thôn quê và bị đánh đập và làm nhục. Sau việc phục hồi chính trị, ông tiếp tục sống và vào năm 1993 thành lập Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Unirule, một trung tâm nghiên cứu độc lập, và ông tiếp tục có ảnh hưởng trong những người chủ trương cải tổ trong đảng và chính quyền.
Ông Mao tiên đoán rằng Trung Quốc sẽ phải đương đầu với cuộc khủng hoảng tài chánh không thể tránh được trong một đến ba năm tới vì nợ xấu chồng chất và tình trạng thị trường bong bóng nhà đất, nhưng ông nghĩ rằng chính sự kiện này sẽ đẩy Trung Quốc đến chế độ dân chủ. Ông Mao nói “Tôi nghĩ rằng cuộc khủng hoảng tài chánh có thể thật sự tốt cho Trung Quốc vì nó sẽ buộc chính quyền phải thực hiện những cuộc cải tổ kinh tế và chính trị. Đây sẽ là kịch bản tốt nhất nhưng kịch bản xấu nhất là một cuộc nổi dậy hung bạo, tiếp theo là một giai đoạn dài với bất ổn và kinh tế suy sụp, giống như tình trạng chúng ta thấy tại Ai Cập.”
Những nhà phân tách chính trị Trung Quốc và Tây phương không ngừng dẫn chứng thí dụ tiêu cực Ai Cập. Giống như cựu lãnh tụ độc tài Hosni Mubarak, đảng Cộng Sản khá thành công trong việc đè bẹp bất cứ một lực lượng có tổ chức nào trước khi nó có thể mọc rễ.
GS Link nói “Chế độ Trung Quốc hiện nay chắc chắn sẽ sụp đổ ở một thời điểm nào đó – có thể vài tháng, vài năm, hay vài thập niên nhưng khi nó tan vỡ, mọi người sẽ nói dĩ nhiên nó sẽ xẩy ra. Vấn đề làm tôi lo âu là điều gì sẽ tiếp theo. Đảng loại trừ mọi nhóm mà nó không kiểm soát hoặc không nhìn thế giới như đảng và sẽ không có gì cả để thay thế đảng.”
Tai họa Olympic
Chắc chắn chỉ là một sự trùng hợp duyên dáng của lịch sử mà không một chế độ độc tài nào ngoại trừ chế độ dộc tài Mexico tồn tại hơn một thập niên sau khi tổ chức Thế Vận Hội Olympic – hãy nghĩ đến Berlin 1936, Moscow 1980, Sarajevo 1984 và Seoul 1988. Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thấy những cuộc tranh đua tại Bắc Kinh vào năm 2008 như một “tiệc ra mắt” của đảng trên sân khấu thế giới. Năm năm tới, đảng không những sẽ bất chấp tai họa Olympic này mà còn qua mặt chu kỳ sinh tồn của Liên Xô và giúp đánh đổ học thuyết dân chủ hóa.
Nhưng ngay cả những người bảo vệ chế độ hăng say nhất thừa nhận rằng những lãnh tụ Trung Quốc không thể tiếp tục cai trị vô thời hạn mà không đáp ứng những đòi hỏi được tham gia vào hoạt động chính trị của giới trung lưu ngày càng lớn mạnh. Họ lưu tâm nhiểu đến không khí trong sạch, nước trong sạch, chính quyền trong sạch và thực phẩm an toàn hơn là mức phát triển GDP.
Sau ba chục năm kinh tế bành trướng xuất sắc, mô hình phát triển của Trung Quốc bắt đầu mất sức và nếu Trung Quốc phải đối mặt với sự giảm sút bất ngờ đảng sẽ mất phương tiện chính đáng và dễ thuyết phục nhất để bảo vệ tính cách chính danh. Nếu chủ tịch mới của Trung Quốc Tập Cận Bình nắm lấy sáng kiến và phát động những cuộc cải tổ chính trị ý nghĩa, khi đó Trung Quốc có thể đi theo con đường của Đài Loan và Nam Hàn trong hai thập niên 1980 và 1990 và điều khiển một cuộc chuyển tiếp ôn hòa sang một thể chế dân chủ đa nguyên.
Trong sân Trường Đảng xanh tươi, một vài giáo sư đã nghiên cứu làm thế nào để thực hiện kỳ công này. Nhưng cho đến nay, Tập Cận Bình không bầy tỏ một khuynh hướng nào muốn làm một điều gì ngoại trừ xiết chặt quyền lực trong tay đảng và trừng phạt những kẻ nghi ngờ một chế độ độc đảng vĩnh viễn.
Nhiều người trong và ngoài đảng lo ngại rằng bằng cách chèn ép sự bất mãn của đại chúng bằng những dụng cụ đàn áp cổ điển, chính quyền mới một ngày nào đó ngủ dậy sẽ thấy đại chúng tràn ngập đường phố. GS Shen Zhihua nói “Tập Cận Bình và chính quyền này tạo cho Trung Quốc một cơ hội cuối cùng để thực hiện sự thay đổi xã hội thành một hệ thống chính trị cởi mở hơn từ trong nội bộ của đảng và trong hệ thống. Không có những cải tổ này, chắc chắn sẽ có cuộc bùng nổ xã hội.”20-9-2013

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Hát Cho Ngày Sài Gòn Quật Khởi—Nguyệt Ánh & Việt Dũng

Nhà Văn Phan Nhật Nam nói về Chuẩn Tướng Phan Hoà Hiệp—SBTN

Tội Ác Hồ Chí Minh Toàn Tập

Hùng Ca Sử Việt

Asia Golden 2 — Hùng Ca Sử Việt (7 tập)

Thỉnh Nguyện Thư Yêu Cầu Phóng Thích 35 Bloggers Việt Nam Bị Cầm Tù—Phóng Viên Không Biên Giới

PetitionVN

Mời Bấm vào đây hoặc bấm vào hình trên để ký Thỉnh Nguyện Thư

RSF | 10.7.2013 | – Việt Nam là nhà tù lớn thứ hai trên thế giới đối với blogger và người bất đồng chính kiến online, chỉ sau Trung Quốc.

Các blogger Việt Nam là một nguồn thông tin độc lập và là giải pháp thay thế cho truyền thông của chính phủ. Họ viết về tham nhũng, vấn đề môi trường và diễn tiến chính trường của đất nước.

Đã có nhiều đợt tập kích blogger, cư dân mạng và nhà báo trong những năm gần đây. Cảnh giác về các cuộc nổi dậy của dân chúng Arab, chính quyền Việt Nam đã truy bắt dữ dội hơn nhằm đè bẹp sự bất đồng và ngăn chặn mọi bất ổn.

Hai blogger vừa bị bắt là Trương Duy NhấtPhạm Viết Đào nằm trong số 35 blogger hiện đang bị cầm tù. Người bảo vệ nhân quyền Điếu Cày, LS Lê Quốc Quân, Paulus Lê Sơn, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy ThứcNguyễn Tiến Trung, tất cả họ đang chịu những bản án dài hạn với các tội danh như trốn thuế, phá hoại, tuyên truyền chống nhà nước và toan tính lật đổ chính quyền.

Thân nhân gia đình họ phải chịu sự quấy nhiễu và tuyên truyền bôi nhọ. Mẹ của blogger Tạ Phong Tần đã tự thiêu năm 2012, một hành động tuyệt vọng về cách đối xử đối với con gái của bà.

Phóng viên không Biên giới kêu gọi thả tự do ngay lập tức các blogger và cư dân mạng, bãi bỏ kiểm duyệt và hủy những luật lệ đàn áp vốn được sử dụng chống lại giới làm tin tức, đặc biệt là Điều 88 và Khoản 1 của Điều 79 trong BLHS.

Hãy cùng chúng tôi chiến đấu với kiểm duyệt online tại Việt Nam! Hãy phổ biến bản thỉnh nguyện thư này trong mọi khả năng có thể!

Danh sách 35 blogger và cư dân mạng đang bị cầm tù:
1. Bị bắt từ 15.6.2013 – Đinh Nhật Uy
2. Bị bắt từ 13.6.2013 – Phạm Viết Đào
3. Bị bắt từ 26.5.2013 – Trương Duy Nhất
4. Bị bắt từ 27.12.2012 – Lê Quốc Quân
5. Bị bắt từ 14.10.2012 – Nguyễn Phương Uyên
6. Bị bắt từ 11.10.2012 – Đinh Nguyên Kha
7. Bị bắt từ 8.8.2012 – Đinh Đăng Định
8. Bị bắt từ 6.7.2012 – Le Thị Kim Thu
9. Bị bắt từ 1.12.2011 – Lê Thanh Tùng
10. Bị bắt từ 19.9.2011 – Trần Vũ Anh Bình
11. Bị bắt từ 5.9.2011 – Tạ Phong Tần
12. Bị bắt từ 27.8.2011 – Trần Minh Nhật
13. Bị bắt từ 18.8.2011 – Thái Van Dung
14. Bị bắt từ 7.8.2011 – Nguyễn Văn Duyệt
15. Bị bắt từ 5.8.2011 – Nông Hùng Anh
16. Bị bắt từ 3.8.2011 – Paulus Lê Sơn
17. Bị bắt từ 2.8.2011 – Đậu Văn Dương
18. Bị bắt từ 2.8.2011 – Trần Hữu Đức
19. Bị bắt từ 1.8.2011 – Chu Mạnh Sơn
20. Bị bắt từ 30.7.2011 – Đặng Xuân Diệu
21. Bị bắt từ 30.7.2011 – Hồ Đức Hòa
22. Bị bắt từ 30.7.2011 – Nguyễn Văn Oai
23. Bị bắt từ 25.7.2011 – Nguyễn Văn Lý
24. Bị bắt từ 28.4.2011 – Nguyễn Công Chính
25. Bị bắt từ 2.4.2011 – Nguyễn Ngọc Cường
26. Bị bắt từ 26.3.2011 – Lữ Văn Bảy
27. Bị bắt từ 4.11.2010 – Cù Huy Hà Vũ
28. Bị bắt từ 27.10.2010 – Vi Đức Hồi
29. Bị bắt từ 18.10.2010 – Phan Thanh Hải
30. Bị bắt từ 7.7.2010 – Trần Huỳnh Duy Thức
31. Bị bắt từ 9.10.2009 – Nguyễn Xuân Nghĩa
32. Bị bắt từ 9.10.2009 – Nguyễn Kim Nhàn
33. Bị bắt từ 7.7.2009 – Nguyễn Tiến Trung
34. Bị bắt từ 7.7.2009 – Trần Anh Kim
35. Bị bắt từ 19.4.2008 – Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày)

Mời Bấm vào đây để ký Thỉnh Nguyện Thư

Nguồn: RSF

Nội Quy Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên bắc California

vnflag

Xin mời bấm vào đây để đọc: Nội Quy Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên bắc California

Từ Hà Nội Đến Sài Gòn 1954-1975—Lữ Tuấn K12

Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cực kỳ lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.

Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.

Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.

Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.

Hanoi2
Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm 1954.

Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.

Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.

Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.

Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”

Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.

Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.

Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.

Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.

Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.

Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.

Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19?

Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người Pháp.

Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.

Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.

Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.

Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.

Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.

Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.

Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.

Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.

Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.

Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Ông ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ máu ấy. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.

Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vào Nam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.

Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số người Bắc di cư trên tàu USS Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp Định Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam. (HÌNH ẢNH: Trung Tâm Quân Sử Hải Quân Hoa Kỳ).

Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.

Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.

Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.

Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.

Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.

Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.

Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.

Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.

Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.

Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.

Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vào Nam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.

Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.

Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.

Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.

Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.

Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.

Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.

Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.

Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.

Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).

Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.

Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.

Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng.

Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.

Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.

Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.

Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.2200839095_edda0f9272_o1

Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.

Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nam bị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng.”2388937673_b0c203cf80_o2

Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.

Một số người cho rằng người miền Bắc di cư đã là chứng nhân lịch sử khiến đồng bào miền Nam hiểu rõ bản chất của chế độ Cộng Sản. Điều đó có thể đúng một phần nhỏ. Phần quan trọng hơn là chính vì thực tế những đường lối mà Cộng Sản thi hành tại miền Nam tại nông thôn từ khoảng năm 1961 trở đi. Từ đó họ đã thấy rằng chế độ Cộng Sản đi ngược lại quyền lợi và sự an hòa của nhân dân ta nhất là giai cấp nghèo khổ ở nông thôn.2614259143_d7783c57d6_o

Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm.

Lữ Tuấn

Trả Lại Cho Dân—SBTN

Em Nhớ Màu Cờ — Lâm Thuý Vân

Ý Nghĩa Lá Cờ Vàng

covietnam

Gần đây hơn một năm nay, nhiều quận hạt trên nước Mỹ đã phát động chiến dịch vinh danh lá Cờ Vàng ba sọc đỏ, của cộng đồng người Việt định cư ở hải ngoại. Các cháu, và anh chị đã nghe thấy nhan nhản trên diễn đàn, trên báo, trên radio, về vấn đề vinh danh này. Lá Cờ Vàng là biểu tượng của Tự do, Độc lập và Dân chủ của truyền thống dân tộc Việt nam từ bao đời. Lá cờ đã thăng trầm suốt hai ngàn năm lịch sử, mà ông cha ta nhiều đời đã hy sinh xương máu để bảo vệ nó. Từ năm 1975, gần ba mươi năm Cờ Vàng vắng bóng, ngày nay Cờ Vàng đã sống lại như một hiện tượng hồi sinh.

Cờ Vàng, lá cờ Quốc Gia Việt Nam, có nền vàng và ba sọc đỏ. Màu vàng là màu quốc thổ và cũng là màu da của dân tộc Việt. Theo vũ trụ quan của người Việt, màu vàng thuộc về hành thổ và có vị trí trung ương, tượng trưng cho lãnh thổ, chủ quyền của quốc gia. Màu đỏ thuộc hành hỏa và là màu của phương Nam. Đây là biểu tượng của một dân tộc bất khuất, anh hùng, và độc lập trong cõi trời Nam, tách biệt hẳn với nước Tàu ở phương Bắc. (Trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi.) Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba miền: Bắc, Trung, Nam. Tuy gọi là ba miền (ba sọc đỏ) nhưng có chung một nhà (nền vàng). Đó là nhà Việt Nam, mà con dân nước Việt phải biết thương yêu và qúy trọng lẫn nhau.

Vào năm 40 Dương Lịch, Hai Bà Trưng dùng “Đầu voi phất ngọn cờ Vàng” đem quân đánh Tô Định để lập quốc xưng Vương. Cờ Quẻ Ly (cờ vàng có hai sọc đỏ nằm giữa) của chính phủ Trần Trọng Kim (1945) bắt nguồn từ lá cờ vàng thời Hai Bà Trưng, cờ vàng đời Gia Long (1802), và cờ Long Tinh đời Khải Định (1916). Tiếp đến, năm 1948, Quốc Trưởng Bảo Đại đã thêm một sọc ở giữa và cho hai sọc đỏ nối liền từ cờ Quẻ Ly tạo thành lá cờ có Nền Vàng Ba Sọc Đỏ. Ba sọc đỏ này có hình Quẻ Kiền (Quẻ Càn) tượng trưng cho trời Nam, tức là nước Việt Nam chúng ta.

Tuy bắt nguồn từ đời Hai Bà Trưng, lá cờ Vàng, cờ Quốc Gia Việt Nam đã được Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân, đứng đầu Chính Phủ Lâm Thời Quốc Gia Việt Nam ký Sắc Lệnh số 3 ngày 2 tháng 6 năm 1948 với những tiêu chuẩn về lá quốc kỳ của nước Việt Nam như sau: “Biểu hiệu Quốc Gia là một lá cờ nền vàng, chiều ngang bằng 2/3 chiều dài, giữa có ba sọc đỏ, rộng bằng 1/15 chiều dọc và khoảng cách bằng nhau đi suốt lá cờ.”

Cờ Vàng, cờ Quốc Gia Việt Nam được hun đúc bằng khí thiêng trời đất, và tinh thần quật khởi của dân tộc Việt suốt gần hai ngàn năm lịch sử. Nó tượng trưng cho hồn thiêng sông núi, cho vận hội thái hòa, và cho sự thành công vĩnh cửu của giống nòi Việt Nam. Kể từ thời Hai Bà Trưng, lá cờ Quốc Gia Việt Nam đã được biến cải để có hình dạng màu sắc như hiện nay. Lá cờ có một ý nghĩa cao cả, và đã thăng trầm với lịch sử oai hùng của dân tộc Việt. Nó nhuốm khí thiêng sông núi, tượng trưng cho Dân chủ, Tự do, Nhân quyền, cho ý chí kiêu hùng của nòi giống Việt, cho thanh bình thịnh trị của muôn dân, và cho đoàn kết dân tộc trong việc giữ nước và dựng nước của tổ tiên ta.

Lá Cờ Quốc Gia Việt Nam là linh hồn của cả dân tộc Việt. Lá cờ còn, chính nghĩa còn. Lá cờ còn, tinh thần chiến đấu còn. Lá cờ còn, sự đoàn kết còn, nó là tín bài để chúng ta nhận diện giữa người Việt Quốc Gia và bè lũ Cộng Sản. Chỗ nào có cờ Quốc Gia Việt Nam, thì chỗ đó có tình thương, có dân chủ, có tự do, và nhân quyền. Trong khi chiến đấu với kẻ thù, lá cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho Chính Nghĩa Quốc Gia Tự Do. Hiện tình của chúng ta ở hải ngoại là đang trực diện sống còn với Cộng Sản tại Việt Nam, mà lá cờ Vàng là biểu tượng cho chính nghĩa ấy. Biểu tượng chính nghĩa Tự Do là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Có giương cao lá cờ chính nghĩa, ta mới có đoàn kết, và thu hút được nhân tâm để áp lực bắt tập đoàn Cộng Sản Việt Nam phải qui hàng và từ bỏ chế độ Cộng Sản mà chúng đang theo đuổi.

Người Việt yêu tự do, dân chủ, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, mỗi khi nhìn thấy Lá Cờ Vàng, là còn có niềm tin và hy vọng cho Việt Nam Tự Do trong tương lai. Trong khi Việt Nam chưa lật đổ được chế độ Cộng sản bạo tàn, và Cờ Vàng chưa chánh thức tung bay trên toàn cõi Việt Nam, nhiệm vụ người Việt hải ngoại là vinh danh lá cờ ấy. Nơi nào có người Việt Nam quốc gia, nơi đó có Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Tuy Quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ không chánh thức được công nhận trong nước, nhưng mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết rằng, đó là lá cờ tượng trưng cho nền độc lập, và tự do của Tổ Quốc, chống lại chế độ độc tài, bạo tàn của Cộng sản, phi nhân và nô lệ cho ngoại bang. Bên ngoài Việt Nam, Cờ Vàng được người ngoại quốc xem là biểu tượng của phía người Việt Nam chống Cộng Sản. Nơi nào tỏ bày lòng tôn vinh Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, nơi ấy người Việt quốc gia đã đóng góp to lớn vào công cuộc giải phóng đất nước, chống lại ách thống trị của Cộng Sản Việt Nam.

Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, mới chính là lá cờ của một quốc gia Việt Nam, để phân biệt với cờ đỏ sao vàng, lá cờ Máu của cộng sản Việt nam. Cờ đỏ của cộng sản VN gốc là cờ tỉnh Fuzhou của Trung Quốc vào năm 1933- 1934, theo tài liệu Thế giới về nước Trung hoa (1*). Trong khi cờ Vàng tượng trưng cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền, thì cờ Máu tượng trưng cho chết chóc, đói nghèo và tang thương cho dân tộc Việt…

Với lịch sử huy hoàng suốt gần hai ngàn năm của lá cờ Quốc Gia Việt Nam, chúng ta cầu mong Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ sẽ rợp bay khắp mọi nhà người Việt Quốc Gia tại hải ngoại, và một ngày gần đây trên khắp trời quê hương. Quốc kỳ Việt nam là biểu tượng của Hồn Thiêng Sông Núi, của Dân Chủ Tự Do, và Nhân Quyền, mà biết bao thế hệ cha ông ta đã đổ máu để gìn giữ. Lá cờ Vàng, lá cờ Quốc Gia Việt Nam đã trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nhưng tự nó vẫn tồn tại trong lòng người Việt ở khắp mọi nơi. Nó đã đổi lấy bằng bao nhiêu xương máu cuả các chiến sĩ, và vinh nhục cuả tất cả chúng ta. Vì tiền đồ dân tộc, vì tự chủ quốc gia, nó chính là sự khát vọng cho hòa bình, và tương lai của một Việt nam sáng lạng trong cộng đồng các quốc gia trên toàn thế giới. Do đó,

-Để tưởng nhớ công ơn tiền nhân, và gần đây của Quân, Dân, Cán, Chính, đă hy sinh bỏ mình trong cuộc chiến chống cộng sản tại Việt nam;

-Để tích cực yểm trợ chiến dịch vinh danh Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của người Việt hải ngoại đang định cư trên nước Mỹ và trên toàn thế giới;

-Để duy trì sức mạnh chiến đấu, đòi tự do dân chủ và nhân quyền cho nhân dân Việt Nam, và nhắc nhở con cháu về Ý Nghĩa của ngọn cờ Chính Nghĩa- Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, cờ Quốc Gia Việt Nam Tự do. Ngày xưa chúng ta cầm súng, ngày nay cầm cờ. Để vinh danh cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, đặt niềm tin và hy vọng mới trong tương lai, yêu cầu nhà nhà treo cờ vàng, người Việt nhớ đến cờ Vàng vì đây là biểu tượng của Tổ Quốc Việt Nam mến yêu cuả chúng ta.

Chúng ta những người Việt tỵ nạn cộng sản trên thế giới, tuy sống xa quê hương nhưng được hưởng mọi quyền tự do, dân chủ và nhân quyền. Trước năm 1975, chúng ta cầm súng để chiến đấu, đối diện với kẻ thù đầy nguy hiểm. Ngày nay chúng ta chỉ cần tích cực cầm cờ để chiến đấu, để bày tỏ lòng yêu tự do và nhân bản, tôn trọng quyền làm người, vì lá cờ Vàng là biểu tượng Tự Do Công bằng, và Dân Chủ. Chúng ta đại diện cho người Việt yêu tự do, nói lên ý chí, nguyện vọng, niềm tin và ước mơ của toàn dân tộc Việt nam trong nuớc, đang bị một chính thể vô thần, độc tài đang khống chế và cai trị tàn ác.
Như chúng ta đã biết, vận mệnh của một số dân tộc chậm tiến trên thế giới, trong đó có Việt nam, đã bị cuốn theo sức ép của bàn cờ chính trị quốc tế. Dân tộc Việt nam là con dê tế thần trong hai cuộc chiến tranh, từ Pháp đến cộng sản. Hai cái hiệp định Genève (1954) và Paris (1973), đã đưa dân Việt nam lên bàn mổ quốc tế, mà hầu hết người Việt không hề hay biết đến. Năm 1975, phe tự do đã thua trận ở Việt nam, và sau đó phe cộng sản đã thua trận ở Liên xô, cái gốc rể to lớn cuả phe cộng sản. Hiện nay ở quê nhà, 80 triệu đồng bào ruột thịt đang đau khổ vì đói nghèo, tù tội và mất tự do. Ở đó nhân vị, nhân quyền bị chà đạp chính trên quê hương mình.

Hy vọng vào sự đồng tâm nhất trí đấu tranh của người Việt hải ngoại, chúng ta hãy giương cao ngọn cờ chính nghĩa, để bày tỏ một nỗ lực, một ý chí chính đáng cho tự do độc lập của dân tộc Việt nam. Đây là bước mở đầu cho tiến trình dân chủ, tự do cho quê hương Việt nam mến yêu của chúng ta. Ước mơ sau cùng của anh và tôi là: nếu chết ở đây xin được phủ lá cờ Vàng, và hy vọng rằng cờ Vàng sẽ tung bay trên khắp trời Việt nam một ngày không xa..Việt nam sẽ là một Ba Lan thứ hai, hay như các nước Đông Âu tự giải thể để tồn sinh. Việt Cộng tự nó sẽ phải triệt tiêu nhờ vào ý chí đấu tranh của chúng ta từ hải ngoại. Phải chăng đây cũng là ước vọng chung của tất cả chúng ta: các con, anh và tôi, những người Việt tha hương…yêu tự do và yêu tổ quốc Việt nam.?

1*(Mạng lưới http://worldstatesmen.org/China.html thấy có lịch sử lá cờ máu cộng sản Việt nam.)

Phạm Đào Nguyên

Những cánh hoa thời lửa đạn của Việt Nam Cộng Hòa trước và sau 1975

Lễ Khánh Thành Hội Trường Tại Sacramento

Tấm lòng vàng của Bs Mỹ và những trái tim chai đá của Bs Việt

BsMcKayBác sĩ McKay McKinnon và vợ chụp ở Sài Gòn

Ba tuần trước vào một buổi tối tình cờ bật TV đài TLC, The Learning Center, tôi xem một phim tài liệu tựa đề: “The man with the 200-lb tumor- Người đàn ông có cái bướu nặng 90 kí-lô“. Người có cái bướu khổng lồ này là một anh Việt Nam tên là Nguyễn Duy Hải ở thành phố Đà Lạt, 32 tuổi. Lúc mới sinh ra anh ta bình thường nhưng khi lên bốn tuổi chân phải của anh to lớn khác thường so với chân trái.

Năm 1997, anh Hải đi nhà thương và nghe theo lời bác sĩ, cắt chân phải để ngăn chận sự bành trướng. Thế nhưng sau khi cắt, một cục u tiếp tục nẩy nở từ vết cắt, dần dần to lớn thành một cục bướu nặng 90 kí-lô. Vì nó quá to lớn, nặng gấp hai lần trọng lượng thân thể, anh Hải nằm trên giường trong suốt thời gian sáu năm. Qua một sự tình cờ, thân nhân của anh Hải ở Florida biết được một bà Mỹ tên Amanda Schumacher làm việc thiện nguyện. Bà này liên lạc với Bác Sĩ McKay McKinnon.

CB1Người đàn ông có cái bướu nặng 90 kí-lô

Bác sĩ McKay McKinnon ở Chicago, Hoa Kỳ, chuyên về phẫu thuật, nổi tiếng về giải phẫu cắt bỏ bướu khổng lồ của bệnh nhân khắp thế giới. Sau khi xem video của anh Hải qua iPad và bỏ thì giờ chẩn bệnh, bác sĩ McKinnon đồng ý tình nguyện thì giờ của mình bay sang SàiGòn vào ngày 16 tháng 11 -2012 giải phẫu miễn phí cắt bỏ cái bướu cho anh Hải.

CB4

CB5

Xe cứu thương trước đó vài ngày đã chở anh Hải từ Đà Lạt vào SàiGòn đến Bệnh Viện Ung Bướu TP HCM để sẵn sàng cuộc giải phẫu.

Khi nhập viện, anh Hải than khó thở, bác sĩ Việt ở Bệnh Viện Ung Bướu cho Bác Sĩ McKinnon biết nguyên do là anh Hải bị nước vào phổi (pleural effusion), và lo ngại cho anh Hải nếu bị mổ. Bác Sĩ McKinnon nói việc ấy không có gì quan trọng, bảo nhân viên nhà thương chích rút nước ra. Bác sĩ McKinnon nghĩ rằng có lẽ anh Hải đã nằm trong suốt thời gian tám tiếng vận chuyển từ Đà-Lạt, rồi vào nhà thương cũng nằm nên nước vào phổi. Ông bảo nhân viên cho anh ta ngồi dậy thay vì nằm để tránh tình trạng nước lại vào phổi. Sau khi rút nước, anh Hải thở lại dễ dàng.
Ở bên Mỹ một khi bác sĩ quyết định giải phẫu thì bệnh nhân đến nhà thương, có sẵn một đội y tá hay bác sĩ giúp bác sĩ trong khi giải phẫu (nếu trường hợp hiểm nghèo, phức tạp như trường hợp này). Bảo hiểm y tế của bệnh nhân sẽ trả tiền bác sĩ lẫn chi phí tiền nhà thương, Giám Đốc nhà thương hoàn toàn không liên hệ gì đến trường hợp mổ. Nhưng ở Việt Nam, dù rằng hội đoàn của bà Amanda Schumacher sẽ trả tiền nhà thương, Bác sĩ McKinnon phải bỏ thì giờ giải thích cho nhà thương lý do tại sao họ nên cho giải phẫu vì cần giấy phép chấp thuận của Bệnh Viện Ung Bướu. Những người ở ngoại quốc như chúng ta xem video phim tài liệu này sẽ thấy một chuyện không thể nào tin được: tuy rằng không một ai ở Bệnh Viện Ung Bướu TP HCM giỏi hơn, và có kinh nghiệm cắt bỏ ung bứu như bác sĩ McKinnon, ông ta phải giải thích cho khoảng chừng 30, 40 bác sĩ (và y tá?) của nhà thương để mong cho họ chấp thuận cho phép. Sau đó, ông ta về khách sạn đợi ba ngày để Bệnh Viện Ung Bướu quyết định!

Khi trở lại Bệnh Viện Ung Bướu TP HCM vào ngày thứ ba, người bác sĩ (?) Việt Nam có quyền quyết định mà bác sĩ McKinnon gặp lại là một người lạ, không có mặt trong nhóm bác sĩ & y tá mà ông trình bày ba ngày trước. Ông bác sĩ này viện lý do nước vào phổi (pleural effusion), bệnh nhân yếu sức, từ chối không cho giải phẫu, và cám ơn bác sĩ McKinnon đã bỏ thì giờ đến Việt Nam. Bác sĩ McKinnon trả lời rằng nêu ra “nước vào phổi” để từ chối không cho mổ chỉ là lợi dụng một lý do vô cớ. Việc quan trọng không phải là ông ta tình nguyện bỏ thì giờ đến Việt Nam nhưng việc quan trọng là ông ta phải cay đắng nhìn nhận là ông ta đã thất bại trong việc thuyết phục những người cùng nghề nghiệp với ông (ở Việt Nam) là cuộc giải phẫu sẽ thành công. Ông ta còn phải nói với bệnh nhân vì không được phép giải phẫu, anh Hải sẽ không có một cơ hội cứu sống nào khác, chắc chắn sẽ chết trong vòng một năm (tim không đủ sức nuôi cục bướu khổng lồ như vậy), tuy rằng chính anh Hải mong muốn cho ông ta cắt cái bướu của mình, mặc dù anh biết cơ hội chết trên bàn mổ có thể là 100%.

Bác sĩ McKinnon sau đó đến Bệnh Viện Ung Bướu để báo tin buồn cho bệnh nhân là nhà thương không đồng ý cho ông ta giải phẫu. Anh Hải biết là cơ hội cứu mạng sống anh ta từ Bác sĩ McKinnon bây giờ như sao chổi sẽ biến mất tuyệt dạng, nói cảm ơn: “Em rất cảm ơn tấm lòng của bác sĩ đã đến với em. Em sẽ nhớ mãi kỷ niệm em đã được gặp bác. Em cầu mong ở một đất nước xa xôi nào đó có một bệnh nhân giống em mà thể trạng của họ khỏe mạnh hơn em và chính tay của bác sĩ cầm con dao phẫu thuật giải thoát cho họ khỏi được cuộc sống chập chờn. Phần duyên số của em thì em chấp nhận như vậy, và em mong rằng một lúc nào đó khi bác sĩ hồi tưởng về Việt Nam, bác sĩ sẽ nhớ một bệnh nhân như em. Riêng em, em sẽ nhớ mãi được gặp bác sĩ. Thank you”.

* Với câu trả lời: “Anh là một gương sáng cho chúng tôi nêu theo. Tôi không biết nói gì hơn là xin lỗi”, bác sĩ McKinnon rời Việt Nam trở lại Chicago với sứ mạng cắt bướu cho bệnh nhân bất thành.

CB9

Câu chuyện tưởng đến đây là hết nhưng hai tháng sau, sau khi liên lạc với nhiều người, bà Amanda Schumacher đã thuyết phục được bác sĩ Jean-Marcel Guillon, Giám Đốc Bệnh viện Pháp Việt (FV Hospital) TP HCM giúp Hải được giải phẫu.

CB10Bệnh viện Pháp Việt (FV Hospital) tại Sài Gòn

Bệnh viện FV Hospital đài thọ một phần chi phí nhà thương, trả tiền máy bay và khách sạn, mời bác sĩ McKinnon trở lại SàiGòn làm phẫu thuật cho Hải với một đội bác sĩ y tá do Bệnh viện Pháp Việt cung ứng trong việc hỗ trợ giải phẫu.

CB11

Ngày Thứ Năm 5 Tháng Giêng, 2012, sau gần 13 tiếng giải phẫu, bác sĩ McKinnon đã thành công cắt đứt cục bướu khỏi người anh Hải.

CB12

CB13

CB18

CB19Hải sau khi giải phẫu

* Khi còn ở Chicago, bác sĩ McKinnon đã đồng ý giải phẫu miễn phí thêm cho hai bệnh nhân Việt Nam khác bệnh tình trầm trọng như anh Hải nên sau khi nghỉ phục sức ngày Thứ Sáu, ngày Thứ Bẩy hôm sau ông đến Bệnh Viện Chợ Rẫy cắt những cái bướu trên mặt của cô Kiều Thị Mỹ Dung.

CB14Cô Mỹ Dung trước khi giải phẫu

CB15

Cô Mỹ Dung sau khi giải phẫu

Và, Chủ Nhật, cắt một số bướu của cô Thạch Thị Sa-Ly

CB16Bác sĩ McKinnon và cô Sa-Ly trước khi giải phẫu

CB17Cô Sa-Ly trước, và sau khi giải phẫu

Xem xong phim tài liệu này, nếu tôi là bác sĩ McKinnon, sau khi nghe những người không giỏi bằng mình, không có kiến thức giải phẫu như mình, không có kinh nghiệm phẫu thuật như mình kết luận họ giỏi hơn mình, ngăn cấm sự giải phẫu cho bệnh nhân mà tôi đã tình nguyện bỏ mấy ngày giải phẫu miễn phí, khi tôi trở về Mỹ, tôi sẽ không bao giờ quay trở lại một lần nữa. * Thế mà chỉ hai tháng sau, sau khi bệnh viện Pháp Việt mời ông ta trở lại giải phẫu ở nhà thương của họ, ông ta nhận lời, và không những chỉ giải phẫu cho một người, mà cho đến ba người trong ba ngày khác nhau, tất cả hoàn toàn miễn phí!

* Bệnh Viện Ung Thư TP HCM từ chối không giải phẫu cho một công dân của chính nước Việt Nam của mình, nhưng một công dân của “đế quốc Mỹ Ngụy” và một nhà thương của “thực dân Pháp”, hai từ ngữ xấu xa mà đọc báo chí hay xem internet lúc nào cũng thấy Việt Nam hiện thời còn dùng để chỉ Hoa Kỳ và Pháp, đã không quản ngại tiền bạc và công sức để cứu giúp một công dân của nước Việt Nam. Ấy là chưa nói đến hai đồng minh vĩ đại của Việt Nam, Trung Quốc và Nga-Sô, chẳng nghe nói năng gì về giúp đỡ bệnh nhân Nguyễn Duy Hải.

* Tôi thật là may mắn được sống ở đất nước Hoa Kỳ, một quốc gia không bao giờ dùng lời đay nghiến với một nước thù nghịch, một quốc gia nơi có những người đầy lòng hảo tâm với tôn chỉ giúp đỡ nhân loại mà không cần biết người đó đang sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Nguyễn Tài Ngọc

Chuyện 50 năm nhìn lại — Lữ Giang

lan hai13

Hôm 11.6.2013 vừa qua, Đảng CSVN đã cho tổ chức một cuộc hội thảo mang tên là “50 năm phong trào Phật Giáo ở miền Nam (1963 – 2013)” tại Khu Du lịch Phương Nam ở Bình Dương. Hai cơ quan đứng ra tổ chức là Học viện Phật giáo VN tại Sài Gòn phối hợp với Trường ĐH KHXH&NV. Trưởng ban tổ chức là Hòa Thượng Thích Trí Quảng, người Củ Chi, một đảng viên Đảng CSVN, hiện đang giữ 3 chức vụ là Phó Chủ tịch Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước, Trưởng ban Trị Sự Thành Hội Phật Giáo TP.HCM và Tổng Biên Tập Báo Giác Ngộ. Có gần 50 đề tài do những người được giới thiệu là có học vị cao thuyết trình. Tất cả các bài thuyết trình này đã được in lại thành tập, gồm 4 nội dung chính sau đây:
1.- Từ phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX đến phong trào đấu tranh của Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963.
2.- Bối cảnh lịch sử, nhân vật, sự kiện, văn học… trong phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam.
3.- Ý nghĩa, vai trò và bài học lịch sử từ phong trào đấu tranh chống chế độ Sài Gòn của Phật giáo miền Nam.
4.- Con đường đồng hành cùng dân tộc, đạo pháp và chủ nghĩa xã hội của Phật giáo trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

Năm nay, người sáng lập nhóm Giao Điểm ở hải ngoại là Bùi Hồng Quang không về dự hội thảo. Chỉ có Cao Huy Thuần về đọc một bài tham luận với đề tài vớ vẩn là “Bản chất văn hóa của cuộc đấu tranh Phật giáo trong pháp nạn 1963”. Nhưng để thực hiện công tác “phục vụ cho việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta” như Bộ Công An đã giới thiệu, nhóm Giao Điểm có góp phần bằng cách cho phổ biến “Tuyển Tập Chế Độ Ngô Đình Diệm 50 Năm Nhìn Lại 1963 – 2013” gồm đa số là những “đồ cổ giả” được đem ra nhai lại.

MỘT VÀI NHẬN XÉT TỔNG QUÁT
Nhìn qua các đề tài được thuyết trình và cung cách tổ chức hội thảo, chúng tôi có 3 nhận xét tổng quát sau đây:

1.- Chơi trò cướp công của CIA
Khi cho tổ chức cuộc hội thảo nói trên, Đảng CSVN đã chơi trò đánh lận con đen, mượn đầu heo nói cháo, chôm chỉa credit… của CIA.
Qua các tài liệu lịch sử được tiết lộ, ngày nay ai cũng biết biến cố Phật Giáo năm 1963 là do Mỹ thực hiện để lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm và đổ quân vào miền Nam. Phật giáo chỉ được xử dụng như một công cụ, xài xong rồi bỏ. Chính Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Tăng Thống của Giáo Hội Ấn Quang cũng đã phủ nhận việc Phật Giáo lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Trong Thông Tư số 07/VHĐ/VT ngày 17.1.2010 gởi cho các cơ quan truyền thông, Hoà Thượng đặt câu hỏi:
“Từ đêm 20.8 (1963) chính quyền tấn công chùa chiền, bắt bớ Tăng Ni cho đến ngày 2.11.1963 chư Tăng Ni, Phật tử, hàng giáo phẩm lãnh đạo Ủy ban Liên Phái Bảo vệ Phật giáo (tiền thân của GHPGVNTN) còn nằm trong tù, thì làm sao họ có thể là “chủ lực” lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm đưa tới vụ thảm sát ông và bào đệ ông?”
Thế mà nay Đảng CSVN và Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước lại cho rằng Phật Giáo và Đảng ta là yếu tố đưa đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm. Như vậy là họ đã cướp công của CIA.

2.- Chỉ viết và nói theo đơn đặt hàng
Những người viết và thuyết trình được giới thiệu là Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Tiến sĩ, nhưng đọc các bài họ viết chúng ta thấy đều một chiều, nông cạn, phản khoa học và dùng nhiều vọng ngữ để lấp liếm. Điều này cũng dễ hiểu thôi: Khi mục tiêu đã định trước là “Con đường đồng hành cùng dân tộc, đạo pháp và chủ nghĩa xã hội của Phật giáo trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay” thì không thể viết khác được. Ngoài ra, sự hiểu biết của các thuyết trình viên rất giới hạn về các hoạt động của “đế quốc Mỹ”, nhất là các thủ đoạn tinh vi của CIA, tại miền Nam Việt Nam nên không thể thấy được mặt trái đàng sau.

Phương pháp viết lại hoàn toàn phản khoa học: Chỉ chọn những tài liệu nào hợp với chủ đích của mình để trích dẫn, mặc dù sai, còn những tài liệu không hợp với chủ đích đều bị bỏ ra ngoài, mặc dù đó là sự thật. Đây cũng là lối viết của nhóm Giao Điểm ở hải ngoại. Một thí dụ cụ thể là bản phúc trình điều tra về vụ Phật Giáo năm 1963 của phái đoàn LHQ, mặc dầu là một tài liệu lịch sử quan trọng, lại không hề được nhắc đến vì nó hoàn toàn trái với những điều Đảng muốn loan truyền.

Bài thuyết trình được chúng tôi chú ý là bài “Phong trào đấu tranh của Phật giáo miền Nam Việt Nam 1963 – Nhìn từ hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Mỹ” (1961 – 1963) của Phó Giáo sư Tiến sĩ Trương Văn Chung, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo, nhưng khi đọc chúng tôi lại rất thất vọng.

Đây là tài liệu đã được in thành 4 tập rất dày: Volume I (1961), Volume II (1962), Volume III (từ tháng 3 đến tháng 8) và Volume IV (từ tháng 8 đến tháng 12). Thế mà ông ta đã viết theo kiểu mù sờ voi với kết luận:
“Từ những hồ sơ lưu trữ trên có thể nhận thấy: Cuộc đấu tranh của Phật giáo miền Nam năm 1963. Trước hết là cuộc đấu tranh vì tự do, bình đẳng tôn giáo, chống lại chế độ kỳ thị, bài xích tôn giáo. Sự phát triển của phong trào đấu tranh này tự nhiên, tất yếu trở thành một bộ phận của phong trào yêu nước đấu tranh vì độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc.”
Ý tưởng này rút từ đâu ra vậy?

3.- Biến Phật Giáo thành công cụ
Chủ đề phần 4 của cuộc hội thảo được ghi rất rõ: “Con đường đồng hành cùng dân tộc, đạo pháp và chủ nghĩa xã hội của Phật giáo trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.” Trong thực tế, Đảng CSVN đã chính thức biến Phật Giáo thành công cụ từ năm 1980 khi hình thành Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước.

Trong bài diễn văn bế mạc cuộc hội thảo, Hòa Thượng Trí Quảng cho biết: “Như hiện tại, Giáo hội chúng ta có khoảng 4 vạn Tăng Ni, 4 học viện Phật giáo và trên 30 trường trung cấp, Tăng Ni đã được mở mang kiến thức và đang có những đóng góp thiết thực cho xã hội, đất nước. Tôi tin tưởng Phật giáo sẽ còn đóng góp nhiều cho đất nước, dân tộc và sẽ có vị trí xứng đáng trong lòng dân tộc”.

Ở trong nước hiện nay có trên 90% tổ chức Phật Giáo đã vào quốc doanh, chỉ còn chưa đến 10% đang ở ngoài hay chống lại nhà cầm quyền CSVN. Họ đã phải quay trở lại với Hoa Kỳ và đã bị biến thành con bài thí, mất gần hết các cơ sở hạ tầng và đang bị chia rẽ trầm trọng trong nội bộ. Điều này cho thấy làm công cụ cho Mỹ hay cho Cộng Sản đều bi thảm.

LÀM SÁNG TỎ LỊCH SỬ
Một bài thuyết trình được chúng tôi chú ý nữa là bài “Lịch sử Phật giáo Việt Nam trong ngày 11-6-1963 đã bị mạo hóa” của cư sĩ Tâm Diệu ở cuối phần thứ hai của tập tài liệu. Tâm Diệu là một biên tập viên của thuvienhoasen.org, có địa chỉ ở đường Moran, Westminster, California. Đây là một cơ quan thông tin Phật Giáo đang đi chàng hảng, nữa trong nước nữa ngoài.

Chữ “mạo hóa” mà ông dùng ở đây đồng nghĩa với thuật ngữ “vọng ngữ” trong Phật Giáo mà chúng tôi thường nhắc đến. Chữ này phải được trả lại cho phe Phật Giáo đấu tranh vì trong suốt 50 năm qua họ không ngừng nghỉ dùng vọng ngữ với hy vọng “hóa giả.” những thảm họa mà họ đã đã gây ra cho đất nước và Phật Giáo. Vụ mà ông Tâm Diệu cho là đã bị “mạo hóa” là vụ tự thiêu của Hòa Thượng Quảng Đức ngày 19.6.1963. Nhưng như chúng tôi đã viết nhiều lần, các tài liệu được công bố cho thấy vụ này do CIA thực hiện và Phật giáo đã bị dùng làm công cụ. Xin tóm lược như sau:

1.- Ngọn đuốc của ai?
Một tài liệu được công bố năm 2000 cho biết William Kohlmann, một nhân viên tình báo Mỹ đang làm việc ở Anh có quen biết với Trần Quang Thuận khi Thuận đang học ở Anh, đã được điều động qua Sài Gòn để làm một biến cố Phật Giáo. Tuy là nhân viên CIA nhưng ông được gởi đến ở cơ quan USAID. Tài liệu nói rõ “Một Phật tử trẻ đã được Kohlmann nuôi dưỡng là một tăng sĩ đã hoàn tục có tên là Trần Quang Thuận” (One young Buddhist Kohlmann had cultivated was a lapsed bronze named Tran Quang Thuận).

Hai người đóng vai trò chính trong việc tổ chức tự thiêu cho Hòa Thượng Quảng Đức là Trần Quang Thuận và Thích Đức Nghiệp.

Bill Kohlmann kể lại khi mua xăng về đã được khuyến cáo là phải đổ thêm Diesel vào cho cháy chậm lại (Mixing equal parts of gasoline and diesel fuel produced a more intense and longer-lasting flame). Ký giả Malcolm Browne của hãng thông tấn AP có nhiệm vụ báo tin cho các ký giả đến đúng lúc để quay phim, chụp hình và gởi đi khắp thế giới. “Ngọn đuốc của CIA” này đã làm chấn động thế giới.

Malcolm Browne là ai? Frank W. Snepp, Trưởng nhóm phân tích chiến lược của CIA tại Sài Gòn, cho biết nhiều ký giả đã được chính phủ Hoa Kỳ xử dụng như Keyes Beech của tờ Chicago Daily News, George McArthur của Los Angeles Times, Robert Shaplen của New Yorker, Bud Merick của U.S. News & World Report và Malcolm Browne của The New York Times. (xem How the CIA Manages the Media, trang 27). Theo Frank W. Snepp, Browne đã thi hành công tác giao phó một cách vô tư, không nghi ngờ gì cả. Ông nói thêm “Chúng tôi thường dùng Browne để chuyển thông điệp cho Cộng Sản”. (xem El Paso Herald Post, ngày 21.11.1977).

Trong vụ Hòa Thượng Quảng Đức, Malcolm Browne cũng đã hoàn thành công tác một cách hoàn hảo. Ông đã qua đời ngày 27.8.2012 vì bệnh Parkinson.

2.- Tự thiêu hay bị thiêu?
Chuyện Nguyễn Công Hoan rưới xăng và đốt Hòa Thượng Quảng Đức được tường thuật trong cuốn “Hồi ký trong lòng địch” của Trần Trung Quân. Đó chỉ là một cuốn tiểu thuyết giả tưởng. Các hình ảnh được công bố gần đây cho thấy người rưới xăng lên Hòa Thượng Quảng Đức là một tăng sĩ chứ không phải một cư sĩ. Vậy ai là người đã rưới xăng và châm lửa đốt? Chúng ta hãy nghe các nhân chứng kể lại.

Thich Duc Nghiep
Thích Đức Nghiệp đọc tham luận

Thích Đức Nghiệp:
“Thầy Chơn Ngữ có trách nhiệm đổ hết xăng từ đầu tới chân Hòa thượng Quảng Đức khi cùng ngồi trên xe Austin để đi tới ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt trước tòa Đại sứ Cao Mên…
“Tôi đi bên cạnh xe của Hòa thượng. Khi xe ngừng lại Hòa thượng bước xuống, tôi trao tay Hòa thượng bao quẹt và bao diêm để Hòa thượng tự bật lửa thiêu.”

Thích Chơn Ngữ:
“Tay trái tôi xách thùng xăng, tay mặt tôi dìu Ngài bước ra xe và mời Ngài ngồi xuống. Ngài ngồi “Kiết Già” tay mặt đặt lên tay trái. Tôi cầm thùng xăng đáng lẽ tưới lên vai Ngài, nhưng vì hốt hoảng lo sợ mật vụ tới nên đã đổ xăng từ đầu Ngài trở xuống. Ngài mở hộp diêm rút 5, 6 que rồi quẹt mạnh. Lửa tức tốc bừng cháy đốt ngay thân xác Ngài như một pho tượng trong khi các tăng ni quỳ xuống vừa khóc vừa niệm: A Di Đà Phật.”
Malcolm Browne: Trong cuộc phỏng vấn của Thượng Toạ Thích Quảng Liên ngày 27.6.1963, Malcolm Browne nói:
“Ngay lúc đó, vị hòa thượng rút ra một hộp diêm, quẹt một que và thả nó rơi vào lòng.”
Một tài liệu khác có nói đến vụ thiêu Hoà Thượng Quảng Đức là bài phỏng vấn nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Thông. Ông Duy Anh phụ trách Cate Nhiếp ảnh (GoNews) ở Sài Gòn cho biết hôm 30.5.2010 ông đã đến thăm đồng nghiệp lão thành Nguyễn Văn Thông tại nhà riêng của ông ở Cư xá Đô thành, Quận 10, thành phố Sài Gòn. Ông Thông đã nói với ông như sau:
“Chiếc xe hơi dừng giữa đường, giả như hư máy, các tăng ni chặn kín các ngả đường…. Sau khi người đẫm ướt xăng, Hòa thượng bật quẹt (đá lửa) do ướt xăng nên không cháy, nên ông nhận cái hộp quẹt khác rồi bật tiếp. Lửa cháy… Tôi chụp và khóc, tay run lên vì thấy nhà sư cao cả quá! Sau đó, tôi phóng một tấm lớn 50x60cm tặng cho nhà chùa. Năm sau (1964), tôi mới gởi ảnh ấy đi dự thi…”.

Ông Nguyễn Văn Thông được nói là một mật vụ của chế độ cũ có nhiệm vụ đi chụp hình các biến cố xẩy ra, tình cờ ông đã có mặt tại đó và chụp được tấm hình Hoà Thượng Quảng Đức tự thiêu. Năm 1964 ông đã gởi tấm hình này đi dự thi và đoạt Giải Ngân hài bạc Anh quốc và Huy chương đồng Phần Lan.

Câu chuyện này chưa kiểm chứng được. Nhưng một thắc mắc khác lại được đặt ra: Thích Chơn Ngữ nói “Ngài mở hộp diêm rút 5, 6 que rồi quẹt mạnh. Lửa tức tốc bừng cháy…”, còn Malcolm Browne bảo “vị hòa thượng rút ra một hộp diêm, quẹt một que và thả nó rơi vào lòng”. Ông Nguyễn Văn Thông lại nói “Hòa thượng bật quẹt (đá lửa) do ướt xăng nên không cháy, nên ông nhận cái hộp quẹt khác rồi bật tiếp. Lửa cháy…” Ai đúng ai sai? Lời Malcolm Browne kể khó tin được vì lúc đó người Hòa Thượng ướt đẩm xăng, bao quẹt chắc chắn phải ướt, làm sao ông quẹt được? Nếu ông Thông nói đúng thì lúc đó ai đã trao hộp quẹt khác cho Hòa Thượng Quảng Đức?

1188
Ảnh chụp bởi Malcolm Browne

Điều đáng ngạc nhiên là lúc đó nhiều máy ảnh đã quay về Hòa Thượng Quảng Đức, không lẽ không ai chụp được tấm hình ai đang quẹt diêm hay bật lửa? Malcolm Browne nói: “Tôi xài khoảng 10 cuộn phim vì chụp luôn tay.” Như vậy không lẽ ông không chụp được tấm hình Hoà Thượng Quảng Đức đang quẹt lửa sao? Đa số vẫn tin rằng một người nào đó đã quẹt diêm hay bật lửa để thiêu Hoà Thượng Quảng Đức chớ không phải chính ông, nên Malcolm Browne đã giấu tấm hình đó đi. Họ tin rằng đây là một vụ bị thiêu chứ không phải tự thiêu.

Nhưng dù tự thiêu hay bị thiêu, Hoà Thượng Quảng Đức cũng chỉ làm con bài của Mỹ.

3.- No One Cares…
Trong bài “The Tragedy of Self Immolation – No One Cares” (Thảm kích tự thiêu – Chẳng ai quan tâm) phổ biến ngày 21.5.2013, ký giả Andrew Lam của New America Media đã tường thuật lại vụ Thích Quảng Đức tự thiêu được ký giả Malcolm Browne truyền đi, gây một biến cố lớn trong chiến tranh Việt Nam và từ ngữ “tự thiêu” (self-immolation) đã trở thành một từ ngữ thông dụng trong tiếng Anh. Nhưng sau đó tự thiêu chỉ còn là một đốm lóe sáng ít được các cơ quan truyền thông đại chúng chú ý. Từ năm 2009 đến nay đã có 117 người Tây Tạng tự thiêu, nhưng những cái chết của họ chẳng gây ảnh bao nhiêu.

Sau vụ Thích Quảng Đức, Phật Giáo Việt Nam tưởng rằng đối kháng theo kiểu đó là thượng sách, nên đã thực hiện thêm 30 vụ dưới thời VNCH và 22 vụ dưới thời Cộng Sản, nhưng tất cả đã trở thành tiếng kêu trong sa mạc. Tại sao?

Câu trả lời rất giản dị: Tại vì ngọn đuốc Thích Quảng Đức là ngọn đuốc CIA, còn các ngọn đuốc khác không có CIA nhúng tay vào nên “No One Cares”!

RỒI SẼ ĐI VỀ ĐÂU?
Từ năm 2005 trở lại đây, gần như năm nào nhà cầm quyền CSVN cũng phát động chiến dịch kỷ niệm “Bố tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân” rất rầm rộ để lôi kéo Phật tử và các tổ chức Phật Giáo đứng về phía họ. Trong cuộc hội thảo ngày 29.5.2005 tại Thiền Viện Vạn Hạnh ở Phú Nhuận, Đại tướng Mai Chí Thọ đã tuyên bố:
“Sự hy sinh anh dũng của Hoà thượng Quảng Đức không phải chỉ là ‘vị pháp thiêu thân’ mà là ‘vị quốc thiêu thân’. Hành động ấy đã biến thành động lực cách mạng, góp phần giải phóng đất nước 12 năm sau đó.”

Chiến dịch này xem ra đã thành công. Không phải chỉ Phật tử và các tổ chức Phật Giáo ở trong nước đi theo chính quyền mà một số tổ chức Phật Giáo hải ngoại cũng đã “hiệp thông”.

Trong bài “Bản chất văn hóa của cuộc đấu tranh PG trong Pháp nạn 1963” đọc sau cùng của buổi hội thảo, Cao Huy Thuần đã lặp lại lời bổn sư của ông ta là Thích Trí Quang:

GS Cao Huy Thuan
Cao Huy Thuần

“Phật giáo làm hết sức mình để phụng sự tổ quốc và dân tộc, chống lại những ai lợi dụng tôn giáo để tìm cách thống trị chính quyền và dân chúng, và kêu gọi Phật tử ủng hộ hết lòng các chính sách tốt và chống lại các chính sách xấu: đó là “sức mạnh” mà người ta có thể tìm thấy trong Phật giáo.”

Nhưng khi đọc bài tham luận này, Cao Huy Thuần đang làm công cụ cho những kẻ “lợi dụng tôn giáo để tìm cách thống trị chính quyền và dân chúng.” Nhiều Phật tử và tổ chức Phật giáo khác cũng đang làm công cụ như ông. Liệu rồi đạo pháp và dân tộc sẽ đi về đâu?

Lữ Giang

Vì sao liên tục nhiều blogger bị bắt?

Nên thận trọng, đừng để bị Việt cộng lừa bịp nữa — Nguyễn Huy Hùng

Trong cuốn CỔ HỌC TINH HOA do Ôn Như Nguyễn văn Ngọc và Tĩnh Trai Trần Lê Nhân biên dịch, có một câu truyện đề cập đến kỹ thuật tuyên truyền rỉ tai thật là giá trị vô song. Hồ Chí Minh đã khai thác thực hiện một cách rất là nhuần nhuyễn, và đã khôn khéo truyền dạy cho bọn đàn em tôi luyện rất kỹ lưỡng.

Bây giờ Hồ Chí Minh không còn nữa, nhưng bọn đồng đảng hậu duệ nhờ rút tiả được những kinh nghiệm thực tế của Cha Ông để lại, nên trong hiện tại chúng tung ra những mánh khoé rỉ tai lừa bịp còn tinh vi xảo quyệt hơn Hồ Chí Minh nhiều.

Các Cụ ta ngày xưa thường ví “Con hơn Cha là nhà có phúc”. Nhưng trong trường hợp Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam hiện tại, phải sửa lại là “Việt Cộng con hơn Việt Cộng Ông Cha là quốc gia dân tộc vô phúc” thì mới đúng.

Từ hơn nửa Thế kỷ nay, Việt Cộng Ông Cha gian manh xảo quyệt nhờ thực hiện những mánh lới rỉ tai lừa bịp quy mô. đã reo hại bao nhiêu cho dân tộc rồi. Nay Việt Cộng Con Cháu nối nghiệp, nhờ rút tiả được kinh nghiệm xảo quyệt của Ông Cha để lại, còn gian manh xảo quyệt hơn Cha Ông gấp bội, hậu quả là bàn dân thiên hạ Việt Nam ở trong nước cứ tiếp tục phải cúi đầu câm nín chịu đựng, suốt thế hệ này sang thế hệ khác nối tiếp nhau suốt hơn nửa thế kỷ nay rồi, tội nghiệp biết chừng nào!

Để tìm hiểu xem cái kỹ thuật tuyên truyền rỉ tai đó như thế nào mà lợi hại vậy, Tôi xin ghi lại câu truyện TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI để Quý độc giả xem cho biết, và suy ngẫm để mà THẬN TRỌNG giữ mình cho không bị Việt Cộng xảo quyệt gian manh  lừa bịp thêm nữa.

Xin nhấn mạnh là, Tôi dùng chữ THẬN TRỌNG chớ không dùng chữ CẢNH GIÁC, mà từ sau ngày xâm chiếm miền Nam Việt Nam, Việt Cộng đã nhồi nhét cho mọi người nghe mãi quen tai. Nay thì cả những người Việt lưu vong tỵ nạn Cộng sản đang làm truyền thông Việt ngữ nơi hải ngoại, cũng dùng một cách tự nhiên trong việc giao dịch quảng cáo hàng ngày trên mặt báo, trên các chương trình phát thanh và Vô tuyến truyền hình, cùng với những chữ khác nữa như ĐĂNG KÝ của Việt Cộng thay vì dùng chữ GHI DANH, hay chữ THAM QUAN thay cho chữ THĂM VIẾNG mà toàn dân tộc Việt Nam vẫn quen dùng từ trước khi Việt Cộng xâm chiếm miền Nam…

 

“TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI.

Ông Tăng Sâm ở đất Phí. Ở đấy, có kẻ trùng danh với ông giết người.

Một người hớt hơ hớt hải chạy đến bảo mẹ ông Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ nói: “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà cứ điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc, lại có người đến báo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không nói gì, cứ điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc nữa lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn.

GIẢI NGHĨA: -Tăng Sâm: người thời Xuân Thu, tính chất thật thà và rất có hiếu. học trò giỏi đức Khổng Tử và sau truyền được đạo của ngài. -Trùng danh: hai hay nhiều người giống tên nhau. -Điềm nhiên: biết mà cứ im lặng như không.

NHỜI BÀN.- Tăng Sâm vốn là người hiền lành hiếu thảo bà mẹ vốn là người trung hậu, một bụng tin con. Thốt nhiên có kẻ bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không tin, người thứ hai bảo, còn chưa tin; đến người thứ ba bảo, thì cuống cuồng chạy trốn. Như thế mới hay cái dư luận của thiên hạ là rất mạnh. Một việc, dù cho sai nhầm đến mười mươi, nhiều người đã cùng có một nghị luận đều như thế cả, thì cũng dễ khiến cho ta nghi nghi hoặc hoặc rồi đem bụng tin mà cho là phải, nom điả hoá ra rươi, trông con chó thành ra con cừu. Đến như giữa chợ, làm gì có cọp? Thế mà một người, hai người, đến ba người nói có cọp, thiên hạ cũng tin có cọp thật nữa là! Những bậc rà được ngoài vòng dư luận, giữ vững được bụng như cây giữa rừng, như kiềng ba chân rất là hiếm, nhưng có thể được, mới cao; một chân lý có chứng minh rõ ràng, mười phần chắc chắn, thì mới nên công nhận.”

 

Sau đây là vài sự kiện điển hình nhất đã xẩy ra trên đất nước Việt Nam, mà Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Cộng đã dùng mánh lới tuyên truyền rỉ tai lừa bịp rất hiệu quả, khiến cho quảng đại quần chúng đã mắc lừa nhiệt tình ủng hộ chúng, rút cuộc khi chúng đạt được mục đích rồi thì lại bị chúng trắng trợn phản bội, mà vẫn phải ngậm đắng nuốt cay không dám chống đối chúng, vì chúng có súng đạn quyền uy bạo lực và dã tâm độc ác hơn thào khấu:

1.-Trong các Thập niên 1940 và 1950 thuộc Thế kỷ 20.

Khi quân Phiệt Nhật đầu hàng quân Đồng minh Hoa Kỳ, thì các nước thuộc địa Pháp tại bán đảo Đông Dương (trong đó có Việt Nam) giành lại được độc lập. Các đảng phái Nhân bản quốc gia Việt Nam không Cộng sản hoà hợp với Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh Cộng sản của hắn, để thành lập chính phủ Liên hiệp Quốc Cộng điều hành đất nước và tuyên bố phục hồi quốc gia độc lập với tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, được toàn dân tộc tán thường.

Nhưng sau khi nắm được quyền hành trong tay rồi, Hồ Chí Minh đã lén ký Sơ Ước 6 tháng 3 năm 1946 với đại diện Pháp tại Hà-nội, bằng lòng cho Pháp đổ quân lên trú đóng tại nhiều tỉnh thuộc hai miền Trung và Bắc Việt Nam, kể cả Thủ đô Hà Nội. Đến ngày 19-5-1946 Việt Minh ra lệnh dân chúng treo cờ đỏ sao vàng đón rước quân Pháp trở lại đóng quân trong Thủ đô Hà-nội, khi bị các đảng phái không Cộng sản trong chính phủ Liên Hiệp chống đối, thì Việt Minh giải thích lếu láo là treo cờ để mừng ngày sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rồi chúng lại truyền rao vu khống là các đảng phái Quốc gia âm mưu cấu kết tiếp tay cho Thực dân Pháp tái xâm lăng Việt Nam, và dùng bạo lực Công an để bắt giam và tiêu diệt thành viên của các đảng này một cách rất tàn bạo.

Mấy tháng sau, khi quân viễn chinh Pháp hoàn tất xong việc củng cố an ninh vị trí đóng quân và thâu thập được tin tức về thực lực của Việt Minh, Lãnh đạo Pháp bắt đầu ngang ngược tạo ra những cuộc tranh chấp hành chánh, gây hấn để làm phát nổ trận chiến giữa Việt Minh và Pháp vào ngày 19-12-1946 trên toàn đất nước Việt Nam, nhằm mục đích tiêu diệt Việt Minh tái lập chế độ thuộc địa như trước.

Việt Minh thua phải bỏ các thành thị rút về các vùng rừng núi. Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đóng góp của cải và nhân vật lực để yểm trợ Việt Minh tiếp tục “ Tiêu thổ kháng chiến” chống Pháp, bảo vệ nền độc lập quốc gia. Muôn người như một đã hết lòng bao bọc nuôi dưỡng và bảo vệ quân Việt Minh kháng chiến.

Đến năm 1950, sau khi quân Mao Trạch Đông chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch nắm quyền quản trị toàn lục địa Trung Hoa, thì Hồ Chí Minh đã xin Đồng chí bậc thầy thuộc Quốc Tế Cộng sản Đệ Tam này, yểm trợ cố vấn tổ chức huấn luyện trang bị cho Việt Minh các Đại đơn vị có khả năng chiến đấu theo quy ước trận địa chiến với quân Pháp. Nhờ thế quân của Hồ Chí Minh tạo được nhiều trận chiến thắng gây tổn thất cho quân Pháp tại miền thượng du Bắc Việt. Sự kiện này đã dẫn đến việc Việt Minh và Pháp ký Hiệp định Genève ngày 21-7-1954 chia đôi đất nước Việt Nam thành hai miền Nam Bắc, và lằn ranh sơn trắng vạch ngang chính giữa cầu Hiền Lương bắc trên con sông Bến Hải, tại Vĩ tuyến 17 thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị, được chọn làm ranh giới giao tiếp giữa 2 miền Nam Bắc.

Bắt đầu có uy thế, nên vào năm 1953, Hồ Chí Minh đã khởi sự phát động sách lược Cộng sản bần cùng hoá nhân dân để san bằng giai cấp, bằng chiến dịch CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, LOẠI TRỪ ĐỊA CHỦ CƯỜNG HÀO ÁC BÁ… trong các vùng do Việt Minh kiểm soát. Hồ Chí Minh cho đồng bọn đàn em Việt Minh tuyển chọn những bọn du thủ du thực cướp đường trộm chợ đứng bến vô gia cư vô nghề nghiệp… để chiêu đãi hậu hỹ rồi thành lập các đội công tác xung kích đấu tố với toàn quyền sinh sát trong tay. Chúng nhồi sọ cho bọn này rằng các người trong các giai cấp trung lưu tư sản địa chủ… có của ăn của để hơn người, là vì chúng đã từng tiếp nối nhau đời này qua đời khác bóc lột sức lao động của quảng đại quần chúng nông dân và công nhân, nên cần phải diệt cho tuyệt nọc để giành lại những của cải ấy chia đều cho giai cấp vô sản trở thành chủ tập thể, mọi người sống hoà đồng bình đẳng, không còn cảnh người bóc lột người như dưới các thời Thực Dân Phong kiến trước kia nữa…

Vì thế, hàng trăm ngàn người dân lành trước nay từng tỏ lòng nhiệt tình yêu nước và là ân nhân bảo vệ tiếp tế bao nuôi KHÁNG CHIẾN, nay trở thành kẻ thù không đội Trời chung với KHÁNG CHIẾN, và đã được Hồ Chí Minh và bọn thảo khấu Việt Minh trả ơn bằng cái chết không toàn thây, sau những cuộc đấu tố đánh đập dã man trước những toà án nhân dân do Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Minh dựng lên tại khắp các vùng nông thôn do chúng kiểm soát. Vô nhân đạo nhất là Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, đã về tận quê nội của mình để đích thân đấu tố chính cha ruột của hắn đến chết. Sau này vào tháng 7 năm 1986, sau khi Tổng bí Thư Lê Duẩn chết, hắn được Đảng cử làm Tồng Bí Thư nắm toàn quyền sinh sát cả đảng viên lẫn quảng đại quần chúng nhân dân Việt Nam một thời gian.

2.- Trong các Thập niên 1960 và 1970 của Thế Kỷ 20.

Hồ Chí Minh không thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954, do chính phe Việt Minh của hắn ký kết với Pháp để chia đôi đất nước Việt Nam thành 2 miền Nam Bắc sống biệt lập, theo 2 thể chế chính trị khác nhau (Bắc theo Cộng sản, Nam theo Tư bản). Hắn đã để một số cán bộ Cộng sản nòng cốt nằm vùng tại miền Nam, tiếp tục thi hành sách lược tuyên truyền rỉ tai về cái bánh vẽ TRUNG LẬP HOÀ HỢP QUỐC CỘNG để lôi cuốn các nhà trí thức miền Nam hoạt động chống phá Chính quyền miền Nam, và ngoan ngoãn nghe theo lời dụ dỗ của Hồ Chí Minh để thành lập cái MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (MTGPMN) quái gở, rồi ít lâu sau Hồ Chí Minh và bọn Việt Cộng Bắc Việt lại khoác cho bọn MTGPMN này cái mặt nạ hề mới là CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CỘNG HOÀ MIỀN NAM (CPLTCHMN), để hoạt động khủng bố phá hoại nền kinh tế và an ninh cuộc sống của quảng đại quần chúng tại miền Nam Vĩ tuyến 17 (ranh giới chia đôi 2 miền Nam Bắc tại sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị).

Sau đó, với sự thúc đẩy hiệp lực yểm trợ của cả khối Cộng sản Quốc tế do Liên Xô Nga lãnh đạo, Hồ Chí Minh đã chính thức phát động cuộc chiến xâm lăng miền Nam Việt Nam khởi từ cuối năm 1959, và kéo dài mỗi ngày một khốc liệt hơn cho tới 30-4-1975 mới chấm dứt. Việt Nam Cộng Hoà tại miền Nam bị thua cuộc chiến xâm lược do chính Việt Cộng tay sai của Quôc tế Cộng sản lãnh đạo giật dây hành động này, là vì một mặt bị đồng minh Hoa Kỳ do nhu cầu quyền lợi đất nước phải thay đổi chiến lược toàn cầu đối đầu với phe Quốc tế Cộng sản nên đã bội ước không tiếp tay yểm trợ nữa, và mặt khác do nhóm chủ trương TRUNG LẬP trong chính quyền miền Nam do Dương văn Minh lãnh đạo cũng phản bội bắt tay với Việt Cộng, ra lệnh buộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chống Cộng sản xăm lăng phải buông súng đầu hàng.

Sau khi chiếm được toàn miền Nam Việt Nam, bè lũ Việt Cộng Hà Nội mới kiêu ngạo công khai tự lột cái mặt nạ gian manh xảo quyết lừa bịp của chúng ra, bằng cách tiêu diệt ngay 2 con hề rối đồng chí một thời của chúng là MTGPMN và CPLTCHMN, vì không còn cần thiết nữa. Chúng quyết định tuyên bố thành lập nước CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM (gồm cả 3 miền Bắc Trung Nam) dưới quyền cai trị độc tôn toàn trị chuyên chính của Trung Ương Đảng Việt Cộng đặt Thủ đô tại Hà Nội.

Phe nhóm chính trị hoạt đầu tại miền Nam Việt Nam chủ trương TRUNG LẬP HOÀ HỢP VỚI VIỆT CỘNG BẮC VIỆT, mà người miền Nam đều biết qua cái ô danh là PHE THỨ BA gồm một số tu sĩ Công giáo, Phật giáo, nhà Văn, nhà Báo, Trí thức Chính trị gia hoạt đầu “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” theo đóm ăn tàn đã gây nhiều rối rắm lủng củng chính trị tại miền Nam trước 30-4-1975, cũng đã bị bọn Việt Cộng lường gạt trở mặt, trừng trị tàn bạo bằng nhiều hình thức khác nhau. Sau khi những miếng chanh này đã được Việt Cộng vắt hết nước, thì vỏ chẳng còn công dụng gì nữa phải vứt đi cho sạch rác rưởi, vì nhóm này không phải là Cán bộ Cộng sản nồng cốt. Bọn này một số đã chết tức tưởi trong các trại tù tập trung cải tạo, một số ân hận nhục nhã sống vất vưởng trong xã hội mới xã hội chủ nghiã, và một số may mắn tìm cách thoát chạy được ra nước ngoài xin tỵ nạn.

3.- Trong mấy năm đầu Thập niên 2000 của Thế Kỷ 21.

Bọn lãnh đạo Đảng Việt Cộng và bạo quyền Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam, đã lừa bịp cả thế giới Tư bản bằng những mánh khoé rất xảo quyệt tinh vi để được gia nhập khối thị trường Quốc tế WTO, và được bầu làm Hội viên không thường trực đại diện các nước Á Châu trong HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HIỆP QUỐC. Chúng đã:

a.- Thả lỏng cho một số nhóm bất đồng chính kiến đang tranh đấu chống bạo quyền ở trong nước liên lạc tiếp xúc với những nhóm yểm trợ nơi hải ngoại, thành lập những phong trào, đảng, hội, phổ biến những quyết nghị lên tiếng chống Đảng và bạo quyền Việt Cộng, đòi các quyền Tự do Dân chủ…

b.- Làm ngơ để cho các nhóm này phát hành CHUI vài tờ báo viết, báo điện tử, các tờ thông cáo kêu gọi mọi người tham gia đoàn kết đòi bạo quyền trà lại các quyền Tự do báo chí, tự do lập hội, được phép thành lập đảng chính trị không Cộng sản…

c.- Để cho Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon tổ chức những buổi tiếp tân gặp gỡ trao đổi ý kiến với các nhà đấu tranh cho Dân chủ ở trong nước một cách tự do thoải mái…

Những sự kiện này chỉ nhằm mục đích lừa bịp Hoa Kỳ và các nước phương tây khác, tưởng rằng Việt Cộng đang từ bỏ thể chế độc tài chuyên chính để đổi mới theo xu thế thời đại Tự do Dân chủ tôn trọng Nhân quyền… Nhờ thế, chúng mới được Hoa Kỳ bỏ tên ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm vì vi phạm các quyền tự do tín ngưỡng, và bình thường hoá thương mại song phương bình đẳng. Và tiếp theo đó, các nước Tây phương thành viên WTO cũng bớt xét nét các điều kiện căn bản và dễ dãi trong việc quyết định chấp thuận cho chúng được trở nên thành viên chính thức của tổ chức WTO, và Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc mới chấp nhận cho được làm Thành viên không thường trực đại diện cho các nước Á Châu trong Hội đồng Bảo An LHQ trong một nhiệm kỳ bắt đầu từ năm 2008.

Và buồn thay, một sự kiện khủng khiếp đã xẩy ra ngoài sự tưởng tượng của mọi người là, ngay sau khi Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam được công nhận chính thức là thành viên của WTO, thì bạo quyền Việt Cộng lập tức khởi phát rầm rộ chiến dịch bắt bớ giam cầm xử tội nặng nề tất cả những người thuộc các nhóm tranh đấu cho dân chủ ở trong nước, một cách ồ ạt tàn bạo không nương tay, mặc dù có những phản đối mãnh liệt của các nước đã thoả thuận giúp cho Việt Cộng được vào WTO.

 

Để kết luận,

Chỉ một vài sự kiện tiêu biểu trình bầy trên đây thôi, đã cho chúng ta thấy tài gian manh xảo quyệt lừa bịp tinh vi của Việt Cộng như thế nào. Do đó chúng ta phải hết sức thận trọng, “đi với Phật thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy”, đừng bao giờ cư xử theo tư cách quân tử Tầu thuở xa xưa với bọn lừa bịp chuyên nghiệp Việt Cộng, để lòng mềm yếu nghe theo những lời dụ dỗ tâng bốc phỉnh mị lừa bịp của bọn Việt Cộng gian manh xảo quyệt này nữa.

Việt Cộng đã lừa bịp nhân dân Việt Nam và Thế giới để có được vị thế hiện nay. Chúng đã lừa bịp lôi cuốn nhân dân Việt Nam theo chúng loại bỏ các thế lực phong kiến tư bản cũ, mà chúng kết tội là những nhóm người bóc lột người, để ngày nay chúng trở thành thế lực Phong kiến Tư bản Đỏ mới, độc quyền chuyên chính bóc lột người còn thậm tệ gấp trăm ngàn lần các thế lực cũ.

Trong hiện tại, toàn dân Việt Nam ở trong nước đang là giai cấp lao động nô lệ của giai cấp lãnh đạo cầm quyền phong kiến thực dân bóc lột mới là bè lủ Việt Cộng.

Chúng ta đừng bao giờ quên lời tuyên bố của ông Putin một cựu lãnh tụ Cộng sản Nga nay đã thức tỉnh, đang là Tổng Thống điều hành quản trị đất nước Nga theo thể chế Dân chủ Tự do Tư bản thiệt sự. Ông ấy đã nói rằng: CỘNG SẢN CẦN PHẢI THAY THẾ, CHỨ KHÔNG THỂ NÀO CẢI ĐỔI ĐƯỢC.

Do đó, chúng ta phải đồng lòng hiệp sức yểm trợ cho các nhóm đấu tranh cho Tự do Dân chủ Nhân quyền ở trong nước có những cơ hội và hoàn cảnh thuận lợi tối đa, vận động được toàn dân tộc Việt Nam vùng lên đều khắp mọi nơi, trong mọi lãnh vực xã hội, để loại bỏ hẳn bè Đảng Việt Cộng và bạo quyền do chúng đẻ ra, để toàn dân tộc Việt Nam đang sống ở trong nước sớm có được mọi quyền căn bản của con người, dưới một chính quyền Dân chủ Pháp trị do chính toàn dân chọn bầu tín nhiệm, càng sớm càng tốt.

Cầu xin Ơn Trên Trời Phật Thượng Đế và Anh linh các Anh hùng Liệt nữ dòng giống Tiên Rồng Việt Nam phù trợ cho tất cả chúng ta.

Nguyễn Huy Hùng

Hùng Ca Sử Việt

Cả Nước Đấu Tranh — Ca Đoàn Ngàn Khơi

Mưa Sài Gòn — Thiên Kim

Nước Mỹ điên đầu vì Edward Snowden

Việt Long — Thanh Quang — Nguyễn Khanh

Chuyện đào thoát của Edward Snowden và việc anh tố giác hoạt động của an ninh tình báo quốc gia Hoa Kỳ nhằm do thám điện thoại, điện thư của công dân Mỹ đã làm nổ tung công luận Hoa Kỳ và thế giới trong mấy ngày qua.

Gương mặt hiền lành của anh xuất hiện nhiều ngày liền trên mọi trang nhất của các tờ báo lớn của mọi thứ tiếng trên thế giới. Báo chí quốc tế tặng anh danh hiệu “Người thổi còi” báo động cho tự do, dân chủ.

Vẫn đang ở Hồng Kông, hôm thứ năm anh còn tố cáo thêm vụ 61 ngàn hackers của Mỹ tấn công các mục tiêu không gian ảo trên khắp thế giới, kể cả hằng trăm mục tiêu ở Trung Quốc và Hồng Kông. Anh tuyên bố:

Tôi chẳng phải là anh hùng hay kẻ phản bội. Tôi là một người Mỹ”

Cùng ngày, Giám đốc Cơ quan điều tra liên bang Hoa Kỳ, ông Robert Mueller, tuyên bố trước quốc hội rằng đã mở cuộc điều tra hình sự và dùng mọi biện pháp để truy tố người này về tôi tiết lộ những bí mật của chương trình giám sát điện thoại, điện thư của Cơ quan An ninh Hoa Kỳ.

Cũng trước quốc hội, Giám đốc cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ, tướng Keith Alexander, tuyên bố chuyên viên Hoa Kỳ đã nhờ vào chương trình theo dõi điện thoại điện thư mà phát hiện và phá vỡ từ trong trứng cả mấy chục cuộc tấn công khủng bố. Kiêm nhiệm chức vụ Tư lệnh Bộ Chỉ Huy không gian ảo của Hoa Kỳ, tướng Alexander xác định rằng chương trình theo dõi đó của chính phủ là hợp pháp, và được thi hành dưới sự giám sát tư pháp.

Rời bỏ “thiên đàng”

Người chuyên viên vi tính 29 tuổi từng làm việc cho cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA và đang làm cho Cục An Ninh quốc gia NSA, bất ngờ từ nhiệm sở ở Hawaii bay sang Hồng Kông  nơi anh đã  hẹn trước với phóng viên báo The Guardian của Anh quốc. Nơi đây anh đã tiết lộ những chuyện động trời liên quan đến chương trinh của FBI gọi là PRISM,  chương trình nằm trong kế hoạch chống khủng bố, nhằm buộc cho các công ty điện thoại và thông tin của Mỹ theo dõi chặt chẽ và khi có lệnh toà án thì phải giao nạp cho chính phủ nội dung mọi liên lạc điện thoại, email, trang giao tế xã hội của tất cả mọi người sử dụng những phương tiện của các công ty đó trên thế giới, và cả các công dân Hoa Kỳ ở trong và ngoài nước.

Ai hợp pháp, ai không hợp pháp?

Liệu trên khía cạnh hiến pháp và luật pháp, một chương trình như vậy có hợp hiến hợp pháp không, trong khi hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền tự do cá nhân bao gồm các nhân quyền, là quyền tối thượng của mọi công dân Hoa Kỳ, trong đó quyền riêng tư thường được biện hộ và đề cao?

Thuần tuý pháp lý, hành động đó của chính phủ có thể bị coi là xâm phạm quyền riêng tư của người Mỹ. Phía chính phủ nói đó là kế hoạch cần thiết cho nền an ninh và phúc lợi của người dân Hoa Kỳ. Câu trả lời của Tổng thống Barrack Obama là chính phủ không thể bảo đảm 100% tránh được nạn khủng bố cho người dân và cũng không thể bảo đảm 100% cho quyền tự do cá nhân, mà người dân trong bối cảnh bị đe doạ hiện nay phải chịu đựng một chút những điều bất tiện, vì nền an ninh của quốc gia.

Mặt khác, hành vi của Edward Snowden là tiết lộ bí mật về hoạt động của chính phủ, là vi phạm luật pháp.  Hoạt động của chính phủ có hợp pháp hay không là điều phải tính tới về sau, nhưng dù sao anh cũng không được phép tiết lộ ra bên ngoài.

Toà Bạch ốc dưới búa rìu dư luận

Trong khi đó lời giải thích của Tổng thống Hoa Kỳ khiến nhiều người ngạc nhiên. Quyền tự do cá nhân được xem là “quyền tự do căn bản và quan trọng nhất của người dân Mỹ” là điều ông từng nói khi ra tranh cử để phê bình chính phủ George W. Bush, đi kèm với những lời chỉ trích nặng nề về những điều ông Bush đã làm, vi phạm đến quyền căn bản quan trọng đó và những quyền căn bản khác. Trước những chỉ trích đó, Tổng Thống George W. Bush có lần phải lên tiếng nói rằng đừng quên trong cương vị của một nhà lãnh đạo, hàng ngày ông được nghe báo cáo về an ninh quốc gia, và có những lần nghe xong mà thấy rợn cả người”. Trước khi rời Tòa Bạch Ốc, Ðệ Nhất Phu Nhân Laura Bush cũng nói điều tương tự, cho rằng những điều người khác chỉ trích chồng bà là “những điều hoàn toàn không đúng”, giải thích: “Tất cả những gì nhà tôi làm đều nhắm vào mục đích phục vụ người dân, đảm bảo không cho khủng bố có cơ hội” như chúng đã làm hôm 11 Tháng Chín 2001.
Ðó cũng là lời giải thích được các viên chức thân cận nhất của Tổng Thống Barack Obama đưa ra để trả lời câu hỏi tại sao chính phủ vi phạm dân quyền khi xin trát tòa để thu thập hồ sơ điện thoại và hồ sơ Internet của cả triệu người dân. Một trong những người thân tín của tổng thống là cựu cố vấn David Axelrod bảo:

Khi là tổng thống Hoa Kỳ, ngày làm việc của bạn sẽ bắt đầu bằng báo cáo về an ninh. Tôi biết và hiểu rất rõ là Tổng Thống Obama ngày nào cũng phải đối đầu với thực tế vì những hiểm họa có thể xảy đến cho quốc gia, đương nhiên là ông có trách nhiệm phải làm những gì có thể làm để phá vỡ những âm mưu phá hoại đó”. Ông cựu cố vấn Tòa Bạch Ốc nói thêm “Ðó là điều ai cũng phải làm khi ở trong cương vị của một nhà lãnh đạo”.

Lưỡng đảng đồng tâm hiếm thấy

Về phía đối thủ chính trị của Tổng thống là đảng Cộng hoà,
điều ông Obama làm đã được sự ủng hộ của đối thủ chính trị, nghị sĩ John McCain, người từng đại diện đảng Cộng Hòa tranh chức tổng thống hồi 2008.

Trong cuộc phỏng vấn trưa Chủ Nhật của đài CNN, ông McCain nói rằng “Nếu chuyện này xảy ra hôm 12 Tháng Chín 2001 (tức 1 ngày sau vụ khủng bố tấn công nước Mỹ), chắc chắn sẽ chẳng ai nói gì cả”. Vị nghị sĩ Cộng Hòa nói thêm chuyện này “nổ lớn” vì xảy ra cùng lúc với những thắc mắc của người dân về những việc làm sai trái Cơ Quan Thuế Vụ Hoa Kỳ, về chuyện từ năm ngoái Tòa Bạch Ốc vẫn tìm cách che giấu sự thật xảy ra ở Benghazi, cho đến chuyện nhà báo của hãng thông tấn AP và FOXNews cũng bị FBI thu tóm hồ sơ điện thoại xem họ gọi cho những ai và những ai gọi cho họ.

Trong khi đó nhiều vị dân cử khác tỏ ra cứng rắn hơn, như nghị sĩ Rand Paul, con của người ra tranh cử Tổng thống năm 2008, dân biểu Ron Paul. Vị nghị sĩ trẻ tuổi cho rằng kế hoạch của CIA “vi phạm hiến pháp” và ông đang suy nghĩ xem có nên yêu cầu Tối Cao Pháp Viện nhập cuộc hay không.

Đồng minh chính trị phẫn nộ

Công luận nhận xét ra sao về việc Tổng thống Obama đã duy trì và áp dụng đạo luật mà chính ông từng phản đối gay gắt?

Những tổ chức ủng hộ hết lòng cho ông Obama tranh cử Tổng thống đã cho rằng Thượng Nghị Sĩ Obama và Tổng Thống Obama là hai con người chính trị khác nhau. Và khi thành Tổng hống thì ông Obama cũng chẳng khác gì ông Bush.

Nhưng phụ tá cố vấn An Ninh Quốc Gia của ông Obama trả lời sự so sánh đó, và nhắc lại tháng trước Tổng Thống Obama đã đọc bài diễn văn quan trọng nói về chính sách mới mà ông đưa ra để chống khủng bố hữu hiệu hơn. Ông Rhodes nhắc lại là Tổng thống Obama đã kết thúc cuộc chiến Iraq và sắp rút quân khỏi Afghanistan, và như vậy không phải bỏ đi những biện pháp khác, vì phải bảo vệ cho người dân trong tình thế an ninh như hiện nay.

Hôm thứ tư Tổng thống Nga nói có thể cho Edward Snowden tị nạn chính trị. Liệu Edward có đi Nga không?

Một người yêu nước

Edward Snowden đã tình nguyện nhập ngũ để chiến đấu tại Iraq, nhưng bị gãy hai chân trong thế giới huấn luyện, nên quay về đi học thêm vi tính, chiếm được việc làm cho CIA rồi tới NSA, được làm ở Hawaii, nơi anh ở với bạn gái, và là nơi mọi người Mỹ coi là thiên đường hạ giới, với mức  lương trên 100 ngàn đô la một năm. Nhưng anh đã bỏ hết cả sự nghiệp tình báo đầy hứa hẹn, bỏ cả người yêu ở lại Hawaii, để làm công việc mà anh gọi là tố giác một hành vi phi pháp phản dân chủ của chính quyền Mỹ.

Con người như vậy phải là một công dân yêu nước và dám hy sinh vì những giá trị dân chủ tự do của quê hương xứ sở Hoa Kỳ của anh. Nếu đi Nga tị nạn thì đúng là đã chống lại tổ quốc, và sẽ gây tai hại khôn lường cho Hoa Kỳ, vì anh ta có thể nắm giữ được những tài liệu tình báo vô giá, trong đó có danh sách những người làm việc cho CIA trên khắp thế giới. Kho tàng thông tin ấy sẽ giúp ích cho người Nga rất nhiều.

Một con người yêu nước và dám hy sinh vì quyền tự do của người dân nước mình sẽ không phản quốc.

Nhưng bây giờ anh đang ở Hồng Kông, Trung Quốc có thể hành động ra sao về anh, qua tay chính quyền Hồng Kông?

Bắc Kinh đắc lợi mọi bề

Một kho tàng về tình báo như vậy thì Nga hay Trung Quốc cũng muốn thủ đắc. Nhưng Bắc Kinh có thể có lợi hơn thế nhiều, khi nhẫn tâm giao nạp Edward Snowden cho Hoa Kỳ như một hành động tỏ thiện chí cao nhất trong công cuộc hợp tác hoà bình, hợp tác chống khủng bố, để có thể đổi lại và được Hoa Kỳ dành tặng những lợi lộc to tát hơn nhiều.

Ngược lại, Hồng Kông là một lãnh thổ với quy chế tự trị về hành chánh công quyền và pháp lý, mà Bắc Kinh đã nhiều lần cam kết tôn trọng. Trung Quốc không thể xen vào nền pháp lý của Hồng Kông để buộc Hồng Kông giải giao người này cho Bắc Kinh hay Washington, dù nếu người Mỹ có yêu cầu.

Vũ khí bằng vàng

Trước hết Trung Quốc đã được một món quà tặng vô điều kiện, một quân bài mạnh để khống chế Hoa Kỳ trong trận đấu khẩu về vấn đề an ninh mạng. Tổng thống Mỹ nhiều lần nghiêm khắc yêu cầu Trung Quốc có hành động nghiêm chỉnh để chặn đứng cuộc tấn công trên không gian ảo nhắm vào Hoa Kỳ trên những lãnh vực thiết yếu của quốc gia, từ quốc phòng đến điện lực, đến sản xuất, kinh tế, thương mại.

Chủ tịch Tập Cận Bình mới trả lời báo chí tại California rằng chính Trung Quốc cũng là nạn nhân chịu nhiều tổn thất khi các hackers nỗ lực tấn công vào mạng internet của họ.

Tại thượng đỉnh California hai nhà lãnh đạo đã không thoả thuận được điều gì trong lãnh vực an ninh không gian ảo. Nay Edward Snowden lại hiến tặng Trung Quốc một vũ khí bằng vàng để khiến đối tác Hoa Kỳ phải im tiếng, không thể nói thêm một lời nào thống trách Trung Quốc về vấn đề này.

Báo Động Thủ Thuật Mới Của Công An VC: Lén chích thuốc đàn áp dân ở đám đông

Công an đang hoảng hốt cố ngăn chận tin này

Bản tin công an lén chích thuốc dân tại nghệ an đang được sự chú ý của đồng bào trên cả nước đến độ đòan quân dư luận viên đã dùng nhiều thủ thuật để ngăn chận bản tin này. 
Kính nhờ làng báo lề dân tiếp tay quảng bá.
BBT-DienDanCTM

RadioCTM

Các hình ảnh tuần tự sau đây tại khu vực tòa án Nghệ An vào sáng ngày 23/5/2013 là bằng chứng về thủ thuật mới của các nhóm côn đồ trộn lẫn công an, mà dân chúng nay gọi tắt là CÔN AN — đó là bao vây,  nắm chặt người mà chúng nhắm đến, rồi kéo áo nạn nhân lên để một tên đâm mạnh ống chích thẳng vào thân mình nạn nhân.

Xin bấm “Đọc thêm” để xem tiếp hình ảnh liên hệ:
image008Tiến đến đối tượng
image002Những kẻ sắp làm việc ác tự che mặt bịt miệng vì sợ bị chụp hình
 image006Bao vây nạn nhân
 image008 Kéo áo nạn nhân lên và ra tay chích vào người nạn nhân

Và sau đây là vết chích còn nằm lại trên người nạn nhân khoảng 10 giờ sau khi sự việc xẩy ra. Vết bầm hình tròn cho thấy nạn nhân bị đâm rất mạnh và lỗ kim chọc thủng da vẫn còn mở

image010
Các tác động của thuốc chích này được nạn nhân mô tả trong đoạn video sau đây:
Hiện chưa xác định được côn an đã chích nạn nhân bằng thuốc gì và mức độ nhiễm trùng của kim chích mà họ đã dùng.

Những Hình Ảnh Về Trường Võ Bị Đà Lạt—Sưu Tầm

coTuThangDeChiHuy

10420251854_f6fe62aa33_o

k22b

LeManKhoa22%20copy[1]

Page 118

Page 116

2

10

ARVN_parade1

14

16

29th_tks1

29th_tks2

29th_tks3

29th_tks4

29th_tks5

29th_tks6

29th_tks7

29th_tks8

29th_tks9

29th_tks10

29991254

83037395

7540927496_806efbeb93_o

7540930526_ef936ac300_o

7540933194_7795d6a20c_o

7540937880_58e0596c05_b

7540940790_57fab68a95_o

7540944226_fc2af8505f_o1

7579373884_ca82a23a2b_o

7579378036_ae2a1d3c4e_o

Page 71

Judo Class at South Vietnam Military Academy

7594270318_9d9254bb4b_o

7594282860_2a6fac5dfc_b

1 A A A Vo bi 24

7594290146_1984dd5237_b

1%20A%20A%20A%20Võ%20bị%2015

7594297026_1e37e0dce0_o

untitled1

7008230153_f42cde43fa_z

Page126a

6862101586_579dbe6a69_z

TÂM 5

1%20A%20A%20A%20võ%20bị%2016

V_B__L~1

untitled

VBDL2-large

2560746059_effbc8d946

VBDL

VBQGDL_39

8461324824_4b47b72e0a_o

8464924314_197d97ec33_o

8736290105_86f0794efd_o

8736290127_0a4498e259_o

8736290171_40987aaa25_o

8736290199_5040387f06_o

9481514359_181fb38575_o

7412953218_ba6bed2deb_b

VBQGDL_3

12400841954_e11968409e_o

gfqs

H30_LamVien

homepage

HoThanTho

k22qqky1

k22qqky2

K30HQHuynhKimQuang

KV1

KV2%20

untitled3

2334393920031690022AbvbMP_ph

Old_Dalat56

Cadets in Uniforms During Their Graduation

VB1

VB3

VB6

vb-ban-cung2[1]

vb-hanh-lang2[1]

vbphong2[1]

VBQGDL_18

VBQGDL_32

VBQGVN2

VBQGVN8

2911920656_1befb17de6_o

Judo Class at South Vietnam Military Academy

Soldiers During Outdoor Activity

7540683952_daa200dd3e_b

7540922158_7bdc9f27b6_b

7540923940_afa6ecf535_o

7540944226_fc2af8505f_o

7579378036_ae2a1d3c4e_o

7579384828_7710657fae_o

7594270318_9d9254bb4b_o

7594276004_09293e0527_o

8335999559_65b0b9395a_o

8461324824_4b47b72e0a_o

8736290105_dd273f73c3_b

Cadets in Uniforms During Their Graduation

9453863005_f99d5561c0_o

Thu Viên Truong Si quan Dà Lat voi 855 hoc viên

Baptême de la promotion

vo_bi_vu_dinh_truong_ngay_man_khoa

Baptême de la promotion

Baptême de la promotion

Baptême de la promotion

btmvbdl

Baptême de la promotion

Baptême de la promotion

Baptême de la promotion

9494940856_ce8c89fa49_o

9520994181_5cba176da9_o

9633760903_6e7d3da58b_o

9836642484_2725ac7547_o

9932069955_cd5501b7d8_o

9932087296_e50fc41167_o

9932088646_8c55a52e9d_o

9932112404_bf051cb0d8_b

9932113994_afd36b7f10_b

9932202793_51a63eacc7_o

9932203113_5629e386c1_b

9932203403_49619effc0_o

9932204443_76f237656e_b

9932204903_de2a42b615_b

10030670544_8d09c5c688_o

10030724225_0a10356730_o

10030804753_8b7069e7f7_o

10439732874_8ac2978f4a_o

10845334605_c060e8d6cd_o

LogoNon1

LogoClassic

TTNDH1

7171258435_3a4cdc3018_k

10420251854_f6fe62aa33_o

11710633563_349d5803f4_o

11818135993_4798857648_o

K30

ScreenShot-104

ScreenShot-105

ScreenShot-108

2722143931_8cd7aeb780_o

2722144131_3c0bdc2ba0_o

2722967310_7f7fd2db42_o

2560746059_75d64c1d61_o

DH

ThiepMoiDaiHoi19

DaiHoi18

DaiHoi17

TRƯỜNG MẸ 2

1

1BuaAnDauTien

1c30-3

1ChinhPhucLamVien1

1ChinhPhucLamVien

1DaiDoiCVuaLamVien

ALPHA[1]

ANPHA%202[1]

c30-1

c30-3

C30-4

DiHocVe

K27-2

K27-3

lÂM vIÊN 1

LÂM VIÊN 2

LÂM VIÊN 3

LÂM VIÊN 5

Lâm Viên 6

Nhẫn truyền thống

nHẬP TRƯỜNG (1)

Nhập trường (20)

Nhập trường (21)-1

Nhập trường (22)

Nhập trường (23)

Nhập trường (24)

Nhập trường (25)

Nhập trường (26)

Nhập trường (27)

Nhập trường (28)

Nhập trường (29)

Nhập trường (30)

Nhập trường (31)

Nhập trường (32)

niên trưởng

NT DANH- TÂM

TÂM 2

TÂM 3

TÂM 5

TÂM 6

Tâm- Hà- Khánh- Toàn

TÂM-NT DANH 1

TĐ SVSQ-1

TKS C30

TKS

LeManKhoa22%20copy[1]

PlaqueNtDuc

1

ĐỔI ĐỢT

Dũng- Hà- Tâm

Hòa-Hồng- Khánh- Liêm- Phước

hOI QUÁN HKQ2

Huy hiệu

K27-1

1

Page 109

Page 13

Page 15

Page 17

Page 25

Page 31

Page 33

Page 35

Page 71

Soldiers During Outdoor Activity

Cadets in Uniforms During Their Graduation

scan0180

scan0173

scan0175

scan0176

scan0178

scan0179

Nhẫn truyền thống

6862075994_b78dfac885_z

6862101586_579dbe6a69_z

7008230153_f42cde43fa_z

7008230159_8fa1c2db08_z

hOI QUÁN HKQ