Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc (Trang 23)

Category Archives: Quê Hương và Tổ Quốc

Nên thận trọng, đừng để bị Việt cộng lừa bịp nữa — Nguyễn Huy Hùng

Trong cuốn CỔ HỌC TINH HOA do Ôn Như Nguyễn văn Ngọc và Tĩnh Trai Trần Lê Nhân biên dịch, có một câu truyện đề cập đến kỹ thuật tuyên truyền rỉ tai thật là giá trị vô song. Hồ Chí Minh đã khai thác thực hiện một cách rất là nhuần nhuyễn, và đã khôn khéo truyền dạy cho bọn đàn em tôi luyện rất kỹ lưỡng.

Bây giờ Hồ Chí Minh không còn nữa, nhưng bọn đồng đảng hậu duệ nhờ rút tiả được những kinh nghiệm thực tế của Cha Ông để lại, nên trong hiện tại chúng tung ra những mánh khoé rỉ tai lừa bịp còn tinh vi xảo quyệt hơn Hồ Chí Minh nhiều.

Các Cụ ta ngày xưa thường ví “Con hơn Cha là nhà có phúc”. Nhưng trong trường hợp Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam hiện tại, phải sửa lại là “Việt Cộng con hơn Việt Cộng Ông Cha là quốc gia dân tộc vô phúc” thì mới đúng.

Từ hơn nửa Thế kỷ nay, Việt Cộng Ông Cha gian manh xảo quyệt nhờ thực hiện những mánh lới rỉ tai lừa bịp quy mô. đã reo hại bao nhiêu cho dân tộc rồi. Nay Việt Cộng Con Cháu nối nghiệp, nhờ rút tiả được kinh nghiệm xảo quyệt của Ông Cha để lại, còn gian manh xảo quyệt hơn Cha Ông gấp bội, hậu quả là bàn dân thiên hạ Việt Nam ở trong nước cứ tiếp tục phải cúi đầu câm nín chịu đựng, suốt thế hệ này sang thế hệ khác nối tiếp nhau suốt hơn nửa thế kỷ nay rồi, tội nghiệp biết chừng nào!

Để tìm hiểu xem cái kỹ thuật tuyên truyền rỉ tai đó như thế nào mà lợi hại vậy, Tôi xin ghi lại câu truyện TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI để Quý độc giả xem cho biết, và suy ngẫm để mà THẬN TRỌNG giữ mình cho không bị Việt Cộng xảo quyệt gian manh  lừa bịp thêm nữa.

Xin nhấn mạnh là, Tôi dùng chữ THẬN TRỌNG chớ không dùng chữ CẢNH GIÁC, mà từ sau ngày xâm chiếm miền Nam Việt Nam, Việt Cộng đã nhồi nhét cho mọi người nghe mãi quen tai. Nay thì cả những người Việt lưu vong tỵ nạn Cộng sản đang làm truyền thông Việt ngữ nơi hải ngoại, cũng dùng một cách tự nhiên trong việc giao dịch quảng cáo hàng ngày trên mặt báo, trên các chương trình phát thanh và Vô tuyến truyền hình, cùng với những chữ khác nữa như ĐĂNG KÝ của Việt Cộng thay vì dùng chữ GHI DANH, hay chữ THAM QUAN thay cho chữ THĂM VIẾNG mà toàn dân tộc Việt Nam vẫn quen dùng từ trước khi Việt Cộng xâm chiếm miền Nam…

 

“TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI.

Ông Tăng Sâm ở đất Phí. Ở đấy, có kẻ trùng danh với ông giết người.

Một người hớt hơ hớt hải chạy đến bảo mẹ ông Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ nói: “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà cứ điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc, lại có người đến báo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không nói gì, cứ điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc nữa lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn.

GIẢI NGHĨA: -Tăng Sâm: người thời Xuân Thu, tính chất thật thà và rất có hiếu. học trò giỏi đức Khổng Tử và sau truyền được đạo của ngài. -Trùng danh: hai hay nhiều người giống tên nhau. -Điềm nhiên: biết mà cứ im lặng như không.

NHỜI BÀN.- Tăng Sâm vốn là người hiền lành hiếu thảo bà mẹ vốn là người trung hậu, một bụng tin con. Thốt nhiên có kẻ bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không tin, người thứ hai bảo, còn chưa tin; đến người thứ ba bảo, thì cuống cuồng chạy trốn. Như thế mới hay cái dư luận của thiên hạ là rất mạnh. Một việc, dù cho sai nhầm đến mười mươi, nhiều người đã cùng có một nghị luận đều như thế cả, thì cũng dễ khiến cho ta nghi nghi hoặc hoặc rồi đem bụng tin mà cho là phải, nom điả hoá ra rươi, trông con chó thành ra con cừu. Đến như giữa chợ, làm gì có cọp? Thế mà một người, hai người, đến ba người nói có cọp, thiên hạ cũng tin có cọp thật nữa là! Những bậc rà được ngoài vòng dư luận, giữ vững được bụng như cây giữa rừng, như kiềng ba chân rất là hiếm, nhưng có thể được, mới cao; một chân lý có chứng minh rõ ràng, mười phần chắc chắn, thì mới nên công nhận.”

 

Sau đây là vài sự kiện điển hình nhất đã xẩy ra trên đất nước Việt Nam, mà Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Cộng đã dùng mánh lới tuyên truyền rỉ tai lừa bịp rất hiệu quả, khiến cho quảng đại quần chúng đã mắc lừa nhiệt tình ủng hộ chúng, rút cuộc khi chúng đạt được mục đích rồi thì lại bị chúng trắng trợn phản bội, mà vẫn phải ngậm đắng nuốt cay không dám chống đối chúng, vì chúng có súng đạn quyền uy bạo lực và dã tâm độc ác hơn thào khấu:

1.-Trong các Thập niên 1940 và 1950 thuộc Thế kỷ 20.

Khi quân Phiệt Nhật đầu hàng quân Đồng minh Hoa Kỳ, thì các nước thuộc địa Pháp tại bán đảo Đông Dương (trong đó có Việt Nam) giành lại được độc lập. Các đảng phái Nhân bản quốc gia Việt Nam không Cộng sản hoà hợp với Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh Cộng sản của hắn, để thành lập chính phủ Liên hiệp Quốc Cộng điều hành đất nước và tuyên bố phục hồi quốc gia độc lập với tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, được toàn dân tộc tán thường.

Nhưng sau khi nắm được quyền hành trong tay rồi, Hồ Chí Minh đã lén ký Sơ Ước 6 tháng 3 năm 1946 với đại diện Pháp tại Hà-nội, bằng lòng cho Pháp đổ quân lên trú đóng tại nhiều tỉnh thuộc hai miền Trung và Bắc Việt Nam, kể cả Thủ đô Hà Nội. Đến ngày 19-5-1946 Việt Minh ra lệnh dân chúng treo cờ đỏ sao vàng đón rước quân Pháp trở lại đóng quân trong Thủ đô Hà-nội, khi bị các đảng phái không Cộng sản trong chính phủ Liên Hiệp chống đối, thì Việt Minh giải thích lếu láo là treo cờ để mừng ngày sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rồi chúng lại truyền rao vu khống là các đảng phái Quốc gia âm mưu cấu kết tiếp tay cho Thực dân Pháp tái xâm lăng Việt Nam, và dùng bạo lực Công an để bắt giam và tiêu diệt thành viên của các đảng này một cách rất tàn bạo.

Mấy tháng sau, khi quân viễn chinh Pháp hoàn tất xong việc củng cố an ninh vị trí đóng quân và thâu thập được tin tức về thực lực của Việt Minh, Lãnh đạo Pháp bắt đầu ngang ngược tạo ra những cuộc tranh chấp hành chánh, gây hấn để làm phát nổ trận chiến giữa Việt Minh và Pháp vào ngày 19-12-1946 trên toàn đất nước Việt Nam, nhằm mục đích tiêu diệt Việt Minh tái lập chế độ thuộc địa như trước.

Việt Minh thua phải bỏ các thành thị rút về các vùng rừng núi. Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đóng góp của cải và nhân vật lực để yểm trợ Việt Minh tiếp tục “ Tiêu thổ kháng chiến” chống Pháp, bảo vệ nền độc lập quốc gia. Muôn người như một đã hết lòng bao bọc nuôi dưỡng và bảo vệ quân Việt Minh kháng chiến.

Đến năm 1950, sau khi quân Mao Trạch Đông chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch nắm quyền quản trị toàn lục địa Trung Hoa, thì Hồ Chí Minh đã xin Đồng chí bậc thầy thuộc Quốc Tế Cộng sản Đệ Tam này, yểm trợ cố vấn tổ chức huấn luyện trang bị cho Việt Minh các Đại đơn vị có khả năng chiến đấu theo quy ước trận địa chiến với quân Pháp. Nhờ thế quân của Hồ Chí Minh tạo được nhiều trận chiến thắng gây tổn thất cho quân Pháp tại miền thượng du Bắc Việt. Sự kiện này đã dẫn đến việc Việt Minh và Pháp ký Hiệp định Genève ngày 21-7-1954 chia đôi đất nước Việt Nam thành hai miền Nam Bắc, và lằn ranh sơn trắng vạch ngang chính giữa cầu Hiền Lương bắc trên con sông Bến Hải, tại Vĩ tuyến 17 thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị, được chọn làm ranh giới giao tiếp giữa 2 miền Nam Bắc.

Bắt đầu có uy thế, nên vào năm 1953, Hồ Chí Minh đã khởi sự phát động sách lược Cộng sản bần cùng hoá nhân dân để san bằng giai cấp, bằng chiến dịch CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, LOẠI TRỪ ĐỊA CHỦ CƯỜNG HÀO ÁC BÁ… trong các vùng do Việt Minh kiểm soát. Hồ Chí Minh cho đồng bọn đàn em Việt Minh tuyển chọn những bọn du thủ du thực cướp đường trộm chợ đứng bến vô gia cư vô nghề nghiệp… để chiêu đãi hậu hỹ rồi thành lập các đội công tác xung kích đấu tố với toàn quyền sinh sát trong tay. Chúng nhồi sọ cho bọn này rằng các người trong các giai cấp trung lưu tư sản địa chủ… có của ăn của để hơn người, là vì chúng đã từng tiếp nối nhau đời này qua đời khác bóc lột sức lao động của quảng đại quần chúng nông dân và công nhân, nên cần phải diệt cho tuyệt nọc để giành lại những của cải ấy chia đều cho giai cấp vô sản trở thành chủ tập thể, mọi người sống hoà đồng bình đẳng, không còn cảnh người bóc lột người như dưới các thời Thực Dân Phong kiến trước kia nữa…

Vì thế, hàng trăm ngàn người dân lành trước nay từng tỏ lòng nhiệt tình yêu nước và là ân nhân bảo vệ tiếp tế bao nuôi KHÁNG CHIẾN, nay trở thành kẻ thù không đội Trời chung với KHÁNG CHIẾN, và đã được Hồ Chí Minh và bọn thảo khấu Việt Minh trả ơn bằng cái chết không toàn thây, sau những cuộc đấu tố đánh đập dã man trước những toà án nhân dân do Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Minh dựng lên tại khắp các vùng nông thôn do chúng kiểm soát. Vô nhân đạo nhất là Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, đã về tận quê nội của mình để đích thân đấu tố chính cha ruột của hắn đến chết. Sau này vào tháng 7 năm 1986, sau khi Tổng bí Thư Lê Duẩn chết, hắn được Đảng cử làm Tồng Bí Thư nắm toàn quyền sinh sát cả đảng viên lẫn quảng đại quần chúng nhân dân Việt Nam một thời gian.

2.- Trong các Thập niên 1960 và 1970 của Thế Kỷ 20.

Hồ Chí Minh không thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954, do chính phe Việt Minh của hắn ký kết với Pháp để chia đôi đất nước Việt Nam thành 2 miền Nam Bắc sống biệt lập, theo 2 thể chế chính trị khác nhau (Bắc theo Cộng sản, Nam theo Tư bản). Hắn đã để một số cán bộ Cộng sản nòng cốt nằm vùng tại miền Nam, tiếp tục thi hành sách lược tuyên truyền rỉ tai về cái bánh vẽ TRUNG LẬP HOÀ HỢP QUỐC CỘNG để lôi cuốn các nhà trí thức miền Nam hoạt động chống phá Chính quyền miền Nam, và ngoan ngoãn nghe theo lời dụ dỗ của Hồ Chí Minh để thành lập cái MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (MTGPMN) quái gở, rồi ít lâu sau Hồ Chí Minh và bọn Việt Cộng Bắc Việt lại khoác cho bọn MTGPMN này cái mặt nạ hề mới là CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CỘNG HOÀ MIỀN NAM (CPLTCHMN), để hoạt động khủng bố phá hoại nền kinh tế và an ninh cuộc sống của quảng đại quần chúng tại miền Nam Vĩ tuyến 17 (ranh giới chia đôi 2 miền Nam Bắc tại sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị).

Sau đó, với sự thúc đẩy hiệp lực yểm trợ của cả khối Cộng sản Quốc tế do Liên Xô Nga lãnh đạo, Hồ Chí Minh đã chính thức phát động cuộc chiến xâm lăng miền Nam Việt Nam khởi từ cuối năm 1959, và kéo dài mỗi ngày một khốc liệt hơn cho tới 30-4-1975 mới chấm dứt. Việt Nam Cộng Hoà tại miền Nam bị thua cuộc chiến xâm lược do chính Việt Cộng tay sai của Quôc tế Cộng sản lãnh đạo giật dây hành động này, là vì một mặt bị đồng minh Hoa Kỳ do nhu cầu quyền lợi đất nước phải thay đổi chiến lược toàn cầu đối đầu với phe Quốc tế Cộng sản nên đã bội ước không tiếp tay yểm trợ nữa, và mặt khác do nhóm chủ trương TRUNG LẬP trong chính quyền miền Nam do Dương văn Minh lãnh đạo cũng phản bội bắt tay với Việt Cộng, ra lệnh buộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chống Cộng sản xăm lăng phải buông súng đầu hàng.

Sau khi chiếm được toàn miền Nam Việt Nam, bè lũ Việt Cộng Hà Nội mới kiêu ngạo công khai tự lột cái mặt nạ gian manh xảo quyết lừa bịp của chúng ra, bằng cách tiêu diệt ngay 2 con hề rối đồng chí một thời của chúng là MTGPMN và CPLTCHMN, vì không còn cần thiết nữa. Chúng quyết định tuyên bố thành lập nước CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM (gồm cả 3 miền Bắc Trung Nam) dưới quyền cai trị độc tôn toàn trị chuyên chính của Trung Ương Đảng Việt Cộng đặt Thủ đô tại Hà Nội.

Phe nhóm chính trị hoạt đầu tại miền Nam Việt Nam chủ trương TRUNG LẬP HOÀ HỢP VỚI VIỆT CỘNG BẮC VIỆT, mà người miền Nam đều biết qua cái ô danh là PHE THỨ BA gồm một số tu sĩ Công giáo, Phật giáo, nhà Văn, nhà Báo, Trí thức Chính trị gia hoạt đầu “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” theo đóm ăn tàn đã gây nhiều rối rắm lủng củng chính trị tại miền Nam trước 30-4-1975, cũng đã bị bọn Việt Cộng lường gạt trở mặt, trừng trị tàn bạo bằng nhiều hình thức khác nhau. Sau khi những miếng chanh này đã được Việt Cộng vắt hết nước, thì vỏ chẳng còn công dụng gì nữa phải vứt đi cho sạch rác rưởi, vì nhóm này không phải là Cán bộ Cộng sản nồng cốt. Bọn này một số đã chết tức tưởi trong các trại tù tập trung cải tạo, một số ân hận nhục nhã sống vất vưởng trong xã hội mới xã hội chủ nghiã, và một số may mắn tìm cách thoát chạy được ra nước ngoài xin tỵ nạn.

3.- Trong mấy năm đầu Thập niên 2000 của Thế Kỷ 21.

Bọn lãnh đạo Đảng Việt Cộng và bạo quyền Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam, đã lừa bịp cả thế giới Tư bản bằng những mánh khoé rất xảo quyệt tinh vi để được gia nhập khối thị trường Quốc tế WTO, và được bầu làm Hội viên không thường trực đại diện các nước Á Châu trong HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HIỆP QUỐC. Chúng đã:

a.- Thả lỏng cho một số nhóm bất đồng chính kiến đang tranh đấu chống bạo quyền ở trong nước liên lạc tiếp xúc với những nhóm yểm trợ nơi hải ngoại, thành lập những phong trào, đảng, hội, phổ biến những quyết nghị lên tiếng chống Đảng và bạo quyền Việt Cộng, đòi các quyền Tự do Dân chủ…

b.- Làm ngơ để cho các nhóm này phát hành CHUI vài tờ báo viết, báo điện tử, các tờ thông cáo kêu gọi mọi người tham gia đoàn kết đòi bạo quyền trà lại các quyền Tự do báo chí, tự do lập hội, được phép thành lập đảng chính trị không Cộng sản…

c.- Để cho Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon tổ chức những buổi tiếp tân gặp gỡ trao đổi ý kiến với các nhà đấu tranh cho Dân chủ ở trong nước một cách tự do thoải mái…

Những sự kiện này chỉ nhằm mục đích lừa bịp Hoa Kỳ và các nước phương tây khác, tưởng rằng Việt Cộng đang từ bỏ thể chế độc tài chuyên chính để đổi mới theo xu thế thời đại Tự do Dân chủ tôn trọng Nhân quyền… Nhờ thế, chúng mới được Hoa Kỳ bỏ tên ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm vì vi phạm các quyền tự do tín ngưỡng, và bình thường hoá thương mại song phương bình đẳng. Và tiếp theo đó, các nước Tây phương thành viên WTO cũng bớt xét nét các điều kiện căn bản và dễ dãi trong việc quyết định chấp thuận cho chúng được trở nên thành viên chính thức của tổ chức WTO, và Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc mới chấp nhận cho được làm Thành viên không thường trực đại diện cho các nước Á Châu trong Hội đồng Bảo An LHQ trong một nhiệm kỳ bắt đầu từ năm 2008.

Và buồn thay, một sự kiện khủng khiếp đã xẩy ra ngoài sự tưởng tượng của mọi người là, ngay sau khi Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam được công nhận chính thức là thành viên của WTO, thì bạo quyền Việt Cộng lập tức khởi phát rầm rộ chiến dịch bắt bớ giam cầm xử tội nặng nề tất cả những người thuộc các nhóm tranh đấu cho dân chủ ở trong nước, một cách ồ ạt tàn bạo không nương tay, mặc dù có những phản đối mãnh liệt của các nước đã thoả thuận giúp cho Việt Cộng được vào WTO.

 

Để kết luận,

Chỉ một vài sự kiện tiêu biểu trình bầy trên đây thôi, đã cho chúng ta thấy tài gian manh xảo quyệt lừa bịp tinh vi của Việt Cộng như thế nào. Do đó chúng ta phải hết sức thận trọng, “đi với Phật thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy”, đừng bao giờ cư xử theo tư cách quân tử Tầu thuở xa xưa với bọn lừa bịp chuyên nghiệp Việt Cộng, để lòng mềm yếu nghe theo những lời dụ dỗ tâng bốc phỉnh mị lừa bịp của bọn Việt Cộng gian manh xảo quyệt này nữa.

Việt Cộng đã lừa bịp nhân dân Việt Nam và Thế giới để có được vị thế hiện nay. Chúng đã lừa bịp lôi cuốn nhân dân Việt Nam theo chúng loại bỏ các thế lực phong kiến tư bản cũ, mà chúng kết tội là những nhóm người bóc lột người, để ngày nay chúng trở thành thế lực Phong kiến Tư bản Đỏ mới, độc quyền chuyên chính bóc lột người còn thậm tệ gấp trăm ngàn lần các thế lực cũ.

Trong hiện tại, toàn dân Việt Nam ở trong nước đang là giai cấp lao động nô lệ của giai cấp lãnh đạo cầm quyền phong kiến thực dân bóc lột mới là bè lủ Việt Cộng.

Chúng ta đừng bao giờ quên lời tuyên bố của ông Putin một cựu lãnh tụ Cộng sản Nga nay đã thức tỉnh, đang là Tổng Thống điều hành quản trị đất nước Nga theo thể chế Dân chủ Tự do Tư bản thiệt sự. Ông ấy đã nói rằng: CỘNG SẢN CẦN PHẢI THAY THẾ, CHỨ KHÔNG THỂ NÀO CẢI ĐỔI ĐƯỢC.

Do đó, chúng ta phải đồng lòng hiệp sức yểm trợ cho các nhóm đấu tranh cho Tự do Dân chủ Nhân quyền ở trong nước có những cơ hội và hoàn cảnh thuận lợi tối đa, vận động được toàn dân tộc Việt Nam vùng lên đều khắp mọi nơi, trong mọi lãnh vực xã hội, để loại bỏ hẳn bè Đảng Việt Cộng và bạo quyền do chúng đẻ ra, để toàn dân tộc Việt Nam đang sống ở trong nước sớm có được mọi quyền căn bản của con người, dưới một chính quyền Dân chủ Pháp trị do chính toàn dân chọn bầu tín nhiệm, càng sớm càng tốt.

Cầu xin Ơn Trên Trời Phật Thượng Đế và Anh linh các Anh hùng Liệt nữ dòng giống Tiên Rồng Việt Nam phù trợ cho tất cả chúng ta.

Nguyễn Huy Hùng

Hùng Ca Sử Việt

Cả Nước Đấu Tranh — Ca Đoàn Ngàn Khơi

Mưa Sài Gòn — Thiên Kim

Nước Mỹ điên đầu vì Edward Snowden

Việt Long — Thanh Quang — Nguyễn Khanh

Chuyện đào thoát của Edward Snowden và việc anh tố giác hoạt động của an ninh tình báo quốc gia Hoa Kỳ nhằm do thám điện thoại, điện thư của công dân Mỹ đã làm nổ tung công luận Hoa Kỳ và thế giới trong mấy ngày qua.

Gương mặt hiền lành của anh xuất hiện nhiều ngày liền trên mọi trang nhất của các tờ báo lớn của mọi thứ tiếng trên thế giới. Báo chí quốc tế tặng anh danh hiệu “Người thổi còi” báo động cho tự do, dân chủ.

Vẫn đang ở Hồng Kông, hôm thứ năm anh còn tố cáo thêm vụ 61 ngàn hackers của Mỹ tấn công các mục tiêu không gian ảo trên khắp thế giới, kể cả hằng trăm mục tiêu ở Trung Quốc và Hồng Kông. Anh tuyên bố:

Tôi chẳng phải là anh hùng hay kẻ phản bội. Tôi là một người Mỹ”

Cùng ngày, Giám đốc Cơ quan điều tra liên bang Hoa Kỳ, ông Robert Mueller, tuyên bố trước quốc hội rằng đã mở cuộc điều tra hình sự và dùng mọi biện pháp để truy tố người này về tôi tiết lộ những bí mật của chương trình giám sát điện thoại, điện thư của Cơ quan An ninh Hoa Kỳ.

Cũng trước quốc hội, Giám đốc cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ, tướng Keith Alexander, tuyên bố chuyên viên Hoa Kỳ đã nhờ vào chương trình theo dõi điện thoại điện thư mà phát hiện và phá vỡ từ trong trứng cả mấy chục cuộc tấn công khủng bố. Kiêm nhiệm chức vụ Tư lệnh Bộ Chỉ Huy không gian ảo của Hoa Kỳ, tướng Alexander xác định rằng chương trình theo dõi đó của chính phủ là hợp pháp, và được thi hành dưới sự giám sát tư pháp.

Rời bỏ “thiên đàng”

Người chuyên viên vi tính 29 tuổi từng làm việc cho cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA và đang làm cho Cục An Ninh quốc gia NSA, bất ngờ từ nhiệm sở ở Hawaii bay sang Hồng Kông  nơi anh đã  hẹn trước với phóng viên báo The Guardian của Anh quốc. Nơi đây anh đã tiết lộ những chuyện động trời liên quan đến chương trinh của FBI gọi là PRISM,  chương trình nằm trong kế hoạch chống khủng bố, nhằm buộc cho các công ty điện thoại và thông tin của Mỹ theo dõi chặt chẽ và khi có lệnh toà án thì phải giao nạp cho chính phủ nội dung mọi liên lạc điện thoại, email, trang giao tế xã hội của tất cả mọi người sử dụng những phương tiện của các công ty đó trên thế giới, và cả các công dân Hoa Kỳ ở trong và ngoài nước.

Ai hợp pháp, ai không hợp pháp?

Liệu trên khía cạnh hiến pháp và luật pháp, một chương trình như vậy có hợp hiến hợp pháp không, trong khi hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền tự do cá nhân bao gồm các nhân quyền, là quyền tối thượng của mọi công dân Hoa Kỳ, trong đó quyền riêng tư thường được biện hộ và đề cao?

Thuần tuý pháp lý, hành động đó của chính phủ có thể bị coi là xâm phạm quyền riêng tư của người Mỹ. Phía chính phủ nói đó là kế hoạch cần thiết cho nền an ninh và phúc lợi của người dân Hoa Kỳ. Câu trả lời của Tổng thống Barrack Obama là chính phủ không thể bảo đảm 100% tránh được nạn khủng bố cho người dân và cũng không thể bảo đảm 100% cho quyền tự do cá nhân, mà người dân trong bối cảnh bị đe doạ hiện nay phải chịu đựng một chút những điều bất tiện, vì nền an ninh của quốc gia.

Mặt khác, hành vi của Edward Snowden là tiết lộ bí mật về hoạt động của chính phủ, là vi phạm luật pháp.  Hoạt động của chính phủ có hợp pháp hay không là điều phải tính tới về sau, nhưng dù sao anh cũng không được phép tiết lộ ra bên ngoài.

Toà Bạch ốc dưới búa rìu dư luận

Trong khi đó lời giải thích của Tổng thống Hoa Kỳ khiến nhiều người ngạc nhiên. Quyền tự do cá nhân được xem là “quyền tự do căn bản và quan trọng nhất của người dân Mỹ” là điều ông từng nói khi ra tranh cử để phê bình chính phủ George W. Bush, đi kèm với những lời chỉ trích nặng nề về những điều ông Bush đã làm, vi phạm đến quyền căn bản quan trọng đó và những quyền căn bản khác. Trước những chỉ trích đó, Tổng Thống George W. Bush có lần phải lên tiếng nói rằng đừng quên trong cương vị của một nhà lãnh đạo, hàng ngày ông được nghe báo cáo về an ninh quốc gia, và có những lần nghe xong mà thấy rợn cả người”. Trước khi rời Tòa Bạch Ốc, Ðệ Nhất Phu Nhân Laura Bush cũng nói điều tương tự, cho rằng những điều người khác chỉ trích chồng bà là “những điều hoàn toàn không đúng”, giải thích: “Tất cả những gì nhà tôi làm đều nhắm vào mục đích phục vụ người dân, đảm bảo không cho khủng bố có cơ hội” như chúng đã làm hôm 11 Tháng Chín 2001.
Ðó cũng là lời giải thích được các viên chức thân cận nhất của Tổng Thống Barack Obama đưa ra để trả lời câu hỏi tại sao chính phủ vi phạm dân quyền khi xin trát tòa để thu thập hồ sơ điện thoại và hồ sơ Internet của cả triệu người dân. Một trong những người thân tín của tổng thống là cựu cố vấn David Axelrod bảo:

Khi là tổng thống Hoa Kỳ, ngày làm việc của bạn sẽ bắt đầu bằng báo cáo về an ninh. Tôi biết và hiểu rất rõ là Tổng Thống Obama ngày nào cũng phải đối đầu với thực tế vì những hiểm họa có thể xảy đến cho quốc gia, đương nhiên là ông có trách nhiệm phải làm những gì có thể làm để phá vỡ những âm mưu phá hoại đó”. Ông cựu cố vấn Tòa Bạch Ốc nói thêm “Ðó là điều ai cũng phải làm khi ở trong cương vị của một nhà lãnh đạo”.

Lưỡng đảng đồng tâm hiếm thấy

Về phía đối thủ chính trị của Tổng thống là đảng Cộng hoà,
điều ông Obama làm đã được sự ủng hộ của đối thủ chính trị, nghị sĩ John McCain, người từng đại diện đảng Cộng Hòa tranh chức tổng thống hồi 2008.

Trong cuộc phỏng vấn trưa Chủ Nhật của đài CNN, ông McCain nói rằng “Nếu chuyện này xảy ra hôm 12 Tháng Chín 2001 (tức 1 ngày sau vụ khủng bố tấn công nước Mỹ), chắc chắn sẽ chẳng ai nói gì cả”. Vị nghị sĩ Cộng Hòa nói thêm chuyện này “nổ lớn” vì xảy ra cùng lúc với những thắc mắc của người dân về những việc làm sai trái Cơ Quan Thuế Vụ Hoa Kỳ, về chuyện từ năm ngoái Tòa Bạch Ốc vẫn tìm cách che giấu sự thật xảy ra ở Benghazi, cho đến chuyện nhà báo của hãng thông tấn AP và FOXNews cũng bị FBI thu tóm hồ sơ điện thoại xem họ gọi cho những ai và những ai gọi cho họ.

Trong khi đó nhiều vị dân cử khác tỏ ra cứng rắn hơn, như nghị sĩ Rand Paul, con của người ra tranh cử Tổng thống năm 2008, dân biểu Ron Paul. Vị nghị sĩ trẻ tuổi cho rằng kế hoạch của CIA “vi phạm hiến pháp” và ông đang suy nghĩ xem có nên yêu cầu Tối Cao Pháp Viện nhập cuộc hay không.

Đồng minh chính trị phẫn nộ

Công luận nhận xét ra sao về việc Tổng thống Obama đã duy trì và áp dụng đạo luật mà chính ông từng phản đối gay gắt?

Những tổ chức ủng hộ hết lòng cho ông Obama tranh cử Tổng thống đã cho rằng Thượng Nghị Sĩ Obama và Tổng Thống Obama là hai con người chính trị khác nhau. Và khi thành Tổng hống thì ông Obama cũng chẳng khác gì ông Bush.

Nhưng phụ tá cố vấn An Ninh Quốc Gia của ông Obama trả lời sự so sánh đó, và nhắc lại tháng trước Tổng Thống Obama đã đọc bài diễn văn quan trọng nói về chính sách mới mà ông đưa ra để chống khủng bố hữu hiệu hơn. Ông Rhodes nhắc lại là Tổng thống Obama đã kết thúc cuộc chiến Iraq và sắp rút quân khỏi Afghanistan, và như vậy không phải bỏ đi những biện pháp khác, vì phải bảo vệ cho người dân trong tình thế an ninh như hiện nay.

Hôm thứ tư Tổng thống Nga nói có thể cho Edward Snowden tị nạn chính trị. Liệu Edward có đi Nga không?

Một người yêu nước

Edward Snowden đã tình nguyện nhập ngũ để chiến đấu tại Iraq, nhưng bị gãy hai chân trong thế giới huấn luyện, nên quay về đi học thêm vi tính, chiếm được việc làm cho CIA rồi tới NSA, được làm ở Hawaii, nơi anh ở với bạn gái, và là nơi mọi người Mỹ coi là thiên đường hạ giới, với mức  lương trên 100 ngàn đô la một năm. Nhưng anh đã bỏ hết cả sự nghiệp tình báo đầy hứa hẹn, bỏ cả người yêu ở lại Hawaii, để làm công việc mà anh gọi là tố giác một hành vi phi pháp phản dân chủ của chính quyền Mỹ.

Con người như vậy phải là một công dân yêu nước và dám hy sinh vì những giá trị dân chủ tự do của quê hương xứ sở Hoa Kỳ của anh. Nếu đi Nga tị nạn thì đúng là đã chống lại tổ quốc, và sẽ gây tai hại khôn lường cho Hoa Kỳ, vì anh ta có thể nắm giữ được những tài liệu tình báo vô giá, trong đó có danh sách những người làm việc cho CIA trên khắp thế giới. Kho tàng thông tin ấy sẽ giúp ích cho người Nga rất nhiều.

Một con người yêu nước và dám hy sinh vì quyền tự do của người dân nước mình sẽ không phản quốc.

Nhưng bây giờ anh đang ở Hồng Kông, Trung Quốc có thể hành động ra sao về anh, qua tay chính quyền Hồng Kông?

Bắc Kinh đắc lợi mọi bề

Một kho tàng về tình báo như vậy thì Nga hay Trung Quốc cũng muốn thủ đắc. Nhưng Bắc Kinh có thể có lợi hơn thế nhiều, khi nhẫn tâm giao nạp Edward Snowden cho Hoa Kỳ như một hành động tỏ thiện chí cao nhất trong công cuộc hợp tác hoà bình, hợp tác chống khủng bố, để có thể đổi lại và được Hoa Kỳ dành tặng những lợi lộc to tát hơn nhiều.

Ngược lại, Hồng Kông là một lãnh thổ với quy chế tự trị về hành chánh công quyền và pháp lý, mà Bắc Kinh đã nhiều lần cam kết tôn trọng. Trung Quốc không thể xen vào nền pháp lý của Hồng Kông để buộc Hồng Kông giải giao người này cho Bắc Kinh hay Washington, dù nếu người Mỹ có yêu cầu.

Vũ khí bằng vàng

Trước hết Trung Quốc đã được một món quà tặng vô điều kiện, một quân bài mạnh để khống chế Hoa Kỳ trong trận đấu khẩu về vấn đề an ninh mạng. Tổng thống Mỹ nhiều lần nghiêm khắc yêu cầu Trung Quốc có hành động nghiêm chỉnh để chặn đứng cuộc tấn công trên không gian ảo nhắm vào Hoa Kỳ trên những lãnh vực thiết yếu của quốc gia, từ quốc phòng đến điện lực, đến sản xuất, kinh tế, thương mại.

Chủ tịch Tập Cận Bình mới trả lời báo chí tại California rằng chính Trung Quốc cũng là nạn nhân chịu nhiều tổn thất khi các hackers nỗ lực tấn công vào mạng internet của họ.

Tại thượng đỉnh California hai nhà lãnh đạo đã không thoả thuận được điều gì trong lãnh vực an ninh không gian ảo. Nay Edward Snowden lại hiến tặng Trung Quốc một vũ khí bằng vàng để khiến đối tác Hoa Kỳ phải im tiếng, không thể nói thêm một lời nào thống trách Trung Quốc về vấn đề này.

Báo Động Thủ Thuật Mới Của Công An VC: Lén chích thuốc đàn áp dân ở đám đông

Công an đang hoảng hốt cố ngăn chận tin này

Bản tin công an lén chích thuốc dân tại nghệ an đang được sự chú ý của đồng bào trên cả nước đến độ đòan quân dư luận viên đã dùng nhiều thủ thuật để ngăn chận bản tin này. 
Kính nhờ làng báo lề dân tiếp tay quảng bá.
BBT-DienDanCTM

RadioCTM

Các hình ảnh tuần tự sau đây tại khu vực tòa án Nghệ An vào sáng ngày 23/5/2013 là bằng chứng về thủ thuật mới của các nhóm côn đồ trộn lẫn công an, mà dân chúng nay gọi tắt là CÔN AN — đó là bao vây,  nắm chặt người mà chúng nhắm đến, rồi kéo áo nạn nhân lên để một tên đâm mạnh ống chích thẳng vào thân mình nạn nhân.

Xin bấm “Đọc thêm” để xem tiếp hình ảnh liên hệ:
image008Tiến đến đối tượng
image002Những kẻ sắp làm việc ác tự che mặt bịt miệng vì sợ bị chụp hình
 image006Bao vây nạn nhân
 image008 Kéo áo nạn nhân lên và ra tay chích vào người nạn nhân

Và sau đây là vết chích còn nằm lại trên người nạn nhân khoảng 10 giờ sau khi sự việc xẩy ra. Vết bầm hình tròn cho thấy nạn nhân bị đâm rất mạnh và lỗ kim chọc thủng da vẫn còn mở

image010
Các tác động của thuốc chích này được nạn nhân mô tả trong đoạn video sau đây:
Hiện chưa xác định được côn an đã chích nạn nhân bằng thuốc gì và mức độ nhiễm trùng của kim chích mà họ đã dùng.

Những Hình Ảnh Về Trường Võ Bị Đà Lạt—Sưu Tầm

coTuThangDeChiHuy

10420251854_f6fe62aa33_o

k22b

LeManKhoa22%20copy[1]

Page 118

Page 116

2

10

ARVN_parade1

14

16

29th_tks1

29th_tks2

29th_tks3

29th_tks4

29th_tks5

29th_tks6

29th_tks7

29th_tks8

29th_tks9

29th_tks10

29991254

83037395

7540927496_806efbeb93_o

7540930526_ef936ac300_o

7540933194_7795d6a20c_o

7540937880_58e0596c05_b

7540940790_57fab68a95_o

7540944226_fc2af8505f_o1

7579373884_ca82a23a2b_o

7579378036_ae2a1d3c4e_o

Page 71

Judo Class at South Vietnam Military Academy

7594270318_9d9254bb4b_o

7594282860_2a6fac5dfc_b

1 A A A Vo bi 24

7594290146_1984dd5237_b

1%20A%20A%20A%20Võ%20bị%2015

7594297026_1e37e0dce0_o

untitled1

7008230153_f42cde43fa_z

Page126a

6862101586_579dbe6a69_z

TÂM 5

1%20A%20A%20A%20võ%20bị%2016

V_B__L~1

untitled

VBDL2-large

2560746059_effbc8d946

VBDL

VBQGDL_39

8461324824_4b47b72e0a_o

8464924314_197d97ec33_o

8736290105_86f0794efd_o

8736290127_0a4498e259_o

8736290171_40987aaa25_o

8736290199_5040387f06_o

9481514359_181fb38575_o

7412953218_ba6bed2deb_b

VBQGDL_3

12400841954_e11968409e_o

gfqs

H30_LamVien

homepage

HoThanTho

k22qqky1

k22qqky2

K30HQHuynhKimQuang

KV1

KV2%20

untitled3

2334393920031690022AbvbMP_ph

Old_Dalat56

Cadets in Uniforms During Their Graduation

VB1

VB3

VB6

vb-ban-cung2[1]

vb-hanh-lang2[1]

vbphong2[1]

VBQGDL_18

VBQGDL_32

VBQGVN2

VBQGVN8

2911920656_1befb17de6_o

Judo Class at South Vietnam Military Academy

Soldiers During Outdoor Activity

7540683952_daa200dd3e_b

7540922158_7bdc9f27b6_b

7540923940_afa6ecf535_o

7540944226_fc2af8505f_o

7579378036_ae2a1d3c4e_o

7579384828_7710657fae_o

7594270318_9d9254bb4b_o

7594276004_09293e0527_o

8335999559_65b0b9395a_o

8461324824_4b47b72e0a_o

8736290105_dd273f73c3_b

Cadets in Uniforms During Their Graduation

9453863005_f99d5561c0_o

Thu Viên Truong Si quan Dà Lat voi 855 hoc viên

Baptême de la promotion

vo_bi_vu_dinh_truong_ngay_man_khoa

Baptême de la promotion

Baptême de la promotion

Baptême de la promotion

btmvbdl

Baptême de la promotion

Baptême de la promotion

Baptême de la promotion

9494940856_ce8c89fa49_o

9520994181_5cba176da9_o

9633760903_6e7d3da58b_o

9836642484_2725ac7547_o

9932069955_cd5501b7d8_o

9932087296_e50fc41167_o

9932088646_8c55a52e9d_o

9932112404_bf051cb0d8_b

9932113994_afd36b7f10_b

9932202793_51a63eacc7_o

9932203113_5629e386c1_b

9932203403_49619effc0_o

9932204443_76f237656e_b

9932204903_de2a42b615_b

10030670544_8d09c5c688_o

10030724225_0a10356730_o

10030804753_8b7069e7f7_o

10439732874_8ac2978f4a_o

10845334605_c060e8d6cd_o

LogoNon1

LogoClassic

TTNDH1

7171258435_3a4cdc3018_k

10420251854_f6fe62aa33_o

11710633563_349d5803f4_o

11818135993_4798857648_o

K30

ScreenShot-104

ScreenShot-105

ScreenShot-108

2722143931_8cd7aeb780_o

2722144131_3c0bdc2ba0_o

2722967310_7f7fd2db42_o

2560746059_75d64c1d61_o

DH

ThiepMoiDaiHoi19

DaiHoi18

DaiHoi17

TRƯỜNG MẸ 2

1

1BuaAnDauTien

1c30-3

1ChinhPhucLamVien1

1ChinhPhucLamVien

1DaiDoiCVuaLamVien

ALPHA[1]

ANPHA%202[1]

c30-1

c30-3

C30-4

DiHocVe

K27-2

K27-3

lÂM vIÊN 1

LÂM VIÊN 2

LÂM VIÊN 3

LÂM VIÊN 5

Lâm Viên 6

Nhẫn truyền thống

nHẬP TRƯỜNG (1)

Nhập trường (20)

Nhập trường (21)-1

Nhập trường (22)

Nhập trường (23)

Nhập trường (24)

Nhập trường (25)

Nhập trường (26)

Nhập trường (27)

Nhập trường (28)

Nhập trường (29)

Nhập trường (30)

Nhập trường (31)

Nhập trường (32)

niên trưởng

NT DANH- TÂM

TÂM 2

TÂM 3

TÂM 5

TÂM 6

Tâm- Hà- Khánh- Toàn

TÂM-NT DANH 1

TĐ SVSQ-1

TKS C30

TKS

LeManKhoa22%20copy[1]

PlaqueNtDuc

1

ĐỔI ĐỢT

Dũng- Hà- Tâm

Hòa-Hồng- Khánh- Liêm- Phước

hOI QUÁN HKQ2

Huy hiệu

K27-1

1

Page 109

Page 13

Page 15

Page 17

Page 25

Page 31

Page 33

Page 35

Page 71

Soldiers During Outdoor Activity

Cadets in Uniforms During Their Graduation

scan0180

scan0173

scan0175

scan0176

scan0178

scan0179

Nhẫn truyền thống

6862075994_b78dfac885_z

6862101586_579dbe6a69_z

7008230153_f42cde43fa_z

7008230159_8fa1c2db08_z

hOI QUÁN HKQ

Người Việt ở Nam và Bắc Cali biểu tình chống Tập Cận Bình

(Part 1)

(Part 2)

Thuý Nga 13 — Giọt Nước Mắt Cho Việt Nam

(Part 1)

(Part 2)

(Part 3)

Lịch Sử Hình Thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà

Long Điền (phân tích và tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau)

Trước năm 1975, ai cũng biết Quân lực VNCH đã chiến đấu tự vệ chống lại Cộng sản Bắc Việt và CS quốc tế xâm lăng. Trong cuộc chiến đấu khốc liệt này người lính VNCH đã quên mình vì nước, vì dân. Quân lực VNCH không những chống lại cuồng vọng xâm lăng của CS Bắc Việt, mà còn anh dũng đánh Trung cộng xâm lăng Hoàng sa. Lúc đó cố Tổng Tư lệnh QLVNCH Nguyễn Văn Thiệu có nói, “Mình nhất định không để mất tấc đất nào vào tay ngoại bang. So về tương quan lực lượng dù chúng ta có yếu hơn, nhưng chúng ta vẫn phải đánh!” Điều đó nói lên rằng QLVNCH đã quyết tâm giữ nước, lo cho dân. Nơi nào có bóng dáng QLVNCH và cờ vàng ba sọc đỏ, thì nơi đó dân chúng được sống an ninh, sung túc; hưởng chút tự do. Chỉ bao nhiêu điều đó thôi cũng đủ tuyên bố được rằng QLVNCH có chính nghĩa. Dù sống lưu vong, Cựu QN QLVNCH vẫn giương cao ngọn cờ Quốc gia và luôn đứng về phía chính nghĩa Quốc gia Dân tộc.

I)Giai đoạn trước khi có Quân Đội Quốc Gia Việt Nam,Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà:

– Ôn lại giai đoạn lịch sử , kẻ từ khi thực Dân Pháp đô hộ nước ta 1884 đến khi có QĐQG (1949),tiền nhân Việt đã chiến đấu dành Độc Lập và bão vệ Đất Nước ra sao?:

Kể từ khi Thực Dân Pháp đặt ách đô hộ toàn thể đất nước ta (1884), Đó là hiệp ước cuối cùng, vẫn thường được gọi là hiệp ước Giáp Thân (1884), công nhận sự đô hộ của Pháp, chia Việt Nam làm ba phần. Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ nửa thuộc địa còn Trung Kỳ là đất bảo hộ.

Từ đấy nổ bùng cuộc chiến kiên cường của dân Việt Nam để giành lại độc lập.Trước sự xâm lăng trắng trợn và cai trị tàn ác của thực dân Pháp,toàn dân Việt luôn chiến đấu để giành Độc Lập dưới nhiều hình thức khác nhau:

A- Phong trào Cần Vương:

Mâu thuẫn ngoại giao giữa Triều đình Huế và phía Pháp nổ ra khi Toàn quyền De Courcy đòi làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi và đòi phải được cùng đoàn tùy tùng đi qua cổng chính là cổng chỉ dành riêng cho các vua Nguyễn (7.1885). Triều đình Huế không chấp nhận và cho quân tấn công vào tòa Khâm sứ, trại lính Pháp ở Huế. Cuộc tấn công thất bại. Vua Hàm nghi phải xuất bôn. Tôn Thất Thuyết đưa vua ra Quảng Trị rồi đến Nghệ An và đóng bản doanh tại đấy. Từ bản doanh, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân khắp nơi nổi lên chống Pháp. Thực dân Pháp đưa quân đi càn quét núi rừng Quảng Bình, Nghệ An hòng bắt vua cho được. Đồng thời, tại Huế, thực dân Pháp đưa Đồng Khánh lên làm vua. Đồng Khánh phải thân hành sang Khâm sứ Pháp để làm lễ thụ phong.

 Chân dung Vua Hàm Nghi

      Cổng Nam thành Hà Nội bị Pháp chiếm

Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi được sự hưởng ứng mạnh mẽ khắp nơi, nhất là trong giới sĩ phu và ngay cả sau khi vua đã bị bắt đi đày rồi.

1-Ở Trung Kỳ, tiêu biểu cho phong trào Cần Vương là cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng (1860-1887). Vốn là người thi đậu cử nhân, Mai Xuân Thưởng quy tụ được nhiều nhà nho tên tuổi ở Quảng Ngãi, Bình Định. Họ cùng nhau lập căn cứ ở Bình Định. Nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng chống chọi của quân Pháp trong ba năm ròng. Quân Pháp nhiều lần viết thư dụ hàng nhưng đều bị ông từ chối. Cuối cùng quân Pháp điều Trần Bá Lộc, một kẻ cộng tác đắc lực với Pháp, từ Nam Kỳ ra đương đầu cùng nghĩa quân khởi nghĩa. Sau nhiều lần giao tranh đều thất bại, Trần Bá Lộc đành dùng lại biện pháp mà quân Pháp đã dùng với Nguyễn Trung Trực: cho bắt mẹ của Mai Xuân Thưởng để buộc ông phải ra hàng. Mai Xuân Thưởng ra nộp mình để cứu mẹ. Ông không chấp nhận việc quy hàng và bị đưa ra hành quyết tại quê nhà (Bình Định).

2-“Một cuộc nổi dậy hưởng ứng chiếu Cần Vương tại Thanh Hóa là của Đinh Công Tráng (?-1887).Đinh Công Tráng nguyên là tùy tướng của Hoàng Tá Viêm. Khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, ông cùng các nho sĩ nổi tiếng như Đốc học Phạm Bành, Tiến sĩ Tống Duy Tân… xây dựng căn cứ địa Ba Đình tại Thanh Hóa. Nghĩa quân thường đi đánh phá các đồn bót của quân Pháp. Sau ba năm chiến đấu, căn cứ của nghĩa quân bị quân Pháp phá được. Trên đường rút lên núi, Đinh Công Tráng bị tử thương”.

Nguyên bản Hịch Cần Vương

   Trần Lục đeo huân chương Pháp

Nhận định về giai đoạn lịch sử nầy hiện vẫn còn trong vòng tranh luận gay gắt ngay trong hàng ngủ Quốc Gia và Cộng sản.Nhưng dù phong trào Cần Vương sau nầy có bị lịch sử phê phán do các chính sách:”Bình tây,sát tả”(tức là giết giặc Tây hay là thực dân Pháp và giết tà đạo tức là giết người theo đạo Thiên Chúa Giáo kể cả Việt nam và ngoại quốc) có phạm nhiều sai lầm làm phân tán,chia rẻ phong trào kháng Pháp ,nhưng hành động của LM Trần Lục dẩn 5000 giáo dân phụ lực với thực dân Pháp tiêu diệt nghỉa quân của Đinh Công Tráng một vị tướng ,tuân hành lệnh kháng Pháp của Vua Hàm Nghi đang còn bôn tẩulà một hành động không thể nào bào chửa được.

3) Hà Tĩnh, cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (1847-1895) và Cao Thắng (1864-1893) cũng đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử dân tộc. Phan Đình Phùng đã n bái yết vua Hàm Nghi sau khi vua xuất bôn và nhận nhiệm vụ lãnh đạo phong trào Cần Vương tại Nghệ An, Hà Tĩnh. Ông xây dựng đồn trại, lập xưởng công binh chế tạo vũ khí. Quân Pháp với sự giúp sức đắc lực của Hoàng Cao Khải, nhiều lần dụ ông ra hàng nhưng không được bèn cho quật mồ tổ tiên ông. Cuộc chiến đấu của Phan Đình Phùng kéo dài đến hơn 10 năm. Trong một lần bị bao vây, ông bị bệnh kiết lỵ và chết.

4)Quân Pháp lại phải đối phó với phong trào Cần Vương ở Bắc Kỳ. Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926) lập chiến khu ở Bãi Sậy, dùng chiến thuật du kích tấn công tiêu diệt các toán quân tuần tiễu, các đồn bót của Pháp. QUân Pháp bị thiệt hại nhiều trận nặng nề, dồn lực lượng càn quét nhiều lần không được, đành phải đưa Hoàng Cao Khải ra trấn áp và dụ hàng. Lực lượng nghĩa quân bị thiệt hại nặng. Nguyễn Thiện Thuật giao quyền chỉ huy lại cho em, lên đường sang Trung Quốc tìm Tôn Thất Thuyết để bàn cách phục hưng. Nhưng việc không thành. ông đành nương náu tại đấy.
5)Một cuộc khởi nghĩa lừng lẫy khác là tại Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy (1858-1913) chỉ huy. Cuộc khởi nghĩa này làm tiêu hao lực lượng của quân Pháp, không để chúng yên ổn áp dụng chính sách cai trị của mình tại Bắc Ninh, Thái Nguyên. Quân Pháp phải ra sức đàn áp đến năm 1913 mới diệt được.

 Anh hùng Hoàng Hoa Thám

       Nghĩa quân Yên Thế của Đề Thám

B) Phong trào kháng Pháp vào đầu thế kỷ 20:

 Cụ Phan Bội Châu

    Cụ Phan Chu Trinh

Qua đầu thế kỷ 20, phong trào kháng Pháp của dân tộc Việt Nam không còn mang thuần màu sắc quân sự nữa. Các cuộc đấu tranh chính trị bắt đầu xuất hiện mà điển hình là phong trào Đông Du do Phan Bội Châu cầm đầu.

Là một nho sĩ nổi tiếng, Phan Bội Châu tập hợp lại các sĩ phu của phong trào Cần Vương sau khi phong trào này thất bại và thành lập một tổ chức mới là phong trào Duy Tân. Phong trào Duy T ân chủ trương đưa người ra nước ngoài mà cụ thể là nước Nhật để học hỏi những tiến bộ của thời đại, chuẩn bị cho lực lượng về sau. Kỳ Ngoại hầu Cường Để được đưa sang Nhật để móc nối trước với nhà cầm quyền Nhật Bản. Vào năm 1908, 200 thanh niên được gửi sang đấy. Nhưng Nhật không sẵn lòng giúp. Phan Bội Châu và Cường Để phải sang trốn tránh ở Trung Quốc.

Ở trong nước, các sĩ phu chuyển hướng khác. Dưới sự chỉ đạo của Lương Văn Can, trường Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập với mục đích truyền bá các tư tưởng tân tiến, đề xướng phong trào tân học với mục đích đào tạo những thanh niên ưu tú để thực hiện công cuộc đòi lại chủ quyền quốc gia. Dù hoạt động chỉ được một năm, nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục đã đánh dấu việc chuyển hướng quan trọng của giới trí thức Việt Nam.

Khác với chủ trương muốn dùng bạo lực để chống Pháp của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh (1872-1926) chủ trương cứu nước bằng đường lối cải lương, mở mang dân trí và tranh thủ đòi hỏi ở chính quyền quyền dân sinh dân chủ. Ông bị Pháp bắt và đày đi Côn Đảo vào năm 1908. Do hội Nhân quyền Quốc tế can thiệp, ông được thả ra và bị quản thúc tại Mỹ Tho. Năm 1914, Phan Chu Trinh lại bị bắt vì bị nghi ngờ là đã liên lạc với Cường Để. Năm 1922, ông sang Pháp tiếp tục hoạt động của mình. Sau đó lại về nước và mất năm 1926. Đám tang của ông được các nhà yêu nước tổ chức khắp cả ba kỳ.

_Việt Nam Quốc Dân Đảng : Vào thập niên 1920, thực dân Pháp càng ngày càng đè nặng ách thống trị tàn bạo lên đầu lên cổ người dân Việt từ Bắc chí Nam. Chúng đàn áp dã man, bóc lột tới tận xương tủy, nào sưu cao thuế nặng, nào bắt bớ giam cầm, tù đầy, tra tấn, thủ tiêu những người yêu nước. Các phong trào nổi dậy chống Pháp trước đó bị đàn áp dữ dội. Phong trào Đông du của cụ Phan bội Châu cũng bị dẹp tan. Khắp nơi đâu đâu cũng nghe tiếng oán hờn, nỗi uất hận cao ngút thấu trời xanh.

Trước hoàn cảnh cực kỳ đau thương của dân tộc, máu căm hờn sôi sục khắp nơi, những người trẻ Việt nam không thể cúi đầu khuất phục. Nhà Cách mạng Nguyễn Thái Học, một sinh viên trường Cao Đẳng Thương mại Hà Nội, lúc ấy mới 24 tuổi, đã cùng các thanh niên Việt nam yêu nước khác như: Nhượng Tống, Phạm tuấn Tài, Phạm tuấn Lâm, Hồ văn Mịch, Phó Đức Chính, Nguyễn ngọc Sơn, Lê văn Phúc vân vân… đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa, bí mật thành lập một Đảng đấu tranh cách mạng vào ngày 25.12.1927, lấy tên là VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG để chống Pháp, quyết đánh đuổi thực dân giành độc lập, tự do cho dân tộc. Cụ Phan bội Châu được cử làm Chủ tịch Danh dự, Nguyễn Thái Học được bầu làm Chủ tịch Tổng Bộ tức Đảng Trưởng.

Ngày 09 tháng 02 năm 1929, nhằm chiều 30 Tết Mậu thìn, tên Giám Đốc mộ phu trùm thực dân Pháp tại Hà Nội là Bazin bị các đảng viên VNQDĐ Nguyễn văn Viên, Nguyễn đức Lung, Nguyễn văn Lân ám sát gây chấn động khắp Đông Dương. Mật thám Pháp lại càng gia tăng khủng bố, trả thù tàn bạo.

Cuộc khởi nghĩa YÊN BÁI.

Cờ của Việt Nam Quốc Dân Đảng

                                                                                                                                           Anh Hùng Nguyễn Thái Học

Trước cảnh khổ cực trăm bề của người dân, VNQDĐ quyết định Tổng Khởi Nghĩa vào ngày 10.02.1930. Quân cách mạng đã đồng loạt tấn công vào các cứ điểm quân sự của Pháp: tấn công Yên Bái, Lâm Thao, Hưng Hoá, ném bom trên cầu Long Biên Hà nội, đánh Đáp Cầu, Phả Lại, tấn công đồn binh Pháp tại Kiến An, đánh Phủ Dực, Vĩnh Bảo, Thái Bình, xử tử cháu tên đại Việt gian Hoàng cao Khải là Tri Huyện Vĩnh Bảo Hoàng gia Mô, giết chết nhiều sĩ quan và binh lính địch, chiếm nhiều căn cứ của thực dân. Do sự phản công mãnh liệt của quân Pháp, quân khởi nghĩa cuối cùng bị đẩy lui. Nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt vào ngày 20.2.1930 trong đó có nhà Cách mạng Nguyễn thái Học. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng cũng tạo tiếng vang khắp nơi và làm rúng động cả chính quốc Pháp.

Cuộc hành quyết tại Yên Bái ngày 17.6.1930

  Công viên Yên Hoà thuộc tỉnh Yên Bái

Nguyễn Tường Tam VNQDĐ

Nhằm tiêu diệt mầm mống cách mạng, đồng thời khủng bố tinh thần những người yêu nước khác, thực dân Pháp đã xử chém 13 đảng viên VNQDĐ tại Yên Bái ngày 17.6.1930 trong đó có anh hùng Nguyễn Thái Học. Sau đây là một đoạn tường thuật cuộc xử chém của tác giả Hoàng văn Đào trong tác phẩm Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò: Yên Bái, một vị trí lịch sử lần thứ hai lại chứng kiến các đảng viên VNQDĐ đền nợ nước. Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái,các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.

Danh tánh của 13 Liệt sĩ đã lần lượt lên máy chém: Bùi tử Toàn, Bùi văn Chuẩn, Nguyễn An, Hồ văn Lạo, Đào văn Nhít, Nguyễn văn Du, Nguyễn đức Thịnh, Nguyễn văn Tiềm, Đỗ văn Tứ, Bùi văn Cửu, Nguyễn như Liên, Phó đức Chính và cuối cùng là Nguyễn thái Học. Tãt cả các Liệt sĩ lên đoạn đầu đài đều hô to: Việt Nam muôn năm. Người Nữ Anh hùng Nguyễn thị Giang, một đảng viên VNQDĐ tuẫn tiết theo Đảng Trưởng.
Ngoài ra, kể từ ngày khởi nghĩa Yên Bái thất bại, trên 30 đảng viên VNQDĐ đã bị thực dân Pháp xử chém và hàng ngàn đảng viên khác bị xử án từ chung thân đến lưu đầy biệt xứ.

C)Các Phong trào kháng chiến từ sau 1930

1-Sô Viết Nghệ Tĩnh(đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời): Thời điểm ra đời c ủa CNCS lúc đó rất ít ng ười biết CNCS là gì,từ đâu tới,phục vụ cho ai? T ừ sau 1945 cũng rất ít người biết rõ lý lịch của Hồ Chí Minh đã từng là cán bộ cao cấp của Quốc Tế Cộng Sản. Vì vậy khi ông ta về nước lập ra mặt trận Việt Minh, rồi tuyên bố Việt Nam Độc Lập, lập chính phủ Liên Hiệp thì không chỉ thường dân ít học, mà cả các nhà trí thức, các đảng phải chống Cộng như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh… đều (vui vẻ hay miễn cưỡng) tham gia, còn nhận 70 ghế trong Quốc Hội mà Hồ Chí Minh tặng, không phải qua bầu cử!Rất nhiều người kể cả trí thức Việt Nam cũng lầm v ề con người của HCM và đảng CSVN.

2-Phong trào Thanh Niên Tiền Phong.

Thanh niên tiền phong là một tổ chức chính trị và xã hội ở Việt Nam, hoạt động chủ yếu ở Nam Kỳ năm 1945. Đây là tổ chức có đoàn thể mạnh nhất và là lực lượng chính tham gia giành chính quyền ở một số tỉnh thành ở Nam Kỳ Việt Nam. Phong trào Thanh niên Tiền phong được thành lập dựa trên nòng cốt tổ chức Hướng đạo Việt Nam và Tổng hội Sinh viên Đông Dương. Phong trào đã nhanh chóng tổ chức các hoạt động cứu trợ nạn nhân do các cuộc oanh tạc của Đồng Minh và giúp đỡ đồng bào miền Bắc đang bị nạn đói lúc đó. Do tôn chỉ xã hội rộng rãi, không phân biệt chính trị tôn giáo nên Thanh niên Tiền phong nhanh chóng trở thành phong trào mạnh nhất ở Nam Kỳ và lan rộng đến Trung Kỳ. Sau 2 tháng vận động, ngày 1 tháng 6 năm 1945, tổ chức Thanh niên Tiền phong chính thức ra mắt. Các thủ lĩnh phòng trào gồm có Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Nha sĩ Nguyễn Văn Thủ, Luật sư Thái Văn Lung

3-Phong trào Quốc Gia kháng Pháp:Cao Đài,Hoà Hảo,Công Giáo,Phật Giáo.

Cuộc xâm lăng mới của Pháp này đã gặp sức kháng cự mạnh mẽ của người Việt Nam, nhất là các đoàn thể võ trang như Việt Minh, Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên trong miền Nam, và các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt ở miền Trung và B¡c. Mặc dù tinh thần kháng chiến chống thực dân của dân ta rất cao, nhưng vì vũ khí thô sơ và tổ chức còn rời rạc, nên các lực l ượng võ trang này bị quân Pháp đánh bại mau lẹ. Đa số phải rút về thôn quê hay vào bưng biền để tổ chức trường kỳ kháng chiến.

II) Các giai đoạn h ình thành Quân Đội Quốc Gia Việt Nam

1)–Giai đoạn sơ khai của Quân Đội Quốc Gia (1949-1951):

     Quốc trưởng Bảo Đại tháng 3 năm 1945

Khi Pháp bị sa lầy trong cuộc chiến với cộng sản Việt Nam, chánh phủ Pháp thực hiện chính sách đẩy người Việt không cộng sản nhập cuộc đánh nhau với người Việt cộng sản, bằng cách thành lập quân đội cho quốc gia Việt Nam. Trong bối cảnh đó, cựu hoàng Bảo Đại và các đảng chính trị quốc gia cùng thân hào nhân sĩ, vận động cho một nước Việt Nam thống nhất và độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp. Hạ tuần tháng 4.1949, một hội nghị với khoảng 2.000 người tham dự, mà một phần ba trong số đó là Pháp kiều có cơ sở kinh doanh tại Việt Nam. Hội nghị đồng thuận bãi bỏ chế độ thuộc địa, nước Việt Nam là một quốc gia thống nhất. Và chánh phủ Pháp đã hợp thức hóa quyết định của hội nghị. Đó cũng là lúc cựu hoàng Bảo Đại về nhận chức Quốc Trưởng.

Việc thành lập quân đội cho quốc gia Việt Nam, xuất phát từ quyền lợi của nước Pháp thực dân. Điều đó chắc không bạn nào nhầm lẫn. Và rất có thể vì vậy mà có bạn thắc mắc; “Tại sao cựu hoàng và các đảng chính trị lại tham gia vào chính sách đó của Pháp”. Thật ra quí vị ấy nhận định rằng: “Giữa Pháp với Việt minh cộng sản, chẳng bên nào vì tổ quốc và dân tộc Việt Nam cả, nhưng giữa hai kẻ xấu mà ta phải chọn một, ta nên chọn kẻ xấu ít. Giữa Pháp với Việt minh cộng sản, các vị đã tựa vào Pháp -kẻ xấu ít- để diệt Việt minh cộng sản -kẻ xấu nhiều- sau đó tương kế tựu kế đẩy Pháp ra khỏi Việt Nam”.

Vào ngày 8 Tháng Ba năm 1949, sau khi Thỏa Hiệp Élysée được ký kết giữa chính phủ Pháp và đại diện Quốc Gia Việt Nam, nước Việt Nam tự do trẻ trung dưới quyền lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Ðại được Pháp công nhận là một quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Pháp (Union Francaise), và Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam được thành lập sau đó để chiến đấu bên cạnh Quân Lực Pháp chống lại các lực lượng Cộng Sản Việt Nam . Lực lượng mới được thành lập này mang danh xưng – “Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam” và, lúc đầu, được đặt dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp cũng như Việt Nam có quốc tịch Pháp, nổi bật nhất là Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh.

2) Giai đoạn hình thành và lớn mạnh củ a QĐQGVN (1951-1954):

Lúc bấy giờ là đầu trung tuần tháng 5.1950, quốc hội Pháp thông qua dự luật thành lập một quân đi cho quốc gia Việt Nam với quân số 60.000 người. Nhưng mãi 2 năm sau, một văn kiện gọi là Dụ (về sau gọi là Sắc Lệnh) của Quốc Trưởng Bảo Đại, QĐQGVN mới được chào đời tại Sài Gòn, thủ đô nước Việt Nam thống nhất ngày 1 tháng 5 năm 1952. Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu Trưởng. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam tọa lạc trên đại lộ Trần hưng Đạo, thuộc Quận 5 Sài Gòn.

Như vậy, chỉ trong vòng 5 năm (1949-1954), Bảo-Đại với cương vị Quốc-trưởng VN đã đem lại nền thống-nhất cho đất nước, mặc dầu chỉ trên danh-nghĩa. Ngoài ra, Bảo-Đại cũng đã thu hồi đầy đủ quyền hành từ trong tay người Pháp và tạo lập riêng được một quân-đội QGVN do người Việt-Nam chỉ huy. Với thành quả này, trên bán đảo Đông-Dương, QGVN là một chính-phủ duy nhất được cộng-đồng quốc-tế (ngoại trừ khối Cộng) kể cả Hội-đồng Bảo-an Liên-Hiệp-Quốc với tứ cường Anh, Pháp, Mỹ và Trung-Hoa Quốc-Gia đều thừa nhận (Cao-Thế-Dung, Dân-tộc 1 – USA ngày 21/11/2002, trang 11).

3)Giai đoạn chuyển tiếp từ QĐQGVN thành Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà(1954-1955)

Ngày 20/7/1954 đánh dấu ngày quốc hận thứ nhất của dân tộc Việt Nam, sau khi cộng sản Bắc Việt cùng với thực dân Pháp ký kết Hiệp định Genève chia đôi đất nước, lấy vĩ tuyến thứ 17 chạy ngang con sông Bến Hải làm ranh giới Bắc-Nam.

Giữa bối cảnh một nửa đất nước oằn oại rên siết trong gông cùm cộng sản, trong bóng đêm của dối trá và tội ác, một nửa nước còn lại vừa phải đối phó với quân cộng sản còn nằm mai phục trong các chiến khu cũ thời Pháp và đương đầu với những vấn đề ổn định nội bộ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, danh xưng lúc đó là Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam, tiếp nhận di sản nghèo nàn và lạc hậu do phía quân đội Pháp hồi hương bàn giao lại, đảm nhận trọng trách nặng nề bảo quốc an dân. Ngày 1/7/1955 Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam chính thức hình thành, đánh dấu ngày khai sinh một quân lực non trẻ mà đã dám chiến đấu chống lại cả một đại khối cộng sản quốc tế hung hãn tràn xuống từ phương Bắc.

4)Giai đoạn chuyển tiếp từ QĐVNCH sang Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (1956-1965)

Dưới thời của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa, sau khi ông chính thức làm Tổng Thống sau cuộc Trưng Cầu Dân Ý 1955, Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam được cải danh thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với xác quyết quân đội sẽ được phát triển và tối tân hóa thành một đạo quân mạnh để đập tan bất cứ một cuộc xâm lược nào từ phương Bắc.

5) Giai đoạn QLVNCH chiến đấu chống Cộng sản Bắc Việt xâm lược và đưọc chính phủ giao trọng trách lãnh đạo đất n ước (1965-1975):

Ngày 5/5/1965, Hội Ðồng Quân Lực đã quyết định trao quyền lãnh đạo đất nước lại cho chính phủ dân sự, cụ Phan Khắc Sửu được mời làm Quốc Trưởng, Bác sĩ Phan Huy Quát làm Thủ Tướng. Nhưng cũng chỉ hơn một tháng sau, ngày 11/6/1965, chính phủ dân sự do cụ Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng nhận định rằng tình hình đất nước đã đến lúc lâm nguy nếu người quốc gia không mạnh mẽ hành động và tìm ra một con đường tức thời nào đó. Con đường đó, sau những cân nhắc, chính là sức mạnh của Quân Ðội. Chính phủ Phan Khắc Sửu quyết định trao trả quyền lãnh đạo đất nước lại cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

THỦ TƯỚNG CHÁNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA

Sau khi duyệt lại tình trạng ngày càng một khẩn trương của đất nước, sau khi đã xét lại và xác nhận rằng: những cơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế, sau khi đã hội ý cùng toàn thể tướng lãnh Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa tại Phủ Thủ Tướng ngày 11/6/1965, chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết Ðịnh số 8 ngày 5/5/1965, Tuyên Cáo số 7 ngày 5/5/1965, Quyết Ðịnh số 5 ngày 16/2/1965, Quyết Ðịnh số 6 ngày 17/2/1965 và Quyết Ðịnh số 4 ngày 16/2/1965.

Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1/11/1963.

Làm tại Sài Gòn ngày 11/6/1965
Phan Khắc Sửu
Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa
Phan Huy Quát
Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa
Phạm Xuân Chiểu
Chủ Tịch Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp

Ngày 12/6/1965, trong một buổi họp quy tụ tất cả những tướng lãnh đang nắm những trọng trách trong Quân Ðội từ cấp Tổng Tham Mưu Trưởng, Tư Lệnh bốn Vùng Chiến Thuật cho đến các Tư Lệnh Quân Binh Chủng, Hội Ðồng Quân Lực đã đề cử Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đảm nhận chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (tương đương Tổng Thống), Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảm nhận chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tương đương Thủ Tướng)

Ngày 19/6/1965 thành phần Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương trong một buổi lễ ra mắt được tổ chức long trọng ở Thủ Ðô Sài Gòn, đã tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm lèo lái quốc gia và làm thành phần tiền phương của quân dân Việt Nam Cộng Hòa chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ đất nước. Từ thời điểm đó, ngày 19/6 được đánh dấu như là một cái mốc lịch sử, một chương mới của cuộc chiến đấu chống đại khối cộng sản quốc tế của quân dân Miền Nam, mà Quân Lực Việt Nam Cộng hòa là thành phần gồng gánh trách nhiệm lãnh đạo đất nước, xây dựng nền độc lập, tự do và dân chủ, bình định những mầm móng nằm vùng bạo loạn, ở tiền tuyến thì chỉ huy quân đội ngăn chống cơn sóng xâm lăng cuồng sát của đạo quân hiếu chiến cộng sản Bắc Việt.

Với sự trợ giúp của các nước Ðồng Minh, trong đó phần đóng góp chính yếu đến từ Hoa Kỳ từ sau năm 1954, QLVNCH đã dần lớn mạnh, không những đủ khả năng chận đứng đà xâm lăng cuồng bạo của binh đội cộng sản Bắc Việt, mà còn đánh cho bọn chúng tan tành thành từng mảnh vụn trong những chiến thắng lừng danh thế giới như Mậu Thân 1968, chiến dịch hành quân sang Kampuchea đập nát những hang ổ kho tàng tiếp liệu cộng quân năm 1970. Trong cuộc hành quân sang Hạ Lào, chiến dịch Lam Sơn 719, mặc dù bị báo chí và truyền thông Hoa Kỳ cũng như nằm vùng cộng sản tiết lộ bí mật, QLVNCH ngay từ đầu đã ở trong thế hạ phong nhưng vẫn đánh thiệt hại rất nặng lực lượng cộng quân. Chiến thắng lừng lẫy nhất mà đã làm cho toàn thế giới phải cúi đầu ngưỡng phục, kể cả giới truyền thông báo chí phản chiến và thân cộng cũng phải xấu hổ gục đầu công nhận tính chất xâm lược rõ ràng của cộng sản Hà Nội và tinh thần chiến đấu dũng mãnh của QLVNCH. Ðó là cuộc chiến Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972. QLVNCH đã để lại trong lịch sử Việt Nam trang sử chiến đấu chói lọi nhất, thiêu cháy huyền thoại Ðiện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp. Sau cơn thảm bại mùa hè 1972 nhục nhã, Giáp bị cách chức.

QLVNCH chiến đấu trong nỗi cô đơn cay cực mà chưa từng có một đội quân nào trên thế giới đã trải qua hoàn cảnh ngặt nghèo tương tự. Vừa phải đổ máu xương ngăn chống cộng sản ở phía trước mặt mà còn phải hứng chịu những vết đâm lút sâu của những thế lực bạn bè từ phía sau lưng và sự hững hờ từ phía hậu phương. Người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa bị trói tay không cho đánh, mặc dù chỉ chiến đấu để tự vệ, bảo vệ làng xóm. Chính họ đã hy sinh mạng sống để cho dân tộc được sống và được hạnh phúc. Sự dàn xếp của những thế lực cộng sản quốc tế và tư bản đã đưa đến ngày tang thương 30/4/1975, QLVNCH một lần nữa bị buộc phải hoàn toàn buông súng. Bọn cộng sản tiểu nhân đắc chí ngổ ngáo tiến vào chiếm lấy Việt Nam Cộng Hòa, ngông nghênh tuyên bố đại thắng, thực hiện sách lược sĩ nhục lăng mạ và đày ải những người chiến binh QLVNCH và vợ con gia đình của họ. Nhưng thật sự có phải cộng sản Bắc Việt đã chiến thắng hay không? Sau hơn một phần tư thế kỷ kể từ ngày 30/4/1975, giờ đây mọi góc cạnh của sự thật đã được phơi bày dưới ánh sáng của mặt trời. Chúng ta khẳng định mạnh mẽ QLVNCH không hề thua và cộng sản không hề thắng trong trận chiến đấu cuối cùng ngày 30/4/1975. Sự thắng thua chỉ được phân định khi hai lực lượng cùng đối mặt chiến đấu giữa hai chiến tuyến. Hai võ sĩ so găng trên võ đài, một võ sĩ bị trói tay chân và với sự đồng tình của ban trọng tài đã bị võ sĩ kia đánh đập rồi tự đưa tay tuyên bố chiến thắng và tha hồ lăng mạ sĩ nhục đối phương. Cuộc thắng thua còn chưa được phân định khi viên đạn cuối cùng còn chưa được bắn ra khỏi nòng súng.

Giờ đây, sau gần ba mươi năm chứng kiến những tội ác ghê tởm hãi hùng của cộng sản Hà Nội bủa lên đầu chính dân tộc của chúng, công luận thế giới đã khẳng định chế độ cộng sản là một cái quái thai kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại và cần phải hủy diệt nó. Ngọn gió đã đổi chiều thuận lợi cho QLVNCH. Hệ thống truyền thông và báo chí ngoại quốc từng một thời ngày xưa góp tay bôi nhọ làm nhục người chiến sĩ VNCH, ngày nay đã hồi phục danh dự cho QLVNCH, biểu dương tinh thần chiến đấu và chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa. Cuối cùng thì những giá trị nhân bản thực sự của người lính Việt Nam Cộng Hòa đã được thế giới thừa nhận và tôn vinh. Những nắm xương khô đang mục rã theo với thời gian nghiệt ngã của 300 ngàn tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nằm câm nín u uất dưới những nghĩa trang hoang phế điêu tàn, hay ở những chống rừng sâu núi thẳm, cùng với nửa triệu chiến sĩ thương phế mà phần lớn còn sống lây lất và khắc khoải bên kia bờ Thái Bình Dương, tất cả những người anh hùng vĩ đại đó giờ đây đã được tôn vinh. Ðiều mà những người còn sống, những người còn lành lặn thân xác phải làm là sẽ cùng nhau tìm cách cắm lên bia mộ các anh những nén hương của lòng tri ân với những giọt nước mắt tiếc thương, cùng nhau gởi về cho các anh thương phế chút lòng của những người đồng đội mà ngày xưa từng kiêu hãnh đứng chung dưới lá Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để các anh còn tiếp tục nuôi dưỡng một niềm tin. Rồi sẽ có một ngày, cơn thịnh nộ của đất trời và của toàn dân tộc Việt Nam sẽ như con sóng thần biển Ðông cuốn xô đi những tàn tích của cái ác.

Chúng ta cũng nghiêng mình trước Bức Tường Ðá Ðen ở Washington D.C, tri ân hơn 58,000 chiến sĩ Hoa Kỳ trận vong, những người bạn đã từng sát cánh chia sẽ nỗi cơ cực và chết chóc của chiến tranh với người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì nền tự do của đất nước Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta tri ân và vinh danh 300,000 chiến binh thương phế Hoa Kỳ đã bỏ lại một phần thân thể của các anh trên một đất nước thật quá xa xôi để trở về nhận chịu sự thờ ơ lãnh đạm của chính người dân Mỹ, cùng mang những chứng bệnh tinh thần trầm kha. Giờ đây thì anh linh của tất cả những người lính trận vong Hoa Kỳ và Việt Nam đã có thể đi về phía cõi vĩnh hằng với lòng thanh thản, những chiến sĩ thương binh Hoa Kỳ và Việt Nam đã có thể thể ngẫng cao đầu cười nửa miệng trên những đống gạch đổ nát ngỗn ngang của bức tường thành Bá Linh và những mảnh vụn của cái quái thai chủ nghĩa cộng sản. Chính là các anh, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và người lính Quân Lực Hoa Kỳ đã là nỗ lực chánh hủy diệt cái ác mệnh danh là chủ nghĩa cộng sản đó. Chúng ta có thể xác quyết một điều là, ngày nào mà người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn tập họp, đoàn kết đứng chung dưới lá Quốc Kỳ và Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, thì ngày đó cộng sản Hà Nội còn rất run sợ, ngày ăn không thấy ngon, đêm ngủ không được yên giấc. Chúng phải hiểu một điều đơn giản nhưng rất thật là, cho dù chúng có nặn cái bộ óc “trí tuệ” của loài Vượn đến thế nào để cho ra bao nhiêu cái nghị quyết nhắm vào người Việt hải ngoại và Tập Thể người lính QLVNCH, thì cũng sẽ hoàn toàn không ăn được cái giải gì, giống như những cú đánh mất hút vào cõi hư vô. Chúng chỉ thắng được chúng ta ngày 30/4/1975, khi chúng ta bị buộc phải buông súng mà thôi. Ba mươi năm trước, cộng sản Hà Nội cậy có súng AK để đánh đập, hạ nhục, giết chóc những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không còn vũ khí trong những trại tù khắc nghiệt và dã man của chúng. Ngày nay, ba mươi bốn năm sau, tuy rằng trong tay người lính chúng ta không còn cây súng M 16, nhưng chúng ta có rất nhiều sức mạnh mà cộng sản Hà Nội hằng run sợ.

Thứ nhất, sự phẫn nộ của người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hàng trăm ngàn người lính đã ra được đến bến bờ tự do, dù họ không còn vũ khí, nhưng mỗi trái tim bất khuất của các anh chính là thứ vũ khí sắc bén nhất và hữu hiệu nhất, những trái tim đó đã kết nên thành một bức tường cứng rắn. Ba mươi năm nay, cộng sản đã hằng bắn phá vào bức tường ấy, chỉ để thấy rằng chúng đã một lần nữa chiến bại. Tập Thể Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn luôn là lực lượng duy nhất đối kháng và ngăn chống cực lực mọi cuộc tấn công của cộng sản, dù là bằng bất cứ hình thức nào.

Thứ hai, cuộc chiến đấu bằng cây viết của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cộng sản từng tuyên án: “Một nhà văn “ngụy” bằng mười sư đoàn tác chiến”. Ngày nay, cây viết của những người lính đã trở thành cây súng M 16 bắn những giọt mực ngạo nghễ và thách thức vào mặt cộng sản Hà Nội, ngòi bút xé toang bức màn đen tối của giả dối và tàn bạo để đưa ra trước công luận thế giới và lịch sử sự thật về cuộc chiến tranh xâm lược của cộng sản quốc tế lên Miền Nam và cuộc chiến đấu bảo quốc kiệt liệt của quân dân Miền Nam.

Thứ ba, chiến thắng vẻ vang chấn động cả thế giới của người Việt hải ngoại qua sự kiện vừa kỳ lạ lẫn kỳ diệu: Lá Quốc Kỳ Vàng Ðại Nghĩa Ba Sọc Ðỏ hiện nay đã phất phới, ngạo nghễ tung bay ở nhiều tiểu bang, quận hạt, thành phố và trong nhiều trường đại học khắp nước Mỹ. Ðó há chẳng phải là một dấu hiệu, một sự thừa nhận chân thành của người Mỹ, rằng chỉ có Lá Cờ Vàng Việt Nam mới là biểu tượng của chính khí dân tộc Việt Nam, là biểu trưng của cuộc chiến đấu quật cường của một dân tộc nhỏ bé chỉ có gần 18 triệu người mà đã anh dũng ngăn chống một đại khối cộng sản quốc tế với dân số hơn 1 tỷ người. Không chỉ ở Hoa Kỳ, mà gần như trên toàn thế giới, Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ của Việt Nam Cộng Hòa vẫn hằng năm tung bay trên cột cờ thị chính của những thành phố lớn trong ngày 30/4. Ðó há chẳng phải là sự ghê tởm và chối bỏ chủ thuyết cộng sản và lá cờ máu tanh hôi của bè bọn cộng sản Hà Nội của lương tâm thế giới hay sao.

Ngày Quân Lực 19/6 năm nay có nhiều ý nghĩa quan trọng. Nó đánh dấu sự bắt đầu hồi sinh của QLVNCH và của niềm tin chính nghĩa quốc qua cuộc đọ sức gay go giữa cái Thiện và cái Ác. Ngày tàn của bọn cộng sản Hà Nội không còn bao xa nữa. Bên trong cái vỏ bọc hào nhoáng phù du hiện tại mà bọn cộng sản tô vẻ ở quê nhà, chỉ là một cái ruột rỗng tuếch mục nát chờ giờ sụp đổ. Với sự tập họp của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được thể hiện qua sự đoàn kết cao độ trong Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại, kết hợp với những phong trào đấu tranh đòi quyền sống, quyền làm người và quyền tự do tín ngưỡng ngày càng sôi sục ở quốc ngoại và quốc nội, dân tộc Việt Nam có quyền hy vọng sẽ có nhiều chiến thắng khác liên tục và lừng lẫy hơn, để cuối cùng lật đổ được bè lũ bạo quyền Hà Nội.

Anh linh của tiền nhân, của những vị thần tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long, các Trung Ðoàn Trưởng, Tiểu Ðoàn Trưởng, sĩ quan và các chiến sĩ Vị Quốc Vong Thân xin hãy hiển linh thương xót phù trì cho dân tộc Việt Nam và QLVNCH có được nhiều sức mạnh đứng lên lật đổ bạo quyền cộng sản, đem ánh sáng công chính và hạnh phúc trở lại trên khắp mọi miền đất nước, ném bọn chúng vào cõi sâu thẳm tối tăm nhất và đời đời của địa ngục.

Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm

Long Điền 

Người Lính Không Có Số Quân—Trần Như Xuyên K21

Tối đó, tôi dẫn Đại đội tới điểm đóng quân đêm, đây là ngày đầu tiên tôi nắm Đại đội, sáng nay có cuộc bàn giao ở Tiểu đoàn, người Đại đội trưởng tiền nhiệm,cũng là khóa đàn anh của tôi, có sự vụ lệnh đi học khóa quân chánh.

Ra trường được sáu tháng, từ anh Thiếu úy mới tò te ra trường, giờ đã lên nắm Đại đội, quả là thời gian hơi nhanh so với những đứa bạn cùng khóa ở các binh chủng khác như Nhẩy dù, Thủy quân lục chiến…, có lẽ họ vẫn còn đang thực tập ở Trung đội hay là Trung đội trưởng mà thôi. Tôi nắm Đại đội hơi nhanh không phải vì mình tài giỏi gì mà năm 67 khi ra trường, như bao đứa bạn khác chọn đi Bộ binh, các đơn vị rất thiếu sĩ quan, như Tiểu đoàn tôi về chẳng hạn, có Đại đội xử lý là một Chuẩn úy, gọi là xử lý cũng không đúng vì trong cấp số coi Đại đội thì tối thiểu phải là Thiếu úy, nhưng không hiểu sao vào những năm này, sĩ quan quá thiếu, bởi vậy khi vừa tới Trung đoàn, nghe tin có mấy sĩ quan Đà lạt mới ra trường là các đơn vị nhao nhao lên xin, tôi được đưa về Tiểu đoàn 4/46 thì một ông đàn anh khóa 16 đang làm Đại đội trưởng xin ngay tôi về. Ông tên Hồ Trang, khóa 16, ở miền Trung bị thuyên chuyển vào Nam vì dính dáng tới vụ Phật Giáo, ngoài đó ông đã là Tiểu đoàn phó nên vị Tiểu đoàn Trưởng cũng có hơi nể, quay quắt vì việc phải thuyên chuyển xa nhà, bị giam lon, giam chức nên ông gắt gỏng như mắm tôm, ông nghiêm khắc với mọi người nhưng rất chí tình trong việc chỉ bảo cho tôi từng ly, từng tí việc chỉ huy mà dầu sao tôi cũng còn quá mới, quân trường dậy là một chuyện, ra đây đụng với thực tế lại là một chuyện khác.

Cứ như vậy, những lần hành quân, ông cho tôi ở cạnh để học hỏi hoặc cho xuống trung đội để thưc tập, 6 tháng sau, khi thấy tôi đã tàm tạm gọi là đủ lông, đủ cánh bay solo được, ông nói với Tiểu đoàn Trưởng và bàn giao Đại Đội lại cho tôi, trước đó, ông đã thu xếp người Đại đội phó đi học để tôi coi ĐĐ. được danh chính ngôn thuận.

Nói về tối đầu tiên tôi dẫn ĐĐ. đi đóng quân đêm, thường tọa độ đóng quân đêm cùng các điểm phục kích do Tiểu đoàn chấm, tối đó đang di chuyển trên đường tôi thấy có một người đàn bà đi lẫn trong toán đại liên, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, thường vụ đại đội, ông ta đi lính hồi tôi còn học Tiểu học:
– Ai vậy ông Hội, sao có đàn bà lẫn lộn vào đây?
– Thưa Thiếu úy, đó là vợ thằng Nở, xạ thủ đại liên, nó ở với Đại Đội lâu rồi, hồi còn Trung úy Trang, ông cũng cấm nhưng chỉ được vài ngày là nó lại lẻn xuống sống với chồng nó.
– Tôi thấy không được rồi đó ông, lỡ đêm Việt cộng tấn công thì làm sao, thằng Nở chỉ lo cho vợ nó thì còn đánh đấm gì được.
– Thiếu uý đừng lo, vợ nó phụ nó rất đắc lực, chị ta biết xử dụng đại liên, biết tiếp đạn cho chồng, rồi Thiếu úy coi, hễ rảnh là nó lại lau chùi cây đại liên nữa.
– Nhưng lỡ có chuyện gì làm sao mình báo cáo.
Hôm sau tôi gọi Nở lên trình diện:
– Sao cậu không để cho vợ cậu ở nhà mà cho đi theo Đại đội như vậy, lỡ có chuyện gì thì sao?
– Thưa Thiếu úy, con Ba nó mồ côi từ nhỏ, không có nhà, em đã đưa nó về với má em rồi nhưng má em không ưng nó, cứ kiếm chuyện với nó hoài, cho nó theo ĐĐ, thấy cũng bất tiện, em biết chứ.
Nở thực hiện lời “em biết chứ”, vài ngày sau, tôi không thấy vợ Nở đi chung trong toán đại liên nữa, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, ông ta cho biết Nở đưa vợ ra bến xe về quê mấy bữa nay rồi, tôi có hơi băn khoăn nhưng nghĩ vậy cũng phải, lỡ có chuyện gì thì làm sao, rồi má con sẽ phải hòa thuận với nhau chứ.
Một hôm, Hạ sĩ quan quân số cầm về xấp thư của ĐĐ đưa cho tôi, trước đó tôi có dặn anh ta là thỉnh thoảng phải kiểm soát thư từ của binh sĩ xem biết đâu có đứa bị móc nối. Tôi dở xấp thư ra coi thấy có một lá đề tên Nở, khi tôi coi ĐĐ thì Nở không biết chữ, sẵn dịp, tôi hỏi các Trung đội xem còn ai không biết chữ gom tất cả lại, đâu cũng được 5,6 người, tôi nói Trung sĩ Hiển, Hạ sĩ quan CTCT mua tập vở về dậy họ học, “ngày mãn khóa”, tôi kêu từng người đưa tờ Chiến sĩ Cộng Hòa cho đọc, ai đọc được, tôi thưởng cho bốn ngày phép, Hạ sĩ Nở biết chữ từ ngày đó.
Có bốn ngày phép, Nở không đi đâu cả, anh ta và vợ quanh quẩn chơi ở mấy nhà quen trong xã, hết bốn ngày, Nở về lại ĐĐ.

Tôi mở lá thư của Nở ra đọc:
Long Xuyên, ngày….
anh hai thương, em diết thơ nầy cho anh là lúc ba giờ phia, em chờ má ngủ mới dám diết cho anh, anh hai ôi, em nhớ anh quá hà, sao số kiếp cứ đài đọa tụi mình hoài, nhớ những lúc điêm tối cùng anh đi đóng quân, dầu gì vợ chồng được gần nhau cũng hơn há anh, hôm anh tiễn em ra bến xe em buồn quá, lúc xe chạy, em thấy như mất mác cái gì quí báo, em khóc ước cả mắt, em cố chìu chuộng má mà má vẫn hổng thương em, thôi để em lên quỳ xinh với ông thiếu úy để em được đi theo anh, liệu được hôn anh, diết thơ nầy xông, mơi sẽ gởi cho anh, anh hai nhớ trả lời em nghe.
Em, Ba.

Một tuần lễ sau khi đọc lá thư của Hạ sĩ Nở, buổi tối dẫn Đại Đội đi đóng quân, tôi lại thấy cái dáng nhỏ bé ấy đi chung với toán đại liên, lẫn vào hàng quân, không biết anh Hai có trả lời, trả vốn gì không hay nhớ chồng lên đại, tôi thấy chị ta cố lẩn vào đám đông, chắc sợ tôi nhìn thấy, hoặc có thể biết tôi đã thấy nhưng làm nước liều, có điều hôm nay không mặc bộ bà ba đen thường lệ mà là bộ đồ trận rộng thùng thình, đầu còn đội nón sắt, chị ta tính ngụy trang che mắt tôi, tôi cười thầm trong bụng khi thấy vợ Nở cuốn nguyên một dây đại liên quanh người, tôi mong chị ta đừng gặp tôi mà xin gì cả, chẳng thà để tôi lờ đi như không biết còn hơn là hợp thức hóa cho khó xử.

Năm 67, các Tiểu đoàn Bộ binh thường có ba Đại đội tác chiến, chia nhau vùng trách nhiệm họat động, hành quân lục soát từng ĐĐ chung quanh bộ chỉ huy TĐ, đôi khi có cuộc hành quân cấp Tiểu đoàn thường là nhẩy trực thăng và xa hơn. Ba Đại đội trưởng tác chiến đều cùng khóa 21 Đà Lạt gồm Th/U Vũ đình Hà (ĐĐ1), Th/U Lê xuân Sơn(ĐĐ2) và tôi ĐĐ3.
Một tối, Đại đội 1 bị tấn công, ĐĐ2 tối đó đóng xa, giữ con đường từ Long Thượng về Cần Giuộc, tôi nằm cách Hà (ĐĐ2) khỏang 500 thước, Tiểu đoàn mất liên lạc với Hà, kêu tôi lên tiếp cứu, chỗ Hà nằm tôi biết rõ vì đã từng đóng quân ở đây, chắc chắn là địch tấn công từ ngã rạch tấn công ra, tôi dẫn Đại đội chạy băng lên vì tình người bạn cùng khóa, tôi cho Đại đội bắn chặn nơi đầu rạch, nhưng vì không liên lạc được với Hà, tôi sợ quân ta bắn lầm quân bạn, tôi chạy lại cây đại liên, cho chuyển hỏa lực về bên trái, dưới ánh sáng của pháo binh Cần Giuộc, tôi thấy vợ Nở nằm cạnh chồng, tay nâng dây đạn, Nở đang nghiến răng bóp cò, nhả từng loạt đạn về hướng địch.

Như tôi đã nói ở trên, dạo đó ở Long An VC chưa nhiều, chắc khoảng hai chục tên, đợi mình ơ hờ, liều lĩnh tấn công. Cũng tại nơi con rạch này, ít lâu sau, ĐĐ tôi hành quân lục soát ở đây và đụng nặng, sở dĩ đụng nặng vì địch tụ ở đâu về, ém quân trong đám dừa lá dầy đặc như vùng bất khả xâm phạm, chắc chúng tập trung ở đây, đợi đêm xuông có giao liên dẫn chúng xâm nhập Đức Hòa, Đức Huệ rồi qua Campuchia, chúng không ngờ ta lùng sục, chúng buộc phải chống trả.
Đám dừa nước cao ngất che dọc theo con rạch, hướng ĐĐ tiến vào là đồng trống, suốt vùng Long An này chỗ nào cũng vậy, bất ngờ ban đầu làm ta có ba binh sĩ bị thương và một chết, tôi xin pháo binh và Cobra lên vùng, hồi đó gọi máy bay ném bom còn là một điều mới mẻ, vũ khí xử dụng là của thời đệ nhị thế chiến, toàn là Garant, Carbin, cả Thompson nữa, ấy vậy mà cây đại liên 30 của Hạ sĩ Nở cũng có tác dụng. Nở người hơi thấp nhưng rất khỏe, một mình vác cây đại liên cả với chân ba càng, mỗi lần pháo bắn hay trực thăng phóng rocket là anh ta chạy nhào lên cho gần mục tiêu, lúc đó địch còn lo núp. Khi đã rất gần mục tiêu và có gò đất làm điểm tựa chắc chắn, cây đại liên mới phát huy được hiệu quả của nó, từng loạt đạn bắn ra làm bọn VC không ngóc đầu lên được, cộng thêm pháo và trực thăng bắn liên tục, ĐĐ chiếm được mục tiêu lúc gần tối, địch bỏ lại 6 xác và một số vũ khí. Trận đánh như thế này không đáng kể gì so với sau này khi SĐ 25 rời Long An di chuyển về vùng trách nhiêm mới là Tây Ninh, cuộc hành quân vượt biên năm 1970 cũng như ở Bình Long mùa hè đỏ lửa thì chiến trận lên tới cấp Sư đoàn, Quân đoàn.

Sáng hôm sau, Tướng Phan trọng Chinh, Tư lệnh SĐ xuống quan sát trận đánh và gắn huy chương, tôi đề nghị với TĐT thăng cho Nở lên Hạ sĩ nhất nhưng Tướng Chinh là người rất ngặt nghèo trong việc ban thưởng huy chương và thăng cấp, Nở chỉ được cái huy chương đồng, ông bảo huy chương đồng của SĐ 25 bằng huy chương vàng của các nơi khác (!)
Hai ngày sau ĐĐ còn được nghỉ dưỡng quân, tôi xuống tổ đại liên chơi, cả toán đang ngồi ăn cơm, tôi thấy vợ Nở đang mân mê cái huy chương của chồng, thấy tôi, chị có vẻ ngài ngại gật đầu chào rồi bỏ vào trong nhà, tôi nghĩ giá tôi có quyền, tôi sẽ tặng cho chị ấy một cái huy chương của buổi tối yểm trợ cho Vũ đình Hà.
Đầu năm 1968, tôi được đề cử theo học khóa Tác chiến trong rừng ở Mã Lai, tôi còn gắn bó với ĐĐ hơn một tháng nữa. Một buổi sáng, đang đứng trước cửa ĐĐ thì vợ Nở bất chợt ngang qua, chắc đi chợ về, thấy tôi, chị ta khựng lại muốn thối lui nhưng không kịp, chị ta làm gạo bước tới và khi ngang qua tôi, vợ Nở mím môi lại và dơ tay chào theo kiểu nhà binh, tôi ngạc nhiên, trong một phản xạ, tôi chào lại, chào xong, tôi mới ngẩn người ra nghĩ: sao mình lại chào nhỉ, hóa ra ĐĐ này có một nữ quân nhân ư? Có lẽ chị ta thấy mọi người trong ĐĐ chào tôi nên khi gặp, chị cũng chào để cho giống như những người kia chăng! Tôi thấy hình như bụng vợ Nở có hơi to ra. Tôi đem điều này hỏi Thượng sĩ Hội thì ông ta bảo: có vẻ như vậy Trung úy.
Tôi gọi Nở lên:
– Vợ cậu có bầu phải không?
– Dạ, thưa Trung úy.
– Vậy thì cậu phải đưa cô ta về với bà già đi chứ, bầu bì rồi đi theo ĐĐ mãi sao được, phải lo sức khỏe cho cô ta.
– Dạ, em cũng tính tháng này lãnh lương xong, Trung úy cho em cái phép để em đưa nó về gởi bà già.
– Được rồi, lúc nào muốn cứ lên đây.

Hai ngày sau, Đại Đội được lệnh đóng quân đêm và tổ chức một cuộc phục kich ở sau lưng quán Năm Ngói, một địa danh nổi tiếng về sự khuấy rối của VC nơi đây, tối đó, ĐĐ chạm địch, một tốp nhỏ bọn chúng gặp toán phục kích, hai tên bị bắn hạ, số còn lại nhập qua toán kia thì đụng phải ĐĐ, nhờ toán phục kích nổ súng trước nên ĐĐ không bị bất ngờ, địch bắn rất rát nhưng không chủ ý tấn công nên sau một hồi, chúng rút lui, hình như có chuyện gì xẩy ra ở cây đại liên vì tôi thấy nó nổ được một chập thì im bặt, tôi đảo nhanh vòng quanh tuyến phòng thủ, không có tổn thất nào, nhưng khi tới cây đại liên, tôi thấy có mấy người lố nhố, linh tính cho tôi biết có chuyện không hay, tôi hỏi giật giọng:
– Gì vậy Nở?
Không có tiếng trả lời, tôi bước vội tới, thấy Nở ôm vợ, y tá Thọ đang loay hoay băng vết thương nơi ngực chị ta, thấy tôi, Nở nghẹn ngào:
– Vợ em nó chết rồi Trung úy ơi!
Tôi ngồi xuống, chị ấy bị trúng đạn ở ngực, máu ướt đẫm cả cái áo trận, y tá Thọ đứng lên:
– Chết rồi Trung úy.
Tiếng thằng Năm trong toán đại liên:
– Súng bị kẹt đạn, thằng Nở kéo mãi đạn không lên, con Ba nó chồm dậy mở nắp cơ bẩm, em la nó nằm xuống nhưng không kịp Trung úy.

Tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ họng, từng chứng kiến nhiều cái chết nhưng lần này tôi thật xúc động. Thôi, chị Nở, từ nay chị hết cần phải tránh né tôi nữa rồi, sao tôi lại không cứng rắn hơn nữa với chị, giá tôi đừng tình cờ đọc được lá thư chị viết cho chồng, ừ, đáng lẽ tôi phải cứng rắn hơn, nhất định không cho chị đi theo ĐĐ như vậy.
Tôi báo với Thiếu tá Hải, Tiểu đoàn Trưởng về sự việc xẩy ra, ông có biết vợ chồng Nở, ông cho Sĩ quan CTCT/TĐ mua cái hòm, cấp cho Nở một cái xe Dodge để đưa vợ về quê mai táng. Tôi lấy hết tiền có thể có được, cả tiền quỹ ĐĐ đưa cho Nở, buổi trưa cuối năm, trời hơi lành lạnh, chiếc xe chở Nở và quan tài vợ đi ngang qua ĐĐ, tôi đứng nghiêm chào như một lần chị đã chào tôi, chị chết đi mà cái hòm không có phủ cờ, không được mười hai tháng lương, không cả được lên cấp chỉ vì chị là NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN.
Mười ngày sau, Nở trở lại đơn vị, trước ít ngày tôi về SG để chuẩn bị đi học, Nở đào ngũ, có lẽ Nở không chịu được cái cảnh mỗi tối vác cây đại liên tới chỗ đóng quân mà không có vợ bên cạnh.

*

Chị Nở thân mến,
40 năm sau ngày chị mất, hôm nay tôi ngồi viết lại chuyện này về chị, chỉ là một sự tình cờ thôi, hôm nọ tôi đọc loáng thoáng đâu đó người ta nói về những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược trước đây, tôi chợt nhớ tới chị, một người không phải là quân, cũng không hoàn toàn là dân, gọi chị là gì nhỉ, chị lưng chừng ở giữa nhưng đã chiến đấu như một người lính thực thụ và đã hi sinh.

Một lý do nữa để tôi viết về chị là vì mới đây, Cộng Sản Việt Nam đã làm ầm ĩ lên câu chuyện về Đặng thùy Trâm, một nữ cán binh CS xâm nhập vào Nam và đã chết ở chiến trường Quảng Ngãi, cô Trâm này chết ở đây nhưng không ai biết nắm xương khô vùi chôn nơi đâu, một người lính Mỹ hành quân qua nơi cô chết và nhặt được cuốn nhật ký của Đặng thùy Trâm, cuốn nhật ký này, như một kỷ niệm chiến tranh của người lính, anh ta đem nó về Mỹ, mấy chục năm sau, nó mới được đưa ra ánh sáng và trao cho mẹ của Đặng thùy Trâm ở Hà Nội.

Nhà nước CSVN chụp được cơ hội này cho xuất bản cuốn nhật ký, dĩ nhiên với nhiều thêm thắt để khơi động lòng yêu nước của đám thanh niên càng ngày càng rời xa chủ nghĩa CS. Đặng thùy Trâm là một Bác sĩ, nhưng không hiểu có được học hành tử tế để thành một Bác sĩ không, tôi đã đọc được một truyện khi ở tù ngoài Bắc là có một anh công nhân được tặng danh hiệu anh hùng lao động vì đã phục vụ 15 năm trong phòng bào chế thuốc, và vì phục vụ hăng say và lâu như vậy, anh được thăng lên làm dược sĩ vì quen với công việc bào chế, phong dược sĩ xong, anh ta mới đi học bổ túc văn hóa vì anh ta viết chữ cũng chưa gọn ghẽ mấy. Bởi vậy, tôi không biết Bác sĩ Thùy Trâm này trình độ có khá hơn y tá Thọ của Đại Đội mình năm xưa không, hay cũng như mấy bà mụ vườn ở nhà quê.

Thưa chị Nở, cả chị và cô Đặng thùy Trâm này là hai người đàn bà ở hai chiến tuyến chết trong cùng cuộc chiến, trong cùng thời gian và độ tuổi cũng gần như nhau, nhưng hai cái chết mang hai ý nghĩa khác nhau, Thùy Trâm bị bắt buộc và tự đi tìm cái chết, còn chị, chị bị chết vì người ta ở mãi đâu vô đây tìm để giết chị, chị chỉ tự vệ, chị không hận thù ai, không ai dạy chị oán thù, không ai tuyên truyền với chị về chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ và cũng không nhân danh chủ nghĩa để chém giết người khác, chị rất đôn hậu, còn cái cô Thùy Trâm kia đã từ ngoài đó vào đây, mang trong lòng sự thù hận bởi sự tuyên truyền nhồi nhét, miền Nam này nào có cần ai phải giải phóng đâu, cho mãi nhiều năm sau này, người miền Nam vẫn khẳng định rằng họ không cần ai giải phóng cả.

Chị Nở có thấy điều buồn cười này không là trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm viết là sao quân Mỹ Ngụy tàn ác, thích chém giết, chị Nở có thích chém giết ai không hay người ta vào đây tìm giết chị, từ ngoài đó lần mò vào tận trong này để tìm giết người ta lại còn hô hoán là sao người ta thích chém giết mình, thật kỳ lạ. Cũng trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm than phiền là phấn đấu đã lâu nhưng chưa được kết nạp đảng, đây cũng là lý do vì sao Thùy Trâm đi B, cố gắng trong công tác để chỉ mong được đảng kết nạp, chị Nở có biết cô ta mong được kết nạp để làm gì không, thưa là để có cơ hội được làm lớn, có đảng mới được làm lớn, có làm lớn thì mới có quyền và có tiền, bây giờ cả cái nước Việt Nam này, đảng Cộng Sản thi nhau vơ vét tiền bạc của người dân, chúng giầu lắm rồi, hồi trước mỵ dân, chúng đem những người giầu có ra đấu tố, gọi họ là địa chủ, giờ thì ai đấu tố chúng? Thùy Trâm này nếu mà không chết và giả như có ô dù, giờ có thể là Bộ trưởng Y tế hay làm Giám đốc một bệnh viện nào đó thì cũng là những con giòi, con bọ đang tham gia đục khoét thân thể Việt Nam.
Cũng là cái chết nhưng chị chết trong vòng tay người chồng, có mồ yên mả đẹp, có nhang, có khói, tội cho cha mẹ cô Thùy Trâm, không biết nắm xương khô con giờ ở chỗ nào, họa chăng là cái bàn thờ với tấm hình cô ấy mà thôi.

Bốn mươi năm đã qua, bây giờ nhiều thay đổi lắm rồi chị Nở ạ, ông Thiếu úy trẻ năm xưa giờ là ông cụ già rồi, vẫn khó tính như trước và đang phiêu bạt nơi xứ người, Thượng sĩ Hội đã mất, Nở từ ngày đào ngũ tôi không gặp lại, chắc đã có vợ khác, xin được tạ lỗi cùng chị là đã không giữ được đất nước để rơi vào tay quân thù, thật không xứng đáng với sự hi sinh của chị, chúng tôi làm mất nước không phải vì hèn kém, không chiến đấu, mất nước vì bị phải mất nước.

Quên kể cho chị nghe, mấy tháng sau ngày chị mất, vũ khí được tối tân hóa, những cây Garant cổ lỗ sĩ được thay bằng súng M16, còn cây đại liên 30 nặng chình chịch chị biết đấy, thay thế bằng đại liên M60, nhẹ hơn, bắn nhanh hơn và không hay bị kẹt đạn nữa chị Nở ạ. Thôi tất cả đã qua, chúng tôi vẫn không bao giờ quên những người đã hi sinh vì mảnh đất miền Nam thân yêu, không bao giờ quên được những gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân trong việc chống lại quân Bắc phương xâm lược, hôm nay ngồi viết lại những hàng chữ này như được thắp nén hương trang trọng cho chị, thưa chị Nở.

Trần Như Xuyên K21

Bức Tượng “Thương Tiếc” và Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu

Lời giới thiệu: Trong lần về VN thăm quê hương nữ phóng viên Xuân Hương của chương trình Newland TV. đã có cơ hội gặp và nói chuyện với điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tại tư gia của ông. Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu là tác giả bức tượng đồng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Ông vừa là một sĩ quan trong QLVNCH với cấp bậc Thiếu tá . Liên tục trong hai ngày gặp gỡ, trò chuyện, P.V. Xuân Hương đã được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tiết lộ nhiều điều khá thú vị trong sự nghiệp nghệ thuật và 8 năm trong lao tù Viêt cộng của một chiến sĩ QLVNCH. Với giọng văn giản dị miền Nam, nữ phóng viên Xuân Hương đã kể lại cuộc gặp gỡ bất ngờ, kỳ thú. Newland T.V. xin hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc bốn phương thiên phóng sự đặc biệt này.

* New Land  T.V.

NghiaTrangBienHoa

Xuân Hương đã nhìn thấy hình ảnh Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa qua sách báo, qua các băng Video và DVD. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là nơi an nghỉ cuối cùng của hơn 18 ngàn chiến sĩ QLVNCH, đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia trong cuộc chiến Quốc-Cộng.

ThuongTiec

Trước cổng vào nghĩa trang có một bức tượng đồng người lính ngồi trên tảng đá, ôm súng thương nhớ đến những người bạn đã nằm xuống. Đó là, bức tượng Thương Tiếc do điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu thực hiện.

tuong-TiecThuong2

Bức tượng đồng có chiều cao 9 thước, sau ngày 30/4/75 đã bị bạo quyền Việt cộng gian ác giật sập, phá hủy

Xuân Hương trong dịp về thăm quê hương , may mắn đã gặp được điêu khắc gia NguyễnThanh Thu. Với hai lần gặp gỡ và nhiều tiếng đồng hồ trò chuyện, điêu khắc gia Thu kể cho Xuân Hương nghe nhiều điều vui , buồn, thú vị đã xảy ra trong đời ông chung quanh sự nghiệp điêu khắc và những tháng năm tù tội.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cho biết trong nhiều tác phẩm. Ông cảm tuong tethấy danh dự nhứt trong sự nghiệp của mình là tác phẩm “Ngày Về”. Tác phẩm này, diễn tả hình ảnh người chiến binh trở về từ chiến trường được người hậu phương choàng vòng hoa chiến thắng. Tác phẩm “Ngày Về ” của Nguyễn Thanh Thu đã được giải nhứt trong Ngày quốc khánh 26 tháng 10 năm 1963 về Văn Học Nghệ Thuật dưới thời Đệ Nhứt Cộng Hòa của TT. Ngô đình Diệm. Và tác phẩm thứ hai là Thương Tiếc, thời đệ nhị VNCH của TT. Nguyễn văn Thiệu.

Lịch sử bức tượng đồng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

tuong-thuongtiec2

Bức tượng đồng mang tên Thương Tiếc tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu hoàn thành vào năm 1966. Đây là thời điểm chiến tranh giữa VNCH và Cộng Sản Bắc Việt đang diễn ra tới mức độ ác liệt.

Vào thời đó, Nghĩa Trang Quân Đội tọa lạc ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Tình hình trong nước lúc bấy giờ rất lộn xộn. Dân chúng bị xách động biểu tình liên miên. Còn các đảng phái thì đua nhau tranh giành ảnh hưởng đối với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

Lúc bấy giờ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn đang là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Tổng thống Thiệu là người đã nghĩ ra việc xây dựng Nghĩa Trang Quân Đội nằm cạnh xa lộ Biên Hòa.

ĐKG. Thu tâm sự rằng, ông không biết tại sao lúc đó Tổng thống Thiệu lại biết đến ông để mời ông vào bàn về dự án xây Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Hòa. Nhưng sau này TT. thiệu cho biết đã biết tài điêu khắc của ông qua tác phẩm Ngày Về, khi TT. Thiệu còn là đại tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 bộ binh.

Khi gặp mặt TT. Thiệu, ông Thiệu đã nói với ĐKG. Thu, là ông muốn trước cổng vào nghĩa trang phải có một bức tượng to lớn đầy ý nghĩa đặt ở đó. Mục đích bức tượng để nhắc nhở, giáo dục người dân về sự hy sinh cao quý của các chiến sĩ VNCH.

ĐKG. Thu kể tiếp là sau năm lần, bảy lượt gặp TT. Thiệu bàn bạc, ông hứa sẽ trình dự án lên TT. Thiệu sau một tuần lễ nghiên cứu. Khi về nhà ông mất ăn, mất ngủ, lo lắng ngày đêm. Đầu óc ông lúc nào cũng suy nghĩ đến những đề tài có ý nghĩa như ý của TT. Nguyễn Văn Thiệu. Ông nhớ đến lời TT. Thiệu nói: “Những chiến sĩ VNCH, đã vì lý tưởng tự do hy sinh đời mình thì những người ở hậu phương như “chúng ta” phải làm một cái gì để nhớ đến sự hy sinh cao cả đó cho xứng đáng”. Những lời chân tình này đã làm điêu khắc gia Thu trăn trở không nguôi nên trong thời gian chờ đợi gặp lại TT. Thiệu, ngày nào ông cũng đến Nghĩa Trang Quân Đội tại Hạnh Thông Tây để suy ngẫm đề tài.

Trong bảy ngày hứa sẽ gặp lại TT. Thiệu thì hết sáu ngày, ĐKG. Thu đến Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây để phác họa những cảm xúc chân thật trong lòng tại chỗ. Ông đã chứng kiến cảnh, ngày ngày máy bay trực thăng đưa quan tài những người đã hy sinh vì tổ quốc về nơi an nghỉ cuối cùng với sự cảm xúc vô biên, nhưng vẫn chưa dứt khoát được một chủ đề rõ ràng.

Vào một buổi trưa của ngày thứ sáu trên đường về từ Nghĩa Trang Hạnh Thông Tây, giữa trời nắng chang chang, ĐKG. Thu ghé vào một tiệm nước bên đường để giải khát. Khi bước vào quán, ông thấy một quân nhân Nhảy Dù đang ngồi uống bia và trên bàn đã có 5,3 chai không. Đặc biệt trên bàn có hai cái ly. Ngồi bàn đối diện với người quân nhân kia, ông lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy người lính Nhảy Dù vừa uống bia vừa lẩm bẩm nói chuyện với cái ly không. Hình ảnh này cho thấy anh ta vừa uống vừa nói chuyện và vừa cúng một người đã chết. Khi nói chuyện với cái ly xong, người lính uống hết ly bia của mình. Sau đó, anh ta “xớt” bia của cái ly cúng còn nguyên vào ly mình, rồi lại kêu thêm một chai bia mới rót đầy vào ly kia. Thấy vậy, ông bước qua làm quen với người lính Nhảy Dù và đề nghị cho ông ngồi chung bàn. Người quân nhân quắc mắt tỏ vẻ không bằng lòng vì bị phá cuộc đối ẩm của anh và người đã chết. Thái độ này làm ông lúng túng. Đột nhiên, người lính kia móc ra cái bóp đựng giấy tờ của anh ta ra và đưa cho ông như trình giấy cho Quân Cảnh. Ông nghĩ rằng mình đâu phải là Quân Cảnh mà xét giấy ai. Tuy nhiên ông cũng cầm lấy bóp và trở về chỗ ngồi. Vì tò mò, ông mở bóp ra coi. Trong bóp, ông nhìn thấy những tấm hình trắng đen chụp cảnh các anh em đồng đội nơi chiến trường. Muốn làm quen với người lính Nhảy Dù, nên ông cố nhớ địa chỉ và KBC của anh ta trước khi cầm bóp trả lại cho chủ nó. Sau đó, ông ra về để chuẩn bị ngày hôm sau lên gặp TT. Thiệu .

Tối hôm đó, điêu khắc gia Thu vẽ liền 7 bản mẫu. Khi ngồi vẽ như vậy đầu óc ông cứ nhớ đến hình ảnh ngồi uống bia một mình với gương mặt buồn bã của người lính Nhảy Dù, mà qua căn cước ông biết tên là Võ Văn Hai.

Bảy bản mẫu của Nguyễn Thanh Thu phác họa là cảnh người lính đang chiến đấu ngoài chiến trường, cảnh mưa bão ngoài mặt trận—phản ảnh lại cảnh êm ấm của những người tại hậu phương. Khi ngồi vẽ đầu óc ông cứ liên tưởng đến vóc dáng buồn thảm của Võ Văn Hai và ông ngồi vẽ cho tới 6 giờ sáng.

Đến 8 giờ sáng thì có người đến rước ông vào gặp TT. Thiệu tại Dinh Gia Long. Đến nơi, đại tá Võ văn Cầm là Chánh Văn Phòng của TT. Thiệu cho biết TT. đang tiếp chuyện một vị tướng nào đó nên bảo ông đợi một chút. Trong lúc đợi, ông ra phía ngoài đi lang thang trên hành lang của dinh và vừa đi vừa nghĩ trong đầu là tại sao mình không vẽ Võ văn Hai cho rõ ràng. Nghĩ vậy ông ngồi xuống một chiếc ghế cẩn màu đỏ tưởng tượng đến hình ảnh Võ văn Hai ngồi buồn rầu, ủ dột trong quán nước. Ông trở vào phòng Đại tá Cầm định xin một tờ giấy để phác họa những ý tưởng đã nghĩ ra. Nhưng khi trở vào trong, ông ngại ngùng không dám lên tiếng. Ông nhìn phía sau lưng Đại tá Cầm thấy trong giỏ rác có một bao thuốc lá không. Ông lượm bao thuốc lá và trở ra ngoài. Điêu khắc gia Thu đã dùng mặt trong của bao thuốc lá phác họa bố cục bản thảo và cảm thấy hài lòng về bức hình đã vẽ ra.

Khi được Đại tá Cầm mời vào gặp TT. Thiệu, ông đã trình bày giải thích về 7 bản đã vẽ từ trước cho TT. Thiệu nghe. Xem xong TT. Thiệu hỏi: “Anh Thu à! Bảy bản, bản nào tôi cũng thích nhưng anh là cha đẻ của nó, anh nên cho tôi biết tấm nào hay nhứt.” Điêu khắc gia Thu rụt rè nói với TT. Thiệu : “Thưa TT, mới đây thôi trong khoảng 15 phút trong khi chờ gặp TT. tôi mới nghĩ ra một đề tài được phác họa trên một bao thuốc lá. Nhưng, tôi không dám vô lễ trình lên TT. Tuy nhiên, với phác họa này tôi thấy nó hay quá. Tổng thống hỏi, thì tôi muốn chọn bản này, nhưng tôi không dám trình lên Tổng Thống .”

TT. Thiệu bảo ĐKG. Thu đưa cho ông coi bản họa trên bao thuốc lá. Ông Thu đã giải thích cho TT. Thiệu nghe về trường hợp Võ Văn Hai mà ông đã gặp trong quán nước. Ông Thu cho biết, lúc đó ông cũng chưa dứt khóat đặt tên cho các bản phác họa đã trình cho TT. Thiệu xem dù rằng đã nghĩ trong đầu các tên như 1)Tình đồng đội, 2) Khóc bạn, 3) Nhớ nhung, 4) Thương tiếc, 5) Tiếc thương .

Cuối cùng điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu và TT. Thiệu đồng ý tên Thương Tiếc. Được sự đồng ý của TT. Thiệu, ông ra ngoài văn phòng của Đại tá Cầm phóng lớn bức họa Thương Tiếc bằng hình màu. Ông đã nhờ Đại tá Cầm ngồi trên một chiếc ghế đẩu để lấy dáng ngồi tưởng tượng trên tảng đá. Sau khi hoàn tất, Tổng thống Thiệu cầm bức họa tấm tắc khen. ĐKG. Thu đã đề nghị TT. Thiệu ký tên vào bức họa đó, mà ông đã nói với TT. Thiệu là “Cho ngàn năm muôn thuở” . TT. Thiệu đồng ý và đã viết “TT. Nguyễn văn Thiệu ngày 14 /8/1966 ”.

Sau khi được TT. Thiệu chấp thuận dự án làm bức tượng Thương Tiếc, điêu khắc gia N.T.T phải làm ngày, làm đêm để kịp khánh thành Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa vào ngày Quốc khánh 1/11/1966 đúng như dự định.

Một chiến sĩ QLVNCH can trường trong ngục tù cộng sản

Điêu khắc gia Thu tâm sự, khi còn ở trong tù lúc bị nhốt ở “cô–nét” ông nhớ đến tượng Thương Tiếc và đã vái thầm tất cả vong linh chiến sĩ VNCH trong ba ngày, hãy cho ông biết ông có thoát khỏi dự định xử bắn của VC hay không. Thì vào một buổi trưa, ông chập chờn thấy có người báo mộng cho biết ông không sao cả, nhưng thời gian tù tội còn lâu lắm.

Người điêu khắc gia tài ba kể tiếp. Trước đó, một người bạn đã dặn dò ông phải coi chừng và cẩn thận trong lúc ở tù VC vì ông quá nổi tiếng về những tác phẩm điêu khắc nên chắc chắn VC sẽ không để ông yên. Lúc đó, ông không quan tâm cho lắm, nhưng vào một buổi trưa trong lúc các tù nhân đang nghỉ ngơi , thì ông được một cán bộ quản giáo mời ra ngoài báo cho biết ông chưa khai báo thành thật, còn dấu diếm nhiều điều. Thiếu tá Thu hỏi dấu diếm những điều gì? Để trả lời, tên cán bộ lấy ra một danh sách tên tuổi các tù nhân, mà theo ông là do các người làm “ăng ten” trong trại báo cáo. Ông cho biết những người chịu làm ‘ăng ten” cho VC sẽ được lãnh tiêu chuẩn gạo 11 ký một tháng, thay vì 9 ký như mọi người. Ông còn nói thêm, những kẻ làm “ăng ten” không phải vì họ thù ghét ai, mà chỉ vì “miếng ăn” mà thôi.

Cầm bảng danh sách trên tay, tên cán bộ nói rằng thiếu tá Thu là tác giả bức tượng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nhưng tại sao lại không khai báo. Và phải cho anh ta biết, lý do tại sao ông lại làm ra bức tượng này. Điêu khắc gia Thu trả lời vì ông là một quân nhân trong QLVNCH, ông làm bức tượng Thương Tiếc là để cùng người dân miền Nam tỏ lòng thương tiếc sự hy sinh của các chiến sĩ chiến đấu cho tự do. Tên cán bộ lại hỏi, tại sao lại làm bức tượng Ngày Về. Ông giải thích cho tên cán bộ nghe rằng, đời lính hành quân nay chỗ này, mai chỗ kia, vài ba tháng mới được phép về thăm vợ con một lần. Ông làm tượng Ngày Về để nói lên sự vui mừng khi vợ chồng gặp lại nhau, thì đâu có gì gọi là không tốt.

Tên cán bộ quản giáo đề cập đến bức tượng An Dương Vương và thành Cổ Loa là biểu tượng của ngành Công binh QLVNCH với những lập luận ngây ngô. Tên cán bộ nói với Nguyễn thanh Thu, An Dương Vương là người lập quốc, còn bác Hồ là người giữ nước. Vậy tại sao ông không ghép hình bác Hồ vào. Ông trả lời tên cán bộ rằng, lúc làm tượng An Dương Vương ông đâu biết bác Hồ là ai, là người nào, nên không thể ghép vào được. Nghe nói vậy, tên cán bộ xám mặt lại, hắn ta ra lệnh cho ông đứng đó không được đi đâu hết. Tên này chạy về văn phòng gọi thêm 6 tên cán bộ nữa, súng ống đầy đủ, chạy đến chỗ Nguyễn thanh Thu đứng. Trong 6 người này có một tên là chính trị viên đã gằn giọng hỏi: “Khi nảy anh đã nói gì với anh Sáu ”. NTT trả lời: “Tôi không có nói gì hết”. Tên chính trị viên nói tiếp: “Anh Sáu cho tôi biết anh nói là dân Sài Gòn, người miền Nam không ai biết bác Hồ. Vì không biết nên anh không thể làm tượng bác kèm với An Dương Vương, có đúng không?”. Điêu khắc gia chay-loan-2Thu trả lời “Đúng vậy”. Nghe trả lời như thế , tên cán bộ chính trị viên nói cho ông 5 phút định trí, để nói lại. Đồng thời tên này còn hỏi gằn: “Anh bảo rằng anh không biết bác Hồ phải không?”. Thiếu tá Thu thẳng thắn trả lời: “Tôi không biết mặt, biết tên ông này”. Tên cán bộ nói : “Nếu anh không biết, tôi cho anh biết ”. Sau đó, chúng lôi điêu khắc gia Thu về văn phòng đánh đập tàn nhẫn liên tục trong ba ngày, ba đêm. Tuy bị đánh đập dã man, nhưng thiếu tá Thu chịu đựng và im lặng không lên tiếng gì hết. Thấy vậy một tên cán bộ nói: “ Bây giờ mầy nói về hai chữ Tự Do cho chúng tao nghe coi ”. Thiếu tá Thu bấy giờ mới lên tiếng: “ Nếu tôi không nói thì cán bộ nói tôi khinh, nhưng khi tôi nói thì cán bộ không tin. Bây giờ, tôi nói về Tự Do cho cán bộ nghe. Người miền Nam có tự do là họ được đi đứng dễ dàng, ăn nói thoải mái không có bị khó dễ gì hết. Còn những người CS các anh cũng có tự do, nhưng chỉ có những chữ viết trên các cổng ra vào được sơn son thiếp vàng, chỉ có trên vách tường tại các văn phòng làm việc, chớ người dân thì không có ”. Nghe nói vậy, bọn VC lại ra tay đánh đập NTT một trận tơi bời, đỗ máu mũi. Sau đó, chúng đem nhốt ông vào “cô–nét ”. Ông cho biết, sau nhiều tháng trong “cô-nét” ông chỉ còn xương và da, đứng lên muốn không nổi.

Một tình cảm khó quên

Một ngày nọ, vào khoảng 4 giờ sáng cửa “cô–net” được mở ra, và một họng súng AK chĩa ngay vào thiếu tá Nguyễn thanh Thu , rồi một giọng ra lệnh cho ông bước ra. Ngoài trời tối đen, lờ mờ sáng, ông đứng không vững khi bước ra cửa “cô-net” nên bị hụt chân té qụy. Tên cán bộ ra lệnh cho điêu khắc gia Thu đứng dậy và giơ tay ra để cho chúng móc còng vào. Sau đó, ông được bốn tên cán bộ kè đi về phía cổng trại để vào khu rừng chuối kế bên. Đang đi bổng nhiên có một chiếc xe Jeep chạy tới đèn pha sáng choang làm chói mắt mọi người. Chiếc xe Jeep ngừng lại tắt đèn, có tiếng nói chuyện trao đổi giữa hai bên chừng 5 phút. Sau đó, toán dẫn cán bộ quay lại bịt mắt ông và tiếp tục kéo lết đi vào rừng chuối. Đến nơi, tên cán bộ kéo thiếu tá Thu nhốt vào một nhà cầu của khu gia binh của VNCH bỏ hoang từ lâu. Quá mõi mệt nên ông đã ngủ thiếp lúc nào không hay. Gió theo khe hở thổi làm ông tỉnh dậy, qua khe hở ông thấy trời đã sáng và biết mình chưa chết. Thiếu tá Thu cười nói rằng, bị nhốt ở trong cầu tiêu nhưng ông cảm sung sướng, thoải mái hơn là lúc bị nhốt ở “cô–net” nhiều.

Kể tới đây, điêu khắc gia NTT cười và cho biết từ đó không ngờ lại xảy ra “Những tình cảm khó quên”. Ông kể tiếp là vào buổi trưa hôm đó, một cô gái người Bắc tay cầm chén cơm, bịch muối và đôi đũa tre đến mở cửa cầu tiêu đưa cơm cho ông ăn, nhưng cô ta mở không được vì bên trong ông đã móc cửa lại. Bên trong, ông hỏi vọng ra “Cô là Bắc kỳ phải không, nhưng Bắc kỳ nào? Bắc kỳ 54 hay Bắc kỳ giải phóng”. Cô gái trẻ khoảng 22, 23 tuổi trả lời: “Này nhé, tôi là chị nuôi của ông. Đem cơm cho ông ăn mà ông hỏi tôi như thế”. Nói xong cô ta cầm chén cơm bỏ ra về. Khoảng 3, 4 phút sau, một tên cán bộ đến ra lệnh cho ông phải mở cửa ra và mắng: “Lúc nào cũng láo khoét. Tha chết cho rồi mà còn láo khoét”. Nói xong tên cán bộ bỏ đi. Vào buổi chiều cô gái trở lại, thiếu tá Thu nhủ thầm trong bụng là không giỡn nữa, vì giỡn sẽ đói. Khi cô gái mở cửa bỏ phần cơm vào, ông phân trần với cô là ông chỉ giỡn một chút mà cũng đi mét.

Qua ngày kế, một tên cán bộ và hai người tù đến chỗ nhốt thiếu tá Thu, dùng đồ nghề khoét một cái lỗ vuông nhỏ trên cửa cầu tiêu. Xong đâu đó, tên cán bộ nói: “Từ nay không mở cửa nữa. Mỗi lần tới giờ cơm, anh dùng miếng gỗ đưa cái chén cũ ra và sẽ nhận được chén cơm mới đưa vào qua cái lỗ này”. 11 giờ trưa hôm đó “chị nuôi” của điêu khắc gia Thu đem cơm và muối đến cho ông. Theo như lời dặn, thì thiếu tá Thu khi nhận chén cơm mới ông phải trả cái chén không lại, nhưng ông không làm điều này. Cô gái lên tiếng hỏi, nhưng ông không trả lời. Cứ như vậy hai ba ngày liên tiếp, ông giữ lại tất cả 7 cái chén. Một hôm cô gái phàn nàn: “Ông giữ hết chén thì tôi đâu còn chén để đựng cơm cho ông”. Nghe vậy, thiếu tá Thu cuời nói: “Nếu cô muốn tôi trả lại mấy cái chén thì phải có điều kiện”. Cô gái hỏi: “Điều kiện gì?” Ông đáp: “Cô để bàn tay của cô lên tấm ván đưa cơm cho tôi rồi đưa vào cho tôi thấy” . Sau vài giây tần ngần, cô gái làm theo điều kiện của điêu khắc gia Thu. Ông đã tinh nghịch dùng đôi đũa tre đụng vào bàn tay của cô gái rồi sau đó đưa trả 7 cái chén cho cô gái. Cô gái ngạc nhiên hỏi: “Chỉ có vậy thôi à!”. Ông trả lời: “Chỉ có vậy thôi!”. Cô gái bỏ về.

Trong lúc thiếu tá Thu đang ngồi ăn cơm, thì cô gái trở lại với một bà già đi phía sau. Đến trước cửa cầu tiêu, nhìn vào lỗ đưa cơm bà già nói: “Ông này, con Lan nó đem cơm cho ông ăn, thế mà ông còn lấy đũa chích vào tay nó. Là cái gì vậy? Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cười nói: “ Vậy mà cũng không biết”. Nghe vậy bà cụ phàn nàn: “Ông làm kỳ quái quá ai mà biết được”. Bị hỏi dồn nhiều câu, Thiếu tá Thu nói nhỏ: “ Là yêu đấy!”. Nghe như vậy người con gái tên Lan đỏ mặt thẹn thùng, vội vả quay lưng bỏ đi.

Qua ngày hôm sau, cô gái tên Lan lúc đem cơm đến cho điêu khắc gia Thu, cô nhỏ nhẹ và tha thiết nói: “ Anh Thu à! Em khuyên anh, anh thôi đừng có “anh hùng” nữa. Như vậy, thiệt thòi cho anh lắm anh có biết không? Chúng nó đã tha chết cho anh đấy!” Rồi cô nói tiếp, giọng run run: “ Em thương mấy anh sĩ quan cải tạo các anh lắm. Kể từ nay, đến giờ cơm em sẽ để cục thịt nằm ở đáy chén. Khi em đưa cơm vào, anh hãy tìm cục thịt ăn liền trước nha! Để đề phòng cho cả em và anh không bị cán bộ bắt gặp làm khó dễ”.

Thiếu tá Thu cảm động hỏi: “ Cô Lan! Làm sao cô biết chúng nó tha chết cho tôi?” Cô gái khẻ nói: “Này nhé! Anh còn nhớ không? Khoảng 4 giờ sáng hôm đó, gần nhà bếp, em thấy đèn pha của chiếc xe Jeep chạy ngang. Và khoảng nửa tiếng sau, có bốn cán bộ súng ống trên vai bước vào nhà bếp bảo em pha cà phê cho họ uống. Họ kể cho em nghe là đáng lẽ có một tù nhân bị đưa đi bắn.. Nhưng sau đó bỗng nhiên “có lệnh hồi”. Nên tù nhân này được lôi vào nhốt tạm thời trong một cầu tiêu của một trại gia binh trước bỏ hoang”. Cô Lan kể tiếp: “ Có một lần em đón đường hỏi các anh đi lao động ngoài rừng về hỏi tại sao anh phạt bị nặng như vậy, thì mọi người cho biết vì anh là tác giả bức tượng “Thương Tiếc” tại Nghĩa Trang Quân Đội Biện Hòa. Nhắc đến bức tượng Thương Tiếc, em không lạ gì bước tượng này, vì hồi đó, chiều nào em và các bạn thường hay chơi quanh gần tượng.

Điêu khắc gia Thu hỏi cô gái: “Cô ở Hố Nai được bao lâu rồi?” Cô Lan kể lể: “Cha em là bộ đội VC ngoài Bắc, vào Nam đánh trận bị bom dội chết trong rừng. Mẹ em đã gánh em vào Hố Nai và em đã lớn lên từ đó”.

Kể đến đó, thiếu tá Thu không dấu được sự xúc động. Ông ngậm ngùi nói: “Cô Lan rất tận tình và tốt với tôi. Những chân tình ấy cùng với những kỷ niệm rất dễ thương tôi luôn trân quý. Cô là nguồn an ủi của tôi trong lúc bị tù đày, trong nỗi đau và sự bất hạnh của một đời người. Tôi rất muốn trả ơn cho cô, nhưng không biết đâu mà tìm. Tôi nghĩ những tình cảm này khó phai nhạt trong đời mình”.

Nỗi lòng biết tỏ cùng ai?

Thiếu tá Thu cho biết vào thời điểm đó, khoảng tháng 8, nhiều đổi thay xảy đến với ông. Một hôm, cán bộ quản giáo gọi ông lên làm việc. Tên cán bộ nói: “Anh Thu, chẳng lẽ anh muốn ở mãi trong thùng sắt sao? Tôi đề nghị là anh đừng nhận mình là tác giả “chính” đã làm tượng “Thương Tiếc” mà anh chỉ là người “phụ” thôi. Người “chính” đã vượt biên đi rồi. Anh viết bản tự thú như vậy, tôi sẽ cứu xét và giảm tội cho anh”. Nhưng ông đã khẳng khái trả lời: “Cám ơn cán bộ đã khuyên tôi, nhưng với tôi tác phẩm Văn hóa Nghệ thuật là con đẻ của mình. Sao tôi lại trốn tránh trách nhiệm và đổ thừa cho người khác? Tôi không thể làm như vậy được”.

Vài ngày sau, một tên cán bộ khác đến gặp ông và ra lệnh cho ông phải làm tượng HCM để kịp ngày Quốc khánh 2/9 của VC. Thiếu tá Thu cho biết là ông nhận lời đề nghị này, vì ông đã có ý định trốn trại. Ông nói với cán bộ quản giáo biết, là muốn làm tượng phải có đủ đồ nghề. Thế là ông được bốn tên bộ đội chở về nhà để lấy đồ nghề. Trên đường về ông xin ghé nhà mẹ mình để thăm bà. Đến nơi, mấy tên bộ đội thì ngồi chuyện trò với cô Hồng em gái của ông ở cửa trước. Còn ông vào nhà gặp mẹ. Hai mẹ con gặp nhau mừng rỡ rối rít. Bỗng bà cụ nghiêm mặt nói:“ Thu à! Má đẻ con ra mà không biết tánh con sao! Con hãy ráng ở trong tù thêm một năm nữa đi. Nếu con mà trốn, má sẽ chết cho con coi”. Nghe mẹ nói như vậy, ông quá sức bàng hoàng, tự nghĩ: “Trời ơi! Bao nhiêu ý định nhen nhúm giờ đây đã tiêu tan. Nỗi buồn tràn ngập trong lòng, vì ông sẽ trở về giam mình trong cái thùng sắt (2m x 1m) sừng sững ngoài trời, tiếp tục chịu đựng thời tíết khắc nghiệt, sức nóng như thiêu đốt của mùa Hạ, hay lạnh giá của mùa Đông rét mướt “.

Theo như thỏa thuận là sau khi được về thăm nhà và lấy đồ nghề, ông sẽ thực hiện điêu khắc tượng HCM. Tin này được nhanh chóng loan truyền trong trại giam. Từ đó, không biết bao nhiêu lời nguyền rủa vang lên làm ông đau khổ vô cùng.

Trước khi ra lệnh bắt ĐKG. Thu làm tượng HCM, cán bộ VC đã liên lạc trước với gia đình thiếu tá Thu. Chúng dàn cảnh cho vợ, con ông được đến thăm viếng đặc biệt. Tuy nghèo nhưng gia đình ông cũng mua thịt vịt quay, bánh mì, bày biện ra để cả nhà cùng ăn trong trại giam. Thật bất ngờ, trong tờ Tin Sáng cũ dùng để gói vịt quay, thiếu tá Thu nhìn thấy hình TT. Nguyễn văn Thiệu. Ông xé tấm hình đó, xếp nhỏ cất vào túi cất. Đến ngày nặn tượng chân dung HCM, thiếu tá Thu lại khắc nét của Tổng Thống Thiệu. Ông cho biết, rất phấn chấn trong lòng và thầm nghĩ: “ Tự mình, trí ta, ta hay, lòng ta, ta biết”.

Sau này, Nguyễn thanh Thu được kể lại. Một buổi chiều nọ, trên đường đi lao động về đám tù nhân đi ngang qua nhìn thấy pho tượng HCM sắp được hoàn tất, họ có vẻ thích thú xầm xì : “ Trời ơi! Tụi mày xem giống TT. Thiệu quá! Giống quá tụi bây ơi!” Tiếng xầm xì làm mấy tên “ăng ten” chú ý. Lập tức chúng trình báo cho cán bộ quản giáo hay.

Khoảng 4 giờ 30 chiều, vào thời điểm bức tượng HCM đang được điêu khắc gia Thu gắn râu mới được một bên mép thôi, thì một tên cán bộ bước đến hỏi: “Tượng sắp xong rồi chứ?” Miệng vừa hỏi, tên cán bộ nhanh tay thò vào túi áo ông lấy mảnh giấy báo có hình TT. Thiệu. Thế là xong! Việc bị đổ bể. Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu lại tiếp tục trở vào thùng sắt nhận thêm bốn tháng biệt giam, bị hành hạ đủ điều. Tại đây, ông kiệt sức, bất tỉnh, được đưa vào trạm bịnh xá.

Tại trạm xá, ông được một tù nhân khác là phi công Đỗ Cao Đẳng, chú của trung tướng Đỗ Cao Trí làm Trưởng trạm xá, và một số học trò cũ của ông, từ thời còn học trung học Võ trường Toản, hết lòng cấp cứu. Nhờ vậy, ba ngày sau ông mới tỉnh lại. Với tình trạng sắp chết, da bọc xương, điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu được VC tha cho về với gia đình kể từ đấy.

Hoài bão không nguôi

Điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu cho biết ông ở tù VC 8 năm. Sau khi ở tù về, ông tìm đủ mọi cách để vượt biên ra nước ngoài. Ông nghĩ rằng qua bên Mỹ ông dễ có cơ hội thực hiện những mộng ước của đời mình. Đó là, dựng lại tượng “Thương Tiếc” nơi quê hương thứ hai. Nhưng trong 15 năm sống tại Mỹ, ông không tìm ra được một mạnh thường quân nào giúp đở. Ông đành buồn bã trở về Việt Nam sinh sống. Ông cảm thấy cô đơn với mơ ước của mình. Nhưng, ông vẫn hy vọng một ngày nào đó sẽ thực hiện được, nên hàng ngày ông cố gắng tập thể thao để tinh thần và thể xác không suy nhược.

Điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu cho biết, khi còn ở Mỹ ông đã có hân hạnh gặp lại TT. Nguyễn văn Thiệu khi TT. Thiệu từ Boston đến Nam Cali thăm viếng và nói chuyện với đồng bào tỵ nạn. Tổng thống Thiệu được một người bạn của thiếu tá Thu sắp xếp hướng dẫn đến gặp nhà điêu khắc. Khi gặp thiếu tá Thu , TT. Thiệu vồn vả hỏi liền: “ Anh Thu có khỏe không? Tôi nghe nói ở trong tù anh đã làm tượng tôi phải không?” Điêu khắc gia Thu xúc động cho biết, là ông rất ngạc nhiên khi TT. Thiệu bất ngờ hỏi như vậy. Ông đã hỏi lại TT. Thiệu: “Làm sao tổng thống biết được?” TT. Thiệu nở nụ cười hiền hòa: “Làm sao tôi không biết được”. Giây phút gặp gỡ quá ngắn ngủi. Sau đó, vị tổng thống nền đệ nhị Cộng Hoà vội vã từ giã đồng bào ra phi trường trở về Boston cho kịp chuyến bay.

Khi nhắc tới TT. Nguyễn văn Thiệu, thiếu tá Thu mơ màng nhớ về dĩ vãng xa xưa. Vì đó là kỷ niệm mà trong đó có những tác phẩm nghệ thuật ông tạo hình, nhờ sự gợi ý của tổng thống Thiệu.

Thiếu tá Thu cho biết, sau 3 tháng khi tượng Thương Tiếc được khánh thành ở Nghĩa Trang QĐ Biên Hòa, TT. Nguyễn văn Thiệu đã tổ chức một bữa tiệc khoản đãi tại Dinh Độc Lập, và đã mời điêu khắc gia Thu đến dự. Trong khi trò chuyện với ĐKG. Thu , TT. Thiệu chỉ bồn nước phun trước Dinh Độc Lập ,và nói muốn làm một biểu tượng gì đó.

Kể đến đây, ĐKG. Thu không nén được xúc động và thành thật nói: “ Trông TT. thật tội nghiệp với vẻ buồn lo của ông”. Trầm ngâm một chút, TT. Thiệu nói với điêu khắc gia Thu: “ Anh nghĩ xem, xứ mình đang ở trong tình trạng chiến tranh. Người lính thì đang sống, chết ngoài tiền tuyến. Biểu tượng Thương Tiếc đặt tại Nghĩa Trang QĐ đã tạm yên. Nhưng, tôi nghĩ mình còn phải làm thêm một cái gì đó nữa, để giáo dục mọi người… Xin lỗi , người dân nhiều khi cũng thờ ơ với cuộc chiến lắm nên tôi muốn có một tác phẩm gây ý thức trong lòng người dân. Là dù đang chiến tranh, nhưng chúng ta cũng biết xây dựng, và biết “TỰ LỰC CÁNH SINH”. Chứ hoàn toàn trông cậy vào viện trợ cũng phiền toái lắm. Anh Thu, anh nghĩ sao ? Anh có thể trình một dự án như ý tôi vừa trình bày không?

Sau khi nghe TT. Thiệu bày tỏ tâm sự trên. Cũng như lần trước, điêu khắc gia N.T.T xin Tổng Thống tuần lễ để làm việc. Và sau một tuần, ông đã làm xong 7 bản vẽ về dự án với đề tài có tên Được Mùa. Được Mùa là hình ảnh “Cô gái ôm bó lúa” vừa mới gặt để diển tả sự trù phú của nông nghiệp miền Nam.

Điêu khắc gia Thu đã làm mẫu bức tượng Được Mùa cao 2m. Nhìn bức tượng cô gái ôm bó lúa với gương mặt hớn hở, hãnh diện với công sức mình đổ ra bằng những giọt mồ hôi, khiến người ta hình dung ra sự giàu mạnh của một nước phát triển nhờ nông nghiệp.

Theo điêu khắc Thu bức tượng Được Mùa, nói lên sức sống trù phú của đồng bằng sông Cửu Long với chín miệng Rồng phun nước. Do đó, tác phẩm này còn có tên là “ Cửu Long Được Mùa”.

Khi nhìn bức tượng mẫu Được Mùa với ý nghĩa của nó, TT. Thiệu chấp thuận ngay. Dự án tượng Được Mùa được thực hiện bằng đồng với tượng cô gái cao 9m, bệ 3m. Kinh phí dự trù là 45 triệu đồng.

Tuy đã chấp thuận, nhưng với số tiền khá lớn đã khiến TT. Thiệu không tránh khỏi lo nghĩ trong khi chiến tranh mỗi ngày càng leo thang. Rồi cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa kéo đến. Mọi chi phí đều phải ưu tiên hàng đầu cho ngân sách Quốc Phòng. Thế nên dự án Được Mùa phải đành gác lại và không được hoàn thành theo mong ước của TT. Nguyễn văn Thiệu.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu ngậm ngùi nói: “Tuy tượng Được Mùa không được ra mắt người dân miền Nam, nhưng quá trình dự án cũng đã thể hiện được cung cách của TT. Nguyễn Văn Thiệu – một nhà lãnh đạo luôn quan tâm đến sự hy sinh của Quân Đội, và tinh thần một nước tự lực, tự cường”.

Tượng mẫu Được Mùa cao 2m được TT. Thiệu chấp thuận từ 1971 , đến nay 2009 vẫn còn tại nhà của điêu khắc gia Thanh Thu. Gần đây nhất vào năm 2006 , dù đã 73 tuổi ĐKG. Thu vẫn khắc thêm tượng Cô Gái Được Mùa” thật sống động. Đây là hình ảnh cô gái với chiếc nón lá, ôm bó lúa tựa vào vai. Được Mùa hay Cô gái Được Mùa, kiểu nào cũng đầy ý nghĩa và đẹp vẹn toàn. Ông quả thật không những là thiên tài nghệ thuật, mà ông còn là một chiến sĩ yêu nước nồng nàn.

Cuối cùng, điêu khắc gia Thu cho biết, đến nay ông vẫn còn băn khoăn về một trường hợp mà ông nghĩ là hơi bất thường. Ông nói cách nay vài năm, có một người ở bên Mỹ về tự xưng là một ông cha đã tu xuất tên là Vũ văn Hoàng tuổi trên 70 mươi. Ông Hoàng cho biết đã cải táng được 18 ngàn ngôi mộ tại tỉnh Bình Dương, cũng như đã giúp đở rất nhiều cho thương phế binh. Ông Hoàng nói là muốn cùng với ông tạo dựng lại bức tượng “Thương Tiếc” cho những phần mộ vừa được trùng tu. Nghe như vậy, ông rất mừng rỡ vì đó là điều ông ôm ấp từ lâu. Sau một tháng gặp gỡ bàng bạc, ông Hoàng có hứa khi trở về Mỹ sẽ báo cho ông biết diễn tiến công việc mà hai người muốn thực hiện. Nhưng, công việc không đi đến đâu và nhiều năm trôi qua ông không còn liên lạc được với ông Hoàng nữa.

Điêu khắc gia tài ba của QLVNCH nói rằng, ông mong khi Xuân Hương về Mỹ sẽ nói cho người Việt hải ngoại biết được ý nguyện của ông. Là người có quốc tịch Mỹ, ông lúc nào cũng sẳn sàng trở qua bất cứ quốc gia nào để thực hiện bức tượng Thương Tiếc. Ông còn tâm sự, ở tuổi 75, nhưng ông ráng sống để một ngày nào đó xây dựng lại tác phẩm Tiếc Thương vì theo ông tác phẩm này, không thể mai một trong hoàn cảnh chính trị “khốn nạn”, là miền Nam bị cưỡng chiếm vào tay bạo quyền Việt Cộng như hiện nay.

Xuân Hương


TƯỞNG NHỚ NGHĨA TRANG BIÊN HÒA

Về thăm Nghĩa trang một chiều gío lộng,
Khung trời xưa chìm đắm ngủ say.
Xa lộ Biên hòa cuồn cuộn gío bay,
Biển đời ai oán, nỗi sầu chứa chan !

Ôi, DŨNG KHÍ ĐÀI âm cảnh mơ màng,
Linh hồn 30,000 Nghĩa sĩ, ngỡ ngàn bơ vơ !
VÀNH KHĂN TANG đẫm lệ sương mờ…
GƯƠM THIÊN lạnh lẽo, ngẩn ngơ gío chiều !

Anh LÍNH TIẾC THƯƠNG, thân ngả bệ xiêu,
Vì thương đồng đội chịu nhiều trái ngan !
ÂM DƯƠNG cách biệt đôi đàng…
Màng đen tội lỗi, bàng hoàng Thần linh.

Bao mầm non trai trẻ, cõi vô hình
Là nơi nương tựa, nghĩa tình nước non.
Niềm tin, sự sống, con cháu Lạc Hồng
Tự do, Hạnh phúc…non sông ba miền.

Với người sống, ỷ thế cậy quyền,
Buồn người khuất mặt..nhãn tiền không sai !
Dòng đời thác nước đổ mau,
Sông sâu ,Biển rộng…một màu trong xanh


TƯỢNG HAI LÍNH VIỆT MỸ

Chúng ta tuy hai mà một,
Vì trái tim chứa đựng MỘT Tình thương.
Trời Wesminster xinh đẹp lạ thường..
Mối tình VIỆT MỸ dưa lưng đội Trời.

Trải qua bôn ba, gian khổ một thời…
Kề vai sát cánh xây đời yêu thương !
Máu xương đổ khắp chiến trường !
Mississipy than thở, Cửu long nghẹn ngào !

Vì cõi đời còn lắm lao đao,
Là sóng phản bội…lật nhào thuyền mơ
Tan tành, chìm đắm..cảnh vật xác xơ !
Kẻ ra đi, người ở lại… lệ mờ lòng đau !

Trời Cali tình bạn nghẹn ngào,
Qua rồi thử thách, ngàn sao sáng ngời.
Những trái tim CÔNG CHÍNH yêu đời,
Lòng tin TƯỢNG ĐÁ, đất trời chứng tri.

Nhìn về tương lai, cùng môt hướng đi
Dắt dìu nhân loại, quản gì khó khăn.!
Mối tình VIỆT MỸ ghi đậm vầng trăng
Bình minh nở rộ, quả đất tròn long lanh.

Nghĩa Trang Quân Đội – Huyền Thoại Về Tượng Thương Tiếc

ThuongTiec

Chuyện hiển linh xưa nay không hiếm, nhưng những huyền thoại về Tượng Thương Tiếc, sống động như chuyện đời thường, chuyện hàng ngày trước mắt, khiến cho ai nghe cũng cảm động nghiêng mình kính cẩn và hết lòng thán phục.

Huyền thoại về Tượng Thương Tiếc được lan toả khắp nơi và khá nhiều chuyện tình tiết khó hiểu:

– Các xe chở rau từ Đà Lạt về khuya thường gặp một người lính ra chặn xe xin mua rau, khi tới bến kiểm lại tiền chỉ thấy toàn là tiền vàng mã.

– Một chuyện khác xảy ra ở Biên Hoà, vào một buổi sáng, có một quân nhân đặt mua bánh mì khá nhiều, khi giao hàng cho người quân nhân ra về, người chủ cất tiền vô tủ, đến lúc cần tiền lấy hàng, mở tủ ra chỉ thấy toàn tiền vàng mã, trong khi đó mỗi mộ ở nghĩa trang đều được cúng một khúc bánh mì…

– Có một cụ già ở chân núi Châu Thới, đêm nọ trời đã khuya, cụ nghe tiếng gọi ở ngoài xin nước uống. Khi đem nước và đèn ra cho người xin nước, thoạt đầu cụ tưởng như những lần quân đội hành quân vào xin nước. Nhưng khi người lính uống xong, ngẩng mặt lên cám ơn ra đi thì cụ chợt sửng sốt, tự nghĩ “sao lại có người lính giống Tượng Thương Tiếc đến như thế?”. Sáng hôm sau cụ già ra nghĩa trang để kiểm lại, cụ nhận thấy mặt mũi vóc dáng anh lính xin nước tối qua y hệt pho tượng Thương Tiếc, vết sình non hãy còn dính đầy đôi giầy trận, cụ cho rằng đêm qua bức tượng đã hiện thành người. Cụ về thuật lại với bà con ở Suối Lồ Ô, một người đi xem rồi về đồn mười, đồn trăm… lan khắp cả Thủ Đức, Tân Vạn, Biên Hoà, đổ nhau đi coi tượng đài Thương Tiếc làm xe cộ kẹt cứng cả một quãng đường trước cổng nghĩa trang.

– Một chuyện khác, những đêm trăng, những đêm mưa gió trở trời hiu hắt, dân chúng xung quanh vùng nghĩa trang có người nhất quyết chính mắt họ trông thấy người lính giống hệt Tượng Thương Tiếc đi lại trên xa lộ!

Chuyện huyền bí lan truyền rất nhiều trong dân chúng và trong Quân Đội. Một số sĩ quan yêu cầu Chuẩn Úy Thường Vụ Chung Sự Nghĩa Trang cho biết những gì thật sự mắt thấy tai nghe, Chuẩn Úy Thường Vụ Kể:

“Nhân một hôm đi Chợ Tam Hiệp sắm đồ giỗ ông già, khi mua xong, tôi cho tài xế đem về nhà trước. Tôi ghé thăm các bạn ở Tam Hiệp và mời họ đến nhà ăn giỗ ngày hôm sau. Khi về, trời sẩm tối, đến cổng nghĩa trang, tôi nghỉ chân dưới bức tượng. Không biết cao hứng thế nào, trước khi lội bộ về nhà, tôi nhìn lên tượng, và nói với giọng điệu cố hữu của một Thượng Sĩ đại đội:

– Ê mày, mai giỗ ông già tao, mày có rảnh ghé nhà tao 2 giờ chiều nhậu chơi.

Nói xong tôi bước về nghĩa trang vì tôi ở phía sau khu nhà phục dịch chung sự. Tám giờ sáng hôm sau, việc cúng giỗ bắt đầu và tiệc nhậu kéo dài đến một giờ chiều. Tiễn khách ra về xong, tôi đi ngủ, phần vừa say, phần vì đêm qua thức khuya. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi nghe tiếng gõ cửa ầm ầm. Nhà cửa rung rinh, tôi giật mình la to:

– Ai phá nhà tao đó?

Tiếng gõ cửa vẫn không dứt, tôi bực bội đứng dậy mở cửa, tôi sửng sốt, thấy Tượng Thương Tiếc đứng chình ình trước cửa và nói:

– Chuẩn Úy Thường Vụ Bê bối quá, kêu hai giờ chiều đến nhậu, nhưng ông nằm say sưa ngủ tôi nhậu với ai?…

Tôi hoảng, đóng sập cửa lại, không dám ngó ra ngoài. Tôi nghe tiếng cười khằng khặc và bước đi rung rinh nhà, tiếng chân xa dần rồi im bặt”.

Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Đại Đội Chung Sự Nghĩa Trang Biên Hoà kể trường hợp ông gặp Tượng Thương Tiếc ngồi sau xe Jeep của ông:

“Khi chạy xe vào Nghĩa Trang, tôi hay dừng lại, đón những binh sĩ đi bộ từ cổng vào, cho họ đỡ mỏi chân. Một buổi trưa, ăn cơm xong, trở lại làm việc, lúc tới cổng nghĩa trang, tôi dừng xe đón một Hạ Sĩ xin quá giang. Lúc anh ta ngồi vào phía sau, tôi bắt đầu rồ ga, sang tay số tiếp tục chạy vào trong. Rồ ga hoài mà xe không tiến thêm một tí nào… Tôi quay ra, định nhờ anh lính xuống đẩy giùm… thì thấy bức Tượng Thương Tiếc đang ngồi phía sau. Tôi chưa kịp phản ứng gì thì có tiếng nói cất lên:

– Xe jeep Thiếu Tá sao chở nổi tôi…

Tiếp đó là một tràng cười khằng khặc, đồng thời bức tượng cũng biến mất”.

Vị Thiếu Tá còn kể tiếp:

“Nghĩa trang ở trên đồi vào tháng mưa cỏ mọc um tùm nên phải thuê người vô cắt cỏ. Trong lúc một cô đang cắt cỏ, có một anh binh sĩ đến tán tỉnh, vì quen với lối trêu chọc của lính nên cô chẳng thèm quay lại xem hình dáng người tán tỉnh mình là ai. Cô nghe tiếng người lính hỏi:

– Cô có biết tôi là ai không?

Cô gái vẫn cắm cúi làm việc và trả lời:

– Ông là ai, kệ ông chứ mắc mớ gì tôi…

Bỗng cô gái nghe một tràng cười ngạo nghễ từ phía sau và những bước chân thật nặng nề rung chuyển cả đất. Bấy giờ cô mới quay lại, thấy bức tượng đài kỷ niệm đang đứng trước mặt. Cô la hoảng, chạy vào khu làm việc, kể lại sự tình vừa xảy ra cho tôi nghe, đồng thời cô cũng xin nghỉ việc ngay ngày hôm đó…”

– Một chuyện khác: “Vào giữa một đêm trăng mờ năm 1968, một chiếc xe đò chở đầy hành khách từ miền Trung về, khi tới xa lộ còn cách nghĩa trang quân đội 500 thước, viên tài xế bị ngủ gật nên thắng gấp, khiến bánh xe trợt một đoạn dài, rồi lật nghiêng. Trong lúc mọi người đang khóc than, đang tìm cách đập vỡ cửa kiếng chui ra, thì chợt có tiếng nói vang lên:

– Xin đồng bào bình tĩnh… xin đồng bào bình tĩnh… ai đâu ở đó… đã có lính nhảy dù đến cứu bồ.

Tiếng nói vừa dứt thì xe được đẩy lại dựng đứng như cũ, anh tài xế cùng lơ xe và khách vừa mở cửa ra ngoài, vừa hết lời khen sức mạnh ghê gớm của đại ân nhân. Thế nhưng mọi người chỉ thấy ân nhân dáng người cao lớn đứng sừng sững bên kia đường, rồi ông ta bước từng bước rất dài về phía trước. Tới trước cửa nghĩa trang quân đội thì biến mất. Anh tài xế bỗng la thất thanh, chỉ vào Tượng Thương Tiếc:

– Bà con ơi… ổng đó… ổng đó… Trời ơi… trời ơi… ổng hiển linh cứu bà con mình.

Thế là mọi người vội leo ngay vào trong xe, rồi ai nấy đều chắp tay lạy… đều đọc kinh râm ran… cả kinh Phật lẫn kinh Chúa”.

– Chuyện Tượng Thương Tiếc cứu người bị cướp: “Vào lúc 10 giờ tối tháng 3 năm 1969, có hai cặp tình nhân đi trên hai chiếc Honda ra xa lộ hóng gió, gần tới nghĩa trang thì bị ba chiếc khác chở 6 thanh niên tóc dài ép té bên đường. Liền sau đó 3 tên ngồi phía sau nhảy xuống dùng dao uy hiếp khổ chủ để cướp xe và lấy tiền. Trong lúc bọn cướp cạn đang trói các nạn nhân, thì bỗng có tiếng hét lớn trên đầu dốc:

– Chớ làm càn… chớ làm càn.

Rồi liền đó xuất hiện ở giữa đường xa lộ một bóng đen… Bóng đen khệnh khạng đi tới, một tên cướp hoảng hốt gào lên:

– Ối giời ơi… ma ma, chạy… chạy…

Thế nhưng không làm sao chúng chạy được, cứ thế đứng sững như trời trồng, bóng đen hai tay xách bổng hai chiếc Honda bỏ bên vệ đường, vừa lúc đó có bốn chiếc xe chạy đến, một xe Cảnh Sát đi tuần, một xe Jeep của bốn quân nhân nhảy dù, trên có một Trung Tá, còn hai xe kia là du lịch. Thấy chuyện lạ, các xe ngừng hết lại. Dưới bóng tối mờ mờ mọi người thấy trên đỉnh dốc có một bóng đen đứng hiên ngang lừng lững. Khi rõ chuyện, Cảnh Sát đến chỗ bọn cướp, đứa nào đứa nấy cứ như bị điểm huyệt. Một người lớn tiếng hỏi:

– Còn ai đứng ở trên kia đó…

Một tràng cười vang lên, rồi một giọng như sấm động…

– Cố gắng, Nhảy Dù… cố gắng.

Như hiểu ra chuyện, vị Trung Tá Nhảy Dù trấn an mọi người:

– Không sao đâu, pho tượng Thương Tiếc đi tuần thôi.

Sau đó ông vẫy tay la to:

– Về nghỉ đi em, khuya rồi… Nhảy Dù…

Bóng đen bỗng đứng nghiêm giơ tay chào:

– Cố gắng… Tuân lệnh Trung Tá”.

Tôi chợt nhớ một đoạn trong bài học thuộc lòng thời xa xưa:

Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.
Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một dãy sơn hà gấm vóc!

Chuyện hiển linh xưa nay không hiếm, nhưng những huyền thoại về Tượng Thương Tiếc, sống động như chuyện đời thường, chuyện hàng ngày trước mắt, khiến cho ai nghe cũng cảm động nghiêng mình kính cẩn và hết lòng thán phục. Sống nằm gai nếm mật bảo vệ quê hương, chết hồn thiêng còn hiện về giúp người hoạn nạn… Dù có bị làm nhục phỉ báng cũng không quên vai trò của người lính chiến.

Trần Công Nhung

Đà Lạt và những kỷ niệm về Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam — Lê Đình Cai Gs. VHV

Bây giờ, trên xứ lạ quê người, khi tóc đã hoa râm, ngồi đếm bóng thời gian chờ ngày trở về với cát bụi, lòng người đôi khi chùng xuống với những hồi ức xa xăm ….
Tháng 4/1968, sau khi đệ trình luận án Cao học Sử học (*) tại Đại học Văn Khoa Sài gòn cá nhân tôi chính thức được bổ nhiệm vào làm việc tại văn phòng đệ nhất Phó Chủ Tịch Thượng Nghị Viện. Cũng vào đầu tháng 10 năm nầy, tôi được Viện Đại học Đà Lạt mời lên giảng dạy tại Phân khoa Sử học kể từ niên khóa 1968-1969. Cũng xin được ghi lại vào thời điểm đó (1968), trong khi các trường Đại học Luật khoa và Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Sài gòn đều đã mở các lớp tiến sĩ và đã cấp văn bằng Tiến Sĩ cho các sinh viên thuộc các ngành nầy, thì trường Đại học Văn khoa Sài gòn vẫn chưa mở được cấp tiến sĩ.
Chúng tôi đã hòan tất chương trình Cao học từ 1968 nhưng mãi đến năm 1972 mới được ghi danh lớp tiến sĩ đầu tiên niên khóa 1972-1975 tại trường Đại học Văn khoa Sài gòn. Riêng vị đàn anh trong ngành của chúng tôi là GS Phạm Cao Dương, người lấy văn bằng Cao học sử đầu tiên tại Đại học Văn khoa Sài gòn đã phải ghi danh học Tiến sĩ tại Đại học Paris (Pháp).
Vào khỏang giữa tháng 10/1968 tôi giã từ thủ đô Sài gòn, lên xứ hoa đào để khởi sự những ngày đầu trên bục giảng của trường Đại học Văn khoa Đà lạt. Cũng vào dịp nầy tại trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, khóa 22 đã phân ra thành khóa 22A và khóa 22B. Khóa 22B theo học chương trình 4 năm như các sinh viên trường Võ Bị Westpoint của Hoa kỳ vậy.
Thiếu tướng Lâm Quang Thi vị chỉ huy trưởng của trường Võ Bị Quốc Gia vào thời đó đã có công rất lớn trong việc vận động để văn bằng tốt nghiệp VBQGVN được công nhận tương đương với Cử Nhân Khoa Học Nhân Văn và tương đương với Kỹ sư khoa học kỹ thuật. Tướng Thi đã phải tham gia nhiều cuộc họp với Hội đồng liên viện Đại học Sài gòn, Huế và Cần thơ để trình bày chương trình học về văn hóa của trường theo hệ thống tín chỉ (credit system). Người ủng hộ mạnh mẽ nhất trong việc công nhận văn bằng tương đương nầy cho sinh viên trường VBQGVN là Giáo sư Lê Thanh Minh Châu, Viện Trưởng Đại học Huế.
Kết quả là văn bằng tốt nghiệp của các sinh viên trường VBQGVN (hệ 4 năm) kể từ khóa 22B đã được Bộ Giáo Dục công nhận là tương đương với văn bằng cử nhân và kỹ sư của các đại học quốc gia thuộc lĩnh vực nhân văn và kỹ thuật. Sinh viên Võ Bị QGVN khi tốt nghiệp đựơc công luận trong xã hội đánh giá là văn võ toàn tài.
Để đáp ứng những điều kiện quy định của Bộ Giáo Dục, Trường Võ Bị QGVN (Đà lạt) đề nghị lên Bộ Quốc Phòng ra thông cáo tuyển dụng các giáo sư dân chính bổ sung vào thành phần giảng huấn đoàn thường trực (permanent teaching staff) cho sinh viên năm thứ tư thuộc khóa 22B khai giảng mùa văn hóa kể từ tháng 12 năm 1968.
Cá nhân tôi có tên trong một Nhiệm Vụ Lệnh do Bộ Quốc Phòng ký vào giữa tháng 10/1968 để trở thành giáo sư của trường Võ Bị QGVN cùng với hai vị giáo sư dân sự khác là Bùi Đình Rị (Thạc sĩ Vật lý Nguyên tử) và Từ Võ Hào (Kỹ sư Điện lực, tốt nghiệp ở Canada).
Được lên dạy học tại Viện Đại học Đà lạt là điều hết sức vui sướng đối với tôi vì hồi đó khi tốt nhgiệp Cao học Sử học tôi mới được 26 tuổi, nhưng phải nói được bổ nhiệm làm giáo sư tại trường Võ Bị QGVN, một trường Võ Bị lớn nhất Đông Nam Á vào thời bấy giờ, là một niềm hãnh diện lớn lao cho tuổi trẻ của tôi khi mới bước vào sự nghiệp đầu đời.
Vì thế trong phần hồi ức nầy, tôi dành để kể lại những kỷ niệm không thể nào quên, liên hệ về ngôi trường Võ Bị thân yêu nầy.
Tôi đáp máy bay từ Sài gòn xuống phi trường Liên Khương vào một buổi chiều mùa đông, mưa lất phất và trong cái lạnh tê cóng của vùng Cao nguyên Đà lạt. Tôi đưa mắt nhìn chung quanh núi đồi trùng điệp và những căn nhà sàn của người Thượng nhấp nhô bên vệ đường từ phi trướng về thành phố. Tất cả ẩn hiện trong làn mưa bụi, khiến tôi cảm thấy có một cái gì mất mát trong tâm tư khi đang từ một nơi náo nhiệt của thành đô, lạc bước vào một khung trời yên ắng, với sương mù và buốt giá quanh năm…
Tôi bắt đầu cuộc sống mới tại ngôi nhà số 7 đường Phan Đình Phùng Đà lạt với một vài người bạn, vốn thân quen từ hồi còn học tại trường Nguyễn Hòang Quảng trị.
Ngày hôm sau, tôi liên lạc với anh Bùi Đình Rị và anh Từ Võ Hào để cùng vào trình diện tại Văn Hóa Vụ trường Võ Bị.
Trước mắt tôi, ngôi trường Võ Bị uy nghi, đồ sộ, tọa lạc trên một ngọn đồi cao (ngọn đồi mang số 1515), giữa núi Lapbé Sub và hồ Than thở, được xây cất kể từ 1960. Đây là nơi tụ hội của bao chàng trai khôi ngô tuấn tú, chọn nghiệp kiếm cung để thoả mộng sông hồ. Vào những năm giữa thập niên 1950, khi tôi đang theo học các lớp đệ Thất, đệ Lục… hình ảnh oai phong, lẫm liệt của các sinh viên Võ Bị gốc ở Quảng trị, được phép về thăm quê nhà, xuất hiện trong bộ lễ phục uy nghi màu trắng, cổ cao, có sọc xanh, tua vai vàng, với thanh gươm bên cạnh… trong các dip lễ tại địa phưong đã gây ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn trẻ con của chúng tôi hồi đó. Lớn lên khi đỗ tú tài, tôi đã nộp đơn xin thi vào khóa 18 trường Võ Bị Đà lạt (cùng lúc với Lê Cung Vịnh, Lê Thí, bạn cùng lớp ở Nguyễn Hòang. Vịnh sau lên trung tá thiết giáp, nghe nói mất tích trong khi di tản ở Ban Mê Thuột; Lê Thi sau lên thiếu tá, nghe đâu đã qua Mỹ theo diện HO). Nhưng vào thời gian đó, anh ruột của tôi là Lê Đình Đàn lại vào học khóa 12 trường Sĩ quan Bộ Binh Thủ Đức nên ông thân sinh tôi khuyên tôi bỏ ý định nầy đi. Mộng ước trở thành SVSQ Võ Bị của tôi đành gác lại. Thế rồi, gần 8 năm sau tôi lại trở về ngôi trường nầy trong cương vị của một giáo sư Văn Hóa Vụ. Nghĩ lại, định mệnh của một đời người có những trùng phùng thật thú vị…
Trở lại buổi trình diện với Thiếu Tướng Lâm Quang Thi, chỉ huy trưởng trường VBQGVN vào thời đó là kỷ niệm mà tôi không thể nào quên được. Ba anh em chúng tôi (Bùi Đình Rị, Từ Võ Hào, Lê Đình Cai) vào một buổi sáng trong tháng 10 năm 1968 đến trình diện Chỉ Huy Trưởng. Chúng tôi ăn mặc chỉnh tề, veston, cà vạt hẳn hoi, được đưa vào văn phòng của Thiếu Tướng. Riêng cá nhân tôi có mang theo hai bức thư, một của Nghị sĩ đệ I Phó Chủ Tịch Thượng Nghi Viện, Hoàng Xuân Tửu gởi gắm cho Thiếu Tướng Thi; một của Nghị sĩ Nguyễn Văn Ngải (sau là Bộ Trưởng Bộ Xây Dựng Nông Thôn) gởi gắm cho Đại Tá Nguyễn Vân, Văn Hóa Vụ Trưởng. Cả hai bức thư nầy tôi đều giữ lại để làm kỷ niệm.
Khi vị sĩ quan tùy viên giới thiệu chúng tôi với Thiếu Tướng Lâm Quang Thi, chúng tôi thấy sắc mặt ông lạnh như tiền, với cái nhìn hết sức xa cách, ông lên tiếng “xin chào quý vị”. Rồi ông vẫn ngồi ở chiếc bàn có tấm biển khắc hai sao bạc và tên của ông, để bên cạnh một lá cờ đuôi nheo. Ông không đứng dậy để bắt tay chúng tôi. Ông cứ ngồi tại chỗ nói về một số điều liên quan đến kỷ luật của nhà trường, đến nhiệm vụ của các giáo sư văn hóa vụ… Tôi nhìn kỹ thấy ông có cái uy của một vị tướng chỉ huy. Chúng tôi, cả ba anh em, đứng im nghe ông chỉ thị khỏang gần 20 phút. Tự nhiên tôi đưa tay xin phát biểu: “Thưa Thiếu Tướng, xin Thiếu tướng cho chúng tôi ngồi xuống kẻo chúng tôi đứng lâu qúa rồi.” Khi đó Tướng Thi mới lên tiếng: “À, xin lỗi, mời qúy vị ngồi” và ông rời ghế qua ngồi cùng chúng tôi ở bàn salon tiếp khách.
Sau khi trình diện, chúng tôi trở lại khu Văn Hóa Vụ, bắt đầu nhận lãnh giáo trình để chuẩn bị giảng dạy.
Với phản ứng của mình vừa rồi với Tướng Thi, tôi nghĩ là chắc ông sẽ có ác cảm với tôi, Nhưng hồi ấy tôi còn trẻ, chưa lập gia đình nên trong lòng tôi nghĩ sao thì làm vậy, không lường đến hậu qủa.
Sau vài tháng chuẩn bị, tôi chính thức giảng dạy môn quân sử học (military history) cho các khóa 22B, 23, 24, 25….
Tôi nhớ lại thêm một kỷ niệm nữa… Vào một buổi sáng khỏang 10 giờ, một cuộc họp tòan thể giáo sư Văn Hóa Vụ được tổ chức tại hội trường với sự chủ tọa của Thiếu Tướng Lâm Quang Thi. Hồi đó giáo sư văn hóa vụ ngòai một số dân sự như chúng tôi ra, đa số là các giáo sư bị động viên rồi được biệt phái lên giảng dạy tại trường và họ phải mặc quân phục, theo kỷ luật quân đội như trong một quân trường. Còn chúng tôi vẫn mặc thường phục và chỉ có mặt ở trường khi có giờ dạy mà thôi.
Tướng Lâm Quang Thi, sau khi trình bày một số vấn đề liên quan đến việc dạy dỗ sinh viên, ông nhìn qua mấy anh em dân sự và nói: “Tôi muốn kể từ tuần tới, các vị giáo sư dân sự nầy phải hớt tóc ngắn như các vị sĩ quan, chứ không thể để tóc dài chải tém như thế nầy được.”
Tôi cảm thấy đây là một mệnh lệnh không hữu lý nên xin phát biểu. “Thưa Thiếu Tướng, chúng tôi là các giáo sư dân sự, hiện đang dạy tại Đại học Đà lạt, được Bộ Quốc Phòng điều qua dạy văn hóa tại Trường Võ Bị nầy. Xin Thiếu Tướng cho phép chúng tôi được hớt tóc theo kiểu dân sự. Thiếu tướng nghĩ sao khi chúng tôi mặc veston, cà vạt mà lại hớt tóc qúa ngắn theo kiểu các sĩ quan thì coi sao được”. Nghe xong,Thiếu Tướng Thi im lặng…
Sau khi cuộc họp giải tán, Bùi Đình Rị đến nói với tôi; “Sao cậu liều vậy, ông Tướng sẽ đì cậu sói trán.”
Những ngày sau đó tôi cũng lo lắng không biết rồi ông Tướng sẽ có biện pháp gì với mình đây? Với quyền uy sinh sát trong tay, vị Tứơng chỉ huy của ngôi trường nầy có thể đẩy đưa định mệnh của đời tôi vào ngõ tối… Tôi lo lắng chờ đợi. Nhiều lần tôi định mang bức thư của Nghị sĩ đệ I Phó Chủ Tịch Thượng Viện gởi gắm để trình lên ông. Nhưng mỗi lần như thế lương tâm tôi lại chống đối.
Nhiều bạn giáo sư đang khoác áo sĩ quan trong Văn Hóa Vụ cũng nói với tôi là cậu liều quá, chống lại lệnh của vị tướng chỉ huy trưởng như vậy là sẽ lãnh đủ…
Tôi chờ đợi… Một tuần, rồi hai, ba tuần… Không có gì xẩy ra cả. Tôi vẫn lên bục giảng và tiếp tục trách nhiệm giảng huấn của mình.
Vào giữa năm 1971, tôi đổi về dạy tại trường Đại học Văn khoa Huế và tại đây trong một dịp đón tiếpTrung Tướng Lâm Quang Thi, bấy giờ là Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đòan I, đến thăm viếng Đại học Huế, chúng tôi lại được dịp găp nhau và Tướng Thi rất vui vẻ: “Lại gặp ông giáo sư ở đây nữa rồi…”
Khi qua Hoa kỳ vào cuối năm 1994, tôi có dịp gặp lại Tướng Lâm Quang Thi nhiều lần trong các cuộc họp mặt gia đình Võ Bị Đà lạt tại San Jose . Và trong một dịp ra mắt sách năm ngoái tại Trung tâm Vivo về cuốn “Hell in An loc” của ông, tôi đã kể lại câu chuyện trên đây và hướng về ông Tướng, nguyên chi huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia, tôi phát biểu: “Thưa Trung Tướng, trong lòng tôi luôn giữ mãi niềm cảm phục đối với vị Tướng mà đã có lần trong đời mình làm việc dưới quyền. Lòng cao thượng và sự độ lượng của Trung Tướng mà tôi được cảm nghiệm, sống mãi trong tâm tư mình từ ngày ấy cho đến nay, dù biết bao đổi thay đi qua trong một đời người. Đằng sau khuôn mặt lạnh lùng của một vị Tướng với quyền uy sinh sát trong tay là một con người vị tha, đầy nhân bản. hình ảnh nầy của Tướng Lâm Quang Thi đã theo tôi từ tuổi thanh xuân cho đến bây giờ…

Những ngày tháng ở Đà Lạt thật là tuyệt diệu. Thời khắc biểu hàng tuần của tôi vào những ngày thứ hai, tư, sáu là dạy tại Trường Võ Bị về môn quân sử học cho năm thứ 3 và 4 thuộc khóa 22B, khóa 23, 24…. Thứ ba và thứ năm, phụ trách giảng dạy môn “34 năm cầm quyền của Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725 )” cho sinh viên năm cuối ngành Cử Nhân Sử Học, và môn Phương Pháp Sử cho sinh viên năm thứ nhất. Tôi luôn luôn mặc veston, thắt cà vạt, khuôn mặt lúc nào cũng cố giữ nghiêm nghị vì nhiều sinh viên lúc đó lớn tuổi hơn tôi, (một số vị là linh mục, là đại đức, và có các vị đã là giáo sư của các trường trung học …), điều nầy khiến một số bạn bè thường đùa là tôi đã già trước tuổi.
Mỗi buổi sáng, trường Võ Bị đều có xe búyt đưa rước các giáo sư và nhân viên hành chánh từ thành phố đến trường vào lúc 7:00 trước chợ Hòa Bình và trở lại thành phố khỏang 4:30 chiều. Đi xe búyt thì ấm áp vô cùng vì trời Đà lạt rất lạnh vào sáng sớm nhưng cũng có điều bất tiện là phải đúng giờ và phải đến chiều khi tan sở mới trở về. Trong khi chúng tôi, có những lúc chấm dứt giờ dạy rất sớm. Vì thế, sau đó tôi đã sử dụng xe Honda để đến trường, nhưng phải trùm đầu, nai nịt thật ấm, hai tay phải mang găng mới dám vượt đọan đường khá xa từ Phan Đình Phùng (đọan gần Bệnh Viện thành phố), vòng quanh bờ hồ Xuân Hương, vượt qua nhà ga Đà Lạt, qua hồ Than Thở, rồi mới tới khu đồi của trường Võ Bị… Lạnh ơi là lạnh, nhưng cảm giác vô cùng thú vị.
Tôi đã dạy học ở đây gần hết một niên khóa. Mùa hè năm 1969, tôi quyết định về Huế cưới vợ. Nhà tôi là một nữ sinh trường Đồng Khánh, tôi quen trước đó ba năm, và đang là sinh viên năm thứ nhất trường Đại Học Khoa Học Huế. Lễ cưới của chúng tôi được cử hành vào tháng 5 tại tư gia và buổi tiếp tân vào buổi chiều được tổ chức tại Câu Lạc Bộ Thể Thao Huế bên cạnh dòng Hương giang thơ mộng.
Vài hôm sau, nhà tôi theo tôi lên Đà Lạt. Một kỷ niệm đáng nhớ, bạn bè chúng tôi đã tổ chức một bửa tiệc ra mắt cô dâu, hiền thê của tôi. Tham dự gồm quý bằng hữu, các sinh viên Sử học mà tôi đang dạy tại trường Văn Khoa, cùng sinh viên đại diện các khóa của trường Võ Bị Đà Lạt. Ấn tượng sâu sắc mà tôi và nhà tôi không thể nào quên là khi phái đoàn đại diện của trường Võ Bị đến tham dự, do SVSQ Lê Viết Đắc khóa 22B hướng dẫn (anh Đắc hồi đó là Trung đoàn phó trung đòan SVSQ), trong bộ dạ phục màu rêu nhạt với gù vai alpha màu đỏ rất đẹp. Mọi người tham dự lúc đó đều tự động đứng lên vỗ tay chào đón nồng nhiệt khi các anh em SVSQ bước vào phòng hội (một điều rất tình cờ là anh Đắc trước đây khi còn ở Huế là thầy dạy toán cho nhà tôi trong một lớp luyện thi). Chiều ngày hôm sau, tại quán cà phê Thủy Tạ trên bờ hồ Xuân Hương, các sinh viên ban Sử Học lại dành cho nhà tôi một buổi đón tiếp rất thân tình mà chúng tôi không thể nào quên dù đã hơn bốn mươi năm trôi qua kể từ ngày ấy.
Có lần vào dịp cuối tuần, tôi dẫn nhà tôi vào thăm ngôi trường Võ Bị. Từ nhà khách ở ngay trước cổng trường, tôi chỉ cho nhà tôi ngọn núi cao nhất được gọi là đỉnh Lâm Viên đang ẩn hiện trong sương chiều mà tất cả khóa sinh Võ Bị đều phải chinh phục được trước khi làm lễ gắn alpha để thực thụ trở thành SVSQ của một trường Võ Bị danh tiếng nhất Đông Nam Á nầy.
Cuối năm 1969, sinh viên sĩ quan khóa 22B làm lễ ra trường. Đó là khóa đầu tiên cho chuơng trình 4 năm để nhận lãnh văn bằng tốt nghiệp, được Hội Đồng Liên Viện Đại Học Quốc Gia công nhận tương đương với Cử Nhân Khoa Học Nhân Văn và văn bằng Kỹ Sư Tạo Tác. Ngày lễ tốt nghiệp chính thức là ngày 12 tháng 12 năm 1969. Đêm trước đó là lễ truy điệu những anh hùng tử sĩ đã vị quốc vong thân… Không khí vô cùng trang nghiêm, uy nghi và hết sức cảm động. Lễ tốt nghiệp chính thức được tổ chức dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Vũ Đình Trường. Sau khi Quốc Kỳ và Quân Kỳ được rước qua lễ đài, cuộc diễn binh hùng tráng với những bước chân oai phong và lẫm liệt của các chàng trai Võ Bị trong bộ lễ phục màu trắng, giây biểu chương màu vàng, gù vai alpha và rua màu đỏ rực, đã khiến bao người tham dự hết sức xúc động và vô cùng hãnh diện. Những chàng trai nầy quả là niềm hy vọng của Tổ Quốc ngày mai. Họ là những cán bộ lãnh đạo tương lai của đất nước với kiến thức vững chải về quân sự, cùng với trình độ học vấn của bậc đại học. Khi Tổng Thống gắn cấp bậc Thiếu Úy cho sinh viên Nguyễn Đức Phống, anh đã nhận cung tên để bắn đi bốn phương trời tượng trưng cho chí nam nhi tang bồng hồ thỉ. Các SVSQ khóa 22B quỳ xuống để nhận lãnh cấp bậc Thiếu Úy và đứng lên để trở thành tân sĩ quan hiện dịch của QLVNCH.
Ngồi trên lễ đài dành cho gíao sư Văn Hóa Vụ, nhà tôi và tôi chăm chú theo dõi diễn tiến buổi lễ với niềm cảm xúc dâng trào… (Sau này, khi nghe tin anh Nguyễn Đức Phống, sinh viên tốt nghiệp thủ khoa, đã tử trận trong khi tham dự trận đánh ở biên giới Việt Miên vào khỏang tháng 7 năm 1970, tôi hết sức bàng hòang và đau đớn, thương tiếc một cựu sinh viên, thông minh tài ba mà mệnh bạc…).
Bây giờ, trên xứ lạ quê người, khi tóc đã hoa râm, ngồi đếm bóng thời gian chờ ngày trở về với cát bụi, lòng người đôi khi chùng xuống với những hồi ức xa xăm của một thời trai trẻ. Những buồn vui nhiều khi cuồn cuộn trở về… Nhớ nhớ quên quên… Ghi lại những gì trong miền ký ức xa xôi ấy để được tâm sự với người thân, với bằng hữu, và cũng là một cách nào đó, cho mình được sống lại với những hoài bão không thành của một thời vang bóng…

San Jose , những tháng ngày đi qua…

Lê Đình Cai (*) Văn bằng Cao học nầy, hiện nay trong nước gọi là văn bằng Thạc sĩ.

Tâm sự một tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa về ngày 30/4

Vietnam War
 
 
Tướng Lâm Quang Thi là tác giả tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn “The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon”và cuốn “Hell in An Lộc: The 1972 — Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam”, xuất bản hồi năm ngoái.
Tướng Lâm Quang Thi: “Tiếc thay, người Mỹ không có cái gan để đi ra Bắc, tiêu diệt ý chí chiến đấu của Hà Nội mà cũng không có sự kiên nhẫn để yểm trợ miền Nam trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống cộng sản.”

Tướng Lâm Quang Thi là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam. Ban Việt ngữ-VOA tiếp xúc với Tướng Lâm Quang Thi, vài ngày trước lễ mừng sinh nhật thứ 80 của ông.

VOA: Thưa, trước hết xin Trung Tướng cho biết ông có suy nghĩ gì về ngày 30 tháng Tư, 37 năm sau khi Sài Gòn thất thủ?

Tướng Lâm Quang Thi: “Mỗi lần 30 tháng Tư tới thì tôi lại vừa buồn vừa tức giận. Buồn vì bao nhiêu đồng bào mình phải bỏ nước ra đi, một số chết trên biển cả, và một số anh em chiến hữu của tôi thì bị Cộng sản nó bắt, tra tấn, đày đọa trong các trại tù ở Bắc Việt. Và tôi tức giận là bởi vì đồng minh của mình nó bỏ rơi mình trong những giờ phút đen tối nhất của lịch sử nước nhà.”

VOA: Thưa, như Trung Tướng nói, biết bao thảm họa đã xảy đến cho quân và dân miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư, thì trong tư cách một tướng lãnh, Trung Tướng có cảm thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn so với những người khác về những gì đã xảy ra?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi không phải là một chánh trị gia, nhưng với tư cách một tướng lãnh đã cầm quân, tôi thấy mình có phần nào trách nhiệm cũng như tất cả các tướng lãnh khác, các chỉ huy trưởng các đại đơn vị khác cũng phải có trách nhiệm phần nào về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.”

VOA: Thưa Trung tướng, là tác giả cuốn Autopsy: The Death of South Vietnam, phân tích sự cáo chung của miền Nam Việt Nam, xin Trung Tướng tóm tắt cho thính giả của đài chúng tôi một số nguyên do chính dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ Sàigòn?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi thấy rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam có 2 lý do chánh. Thứ nhất là người Mỹ họ không có một nhiệm vụ rõ ràng ấn định cho quân lực của họ, tức là cái “mission” không được định nghĩa rõ ràng. Theo tôi nghĩ, người Mỹ chỉ có 2 sự lựa chọn: thứ nhất là đi ra Bắc, tiêu diệt ý chí chiến đấu của Hà nội; hoặc là ở trong Nam thì phải có đủ kiên nhẫn để ủng hộ và yểm trợ một chánh phủ miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chiến đấu trường kỳ ở miền Nam. Nhưng mà tiếc thay người Mỹ không có cái gan để đi ra Bắc, mà lại không có sự kiên nhẫn để ở lại trong Nam. Đó là cái lý do thứ nhất. Thứ nhì là cơ quan truyền thông của Mỹ rất thiên vị, có thể nói là thiên tả, thành thử ra tất cả những gì xảy ra đều có thể bị bóp méo để chứng minh rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể nào thắng bởi vì quân đội Việt Nam chiến đấu kém và tham nhũng. Cái đó là tiền đề của truyền thông Mỹ, thành thử ra tất cả những sự kiện xảy ra mà đúng vào tiền đề đó thì họ dùng. Còn nếu không đúng thì họ có thể bóp méo để chứng minh tiền đề là chiến tranh Việt Nam không thể thắng được. Chẳng hạn như Tết Mậu Thân, Việt Cộng sát hại 5, 6 ngàn người dân vô tội ở Huế mà truyền thông Mỹ không nói tới. Trong lúc đó ông Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan ông ấy hành quyết một tên đặc công cộng sản thì nó đưa lên, được Giải Pulitzer đủ thứ trò, mà họ không nói rằng anh cộng sản đó đã tàn sát bao nhiêu gia đình cảnh sát của Tướng Loan ở Chợ Lớn.”

VOA: Thưa ông, ngoài vai trò của giới truyền thông phản chiến Mỹ, ngoài vai trò của người Mỹ mà Trung Tướng cho là không định nghĩa rõ ràng cái “mission”, thì thưa Trung Tướng, cái trách nhiệm của chính phủ Việt nam Cộng hòa nằm ở chỗ nào trong sự thất bại của miền Nam?

Tướng Lâm Quang Thi: “Thành thật mà nói rằng tất cả vấn đề viện trợ quân sự cũng như là tài chánh đều do người Mỹ cung cấp. Nếu họ rút tất cả những viện trợ đó thì chúng ta không còn khả năng để chiến đấu, chẳng hạn như trong trận chiến An Lộc năm 1972, không có quân đội Mỹ nào dưới đất mà mình chỉ có sự yểm trợ bằng không lực của Hoa Kỳ mà Sư đoàn 5 bộ binh của chúng ta đã chiến đấu và đã chiến thắng 3 sư đoàn Bắc Việt. Tôi tin chắc rằng nếu tiếp tục có được sự viện trợ hỏa lực của Mỹ thì quân lực Việt nam Cộng hòa sẽ đánh bại những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt. Tới năm 1974-75 thì viện trợ Mỹ đã rút xuống chỉ còn 700 triệu đôla mà trong 700 triệu đôla đó, 400 triệu đôla được dùng để phát lương cho nhân viên Tùy viên Quân lực Hoa Kỳ -DAO (Deputy Attaché Office), mình còn có 300 triệu đôla để đánh giặc trong một năm. Trong lúc đó, Do thái trong trận Yom Kippur năm 1973, Do Thái nhận viện trợ được 2 tỉ mốt mỹ kim để đánh giặc trong 3 tuần lễ! Thành thử ra lúc đó miền Nam đạn dược, súng trường cũng thiếu, lựu đạn cũng thiếu nữa, thì làm sao mà đánh giặc được! Mình không có cách nào có thể đương đầu được với một quân đội Bắc Việt được Nga Sô và Trung Cộng viện trợ ào ạt từ năm 1974 tới 1975. ”

VOA: Vậy giới lãnh đạo chính trị của miền Nam có lệ thuộc quá đáng vào viện trợ Mỹ mà không tự lực cánh sinh được?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tự lực cánh sinh, theo tôi cũng khó khăn là bởi vì trong lúc cộng sản Hà nội được sự viện trợ ào ạt của Nga Xô và Trung Cộng thì miền Nam Việt Nam chúng ta cần có một sự viện trợ của thế giới tự do mới có thể đương đầu được.”

VOA: Xin phép được hỏi một câu hơi có tính cách cá nhân. Thưa, được phong hàm Tướng từ thời còn rất trẻ, cuộc đời của Trung Tướng gắn liền với Quân lực Việt nam Cộng hòa, Trung Tướng có kỷ niệm nào muốn chia sẻ với Đài VOA về cuộc đời binh nghiệp của mình?

Tướng Lâm Quang Thi
: “Tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của tôi không phải là cầm quân mà thực sự tôi được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Lúc bấy giờ chương trình tăng lên từ 2 năm tới 4 năm và tôi đã tranh đấu hết sức để các sĩ quan tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia được hưởng bằng cấp Cử nhân Khoa học Ứng dụng, tương đương với Trường Võ Bị West Point của Hoa Kỳ. Đó là cái niềm hãnh diện nhất của tôi trong cuộc đời binh nghiệp”

VOA: Thưa Trung Tướng, Hoài Hương xin lỗi trước nếu câu hỏi này có gợi lại cho Trung Tướng những điều đau lòng, nhưng Hoài Hương có đọc một bài viết của Andrew Lâm kể lại cảnh Trung Tướng đã vất khẩu súng riêng trên chuyến tàu lúc bỏ nước ra đi, thành ra có lẽ nhiều độc giả cũng có thắc mắc như Hoài Hương, không biết lúc đó Trung Tướng nghĩ gì và có những cảm xúc như thế nào?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi rời Việt Nam ngày 30 tháng Tư trên chiếc tàu Hải Quân 2, và khi đoàn của Hải quân Việt Nam đến Phi Luật Tân thì chính phủ Phi Luật Tân không muốn thấy một Hải quân ngoại quốc tiến vào hải cảng của họ, cho nên Hải quân Việt Nam phải chuyển tất cả tàu bè lại cho Mỹ, và các sĩ quan trên tàu cũng phải mặc thường phục, trong khi tất cả những vũ khí trên tàu phải bỏ hết, thành thử tôi cũng phải tuân theo điều lệ đó. Tôi bỏ khẩu súng lục của tôi xuống biển Thái bình dương, tôi rất là, hết sức là đau lòng. Tới bây giờ mỗi lần nghĩ tới cái…cảnh đó, tôi vẫn còn thấy đau, nhất là khi mà quốc kỳ Việt Nam phải kéo xuống để kéo lá cờ Mỹ lên trước khi vào hải cảng Subic Bay của Phi Luật Tân. Thành ra cái đó là một cái kỷ niệm hết sức đau đớn đối với tôi, và tôi nghĩ cũng đau đớn đối với tất cả các tướng lãnh và các sĩ quan khác.”

VOA: Xin cám ơn Trung Tướng đã chia sẻ với thính giả của VOA những cảm xúc của mình lúc rời bỏ đất nước ra đi, thưa Trung Tướng, người tỵ nạn Việt Nam, dù lưu lạc tới nước nào cũng phải bắt đầu lại cuộc đời từ con số không, được biết Trung Tướng đã đi học lại để lấy bằng MBA ở Hoa Kỳ, vậy xin Trung Tướng kể lại những kinh nghiệm của ông trong thời gian đầu của cuộc đời tỵ nạn, và động lực nào đã thúc đẩy ông không ngừng phấn đấu?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi qua đây cũng nhờ hệ thống của Trường Võ Bị West Point bởi vì giữa Trường Võ Bị Việt Nam và Trường West Point có những liên hệ hết sức là gắn bó. Chính ông Chỉ huy trưởng Trường West Point, cũng là bạn của tôi ở Việt Nam, ông đã tìm cách để cho tôi có một địa vị xứng đáng trong hệ thống ngân hàng của nước Mỹ, và vì tôi có một địa vị tốt ở Mỹ, tôi phải đi học nên tôi tiếp tục học và lấy được bằng MBA. Tôi đã làm việc hết sức chăm chỉ và có thể nói là thành công trong cuộc đời của tôi bên Mỹ.”

VOA: Thưa Trung Tướng, vào tuổi này, ông có hoài bão gì cho tương lai?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi tin tưởng rằng thế nào cũng có ngày chúng ta có dịp trở lại thăm viếng một nước Việt Nam độc lập, tự do và không cộng sản. Đó là cái hoài bão cuối cùng của tôi và tôi tin chắc thế nào cũng thực hiện được.”

Thưa quý vị, vừa rồi là cuộc phỏng vấn với Trung Tướng Lâm Quang Thi, cựu Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam ở Đà Lạt, từng là Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh ở Sa Đéc và Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân đoàn 1 tại Huế. Tướng Lâm Quang Thi cư ngụ ở bang California và là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon và cuốn Hell in An Lộc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam, xuất bản hồi năm ngoái.

 
Hoài Hương — Voice Of America
 

9 Bài Bình Luận Về Cộng Đảng Trung Quốc – Bản Việt Ngữ

(1) Đảng cộng sản là gì?

(2) Cộng sản Trung Quốc xuất sinh như thế nào?

(3) Chính quyền bạo lực

(4) Một lực lượng phản vũ trụ

(5) Giang Trạch Dân và đảng cộng sản lợi dụng nhau đàn áp Pháp Luân Công

(6) Phá hoại văn hoá dân tộc

(7) Lịch sử giết chóc

(8) Bản chất tà giáo

(9) Bản tính lưu manh

Mặt Trận Tân Cảnh Và Tư Lệnh Chiến Trường: Từ Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển Đến Đại Tá Lê Ðức Ðạt

Trước những tín hiệu báo động về các cuộc chuyển quân ồ ạt của CSBV vào tháng 2/1972, bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã tăng cường lực lượng phòng thủ ở mặt trận phía Bắc tỉnh Kontum: trung đoàn 47 Bộ binh/Sư đoàn 22 Bộ binh cùng với bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn, và một thành phần Tiếp vận từ Bình Ðịnh lên khu vực Tân Cảnh Dakto. Tại Tân Cảnh, bộ tư lệnh Tiền phương đóng chung với bộ chỉ huy trung đoàn 42 Bộ binh—một trong 4 trung đoàn cơ hữu của sư đoàn—đã đóng quân tại đây từ trước. Căn cứ này gần ngã ba Quốc lộ 14 và Tỉnh lộ 512. Toàn bộ cuộc chuyển quân hoàn tất vào ngày 8 tháng 2/1972. Ðến ngày 1 tháng 3/1972, Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển—tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh bàn giao chức vụ chỉ huy sư đoàn này cho Đại Tá Lê Ðức Ðạt tư lệnh phó Sư đoàn để về bộ Tổng Tham Mưu nhận chức tham mưu phó Hành quân.

Ngay sau khi nhận chức tư lệnh, Ðại Tá Ðạt đã điều động các phòng tham mưu chính lên Tân Cảnh, bộ Tư lệnh Tiền phương trở thành bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn. Theo lời kể của cựu Đại Tá Trịnh Tiếu, nguyên trưởng phòng 2 Quân đoàn II và của một số sĩ quan cao cấp Sư đoàn 22 Bộ binh, khi đảm nhận chức vụ tư lệnh Sư đoàn, Đại Tá Lê Ðức Ðạt đã không có được yểm trợ của cố vấn trưởng Quân đoàn II—John Paul Vann như ông ta đã dành cho Đại Tá Lý Tòng Bá, tân tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, lại còn bị vị cố vấn này gây nhiều khó khăn trong chỉ huy và điều hợp các đơn vị. Như chúng tôi đã trình bày sơ lược trong loạt bài “Chiến trường Việt Nam, 30 năm nhìn lại”, do bất bình với Trung Tướng Ngô Dzu, tư lệnh Quân đoàn II, đã không sắp xếp nhân sự giữ chức tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ Binh theo ý của cố vấn trưởng, ông John Paul Vann đã từ chối yêu cầu của Tướng Dzu về kế hoạch dội B-52 “dập nát” hai sư đoàn Cộng quân đang bao vây Sư đoàn 22 Bộ binh, dẫn đến hậu quả là sư đoàn này đã bị bức tử.

Theo các tài liệu tổng hợp, chi tiết về chuyện bất đồng này đã diễn ra như sau: vào tháng 2/1972, ông John Paul Vann với chức danh cố vấn trưởng Quân đoàn 2 đã yêu cầu Trung Tướng Ngô Dzu phải thay thế hai vị tướng đang giữ chức tư lệnh hai sư đoàn của Quân đoàn II: Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển—tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh và Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh—tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh (tướng Cảnh thăng thiếu tướng vào tháng 4/1974 khi đang giữ chức vụ phụ tá đặc biệt của Tổng trưởng Nội vụ). Lý do ông John Paul Vann đưa ra là hai vị tướng này đã lớn tuổi cần được thay thế bởi các sĩ quan trẻ hơn. Vị cố vấn trưởng Quân đoàn đề nghị Đại Tá Lý Tòng Bá và Đại Tá Lê Minh Ðảo thay Tướng Triển và Tướng Cảnh. Sự tiến cử của ông John Paul Vann đã không được Trung Tướng Ngô Dzu đồng ý. Tướng Dzu nói với ông John Paul Vann rằng việc bổ nhiệm tư lệnh Sư đoàn là do Tổng Thống VNCH quyết định, hơn nữa hai Tướng Triển và Cảnh không phạm lỗi gì, nên không thể đề nghị thay đổi được. Tuy nhiên ông John Paul Vann làm áp lực đòi Trung Tướng Dzu phải thay thế hai vị tư lệnh Sư đoàn. Tướng Ngô Dzu hỏi tại sao ông John Paul Vann lại nằng nặc đề cử Đại Tá Bá và Đại Tá Ðảo mà ông đề cử một số đại tá trẻ và giỏi đang phục vụ tại Quân đoàn II, vị cố vấn trưởng này trả lời: Ðại Tá Lý Tòng Bá và Đại Tá Lê Minh Ðảo là các sĩ quan trẻ, năng động và kinh nghiệm chiến trường mà tôi đã biết tại Quân đoàn 3. (Ông John Paul Vann nguyên là trung tá Cố vấn trưởng Sư đoàn 7 Bộ binh trong thời gian 1961-1962, thời kỳ Tướng Huỳnh Văn Cao còn là đại tá tư lệnh Sư đoàn; sau đó, ông giải ngũ và về Hoa Kỳ. Năm 1966 ông trở lại Việt Nam, từ 1967-1969, với tư cách là quan chức dân chính cao cấp của Hoa Kỳ, ông chỉ huy cơ quan CORDS tại Vùng III chiến thuật, khi được bổ nhiệm làm cố vấn trưởng Quân đoàn II, ông được hưởng quyền lợi ngang hàng với một thiếu tướng Hoa Kỳ.)

John Paul Vann (mặc đồ dân sự) và các cố Vấn Mỹ

Cuối cùng, do tình hình quân sự ngày càng nghiêm trọng, đòi hỏi sự yểm trợ về Không quân của Hoa Kỳ qua trung gian của Cố vấn Quân đoàn, Trung Tướng Ngô Dzu đành phải thỏa mãn gấp các điều kiện của ông John Paul Vann, tuy nhiên vị tư lệnh Quân đoàn II cũng chỉ thỏa mãn một nửa số điều kiện của ông Paul Vann: ông đề nghị Tổng Thống VNCH bổ nhiệm Đại Tá Lý Tòng Bá giữ chức tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh thay vì tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh như đề nghị ban đầu của ông John Paul Vann, và Đại Tá Lê Ðức Ðạt—tư lệnh phó Sư đoàn 22 BB giữ chức tư lệnh Sư đoàn này. Giải pháp 50% của Trung Tướng Ngô Dzu vẫn không làm vừa lòng ông John Paul Vann, ông rất giận Tướng Dzu vì đã không cử Đại Tá Lê Minh Ðảo làm tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh khi Đại Tá Bá đã được đề nghị chỉ huy Sư đoàn 23 Bộ binh. Do đó, ông John Paul Vann đã trút tất cả sự bức tức lên Đại Tá Ðạt. Theo giải thích của cựu Đại Tá Trịnh Tiếu thì sở dĩ Tướng Dzu cử Đại Tá Lê Ðức Ðạt vì Đại Tá đang là tư lệnh phó Sư đoàn lên thay tư lệnh Sư đoàn là điều hợp lý. Hơn nữa Đại Tá Ðạt rất thân với Đại Tướng Cao Văn Viên, nên Tướng Dzu nghĩ rằng khi Đại Tá Ðạt lên làm tư lệnh mặt trận thì Đại Tướng Viên sẽ yểm trợ tối đa cho Đại Tá Ðạt. (Cũng cần ghi nhận rằng trong khoảng thời gian 1965, khi Đại Tướng Cao Văn Viên còn là Thiếu Tướng tư lệnh Quân đoàn III & Vùng III chiến thuật thì Đại Tá Ðạt là tỉnh trưởng/tiểu khu trưởng Phước Tuy với cấp bậc trung tá).

Ngày cuối cùng của Đại Tá Lê Ðức Ðạt và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 BB

Trở lại với chiến trường Tân Cảnh, trước khi Cộng quân mở cuộc tấn công cường tập vào căn cứ này, lực lượng bố phòng tại đây gồm có trung đoàn 42 Bộ binh, hai pháo đội 105 và 155 ly, một chi đội M 41 và một chi đội M-113, một đại đội Công Binh chiến đấu. Ngày 23 tháng 4/1972, lực lượng Cộng quân gồm các đơn vị của sư đoàn 2 CSBV phối hợp với các đơn vị đặc công, thiết giáp CQ thuộc B3 đã khởi động cuộc tấn công ở vòng đai Tân Cảnh. Trong ngày 23 tháng 4/1972, Cộng quân đã pháo kích dồn dập vào căn cứ. Ðịch quân mở một trận hỏa công bằng đủ loại pháo, trong đó có hỏa tiễn dây điều khiển Sagger 13 để làm tê liệt các chiến xa và công sự chiến đấu của lực lượng trú phòng. Từng chiến xa M 41 đang nằm trên các vị trí phòng ngự để bảo vệ Trung tâm Hành quân Sư đoàn đều bị trúng đạn. Tiếp đó, vào 10 giờ 30, trung tâm Hành quân cũng bị trúng đạn địch bắn trực xạ, hệ thống truyền tin bị hủy hoại, một số quân nhân thương vong.

Hoả tiễn AT-3 Sagger của Cộng quân

Buổi trưa, với sự giúp đỡ của các cố vấn Hoa Kỳ, một trung tâm Hành quân tạm thời đã được thiết lập chung với trung tâm Hành quân Sư đoàn 22 Bộ binh với các máy móc truyền tin lấy từ hệ thống dành cho các Cố vấn. Thế nhưng, Đại Tá Lê Ðức Ðạt tư lệnh Sư đoàn đã từ chối cùng với các sĩ quan Hoa Kỳ trong ban Cố vấn Sư đoàn đến làm việc tại trung tâm Hành quân mới, ông ở lại bộ chỉ huy cũ đã bị tan hoang cùng với vị Đại Tá Tôn Thất Hùng, tư lệnh phó, vài sĩ quan thân tín trong bộ Tham mưu cùng với một máy truyền tin liên lạc.

Buổi chiều, Đại Tá Lê Ðức Ðạt cho lệnh các pháo đội của Sư đoàn phản pháo vào các vị trí tình nghi là pháo binh của địch đặt súng, nhưng không có kết quả. Cùng lúc đó, từ trung tâm Hành quân mới, các cố vấn Hoa Kỳ đã hướng dẫn Không quân thực hiện phi vụ không yểm, oanh kích vào các mục tiêu của Cộng quân dựa theo báo cáo của các cố vấn trung đoàn. Nỗ lực của các cố vấn Hoa Kỳ vẫn không có hiệu quả do thời tiết quá xấu đã hạn chế phần quan sát, ngoài ra hệ thống phòng không dày đặc của địch đã bắn chận các oanh tạc cơ và chiến đấu cơ của Không quân Việt-Mỹ.

Gần tối, một thành phần đặc công CSBV đã xâm nhập vào vòng đai phi đạo của căn cứ và đặt chất nổ phá hủy một bãi đổ đạn dược gần đường baỵ Trong khi đó, Cộng quân tiếp tục pháo kích dữ dội vào khu vực trung tâm của căn cứ. Vào nửa đêm, các đơn vị của trung đoàn 42 phòng thủ quanh vòng đai căn cứ quan sát thấy 15 chiến xa địch di chuyển theo hướng Nam đến Tân Cảnh. Trong tình hình nguy kịch, nên Sư đoàn 22 khó tiến hành một kế hoạch nào kịp thời để ngăn chận Cộng quân, ngoại trừ một trận pháo ở mức độ nhỏ của Pháo binh và đợt phản pháo dữ dội nhưng không có kết quả của đối phương, trong khi đó hai chiếc cầu trên Quốc lộ 14 ở hướng Nam đến Tân Cảnh vẫn để nguyên vẹn nên chiến xa của địch đã di chuyển dễ dàng trên lộ trình chuyển quân.

Khoảng 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4/1972, 15 chiến xa T 54 của Cộng quân bao vây căn cứ Tân Cảnh, vào lúc này 10 chiến xa M 41 và M 113 bảo vệ bộ Tư lệnh đã bị địch bắn cháy 8 chiếc, 2 chiếc còn lại thuộc Thiết đoàn 22 đã ở trong tình trạng bất khiển dụng vì bị đứt dây xích. Nhận thấy tình hình vô vọng, Đại Tá Kaplan—cố vấn trưởng Sư đoàn đã liên lạc khẩn cấp yêu cầu cố vấn trưởng Quân đoàn II bay lên cứu ông và toán cố vấn. Khoảng 4 giờ sáng, ông John Paul Vann lái trực thăng trinh sát đặc biệt OH-58 Kiowa loại mới nhất của Hoa Kỳ đáp xuống một bãi đáp rất nhỏ bên cạnh bãi mìn để bốc đại tá Kaplan.

Trước khi trực thăng đáp xuống, Đại Tá Kaplan đã đến báo cho Đại Tá Lê Ðức Ðạt và yêu cầu ông cùng lên trực thăng ứng cứu của ông John Paul Vann, nhưng Đại Tá Ðạt đã từ chối. Vị tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh đã biết rõ tình hình rất bi đát, thế nhưng ông vẫn không yêu cầu Trung Tướng Ngô Dzu cho trực thăng bay lên cứu. Ðại Tá Ðạt ra lệnh cho tất cả các quân nhân còn lại trong căn cứ tìm cách thoát ra ngoài căn cứ trước khi trời sáng. Ông bắt tay vĩnh biệt các sĩ quan và Đại Tá Hùng tư lệnh phó. Và, ông đã ở lại với Tân Cảnh. Theo lời kể của Đại Tá Kaplan và một số nhân chứng, Đại Tá Lê Ðức Ðạt đã tự sát sau khi căn cứ bị Cộng quân tràn ngập.

Về các sĩ quan trong bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh vượt thoát ra ngoài căn cứ, một số đã bị địch bắt. Còn Đại Tá Tôn Thất Hùng đã thoát được ra ngoài nhưng bị thương, Ông đã cố chạy vào một buôn Thượng gần đó. Nhờ nói được tiếng Thượng rất rành, nên đã được một gia đình người Thượng che dấu, chăm sóc, sau đó dẫn đường đưa ông về đến tỉnh lỵ Kontum sau 15 ngày đi loanh quanh trong rừng. (Ba tháng sau, đại tá Hùng cùng gia đình lên Pleiku để đền ơn gia đình người Thượng này, vào lúc đó đang sống trong trại tỵ nạn bằng một số tiền và vàng rất lớn.) Riêng với đại gia đình Sư đoàn 22 Bộ binh, ngày 24 tháng 4/1972 là ngày mà vị tư lệnh Mặt trận Tân Cảnh mùa Hè 72 đã vĩnh viễn ở lại với chiến trường.

Vương Hồng Anh

Sự Tích Gái Ngoan Dạy Chồng

Ngày xưa có một người đàn ông giàu, vợ chết sớm, chỉ có độc một người con trai. Đứa con vốn người xấu nết, đần độn, lại là tay chơi bời lêu lổng không chịu học hành hay làm ăn gì cả.

Thấy con không lo nối nghiệp nhà, người nhà giàu rất buồn phiền, biết rằng của cải của mình sẽ có một ngày đội nón ra đi mà thôị Bởi vậy, ông bèn tính chuyện kiếm cho con một người vợ khôn ngoan đảm đang, để may ra nó sẽ ngăn chặn tay chồng, bảo vệ một phần nào cơ nghiệp.

Nghĩ vậy, ông cất công đi khắp nơi tìm kiếm, nhưng đi đã nhiều nơi mà vẫn chưa thấy một người nào vừa ý.

Một hôm, đến một vùng kia, nhân mỏi chân, ông nghỉ lại một gốc đa bên đường. Ông bỗng thấy ở một cây táo gần đấy có một bọn trẻ đang tranh nhau trẩy ăn. Một chốc sau, một cô gái tuổi chừng đôi tám, cũng đến trẩy táọ Ông mới lân la lại gần hỏi xin ăn.

Lúc này, táo chín đã bị bọn người trước trẩy hết, chỉ còn những quả xanh, nhưng cô gái cũng cố chọn lấy những quả ương ương đưa cho khách.

Thấy cô gái tốt bụng, ông ta nghĩ: “Sởi lởi, trời gởi của cho, quăn co, trời gò của lạị Chỉ có người nào tốt bụng với mọi người mới xứng đáng được hưởng giàu có sung sướng”.

Bởi vậy, ông mới tìm đến nhà cô gái, giả làm một người lỡ độ đường, xin nghỉ trọ một tốị Và rồi ông được gia đình cô gái ân cần tiếp đãi.

Để thử xem cô gái có khôn ngoan không, ông lân la làm quen với nàng. Khi biết cô sắp đi chợ, ông đưa ra một quan tiền nhờ mua hộ cho mình “một nắm gió, một bó lửa”. Cô gái chẳng nói chẳng rằng, mua về cho ông một cái quạt và một con dao đánh lửạ Thấy thế, ông thầm khen ngợi, nhưng vẫn định thử thêm cho biết.

Qua ngày hôm sau, ông dậy sớm, giở tay nải đưa cho cô mấy bát gạo nếp, nhờ nàng thổi giúp cho mình một nồi vừa cơm vừa bánh để ăn và đem đi ăn đường. Cô gái không từ chối, vội lấy gạo ra vo. Trước khi cho vào nồi, nàng bớt lại một ít giã làm bột vắt bánh rồi hấp luôn vào cơm. Khi nàng bưng ra, ông già lấy làm vừa ý, cho là con người đó đủ cả đức hạnh, khôn ngoan, đảm đang ít có. Bèn quyết định trở về sửa soạn lễ hỏi cho con trai làm vợ.

Đứa con trai của ông từ ngày có vợ lại càng lêu lổng; hắn thường bỏ nhà đi đánh đàn, đánh đúm với bọn vô lại, làm cho ông hết sức buồn. Và điều làm ông lo lắng nhất là hắn thỉnh thoảng lại trộm tiền của ông, khi dăm bảy quan, khi một vài vác, tung vào cuộc đỏ đen. Mặc dù ông đánh đập, mặc dù vợ hắn khuyên lơn, nhưng hắn chứng nào vẫn tật ấỵ Dần dần ông buồn phiền thành bệnh. Một hôm, biết mình sắp chết, ông gọi con dâu đến bên giường dặn nhỏ:

– Này cha đã gần đất xa trờị Chồng con là một thằng “Phá gia chi tử”, cơ nghiệp này chỉ còn một sớm một chiều mà thôi. Cha rất thương con xấu số. Từ lâu cha làm ăn dành dụm, có để được một hũ vàng chôn ở sau vườn. Vậy cha cho riêng con hũ vàng đó, đừng cho chồng con biết. Sau này chồng con có thật sự ăn năn hẵng giúp cho nó làm lại cuộc đờị

Đứa con trai ông sau khi người cha qua đời, lại càng chơi bời mặc sức. Vợ hết khuyên lơn đến cầu khẩn, hắn chẳng những đã không nghe lại còn phũ phàng với vợ. Mỗi lần thua bạc, hai người lại càng xô xát. Nhiều lần vì vợ cản trở, hắn đánh đập vợ không tiếc tay và làm nhục nàng trước mặt mọi ngườị Một hôm để khỏi vướng, hắn viết giấy cho vợ đi lấy chồng khác rồi đuổi nàng ra khỏi cửa.

Từ đó, hắn phỉ chí tung hoành không một ai dám cản. Quả như lời đoán của bố hắn, mấy chục mẫu ruộng đều lần lượt “nướng” vào sòng bạc. Hết ruộng vườn tới nhà ở, chẳng bao lâu tất cả cơ nghiệp mấy đời lưu truyền lại đều sạch sành sanh. Cuối cùng không một đồng dính túi, không một nghề cầm tay, hắn đành bỏ làng mạc quê quán, đi lang thang khắp đầu đường xó chợ, ngửa tay xin ăn qua ngày.

Còn về người đàn bà sau khi bị chồng đuổi, mới đổi tên, tìm đến trấn thành mở một ngôi hàng nước. Sau ít lâu, kiếm được một số nhỏ, nàng bắt đầu buôn hàng tấm. Số vốn của nàng ngày một lớn dần. Một hôm, gặp hai em bé gái mồ côi đi ăn xin, nàng thương tình đưa về nuôi làm con, coi như ruột thịt. Cuộc đời dần dần nở hoa trước mắt nàng. Trong một dịp đi tìm kiếm củi, hai con nàng nhặt được một khúc gỗ mục, về chẻ ra thấy có mấy thoi vàng. Có vốn lớn lại có tài kinh doanh, nên chẳng bao lâu, nàng trở nên giàu có, nổi tiếng trong trấn. Tiền bạc tuôn về như nước. Tuy sống sung sướng nhưng nàng vẫn ở một thân một mình. Thấy nàng giàu có, nhiều kẻ ngấp nghé muốn “gá nghĩa Châu Trần”, nhưng người đàn bà ấy nhất thiết từ chối mọi lời đường mật. Mặc dù người chồng bạc bẽo và mặc dầu mười lăm năm xa cách, nàng vẫn không quên được tình xưa nghĩa cũ. Đã nhiều lần nàng thuê người lần đi các chợ búa phố phường dò hỏi nhưng tin tức của chồng càng hỏi, càng bặt tăm.

Năm ấy, sau mấy tháng hạn, lúa khoai chết mòn trên những cánh đồng nứt nẻ. Giá gạo cứ lên vùn vụt. Ngoài đường, người đi xin ăn kéo từng đoàn. Người đàn bà lúc này đã là bà chủ hiệụ Bà xin phép quan trên cho mình đem tiền gạo ra phát chẩn cho kẻ khó. Làm như thế, nàng còn mong một khi thấy yết thị dán khắp thôn xóm thì chồng mình tất sẽ lần mò về, nếu hắn còn sống. Y như thế thật, ngày bắt đầu phát, nàng đã thấy bóng dáng của chồng ngồi ở hàng cuối đội quân lĩnh chẩn. Đúng là hắn. Từ ngày bắt đầu cầm bị gậy đến nay, hắn vẫn chưa có cách gì để sống khá hơn và đỡ hèn hạ hơn trước. Bây giờ nghe nói có phát chẩn, hắn vội mò đến đây và ngồi đầu hàng về phía tả. Thế nhưng khi phát, những người giúp việc cho bà chủ hiệu lại được lệnh phát từ phía hữu lạị Khi sắp sửa đến lượt hắn thì bọn họ tự nhiên nói lớn:

— Hôm nay đã hết gạo, mời bà con về đợi đến ngày mai!

Hắn buồn bực trở ra. Qua ngày sau, hắn cố tìm đến thật sớm, ngồi vào đầu hàng bên hữụ Nhưng hắn không ngờ, những người phát chẩn hôm nay lại bắt đầu phát từ phía bên kia. Lúc sắp phát đến hắn thì chúng lại giơ thúng không lên:

— Hôm nay thế là lại hết gạọ Bà con hãy đợi đến mai.

Hắn thở than cho số đen đủi, lần trở ra về. Qua hôm sau, lại mò đến thật sớm. Lần này hắn len vào ngồi đúng chính giữa đội quân lĩnh chẩn. Trong bụng hắn nghĩ lần nầy thì không để mất phần được. Nhưng đến giờ phát, hắn không ngờ người nhà của bà chủ hiệu hôm nay lại phát hai đầu phát lại và cuối cùng người không được gì cả, vẫn lại là hắn. Ba lần hỏng cả ba, hắn rất ngao ngán, bèn đánh liều tìm đến dinh cơ bà chủ để xin ăn. Gặp hai đứa con gái nuôi của vợ, hắn ngả nón kêu van hết lờị Ở trong nhà; người đàn bà nhìn ra biết là chồng, đã do mưu của mình mà đến đây, bèn sai người hầu ra hỏi, xem hắn có biết làm việc gì không để thuê mượn. Nghe hỏi thế, hắn vội trả lời:

— Xin ông bẩm với bà lớn rủ lòng thương, cho tôi được ở hầu bà, rửa bát, quét nhà, mọi việc tôi đều xin hết sức. Chỉ cho tôi ăn ba miếng là đủ rồi!

Người nhà trở ra cho hắn biết bà chủ nhận lờị Từ đó, hắn chăm chỉ làm lụng, cố làm vừa lòng chủ. Nhưng chung quy hắn vẫn không biết chủ chính là vợ cũ của mình. Về phần người vợ cũng không hề để lộ một tí cho hắn biết, chỉ dặn hai con và người nhà đối đãi tử tế mà thôi. Sau một thời gian, thấy hắn chịu khó làm ăn, người đàn bà mừng lắm. Một hôm nàng cho gọi hắn lên nhà hỏi xem có biết chữ nghĩa gì không! Hắn đáp:

– Tôi lúc nhỏ được đi học có biết ít nhiều.

– Vậy từ mai trở đi, anh không hầu hạ nữa, cho anh ở gian nhà khách dạy đám trẻ học tôi sẽ trả mỗi năm ba mươi quan.

Nghe nói, hắn tưởng không có gì sung sướng hơn thế nữa, cảm thấy lòng nhân đức của bà chủ đối với mình bằng trời bằng biển, vội nhận lời ngay. Từ đó, hắn đóng vai thầy đồ cố sức làm cho chủ tin cậỵ Nhưng người vợ vẫn thử mãi không thôi.

Một lần, gặp ngày tết, bà chủ sai lấy tiền ra cho kẻ hầu người hạ. Nàng nói:

– Ta cho mỗi người năm quan, hãy mang đi đánh bạc cho vui, nếu hết sẽ cho thêm. Thầy đồ ta cũng được năm quan tiền. Nhưng trong khi mọi người đem tiền nướng vào xóc đĩa, bài mười, thì trái lại, hắn mang nguyên vẹn số tiền đó về gửi cho chủ. Bà chủ hỏi:

– Tại sao anh không thích đánh bạc? Hắn trả lời:

– Bẩm bà, tôi ngày xưa, vì cờ bạc mà đến nông nỗi nàỵ Cho nên bây giờ buộc chỉ cổ tay thề rằng không đụng đến nó.

Thế rồi luôn miệng, hắn kể hết cho chủ nghe, từ cuộc đời cũ có ruộng nhiều, có vợ ngoan như thế nào, rồi bán ruộng đuổi vợ ra sao, cho đến lang thang đói rách, và ngày nay đã ăn năn hối lỗi v.v… Bà chủ hỏi:

– Anh còn thương vợ nữa không? Hắn rầu rĩ:

– Tôi đã nhiều lần dò tìm mà không thấỵ

– Nghe anh nói tôi rất thương tình. Vậy tôi cho anh năm quan để anh đi tìm vợ. Nếu hết tiền mà vẫn chưa thấy, anh cứ về đây, tôi sẽ cho thêm mà tìm cho ra.

Hắn mừng rỡ vâng vâng, dạ dạ, mang tiền đi tìm. Nhưng sau ba tháng trở về với bộ mặt thiểu não, hắn cho chủ biết không hề thấy tung tích đâu cả, chắc là vợ hắn đã chết.

Từ đấy, vợ thấy chồng chí tình, lại có lòng tu tỉnh, nên rất mừng. Nhưng nàng vẫn chưa ra mặt vội, chỉ an ủi hắn hãy ở lại đây, may ra sẽ có ngày hội ngộ.

Một hôm, nhân ngày giỗ cha chồng, bà chủ nhờ thầy đồ chép bài văn tế. Hắn ta ngạc nhiên và bội phần mừng rỡ khi thấy bài vị của tổ tiên nhà chủ chính là bài vị tổ tiên mình. Lập tức, hai vợ chồng ôm nhau khóc lóc. Rồi sau khi cúng xong, họ mời làng xóm và người nhà ngồi lại kể rõ sự tình. Ai nấy đều cho là một cuộc tái ngộ hiếm có.

Về sau, hai vợ chồng dựng vợ gả chồng cho hai con nuôi, giao cửa hiệu lại cho chúng cai quản. Sau đấy, họ dắt nhau trở về quê hương xưa, chuộc lại vườn tược nhà cửa cũ. Và sau khi đã sống yên ổn ở quê nhà, vợ mới sai đào hũ vàng bố chồng cho mình ngày xưa lên. Nàng nói:

– Có vàng chưa chắc đã có hạnh phúc. Cho nên trong những cơn túng thiếu nhất, tôi vẫn không cần đến nó.

Nói đoạn, đem số vàng ấy cúng cho đền chùa để bố thí cho người nghèọ Từ đấy, hai vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc. Câu tục ngữ: “Làm trai rửa bát quét nhà. Vợ gọi thì ‘Dạ bẩm bà tôi đây!'” là do chuyện này mà ra.

Đà Lạt Xưa & Nay

Vài đoạn Video về cố Niên Trưởng Bùi Đình Đạm K1

Chuẩn bị cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 3

Tin Buồn

Lễ Phủ Kỳ Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm (phần 1)

Lễ Phủ Kỳ Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm (phần 2)

Chủ toạ Lễ Phủ Kỳ cho cố Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn (phần 3)

“Con có tội với bọn tham nhũng và bọn giặc Tàu, chứ không có tội với Tổ Quốc và Nhân Dân”

Phương Bích – Nhiều người đã viết về Phương Uyên, toàn những bậc lão làng thuộc hàng đại thụ cả. Tôi có viết nữa cũng bằng thừa vì đều chung cảm xúc. Nhưng nhìn bức ảnh chụp cô gái trước vành móng ngựa, lại xúc động đến trào nước mắt.
Bức ảnh đẹp quá. Có người bảo bức ảnh này đáng trao giải thưởng. Còn tôi nghĩ, nó sẽ nằm trong những bức ảnh đi vào lịch sử. Khuôn mặt cô gái trẻ căng đầy nhựa sống. Vẻ hồn nhiên, ngây thơ của tuổi đôi mươi qua 6 tháng bị giam trong tù, trở nên điềm đạm và rắn rỏi hơn xưa. Nhìn bức ảnh này, tôi chợt nhớ đến những vần thơ xa xưa từ thuở học trò: 
“Sao ơi, em là con bướm trắng 
Mắc giữa cành gai sắc dập vùi 
Bao giờ em hết đời tù ngục 
Về với lũ làng múa hát, ca vui?” 
Đó là những câu thơ trong bài “Chim Chơ Rao” của Tố Hữu (rất xin lỗi vì nhớ nhầm – bài thơ Chim Chơ Rao của nhà thơ Thu Bồn ạ ).
Đọc những căn cứ để buộc tội Phương Uyên, tôi lại nhớ đến câu nói của viên quản giáo trong nhà giam Hỏa Lò: “Nếu có tội thì chị có tội với đảng và nhà nước, chứ không phải có tội với chúng tôi”
Chính xác! Phương Uyên và Nguyên Kha cũng như nhiều người khác nữa, nếu họ chống tham nhũng, chống giặc Tàu xâm lược thì họ không có tội với nhân dân và đất nước này.
Báo An ninh thủ đô vừa giật tít bài về Phương Uyên : “Hot girl” vào tù vì tội tuyên truyền chống nhà nước
Tiến sỹ Nguyễn Hồng Kiên đã có lời bình: KHÔNG THỂ BÔI BẨN ĐƯỢC, KẺ CẢ KHI DÙNG TỪ “Hot girl”!
Rất đồng ý với tiến sỹ.

UAV – VN: Bất Nhất và Ngạo Mạn

“Lắp ráp thành công thì nói là Lắp ráp thành công, có sao đâu, chứ sao lại lu loa là Tự Chế tạo? Tự Chế tạo mà 2 bộ phận cốt lõi: 1. Động cơ thì mua của Nhật, 2. Cánh quạt mua của Pháp…và hầu như mọi linh kiện khác đều nhập từ nước ngoài! Ai lắp ráp (assemblage) được cũng đáng khen, nhưng Nổ lắp ráp thành chế tạo (invention) lại đáng khinh (nhất là tiếng Nổ lại từ chư vị Gs-Ts KHKT, KHCN, nhơn nhơn lấy tay che trời)!”

 

Hôm mồng 3 tháng 5 năm nay (2013), cái tin Việt Nam chế tạo và thử nghiệm thành công Máy bay không người lái (UAV: Unmanned Aerial Vehicle / Drone) trên mạng lề phải lẫn lề trái, đã nổi sóng phản hồi – đổ đồng là hô hô in ít, hu hu nhiêu nhiều. Sau khi đọc vài lần và nhờ Bác Gu-gồ chi li kiểm chứng nội dung bài của Facebooker Mạnh Kim, tạm chạy tựa là “Vu vạ như thế người ta cười cho”, tôi có du di còm như sau:

[“UAV VN: Tự Lắp ráp hay tự Chế tạo?

Mấy chiếc VN UAV TOY = 12 tỉ VND (= ± 600.000 Ô-ba-má)!

Lắp ráp thành công thì nói là Lắp ráp thành công, có sao đâu, chứ sao lại lu loa là Tự Chế tạo? Tự Chế tạo mà 2 bộ phận cốt lõi: 1. Động cơ thì mua của Nhật, 2. Cánh quạt mua của Pháp…và hầu như mọi linh kiện khác đều nhập từ nước ngoài! Ai lắp ráp (assemblage) được cũng đáng khen, nhưng Nổ lắp ráp thành chế tạo (invention) lại đáng khinh (nhất là tiếng Nổ lại từ chư vị Gs-Ts KHKT, KHCN, nhơn nhơn lấy tay che trời)!

Nếu cái clip VN UAV TOY này và các bài báo ở VN được dịch ra ngoại ngữ, xin lỗi, chẳng biết Fans YouTube sẽ chọn kiểu cười nào cho thật xứng với cái căn Nổ bất trị này của các Gs-Ts UAV, nói riêng.

Chư vị Gs-Ts UAV yêu quỉ ! Xin đừng tiếp tục mục hạ vô nhân, đừng kiên định cái cốt tự bỉ, tự lừa, tự sướng và khinh nhờn dân trí VN. Nhân dân VN đã ê chề với món thịt Lừa lắm rồi. Thời đại Nét niếc nổ tung toé như hiện nay mà cứ khư khư tư duy Bao cấp-Tem phiếu. Tội nghiệp quá!”]

*

Còm như trên tôi tự cho là đã đầy đủ, bao gồm tính ‘trung dung’. Nhưng (chữ này độc lắm), tối 07 và 08-5-2013, đọc bài “Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng và việc chế tạo UAV Việt Nam” trên PetroTimes, tôi buộc phải lòi ra bài này.

1. Bất nhất

Ông Ts Phạm Ngọc Lãng – chủ nhiệm đề tài UAV-VN (03-05-2013) tuyên bố với trang Tuổi Trẻ, nguyên văn:

“… mặc dù đề tài được duyệt năm 2011, nhưng thực tế các nhà khoa học bắt tay nghiên cứu từ năm 2008 và đến nay kết quả thực hiện đã “vượt xa yêu cầu, chế tạo thành công năm mẫu máy bay không người lái hạng siêu nhẹ”. Nhóm nghiên cứu khẳng định đã thiết kế, chế tạo thành công các mẫu máy bay này từ những vật liệu linh kiện cơ bản và không có bất kỳ bóng dáng chuyên gia hay cố vấn nước ngoài nào hỗ trợ, hoàn toàn 100% người Việt Nam.”

Còn trao đổi với trang Thanh Niên, ông Ts Lãng lại nói, xa hơn một chút:

“…UAV nói trên Việt Nam đã hoàn toàn tự thực hiện các khâu từ nghiên cứu, thiết kế cơ bản, thiết kế chế tạo, vật liệu composite… Các chi tiết cho bộ điều khiển bay tự động từ tụ điện, chipset… được nhập rời rạc, không sử dụng chung với những loại phổ thông sẵn có để phòng ngừa yếu tố can thiệp từ bên ngoài. Hai chi tiết duy nhất và cũng là quan trọng nhất mà Việt Nam chưa thể sản xuất được và phải nhập hiện nay là động cơ (từ Nhật) và cánh quạt (từ Pháp).”

2. Ngạo mạn

Rồi PetroTimes lại viết, tận chân trời:

«Với những ai đã từng làm việc với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng thì chẳng lạ gì chuyện là cho đến nay, đối với điện thoại di động, ông vẫn chưa… thạo cách lập danh bạ, không rành chuyện nhắn tin, điện thoại đối với ông chỉ có mỗi hai nhiệm vụ là nghe và gọi; ông cũng không rành sử dụng máy tính… Nhưng ông lại nắm bắt công nghệ hiện đại rất nhanh và khi còn là Cục trưởng một Cục nghiệp vụ từ hơn 20 năm trước, ông đã có nhiều chủ trương biện pháp mang tính chiến lược để hiện đại hóa công tác nghiệp vụ của lực lượng an ninh… »

Thú thật, đọc bài trên PetroTimes, tuồng như ‘toàn tập’ máu trong người tôi hùa nhau xung ngược cả lên đầu. Qua một đêm đắn đo, tôi quyết định trưng ra ‘Hình chứng’ dưới đây thay câu kết cho bài tổng hợp nhỏ bé này:

Xin lặp lại: Chư vị Gs-Ts UAV yêu quỉ ! Xin đừng tiếp tục mục hạ vô nhân, đừng kiên định cái cốt tự bỉ, tự lừa, tự sướng và khinh nhờn dân trí VN. Nhân dân VN đã ê chề với món thịt Lừa lắm rồi. Thời đại Nét niếc nổ tung toé như hiện nay mà quí vị cứ khư khư tư duy Bao cấp-Tem phiếu. Tội nghiệp quá!

Người trên ở chẳng chính ngôi,
Cho nên kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.
Người trên vung vít tào lao,
Cho nên kẻ dưới lộn nhào lên trên!

Trần Thị Hải Ý

 

Ghi Chú:

Sau khi bài này được đưa lên mạng, một DLV có nick Đức Giang đã còm trong trang Dân Làm Báo như sau:

[«Chúng ta tự chế tạo được, chúng ta chỉ mua nguyên vật liệu cần thiết mà thôi, chúng ta phải tự hào điều đó chứ, và phải ủng hộ nhiệt tình để khoa học công nghệ nước nhà một ngày đi lên chứ, sao lại viết bài trù ẻo như thế này, đúng là bọn phá hoại mà, đất nước có thành tựu vượt bậc gì chúng cũng xuyên tạc lái làm sao cho nó thành tiêu cực, đúng là bọn vô liêm sỉ.»]

Cho nên, tôi thấy cần nói rõ thêm vài điều. Đọc kỹ Hình chứng trang VNExpress trên kia chúng ta thấy gì ?

– Bí mật ‘chế tạo’ VN-UAV TOY bị / đượcbật mí là ‘nhờ’ cái hình chứng ‘di hại’ chụp từ VNExpress đề ngày Thứ ba, 20-11-2012 (xem phiá trên, góc trái, dưới 2 chữ Khoa học).

Nói cho rõ, (ruột) VN-UAV TOY = Made in Ráp là sự thật 100%, hơn nữa do Thụy Điển (Sweden) tài trợ hướng dẫn trọn gói sau buổi ký kết hợp tác, ngày 20-11-2012. Con số 9,8 tỉ VND do ‘ngân sách’ hoặc 2,2 tỉ VND vô danh trong tổng kinh phí 12 tỉ VND được công bố phải chăng có xuất xứ từ cuộc ký kết này?

Nhóm ông Ts Phạm Ngọc Lãng và ông Gs Đỗ Trung Tá ‘nổ’ quá lố từ thực chất Lắp ráp thành công, hô biến ra Chế tạo thành công là ‘nhờ’ họ Quên Béng buổi lễ ký kết hợp tác giữa Chủ tịch Hiệp hội Hàng không Vũ trụ VN (VASA) là Gs Nguyễn Đức Cương và đại diện UAV Sweden, mà VNExpress đã có bài tường thuật ‘oan nghiệt’ ngày 20-11-2012.

Ngày 04-5-2103, chính VNExpress cũng loan tin «Việt Nam chế tạo máy bay không người lái», tức là VNExpress cũng quên bài tường thuật của mình ngày 20-11-2012. Về VNExpess, tôi chỉ nói ngần này, không muốn bàn sâu hơn.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản khởi đầu tại Ba Lan

Hai mươi năm trước, bức tường Berlin, biểu tượng của bức Màn Sắt phân chia thế giới thành hai khối: khối thế giới tự do và khối cộng sản, đã bị tháo dỡ bởi một hành động tự phát của người dân sống tại Đông Đức, mà thời đó bị cai trị bởi chế độ cộng sản.

Bóng của một nhóm du khách in trên một mảng tường gốc của bức tường Berlin tại Bernauer Strasse, trung tâm Berlin vào ngày 8 tháng 11. (Leon Neal/AFP/Getty Images)Bóng của một nhóm du khách in trên một mảng tường gốc của bức tường Berlin tại Bernauer Strasse, trung tâm Berlin vào ngày 8 tháng 11. (Leon Neal/AFP/Getty Images)

Hành động chờ đợi từ lâu này đã thực hiện được niềm khao khát tự do của người dân Đông Đức nhằm thoát khỏi sự khống chế tư tưởng, sự hạn chế mà ngăn cấm họ tự do đi lại giữa hai nửa của thành phố Berlin, cấm tự do ngôn luận, và cấm tự do trao đổi tư tưởng, quan điểm hay ý kiến.

Bức tường Berlin đã đứng vững trong hơn 28 năm như là biểu tượng của điều ghê sợ, như một cảnh báo cho những ai dám mơ ước tự do, bức tường mà dính đầy máu của những người dũng cảm dám trèo lên tìm kiếm tự do, đã bị sụp đổ trong vòng vài tháng. Những sự kiện nào đã dẫn tới sự sụp đổ này?

Thành lập công đoàn Đoàn kết

Vết nứt rạn biểu tượng đầu tiên trên bức tường Berlin đã xuất hiện khi một thỏa hiệp được ký kết để cho phép các công nhân Ba Lan được quyền thành lập công đoàn độc lập đầu tiên trong chế độ cộng sản đằng sau bức Màn Sắt. Thỏa hiệp được ký tại Gdansk Shipyard, nước Ba Lan vào ngày 31 tháng 8 năm 1980, chấm dứt một cuộc đình công ôn hòa của 17.000 công nhân trong xưởng đóng tàu.

Từ khi chủ nghĩa cộng sản thành lập tại Đông Âu, nhân dân bị đàn áp bởi các chế độ cộng sản đã cố gắng đứng lên chống lại kẻ áp bức. Các nỗ lực quả cảm ấy đã bị đàn áp bởi những chế độ sử dụng lực lượng quân đội hay cảnh sát chống bạo động. Cuộc đình công của công nhân xưởng đóng tàu tại Ba Lan vào tháng 8 năm 1980 là hành động thành công đầu tiên để kháng cự lại một chế độ cộng sản ở Đông Âu.

Lực lượng đối lập tại Ba Lan đã phát triển sau khi thời đại Stalin kết thúc năm 1956. Các nhà trí thức đã thành lập những nhóm hoạt động ngầm để tìm cách giải phóng xã hội khỏi sự đàn áp cộng sản, để xuất bản các bản tin và báo chí bí mật hầu cung cấp thông tin về các sự kiện bị bóp méo hay che dấu bởi tuyên truyền cộng sản, và để thiết lập cương lĩnh chính trị của họ. Mặc dù phải đối diện với nguy hiểm bị cầm tù hay bức hại, con số các người chống đối vẫn gia tăng. Việc làm của họ đã đặt nền móng cho sự thành công trong cuộc đình công năm 1980.

Một yếu tố khác đóng góp trong sự thành công của vụ đình công là sức mạnh của đức tin tôn giáo trong xã hội Ba Lan. Những người cộng sản không bao giờ có thể nhổ bỏ tận gốc đức tin này. Cuộc đắc cử năm 1978 của Giáo hoàng John Paul II người Ba Lan, tên là Karol Józef Wojtyla, đã tăng cường đức tin trong dân chúng Ba Lan và cho họ hy vọng cùng lòng dũng cảm. Chuyến thăm Ba Lan của đức Giáo Hoàng vào năm 1979 và câu nói nổi tiếng của ngài “Đừng sợ” đã đoàn kết nhân dân Ba Lan và nâng cao tinh thần của họ.

Từ khi chủ nghĩa cộng sản được thành lập, đã có nhiều cuộc phản kháng đông đảo, đình công và biểu tình khởi xướng bởi nhân dân Ba Lan nhằm chống lại chế độ cộng sản. Tuy nhiên, họ đều bị đàn áp bằng bạo lực và kết thúc trong sự đổ máu.

Ví dụ cho một hành động như vậy là cuộc đình công tại thành phố Gdansk năm 1970, nơi các công nhân đã xuống đường và cuộc đình công phát triển thành trận đụng độ với cảnh sát. Kết quả là nhiều công nhân đã bị chết hay bị thương. Người dân đã học được bài học từ kinh nghiệm này rằng vũ khí tốt nhất để chống lại đội ngũ cảnh sát đặc biệt và quân đội được vũ trang và huấn luyện đầy đủ chính là một cuộc đình công ôn hòa trong phạm vi nhà máy.

Một vài tuần sau cuộc đình công chiến thắng năm 1980 tại Gdansk, một công đoàn độc lập và tự quản tên là “Đoàn Kết” đã được thành lập. Công đoàn lớn mạnh nhanh chóng với số thành viên ước chừng 8 triệu người. Nó còn hơn là một công đoàn. Nó bắt đầu trở thành một phong trào xã hội mà đoàn kết toàn thể xã hội và dần dần liên hệ với những vấn đề chính trị.

Thiết quân luật

Nhưng chế độ cộng sản đã không bỏ qua. Chẳng bao lâu sau khi ký thỏa thuận với các công nhân đóng tàu tại Gdansk vào năm 1980, giới chức đảng Cộng sản đã bắt đầu chuẩn bị áp dụng lệnh thiết quân luật tại Ba Lan.

Mối quan hệ giữa các nhà chức trách và công đoàn Đoàn Kết dần dần trở nên căng thẳng. Bước ngoặt là một sự kiện xảy ra tại thành phố Bydgoszcz. Nông dân Ba Lan cũng muốn thành lập công đoàn Nông Dân độc lập và tự quản của riêng họ. Giới chức cộng sản đã từ chối hợp pháp hóa tổ chức này. Những người nông dân tại Bydgoszcz đã tuyên bố đình công trong tòa nhà của tổ chức nông dân được kiểm soát bởi Đảng. Vì vậy một vụ xung đột đã bắt đầu.

Các đại diện của công đoàn Đoàn Kết, Jan Rulewski và Mariusz Labentowicz cùng với một đại diện của công đoàn Nông Dân độc lập và mới thành lập, Michal Bartoszcze đã tham gia một phiên họp hội đồng cấp tỉnh để trình bày về tình cảnh của các nông dân. Đến giữa phiên họp, chủ tịch và một số thành viên hội đồng đã quyết định đóng cửa phiên họp và rời khỏi chỗ họp. Một đội cảnh sát đặc biệt đã đột nhập vào tòa nhà và đánh đập tàn nhẫn các nhà hoạt động cho công đoàn Đoàn Kết, những người này phải nhập viện vì thương tích.

Chế  độ cộng sản đã hoàn tất sự chuẩn bị cho việc áp đặt thiết quân luật và đang chờ dịp để ‘đánh mạnh’ và ‘nghiền nát’ phong trào Đoàn Kết. Cái cớ được sử dụng là những câu trích dẫn từ những diễn văn, lời nói qua việc theo dõi điện tử một buổi họp của ban lãnh đạo công đoàn Đoàn kết.

Thiết quân luật đã được ban hành tại Ba Lan ngày 13 tháng 12 năm 1981, và hàng ngàn người hoạt động cho công đoàn Đoàn Kết đã bị bắt và bị giam cầm mà không kết tội rõ ràng. Một số nhà hoạt động đã bị giết chết. Sự tự do công dân đã bị hạn chế nghiêm ngặt.

Sự đáp trả của nhân dân Ba Lan

Mặc dù cảm thấy vô vọng, người dân Ba Lan đã đứng biểu tình tại chỗ. Sau khi ban hành thiết quân luật, sự tín nhiệm đảng cộng sản Ba Lan (đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan) đã sụt giảm. Tới 850.000 đảng viên do thất vọng với chính quyền cộng sản đã tuyên bố rút ra khỏi đảng. Trong số họ, 36% là các công nhân nhà máy. Nhiều đảng viên công khai vứt bỏ sách của đảng viên để tham gia các cuộc đình công và biểu tình. Thiết quân luật đã được dỡ bỏ vào tháng 7 năm 1983.

Công đoàn Đoàn kết luôn tuyên bố rằng họ sẵn lòng ngồi lại để đối thoại với chế độ cộng sản, ngay cả khi tổ chức của công đoàn đã bị cấm trong những năm thiết quân luật. Tuy nhiên, việc đối thoại đã không bắt đầu cho đến tháng 2 năm 1989. Vào tháng 4 năm 1989, một hội nghị Bàn Tròn đã đi đến thỏa thuận cho phép một nửa Quốc hội và toàn bộ Thượng viện sẽ được bầu cử theo phương thức dân chủ. Cuộc bầu cử được tổ chức vào ngày 04-06-1989 đã tạo nên làn sóng chấn động trong giới chức cộng sản. Các ứng cử viên của công đoàn Đoàn Kết đã thắng tất cả các ghế Quốc hội được dành cho cách bầu dân chủ, gồm có toàn bộ Thượng viện.

Sự kiện này đã trải đường cho sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở các quốc gia khác thuộc khối Đông Âu và dẫn tới sự sụp đổ của bức tường ô nhục Berlin.

Theo vietdaikynguyen.com

Lòng Mẹ – Hoàng Oanh

Boat People – Thuyền Nhân

Ca Dao • Tục Ngữ • Thành Ngữ Việt Nam

Ca Dao • Tục Ngữ • Thành Ngữ Việt Nam
  • Công cha như núi Thái Sơn
    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
  • Có công mài sắt có ngày nên kim.
  • Nước chảy đá mòn.
  • Ði một ngày đàng học một sàng khôn.
  • Một cây làm chẳng nên non
    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
  • Bán anh em xa mua láng giềng gần.
  • Bầu ơi thương lấy bì cùng
    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
  • Lá lành đùm lá rách.
  • Kiến tha lâu đầy tổ.
  • Nhiễu điều phủ lấy giá gương
    Người trong một nước phải thương nhau cùng.
  • Cá không ăn muối cá ươn
    Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
  • Phép vua thua lệ làng.
  • Gần mực thì đen gần đèn thì rạng.
  • Con hơn cha nhà có phúc
  • Con trâu là đầu cơ nghiệp.
  • Thu thân, tề gia, trị nước, bình thiên hạ.
  • Chủ vắng nhà gà vọc niêu tôm.
  • Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
  • Ðói đầu gối phải bò.
  • Ðói cho sạch rách cho thơm.
  • Thua thầy một vạn không bằng kém bạn một phân.
  • Sai một ly đi một dặm.
  • Ðồng tiền đi liền khúc ruột.
  • Nhất nghệ tinh nhất thân vinh.
  • Cáo chết ba năm quay đầu về núi.
  • Lời chào cao hơn mâm cỗ.
  • Cây ngay không sợ chết đứng.
  • Sông có khúc người có lúc.
  • Khôn nhà dại chợ.
  • Một phút huy hoàng hơn ngàn năm le lói.
  • Chết vinh hơn sống nhục.
  • Không gì quý hơn độc lập tự do.
  • Trong nhà nhất mẹ nhì con
    Ra đường khối kẻ còn giòn hơn ta.
  • Dạy con từ thưở còn thơ.
  • Ði với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.
  • ở bầu thì tròn ở ống thì dài.
  • Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.
  • Quan nhất thời dân vạn đại.
  • Văn mình, vợ người.
  • Làm trai cho đáng nên trai
    Phú Xuân đã trải, Ðồng Nai đã từng.
  • Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.
  • Ðã mang tiếng ở trong trời đất
    Phải có danh gì với núi sông
  • Bao giờ tôi gặp em lần nữa
    Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
    Ðã hết sắc mùa chinh chiến cũ
    Còn có bao giờ em nhớ ta ?
    1949 , Quang Dũng
     
  • Ðường đi khó,
    không khó vì ngăn sông cách núi,
    mà khó vì lòng người ngại núi e sông
    Nguyễn Thái Học
     
  • Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc
    Trần Bình Trọng
     
  • Yêu giống nòi mình lầm than mãi rồi
    Yêu khiến lòng chẳng biết sao nguôi
    Du Ca
     
  • Chiều chiều ra đứng bờ ao
    Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều
  • Lời nói không mất tiền mua
    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
  • Anh em như thể tay chân
  • Ta về ta tắm ao ta
    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
  • Có phước làm quan
    Có gan làm giầu
  • Học ăn học nói
    học gói học mở
  • Một điều nhịn, chín điều lành
  • Tham thì thâm
  • Lá rụng về cội
  • Ði với bụt mặc áo cà sa
    Ði với ma mặc áo giấy
  • Giầu nhờ bạn, sang nhờ vợ
  • Mật ngọt chết ruồi
  • Một nụ cười bằng thang thuốc bổ
  • Giọt máu đào hơn ao nước lã
  • Tháng năm chưa nằm đã sáng
    Tháng mười chưa cười đã tối
  • Chị ngã em nâng
  • Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng
  • Cái khó bó cái khôn
  • Nam thực như hổ, nữ thực như miêu
  • Thất bại là mẹ thành công
  • Yêu nhau lắm cắn nhau đau
  • Phú quí sinh lễ nghĩa
    Bần tiện sinh đạo tặc
  • Lùi một bước tiến ba bước
  • Vỏ quít dầy có móng tay nhọn
  • Ði một đàng học một sàng khôn
  • Tiên học lễ, hậu học văn
  • Giấy rách phải giữ lấy lề
  • Góp gió thành bão
  • Hiếu để hơn lễ bãi
  • Kiến tha lâu cũng đầy tổ
  • Nói trăm thước không bằng bước một gang.
  • Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
    Như đứng đống lửa, như ngồi đống than !
  • Ba đồng một mớ trầu cay
    Sao anh không hỏi những ngày còn không
    Bây giờ em đã có chồng
    Như chim vào lồng, như cá cắn câu
    Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ
    Chim vào lồng biết thuở nào ra
  • Cô kia cắt cỏ một mình,
    Cho anh cắt với chung tình làm đôi
    Cô còn cắt nữa hay thôi,
    Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.
  • Cây xanh thì lá cũng xanh,
    Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
  • Có nghèo mới biết con hiếu,
    Có thiếu mới biết bạn hiền.
  • Ðêm đêm tưởng dạng Ngân-hà,
    Bóng sao tinh đẩu đã ba năm tròn,
    Ðá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
    Tào-khê nước chảy lòng còn trơ trơ
  • Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm
  • No mất ngon, giận mất khôn.
  • Biết thì thưa thốt,
    Không biết thì dựa cột mà nghe
  • Năng nói năng vấp.
  • Miếng ngon nhớ lâu, lời đau nhớ đời
  • Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo
  • Lửa thử vàng, gian nan thử đức.
  • Cái nết đánh chết cái đẹp.
  • Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời
  • Máu chảy ruột mềm.
  • Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
  • Con sâu làm rầu nồi canh.
  • Anh em như chân như tay
  • Môi hở răng lạnh.
  • Tay đứt, ruột xót.
  • Cha truyền, con nối
  • Gái mà chi, trai mà chi,
    Sinh ra có nghĩa có nghì là hơn.
  • Con út trút gia tài
  • Trẻ cậy cha, già cậy con.
  • Tre non dễ uốn.
  • Giặc đến nhà đàn bà phải đánh.
  • Nhà khó cậy vợ hiền,
    Nước loạn nhờ tướng giỏi
  • Yêu nhau chẳng quản lầm than,
    Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua
  • Tình thương quán cũng như nhà,
    Nhà tranh có nghĩa hơn toà ngói xây
  • Thương thì quả ấu cũng tròn,
    Không thương thì bồ hòn cũng méo
  • Thương nhau lắm, cắn nhau đau
  • Nói trăm thước không bằng bước một gang.
  • Chẳng tham vựa lúa anh đầy,
    Tham năm ba chữ cho tầy thế gian.
  • Ghét của nào trời trao của đó.
  • Thuận vợ thuận chồng, tát bể Ðông cũng cạn.
  • Ðường mòn nhân nghĩa không mòn.
  • Con có cha như nhà có nóc,
    Con không cha như nòng nọc đứt đuôi
  • Khó nhịn miệng, mồ côi nhịn lời
  • Con chị cõng con em.
  • Chim có tổ người có tông.
  • Con người có tổ có tông,
    Như cây có cội, như sông có nguồn.
  • Trên kính dưới nhường.
  • Lời nói chẳng mất tiền mua,
    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
  • Ai ơi chớ vội cười nhau,
    Cười người hôm trước hôm sau người cười
  • Lời thật mất lòng.
    Một sự nhịn là chín sự lành.
  • Nhập gia tùy tục
    Nhập giang tùy khúc
  • Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
    Uống nước nhớ kẻ đào giếng.
  • Ðo sông đo bể khó đo lòng người
  • ở chọn nơi, chơi chọn bạn.
  • Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
  • Học thầy chẳng tầy học bạn.
  • Gần lửa, rát mặt.
  • Khó giúp nhau mới thảo
  • Có nghèo mới biết con hiếu,
    Có thiếu mới biết bạn hiền.
  • Nhịn miệng đãi khách.
  • Ði hỏi già, về nhà hỏi trẻ.
  • Ði một ngày đàng, học một sàng khôn.
  • Chợ có lề, quê có thói
  • Ai làm nấy chịu
  • Nói có sách mách có chứng.
  • Của rề rề, không bằng một nghề trong taỵ
  • Nước lạnh phải đến giếng,
    Nước nóng phải hâm sôi
  • Buôn có bạn, bán có phường.
  • Ðừng nên trọng của hơn người
  • Của phù vân không chân mà chạy
  • Lấy của che thân,
    Ðừng lấy thân che của
  • Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
  • Có công mài sắt, có ngày nên kim.
  • Chết trong hơn sống đục.
  • Có học phải có hành.
  • Trâu ta ăn cỏ đồng ta
    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm.
  • Càng thắm thì lại càng phai,
    Thoang thoảng hoa lài càng được thơm lâu
  • Tiền bạc như nước thủy triều
  • Thức đêm mới biết đêm dài,
    Ở lâu mới biết lòng người phải chăng.
  • Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối
  • Dù xây chín bậc phù đồ,
    Không bằng làm phúc cứu cho một người
  • Còn thuyền còn chèo,
    Còn nước còn tát.
  • Có chí thì nên.
  • Non cao cũng có đường trèo,
    Ðường dẫu hiểm nghèo cũng có lối đi
  • Nhất quỉ, nhì ma,
    Thứ ba học trò.
      

Anh Là Ai

Bác Sĩ Alexandre Yersin

Bác sĩ Yersin, người đầu tiên tìm ra vùng đất Đà Lạt

Ngày nay, đứng trước phong cảnh nên thơ, những hàng thông thẳng ngọn, những hồ nước trong xanh, những ngôi nhà kiến trúc tối tân của Đà Lạt xinh đẹp, có bao giờ ta nghĩ rằng xưa kia nơi đây chỉ là một vùng đất trơ trọi hoang vu, và tự hỏi ai là người đầu tiên tìm ra miền cao nguyên thơ mộng ấy không? Tôi xin dựa theo một ít tài liệu trong mấy tờ tạp chí Pháp xuất bản ở Đông Dương trước đây, lược thuật lại cuộc đời và sự nghiệp của bác sĩ Yersin, người được coi là có công trong việc khám phá ra vùng đất Đà Lạt, để gọi là tỏ chút lòng tưởng nhớ một bậc danh nhân đã giúp cho chúng ta một nơi nghỉ mát tốt lành và tô điểm cho quê hương mình thêm đẹp thêm xinh.

1. Nơi mảnh đất sinh thành

Alexandre Yersin sinh ngày 22 tháng 9 năm 1863, tại miền đồng quê tổng Vaud, hạt Lavaux, nước Thụy Sĩ. Tổ tiên ông gốc người Pháp, sang định cư ở làng Rougemont (thuộc hạt Lavaux) vào thời vua nước Pháp hủy bỏ sắc luật cho phép dân chúng theo đạo Gia tô cải cách (Resvocation de l’Edit de Nantes). Sắc luật mới này do vua Louis thứ 14 ký ngày 18-10-1685. Thân phụ ông là một nhà khảo cứu Côn Trùng Học hữu danh, làm giáo sư dạy khoa Vạn vật học.

Thuở nhỏ, Yersin học ở tỉnh Morges. Lúc 20 tuổi (1883) ông khởi đầu học thuốc ở học viện Lausanne bên cạnh hồ Léman (Thụy Sĩ). Kế tiếp ông đến học ở Marbourg (Đức), rồi sang tới Paris (Pháp). Ba năm sau ông giúp việc tại phòng thí nghiệm ở Hotel Dieu. Vào lúc đó, Pasteur đang nổi tiếng về công cuộc tìm ra thuốc trừ bệnh chó dại. Ông xin vào làm ở phòng thí nghiệm của Pasteur và tôn ông này như là một bậc thầy.

Năm 24 tuổi (1887), Yersin nhập quốc tịch Pháp, và trình một luận án đặc sắc về bệnh lao của giống thỏ nhà để thi bằng bác sĩ Y khoa. Sau đó, ông đến Bá Linh ở một năm theo học hỏi bác sĩ Koch, người đã nổi tiếng nhờ sự tìm ra vi trùng bệnh lao.

Năm 1888, ông trở về Pháp tiếp tục nghiên cứu ở Viện Pasteur Paris vừa mới được khánh thành. Ông được bác sĩ Roux mến tài mời cộng tác tìm thuốc chữa bệnh yết hầu. Ông ký với Roux ba bản kỷ yếu (trois mémories) quan trọng, chứng nhận rằng vi trùng Klebs-Loeffler là giống vi trùng truyền bệnh yết hầu. Ba bản kỷ yếu đó sau này trở nên những bản làm quy tắc trong các đại học đường khoa học và chính nhờ đó mà khoa Vi Trùng Độc Chất Học (Toxicologie Microbienne) được tiến triển, đồng thời còn giúp ích cho sự phát minh các thứ thuốc khử độc (Antitoxines) và phòng bệnh (Sérothérapie). Chính trong thời gian này ông quen biết bác sĩ Calmette.

Bấy giờ, mới 26 tuổi đầu, danh tiếng ông đã vang lừng trong giới khoa học. Nhưng ông không vì thế mà tự mãn, lúc nào cũng chịu khó cầu tiến.

2. Bén duyên với Đà Lạt

Cuối năm 1889, ông bắt đầu sang Đông Dương, làm y sĩ cho hãng tàu Messageries Maritimes. Mỗi lần tàu cập bến Nha Trang, ông thích thú đưa mắt nhìn ngắm dãy Trường Sơn bao la hung vĩ. Trước sức hấp dẫn của cảnh trí thiên nhiên đó, ông chợt có ý định đi bộ từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù lúc đó chưa có đường xe hơi và xe lửa.

Năm 27 tuổi, vào khoảng tháng 7-1890, ông từ Nha Trang đi ngựa vào Phan Rí. Từ Phan Rí, ông nhờ một người dẫn đường lần mò vào rừng, và sau hai ngày đường khổ cực, ông tới Di Linh. Cuối cùng, ông xuống Phan Thiết, đi thuyền buồm đến Nha Trang rồi ra tới Qui Nhơn.

Vào những năm 1890-1894, các miền rừng núi dọc dãy Trường Sơn từ phía Bắc Nam kỳ đến phía Nam Trung kỳ và Hạ Lào hãy còn là những vùng bí hiểm, chưa được khai khẩn, ngoài một ít bộ lạc thiểu số, chưa ai đặt chân đến vùng đất hoang vu ấy. Vậy mà một người ngoại quốc như bác sĩ Yersin, đơn thân độc mã không kẻ tùy tùng, dám dấn thân vào miền rừng sâu nước độc, bất chấp cả dã thú và sự giết người của thổ dân, thì thật là có gan mạo hiểm phi thường.

Trong cuộc thám hiểm miền Dran vào năm 1893, ông bị bọn cướp chém đứt nửa ngón tay cái trái và bị đâm nhiều nhát dao găm vào ngực đến ngất ngư. Theo hồi ký của ông, bọn cướp này do tên Thouk cầm đầu, vốn là những tên tù chính trị ở Bình Thuận, sau khi thất bại trong việc mưu toàn đánh chiếm tỉnh lỵ này mới trốn vào miền rừng núi. Mặc dù trong lần thám hiểm mày có ba người Việt Nam tháp tùng ông với ba cây súng trường và một cây súng lục, ông vẫn bị chúng tước khí giới, ba người tùy tùng đều bỏ chạy, một mình ông đành chịu trận bán sống bán chết kháng cự với bọn cướp. Theo lời khai của viên đầu đảng sau khi nhà cầm quyền bắt thì nếu mấy tên kia gan dạ hơn một chút, chúng đã cắt cổ ông xong rồi.

Sau khi thoát nạn, nửa đêm ông nhờ người ta võng về Phan Rang. Dọc đường lại rơi vào giữa đàn voi. Mấy người cõng ông hoảng sợ bỏ chạy trốn hết, còn ông một mình bơ vơ giữa rừng. Ông kiệt sức, không hoạt động gì được, đành nằm chờ chết. Nhưng may đàn voi rẽ đi đường khác, không chà đạp thân thể ông. Dù bị thương nặng, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, ông vẫn không từ bỏ lòng say mê thám hiểm.

Đi đến đâu ông cũng ghi chép địa thế từ dòng sông, từ con suối, ông còn nhận xét về phong tục, về giá trị kinh tế của từng miền. Ông không là nhà du lịch đi ngắm cảnh đẹp thiên nhiên như một khách nhàn du; ông chính là một nhà thám hiểm say mê tìm cái lạ, học cái hay để mở mang kiến thức và mưu ích cho con người.

Sau ba cuộc thám hiểm liên tiếp, bác sĩ Yersin tìm ra Cao nguyên Lâm Viên. Ngày 21-6-1893, đứng trước phong cảnh hung vĩ ở độ cao cách mặt biển 1.500 thước, ông bày tỏ cảm nghĩ của mình như sau: “Cảm tưởng của tôi rất sâu xa khi vượt khỏi rừng thông; tôi đối diện với một cao nguyên mênh mông, không cây cối và hoang vu, có dáng như một vùng biển xao động mãnh liệt bởi một loạt sóng cồn ba động màu xanh biếc. Dãy núi Lâm Viên đứng sừng sững ở phía chân trời tây bắc cao nguyên, làm cho phong cảnh tăng thêm vẻ đẹp và nổi bật trên một hậu cảnh mỹ lệ”.

(Tôi cảm thấy chưa dịch được hết ý mấy câu văn đặc sắc của tác giả, nên xin chép lại nguyên văn của ông: Mon impression a été profon de lorsque, débouchant de la forêt de pins, je me suis trouvé en face de ce vaste plateau dénudé et dé sert, don’t l’apparence rappelait celle d’une mer boulever sesee par une houle esnorme d’ondulations vertes. Le massif du Lang-bian se dressant à l’horizon nord-ouest du plateau, accentuait la beauté du site en lui donnant du relief et en lui formant un arrièreplan splendide).

Theo hồi ký ông viết, lúc ông đặt chân đến vùng này, thì ở đây chỉ có rải rác vài làng của thổ dân người Lát tụ họp dưới chân núi, dân cư thật là thưa thớt.

Vì nhận thấy vùng đất này khí hậu tốt lành và phong cảnh xinh đẹp, bác sĩ Yersin đề nghị cùng Toàn quyền Paul Doumer nên lập một thành phố tại đây để làm nơi nghỉ mát và dưỡng bệnh. Đề án đó được chấp nhận, và sau khi phái hai đoàn thám hiểm vào năm 1897 và 1898 lên quan sát tại chỗ, Toàn quyền Pháp cho khởi công xây dựng Sở Khí tượng và căn cứ thí nghiệm trồng trọt, lại mở một con đường chạy dài từ miền duyên hải Trung kỳ lên tận miền sơn cước. Thành phố Đà Lạt bắt đầu khai sinh từ đấy.

Nhờ ở vị trí cao lại không xa bờ bể là mấy nên quanh năm khí hậu ở Đà Lạt mát mẻ, thời tiết không thay đổi, trung bình là 18 độ. Từ năm 1933, sau khi quốc lộ số 20 dài 300 cây số được hoàn thành, bao nhiêu du khách ở đồng bằng miền Nam đều có thể dùng xe hơi đến viếng Đà Lạt một cách dễ dàng để nghỉ mát trong những ngày nóng bức.

Người có công tìm cho chúng ta một nơi nghỉ mát nên thơ đó chính là bác sĩ Yersin.

Đến năm 31 tuổi (1894), bác sĩ Yersin dẫn theo mười lăm người lính tập từ phía Nam đi lần lên tỉnh Đăk Lăk và Kon Tum, vào các xóm người dân tộc thiểu số phía bắc dãy núi Lâm Viên.

3. Nghiên cứu bệnh dịch hạch

Lần đi thám hiểm cuối cùng này về, ông nghe tin bệnh dịch hạch đang phát hiện ở Vân Nam, gần biên giới Việt Hoa, làm chết ngót sau mươi ngàn người ở miền Nam Trung Quốc. Ông liền xin Chính phủ đến tại nơi quan sát bệnh tình về phương diện “vi trùng”. Đang lúc ấy bệnh dịch hạch lại lan tràn sang Hồng Kông. Ông quay lại đáp tàu ra Hải Phòng đi Hồng Kông. Thế rồi 48 giờ sau, ông đặt chân đến Hồng Kông, thuê người cất một căn nhà bằng tre lợp tranh dùng để làm phòng thí nghiệm. Ông mua mấy xác chết về mổ xẻ, lấy vi trùng trong các hạch người chết, cấy vào giống chuột bạch và chuột Ấn Độ, thì nhận thấy các con chuột này cũng chết vì dịch hạch. Ông bèn kết luận: Bệnh dịch hạch của người ta giống y như bệnh dịch hạch của loài chuột.

Sau đó ông gởi loại vi trùng dịch hạch về Paris cho các bác sĩ thí nghiệm. Họ cũng đồng một ý kiến với ông là thứ vi trùng ấy chính là căn nguyên bệnh dịch hạch.

Đến năm 1895, ông lập viện Pasteur ở Nha Trang, rồi trở về Pháp, cùng với hai bác sĩ Calmette và Roux kiếm thuốc ngừa bệnh dịch hạch; năm sau ông trở lại Viễn Đông, mang theo thuốc ngừa dịch hạch vừa tìm ra.

Bấy giờ bệnh dịch hạch lại tràn sang Quảng Châu và Hạ Môn. Ông bèn đến tận nơi, thử dung thứ thuốc mới trị bệnh, ông cứu sống được một số người, đủ chứng tỏ là thuốc do nhóm ông tìm ra rất hiệu nghiệm.

4. Vĩ thanh

Sau đó ông trở lại Việt Nam, làm việc ở viện Pasteur Nha Trang cho đến ngày từ giã cõi trần, ngoại trừ mấy năm (1902-1904) ông lo mở trường Cao đẳng Y khoa ở Hà Nội và về Pháp mấy lần thăm bác sĩ Roux.

Từ năm 1905-1918, ông làm Giám đốc hai viện Pasteur Sài Gòn và Nha Trang. Năm 1925, ông làm Tổng Thanh tra các viện Pasteur ở Đông Pháp.

Từ ngày lập viện Pasteur Nha Trang, ông chuyên môn quan sát các bệnh của súc vật và tìm ra được thứ thuốc chữa và phòng bệnh trâu bò. Ông lại cùng với các người giúp việc quan sát các chứng bệnh khác như Barbone, Sura và Piroplasmose.

Ngoài việc nghiên cứu về Y học, bác sĩ Yersin còn là một nhà trồng tỉa, một nông học gia nổi danh. Ông lập ra vườn trồng cây để thí nghiệm những giống cây vùng nhiệt đới. Các loại cây như Guttapercha, Coca, Cacao, cây cọ Phi châu và nhất là cây cao su lấy giống ở Mã Lai đề được ông trồng có kết quả rất tốt tại đồn điền Suối Dầu. Năm 1918, ông lại thử trồng cây Quinquina trên đảo Hòn Bà, nhưng kết quả không tốt vì đất cứng và khí hậu không hợp như ở Suối Dầu. Ông lại đi tìm những vùng đất màu tốt và khí hậu thích hợp ở Dran, Diom, Di Linh. Từ đó về sau, người nước ta khỏi mua chất Quinine ở nước ngoài về làm thuốc, ấy là nhờ công lao hai mươi lăm năm chịu khó ươm giống, thử đất, trồng cây của bác sĩ Yersin.

Lúc làm việc tại Nha Trang, ông sống rất giản dị thanh bạch, mặc dù ông có thừa phương tiện để hưởng thụ cuộc đời phù phiếm xa hoa. Ông ở trong một tòa nhà vuông, cao, có hai tầng. Nhà được cất trên nền cái đồi thứ nhất dựng ở Nha Trang, tại cửa sông, đối diện với di tích Chàm Po Nagar, dưới thấp chung quanh là những căn nhà lụp xụp của dân chài lưới. Bốn mặt nhà đều có hành lang chạy vòng quanh, đứng ở dấy có thể phóng mắt nhìn ra bốn phương trời, núi non hiện ra trước mặt thật bát ngát hung vĩ. Quanh nhà, các loại bìm bìm, bông bụp lục và đỏ, hồng và tím mọc đầy, không hề có một vườn rau, hoa trái, hay cây cảnh dùng trang hoàng cho ngôi nhà của ông thêm đẹp mắt.

Bác sĩ Yersin là một người sống rất bình dân, thường chỉ mặc bộ ka ki màu vàng, và dù đã 80 tuổi rồi mà sáng nào ông cũng cưỡi xe đạp tới viện Pasteur. Ông lại có lòng nhân ái, hay dùng thời giờ rỗi rảnh dạy dỗ mở mang thêm cho những người dân chài lưới chất phác ở miền ông cư trú. Ông thương cả đến loài cầm thú, chim muông và mỗi khi gọi con vật nào cũng lót hai chữ “người ta” ở trước: người ta chó, người ta mèo, người ta két…

Ngày 1-3-1943, bác sĩ Yersin mất tại Nha Trang, hưởng thọ 80 tuổi.

Thi hài ông được an táng trên một khoảnh đồi ở khu đồn điền Suối Dầu, bên cạnh những cây cao su thẳng ngọn lên trời xanh. Đây chính là nơi ông đã khai khẩn trồng trọt rộng ngót năm trăm mẫu đất, và di sản này ông tặng cho viện Pasteur Nha Trang. Theo di chúc của ông, đám tang diễn ra cực kỳ giản dị, chẳng có một bài điếu văn nào, nhưng mọi người tiễn đưa ông về ba tấc đất ai cũng ngậm ngùi mến tiếc sự ra đi vĩnh viễn của một bậc vĩ nhân.

Nguyễn Văn Y

Đà Lạt Ngày Tháng Cũ


TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY

Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn.

Đà Lạt là cả một thiên đường của kỷ niệm, của hạnh phúc. Biết bao nhiêu người đã dàn trải nỗi lòng nhung nhớ về thành phố này thành những dòng hồi ký, những lời tình tự, những vần thơ lai láng, những âm thanh, điệu nhạc thánh thót, trữ tình hay những bức tranh vẽ, những tấm ảnh chụp rất nghệ thuật… Mỗi người một vẻ… Quả thật Đà Lạt mãi mãi in đậm nét trong lòng người, nhất là những người đang sống một cuộc đời xa xứ.

     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

“Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.”

Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn… tiếng chuông nhà thờ Con Gà… Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng…

Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

 

KHÁNH LY 

     Giọng ca của KHÁNH LY một thời vang vọng trong các phòng trà của thành phố Đà Lạt và nay mãi còn âm hưởng trong lòng người. Hãy nghe kể một chút về tiểu sử của KHÁNH LY, nhất là cuộc gặp gỡ đầu tiên với Trịnh Công Sơn: 

     “Năm 1954, lúc 9 tuổi – trước khi theo mẹ di cư vào Nam – trong một Kermesse được tổ chức ở Hà Nội, Khánh Ly đã leo lên sân khấu tham dự cuộc thi hát được dựng lên theo kiểu tuyển lựa ca sĩ bây giờ. Ngày ấy, bé Lệ Mai hát bài “Thơ Ngây” học lóm từ những cửa hàng trên con phố Hàng Bông, nhưng bé không được giải gì cả. 

     Cuối năm 1956, dù mới khoảng 11-12 tuổi nhưng với niềm đam mê ca hát có được từ bé, một lần nữa Lệ Mai quyết định đi thi hát. Lệ Mai chuẩn bị đến với cuộc thi quan trọng của mình bằng cuộc quá giang xe rau chở bắp cải đi từ Đà Lạt về Sài Gòn để ghi danh dự buổi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng do đài Pháp-Á tổ chức tại rạp Norodom. Em bé Lệ Mai hát bài “Ngày Trở Về” của nhạc sĩ Phạm Duy và đoạt giải nhì, sau thần đồng Quốc Thắng. 

     Năm 1962, Khánh Ly thật sự bước vào cuộc đời ca hát của mình. Cô bắt đầu trình diễn ở phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Khoảng cuối năm 1962, Khánh Ly rời Sài Gòn lên hát cho một Night Club ở Đà Lạt và cô ở lại đó suốt 6 năm. 

     Năm 1964, tại Đà Lạt, Khánh Ly gặp một người nhạc sĩ nghèo. Anh đến với cô bình thản như cơn mưa dầm của Đà Lạt vào đêm hôm đó. Qua vài câu chuyện, cô và nhạc sĩ trở thành hai người bạn. Người bạn ấy không ai khác, đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Rất nhiều lần Trịnh Công Sơn đề nghị Khánh Ly về Sài Gòn đi hát với ông nhưng cô đều từ chối bởi cô yêu Đà Lạt, sự yên tĩnh thanh bình của Đà Lạt đã quyến luyến bước chân cô, không như Sài Gòn vốn đông người và luôn nhộn nhịp. Nhưng nếu tin vào định mệnh thì cuộc gặp gỡ của Khánh Ly và Trịnh Công Sơn tuy bình thản, giản dị là thế song đã trở thành định mệnh của cuộc đời Khánh Ly, là khoảnh khắc lịch sử không riêng của Khánh Ly mà còn của nền âm nhạc nước nhà. 

     Bởi vì đã gọi là định mệnh cho nên đến năm 1967, như một sự tình cờ, Khánh Ly gặp lại nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giữa giòng người đi lại trên đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn, vào một buổi chiều êm ả. Từ một đêm mưa của Đà Lạt đến một buổi chiều trên đường phố Sài Gòn, tất cả đã bắt đầu. Ngay chiều ấy, trên nền gạch đổ nát có một quán lá sơ sài được dựng lên với cái tên là Quán Văn. Ca sĩ Khánh Ly bắt đầu hát với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại đây.”

     KHÁNH LY gắn bó nhiều với Đà Lạt. Người ca sĩ tâm sự trong một bài viết ghi tháng 4 năm 1985 như sau:

     “Đà Lạt không xa lạ lắm với tôi, 1956 bố tôi làm việc tại thành phố này, từ khu Chi Lăng, mỗi ngày tôi đi bộ đến trường Phan Chu Trinh nằm ngay ngã tư đường Nguyễn Du và Trần Hưng Đạo. Trò chơi thuở nhỏ của tôi là chui vào những bụi rậm hái hoa hoặc men theo ven hồ Chi Lăng mò ốc. Về đến nhà thì chui vào cái rãnh nhỏ quanh nhà, đắp đất trồng rau. Tôi không có búp bê, không có những cuốn sách hình, không có bạn. Tôi sống lủi thủi một mình, lủi thủi chơi một mình. Đầy mặc cảm ở cái tuổi 12. Gia đình tôi ở Đà Lạt một năm, lại trở lại Sài Gòn. Nhưng cái thành phố núi đồi trùng điệp, những buổi sáng sương mù rét mướt lội bộ đến trường, co ro trong chiếc áo len, đã nằm gọn trong khối óc bé nhỏ của tôi. Do đó khi bà chủ Night Club Đà Lạt về Sài Gòn tìm ca sĩ lên hát cho nhà hàng của bà, tôi đã không ngần ngại nhận lời. 

     Lúc đó tôi chưa được xem là ca sĩ. Chỉ mới là mầm non có cũng được không có cũng chẳng sao…

     Một ngày tháng 11-1962, tôi rời Sài Gòn. Chiếc xe đò Minh Trung đưa tôi lên vùng Cao Nguyên Đà Lạt thơ mộng nơi mà mọi người vẫn xưng tụng là Hoàng Triều cương thổ. Cùng đi với tôi là nữ ca sĩ Ngân Hà và bà chủ Night Club Đà Lạt. Năm đó tôi 17 tuổi.”

     KHÁNH LY bày tỏ lòng quyến luyến Đà Lạt của chính mình:

     “Đến Đà Lạt rồi tôi không còn nhìn thấy chỗ náo đáng yêu bằng, dù sau đó, tôi phải rời xa. Cho nên bạn tôi, ông Kiêm Thêm, cổ thụ Đà Lạt thường nói đó là thiên đường lỡ. Năm 1967 tôi về Sài Gòn đi lêu bêu, gặp lại Trịnh Công Sơn. Nhờ Diễm Xưa, tôi được sự yêu mến. Bằng những bài hát của Sơn tôi đi qua rất nhiều nơi mà lòng vẫn không quên Đà Lạt. 

     Cái mơ ước một ngày được trở lại thành phố này, trở lại và sẽ ở lại, vẫn ngày đêm thôi thúc trong tôi. Một căn nhà nhỏ bằng gỗ, một khu vườn nhỏ xanh rờn bóng trúc bao quanh, một gốc đào, một gốc ngọc lan, một giàn thiên lý và một người yêu tôi. Rồi có nhắm mắt xuôi tay, lòng tôi cũng bình thản. 

     Vào những năm chiến tranh khốc liệt nhất, tôi trở lại Đà Lạt đôi lần hát ở quán Lục Huyền Cầm đường Võ Tánh, hát ở Viện Đại Học Đà Lạt. Tôi trở lại Đà Lạt như người Đà Lạt trở về Đà Lạt, ngồi uống café ở nhà Thủy Tạ mà lòng đầy những ngậm ngùi. Đà Lạt có nhiều thay đổi, phải là những người yêu Đà Lạt lắm mới cảm nhận được điều đó. 

     Nhà hàng Night Club từ Lý Thái Tổ, dời ra Hotel du Parc, rồi bị cháy vào một đêm mùng 5 Tết, thêm một lần di chuyển lên lầu trên của ciné Ngọc Lan đường Thành Thái. Thêm cái dancing Tulipe Rouge nằm bên cạnh chợ Hòa Bình, tôi cũng có dịp cộng tác một thời gian, cho tới lúc tôi rời Đà Lạt. Sau này chỉ còn một dancing duy nhất nằm trong khách sạn Duy Tân. Tôi ở tại đây khi lên hát cho Lục Huyền Cầm.

    Lần sau cùng, tôi lên Đà Lạt vào tháng 11-1974. Đường bị cắt ngang Rừng Lá. Tôi phải quay về với bao nỗi tiếc thương… Khi nghe tin Đà Lạt bị chiếm giữ. Tôi đau đớn như người bị trúng thương…

     Vết thương dù có lành, tự nó cũng là một vết thương, đã một lần làm ta đau đớn. Tôi vẫn ôm mơ ước về một Đà Lạt của tôi dù đã có những con đường phai mờ trong tâm tưởng… Mười ngàn cái hồ ở Minnesota, sáu ngàn cái hồ ở Florida, không đủ sức làm tôi rung động, như ngày xưa mỗi lần xe Minh Trung chạy ngang hồ Xuân Hương để về bến. Tôi có khó tánh quá không? Tôi có bảo thủ quá không? Tôi nghĩ rằng không và tôi còn nghĩ rằng tất cả những ai đã từng ghé Đà Lạt, bây giờ dù ở xa, quá xa quê hương, cũng đều cùng một ý nghĩ như tôi. Bởi Đà Lạt cũng là Việt Nam và chúng ta chỉ có một nơi để nghĩ tới, một chốn để mơ về đó là Việt Nam, mà ở đó có Đà Lạt. Niềm mơ dấu yêu của riêng tôi.”

     KHÁNH LY, hơn một chục năm sau đó, vào tháng 10 năm 1998, lại viết thêm về thời gian khi mới lên ở tại Đà Lạt:

     “Tôi bắt đầu đi học lại ở trường tiểu học Phan Chu Trinh. Ngôi trường nhỏ nằm ngay tại ngã tư tôi không còn nhớ tên đường… Dẫu ít khi được cho đi chơi phố, nhưng những khoảng đất rộng đầy hoa dại và những loại giây leo lúc nào cũng thơm ngát mùi gỗ thông và con đường đất nhỏ dẫn tới Hồ Chi Lăng đã là một quyến rũ khiến cho đến bây giờ, mấy chục năm trôi qua, lòng tôi vẫn xao xuyến bồi hồi mỗi khi có ai nhắc tới Đà Lạt…

     Tôi bỏ nhà đi hoang lần thứ nhất là năm 1956 ở Đà Lạt. Tôi không còn nhớ vì sao tôi có đủ can đảm mở lời xin đi nhờ một chiếc xe chở bắp cải về Sàigòn dự thi tuyển lựa ca sĩ Nhi Đồng. Tôi cũng không nhớ đã nhờ ai ghi danh bài Từ Giã Kinh Thành của Châu Kỳ. Ban tổ chức từ chối vì bài hát của người lớn, không hợp với tuổi của tôi. Thế là tôi đổi qua bài Ngày Trở Về của Phạm Duy. Tôi mặc quần soọc trắng, áo sơ-mi carô. Nhận được giải nhì, tôi lại xin chiếc xe đã chở tôi từ Đà Lạt cho tôi quá giang một lần nữa. Bác Tuất gái là chị ruột của mẹ tôi, bà thương tôi, ôm tôi và nói… Tội nghiệp, mày về là chết đòn con ạ… mà quả thật như vậy. Đây là trận đòn thứ nhất tôi lãnh chịu trước cái nhìn kinh hoàng của anh chị tôi… Tôi không khóc lúc những ngọn roi tới tấp quất xuống mình nhưng sau đó, tôi trốn ra Hồ Chi Lăng ngồi khóc một mình. Không phải vì đau mà vì tôi đã bước được bước chân thứ nhất vào định mệnh của tôi.

     Năm 1962, trong một lúc bơ vơ thiếu thốn, khổ sở trăm bề. Tôi nghĩ đến Đà Lạt. Ngày còn men theo Hồ Chi Lăng mò những con ốc nhỏ xíu, tôi cũng nhỏ nhoi như thế. Lần này trở lại Đà Lạt, tôi không còn là một cô bé, tôi đã là một thiếu phụ. Tôi đã hết ngây thơ, không gia đình, không bạn bè, tôi tự bước đi trong đời bằng chính đôi chân của mình. Không khởi đi từ Sàigòn mà ở ngay nơi thành phố nhỏ bé, thơ mộng, hiền như nước mưa. Đà Lạt hợp với nhạc của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, của Tô Vũ, của Biệt Ly, của Lá Đổ Muôn Chiều, của Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa, của Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, của Lá Thư… Đà Lạt là nơi người ta dễ đến gần nhau, dễ yêu nhau và cũng là nơi để người ta chạy trốn và tìm quên.

     Đà Lạt chỉ cách Sàigòn mấy tiếng đồng hồ xe nhưng hoàn toàn khác biệt, lạ lẫm tưởng chừng như từ thuở khai thiên lập địa, bàn tay Thượng Đế đã đặt lầm chỗ… Giữa những bát nháo, ồn ào, nhầy nhụa. Đà Lạt vẫn im lìm dịu dàng thanh cao như một người tình khuê các… giữa tiếng bom rơi đạn nổ, tiếng la khóc thảm thương, những tà áo tím hồng vẫn nhẹ nhàng lướt nhẹ trên phố với tiếng thông reo vi vu chưa bao giờ ngưng nghỉ, có một chút gió heo may và một thoáng mưa bụi… Tất cả, đủ làm người ta yêu nhau. Thánh thiện và trong sáng…  

     Một phần đời của tôi là Đà Lạt. Có khởi đầu. Có chấm dứt. Có hân hoan. Có tuyệt vọng. Tôi gắn bó với Đà lạt như đương nhiên cuộc đời của tôi gắn bó với Việt Nam. Có qua đi nhiều năm tháng nữa, như đã qua, tôi vẫn một niềm yêu thủy chung như thế.”

     KHÁNH LY, năm 2002, trong mục “Chuyện kể sau 40 năm” lại tâm sự thêm về kỷ niệm với Đà Lạt:

     “Thời đó, tôi mới 18 tuổi, còn ham ăn, ham chơi. Chẳng có gì thú vị cho bằng quăng giầy dép, chân không, đi, chạy, nhẩy khắp Đồi Cù, xuống Tòa Tổng Giám Mục, men theo con đường Tình Yêu dẫn lên Tòa Tỉnh rồi lại lên Đồi Cù nằm khểnh dưới gốc thông hoặc thẳng tay chân trên bãi cỏ thênh thang nhìn ngắm mây trời. Không nhớ đến ai cũng không cần biết mình là ai, ngày mai sẽ ra sao. Không nhớ ai thật, không cả yêu đương. Không hề nghĩ đến gia đình và Sàigon…

     40 năm trước, đó là ý nghĩ của một thiếu phụ tuổi 18, nằm ngủ quên dưới gốc thông già. Buổi trưa, nắng vàng chan hoà trên cỏ lá, tiếng thông reo ngân dài, bất tận như một lời ru buồn. Lời ru âm thầm đi vào giấc ngủ và ở lại đó. Lời ru buồn. Rất buồn.”…

      Trong một bài viết khác KHÁNH LY tâm sự tiếp khiến người Đà Lạt xa xứ nghe thấy thật ngậm ngùi, thật thấm thía:     

     “Mùa đông Ðà Lạt như mùa thu kéo dài. Thêm chút lửa ấm từ lò sưởi ngọt ngào mùi gỗ thông. Ðêm Ðà Lạt bao giờ cũng lạnh. Hơn, kém một tí cũng không cho ta thấy rõ mùa đang chuyển. Bốn mùa xoay quanh những thói quen đáng yêu. Hương café thơm ngát qua bao nhiêu suối khe đồi núi. Dốc thấp, dốc. Mái nhà ngói đỏ và mùi thơm của gỗ thông. Tôi yêu Ðà Lạt vô chừng. Như một người tình. Hơn một người tình. Tôi rời Ðà Lạt không ngờ, như khi đến. Rời xa mà vẫn yêu. Yêu nhiều hơn vì trong cái yêu có cái tiếc nuối mặc dù sự việc rời bỏ Ðà Lạt năm 1967 đã đưa tôi đến một đổi thay, đến một hạnh phúc may mắn không bao giờ tôi dám nghĩ đến. Năm 1964 khi Trịnh Công Sơn rủ tôi về Saigon đi hát với anh. Tôi từ chối. Không phải vì không yêu nhạc Sơn. Nhưng lúc đó tôi yêu Ðà Lạt hơn. Cái lối sống xô bồ, ồn ào mánh mung của Saigon không hợp với tôi. Trong khi đó Ðà Lạt là thiên đường. Êm ả, trong sáng. Saigon đó có một chỗ đứng nào cho tôi. Là một người không hề có một chút tham vọng. Thích an phận, bằng lòng với những điều mình có. Một đứa con gái tầm thường như tôi. Những ngày tháng ở Ðà Lạt đã là một an ủi quá đủ rồi. Với làm vui chi những điều quá xa vời. Cũng không hề mơ ước một đổi thay. Hơn thế nữa con người tôi, tâm hồn tôi hợp với Ðà Lạt hơn. Thế mà rồi tôi đã rời xa nơi chốn đã cho tôi biết bao ngày tháng đẹp đẽ trong sáng.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ” – LS. Ngô Tằng Giao)

Sĩ Khí Người Thương Binh Việt Nam Cộng Hoà

Người Thương  Binh Việt Nam Cộng Hoà

Gặp các chiến sĩ thương  binh Việt Nam Cộng Hoà còn kẹt lại ở Việt Nam