Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc (Trang 21)

Category Archives: Quê Hương và Tổ Quốc

Hội Võ Bị Bắc Cali Phân Ưu cùng Tang Quyến cố Thiếu Tướng Bùi Thế Lân

CaoPhoTTBuiTheLan

TTBuiTheLan

Thông Báo Kêu Gọi Biểu Tình Tại Hà Nội Ngày 19.1.2014—No-U Hà Nội

 
No-U
 
Thông báo về lễ tưởng niệm 40 năm ngày Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa
 
Hoà chung không khí tưởng niệm của nhân dân Việt Nam toàn thế giới.
Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung.
Dựa trên quyền con người cơ bản là quyền tự do bày tỏ quan điểm, bao gồm quyền tự do bày tỏ lòng yêu nước, tự do thờ phụng và tưởng nhớ những chiến sĩ đã hi sinh bảo vệ Tổ quốc.Với thực tế không thể chối cãi là Trung Quốc đã xâm lược, chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và đang tiếp tục gây hấn, xâm lấn và thôn tính nước ta một lần nữa.Chúng tôi kêu gọi đồng bào hãy tham gia Lễ tưởng niệm 40 năm ngày Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa 17-19/01/1974!
 
Thời gian: Từ 8h30 – ngày 19/01/2014
Địa điểm: Tại tượng đài Lý Thái Tổ – Hồ Gươm – Hà Nội
 
Hãy đến với chúng tôi để chứng tỏ với cộng đồng quốc tế Hoàng Sa mãi mãi là của Việt Nam, để tưởng nhớ các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã hi sinh để bảo vệ Tổ quốc và để khẳng định chúng ta không sợ hãi trước bất kỳ sự đe doạ nào khi bày tỏ lòng yêu nước của mình!Đề nghị UBND thành phố Hà Nội cùng các lực lượng chức năng đảm bảo an toàn cho buổi lễ, không tổ chức lễ hội, hát hò, vui chơi thể thao trong khu vực quanh Hồ Gươm và không cản trở, gây khó dễ cho những người tham gia buổi tưởng niệm này.17-19/01/1974 – Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên!

Anh em No-U Hà Nội
Trân trọng kính báo!

Quân Trường Và Chiến Trường—Trương Văn Út K22

Tôi nhập trường VBĐL tháng 12 năm 1965. Tính đến nay chỉ còn một năm nữa là một phần hai thế kỷ. 2015. Năm mươi năm trôi qua cũng khá dài so với đời của một con người. Chiều dài vừa đủ để ký ức đong đầy ngập tràn những kỷ niệm tưởng đã lãng quên hay nhạt nhòa đâu đó. Nhưng không! Nó vẫn còn lởn vởn quanh đây vô ảnh vô hình, nhưng khi được nhắc đến thì nó lại hiện ra như một đoạn phim sống thực còn lưu trữ tận trong tiềm thức của mình. Nửa đời đầy oan nghiệt lẫn lộn tiếc nuối chua xót cho thân phận của một thế hệ “Sinh Bất Phùng Thời”

scan0189copyHai năm trong Quân Trường, tám năm với Chiến Trường, ba mươi chín năm tù tội và lưu vong, nay Tổ Quốc là tổ quốc của người, Dân Tộc là dân tộc của người, quê hương tổ tiên đất đai mồ mả lạ quắc lạ quơ… Nhưng tôi không mất hết, tôi vẫn còn lại trong tôi Quân Trường và Chiến Trường.
– Quân Trường, nơi đó tôi có đàn anh đàn em (K21 K22 K23) và các Sĩ Quan Cán Bộ, Sĩ Quan Tham Mưu Hành Chánh được gọi là “Đồng Môn” cùng đổ mồ hôi như nhau, cùng dìu dắt nhau trên ngưỡng cửa binh nghiệp với vô vàn kỷ niệm chắc rằng khó có mấy ai quên.
– Chiến Trường, nơi đó tôi có đồng đội cùng đồng cam cộng khổ với máu và nước mắt, với những tháng năm miệt mài khói lửa mà cái sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi chỉ hồng, cái còn cái mất như trong một khoảng cách phù du. Chiến Trường đã in sâu vào tâm thức của tôi như một dấu ấn khằn vết khi tôi nhớ lại những lần vuốt mắt cho bạn bè đồng đội dưới đạn pháo của quân thù.
Quân Trường Đổ Mồ Hôi – Chiến Trường Đổ Máu Mắt

83037395

Tháng 12 Năm 1967

Tốt nghiệp K22 VBQGVN, trình diện Bộ Tư Lệnh LLĐB và được bổ nhiệm về TĐ81BCND cùng hai người bạn cùng khóa. Hãnh diện sung sướng biết bao khi trình diện vị Tiểu Đoàn Trưởng Lê Như Tú Thiếu Tá K11 VBĐL… rồi được giới thiệu TĐP Đại Úy Nguyễn Quang Vinh K14, Đại Úy Bình Ban Ba K17, Đại Úy Táo Ban Truyền Tin K20, Đại Úy Hưởng Ban An Ninh K19, ĐĐT ĐĐ1 Trung Úy Thăng K20, ĐĐ6 Trung Úy Tuấn K20, ĐĐ3 Trung Úy Lâu K21… còn nhiều nữa kể không hết…
Tôi cảm thấy ấm lòng vì ngây thơ với ý nghĩ ngộ nghĩnh may quá mình may mắn về tiểu đoàn khét tiếng này mà Đà Lạt không hà, chắc mẩm thế nào cũng được bao che và nâng đỡ. Nhưng tôi đã lầm. Dù các Niên Trưởng của mình có “phe đảng” bao che cho mình thì có tài thánh cũng không bao che được đạn tên vô tình, dù có quyền có thế Niên Trưởng cũng không nâng đỡ cho mình được nếu mình tỏ ra hèn nhát và khiếp nhược trước quân thù, nhất là trước mặt thuộc cấp trong lúc dầu sôi lửa bỏng.
Chỉ có một tuần lễ sau, đêm giao thừa Tết Mậu Thân (1968)… Thiếu Tá Tú TĐT K11 tử trận, Đại Uý TĐP Vinh K14 bị thương nặng không còn khả năng tác chiến, ba người bạn cùng khóa của tôi Chẩn, Tiễn, Lợi K22 phút chốc đã trở nên người thiên cổ, một ĐĐT tử thương, một cụt chân. Cũng may ĐĐP/ĐĐ3 là Niên Truởng Nguyễn Đăng Lâu K21 thay thế ĐĐT bị cụt chân!!!
Chỉ có bốn tháng kể từ ngày ra trường tôi đã trải qua ba cuộc hành quân chớp nhoáng đẫm máu trên ba vùng chiến thuật, II, I và III. Giải tỏa thị xã Nha Trang. Thung Lũng Ashao Alưới (vùng địa đầu giới tuyến 17). Giải tỏa mặt trận Cây Quéo Cây Thị (Gò Vấp Gia Định), thay đổi bốn vị ĐĐT và vị ĐĐT thứ năm là: Niên Trưởng Nguyễn Văn Lân K17.

 

Anh Lân (xin phép tôi gọi bằng Anh) từ trại LLĐB biên phòng Pleimơreng về đây. Dáng người cao dong dỏng, gương mặt trẻ măng như sinh viên đại học dù nước da hơi sạm nắng, ứng xử với ngôn ngữ nhã nhặn dịu dàng lịch sự với cả cấp trên lẫn dưới. Khi nhận bàn giao xong, Anh bảo tôi giới thiệu đơn vị và quân nhân các cấp cho Anh, sau đó gọi tôi vào phòng riêng căn dặn:
– Út đã ở đơn vị này từ ngày ra trường cho đến bây giờ, Út giúp cho Anh trông coi đơn vị, có gì trở ngại hay cần những quyết định quan trọng báo cho Anh biết. Nếu đơn vị dưỡng quân ở hậu cứ, ngày thường Anh tà tà rong chơi, Út cùng anh em sinh hoạt như huấn luyện, chiến tranh chính trị, bảo trì vũ khí quân trang quân dụng… chú trọng vấn đề lãnh đạo chỉ huy cho các cấp trưởng v.v. và v.v… Ngày cuối tuần, Anh cho xả trại 100%, riêng Anh thì Anh tự cấm trại 100%… Út có thể xử dụng xe jeep của Anh cùng các sĩ quan đi chơi, nhưng nhớ giữ kỷ luật đừng đánh lộn đánh lạo mang tiếng.
Nhưng rồi “tai nạn” xảy ra. Không đánh lộn mà bắn lộn. Tôi bị mấy đệ tử của Nguyễn Cao Kỳ bắn lộn qua thằng khác, thằng đàn em của “Sáu Vĩnh”, tay chân bộ hạ của NCK chuyên đi thâu tiền “khuyển mã” các chị em bán ba Mỹ… Anh Lân nghe báo, vội phóng ra đồn Quân Cảnh Nha Trang thì gặp Ông Đồn Trưởng là Đại Úy Trương Văn Cao K18! Thế là mọi việc êm xuôi như “khỉ có giồng” (khổng có gì) với vài lời khiển trách nhẹ nhàng của hai Niên Trưởng :
– Mi mới ra trường chưa nứt mắt mà bắt đầu làm trò khỉ rồi…
Tham dự hai cuộc hành quân kế tiếp, xâm nhập chiến khu C-Đ, giải tỏa núi Bà Đen, núi Heo, núi Cậu… Anh Lân đã trao truyền hết cho tôi những kinh nghiệm máu xương của chiến trường. Chính Anh là người đã đúc những viên gạch cho tôi để tôi vững bước trên con đường khói lửa sau này.
Anh chỉ chỉ huy ĐĐ3/BCND chưa đầy một năm, Anh được chỉ định giữ chức vụ TĐP cho Thiếu Tá Trần Phương Quế K10. Một người khác về thay thế Anh Lân, tôi vẫn là ĐĐP. Ba tháng sau, Anh gọi tôi lên Bộ CHTĐ cười cười nói:
– Chuẩn bị tâm tư nhận lệnh phạt đó em!
Anh Lân và các niên trưởng khác đã hết lời thuyết phục TĐT bổ nhiệm tôi quyền ĐĐT/ĐĐ5/BCND, khi tôi vừa tròn 23 tuổi, một ĐĐT miệng còn hôi sữa, chưa dày dạn chiến trường so với các ĐĐT khác cùng với một vài phàn nàn dèm pha của một vài sĩ quan cấp trung úy thâm niên hơn tôi.
“Phe Đảng! “Đảng gì đây? Đảng Tự Thắng!”
Nhưng họ hiểu lầm! Bổ nhiệm chức vụ ĐĐT81BCND là của BTLLLĐB qua đề nghị hay “đề bạt” của TĐT.

Tháng 10 Năm 1969

Đơn vị của tôi được cải danh là Đaị Đội II Trinh Sát Nhẩy Dù, thống thuộc quản trị hành chánh của Bộ TL/SĐND. Thời gian này LLĐB đang trong tiến trình giải thể.
Sau hai tháng thụ huấn khóa viễn thám Dục Mỹ, TTHL Vạn Kiếp, một số HSQ được gửi đi học mật mã truyền tin, tình báo thì bắt đầu tham dự hành quân cùng với các đơn vị khác. Phương thức và kỹ thuật tác chiến của hai binh chủng có nhiều khác biệt. 81BCD không bao giờ xử dụng pháo yểm mà hoàn toàn lệ thuộc vào không yểm. ND thì phối hợp cả hai trong bất cứ trạng huống nào. Tôi bỡ ngỡ bối rối vì là một đại đội biệt lập, đơn vị trưởng phải phối hợp trực tiếp với LĐ hoặc SĐ lo liệu mọi bề.
May mắn thay, lù khù có Ông Cù độ mạng. Thiếu Tá Trần Đăng Khôi K16, Trưởng ban ba hành quân của LĐIIND.
Anh Khôi trạc trên dưới 30 tuổi, dáng người trang nhã với ống bíp havana trên tay, bụng hơi xệ, nếu nói khẳng khái không nịnh hót thì mọi điều hợp hành quân đều do Anh thiết kế. Tôi tham dự chiến dịch “lùng và diệt địch”, kế hoạch của Tướng Westmoreland và Tướng Đỗ Cao Trí. Hành quân “Toàn Thắng” vùng Tây Ninh Phước Long và Campuchia.
Tôi lạng quạng lờ quờ ngu ngơ đến nỗi Anh Khôi phải gọi tôi trình diện riêng trong hầm hành quân của LĐ (TOC). Anh nói từ tốn và chậm rãi cố cho tôi hiểu:
– Báo cáo diễn tiến hành quân, báo cáo tổn thất, báo cáo tình hình địch…v.v… anh còn quá luộm thuộm, nhất là phối hợp pháo binh ND và trực thăng võ trang. Anh nên nhớ rằng có rất nhiều cặp mắt đang nhìn vào anh và họ thèm nhỏ dãi chỗ của anh. Điều quan trọng nhất là chúng ta đang phối hợp hành quân với SĐI Không Kỵ Hoa Kỳ… chỉ một lời báo cáo của cố vấn Mỹ bên cạnh anh thì anh bị trả về đơn vị gốc của anh ngay…
Tôi yên lặng thẫn thờ ngồi nghe nhưng Anh lại tiếp :
– Thôi được… tôi nói sơ sơ rồi ngày mai bay với tôi và Thiếu Tá Tường (TĐT/TĐ2PBND)
“GAP” chữ viết tắt Ground & Air Preparation. Tức là kỹ thuật dùng pháo binh và hỏa lực không quân cùng một lúc để dọn bãi đáp (LZ) hay bãi bốc (PZ), sơ xuất hay không chính xác (độ chính xác này được tính từng giây) là pháo binh bắn rớt máy bay, hoặc máy bay nã rocket vào đầu quân bộ thì cả đám đi chỗ khác để ngồi chơi sơi nước muôn đời lục quân VN. Anh (Khôi) còn sắp xếp thời giờ tôi gặp trưởng ban bốn tiếp liệu, ban một quản trị quân số, ban hai tình hình địch v.v… để nắm vững dữ kiện trước khi lên C & C thả toán viễn thám hay trung đội trinh sát.
Như vậy trên những bước đường chập chững của hai binh chủng BCD và ND tôi đã may mắn – quá may mắn – được hai Niên Trưởng đàn anh “đỡ đầu hướng dẫn bao che” cho đến khi đủ lông đủ cánh. Nói lên lời ” biết ơn ” thì khách sáo quá, tôi chỉ xin hứa cái đầu của tôi là mũ nồi VB, hai cầu vai là Greenberet và Redhat.

Năm 1972 – Đường Vào Binh Lửa

Nhắc đến 1972 là phải nói đến “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Đã có NT Phan Nhật Nam K18, có NT Đoàn Phương Hải K19, NT Huỳnh Văn Phú K19 viết quá nhiều rồi, lại còn thêm hàng vạn trang sách báo viết về nó bằng máu và nước mắt của tất cả quân binh chủng QL/VNCH, nên tôi chỉ gói ghém ngắn gọn những gì tôi còn nhớ, để làm nổi bật “Tình Tự VB trên những mặt trận khốc liệt nhất trong thời gian này. Có những bông hồng cho những Huynh Đệ khi nghe tin chiến thắng được tưởng thưởng vinh thăng thì cũng có những vết thưong rỉ máu không bao giờ thành xẹo cho những Huynh Đệ vừa xanh cỏ để tôi được đỏ ngực.
Tháng 3 -1972, đơn vị (ĐĐ2TSND) được triệt xuất khỏi đồn điền Memot trở về hậu cứ Long Bình chờ lệnh. Hai ngày sau lên C130 trực chỉ Kontum. Xuống phi trường “tái ngộ” ngay với NT Lân, Anh đang giữ chức vụ LĐP/LĐ81BCD vừa được triệt xuất ra khỏi vùng Tam Biên. Anh kéo tôi ra nói vội vài ba câu trước khi lên C130 về Sài gòn:
– Út… Em phải hết sức thận trọng… nhớ và áp dụng kỹ thuật tác chiến của Biệt Cách Dù để tránh tổn thất. Sư Đoàn Thép 320 của chúng nó đã áp sát Kontum với trọng pháo 130 và tăng T54 nữa đó…
Hai ngày sau cả ĐĐ được trực thăng vận ngay trên đỉnh 1049 (CC Delta) cách hơn 10Km về hướng tây CC Vỏ Định, BCH/LĐ2ND. Bị “phục kích độn thổ” ngay tức khắc. Hand by hand, Đại Úy Budard hét lên trong máy với cấp chỉ huy của hắn. Tôi lại nghe trong máy của tôi tiếng của Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành tự là Thành Râu K19 phụ tá hành quân của LĐ từ chiếc trực thăng C & C do Đại Úy Phạm Công Cẩn K21(Trưởng Trung Tâm Hành Quân PĐ 229, Thiếu Tá Lê Văn Bút K16 PĐTrưởng ) đang vần vũ trên không vùng đồi delta :
– Út Bạch Lan… Cho tôi biết cái gì đang xãy ra!
– Đích thân chờ một chút… Tôi bị phục kích độn thổ.

Lại có tiếng réo của NT Nguyễn Trọng Nhi K20 Trưởng ban ba LĐ
– Út Bạch Lan… Báo cáo tình hình ngay… 207 đang ngồi đây chờ (207 là Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐ2ND)
Chờ thì chờ, tôi làm gì có thì giờ để báo với cáo. Tay đâu mà ôm hai ba cái ống liên hợp trong khi tôi và mấy ông cố vấn Mỹ đang vật lộn với… vi xi. Ném lựu đạn xuống hầm đếm chưa tới sáu thì nó quăng trở lên, thầy trò bò lăn bò càng… Mọi người sốt ruột lo lắng cho tôi, nhất là NT Thành Râu trên trực thăng C & C 24/24. NT Nhi cứ năm ba phút thì gọi hỏi ra sao rồi. NT Cẩn thì bảo :
– UBL qua tần số UHF, tôi sẽ cho biết chung quanh của UBL… UBL đang bị bao vây rồi đó. Chúng nó đông như kiến, nói với thằng CV Mỹ xin khẩn cấp trực thăng võ trang (Cobra) trang bị M79, ngồi với tôi có NT Thành, ở dưới đất có NT Nhi lo pháo rồi…
Trước áp lực của địch quân càng lúc càng nặng nề nhưng tôi cảm thấy yên tâm vì trên trời dưới đất lúc nào cũng có những ông thần hộ mạng. Những ông thần đó không ai khác hơn là những NIÊN TRƯỞNG đã một thời là “Hung Thần” hét ra lửa của khóa đàn anh. Trên trời ban ngày thì Thành Râu 19 với Công Cẩn 21, ban đêm thì Thẩm quyền Bút 16. Dưới đất thì Trọng Nhi 20 sáng trưa chiều tối thường trực trên tần số, kề bên có NT Ngọc Ngà K19 TĐP/TĐ2ND, Lê Thơm K22, Nguyễn Hữu Minh K23 ngày đêm ghìm súng chờ giặc từ ngoài bắc…zô đây…zô đây…
Hai ngày sau Delta tạm lắng dịu vì phi pháo. Ngậm điếu thuốc hớp một hớp cà phê tôi chợt nhớ đến NT Khôi. Giờ này TĐ7ND của Anh đang trên đường vào vùng cùng TĐ11ND để tăng cường với TĐ2 và TS2. Nhớ đến NT Khôi vì hôm nay tôi đã phối hợp hữu hiệu với cố vấn Mỹ và pháo binh nhẩy dù áp dụng kỹ thuật “GAP” mà NT Khôi đã chỉ dạy cho tôi hai năm về trước.
Một tuần lễ sau
– TĐ11 vào thay TĐ2 ở Charlie, cách phía bắc Delta khoảng hơn một cây số…
TĐ11ND… TĐT: NT Bảo K14, TĐP: NT MỄ K18, Ban Ba: NT Hải K19, ĐĐT113 Hùng Mập K22, ĐĐT112 Hùng Móm K22, NVN Long K23, ĐĐT111 Thinh (ĐĐP của TS2) vừa được bổ nhiệm.
– TĐ7 vào thay thế TS2 ở Delta
TĐ7ND…TĐT: NT Khôi K16, TĐP: NT Lô K18, Ban Ba: NT Em K19, ba ĐĐT nòng cốt Đăng K22, Hải K22, Cao K22, Tưởng văn Quyền K23.

Trinh Sát II được bốc về CC Vỏ Định “dưỡng sức” hai ngày dưới giao thông hào tránh pháo 130, sau đó lại được bốc thả vào Charlie tăng cường cho TĐ11. Vừa đặt chân xuống bãi đáp nằm bên cạnh sườn đồi Charlie thì NT Hải (ĐPH) K19 chờ sẵn đó rồi:
– Út theo tôi lên gặp đích thân cái đã…
Trong căn hầm tối thui với ánh đèn pin vừa đủ soi bản đồ, NT Nguyễn Đình Bảo nói :
– Út giúp cho tôi tăng cường phía bắc với Hùng Mập, phía nam có Hùng Móm, phía đông có Thinh, phía tây tương đối không lo ngại vì phải qua một khe núi sâu khỏang 100 mét…
Ba lô súng đạn lên đường gặp Hùng Mập ngồi chàng hảng dưới gốc cây bên cạnh hố cá nhân. Thằng ma cà rồng này cùng ĐĐE22 với tôi, nó là dân Bắc Kỳ di cư nên địt bố địt cụ lia chia, tôi hỏi nó :
– Đồi này tên gì vậy ?
– Đồi Bắc… Đồi bên kia (Charlie) là đồi 1515…

Tôi cho lệnh nghỉ ngơi ăn uống đồng thời ba toán viễn thám chuẩn bị sẽ đi ăn đêm… đêm nay. Thằng Hùng mập cười khình khịch trong cuốn họng, đầu lắc qua lắc lại có ý chế diễu :
– Địt mẹ…Tăng nó nằm ở dưới chân đồi mấy ngày nay, tao không hiểu sao nó đéo thèm bò lên… Nghe mày nói các toán viễn thám của mày sẽ đi ăn đêm tao tức cười… Mày ngồi đây với tao chưa chắc mày có thời giờ ăn ngày nữa nói chi ăn đêm… Chờ một chút đi! Nó đút cơm cho con ăn liền đó con ạ!!!
Đúng như lời Hùng Mập bông đùa chiều nay, đêm hôm đó ba toán VT báo cáo y chang với vài tấm ảnh T54 chụp được bằng máy hình hồng ngoại tuyến. Tôi được lệnh trở lại Charlie để qua hướng tây. Một ngọn đồi thấp hơn Charlie về phía tây khoảng 150 mét nhưng qua đó phải vượt qua khe núi đá dựng đứng sâu 100 mét. Phải mất 3 tiếng đồng hồ tòan bộ Đại Đội mới lên được đỉnh đồi vì hai tóan viễn thám đã thám sát trước. Không nghỉ ngơi được chút nào, chưa kịp bố trí quân thì bị “táp pi” ngay… Đại Úy Budard (CV TS2) hét trong máy với Đại Úy Muffy (CV TĐ11):
– Hefl..Hefl… Do or die… Do or die!
Đại Tá Mike (CV LĐ2) xen vào tần số :
– Budard! Listen to me… Calmdown… I give you somthings rightnow… Calmdown…OK…OK…
Chúng nó tràn lên như kiến, tôi hét Budard :
– Be carefull… Don’t shoot to my people back!
Năm phút sau John Paul Van (CV QĐ2) với chiếc Log và chiếc C & C của NT Cẩn cùng Đại Tá Lịch và NT Thành đã có mặt trên không phận. Lệnh của ĐT Lịch:
– UBL… Step by step Romeo-Juliet… You understand what I mean?
– I got it!

Tôi áp dụng “rút lui nhẩy cóc” vì rút lui đồng loạt là bị tràn ngập ngay, mặc cho cấp trên điều động thế nào tôi không “quởn” nghĩ tới, chỉ thấy sau lưng của tôi là một biển lửa với tiếng gầm thét của phản lực cơ Hoa Kỳ giống như trong phim “We are the soldier”. Bom napal.
Bỏ lại hai toán VT và hơn 20 HSQ-BS. Một số chết tại chỗ một số bị thương nặng nhẹ. Thôi đành xin lỗi các bạn. Không phải tại anh cũng không phải tại em, tại trời xui khiến nên chúng mình… xa nhau!

Mình cùng thức giữa đêm gọi rừng cùng thức
Lửa đạn thù đốn ngã từng thân cây
Xương với thịt nơi tận cùng mơ ước
Còn thấy mặt trời là còn thấy ngày mai

(Dấu giày chinh chiến – Trạch Gầm)

Vietnam War

Ngày hôm sau TS2 được bốc ra khỏi Charlie sau một đêm cùng TĐ11 nằm vắt giò lên miệng hầm nghe tiếng bom rơi từ hai pass B52 cách Charlie chừng 300 mét. Điều này xảy ra đã phá lệ quy định, duy nhất chỉ ở Charlie vì khoảng cách an toàn cho B52 tối thiểu phải 1000 mét. Tôi ngồi trên chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng rời Charlie, không một vẫy tay chào, không một lời giã từ “Đồi Bắc” nơi đó có Hùng Mập E22, “Đồi 1515” nơi đó có các NT thân yêu của tôi mà chỉ cách đây hai tuần lễ ăn nhậu mệt nghỉ tại CLB-TĐ11ND… NT Bảo, NT Mễ, NT Hải, Hùng Móm, Thinh…

Hai ngày hôm sau số phận Charlie kết thúc, để người Anh đáng kính của CC Nguyễn Huệ Long Bình có tên “Người ở lại Charlie” qua giòng nhạc xót xa tiếc nuối của Nhật Trường cùng bao nhiêu anh em bạn bè khác.
“Anh nằm xuống…không bạn bè, không có ai, không có ai đời đời ru Anh ngũ vùi trong cánh rừng già chỉ có loài chim thôi”
Tưởng như vậy là xong, nhưng có bao giờ Nhẩy Dù biết đến hai chữ “chấm hết”, chỉ trừ phi nhắm mắt ngủ giấc ngủ nghìn thu. Có lệnh LĐ2ND được Galaxy C5 tại phi trường Pleiku không vận về Sài gòn khẩn cấp để “trên đường ra Quảng Trị…” Trước khi rời khỏi Kontum, QĐ2 “cân hồ” xử dụng ND theo kiểu vơ vét cú chót. TĐ7 và TS2 lại được có vé “trực thăng” của Thiếu Tá Lê Văn Bút K16 và Đại Úy Phạm Công Cẩn K21 PĐ 229 “tham quan” đỉnh Chupao trước khi về phi trường Pleiku. Lại một lần nữa, ngó qua ngó lại, ngó lên ngó xuống sao mà Đàlạt không zầy nè. NT Lô18 cùng Đăng 22, Hải 22 đằng vân hạ thổ ngay trên đỉnh Chupao, NT Khôi 16, NT Em 19 cùng Cao 22 “tam bộ nhất… Bắn” xuôi nam, UBL nhẩy xuống phía tây nam dưới chân đồi. NT Cẩn (C&C) ban ngày, NT Bút ban đêm. Mạnh ai nấy lo trong tình huống tứ bề thọ địch giông giống như Quan Vân Trường đang đi trên Hoa Dung Lộ trong khi Triệu Tử Long múa trường bản trên đỉnh Chupao. Rồi nhiệm vụ nào cũng mission accomplished.
Đứng sắp hàng chờ lên C5 (lần đầu tiên ND được không vận bằng C5 của Mỹ) ở phi trường Pleiku, từ thầy đến trò, từ anh xuống em nhìn nhau với ánh mắt không nói nên lời vì đả bỏ lại sau lưng bao nhiêu đồng đội cùng thành phố Kontum với giòng sông PoKo đang dậy sóng, có cô sơn nữ phà ca mang gùi đi đổi muối tủm tỉm cười.

Đường Vào Quảng Trị

Có thể ví von là Phái Đoàn Đà Lạt du ngoạn Quảng Trị !!!.
LĐ2ND là mũi dùi chính trên đường chiếm lại cổ thành Đinh Công Tráng. Thành có dạng hình vuông. Sông Thạch Hãn bao bọc phía tây uốn quanh một phần phía bắc. Đông là Làng Tri Bưu, Hạnh Hoa Thôn nơi đóng quân của BTL SĐ304 CSBV, phía nam là nhà thờ La Vang và ngã ba Long Hưng.
Phái đoàn du ngoạn của Đà Lạt gồm có:
TĐ5ND: NT Hiếu K14, NT Quyền K16, NT Chí K20, TĐSĩ K21, NTViệt K23
TĐ7ND: NT Khôi K16, NT Lô K18, NT Em K19, ba ĐĐ nòng cốt Đăng, Hải, Cao K22, TV Quyền K23
TĐ11ND: NT Mễ K18, NT Thành K19, NT Hải K19, Hùng Móm K22, NVN Long K23
Tăng cường:
TĐ6ND: NT Đỉnh K15, NT Tùng K19, Lý Văn Phúc K23
Hai Biệt Đội 81BCD dưới quyền chỉ huy của NT Lân K17.

Phái đoàn du ngoạn này không gọi là “Phái đoàn Đà Lạt” thì phải gọi là phái đoàn gì đây?
TĐ7+TS2 đi bằng xe “Ngựa” của công ty LĐI KỴBINH vào Long Hưng
TĐ5+TĐ11 đi máy bay của air VN đến làm lễ ở nhà thờ La Vang
Hai mươi bảy (27) ngày đêm phái đoàn được đón tiếp bằng pháo bông liên tù tỳ rực rỡ không thua gì đêm pháo bông Tết Tây ở Time Square New York, chỉ có điều trớ trêu là phái đoàn thưởng lãm pháo bông dưới giao thông hào hay hố cá nhân ngập nước. Chỉ ăn uống cầm chừng vì đã no bụng với 130ly xào tỏi ớt, 122ly hầm với SA7, gỏi T54 trộn với PT76. Một kỷ niệm khó quên. Khi tôi đã xâm nhập vào được Quận châu thành Mai Lĩnh, nín thở ém quân chờ TĐ7 còn đang khựng lại ở ngã ba Long Hưng, đêm hôm sau nửa đêm về sáng, Sông Lô TĐP một mình với hai HSQ mang máy vượt một đoạn đường gần một cây số để bắt tay với TS2 trong khi chiến xa của VC đang tuần tiễu trên đoạn đường này. Khóa 18 ôm Khóa 22 cười khằng khặc:
– Mạ mi, ta không ngờ mi mò vô tới đây.
– Chuột mà… niên trưởng! (Huy hiệu TS Dù là con Hải Sư tác giả là NT Cứ Thế Hoài K14.. nhưng khi in ra giống con chuột y chang, lại có ba tia sét màu đỏ trước miệng nên “tụi nhỏ” chọc quê là con chuột học máu)
Khi vào Tri Bưu, từng bước từng bước thầm… mò mẫm lên Hạnh Hoa Thôn tìm người tình bắc kỳ 304 (SĐ Điện Biên), tôi bị nó tạt một trái át xít B41 vào mặt tưởng trở về trình diện NT Bảo ở charlie rồi, cũng may chỉ ngủ một giấc “dăm ba phút trở về chốn cũ…” và nhận được tiếp viện khẩn.. trà rượu, cam táo của Tố Quyên K16, Minh Hiếu K14 gọi vấn an và cho biết UBL sẽ có ngay “Silver Star & V” vào vài ngày tới.
Vì “Danh Dự, Trách Nhiệm, Tổ Quốc”…. mà đàn anh đàn em cùng một trường Mẹ… rủ nhau lao vào những cuộc chơi bằng máu và nước mắt. Tôi đã mất đi một NT Tùng K19, một thằng bạn cùng khóa Hùng Móm K22, một đàn em NVN Long K23… Còn bao nhiêu nữa đã bị loại ra khỏi vòng chiến làm sao mà nhớ hết để kể lại ra đây ?
Có rất nhiều “Cây Viết có tầm cỡ” mô tả lại Kontum, An Lộc và Quảng Trị với nhiều công sức truy tầm nghiên cứu trên tài liệu sách báo, nhưng chắc không diễn đạt hết những cực kỳ man rợ tàn khốc của cái sống và cái chết trên chiến trường. An Lộc là Tử Thủ. Quảng Trị là Tử Chiến. Một là thủ hai là công, hai cái khác biệt nhau nhiều lắm. Cho nên dù là TQLC hay ND, BĐQ, 81BCD, Bộ Binh, Thiết Giáp, Không Quân… đã có không biết bao nhiêu đứa con yêu của trường Mẹ nói riêng và của Tổ Quốc nói chung đã một mai rơi rụng như chiếc lá lìa cành dưới những tràng “pháo bông” và tiếng xích sắt của những “xe hoa” không tương nhượng của bọn khát máu đồng bào và anh em cùng sinh ra một bọc Âu Cơ. Cớ chi giờ đây phải so bì hơn kém, công tội, hay dở… khi trò chơi bằng máu của hằng triệu người VN máu đỏ da vàng đã kết thúc.
Thua cuộc hay thắng cuộc? Tôi còn nhớ trong Đệ Nhất Thế Chiến khi Danh Tướng FOX đi ngang ngôi mộ của Napoleon có ghé lại chào và viết một câu trên bia:
“Công danh sự nghiệp của một con người không phải là lúc khởi đầu mà là lúc kết thúc…”
Hay câu viết của NT Lâm Quang Thi:
“Chúng ta thua một trận chiến, chứ chưa phải thua một cuộc chiến…”.

7799845404_a45d092852_c

Trải qua bao thế sự thăng trầm, sau nửa đời người một phần hai thế kỷ, ngày nay kẻ còn người mất, kẽ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn có khác gì nhau khi đã mang chung một giòng máu “Võ Bị”, cùng tung cánh dù lộng gió khỏi cửa phi cơ (ND), cùng nhẩy ào ra khỏi lòng trực thăng (BĐQ) hay nhẩy ùm xuống bờ biển nông lõm bõm lội vào bờ trước họng súng đang chờ của cọng nô (TQLC), hay lắc cánh “né đạn” dày đặc phòng không mà không biết hông, đuôi của mình lủng thủng lỗ đạn (KQ) hay đang ngồi trên pháo tháp chiến xa chợt nghe tiếng cà xịch cà xịch của SA7 đang ngoằn ngoèo lao tới vội phóng mình xuống đất (TG)…v.v và v.v…

Năm mươi năm rồi có khi nào Thầy giở sổ
Ngồi điểm danh lại… mấy đứa học trò xưa
Những đứa học trò đi vào khói lửa
Vắt tương lai trong bom đạn mịt mờ

(Trạch Gầm)

Quân trường chỉ có đổ mồ hôi, nhưng chiến trường đổ tới ba thứ: mồ hôi, máu và nước mắt. Các cấp Tướng lãnh, các Đại Niên Trưởng thì…thì…đổ mồ hôi “hột” nhiều hơn, bởi… “Nhất Tướng Công Thành…” cũng phải lau giọt lệ khi nghe tin một khóa đàn em hay một học trò của mình vừa nằm xuống, hay vừa bị mất một quận một tỉnh nào đó. Không biết giọt mồ hôi hột đó có nóng hơn giọt máu đào hay không?!

“Nỗi nhớ ngập tràn qua ly rượu
Ngồi mênh mang tưởng lại nẻo đường về
Đường Kontum bỏ lại sau lưng bao niên trưởng?
Vào An Lộc nằm xuống mấy kẻ “đồng môn”?
Ra Quảng Trị chôn vùi bao thân bách chiến?
Đoạn đường nào đốt cả quãng trời xanh?
Màu xanh đó…
Màu xanh của chiếc áo dài Võ Bị
Màu gợi nhớ…
Niên Trưởng Niên Đệ trên khắp nẻo chiến trường”


Út Bạch Lan K22
Tháng Giêng 2014

Vài Hình Ảnh Tập Văn Nghệ—Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên

DSC02827aDSC02829aDSC02831aDSC02834a

DSC02842aDSC02857aDSC02858aDSC02863aDSC02872aDSC02873aDSC02874aDSC02877aDSC02879aDSC02890aDSC02894aDSC02898aDSC02839DSC02837aDSC02895a

Ly Rượu Mừng—Hợp Ca Asia

Ly Rượu Mừng

::: Phạm Đình Chương :::

Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó

(á a a a)
Nhấp chén đầy vơi
Chúc người người vui
(á a a a)
Muôn lòng xao xuyến duyên đời

Rót thêm tràn đầy chén quan san
Chúc người binh sĩ lên đàng
Chiến đấu công thành
Sáng cuộc đời lành
Mừng người vì Nước quên thân mình

Kìa nơi xa xa có bà mẹ già
Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa
Chúc bà một sớm quê hương
Bước con về hòa nỗi yêu thương

(á a a a)
Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính
(á a a a)
Chúc mẹ hiền dứt u tình

Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương
Xây tổ ấm trên cành yêu đương
Nào cạn ly, mừng người nghệ sĩ
Tiếng thi ca nét chấm phá tô thêm đời mới

Bạn hỡi, vang lên
Lời ước thiêng liêng
Chúc non sông hoà bình, hoà bình
Ngày máu xương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
đợi anh về trong chén tình đầy vơi

Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hoà

Ước mơ hạnh phúc nơi nơi
Hương thanh bình dâng phơi phới

Hát Cho Ngày Sài Gòn Quật Khởi—Nhiều Ca sĩ

Hát Cho Ngày Sài Gòn Quật Khởi

::: Nguyệt Ánh :::

Hỡi những người con của mẹ Việt Nam!
Ngay trong đô thành hoặc đang sống nơi các thôn làng
Từ động ruộng khô hay góc đê, từ từng trại giam trên đất quê
Từ khắp bốn phương trời tận cùng thế giới

Hỡi những người con của mẹ Việt Nam!
Thấy chăng quê người từng lớp sống tranh đấu tuôn tràn
Tràn từ vùng Đông Âu – Bá Linh, tràn về tận Nga Sô – Bắc Kinh
Tràn cuốn riết vô thần Mác Lê tan tành

ĐK:
Đòi lá phiếu tự do, đòi phố cũ đường xưa!
Khắp quê hương cháy bùng lửa thiêng tranh đấu
Đòi tiếng nói người dân, giành tấc đất nhà nông
Nơi nơi đã vang rền lời gọi non sông!

Hỡi những người con của mẹ Việt ơi!
Sau cơn mưa rồi ngày sẽ sáng tươi ánh mặt trời
Hẹn cùng bình minh xua bóng đêm, đòi Sài Gòn xưa cho phố quen
Rộn những bước chân về tự do công lý!

Lớp lớp người đi có bà mẹ quê
Nương theo chân cầu gạt nước mắt gượng vẫy tay chào
Mẹ chào đàn con nơi xứ xa, hẹn chào đàn con trên đất cha
Đoàn kết đấu tranh đòi nước non sơn hà

Hãy nói cùng nhau về một niềm tin!
Quê hương thanh bình toàn dân sống no ấm yên lành
Hàng triệu bàn tay vun đất cha rợp trời tự do muôn sắc hoa,
Ngàn tiếng hát câu hò rộn vang trong gió

Muốn nước Việt Nam Dân Chủ Tự Do!
Muốn có nhân quyền và bác ái trên khắp cõi đời
Đồng một nhịp tim em với anh, hợp cùng toàn dân ta đấu tranh
Từ dốc núi gập ghềnh đến nơi thị thành

Người Lính Không Cầm Súng—Anh Trương K23

Người Lính Không Cầm Súng

::: Dzuylynh :::

Ca khúc viết tưởng nhớ anh linh ca nhạc sĩ Việt Dzũng

Buổi sáng mùa đông buốt giá tha hương 
Thấy một hạt sương sa xuống giữa trời 
Nghe tiếng đàn chợt đứt ngang cung
Thung lũng hoàng hoa lặng lẽ vô cùng… 


Tôi tiếc em người anh hùng Việt Dzũng 

Tôi thương em người nhạc sĩ tha hương 
Cánh chim Bách Việt luân lạc muôn phương 
Giọng hát từ nay đi vào cõi vô thường… 

Việt Dzũng không còn nữa! Đứa con yêu của tổ quốc đã ra đi 

Việt Dzũng không còn nữa! Vừa mới bỏ ta đi … 
Người Lính Không Cầm Súng đã buông đàn xuôi tay 
Vũ khí là lời ca, quân trang là nốt nhạc, ba lô nặng tình non nước 
Đã miệt mài hành quân bất kể tháng ngày. 
Việt Dzũng không còn nữa! Người Da Vàng lưu vong! 
Người thương binh không số quân, không thẻ bài 
Người Lính Không Cầm Súng, không tượng đài vinh quang 
Nhưng trong tim bao người vẫn nhớ mãi tên em 
Tội nghiệp đôi nạng gỗ, từ nay bơ vơ một mình không còn theo em nữa 
Sẽ không còn theo em nữa, để in dấu chân tròn trên khắp nẽo đường tha hương…  

Tôi nguời lính già một thời đánh mất giang san nay nghe tin em không còn nữa. 
Đêm Cali mùa đông thêm lạnh giá 
ngồi buồn một mình thương nhớ em, đồng đội chung chiến tuyến đã ra đi mãi mãi

Việt Dzũng không còn nữa…
Em chỉ vừa theo hồn thiêng tử sĩ, non sông 
Ôm đàn rong chơi hát ca vang vọng đỉnh trời… 
Và em cũng bỏ lại tôi với vô vàn thương tiếc xót xa 
Người đã xa từ đây! Chưa kịp nói lời giã từ, chưa kịp về ViệtNamSàiGòn 
Để ngẫng cao đầu cùng nhau đi dưới Quốc, Quân kỳ 
Cho nước mắt da vàng lăn trên Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay! 
Việt Dzũng! Người Lính Không Cầm Súng! 
Việt Dzũng, người lính không cầm súng!
Tổ quốc khắc ghi công! 
Người đã xa từ nay, đã ngủ say trên vùng địa đàng 
Nhưng tiếng nhạc lời ca muôn đời vẫn còn đó 
Vẫn còn đó, mãi ngân vang… mãi ngân vang… giữa muôn trùng… 

San Jose, Bắc California Dec.23.2013.
Dzuylynh

Happy New Year

25

Nghệ sĩ Asia & SBTN tưởng nhớ Nhạc sĩ Việt Dzũng—SBTN




Khủng bố người tị nạn về Việt Nam tại phi trường Tân Sơn Nhất

 

Ho Chi Minh The Man and The Myth—CLS Video

Việt Dzũng hát bài “Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển”

Nam Lộc nói về sự ra đi của nhạc sĩ Việt Dzũng

 
CaoPhoVietDzung 
 
 
NL&VD
 
Dĩ nhiên sự ra đi bất ngờ của nhạc sĩ Việt Dzũng là một mất mát rất lớn lao đối với tôi khi mà người bạn đồng hành của mình trong suốt hơn 30 năm qua trên con đường văn nghệ, vận động cho nhân quyền và tranh đấu cho tự do, dân chủ là nhạc sĩ Việt Dzũng đã không còn nữa. Tuy nhiên tôi thương anh ít hơn là thương những người quý mến anh còn ở lại trên cõi đời này, trong đó có tôi. Mặc dù đã phải ra đi ở độ tuổi còn trẻ, nhưng suốt hơn 50 năm qua, Việt Dzũng đã sống thật trọn vẹn và thật đầy đủ với những gì anh muốn làm cùng những điều anh muốn thực hiện. Sống với lý tưởng, với lương tâm và đem tâm sức cùng tài năng của mình để phục vụ cuộc đời.
 
Vì sức khỏe không được tốt cho nên Việt Dzũng cũng đã chuẩn bị tinh thần cho những điều bất trắc có thể xẩy ra. Và có lẽ cũng vì thế nên khi có những biến chuyển về bệnh trạng, anh đã ra đi thật nhanh chóng, thật thản nhiên, chỉ để lại bao đau đớn, xót xa cho những người thương mến anh đang còn sống. Điển hình là chưa đầy 24 tiếng đồng hồ kể từ khi tin về sự ra đi của anh được loan truyền đã gây sự xúc động và bàng hoàng cho rất nhiều người. Hầu như điện thoại, text và email của tôi đã tràn ngập lời nhắn của những người thân hoặc những người chưa bao giờ tôi quen biết. Quý vị đã gọi từ khắp mọi nơi trên thế giới kể cả từ VN với những lời chia sẻ, nhắn gửi chân thành và những giọt nước mắt thiết tha dành cho Việt Dzũng.
Một trong những điều may mắn và hân hạnh trong cuộc đời của tôi, là được đứng bên cạnh một người mà tôi luôn luôn ngưỡng mộ và quý mến từ bao năm qua cũng như được hoạt động cùng anh trong nhiều lãnh vực. Nếu không có Việt Dzũng ở bên cạnh, nếu không có Việt Dzũng cố vấn, an ủi, khuyến khích thì chắc tôi đã không hoàn thành được những gì mà mình muốn và đã thực hiện.
Việt Dzũng đã ra đi, nhưng tinh thần và lý tưởng phục vụ cho tha nhân, cho quê hương đất nước cùng dòng nhạc của anh vẫn còn tồn tại và sẽ sống mãi trong lòng những người thương mến anh. Tôi chỉ buồn một điều là từ nay sẽ không còn ai chọc phá mình trên sân khấu hay trước mặt khán thính giả nữa. Thằng em tôi nó đang ngủ thật bình yên!
Nam Lộc, December 21, 2013
Một mùa Giáng Sinh buồn!

Vài Hình Ảnh Phiên Họp Khoáng Đại 2013 Của Hội Võ Bị Bắc Cali—Vũ Thế Khanh K20

HopKhoangDai.15.12.13

HopKhoangDai.15.12.13.1

HopKhoangDai.15.12.13.13

HopKhoangDai.15.12.13.2

HopKhoangDai.15.12.13.5

HopKhoangDai.15.12.13.11

HopKhoangDai.15.12.13.12

HopKhoangDai.15.12.13.7

HopKhoangDai.15.12.13.3

HopKhoangDai.15.12.13.6

HopKhoangDai.15.12.13.17

HopKhoangDai.15.12.13.4

HopKhoangDai.15.12.13.10

HopKhoangDai.15.12.13.9

HopKhoangDai.15.12.13.8

HopKhoangDai.15.12.13.15

HopKhoangDai.15.12.13.19

HopKhoangDai.15.12.13.14

HopKhoangDai.15.12.13.16

HopKhoangDai.15.12.13.18

HopKhoangDai.15.12.13.20

HopKhoangDai.15.12.13.24

HopKhoangDai.15.12.13.21

HopKhoangDai.15.12.13.23

HopKhoangDai.15.12.13.22

Mất Sài Gòn lãnh đòn của đảng—Uyển Thi

https://phunulamvien.org/wp-content/uploads/2013/12/2572e-30-04-1975-danlambao.jpg

Kể từ lúc Sài Gòn thất thủ
Việt Nam ơi sầu rũ sợi buồn
Triệu người phải sống tha phương
Triệu người cải tạo tan xương trong tù.
Trai xuất khẩu di cư lao động 
Gái lấy chồng kiếp sống ngoại bang
Ba miền cơ cực lầm than
Cha già không đất đồng hoang bạc mầu.
 
Đảng bán nước đỏ ngầu bô xít
Rừng tây nguyên đang chết từng ngày
Nhọc nhằn mắt mẹ lệ cay
Chờ con xa xứ đong đầy nhớ thương.
 
Nhóm lợi ích trung ương đấu đá
Dân lại thêm nghiệt ngã khốn cùng
Thuế nhà thuế đất thuế nương
Thuế người nghệ sỹ thuế thằng cu li.
 
Dân đói khổ phải đi ra biển
Bắt cá tôm tìm kiếm miếng ăn
Bị thằng bốn tốt bạn vàng
Bắt đòi tiền chuộc khổ càng khổ thêm.
 
Trong bĩnh cực gọng kìm cộng sản
Dân lầm than chán nản tột cùng
Người tìm đến nỗi sầu chung
Người tìm cái chết để đừng khổ đau.
 
Đừng tuyệt vọng chuyện đâu còn đó
Anh em ơi đảng đỏ giết người
Vùng lên nước Việt Nam ơi
Cứu cha cứu mẹ thoát đời khổ đau.
 
Hãy xiết lấy tay nhau giữ nước
Ta đồng lòng sánh bước tiến lên
Cứu đàn em trẻ yếu hèn
Cứu người con gái chồng bên nước ngoài.
 

Dead by China—Peter Navarro & Greg Autry

 

Bản dịch Việt ngữ:

 
 

Chết bởi Trung Cộng—Hồ Phú Bông

Cách đây khoảng hai năm chúng tôi ghé lại tiệm thực phẩm chó mèo để mua cho cô nàng chó cưng của chúng tôi mấy bọc thực phẩm nhỏ, loại chó ưa thích, để dễ dạy chúng (treat foods). Lúc chọn lựa chỉ so sánh giá cả, rẻ thì mua, không quan tâm đến nơi sản xuất vì nghĩ đấy ‘chỉ là chuyện chó mèo’!  Hơn một tuần sau cô chó bỗng rụng vài mảng lông và da ở khu vực đó có vẻ sần sùi như bị lác!  Lại ‘rất vô tư’ đi mua thuốc chống ngứa đem về.  Cũng nghĩ là cô nàng bị bịnh ngoài da chi đó rồi sẽ khỏi thôi, vì chúng tôi chăm sóc rất chu đáo!  Thế nhưng những ngày kế tiếp tình trạng đã không khá hơn mà da chỗ khác cũng có triệu chứng không tốt!  Đến lúc đó chúng tôi mới đem gói treat food ra xem lại. Made in China!  
 
Từ chuyện nhỏ đó của con chó, chúng tôi bắt đầu tự cảnh giác 3 chữ Made in China! 
Ấy thế mà trước khi ngồi gõ những dòng nầy, tôi thử nhìn quanh trong nhà, liệu chúng tôi đã lặng lẽ khuân về bao nhiêu thứ Made in China?  Thật ngạc nhiên, có ‘vô số’.  Từ đồ dùng đến thực phẩm, kể cả tủ quần áo cũng không thoát khỏi, mà nếu kể ra đây chắc cũng tốn nhiều dòng!
Điều ngạc nhiên nhất là cái hộc đựng muỗng đũa!  Có ít nhất cũng hơn 10 đôi muỗng plastic và đũa tre chưa đụng tới, còn nguyên trong bọc giấy Made in China.  Như vậy thì số muỗng đũa đã dùng rồi quăng đi, hiển nhiên không phải là ít!   Mà số muỗng đũa đó lại từ nhà hàng Việt Nam(!) cung cấp, do chúng tôi mua ‘food to go’!
Ai dám bảo số đũa tre là không bị ngâm trong hóa chất độc hại để chống ẩm, mốc hay cong vẹo?
Như vậy thì dù đã ‘tự cảnh giác’ nhưng chúng tôi vẫn ‘tự sát’ một cách vô tình!
Đọc quyển Death by China của đồng tác giả Tiến sĩ Peter Navarro và Giáo sư Greg Autry, bản dịch của Tiến sĩ Trần Diệu Chân vừa mới phát hành, để thấy rằng những cái chết đã xảy vô cùng êm ái, không một tiếng động!  Những cái chết đó phải chăng chỉ xảy ra cho một số người?  Không, thưa không đơn giản như thế!  Đấy là cái chết tiệm tiến đang diễn ra cho cả nhân loại, trên toàn thế giới mà chế độ Trung Cộng đem đến!
Nội dung sách như một cuốn cẩm nang được dẫn chứng bằng luận cứ khoa học mà có thể tra cứu để tìm hiểu căn nguyên bệnh trạng cho cả nhân loại, do sản phẩm độc hại của một chế độ bất chấp sinh mạng con người!  Và, đặc biệt là sự tàn phá môi trường sống của địa cầu!  Với 326 trang viết, 12 trang hình ảnh dẫn chứng, cộng thêm 90 trang phần tiểu luận đặc biệt Những vấn đề Trung Quốc của dân tộc Việt Nam của dịch giả Trần Diệu Chân, Tiến sĩ Kinh tế University of California at Santa Cruz.
Tựa đề bản dịch tiếng Việt là Chết bởi Trung Quốc là chính xác nhưng mang tính hàn lâm.  Còn tôi, đơn giản hơn, cụ thể hơn, thay vì dùng Trung Quốc để chỉ một đất nước, một dân tộc, tôi dùng Trung Cộng, như tựa đề bên trên, để nói về bản chất của chế độ cộng sản, một chế độ đã và đang còn gây tai ương cho toàn thế giới!
  
Sách gồm 16 chương, mỗi chương cô đọng một vấn đề. 
Thí dụ Chương II:  Chết vì thuốc độc Trung Quốc.  Hóa chất Melamine, Heparin.  Chương III:  Chết vì hàng tồi Trung Quốc.  Những hồ sơ kinh hãi về an toàn sản phẩm.  Công ty cao su Zhongce ở Hàng Châu qua mặt pháp lý Hoa Kỳ về chất lượng vỏ xe gây tai nạn giết người.  Chương V: Chết vì bị thao túng tiền tệ.  Công nhân Hoa Kỳ khó thể cạnh tranh hiệu quả với công nhân Trung Quốc.  Vì không thể cạnh tranh khi tỷ giá đồng Mỹ Kim với đồng Nhân dân tệ (Yuan) bị thao túng!  Chương VII: Chết bởi Rồng thực dân.  Thực dân Trung Quốc tại Phi Châu, Châu Mỹ La tinh, cung cấp sản phẩm giết người và đổ rác độc hại.  Chương IX: Chết vì gián điệp Trung Quốc tràn ngập trong mọi lãnh vực.  Chương XIII:  Trung Quốc nói dối ngay trong Hiến pháp của họ “Công dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do diễn hành và biểu tình” (Điều 35)…
Tác phẩm là một tài liệu sống động, cụ thể.  Là kết quả công sức của hai tác giả sau hai năm nghiên cứu, viếng thăm, phỏng vấn tại nhiều thành phố, nhiều công xưởng ở Trung Cộng.  Sách được phát hành đúng 22 năm ngày xảy ra biến cố Thiên An môn (1989-2011) và bộ phim Death by China cũng đã được trình chiếu ra mắt tại Pasadena, Nam California ngày 17/8/2012. 
Hai tác giả cũng như sách đều đang bị cấm tuyệt tại Trung Cộng. 
Là tác phẩm chính trị nhưng không khô khan như thường nghĩ!  Trái lại, có thể nói đây là một tác phẩm vô cùng lôi cuốn đối với người không liên quan đến bất cứ sinh hoạt chính trị nào, như tôi! 
Bây giờ, thử đi vào chi tiết một chương.  Chương nói về những việc rất đỗi bình thường trong đời sống hàng ngày mà hiếm khi chúng ta để ý. 
Xin trích vài đoạn trong Chương II, từ trang 39 – 54:
“Chết vì thuốc độc Trung Cộng*
 “Trong tủ lạnh chúng ta, Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất về Thủy sản cho Hoa Kỳ, cung cấp then chốt về thịt gà và xuất khẩu trà đứng thứ 3 trên thế giới.  Những nông gia Trung Quốc cũng cung cấp 60% nước táo đặc, 50% tỏi và những số lượng đáng kể về mọi thứ từ lê và nấm đóng hộp đến mật ong thường và mật ong chúa.
Về dược phẩm, Trung Quốc là nơi sản xuất 70% penicillin của htế giới, 50% aspirin và 33% Tylenol.  Các công ty dược phẩm Trung Quốc cũng chiếm lĩnh nhiều thị trường thế giới về kháng sainh, enzyme, amino acid, thuốc bổ.  Thậm chí, Trung Quốc còn chiếm lĩnh đến 90% thị trường thế giới về vitamin C, đóng vai tròhàng đầu trong việc sản xuất vitamin A, B12 và E, bên cạnh những thành tố gốc trong các thuốc multivitamins” (trg 39-40)
“Một ví dụ như 10% các nhà hàng Trung Quốc đã sống nhờ cái gọi là “dầu phế thải” (Gutter Oil) dùng làm dầu nấu ăn.  “Gutter Oil” là loại dầu cặn bã đã sử dụng được vớt lên từ những ống cống hôi thối của các nhà hàng, có chứa rất nhiều độc tố gây ung thư gan có tên là “aflatoxinmold”.  Những bọn vớt dầu cặm bã Trung Quốc bán nó ngay tại cửa sau của nhiều nhà hàng với giá bằng 1/5 giá của dầu đậu nành hay đậu phọng mới.  Bên cạnh chứng ung thư gan, chất dầu cặn bã nầy và đủ loại thức ăn vụn trong đó có thể gây chết bất đắc kỳ tử cho những ai bị dị ứng” (trg 40-41)
“Melamine – kẻ sát nhân hàng loạt của Trung Cộng*
“Mặc dù loại dầu cặn bã tuy thấy tởm, nhưng không ăn thua gì so với cách giết người hàng loạt của những kẻ sát nhân Trung Quốc bằng chất độc melamine… Melamine thực sự là một hóa chất có giá trị – khi nó không được lén lút bỏ vào thức ăn.  Tổng hợp nó với Formaldehyde để chế ra nhựa melamine..  có thể sử dụng melamine như chất làm chậm cháy, phân bón, hay chất siêu plastic để làm bê tông có sức đề kháng cao.  Nhưng nếu cho melamine vào thức ăn để cho gà, chó mèo, sữa, hay sữa bột trẻ em thì nó phá hủy hai trái thận nhanh hơn bất kỳ thứ gì khác.  Nhưng tại sao bọn gian thương “tim đen” của Trung Quốc lại cho melamine vào trong thực phẩm?  Đó là vì số lượng nitrogen cao trong melamine sẽ làm tăng chỉ số chất đạm (protein).  “Sự giả mạo protein của Trung Quốc” như thế nhằm đánh lừa những nhân viên kiểm tra thực phẩm về mức độ protein trong thức ăn.  Vì melamine rẻ hơn protein rất nhiều…” 
“Trung Cộng* giết người bằng chất Heparin”
“Heparin là một hoạt chất chống đông máu rất phổ thông trong những vụ giải phẫu và chuyền máu cũng như lọc thận, được tinh chế từ màng nhờn ruột heo. Trên thực tế, đó là lý do tại sao Trung Quốc đã đi vào tiến trình sản xuất heparin: Vốn là thủ đô lợn của thế giới..” “Để tăng lời, các nhà sản xuất Trung Quốc đã bỏ thêm vào heparin một chất có hoạt tính tương tự như heparin nhưng nguy hiểm chết người, đó là chất chondroitin sulfate với nồng độ sulfate quá tải, đưa đến phản ứng trầm trọng có thể giết người như hạ huyết áp, thở rút, nôn mửa và tiêu chảy… Điều đáng ghê sợ là chất này rất giống heparin khiến việc điều tra chất heparin rất khó khăn; tà chất này lại rẻ gấp 100 lần so với giá trung bình: chỉ có $9 một pound so với heparin $900 một pound. (trg 44-45) 
(Hết trích)
Sự hiểu biết của chúng ta về hàng hóa Trung Cộng thường chỉ qua dư luận.  Sự hiểu biết đó là cần thiết nhưng không cụ thể.  Đọc Chết bởi Trung Quốc chúng ta như trải nghiệm được là chết như thế nào.  Mà khi đã trải nghiệm thì sẽ khó quên!  Chính sự khó quên đó giúp ta tự giải quyết vấn đề cho riêng mình, cho gia đình và sau đó mới có thể làm nhân chứng cho người khác!  
Người chưa đọc Chết bởi Trung Quốc có thể bâng khuâng với câu hỏi:  Có phải đấy là sự thật hay tuyên truyền vì kỳ thị người Trung Hoa? 
“Tác giả đã chia xẻ với tôi (dịch giả – nv) điều mà ông đã từng phát biểu nhiều nơi khi ra mắt tập sách rằng Tác giả đã không viết trong tinh thần bài Hoa, mà ngược lại, để bài trừ một chế độ đã giết hại quá nhiều người dân Trung Hoa – kể cả người dân các sắc tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ, Nội Mông; đó chính là chế độ cộng sản Trung Quốc.” (Trích, trg 10)
Trung Cộng với dân số khổng lồ, 1 tỉ 350 triệu người, nên chính họ cũng đã coi sinh mạng người dân như cỏ rác.  Tiêu biểu như câu chuyện vô cùng thương tâm mới xảy ra cách đây không lâu.  Tai nạn của một bé gái 5, 6 tuổi đã bị 4, 5 xe cán qua mà tài xế vẫn thản nhiên bỏ chạy (nhờ camera ghi hình mới biết được) để cuối cùng một người đàn bà quét đường lao ra cứu và em bé đã chết sau đó tại bệnh viện! 
Chính Mao Trạch Đông trong cuộc “Cách mạng Văn hóa” đã dùng Hồng Vệ binh giết hàng triệu người mà cho đến bây giờ chân dung ông vẫn chễm chệ ngay giữa quảng trường Thiên An môn!
‘Cách mạng đã ăn thịt chính con đẻ của nó’!  Câu nói đó hoàn toàn chính xác với chế độ cộng sản!  Không cần nhìn những diễn biến chính trị phức tạp tại Trung Cộng, người Việt Nam cũng đã và đang chứng kiến tận mắt!  Sau khi chiếm được miền Bắc, cộng sản đã ‘ăn thịt con đẻ’ của họ qua chương trình Cải cách Ruộng đất (1956-1958) với hàng trăm ngàn nông dân bỗng chốc bị quy kết là địa chủ và bị xử tử hình!  Câu chuyện Bà Cát Thanh Long Nguyễn Thị Năm, một người đã từng nuôi dưỡng và che giấu cho các cán bộ lãnh đạo cao cấp nhất của đảng cộng sản Việt Nam, đã bị ông Hồ Chí Minh làm ngơ để mở đầu cho phát súng “đào tận gốc, trốc tận rễ bọn trí, phú, địa, hào!”  Và hôm nay, các bà “mẹ liệt sĩ”, “thương binh” “anh hùng..”… bị cướp đất, cướp nhà đang lê lết ngoài đường phố, khiếu kiện từ địa phương đến trung ương, năm nầy qua năm khác..
Vì thế căn bản của vấn đề là chủ nghĩa cộng sản.  Chính chủ nghĩa nầy là quái thai của con người!  Cộng sản sẵn sàng vứt bỏ mọi giá trị căn bản của con người chỉ với tham vọng không tưởng.  Tham vọng mà Trung Cộng đang ấp ủ là đến năm 2050 họ sẽ trở thành cường quốc số một thế giới!
Người Trung Hoa đang chiếm gần một phần tư dân số thế giới và trái đất ngày nay như nhỏ bé hẳn lại, nhờ tin học.  Do đó bất cứ diễn biến gì trên thế giới cũng đều có liên hệ ràng buộc xã hội.  Vì thế cả tỉ người Trung Cộng đang là nạn nhân trực tiếp “Chết bởi Trung Quốc” của chế độ cộng sản mà chính cá nhân họ đôi khi cũng không hề hay biết.  Thì sự báo động đỏ về nguyên nhân “Chết bởi Trung Quốc” không hẳn chỉ cho người bên ngoài mà cũng chính là cho người Trung Hoa lục địa.  Vì nếu không có ý thức trong sinh hoạt hàng ngày thì cả tỉ người đó cũng là tác nhân gây ô nhiễm thêm cho toàn cầu!
Tập sách như một cánh cửa vừa được mở ra cho thế giới nhìn vào thực trạng ở Trung Cộng mà cũng chính cho người lục địa nhìn ngược ra thế giới bên ngoài!  Vì thế, nếu có nghi ngờ về mục đích của cuốn sách là kỳ thị người Tàu thì một câu hỏi đơn giản phải có, đó là:  Liệu chúng ta có thể chống gần một phần tư nhân loại? 
Dù muốn hay không nhân loại cũng phải sống chung trên trái đất, hít thở chung một bầu khí quyển!  Cho nên đánh thức lương tri của giới cầm quyền là trách nhiệm chung.  Và chế độ chính trị nào gây di hại cho nhân loại, chế độ đó nhất định sẽ bị đào thãi! 
Đã hẳn là không dân tộc nào không có tham vọng!  Nhưng tham vọng đó là phải tôn trọng luật chơi chung của thế giới:  Phải bảo vệ sinh mạng con người!  Chế độ cộng sản Trung Quốc đang bất chấp quy luật đó thì mỗi người chúng ta đều phải cảnh giác và hành động! 
Là người Việt Nam, hơn ai hết, chúng ta càng không thể làm ngơ với tên láng giềng có cả lịch sử bốn ngàn năm xâm lược!
Hồ Phú Bông

Trung Cộng đi lầm nước cờ ADIZ—Ngô Nhân Dụng

Nước Tàu đã đẻ ra những ông Quản Trọng, Khổng Minh; cho nên khi nói họ đi một nước cờ dại dột chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận lắm. Nhưng suy đi nghĩ lại, vẫn phải nói là nước cờ họ mới đi là sai lầm. Mười ngày trước (23 tháng 11, 2013) Bắc Kinh công bố lập một vùng phòng thủ kiểm soát không lưu (Air Defense Identification Zone – ADIZ) ở Ðông Hải. Nếu tính lợi hại thì chẳng thấy lợi đâu cả. Mà thiệt hại thì thấy ngay trước mắt. Về đủ mọi mặt.
Vùng phòng thủ không lưu ADIZ này bao trùm lên mấy hòn đảo nhỏ li ti đang tranh chấp, tên Nhật Bản là Senkaku, Trung Quốc gọi là Ðiếu Ngư. Bắc Kinh đòi tất cả các máy bay qua vùng này phải thông báo cho họ biết, nếu không sẽ có “biện pháp phòng không,” chẳng nói rõ là sẽ làm gì. Chính phủ Nhật Bản đã phản đối mạnh mẽ, vì ngoài Senkaku, vùng ADIZ của Bắc Kinh trùm lên vùng biển mà Nhật đã ấn định là vùng phòng không của họ. Hán Thành cũng phản đối. Mỹ ở xa, chỉ tỏ ý phàn nàn rằng Trung Cộng đơn phương thay đổi thế cân bằng đang có sẵn. Vùng ADIZ này máy bay thương mại qua lại thường xuyên, trong các chuyến bay giữa Trung Quốc, Nhật, Nam Hàn, Ðài Loan, và từ nơi khác tới các nước này. Phản ứng của ba nước cho thấy nếu Trung Cộng muốn ép các nước phải công nhận vùng vùng biển mà họ khoanh ra đòi kiểm soát, thì họ đã hoàn toàn thất bại. Họ không ép được ai cả. Không đạt được lợi lộc nào. Ngược lại, Bắc Kinh đã bị mất mặt.
 
Lúc đầu, hai công ty hàng không thương mại của Nhật đã tuân theo lệnh, các phi công báo cho Bắc Kinh biết đường bay của họ khi bay qua vùng này. Nhưng sau khi chính phủ Nhật Bản lên tiếng phản đối thì các công ty hàng không Nhật đã ngưng, coi như không. Các máy bay thương mại của Nam Hàn cũng bỏ qua, không làm theo lệnh Bắc Kinh. Cơ quan hàng không Mỹ khuyến cáo các hãng máy bay của họ hãy thông báo đường bay khi qua vùng này, để bảo đảm an toàn cho hành khách. Nhưng chính quyền Mỹ thử bằng hành động: Ngày 26 tháng 11, hai pháo đài bay B52 cất cánh từ đảo Guam đã bay thẳng qua không phận quần đảo Senkaku, mà không hề báo tin cho Bắc Kinh biết, như quy luật họ đặt ra. Chính phủ Mỹ cho biết đây là một chuyến bay diễn tập thường xuyên, và hai máy bay không đem theo bom. Nhưng ai cũng thấy đây là một hành động vừa để cảnh cáo vừa trắc nghiệm xem Trung Cộng sẽ đối phó thế nào. Trung Cộng không làm gì hết. Họ cố gỡ thể diện với lời giải thích rằng các máy bay quân sự Mỹ chỉ bay qua sát đường ranh của vùng kiểm soát phòng không họ đã vẽ mà thôi. Giải thích như vậy người Tàu lục địa nghe có thể tin, nhưng người ngoại quốc sẽ cười thầm. Bởi vì chính quyền Mỹ ngay sau đó cũng thông báo là các chuyến bay quân sự sau này đi qua vùng ADIZ đó cũng sẽ không báo trước cho Bắc Kinh biết. Và các chương trình tập trận giữa quân đội Mỹ với quân Nhật sẽ diễn ra trong vùng biển phía Ðông của Trung Quốc như đã dự trù. Cuộc thao diễn này lấy chủ đề là nếu nước Nhật bị tấn công thì quân hai nước sẽ phối hợp ra sao. Quan trọng nhất, cả bộ trưởng quốc phòng và phó tổng thống Mỹ, trong chuyến công du qua Tokyo, đều nhân dịp này nhắc lại rằng Mỹ phải bảo vệ Nhật Bản theo hiệp ước an ninh hỗ tương đã ký kết. Và họ nhấn mạnh hiệp ước này bao gồm cả quần đảo Senkaku.

Nếu Bắc Kinh đặt ra vùng ADIZ này để muốn đe dọa các nước chung quanh và Mỹ, thì họ hoàn toàn thất bại. Không ai tỏ ra sợ. Những pháo đài bay B52 còn có ý thử thách, nếu không nói là khiêu khích, mà Bắc Kinh không dám phản ứng. Bắc Kinh đã mất thể diện. Nhưng hậu quả của vụ này sẽ còn kéo dài chứ không biến đi trong mấy tuần hay mấy tháng.
 
Trước hết là thái độ của dân chúng các nước Nhật Bản và Nam Hàn đối với Trung Cộng sẽ trở nên nhiều nghi ngờ, thêm cứng rắn, và khinh thường sức mạnh của Trung Quốc hơn. Thái độ đó sẽ thể hiện trong các lá phiếu, họ sẽ ủng hộ các nhà chính trị cứng rắn khi đối đầu với Bắc Kinh.
 
Một hậu quả mà Bắc Kinh chắc không tính trước, là hành động của họ đã đẩy Nam Hàn về phía Nhật Bản. Xưa nay hai nước vẫn thù nghịch, vì Nhật đô hộ Hàn Quốc trong thế kỷ 20 với những chính sách tàn bạo. Nhưng với quyết định ADIZ vừa rồi, người dân Nam Hàn sẽ cảm thấy họ cũng chịu chung một mối đe dọa như dân Nhật. Vùng ADIZ này cũng bao gồm cả mấy hòn đảo Socotra Rock mà Trung Quốc đang muốn tranh với Nam Hàn. Nước này đang xây dựng một căn cứ hải quân tại đảo Jeju, ngay bên cạnh vùng ADIZ của Bắc Kinh. Căn cứ hải quân này chứa 20 chiến hạm, tầu ngầm, nhắm mục đích bảo vệ an ninh đường biển cho các tàu xuất cảng. Cả Nam Hàn và Nhật Bản đều đang xuất cảng và đầu tư vào Trung Quốc, nhưng mối lợi về thương mại này cũng không khiến cho dân chúng chấp nhận nhượng bộ một hòn đảo nào cho Bắc Kinh, và càng bị đe dọa thì họ càng phản ứng mạnh hơn.
 
Trong tháng Mười, Nhật Bản mới thành lập một Hội đồng An ninh Quốc gia; giống như Trung Cộng cũng vừa mới làm. Hiến Pháp của Nhật, do Mỹ soạn thảo năm 1947, vẫn cấm không cho lập quân đội, chỉ có “lính tự vệ,” như vậy thì lập ra một Hội đồng An ninh Quốc gia để làm gì? Dân Nhật Bản cho đến nay đa số vẫn muốn giữ bản Hiến Pháp hòa bình này. Nhưng nhiều nhà chính trị đang muốn thay đổi hoàn toàn, nghĩa là tái lập quân đội và tái võ trang. Cứ để yên như bây giờ, lực lượng “tự vệ” của Nhật đã mạnh ngang với Trung Quốc, và mạnh hơn về hải quân và không quân. Nếu nước Nhật tái võ trang, liệu họ có tính làm bom nguyên tử hay không?
 
Gần đây, một máy bay không người lái của Trung Quốc đã bay qua vùng đảo Senkaku không người ở. Người Nhật đe dọa rằng lần sau thấy họ sẽ bắn rớt, và một vị tướng Trung Cộng đã phản ứng, nói rằng làm như vậy coi như là “gây chiến.” Cuộc đối đáp đó cho thấy không khí bang giao đang sôi nóng như thế nào.
 
Việc bảo vệ an ninh cho Nhật hiện nay do Mỹ phụ trách, với quân đội đóng trên quần đảo Okinawa; nằm sát vùng ADIZ của Trung Cộng. Việc tuần phòng trên biển cũng do hải quân Mỹ làm. Nhưng chính phủ Nhật đang dự trù đưa tới Okinawa những máy bay chiến đấu F-15, cùng với các máy bay quân sự do thám bằng radar, cùng một mẫu hạm cho máy bay trực thăng. Họ cũng sẽ xây dựng một căn cứ quân sự mới, năm 2016 sẽ xong, trên một hòn đảo hiện nay bỏ hoang, nằm gần Senkaku. Trong chính sách chuyển hướng quốc phòng về miền biển phía Nam, chính phủ Nhật cũng đang mua những máy bay không người lái (drone) của Mỹ để tuần tiễu thường xuyên trong vùng biển giữa Nhật và Trung Quốc. Giới quân sự Nhật đang cố vận động tâm lý dân chúng để ủng hộ chương trình canh tân quân đội “tự vệ.” Giới tư bản công nghiệp Nhật sẽ hoan nghênh nếu được trao thêm những hợp đồng quốc phòng. Quyết định lập ra vùng ADIZ của Bắc Kinh tặng cho họ một cơ hội bằng vàng. Nhất là nếu người Nhật cảm thấy nghi ngờ về quyết tâm của chính phủ Mỹ trong việc bảo vệ họ.

 

Ngô Nhân Dụng

Thư Mời Tham Dự Phiên Họp Khoáng Đại ngày 15/12/2013

ThuMoi

Mỹ lui bước lúc Bắc Kinh vẫn rụt rè?—Việt Long K23 – RFA

Trước sau “không như một”?

F-15

Chiến đấu cơ F-10 của Nhật Bản – US Airforce photo

Phó Tổng thống Mỹ Josepth Biden công du châu Á lần này để thực hiện đường lối ngoại giao tế nhị của Hoa Kỳ ở Đông Á: một mặt tìm cách hạ nhiệt mối căng thẳng quân sự với Trung Quốc, mặt khác bày tỏ lập trường ủng hộ đồng minh Nhật Bản giữa lúc Tokyo cương quyết đối đầu với Bắc Kinh trong cuộc tranh chấp lãnh hải trên biển Hoa Đông.

Chuyến đi Nhật Bản-Trung Quốc-Hàn quốc của ông Biden đã được Tòa Bạch ốc hoạch định từ lâu, để chứng minh chính sách chuyển trục chiến lược sang châu Á, giữa khi nhiều nước Á châu quan ngại rằng Mỹ đã lơ là với khu vực địa chính trị quan trọng này vì Tổng thống cùng các cố vấn hàng đầu phải chú tâm vào những cuộc tranh chấp chính trị nội bộ, trong khi Ngoại trưởng Kerry để hết thì giờ và tâm trí vào vấn đề Iran ở Trung đông.

Cuộc đối đầu Tokyo-Bắc Kinh đưa đến quyết định của Trung Quốc xác lập vùng xác định phòng không, ngôn ngữ quốc tế gọi là ADIZ, viết tắt nhóm từ Air Defense Idendification Zone. Khu vực ADIZ này bao gồm cả vùng đảo tranh chấp Senkakư/ Điếu Ngư với Nhật Bản và đảo Ieodo tranh chấp với Hàn quốc.

Hoa Kỳ chỉ trích Trung Quốc đã làm tình hình căng thẳng, và tái xác nhận quyền hành chính của Nhật Bản trên vùng đảo tranh chấp. Và đột nhiên hai pháo đài bay B-52 không võ trang từ Guam được điều động bay qua không phận này lúc sáng thứ ba, 3 ngày sau khi Bắc Kinh công bố về ADIZ của họ. Không ngoài dự kiến, Trung Quốc chỉ phản ứng bằng lời lẽ ngoại giao. Nhật Bản liền khuyến cáo các phi cơ dân dụng bay qua đó đừng thông báo theo Trung Quốc yêu cầu, như họ đã làm trước đó một ngày, và các phi cơ của All Nippon Ailines và Japan Airlines cùng với Peach Aviation đã ngưng thông báo.

J-10

Chiến đấu cơ J-10 của Trung cộng – Courtesy of ausairpower.net

Điều đáng lưu ý là trước khi B-52 bay qua ADIZ mới của Trung Quốc, chính Tokyo đã khuyên các hãng bay hãy thi hành quy định của Bắc Kinh về thông báo như vậy trong không phận này.

Sau đó Nhật Bản, Đài Loan và Hàn quốc liền theo chân phi vụ B-52 của Hoa Kỳ, điều động nhiều phi cơ thám sát và chiến đấu cơ bay qua đó trong những ngày kế tiếp. Trung Quốc cũng đưa phi cơ chiến đấu tới, gọi là để quan sát, theo dõi, và dành cơ hội cho báo chí Nhà nước tô vẽ lại thể diện của chính quyền Bắc Kinh. Báo chí và dư luận theo khuynh hướng quốc gia cực đoan của Trung Quốc liền thổi phồng điều họ gọi là “khả năng theo dõi và kiểm soát những hành vi phạm pháp của các phi cơ nước ngoài, để những lực lượng đó không dám hành động quá trớn!”

Nhưng, đang lúc Bắc Kinh còn rụt rè chỉ lên gân nửa chừng, thì lại một lần bất ngờ, vào lúc phó Tổng thống Biden lên đường đi Tokyo, tòa Bạch ốc thông báo rằng chính phủ Mỹ đã đề nghị những công ty hàng không quốc tế của Mỹ hãy tuân thủ quy định của Bắc Kinh về việc thông báo mọi chi tiết về đường bay của những phi cơ Mỹ bay qua không phận ADIZ mới được Trung Quốc thiết lập.

Tokyo hiển nhiên khá thất vọng trước thái độ gọi là “trước sau như hai, ba” của Washington, trong khi mọi đồng minh châu Á đang kỳ vọng vào lập trường “trước sau như một” của quốc gia đứng đầu phương Tây, mặc dù tòa Bạch ốc khẳng định ngay rằng đề nghị như vậy không phải là công nhận vùng ADIZ do Trung Quốc đơn phương áp đặt.

Lý do nào đưa đến quyết định xem ra như một bước lùi của Washington trong khi Bắc Kinh vẫn còn lấp ló chung quanh vùng ADIZ đó?

Lùi một bước, tiến bao nhiêu?

Các chuyên gia về Trung Quốc và châu Á đều đoan chắc là tại Tokyo phó Tổng thống Biden sẽ tái xác định một cách chắc chắn nhất rằng Hoa Kỳ luôn luôn có mặt đúng lúc và đúng nơi trong mọi tình huống an ninh của đồng minh Nhật Bản, thể theo chương 5 của Hiệp ước phòng thủ chung ký kết từ thập niên 1950, đồng thời khẳng định lại sự nhìn nhận quyền kiểm soát hành chính của Tokyo trên vùng tranh chấp, và phản kháng mọi hành động xâm hại đến quyền đó.

JapanAir

Chiến đấu cơ của Nhật Bản

Song song, một số nhân vật trong giới quan sát nhận định rằng Washington đã có hành động tế nhị về ngoại giao và giải quyết xung đột khi khuyến cáo các phi cơ dân dụng tuân thủ quy định của Bắc Kinh về ADIZ. Hành động tế nhị này, theo những chuyên gia ấy, nhằm tạo tiền đề thuận lợi cho phó Tổng thống Joseph Biden để giúp Trung Quốc thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng do họ gây nên.

Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia tại Luân Đôn, Jonathal Eyal, cho rằng ngày thứ tư này Phó Tổng thống Biden sẽ nêu ra với chủ tịch Tập Cận Bình một cách thức để thoát khỏi cuộc khủng hoảng, “Người Mỹ có thể sẽ nói với người Hoa rằng cuộc khua chiêng gõ trống này chẳng phải là điều khôn ngoan lắm, chỉ gây phản tác dụng, và lối thoát chỉ đơn giản là Trung Quốc hãy xuống thang trong việc khẳng định cứng nhắc vùng ADIZ như đã làm, và đừng cưỡng hành một cách cứng rắn quy định riêng của họ như đã đe dọa biện pháp quân sự vào lúc công bố không phận xác định phòng không này.

Nguyên cố vấn của phó Tổng thống Biden, bà Julie Smith, cho rằng ông Biden luôn luôn tự tin vào khả năng xã giao lịch thiệp hòa nhã cùng với tài năng riêng của ông trong những mối quan hệ cá nhân, khi ông diện kiến chủ tịch họ Tập, mà ông từng quen biết từ trước khi ông Cận-Bình bước lên ngôi vị tối cao của đại cường Trung Hoa. Bà Smith nói “Ông Biden biết cách nói chuyện, để cho người đối diện hiểu rằng ông không chỉ vẽ họ phải làm gì, mà chỉ nêu ra những điều tư vấn để bên ấy tham khảo. Vì họ đã có quan hệ cá nhân từ trước, phía ông Tập sẽ lắng nghe nghiêm chỉnh và cân nhắc kỹ lưỡng những đề nghị ấy”.

Vai trò lãnh đạo

Một năm sau khi ông Tập bước lên ngôi vị tối cao ở Hoa lục, Hoa Kỳ tuy còn đối đầu quân sự với Trung Quốc nhưng đã thấy nhiều tiến bộ trong công cuộc hợp tác với Trung Quốc trên sân khấu quốc tế, từ vấn đề thay đổi khi hậu đến vấn đề tham vọng hạt nhân của Bắc Hàn, mới nhất là vấn đề hạt nhân tại Iran.

Giáo sư Jia Qingguo, phó viện trưởng Học viện nghiên cứu quốc tế của đại học Bắc Kinh, cho rằng một giải pháp lập tức cho vấn đề ADIZ có thể không thành hình. Ông nói :”Có thể phía Trung Quốc sẽ hỏi rằng đó là hành động thông thường của trên 20 quốc gia, sao phải ầm ỹ thế? Vì vậy hai bên nên tìm hiểu ý định của nhau, và minh định ý muốn, rồi cùng tìm hiểu xem nên cùng mong đợi điều gì. Tuy vậy vấn đề này có thể vẫn dai dẳng. Dù sao thì ông Biden đến Bắc Kinh lần này cũng là điều hay để vấn đề được thảo luận ở cấp tối cao. Ngoài ra còn những vấn đề khác cũng cần được nói tới”

KoreanAir

Chiến đấu cơ của Hàn quốc – Courtesy of Wikimedia Commons

Nhà nghiên cứu Jonathal Eyal thì cho rằng chuyến công tác của phó Tổng thống Biden đi đến với cả các đồng minh cũng như đối thủ chính yếu trong khu vực là nhằm chứng tỏ rằng Hoa Kỳ là cường quốc duy nhất đủ sức duy trì sự cân bằng của khu vực, và đó là mục đích chính khi người Mỹ xác định chính sách chuyển trục sang châu Á”

Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia tại Luân Đôn, Jonathal Eyal, cho rằng Trung Quốc đã mạnh bạo thiết lập ADIZ là vì quan điểm phổ biến tại châu Á rằng Washington không dám đụng tới biện pháp quân sự sau những tổn thất sinh mạng và phí tổn tài chính khổng lồ ở Iraq, Afghanistan, cùng với mối nghi ngờ của người châu Á về sự lơ là của người Mỹ với khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Vì thế Hoa Kỳ đã đi đầu trong phản ứng mang tính cách quân sự đối với ADIZ, và lại dịu ngọt xuống thang để đóng vai trò cường quốc duy nhất có khả năng hòa giải, lấy lại thăng bằng cho cán cân lực lượng và sự ổn định cho khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Việt Long – RFA

Happy Thanksgiving!

 

 photo Thanksgiving2013_zps0313ad26.jpg

Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên Houston – Texas

Phân Ưu cùng Tang Quyến cố Trung Tướng Phan Trọng Chinh K5

K5PhanTrongChinh

Trốn Trại—Nguyễn Ngọc Thạch K20

alt

     Sau khi ở tù cải tạo được 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa, thì có một số tù được đua lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long. Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này. Đơn vị đầu tiên khi tôi mới ra truờng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long. Và trong suốt thời gian phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở trong vùng rừng xanh đất đỏ này.
     Giữa tháng 5 năm 1980, họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại Tống Lê Chân. Đây là một trại tù ở giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẽm gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín, không nhìn thấy được bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh được trí súng đại liên. Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn càng sớm càng tốt.
     Khi ở trại Suối Máu Biên Hòa tôi có lượm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu ngón tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm được treo trên sợi chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng Bắc, còn đầu kia là hướng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi phải dùng dầu hắc nhựa đường để làm dấu đầu hướng Bắc.
     Trong thời gian ở tù chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu, một nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp. Thu cũng cho biết là có thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình. Bình là một nguời rất tháo vát, lanh lợi và đã từng đỗ đầu khóa học “Rừng Núi Sình Lầy” ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Bình đã làm đuợc một cái kềm để cắt kẽm gai. Kềm này làm bằng hai quai xách của cuộn kẻm gai concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng. Khi một đầu được đập dẹp, mũi mài nhọn và đục lỗ, thì trông giống như lưỡi dao. Nhưng khi hai cái luởi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm trục xỏ xuyên qua hai lỗ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.
     Để chuẩn bị cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải ngụy trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối v.v… Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc nylon thật kín cho khỏi ướt, để bên trong áo trước ngực, mặc đồ trận áo lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để cất giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu hướng Bắc bằng dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là biết để đi cả ban đêm. Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải, đồ đạc mang theo tất cả đều phải được ngụy trang cho tiệp với màu cây lá trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào. Ngoài ra chúng tôi còn sắp đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy tạo như là có ý định sẽ đi xa, tức là sẽ đi về hướng Bắc để qua biên giới Kampuchia.
     Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem tất cả những gì ngon đem ra ăn, ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi. Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn dấu. Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè. Tôi có cho một người bạn cùng khóa là Lương Văn Thìn mấy gói mì, mà bạn tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên tôi không có đá động gì tới chuyện trốn trại.
     Suốt trong ba tuần lể liền, Thu đã phải theo dõi thật kỹ các toán tuần tra canh gác, giờ nào đi tuần, giờ nào đổi gác v.v… Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ xuất phát là 9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra. Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho công an coi truyền hình, đến 9 giờ thì tắt. Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần. Và theo như chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để cắt kẻm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua con đường tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài. Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại. Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở dưới đất được, theo đúng nguyên tắc canh gác ban đêm là phải ở dưới thấp. Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối tuần trăng, để khi chui ra thì trời còn tối, đến nửa đêm trăng lên dễ thấy đường để đi. Chúng tôi chọn đêm 22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là không tốt.
     Đúng 8 giờ ruỡi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm 1980, chúng tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để chuẩn bị cắt dây lạt của lớp hàng rào tre trước, để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện vừa tắt là chui ngay. Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở ngoài suối có ánh đèn của công an đang đi bắt cá ở dưới suối, nên chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thường lệ.
     Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa, vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ. Lần này cũng đúng 8 giờ rưỡi là ra cầu tiêu, vì cầu tiêu là chỗ tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý. Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẳn sàng chui ra. Lớp hàng rào tre này được chôn sâu dưới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy đặc. Vì vậy rất khó gỡ ra, phải đào sâu xuống đất mới vạch ra một lỗ vừa chui và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn tre. Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu chui, thì bất ngờ có hai người đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng trốn. Bình chui ra trước là để cắt kẽm gai rồi đến tôi chui kế, tiếp theo là hai người trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng.
     Sau khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẻm gai thứ nhứt. Nhưng phía dưới lớp hàng rào kẽm gai này là rãnh thoát nước với đất bùn xình hôi thúi, nên chui lòn qua được mà khỏi phải cắt. Đến lớp hàng rào kẽm gai thứ hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẽm gai của VC rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ. Họ bắt phải đào một cái rảnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẻm gai ngay từ phía dưới rào lên, rồi lấp đất lại, nên không có cách nào vén lên để chui lòn qua được, mà chỉ có cách duy nhứt là phải cắt thì mới chui ra đuợc. Mà cái kềm cắt kẽm gai của Bình biến chế nên không cắt dễ dàng nhanh chóng được. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn xình hôi thúi, tôi nhìn lên bầu trời đầy sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến, vì không còn cách nào hơn để lựa chọn được nữa.
     Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua được và còn một lớp sau cùng cũng mất 5 phút nữa. Và cuối cùng chúng tôi chui qua được hết và phải bò thật nhanh, chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hỏa lực, vuợt thật nhanh qua khoảng đất trống, rồi trườn mình xuống suối. Lúc đó tôi có cảm giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực. Tiếng thở dồn dập hổn hển mà tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng nước khi ngâm mình trong nước để lội qua suối.
     Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rễ cây để leo lên vì lòng suối sâu thẳm. Lên khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre, rồi băng qua con đường mòn. Con đường mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới. Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ nhau kéo Thu lên. Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm.

Không bao lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nổ ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần. Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài con đường mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì vậy chúng tôi hết đường chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó. Sau này được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời chui trốn theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuổi theo để bắt chúng tôi.

     Chúng tôi cố nằm yên không động đậy. Một lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong trại, chắc là VC đang ra lệnh tập họp điểm danh. Một hồi lâu sau thấy yên tịnh, không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay là đã đi chỗ khác. Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò đi vì không thể chần chờ ở đây lâu được.

Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật nhẹ nhàng, nếu lỡ có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò được một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi được bao nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì. Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chỗ này, nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, bước đi thật nhẹ nhàng im lặng. Tôi lấy thẳng huớng Nam mà đi, đi ngược với hướng Bắc là hướng qua biên giới. Chúng tôi giữ đúng hướng, không đi theo đường mòn hay chỗ trống, bất kể là băng qua các đám ôrô dưới suối hay bụi lùm gai góc. Và càng lúc nghe tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần.

     Khi đó nghe có tiếng xe molotova, loại xe chở quân của VC, chạy đổ ra tứ phía. Chúng tôi phải đi chậm lại, sửa soạn đồ đạc cho thật gọn gàng, tuyệt đối không được gây tiếng động và phải quan sát cho thật kỹ. Mỗi nguời nhìn một hướng, khi đến chỗ trống hay gặp đường mòn là dừng lại lủi ngay vô bụi rậm gần nhứt rồi từ từ quan sát sau. Có nhiều lúc gặp họ đang đi bằng xe đạp, chạy ngang qua rất gần mà họ không thấy. Mỗi khi muốn băng qua đường mòn hay trảng trống, chúng tôi dừng lại nghe ngóng quan sát rất kỹ rồi mới chạy nhanh qua từng người một. Bỗng đâu có một tốp nguời Thượng, vợ chồng con cái vừa đi vừa nói chuyện lào xào, nên chúng tôi lủi tránh kịp thời.
     Lúc trời sáng hẳn chúng tôi đổi huớng đi về phía Đông tức là hướng ra quốc lộ 13. Đi trong rừng hoang vắng nhưng thỉnh thoảng nghe có tiếng đốn cây chặt củi, chúng tôi phải tránh xa ra. Đi tới chiều thì gặp con đường lộ đá đỏ, đó là đường vô Minh Thạnh. Chúng tôi chuẩn bị kỹ rồi băng qua đường cho thật nhanh và lủi vô sâu trong rừng một khoảng xa rồi dừng lại nghỉ. Chúng tôi lựa chỗ kín đáo để dừng lại nghỉ, bởi vì từ đêm tới giờ gần một ngày tròn đã đem hết sức lực để cố vượt thoát xa vùng nguy hiểm, nên bây giờ thấy thấm mệt, nhứt là vấn đề nước uống rất là khan hiếm. Tôi mang theo lon guigoz đựng nuớc uống nhưng đã bị đổ mất hết vì nắp đậy của lon guigoz không kín chắc, giờ thấy khát rát cổ họng. May sao Bình tìm đuợc một giếng nước bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, nhìn xuống giếng tối om không thấy nước, nhưng khi thòng lon guigoz xuống, múc lên được những lon nuớc thật trong veo, uống thật ngon thật đã, nhờ đó chúng tôi ăn mì gói với nước lạnh. Xong rồi lấy thêm đầy nuớc rồi đi ngay, tiếp tục lấy hướng Đông để ra Quốc lộ 13.
     Trời bắt đầu tối, nhưng khi tiếp tục đi thì nghe có nhiều tiếng súng trong rừng, chắc có lẻ là họ đi săn, mà cũng có thể là bọn công an, vì vậy chúng tôi phải dừng lại để tìm cách lẩn tránh. Chúng tôi ra giữa đám trảng tranh lớn cao quá ngang đầu, vạch đuờng ra ở giữa đám tranh, trải một tấm nylon để nằm nghỉ lưng và canh chừng mọi động tĩnh chung quanh. Nếu có nguời đi tới thì chúng tôi sẽ thấy dễ dàng để tìm đường lẫn tránh, nhưng nguợc lại họ sẽ không thấy chúng tôi được vì tranh cao quá khỏi đầu. Khi đó hỏi chuyện nhau mới biết tên hai nguời đi chui theo, đó là Tường phi công phản lực A37 và một nguời nữa tên là Thạch, hình như là nguời Việt gốc Hoa, tôi không biết đơn vị, cả hai anh đều mang dép nên rất khó đi.
     Sáng sớm hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đuờng sau khi xóa mọi dấu vết. Khi đi thỉnh thoảng gặp các bẫy của người Thuợng rất là nguy hiểm, như bẫy cò ke, nếu vướng chân vào thì cần bật sẽ bung lên rất là mạnh, có thể làm bị thương, hay bẫy bắn tên khi đụng vào cần bật thì bao nhiêu mũi tên tẩm thuốc độc sẽ bắn xuống. Vì vậy khi thấy khả nghi là phải dừng lại xem xét cho thật kỹ rồi tránh xa ra. Chúng tôi rất khát nước vì đi cả ngày mồ hôi ra nhiều mà không có miếng nước uống nên khát dữ lắm. Gặp một cây nói là trái gấm, Bình leo lên hái xuống ăn thử, vừa ngứa miệng, vừa khát nước thêm. Có lần gặp được nước đọng trong các lằn bánh xe bò và trên những lá cây khô còn đọng nước của những trận mưa truớc, chúng tôi góp nhặt lại hớp những giọt nước đó cho đỡ khát.

Đến chiều thì trong lúc đang đi bất chợt gặp một em bé trai độ 11, 12 tuổi đang lang thang trong rừng. Chúng tôi giả dạng như là cán bộ đi khảo sát địa chất và hỏi em bé ở đâu có suối, thì em bé đó chỉ về hướng trước mặt, đi thêm vài chục thước là thấy suối, một con suối rất lớn. Nhìn ở phía xa kia là một khu rừng đã được phát quang và có các cây to bị đốt cháy nám đen, một đám người đang cuốc đất làm rẫy, chắc là dân vùng kinh tế mới. Chúng tôi lội xuống suối uống một bụng nước thật no nê. Sau đó chúng tôi tìm chỗ bụi lùm kín đáo để nấu cơm, nấu bằng lon guigoz, hai đứa thay phiên nhau quạt để khói đừng bốc lên cao. Chúng tôi ăn bữa cơm này thật là ngon, ăn cơm nóng với bột ngọt trong gói mì.

     Sau khi ăn xong, trời đã xế chiều, chúng tôi thấy đoàn nguời làm rẫy đi về nhà đi theo hướng Đông, như vậy là ra Quốc lộ 13, nên chúng tôi đợi cho họ đi hết rồi mới men theo con đuờng mòn đó để đi cho nhanh. Đi độ chừng một tiếng đồng hồ thì ra tới ấp, tôi đoán chừng là vùng Tân Khai hay Tàu Ô, nằm cạnh Quốc lộ 13. Thấp thoáng nhìn từ xa thì thấy có lớp hàng rào tre bao bọc, và hình như có cổng ra vào, giống như một trại tập trung, nên chúng tôi không dám đến gần và cũng không muốn vô đó làm gì.
     Sau khi trời xụp tối thì chúng tôi tiếp tục đi, chúng tôi dự định đi trong bìa rừng theo đường rầy xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh nằm song song với Quốc lộ 13 để đi, dự định sẽ đi qua khỏi quận Chơn Thành, rồi mới ra đường đón xe. Riêng hai nguời trốn theo là Tuờng và Thạch thì không dám đi nữa, mà họ có cho địa chỉ nếu ai về được đến Sài Gòn thì nhắn dùm gia đình họ lên đón. Chúng tôi ba đứa đi lần mò trong đêm và vì trời tối quá nên không đi đuợc bao xa, mà đành phải dừng lại nghỉ qua đêm.

Sáng sớm hôm sau lên đường đi tiếp, đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ bên cạnh một cái ao nhỏ xung quanh có cây cối um tùm, dễ ẩn náu để nấu cơm ăn. Xong rồi lại đi tiếp, đến chiều chạng vạng tối thì đến một cái ấp khác, một xóm nhà lô nhô ngoài gần quốc lộ, chúng tôi ở bìa rừng trốn trong hầm hố cũ đuợc che phủ bởi những lùm tre rất kín đáo. Buổi chiều dân trong làng đi lao động về, họ đi ngang qua khá gần chỗ chúng tôi đang trốn, tiếng chó sủa dữ dội nhưng họ không để ý mà chỉ lo đi cho mau về nhà.

     Chiều hôm đó nằm nghe tiếng chó sủa, tiếng trẻ con đùa giỡn trên đường, nhìn khói lam chiều từ một mái nhà tranh quyện bay lên không trung mà lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn. Chạnh lòng nhớ đến vợ con, thầm nghĩ đến một mái ấm gia đình bên vợ hiền con thơ mà tôi uớc mơ đuợc như họ. Được sống đầm ấm trong một căn nhà tranh vách đất ở một miền thôn quê rừng núi nào đó. Nhưng nghĩ lại thân phận tôi là một người tù trốn trại, tương lai rất mờ mịt, không biết ngày mai sẽ ra sao. Một ước muốn tầm thuờng, được làm một nguời dân bình thường để sống mà lo cho gia đinh nuôi vợ nuôi con cũng không được. Tôi buồn cho thân phận bơ vơ lạc lõng của tôi trong cái xã hội mới này. Hoàn cảnh của tôi thật đúng với câu “nước mất nhà tan, gia đình ly tán”. 
     Đêm đó chúng tôi khát nước vô cùng, cồn cào lên cổ họng. Bình với ý định lẻn vô nhà dân để xin nước uống, nhưng tôi với Thu cản lại, vì bao công trình giờ rủi ro vô gặp phải nhà của công an thì nguy khốn, đành chịu nhịn khát qua đêm. Nhưng không ngờ đến khoảng nửa đêm thì trời đổ xuống một trận mưa thật lớn. Chúng tôi mừng quá lấy tấm nylon ra căng để hứng nuớc uống. Uống no bụng xong rồi, đổ đầy vô lon guigoz mà trời vẫn tiếp tục mưa càng lúc càng lớn. Chúng tôi bị lạnh quá phải ôm lấy nhau trên đầu phủ tấm nylon và mỗi đứa phải lo ôm thật chặt bộ quần áo tốt ở trong bọc nylon, ôm kỹ ở trước ngực để gưữ cho khô. Trận mưa này thật lớn thật lâu sau cùng rồi cũng dứt hẳn. Vì không thể đi tiếp trong rừng cho đến quận Chơn Thành, vì đường còn xa mà đường rầy xe lửa thì không còn nguyên như truớc nữa, mà chỉ còn là những đám rừng tre che phủ um tùm rất là khó đi, chỉ có thể chui lòn dưới đám tre gai, cho nên chúng tôi quyết định là sẽ chia tay nhau ở đây, phân tán ra mỗi nguời tự tìm cách để đi về Sài Gòn rồi sẽ gặp lại nhau sau.

Trời hừng sáng chúng tôi thay bộ đồ thật tốt thật tươm tất, đồ đạc còn lại đem chôn dấu trong bụi, xong chờ cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là lần lượt ra đường, lựa khoảng trống giữa hai nhà mà ra đón xe. Bình lên đường trước tiên, một lúc sau thì đến Thu, và tôi là người ra đường sau cùng. Khi bước ra quốc lộ 13 tôi lấy bình tĩnh đi men theo bên đường chờ đón xe. Tôi không thấy Bình đâu hết mà chỉ thấy Thu đang đi phía truớc tôi một khoảng xa. Có chiếc xe Lam (xe ba bánh chở hành khách hiệu Lambretta) chạy trờ tới tôi liền đón để đi, vì xe đã đầy nguời nên tôi phải đeo theo xe đứng ở phía sau. Thu cũng lên được chiếc xe đi trước tôi. Xe chạy qua cầu Tàu Ô và như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ ở giửa khoảng Tàu Ô – Tân Khai. Trước kia, đây là đoạn đường nguy hiểm nhứt của quốc lộ máu mang số 13 và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận chiến vô cùng ác liệt, mà dấu vết các hầm hố còn lại rất nhiều, dọc theo bìa rừng trông ra quốc lộ.

     Khi xe vô quận lỵ Chơn Thành tôi xuống xe ở đầu ấp Chơn Thành 2 để đi bộ vô, vì sợ vô tới bến xe sẽ gặp công an. Đi bộ dọc theo con đuờng vào quận lỵ, tôi nhớ lại các nơi mà ngày xưa quen biết như Trại cưa Lê Quang, Trại cưa Mai Chấn Hung, Lò than ông Năm Thãnh, sau này ông Năm Thãnh cũng lập thêm trại cưa. Đi gần đến chợ là đến bến xe và tại ngã tư đường đi Đồng Xoài có một đồn cảnh sát hồi xưa, bây giờ là đồn công an Việt Cộng. Tôi dự định đi bộ ra khỏi quận lỵ rồi mới đón xe để đi Bình Dương. Tôi đi ngang qua dãy phố chợ mà ngày xưa có các tiệm ăn như Nghĩa Thành, Bạch Tuyết, nổi tiếng với món canh chua cá lóc, cá kho tộ. Đi ngang qua ngôi chùa, qua cây cầu là gần đến đầu quận lỵ. Tôi nhìn thấy Thu đang đi phía truớc bỗng dưng đổi huớng qua trái tấp vô một quán nước. Tôi nhìn kỹ về phía truớc phía bên phải thì thấy có một trạm kiểm soát nên tôi cũng đổi hướng qua trái tấp vô một quán nuớc. Tôi nhớ mài mại hình như đây là quán của bà Năm Chích, có cô con gái ra tiếp. Tôi kêu một ly cà phê, ngồi uống để quan sát coi trạm kiểm soát đó nó hoạt động như thế nào. Tôi thấy rõ hai thằng công an coi tù ở trong trại ra đây chận xét xe để nhìn mặt bắt chúng tôi, hai tên này đứng bên cạnh trạm kiểm soát tài nguyên. Mỗi khi xe đến đó, tài xế vô trình giấy tờ cho trạm kiểm soát tài nguyên ở bên trong, thì hai tên công an đứng bên ngoài đi ra lục soát xe.
     Tôi đoán chắc là nó sẽ bố trí chận xét ở đây để bắt tù trốn trại, vì đây là quân lỵ gần nhất, mà muốn ra khỏi quận thì phải đi ngang qua trạm kiểm soát này. Nếu đi bằng xe đạp, xe thồ, mặc đồ như nguời đi làm cây làm củi trong rừng thì mới lọt qua đuợc. Còn nếu bây giờ băng vô trong rừng để đi bọc qua thì cũng sợ gặp phải người lạ mặt họ dễ nghi ngờ, vì mình mặc đồ sạch sẽ tươm tất quá. Tôi còn đang phân vân không biết phải làm cách nào để qua khỏi trạm kiểm soát này, thì thấy Thu đi ngược trở lại, ngang qua chổ tôi. Thu trở lại bến xe để đón xe đi, còn Bình thì không còn thấy tâm dạng đâu hết, chắc là đã đi thoát rồi.
     Tôi ngồi chờ một hồi thì thấy chiếc xe lô chạy trờ tới, tôi nhìn thấy Thu ngồi ở băng sau cùng. Xe tới trạm kiểm soát thì ngừng lại, trong khi người tài xế vô trình giấy tờ thì một tên công an đi ra nhìn vào xe, một lúc sau thì tài xế trở ra và nó cho xe chạy đi. Tôi mừng cho Thu đã thoát nạn, giờ đây chỉ còn lại một mình tôi, tôi không còn biết cách nào khác hơn là trở lại bến xe để đón xe đi. Đây là chổ nguy hiểm nhứt mà tôi cố tránh nhưng không đuợc nên đành phải liều mạng.
     Khi vô bến xe thì thấy có một chiếc xe lô, loại xe nhỏ để chở khách, tôi thấy xe trống trơn chưa có ai, tôi lên ngồi băng sau cùng. Ngồi một lúc lâu thấy nóng ruột nên mới hỏi bác tài là xe chừng nào chạy, ông ta nói chờ khách lên đầy thì đi, mà thường là khách ở trong Minh Thạnh ra nhiều. Tôi hơi lo vì khách ở trong Minh Thạnh ra có thể là công an trong trại ra đi phép. Ngồi một hồi lâu thì chợt có một tốp người đi buôn than họ lên gần đầy. Bỗng tôi thấy có hai đứa nhỏ độ hơn mười tuổi tay cầm một con gà, tay xách một giỏ đồ, tôi liền nhanh miệng kêu hai em bé đó vô ngồi gần bên tôi và tôi phụ xách dùm đồ, làm như vậy thấy đỡ trống trải vì có hai em nhỏ che đỡ phần nào.

Khi xe chạy tới trạm kiểm soát thì dừng lại, bác tài vào trình giấy tờ trong trại kiểm soát tài nguyên. Tôi thấy một thằng công an, đứng bên cạnh trạm kiểm soát, bước ra để nhìn mặt nguời trên xe. Nó nhìn vào băng trước, trên đó có hai người ngồi, tôi nghe tiếng quát tháo của tên công an là hai nguời ngồi đằng truớc là “tại sao đầu tóc để dài bù sù nhu cao bồi du đãng, đâu đưa giấy tờ coi”. Sau khi coi xong giấy tờ hai người phía truớc là nó liệng vô xe rồi ra lệnh cho đi một cách thật oai quyền. Cũng vừa lúc bác tài đã trở ra xe, bác tài liền rồ ga cho xe chạy đi, mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa thoát được một trạm kiểm soát thật là vô cùng nguy hiểm.

     Xe chạy qua khỏi Tham Rớt, Bầu Bàn, Bầu Lòng rồi đến quận Bến Cát, ở đây cũng có trạm kiểm soát nhưng là trạm kiểm soát tài nguyên nên không có gì trở ngại. Xe chạy về tới Chánh Hiệp Bình Dương, một trạm kiểm soát rất lớn, nơi cửa ngỏ vô thành phố nên xe đậu nối đuôi nhau rất dài. Chiếc xe tôi đi là xe nhỏ chở than lậu nên tài xế đã biết cách vô trình giấy tờ và nộp tiền mãi lộ là xong ngay. Xe đi tiếp vô thành phố vào đậu ở bến xe, tôi xuống xe cũng vẫn còn nắm tay hai em bé vô mua giấy xe để về Sài Gòn, vì hai em bé đó cũng về Sài Gòn. Tôi thấy người ta sắp thành hàng dài để chờ mua vé xe, tôi cũng sắp vô hàng chờ đợi. Nhưng khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy mỗi người khi mua vé xe đều phải trình ra một thứ giấy tờ gì đó, hình như là giấy phép đi đường hay là giấy căn cước, mà trong mình tôi thì không có thứ giấy tờ nào nên tôi hơi sợ, nên mới nói với hai em nhỏ là cứ sắp hàng để mua vé về Sài Gòn truớc đi còn tôi thì sẽ đi sau. Tôi bỏ ra ngoài tìm đường khác để đi, chớ khi mua vé họ hỏi đến giấy tờ là mình không biết trả lời ra sao, vì trong mình tôi không có thứ giấy tờ nào hết. Tôi vào quán nước kêu ly nước đá chanh vừa uống vừa quan sát để tính kế. Bỗng chợt thấy xe Honda ôm, tôi liền nghĩ ra phương cách hay nhứt để đi về Sài Gòn là bằng xe ôm. Tôi dự định là sẽ về nhà của chị Đồ ở Phú Thọ. Trong những lần đi thăm nuôi, vợ tôi thường đi chung với chị Đồ nên hai gia đinh rất thân nhau và trước khi trốn trại tôi có dọ hỏi anh Đồ địa chỉ nhà cho thật kỷ, thật đầy đủ chi tiết đuờng đi nước bước, làm sao vô nhà, đi vô ngõ hẻm nào v.v…. Tôi chỉ hỏi chơi chơi chứ không cho anh biết ý định trốn trại của tôi.
     Anh lái xe ôm ra giá đi Sài Gòn là 50 đồng, tôi không có đủ tiền nhưng tôi nói với anh là đưa tôi về đến nhà tôi lấy tiền rồi trả sau. Sau khi bằng lòng giá cả anh ta mới đi đổ xăng và trở lại đón tôi. Trên đường đi tôi cũng nói thêm với anh là tôi vừa ở vùng kinh tế mới về, bị mất hết giấy tờ nên nhờ anh chạy làm sao để tránh các trạm kiểm soát. Anh ta nói là tụi công an nó chỉ xét coi có buôn đồ lậu, chứ như ông đi mình không, thì không có gì để xét thì đừng có lo. Tôi nghe mừng trong bụng và trong lúc đi đuờng tôi có hỏi chuyện thì anh có cho biết hồi truớc anh là lính của Sư đoàn 5 Bộ Binh. Nghe biết vậy thôi chứ tôi cũng không có hỏi thêm gì về chuyện ngày trước. Xe chạy qua các trạm kiểm soát Búng, Lái Thiêu rồi Bình Triệu. Thấy xe kẹt đậu dài dài để chờ xét, còn xe Honda ôm này chạy qua hết mà không bị hỏi han gì và sau cùng vô Sài Gòn qua ngả cầu cư xá Thanh Đa rồi qua cầu Phan Thanh Giản và chạy trên đường Phan Thanh Giản để về Phú Thọ.
     Nhìn quang cảnh thành phố Sài Gòn sau 5 năm trở lại, tôi cảm thấy như bơ vơ lạc lõng, như lạc vào một thế giới nào xa lạ lắm. Đây không phải là thủ đô Sài Gòn năm xưa, một thời đã từng đuợc mệnh danh là một  “Hòn Ngọc Viễn Đông”.  Nay tôi thấy trên đường toàn là xe đạp, mà người người trông lam lũ tả tơi, không cười không nói, với dáng vẻ buồn thiu ảm đạm, thật đúng với câu “nguời buồn mà cảnh có vui đâu bao giờ”.

Khi đến Phú Thọ, xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ, một số con nít chạy theo. Khi xe vô đúng số nhà mà tôi đã học thuộc lòng, tôi gỏ cửa và chị Đồ ra mở cửa. Khi thấy tôi chị buột miệng la lên: “Ủa anh Thạch mới đuợc thả về, còn ông Đồ của tôi đâu”. Tôi lật đật nói nhanh là tôi mới đuợc thả về và xin mượn chị 50 đồng để trả tiền xe. Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe. Khi xe đi rồi và đám con nít đã tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là tôi trốn trại và nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay. Chị hốt hoảng cho biết là mới vừa tuần truớc đây thằng em trai của chị vừa mới vượt biên đã đi thoát được. Nhà chị đang bị công an phường khóm điều tra theo dõi, cho nên chị không dám chứa tôi trong nhà, mà bảo tôi ra ngoài đường đón xe autobus để ra bến xe Xa Cảng miền Tây, ở Phú Lâm, rồi sẽ tính sau. Trước khi đi tôi còn hỏi mượn chị đôi giày, vì đôi giày tôi đang đi là loại giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không tiện. Chị cho tôi mượn đôi giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị nói là chị sẽ đem lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới.

     Tôi ra khỏi hẻm ra ngoài đuờng thì thấy có một quán hủ tiếu, tôi liền tấp vô ăn một tô hủ tiếu, uống một ly cà phê sữa, rồi mới ra đón xe autobus để đi ra Xa Cảng miền Tây. Khi ra đến bến xe Xa Cảng miền Tây, tôi thấy cả một rừng nguời hỗn độn la liệt khắp nơi. Họ trải chiếu, trải tấm nylon hay kê tấm ván tùm lum tứ tung không theo một lề lối nào cả. Hỏi ra mới biết đây là những nguời bỏ vùng kinh tế mới trở về, nhà cửa bị tịch thu không nơi nương tựa đành phải sống lang thang đầu đường xó chợ bến xe. Sau khi thấy cảnh hổn độn này tôi nghĩ thầm là mình có thể trà trộn để ngủ tạm qua đêm ở đây.
     Trong khi đó thì chị Đồ đạp xe đạp từ Phú Thọ vô Gia Định để báo tin cho vợ tôi biết. Sau này gia đình kể lại là khi chị Đồ vào nhà, chị rất lo sợ có người theo dõi, nên chị kéo vợ tôi ra phía sau nhà, không cho mấy đứa con tôi lại gần, rồi chị mới nói cho vợ tôi hay là tôi đã trốn trại. Tôi đang ngồi uống nước đá chanh ở xe nước đá và định chỗ ngủ qua đêm, thì bỗng thấy chị Đồ đạp xe đạp ra tới. Chị đưa cho tôi 50 đồng và một giấy cử tri của vợ tôi gởi và căn dặn tôi sáng mai ra mua vé xe đò để về Mỷ Tho.

Sáng sớm hôm sau trước khi ra bến xe tôi đi tìm nhà của Thạch, là một trong hai người trốn chui theo. Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng và có dặn là nếu ai có thoát về được Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ biết tin, để tìm cách lên đón. Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở gần Phú Lâm nên tôi sẵn dịp ghé qua báo tin. Lúc đó trời còn lờ mờ chưa sáng hẳn, đường vắng vẻ. Khi đi ngang qua trạm xe chữa lửa có vài tên công an đang đứng nói chuyện ở phía truớc, tôi cố giử bình tỉnh khi đi ngang qua. Sau cùng tôi tìm được nhà của Thạch, tôi gõ cửa một hồi thì có người ra mở cửa nhưng với dáng vẻ bực bội vì tôi đánh thức họ quá sớm. Tôi hỏi có phải là nhà của Thạch không, thì họ không trả lời mà đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ một lúc, vì tiếc là không báo tin cho gia đinh Thạch được. Tôi cũng không biết là có đúng nhà không, hay là họ sợ không dám tiếp tôi. Cho đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì về hai nguời trốn chui theo, có thoát được không và bây giờ ra sao.

     Tôi trở ra bến xe ngồi xếp hàng chờ để mua vé xe về Mỷ Tho, trong túi có 50 đồng và thẻ cử tri nên thấy hơi yên tâm. Một hàng rất dài ngồi chờ mua vé xe rồi từ từ nhích lần lên. Tôi ngồi chòm hỏm hai tay bó gối gục đầu rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng đâu có nguời vỗ vai kêu tên tôi, tôi giật mình nhìn lên thì thấy chị Đồ, chị bảo tôi vô quán nước ở bên kia đuờng để gặp bà xã tôi. Vừa mừng vừa lo, chỉ sợ công an theo dõi vợ tôi để đón bắt tôi nên tôi hơi luỡng lự. Chị Đồ vô đứng thế chổ tôi để mua vé xe.

Tôi vô quán để gặp bà xã tôi, vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu, bánh bao, xiếu mại v.v…. Bà xã tôi kêu tôi ăn đi ăn đi. Tôi hỏi coi có ai biết hay theo dõi gì không, thì thấy không có dấu hiệu gì. Ba đứa con tôi đang ở nhà chưa hay biết gì về chuyện này. Sau này kể lại mới biết là chúng nó đói khổ lắm, đâu có được ăn hủ tiếu bánh bao như thế này. Từ ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp, có bao giờ dám ăn các món cao lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ tôi cùng ăn, bà xã tôi cứ kêu tôi ăn đi ăn đi. Phần thì lo sợ công an nó theo dõi, phần thì không biết là về Mỹ Tho rồi sẽ làm gì, nên tôi cố nhét cho đầy bụng rồi đi liền. Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỹ Tho, mà nên ở nhà lo cho mấy đứa con còn nhỏ dại, đừng để bị nguy hiểm cho cả hai, rồi không ai lo cho các con.

     Tôi trở ra chỗ mua vé xe thì chị Đồ đã mua vé xong xuôi và chị còn cẩn thận mua cho tôi tờ báo Nhân dân, chị bảo lên xe đọc báo này người ta tưởng là cán bộ. Tôi lên xe ngồi gần băng phía sau. Xe chạy qua hết các trạm kiểm soát một cách dễ dàng vì ở mỗi trạm bác tài đều biết thủ tục đầu tiên, là tiền đâu. Qua Bình Chánh, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương rồi vô thành phố Mỹ Tho.
     Xe vô đến bến, tôi xuống xe và vô tìm đứa em gái tôi. Vợ tôi có cho biết là em gái tôi bây giờ làm ở tổ hợp may mặc phường 4 ở bến xe này. Mới vừa vô gặp mặt em tôi, nó mừng rỡ rồi la lớn “Ủa anh Tư mới đuợc thả về”. Tôi hơi bối rối vì sát bên cạnh tiệm may là đồn công an phường 4, có một số công an đang đứng gần đó sợ nó nghe được. Tôi giả bộ như thiệt nói một hơi là anh mới đuợc thả về bây giờ em có rảnh ra quán uống nuớc. Em tôi lật đật xin phép bà hội truởng hợp tác xã rồi đi liền. Ra tới quán nuớc tôi mới nói thiệt với em tôi là tôi trốn trại. Em tôi giật mình mặt tái xanh vì quá bất ngờ. Tôi dặn dò em tôi về nhà cho má hay và coi chung quanh có ai không rồi cho anh biết để anh về nhà. Em tôi đạp xe đạp chạy về báo tin xong trở lại làm việc, còn tôi một mình đi bộ về nhà. Má tôi đã biết truớc nên đã mở cửa sẳn chờ. Khi vô nhà tôi đi thật nhanh và đi thẳng ra phía sau nhà vì sợ lối xóm nhìn thấy.
     Sau đó em tôi đi làm về có mua cho tôi một dĩa cơm suờn và hôm sau là cơm tấm bì chả và mua hủ tiếu bánh bao v.v…. toàn là các món ăn ngon đắt tiền mà tôi cũng quên hỏi là em tôi đi may lương tháng bao nhiêu. Má tôi thì già yếu không có làm gì ra tiền. Hồi truớc Má tôi đi may đồ quần áo ở trong nhà thương Mỷ Tho, nhưng đã nghỉ lâu rồi. Sau này mới biết là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo, đôi khi còn phải bán máu để đổi lấy mấy bát cơm, thì nói gì đến thức ăn sang trọng. Thì ra em tôi chạy qua Chợ Củ để xin Cô tôi. Cô Ba tôi có mở tiệm ăn, Cô rất thương tôi, vì vậy khi hay tin tôi về, cô tôi liền gởi cơm và đồ ăn rất ngon qua cho tôi.
     Ở đây đuợc mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi làm cho tôi càng thêm lo sợ, vì sợ công an theo dõi. Tôi mới tính tìm đuờng vuợt biên chớ ở đây lâu thế nào cũng bị bại lộ. Mà tìm đuờng dây để vượt biên không phải là chuyện dễ dàng.  Phần thì không có tiền, phần thì không dám đi lại nên cũng không biết cách nào để vuợt biên, mà tội vuợt biên lúc đó bị coi như là tội phản quốc, chạy theo đế quốc, bọn công an biên phòng bắt đuợc là chỉ có chết. Hồi đó đã có xảy ra những cảnh vuợt biên bị đổ bể, bị công an tàn sát như ở cầu Chữ Y Sài Gòn, như ở bãi biển Vũng Tàu, nhu ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa biển Gò Công v.v…. Họ tàn sát không nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ thơ, hay những lời van xin lạy lục, của những nguời khốn khổ cùng đuờng. Tôi dự định nếu không tìm được đuờng đi bằng ghe tàu, thì như đã hẹn với Thu và Bình, là sau một tháng chúng tôi sẽ gặp lại nhau, để bàn tính để đi bằng đuờng bộ.

Vợ tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của tôi. Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai, vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn. Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ, thì có một người anh bà con cô cậu, đi cùng với một nguời bạn, xuống thăm để từ giã Má tôi, để sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia, và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên, và anh muốn xin địa chỉ của em tôi, hiện đang sống ở Mỹ, để anh liên lạc khi cần. Thật là một điều quá may mắn cho tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn.

     Thế là phải trở về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đuờng đi Kampuchia. Tôi từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà Nội. Tôi và vợ tôi đi theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn. Tôi ra đi mà lòng buồn vô hạn, rồi không biết sẽ đi tới đâu trên buớc đuờng bôn ba vô định này. Ở lại Mỷ Tho thì không được, mà đi qua Kampuchia thì cũng không biết ra sao, thật là đau lòng truớc cảnh chia tay, rồi đây không biết có còn được gặp lại nhau. Trong đêm đó hai bà cháu đã tụng niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được bình an. Trời đã tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài Gòn. Chúng tôi đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương, hy vọng ở đó sẽ có nhiều xe miền Tây lên, dể đón hơn. Ông xe lôi, đạp không muốn nổi, vì trên xe có tới 4 nguời, nên chúng tôi phải thay phiên nhau nhảy xuống để đẩy phụ, nhứt là khi lên dốc cầu Trung An, thì phải nhảy xuống hết rồi qua cầu mới nhảy lên lại.
     Vô tới ngã ba Trung Lương là trời đã tối, nên không còn thấy xe miền Tây nào hết, mà chỉ thấy có một chiếc xe hàng bị hư máy và nguời tài xế đang sửa chửa. Chúng tôi mon men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi xin quá giang về Sài Gòn, nhưng ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ điều gì nên lắc đầu trả lời một cách sẳn giọng là xe đang hư mà làm sao cho quá giang đuợc, vì vậy chúng tôi lại lủi thủi đi tiếp. Ở đây có một trạm công an khá lớn để xét xe từ miền Tây lên, nên có nhiều công an ở đồn bót này, nên trong đêm tối mà đi lang thang ở đây cũng nguy hiểm lắm. Tình cờ có một chiếc xe lô chạy từ Mỷ Tho lên huớng về Sài Gòn, chúng tôi mừng quá đón ngoắc lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một khoảng, rồi bỗng đâu xe dừng lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang. Bác tài chỉ cho đi quá giang một quãng đuờng lên đến Tân Hương để đón xe khác mà đi, vì xe này đi về nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn.
     Trong khi xe đang chạy và qua tài giao thiệp của anh Long, cũng là lơ xe, nên anh biết nhiều nguời trong nghề xe đo nên câu chuyện dần dần trở nên thân mật và bác tài dần dần có cảm tình với chúng tôi. Và sẳn đó anh Long đề nghị bao xe đi Phú Lâm rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách cho chuyến trở về. Vợ tôi móc trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị bao xe 200 đồng và nhờ anh Long nói thêm vô, nên sau cùng bác tài chịu đi Phú Lâm với giá 200 đồng. Thật là hết sức may mắn, chớ nếu tới Tân Hương chưa chắc gì có xe để đi, mà nếu không lên kịp Sài Gòn trong đêm nay thì ngày mai xe sẽ đi sớm rồi, sẽ mất đi một dịp may hiếm có ngàn vàng.
     Khi xe chạy qua khỏi trạm công an Tân Huong một quảng, thì gặp một tốp công an ra chận đuờng. Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác, chỉ có gia đinh tôi, nên rất khó xoay sở trà trộn. Tôi có ý dò hỏi bác tài coi tính sao, nhung bác tài cho biết là xe không có ngừng đâu vì tụi này là tụi chuyên chận xe dọc đuờng để ăn cuớp, bác tài rất rành về bọn này. Tôi nghe thế cũng thấy mừng thêm, vì thà là chạy luôn nó có bắn theo cũng khó trúng. Bác tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần bọn chúng thì tống hết ga vuợt nhanh qua, nên chúng trở tay không kịp, nên xe chạy vuợt qua một cách êm xuôi. Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế tiếp sợ tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn. Tôi hỏi ý bác tài thì bác tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo đừng có lo, nên tôi càng yên tâm tin tuởng bác tài muôn phần. Xe qua khỏi Tân An, Bến Lức, Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi.
     Sau khi trả tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối rồi mà còn phải chạy lo kiếm mượn tiền để đi. Chúng tôi về nhà của Nghĩa cũng ở gần đó, vợ chồng tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ. Vô tới nhà chị Đồ là đúng nửa đêm, giờ giới nghiêm. Chị Đồ không có sẳn vàng chị rút chiếc nhẩn đang đeo trên tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở. Tôi đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của Nghĩa trong lúc đã quá giờ nghiêm nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại thì trể chuyến xe sáng sớm mai đi. Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi, vợ tôi phải xuống xe đẩy phụ qua cầu, nguời của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh xao.
     Về tới nhà Nghĩa, là chúng tôi phải đi ngay đến chổ đậu xe, để kịp chui vô trong xe sắp xếp truớc khi trời sáng. Đây là chiếc xe hàng dân sự bị VC trưng dụng để chở chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên Kampuchia. Long là lơ xe của chiếc xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô trong đống chiếu mà tài xế không hay biết gì. Sau khi sắp lại đống chiếu, vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô, xong rồi Long mới gát hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên như cũ rất là kín đáo. Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với một gói muối.
     Ngoài hai chỉ vàng của chị Đồ cho muợn, vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cuới đang đeo ở tay đưa cho tôi, như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới. Lúc đó cũng khoảng 3,4 giờ sáng, vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn ngồi đâu đó để chờ sáng ra xe chạy. Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi biết là vợ tôi và má của Nghĩa khóc nhiều lắm, vì không biết chúng tôi đi làm sao, vì không ai có tiền hay có vàng đem theo, không biết rồi sẽ đi đến đâu. Riêng tôi thì tôi quyết ra đi mặc dầu không biết ra sao, nhưng vẫn còn tốt hơn là ở lại Việt Nam.

Sáng sớm hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang, nhìn qua khe ván ở sàn xe trời còn lờ mờ nghe tiếng nguời nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền. Khi đến trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì đây là chuyến xe công tác chở đồ cho bộ đội VC. Xe chạy càng nhanh đống chiếu trên đầu càng đe nặng, vì cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên vị trí củ, mà vì sự lúc lắc của chiếc xe đa làm lệch đi và hai đứa tôi phải đưa lưng chống đở sức nặng bên trên đè xuống. Tệ hại hơn nữa là dọc đuờng VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu chúng tôi. Nghe tiếng họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay trên đầu mình. Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng, vì chỉ sợ nó sụp xuống thì bị lộ ngay, rất là nguy hiểm. Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy nhanh rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên ngoài không thấy không biết.

     Đến chiều thì xe tới nơi đậu vào một chổ nào đó mà tôi nghe có tiếng nhạc của những bản nhạc ngày xua. Tôi mừng thầm vì được nghe lại những tiếng hát quen thuộc đầm ấm nồng nàn tràn đầy kỷ niệm của ngày truớc. Tiếng nhạc hòa lẫn tiếng nguời nói chuyện lao xao gần bên cạnh xe. Chúng tôi vẫn nằm im trong xe chờ khi nào có hiệu lệnh của Long thì mới ra đuợc. Một hồi lâu sau khi bên ngoài hoàn toàn im vắng và khi nghe ba tiếng hiệu lệnh của Long thì chúng tôi chui ra. Khi nhảy xuống xe, tôi không thể đứng được vì bị ngồi lâu trong thế co ro nên chân bị tê cứng, mà Long thì thúc hối phải đi khỏi nơi đây ngay vì sợ tài xế và an ninh đoàn xe họ biết, nên tôi và Nghĩa phải cố lết đi ra khỏi xe thật xa.
     Nhìn chung quanh, đây là một bồn binh khá lớn ở cuối đại lộ, bên cạnh một sân vận động, xe đậu một đoàn dài chừng vài chục chiếc, tài xế và lơ xe khá đông, có nhiều xe họ mang theo cả gia đinh vợ con với đồ đoàn nồi niêu soong chảo, nên tôi thấy cũng dễ trà trộn ẩn thân. Tối đó tôi và Nghĩa ngủ ở một đám cỏ bên cạnh đường khoảng giữa đoàn xe và không dám gần xe nào cả vì sợ họ báo với an ninh đoàn xe.
     Ngay tối hôm sau, tôi bán chiếc nhẩn cuới đuợc 75 đồng Riel, tiền Kampuchia, và nhờ Long môi giới mời một số tài xế lơ xe ra quán nuớc uống cà phê nghe nhạc, để tìm cách lân la làm quen gây cảm tình với họ. Tôi và Nghĩa đóng vai lơ xe, bạn với Long. Vì Nghĩa cũng là lơ xe nên nói chuyện dễ dàng, còn tôi thì cảm thấy hoàn toàn xa lạ, nên trong các câu giao tiếp tôi thuờng cuời nhiều hon là nói vì sợ bị bại lộ tông tích.

Ban ngày thì ra chợ Nam Vang, bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi nguời thấy, và vì không biết đường, mấy lần sau thì đi bộ. Đi ngang qua mấy con đuờng rất đẹp với hai hàng cây phủ mát bên đuờng, với những ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu villa của Pháp, giống nhu khu đường Duy Tân, Yên Đổ ở bên xứ mình. Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ là dinh của VC, treo cờ đỏ sao vàng và có lính canh truớc cổng. Mỗi khi đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi giấy tờ bất tử.

     Uống nuớc phong tên ở gần đó, ăn cơm thì mua của mấy gánh bán hàng rong, cơm một dĩa 10 đồng Riel. Ra ngoài chợ thì đi lòng vòng coi nhìn cái này cái nọ cho hết thì giờ, thỉnh thoảng công an chạy ruợt đuổi bắt người ở trong chợ, làm mình cũng sợ giật mình. Tôi thì có ý định tìm mua một quyển sách địa lý để coi bản đồ vùng Battambang, Siem Rệp, vùng biên giới Thái Lan. Họ bày bán sách cũ rất nhiều nhưng đều là tiếng Miên. Tôi lựa xem mấy cuốn sách có hình bản đồ rồi mua một quyển. Nhưng vì tôi không biết tiếng Miên mà mua sách Miên trong đó có hình bản đồ địa lý, nên họ có ý nghi ngờ. Mua xong tôi lật đật đi bộ về chổ đậu xe vì sợ họ báo với công an chợ. Sau khi nghiên cứu bản đồ để biết địa thế, đường đi nuớc buớc, cũng như khoảng cách bao xa. Tôi cố học thuộc lòng vùng Battambang, Siem Rep, vùng gần biên giới Thái Lan, rồi xé bỏ quyển sách đó ngay.
     Lúc bấy giờ bên Miên hoàn toàn do VC kiểm soát, thỉnh thoảng có mấy tên lính Miên trẻ mặt còn non choẹt, mang khẩu AK dài đụng tới đất. Ở đây họ mắc loa phóng thanh cứ sáng sớm và chiều tối là nghe tiếng nhạc Miên, một âm điệu đều đều nghe buồn não ruột, nghe nhớ nhà, nhớ vợ nhớ con, nhớ quê hương mình vô cùng. Cuộc đời tôi cũng không ngờ lại lưu lạc đến noi đây, xứ lạ quê nguời, rồi cũng không biết ngày mai sẽ ra sao. Nghĩ lại thân phận mình, lêu bêu bình bồng, mà cảm thấy buồn vô hạn.

Tôi lân la mấy quán nuớc làm quen hỏi chuyện để tìm đuờng đi, thì đuợc biết là xe lửa chạy từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn chạy nữa, bây giờ chỉ còn đuờng xe, nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm soát để chận bắt đào binh, nên rất khó mà lọt qua đuợc. Tôi ra phía đầu thành phố đường đi về huớng Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra sao. Tôi thấy rất ít xe đi về phía đó và họ kiểm soát rất kỹ. Xe thì không thấy loại xe đò chở khách, mà toàn là xe chở hàng hay xe quân sự. Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng thoát qua đuợc, giá mà còn xe lửa thì tốt hơn.

alt

     Ở đây đuợc ba ngày thì nghe tin đoàn xe được lệnh đi xuống hải cảng Kompong Som tức là Sihanoukville. Tôi không biết hải cảng này ra sao, nhưng nghe nói ở đó có tàu ngoại quốc ra vào. Trước đó tôi có dọ hỏi đuờng lên Battambang, thì họ nói là phải có nguời dẫn đuờng và phải trả bằng vàng, ít nhứt là hai lượng.  Trong mình tôi chỉ đuợc hai chỉ vàng thì làm sao mà đi và hơn nữa chúng tôi không biết tiếng Miên nên rất khó khăn, thành ra tôi đã bỏ ý định đi lên Battambang. Bây giờ nghe tin đi xuống hải cảng Kampong Som thì tôi thấy cứ đi đại xuống đó rồi sẽ tính sau, dầu sao ở hải cảng cũng còn có hy vọng hơn.
     Buổi trua hôm đó tôi và Nghĩa ra chợ mua một nải chuối, lên chùa Năm Tháp gần đó để cúng Phật, để cầu xin Đức Phật Từ Bi độ trì đưa đuờng dẫn lối cho chúng tôi thoát ra đuợc khỏi nạn cộng sản. Sau khi quỳ lạy cầu nguyện Đức Phật xong, khi đứng lên là không còn thấy nải chuối đâu hết, mà trong lúc chúng tôi quỳ lạy thì có nguời tới chớp nải chuối đi mất thật là nhanh.
     Đêm đó suy tính cách theo xe để đi, vì Long bảo phải tìm xe khác mà đi, chứ không được đi theo xe cũ vì sợ tài xế biết. Trong thời gian mấy ngày ở đó tôi cũng đã quen biết nhiều nên họ nhận cho tôi đi theo. Đoàn xe đi đến trạm kiểm soát thì ngừng lại để xét truớc khi ra khỏi thành phố, nhưng vì đoàn xe này có sự vụ lệnh đi công tác xuống hải cảng để chở hàng cho bộ đội VC nên không bị lục soát hay hỏi han gì và qua trạm kiểm soát này một cách dễ dàng.
     Trên đuờng đi VC đóng đồn dọc theo đường, thỉnh thoảng đón xe quá giang, nhưng tôi ngồi phía trước chung với tài xế và lơ xe, nên rất là yên tâm. Trên xe bác tài có khoe một khẩu súng AK47 đuợc phát cho mỗi xe, nhưng chưa chắc là bác tài đã biết sử dụng. Tôi nhớ bữa đó trời mua tầm tả và xe bị hư máy phải dừng lại để sửa chữa, nhưng bác tài rất rành nghề chỉ sửa một chút là xong ngay, nhưng phải câu một bình xăng phụ ở bên ngoài. Đến chiều thì xe đến hải cảng Kampong Som, xe dừng trước cổng trên con đường lộ đá dẫn vào hải cảng. Khi xe vừa đến nơi thì tài xế và lơ xe đi vô cổng một cách tự nhiên mà không bị hỏi giấy tờ gì hết, nên tôi, Long và Nghĩa cũng đi theo vô trong hải cảng một cách dễ dàng.

Hải cảng này ở xa khu dân cư, có mấy lớp hàng rào kẻm gai bao bọc chung quanh, và một trạm kiểm soát tại cổng chính ra vào, với một số công an biên phòng VC canh gác. Đóng trên một ngọn đồi gần đó là một đồn công an biên phòng. Bên trong hải cảng là một bến đá, xây bằng đá tảng, để tàu cặp bến. Tôi cố nhìn thật kỹ quanh bến tàu để tìm xem có chiếc tàu nào của nuớc tự do, nhưng tôi chỉ thấy toàn cờ đỏ búa lìềm, toàn cờ cộng sản, thật là thất vọng vô cùng. Gần bến tàu là hai nhà kho rất lớn bằng sắt cất theo kiểu tiền chế của Mỹ. Có một đuờng rầy xe lửa, và ở phía trong xó góc có vài toa xe lửa bỏ không, không thấy nguời lai vãng, gần đó có một phong tên nuớc. Ở phía ngoài cổng bên cạnh con đuờng lộ đá là một cái ao khá lớn, mà thỉnh thoảng thấy có công an đến câu cá. Chiều tối đó tôi trở ra xe để ngủ qua đêm.

     Sáng sớm hôm sau xe vô đậu truớc nhà kho lớn để chất hàng lên. Họ chất lên những bao bắp hột do nhân đạo quốc tế viện trợ để cứu đói cho dân Kampuchia, nay thực phẩm đó đuợc dùng để nuôi ăn cho bộ đội VC. Tôi chỉ còn bửa nay để đi lại thong thả trong hải cảng này, đến sáng mai khi đoàn xe đi rồi thì tôi không còn chuờng mặt ra đây đuợc nữa, vì bọn công an thấy sẽ biết ngay.
     Chúng tôi đang lân la trong hải cảng thì bỗng có một chiếc tàu tuần của công an biên phòng VC vào cặp bến để lấy nước ngọt ở cái phong tên nuớc. Khi đó họ có hỏi tụi tôi, có muốn mua mấy món đồ lậu như ruợu, thuốc lá, đồng hồ, máy radio cassette v.v….Chúng tôi làm bộ nhận chịu, nhưng hẹn với họ ngày mai sẽ gom tiền cho nhiều để mua một lần cho tiện. Họ nghe nói thế tuởng là trúng mối to. Sau khi lấy nuớc xong là họ đi, truớc khi rời bến họ rủ chúng tôi lên tàu. Long nhanh chân nhảy lên truớc, tôi còn đang luỡng lự ngần ngừ, vì không biết họ đi đâu và đi làm cái gì, họ không nói gì cả, chỉ rủ lên tàu để đi thế thôi. Long đã ở trên tàu rồi nên thúc hối tôi lên tàu. Khi tàu mở dây cột tàu sắp chạy và vì sự thúc hối của Long nên tôi cũng nhảy lên theo, còn Nghĩa thì không đi.
     Tàu chạy ra ngoài, nghe họ kể về những chuyện đi bắt ghe tàu vuợt biên. Họ đã bắt rất nhiều ghe tàu vuợt biên và lên giọng rất là sắt máu. Nguyền rủa những nguời vuợt biên là bọn phản quốc, chạy ra nuớc ngoài, bám chân đế quốc để ăn bơ thừa sữa cặn v.v… Tôi thầm nghĩ đến những chiếc ghe tàu vuợt biên nếu bị chiếc tàu tuần này bắt, thì coi như là thân tàn ma dại. Có những chuyến ghe tàu vuợt biên bị công an VC xả súng tàn sát mặc dầu họ biết đa số là đàn bà con trẻ.
     Họ dẫn chúng tôi xuống hầm tàu để quảng cáo mấy món hàng mà chúng tôi hứa sẽ mua. Tàu chạy một lúc rồi cặp bến vô đậu trong căn cứ hải quân của chúng, rồi bảo chúng tôi lên bờ. Tôi cứ tuởng là tàu trở lại bến cũ cho mình lên, ai dè lại vô căn cứ VC nên cũng hơi ngại ngại. Hai đứa tôi đi ra cổng và đi theo con đuờng lộ đá dẫn vô bờ. Căn cứ này nằm xa bờ chừng vài chục thuớc, có con đuờng lộ đá làm bằng những tảng đá núi mà xe loại lớn có thể chạy đuợc.
     Vô tới bờ đi bộ nguợc trở về hải cảng, dọc theo bờ biển thấy có một xóm chài, có một số tàu đánh cá, hai đứa tôi vô hỏi thăm. Lên một chiếc tàu thì gặp một nguời có mang một khẩu súng AK47, lỡ rồi nên tôi làm bộ hỏi để mua cá. Anh này nguời Miên gốc Việt nên nói được tiếng Việt. Anh ta ngó tới ngó lui rồi hỏi tụi tôi có muốn vuợt biên không. Chắc có lẽ họ thấy bộ dạng mình vô đây là định tìm đuờng vuợt biên nên mới hỏi thẳng như vậy. Thấy anh ta có súng thì hơi sợ, nhưng trong bụng thì muốn tìm cơ hội để đi, nên tôi cũng trả lời lưng chừng là bây giờ mà tính chuyện vuợt biên đâu phải dễ, tụi tôi ở đoàn xe vận tải đang đi công tác ở hải cảng. Ông ta tiếp thêm là nếu muốn vuợt biên thì ba ngày nữa trở lại đây rồi họ sẽ đưa ra hải đảo, ở đó họ sẽ chuyển qua tàu đánh cá Thái Lan, mỗi nguời hai lượng vàng, ba ngày nữa tàu sẽ ra khơi, nếu muốn đi thì lại đây. Nói xong ông ta cho một con cá to và hối tụi tôi đi ngay, vì ở đây lâu không tiện dễ bị nghi ngờ.
     Tôi và Long trở về hải cảng, trên đuờng đi thỉnh thoảng gặp các toán tuần tiểu của công an biên phòng, họ đi tuần tra dọc theo bờ biển. Chúng tôi giả vờ mò cua bắt cá trong các hóc kẻ đá, khi họ đi qua khỏi rồi thì tiếp tục đi. Đi bộ một đoạn đường khá xa chừng vài cây số. Khi về đến chỗ đậu xe thì thấy có gánh bán cơm, tôi đổi cho họ con cá để lấy hai dĩa cơm. Sau khi ăn xong, tôi bàn với Long và Nghĩa là tối nay phải vô ngủ ở trong hải cảng, vì sáng sớm đoàn xe sẽ chạy trở về Nam Vang, khi đó thì mình không còn có chỗ ẩn thân ở bên ngoài đuợc. Long và Nghĩa thì có ý định trở lại Nam Vang, rồi trở về Việt Nam kiếm thêm tiền, vàng rồi trở qua đây, để đi theo mấy ghe tàu đánh cá. Riêng tôi thì tôi quyết tâm ở lại, kiếm chỗ ẩn náu quanh đây, may ra có dịp tìm đường đi, chớ quay trở lại Việt Nam thì không thể đuợc. Tôi quyết tâm là sẽ đi tới mãi chớ không quay lui. Riêng Long và Nghĩa đều là lơ xe nên chuyện đi hay trở về đều không có gì là nguy hiểm cả. Sau khi bàn tính một lúc thì Long và Nghĩa đồng ý ở lại vì thấy tôi quá quyết tâm. Chúng tôi mua ba ỗ bánh mì và lấy theo một bình nuớc rồi vô trong hải cảng ngay, truớc khi trời tối.
     Tôi đã để ý từ truớc thấy có mấy goong xe lửa bỏ không ở một xó góc không có nguời lui tới. Vì vậy chúng tôi đợi đến khi trời tối, kín đáo lẻn vô trong toa xe đó và trốn luôn trong đó. Ngồi trong goong xe nhìn qua khe ván thấy đồn công an canh gác ở cổng cũng không xa lắm, vì vậy chúng tôi phải giữ gìn thật hết sức im lặng, đề phòng thật kỹ luỡng. Trong những lúc nguy hiểm tôi thuờng cảnh giác thức suốt đêm, quan sát nghe ngóng mọi động tịnh bên ngoài. Sợ khi ngủ hết, lỡ mà có nguời nào ngủ mớ la hoảng hay phát ra tiếng ngáy thì nguy hiểm lắm.
     Khi trời sáng hẳn, tiếng đoàn xe rời hải cảng để trở về Nam Vang. Lúc bấy giờ bên ngoài không còn nguời lui tới, không còn thấy bóng dáng tài xế hay lơ xe nữa, vì vậy chúng tôi phải ẩn mình cho thật kỹ.  Chúng tôi nằm im trong toa xe lửa đó, buổi trưa trời nóng như thiêu, chúng tôi cởi trần, nhờ khe ván hở nên cũng không đến đỗi nào. Tôi chỉ sợ nếu có nguời muốn sử dụng goong xe này, họ đến kéo đi thì rất là nguy, chúng tôi sẽ bị phát giác ngay.
     Cho đến chiều thì may quá có một đoàn xe khác xuống cùng vào đậu ở phía cổng như truớc. Tôi mừng quá vì lại có dịp ra ngoài trà trộn với đám tài xế lơ xe mà không ai để ý. Và cũng vào khoảng  4 , 5 giờ chiều hôm đó, bỗng đâu xuất hiện một chấm đen từ ngoài biển khơi đang tiến dần vô bờ, càng lúc càng lớn dần và sau cùng hiện rõ ra một chiếc tàu đang huớng vô hải cảng, rồi từ từ cặp vào bến đá. Một chiếc thương thuyền quá lớn mang tên PEP STAR, đặc biệt là lá cờ trên tàu không phải là cờ đỏ búa liềm, chắc chắn không phải là tàu cộng sản. Hơn nữa chữ PEP STAR có vẻ là tiếng Anh hơn là tiếng Nga.
 alt
     Sau khi tàu cặp bến xong xuôi, thấy có nhiều nguời đi lại gần chiếc tàu, khi đó tài xế và lơ xe ra vô tấp nập. Trời đã tối chúng tôi chui ra khỏi chỗ trốn và tìm cách lại gần chiếc tàu. Lúc đó có nhiều công nhân nguời Miên đang lên tàu, tôi liền hỏi nguời thủy thủ trên tàu họ cho biết là tàu của nuớc Đan Mạch, mà Đan Mạch là một nuớc ở Âu Châu, nên tôi yên trí chắc chắn không phải là một nuớc cộng sản, tôi mừng quá vì có thể xin tị nạn đuợc.
     Trong bóng tối chúng tôi ngồi ở xa xa nhìn lên chiếc tàu thấy công nhân nguời Miên lên xuống theo chiếc cầu sắt cặp sát bên hông tàu. Ở trên tàu ngay chỗ đầu cầu lên xuống có hai tên công an đang đứng canh gác kiểm soát mọi nguời lên xuống rất là kỹ lưỡng. Tôi tập trung quan sát mọi hoạt động trên tàu để tìm cách lẻn trốn lên tàu, nhưng rất là khó khăn vì hai tên công an đang canh gác quá kỹ. Nếu lở lên tàu mà chúng bắt tại trận thì hết đuờng chối cãi chỉ có nuớc vô tù, mà riêng tôi thêm tội trốn trại nữa thì chắc chúng sẽ không tha.
     Kể từ khi chui ra khỏi hàng rào ở trại tù Tống Lê Chân cho đến bây giờ là tôi đã vuợt đuợc một quảng đuờng khá xa, đã ra khỏi nuớc và ra đến biển và con đuờng duy nhất là phải lên cho bằng đuợc chiếc tàu này.  Nhìn lên trên tàu mà thèm thuồng uớc gì mình đuợc trốn vô nằm trong chiếc thuyền cấp cứu đang treo lủng lẳng đong đưa trên đó thì quá kín đáo. Tôi cứ nhìn hoài, tàu này chở những chiếc xe truck, chỉ có phần đầu máy với cái suờn phía sau. Đây là những chiếc xe viện trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc. Cần trục trên tàu đang hoạt động liên tục đang bốc hàng xuống, mỗi lần một chiếc xe, cho nên rất là nhanh. Theo tôi nghĩ thì trong đêm nay sẽ bốc hàng xong và ngày mai tàu sẽ đi, mà tàu của các nuớc Âu Châu thì hiếm khi vào hải cảng của nuớc cộng sản này.
     Trời tối dần mà Long và Nghia thì cứ hối thúc hoài, định leo đại theo dây cột tàu mà ra tàu. Nhưng đèn pha chiếu sáng khắp tứ phía thì làm sao mà leo ra đuợc, mà làm sao thoát hết đuợc ba đứa. Rồi Long lại tính đuờng nhảy xuống nuớc bơi qua bên kia thành tàu rồi tìm cách leo lên tàu. Tàu thì cao sừng sững đâu có dễ gì leo lên được, mà chung quanh đèn chiếu sáng choang, vừa nhảy xuống nuớc là bị bắn liền chứ đừng nói gì tới bơi ra tàu.
     Tôi cứ chờ đợi dịp thuận tiện, mắt tôi cứ dán sát vào hai tên công an đang đứng gác trên tàu, một tên mang súng AK47, còn một tên mang K54 có lẽ là cán bộ. Quan sát theo dõi họ thật kỹ để mong tìm một chút sơ hở, nhưng mỗi lần có ai lên tàu là nó chận lại xét hỏi rất kỹ càng. Với lại mình không biết tiếng Miên, không giống nguời Miên, nên khó qua mặt đuợc nó.
     Bỗng dưng trời xui đất khiến hai tên công an này đồng lúc rời bỏ vị trí buớc vô trong cabin tàu. Tôi vụt chạy lên tàu tức khắc kéo theo Long và Nghĩa. Khi lên đuợc trên tàu chúng tôi chạy băng qua bên kia thành tàu và tìm chỗ ẩn trốn, thì khi đó hai tên công an lại trở ra canh gác như cũ, nhưng chúng chỉ nhìn về phía cầu thang lên xuống, chứ không để ý gì về phía chúng tôi. Tôi nhìn quanh quất không thấy có chỗ nào để ẩn thân, không thể chui vô đống dây luột hay đống cây gỗ bên cạnh đó, vì dấu đầu lòi đuôi không thể che dấu hết ba nguời. Nhìn xuống hầm tàu thì thấy nhân công Miên đang làm ở duới đó và không thể lẫn quẫn ở đây lâu đuợc vì thủy thủ hay công nhân Miên bất chợt họ thấy họ sẽ nghi.
     Ở trên tàu có hai cần trục một cần trục ở phía bên kia đang hoạt động liên tục, còn một cần trục phía gần bên tôi thì không hoạt động. Ở phía trên là phòng điều khiển bằng kiến, ở bên duới là phòng máy, có một lỗ tròn vừa nguời chun vô, tôi liền thử chui vô rồi kéo Long và Nghia vô theo. Tôi cố ép sát nguời vô trong để vừa đủ chỗ cho ba đứa ẩn mình. Lần lần tôi dọn dẹp các lon dầu, đồ đạt dụng cụ để chui sâu vào trong. Nếu có ai bất chợt đi ngang qua thì sẽ không thấy chúng tôi đuợc, nhưng nếu ló đầu vô trong thì sẽ thấy ngay. Hơi yên tâm một chút, lúc đó chắc cũng vào khoảng 11, 12 giờ đêm.
     Cần trục bên kia vẫn còn đang tiếp tục hoạt động, độ một giờ sau thì chấm dứt. Sau đó công nhân lần luợt rời khỏi tàu, duy chỉ còn hai tên công an vẫn đi tới đi lui canh gác bên kia thành tàu. Sau đó nắp hầm tàu đuợc đóng lại, nắp hầm tàu làm bằng những lá sách bằng sắt nó chạy từ trong ra ngoài nghe rền vang. Sau khi nắp hầm tàu đậy xong, bây giờ chúng tôi có thể chui vô sâu thêm nằm truờn mình trên nóc hầm tàu và mọi sự trở lại vắng lặng hoàn toàn.
     Tôi suy nghĩ, truớc khi tàu rời bến chắc chắn công an biên phòng và quan thuế sẽ kiểm soát rất kỹ, cho nên tôi phải tìm chỗ trốn khác kín đáo hơn, chớ không thể trốn ở đây đuợc. Lúc còn ở duới nhìn kỹ mọi hoạt động trên tàu, tôi thấy thỉnh thoảng có thủy thủ lên xuống ở phía truớc mủi tàu, như vậy phải có cầu thang lên xuống ở mũi tàu.
     Đợi đêm thật khuya vắng lặng, tôi dặn dò Long và Nghĩa từng nguời một lần luợt chui ra và phải chờ khi nào công an quay lưng lại thì mới cho chui ra. Bò theo thành tàu, bò ra phía truớc mũi tàu để tìm cầu thang đi xuống hầm tàu. Trên tàu rất trống trải mà đèn thì sáng choang, do đó phải bò thật thấp để không thấy lộ hình lên trên nền trời. Sau cùng tôi đợi khi tên công an vừa xây lưng lại là tôi chui ra sau cùng, bò dọc núp duới thành tàu đến gần mủi tàu thì thấy có một cửa nhỏ, tôi mở chốt cửa rồi chui vào trong, có một cầu thang bằng sắt hình khu ốc, tôi lần theo xuống.
     Xuống đến hầm tàu thì tôi thấy Long và Nghĩa nằm dài ở đó. Đây là khoang tàu nơi chứa hàng, sau khi hàng bốc đi rồi thì trống trơn không có chỗ nào để ẩn thân, mấy cây cột bằng sắt cũng không lớn đủ để che thân. Tôi thấy trốn ở đây không đuợc vì sẽ bị lộ ngay. Tôi lần theo cầu thang khu ốc để đi xuống nữa, thì khi xuống duới đáy hầm tàu, tôi thấy có một đống cây gỗ ở ngay mũi tàu, tôi mừng quá vì tìm đuợc chỗ trốn tốt. Tôi sắp lại đống cây gỗ để chừa ra một lỗ trống, đủ chỗ để cho ba đứa chui vào, xong rồi kéo thanh gỗ đậy lại, trông giống như cũ, không có dấu vết gì khả nghi. Lúc đó chắc khoảng 3, 4 giờ sáng, tôi nằm im trong đó, không dám ngủ và dặn kỹ Long và Nghĩa phải giữ thật im lặng, không được thở mạnh hay ho hen.
     Độ khoảng 6 giờ sáng, tôi nghe tiếng lộp cộp đi xuống cầu thang, họ quét đèn lên trên đống cây, nhưng không thấy gì khả nghi, họ bỏ đi trở lên. Một lúc sau nữa tôi nghe tiếng còi tàu hụ lên ba tiếng, tôi mừng quá vì “tàu souffler ba là tàu ra cửa biển”. Một hồi sau tôi nghe tiếng sóng nước rào rào ở mủi tàu, tôi chợt biết là tàu đã chạy. Vì đang ở mủi tàu nên tôi không nghe tiếng máy tàu, mà chỉ nghe tiếng sóng nước đập vào thân tàu nghe rào rào và càng lúc càng mạnh. Đến một hồi nữa nghe ầm ầm, tôi biết là tàu đang chạy nhanh, đang rẽ sóng ra khơi. Một hồi sau chúng tôi chui ra khỏi đống cây gỗ.
     Tôi định chờ một ngày một đêm rồi mới lên trình diện vì sợ nếu còn trong hải phận Kampuchia hay Việt Nam, thì họ có thể kêu tàu tuần đến bắt chúng tôi. Nhưng đến chiều thì Long bị ói mửa vì say sóng, càng lúc càng nặng, mặc dù trong bụng không còn thức ăn, chỉ ói ra nuớc, ói ra mật xanh. Sau cùng Long năn nỉ tôi phải lên trình diện, nếu không sẽ chết. Lúc đó tôi nghĩ là tàu đã chạy đuợc khoảng 8, 9 tiếng đồng hồ, chưa được xa lắm, chắc là còn trong hải phận Việt Nam, nhưng vì Long năn nỉ quá, nên sau cùng tôi đành phải lên trình diện.
     Một mình tôi lên truớc, theo cầu thang khu ốc để lên và khi vừa chui ra khỏi cửa ở mủi tàu nhìn lên phía phòng lái bằng kính, tôi thấy nguời hoa tiêu đang nhìn xuống phía chỗ tôi, chỗ mũi tàu. Tôi tức tốc tìm cách đi thật nhanh lên đó ngay, vì sợ họ kêu tàu tuần đến bắt. Tôi đi thật nhanh, leo lên cầu thang lên tầng trên cùng và đi thẳng vô phòng lái.
     Thấy tôi vừa buớc vô phòng hoa tiêu, ông ta nỗi giận dậm chân đùng đùng, bấm còi báo động. Ông hỏi tôi là ai, làm gì vô đây. Tôi liền trả lời tôi là sĩ quan Việt Nam trốn từ trại tù ở Việt Nam sang Kampuchia và trốn xuống tàu hồi đêm qua, tôi xin được tị nạn. Nhờ tôi nói bằng tiếng Anh, mặc dù không được trôi chảy, nhưng cũng hiểu đuợc phần nào. Lúc đó quần áo mặt mày tôi lem luốt dính đầy dầu nhớt, mạt cưa trông không giống ai. Tôi nói tiếp tên họ số quân của tôi và tôi đã học khóa Bộ Binh Cao Cấp tại truờng Fort Benning, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ và xin ông vui lòng liên lạc với tòa đại sứ Mỹ nào gần đây thì sẽ xác đinh đuợc lý lịch của tôi. Tôi xin ông một điều là nếu ông không nhận cho tôi tị nạn, thì xin ông bỏ tôi xuống biển, chớ đừng gọi tàu tuần đến bắt tôi, vì họ sẽ giết tôi.
     Sau khi nghe tôi trình bày sự việc, tình hình bắt đầu lắng dịu, tôi liền nói thêm là hiện còn có hai nguời nữa còn đang trốn duới hầm tàu. Ông ta lại nỗi giận lên, kêu nguời đi xuống dẫn Long và Nghĩa lên. Long và Nghĩa đuợc dẫn lên ngồi trong góc, trông rất thãm não, mặt mày xanh xao, quần áo lem luốc bẩn thỉu. Xong rồi ông Thuyền truởng gọi báo về công ty, một lúc sau thì công ty chấp nhận cho chúng tôi tị nạn. Tôi mừng quá đỗi, coi như được sống lại và tôi có hỏi ông là hiện giờ tàu đang ở đâu, có còn trong hải phận Việt Nam không, thì ông chỉ cho tôi thấy một hòn đảo trông mờ mờ từ xa đó là đảo Thổ Chu của Việt Nam và ông cũng nói thêm rằng là kể từ bây giờ không ai có quyền lên tàu này để bắt chúng tôi lại, vì đây là tàu của Đan Mạch là đất nuớc Đan Mạch.
     Một số thủy thủ đứng chung quanh, nghe thấy, dần dần họ có cảm tình với chúng tôi, họ đưa cho quần áo giày dép rồi dẫn chúng tôi đi tắm. Cho chúng tôi vô ở trong một căn phòng, đây là phòng của một ông kỹ sư đã đi phép. Trên giường nệm có hai tấm nệm tôi lấy một tấm đặt xuống sàn nằm ngã lưng xuống một cách thoải mái tuyệt trần. Một lúc sau chúng tôi được dẫn đi ăn, một bửa ăn thật tuyệt diệu trong đời, trong đó có cơm chiên dương châu và mấy khúc cá thu hấp rất thơm ngon chưa từng có. Đây là một bửa ăn tuyệt diệu nhất, tự do nhất, thoải mái nhất, mà tôi cảm thấy như đuợc sống lại sau bao nhiêu ngày trốn tránh lang thang vất vả căng thẳng tột cùng, có đôi khi gần nhu tuyệt vọng.
     Sau khi ăn xong bửa cơm tuyệt diệu đó, chúng tôi đuợc dẫn đi thăm viếng tàu. Truớc hết đến phòng ông thuyền truởng, ông rót ruợu uống mừng cho chúng tôi đã thoát nạn cộng sản và chụp hình lưu niệm. Sau đó đi tiếp qua các phòng và được biết trên chiếc tàu này có nhiều nguời thuộc quốc tịch khác nhau như Hòa Lan, Đan Mạch, Ba Tây, Phi Luật Tân v.v….Các thủy thủ trên tàu cho chúng tôi xem hình ảnh gia đình của họ và chuyện trò rất là thân mật, thật là hết sức lịch sự và đầy tình nhân ái. Nghĩa có mang theo một số tiền Việt Nam không còn xài được nữa, nên mới đưa cho các thủy thủ. Họ rất tốt bụng đã cho lại chúng tôi mỗi nguời 20 US dollars và chọn cho chúng tôi mỗi đứa một bộ đồ vừa vặn đẹp đẽ để mặc khi lên bờ.
     Chúng tôi được cho lên phòng hoa tiêu để ngắm nhìn hoàng hôn trong buổi chiều tàn, nhìn mặt trời lặn trong cảnh nuớc trời bao la, thật là tuyệt đẹp, mà tuởng chừng như trên chốn bồng lai tiên cảnh nào vậy, trong khi con tàu đang luớt sóng thật êm đềm. Đây là một chiếc thương thuyền rất lớn nên chạy thật là êm ái, khác xa với cảnh tuợng của những chiếc ghe vuợt biên bé nhỏ, chở đầy nguời, bập bềnh trên biển cả mênh mông, sóng gió hãi hùng, và còn phải lo sợ bị hải tặc hảm hiếp, cuớp của giết nguời thật là ghê rợn.
     Buổi tối hôm sau tàu tiến vô một hải cảng với muôn ngàn ánh đèn rực rỡ, trong một vùng vịnh bao la, với vô số thương thuyền tàu bè đủ loại, trông thật hùng vĩ huy hoàng tráng lệ. Đó là hải cảng Singapore. Theo thủ tục của luật di trú thì chúng tôi phải vô trong phòng và thuyền truởng sẽ khóa cửa lại, để giử chúng tôi trong đó. Tuy nhiên nếu có cần gì thì cứ gọi, thỉnh thoảng có nguời đến thăm chừng, thật là hết sức lịch sự tử tế và chu đáo vô cùng.
     Chừng vài tiếng đồng hồ sau thì có hai nhân viên của sở di trú Singapore đi xuồng máy ra lên tàu và mở khóa cửa phòng, thẫm vấn chúng tôi và làm thủ tục giấy tờ, xong rồi họ đi ngay. Sau đó thì có một phái đoàn của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, UNHCR, xuống phỏng vấn và làm thủ tục. Tôi trình bày bằng tiếng Anh, nhưng bất ngờ nguời đó trả lời bằng tiếng Việt và bảo tôi cứ nói bằng tiếng Việt Nam đuợc rồi. Tôi mừng quá vì đuợc gặp nguời đồng hương, sau này tôi đuợc biết đó là cô Bích làm việc trong văn phòng Cao Ủy Tị Nạn ở Singapore. Khi làm thủ tục giấy tờ, và trong nguyện vọng xin đi định cư nuớc nào, thì tôi xin đuợc đi Mỹ, vì hiện tôi có một đứa em đang ở Mỹ, và tôi cũng đã từng du học ở Mỹ, nên nghĩ rằng sẽ đuợc cứu xét dễ dàng hơn. Chúng tôi ngủ thêm một đêm trên tàu và sáng hôm sau thì có nguời của Cao Ủy Tị Nạn ra đón ba đứa tôi lên bờ, tôi còn nhớ đó là cô Robin, nguời nuớc New Zealand.
     Sau một thời gian 22 ngày đêm vuợt thoát từ trại tù Tống Lê Chân, nay tôi được đặt chân lên một đất nuớc tự do là nuớc Singapore vào ngày 27 tháng 6 năm 1980. Chúng tôi đuợc đưa về tạm trú ở khách sạn YMCA. Ở đây hiện có chừng muời nguời Việt Nam tị nạn cũng mới đến chừng vài ngày truớc và họ giao nhiệm vụ cho tôi làm thông dịch viên. Điều đầu tiên là tôi ra Bưu điện để đánh điện tín về Việt Nam cho gia đình tôi biết tin. Vì có tiền 20 dollars nên tôi gọi taxi ra Bưu điện và gởi điện tín về cho vợ tôi với nội dung nhu sau: “Đã giải phẩu xong bình an” , đó là câu mật hiệu để cho vợ tôi biết là tôi đã thoát nạn và đã đến nơi an toàn. Điện tín này đã đến nhà tôi vào ngày 30 tháng 6 năm 1980. Vợ tôi hết sức vui mừng khi nhận đuợc điện tín này, phân vân không biết Singapore là nước nào ở đâu. Vợ tôi liền đi xuống Mỹ Tho để báo tin mừng và vô Trung Lương, nơi đất hương quả mồ mã tổ tiên để cúng tạ.
     Chúng tôi ở khách sạn YMCA vài ba ngày để làm thủ tục. Buổi chiều rỗi rảnh chúng tôi dắt nhau ra chợ Tàu. Đi bộ chừng 15 phút là đến, một dãy kios quán ăn rất là đông vui và ngon miệng. Long biết nói tiếng Tàu nên rất dễ giao tiếp. Ở Singapore 80% là người Hoa, còn lại là nguời Ấn và người Mã Lai.
     Sau đó chúng tôi đuợc đưa vào Trại Tị nạn Sambewang, còn gọi là trại Hawkins. Khi vừa buớc vô văn phòng trại tị nạn, tôi chợt thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn treo trên tường mà lòng hân hoan vui mừng quá độ. Tôi và nhóm nguời mới tới đều vui mừng sung suớng đến rơi nuớc mắt, đuợc hôn lên Lá Cờ  Quốc Gia Dân Tộc và biết chắc rằng mình đã thật sự thoát khỏi ngục tù cộng sản và đã đến đuợc bến bờ tự do.
     Chúng tôi đuợc lãnh tiền trợ cấp mỗi nguời 2.50 đồng một ngày, một đồng Singapore lúc đó trị giá vào khoảng 0.8 dollar Mỹ. Ngoài ra còn đuợc phát mỗi nguời một chiếc chiếu, và cứ 6 nguời thì đuợc phát một cái lò nấu ăn. Đây là một trại lính với nhiều tòa nhà có hai tầng khang trang, trại viên trải chiếu trên sàn gạch rất mát mẻ sạch sẽ, không có ruồi muỗi. Phía ngoài là sân cỏ, đuợc giử gìn chăm sóc cắt xén rất đẹp như một tấm thảm xanh.
     Cuộc sống ở trại tị nạn này rất là thoải mái, có khu chợ nhỏ ngay trong trại, đa số là nguời Ấn độ, bán đủ loại thực phẩm, rau cải, trái cây, đặc biệt là trái sầu riêng ở đây có rất nhiều. Ở ngoài vòng rào và cách trại chừng vài trăm thuớc, có một con rạch rất lớn, có nhiều cá, nhứt là cá rô Phi. Có nguời chui rào ra, luới đuợc rất nhiều cá, đem về bán chui qua các nhà.
     Những nguời đuợc đưa về trại này thuờng là chỉ đuợc tạm trú ở đây khoảng 3 tháng, để làm thủ tục đi định cu, hoặc là những nguời từ trại đảo Galang đưa đến chờ máy bay để đi định cư. Hàng ngày công việc của trại là theo dỏi tin tức phát thanh trên loa, để biết khi nào đuợc gặp phái đoàn để đuợc phỏng vấn và khám sức khỏe.
     Khi mới đến trại khai hồ sơ lý lịch, vì tôi đã từng du học bên Mỹ nên được Ban Chỉ huy trại giao nhiệm vụ làm Thông dịch viên. Công việc thường ngày của tôi là giúp thông dịch nếu có phái đoàn vô trại. Còn không thì phải đưa người đi ra các toà Đại Sứ Anh, Mỹ, Úc v.v…Hoặc đưa người đi bệnh viện, để khám sức khỏe để đi định cư. Ở trong trại cũng có bệnh xá để điều trị các bệnh nhẹ thông thường như ho, đau bụng, nhức đầu, nóng lạnh v.v…Lúc đó có Bác sĩ Rạng trách nhiệm bệnh xá, ông cũng là người tị nạn và trước kia ông từng là bác sĩ của Bệnh viện 3 Dã chiến ở Phú lợi Bình Dương.
     Ở trong trại tôi thấy có nhiều hoàn cảnh rất là thương tâm. Có nhiều nguời mất vợ mất con mất cha mất chồng trên đường vượt biển. Như có một ông bác sĩ, tôi nhớ mang máng tên là Phùng, Bác sĩ Phùng, ông bị khủng hoảng tinh thần gần như điên loạn, vì cả gia đinh vợ con đều bị chết. Tôi thấy ông cứ đi lang thang nói nhảm suốt cả ngày.  Vì ông mắc bệnh tâm thần như vậy nên không được phái đoàn nào phỏng vấn, rồi không biết sau này ra sao.
     Sau khi đến trại đuợc một tuần, tôi liền gởi gói quà nhỏ đầu tiên về cho gia đình, trong đó có vài thước vải đen, chai dầu xanh và kẹo bánh. Ba tháng sau vào tháng 10 năm 1980 thì tôi được đi định cư qua Mỹ. Long và Nghĩa thì được định cư ở Đan Mạch.
     Với lòng tri ơn sâu xa, tôi xin ghi lòng tạc dạ công ơn cứu tử của thuyền trưởng và toàn thể thủy thủ đoàn trên chiếc thương thuyền Pep Star, thuộc công ty hàng hải của nước Đan Mạch, đã cứu vớt tôi và giúp cho tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản và cho tôi đến được bến bờ tự do. Đây quả là một công ơn quá lớn lao mà suốt đời tôi không bao giờ quên đuợc.
     Tôi cũng không bao giờ quên nghĩa cử cao đẹp, đầy lòng nhân đạo của Cơ quan Tị nạn Liên Hiệp Quốc UN/HCR và dân tộc các nuớc trên thế giới, đã mở rộng vòng tay cứu vớt, trợ giúp và cưu mang chúng tôi, những người tị nạn trốn chạy khỏi chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân bản.
     Sau khi đến Hoa Kỳ được một năm thì tôi được vào quy chế thường trú, năm năm thì đuợc vào quốc tịch. Ngay khi đến Hoa Kỳ, tôi lo ngay việc nạp đon xin bảo lãnh gia đình qua chương trình ODP và 9 năm sau thì vợ tôi và ba đứa con đã đến được Hoa Kỳ. Sau hơn 14 năm xa cách kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản, nay gia đinh tôi được đoàn tụ lại như xưa, đã thoát khỏi gông cùm cộng sản và được sống trên quê hương mới đầy lòng nhân ái bao dung.
     Đây quả như là một phép lạ do Ơn Trên ban phuớc cho.
     Nguyễn Ngọc Thạch, K20

Thông Báo Đa Hiệu

ThongBao

Xin Trời để lại còn tôi còn bà—Vô Danh

80 tuoi

Mất gì thì mất bà ơi
Xin trời để lại còn tôi còn bà
Nếu mà có phải đi xa
Để tôi đi trước còn bà đi sau
Mong bà đừng ốm đừng đau
Để tôi có bát cơm rau sớm chiều
Càng già càng quý, càng yêu
Bâng khuâng lại nhớ ít nhiều ngày xưa
Mất gì thì mất bà ơi
Xin trời để lại còn tôi còn bà
Tôi bà nay tuổi đã già
Mà tôi vẫn sợ còn tôi mất bà…

Thuyền Trưởng Đại Hàn Vớt Thuyền Nhân Việt Nam

Thăm Niên trưởng Đông Anh Nguyễn Đình Tạo K10P

DSC05462

DSC05464

DSC05467

DSC05453

DSC05450

DSC05447

DSC05445

DSC05441

DSC05439

DSC05440

Ngọn nến hiệp thông cùng giáo xứ Mỹ Yên bừng sáng khắp nơi

“Hiệp thông trong đau thương, ta cùng nhau thắp sáng lên, những ngọn nến cháy tỏa lan mọi nơi. Nguyện cầu cho đoàn chiên xứ Mỹ Yên được bình an, cho giáo phận Vinh vững niềm tin, để khổ đau tan biến dần. Con xin dâng lên bao nhiêu oan trái những ngày qua, khi muôn con tim luôn luôn khát khao sống trong bình an. Nguyện cầu cùng Chúa ban thêm đức tin xuống trên đoàn con, gìn giữ xác thân hồn con, qua muôn khổ đau trần gian…” (Ngọn nến hiệp thông – Huyền Phạm).

Giáo hạt Nguồn Son (Quảng Bình)
 
Kể từ sau sự kiện công an Nghệ An “bày binh bố trận” để đàn áp bà con giáo dân giáo xứ Mỹ Yên (04/09/2013), mặc dầu rất xa xôi về mặt địa lý, quý cha cùng bà con giáo dân ở Quảng Bình nói chung và Giáo hạt Nguồn Son nói riêng luôn hướng lòng về Mỹ Yên để hiệp thông  chia sẻ bằng những lời cầu nguyện, sự hy sinh… Quý cha trong Giáo hạt đã đọc Thư Chung của vị Chủ chăn giáo phận, Bản tường trình, Văn thư phản đối báo đài và truyền hình, để bà con giáo dân được hiểu đúng chân tướng sự việc. Đặc biệt, tối Chúa nhật 22.09.2013,  quý cha trong Giáo hạt Nguồn Son đã tập trung về thánh đường giáo xứ Đồng Tróoc, trụ sở của Hạt để hiệp dâng thánh lễ Chúa nhật.Sau thánh lễ, quý cha cùng cộng đoàn trị sở đã tổ chức chầu Thánh Thể long trọng, bày tỏ tình liên đới hiệp thông với bà con giáo xứ Mỹ Yên trong giai đoạn khó khăn và thử thách này. Đồng thời, quý cha cùng cộng đoàn tha thiết cầu xin Chúa Giêsu Thánh Thể soi lòng mở trí cho các nhà lãnh đão quốc gia và địa phương biết tôn trọng phẩm giá và sự tự do chính đáng của con người, hầu mọi người được hưởng một nền hoà bình thực sự và viên mãn.

———————————-
 
Giáo xứ An Nhiên

———————————-
 
Giáo xứ Kinh Nhuận (Quảng Bình)

———————————-
 
Giáo xứ Lộc Thủy (Nghệ An)


———————————-
 
Giáo xứ Mỹ Hòa


 
———————————-
 
Giáo xứ Ngọc Long



———————————-
 
Cộng đồng Công giáo Việt Nam tại San Jose, Cali, Hoa Kỳ 
 
Tình trạng đàn áp tôn giáo tại Việt Nam với vụ nhà cầm quyền tấn công thô bạo gần đây tại Giáo xứ Mỹ Yên, Giáo phận Vinh, đã khiến đông đảo tín hữu tại giáo phận San Jose, và các nơi lân cận thuộc vùng Bắc Cali, quy tụ trong một thánh lễ và thắp nến cầu nguyện hiệp thông vào tối ngày 20 tháng 9, 2013 tại Trung tâm Công giáo Việt Nam, San Jose.
 
Buổi lễ long trọng được Hội Ái hữu Giáo phận Vinh Bắc Cali, phối hợp với các hội đoàn bạn tại địa phương tổ chức. Linh mục Phaolô Lưu Đình Dương, Tuyên úy của Hội, đã chủ trì thánh lễ và cuộc đốt nến, cùng với 7 linh mục và phó tế hiện diện…
 
Trần Hiếu




———————————-
 
Giáo xứ Song Ngọc

———————————-
 
Sinh viên Công giáo Vinh tại Quảng Bình

———————————-
 
Giáo xứ Thịnh Lạc (Hương Khê – Hà Tĩnh)


———————————-
 
Giáo xứ Thọ Ninh




———————————-
 
Giáo xứ Thuận Giang


———————————-
 
Giáo xứ Thu Chỉ




 
———————————-
 
Giáo họ Yên Lưu (xứ Thuận Nghĩa)


———————————-
Giáo xứ Tràng Lưu


———————————-
 
Giáo xứ Thuận Nghĩa


———————————-
 
Giáo xứ Mỹ Dụ

———————————-
 
Giáo xứ Trung Song

———————————-
 
Giáo xứ Tĩnh Giang

———————————-
 
Giáo xứ Phú Linh


 

Tôi là Ai? Việt hay Mỹ?—Kim Thu

Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.

Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose , hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là người Việt Nam , để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.

Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.

Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.

Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.

Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.

Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.

Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.

Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại.

Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?

Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.

Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.

Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.

Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam .

Lại có những lần ở Việt Nam , tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.

Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.

Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ!

So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?

Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.

Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.

Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.

Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam , gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!

Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.

Khi về đổi họ thay tên.
Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng.

Kim Thu