Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc (Trang 21)
Category Archives: Quê Hương và Tổ Quốc
Thông Báo Kêu Gọi Biểu Tình Tại Hà Nội Ngày 19.1.2014—No-U Hà Nội
Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung.
Dựa trên quyền con người cơ bản là quyền tự do bày tỏ quan điểm, bao gồm quyền tự do bày tỏ lòng yêu nước, tự do thờ phụng và tưởng nhớ những chiến sĩ đã hi sinh bảo vệ Tổ quốc.…Với thực tế không thể chối cãi là Trung Quốc đã xâm lược, chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và đang tiếp tục gây hấn, xâm lấn và thôn tính nước ta một lần nữa.Chúng tôi kêu gọi đồng bào hãy tham gia Lễ tưởng niệm 40 năm ngày Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa 17-19/01/1974!
Địa điểm: Tại tượng đài Lý Thái Tổ – Hồ Gươm – Hà Nội
Anh em No-U Hà Nội
Trân trọng kính báo!
Quân Trường Và Chiến Trường—Trương Văn Út K22
Tôi nhập trường VBĐL tháng 12 năm 1965. Tính đến nay chỉ còn một năm nữa là một phần hai thế kỷ. 2015. Năm mươi năm trôi qua cũng khá dài so với đời của một con người. Chiều dài vừa đủ để ký ức đong đầy ngập tràn những kỷ niệm tưởng đã lãng quên hay nhạt nhòa đâu đó. Nhưng không! Nó vẫn còn lởn vởn quanh đây vô ảnh vô hình, nhưng khi được nhắc đến thì nó lại hiện ra như một đoạn phim sống thực còn lưu trữ tận trong tiềm thức của mình. Nửa đời đầy oan nghiệt lẫn lộn tiếc nuối chua xót cho thân phận của một thế hệ “Sinh Bất Phùng Thời”
Hai năm trong Quân Trường, tám năm với Chiến Trường, ba mươi chín năm tù tội và lưu vong, nay Tổ Quốc là tổ quốc của người, Dân Tộc là dân tộc của người, quê hương tổ tiên đất đai mồ mả lạ quắc lạ quơ… Nhưng tôi không mất hết, tôi vẫn còn lại trong tôi Quân Trường và Chiến Trường.
– Quân Trường, nơi đó tôi có đàn anh đàn em (K21 K22 K23) và các Sĩ Quan Cán Bộ, Sĩ Quan Tham Mưu Hành Chánh được gọi là “Đồng Môn” cùng đổ mồ hôi như nhau, cùng dìu dắt nhau trên ngưỡng cửa binh nghiệp với vô vàn kỷ niệm chắc rằng khó có mấy ai quên.
– Chiến Trường, nơi đó tôi có đồng đội cùng đồng cam cộng khổ với máu và nước mắt, với những tháng năm miệt mài khói lửa mà cái sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi chỉ hồng, cái còn cái mất như trong một khoảng cách phù du. Chiến Trường đã in sâu vào tâm thức của tôi như một dấu ấn khằn vết khi tôi nhớ lại những lần vuốt mắt cho bạn bè đồng đội dưới đạn pháo của quân thù.
Quân Trường Đổ Mồ Hôi – Chiến Trường Đổ Máu Mắt
Tháng 12 Năm 1967
Tốt nghiệp K22 VBQGVN, trình diện Bộ Tư Lệnh LLĐB và được bổ nhiệm về TĐ81BCND cùng hai người bạn cùng khóa. Hãnh diện sung sướng biết bao khi trình diện vị Tiểu Đoàn Trưởng Lê Như Tú Thiếu Tá K11 VBĐL… rồi được giới thiệu TĐP Đại Úy Nguyễn Quang Vinh K14, Đại Úy Bình Ban Ba K17, Đại Úy Táo Ban Truyền Tin K20, Đại Úy Hưởng Ban An Ninh K19, ĐĐT ĐĐ1 Trung Úy Thăng K20, ĐĐ6 Trung Úy Tuấn K20, ĐĐ3 Trung Úy Lâu K21… còn nhiều nữa kể không hết…
Tôi cảm thấy ấm lòng vì ngây thơ với ý nghĩ ngộ nghĩnh may quá mình may mắn về tiểu đoàn khét tiếng này mà Đà Lạt không hà, chắc mẩm thế nào cũng được bao che và nâng đỡ. Nhưng tôi đã lầm. Dù các Niên Trưởng của mình có “phe đảng” bao che cho mình thì có tài thánh cũng không bao che được đạn tên vô tình, dù có quyền có thế Niên Trưởng cũng không nâng đỡ cho mình được nếu mình tỏ ra hèn nhát và khiếp nhược trước quân thù, nhất là trước mặt thuộc cấp trong lúc dầu sôi lửa bỏng.
Chỉ có một tuần lễ sau, đêm giao thừa Tết Mậu Thân (1968)… Thiếu Tá Tú TĐT K11 tử trận, Đại Uý TĐP Vinh K14 bị thương nặng không còn khả năng tác chiến, ba người bạn cùng khóa của tôi Chẩn, Tiễn, Lợi K22 phút chốc đã trở nên người thiên cổ, một ĐĐT tử thương, một cụt chân. Cũng may ĐĐP/ĐĐ3 là Niên Truởng Nguyễn Đăng Lâu K21 thay thế ĐĐT bị cụt chân!!!
Chỉ có bốn tháng kể từ ngày ra trường tôi đã trải qua ba cuộc hành quân chớp nhoáng đẫm máu trên ba vùng chiến thuật, II, I và III. Giải tỏa thị xã Nha Trang. Thung Lũng Ashao Alưới (vùng địa đầu giới tuyến 17). Giải tỏa mặt trận Cây Quéo Cây Thị (Gò Vấp Gia Định), thay đổi bốn vị ĐĐT và vị ĐĐT thứ năm là: Niên Trưởng Nguyễn Văn Lân K17.
Anh Lân (xin phép tôi gọi bằng Anh) từ trại LLĐB biên phòng Pleimơreng về đây. Dáng người cao dong dỏng, gương mặt trẻ măng như sinh viên đại học dù nước da hơi sạm nắng, ứng xử với ngôn ngữ nhã nhặn dịu dàng lịch sự với cả cấp trên lẫn dưới. Khi nhận bàn giao xong, Anh bảo tôi giới thiệu đơn vị và quân nhân các cấp cho Anh, sau đó gọi tôi vào phòng riêng căn dặn:
– Út đã ở đơn vị này từ ngày ra trường cho đến bây giờ, Út giúp cho Anh trông coi đơn vị, có gì trở ngại hay cần những quyết định quan trọng báo cho Anh biết. Nếu đơn vị dưỡng quân ở hậu cứ, ngày thường Anh tà tà rong chơi, Út cùng anh em sinh hoạt như huấn luyện, chiến tranh chính trị, bảo trì vũ khí quân trang quân dụng… chú trọng vấn đề lãnh đạo chỉ huy cho các cấp trưởng v.v. và v.v… Ngày cuối tuần, Anh cho xả trại 100%, riêng Anh thì Anh tự cấm trại 100%… Út có thể xử dụng xe jeep của Anh cùng các sĩ quan đi chơi, nhưng nhớ giữ kỷ luật đừng đánh lộn đánh lạo mang tiếng.
Nhưng rồi “tai nạn” xảy ra. Không đánh lộn mà bắn lộn. Tôi bị mấy đệ tử của Nguyễn Cao Kỳ bắn lộn qua thằng khác, thằng đàn em của “Sáu Vĩnh”, tay chân bộ hạ của NCK chuyên đi thâu tiền “khuyển mã” các chị em bán ba Mỹ… Anh Lân nghe báo, vội phóng ra đồn Quân Cảnh Nha Trang thì gặp Ông Đồn Trưởng là Đại Úy Trương Văn Cao K18! Thế là mọi việc êm xuôi như “khỉ có giồng” (khổng có gì) với vài lời khiển trách nhẹ nhàng của hai Niên Trưởng :
– Mi mới ra trường chưa nứt mắt mà bắt đầu làm trò khỉ rồi…
Tham dự hai cuộc hành quân kế tiếp, xâm nhập chiến khu C-Đ, giải tỏa núi Bà Đen, núi Heo, núi Cậu… Anh Lân đã trao truyền hết cho tôi những kinh nghiệm máu xương của chiến trường. Chính Anh là người đã đúc những viên gạch cho tôi để tôi vững bước trên con đường khói lửa sau này.
Anh chỉ chỉ huy ĐĐ3/BCND chưa đầy một năm, Anh được chỉ định giữ chức vụ TĐP cho Thiếu Tá Trần Phương Quế K10. Một người khác về thay thế Anh Lân, tôi vẫn là ĐĐP. Ba tháng sau, Anh gọi tôi lên Bộ CHTĐ cười cười nói:
– Chuẩn bị tâm tư nhận lệnh phạt đó em!
Anh Lân và các niên trưởng khác đã hết lời thuyết phục TĐT bổ nhiệm tôi quyền ĐĐT/ĐĐ5/BCND, khi tôi vừa tròn 23 tuổi, một ĐĐT miệng còn hôi sữa, chưa dày dạn chiến trường so với các ĐĐT khác cùng với một vài phàn nàn dèm pha của một vài sĩ quan cấp trung úy thâm niên hơn tôi.
“Phe Đảng! “Đảng gì đây? Đảng Tự Thắng!”
Nhưng họ hiểu lầm! Bổ nhiệm chức vụ ĐĐT81BCND là của BTLLLĐB qua đề nghị hay “đề bạt” của TĐT.
Tháng 10 Năm 1969
Đơn vị của tôi được cải danh là Đaị Đội II Trinh Sát Nhẩy Dù, thống thuộc quản trị hành chánh của Bộ TL/SĐND. Thời gian này LLĐB đang trong tiến trình giải thể.
Sau hai tháng thụ huấn khóa viễn thám Dục Mỹ, TTHL Vạn Kiếp, một số HSQ được gửi đi học mật mã truyền tin, tình báo thì bắt đầu tham dự hành quân cùng với các đơn vị khác. Phương thức và kỹ thuật tác chiến của hai binh chủng có nhiều khác biệt. 81BCD không bao giờ xử dụng pháo yểm mà hoàn toàn lệ thuộc vào không yểm. ND thì phối hợp cả hai trong bất cứ trạng huống nào. Tôi bỡ ngỡ bối rối vì là một đại đội biệt lập, đơn vị trưởng phải phối hợp trực tiếp với LĐ hoặc SĐ lo liệu mọi bề.
May mắn thay, lù khù có Ông Cù độ mạng. Thiếu Tá Trần Đăng Khôi K16, Trưởng ban ba hành quân của LĐIIND.
Anh Khôi trạc trên dưới 30 tuổi, dáng người trang nhã với ống bíp havana trên tay, bụng hơi xệ, nếu nói khẳng khái không nịnh hót thì mọi điều hợp hành quân đều do Anh thiết kế. Tôi tham dự chiến dịch “lùng và diệt địch”, kế hoạch của Tướng Westmoreland và Tướng Đỗ Cao Trí. Hành quân “Toàn Thắng” vùng Tây Ninh Phước Long và Campuchia.
Tôi lạng quạng lờ quờ ngu ngơ đến nỗi Anh Khôi phải gọi tôi trình diện riêng trong hầm hành quân của LĐ (TOC). Anh nói từ tốn và chậm rãi cố cho tôi hiểu:
– Báo cáo diễn tiến hành quân, báo cáo tổn thất, báo cáo tình hình địch…v.v… anh còn quá luộm thuộm, nhất là phối hợp pháo binh ND và trực thăng võ trang. Anh nên nhớ rằng có rất nhiều cặp mắt đang nhìn vào anh và họ thèm nhỏ dãi chỗ của anh. Điều quan trọng nhất là chúng ta đang phối hợp hành quân với SĐI Không Kỵ Hoa Kỳ… chỉ một lời báo cáo của cố vấn Mỹ bên cạnh anh thì anh bị trả về đơn vị gốc của anh ngay…
Tôi yên lặng thẫn thờ ngồi nghe nhưng Anh lại tiếp :
– Thôi được… tôi nói sơ sơ rồi ngày mai bay với tôi và Thiếu Tá Tường (TĐT/TĐ2PBND)
“GAP” chữ viết tắt Ground & Air Preparation. Tức là kỹ thuật dùng pháo binh và hỏa lực không quân cùng một lúc để dọn bãi đáp (LZ) hay bãi bốc (PZ), sơ xuất hay không chính xác (độ chính xác này được tính từng giây) là pháo binh bắn rớt máy bay, hoặc máy bay nã rocket vào đầu quân bộ thì cả đám đi chỗ khác để ngồi chơi sơi nước muôn đời lục quân VN. Anh (Khôi) còn sắp xếp thời giờ tôi gặp trưởng ban bốn tiếp liệu, ban một quản trị quân số, ban hai tình hình địch v.v… để nắm vững dữ kiện trước khi lên C & C thả toán viễn thám hay trung đội trinh sát.
Như vậy trên những bước đường chập chững của hai binh chủng BCD và ND tôi đã may mắn – quá may mắn – được hai Niên Trưởng đàn anh “đỡ đầu hướng dẫn bao che” cho đến khi đủ lông đủ cánh. Nói lên lời ” biết ơn ” thì khách sáo quá, tôi chỉ xin hứa cái đầu của tôi là mũ nồi VB, hai cầu vai là Greenberet và Redhat.
Năm 1972 – Đường Vào Binh Lửa
Nhắc đến 1972 là phải nói đến “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Đã có NT Phan Nhật Nam K18, có NT Đoàn Phương Hải K19, NT Huỳnh Văn Phú K19 viết quá nhiều rồi, lại còn thêm hàng vạn trang sách báo viết về nó bằng máu và nước mắt của tất cả quân binh chủng QL/VNCH, nên tôi chỉ gói ghém ngắn gọn những gì tôi còn nhớ, để làm nổi bật “Tình Tự VB trên những mặt trận khốc liệt nhất trong thời gian này. Có những bông hồng cho những Huynh Đệ khi nghe tin chiến thắng được tưởng thưởng vinh thăng thì cũng có những vết thưong rỉ máu không bao giờ thành xẹo cho những Huynh Đệ vừa xanh cỏ để tôi được đỏ ngực.
Tháng 3 -1972, đơn vị (ĐĐ2TSND) được triệt xuất khỏi đồn điền Memot trở về hậu cứ Long Bình chờ lệnh. Hai ngày sau lên C130 trực chỉ Kontum. Xuống phi trường “tái ngộ” ngay với NT Lân, Anh đang giữ chức vụ LĐP/LĐ81BCD vừa được triệt xuất ra khỏi vùng Tam Biên. Anh kéo tôi ra nói vội vài ba câu trước khi lên C130 về Sài gòn:
– Út… Em phải hết sức thận trọng… nhớ và áp dụng kỹ thuật tác chiến của Biệt Cách Dù để tránh tổn thất. Sư Đoàn Thép 320 của chúng nó đã áp sát Kontum với trọng pháo 130 và tăng T54 nữa đó…
Hai ngày sau cả ĐĐ được trực thăng vận ngay trên đỉnh 1049 (CC Delta) cách hơn 10Km về hướng tây CC Vỏ Định, BCH/LĐ2ND. Bị “phục kích độn thổ” ngay tức khắc. Hand by hand, Đại Úy Budard hét lên trong máy với cấp chỉ huy của hắn. Tôi lại nghe trong máy của tôi tiếng của Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành tự là Thành Râu K19 phụ tá hành quân của LĐ từ chiếc trực thăng C & C do Đại Úy Phạm Công Cẩn K21(Trưởng Trung Tâm Hành Quân PĐ 229, Thiếu Tá Lê Văn Bút K16 PĐTrưởng ) đang vần vũ trên không vùng đồi delta :
– Út Bạch Lan… Cho tôi biết cái gì đang xãy ra!
– Đích thân chờ một chút… Tôi bị phục kích độn thổ.
Lại có tiếng réo của NT Nguyễn Trọng Nhi K20 Trưởng ban ba LĐ
– Út Bạch Lan… Báo cáo tình hình ngay… 207 đang ngồi đây chờ (207 là Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐ2ND)
Chờ thì chờ, tôi làm gì có thì giờ để báo với cáo. Tay đâu mà ôm hai ba cái ống liên hợp trong khi tôi và mấy ông cố vấn Mỹ đang vật lộn với… vi xi. Ném lựu đạn xuống hầm đếm chưa tới sáu thì nó quăng trở lên, thầy trò bò lăn bò càng… Mọi người sốt ruột lo lắng cho tôi, nhất là NT Thành Râu trên trực thăng C & C 24/24. NT Nhi cứ năm ba phút thì gọi hỏi ra sao rồi. NT Cẩn thì bảo :
– UBL qua tần số UHF, tôi sẽ cho biết chung quanh của UBL… UBL đang bị bao vây rồi đó. Chúng nó đông như kiến, nói với thằng CV Mỹ xin khẩn cấp trực thăng võ trang (Cobra) trang bị M79, ngồi với tôi có NT Thành, ở dưới đất có NT Nhi lo pháo rồi…
Trước áp lực của địch quân càng lúc càng nặng nề nhưng tôi cảm thấy yên tâm vì trên trời dưới đất lúc nào cũng có những ông thần hộ mạng. Những ông thần đó không ai khác hơn là những NIÊN TRƯỞNG đã một thời là “Hung Thần” hét ra lửa của khóa đàn anh. Trên trời ban ngày thì Thành Râu 19 với Công Cẩn 21, ban đêm thì Thẩm quyền Bút 16. Dưới đất thì Trọng Nhi 20 sáng trưa chiều tối thường trực trên tần số, kề bên có NT Ngọc Ngà K19 TĐP/TĐ2ND, Lê Thơm K22, Nguyễn Hữu Minh K23 ngày đêm ghìm súng chờ giặc từ ngoài bắc…zô đây…zô đây…
Hai ngày sau Delta tạm lắng dịu vì phi pháo. Ngậm điếu thuốc hớp một hớp cà phê tôi chợt nhớ đến NT Khôi. Giờ này TĐ7ND của Anh đang trên đường vào vùng cùng TĐ11ND để tăng cường với TĐ2 và TS2. Nhớ đến NT Khôi vì hôm nay tôi đã phối hợp hữu hiệu với cố vấn Mỹ và pháo binh nhẩy dù áp dụng kỹ thuật “GAP” mà NT Khôi đã chỉ dạy cho tôi hai năm về trước.
Một tuần lễ sau
– TĐ11 vào thay TĐ2 ở Charlie, cách phía bắc Delta khoảng hơn một cây số…
TĐ11ND… TĐT: NT Bảo K14, TĐP: NT MỄ K18, Ban Ba: NT Hải K19, ĐĐT113 Hùng Mập K22, ĐĐT112 Hùng Móm K22, NVN Long K23, ĐĐT111 Thinh (ĐĐP của TS2) vừa được bổ nhiệm.
– TĐ7 vào thay thế TS2 ở Delta
TĐ7ND…TĐT: NT Khôi K16, TĐP: NT Lô K18, Ban Ba: NT Em K19, ba ĐĐT nòng cốt Đăng K22, Hải K22, Cao K22, Tưởng văn Quyền K23.
Trinh Sát II được bốc về CC Vỏ Định “dưỡng sức” hai ngày dưới giao thông hào tránh pháo 130, sau đó lại được bốc thả vào Charlie tăng cường cho TĐ11. Vừa đặt chân xuống bãi đáp nằm bên cạnh sườn đồi Charlie thì NT Hải (ĐPH) K19 chờ sẵn đó rồi:
– Út theo tôi lên gặp đích thân cái đã…
Trong căn hầm tối thui với ánh đèn pin vừa đủ soi bản đồ, NT Nguyễn Đình Bảo nói :
– Út giúp cho tôi tăng cường phía bắc với Hùng Mập, phía nam có Hùng Móm, phía đông có Thinh, phía tây tương đối không lo ngại vì phải qua một khe núi sâu khỏang 100 mét…
Ba lô súng đạn lên đường gặp Hùng Mập ngồi chàng hảng dưới gốc cây bên cạnh hố cá nhân. Thằng ma cà rồng này cùng ĐĐE22 với tôi, nó là dân Bắc Kỳ di cư nên địt bố địt cụ lia chia, tôi hỏi nó :
– Đồi này tên gì vậy ?
– Đồi Bắc… Đồi bên kia (Charlie) là đồi 1515…
Tôi cho lệnh nghỉ ngơi ăn uống đồng thời ba toán viễn thám chuẩn bị sẽ đi ăn đêm… đêm nay. Thằng Hùng mập cười khình khịch trong cuốn họng, đầu lắc qua lắc lại có ý chế diễu :
– Địt mẹ…Tăng nó nằm ở dưới chân đồi mấy ngày nay, tao không hiểu sao nó đéo thèm bò lên… Nghe mày nói các toán viễn thám của mày sẽ đi ăn đêm tao tức cười… Mày ngồi đây với tao chưa chắc mày có thời giờ ăn ngày nữa nói chi ăn đêm… Chờ một chút đi! Nó đút cơm cho con ăn liền đó con ạ!!!
Đúng như lời Hùng Mập bông đùa chiều nay, đêm hôm đó ba toán VT báo cáo y chang với vài tấm ảnh T54 chụp được bằng máy hình hồng ngoại tuyến. Tôi được lệnh trở lại Charlie để qua hướng tây. Một ngọn đồi thấp hơn Charlie về phía tây khoảng 150 mét nhưng qua đó phải vượt qua khe núi đá dựng đứng sâu 100 mét. Phải mất 3 tiếng đồng hồ tòan bộ Đại Đội mới lên được đỉnh đồi vì hai tóan viễn thám đã thám sát trước. Không nghỉ ngơi được chút nào, chưa kịp bố trí quân thì bị “táp pi” ngay… Đại Úy Budard (CV TS2) hét trong máy với Đại Úy Muffy (CV TĐ11):
– Hefl..Hefl… Do or die… Do or die!
Đại Tá Mike (CV LĐ2) xen vào tần số :
– Budard! Listen to me… Calmdown… I give you somthings rightnow… Calmdown…OK…OK…
Chúng nó tràn lên như kiến, tôi hét Budard :
– Be carefull… Don’t shoot to my people back!
Năm phút sau John Paul Van (CV QĐ2) với chiếc Log và chiếc C & C của NT Cẩn cùng Đại Tá Lịch và NT Thành đã có mặt trên không phận. Lệnh của ĐT Lịch:
– UBL… Step by step Romeo-Juliet… You understand what I mean?
– I got it!
Tôi áp dụng “rút lui nhẩy cóc” vì rút lui đồng loạt là bị tràn ngập ngay, mặc cho cấp trên điều động thế nào tôi không “quởn” nghĩ tới, chỉ thấy sau lưng của tôi là một biển lửa với tiếng gầm thét của phản lực cơ Hoa Kỳ giống như trong phim “We are the soldier”. Bom napal.
Bỏ lại hai toán VT và hơn 20 HSQ-BS. Một số chết tại chỗ một số bị thương nặng nhẹ. Thôi đành xin lỗi các bạn. Không phải tại anh cũng không phải tại em, tại trời xui khiến nên chúng mình… xa nhau!
Mình cùng thức giữa đêm gọi rừng cùng thức
Lửa đạn thù đốn ngã từng thân cây
Xương với thịt nơi tận cùng mơ ước
Còn thấy mặt trời là còn thấy ngày mai
(Dấu giày chinh chiến – Trạch Gầm)
Ngày hôm sau TS2 được bốc ra khỏi Charlie sau một đêm cùng TĐ11 nằm vắt giò lên miệng hầm nghe tiếng bom rơi từ hai pass B52 cách Charlie chừng 300 mét. Điều này xảy ra đã phá lệ quy định, duy nhất chỉ ở Charlie vì khoảng cách an toàn cho B52 tối thiểu phải 1000 mét. Tôi ngồi trên chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng rời Charlie, không một vẫy tay chào, không một lời giã từ “Đồi Bắc” nơi đó có Hùng Mập E22, “Đồi 1515” nơi đó có các NT thân yêu của tôi mà chỉ cách đây hai tuần lễ ăn nhậu mệt nghỉ tại CLB-TĐ11ND… NT Bảo, NT Mễ, NT Hải, Hùng Móm, Thinh…
Hai ngày hôm sau số phận Charlie kết thúc, để người Anh đáng kính của CC Nguyễn Huệ Long Bình có tên “Người ở lại Charlie” qua giòng nhạc xót xa tiếc nuối của Nhật Trường cùng bao nhiêu anh em bạn bè khác.
“Anh nằm xuống…không bạn bè, không có ai, không có ai đời đời ru Anh ngũ vùi trong cánh rừng già chỉ có loài chim thôi”
Tưởng như vậy là xong, nhưng có bao giờ Nhẩy Dù biết đến hai chữ “chấm hết”, chỉ trừ phi nhắm mắt ngủ giấc ngủ nghìn thu. Có lệnh LĐ2ND được Galaxy C5 tại phi trường Pleiku không vận về Sài gòn khẩn cấp để “trên đường ra Quảng Trị…” Trước khi rời khỏi Kontum, QĐ2 “cân hồ” xử dụng ND theo kiểu vơ vét cú chót. TĐ7 và TS2 lại được có vé “trực thăng” của Thiếu Tá Lê Văn Bút K16 và Đại Úy Phạm Công Cẩn K21 PĐ 229 “tham quan” đỉnh Chupao trước khi về phi trường Pleiku. Lại một lần nữa, ngó qua ngó lại, ngó lên ngó xuống sao mà Đàlạt không zầy nè. NT Lô18 cùng Đăng 22, Hải 22 đằng vân hạ thổ ngay trên đỉnh Chupao, NT Khôi 16, NT Em 19 cùng Cao 22 “tam bộ nhất… Bắn” xuôi nam, UBL nhẩy xuống phía tây nam dưới chân đồi. NT Cẩn (C&C) ban ngày, NT Bút ban đêm. Mạnh ai nấy lo trong tình huống tứ bề thọ địch giông giống như Quan Vân Trường đang đi trên Hoa Dung Lộ trong khi Triệu Tử Long múa trường bản trên đỉnh Chupao. Rồi nhiệm vụ nào cũng mission accomplished.
Đứng sắp hàng chờ lên C5 (lần đầu tiên ND được không vận bằng C5 của Mỹ) ở phi trường Pleiku, từ thầy đến trò, từ anh xuống em nhìn nhau với ánh mắt không nói nên lời vì đả bỏ lại sau lưng bao nhiêu đồng đội cùng thành phố Kontum với giòng sông PoKo đang dậy sóng, có cô sơn nữ phà ca mang gùi đi đổi muối tủm tỉm cười.
Đường Vào Quảng Trị
Có thể ví von là Phái Đoàn Đà Lạt du ngoạn Quảng Trị !!!.
LĐ2ND là mũi dùi chính trên đường chiếm lại cổ thành Đinh Công Tráng. Thành có dạng hình vuông. Sông Thạch Hãn bao bọc phía tây uốn quanh một phần phía bắc. Đông là Làng Tri Bưu, Hạnh Hoa Thôn nơi đóng quân của BTL SĐ304 CSBV, phía nam là nhà thờ La Vang và ngã ba Long Hưng.
Phái đoàn du ngoạn của Đà Lạt gồm có:
TĐ5ND: NT Hiếu K14, NT Quyền K16, NT Chí K20, TĐSĩ K21, NTViệt K23
TĐ7ND: NT Khôi K16, NT Lô K18, NT Em K19, ba ĐĐ nòng cốt Đăng, Hải, Cao K22, TV Quyền K23
TĐ11ND: NT Mễ K18, NT Thành K19, NT Hải K19, Hùng Móm K22, NVN Long K23
Tăng cường:
TĐ6ND: NT Đỉnh K15, NT Tùng K19, Lý Văn Phúc K23
Hai Biệt Đội 81BCD dưới quyền chỉ huy của NT Lân K17.
Phái đoàn du ngoạn này không gọi là “Phái đoàn Đà Lạt” thì phải gọi là phái đoàn gì đây?
TĐ7+TS2 đi bằng xe “Ngựa” của công ty LĐI KỴBINH vào Long Hưng
TĐ5+TĐ11 đi máy bay của air VN đến làm lễ ở nhà thờ La Vang
Hai mươi bảy (27) ngày đêm phái đoàn được đón tiếp bằng pháo bông liên tù tỳ rực rỡ không thua gì đêm pháo bông Tết Tây ở Time Square New York, chỉ có điều trớ trêu là phái đoàn thưởng lãm pháo bông dưới giao thông hào hay hố cá nhân ngập nước. Chỉ ăn uống cầm chừng vì đã no bụng với 130ly xào tỏi ớt, 122ly hầm với SA7, gỏi T54 trộn với PT76. Một kỷ niệm khó quên. Khi tôi đã xâm nhập vào được Quận châu thành Mai Lĩnh, nín thở ém quân chờ TĐ7 còn đang khựng lại ở ngã ba Long Hưng, đêm hôm sau nửa đêm về sáng, Sông Lô TĐP một mình với hai HSQ mang máy vượt một đoạn đường gần một cây số để bắt tay với TS2 trong khi chiến xa của VC đang tuần tiễu trên đoạn đường này. Khóa 18 ôm Khóa 22 cười khằng khặc:
– Mạ mi, ta không ngờ mi mò vô tới đây.
– Chuột mà… niên trưởng! (Huy hiệu TS Dù là con Hải Sư tác giả là NT Cứ Thế Hoài K14.. nhưng khi in ra giống con chuột y chang, lại có ba tia sét màu đỏ trước miệng nên “tụi nhỏ” chọc quê là con chuột học máu)
Khi vào Tri Bưu, từng bước từng bước thầm… mò mẫm lên Hạnh Hoa Thôn tìm người tình bắc kỳ 304 (SĐ Điện Biên), tôi bị nó tạt một trái át xít B41 vào mặt tưởng trở về trình diện NT Bảo ở charlie rồi, cũng may chỉ ngủ một giấc “dăm ba phút trở về chốn cũ…” và nhận được tiếp viện khẩn.. trà rượu, cam táo của Tố Quyên K16, Minh Hiếu K14 gọi vấn an và cho biết UBL sẽ có ngay “Silver Star & V” vào vài ngày tới.
Vì “Danh Dự, Trách Nhiệm, Tổ Quốc”…. mà đàn anh đàn em cùng một trường Mẹ… rủ nhau lao vào những cuộc chơi bằng máu và nước mắt. Tôi đã mất đi một NT Tùng K19, một thằng bạn cùng khóa Hùng Móm K22, một đàn em NVN Long K23… Còn bao nhiêu nữa đã bị loại ra khỏi vòng chiến làm sao mà nhớ hết để kể lại ra đây ?
Có rất nhiều “Cây Viết có tầm cỡ” mô tả lại Kontum, An Lộc và Quảng Trị với nhiều công sức truy tầm nghiên cứu trên tài liệu sách báo, nhưng chắc không diễn đạt hết những cực kỳ man rợ tàn khốc của cái sống và cái chết trên chiến trường. An Lộc là Tử Thủ. Quảng Trị là Tử Chiến. Một là thủ hai là công, hai cái khác biệt nhau nhiều lắm. Cho nên dù là TQLC hay ND, BĐQ, 81BCD, Bộ Binh, Thiết Giáp, Không Quân… đã có không biết bao nhiêu đứa con yêu của trường Mẹ nói riêng và của Tổ Quốc nói chung đã một mai rơi rụng như chiếc lá lìa cành dưới những tràng “pháo bông” và tiếng xích sắt của những “xe hoa” không tương nhượng của bọn khát máu đồng bào và anh em cùng sinh ra một bọc Âu Cơ. Cớ chi giờ đây phải so bì hơn kém, công tội, hay dở… khi trò chơi bằng máu của hằng triệu người VN máu đỏ da vàng đã kết thúc.
Thua cuộc hay thắng cuộc? Tôi còn nhớ trong Đệ Nhất Thế Chiến khi Danh Tướng FOX đi ngang ngôi mộ của Napoleon có ghé lại chào và viết một câu trên bia:
“Công danh sự nghiệp của một con người không phải là lúc khởi đầu mà là lúc kết thúc…”
Hay câu viết của NT Lâm Quang Thi:
“Chúng ta thua một trận chiến, chứ chưa phải thua một cuộc chiến…”.
Trải qua bao thế sự thăng trầm, sau nửa đời người một phần hai thế kỷ, ngày nay kẻ còn người mất, kẽ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn có khác gì nhau khi đã mang chung một giòng máu “Võ Bị”, cùng tung cánh dù lộng gió khỏi cửa phi cơ (ND), cùng nhẩy ào ra khỏi lòng trực thăng (BĐQ) hay nhẩy ùm xuống bờ biển nông lõm bõm lội vào bờ trước họng súng đang chờ của cọng nô (TQLC), hay lắc cánh “né đạn” dày đặc phòng không mà không biết hông, đuôi của mình lủng thủng lỗ đạn (KQ) hay đang ngồi trên pháo tháp chiến xa chợt nghe tiếng cà xịch cà xịch của SA7 đang ngoằn ngoèo lao tới vội phóng mình xuống đất (TG)…v.v và v.v…
Năm mươi năm rồi có khi nào Thầy giở sổ
Ngồi điểm danh lại… mấy đứa học trò xưa
Những đứa học trò đi vào khói lửa
Vắt tương lai trong bom đạn mịt mờ
(Trạch Gầm)
Quân trường chỉ có đổ mồ hôi, nhưng chiến trường đổ tới ba thứ: mồ hôi, máu và nước mắt. Các cấp Tướng lãnh, các Đại Niên Trưởng thì…thì…đổ mồ hôi “hột” nhiều hơn, bởi… “Nhất Tướng Công Thành…” cũng phải lau giọt lệ khi nghe tin một khóa đàn em hay một học trò của mình vừa nằm xuống, hay vừa bị mất một quận một tỉnh nào đó. Không biết giọt mồ hôi hột đó có nóng hơn giọt máu đào hay không?!
“Nỗi nhớ ngập tràn qua ly rượu
Ngồi mênh mang tưởng lại nẻo đường về
Đường Kontum bỏ lại sau lưng bao niên trưởng?
Vào An Lộc nằm xuống mấy kẻ “đồng môn”?
Ra Quảng Trị chôn vùi bao thân bách chiến?
Đoạn đường nào đốt cả quãng trời xanh?
Màu xanh đó…
Màu xanh của chiếc áo dài Võ Bị
Màu gợi nhớ…
Niên Trưởng Niên Đệ trên khắp nẻo chiến trường”
Út Bạch Lan K22
Tháng Giêng 2014
Ly Rượu Mừng—Hợp Ca Asia
Ly Rượu Mừng
::: Phạm Đình Chương :::
Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó
(á a a a)
Nhấp chén đầy vơi
Chúc người người vui
(á a a a)
Muôn lòng xao xuyến duyên đời
Rót thêm tràn đầy chén quan san
Chúc người binh sĩ lên đàng
Chiến đấu công thành
Sáng cuộc đời lành
Mừng người vì Nước quên thân mình
Kìa nơi xa xa có bà mẹ già
Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa
Chúc bà một sớm quê hương
Bước con về hòa nỗi yêu thương
(á a a a)
Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính
(á a a a)
Chúc mẹ hiền dứt u tình
Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương
Xây tổ ấm trên cành yêu đương
Nào cạn ly, mừng người nghệ sĩ
Tiếng thi ca nét chấm phá tô thêm đời mới
Bạn hỡi, vang lên
Lời ước thiêng liêng
Chúc non sông hoà bình, hoà bình
Ngày máu xương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
đợi anh về trong chén tình đầy vơi
Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hoà
Ước mơ hạnh phúc nơi nơi
Hương thanh bình dâng phơi phới
Hát Cho Ngày Sài Gòn Quật Khởi—Nhiều Ca sĩ
Hát Cho Ngày Sài Gòn Quật Khởi
::: Nguyệt Ánh :::
Hỡi những người con của mẹ Việt Nam!
Ngay trong đô thành hoặc đang sống nơi các thôn làng
Từ động ruộng khô hay góc đê, từ từng trại giam trên đất quê
Từ khắp bốn phương trời tận cùng thế giới
Hỡi những người con của mẹ Việt Nam!
Thấy chăng quê người từng lớp sống tranh đấu tuôn tràn
Tràn từ vùng Đông Âu – Bá Linh, tràn về tận Nga Sô – Bắc Kinh
Tràn cuốn riết vô thần Mác Lê tan tành
ĐK:
Đòi lá phiếu tự do, đòi phố cũ đường xưa!
Khắp quê hương cháy bùng lửa thiêng tranh đấu
Đòi tiếng nói người dân, giành tấc đất nhà nông
Nơi nơi đã vang rền lời gọi non sông!
Hỡi những người con của mẹ Việt ơi!
Sau cơn mưa rồi ngày sẽ sáng tươi ánh mặt trời
Hẹn cùng bình minh xua bóng đêm, đòi Sài Gòn xưa cho phố quen
Rộn những bước chân về tự do công lý!
Lớp lớp người đi có bà mẹ quê
Nương theo chân cầu gạt nước mắt gượng vẫy tay chào
Mẹ chào đàn con nơi xứ xa, hẹn chào đàn con trên đất cha
Đoàn kết đấu tranh đòi nước non sơn hà
Hãy nói cùng nhau về một niềm tin!
Quê hương thanh bình toàn dân sống no ấm yên lành
Hàng triệu bàn tay vun đất cha rợp trời tự do muôn sắc hoa,
Ngàn tiếng hát câu hò rộn vang trong gió
Muốn nước Việt Nam Dân Chủ Tự Do!
Muốn có nhân quyền và bác ái trên khắp cõi đời
Đồng một nhịp tim em với anh, hợp cùng toàn dân ta đấu tranh
Từ dốc núi gập ghềnh đến nơi thị thành
Người Lính Không Cầm Súng—Anh Trương K23
Người Lính Không Cầm Súng
::: Dzuylynh :::
Ca khúc viết tưởng nhớ anh linh ca nhạc sĩ Việt Dzũng
Buổi sáng mùa đông buốt giá tha hương
Thấy một hạt sương sa xuống giữa trời
Nghe tiếng đàn chợt đứt ngang cung
Thung lũng hoàng hoa lặng lẽ vô cùng…
Tôi tiếc em người anh hùng Việt Dzũng
Tôi thương em người nhạc sĩ tha hương
Cánh chim Bách Việt luân lạc muôn phương
Giọng hát từ nay đi vào cõi vô thường…
Việt Dzũng không còn nữa! Đứa con yêu của tổ quốc đã ra đi
Việt Dzũng không còn nữa! Vừa mới bỏ ta đi …
Người Lính Không Cầm Súng đã buông đàn xuôi tay
Vũ khí là lời ca, quân trang là nốt nhạc, ba lô nặng tình non nước
Đã miệt mài hành quân bất kể tháng ngày.
Việt Dzũng không còn nữa! Người Da Vàng lưu vong!
Người thương binh không số quân, không thẻ bài
Người Lính Không Cầm Súng, không tượng đài vinh quang
Nhưng trong tim bao người vẫn nhớ mãi tên em
Tội nghiệp đôi nạng gỗ, từ nay bơ vơ một mình không còn theo em nữa
Sẽ không còn theo em nữa, để in dấu chân tròn trên khắp nẽo đường tha hương…
Tôi nguời lính già một thời đánh mất giang san nay nghe tin em không còn nữa.
Đêm Cali mùa đông thêm lạnh giá
ngồi buồn một mình thương nhớ em, đồng đội chung chiến tuyến đã ra đi mãi mãi
Em chỉ vừa theo hồn thiêng tử sĩ, non sông
Ôm đàn rong chơi hát ca vang vọng đỉnh trời…
Và em cũng bỏ lại tôi với vô vàn thương tiếc xót xa
Người đã xa từ đây! Chưa kịp nói lời giã từ, chưa kịp về ViệtNamSàiGòn
Để ngẫng cao đầu cùng nhau đi dưới Quốc, Quân kỳ
Cho nước mắt da vàng lăn trên Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay!
Việt Dzũng! Người Lính Không Cầm Súng!
Người đã xa từ nay, đã ngủ say trên vùng địa đàng
Nhưng tiếng nhạc lời ca muôn đời vẫn còn đó
Vẫn còn đó, mãi ngân vang… mãi ngân vang… giữa muôn trùng…
San Jose, Bắc California Dec.23.2013.
Nam Lộc nói về sự ra đi của nhạc sĩ Việt Dzũng
Mất Sài Gòn lãnh đòn của đảng—Uyển Thi

Chết bởi Trung Cộng—Hồ Phú Bông
Trung Cộng đi lầm nước cờ ADIZ—Ngô Nhân Dụng
Ngô Nhân Dụng
Mỹ lui bước lúc Bắc Kinh vẫn rụt rè?—Việt Long K23 – RFA
Trước sau “không như một”?
Chiến đấu cơ F-10 của Nhật Bản – US Airforce photo
Phó Tổng thống Mỹ Josepth Biden công du châu Á lần này để thực hiện đường lối ngoại giao tế nhị của Hoa Kỳ ở Đông Á: một mặt tìm cách hạ nhiệt mối căng thẳng quân sự với Trung Quốc, mặt khác bày tỏ lập trường ủng hộ đồng minh Nhật Bản giữa lúc Tokyo cương quyết đối đầu với Bắc Kinh trong cuộc tranh chấp lãnh hải trên biển Hoa Đông.
Chuyến đi Nhật Bản-Trung Quốc-Hàn quốc của ông Biden đã được Tòa Bạch ốc hoạch định từ lâu, để chứng minh chính sách chuyển trục chiến lược sang châu Á, giữa khi nhiều nước Á châu quan ngại rằng Mỹ đã lơ là với khu vực địa chính trị quan trọng này vì Tổng thống cùng các cố vấn hàng đầu phải chú tâm vào những cuộc tranh chấp chính trị nội bộ, trong khi Ngoại trưởng Kerry để hết thì giờ và tâm trí vào vấn đề Iran ở Trung đông.
Cuộc đối đầu Tokyo-Bắc Kinh đưa đến quyết định của Trung Quốc xác lập vùng xác định phòng không, ngôn ngữ quốc tế gọi là ADIZ, viết tắt nhóm từ Air Defense Idendification Zone. Khu vực ADIZ này bao gồm cả vùng đảo tranh chấp Senkakư/ Điếu Ngư với Nhật Bản và đảo Ieodo tranh chấp với Hàn quốc.
Hoa Kỳ chỉ trích Trung Quốc đã làm tình hình căng thẳng, và tái xác nhận quyền hành chính của Nhật Bản trên vùng đảo tranh chấp. Và đột nhiên hai pháo đài bay B-52 không võ trang từ Guam được điều động bay qua không phận này lúc sáng thứ ba, 3 ngày sau khi Bắc Kinh công bố về ADIZ của họ. Không ngoài dự kiến, Trung Quốc chỉ phản ứng bằng lời lẽ ngoại giao. Nhật Bản liền khuyến cáo các phi cơ dân dụng bay qua đó đừng thông báo theo Trung Quốc yêu cầu, như họ đã làm trước đó một ngày, và các phi cơ của All Nippon Ailines và Japan Airlines cùng với Peach Aviation đã ngưng thông báo.
Chiến đấu cơ J-10 của Trung cộng – Courtesy of ausairpower.net
Điều đáng lưu ý là trước khi B-52 bay qua ADIZ mới của Trung Quốc, chính Tokyo đã khuyên các hãng bay hãy thi hành quy định của Bắc Kinh về thông báo như vậy trong không phận này.
Sau đó Nhật Bản, Đài Loan và Hàn quốc liền theo chân phi vụ B-52 của Hoa Kỳ, điều động nhiều phi cơ thám sát và chiến đấu cơ bay qua đó trong những ngày kế tiếp. Trung Quốc cũng đưa phi cơ chiến đấu tới, gọi là để quan sát, theo dõi, và dành cơ hội cho báo chí Nhà nước tô vẽ lại thể diện của chính quyền Bắc Kinh. Báo chí và dư luận theo khuynh hướng quốc gia cực đoan của Trung Quốc liền thổi phồng điều họ gọi là “khả năng theo dõi và kiểm soát những hành vi phạm pháp của các phi cơ nước ngoài, để những lực lượng đó không dám hành động quá trớn!”
Nhưng, đang lúc Bắc Kinh còn rụt rè chỉ lên gân nửa chừng, thì lại một lần bất ngờ, vào lúc phó Tổng thống Biden lên đường đi Tokyo, tòa Bạch ốc thông báo rằng chính phủ Mỹ đã đề nghị những công ty hàng không quốc tế của Mỹ hãy tuân thủ quy định của Bắc Kinh về việc thông báo mọi chi tiết về đường bay của những phi cơ Mỹ bay qua không phận ADIZ mới được Trung Quốc thiết lập.
Tokyo hiển nhiên khá thất vọng trước thái độ gọi là “trước sau như hai, ba” của Washington, trong khi mọi đồng minh châu Á đang kỳ vọng vào lập trường “trước sau như một” của quốc gia đứng đầu phương Tây, mặc dù tòa Bạch ốc khẳng định ngay rằng đề nghị như vậy không phải là công nhận vùng ADIZ do Trung Quốc đơn phương áp đặt.
Lý do nào đưa đến quyết định xem ra như một bước lùi của Washington trong khi Bắc Kinh vẫn còn lấp ló chung quanh vùng ADIZ đó?
Lùi một bước, tiến bao nhiêu?
Các chuyên gia về Trung Quốc và châu Á đều đoan chắc là tại Tokyo phó Tổng thống Biden sẽ tái xác định một cách chắc chắn nhất rằng Hoa Kỳ luôn luôn có mặt đúng lúc và đúng nơi trong mọi tình huống an ninh của đồng minh Nhật Bản, thể theo chương 5 của Hiệp ước phòng thủ chung ký kết từ thập niên 1950, đồng thời khẳng định lại sự nhìn nhận quyền kiểm soát hành chính của Tokyo trên vùng tranh chấp, và phản kháng mọi hành động xâm hại đến quyền đó.
Chiến đấu cơ của Nhật Bản
Song song, một số nhân vật trong giới quan sát nhận định rằng Washington đã có hành động tế nhị về ngoại giao và giải quyết xung đột khi khuyến cáo các phi cơ dân dụng tuân thủ quy định của Bắc Kinh về ADIZ. Hành động tế nhị này, theo những chuyên gia ấy, nhằm tạo tiền đề thuận lợi cho phó Tổng thống Joseph Biden để giúp Trung Quốc thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng do họ gây nên.
Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia tại Luân Đôn, Jonathal Eyal, cho rằng ngày thứ tư này Phó Tổng thống Biden sẽ nêu ra với chủ tịch Tập Cận Bình một cách thức để thoát khỏi cuộc khủng hoảng, “Người Mỹ có thể sẽ nói với người Hoa rằng cuộc khua chiêng gõ trống này chẳng phải là điều khôn ngoan lắm, chỉ gây phản tác dụng, và lối thoát chỉ đơn giản là Trung Quốc hãy xuống thang trong việc khẳng định cứng nhắc vùng ADIZ như đã làm, và đừng cưỡng hành một cách cứng rắn quy định riêng của họ như đã đe dọa biện pháp quân sự vào lúc công bố không phận xác định phòng không này.
Nguyên cố vấn của phó Tổng thống Biden, bà Julie Smith, cho rằng ông Biden luôn luôn tự tin vào khả năng xã giao lịch thiệp hòa nhã cùng với tài năng riêng của ông trong những mối quan hệ cá nhân, khi ông diện kiến chủ tịch họ Tập, mà ông từng quen biết từ trước khi ông Cận-Bình bước lên ngôi vị tối cao của đại cường Trung Hoa. Bà Smith nói “Ông Biden biết cách nói chuyện, để cho người đối diện hiểu rằng ông không chỉ vẽ họ phải làm gì, mà chỉ nêu ra những điều tư vấn để bên ấy tham khảo. Vì họ đã có quan hệ cá nhân từ trước, phía ông Tập sẽ lắng nghe nghiêm chỉnh và cân nhắc kỹ lưỡng những đề nghị ấy”.
Vai trò lãnh đạo
Một năm sau khi ông Tập bước lên ngôi vị tối cao ở Hoa lục, Hoa Kỳ tuy còn đối đầu quân sự với Trung Quốc nhưng đã thấy nhiều tiến bộ trong công cuộc hợp tác với Trung Quốc trên sân khấu quốc tế, từ vấn đề thay đổi khi hậu đến vấn đề tham vọng hạt nhân của Bắc Hàn, mới nhất là vấn đề hạt nhân tại Iran.
Giáo sư Jia Qingguo, phó viện trưởng Học viện nghiên cứu quốc tế của đại học Bắc Kinh, cho rằng một giải pháp lập tức cho vấn đề ADIZ có thể không thành hình. Ông nói :”Có thể phía Trung Quốc sẽ hỏi rằng đó là hành động thông thường của trên 20 quốc gia, sao phải ầm ỹ thế? Vì vậy hai bên nên tìm hiểu ý định của nhau, và minh định ý muốn, rồi cùng tìm hiểu xem nên cùng mong đợi điều gì. Tuy vậy vấn đề này có thể vẫn dai dẳng. Dù sao thì ông Biden đến Bắc Kinh lần này cũng là điều hay để vấn đề được thảo luận ở cấp tối cao. Ngoài ra còn những vấn đề khác cũng cần được nói tới”
Chiến đấu cơ của Hàn quốc – Courtesy of Wikimedia Commons
Nhà nghiên cứu Jonathal Eyal thì cho rằng chuyến công tác của phó Tổng thống Biden đi đến với cả các đồng minh cũng như đối thủ chính yếu trong khu vực là nhằm chứng tỏ rằng Hoa Kỳ là cường quốc duy nhất đủ sức duy trì sự cân bằng của khu vực, và đó là mục đích chính khi người Mỹ xác định chính sách chuyển trục sang châu Á”
Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia tại Luân Đôn, Jonathal Eyal, cho rằng Trung Quốc đã mạnh bạo thiết lập ADIZ là vì quan điểm phổ biến tại châu Á rằng Washington không dám đụng tới biện pháp quân sự sau những tổn thất sinh mạng và phí tổn tài chính khổng lồ ở Iraq, Afghanistan, cùng với mối nghi ngờ của người châu Á về sự lơ là của người Mỹ với khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Vì thế Hoa Kỳ đã đi đầu trong phản ứng mang tính cách quân sự đối với ADIZ, và lại dịu ngọt xuống thang để đóng vai trò cường quốc duy nhất có khả năng hòa giải, lấy lại thăng bằng cho cán cân lực lượng và sự ổn định cho khu vực châu Á Thái Bình Dương.
Việt Long – RFA
Trốn Trại—Nguyễn Ngọc Thạch K20

Không bao lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nổ ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần. Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài con đường mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì vậy chúng tôi hết đường chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó. Sau này được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời chui trốn theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuổi theo để bắt chúng tôi.
Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật nhẹ nhàng, nếu lỡ có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò được một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi được bao nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì. Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chỗ này, nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, bước đi thật nhẹ nhàng im lặng. Tôi lấy thẳng huớng Nam mà đi, đi ngược với hướng Bắc là hướng qua biên giới. Chúng tôi giữ đúng hướng, không đi theo đường mòn hay chỗ trống, bất kể là băng qua các đám ôrô dưới suối hay bụi lùm gai góc. Và càng lúc nghe tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần.
Đến chiều thì trong lúc đang đi bất chợt gặp một em bé trai độ 11, 12 tuổi đang lang thang trong rừng. Chúng tôi giả dạng như là cán bộ đi khảo sát địa chất và hỏi em bé ở đâu có suối, thì em bé đó chỉ về hướng trước mặt, đi thêm vài chục thước là thấy suối, một con suối rất lớn. Nhìn ở phía xa kia là một khu rừng đã được phát quang và có các cây to bị đốt cháy nám đen, một đám người đang cuốc đất làm rẫy, chắc là dân vùng kinh tế mới. Chúng tôi lội xuống suối uống một bụng nước thật no nê. Sau đó chúng tôi tìm chỗ bụi lùm kín đáo để nấu cơm, nấu bằng lon guigoz, hai đứa thay phiên nhau quạt để khói đừng bốc lên cao. Chúng tôi ăn bữa cơm này thật là ngon, ăn cơm nóng với bột ngọt trong gói mì.
Sáng sớm hôm sau lên đường đi tiếp, đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ bên cạnh một cái ao nhỏ xung quanh có cây cối um tùm, dễ ẩn náu để nấu cơm ăn. Xong rồi lại đi tiếp, đến chiều chạng vạng tối thì đến một cái ấp khác, một xóm nhà lô nhô ngoài gần quốc lộ, chúng tôi ở bìa rừng trốn trong hầm hố cũ đuợc che phủ bởi những lùm tre rất kín đáo. Buổi chiều dân trong làng đi lao động về, họ đi ngang qua khá gần chỗ chúng tôi đang trốn, tiếng chó sủa dữ dội nhưng họ không để ý mà chỉ lo đi cho mau về nhà.
Trời hừng sáng chúng tôi thay bộ đồ thật tốt thật tươm tất, đồ đạc còn lại đem chôn dấu trong bụi, xong chờ cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là lần lượt ra đường, lựa khoảng trống giữa hai nhà mà ra đón xe. Bình lên đường trước tiên, một lúc sau thì đến Thu, và tôi là người ra đường sau cùng. Khi bước ra quốc lộ 13 tôi lấy bình tĩnh đi men theo bên đường chờ đón xe. Tôi không thấy Bình đâu hết mà chỉ thấy Thu đang đi phía truớc tôi một khoảng xa. Có chiếc xe Lam (xe ba bánh chở hành khách hiệu Lambretta) chạy trờ tới tôi liền đón để đi, vì xe đã đầy nguời nên tôi phải đeo theo xe đứng ở phía sau. Thu cũng lên được chiếc xe đi trước tôi. Xe chạy qua cầu Tàu Ô và như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ ở giửa khoảng Tàu Ô – Tân Khai. Trước kia, đây là đoạn đường nguy hiểm nhứt của quốc lộ máu mang số 13 và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận chiến vô cùng ác liệt, mà dấu vết các hầm hố còn lại rất nhiều, dọc theo bìa rừng trông ra quốc lộ.
Khi xe chạy tới trạm kiểm soát thì dừng lại, bác tài vào trình giấy tờ trong trại kiểm soát tài nguyên. Tôi thấy một thằng công an, đứng bên cạnh trạm kiểm soát, bước ra để nhìn mặt nguời trên xe. Nó nhìn vào băng trước, trên đó có hai người ngồi, tôi nghe tiếng quát tháo của tên công an là hai nguời ngồi đằng truớc là “tại sao đầu tóc để dài bù sù nhu cao bồi du đãng, đâu đưa giấy tờ coi”. Sau khi coi xong giấy tờ hai người phía truớc là nó liệng vô xe rồi ra lệnh cho đi một cách thật oai quyền. Cũng vừa lúc bác tài đã trở ra xe, bác tài liền rồ ga cho xe chạy đi, mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa thoát được một trạm kiểm soát thật là vô cùng nguy hiểm.
Khi đến Phú Thọ, xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ, một số con nít chạy theo. Khi xe vô đúng số nhà mà tôi đã học thuộc lòng, tôi gỏ cửa và chị Đồ ra mở cửa. Khi thấy tôi chị buột miệng la lên: “Ủa anh Thạch mới đuợc thả về, còn ông Đồ của tôi đâu”. Tôi lật đật nói nhanh là tôi mới đuợc thả về và xin mượn chị 50 đồng để trả tiền xe. Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe. Khi xe đi rồi và đám con nít đã tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là tôi trốn trại và nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay. Chị hốt hoảng cho biết là mới vừa tuần truớc đây thằng em trai của chị vừa mới vượt biên đã đi thoát được. Nhà chị đang bị công an phường khóm điều tra theo dõi, cho nên chị không dám chứa tôi trong nhà, mà bảo tôi ra ngoài đường đón xe autobus để ra bến xe Xa Cảng miền Tây, ở Phú Lâm, rồi sẽ tính sau. Trước khi đi tôi còn hỏi mượn chị đôi giày, vì đôi giày tôi đang đi là loại giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không tiện. Chị cho tôi mượn đôi giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị nói là chị sẽ đem lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới.
Sáng sớm hôm sau trước khi ra bến xe tôi đi tìm nhà của Thạch, là một trong hai người trốn chui theo. Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng và có dặn là nếu ai có thoát về được Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ biết tin, để tìm cách lên đón. Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở gần Phú Lâm nên tôi sẵn dịp ghé qua báo tin. Lúc đó trời còn lờ mờ chưa sáng hẳn, đường vắng vẻ. Khi đi ngang qua trạm xe chữa lửa có vài tên công an đang đứng nói chuyện ở phía truớc, tôi cố giử bình tỉnh khi đi ngang qua. Sau cùng tôi tìm được nhà của Thạch, tôi gõ cửa một hồi thì có người ra mở cửa nhưng với dáng vẻ bực bội vì tôi đánh thức họ quá sớm. Tôi hỏi có phải là nhà của Thạch không, thì họ không trả lời mà đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ một lúc, vì tiếc là không báo tin cho gia đinh Thạch được. Tôi cũng không biết là có đúng nhà không, hay là họ sợ không dám tiếp tôi. Cho đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì về hai nguời trốn chui theo, có thoát được không và bây giờ ra sao.
Tôi vô quán để gặp bà xã tôi, vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu, bánh bao, xiếu mại v.v…. Bà xã tôi kêu tôi ăn đi ăn đi. Tôi hỏi coi có ai biết hay theo dõi gì không, thì thấy không có dấu hiệu gì. Ba đứa con tôi đang ở nhà chưa hay biết gì về chuyện này. Sau này kể lại mới biết là chúng nó đói khổ lắm, đâu có được ăn hủ tiếu bánh bao như thế này. Từ ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp, có bao giờ dám ăn các món cao lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ tôi cùng ăn, bà xã tôi cứ kêu tôi ăn đi ăn đi. Phần thì lo sợ công an nó theo dõi, phần thì không biết là về Mỹ Tho rồi sẽ làm gì, nên tôi cố nhét cho đầy bụng rồi đi liền. Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỹ Tho, mà nên ở nhà lo cho mấy đứa con còn nhỏ dại, đừng để bị nguy hiểm cho cả hai, rồi không ai lo cho các con.
Vợ tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của tôi. Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai, vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn. Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ, thì có một người anh bà con cô cậu, đi cùng với một nguời bạn, xuống thăm để từ giã Má tôi, để sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia, và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên, và anh muốn xin địa chỉ của em tôi, hiện đang sống ở Mỹ, để anh liên lạc khi cần. Thật là một điều quá may mắn cho tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn.
Sáng sớm hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang, nhìn qua khe ván ở sàn xe trời còn lờ mờ nghe tiếng nguời nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền. Khi đến trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì đây là chuyến xe công tác chở đồ cho bộ đội VC. Xe chạy càng nhanh đống chiếu trên đầu càng đe nặng, vì cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên vị trí củ, mà vì sự lúc lắc của chiếc xe đa làm lệch đi và hai đứa tôi phải đưa lưng chống đở sức nặng bên trên đè xuống. Tệ hại hơn nữa là dọc đuờng VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu chúng tôi. Nghe tiếng họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay trên đầu mình. Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng, vì chỉ sợ nó sụp xuống thì bị lộ ngay, rất là nguy hiểm. Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy nhanh rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên ngoài không thấy không biết.
Ban ngày thì ra chợ Nam Vang, bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi nguời thấy, và vì không biết đường, mấy lần sau thì đi bộ. Đi ngang qua mấy con đuờng rất đẹp với hai hàng cây phủ mát bên đuờng, với những ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu villa của Pháp, giống nhu khu đường Duy Tân, Yên Đổ ở bên xứ mình. Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ là dinh của VC, treo cờ đỏ sao vàng và có lính canh truớc cổng. Mỗi khi đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi giấy tờ bất tử.
Tôi lân la mấy quán nuớc làm quen hỏi chuyện để tìm đuờng đi, thì đuợc biết là xe lửa chạy từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn chạy nữa, bây giờ chỉ còn đuờng xe, nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm soát để chận bắt đào binh, nên rất khó mà lọt qua đuợc. Tôi ra phía đầu thành phố đường đi về huớng Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra sao. Tôi thấy rất ít xe đi về phía đó và họ kiểm soát rất kỹ. Xe thì không thấy loại xe đò chở khách, mà toàn là xe chở hàng hay xe quân sự. Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng thoát qua đuợc, giá mà còn xe lửa thì tốt hơn.

Hải cảng này ở xa khu dân cư, có mấy lớp hàng rào kẻm gai bao bọc chung quanh, và một trạm kiểm soát tại cổng chính ra vào, với một số công an biên phòng VC canh gác. Đóng trên một ngọn đồi gần đó là một đồn công an biên phòng. Bên trong hải cảng là một bến đá, xây bằng đá tảng, để tàu cặp bến. Tôi cố nhìn thật kỹ quanh bến tàu để tìm xem có chiếc tàu nào của nuớc tự do, nhưng tôi chỉ thấy toàn cờ đỏ búa lìềm, toàn cờ cộng sản, thật là thất vọng vô cùng. Gần bến tàu là hai nhà kho rất lớn bằng sắt cất theo kiểu tiền chế của Mỹ. Có một đuờng rầy xe lửa, và ở phía trong xó góc có vài toa xe lửa bỏ không, không thấy nguời lai vãng, gần đó có một phong tên nuớc. Ở phía ngoài cổng bên cạnh con đuờng lộ đá là một cái ao khá lớn, mà thỉnh thoảng thấy có công an đến câu cá. Chiều tối đó tôi trở ra xe để ngủ qua đêm.

Xin Trời để lại còn tôi còn bà—Vô Danh
Mất gì thì mất bà ơi
Xin trời để lại còn tôi còn bà
Nếu mà có phải đi xa
Để tôi đi trước còn bà đi sau
Mong bà đừng ốm đừng đau
Để tôi có bát cơm rau sớm chiều
Càng già càng quý, càng yêu
Bâng khuâng lại nhớ ít nhiều ngày xưa
Mất gì thì mất bà ơi
Xin trời để lại còn tôi còn bà
Tôi bà nay tuổi đã già
Mà tôi vẫn sợ còn tôi mất bà…
Ngọn nến hiệp thông cùng giáo xứ Mỹ Yên bừng sáng khắp nơi

“Hiệp thông trong đau thương, ta cùng nhau thắp sáng lên, những ngọn nến cháy tỏa lan mọi nơi. Nguyện cầu cho đoàn chiên xứ Mỹ Yên được bình an, cho giáo phận Vinh vững niềm tin, để khổ đau tan biến dần. Con xin dâng lên bao nhiêu oan trái những ngày qua, khi muôn con tim luôn luôn khát khao sống trong bình an. Nguyện cầu cùng Chúa ban thêm đức tin xuống trên đoàn con, gìn giữ xác thân hồn con, qua muôn khổ đau trần gian…” (Ngọn nến hiệp thông – Huyền Phạm).




















































Tôi là Ai? Việt hay Mỹ?—Kim Thu
Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.
Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose , hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là người Việt Nam , để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.
Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.
Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.
Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.
Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.
Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.
Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.
Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại.
Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?
Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.
Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.
Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.
Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam .
Lại có những lần ở Việt Nam , tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.
Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.
Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ!
So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?
Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.
Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.
Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.
Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam , gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!
Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.
So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.
Khi về đổi họ thay tên.
Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng.
Kim Thu









































































