Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc (Trang 17)

Category Archives: Quê Hương và Tổ Quốc

Năm Xưa Chồng Tôi Là Người Lính — Nguyễn Thị Thanh Dương

Năm xưa chồng tôi là người lính,
Nơi vùng lửa đạn,
Mồ hôi anh đã đổ,
Từ Hố Bò Bình Dương, Bình Long,
Đến Thừa Thiên, Quảng Trị.
Rồi một ngày anh gục ngã,
Tại chiến trường Tây Ninh.

Tôi góa phụ xuân xanh,
Con thơ chưa tròn tuổi,
Tiễn đưa anh lần cuối,
Về nghĩa trang quân đọi Biên Hòa

Đã bao nhiêu năm qua,….
Bây giờ,
Tôi ở nơi xa,
Đã có cuộc đời khác.
Nhưng đôi lúc nghĩ đến anh tôi vẫn khóc,
Thương tiếc xa xăm.

Tôi về tìm mộ bia anh giữa chập chùng cỏ dại cây hoang,
Để thắp một nén nhang,
Nhớ người lính của một thời chinh chiến,
Nhớ người chồng của một thuở gối chăn.

Năm xưa chồng tôi là người lính,
Một lần hành quân,
Anh đã bị thương,
Máu anh loang ướt vạt cỏ ven đường.
Ôi, mảnh đất không tên,
Đã giữ chút máu xương người lính trẻ.

Đã bao nhiêu năm qua,
Bây giờ,
Anh thương binh tàn tạ.
Sống trên quê hương đôi khi vẫn thấy mình xa lạ,
Bạn bè anh,
Kẻ mất người còn,
Kẻ quên người nhớ,
Kẻ vô tình giữa dòng đời vất vả.

Năm xưa chồng tôi là người lính,
Nồng nhiệt tuổi đôi mươi,
Lần đầu tiên ra chiến trường,
Anh mất tích không tìm thấy xác.
Mẹ anh khóc cạn khô dòng nước mắt,
Lòng tôi nát tan.

Đã bao nhiêu năm,
Vẫn không có tin anh,
Anh ơi, dù quê hương mình đã hết chiến tranh,
Tàn cơn khói lửa,
Nhưng không phải là một quê hương như anh ước mơ.
Anh đã biết chưa?

Hỡi người tử sĩ không tên không một nấm mồ.!!!
Năm xưa chồng tôi là người lính,
Sống sót trở về sau cuộc đao binh,
Sau những tháng năm tù tội,
Bây giờ anh không còn trẻ nữa.
Lìa xa quê hương,
Sống ở xứ người.
Những năm tháng chinh chiến đã đi qua,
Nhưng vết thương đời còn ở lại,
Trong lòng anh,
Trong lòng những người lính năm xưa.

Nguyễn Thị Thanh Dương

Đại Hội Xuân Ất Mùi Của Đồng Hương Thừa Thiên – Huế 2015 tại San Jose 21/3/15—Hao Ha

Anh Thư Giữa Một Rừng Bò Đỏ—Mai Chi


“…Đây mới chính là lá cờ của Việt Nam!”

Đà Lạt – Tuyên Đức — LPSLIDES

Tiết Lộ Chấn Động Lương Tri Loài Người: CSVN Giết Tù Nhân Chính Trị Bằng Virus HIV

Videos & Hình Ảnh Tiệc Tân Niên Ất Mùi Của Hội Võ Bị Bắc Cali—Nhiều Tác Giả

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

40 NĂM CSVN VẪN TRẢ THÙ THƯƠNG PHẾ BINH VNCH

Mẹ Chồng Tôi—Phương Lan

ba-CamLoi

 

Mời ký tên ủng hộ chiến dịch “Tự Do — Dân Chủ — Nhân Quyền cho Việt Nam 2015”

Mời quý vị ký tên ủng hộ chiến dịch “Tự Do — Dân Chủ — Nhân Quyền cho Việt Nam 2015”.

Quý vị có thể tiếp tay bằng cách chuyển tiếp qua email, đưa lên các diễn đàn, blog, website khác hoặc đăng lại trên Facebook của mình.
CaptureXin click lên hình ở trên, hoặc vào website “nhanquyen2015.net“, hoặc click vào link sau đây:
https://www.change.org/p/the-people-s-human-rights-campaign-for-2015

Chúng ta cùng tiếp tay với đồng bào trong nước qua chiến dịch lớn lần này. Hy vọng sự đồng tâm hiệp lực, cùng với tấm lòng yêu mến quê hương và đồng bào, chúng ta sẽ đem lại sự thay đổi cần thiết cho đất nước.

Đã 40 năm rồi còn gì?

Vài Hình Ảnh Tang Lễ Chị Kim Chi

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

A1

DiQuan1

B2

A2

C1

F1

E1

20151003_143339a

Mưu Đồ Của Trung Cộng Tại Biển Đông—Việt Long K23—RFA

Thương Tiếc Chị Kim Chi

KimDang

CaoPhoChiKimChi

PhanUuChiKimChi

CamTaChiKimChi

“I Had Lost My Beloved Country” – A Clip from Last Days in Vietnam

Đêm Tri Ân Võ Bị Đà Lạt—Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu Houston

A Terrible Moral Dilemma – A Clip from “Last Days in Vietnam”

Last Days in Vietnam Trailer – AmericanExperience

Cuộc Tình Cuối Đời – Nguyễn Đạt Thịnh K6

Bữa cơm tối Chủ Nhật 29 Tết chỉ có hai món: một con cá hồng chưng tương tầu và một dĩa rau muống xào. Rau xào bằng loại chảo không dính để tránh dùng dầu ăn. Dĩa rau nhỏ hơn nhưng lại mắc hơn dĩa cá, vì mâm cơm dọn ở thành phố Biloxi vào một đêm đông. Tiết trời tháng Hai dưong lịch đã lạnh khiến rau muống phải nhập cảng từ Mễ vào.
Khí hậu giải thích giá rau mắc, và vị trí của Biloxi giải thích giá cá rẻ. Nằm trên Vịnh Mễ Tây Cơ, Biloxi là thị trấn định cư của hàng ngàn ngư phủ Việt Nam. Con cá hồng 3 pao giá một đồng. Cá phải mua vì cửa biển đã đóng từ tuần trước, khi giới chức dưỡng ngư quyết định thời điểm chấm dứt mùa đánh tôm.
Mùa tôm kéo dài 5 tháng mỗi năm; 7 tháng còn lại để tôm sanh sản và lớn đến mức 50 con cân nặng một pao thì cửa biển lại mở để ngư phủ hành nghề. Ngư phủ Việt Nam, quen sống giữa Thái Bình Dương hùng vĩ, mênh mông, không gọi Vịnh Mễ Tây Cơ là biển, mà coi nó như một cái hồ. Ngày đầu mùa tôm là ngày mở cửa hồ.
Cửa hồ đã mở rồi thì cá chỉ có nước đổ đi. Bốn trăm chiếc tầu cào, mỗi hai tiếng đồng hồ kéo lưới lên một lần, mỗi lần mỗi lưới vét từ đáy biển khoảng trên một tấn hải sản đủ loại, trong số đó tôm –loại bán được– ít nhất, và cá –loại không ai mua– nhiều nhất. Mỗi 24 tiếng đồng hồ 400 chiếc tầu cào đổ xuống biển 5,000 tấn cá. Con số này không khuếch đại, và đã từng làm nhiều người có óc doanh thương và biết nghề làm nước mắm tiếc hùi hụi.
Mỗi lần tầu kéo lưới hàng ngàn con hải âu ồn ào bay theo, lượn quanh chờ ngư phủ cào cá xuống biển là xà sát mặt nước dùng mỏ gắp cá chết bay lên. Hàng vạn con cá sống cũng lội theo tầu tìm ăn cá chết. Sinh hoạt nhộn nhịp trên cả ba tầng cao độ: trên không, trên và dưới mặt biển. Hải âu và cá tuy nhiều nhưng nguồn thực phẩm đổ đi lại quá thừa thãi, ăn không kịp, nên thông thường ngư phủ vẫn phải lưới trở lại những con cá chết đã bị lưới ít nhất là một lần.
Một vài ngư phủ bợm nhậu đã chế ra cách câu hải âu để đánh tiết canh. Họ móc mồi cá vào lưỡi câu rồi thả xuống nước. Sức tầu xê dịch kéo con cá mồi nổi trên mặt nước, thu hút sự chú ý của hải âu. Chim xà xuống biển ăn cá, mắc câu, bay bổng lên trông giống như một con diều lộng gió. Anh bợm nhậu kéo diều xuống, cắt cổ lấy tiết rồi ném con chim xuống biển. Việc câu chim làm mồi nhậu sau này bị cấm đoán vì ngư phủ Mỹ vớt trúng những xác hải âu đã tố cáo với cốt gạc là việc giết chim làm tiết canh vô nhân đạo hơn việc giết cá, giết tôm đóng hộp. Người Mỹ văn minh quý sinh mạng con chim, con chó, hơn sinh mạng người dân Palestine nhiều.
Trên bàn ăn chỉ có hai người: ông Chương và bà Thủy, cả hai tròm trèm 70. Bà Thủy khéo léo lách lưỡi dao bàn theo lườn xương cá, cắt ra nguyên thớ phi lê dài trên một tấc. Cách bà cầm nĩa, cầm dao bàn, cho thấy bà đã được giảng dạy những điều lịch sự trên bàn ăn, và cũng đã nhiều lần ăn theo lối tây phương.
“Anh dùng miếng nạc này đi”. Giọng người đàn bà Hà Nội nghe ngọt hơn thớ cá chưng tương hoisin. Ong Chương chưa ăn cá, ông cũng không uống rượu, nhưng đang ngây ngất say men tình. Dùng đũa sắn đôi thỏi phi lê, ông gắp phần đầu vào chén cơm của bà, phần đuôi ông bỏ vào chén cho mình.
“Ăn cá, ăn rau lành mạnh như thế này là mình dư sức thọ trăm tuổi”. Ông nói để khen cái quyết định ăn uống thanh đạm mà bà đã chọn, ăn chỉ vừa đủ để bồi dưỡng theo đúng nhu cầu của cơ thể chứ không ăn cho đã miệng để rồi tự tử bằng thực phẩm. Ong còn muốn nói thêm là bữa ăn không thịt, không dầu mỡ, nhưng vẫn ngon là nhờ tài nấu nướng khéo léo của bà, nhưng không nói vì e ly chè ngợi khen quá ngọt sẽ khó nuốt. Điều chính ông muốn nói là ông muốn sống trăm tuổi với bà.
Năm ngoái ông không yêu đời đến mức ao ước thọ trăm tuổi. Dù tương đối khỏe mạnh, nhưng ông không thấy chuỗi ngày mùa đông thê thảm của cuộc đời cám dỗ gì lắm. Nhưng từ mấy tháng nay, từ ngày gặp bà Thủy, cuộc sống trở thành dễ thương hơn. Oâng biết những thay đổi đó là nhờ bà.
Bà thường ngượng nghịu mỗi khi ông khen quá lời, nhưng ông vẫn thèm khen. Nhiều lần ông đã biện bạch là lời ông khen chỉ nói lên một sự thật hiển nhiên, và dù ông có khen bà nhiều hơn nữa, ngôn từ ông dùng vẫn chưa diễn tả được một nửa ý ông.
Ông Chương yêu bà Thủy. Yêu thật chứ không phải thương, quý, hay trọng gì cả. Ông có trọng cái tư cách nghiêm trang, đài các, có thương cái nết đằm thắm, dịu dàng, có quý cái đức đảm đang, cần kiệm của bà, nhưng tất cả những thứ đó đều đi sau chữ “yêu” nồng nàn, say đắm.
Ông yêu bà vì cái thể xác tuyệt mỹ, cái duyên kín đáo của bà; ông say đắm hưởng những phút khoái lạc dục tình ông tưởng đã vĩnh viễn mất đi sau tuổi thất thập. Tết này, ngày mốt, ông đúng 70. Cả hai ông bà vẫn tráng kiện. Họ biết giữ gìn sức khỏe. Ngoài việc ăn uống thanh đạm, họ còn tập thể dục. Mỗi buổi chiều, họ sóng vai chạy trên bãi biển suốt nửa tiếng đồng hồ. Vào mùa ấm, họ còn bơi lội nữa.

Bà Thuỷ 66. Bà sinh năm 1936, năm năm trước ngày Tây thuộc địa bị Nhật quân phiệt hạ bệ tại Việt Nam. Những năm đó, những thập niên đó, làn gió Tây học bắt đầu rụt rè thổi vào mảnh đất có bờ biển mang hình dạng một chữ ét xì dài 2,500 kí lô mét, vô cùng trù phú mà cũng vô cùng hiền lành. Nhiễm gió tây học, người Việt Nam bị trị bắt đầu nhìn những ông Tây, những bà đầm ăn, ở sang trọng, hưởng thụ thừa mứa, bóc lột thẳng tay, mà còn làm mưa, làm gió trên quê hương họ, như những ngoại nhân tiếm quyền và bạo ngược.
Cụ thân sinh ra bà Thủy là một thầy phán tòa toàn quyền Pháp tại Hà Nội. Mặc dù làm thông phán cho bộ máy cai trị của thực dân, nhưng học thức cũng vẫn khiến cụ Phán có tư tưởng chống Pháp. Cụ bí mật đọc những tài liệu cách mạng, bí mật đóng góp giúp tài trợ phong trào Việt Nam Quốc Dân Đảng mà cụ vô cùng thán phục vị Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học và những đảng viên anh hùng đã dũng mãnh ngay cả trong phút bước lên đoạn đầu đài.
Cụ Phán cũng họ Nguyễn, cùng họ với vị anh hùng chống Pháp. Lòng kính phục của cụ đối với Nguyễn Thái Học khiến cụ mượn chữ “Thái” trong tên ông làm chữ lót cho tên cô con gái đầu lòng: Cô bé Nguyễn-Thị-Thái-Thủy. Mặc dù chưa bỏ được chữ thị tiềm ẩn kỳ thị nam nữ, nhưng cái tên dài 4 chữ cũng đã là chỉ dấu văn minh của một ông bố thông phán 66 năm về trước.
Cụ Phán văn minh? Nhưng cụ chỉ thụ động hưởng ứng cuộc cách mạng dân tộc? Cụ vẫn chưa vượt được chữ “thị” kỳ thị? Tất cả những điều đó không còn quan hệ nữa. Trăm điều của thế kỷ trước đã trở thành lịch sử. Tất cả đã sang trang. Người Việt quảng đại đã tha thứ, không còn hận Tây, không còn thù Nhật nữa. Ngay cả bà Thái Thủy, con gái rượu của cụ Phán cũng đã thành một bà cụ, và cũng đang sắp sang trang. Trang giấy ghi chép mọi diễn biến của cuộc đời nhiều gian truân đang ở những giòng chữ cuối cùng.
Thế hệ bà Thủy sống là thế hệ lắm diễn biến. Thế hệ trước, song thân bà không gặp nhiều đổi thay đến như vậy. Diễn biến cũng không quá nhiều đối với thế hệ con bà. Mọi điều vật đổi sao dời đều chờ cho đến thế hệ của bà để xẩy ra.
Dù chỉ kể những diễn biến lớn của đất nước, bà Thái Thủy cũng đã chứng kiến 4 năm “xuống chó” của thực dân Pháp, song song với cái thế “lên voi” của những ông lính Nhật quấn xà cạp bó ống quần, đeo vừa gươm dài, vừa súng ngắn trên thắt lưng.
Sau 4 năm bạo ngược, mổ bụng người ăn vụng vì quá đói, chặt tay người ăn trộm vì quá nghèo, và tạo ra nạn đói giết hai triệu người Việt Nam, quân đội Nhật hát bài Xây O Na Ra với giấc mộng Đại Á. Họ nói là họ đến Việt Nam để giải phóng nước Việt ra khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Họ không nói đến cái ách đô hộ khác, cũng nặng nề, tàn bạo không kém ách cũ, mà họ đem từ Đông Kinh sang để lại tròng lên cổ người Việt. Họ đi trước Việt Cộng trong sáng kiến gọi việc đổi gông là giải phóng. Thất trận, họ đầu hàng.
Bé Thái Thủy, 10 tuổi, theo bố ra Công Trường Ba Đình chứng kiến cảnh Bác mang râu, đội mão tuyên bố Việt Nam độc lập.
Cụ Phán đã khóc vì mừng và vì xúc đọâng trước những danh từ to lớn và mới toanh, nói lên niềm thèm khát chân chính của cả một dân tộc. Ngôn ngữ quả là một khoa học chính xác, được cộng sản đem áp dụng lần đầu tiên trên dân tộc Việt Nam. Trước đó Tây thực dân không thấy, và Nhật quân phiệt không có nhu cầu vận dụng xúc động của người Việt. Hơn nữa cả hai cùng không biết tuyên truyền là thứ khí giới mới nhưng vô cùng lợi hại của chiến tranh. Những danh từ “độc lập”, “cơm áo”, “chủ quyền quốc gia”, ” tự do”, “hạnh phúc”, … đánh vào từng giây thần kinh căng cứng của người Việt, tạo ra những phản tác như giây đàn tạo ra âm thanh. Cả nước cùng khóc với cụ Phán, cả nước cùng xúc động vì được Bác lừa. Bác tiếp tục dùng ngôn ngữ đánh lận 30 triệu người Việt Nam để họ đem thân xác ra làm chiến lũy bảo vệ cho chủ nghĩa cộng sản trong lúc họ tưởng họ chiến đấu để giải phóng dân tộc.
Cụ Phán trở thành một cán bộ cộng sản. Học thức giúp cụ thâu nhận nhanh chóng những tư tưởng mới, những kỹ thuật, chiến thuật mới để chỉ huy những người chậm thu nhận hơn. Cụ vắng nhà suốt 5 năm để kháng chiến chống Pháp.
Năm 1951 cụ trở về Hà Nội. Kiến thức giúp cụ nhận ra chân tướng của Việt Cộng mặc dù vào thời điểm đó chúng còn trá hình dưới bộ mặt Việt Minh. Cụ ghê tởm cộng sản hơn là ghê tởm thực dân. Cả thực dân lẫn cộng sản đều bóc lột, nhưng cộng sản vô luân hơn vì chúng còn lừa gạt và giết người. Về thành, cụ buôn bán nuôi con, tạm gác việc nước mà cụ không có môi trường gánh vác nữa.
Năm 1954 cô thiếu nữ 18 Nguyễn Thị Thái Thủy theo bố mẹ và một triệu người Bắc Việt thực hiện cuộc bỏ phiếu bằng chân lần đầu tiên trong chiến sử Việt Nam để quyết liệt bầy tỏ thái độ chính trị chống cộng. Họ bỏ lại sau lưng mồ mả tổ tiên, nhà cửa, tài sản, để chọn tự do.
Năm 1957, cô sinh viên luật khoa 21 tuổi nhận lời cầu hôn của Hải Quân Thiếu Úy Trần Đại Dương. Bỏ học cô theo chồng ra Nha Trang để bắt đầu cuộc sống vợ lính trong trại gia binh. Cô chứng kiến đầy đủ những khó khăn khiếp đảm, những hy sinh, những cố gắng tuyệt vời của người lính Nam Việt trong suốt 21 năm chiến đấu bảo vệ quê hương.
Ngày cuối cùng của cuộc chiến Đại Tá Trần Đại Dương chỉ huy một đoàn 4 chiếc chiến hạm rời căn cứ Hải Quân Cần Thơ, xuôi giòng Hậu Giang rút ra đại dương chở theo 756 trong số hai triệu cử tri tham dự cuộc bỏ phiếu bằng chân lần thứ nhì.
Trang giấy ghi chép cuộc đời người đàn bà sinh ra và lớn lên giữa “thủa trời đất nổi cơn gió bụi” mang nhiều trân chuyên chồng chất, chi chít.
Mất nước, người lính biển anh hùng mang cái tên tiền định Trần Đại Dương vẫn ngày ngày đè gió, cỡi sóng, vượt biển, nhưng ông không tuần phòng duyên hải ngăn cấm địch quân xâm nhập nữa. Ông trở thành một ngư phủ. Môi trường sinh hoạt vẫn là sóng cao, biển cả, nhưng người lính thất trận không còn bao giờ tìm lại được những phút vui hồn nhiên ngày xưa. Ông lơ là với mọi việc, kể cả việc giáo dục, hướng dẫn con cái trên đường học vấn.
Gánh nặng trách nhiệm gia đình ông đặt hết lên đôi vai gầy của vợ. Bà can đảm, tháo vác gây dựng cho đàn con 4 đứa. Đứa nào cũng tốt nghiệp đại học, cũng có công ăn, việc làm vững vàng. Sáu năm trước người lính biển Đại Dương qua đời. Bác sĩ ghi trên giấy khai tử là ông chết tự nhiên, không bệnh hoạn gì cả. Nhưng bà Thủy biết ông bệnh: cái bệnh u buồn, uất ức của một người lính đã làm tất cả những gì sức mình làm được mà vẫn không bảo vệ được đất nước.
Chôn chồng xong, bà tiếp tục lo cho con, trách nhiệm mà bà vẫn gánh vác ngay cả trong lúc ông còn sống. Bà vui với trách nhiệm, với sự thành công của con cái, và những tưởng trang sổ đời bà đã ghi đến những giòng cuối, với bốn chữ “Tiết Hạnh Khả Phong” đúc bằng bạch kim, lộng trong khung vàng 24 để vinh danh cuộc đời bó tròn, nén vuông của một người đàn bà Việt Nam. Nhưng giờ này, chữ chót trên trang giấy lại là chữ “yêu” đầy trớ trêu khiến bà Thái Thủy nghe ngượng ngùng với gia đình, với con, với người đồng hương trong cái xã hội Việt Nam thích miệng tiếng.

Bà Thuỷ Ngượng vì tính chất muộn màng của cuộc tình cuối đời. Tuy nhiên bà vững vàng và chân thành tin tưởng tình yêu giữa bà và ông Chương đích thực là tình yêu chứ không phải là một cuộc sống chung để đỡ đần, an ủi nhau trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời. Nhiều người đàn bà trang lứa với bà đã hành động như vậy. Vài năm sau khi chôn cất người bạn đời, họ tìm một người bạn cuối đời, để trốn cái quạnh hiu, lạnh lẽo của những năm empty nest ảm đạm: con chim trống gẫy cánh, đàn chim con bay xa, xây dựng tổ riêng của chúng, bỏ quên bà đối diện với những buổi chiều dài vô tận.
Bà Thủy không chóa mắt với cái “cấp bằng” tiết hạnh khả phong của xã hội, nhưng bà cũng không coi nhẹ việc bước thêm một bước nữa. Bà đã diện bích trong suốt 6 năm dài. Bà sợ cái trống vắng, cô quạnh của người đàn bà góa Việt Nam, quen lấy cuộc sống gia đình làm căn bản, và đặt nhẹ, nếu không hoàn toàn gạt bỏ, mọi sinh hoạt bên ngoài ngưỡng cửa. Giờ này, không còn cuộc sống gia đình, họ không còn bất cứ một bận rộn, một bận tâm nào khác nữa. Họ mất căn bản, giao động và thèm một ràng buộc có tác dụng tạo thăng bằng.
Khoảng thời gian khắc nghiệt nhất là 4 tiếng đồng hồ giữa bữa ăn chiều và giờ đi ngủ. Bốn tiếng đồng hồ đó bà không nói một tiếng nào, không có ai để nói. Bà ngồi yên trên ghế, tắt truyền hình, tắt đèn lớn và cam phận im lặng. Tất cả, từ ngoại vi đến nội tâm, đều trống vắng.
Bà xin bác sĩ thuốc ngủ, hy vọng kéo dài giấc ngủ, kéo dài thời gian vô tri giác, để chạy trốn cô quạnh. Yếu tố giúp bà còn chịu đựng được với cô quạnh là bà vô cùng quan tâm đến cảm giác của các con trước giả thuyết bà lập lại gia đình. Bà có thể có chồng khác, nhưng, bà biết, chúng không bao giờ hình dung được, không bao giờ chấp nhận được sự hiện diện của người đàn ông thứ nhì trong đời bà với ngôi vị của cha chúng ngày trước.
Bốn đứa con của bà Thái Thủy, 3 trai, một gái, đều là những con chim trưởng thành, đủ lông, đủ cánh, rời tổ, và vỗ cánh bay thật xa. Chúng vô cùng hiếu thảo, vô cùng thương yêu mẹ, nhưng chắc chắn chúng sẽ ngạc nhiên nếu có người nói cho chúng biết là bà cô quạnh đến mức không thể nào chịu đựng lâu hơn được nữa. Thằng lớn, thằng Châu, làm bác sĩ giải phẫu tại San Francisco, thằng thứ nhì, thằng Đức, làm giáo sư tại U.Mass/Boston; đứa thứ ba, con Oanh, dạy cùng trường với thằng Đức, và đứa út, thằng Hoàng, một khoa học gia không gian, làm việc tại Texas.
Bà Thủy chưa có cháu. Nàng dâu độc nhất của bà là bác sĩ Agatha Trần, người Anh, vợ của giáo sư thạc sĩ Đức. Thằng Châu đang đính hôn với cô Lý Lệ Bông, nhà vô địch trợt tuyết của Trung Cộng. Con Oanh thương một nhà thơ Nhật, thĩ sĩ Satoru, chuyên viết bình luận cho tờ Boston Globe. Thằng Hoàng đầu để trên Hỏa Tinh, chân không chạm đất, và chưa bao giờ nhận ra là trên mặt quả cầu còn có phái nữ mà nó có thể cưới làm vợ. Nó tính toán chính xác từng phút khoảng thời gian cần thiết để một chiếc vệ tinh bay từ Texas đến quỷ đạo của Hỏa Tinh, ngôi tinh tú mà nó đang là một trong những khoa học gia phụ trách chương trình nghiên cứu. Nhưng nó sẽ phải mở sổ ra coi nếu có ai hỏi số tiền nó đang có trong chương mục ngân hàng, hoặc số điện thoại của mẹ.
Bà Thủy không có một khó khăn nhỏ nào trong những liên hệ với các con, với cô dâu Ăng Lê, cô dâu tương lai Trung Cộng và cậu rể tương lai Phú Sĩ Sơn. Bẩy người này đều yêu thương bà và mỗi năm 4 lần biểu lộ tình thương bằng những lời chúc tụng và quà cáp qua 4 dịp: Sinh nhật bà, ngày Từ mẫu, ngày Giáng Sinh và ngày Tết âm lịch.
Không có những khó khăn nhỏ, nhưng bà đang dấu một khó khăn lớn: cuộc tình cuối đời của bà. Bà van vái cuộc tình này không chạm vào những cảm quan căn bản của con, và gây cho chúng những xúc động quá đáng. Bà tự hiểu thái độ không vui của chúng sẽ là cái giá mà bà không nhận trả để tiếp tục duy trì cuộc tình mà bà vô cùng trân quý. Đó là trở ngại duy nhất.

“Anh xơi lưng bát nữa”, bà Thủy mời, mặc dù bà biết ông Chương không ăn nữa. Mỗi bữa ông chỉ ăn hai chén cơm. Thêm một chén rau và một pao cá nữa cũng vừa no. Giá sinh hoạt tại thành phố Biloxi rất rẻ. Hai người ăn uống đầy đủ cũng không tốn kém nhiều hơn mười đồng mỗi ngày. Tiền hưu trí của họ thừa thãi bảo đảm cho họ một cuộc sống vô lo cho đến miên viễn.
Ông Chương không hút thuốc, không uống rượu. Số tiền phung phí duy nhất của ông là $600 tiền mướn căn phố số 913, mười sáu tầng thấp hơn căn phố số 2513 mà ông đang ngồi ăn cơm. Cả tháng ông không về đến phòng ông một lần. Quần áo, giấy tờ của ông, ông để cả trên này. Thơ từ ông nhận qua thùng thơ.
Tất cả những gì trong hai cuộc đời đều đã bỏ chung vào một, trừ chương mục ngân hàng và hai căn phố. Họ tránh không đả động đến chuyện này, cũng như chưa bao giờ họ đề cập đến việc hợp thức hóa liên hệ đã 99 phần trăm mang tính chất vợ chồng của họ. Phần trăm còn lại là công bố liên hệ tình cảm của họ với 4 đứa con bà.
“Để em gọt xoài anh dùng tráng miệng”, giọng người đàn bà Hà Nội lần này ngọt hơn miếng xoài ông Chương chưa ăn.
Bà vói tay định lấy quả xoài trong cái làn mây nhỏ đựng trái cây đặt trên đầu bàn thi chuông điện thoại reo. Cánh tay bà ngừng đứng. Khuôn mặt ông nghiêm trọng.
“Chắc mấy đứa nhỏ”, bà vừa nói vừa đứng dạy đi lại tủ sách, trên mặt tủ chiếc điện thoại đang reo đến tiếng thứ ba.
Bà Thủy vừa cất tiếng là Oanh reo lên, “Mommy. I miss you”, tiếng nàng rõ đến mức ngồi khá xa ông Chương vẫn nghe rõ. “Ngày mai con về ăn tết với Mommy”.
“Con đi hãng máy bay nào? Mấy giờ tới để má đi rước”.
“Con take American Airlines, flight 107. Arrival time at Gulf Port Airport là 11:15. Nhưng má đừng rước, con có rent-a-car included trong package rồi”.
“Satoru có về với con không?”
“He has no vacation. Con về một mình. Nó muốn join con lắm, nó thích cái giao thừa tradition của mình. Nó xuống rước con ngày week end.”
Bà Thủy cười vì cách nói tiếng Việt ba rọi của cô con gái cưng. “Mai má làm món mắm thái thịt luộc cho con ăn.”
“Con thích ăn mắm. Cảm ơn má nhớ món preferred của con. See you tomorrow”.
Mặc dù ngôn ngữ pha trộn nhưng cuộc điện đàm ngắn vẫn chuyên chở đầy đủ tình cô con gái thương mẹ. Oanh chào đời tại Biloxi, một năm sau ngày mất nước. Nói theo ngôn từ của dân chài thì nàng sanh dưới nước. Ba chữ này có nghĩa là Oanh là con của một ngư phủ, sanh ra để trở thành ngư phủ.
Đặt ống nói xuống, bà Thủy bảo ông Chương điều ông đã nghe, và đã đoán hiểu, “Ngày mai con Oanh về ăn tết với em”.
“Mừng em. Anh biết em nhớ con”, ông Chương nói mừng nhưng giọng ông không nghe mừng. Bà Thủy nhận ra ngay và hiểu nguyên nhân nỗi buồn của ông: ông sẽ cô độc trong những ngày đầu năm.
“Con Oanh chỉ ở đây vài ngày”, bà an ủi ông. “Cuối tuần thằng Satoru xuống đón nó”.
“Con về thăm em là chuyện vui. Anh mừng cho em. Sáng sớm mai anh dọn xuống dưới cho rộng chỗ”. Ông làm như chỉ vì thiếu chỗ mà ông nhường chỗ cho Oanh. Nhưng dĩ nhiên lý do ông dọn ra không phải là nhu cầu khoảng trống.
Căn phố 2513 hai phòng. Hai ông bà chỉ xử dụng có một phòng, phòng kia là phòng vãng lai vẫn luôn luôn bỏ trống. Ngoài giường ngủ, bà Thủy còn kê thêm bộ computer để tối tối liên lạc email với con. Điều trớ trêu là khách xử dụng phòng vãng lai lại không ai khác hơn là các con bà, do đó, hễ có khách là không thể có ông Chương. Ít nhất tình trạng đó cũng sẽ còn kéo dài đến ngày nào bà nói được với con việc tái giá.
Ông Chương xuống căn 913 để nhường chỗ cho Oanh. Nhu cầu nhường nhịn có thật, nhưng chỗ nhường không phải là trong không gian mà là trên tình cảm. Oanh không chiếm chỗ của ông trong căn phố, chỗ cô chiếm là trong tình cảm của bà mẹ.
“Xin anh đừng buồn”, bà Thủy bảo ông. “Nhường cho con vài ngày rồi nó lại trở về Boston”.
Ông cười gượng, “Sao anh lại buồn? Anh hiểu nỗi khổ tâm của em. Anh yêu em”.

Buớc nhanh xuống, không đóng cửa xe, cô “Mỹ con” ôm chầm lấy mẹ hôn dài. “I miss you, Mommy”.
“Má thương con”, câu trả lời điềm đạm hơn nhưng không kém thắm thiết.
Oanh buông mẹ ra, “Để con đem baggage xuống”. Câu nói, nụ hôn, và cái ôm không có gạch nối và dường như tự động, dễ dàng diễn ra. Người bàng quang có thể cho là Oanh hơi máy móc, nhưng bà Thủy vẫn nhận đủ hơi ấm tình mẹ con. Bà không đòi hỏi nhiều hơn nữa.
“Bỏ hành lý xuống đây, mẹ kéo lên lầu trước, con đem xe cất vào nhà xe rồi lên sau”. Bà đã quen thuộc đến mức không nhận ra thái độ và ngôn ngữ rất ít Việt Nam của con. Bà tự an ủi là cái vỏ lai căng đó không quan hệ ngày nào nó vẫn còn gói ghém tình thương của con cái. Oanh Mỹ hóa từ từ, từng ngày một, trước cập mắt chứng kiến và chấp nhận của bà. Bà thụ động chịu thua cuộc trong cuộc tranh chấp văn hóa mà đối tượng là các con bà. Thế lực tranh chấp với bà quá mạnh. Trường học, bạn bè, môi trường, truyền thông, … tất cả đều tạo cho các con bà trở thành những người Mỹ. Ảnh hưởng của bà nhỏ hơn. Nhưng bà thương con, dù nó sống theo bất cứ lối nào. Tình thương của bà hoàn toàn không điều kiện.
Mặc dù phải cất xe, Oanh chỉ chậm hơn mẹ khoảng hai phút. Trẻ hơn mẹ 41 tuổi, cô nhanh nhẹn, mau mắn hơn rất nhiều. Bước qua ngưỡng cửa, cô hinh hỉnh mũi rồi hỏi mẹ, “There is no mùi mắm?”
“Mắm thái có nấu đâu mà có mùi”, bà Thủy bảo con. “Chắc con quên rồi, món mắm thái ăn cặp với thịt heo luộc đó”.
“Ồ, I remember now. Món đó ngon lắm. Satoru nó ưa lắm, lần trước nó ăn ở đây”.
“Con còn ở đây mấy ngày, mẹ nấu những món con vẫn thích cho con ăn”.
“Ơ Boston có Vietnamese restaurant, nhưng nó không biết cook giống mẹ cook đâu. Con thích nhiều món mẹ cook lắm, nhưng con không biết tên để order nhà hàng”.
“Mẹ biết con thích những món gì”.
Oanh lại ôm mẹ, “I know that you know. Cảm ơn Mommy”.
Lật cổ tay coi đồng hồ cô nói, “Còn sớm quá, mình xuống biển chơi. Con nhớ biển Biloxi”.
Bãi biển nằm ngay trước cao ốc. Qua cửa sổ bà Thủy nhìn giải cát trắng trải dài đến mút tầm mắt bên dưới. Trời lạnh nhưng nắng đẹp. Vài cánh buồm màu sắc rực rỡ đang đẩy những con thuyền thể thao lướt sóng. Những người chơi thuyền chấp nhận cái lạnh của mùa đông. Có thể tiết trời này còn kích thích họ nữa. Nhưng giá lạnh không kích thích người tản bộ: bờ biển vắng ngắt.
Bất chấp lạnh và vắng, bà Thủy chiều con. “Để mẹ mặc thêm cái áo ấm rồi mình đi”, bà bảo con.

Nhưng Oanh không định đi dạo biển như bà tưởng. Vào thang máy nàng không nhấn L đề xuống lobby mà lại nhấn P.2 để thang ngừng ở nhà xe.
“Con đi dạo biển bằng xe à?” giọng bà Thủy hơi ngạc nhiên.
“Con xuống bến tầu South East. Con muốn nhìn lại cảnh cầu tầu”.
South East là tên một hãng hải sản. Những hãng này thường làm một cầu tầu bằng gỗ dài khoảng 30 thước, đủ cho chiều dài của hai chiếc tầu đậu cặp mỗi bên. Tầu đậu cặp đôi, và đậu cả hai bên cầu nên thường xuyên có tám chiếc buộc đỏi tại đó. Liên hệ giữa chủ hãng hải sản và chủ tầu là liên hệ thương mại. Mặc dù không bị ràng buộc bởi khế ước hay khẩu ước, nhưng tầu đậu cầu nào, bán tôm cho hãng hải sản đó, và nếu hãng có cây dầu, nhà máy làm nước đá tầu cũng đổ dầu, mua đá tại hãng.
Không chủ tầu nào vi phạm khế ước ngầm này. Đi biển về, họ lái tầu thẳng vào cái ụ quen thuộc, buộc đỏi, đem tôm lên hãng cân bán. Giá tôm, giá dầu, và giá đá được toàn thể chủ hãng hải sản ấn định và đồng loạt thi hành nên không có chênh lệch giá cả tạo ra tranh thương.
Ông Đại Dương đậu chiếc ngư thuyền Thái Thủy tại bến South East. Bà Thủy thường dẫn con xuống cầu tầu đón chồng mỗi lần ông về bến. Trước khi về ông luôn luôn báo tin trước. Tình yêu vợ và thói quen sinh hoạt quân sự tạo cho ông cái nhu cầu liên lạc vô tuyến giữa chiếc ngư thuyền đang lênh đênh trên mặt biển và gia đình ông trên bờ.
Ông đặt một máy vô tuyến ở nhà. Máy trên tầu thường xuyên mở vì nhu cầu hải hành và ngư nghiệp nên bà có thể gọi ông bất cứ lúc nào cần gọi. Nhưng dù không có chuyện gì bà cũng vẫn mở máy liên lạc với ông mỗi ngày 3 lần vào những lúc 8 giờ sáng, 1 giờ trưa và 7 giờ tối. Ông chỉ nói chuyện với con mỗi tối, vì những giờ liên lạc sáng và trưa, chúng còn ở trong trường học. Gần 20 năm liên lạc vô tuyến với bố vào một thời điểm nhất định đã tạo ra thói quen thân thuộc cho cả 4 đứa con ông, nhất là cho Oanh, cô gái rượu mà ông cưng chiều. Oanh vẫn còn nhớ hình ảnh hùng mạnh của bố, đứng trước mũi ghe, dùng tay ra thủ lệnh cho người “bạn” lái tầu cặp bến. Khi tầu cập đủ gần cầu, ông ném đầu giây đỏi lên cho Châu để cậu trai trưởng cột tầu.
Chỉ những ngày tầu về bến đúng dịp cuối tuần bà Thủy mới đưa con xuống bến đón chồng. Ngày thường, bà xuống một mình. Do đó Oanh không nhìn thấy hình ảnh sinh hoạt của bố nhiều bằng nàng nghe giọng ông trên máy. Ông có thể hỏi nàng: Con hiểu phương trình đại số đó chưa? Phương trình ông hỏi là để giải bài toán mà ông đã giảng cho con tối hôm trước, khi Oanh nói với ông là nàng không làm được. 

Ông hỏi từng đứa về chuyện học hành của chúng, và giờ liên lạc truyền tin buổi tối giúp duy trì quan hệ mật thiết giữa người cha lênh đênh trên biển cả và đàn con đang quây quần trên bàn học, quanh cái máy radio. 
“Radio communication là cái military nostalgy chót của ba”, vừa đi với mẹ trên cầu tầu, Oanh vừa hỏi. “Mommy có nghĩ vậy không?”
Điều bà Thủy đang nghĩ là nguyên nhân nào Oanh đưa bà xuống đây để nhắc lại cái kỷ niệm liên lạc vô tuyến ngày trước. Phải chăng cô đã biết mối tình giữa bà và ông Chương?
 

Chiếc ngư thuyền Thái Thủy cột đỏi ở cuối cầu. Chủ mới cũng là một ngư phủ Việt Nam. Có thể vì ngại làm thủ tục đổi tên tầu nên ông ta vẫn giữ nguyên cái tên Thái Thủy.
“The new owner không care vẽ đẹp the boat’s name”, Oanh nhận xét.
Trước kia ông Đại Dương sơn tên vợ lên mũi tầu bằng lối chữ viết thảo, mầu tím trên nền trắng. Ông giải thích: “Năm 57 anh đem cô nữ sinh mực tím xuống với sinh hoạt của Thái Bình Dương, năm 75 anh lại đem Thái Thủy mực tím xuống Đại Tây Dương”.
Không phải chờ đến việc ông đem tên bà đặt tên cho con tầu ngày đêm cùng ông cỡi sóng, lướt gió bà mới ý thức được tình ông yêu bà vô cùng nồng nàn, bền chặt. Bà nhận ra tình yêu của ông trong mọi sinh hoạt hàng ngày, từ giọng nói cho đến ánh mắt ông nhìn bà. Nhưng bà Thủy cũng biết là bà chỉ chiếm một phần ba tình cảm của ông. Ngoài bà, ông còn yêu nước và yêu quân đội.
Gần 30 năm sống lưu vong, bà có dịp nhận ra là quân nhân Mỹ – và có thể quân nhân thuộc mọi quốc gia khác – không yêu nước, yêu quân đội bằng yêu vợ. Bà không thấy họ tha thiết, mải mê với việc phục vụ quân đội, phục vụ đất nước đến mức quên và hy sinh cả vợ, con. Quân nhân Việt Nam phục vụ như vậy. Nước Mỹ chưa bao giờ mất vào tay quân thù nên bà không có tiêu chuẩn để so sánh tâm trạng của người Mỹ mất nước với tâm trạng của chồng bà.
“Cái tầu looked indestructible”, Oanh nhận xét. “Phải không Mommy?”
“Năm mới qua đây, ba con tự tay đóng lấy đó. Ba con lựa gỗ tốt, đóng dàn sườn kỹ lắm”.
Bà Thủy vẫn phân vân chưa tìm ra nguyên nhân Oanh đưa bà xuống cầu tầu South East. Cô đang nhắc bà là chiếc Thái Thủy còn đó, bà còn đó. Người không còn nữa là bố cô.
“Sao con lại đưa mẹ xuống đây để nhắc đến ba?” bà hỏi con. Bà không muốn kéo dài những ngờ vực ngỡ ngàng. Nếu Oanh đã biết chuyện tình của bà với ông Chương, bà muốn cô biết thật đúng, thật rõ tâm trạng và hoàn cảnh của bà.
“You ask me tại sao?” Oanh bật cười. “I don’t know tại sao. May be tại tết is reminding me about his lì xì”. Giọng nói, tiếng cười và khuôn mặt chân tình của con lập tức đập tan mọi ngờ vực trong lòng người mẹ. Bà Thủy biết con bà không có tính nói quanh. Cả 4 đứa cùng không thích quanh co. Chúng xử sự thẳng thắn, minh bạch.

CHỈ TỐI HÔM ĐÓ Oanh chứng minh cho mẹ thấy là bà không nhận xét lầm về tính nết của cô.
Chín giờ tối, sau bữa cơm chiều và dăm câu chuyện khào, Oanh vào căn buồng vãng lai đã trở thành buồng ngủ của nàng. Lấy quần áo trong va li ra treo vào tủ áo, nàng chưng hửng nhìn cái áo veste đàn ông trên móc. Áo của bố ngày xưa? Oanh cầm áo lên và tin là không đúng size của bố. Tò mò nàng thọc tay tìm túi ngoài, túi trong và vật nàng tìm được là một tập cùi ngân phiếu mang tên người chủ chương mục là ông Lý văn Chương.
Chưa suy luận một giây ngắn nào cả, Oanh chạy vội sang buồng mẹ, chìa cuồn ngân phiếu cũ ra hỏi: “Ong Chương nào vậy, Mommy?”
Bà Thủy không nhìn tập ngân phiếu mà nhìn thẳng vào mặt con. Nét ngay thẳng buổi trưa vẫn còn nguyên đó. Khuôn mặt vô tâm chỉ đang biến đổi dần theo thái độ im lặng của mẹ.
“Who ông Chương is, Mommy?” giọng Oanh cấp bách hơn. “His suit is in my closet”.
“Con ngồi xuống đây, mẹ nói hết cho con nghe”.
Bà Thủy nói hết. Bà nói rất thành thật. Giọng bà nghẹn lại khi bà đề cập đến những buổi tối trống vắng, dài vô tận mà bà đã câm lặng chịu đựng.

Oanh ôm chầm lấy mẹ. “Poor Mommy. I love you.”
“Con có tha thứ cho mẹ không?”
“Who am I to accuse you? Mommy”. Oanh nói. “I love you. I now love you much more than before you told me about your loneliness.”

Nửa đêm, 
Bà Thủy cúng giao thừa một mình. Ngày còn nhỏ Oanh rất thích thức khuya chờ xem mẹ cúng.
Đêm nay cửa phòng nàng đóng chặt. Bà Thủy nghe văng vẳng có tiếng nàng nói. Bà nghĩ Oanh điện thoại cho anh, em cô về chuyện tình của mẹ mà nàng vừa biết.
Bà cũng điện thoại. Giọng thì thào bà bảo ông Chương: “Con nó biết rồi. Em cũng đã nói hết mọi điều cho nó nghe. Anh biết tại sao nó biết không?” Bà kể cho ông nghe chuyện cái áo ông bỏ quên trên móc.
“Anh xin lỗi em”, tiếng ông Chương thoang thoảng như tiếng gió ngoài Vịnh Mễ Tây Cơ. “Anh vô ý quá.”
“Việc đã rồi. Vả lại em cũng không có ý dấu con mãi mãi.”
“Anh muốn có mặt bên em trong lúc này. Anh muốn ôm em vào lòng, muốn hôn em để cùng chia những lo lắng của em.”
“Em cũng thèm như vậy lắm”, bà Thủy nói như rít lên. Thèm muốn được tiếng rít diễn tả đầy đủ hơn khả năng hạn hẹp của ngôn ngữ để nói lên cảm giác thật bà đang sống. “Con nó khóa kín cửa buồng lại. Nó đang nói chuyện bằng điện thoại cầm tay của nó. Nhưng nó có thể mở cửa ra bất cứ lúc nào.”
 

Bà Thủy muốn bà có mặt lúc Oanh mở cửa. Nhưng bà cũng muốn ra thang máy xuống tầng lầu 9 tìm người yêu.

Trong bữa cơm trưa mồng một tết Oanh nói với mẹ: “Please invite ông Chương to our dinner tonight at nhà hàng Michell, Mommy.”
Bà Thủy vui mừng nhưng không muốn tỏ ra cho con thấy. “Cảm ơn con,” bà vừa nói vừa nhìn con. “Mẹ sẽ mời ổng.”
“You are very welcome, Mommy.”
Câu nói nghe khách sáo nhưng bà Thủy tin là Oanh xúc động nhiều hơn vẻ lịch sự bên ngoài.
Oanh nói tiếp: “Dinner lúc 8 giờ. Con tới đó trước. You come later with ông Chương.”
“Sao con không cùng đi?”
“I’m the host, Oanh nói. “I want to be there trước để lo that every thing is right.”
Bà Thủy cười vì cái cung cách ngoại lai của con. “Mẹ mày”, bà chửi yêu.
Người đàn bà trẻ bị Mỹ hóa vẫn hiểu cái nghĩa âu yếm của tiếng chửi. “I love you, Mommy”, Oanh vừa nói vừa hôn mẹ.

“Anh hình dung thử thái độ của Oanh sẽ như thế nào?” Giọng bà Thủy lo lắng.
Xe đã vào đến bãi đậu của nhà hàng, ông Chương cẩn thận lui vào khoảng trống giữa hai cái xe đã đậu trước. “Anh nghĩ Oanh nó sẽ không phản đối. Nó mời anh ăn tết là chỉ dấu tốt.” Ông Chương nói cứng để người yêu vững bụng. Giọng ông không phản ánh nội dung câu nói.
Bà Thủy bám ngay vào cái phao lạc quan này: “Em van vái là con nó đừng buồn. Nó buồn, nó khổ, chắc em chết mất. Em thương nó lắm.”
Ông Chương đưa tay choàng ngang lưng bà. Ông dìu bà, và bà yếu đuối dựa vào vòng tay dìu dặt của ông. Cánh cửa tự động của nhà hàng mở rộng đón mời họ. Người quản lý đứng sẵn, có vẻ đang chờ họ. Trịnh trọng đưa tay trong cử chỉ hướng dẫn, ông ta nói: “Xin mời ông bà đi thẳng vào phòng ăn riêng,” vừa nói ông vừa lăng xăng đi trước mở cửa.
Ông Chương nghe cơ thể người yêu run rẩy trong vòng tay ông. Bà hồi hộp. Vòng tay nâng đỡ siết lại chặt chẽ hơn, cam kết hơn.
Bản nhạc “Here Comes the Bride” trổi lên, không bằng âm điệu mà qua giọng hợp ca của 7 người trẻ, nam có, nữ có, Việt có, Nhật có, Anh có. Bẩy người đứng thành một hàng ngang, cả bẩy khuôn mặt cùng nghiêm chỉnh như họ đang hát quốc ca.
Bà Thủy chết lặng. Bà lựng khựng không biết phải nói gì, phải làm gì.
Thằng Châu, con trưởng của bà, trang trọng nói: “Chúng con kính chúc má và dượng Chương trăm năm hạnh phúc.”
Mọi người vỗ tay. Ngoài trước cửa nhà hàng một giây pháo 15,000 viên bắt đầu phát nổ. Bà Thủy thầm cảm ơn tràng pháo giúp bà vài phút để dằn cho xúc động lắng xuống. Nếu phải trả lời con ngay lập tức, chắc bà sẽ òa lên khóc vì cảm động. Giây pháo dứt, bà cất tiếng: “Mẹ cảm ơn các con đã đồng ý cho mẹ lập lại cuộc đời. Mẹ không muốn tạo cảnh khó xử cho các con, nhưng quả thực mẹ không chịu nổi những buổi tối cô quạnh quá dài, quá nặng nề…” bà lựng khựng, không tìm được lời để mô tả tâm trạng của mình.
Thằng Hoàng, nhà khoa học gia không gian, lên tiếng: “You don’t need our consent. Mommy vui, con vui.”
Cô dâu Agatha chạy lại nắm tay bà: “Thủy, we are very happy because you are.”
Oanh cầm nĩa gõ lên miệng ly. Sáu người kia tưng bừng gõ theo. Họ đòi cô dâu chú rể hôn nhau. Thủy ngượng nghịu quay lại nhìn Chương. Ông trịnh trọng nói: “Anh yêu em”, rồi quay ra nói chung với mọi người, “Tôi thành thật cảm ơn quý anh quý chị đã nhận tôi vào gia đình của quý anh, quý chị. Tôi hứa làm tất cả những gì trong sức tôi để bảo đảm hạnh phúc trọn khúc cuối cuộc đời của Thủy.”
Cúi xuống ông trang trọng hôn trên môi người yêu. Nụ hôn thật dài mà cũng thật say đắm.

Nguyễn Đạt Thịnh

Ký tên phản đối thành phố Riverside kết nghĩa với thành phố Cần Thơ

Mời click vào đây để ký tên — Nhứt là quý vị cư dân của thành phố Riverside

 

Ký tên phản đối thành phố Riverside kết nghĩa với Cần Thơ

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Ngày 2 tháng 2, 2015

Kính gửi:

Ông Thị Trưởng Rusty Bailey

Quý Vị Nghị Viên, Thành Phố Riverside, California: Mike Garner; Andy Melendrez; Mike Soubirous; Paul Davis; Chris Mac Arthur; Jim Perry; Steve Adams..

V/v: Thành phố Riverside kết nghĩa với thành phố Cần Thơ Việt Nam

Thưa Quý Vị,

Tôi kính gửi đến quý vị Thư Phản Đối này liên quan đến việc thành phố Riverside kết nghĩa với thành phố Cần thơ của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2014. Chúng tôi rất thông cảm khi quý vị tìm cách thiết lập quan hệ thân thiết với các thành phố trên thế giới nhằm tạo phúc lợi cho người dân tại đây.

Tuy nhiên, thành phố Cẩn Thơ cũng như những thành phố khác tại Việt Nam hiện nay trực thuộc chính quyền cộng sản Việt Nam, được kiểm soát bởi đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội là một trong những chính quyền vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất thế giới theo các phúc trình về nhân quyền mới đây của Bộ Ngoại Giao Hoa  Kỳ, Hội Ân Xá Quốc Tế, Cơ Quan Theo Dõi Nhân Quyền Human Rights Watch, tổ chức Freedom House và nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế khác.

Do đó, kết nghĩa với thành phố Cần Thơ có nghĩa là quý vị kết nghĩa và ủng hộ chính quyền độc tài toàn trị tại Việt Nam để tiếp tục đàn áp 90 triệu người dân Việt Nam. Ngoài ra, sự kết nghĩa này hoàn toàn đối ngược với ước vọng của trên 3 triệu người Việt từng là nạn nhân của chế độ cộng sản tại Việt Nam. Họ đã phải rời bỏ Việt Nam đi tìm tự do vì không thể sống dưới chế độ độc tài này. Theo cuộc điều tra dân số gần đây, có khoảng 1 triệu người Mỹ gốc Việt sống tại Hoa Kỳ, nhất là vùng Orange County, Riverside, Los Angeles và các vùng lân cận với thành phố Riverside.

Vì lý do trên, chúng tôi trân trọng thỉnh cầu quý vị cứu xét lại việc kết nghĩa với bất cứ thành phố nào tại Việt Nam trong lúc vẫn còn chế độ cộng sản độc tài như hiện nay.

Trân trọng,

 

LETTER OF PROTEST

Feb 2nd, 2015

Honorable ​​ Rusty Bailey

Mayor of City of Riverside, California.

C/c City Council Commissioners: Mike Garner; Andy Melendrez; Mike Soubirous; Paul Davis; Chris Mac Arthur; Jim Perry; Steve Adams.

Dear Mr. Mayor and Council Members:

​I am writing this Letter of Protest regarding the Sister City relationship with City of Can Tho in Vietnam. We understand that the City of Riverside has to get friendly relationship with other cities in the world for enriching benefits of the City and its citizens.

However, the City of Can Tho is belonging to and under control of the Vietnamese Communist Party. As you know, Vietnamese government is one of the worst human rights violators in the world according to recent reports on human rights from U.S. State Department, Amnesty International, Human Rights Watch, Freedom House and others.

Supporting and holding friendship with the City of Can Tho of Vietnam means you are supporting the totalitarian regime in Vietnam to continue suppressing 90 millions of Vietnamese citizens. Also, this action will oppose to the will of more than 3 million  Vietnamese  who escaped Vietnam for seeking freedom. According recent census, there are about 1 million Vietnamese living in California, especially in Orange, Riverside, Los Angeles Counties and vicinity.

Therefore, we would like to urge you to review the “friendship” relationship with any city in Vietnam at this time.

Yours Sincerely,

Mời click vào đây để ký tên (và paste bản Anh ngữ vào khung Comments or Questions)

Please click here to sign (and paste English version into the Comments or Questions box)

Thảm Hoạ Đỏ

Dân Mỹ (CodePink) Kêu Gọi Khởi Tố Henry Kissinger Như Một Tội Phạm Chiến Tranh — Reverbpress & Tuấn Khanh

Henry Kissinger bị dân Mỹ kêu gọi phải bị khởi tố vì sự sụp đổ của chế độ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam — Tuấn Khanh lược dịch

Ngày 29 tháng 1, 2015, tại cuộc điều trần trước Thượng Viện Mỹ, Tiểu ban về Ngoại giao, trong nghị trình về những thách thức toàn cầu và chiến lược an ninh quốc gia Mỹ tại Capitol Hill, viên cựu bộ trưởng Ngoại giao Henry Kissinger đã bất ngờ đối diện với một nhóm hoạt động xã hội có tên gọi là CodePink. Nhóm này đã xông thẳng vào nghị trường và hô to các khẩu hiệu đòi đưa Henry Kissinger ra tòa vì đã bán đứng Việt Nam và nhiều quốc gia khác trong thế kỷ 20, gây nên tai họa tàn khốc cho nhiều dân tộc.

watch-john-mccain-blow-up-at-protesters-heckling-henry-kissinger--get-out-of-here-you-low-life-scum

Thượng nghị sĩ John McCain đã phản ứng dữ dội với những người biểu tình trong việc làm náo loạn buổi điều trần, gọi họ là “bọn cặn bã hạ lưu”, sau khi cảnh sát đưa những người biểu tình ra khỏi đó. Mặc dù sự kiện diễn ra hết sức kịch tính, nhưng vẻ mặt của Henry Kissinger vẫn điềm nhiên. Được mô tả như là một con cáo già quỷ quyệt của tình báo ngoại giao, Henry Kissinger vẫn được chính phủ Mỹ trọng dụng, mặc dù rất nhiều nhà phân tích chính trị đã chỉ rõ là những sách lược của ông ta từ những năm 60-70 đã gây tổn hại tức thì cho nhiều quốc gia, cũng như về sau đó của nước Mỹ.

Với những ai quan tâm đến cuộc chiến Việt Nam, thì vẫn còn nhớ nhân vật Henry Kissinger, người phục vụ dưới thời Tổng thống Nixon, và cho tới nay vẫn bị nguyền rủa rủa bởi những người ủng hộ nhân quyền về cách dàn xếp của của ông trong hậu trường chiến tranh Việt Nam, bao gồm cả hành động tàn bạo khác nhau, trên khắp hành tinh trong hơn nửa thế kỷ.

CodePink

Những thành viên của nhóm hòa bình CODEPINK đã giương khẩu hiệu, gọi Henry Kissinger là tội phạm chiến tranh. Một người đã tiến tới gần Henry Kissinger và giơ chiếc còng số 8 vào mặt ông ta. Mặc dù bị áp giải ra khỏi nghị trường ngay sau đó, nhưng nhóm hoạt động CodePink nói rằng họ thực sự tự hào về hành động của mình tại Thượng viện ngày 29 tháng 1, 2015, vì đã thay mặt cho nhân dân Đông Dương, Trung Quốc, Đông Timor và nhân dân yêu chuộng hòa bình ở khắp mọi nơi, nói vào mặt của Henry Kissinger về tội ác của ông ta. Medea Benjamin, người đồng sáng lập tổ chức CodePink nói rằng “Henry Kissinger phải chịu trách nhiệm cho cái chết của hàng triệu người. Ông ta là một kẻ sát nhân, một kẻ nói dối, một kẻ lừa đảo, và là một kẻ côn đồ. Ông ta cần phải được đưa ra trước vành móng ngựa tại Hague.”

kissinger_2

Băng video ghi lại giây phút ấn tượng này đã được truyền đi khắp nơi, những người biểu tình từ nhóm CodePink đã hô vang, “Phải bắt giữ Henry Kissinger vì tội ác chiến tranh!”. Những tiếng hô này càng lớn hơn ngay khi Kissinger bước vào phòng họp của Thượng viện.

code-pink-scum-kissinger-570x335

“Di sản thật sự của Kissinger để lại chỉ là sự hủy diệt. Ông là nhân vật phản diện vĩ đại của Mỹ.” Anna Kaminski, thành viên của nhóm CodePink nói với báo chí.

kissinger_1

Để biết thêm về những gì mà Henry Kissinger đã gây ra, CodePink nói tất cả mọi người cần tham khảo thêm về Việt Nam: Từ năm 1969 đến năm 1973, Kissinger, làm việc cho Richard Nixon, gây ra một cuộc chiến tàn khốc giữa hai miền Nam Bắc. Sau đó, vì muốn đi đêm với Trung Cộng trong chính sách bảo vệ Đài Loan và bỏ rơi miền Nam Việt Nam, Campuchia và Lào, Henry Kissinger đã để mặc cho 3 nước Đông Dương này rơi vào thảm trạng. Nửa thế kỷ sau, tàn dư từ những bài toán của Henry Kissinger vẫn còn làm tan nát con người và các đất nước này. Đặc biệt sự sụp đổ của chế độ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã trở thành một vết nhơ khó quên trong lịch sử của Hoa Kỳ.

GERMANY-US-POLITICS-BIRTHDAY-MERKEL-KISSINGER

Chile: Henry Kissinger là một trong những kiến trúc sư chính của cuộc đảo chính ở Chile vào ngày 11 Tháng 9 năm 1973, một cuộc đảo chính lật đổ chính phủ dân cử của tổng thống Salvador Allende. Đất nước này đã phải chịu 16 năm đàn áp, tra tấn và tử vong dưới sự cai trị của một người bạn của Kissinger, trùm độc tài phát xít Augusto Pinochet.

Đông Timor: Năm 1975, trong khi làm việc cho Tổng thống Gerald Ford, Kissinger vận động phê duyệt việc yểm trợ cho nhà độc tài Suharto của Indonesia xâm lược đẫm máu của những hòn đảo nhỏ của Đông Timor. Các cuộc xâm lược này đã được thực hiện với vũ khí trang bị của Mỹ. Bởi thời gian chiếm đóng Indonesia cuối cùng kết thúc vào năm 1999, 200.000 Timor với kết quả 30 phần trăm dân số đã bị xóa sổ.

Nhà văn Jon Queally, người bảo vệ hành động của nhóm CodePink nói rằng “Những trang sử đẫm máu đó chính là di sản của Kissinger. Cái chết. Sự tàn phá. Đau khổ. Cùng cực. Chế độ độc tài. Henry Kissinger chính là một kẻ giết người, một kẻ nói dối, một kẻ lừa đảo, một kẻ côn đồ.”

(Lược dịch từ Reverbpress / Ảnh: Reuters – Gary Cameron)

Mời đọc thêm tại đây:
http://reverbpress.com/politics/henry-kissinger-protestors-low-life-scum-mccain/
http://propagandamatrix.com/archive_henry_kissinger.html
http://www.commondreams.org/news/2015/01/29/low-life-scum-vs-great-american-villain-citizens-arrest-targets-kissinger

Code Pink Protesters Surprise Henry Kissinger, McCain Calls Them “Low Life Scum”

Was Henry Kissinger a War Criminal? — The Film Archives

Có Những Người Anh – Võ Đức Hảo


[vnguitar_net]-co nhung nguoi anh

Vũ Chất là đứa nào? – Bùi Bảo Trúc

Một cuốn từ điển tiếng Việt ghi ngoài bìa “dành cho học sinh” do nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2001, và được in lại với hai, ba cái tên (tác giả) khác nhau đang được đem ra nói khá nhiều trong những ngày qua trên mấy tờ báo trong nước.

Nó được nhắc tới không phải vì hay, mà vì nó quá dở, quá bậy bạ, láo toét. Một số (khá nhiều) những định nghĩa đọc lên rất buồn cười (tức là buồn mà cười, như theo cách định nghĩa ở trang 75 của cuốn tự điển này).

td1-1

Hãy đọc thử vài ba định nghĩa của nhà làm từ điển Vũ Chất:

Buông xuôi: chết, thả duỗi hai tay ra.
Buồn thiu: buồn trong quạnh hiu.
Buồn chán: buồn, chán không muốn làm gì.
Tù trưởng: người đứng đầu trong nhà tù.
Cào cấu: cào và cấu.
Khai quật: đào mồ lên.
Đạo sỹ: người theo tôn giáo.
Bồ bịch: bạn bè thân thích.
Bia: tấm đá có khắc tên ngày giờ chết trước mả.
Ngồi: đặt đít xuống chỗ nào.
Bản sắc: mầu tự nhiên.
Bế mạc: hết dứt buổi hát.
Thơ ngây: ngây thơ.
Lâu đài: lầu và đền đài.
Đồn trưởng: trưởng đồn.
Nắn bóp: nắn và bóp.
Bóp: dùng bằng tay bóp.
Bố ráp: làm cho khiếp sợ và vây bắt ai.
Bồ liễu: loại cây có lá liễu để ví người con gái.

Vũ Chất, người làm cuốn từ điển này là một nhân vật rất bí mật. Cho đến nay người ta không biết ông ta là ai. Ngoài cuốn từ điển, ông ta không có một tác phẩm nào khác, một bài viết dài hay ngắn nào. Ngay cả những người biết nhiều về các sinh hoạt sách vở cũng không biết mặc dù đã mất nhiều công tìm hiểu. Mọi cố gắng đều không trả lời được thắc mắc Vũ Chất là ai.

Ở một nơi mà bất cứ một cuốn sách, một tài liệu in ấn, bất cứ một bài viết nào cũng phải duyệt xét kỹ lưỡng (kể cả những tập nhạc, như tập nhạc của Trịnh Công Sơn) để loại bỏ mọi sai sót hay bất cứ một chi tiết nào bất lợi cho nhà cầm quyền, thì cuốn từ điển này có mặt từ năm 2001, lại còn được in lại dưới nhiều tên khác vẫn còn nguyên những định nghĩa ngu xuẩn nhiều không thể kể ra cho hết được thì không hiểu được.

Như tất cả những ấn phẩm in ở Việt Nam, ở trang cuối bao giờ cũng ghi tên người chịu trách nhiệm xuất bản. Tưởng như thế là bản thảo đã được đọc kỹ, mọi sai sót đều được sửa chữa trước khi đem in. Vậy thì tại sao cuốn từ điển của Vũ Chất lại có những định nghĩa láo toét như thế?

Người ta chỉ có thể hiểu những sai sót đó được để nguyên, giữ nguyên như vậy là vì người chịu trách nhiệm xuất bản là người quá dốt.

Phải quá dốt nên mới để nguyên những định nghĩa ngây ngô và ngu xuẩn như đế quốc là nước có vua! Mà những định nghĩa láo lếu như thế thì hầu như trang nào cũng thấy, đầy trong sách.

Thế còn những người khác làm việc trong nhà xuất bản bộ cũng ngu cả hay sao? Người ta có lý do để tin như thế. Không lẽ bản thảo chỉ giao cho một người duy nhất đọc. Chắc chắn phải có một người thứ hai liếc mắt nhìn qua, mà chỉ cần liếc nhìn qua thì cũng phải nhìn thấy (không nhiều thì cũng) phải hai ba sai sót của cuốn sách chứ. Vậy thì đúng là cả lũ dốt như nhau thì mới để cho cuốn từ điển thối tha đó ra đời.

Hay Vũ Chất chỉ là cái tên hiệu của một anh to đầu nào đó nên không một đứa nào dám đụng tới những cơ bút thần thánh đó và vì thế mới ra nông nỗi. Biết đâu Vũ Chất lại là một cái tên khác của Trần Dân Tiên, của Sông Hồng, của Sáu Búa … nên không một đứa nào dám liều mạng đụng tới.

Nhưng rồi còn những người đọc thì sao?

Những sai sót tầy đình mà người ta tìm thấy gần như ở mỗi trang, vậy mà trong suốt 13 năm vẫn không có một tiếng nói nào lên tiếng về những sai lầm thảm hại đó. Tại sao lại như vậy? Nào phải đó là những từ ngữ quá chuyên môn nên những người dùng từ điển không thấy. Trái lại, nó là những chữ hết sức tầm thường và hay gặp. Bảo là cuốn từ điển dành cho học sinh nên những sai sót đó không được nêu lên. Nhưng nó lú thì chú nó phải khôn chứ!

Có phải vì thế, vì dùng cái từ điển tầm bậy như vậy nên tiếng Việt trong nước mới nhảm nhí như vậy hay không? Người ta có thể tin chắc là như thế.

Nhưng câu hỏi vẫn còn nguyên: Vũ Chất là đứa nào mà dốt quá vậy?

Bùi Bảo Trúc

Hạ Cờ Máu, Giương Cờ Vàng – Thái Nguyễn

Cuối tuần qua, nhận được tin báo từ anh Steven Nguyễn cư ngụ tại thành phố Chandler, AZ, cho biết rằng, Big Two Toyota Body Shop tại thành phố Mesa, AZ có treo cờ máu của vc cùng với một số cờ của quốc gia khác trong phòng chờ và tiếp tân, hội Hậu Duệ VNCH/AZ đã cử người đại diện đến để tìm hiểu thức hư câu chuyện, qua đó hầu tìm ra giải pháp nhanh chóng, phù hợp, và có hiệu quả cao.

Hôm nay, chiều thứ hai 1/19/2015, chị Hội Trưởng Mai Trinh cùng một số anh chị em, Trí Huỳnh, Hồng Khanh, Thái Nguyễn trong Hội Hậu Duệ đã đến, và đã được gặp ông Joe Thrall, shop manager. Qua lời kể của ông, việc những lá cờ được treo lên tại đây khá lâu, là vì đa số những khách hàng của tiệm là công dân của những lá cờ đó, vì thế những lá cờ này đã được treo lên nhằm vinh danh những quốc gia của khách hàng BigTwo Toyota Bodyshop. Bản thân ông đã không có khái niệm gì về ý nghĩa hay nguồn gốc của những lá cờ đang được treo, trong đó có lá cờ máu, ông chỉ nghĩ đơn giản rằng, nó là cờ của sắc dân Việt Nam đang sinh sống tại đây. Ông không biết rằng, vì lá cờ đỏ sao vàng này, mà đã làm hàng trăm ngàn người liều mình bỏ nước ra đi tìm tự do, nên bây giờ người Việt tỵ nạn cộng sản chúng tôi không muốn nhìn thấy nó tại đất nước này. Chúng tôi cũng cho ông Joe biết thêm, lá cờ Vàng ba sọc đỏ đã được nhiều tiểu bang và thành phố công nhận là biểu tượng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt yêu chuộng tự do. Sau khi nhận được lời giải thích chính đáng, ông Joe Thrall đã vui vẻ bằng lòng hạ cờ máu xuống và treo cờ Vàng lên dưới sự chứng kiến, có phần hơi bất ngờ, nhưng vui sướng vô hạn của anh chị em trong Hội Hậu Duệ VNCH/AZ.

Được biết, Big Two Toyota Body Shop tại thành phố Mesa, AZ, là một tiệm body shop xe lớn phục vụ cho các hãng bán xe Toyota và các hãng bảo hiểm trong vùng Phoenix và các vùng phụ cận. Cách giải quyết nhanh chóng của họ như trên rất đáng được ủng hộ và hoan nghênh. Nếu quý đồng hương muốn tận mắt xem thấy lá cờ Vàng thân yêu được treo tại một văn phòng làm việc của người bản xứ, xin ghé qua địa chỉ của họ tại: 1120 W. Main St. Mesa, AZ 85021. Xin mời đồng hương xem qua số hình ảnh ghi nhận được dưới đây:

1:30pm: chúng tôi ghé qua chỗ bán cờ ngay góc đường Alma School Rd / Main St để mua cờ, vì thấy lá cờ Vàng được treo cùng với những lá cờ của các quốc qia khác (Chúng tôi muốn mua lá cờ Vàng cùng kích thước với lá cờ máu, cho tiện việc thay thế cờ nếu chủ nhân BigTwo BodyShop đồng ý hạ cờ máu, giương cờ Vàng lên)

9037a06bf34cf7e1567dc9d7dffa6899

834e72f3dc3d616ce4b6614843322825

4d8256d119ab685ad57a0e8c2949e382Bên ngoài khuôn viên BigTwo BodyShop

1749308b3618620aea9c721af1c6ce83Lá cờ máu của Việt cộng được treo ngang hàng với một số cờ quốc gia khác

ffe824e7ee1f70e4ffc01f2a2e7c00f8Ông Joe Thrall, shop manager chú ý lắng nghe sự giải thích trình bày của chị Hội Trưởng Hội Hậu Duệ VNCH/AZ

c9a8c2e6402ab7d3f48383cdd14f924eÔng Joe Thrall tỏ ra vui vẻ, ngỏ ý hợp tác sau khi thấu hiểu vấn đề

27a3e645e5944c81ac7b9ab66de1d9a4
Sau khi nghe lời giải thích chính đáng, ông Joe Thrall đã chính tay hạ lá cờ máu xuống

b93c41b59b8a80d8b53d393f831eaf9aVà cũng chính tay ông treo lá cờ Vàng thân yêu của chúng ta lên

3be57f19c305b73cacc0baba1cea6400

cb7d85c7fccef5cee1b3e4fea3e4271e

1c94a7a7ad7bc8fe42de04804c35bab8a

0168bc82207c3da1f69c9e24f6669f3a

Ghi nhận và hình ảnh
Thái Nguyễn

Vài Hình Ảnh Thăm Viếng Ông Bà Lâm Quang Thi K3 Tại Fremont

anigif

Cà Phê Tối – 1.200 Quý Phế Binh VNCH gặp gỡ nhau, ngày 13.1.2015

Thành Kính Phân ƯU cùng Bà Vũ Quang K6/1

white_background_red_rose

Tôi Nhớ Tên Anh—Hoàng Thi Thơ—Trish Thùy Trang—Mỹ Huyền


Toinhotenanh_1Toinhotenanh_2

Vài Hình Ảnh Thăm Viếng Anh Trần Văn Loan K23 Tại Bệnh Viện

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đêm Tri Ân Võ Bị Đà Lạt—Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu Houston

Cây Mùa Xuân Ất Mùi—Ban Xã Hội Tổng Hội

CayMuaXuan

Kính thưa:
       – Quý Niên trưởng, quý Bạn,
       – Quý cựu Giáo sư, Huấn Luyện viên,
       – Quý Phu nhân, quý Cháu,
       – Quý Thành viên Diễn đàn, cựu Quân-Cán-Chính Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Năm cũ sắp hết & một năm mới Ất Mùi sắp trở về trên quê hương Việt Nam. Trong thời tiết giá lạnh của những ngày cuối năm, cứ mỗi lần nhớ về quê nhà, ai ai trong chúng ta cũng không khỏi ngậm ngùi khi nghĩ đến đời sống bất hạnh của các Thương Binh, Cô Nhi & Quả Phụ đồng môn Võ Bị đang lâm cảnh đau ốm cơ hàn suốt gần 40 năm qua, họ và gia đình đã phải chịu đựng nhiều sự phân biệt đối xử, ngược đãi, và vô số thiệt thòi đã ảnh hưởng lâu dài đến đời sống gia đình, con cái của họ đến tận bây giờ.….
Năm nay, BXH/TH sẽ thực hiện công tác mà quý vị đã & đang quan tâm: gây quỹ “Cây Mùa Xuân” cho TB & CNQP trong đại gia đình VBQGVN. 
  
       – Họ là những cựu SVSQ/TVBQGVN đã hy sinh một phần thân thể cho Tổ Quốc. Theo thời gian, vết thương thân xác có trở nên chai lì, nhưng nỗi đau tinh thần chẳng bao giờ mờ nhạt…
       – Họ là những quả phụ – vợ hiền Tử Sĩ, những người bà, người mẹ của các cô nhi, đang ngày đêm vật lộn với cuộc sống khốn cùng, tảo tần nuôi con, nuôi cháu ăn học chỉ mong sao cuộc sống bớt lầm than… 
       – Họ là những cựu SVSQ qua bao nhiêu tháng năm chồng chất, nay sức khoẻ hao mòn – đau ốm, bệnh tật đang cô đơn đối đầu với cuộc sống khó khăn mọi mặt…
Để phần nào xoa dịu những vết thương thể xác, khích lệ tinh thần, biểu lộ tình tự Võ Bị, BXH/TH kêu gọi và phát động công tác gây quỹ Cây Mùa Xuân Ất Mùi – 2015. Đây là việc làm mang nhiều ý nghĩa, không những thắt chặt tình liên đới giữa các anh em đồng môn, đồng khoá mà còn là dịp để chúng ta bày tỏ sự lưu tâm đến các TB, CN, QP và cựu SVSQ đang lâm cảnh cơ hàn cùng cực. 
Kính thưa quý vị,
Đây cũng là cơ hội để mỗi người trong chúng ta, những người may mắn đến bến bờ tự do thể hiện tình tự Võ Bị cao quý của những người con xuất thân từ Trường Mẹ để cùng nhau chia xẻ nỗi đau triền miên của họ nhân dịp Xuân về.
Trên tinh thần đó, BXH/TH thiết tha kêu gọi sự hưởng ứng của:
– Toàn thể Thành viên – Thân hữu thuộc TH/CSVSQ/TVBQGVN
– Quý Cựu SVSQ/TVBQGVN và gia đình trên toàn thế giới
– Quý Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên
– Quý Đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu
Để có thời gian chuẩn bị và quà được đến tay người nhận trước dịp Tết Ất Mùi, kể từ ngày 1 tháng 12 năm 2014, BXH/TH chính thức kêu gọi và nhận sự giúp đỡ từ quý vị. Việc quyên góp sẽ chấm dứt vào lúc 24 giờ (giờ Cali) ngày 15 tháng 1 năm 2015.
Ngân phiếu xin gửi về địa chỉ Uỷ Viên Xã Hội Tổng Hội: CSVSQ/K29 Lê Thi:
       Thi Le                                
       180 Rawls Ct. 
       San Jose, CA 95139-1304 USA
 Hoặc chuyển qua Paypal: Dalat29@sbcglobal.net   
     – Email: Dalat29@sbcglobal.net   
     – Điện thoại: (408) 859-8340

Xin quý BCH Liên Hội, quý BCH Hội, quý BĐD Khoá giúp đỡ chúng tôi bằng cách phổ biến và vận động sự hưởng ứng tới toàn thể thành viên thuộc Liên Hội, Hội và Khoá của mình, để chương trình Cây Mùa Xuân Ất Mùi – 2015 đem lại kết quả tốt đẹp. Chúng tôi sẽ thường xuyên tổng kết và nhật tu danh sách đóng góp tại diễn đàn Tổng Hội. 

Xin chân thành cám ơn toàn thể quý vị.

      Trân trọng,
CSVSQ Lê Thi K29
Ủy Viên Xã Hội