

Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc (Trang 14)
Năm nay, Fathers Day của nước Mỹ là 19 tháng 6, trùng với Ngày Quân Lực VNCH trước 1975, xin mời đọc bài mới của Khôi An, chuyện ông Tướng mà cũng là chuyện Người Cha. Tác giả từng phải rời bố mẹ vượt biển năm 1983 khi còn tuổi học trò và là một kỹ sư có hơn hai mươi năm làm việc cho Intel tại tại miền Bắc California. Dự Viết Về Nước Mỹ từ 2008, cô đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2013. Sang năm 2015, thêm giải Việt Bút Trùng Quang, dành cho những nỗ lực bảo vệ, phát huy văn hóa Việt trên đất Mỹ.
Ảnh của Richard Stayner from the Internet: Cần Thơ năm 1972
Không hiểu chị tôi đã nghe tin về ông bằng cách nào.
Thời đó, đầu thập niên tám mươi, mọi phương tiện truyền thông đều thuộc về nhà nước Cộng Sản, quanh năm suốt tháng báo chỉ đăng tin “nước ta đang trong thời kỳ quá độ…” Kiểu dùng chữ như vậy mọi người phải chịu đựng mãi nên đỡ thấy quái đản. Người đọc cứ tự điền vào chỗ trống thành “nghèo quá độ”, “đói quá độ” hay “láo quá độ”… tùy theo câu.
Vậy mà, một buổi tối, đột nhiên chị tôi nói “Em có biết Tướng Lê Minh Đảo không? Ông tướng đánh trận Xuân Lộc đó. Nghe nói ổng mới chết trong tù rồi! Tội quá, ổng còn trẻ lắm!”
Trước ngày miền Nam thất thủ tôi không biết ông Lê Minh Đảo. Sau đó, tôi có nghe loáng thoáng người lớn rỉ tai nhau về trận đánh ác liệt bảo vệ ngõ vào Sài Gòn trong những ngày đầu tháng Tư, 1975 tại Xuân Lộc. Tôi cảm phục những người chiến đấu đến cùng, nhưng điều đó sớm chìm vào những hỗn độn của cuộc đổi đời. Vả lại tôi còn nhỏ quá, chẳng biết nghĩ gì hơn.
Cũng như thế, tối hôm đó, sau khi nghe chị tôi nói, chúng tôi chỉ biết nhìn nhau trong niềm xót thương lặng lẽ.
Một thời gian sau, tôi lại nghe một người bạn nói “Ông Lê Minh Đảo còn sống. Ổng chỉ bị mù thôi.”
Ở trong tù mà bị mù thì chắc còn khổ hơn chết. Tôi thở dài – trẻ con Việt Nam sớm biết thở dài – rồi thầm đọc một lời cầu nguyện. Cho ông và những người tù chính trị đang bị đọa đày.
Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo (1972)
Đến năm 1993, khi đang ở Mỹ, nghe tin Tướng Lê đã sang theo diện HO và mắt vẫn sáng, tôi ngạc nhiên và vui lắm. Mừng cho ông cuối cùng cũng có những ngày bình an sau gần hai thập niên tù ngục.
Nhiều năm sau, khi internet cung cấp mọi tin tức mà ngày trước không dễ kiếm, tôi đã lên mạng tìm xem mặt Tướng Lê và nghe ông nói. Tôi muốn biết về ông. Không phải qua những lời kể, mà bằng cảm nhận của chính tôi.
Và tôi đã gặp được đoạn phim buổi nói chuyện của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo với Việt Dzũng. Buổi phỏng vấn khá dài nhưng tôi nhớ nhất là khi ông nói về sự hy sinh của người lính. Giọng ông hơi lạc đi khi nhắc đến tình bạn của hai người lính trẻ và sự đơn sơ, không hận thù trước bờ sinh tử của họ.
Phút nghẹn ngào của Tướng Lê đã làm tôi bồi hồi. Tôi ngỡ tim ông đã cứng và nước mắt ông đã kiệt sau mấy chục năm ngang dọc trên chiến trường và mười bảy năm trong tù. Tôi ngỡ ông sẽ nói nhiều về những chiến công và những đóng góp của ông trong hai mươi năm gìn giữ miền Nam. Nhưng ông nói về các điều khác, như cái chết của người lính trẻ và sự hy sinh của chiến binh. Hơn hai mươi năm đã qua, ông vẫn tự trách mình, môi ông run run khi nói “…chúng tôi cũng không lo được cho họ một cách đầy đủ…” Có lẽ chưa bao giờ ông ngưng buồn về chuyện đó. Tài làm tướng của ông đã làm tôi phục. Nhưng vết thương mấy chục năm trong lòng ông mà tôi vừa chứng kiến đã làm tôi quý mến ông.
Đầu tháng Tư, 2015 tôi viết lại chuyện của những sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ bốn mươi năm trước. Họ tụ tập tại một chung cư cũ kỹ ở Houston, khắc khoải nhìn về miền Nam đang vuột mất. Người sinh viên năm xưa cứ nhắc đi nhắc lại niềm hy vọng bùng lên khi đám người Việt trẻ theo dõi sự anh dũng của những chiến sĩ Xuân Lộc, dù bị dồn tới chân tường.
Vì thế, tôi tìm xem lại những khúc phim của tháng Tư xưa. Tôi thấy lại khói lửa điêu tàn. Tôi gặp lại các chiến sĩ anh hùng. Và Tướng Lê Minh Đảo, mắt nảy lửa, nghiến răng thề quyết chiến.
Rồi tôi giật mình, nhận ra rằng những người trai dũng mãnh ấy nay đã già, và tôi cũng đang già. Mai này khi chúng tôi ra đi, đàn con gốc Việt còn biết gì về quê cha đất tổ? Phải chăng điều đó tùy thuộc vào những gì chúng tôi làm hôm nay?
Thế hệ trẻ cần nghe những điều thật từ những người thật. Sẽ tốt biết bao nếu họ được gặp gỡ những nhân vật lịch sử như Tướng Lê Minh Đảo.
Thế là tôi lần mò đi tìm Tướng Lê.
Tôi không có mối quen biết xa gần nào với ông, cũng chẳng có chức tước ở bất cứ hội đoàn nào. Vậy mà tôi thấy chuyện mời ông đến vùng Thung Lũng Điện Tử thật tự nhiên, nhẹ nhàng. Có lẽ tôi linh cảm rằng vị tướng, người sau hơn hai mươi năm vẫn khóc cho lính, rất quan tâm tới lớp trẻ.
Sau hai tuần hỏi thăm nhiều người, cuối cùng tôi may mắn có được sự giúp đỡ tận tình của một người chị làm báo. Tôi được một cái hẹn nói chuyện với Tướng Lê. Mười giờ sáng, một ngày đầu tháng Tư, 2015.
Gần tới giờ hẹn, tôi thấy hơi hồi hộp. Thật tình tôi sẽ buồn chút thôi nếu Tướng Lê từ chối sang California nói chuyện. Nhưng tôi sẽ buồn nhiều nếu thực tế quá khác với những cảm nghĩ ở trong lòng.
Ông đến San Jose chiều 27 tháng Tư, 2015 trên chuyến bay từ Arizona. Từ xa, tôi thấy ông trong chiếc áo sơ mi kiểu Hawaii màu vàng nhạt có hoa xám, đang dáo dác nhìn quanh.
“Thưa Bác! Con là Kh.A.”
Ông cười. Chúng tôi bắt tay nhau. Giản dị như đã quen từ trước.
Ông cho biết đã lên máy bay ngay sau khi dự buổi lễ kỷ niệm bốn mươi năm miền Nam bị cưỡng chiếm với cộng đồng Việt-Mỹ ở Pheonix, Arizona. Tôi hỏi ông có mệt không, ông nói “Không sao đâu. Bác giờ như một kho sách cũ, chỉ lo không đủ giờ để trao lại kiến thức cho những người đi sau…”
Tối hôm đó, chúng tôi mời ông ghé chơi nhà một người bạn. Khi bước vào nhà, trên salon có một cây đàn guitar kiểu mới, chỉ có khung sắt mà không có thùng đàn. Tôi thấy mắt ông ngời lên một sự thích thú gần như trẻ thơ. Ông bước nhanh tới, nâng cây đàn lạ mắt, vuốt nhẹ lên những sợi dây.
Khi chúng tôi mời ông đánh một bài, ông xòe bàn tay ra nhìn, cười nhẹ rồi nói:
– Ở tù bị thương, hư tay rồi. Giờ lại già nữa, đánh kém lắm.
Chúng tôi không nài ép, chỉ lẳng lặng nhìn ông vừa nói chuyện vừa lơ đãng lướt tay trên cần đàn. Một lúc sau, như hứng khởi, ông hát
“Trùng dương dâng sóng, biển khơi như thét gào. Cuốn đi cánh hoa đào dạt trôi nơi nao… “
Bài hát đó ông sáng tác trong tù, ngày nghe tin người bạn cùng trại mất hết vợ con trên đường vượt biển.
“Còn sống tôi còn khóc, tôi còn thương quê hương tôi …”(*)
Giọng ông nhẹ và buồn. Tôi nghe, và nghĩ rằng ông đang nói những điều tận đáy lòng.
Sáng 29 tháng Tư, Tướng Lê bắt tay vào chuẩn bị cho buổi nói chuyện ngay sau ly cà phê sớm. Ông sắp xếp ý nghĩ, soạn phần trả lời cho các câu hỏi các sinh viên đã gởi đến, và ghi xuống một loạt các quyển sách nói về chiến tranh Việt Nam để giới thiệu đến các sinh viên.
Mãi tới giờ ăn trưa tôi mới có dịp nói chuyện với ông. Vì có quá nhiều điều muốn hỏi, tôi buột miệng:
– Bác ơi, có bao giờ Bác hối hận đã làm cho các con Bác kẹt lại với Cộng Sản sau ngày mất miền Nam không? Các con Bác có bao giờ trách Bác không?
Nói xong, tôi hơi bối rối vì đã hỏi một câu khá nặng nề trong lúc ông đang nghỉ ngơi. Nhưng ông trả lời ngay:
– Đó là một quyết định rất đau lòng, nhưng Bác chưa bao giờ hối hận. Bác ra lệnh cho anh em binh sĩ quyết đánh, gia đình của họ đều ở lại, có lẽ nào Bác lo cho con Bác ra đi? Bác có thể thu xếp cho gia đình mình, nhưng làm sao thu xếp được cho mọi gia đình của những người đang tin vào Bác? Nếu Bác cho vợ con đi trước, lính của Bác biết là giờ chót Bác có thể lên máy bay đi bất cứ lúc nào. Như vậy họ còn tin tưởng để đánh hay không? Như vậy Bác có công bằng với họ hay không? Bác chấp nhận định mệnh của Bác và gia đình, nếu có phải chết thì chết cùng nhau. Bác muốn đối xử công bằng để sau này con bác không phải xấu hổ với con em của những người từng nghe lời Bác mà liều chết. Bác muốn con bác sau này không phải nhìn Bác mà nghĩ ông già mình ngày xưa từng gạt lính.
Trầm ngâm vài giây, rồi ông tiếp:
– Năm 1979, lúc Bác đang bị Cộng Sản đày đọa, nghe tin gia đình đi thoát hết sau năm lần vượt biên bị tù, Bác trút được gánh nặng khủng khiếp trong lòng. Bác tạ ơn trời đã cho Bác ân huệ được lương tâm yên ổn, được trọn vẹn mọi bề. Từ đó, Bác không còn phải lo lắng, đau khổ cho số phận của vợ con trong nanh vuốt của kẻ thù nữa. Bác không sợ kẻ thù dùng các con thơ để khống chế mình nữa. Bác được tự do.
Còn các con Bác, tụi nó cũng hiểu và không trách Bác. Trong bốn năm kẹt lại, tụi nó đã học được rất nhiều. Những kinh nghiệm sống đó làm cho chúng biết thương người, biết khiêm nhường, biết quý những điều tưởng như là tầm thường. Các con của Bác có thể tự hào rằng mình đã hiểu biết về Cộng Sản và đã vượt thoát khỏi ngục tù của họ. Đó là một tài sản mà Bác nghĩ các con Bác nên hãnh diện đã có được.
Tôi uống một ngụm trà, nuốt xuống cái nghèn nghẹn ở cổ. Tôi nghĩ, trước khi tử chiến ở Xuân Lộc, nếu ông lo cho gia đình đi thì đó cũng là chuyện thường tình. Không ai trách được ông. Nhưng Tướng Lê không phải là người làm những chuyện thường tình…
Thời vừa bị chiếm, mạng sống của người miền Nam rất nhỏ, thêm dịch bệnh hoành hành làm trẻ con chết rất nhiều. Nếu chỉ một trong chín người con ông có mệnh hệ nào, nỗi dằn vặt sẽ ám ảnh ông suốt đời. Nhưng Thượng Đế đã gìn giữ gia đình ông vẹn toàn. Cám ơn Thượng Đế, Tướng Lê cần và xứng đáng với ơn huệ của ngài.
Hôm sau, ngày 30 tháng 4, 2015, ông và người thông dịch miệt mài chuẩn bị cho buổi nói chuyện lúc 6 giờ chiều. Trưa đến, tôi nhắc ông đi ăn nhưng ông dùng dằng mãi vẫn chưa đứng lên được. Thấy vậy tôi đành khuân về mấy ổ bánh mì thịt nguội. Ông gặm bánh mì, uống beer và cười nói vui vẻ, hài lòng vì buổi nói chuyện được chuẩn bị chu đáo.
Cuôc gặp gỡ với sinh viên diễn ra thành công và cảm động. Tướng Lê đã nhắn nhủ lớp trẻ bằng những điều ông đúc kết suốt nửa cuộc đời trong chiến tranh cộng với mười bảy năm trong tù ngục. Những chia sẻ của ông thiết tha, sâu sắc nhưng cũng rất thực tế, phù hợp với tâm hồn và đời sống của giới trẻ.
Buổi họp kết thúc khá trễ nên chúng tôi chỉ ghé tiệm kem ăn tráng miệng rồi về.
Mãi đến đêm, tôi mới chợt nhận ra rằng bữa ăn “đàng hoàng” nhất của Tướng Lê ngày hôm đó là ổ bánh mì. Vì ông đã không đụng đến đĩa thức ăn do các em sinh viên mời lúc chiều, ông nói muốn tập trung để nói chuyện với các em.
“Con gián làm mồi câu tốt lắm, con à.”
Buổi chuyện trò của tôi và Tướng Lê ngày hôm sau bắt đầu bằng câu chuyện đời thường như thế. Ông kể thời ông ở Cần Thơ, ông thường bắt gián ở đằng sau một tiệm ăn ở gần nhà rồi đem ra bến Ninh Kiều câu cá.
Biết rằng lúc đó ông đã lên tới cấp Tá, tôi hỏi:
– Chắc Bác câu cá cho vui hả Bác?
– Câu cá về ăn chớ! Nhà Bác đông con, lương của Bác thì khá so với lính, nhưng chẳng dư dả gì đâu, con. Lính mình hồi đó cực lắm con à, một tháng lương mua được một tạ gạo. Còn lương Bác cũng chỉ tạm đủ lo cho vợ con.
Hoàn cảnh lính và những hy sinh của gia đình lính thì không nói sao cho xiết, con à. Gần một triệu người đã chết và bị thương trong cuộc chiến, còn số người chịu mất mát sau lưng họ thì không biết đếm bằng cách nào! Bác cứ nghĩ con người ta ai cũng bằng xương bằng thịt, nếu Bác chết trận, mười người trong gia đình Bác đau đớn bao nhiêu thì những cái chết trong gia đình lính cũng đau bấy nhiêu. Hồi ở Chương Thiện, có một người lính đi phục kích, vợ con bị địch câu pháo trúng vô nhà, chết hết. Anh ta về, ngồi gục mặt trước đống gạch nát, Bác đứng đó mà chỉ biết đặt tay lên vai anh ta, không tìm được lời nào an ủi. Vậy mà hai bữa sau, anh ta trở lại đơn vị, tiếp tục đánh giặc…
Cái nhíu mày của ông làm tôi nghĩ ruột ông đang thắt lại, nên tôi chuyển qua đề tài khác:
– Thời Bác ở trong quân đội, di chuyển nhiều nơi, cả nhà đều đi theo hả Bác?
Nụ cười nhẹ làm những vết nhăn trên trán ông dãn ra.
– Ờ! Bác bận rộn quá nên đi đâu Bác cũng cố gắng đem gia đình theo để được ở gần càng nhiều càng tốt. Khi nào có dịp nghỉ, Bác dắt vợ con đi chơi. Nhưng sau này, Bác ở đóng quân ở Long Bình thì tụi nhỏ đi học ở Sài Gòn, cuối tuần nếu Bác không đi hành quân thì mới được gặp. Có một lần Bác dắt tụi nhỏ đi coi chiếu bóng về, tụi nó than đói bụng. Ở tỉnh lỵ đâu có hàng quán ban đêm, Bác lại không muốn sai lính nên tự nấu chè cho tụi nó ăn. Nấu nước sôi, đập vô một củ gừng, quậy đường cát, rồi xé bánh tráng bỏ vô. Bánh tráng mà mình hay ăn đồ cuốn đó. Bánh tráng coi mặn mặn vậy mà nấu chè ngon lắm! Bữa nào con làm thử đi!
Ông vừa nói vừa gật đầu để thêm phần… thuyết phục. Tôi tròn mắt nhìn ông. Chỉ là một kỷ niệm vui, không màu mè, bóng bẩy, nhưng ông làm tôi cảm động lẫn ngạc nhiên. Một vị Tư Lệnh tự nấu chè cho con ăn khuya? Nồi chè mà tôi không cần thử cũng biết là không thể ngon. Nhưng nó làm tôi thương người cha ở trong ông, và tự hào vì quân lực VNCH đã có một vị chỉ huy như ông. Ôi, nồi chè của ông Tướng!
Càng nói chuyện với ông, tôi càng thấy ông rất “không thuờng tình”. Ông không dè dặt, thận trọng như thường thấy ở những người từng chứng kiến nhiều mưu mô, tráo trở. Ông không có cái trầm ngâm, chán chường của một người nếm quá nhiều đau thương. Ông nhiệt tình, hăng hái, và thật. Như thể cuộc đời ông chưa từng bị dập vùi, như thể ông còn rất trẻ và còn tin tưởng rất nhiều vào con người.
Và, ông hoàn toàn không có cái xa cách của người xem mình là quan trọng. Vì thế, tôi đã hỏi ông một câu mà trước khi gặp ông tôi không nghĩ là mình dám hỏi:
– Bác ơi, ngày 30 tháng Tư 1975, sau khi miền Nam thất thủ, Bác có bao giờ nghĩ đến chuyện tự sát hay không?
– Lúc đó, mỗi người có một quyết định riêng, không ai đúng ai sai. Riêng Bác, Bác không có ý định tự tử. Các con Bác đã mất quá nhiều, Bác không muốn chúng phải mất cha. Nếu bị giặc Cộng giết, Bác chấp nhận nhưng Bác không tự mình làm điều đó với các con. Hơn nữa, Bác không có cái uất ức, đau khổ của một bại tướng vì Bác chưa bao giờ nghĩ là mình thua. Mình chỉ tạm thời khó khăn vì những thế lực quốc tế đẩy mình tới đó, nhưng Bác muốn sống để xem mọi sự xoay vần tới đâu.
Nếu chỉ được dùng một từ để diễn tả Tướng Lê, tôi sẽ chọn “lãng mạn”.
Những quyết định cực kỳ cứng rắn, những hành động hết sức can đảm của ông đều bắt nguồn từ những tình cảm sâu xa. Chỉ có người rất lãng mạn mới đủ tin yêu để làm những điều phi thường như ông đã làm. Ông để vợ con cùng ở lại đương đầu với Cộng quân là vì ông yêu sự “công bằng” mà ông đã nhắc đến mấy lần trong câu trả lời ngắn. Ông tử chiến vì ông hết lòng tin vào sứ mạng gìn giữ miền Nam. Ông không sợ chết vì ông không muốn phụ lòng những người lính đã nằm xuống và những người lính đã dựa vào ông mà đứng lên từ những căn nhà cháy ra tro của họ.
Cống hiến của ông cho đời giống như những viên kim cương, tuyệt sáng và tuyệt cứng. Nhưng chúng đã được hun đúc từ phần lõi là những tình cảm tinh tuyền, và những giọt nước mắt. Sẽ không có kim cương nếu không có phần lõi đó.
Lịch sử Việt Nam có Tướng Phạm Ngũ Lão gạt nước mắt, chia tay mẹ già đi đánh giặc. Có Tướng Trần Khánh Giư bỏ gánh than, từ giã đời ở ẩn để trở về cứu nước. Có biết bao chuyện nhờ dân gian ghi lại mà ngày nay chúng ta được biết.
Cho nên, tôi muốn ghi lại nồi chè bánh tráng của Tướng Lê Minh Đảo. Ghi lại lúc ông chấp nhận để các con ông cùng chung số phận với gia đình lính. Ghi lại lòng thương yêu và quý trọng vô bờ của ông với binh sĩ và vợ con của họ. Về lời ông nói, đùa mà rất thật “nếu trời cho sống đến hơn trăm tuổi, tôi vẫn muốn cống hiến thời giờ và sức lực cho Việt Nam tới phút cuối.”
Năm nay Tướng Lê đã tám mươi ba. Vinh, nhục, yêu, ghét, thăng hoa, đày đọa … ông đều đã trải. Vì thế, tôi viết bài này không phải cho ông. Mà để lưu lại vài mẩu chuyện về Ông Tướng Lãng Mạn cho mai sau. Để góp một chút tin yêu bởi vì làm người Việt Nam rất buồn. Để cho chính tôi nhớ gương của Tướng Lê, lạc quan trong khó khăn và cố gắng làm những điều tốt đẹp nhất trong khả năng của mình, hầu mong mai sau con cháu không phải ngần ngại nhận mình là Việt.
Khôi An
(*) Lưu Đày – Nhạc và lời của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo
Bài dịch tiếng Anh “Tướng Lê Minh Đảo tại Đại Học Stanford” và những câu trả lời sinh viên trên trang của SVSA (Stanford Vietnamese Student Assocication):
http://svsa.stanford.edu/blackapril.html#leminhdao
Cha tôi là con trai út trong gia đình sáu người con của Ông Bà Nội. Có lẽ theo thói quen mà Bà Nội thường hay gọi cha tôi là thằng Nhỏ mặc dù ông đã có vợ, con.

Sau khi Tổng Thống Mỹ Barack Obama rời Việt Nam, trên mạng Internet có người đem hai bức hình ra so sánh. Bức hình thứ nhất chụp ngày 25 Tháng Năm, một ông “quan nhỏ bước ra khỏi xe hơi, trong lúc mặt đường ngập lụt. Một anh quân hầu vội vác chiếc ghế tới cửa xe cho quan bước lên, rồi một anh khác khom lưng cõng ông vào bậc thềm, cách cửa xe hai mét. Bức hình thứ hai chụp trước đó, cảnh ông Obama đang ở Việt Nam, tay cầm dù che cho hai nhân viên cùng bước với mình sau khi xuống máy bay gặp trận mưa lớn.

Đột nhiên trời trở mưa, cảnh Tổng Thống Mỹ che dù cho nhân viên

Đường xá ngập lụt, cảnh “quân hầu cõng quan” dưới chế độ Việt Cộng
Một công dân mạng bình phẩm: “Không cần phải nói nhiều, hai tấm hình này cũng đủ nói lên bản chất của hai chế độ.”
Không sống dưới chế độ độc tài thì không thể hiểu tại sao anh quân hầu lại sẵn sàng khom lưng cõng ông “quan nhà báo.” Tại sao ông quan làm báo lại sẵn sàng cưỡi lên lưng người ta để bảo vệ đôi giầy của mình? Tại sao người ta cư xử với nhau với những phản ứng tự nhiên như vậy? Ðây chắc phải là một cảnh bình thường, trong đời sống hàng ngày. Cậu lính hầu thấy quan đang lo sợ ướt giầy, ướt gấu quần, thì đưa lưng ra cõng. Phản ứng tự nhiên, vì xưa nay cậu đã quen hầu các quan rồi. Ông quan thấy có đứa đưa lưng ra cõng thì ung dung cưỡi lên lưng người ta, không thắc mắc gì cả. Sau này ông kể, “sự việc diễn ra khá nhanh, lúc đó tôi cũng không nghĩ gì…” Ðúng ra, việc diễn ra nhanh hay chậm thì chắc ông cũng không thấy cần phải nghĩ gì cả. Ông cử động theo thói quen hàng ngay. Dù sao ông cũng biết xấu hổ khi bức hình lan truyền trên mạng, nên tìm cách giải thích, rằng vì ông già cả nên được anh quân hầu trẻ tuổi cõng. Chưa đầy 60 tuổi đã thấy mình già, nhưng nếu ông không quyền, không chức, thì có anh chị nào xin cõng hay không?
Chúng ta không cần nêu danh tính, in chân dung của ông quan và anh quân hầu trong câu chuyện này. Vì thực ra họ đều “ngay tình,” chỉ “phản ứng tự nhiên.” Họ không suy nghĩ gì khi khom lưng xuống hoặc cưỡi lên lưng đồng loại. Họ không cảm thấy hành động của mình có ý nghĩa nào về đạo đức cá nhân hay đạo đức xã hội. Cuộc sống trong chế độ Cộng Sản đã tạo ra kiểu hành vi, thái độ này, người trên thì vênh vang hưởng thụ, thằng dưới thì khúm núm xun xoe. Nền văn minh xã hội chủ nghĩa sản xuất ra các hoạt cảnh bình thường như thế, bởi vì người ta sống như thế từ lâu, đã thành tập quán rồi. Thằng dưới phải khúm núm, sợ hãi thằng trên. Thằng trên coi thằng dưới như “gia nhân, đầy tớ.”
Những chữ “gia nhân, đầy tớ” tôi mới thấy trong cuốn “Lời Ai Ðiếu,” hồi ký của nhà báo Lê Phú Khải, Người Việt xuất bản. Ông Khải đã làm việc nhiều năm cho các đài truyền hình của Cộng Sản. Trong một đoạn, ông thuật lại mấy câu chuyện nghe cô em họ nói; cô đã từng phục vụ các quan Bộ Chính Trị trong các buổi họp. Cô kể rằng, “Khi họp Bộ Chính Trị, Bác Lê Duẩn nói thì các bác Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp cứ cắm đầu xuống mà nghe, không ai dám ngẩng đầu lên, không ai dám nói nửa lời.” Và ông Lê Duẩn, tổng bí thư đảng Cộng Sản, “mắng mỏ người khác như mắng gia nhân, đầy tớ.” Ông Lê Phú Khải lại kể một lần Võ Nguyên Giáp mặc trào phục oai nghi, đi xe hơi có tài xế lái, đến dự một buổi họp quan trọng. Lê Duẩn trông thấy, bảo, “Anh không được dự.” Thế là ông đại tướng quay đầu lủi thủi lên xe ra về.
Cung cách cư xử từ trên đã như vậy, xuống dưới không thay đổi, mức sợ hãi có thể còn tăng cường độ. Bác Sĩ Tôn Thất Tùng được coi là y sĩ có uy tín nhất miền Bắc. Một vị tướng cảnh sát, từng làm thứ trưởng Bộ Công An, đã chứng kiến cảnh ông bác sĩ “quá lo sợ, mồ hôi vã ra như tắm.” Chỉ vì ông phải ra làm chứng trong một vụ nghi án. Hai phe Bộ Công An đánh nhau, bên nói nạn nhân bị giết, các thủ phạm đã bị đưa ra tòa, kết án, còn bên kia cố chứng minh người đó tự tử. Bác Sĩ Tôn Thất Tùng biết rằng nếu phát biểu ý kiến trái với phe công an mạnh thì không biết sự nghiệp và cả cuộc đời của mình sẽ ra sao! Là người ngoài, ông đâu biết phe nào mạnh hơn? Ông Tùng rút khăn trong túi ra lau mồ hôi, rút theo mấy gói bột ngọt, đánh rơi cả xuống đất. Thấy ông Tùng run quá, vị tướng cảnh sát cúi nhặt mấy gói “mì chính,” để lại trong túi cho ông, để ông còn cho vào tô khi đi ăn phở. Ông cho biết, Bác Sĩ Tùng phải thuộc hạng sang lắm (trong chế độ xã hội chủ nghĩa) mới có thứ bột ngọt này cất trong túi. Ông Tùng run, nhưng đủ bình tĩnh, khôn ngoan, không cho ý kiến nào cả. Chắc ông đã quyết định theo kế thoát thân đó trước khi dự buổi thẩm tra, vậy mà vẫn còn sợ, run, toát mồ hôi. Mà Bác Sĩ Tùng không thuộc hàng dân thấp cổ bé họng.
Thói quen sợ hãi người có quyền, có thế đã lan tràn. Xuống dưới nữa thì chúng ta mới thấy, cảnh anh quân hầu khom lưng cõng ông tổng biên tập một tạp chí của hội nhà báo. Làm chức tổng biên tập mà oai quyền đến thế sao? Người sống tự do quen không thể nào hiểu nổi lý do nào khiến con người khom lưng cõng nhau như vậy! Thời tôi sống ở Montréal, Canada, một bữa tôi đến trường đứa con út học, ngồi chờ để gặp các thầy, cô giáo; ngày hôm đó các thầy cô phải tiếp các phụ huynh. Ðang ngồi đọc báo chờ, thấy một người đến ngồi cùng băng ghế, tôi ngẩng lên, rồi vội cười chào. Ông ta lễ phép chào lại. Phụ huynh mới tới đó là Luật Sư Pierre Trudeau, người làm thủ tướng nước Canada mấy lần. Năm đó hình như đảng ông mới thất cử, nhưng vài năm sau ông lại trở về ngồi ghế thủ tướng.
Tại sao trong một nước tự do dân chủ thì ông thủ tướng hay anh dân thường đều tự coi họ bình đẳng như nhau? Tại sao trong xã hội Cộng Sản thì thói đội trên đạp dưới trở thành căn bệnh kinh niên, nặng nề như vậy?
Tất cả là do môi trường tạo ra. Trong chế độ độc tài đảng trị, thì các quan trên, dù chỉ đứng hạng nhì, hạng ba trong một hội nhà báo, khi được đảng Cộng Sản tin dùng là đủ thấy mình có quyền thế, coi những kẻ dưới mình như gia nhân, tôi tớ. Trong chế độ dân chủ, muốn làm thủ tướng hay tổng thống thì phải được dân bỏ phiếu, được dân ủy quyền. Cho nên có người nhận xét về hai bức hình, hình người cõng người và hình ông Obama che dù cho nhân viên, “Chúng cho thấy sự khác biệt: Một bên là đảng cử, một bên do dân bầu.”
Chính guồng máy dân chủ làm cho mọi người sống bình đẳng, một cách tự nhiên. Cái guồng máy đó chạy trong đời sống xã hội, thế là ai cũng cư xử, hành động theo quy luật dân chủ. Cứ như thế, sau một thế hệ, cùng lắm là hai thế hệ, ai cũng thấy mình không thua kém những kẻ có chức có quyền. Và những kẻ có quyền chức cũng thấy mình chẳng hơn gì đám dân ngoài phố. Nhất là các nhà chính trị. Họ phải chật vật đi xin phiếu của dân, xin dân bỏ phiếu cho mình. Họ phải tìm mọi cách chứng tỏ là mình gần với dân, thông cảm dân, vì mình không khác gì những người đi bỏ phiếu.
Người Việt Nam ở Mỹ nhìn cảnh ông tổng thống của họ đi ăn bún chả, ngồi trên cái ghế đẩu, xắn tay áo cầm chai bia mà tu, không ai ngạc nhiên cả. Ông ta đứng trú mưa dưới mái nhà tôn cái quán chông chênh bên đường ở huyện Từ Liêm, lại mời cô chủ và các khách hàng ra chụp hình với mìn. Cũng không người mỹ nào coi là chuyện lạ lùng. Nhiều người còn hỏi: Ủa cái ông Obama này, ổng tính tranh cử lần nữa hay sao? Bà con mình ở Hà Nội hay Sài Gòn đâu có quyền đi bỏ phiếu bầu tổng thống Mỹ?
Những gì ông Obama đã quen làm ở Mỹ, cách ông ta cư xử với dân Mỹ, ông ta chỉ làm giống hệt như vậy khi tới nước Việt Nam. Một là coi mình với người khác đều ngang hàng, bình đẳng. Hai là có cơ hội là bày tỏ tình thân thiện với mọi người. Nghĩ một cách tự nhiên, làm cũng tự nhiên như thế. Thái độ và hành vi này đã trở thành loại “bản năng thứ hai” của những người làm chính trị trong các xã hội dân chủ tự do. Họ được huân tập trong guồng máy dân chủ.
Vì vậy, sau khi ông Obama đi rồi, một người ở Sài Gòn viết trên mạng “những ấn tượng ông để lại trên mảnh đất chữ S này thì mãi mãi còn.” Cô Nguyễn Thị Ngọc Anh, 24 tuổi, nói với nhà báo: “Tôi muốn nước tôi có một người lãnh đạo như ông Obama.” Ông Nguyễn Quang Chơn viết trên blog của mình: “Ông Obama. Tôi kính mến, quí trọng và muốn được học tập ông… đối với người dân Việt, cái mà ông Obama đem đến chính là phong cách của ông, con người của ông…” Phải nói, mọi người dân Việt Nam đều khao khát những người cầm quyền ở nước mình cũng biết cư xử với dân như một ông tổng thống Mỹ.
Ông Obama có biệt tài khi nói trước đám đông mà khiến cho mọi người đều cảm thấy ông ta nói với chính mình. Ông đã trổ tài này khi nhắc đến Lý Thường Kiệt, rồi kết luận với “của tin, chút này” của Nguyễn Du. Ông ta có thói quen thổ lộ những kinh nghiệm và tâm tình mà người khác có thể chia sẻ ngay lập tức. Ngày hôm qua, tới Hirosima, nơi bom nguyên tử Mỹ đã giết 140 ngàn người Nhật, ông đã làm nhiều người rơi lệ khi nhắc đến những đứa trẻ lúc chết còn sững sờ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nghĩ đến những em bé chết oan vì tội lỗi của người lớn, ai cũng nhận được bản thông điệp hòa bình này.
Giống như vậy, tôi đã từng đọc bài thi sĩ Hữu Loan kể cha mẹ vợ ông bị đấu tố trong cải cách ruộng đất. Các cụ bị chôn sống đứng, nhô đầu trên mặt đất, rồi người ta cho kéo cầy đi qua. Nghĩ đến cảnh đó đủ rợn người. Nhưng gần đây tôi còn rùng mình hơn, khi đọc một đoạn hồi ký về cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Trung Cộng; nhân năm nay là 50 năm kỷ niệm thảm họa đó. Một nhân chứng kể ở tỉnh Sơn Tây người ta đem chôn sống một bà già và đứa cháu. Nhân chứng kể nghe thấy tiếng đứa bé kêu khóc: “Bà ơi, cát chui vào mắt con đau quá!” Rồi nghe tiếng bà trả lời: “Lát nữa sẽ hết đau, con ạ.”
Tại sao con người có thể tàn ác với nhau như thế? Chế độ Cộng Sản đã thay đổi con người, tạo ra những hành vi chúng ta không hiểu nổi. Tàn ác cực độ. Hoặc hèn hạ kinh khủng.
Muốn cứu con người, phải chấm dứt chế độ đó.
Ngô Nhân Dụng

Mother Of Mine—Paul Mauriat
Nhật Ký Của Mẹ—Hiền Thục

Từng lời thơ của cô nếu đọc sơ qua thì chưa đủ thấm, phải đọc ngấu nghiến từng lời và nhắm mắt lại để cảm nhận hình ảnh đất nước quanh mình.
SBTNOfficial
Buổi phát thanh đặc biệt “Giã Từ Đà Lạt” dịp mãn khóa tốt nghiệp của Khóa 26 (18/1/ 1974)

Lowell Milken Center là một trung tâm giáo dục đào tạo tầm vóc quốc tế, hoạt động trong tư cách một tổ chức vô vị lợi với mục đích tìm tòi, khám phá và phổ biến những câu chuyện lịch sử về những cá nhân mà việc làm và cuộc đời của họ đã tạo ảnh hưởng sâu rộng, tích cực đến người khác.
Tại Hoa Kỳ, Lowell Milken Center tọa lạc tại Fort Scott mạn Nam thành phố Kansas City, tiểu bang Kansas vùng Trung Tây Hoa Kỳ.
Vào ngày 24 tháng Tư tới đây, trung tâm Lowell Milken ở Fort Scott sẽ khánh thành LMC Hall Of Unsung Heroes, phòng triển lãm những người hùng thầm lặng, trong đó một góc được dành ra để trưng bày hình ảnh về một chiến binh Việt Nam, cựu trung tá Trần Ngọc Huế, mà những người Mỹ quen biết gọi ông là Harry Huế.
Cùng ngày, cuốn phim tài liệu về cuộc đời binh nghiệp, những chiến công cùng những năm tháng tù đày của tù binh chiến tranh Trần Ngọc Huế cũng được trình chiếu tại LMC Hall Of Unsung Heroes.
Nhờ cuốn phim này mà hai nữ sinh trung học Seaman ở thành phố Topica, Andie Sovergren và Hailey Reed đoạt giải thưởng 10.000 đô la của LMC For Unsung Heroes.
Chuyện bắt đầu từ tháng Tám 2014, cô giáo Susan Sitternauer, được chọn làm thành viên của Phòng Triển Lãm Những Người Hùng Thầm Lặng 2 năm trước, đã hướng dẫn Andie Sovergren cũng như Hailey Reed thu thập mọi thông tin để dựng một cuốn phim tài liệu ngắn về cựu trung tá Trần Ngọc Huế.
Thành tích của Harry trong cuộc chiến Việt Nam cho chúng tôi thấy ông là một người hùng thầm lặng, sự can đảm vô cùng của ông trong lúc chiến đấu, đặc biệt trong việc giải cứu các binh sĩ Mỹ tại Huế…
– Ông Norm Connard
Tháng Năm 2015, cuốn phim hoàn tất, được LMC chọn vào phòng triển lãm Những Người Hùng Thầm Lặng sẽ khai trương ngày 24 tới đây như Thanh Trúc vừa thưa cùng quí vị:
Khi được chọn làm thành viên của phòng triển lãm Những Người Hùng Thầm lặng, thử thách họ đề ra cho tôi là tìm ra một người bình thường nhưng lại có thành tích khác thường, mà đã tác động lớn lao đến nếp nghĩ và lối sống của những người chung quanh.
Là giáo viên dạy sử, điều bà Sitternauer thường chú ý đến là chiến tranh Việt Nam. Bên cạnh đó, bà có người chú vốn là phi công trực thăng trong thời chiến ở Việt Nam. Trung úy Gary Worthy bị trúng đạn và tử thương trong một phi vụ trên chiến trường Việt Nam. Chính vì lẽ đó, giáo viên Sitternauer kể tiếp, thoạt đầu bà chỉ nghĩ là nên chọn trường hợp tiêu biểu về một chiến binh Mỹ để khai thác:
Thế nhưng khi đọc mẩu chuyện về một người lính Việt Nam là ông Harry Trần Ngọc Huế ở trên mạng, tôi đã đổi ý và nghĩ là nên tìm hiểu về ông kỹ càng hơn hầu có thể thực hiện một cuốn phim tài liệu về ông.
Sau khi hỏi ý kiến học sinh trong lớp, cô giáo Sitternauer được sự hưởng ứng của Andie và Haily cùng với cô khai thác đề tài cựu trung tá Trần Ngọc Huế:
Với tôi Harry là một người lính can trường, trung thành, đáng tin cậy. Tôi nghĩ ông ta đã mang vinh dự lại cho những sĩ quan trong quân lực miền Nam Việt Nam. Ông là một sĩ quan hết lòng với binh sĩ của mình để có thể hoàn thành nhiệm vụ khó khăn nhất của một người lính khi lâm trận. Có dịp gặp ông một lần trước đây tôi biết mình đã không lầm khi gán cho ông những đức tính như vậy.
Đó là dịp ông Trần Ngọc Huế về Kansas dự buổi lễ trao giải thưởng của Trung Tâm Lowell Milken cho hai nữ sinh tác giả cuốn phim tài liệu nói về ông.
Một con người dũng cảm
![unnamed[2]-400 unnamed[2]-400](http://www.rfa.org/vietnamese/programs/OverseasVietnamese/vns-soldier-in-lowell-milken-center-f-unsung-heroes-04142016111120.html/unnamed-2-400.jpg/image)
Đến lúc này thì hai tác giả trẻ tuổi của cuốn phim tài liệu về ông Trần Ngọc Huế đã lên lớp 12 của trung học Seaman. Chia sẻ cảm tưởng với Thanh Trúc, Andie Sovergren nói:
Chúng tôi hãnh diện vì cuốn phim đã hoàn tất và được chọn. Cuộc đời của ông Trần Ngọc Huế là câu chuyện lịch sử mà không phải ai cũng biết đến. Không có nhiều người ở đây biết tới thì mình phải làm sao cho mọi người biết bởi vì ông ta xứng đáng được như vậy. Chuyện cứu hai binh sĩ Hoa Kỳ là một phần, còn phần khác cũng quan trọng không kém là ông đã tìm cách bảo toàn sinh mạng của thuộc cấp ngay trong lúc ông đã bị thương rất nặng. Theo tôi đó là hành động của một con người dũng cảm và biết hy sinh cho người khác.
Dưới mắt Hailey Reed, câu chuyện về một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, một chiến binh như ông Trần Ngọc Huế và cuộc chiến Việt Nam là những điều một người trẻ như cô không hề biết đến:
Thế nhưng câu chuyện của ông ấy đã tác động rất nhiều đến bản thân tôi. Tôi nhận thức được ông là người đã làm nhiều điều xứng đáng nhưng việc làm của ông không được nhiều người biết tới.
Điều này rất quan trọng bởi cuộc chiến Việt Nam đã bị nhìn một cách sai lệch, tôi tin phải có lúc người Mỹ cần hiểu rõ hơn về những người từng chiến đấu cùng quân đội Mỹ ở Việt Nam, cần hiểu rõ về những con người như ông Harry Huế, những người đã bị mang tiếng xấu vì những thông tin thiên lệch. Rất quan trọng để giới trẻ Hoa Kỳ có cái nhìn trung thực hơn về cuộc chiến Việt Nam, về những gì đã thực sự xảy ra cho những người cầm súng chiến đấu trong quân đội của miền Nam lúc bấy giờ.
Về lý do trường hợp Harry Trần Ngọc Huế được chọn như một trong những biểu tượng của ngày khai trương, nhà giáo dục, giám đốc điều hành Trung Tâm Lowell Milken, ông Norm Connard, cho biết:
Thành tích của Harry trong cuộc chiến Việt Nam cho chúng tôi thấy ông là một người hùng thầm lặng, sự can đảm vô cùng của ông trong lúc chiến đấu, đặc biệt trong việc giải cứu các binh sĩ Mỹ tại Huế, là một hành động dũng cảm. Chúng tôi ghi nhận nơi ông từ một người đến Mỹ trong tư cách di dân để rồi trở thành một công dân tốt, yêu nước, trở thành một biểu tượng gương mẫu cho mọi người trẻ ở đất nước này noi theo.
Chiến tranh nào cũng có tù binh mà gian khổ nhất của trần gian phải nói là tù binh của cộng sản Bắc Việt … Họ cho ăn đói, mặc rét rồi họ cách ly họ đánh đập này kia, đủ thứ hết trên đời.
– Ông Trần Ngọc Huế
Tưởng cần nhắc trước đó, cuộc đời binh nghiệp của cựu trung tá Trần Ngọc Huế đã được thể hiện qua ngòi bút của tiến sĩ Andrew Wiest, đại học Southern Mississipi. Tác phẩm mang tên Vietnam’s Forgotten Army, Heroism And Betrayal In The ARVN, tạm dịch Một Quân Đội Bị Lãng Quên, Anh Hùng Và Sự Phản Bội Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mô tả những trận đánh của cựu trung tá Trần Ngọc Huế từ Mậu Thân cho đến Hạ Lào cho đến lúc ông bị vây bắt ở Tchepone. Một chi tiết về sự phản bội là chuyện trung tá Phạm Văn Đính, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 56 Sư Đoàn 3, đã dẫn một trung đoàn ra đầu hàng quân Bắc Việt. Viết lời tựa cho quyền sách là thượng nghị sĩ Hoa Kỳ James Webb, một cựu chiến binh Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam.
Đối với ông Trần Ngọc Huế, hiện ngụ tại tiểu bang Virginia từ năm 1991 khi qua Mỹ theo diện HO, điều ông sẽ bày tỏ khi được mời phát biểu trong ngày khánh thành phòng triển lãm Những Người Hùng Thầm lặng ở Trung tâm Lowell Milken là:
Người Mỹ đã nghĩ đến cá nhân tôi, nhưng tôi sẽ đọc diễn văn và tôi xin trân trọng nói với họ rằng người anh hùng vĩ đại và không được ca tụng nhất đó là quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Cá nhân tôi chỉ là một đóng góp nhỏ bé trong tập thể quân đội và đất nước của tôi. Tôi nghĩ danh dự này là một cơ hội để các thế hệ hôm nay và mai sau nhớ đến một quân lực bất hạnh, hy sinh rất nhiều, chiến đấu rất anh dũng nhưng cuối cùng đã bị quên lãng.
Xuất thân là thiếu sinh quân, sau gia nhập sinh viên sĩ quan khóa 18 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, khi ra trường ông được điều về Sư Đoàn 1 Bộ Binh, trú đóng tại thành phố Huế. Trong vụ tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, trung úy Trần Ngọc Huế chỉ huy một đại đội Hắc Báo đã chiến đấu giải vây cho Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, từ đó cùng các đơn vị bạn dốc toàn lực lấy lại thành phố Huế bị quân miền Bắc tiến chiếm:
Trận đánh Mậu Thân Huế kéo dài 26 ngày đêm, cuối cùng giải phóng được thành phố Huế, treo lại cờ Việt Nam Cộng Hòa trên kỳ đài Phú Vân Lâu. Mậu Thân Huế đó là đơn vị Hắc Báo cũng đã cứu được hai Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ canh gác trực thăng tại phi trường trong thành nội.
Giải cứu 2 lính Mỹ
Sự kiện Đại Đội Hắc Báo của ông Trần Ngọc Huế phá vòng vây, chiếm lại phi trường thành nội và giải cứu 2 lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trong phi trường này, được ghi trong quyền sách của tiến sĩ Andrew Wiest. Vị sĩ quan cố vấn Mỹ, chứng kiến hành động giải cứu 2 người lính Mỹ là trung tá James Coolican.

Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, quân lực miền Nam tấn công qua Lào nhằm mục đích cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh và khu hậu cần của quân cộng sản tại thành phố Tchepone của Nam Lào. Khi đó ông Trần Ngọc Huế là trung tá tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Tháng Ba năm 1971, trong lúc chỉ huy trận đánh giải vây cho các đơn vị bạn, ông bị thương nặng và bị bắt, khởi đầu 13 năm tù đày của một tù binh chiến tranh qua các trại giam khét tiếng ở miền Bắc:
Tôi đã bảo lính của tôi cố gắng chạy thoát và tôi nằm lại sau cùng là họ bắt tôi.
Họ đưa tôi ra Hà Nội và tôi bị nhốt tại Hỏa Lò, mà Mỹ gọi là Hanoi Hilton đó, ba bốn tháng thì về trại tù Sơn Tây mà trước đó biệt kích Mỹ từng đổ bộ xuống để giải cứu tù binh Mỹ nhưng tù binh Hoa Kỳ đã được di chuyển đi chỗ khác. Tôi ở Sơn Tây đến năm 72 thì họ đưa lên Cao Bằng. Trại đó rất kiên cố, nhốt tù bằng những cell nhỏ lắm, không đủ không khí để thở nữa mà trên đó lại lạnh.
Sau đó họ đưa lên Yên Bái là trại tù mà khi chúng tôi lên thì thấy còn giam giữ những tù binh hồi thời Điện Biên Phủ. Cuộc sống tù binh là di chuyển nhiều chỗ lắm, Yên Bái, Cao Bằng, trở về lại Yến Bái rồi sông Kỳ Cùng, nhiều chỗ lắm.
Đó là giai đoạn tù binh, ông Trần Ngọc Huế kể tiếp, đến sau ngày 30 tháng Tư 1975 thì chuyển qua giai đoạn quân dân cán chính miền Nam ra các trại tù lao cải ở miền Bắc :
Sau tháng Tư năm 75, khi anh em cải tạo trong này ra thì chúng tôi được qua nhập chung với cải tạo và đi nhiều chỗ lắm. Năm 78 họ đưa tù binh lên Tây Bắc làm con đường chiến lược, đó là khu vực khi mình đi qua con sông Bảo Hà thì dân thường bảo chỉ thấy tù đi qua không bao giờ thấy tù đi trở lại. Tôi nhớ vùng đó là anh em tù binh mình chết nhiều lắm.
Ông cũng từng đi qua trại tù Ba Sao, cũng là một nhà tù khắc nghiệt mà Thanh Trúc có nhắc đến với quí vị trong bài trước. Tháng Tư năm 1982 ông được đưa về Nam, cuối năm 1983 ông được trả tự do, kết thúc gần 13 năm tù gian khổ:
Chiến tranh nào cũng có tù binh mà gian khổ nhất của trần gian phải nói là tù binh của cộng sản Bắc Việt. Họ đối xử không giống như chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đối xử với tù binh của họ. Họ cho ăn đói, mặc rét rồi họ cách ly họ đánh đập này kia, đủ thứ hết trên đời.
Nhất là chúng tôi, tù binh của Hạ Lào, giống như tù binh mà vô thừa nhận. Cộng sản bảo chúng tôi là tù binh của Mặt Trận Lào Yêu Nước. Quân đội chính qui cộng sản bắt được chúng tôi bên Lào rồi đưa ra giam giữ tại Hà Nội, Sơn Tây, Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái. Sau Hiệp Định Paris đáng lẽ chúng tôi được trao trả thì họ bảo chúng tôi thuộc thẩm quyền Mặt Trận Lào Yêu Nước họ giam giữ lại. Tôi là tù binh được thả sau cùng đó.
Ngày khánh thành Phòng Triển Lãm Những Người Hùng Thầm Lặng của Trung Tâm Lowell Milken ở Kansas rơi vào thời điểm người Việt hải ngoại chuẩn bị tưởng niệm 41 năm Sài Gòn sụp đổ.
Cùng lúc với sự kiện này ở Kansas , tại Australia Chúa Nhật tuần tới đài truyền hình SBS sẽ cho chiếu tập 3 của cuốn phim Vietnam, The War That Made Australia.
Đây là bộ phim dài 3 tập do Hội Cựu Chiến Binh Australia thực hiện, nói về chiến tranh Việt Nam mà quân đội Úc từng tham chiến, trong đó có sự đóng góp của cựu trung tá Trần Ngọc Huế khi ông được mời sang Úc hơn một năm về trước.
Thanh Trúc RFA
Tại Sài Gòn
Tại Hà Nội
Tại Nghệ Tĩnh

Brisbane, Úc — Một nhà hàng ở ngoại ô thành phố Brisbane đặt tên theo lãnh tụ cộng sản họ Hồ loan báo sẽ đổi tên sau khi bị hàng trăm người Việt Nam biểu tình chống đối.
Sau một ngày đóng cửa hôm Chủ Nhật 10/04, nhà hàng mang tên Uncle Ho loan báo trên mạng xã hội rằng họ sẽ đổi tên thành Uncle Bia Hơi. Trước đó từ buổi sáng cùng ngày, hơn 100 người Việt ở địa phương tụ tập biểu tình ở bên ngoài nhà hàng ở Fortitude Valley, hô to những khẩu hiệu chống cộng sản và mang theo những biểu ngữ với nội dung như: Hồ Chí Minh không phải là Uncle của ai hết.
Cái tên mới sẽ chỉ nhắc đến một loại bia thay vì tên của nhà độc tài từng gây ra cái chết cho hàng trăm ngàn người và khiến cho hàng triệu người khác phải rời bỏ đất nước đi tị nạn. Giám đốc nhà hàng Anna Demirbek loan báo việc nhà hàng đổi tên trên mạng Instagram hôm Chủ Nhật, và xác định rằng nhà hàng này không phải là một tổ chức rửa tiền, cũng như chủ nhân nhà hàng không phải là những người ủng hộ cộng sản. Mặc dù bà Demirbek cho hay nhà hàng đã nhận được nhiều lời dọa giết và dọa phóng hỏa, nhưng không có dấu hiệu cảnh sát đang điều tra về những lời đe dọa này.
Một số người cho rằng nhà hàng cần đưa ra lời xin lỗi đối với cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Úc. Một người bình luận từ Sài Gòn, viết trên mạng Instagram rằng tại thành phố mang tên họ Hồ, người dân bị buộc phải chứng kiến các nội dung tuyên truyền đầy tính chất áp bức tại mỗi góc đường, nhưng họ không có chọn lựa nào khác và cũng không có cả tự do để kể lại lịch sử theo một cách khác. Người này viết rằng: Quý vị có thứ tự do mà chúng tôi chỉ có thể mơ ước, tại sao quý vị lại chọn làm điều này?
Huy Lam | SBTN
Trong phòng chờ đợi để ra máy bay đầy người. Có nhiều người phải đứng. Trong số những người đứng có nhiều người đưa mắt nhìn đến những cái ghế không có người ngồi với vẻ mặt không vui. Những cái ghế trống đó đã bị những hành khách có hành lý xách tay để lên nên họ phải đứng.
Ngoài trời tuyết vẫn đang rơi, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ làm cho không khí lạnh buốt vào những ngày cuối đông. Trong phòng chờ có để sưởi vậy mà một người đàn ông trung niên lấy cái khăn quàng cổ định quàng cho người đàn bà—có lẽ là vợ của ông—nhưng bị người đàn bà có dáng sang trọng cằn nhằn và nói là đang bị nực.
Thái độ của người đàn bà đã làm cho Thành, trưởng toán nhóm làm vệ sinh máy bay phải chú ý đến, để rồi, anh nhận ra người đàn bà sang trọng đó chính là “con” Bính ngày xưa. Thời gian bốn mươi hai năm dài không một lần gặp lại nhưng Thành dễ dàng nhận ra “con” Bính vì sự thay đổi trên khuôn mặt không nhiều. Thành không ngạc nhiên khi thấy “con” Bính còn đẹp hơn ngày trước nữa. “Người có tiền khác với người nghèo là vậy”. Thành nghĩ như vậy rồi lại nhìn khắp phòng; nhìn những người sẽ đi chuyến bay hôm nay để về thăm quê hương. Thành lại nhìn “con” Bính và chợt nhớ năm nay là năm Bính Thân thì “con” Bính, mà tên đầy đủ trong giấy khai sinh là Ngô Thị Hoàng Bính; cũng được đúng sáu mươi tuổi. Ngày trước người đàn bà sáu mươi tuổi, như má của Thành, đã là bà già. Nhưng, với “con” Bính và với rất nhiều người đàn bà thời nay thì khác. Hình ảnh của “con” Bính, của những ngày xa xưa thân ái, của một thời tuổi thơ khi đất nước đang thanh bình, và, của một thời mới lớn chợt hiện ra trong đầu của Thành…
***
Năm Bính Thân 1956, khi đó Thành được năm tuổi, một hôm má của Thành nói:
– Con theo má qua bên nhà bác Hai hàng xóm có chút việc. Bác Hai mới sinh một bé gái chắc con thích lắm.
Sở dĩ má của Thành nói vậy vì Thành cứ hỏi khi nào má sinh em bé. Trong lúc má của Thành và bác Hai nói chuyện thì Thành đến cầm tay đứa bé và nựng nó cách sung sướng như thể đó chính là em ruột của Thành vậy. Thành quay đầu nhìn má hỏi:
– Má ơi con nhỏ này tên gì hả má?
Bác Hai trả lời thay:
– Tên của em là Bính đó con. Con thương em không?
– Dạ…
Má của Thành trách yêu:
– Con phải gọi là em chứ sao lại gọi con.
– Nó là con gái thì con gọi nó là con.
– Nó là con gái thì con gọi nó là con. Mà… mà sao nó giống con khỉ quá vậy má?
Hai người đàn bà nhìn nhau cười thật lớn nhưng không ai nói thêm điều gì nên Thành đinh ninh cách gọi của Thành là đúng. Sau này khi lớn lên Thành mới được biết là “con” Bính khi mới sinh cái mặt của nó nhăn nhiều nên trông giống con khỉ con. Má “con” Bính định đặt tên cho con là Bính Thân vì sinh năm Bính Thân, nhưng rồi ba má nó chỉ đặt tên Bính thôi.
Sau đó má của “con” Bính cầm tờ giấy một đồng đưa cho Thành và nói:
– Mỗi sáng con cầm cái tô đựng nước tiểu của con qua đây rồi bác lại cho con một đồng.
Thành còn đang ngơ ngác không hiểu má của “con” Bính nói gì thì má của Thành đã giục:
– Cám ơn bác và chào bác rồi đi về con.
Tối hôm đó trước khi đi ngủ má của Thành để một cái tô ngay chân giường và căn dặn:
– Sáng ra con cứ đái vào cái tô này rồi cầm đem qua cho má của bé Bính và bác ấy sẽ cho con tiền. Còn cái tô thì cứ để ở bên ấy chiều má qua lấy, hoặc bác ấy sẽ đem qua sau.
Từ đó mỗi sáng Thành đều làm đúng như má dặn và Thành cũng không thắc mắc tại sao má của “con” Bính lại… mua nước tiểu của Thành để làm gì. Cho đến một buổi sáng nọ, sau khi Thành đưa tô nước tiểu và nhận một đồng, thay vì Thành đi ăn sáng ngay như mọi khi thì vì muốn nựng “con” Bính nên Thành được chứng kiến má của “con” Bính cầm tô nước tiểu của Thành uống một hơi cạn hết tô. Thành vội vàng chạy thật nhanh về nhà để nói cho má nghe điều mà Thành cho là… khủng khiếp.
Vừa bước chân vào đến nhà Thành kêu lên thật lớn:
– Má ơi má. Má ơi má.
– Chuyện gì vậy Thành.
Má của Thành vội vã đi từ nhà sau lên và vừa đi vừa hỏi với vẻ lo lắng.
– Má của “con” Bính cầm cái tô nước tiểu của con rồi uống một hơi hết trơn hết trọi luôn.
Má của Thành vội đưa một ngón tay trỏ lên miệng của mình ra dấu cho Thành đừng nói lớn.
– S…u…ỵ…t… Sao con lại la toáng lên như vậy là sao hả, thằng quỷ. Bác ấy bị… gì đó nên thầy Hòa dặn bác ấy là mỗi sáng phải uống nước tiểu của đứa con trai còn nhỏ như con thì mới tốt. Nhà bác ấy giàu và hơn nữa bác ấy thương con nên cho một đồng chứ ai lại làm vậy bao giờ. Con đừng nói cho ai biết chuyện này nghe hôn. Con mà nói thì bác ấy không cho con tiền nữa đâu.
Thành gật đầu và anh cũng không nói cho ai biết điều đó vì Thành sợ không được một đồng. Trước đó thì mỗi sáng má của Thành chỉ cho anh năm cắc thôi. Tuy chỉ là năm cắc nhưng Thành cũng mua được gói xôi bắp hoặc khúc bánh mì bì ăn no căng bụng luôn. Bây giờ có một đồng thì Thành ăn sáng cũng chỉ năm cắc, còn năm cắc thì để đến giờ ra chơi Thành sẽ mua một cây cà-rem ba cắc và một bịch nước đá nhận si-rô hai cắc.
Một thời gian ngắn sau đó khi má của “con” Bính không cần uống nước tiểu nữa thì cũng vừa lúc Thành được gia đình đưa lên học nội trú trên Đàlạt. Từ đó Thành cũng quên “con” Bính và chuyện tô nước tiểu luôn. Vì gia đình của Thành cách Đàlạt khá xa và hơn nữa tiền bạc cũng eo hẹp nên một vài năm Thành mới về thăm nhà một lần. Khi Thành về thăm nhà lần đầu vào dịp Tết năm 1960, Thành có qua thăm gia đình “con” Bính và có vài lần nắm tay dẫn nó đi loanh quanh nhà. Năm năm sau cũng vào dịp Tết Thành trở về thăm gia đình thì anh nhìn thấy một cô bé khoảng chín tuổi rất xinh trong bộ đầm mới toanh đứng trong sân nhà của Thành. Thấy Thành nhìn con bé với vẻ thích thú nên má của Thành nói:
– Bé Bính đó con. Con nhìn nó không ra là đúng rồi. Lớn cứ như thổi và xinh vô cùng.
Khi nghe má nói như vậy thì hình ảnh… tiểu vào tô những buổi sáng vừa thức dậy chợt hiện ra nên Thành vội vã hỏi:
– Má của “con” Bính…
– Bác ấy mất khoảng hai năm nay rồi con à.
Thành cảm thấy như bị một vật gì chận ngay cổ làm cho anh bị nghẹn và làm cho hai con mắt của anh bị cay cay. Thành tội nghiệp cho má của “con” Bính vì bác ấy đối xử rất tốt với Thành. Thành đi ra sân gặp “con” Bính. Thành gọi:
– Bính.
“Con” Bính quay nhìn Thành với hai con mắt mở lớn ngạc nhiên. “Con” Bính quay người toan bỏ đi thì má của Thành cũng vừa đến bên:
– Bính à, đây là anh Thành con của bác đó con. Vô đây con. Vô đây bác cho con ăn mứt bí ngon lắm con.
“Con” Bính vui vẻ đi theo má của Thành vô nhà. Con Bính tỏ ra dạn dĩ với Thành chứ không rụt rè. “Con” Bính vừa ăn mứt vừa nghe Thành kể chuyện. Khi Thành kể chuyện ma thì “con” Bính nói:
– Em sợ ma quá à.
Thành cười thật lớn và nói:
– Em đừng có sợ. Đâu có ma đâu mà sợ.
“Con” Bính nhìn Thành không nói nhưng Thành nghĩ là nó không tin không có ma.
Những ngày sau đó Thành dẫn “con” Bính, lúc thì đi xem hội chợ rồi sau đó đi ăn chè. Hôm khác thì đi xi-nê rồi sau đó đi ăn hủ tiếu bò viên. “Con” Bính tỏ ra quyến luyến Thành nên thường xin ba cho qua ăn cơm tối với Thành. Ba của “con” Bính khen Thành còn nhỏ mà đã tỏ ra chững chạc và trí thức. Ngày anh từ giã để trở về Đàlạt học tiếp thì “con” Bính khóc lóc đòi đi theo làm cho anh phải dỗ mãi với những lời hứa sẽ mau về và đưa nó đi hội chợ và đi ăn hủ tiếu bò viên là món mà nó rất thích thì nó mới chịu nín. Vậy mà mãi đến tám năm sau, tức là năm 1973 khi Thành tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Đàlạt, khi đó Thành hai mươi hai tuổi, anh mới quay trở về lại căn nhà xưa. Lúc này má của Thành đã già nhưng vẫn còn mạnh khỏe lắm. Khi Thành vừa bước vô nhà thì thấy một cô thiếu nữ xinh đẹp và cao ráo đang bước ra khỏi nhà. Thành vội vã chào:
– Chào cô.
Cô gái nhìn ngay Thành và nở nụ cười thật tươi đưa ra hai hàm răng trắng muốt và thật đều. Cô gái nhí nhảnh hỏi Thành vẻ thật thân mật:
– Anh Thành phải không? Anh nhớ em không?
Thành còn đang ngơ ngác thì cô gái bĩu cái môi dưới ra và hỏi vẻ thách đố:
– Chắc anh quên rồi chứ gì?
Thành còn đang ngờ ngợ thì cô gái đã tự giới thiệu:
– Em là… con Bính nè.
Thành vội buông cái túi xách xuống đất rồi hai tay chắp lại với nhau như tỏ vẻ muốn xin lỗi. Thành nói:
– Cô… em… em Bính… mau lớn quá anh nhìn không ra. Anh không ngờ…
Bính nhắc lại chuyện xưa mà Thành đã hứa làm cho anh ngượng vô cùng:
– Anh không ngờ anh hứa lèo mà… con Bính này thì không quên phải hông?
Thánh ấp úng nói:
– Anh… Anh thật có lỗi… với em quá….
– Ủa, sao anh Thành không gọi em là “con” Bính nữa mà lại gọi là em?
Bất chợt hình ảnh của đôi song ca kích động rất nổi tiếng Mai lệ Huyền và Hùng Cường chợt hiện ra làm cho Thành mỉm cười vì trong một bài hát kích động có câu: “Sao không kêu người ta như ngày xưa. Không kêu người ta con nhỏ…”
Má của Thành nãy giờ đứng nhìn Thành và Bính, bây giờ bà mới lên tiếng:
– Bính à. Con về nói với ba là bác mời ba và con chiều nay qua nhà bác ăn cơm mừng anh Thành về phép nghe con.
– Dạ.
Bính nhìn Thành với ánh mắt thật tình cảm:
– Em về nha anh Thành.
Khi tiễn Bính ra tới cổng, Thành nói nhỏ:
– Em và ba nhớ qua sớm nghe… em Bính.
***
Cuối năm sau 1974 Trung uý Thành về phép thăm gia đình. Bây giờ “con” Bính đang làm việc trong trường mẫu giáo có hai mươi bốn em. Trong thời gian gần một năm qua Thành gởi về sáu cái thư cho “con” Bính với những lời thật tình cảm nhưng “con” Bính chỉ hồi âm có một lần. Vừa gặp mặt Thành liền gặng hỏi:
– Em lười viết thư hay em không thích viết cho anh?
– Em sợ…
– Em sợ ma?
– Không. Bây giờ em không còn sợ ma nữa. Nhưng em sợ… anh đi rồi không về thì chắc em sẽ là ma.
– Em không bao giờ là ma đâu. Em là thiên thần. Thiên thần thì chế ngự được ma quỷ và sẽ… phù hộ cho anh; cho… cả hai đứa mình.
– Anh có giận em không?
– Giận em thì anh không gặp lại em hôm nay. Má anh có cho biết tin về em nên anh cũng yên tâm. Anh chỉ sợ em… có người khác rồi quên anh thôi.
– Em không bao giờ quên anh đâu. Mãi mãi không bao giờ em quên anh.
– Bính à, chắc em cũng hiểu lòng anh như thế nào rồi. Chiến tranh đã làm cho chúng mình phải tạm thời xa cách nhưng anh cũng không bao giờ quên em. Nếu em đồng ý thì má anh sẽ qua nhà nói chuyện với ba em rồi khoảng giữa năm sau hai đứa mình sẽ làm lễ cưới. Em thấy anh tính như vậy có được không thì cho anh biết.
– Anh tính sao cũng được hết.
Nhưng, lễ cưới của Thành và “con” Bính đã không bao giờ được thực hiện như dự tính. Cho đến một ngày đầu xuân năm 1983, Thành mới được ra khỏi trại cải tạo sau tám năm bị giam trong cái gọi là, trại học tập cải tạo. Đơn vị mà Thành là Đại úy Đại đội trưởng đã bị một đơn vị của Bắc quân tràn ngập. Trong tám năm tù Thành không được một lần thăm viếng vì gia đình tưởng anh bị mất tích. Tang thương đã đến với gia đình Thành khi má anh qua đời trong cô đơn và đói nghèo mà anh thì hoàn toàn không nhận được tin tức; kể cả tin của người vợ sắp cưới. Ngày ra tù Thành phải sống lang thang rày đây mai đó cho đến một năm sau thì anh thoát ra khỏi nước và đến định cư tại thủ đô Paris.
***
Hành khách đang lần lượt đi vào máy bay. Khi “con” Bính và chồng đi ngang qua chỗ Thành đứng anh liền quay mặt qua hướng khác. Thành rất muốn gặp lại “con” Bính nhưng lại sợ làm cuộc sống của nàng bị xáo trộn. Tự trong thâm tâm Thành vẫn tin tuyệt đối là “con” Bính không quên anh như anh không bao giờ quên. Thành nhìn đồng hồ thì thấy chỉ còn tám phút nữa máy bay sẽ cất cánh. Tuy không nhìn ngay hai người, nhưng nghe lỏm câu chuyện họ đang trao đổi, và chuyến bay sẽ đáp ở Seattle, Thành nghĩ là hai người sống đâu đó trong nước Mỹ. Trong lòng, anh rất muốn xem tên người trong vé có phải là “Ngo” không, như để xác quyết trí nhớ của mình, nhưng sau đó anh lại nghĩ: “biết để làm gì, chuyện gì đã yên thì để nó yên đi”. Như anh, hết ca làm mỗi ngày thì anh sẽ lại về nhà, dùng bữa tối trong gia đình hay thỉnh thoảng ghé quán nhậu với bạn. Không ai muốn tự dưng nếp sống đều đặn này bị xáo lên vì một chuyện “không đâu”. Tuy thế, mắt anh vẫn thấy cay cay, và anh nhìn mãi cánh cửa dẫn ra hành lang vào phi cơ giờ đã đóng. Thành muốn biết “con” Bính đang ở thành phố nào. Trong danh sách hành khách của chuyến bay, tên Ngô Thị Hoàng Bính là công dân Mỹ và sinh sống ở tiểu bang Texas.
Rồi khi Thành nhìn chiếc máy bay đang từ từ chạy ra phi đạo. Anh nói nhỏ như đang nói với “con” Bính: “Vĩnh biệt em. Vĩnh biệt “con” Bính yêu quý của anh.”
Lần thứ hai trong đời Thành thấy như bị một vật nào đó chận ngay cổ và hai con mắt bị cay cay.
Topa (Hoà Lan)

Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai Khóa 5 Hoàng Diệu TVBQGVN
Một buổi lễ “ Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai Khóa 5 Hoàng Diệu TVBQGVN” do Hội CSVSQTVBQG-DFW tổ chức đã diễn ra thật trang trọng; với sự hiện diện gần 200 quan khách cùng rất nhiều đồng hương; hội đoàn; các cơ quan truyền thông báo chí:
Thời gian từ 2pm đến 5pm ngày 26-2-2016 tại Sparkman Crane Funeral Home tại 10.501 Garland Rd Dallas,Texas 75218.
Chương trình do MC Lưu Xuân Phước K24 VB đảm trách khai mạc đúng giờ. Hầu hết các vị đại diện các chức sắc tôn giáo, cộng đồng hội đoàn đều được mời lên phát biểu.
NT Nguyễn Quang Vinh K14 đã đại diện Tổng Hội CSVSQTVBQGVN ngỏ lời cám ơn toàn thể quan khách tham dự và chuyển lời Phân Ưu của Tổng Hội cùng tang quyến.
Thượng tọa Thích Huyền Việt đến từ Houston phát biểu những tình cảm sâu đậm của mình với một Tướng Lãnh liêm khiết vì yêu quân đội và đất nước nên phải chịu đọa đày 17 năm trong các nhà tù cộng sản
HT Ngô Văn Tuận đã đại diện hội thành kính phân ưu cùng tang quyến và nói lên tình cảm của tất cả CSVSQTVBQGVN – DFW đối với một vị NT đáng kính cùng thành thật cám ơn tất cả mọi người đến tham dự buổi lễ hôm nay:
Thiếu Tướng KQ Đặng Đình Linh, Bà Pham Nguyễn Thanh Thúy Hội Trưởng Hội Cao Niên hạt Tarrant , ông Hà Thúc Thanh Phó chủ tịch Ngoại vụ Cộng đồng Hạt Tarrant , ông Phan Văn Phúc Tổng Hội Cựu TNCT, ông Nguyễn Ngọc Quý Liên Hội CCSVNCH-DFW, ông Đoàn Tống Hội Trưởng CSQG-DFW, ông Huỳnh Công Đấu TQLC, ông Nguyễn Văn Nở HT Hội Hải Quân –DFW, NT Cựu Trung Tá Lê Chu, ông Trương Sĩ Lương Bán Nguyệt San TGM, bà Thu Nga Giám Đốc Đài Truyền Hình DFW và Radio 1600am …tất cả đều bùi ngùi xúc động trước sự mất mát lớn lao nầy và thành kính phân ưu cùng tang quyến.
CSVSQ Phạm Văn Tiền Khóa 20 đã đại diện Hội CSVSQTVBQGVN-DFW đọc bài điếu văn tiễn biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai trước khi tất cả mọi người nghiêm chỉnh đứng im lặng dành “ Một Phút Mặc Niệm” để cầu nguyện NT bình an trên đường về nước Chúa ..theo truyền thống truy điệu của TVBQGVN . Qua bài Thơ Tù của NT cũng được phát âm qua giọng đọc của NT vẫn còn văng vẳng đâu đây….trước khi nghi lễ kết thúc.
Buổi lễ đã chấm dứt đúng 5pm cùng ngày trong niềm đau tận cùng của thân phận mỗi một con người còn lại hôm nay.

Điếu Văn: Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai DFW ngày 26-2-2016
Thưa Cựu Thiếu Tướng NT Đỗ Kế Giai,
Thưa gia đình cùng tang quyến,
Trời Dallas đang vào Xuân mọi người còn đang vui Tết thì được tin NT mất. Không ai ngạc nhiên nhưng thật xúc động khi nhận được tin nầy vì biết NT không còn đủ sức khỏe và đã nhập viện vào nhà dưỡng lão từ lâu …
Trên cõi đời nầycó sinh là phải có tử, có đến rồi cũng có đi và NT đã ra đi ở vào giai đoạn cuối một đời người ở tuổi trường thọ 87. Mặc dầu rất buồn nhưng sự ra đi của NT hôm nay như vậy là quá đủ, quá đủ ân phúc mà Thương Đế đã ưu ái dành cho NT nào mấy ai có được!
Mới đây thôi , lần cuối cùng mọi người gặp NT vào ngày 17-1-2016, nhân dịp Xuân Chiến Sĩ của Liên Hội -DFW, măc dầu sức khỏe yếu phải ngồi xe lăn nhưng NT vẫn cố gắng đến với đàn em chúng tôi trong đậm đà của tình chiến hữu thuở nào. Có ai ngờ đây là lần cuối cùng và cũng là lần các cựu quân nhân chúng tôi vĩnh biệt người NT đáng kính, một vị tướng lãnh anh hùng liêm khiết của QLVNCH.
Từ lâu NT là một trong những cánh chim đầu đàn của Tổng Hội CSVSQ-TVBQGVN. Niên trưởng là vị tướng mẫu mực trên chiến trường và cũng là người đàn Anh đáng kính của tập thể CSVSQ/TVBQGVN. Thiếu vắng NT trong gia đình Võ Bị là thiếu đi những lời chỉ dạy ân cần cho công cuộc đấu tranh chung vì độc lập tự do dân tộc còn đang dang dở.
Biến cố 30 tháng Tư 1975, sẵn phương tiện trong tay mặc dầu có Tướng Times bên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp đưa cả gia đình đi Mỹ, nhưng NT quyết định ở lại vì trách nhiệm của một tướng lãnh. Ngày 15 tháng 5, 1975, Cộng Sản đến nhà mời NT đi họp và đưa thẳng vào khám Chí Hòa, sau đó đưa NT cùng với các vị tướng lãnh khác ra Bắc Việt.
Ðến ngày 5 tháng 5 năm 1992, sau 17 năm NT mới được trả tự do, là một trong 4 vị cấp tướng cuối cùng ra trại tù CS cùng với Cựu Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Trần Bá Di va Lê Văn Thân.
NT và gia đình được xếp vào danh sách H.40 nhưng cuối cùng được đôn lên H.07, đến Mỹ vào tháng 11 năm 1994 định cư tại thành phố Garland, Texas. Và cũng từ đó NT là thành viên của Hội Võ Bị Dallas-Fort Worth Texas.
Vài năm sau nầy khi phải vào viện dưỡng lão, mỗi lần có ai vào thăm NT rất vui mừng. Hội CSVSQTVBQGVN – DFW vẫn thường xuyên sát cánh cùng NT: NT Nguyễn Du Nghi K13 & NĐ Lương Dũng Sinh K30 là người tận tình với NT nhiều nhất, thế mà NT Nghi cũng đã ra đi vài năm trước rồi!
Niên trưởng thường tâm sự mỗi khi có ai hỏi NT về cuộc chiến Việt Nam: Vài năm trước đây và ngay bây giờ, có nhiều nhà xuất bản Mỹ và Việt đề nghị tôi viết hồi ký và họ sẽ giúp xuất bản. Không! Tôi dứt khoát là không. Tôi trả lời là đối với tôi điều nầy khó quá. Bởi nếu đã viết, thì phải nói hết, nói thật, mọi sự việc mà tôi nghe, tôi biết, tôi thấy. Như vậy e rằng sẽ làm mất lòng nhiều người. Hơn nữa, vấn đề nầy tôi xin bày tỏ quan niệm tôi qua hai câu của người xưa:
“BẠI BINH CHI TƯỚNG, BẤT KHẢ NGÔN DŨNG VONG QUỐC CHI ĐẠI PHU, BẤT KHẢ NGÔN TRÍ.” (Tướng bại trận không thể nói mạnh. Quan mất nước, không thể nói hay)
Thưa NT,
Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng, Đến trần truồng và đi vẫn tay không. Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng, Nay rũ sạch…lên bờ, thuyền đến bến…
NT đã sống thật thanh liêm khi làm Tướng và rất bình dị thanh thản lúc ra đi! Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi, Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…
Bây giờ NT đã không còn là Thiếu Tướng nữa mà là Cụ Ông. Kính chúc Cụ Ông Edmond Marie Đỗ Kế Giai bình an trên đường về nhà Chúa…
GIA ĐÌNH HỘI CSVSQTVBQGVN-DFW THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Tạp Chí TRẺ trong Số Tháng Tư 2009 có bài tường thuật Cuộc Nói Chuyện giữa Phóng Viên Trẻ và Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai
Lời nói đầu của Phóng viên Tạp Chí Trẻ:
Qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Trọng Huấn, một Cựu Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, thành viên Hội Quảng Đà Dallas-Fortworth, Texas, đã đưa chúng tôi đến thăm Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai tại Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt Cao Niên Garland, Texas
Chúng tôi đến Trung Tâm vào giờ ăn trưa của các cụ nơi đây và được bác Đỗ, Giám đốc Trung Tâm tiếp đón. Bác Đỗ nhờ người thưa với Cựu Thiếu Tường Đỗ Kế Giai là có nhà báo chúng tôi xin được gặp ông, và mời ông Tướng ra phòng khách để cho chúng tôi được gặp, bác Đỗ cho chúng tôi biết ông Đỗ Kế Giai hôm nay không được khoẻ lắm.
Rồi tôi thấy Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đi vào phòng khách của Trung Tâm. Hình ảnh một vị cao niên chống gậy vẫn không che được phong cách và uy nghi của một vị Tướng lãnh từng một thời oai vũ.
Chân dung và tiểu sử Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai được ghi lại không đầy đủ như sau: Ông xuất thân Khoá 5 Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, ra trường Tháng 4/1952, ông về phục vụ Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội. Năm 1954, ông là sĩ quan hành quân “Officier Adjoint” cho Thiếu tá Mollo ở Đồng Đế, Nha Trang, với cấp bậc Trung úy. Cấp bậc cuối cùng của ông là Thiếu Tướng Biệt Động Quân, chỉ huy Lực Lượng bảo vệ Sài Gòn cho tới khi nhận lệnh buông súng…
Những người đàn anh của tôi ở đây là những cựu Trung úy, cựu Đại úy đang làm thiện nguyện ở Trung Tâm, các anh lo bữa ăn trưa cho vài chục cụ người Việt cao niên ở đây, các cụ đang… nói chuyện, chơi cờ, xem ca nhạc Asia và chờ cơm. Thấy Thiếu Tướng đi tới các anh đến mới ông đến chiếc ghế êm ả nhất phòng. Tôi cúi chào Thiếu Tướng.
Phóng Viên Trẻ: “Thưa bác, cháu là phóng viên Tạp Chí Trẻ. Xin được chào bác, chúc bác sức khoẻ. Xin được hỏi bác đôi điều…”
Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai: “Từ ngày xưa, tôi đánh giặc đã không thích kể chuyện đăng báo vì kể lể chiến công với báo chí tôi cho là việc tự kể cho đối phương nghe, biết chiến thuật của mình”
PV Trẻ: “Thưa bác, cháu xin không hỏi bác nhiều về những chuyện đã qua. Thay mặt Nhóm thực hiện báo Trẻ, cháu đến thăm hỏi sức khoẻ bác vì được nghe bác đã tham gia sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên Garland.”
CTT ĐKGiai: “Nếu anh muốn hỏi gì thì phải đợi tôi nói xong hãy hỏi tiếp, đừng hỏi ngang làm tôi quên chuyện tôi đang nói…”
PV Trẻ: “Thưa bác, bác có viết quyển hồi ký nào không?”
CTT ĐKGiai: “Tôi không viết hồi ký vì những đánh bóng cá nhân hay chạy tội trước lịch sử đều không phải là hồi ký. Theo thời gian, tôi chỉ nói ra những gì tôi thấy là cần thiết…”
PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã trả lời. Xin hỏi bác đã đi “cải tạo” bao nhiêu năm?”
CTT ĐKG: “Tôi không có đi cải tạo. Tôi đi tù.”
PV Trẻ: “Xin lỗi bác, cháu chỉ muốn dùng lời nói cho nó nhẹ nhàng thôi!”
CTT ĐKG: “Ngày tôi đi phỏng vấn ở Trụ Sở ODP để sang đây, có người thông dịch viên cũng hỏi tôi một câu như thế. Tôi cũng trả lời rõ ràng như thế. Và ông nhân viên Mỹ nói luôn với tôi: “Mời ông ký giấy tờ để hoàn tất thủ tục.”
PV Trẻ: “Thưa bác, thời gian… ở tù của bác bao lâu?”
CTT ĐKG: “17 năm thiếu 10 ngày.”
PV Trẻ: “Xin hỏi: Có phải bác là người đi tù sớm nhất và về trễ nhất?”
CTT ĐKG: “ Có thể. Ngày 15 tháng 5, 1975, họ đến nhà tôi, mời tôi đi họp nhưng thật ra là bắt tôi đi luôn từ đó. Lệnh tập trung những sĩ quan Quân lực VNCH vào Tháng 6, họ bắt tôi giữa Tháng 5. Có thể tôi là người đi tù sớm nhất!”
PV Trẻ: “Nhưng khi ấy họ chưa tổ chức kịp những trại tập trung thì họ đưa bác đi giam ở đâu?”
CTT ĐKG: “Khám Chí Hoà. Một năm sau họ đưa tôi từ Nhà Tù Chí Hoà đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cũ. Bữa sau nữa, họ đưa tôi ra Bắc.”
PV Trẻ: “Bác tù ở ngoài Bắc 17 năm. Khi trở về Nam, bác thấy miền Nam sau 17 năm kiểu cộng sản “giải phóng” thế nào?”
CTT ĐKG: “Tôi không thích tiếng: giải phóng”!
Bác Giai im lặng-hồi tưởng. Mọi người im lặng-chờ đợi. Ở đây chỉ có những người trẻ làm thiện nguyện là đến trung tâm sinh hoạt cao niên này để phục vụ người già. Trong thái độ, ánh mắt, giọng nói của những người lính cũ, tôi cảm nhận được sự kính trọng Tướng Giai của họ như ngày họ còn tấm thẻ bài lính chiến trên ngực. Hình như với những người lính cũ, kỷ luật quân đội vẫn sống trong họ.
Bác Giai nói tiếp: “Hôm đó trong trại tù, một người thuộc Mặt Trận Giải Phóng miền Nam nói với tôi: “… Trong Quốc ca của các anh có câu: Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…, thì hôm nay chúng tôi đã giải phóng cho các anh rồi! Còn thắc mắc gì nữa!” Tôi nghe anh ta nói câu đó thì tức đến chết được, để rồi tôi nói cho các anh nghe về lịch sử bài quốc ca của Quốc Gia VNCH…”
Cuộc nói chuyện ngưng vì bác Đỗ đến mời vị Cựu Tướng đi ăn cơm, anh Tuấn và tôi được mời cùng ăn với vị Cựu Tướng. Bác Giai chống gậy, đi đứng đã có phần khó khăn, nhưng vẫn đi được một mình. Nhìn bác tự lo cho mình bữa ăn, tôi không biết ngày xưa, cấp Tướng thì có bao nhiêu người phục vụ? Tôi thấy ở ông phong cách tự tại, bình thản của một cụ già người Việt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên. Một chút ngậm ngùi nổi lên trong lòng tôi dù tôi thấy là vô lý. Bác Giai rất an nhiên, tự tại.
Tôi nói với bác Giai: “Hôm qua, cháu nói điện thoại với cô Kiều Mỹ Duyên. Cô gởi lời thăm bác.”
Ông ngồi yên như hồi tưởng lại những người quen biết cũ.
Thấy ông có vể xúc động, tôi hỏi thêm câu nữa: “Ngày xưa, chắc cô Kiều Mỹ Duyên đẹp lắm hả bác?”
Ông cười, nụ cười bí hiểm với ánh mắt trầm mặc sau làn kính cận dày. Nhưng sau đó… ông tỏ ra bớt “quạu”, chắc tâm tư sảng khoái nên ông ăn cơm thấy ngon.
Tôi hỏi: “Cơm ngon không bác? Cháu thấy món thịt kho rất ngon.”
Ông trả lời nhẹ nhàng: “ Ngon hơn cơm tù.”
Trên chiếc bàn trải khăn trắng muốt, đơn sơ, mỗi người một đĩa cơm có thịt kho, cải xào, chén canh đậu hũ trắng nấu với cà chua và thịt bằm. Trước mặt có ly trà, trái chuối để tráng miệng. Một phần ăn trưa rất bình thường ở Mỹ, bình thường đến nỗi người ăn chỉ làm công việc ăn chứ ít ai nghĩ đến ân sủng của Ơn Trên đã ban cho lương thực hàng ngày hay công lao người nấu bữa ăn, hoặc tiền chợ có từ đâu? Nhưng nghe bác Giai vừa ăn vừa nói chuyện, mọi người như mới nhận thức ra giá trị của bữa ăn hàng ngày, bác nói:
“Từ ngày tôi ra tù đến nay, không bao giờ tôi bình phẩm về món ăn.”
Là một phóng viên chuyên thực hiện những cuộc phỏng vấn, nhưng lần này có lẽ là lần thứ nhất tôi không muốn đóng vai trò phóng viên đặt câu hỏi mà chỉ muốn ngồi nghe câu chuyện của một chứng nhân lịch sử, một trong những “Tự điển sống” hiếm hoi còn lại tới bây giờ. Những câu hỏi về lịch sử không phù hợp với không gian, thời gian. Từng câu hỏi như những mũi kim chích vào ung nhọt quá khứ, nó có cái “đã” của một vết thương mưng mủ được tuôn ra, nhưng tiếp theo sau là nỗi buồn vết sẹo không lành sau mỗi câu trả lời của vị Cựu Tướng. Tôi tự thấy mình có lỗi trong những câu hỏi có thể gợi sự bất an, hay không vui trong lòng vị Cựu Tướng nên tôi chuyển sang chuyện khác, may ra cuộc trò chuyện được vui vẻ hơn.
PV Trẻ: “Thưa bác, hiện nay bác đến Trung Tâm này sinh hoạt hàng ngày hay sao?”
CTT ĐKG: “Không, một tuần tôi đến đây ba ngày thôi.”
PV Trẻ: “Vậy, những ngày ở nhà thì bác làm gì? Bác đang sống với ai?”
CTT ĐKG: “Tôi sống với hai người con trai của tôi, hai con tôi qua đây đã lỡ tuổi, dở dang mọi chuyện nên chúng không lập gia đình. Công việc hàng ngày thì tôi làm được gì thì làm, được tới đâu hay tới đó.”
PV Trẻ: “Bác có thường xuyên liên lạc với bạn hữu và các vị tướng lãnh xưa không ạ?”
CTT ĐKG: “Ít khi. Từ hôm ra tù đã thế. Ngày ra tù, họ cho hay trong nửa ngày phải thu xếp rời trại. Tưởng chuyển trại thôi vì tôi tin là tôi sẽ ở tù tới chết. Không ngờ họ cho về. Tôi với Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo là 4 người trong 100 người mà họ muốn giam tù cho tới chết. Nhưng nhờ sự đấu tranh của các chiến hữu, các vị đồng hương ở hải ngoại, tạo thành áp lực buộc họ phải thả chúng tôi. Bốn người chúng tôi là đợt cuối cùng trong 8 đợt thả 100 người tù cuối sổ. Lúc đợi xe đưa về Sài Gòn bốn chúng tôi tính với nhau: tôi sẽ được đưa về nhà trước vì là người lớn tuổi nhất trong anh em, kế đến là Trần Bá Di, tới Lê Văn Thân. Lê Minh Đảo trẻ tuổi nhất, sẽ về sau chót. Nhưng khi xe đưa chúng tôi về đến Sài Gòn thì thì những người áp giải chúng tôi làm ngược lại! Lê Minh Đảo được đưa về nhà trước nhất, tôi là người về nhà sau cùng.”
PV Trẻ: “Vậy, bác đúng là người đi tù trước nhất và về nhà sau cùng. Bác có không được vui về chuyện ấy không?”
CTT ĐKG: “Từ những ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, sau khi Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã rời Sài Gòn thì ngày 28, 29 Tháng Tư, tướng Times bên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp tôi đưa cả gia đình tôi đi ra nước ngoài. Nhưng tôi quyết định ở lại vì trách nhiệm.”
PV Trẻ: “Bác có ân hận về quyết định ở lại đó với 17 năm tù và về sau chót?”
CTT ĐKG: “Không. Tôi đã làm tròn trách nhiệm của một Tướng lãnh với Tổ Quốc, với Quân đội, với đồng bào và đồng đội. Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ tác phong, danh dự của Quân Lực VNCH. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.”
PV Trẻ: “Đối với bên kia, thì đã rõ về tác phong của bác. Nhưng đối với đồng đội, đặc biệt là với các vị Tướng đã bỏ nước ra đi vào những phút chót dầu sôi lửa bỏng, Bác nghĩ gì về họ?”
CTT ĐKG: “ Tôi quyết định ở lại vì tôi thấy hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích những người ra đi Tháng Tư năm 1975. Bởi vì trường hợp mất Nam Việt Nam thật đặc biệt, không thể qui trách cho những người cầm súng giữ nước. Các đơn vị quân đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chạy trước cộng quân. Quân đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quí vị Tướng có ở lại trong nước thì trước sau các ông cũng vô tù như tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát được ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cứu vãn những người còn kẹt lại. Về mặt kinh tế, những người đi trước đa số đã thành công trong việc xây dựng được cuộc sống ổn định ở nước ngoài, nhờ đó ta có thể có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên nói nhiều nữa về chuyện đi hay không đi, đi trước- đi sau, mà mọi người nên, và phải cùng chung lưng xây dựng một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.”
PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã cho nghe về lịch sử và những biến động ở Sài Gòn cũng như miền Nam vào những ngày cuối cùng của nền Cộng Hoà. Trong tương lai, bác có suy tư nào để chia sẻ với những người đời sau?”
CTT ĐKG: “Những ngày lễ, ngày Tết, đặc biệt là Ngày 30 Tháng Tư hàng năm, đều có những người trẻ tìm đến tôi để hỏi thăm. Tôi cảm ơn nhiều. Phần các cháu hỏi, thì câu trả lời của tôi còn đó, đến năm sau có thể ta sẽ lại gặp nhau. Các cháu hãy làm đi, làm những gì có thể làm cho quốc gia, dân tộc chúng ta khá hơn, hay hơn.”
PV Trẻ: “Cảm ơn lời chỉ dạy của bác. Xin được chào bác và để bác nghỉ. Xin chúc bác được nhiều sức khoẻ để làm chỗ dựa tinh thần cho lớp trẻ dấn thân vào việc xây dựng tương lai chung của chúng ta. Kính chào bác.”
Khi ngồi nghe chuyện Cựu Tướng Đỗ Kế Giai sau bữa ăn trưa ở Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt cao niên, những câu hỏi tôi đã chuẩn bị để hỏi ông không có cơ hội được tôi nói ra vì dòng hồi tưởng của vị Tướng Già cứ tuôn chảy theo ký ức và tâm cảm của ông. Hai nữa có những chuyện tôi không muốn hỏi sợ làm ông buồn.
Thế rồi bác Đỗ lái xe đưa bác Giai về tư gia. Trongcuộc sống âm thầm nơi viễn xứ, những người lính cũ vẫn sống bên nhau với tình đồng đội ngày nào. Thật đáng kính phục những người Lính Chiến của một Quân Lực oai hùng nay không còn nữa.
Tôi trở về toà soạn, ngồi gõ keyboard viết những dòng chữ này để Tưởng Niệm Tháng Tư 2009 gửi đến quí vị độc giả Tạp Chí Trẻ.
Người viết Phóng Viên Trẻ
Báo New York Times nêu tên bà Jacqueline Nguyễn trong số sáu người có khả năng được bổ nhiệm thành Thẩm phán Tòa Thượng thẩm, sau khi ông Antonin Gregory Scalia, vị thẩm phán kỳ cựu, qua đời.

Năm nay 51 tuổi, bà Jacqueline Nguyễn “sang Hoa Kỳ năm 10 tuổi cùng gia đình, sau khi chính quyền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975”, tờ báo Mỹ viết.
“Hiện đã là thẩm phán Toà Phúc thẩm Hoa Kỳ, bà được Tổng thống Obama bổ nhiệm vào tháng 5/2012,” trang báo cho hay.
Các báo tiếng Việt cho biết bà tên là Nguyễn Thị Hồng Ngọc, sinh năm 1965 tại Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam.
Một trang web của người Việt tại Hoa Kỳ viết rằng cha bà, cựu thiếu tá Quân lực Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Bình đưa gia đình sang tị nạn tại Hoa Kỳ năm 1975, ban đầu ở Trại Pendleton, sau đó định cư ở Los Angeles.
Các trang báo cũng nói khi mới sang Hoa Kỳ cô bé Jacqueline “đi phụ bán bánh với mẹ để kiếm sống”
Thẩm phán liên bang
Tốt nghiệp Occidental College và trường Luật UCLA, bà đã từng hành nghề luật, chủ yếu trong các vụ kiện tụng dân sự, và sau đó giữ các chức vụ trong bộ máy tư pháp ở California, theo New York Times.
T̀háng 5/2012, với số phiếu 91-3, bà được phê chuẩn trở thành thẩm phán Tòa Phúc thẩm Liên Bang Hoa Kỳ Khu Vực 9 (Ninth Circuit U.S. Court of Appeals).

Bà Jacqueline Nguyễ́n hiện là thẩm phán liên bang Hoa Kỳ khu vực 9
Ngoài bà Jacqueline Nguyễn, năm nhân vật được tờ New York Times nêu lên là các “ứng viên tiềm năng” lên thay vị trí củ̃a ông Antonin Scalia là các ông Merrick B. Garland, (63 tuổi), Padmanabhan Srikanth Srinivasan (48 tuổi, sinh tại Ấn Độ), Cory Booker (46 tuổi, thượng nghị sỹ New Jersey), các bà Kamala D. Harris (51 tuổi, người gốc Á – Phi), Patricia Ann Millet (52 tuổi).
Cùng thời gian, một tờ báo khác ở Hoa Kỳ nêu ra tên bảy ứng viên tiềm năng vào chức tân thẩm phán Toà Thượng Thẩm.
Họ là Jane Kelly, Sri Srinivasan, Amy Klobuchar, Merrick Garland, Paul Watford, Pam Karlan và Jacqueline Nguyễn.
Trang Vox.com viết rằng nếu được bổ nhiệm, bà Nguyễn sẽ là người Mỹ gốc Đông Á đầu tiên nắm chức vụ này.
Tuy nhiên, trang web này cũng cho rằng hiện khó biết bà Jacqueline Nguyễn sẽ là một thẩm phán Tòa Thượng thẩm ra sao vì bà “như một trang giấy trắng’ (blank slate), hàm ý không có thành tích biểu quyết rõ rệt.
Trái lại, người vừa tạ thế năm 79 tuổi, thẩm phán Antonin Scalia, có quan điểm bảo thủ, nổi tiếng với các quyết định làm biến đổi lịch sử ngành tư pháp và chính trị Mỹ.
BBC