Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà (Trang 15)

Category Archives: Việt Nam Cộng Hoà

Nhà hàng Úc bị chống đối sẽ đổi tên thành ‘Uncle Bia Hơi’—Huy Lam | SBTN

Brisbane, Úc — Một nhà hàng ở ngoại ô thành phố Brisbane đặt tên theo lãnh tụ cộng sản họ Hồ loan báo sẽ đổi tên sau khi bị hàng trăm người Việt Nam biểu tình chống đối.

Sau một ngày đóng cửa hôm Chủ Nhật 10/04, nhà hàng mang tên Uncle Ho loan báo trên mạng xã hội rằng họ sẽ đổi tên thành Uncle Bia Hơi. Trước đó từ buổi sáng cùng ngày, hơn 100 người Việt ở địa phương tụ tập biểu tình ở bên ngoài nhà hàng ở Fortitude Valley, hô to những khẩu hiệu chống cộng sản và mang theo những biểu ngữ với nội dung như: Hồ Chí Minh không phải là Uncle của ai hết.

Cái tên mới sẽ chỉ nhắc đến một loại bia thay vì tên của nhà độc tài từng gây ra cái chết cho hàng trăm ngàn người và khiến cho hàng triệu người khác phải rời bỏ đất nước đi tị nạn. Giám đốc nhà hàng Anna Demirbek loan báo việc nhà hàng đổi tên trên mạng Instagram hôm Chủ Nhật, và xác định rằng nhà hàng này không phải là một tổ chức rửa tiền, cũng như chủ nhân nhà hàng không phải là những người ủng hộ cộng sản. Mặc dù bà Demirbek cho hay nhà hàng đã nhận được nhiều lời dọa giết và dọa phóng hỏa, nhưng không có dấu hiệu cảnh sát đang điều tra về những lời đe dọa này.

Một số người cho rằng nhà hàng cần đưa ra lời xin lỗi đối với cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Úc. Một người bình luận từ Sài Gòn, viết trên mạng Instagram rằng tại thành phố mang tên họ Hồ, người dân bị buộc phải chứng kiến các nội dung tuyên truyền đầy tính chất áp bức tại mỗi góc đường, nhưng họ không có chọn lựa nào khác và cũng không có cả tự do để kể lại lịch sử theo một cách khác. Người này viết rằng: Quý vị có thứ tự do mà chúng tôi chỉ có thể mơ ước, tại sao quý vị lại chọn làm điều này?

Huy Lam | SBTN

“Con” Bính—Topa

Trong phòng chờ đợi để ra máy bay đầy người. Có nhiều người phải đứng. Trong số những người đứng có nhiều người đưa mắt nhìn đến những cái ghế không có người ngồi với vẻ mặt không vui. Những cái ghế trống đó đã bị những hành khách có hành lý xách tay để lên nên họ phải đứng.

Ngoài trời tuyết vẫn đang rơi, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ làm cho không khí lạnh buốt vào những ngày cuối đông. Trong phòng chờ có để sưởi vậy mà một người đàn ông trung niên lấy cái khăn quàng cổ định quàng cho người đàn bàcó lẽ là vợ của ôngnhưng bị người đàn bà có dáng sang trọng cằn nhằn và nói là đang bị nực.

Thái độ của người đàn bà đã làm cho Thành, trưởng toán nhóm làm vệ sinh máy bay phải chú ý đến, để rồi, anh nhận ra người đàn bà sang trọng đó chính là “con” Bính ngày xưa. Thời gian bốn mươi hai năm dài không một lần gặp lại nhưng Thành dễ dàng nhận ra “con” Bính vì sự thay đổi trên khuôn mặt không nhiều. Thành không ngạc nhiên khi thấy “con” Bính còn đẹp hơn ngày trước nữa. “Người có tiền khác với người nghèo là vậy”. Thành nghĩ như vậy rồi lại nhìn khắp phòng; nhìn những người sẽ đi chuyến bay hôm nay để về thăm quê hương. Thành lại nhìn “con” Bính và chợt nhớ năm nay là năm Bính Thân thì “con” Bính, mà tên đầy đủ trong giấy khai sinh là Ngô Thị Hoàng Bính; cũng được đúng sáu mươi tuổi. Ngày trước người đàn bà sáu mươi tuổi, như má của Thành, đã là bà già. Nhưng, với “con” Bính và với rất nhiều người đàn bà thời nay thì khác. Hình ảnh của “con” Bính, của những ngày xa xưa thân ái, của một thời tuổi thơ khi đất nước đang thanh bình, và, của một thời mới lớn chợt hiện ra trong đầu của Thành…

***

Năm Bính Thân 1956, khi đó Thành được năm tuổi, một hôm má của Thành nói:

– Con theo má qua bên nhà bác Hai hàng xóm có chút việc. Bác Hai mới sinh một bé gái chắc con thích lắm.

Sở dĩ má của Thành nói vậy vì Thành cứ hỏi khi nào má sinh em bé. Trong lúc má của Thành và bác Hai nói chuyện thì Thành đến cầm tay đứa bé và nựng nó cách sung sướng như thể đó chính là em ruột của Thành vậy. Thành quay đầu nhìn má hỏi:

– Má ơi con nhỏ này  tên gì hả má?

Bác Hai trả lời thay:

– Tên của em là Bính đó con. Con thương em không?

– Dạ…

Má của Thành trách yêu:

– Con phải gọi là em chứ sao lại gọi con.

– Nó là con gái thì con gọi nó là con.

– Nó là con gái thì con gọi nó là con. Mà… mà sao nó giống con khỉ quá vậy má?

Hai người đàn bà nhìn nhau cười thật lớn nhưng không ai nói thêm điều gì nên Thành đinh ninh cách gọi của Thành là đúng. Sau này khi lớn lên Thành mới được biết là “con” Bính khi mới sinh cái mặt của nó nhăn nhiều nên trông giống con khỉ con. Má “con” Bính định đặt tên cho con là Bính Thân vì sinh  năm Bính Thân, nhưng rồi ba má nó chỉ đặt tên Bính thôi.

Sau đó má của “con” Bính cầm tờ giấy một đồng đưa cho Thành và nói:

– Mỗi sáng con cầm cái tô đựng nước tiểu của con qua đây rồi bác lại cho con một đồng.

Thành còn đang ngơ ngác không hiểu má của “con” Bính nói gì thì má của Thành đã giục:

– Cám ơn bác và chào bác rồi đi về con.

Tối hôm đó trước khi đi ngủ má của Thành để một cái tô ngay chân giường và căn dặn:

– Sáng ra con cứ đái vào cái tô này rồi cầm đem qua cho má của bé Bính và bác ấy sẽ cho con tiền. Còn cái tô thì cứ để ở bên ấy chiều má qua lấy, hoặc bác ấy sẽ đem qua sau.

Từ đó mỗi sáng Thành đều làm đúng như má dặn và Thành cũng không thắc mắc tại sao má của “con” Bính lại… mua nước tiểu của Thành để làm gì. Cho đến một buổi sáng nọ, sau khi Thành đưa tô nước tiểu và nhận một đồng, thay vì Thành đi ăn sáng ngay như mọi khi thì vì muốn nựng “con” Bính nên Thành được chứng kiến má của “con” Bính cầm tô nước tiểu của Thành uống một hơi cạn hết tô. Thành vội vàng chạy thật nhanh về nhà để nói cho má nghe điều mà Thành cho là… khủng khiếp.

Vừa bước chân vào đến nhà Thành kêu lên thật lớn:

– Má ơi má. Má ơi má.

– Chuyện gì vậy Thành.

Má của Thành vội vã đi từ nhà sau lên và vừa đi vừa hỏi với vẻ lo lắng.

– Má của “con” Bính cầm cái tô nước tiểu của con rồi uống một hơi hết trơn hết trọi luôn.

Má của Thành vội đưa một ngón tay trỏ lên miệng của mình ra dấu cho Thành đừng nói lớn.

– S…u…ỵ…t… Sao con lại la toáng lên như vậy là sao hả, thằng quỷ. Bác ấy bị… gì đó nên thầy Hòa dặn bác ấy là mỗi sáng phải uống nước tiểu của đứa con trai còn nhỏ như con thì mới tốt. Nhà bác ấy giàu và hơn nữa bác ấy thương con nên cho một đồng chứ ai lại làm vậy bao giờ. Con đừng nói cho ai biết chuyện này nghe hôn. Con mà nói thì bác ấy không cho con tiền nữa đâu.

Thành gật đầu và anh cũng không nói cho ai biết điều đó vì Thành sợ không được một đồng. Trước đó thì mỗi sáng má của Thành chỉ cho anh năm cắc thôi. Tuy chỉ là năm cắc nhưng Thành cũng mua được gói xôi bắp hoặc khúc bánh mì bì ăn no căng bụng luôn. Bây giờ có một đồng thì Thành ăn sáng cũng chỉ năm cắc, còn năm cắc thì để đến giờ ra chơi Thành sẽ mua một cây cà-rem ba cắc và một bịch nước đá nhận si-rô hai cắc.

Một thời gian ngắn sau đó khi má của “con” Bính không cần uống nước tiểu nữa thì cũng vừa lúc Thành được gia đình đưa lên học nội trú trên Đàlạt. Từ đó Thành cũng quên “con” Bính và chuyện tô nước tiểu luôn. Vì gia đình của Thành cách Đàlạt khá xa và hơn nữa tiền bạc cũng eo hẹp nên một vài năm Thành mới về thăm nhà một lần. Khi Thành về thăm nhà lần đầu vào dịp Tết năm 1960, Thành có qua thăm gia đình “con” Bính và có vài lần nắm tay dẫn nó đi loanh quanh nhà. Năm năm sau cũng vào dịp Tết Thành trở về thăm gia đình thì anh nhìn thấy một cô bé khoảng chín tuổi rất xinh trong bộ đầm mới toanh đứng trong sân nhà của Thành. Thấy Thành nhìn con bé với vẻ thích thú nên má của Thành nói:

– Bé Bính đó con. Con nhìn nó không ra là đúng rồi. Lớn cứ như thổi và xinh vô cùng.

Khi nghe má nói như vậy  thì hình ảnh… tiểu vào tô những buổi sáng vừa thức dậy chợt hiện ra nên Thành vội vã hỏi:

– Má của “con” Bính…

– Bác ấy mất khoảng hai năm nay rồi con à.

Thành cảm thấy như bị một vật gì chận ngay cổ làm cho anh bị nghẹn và làm cho hai con mắt của anh bị cay cay. Thành tội nghiệp cho má của “con” Bính vì bác ấy đối xử rất tốt với Thành. Thành đi ra sân gặp “con” Bính. Thành gọi:

– Bính.

“Con” Bính quay nhìn Thành với hai con mắt mở lớn ngạc nhiên. “Con” Bính quay người toan bỏ đi thì má của Thành cũng vừa đến bên:

– Bính à, đây là anh Thành con của bác đó con. Vô đây con. Vô đây bác cho con ăn mứt bí ngon lắm con.

“Con” Bính vui vẻ đi theo má của Thành vô nhà. Con Bính tỏ ra dạn dĩ với Thành chứ không rụt rè. “Con” Bính vừa ăn mứt vừa nghe Thành kể chuyện. Khi Thành kể chuyện ma thì “con” Bính nói:

– Em sợ ma quá à.

Thành cười thật lớn và nói:

– Em đừng có sợ. Đâu có ma đâu mà sợ.

“Con” Bính nhìn Thành không nói nhưng Thành nghĩ là nó không tin không có ma.

Những ngày sau đó Thành dẫn “con” Bính, lúc thì đi xem hội chợ rồi sau đó đi ăn chè. Hôm khác thì đi xi-nê rồi sau đó đi ăn hủ tiếu bò viên. “Con” Bính tỏ ra quyến luyến Thành nên thường xin ba cho qua ăn cơm tối với Thành. Ba của “con” Bính khen Thành còn nhỏ mà đã tỏ ra chững chạc và trí thức. Ngày anh từ giã để trở về Đàlạt học tiếp thì “con” Bính khóc lóc đòi đi theo làm cho anh phải dỗ mãi với những lời hứa sẽ mau về và đưa nó đi hội chợ và đi ăn hủ tiếu bò viên là món mà nó rất thích thì nó mới chịu nín. Vậy mà mãi đến tám năm sau, tức là năm 1973 khi Thành tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Đàlạt, khi đó Thành hai mươi hai tuổi, anh mới quay trở về lại căn nhà xưa. Lúc này má của Thành đã già nhưng vẫn còn mạnh khỏe lắm. Khi Thành vừa bước vô nhà thì thấy một cô thiếu nữ xinh đẹp và cao ráo đang bước ra khỏi nhà. Thành vội vã chào:

– Chào cô.

Cô gái nhìn ngay Thành và nở nụ cười thật tươi đưa ra hai hàm răng trắng muốt và thật đều. Cô gái nhí nhảnh hỏi Thành vẻ thật thân mật:

– Anh Thành phải không? Anh nhớ em không?

Thành còn đang ngơ ngác thì cô gái bĩu cái môi dưới ra và hỏi vẻ thách đố:

– Chắc anh quên rồi chứ gì?

Thành còn đang ngờ ngợ thì cô gái đã tự giới thiệu:

– Em là… con Bính nè.

Thành vội buông cái túi xách xuống đất rồi hai tay chắp lại với nhau như tỏ vẻ muốn xin lỗi. Thành nói:

– Cô… em… em Bính… mau lớn quá anh nhìn không ra. Anh không ngờ…

Bính nhắc lại chuyện xưa mà Thành đã hứa làm cho anh ngượng vô cùng:

– Anh không ngờ anh hứa lèo mà… con Bính này thì không quên phải hông?

Thánh ấp úng nói:

– Anh… Anh thật có lỗi… với em quá….

– Ủa, sao anh Thành không gọi em là “con” Bính nữa mà lại gọi là em?

Bất chợt hình ảnh của đôi song ca kích động rất nổi tiếng Mai lệ Huyền và Hùng Cường chợt hiện ra làm cho Thành mỉm cười vì trong một bài hát kích động có câu: “Sao không kêu người ta như ngày xưa. Không kêu người ta con nhỏ…”

Má của Thành nãy giờ đứng nhìn Thành và Bính, bây giờ bà mới lên tiếng:

– Bính à. Con về nói với ba là bác mời ba và con chiều nay qua nhà bác ăn cơm mừng anh Thành về phép nghe con.

– Dạ.

Bính nhìn Thành với ánh mắt thật tình cảm:

– Em về nha anh Thành.

Khi tiễn Bính ra tới cổng, Thành nói nhỏ:

– Em và ba nhớ qua sớm nghe… em Bính.

***

Cuối năm sau 1974 Trung uý Thành về phép thăm gia đình. Bây giờ “con” Bính đang làm việc trong trường mẫu giáo có hai mươi bốn em. Trong thời gian gần một năm qua Thành gởi về sáu cái thư cho “con” Bính với những lời thật  tình cảm nhưng “con” Bính chỉ hồi âm có một lần. Vừa gặp mặt Thành liền gặng hỏi:

– Em lười viết thư hay em không thích viết cho anh?

– Em sợ…

– Em sợ ma?

– Không. Bây giờ em không còn sợ ma nữa. Nhưng em sợ… anh đi rồi không về thì chắc em sẽ là ma.

– Em không bao giờ là ma đâu. Em là thiên thần. Thiên thần thì chế ngự được ma quỷ và sẽ… phù hộ cho anh; cho… cả hai đứa mình.

– Anh có giận em không?

– Giận em thì anh không gặp lại em hôm nay. Má anh có cho biết tin về em nên anh cũng yên tâm. Anh chỉ sợ em… có người khác rồi quên anh thôi.

– Em không bao giờ quên anh đâu. Mãi mãi không bao giờ em quên anh.

– Bính à, chắc em cũng hiểu lòng anh như thế nào rồi. Chiến tranh đã làm cho chúng mình phải tạm thời xa cách nhưng anh cũng không bao giờ quên em. Nếu em đồng ý thì má anh sẽ qua nhà nói chuyện với ba em rồi khoảng giữa năm sau hai đứa mình sẽ làm lễ cưới. Em thấy anh tính như vậy có được không thì cho anh biết.

– Anh tính sao cũng được hết.

Nhưng, lễ cưới của Thành và “con” Bính đã không bao giờ được thực hiện như dự tính. Cho đến một ngày đầu xuân năm 1983, Thành mới được ra khỏi trại cải tạo sau tám năm bị giam trong cái gọi là, trại học tập cải tạo. Đơn vị mà Thành là Đại úy Đại đội trưởng đã bị một đơn vị của Bắc quân tràn ngập. Trong tám năm tù Thành không được một lần thăm viếng vì gia đình tưởng anh bị mất tích. Tang thương đã đến với gia đình Thành khi má anh qua đời trong cô đơn và đói nghèo mà anh thì hoàn toàn không nhận được tin tức; kể cả tin của người vợ sắp cưới. Ngày ra tù Thành phải sống lang thang rày đây mai đó cho đến một năm sau thì anh thoát ra khỏi nước và đến định cư tại thủ đô Paris.

***

Hành khách đang lần lượt đi vào máy bay. Khi “con” Bính và chồng đi ngang qua chỗ Thành đứng anh liền quay mặt qua hướng khác. Thành rất muốn gặp lại “con” Bính nhưng lại sợ làm cuộc sống của nàng bị xáo trộn. Tự trong thâm tâm Thành vẫn tin tuyệt đối là “con” Bính không quên anh như anh không bao giờ quên. Thành nhìn đồng hồ thì thấy chỉ còn tám phút nữa máy bay sẽ cất cánh. Tuy không nhìn ngay hai người, nhưng nghe lỏm câu chuyện họ đang trao đổi, và chuyến bay sẽ đáp ở Seattle, Thành nghĩ là hai người sống đâu đó trong nước Mỹ. Trong lòng, anh rất muốn xem tên người trong vé có phải là “Ngo” không, như để xác quyết trí nhớ của mình, nhưng sau đó anh lại nghĩ: “biết để làm gì, chuyện gì đã yên thì để nó yên đi”. Như anh, hết ca làm mỗi ngày thì anh sẽ lại về nhà, dùng bữa tối trong gia đình hay thỉnh thoảng ghé quán nhậu với bạn. Không ai muốn tự dưng nếp sống đều đặn này bị xáo lên vì một chuyện “không đâu”. Tuy thế, mắt anh vẫn thấy cay cay, và anh nhìn mãi cánh cửa dẫn ra hành lang vào phi cơ giờ đã đóng. Thành  muốn biết “con” Bính đang ở thành phố nào. Trong danh sách hành khách của chuyến bay, tên Ngô Thị Hoàng Bính là công dân Mỹ và sinh sống ở tiểu bang Texas.

Rồi khi Thành nhìn chiếc máy bay đang từ từ chạy ra phi đạo. Anh nói nhỏ như đang nói với “con” Bính: “Vĩnh biệt em. Vĩnh biệt “con” Bính yêu quý của anh.”

Lần thứ hai trong đời Thành thấy như bị một vật nào đó chận ngay cổ và hai con mắt bị cay cay.

Topa (Hoà Lan)

 

Nơi An Nghỉ Cuối Cùng Của Niên Trưởng Đỗ Kế Giai K5—Photos by Lương Dũng Sinh K30


Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Cảm Tạ của GĐ. Anh Chị Lê Văn Mễ K18

ThuCamTa

Thành Kính Phân Ưu Cùng Anh Chị Lê Văn Mễ K18

 

PUNhacMauAnhMeK18_600

CPNhacMauAnhMe18

CPNhacMauAnhMe18(2)

Lễ Truy Điệu và Phủ Cờ Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai—Hội Võ Bị DFW & Thu Nga, SBTN

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai – Một Vì Sao Chợt Tắt—Huy Tâm


Lễ Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai—Hội Võ Bị Dallas-Fort Worth

 


DoKeGiai

Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai Khóa 5 Hoàng Diệu TVBQGVN

Một buổi lễ “ Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai Khóa 5 Hoàng Diệu TVBQGVN” do Hội CSVSQTVBQG-DFW tổ chức đã diễn ra thật trang trọng; với sự hiện diện gần 200 quan khách cùng rất nhiều đồng hương; hội đoàn; các cơ quan truyền thông báo chí:

Thời gian từ 2pm đến 5pm ngày 26-2-2016 tại Sparkman Crane Funeral Home tại 10.501 Garland Rd Dallas,Texas 75218.

Chương trình do MC Lưu Xuân Phước K24 VB đảm trách khai mạc đúng giờ. Hầu hết các vị đại diện các chức sắc tôn giáo, cộng đồng hội đoàn đều được mời lên phát biểu.

NT Nguyễn Quang Vinh K14 đã đại diện Tổng Hội CSVSQTVBQGVN ngỏ lời cám ơn toàn thể quan khách tham dự và chuyển lời Phân Ưu của Tổng Hội cùng tang quyến.

Thượng tọa Thích Huyền Việt đến từ Houston phát biểu những tình cảm sâu đậm của mình với một Tướng Lãnh liêm khiết vì yêu quân đội và đất nước nên phải chịu đọa đày 17 năm trong các nhà tù cộng sản

HT Ngô Văn Tuận đã đại diện hội thành kính phân ưu cùng tang quyến và nói lên tình cảm của tất cả CSVSQTVBQGVN – DFW đối với một vị NT đáng kính cùng thành thật cám ơn tất cả mọi người đến tham dự buổi lễ hôm nay:

Thiếu Tướng KQ Đặng Đình Linh, Bà Pham Nguyễn Thanh Thúy Hội Trưởng Hội Cao Niên hạt Tarrant , ông Hà Thúc Thanh Phó chủ tịch Ngoại vụ Cộng đồng Hạt Tarrant , ông Phan Văn Phúc Tổng Hội Cựu TNCT, ông Nguyễn Ngọc Quý Liên Hội CCSVNCH-DFW, ông Đoàn Tống Hội Trưởng CSQG-DFW, ông Huỳnh Công Đấu TQLC, ông Nguyễn Văn Nở HT Hội Hải Quân –DFW, NT Cựu Trung Tá Lê Chu, ông Trương Sĩ Lương Bán Nguyệt San TGM, bà Thu Nga Giám Đốc Đài Truyền Hình DFW và Radio 1600am …tất cả đều bùi ngùi xúc động trước sự mất mát lớn lao nầy và thành kính phân ưu cùng tang quyến.

CSVSQ Phạm Văn Tiền Khóa 20 đã đại diện Hội CSVSQTVBQGVN-DFW đọc bài điếu văn tiễn biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai trước khi tất cả mọi người nghiêm chỉnh đứng im lặng dành “ Một Phút Mặc Niệm” để cầu nguyện NT bình an trên đường về nước Chúa ..theo truyền thống truy điệu của TVBQGVN . Qua bài Thơ Tù của NT cũng được phát âm qua giọng đọc của NT vẫn còn văng vẳng đâu đây….trước khi nghi lễ kết thúc.

Buổi lễ đã chấm dứt đúng 5pm cùng ngày trong niềm đau tận cùng của thân phận mỗi một con người còn lại hôm nay.

 00_VB_1

 

 

 

Điếu Văn: Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai DFW ngày 26-2-2016

 

Thưa Cựu Thiếu Tướng NT Đỗ Kế Giai,

Thưa gia đình cùng tang quyến,

Trời Dallas đang vào Xuân mọi người còn đang vui Tết thì được tin NT mất. Không ai ngạc nhiên nhưng thật xúc động khi nhận được tin nầy vì biết NT không còn đủ sức khỏe và đã nhập viện vào nhà dưỡng lão từ lâu …

Trên cõi đời nầycó sinh là phải có tử, có đến rồi cũng có đi và NT đã ra đi ở vào giai đoạn cuối một đời người ở tuổi trường thọ 87. Mặc dầu rất buồn nhưng sự ra đi của NT hôm nay như vậy là quá đủ, quá đủ ân phúc mà Thương Đế đã ưu ái dành cho NT nào mấy ai có được!

Mới đây thôi , lần cuối cùng mọi người gặp NT vào ngày 17-1-2016, nhân dịp Xuân Chiến Sĩ của Liên Hội -DFW, măc dầu sức khỏe yếu phải ngồi xe lăn nhưng NT vẫn cố gắng đến với đàn em chúng tôi trong đậm đà của tình chiến hữu thuở nào. Có ai ngờ đây là lần cuối cùng và cũng là lần các cựu quân nhân chúng tôi vĩnh biệt người NT đáng kính, một vị tướng lãnh anh hùng liêm khiết của QLVNCH.

Từ lâu NT là một trong những cánh chim đầu đàn của Tổng Hội CSVSQ-TVBQGVN. Niên trưởng là vị tướng mẫu mực trên chiến trường và cũng là người đàn Anh đáng kính của tập thể CSVSQ/TVBQGVN. Thiếu vắng NT trong gia đình Võ Bị là thiếu đi những lời chỉ dạy ân cần cho công cuộc đấu tranh chung vì độc lập tự do dân tộc còn đang dang dở.

Biến cố 30 tháng Tư 1975, sẵn phương tiện trong tay mặc dầu có Tướng Times bên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp đưa cả gia đình đi Mỹ, nhưng NT quyết định ở lại vì trách nhiệm của một tướng lãnh. Ngày 15 tháng 5, 1975, Cộng Sản đến nhà mời NT đi họp và đưa thẳng vào khám Chí Hòa, sau đó đưa NT cùng với các vị tướng lãnh khác ra Bắc Việt.

Ðến ngày 5 tháng 5 năm 1992, sau 17 năm NT mới được trả tự do, là một trong 4 vị cấp tướng cuối cùng ra trại tù CS cùng với Cựu Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Trần Bá Di va Lê Văn Thân.

NT và gia đình được xếp vào danh sách H.40 nhưng cuối cùng được đôn lên H.07, đến Mỹ vào tháng 11 năm 1994 định cư tại thành phố Garland, Texas. Và cũng từ đó NT là thành viên của Hội Võ Bị Dallas-Fort Worth Texas.

Vài năm sau nầy khi phải vào viện dưỡng lão, mỗi lần có ai vào thăm NT rất vui mừng. Hội CSVSQTVBQGVN – DFW vẫn thường xuyên sát cánh cùng NT: NT Nguyễn Du Nghi K13 & NĐ Lương Dũng Sinh K30 là người tận tình với NT nhiều nhất, thế mà NT Nghi cũng đã ra đi vài năm trước rồi!

Niên trưởng thường tâm sự mỗi khi có ai hỏi NT về cuộc chiến Việt Nam: Vài năm trước đây và ngay bây giờ, có nhiều nhà xuất bản Mỹ và Việt đề nghị tôi viết hồi ký và họ sẽ giúp xuất bản.  Không! Tôi dứt khoát là không. Tôi trả lời là đối với tôi điều nầy khó quá. Bởi nếu đã viết, thì phải nói hết, nói thật, mọi sự việc mà tôi nghe, tôi biết, tôi thấy. Như vậy e rằng sẽ làm mất lòng nhiều người. Hơn nữa, vấn đề nầy tôi xin bày tỏ quan niệm tôi qua hai câu của người xưa:

“BẠI BINH CHI TƯỚNG, BẤT KHẢ NGÔN DŨNG VONG QUỐC CHI ĐẠI PHU, BẤT KHẢ NGÔN TRÍ.” (Tướng bại trận không thể nói mạnh. Quan mất nước, không thể nói hay)

Thưa NT,

Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng, Đến trần truồng và đi vẫn tay không. Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng, Nay rũ sạch…lên bờ, thuyền đến bến…

NT đã sống thật thanh liêm khi làm Tướng và rất bình dị thanh thản lúc ra đi! Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi, Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…

Bây giờ NT đã không còn là Thiếu Tướng nữa mà là Cụ Ông. Kính chúc Cụ Ông Edmond Marie Đỗ Kế Giai bình an trên đường về nhà Chúa…

GIA ĐÌNH HỘI CSVSQTVBQGVN-DFW THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Nói Chuyện Với Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai—Tạp Chí Trẻ

Tạp Chí TRẺ trong Số Tháng Tư 2009 có bài tường thuật Cuộc Nói Chuyện giữa Phóng Viên Trẻ và Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai

Lời nói đầu của Phóng viên Tạp Chí Trẻ:

Qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Trọng Huấn, một Cựu Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, thành viên Hội Quảng Đà Dallas-Fortworth, Texas, đã đưa chúng tôi đến thăm Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai tại Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt Cao Niên Garland, Texas

Chúng tôi đến Trung Tâm vào giờ ăn trưa của các cụ nơi đây và được bác Đỗ, Giám đốc Trung Tâm tiếp đón. Bác Đỗ nhờ người thưa với Cựu Thiếu Tường Đỗ Kế Giai là có nhà báo chúng tôi xin được gặp ông, và mời ông Tướng ra phòng khách để cho chúng tôi được gặp, bác Đỗ cho chúng tôi biết ông Đỗ Kế Giai hôm nay không được khoẻ lắm.

Rồi tôi thấy Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đi vào phòng khách của Trung Tâm. Hình ảnh một vị cao niên chống gậy vẫn không che được phong cách và uy nghi của một vị Tướng lãnh từng một thời oai vũ.

Chân dung và tiểu sử Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai được ghi lại không đầy đủ như sau: Ông xuất thân Khoá 5 Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, ra trường Tháng 4/1952, ông về phục vụ Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội. Năm 1954, ông là sĩ quan hành quân “Officier Adjoint” cho Thiếu tá Mollo ở Đồng Đế, Nha Trang, với cấp bậc Trung úy. Cấp bậc cuối cùng của ông là Thiếu Tướng Biệt Động Quân, chỉ huy Lực Lượng bảo vệ Sài Gòn cho tới khi nhận lệnh buông súng…

Những người đàn anh của tôi ở đây là những cựu Trung úy, cựu Đại úy đang làm thiện nguyện ở Trung Tâm, các anh lo bữa ăn trưa cho vài chục cụ người Việt cao niên ở đây, các cụ đang… nói chuyện, chơi cờ, xem ca nhạc Asia và chờ cơm. Thấy Thiếu Tướng đi tới các anh đến mới ông đến chiếc ghế êm ả nhất phòng. Tôi cúi chào Thiếu Tướng.

Phóng Viên Trẻ: “Thưa bác, cháu là phóng viên Tạp Chí Trẻ. Xin được chào bác, chúc bác sức khoẻ. Xin được hỏi bác đôi điều…”

Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai: “Từ ngày xưa, tôi đánh giặc đã không thích kể chuyện đăng báo vì kể lể chiến công với báo chí tôi cho là việc tự kể cho đối phương nghe, biết chiến thuật của mình”

PV Trẻ: “Thưa bác, cháu xin không hỏi bác nhiều về những chuyện đã qua. Thay mặt Nhóm thực hiện báo Trẻ, cháu đến thăm hỏi sức khoẻ bác vì được nghe bác đã tham gia sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên Garland.”

CTT ĐKGiai: “Nếu anh muốn hỏi gì thì phải đợi tôi nói xong hãy hỏi tiếp, đừng hỏi ngang làm tôi quên chuyện tôi đang nói…”

PV Trẻ: “Thưa bác, bác có viết quyển hồi ký nào không?”

CTT ĐKGiai: “Tôi không viết hồi ký vì những đánh bóng cá nhân hay chạy tội trước lịch sử đều không phải là hồi ký. Theo thời gian, tôi chỉ nói ra những gì tôi thấy là cần thiết…”

PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã trả lời. Xin hỏi bác đã đi “cải tạo” bao nhiêu năm?”

CTT ĐKG: “Tôi không có đi cải tạo. Tôi đi tù.”

PV Trẻ: “Xin lỗi bác, cháu chỉ muốn dùng lời nói cho nó nhẹ nhàng thôi!”

CTT ĐKG: “Ngày tôi đi phỏng vấn ở Trụ Sở ODP để sang đây, có người thông dịch viên cũng hỏi tôi một câu như thế. Tôi cũng trả lời rõ ràng như thế. Và ông nhân viên Mỹ nói luôn với tôi: “Mời ông ký giấy tờ để hoàn tất thủ tục.”

PV Trẻ: “Thưa bác, thời gian… ở tù của bác bao lâu?”

CTT ĐKG: “17 năm thiếu 10 ngày.”

PV Trẻ: “Xin hỏi: Có phải bác là người đi tù sớm nhất và về trễ nhất?”

CTT ĐKG: “ Có thể. Ngày 15 tháng 5, 1975, họ đến nhà tôi, mời tôi đi họp nhưng thật ra là bắt tôi đi luôn từ đó. Lệnh tập trung những sĩ quan Quân lực VNCH vào Tháng 6, họ bắt tôi giữa Tháng 5. Có thể tôi là người đi tù sớm nhất!”

PV Trẻ: “Nhưng khi ấy họ chưa tổ chức kịp những trại tập trung thì họ đưa bác đi giam ở đâu?”

CTT ĐKG: “Khám Chí Hoà. Một năm sau họ đưa tôi từ Nhà Tù Chí Hoà đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cũ. Bữa sau nữa, họ đưa tôi ra Bắc.”

PV Trẻ: “Bác tù ở ngoài Bắc 17 năm. Khi trở về Nam, bác thấy miền Nam sau 17 năm kiểu cộng sản “giải phóng” thế nào?”

CTT ĐKG: “Tôi không thích tiếng: giải phóng”!

Bác Giai im lặng-hồi tưởng. Mọi người im lặng-chờ đợi. Ở đây chỉ có những người trẻ làm thiện nguyện là đến trung tâm sinh hoạt cao niên này để phục vụ người già. Trong thái độ, ánh mắt, giọng nói của những người lính cũ, tôi cảm nhận được sự kính trọng Tướng Giai của họ như ngày họ còn tấm thẻ bài lính chiến trên ngực. Hình như với những người lính cũ, kỷ luật quân đội vẫn sống trong họ.

Bác Giai nói tiếp: “Hôm đó trong trại tù, một người thuộc Mặt Trận Giải Phóng miền Nam nói với tôi: “… Trong Quốc ca của các anh có câu: Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…, thì hôm nay chúng tôi đã giải phóng cho các anh rồi! Còn thắc mắc gì nữa!” Tôi nghe anh ta nói câu đó thì tức đến chết được, để rồi tôi nói cho các anh nghe về lịch sử bài quốc ca của Quốc Gia VNCH…”

Cuộc nói chuyện ngưng vì bác Đỗ đến mời vị Cựu Tướng đi ăn cơm, anh Tuấn và tôi được mời cùng ăn với vị Cựu Tướng. Bác Giai chống gậy, đi đứng đã có phần khó khăn, nhưng vẫn đi được một mình. Nhìn bác tự lo cho mình bữa ăn, tôi không biết ngày xưa, cấp Tướng thì có bao nhiêu người phục vụ? Tôi thấy ở ông phong cách tự tại, bình thản của một cụ già người Việt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên. Một chút ngậm ngùi nổi lên trong lòng tôi dù tôi thấy là vô lý. Bác Giai rất an nhiên, tự tại.

Tôi nói với bác Giai: “Hôm qua, cháu nói điện thoại với cô Kiều Mỹ Duyên. Cô gởi lời thăm bác.”

Ông ngồi yên như hồi tưởng lại những người quen biết cũ.

Thấy ông có vể xúc động, tôi hỏi thêm câu nữa: “Ngày xưa, chắc cô Kiều Mỹ Duyên đẹp lắm hả bác?”

Ông cười, nụ cười bí hiểm với ánh mắt trầm mặc sau làn kính cận dày. Nhưng sau đó… ông tỏ ra bớt “quạu”, chắc tâm tư sảng khoái nên ông ăn cơm thấy ngon.

Tôi hỏi: “Cơm ngon không bác? Cháu thấy món thịt kho rất ngon.”

Ông trả lời nhẹ nhàng: “ Ngon hơn cơm tù.”

Trên chiếc bàn trải khăn trắng muốt, đơn sơ, mỗi người một đĩa cơm có thịt kho, cải xào, chén canh đậu hũ trắng nấu với cà chua và thịt bằm. Trước mặt có ly trà, trái chuối để tráng miệng. Một phần ăn trưa rất bình thường ở Mỹ, bình thường đến nỗi người ăn chỉ làm công việc ăn chứ ít ai nghĩ đến ân sủng của Ơn Trên đã ban cho lương thực hàng ngày hay công lao người nấu bữa ăn, hoặc tiền chợ có từ đâu? Nhưng nghe bác Giai vừa ăn vừa nói chuyện, mọi người như mới nhận thức ra giá trị của bữa ăn hàng ngày, bác nói:

“Từ ngày tôi ra tù đến nay, không bao giờ tôi bình phẩm về món ăn.”

Là một phóng viên chuyên thực hiện những cuộc phỏng vấn, nhưng lần này có lẽ là lần thứ nhất tôi không muốn đóng vai trò phóng viên đặt câu hỏi mà chỉ muốn ngồi nghe câu chuyện của một chứng nhân lịch sử, một trong những “Tự điển sống” hiếm hoi còn lại tới bây giờ. Những câu hỏi về lịch sử không phù hợp với không gian, thời gian. Từng câu hỏi như những mũi kim chích vào ung nhọt quá khứ, nó có cái “đã” của một vết thương mưng mủ được tuôn ra, nhưng tiếp theo sau là nỗi buồn vết sẹo không lành sau mỗi câu trả lời của vị Cựu Tướng. Tôi tự thấy mình có lỗi trong những câu hỏi có thể gợi sự bất an, hay không vui trong lòng vị Cựu Tướng nên tôi chuyển sang chuyện khác, may ra cuộc trò chuyện được vui vẻ hơn.

PV Trẻ: “Thưa bác, hiện nay bác đến Trung Tâm này sinh hoạt hàng ngày hay sao?”

CTT ĐKG: “Không, một tuần tôi đến đây ba ngày thôi.”

PV Trẻ: “Vậy, những ngày ở nhà thì bác làm gì? Bác đang sống với ai?”

CTT ĐKG: “Tôi sống với hai người con trai của tôi, hai con tôi qua đây đã lỡ tuổi, dở dang mọi chuyện nên chúng không lập gia đình. Công việc hàng ngày thì tôi làm được gì thì làm, được tới đâu hay tới đó.”

PV Trẻ: “Bác có thường xuyên liên lạc với bạn hữu và các vị tướng lãnh xưa không ạ?”

CTT ĐKG: “Ít khi. Từ hôm ra tù đã thế. Ngày ra tù, họ cho hay trong nửa ngày phải thu xếp rời trại. Tưởng chuyển trại thôi vì tôi tin là tôi sẽ ở tù tới chết. Không ngờ họ cho về. Tôi với Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo là 4 người trong 100 người mà họ muốn giam tù cho tới chết. Nhưng nhờ sự đấu tranh của các chiến hữu, các vị đồng hương ở hải ngoại, tạo thành áp lực buộc họ phải thả chúng tôi. Bốn người chúng tôi là đợt cuối cùng trong 8 đợt thả 100 người tù cuối sổ. Lúc đợi xe đưa về Sài Gòn bốn chúng tôi tính với nhau: tôi sẽ được đưa về nhà trước vì là người lớn tuổi nhất trong anh em, kế đến là Trần Bá Di, tới Lê Văn Thân. Lê Minh Đảo trẻ tuổi nhất, sẽ về sau chót. Nhưng khi xe đưa chúng tôi về đến Sài Gòn thì thì những người áp giải chúng tôi làm ngược lại! Lê Minh Đảo được đưa về nhà trước nhất, tôi là người về nhà sau cùng.”

PV Trẻ: “Vậy, bác đúng là người đi tù trước nhất và về nhà sau cùng. Bác có không được vui về chuyện ấy không?”

CTT ĐKG: “Từ những ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, sau khi Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã rời Sài Gòn thì ngày 28, 29 Tháng Tư, tướng Times bên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp tôi đưa cả gia đình tôi đi ra nước ngoài. Nhưng tôi quyết định ở lại vì trách nhiệm.”

PV Trẻ: “Bác có ân hận về quyết định ở lại đó với 17 năm tù và về sau chót?”

CTT ĐKG: “Không. Tôi đã làm tròn trách nhiệm của một Tướng lãnh với Tổ Quốc, với Quân đội, với đồng bào và đồng đội. Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ tác phong, danh dự của Quân Lực VNCH. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.”

PV Trẻ: “Đối với bên kia, thì đã rõ về tác phong của bác. Nhưng đối với đồng đội, đặc biệt là với các vị Tướng đã bỏ nước ra đi vào những phút chót dầu sôi lửa bỏng, Bác nghĩ gì về họ?”

CTT ĐKG: “ Tôi quyết định ở lại vì tôi thấy hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích những người ra đi Tháng Tư năm 1975. Bởi vì trường hợp mất Nam Việt Nam thật đặc biệt, không thể qui trách cho những người cầm súng giữ nước. Các đơn vị quân đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chạy trước cộng quân. Quân đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quí vị Tướng có ở lại trong nước thì trước sau các ông cũng vô tù như tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát được ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cứu vãn những người còn kẹt lại. Về mặt kinh tế, những người đi trước đa số đã thành công trong việc xây dựng được cuộc sống ổn định ở nước ngoài, nhờ đó ta có thể có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên nói nhiều nữa về chuyện đi hay không đi, đi trước- đi sau, mà mọi người nên, và phải cùng chung lưng xây dựng một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.”

PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã cho nghe về lịch sử và những biến động ở Sài Gòn cũng như miền Nam vào những ngày cuối cùng của nền Cộng Hoà. Trong tương lai, bác có suy tư nào để chia sẻ với những người đời sau?”

CTT ĐKG: “Những ngày lễ, ngày Tết, đặc biệt là Ngày 30 Tháng Tư hàng năm, đều có những người trẻ tìm đến tôi để hỏi thăm. Tôi cảm ơn nhiều. Phần các cháu hỏi, thì câu trả lời của tôi còn đó, đến năm sau có thể ta sẽ lại gặp nhau. Các cháu hãy làm đi, làm những gì có thể làm cho quốc gia, dân tộc chúng ta khá hơn, hay hơn.”

PV Trẻ: “Cảm ơn lời chỉ dạy của bác. Xin được chào bác và để bác nghỉ. Xin chúc bác được nhiều sức khoẻ để làm chỗ dựa tinh thần cho lớp trẻ dấn thân vào việc xây dựng tương lai chung của chúng ta. Kính chào bác.”

Khi ngồi nghe chuyện Cựu Tướng Đỗ Kế Giai sau bữa ăn trưa ở Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt cao niên, những câu hỏi tôi đã chuẩn bị để hỏi ông không có cơ hội được tôi nói ra vì dòng hồi tưởng của vị Tướng Già cứ tuôn chảy theo ký ức và tâm cảm của ông. Hai nữa có những chuyện tôi không muốn hỏi sợ làm ông buồn.

Thế rồi bác Đỗ lái xe đưa bác Giai về tư gia. Trongcuộc sống âm thầm nơi viễn xứ, những người lính cũ vẫn sống bên nhau với tình đồng đội ngày nào. Thật đáng kính phục những người Lính Chiến của một Quân Lực oai hùng nay không còn nữa.

Tôi trở về toà soạn, ngồi gõ keyboard viết những dòng chữ này để Tưởng Niệm Tháng Tư 2009 gửi đến quí vị độc giả Tạp Chí Trẻ.

Người viết Phóng Viên Trẻ

Cô Bé Tỵ Nạn Việt Nam Thành Thẩm Phán Mỹ—BBC

Báo New York Times nêu tên bà Jacqueline Nguyễn trong số sáu người có khả năng được bổ nhiệm thành Thẩm phán Tòa Thượng thẩm, sau khi ông Antonin Gregory Scalia, vị thẩm phán kỳ cựu, qua đời.

Năm nay 51 tuổi, bà Jacqueline Nguyễn “sang Hoa Kỳ năm 10 tuổi cùng gia đình, sau khi chính quyền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975”, tờ báo Mỹ viết.

“Hiện đã là thẩm phán Toà Phúc thẩm Hoa Kỳ, bà được Tổng thống Obama bổ nhiệm vào tháng 5/2012,” trang báo cho hay.

Các báo tiếng Việt cho biết bà tên là Nguyễn Thị Hồng Ngọc, sinh năm 1965 tại Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam.

Một trang web của người Việt tại Hoa Kỳ viết rằng cha bà, cựu thiếu tá Quân lực Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Bình đưa gia đình sang tị nạn tại Hoa Kỳ năm 1975, ban đầu ở Trại Pendleton, sau đó định cư ở Los Angeles.

Các trang báo cũng nói khi mới sang Hoa Kỳ cô bé Jacqueline “đi phụ bán bánh với mẹ để kiếm sống”

Thẩm phán liên bang

Tốt nghiệp Occidental College và trường Luật UCLA, bà đã từng hành nghề luật, chủ yếu trong các vụ kiện tụng dân sự, và sau đó giữ các chức vụ trong bộ máy tư pháp ở California, theo New York Times.

T̀háng 5/2012, với số phiếu 91-3, bà được phê chuẩn trở thành thẩm phán Tòa Phúc thẩm Liên Bang Hoa Kỳ Khu Vực 9 (Ninth Circuit U.S. Court of Appeals).

Judge Jacqueline Nguyen.jpg
Bà Jacqueline Nguyễ́n hiện là thẩm phán liên bang Hoa Kỳ khu vực 9

Ngoài bà Jacqueline Nguyễn, năm nhân vật được tờ New York Times nêu lên là các “ứng viên tiềm năng” lên thay vị trí củ̃a ông Antonin Scalia là các ông Merrick B. Garland, (63 tuổi), Padmanabhan Srikanth Srinivasan (48 tuổi, sinh tại Ấn Độ), Cory Booker (46 tuổi, thượng nghị sỹ New Jersey), các bà Kamala D. Harris (51 tuổi, người gốc Á – Phi), Patricia Ann Millet (52 tuổi).

Cùng thời gian, một tờ báo khác ở Hoa Kỳ nêu ra tên bảy ứng viên tiềm năng vào chức tân thẩm phán Toà Thượng Thẩm.

Họ là Jane Kelly, Sri Srinivasan, Amy Klobuchar, Merrick Garland, Paul Watford, Pam Karlan và Jacqueline Nguyễn.

Trang Vox.com viết rằng nếu được bổ nhiệm, bà Nguyễn sẽ là người Mỹ gốc Đông Á đầu tiên nắm chức vụ này.

Tuy nhiên, trang web này cũng cho rằng hiện khó biết bà Jacqueline Nguyễn sẽ là một thẩm phán Tòa Thượng thẩm ra sao vì bà “như một trang giấy trắng’ (blank slate), hàm ý không có thành tích biểu quyết rõ rệt.

Trái lại, người vừa tạ thế năm 79 tuổi, thẩm phán Antonin Scalia, có quan điểm bảo thủ, nổi tiếng với các quyết định làm biến đổi lịch sử ngành tư pháp và chính trị Mỹ.

BBC

Happy Valentine’s Day

Crazy in Love

Vài Hình Ảnh Viếng Thăm Anh Nguyễn Văn Xuân K10

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Hình Ảnh Sinh Hoạt ngày 24/1/16 — Hồ Ngọc Hiệp K25 & Nguyễn Gia Thiếu K30

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Photos by Hồ Ngọc Hiệp K25


 

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Photos by Nguyễn Gia Thiếu K30


 

Lại Tin Thất Thiệt Về Việc Định Cư Thương Phế Binh VNCH!—Nam Lộc

(January 19, 2016) Trong khoảng hai tuần qua, có một bản tin được phổ biến rộng rãi ở trên các diễn đàn công luận và được hàng chục ngàn người theo dõi cũng như chia xẻ với bạn bè hoặc người thân. Bản tin được lấy từ Facebook của một người tên là Vũ Hoàng có tiêu đề là:

NGHỊ QUYẾT SJR 5 TÁI ĐỊNH CƯ CHO THƯƠNG PHẾ BINH VNCH
https://www.facebook.com/video.php?v=1548295758828806

Tôi không rõ ông Vũ Hoàng là tác giả bài viết hay được trích dẫn nguyên văn từ bản tin mà ông để là “Theo Washington Post”? Dù biết đây có thể là nhã ý của người chủ trang Facebook muốn chia xẻ “tin vui”, nhưng rất tiếc đây lại là một bản tin không chính xác và vô cùng nguy hiểm, vì nó sẽ tạo ra những kỳ vọng hão huyền đồng thời vô tình làm cho những kẻ gian có thể dựa vào đó để trục lợi hoặc làm tiền người nhẹ dạ.

Điều không chính xác thứ nhất, là bởi vì bản tin nói rằng “Nghị quyết SJR 5 được Hạ viện và Thượng viện Mỹ đã thông qua, còn phải trình chính quyền liên bang và Tổng thống Barak Obama phê chuẩn…)”. Tôi xin xác quyết rằng “nghị quyết SJR5” CHƯA HỀ được hạ hay thượng viện Hoa Kỳ đem ra thảo luận chứ đừng nói là được “thông qua”, vì thế không có việc đợi “trình chính quyền liên bang” hay chờ “tổng thống Obama phê chuẩn” ban hành nghị quyết như bài viết! Cũng nên nói thêm ở đây rằng SJR5 chỉ là một nghị quyết của lưỡng viện quốc hội tiểu bang California do bà TNS Janet Nguyễn đệ trình để “yêu cầu chính phủ HK cho phép định cư các TPB VNCH” mà thôi. Và trong cơ cấu tổ chức chính quyền ở nước Mỹ, sẽ không bao giờ có việc tổng thống HK “phê chuẩn” hoặc “ký ban hành” một nghị quyết tiểu bang.

Kế tiếp trong bản tin còn nói rằng “theo Janet Nguyễn, hiện nay (chính phủ) Hoa Kỳ đang có danh sách khoảng 20 ngàn TPB VNCH”. Tôi xin khẳng định rằng con số “20 ngàn TPB VNCH” mà TNS Janet Nguyễn thường đề cập đến trong cuộc vận động này là danh sách các Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH gởi đến hội HO Cứu Trợ TPB & QP VNCH (do bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn làm hội trưởng) để xin được trợ cấp hàng năm. Hội HO Cứu Trợ TPB & QP VNCH chưa hề phổ biến hoặc trao cho ai (kể cả bà Janet Nguyễn) danh sách nói trên, vì thế nói rằng “hiện nay (chính phủ) Hoa Kỳ đang có danh sách khoảng 20 ngàn TPB VNCH” là một điều hoàn toàn thất thiệt!

Ngoài ra không cần phải truy cập thì ai cũng có thể hiểu được rằng Washington Post là một tờ nhật báo lớn và đứng đắn ở Hoa Kỳ, không bao giờ họ đưa ra một bản tin thiếu chính xác và vô trách nhiệm như vậy cả!

Một trong những điều “nguy hiểm” nữa là ở phần cuối bản tin, ông Vũ Hoàng đã tự động trả lời các câu hỏi của độc giả liên quan đến tin tức cùng điều kiện để được cứu xét đơn xin định cư theo diện TPB của nghị quyết SRJ5! Xin mạn phép chia xẻ cùng ông Vũ Hoàng rằng, luật lệ Hoa Kỳ chỉ cho phép các luật sư có bằng hành nghề, hoặc các vị cố vấn di trú được Hội Đồng Kháng Cáo Di Trú thuộc Bộ Tư Pháp HK chuẩn thuận (BIA Accredited) thì mới có quyền cố vấn luật pháp liên quan đến vấn đề nhập cư. Tôi không rõ ông Vũ Hoàng có thuộc một trong hai thành phần nói trên hay không? Tuy nhiên dù luật sư hay cố vấn di trú chuẩn thuận cũng KHÔNG ĐƯỢC PHÉP TRẢ LỜI những câu hỏi liên quan đến bất cứ đạo luật nào khi mà nó CHƯA ĐƯỢC BAN HÀNH cũng như CHƯA ĐƯỢC SOẠN THẢO ĐIỀU LỆ.

Sở dĩ mà tôi phải lên tiếng vì đã có rất nhiều người vào đọc bản tin về “nghị quyết SRJ5, tái định cư TPB VNCH” trong trang Facebook của ông Vũ Hoàng, nếu tôi không lầm thì con số đã lên đến hơn 36 ngàn người, và chính họ đã chuyển tin cũng như email đến cho tôi (qua vai trò cố vấn định cư) để yêu cầu xác nhận về nguồn tin này. Rất tiếc là vì tôi không có trang Facebook cá nhân cho nên không thể liên lạc được với ông Vũ Hoàng. Hy vọng ông đọc được những lời nhận định trên của tôi qua bài viết này và mong có cơ hội được trao đổi cùng tìm hiểu thêm tin tức mà ông đã phổ biến.

Nam Lộc

“Ly Rượu Mừng / Xuân Miền Nam”—Asia Entertainment Official

Chúc Mừng Năm Mới Bính Thân

Chuc Xuan

 

Thư Mời Tham Dự Lễ Tưởng Niệm Trận Hải Chiến Hoàng Sa 1974 — Hội Cựu Hải Quân VNCH/BCA

ImageProxy

23808543771_6fdbd2e627_b

Việt Nam Cộng Hoà và Hải Chiến Hoàng Sa 1974

Hải Chiến Hòang Sa & Trường Sa 19-01-1974

Nỗi Buồn Cuối Năm, Nỗi Buồn Cuối Đời—Huy Phương

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối tháng 12 Dương Lịch, trời đã bắt dầu se lạnh, parking vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ gìa, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khoẻ, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Seniors-2

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước computer, vào face book hay take message với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm chẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!.

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, nỗi vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày Lễ Tết, và đằng giây kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”

Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu ngồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều chiếc trophy và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, chiếc đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẻ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam, tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây. Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

Buồn vui cuộc đời. .đổi đời rồi !….

Huy Phương

Thư Mời Họp Kết Thân—Đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu

ThuMoiKT_TTNDHPlease click here for larger image

Chúc Xuân—Thanh Ba Đặng Văn Thái K15

Tưởng Nhớ cháu Chu Nguyệt Quỳnh K8/3

ChuNguyetQuynhK8_2

Xuân Đã Về – Hợp Ca

Tuổi Ngọc – Tam Ca: Diễm Anh, Nguyệt Quỳnh, Nhật Khai

Please click here to leave a Condolence for Chu Nguyệt Quỳnh

Hồ Chí Minh Đã Âm Mưu Bán Nước Từ 1924—Chu Tất Tiến

Rât nhiều người lầm tưởng rằng Cộng Sản Việt Nam mới thực hiện âm mưu bán nước từ năm 1958, khi Phạm Văn Đồng ký công hàm bán nước cho Trung Cộng. Thực tế, Hồ Chí Minh đã âm mưu bán nước ngay từ những năm 1924, khi họ Hồ từ Moscow đến Quảng Châu, học tập lý luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Khi ấy, Hồ chí Minh chỉ là một anh thanh niên ngớ ngẩn, học lực không có, thực lực cũng không, nhưng mộng bá chủ thì to vô cùng, cho nên việc đầu quân xin được học tập chủ nghĩa Mao Trạch Đông nhất định là một màn lạy lục, cầu cạnh nhục nhã. Tuy Mao Trạch Đông, lúc ấy mới chỉ là Đại Diện Ban Chấp Hành Đảng Cộng Sản Trung Quốc, kiêm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng, nhưng với một thanh niên vô gia cư như Hồ Chí Minh, chưa có chút thanh thế nào, thì sự cung kính, sợ hãi, khiếp nhược của Hồ Chí Minh đối với những Thầy dậy về lý luận của Đảng đã lên tới tột đỉnh. Nhất định khi van xin trợ giúp thì cũng phải hứa hẹn đủ điều, trong đó phải có ý định để “đàn anh toàn quyền sử dụng đất Việt một khi cách mạng thành công.” Điều suy đoán này hoàn toàn có cơ sở vì bản chất Hồ Chí Minh sự là một con cáo già, sẵn sàng bán nước hay làm tất cả mọi việc gian ác, miễn sao thành công là được. Điều này đã được chứng minh rõ ràng bằng Hiệp Ước Sơ Bộ, tức là Hiệp Ước 6 tháng 3 năm 1946 ký kết giữa môt bên là Hồ chí Minh, Vũ Hồng Khanh và bên kia là Sainteny, “người thay mặt và có sự ủy nhiệm chính thức của Thủy sư đô đốc George Thierry d’ Argenlieu, Thượng sứ Pháp thụ nhiệm ủy quyền của Chính phủ Cộng hòa Pháp làm đại biểu. Trong khi họ Hồ vẫn ra rả kêu gọi chống Thực Dân, Đế Quốc, thì với hiệp ước này, Hồ Chí Minh chấp nhận cho Pháp trở lại Việt Nam và đô hộ nước ta. Cũng với hiệp ước này, Pháp chỉ chấp nhận cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một “nước tự do trong Liên Hiệp Pháp”. Đây chính là một hiệp ước bán nước mà Hồ chí Minh đã ký công khai, vì khi mời Pháp trở lại, tức là mời chế độ Thực dân tới mà đàn áp dân Việt, đồng thời chấp nhận cho Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Nhìn lại sự kiện này để thấy Hồ chí Minh không chần chừ trước tất cả mọi việc, dầu xấu ác đến đâu, cũng làm cho bằng được. Lưu ý: Năm 1946, Việt Minh đã có thực lực rồi mà vẫn cứ nhượng nước cho Pháp, huống hồ năm 1924, họ Hồ chưa có lực lượng nào hậu thuẫn sau lưng, thì nhất định màn điều đình với tư cách một em út đã diễn ra với Đại Ca khổng lồ Mao Trạch Đông, một “con quỷ khát máu người” đã tự tay tiêu diệt chính 30 triệu đồng bào của mình sau khi cách mạng thành công.

Nhắc lại cuốn hồi ký “Ghi chép về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp” do Nhà Xuất Bản Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Bắc Kinh ấn hành năm 2002 và được dịch bởi Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy, gồm có những bài tường thuật của La Quý Ba, Trương Quảng Hoa, Độc Kim Ba, Vu Hóa Thầm, Trần Canh, Như Phụng Nhất, là những nhân vật lừng lẫy trong trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã ghi lại việc họ Hồ sang Tầu để gia nhập Đảng Cộng Sản năm 1924. Sau đó, năm 1930, được sự cho phép của đàn anh, Hồ chí Minh mới thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương tại Hồng Kong. Năm 1938, Hồ chí Minh, lại xin làm Cố Vấn cho Lực Lượng Quân Đội Cộng Sản Trung Quốc (Advisor to the Chinese Communist armed forces). Từ đó, mối quan hệ giữa họ Hồ và Trung Cộng được phát triển mạnh mẽ. Tháng 10 năm 1940, dưới sự giúp đỡ của Tầu Cộng, Hồ đến Quế Lâm, thành lập văn phòng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, sau này đổi là Việt Minh, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung Cộng.

Tháng 1 năm 1950, Hồ Chí Minh lại sang cầu viện Tầu Cộng và được Trần đăng Ninh, một cán bộ lão thành trong đảng Cộng Sản hộ tống. Sau đó, Hồ Chí Minh, Trần Đăng Ninh, Hoàng văn Hoan được diện kiến Lưu Thiếu Kỳ tại Trung Nam Hải. Trong buổi họp này, phía Trung Cộng đưa Chu Đức, Đồng Tất Vũ, Lưu Bá Thừa, Nhiếp Vinh Trần, Lý Duy Hán tiếp phái đoàn bán nước họ Hồ. Tuy nhiên, vì lời hứa hẹn dâng Việt Nam cho Tầu không được tin tưởng lắm, vì lúc đó, Hồ chưa có thực lực nào ngoài Lực Lượng Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân dưới sự điều động của Võ Nguyên Giáp từ năm 1944, ngược lại Pháp đã đặt nền móng cai trị Việt Nam khá vững vàng, cho nên phía Trung Cộng không mặn mà lắm với lời hứa này.

Sau khi thấy những đề nghị bán nước (không phải của mình) này không được chấp nhận hoan hỉ, Hồ Chí Minh mới năn nỉ Mao Trạch Đông cho tháp tùng sang Liên Xô cầu viện. Trong chuyến đi này, Liên Xô từ chối không giúp, nhưng Mao Trạch Đông đã nhận ra nhu cầu thống trị nước Việt Nam ở phía Nam là cần thiết, nên đã cử một phái đoàn Cố Vấn tối cao, mà Hồ Chí Minh buộc đàn em gọi là “Các đồng chí Cố Vấn Vĩ Đại Trung Quốc” sang Bắc Việt để từng bước chiếm đất nước này. Phái đoàn cố vấn vĩ đại này do Vi Quốc Thanh, nguyên Phó Tư Lệnh Lực Lượng Công An Trung Cộng làm trưởng đoàn. Cùng với phái đoàn Cố Vấn Vĩ Đại, Trung Cộng đã cho chuyển sang miền Bắc đợt viện trợ đầu tiên với 150,000 khẩu súng, hơn 3,000 khẩu pháo, và đạn dược, xe cộ, quần áo, lương thực, đồ dùng hàng ngày như bát ăn cơm tráng men, khăn bông.

Từ đó, thực tế, đảng Cộng Sản Việt Nam (tuy đổi tên nhiều lần) đã cam tâm bán nước để trở thành một thứ đầy tớ cho chủ Trung Cộng.

Việc chấp nhận bán nước này đã được họ Hồ chỉ đạo cho các đàn em thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Do đó mà trong các cuộc hội thảo Trung Cộng-Việt Cộng, các đại diện Trung Cộng đã tỏ ra hống hách, coi thường phía Việt Cộng, mà ra lệnh cho Việt Cộng từng bước thi hành việc sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc.

“Trích tài liệu mà Ninh Cơ chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam, được bảo quản tuyệt mật” (*1) thì Trung Cộng đã ra lệnh cho Cộng Sản Việt Nam dâng nộp đất nước này cho Trung Cộng, biến Việt Nam thành một quận huyện của Tầu.

Trong cuộc họp này, Chính Ủy của Cục Tình Báo Hoa Nam đã nói:

“…Trong giai đoạn phải dồn toàn lực cho phát triển kinh tế, mà Đặng Tiểu Bình lãnh tụ đã vạch ra, mọi sự đèo bòng đều vô nghĩa. Chúng kềm hãm bước tiến của China vĩ đại. Thế mà ở Việt nam lại có những luồng dư luận như thế đấy. Nào là China bá quyền, nào là China bành trướng. Thối lắm! Thưa các đồng chí, không ngửi được. Bọn dân chủ ở Viêt Nam đã hô hoán rầm rĩ rằng cuộc vạch lại biên cương giữa China và Việt Nam là tranh chấp biên giới… Như Lê Thứ Trưởng (*2), trả lời phỏng vấn: “Thác Bản Giốc ta cứ tưởng là của ta, bạn cũng không bảo là của bạn”. Đo ra mới biết của ta chỉ có môt phần ba. Vì tình hữu nghị, bạn cho ta hưởng một nửa” Nói thế là tốt. Nhưng vẫn cứ thanh minh. Việc gì mà phải thanh minh cơ chứ? Với bọn phản động chuyên gây rối, cứ thắng tay trấn áp, bịt miệng chó của bọn chúng lại. Cứ lừng chừng, thiếu kiên quyết. Cứ hữu khuynh, nhân nhượng! Nhân nhượng là chế đấy! Phải quét cho bằng sạch, không thương xót bọn dân chủ. Không cho chúng được đàng chân lân đàng đầu. VÙI CHÚNG XUỐNG ĐẤT ĐEN, KHÔNG CHO CHÚNG NGÓC ĐẦU DẬY! … Việc tiêu diệt bọn dân chủ dòi bọ sẽ không còn là việc riêng của các đồng chí Việt Nam, nó sẽ là việc riêng của tất cả chúng ta.

…Trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác , không còn con đường nào khác là trở về với TỔ QUỐC TRUNG HOA VĨ ĐẠI! Đi với Mỹ chăng? Thì các đồng chí chạy đi đâu? Trở về với Tổ quốc thì các đồng chí mới tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm họa của bọn dòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình. Hãy tưởng tượng môt ngày nào đó, các đồng chí không được ngồi ở bàn giấy trong công thự mà đi lang thang kiếm việc làm. Thât khủng khiếp!

…Lũ dòi bọ ấy có cả ở China. Tôi thừa nhận điều đó. Nhưng chúng tôi thẳng thắn trấn áp chúng thắng lợi. Nhưng ở Việt Nam tình trạng có khác. Chúng hung hãn hơn, lì lợm hơn, là do các đồng chí thiếu kiên quyết. Nếu ở China có một Thiên An Môn, thì tại sao Việt Nam lại không có cái tương tự?

… China không thiếu xe tăng dĩ chí trong vài Thiên An Môn.. Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí (*3), xem Hồ đồng chí (*4) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp cao vừa rồi. Nhưng đó là trong tình huống hiện nay. Trong tương lai thì hai nước sẽ là môt, thì sẽ không phải như vậy! VIỆC VIỆT NAM TRỞ VẾ VỚI TỔ QUỐC CHINA VĨ ĐẠI LÀ VIỆC TRƯỚC SAU SẼ PHẢI ĐẾN, KHÔNG SỚM THÌ MUỘN! Trong lịch sử, Việt Nam từng là quận, huyện của China, là một nhánh của cây đại thụ China. China và Việt Nam là một. Đó là chân lý đời đời! Hồ đồng chí tôn kính còn dậy: “China, Việt Nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh.” có nghĩa là hai nước là hai bộ phận trong cùng một cơ thể. Nông đồng chí (3) từng tự hào nhận mình là người Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gỡ các đại biểu trong Quốc Vụ Viện. Mà dân tộc Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc China.

…Người dân khi xuất ngoại sẽ được cầm hộ chiếu của một nước lớn mà thế giới phải kiêng nể. ..Phải tiến hành kín đáo, trong khi chưa được hợp nhất, tuyệt đối không để lộ ý đồ.Thỉnh thoảng cũng phải cho phát ngôn viên chính phủ nói dăm ba câu phản đối về Tây Sa và Nam Sa.

… Sự sát nhập trở lại của Việt Nam là một điều tất yếu. Phải triển khai rộng hơn nữa là đè bẹp và tiêu diệt luận điệu tinh thần dân tộc vẫn còn tồn tại dai dẳng trong bọn kiên trì lập trường dân tộc. Đặc biệt trong đám trí thức và vài phần tử công thần chủ nghĩa trong tướng lĩnh. Cần phải tiêu diệt cả về tinh thần, cả về vật chất. Mấy anh già sắp chết hay nói ngang thì phải đe nẹt cho chúng biết rằng, môt khi đã bị coi là chống Đảng, thì chúng sẽ bị tước hết mọi tiêu chuẩn cao đang được hưởng, tất chúng sẽ im mồm.

… Lực lượng chủ yếu của chúng ta trong việc trấn áp bọn dân tộc chủ nghĩa là hai cánh quân. Về vật chất là công an, về tinh thần là truyền thông.

…Trong chuyện bauxit, chưa chừng trên sẽ thay đổi kế hoạch. Ta không khai thác ở đấy nữa mà chuyển sang khai thác, thực hiện ở Châu Phi… Ta còn chuyển dân mình sang Châu phi, làm thành những vùng đất China trên lục địa đen kia nữa. Người Trung Quốc bây giờ có quyền nói: “Mặt Trời không bao giờ lặn trên đất đai của tổ quốc.”

.. Còn lại việc cuối cùng la mô hình quản trị Viêt Nam trong tổ quốc thống nhất. Tỉnh hay khu tự trị ? Chuyện này xin các đồng chí về nghĩ thêm, bàn thêm. Tỉnh thì cũng như Quảng Đông, Quảng Tây. Về diện tích thì hơn kém không nhiều. Khu tự trị như khu tự trị Choang trong tỉnh Quảng Tây thì lại quá nhỏ về vai vế. Nông đồng chí vốn rất e ngại sự chống đối trong nội bộ. Mà làm khu tự trị với ý nghĩa lớn hơn thì lại vướng chuyện Tây Tạng. Bọn chó Đạt lai Lạt Ma cũng đang xin tự trị đấy, mà trung ương không thuận. Còn mấy đồng chí Việt Nam nêu ý kiến, hay là tổ chức China thành liên bang, Việt Nam sẽ là môt nước hay một bang trong liên bang ấy. Ý kiến này không mới.

…Thưa các đồng chí, vấn đề hình thức nhưng lại có tầm quan trọng. Xin các đồng chí phát huy tự do tư tưởng…”

Đọc lại bản ghi chép này, người ta thấy rõ ràng Trung Cộng đang làm chủ Việt Cộng. Giọng điệu chủ nhân của Trung Cộng đã lộ hẳn trong các ngôn từ huấn thị. Đây là môt sự kiện nhục nhã nhất trong lịch sử Việt Nam. Nếu người Việt hải ngoại và người Việt trong nước không đoàn kết với nhau được để tiến hành một chiến dịch đòi lại Tự Do, Dân Chủ, Độc Lập cho dân Việt thì nhất định những chỉ thị của Trung Cộng này sẽ là những hiện thực một ngày không xa.

Chu Tất Tiến

(*1) Cách đây vài năm, người viết bài này nhận được tài liệu này từ độc giả, đề nghị phổ biến để cứu nước, nhưng vì e ngại tính trung thực của bài viết (thiếu ngày tháng, địa điểm..) nên đã không muốn phổ biến. Đến nay, theo dõi tình hình đất nước, thấy thực tế đã diễn ra rất đúng, do đó mới chuyển đến dư luận trên toàn thế giới: Cộng Sản Việt Nam đàn áp phong trào Dân Chủ một cách thô bạo, bất chấp dư luận quốc tế. Thỉnh thoảng, cũng đưa ra vài lời phản đối lấy lệ về Hoàng Sa và Trường Sa trong khi vẫn giam giữ, tra tấn, đánh đập những người yêu nước. Vụ Bâu xít Tây nguyên đã dậm chân tại chỗ, đến nay, vẫn chưa thấy báo cáo xuất xưởng được bao nhiêu ký nhôm. Trung Cộng đang ráo riết mua đất tại Châu Phi. Trong khi ấy, một số đông tướng lãnh Cộng Sản đang phản đối lại Trung Ương Đảng Cộng Sản. Cuối tháng 7 năm nay, 61 đảng viên cao cấp gồm tướng lãnh, cựu thứ trưởng, và nhiều chuyên viên các ngành đã công khai lên tiếng yêu cầu hủy bỏ chủ nghĩa xã hội tham nhũng và bất công và chống lại việc bán nước. Tất cả những điều này đã diễn ra theo đúng tinh thần bản tài liệu 100%. 

(*2) Lê Công Phụng
(*3) Nông Đức Mạnh
(*4) Hồ Cẩm Đào

Thành Kính Phân Ưu cùng Anh Nguyễn Văn Xuân K10

cao-pho-nguyen-van-xuan-590x1024ChiHongTuK10

Phó Thủ Tướng “Chống Tham Nhũng” Việt Cộng Nguyễn Xuân Phúc Và Hai Căn Biệt Thự Tại Mỹ—Báo Trong Nước

Báo trong nước tố cáo phó Thủ Tướng Việt cộng Nguyễn Xuân Phúc:

Đến giờ này, ai cũng đã biết phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc và gia đình đang trực tiếp sở hữu khối tài sản hàng nghìn tỷ đồng tại Việt Nam, chưa tính những tài sản bằng cổ phiếu, kim cương và những bất động sản ở Mỹ, Singapore mà gia đình phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc nhờ “anh chị em kết nghĩa” đứng tên hộ, điển hình là 2 căn biệt thự tại thành phố Anaheim (quận Cam, tiểu bang California, thành phố nổi tiếng với công viên giải trí Theme Park) mà chúng tôi đang thông tin đến bạn đọc. Qua đó, nhiều câu hỏi được đặt ra: Ông Phúc sở hữu những tài sản gì tại Mỹ và từ bao giờ? Ai quản lý giúp ông những khối tài sản này? Và quan trọng nhất, mục đích của ông khi chuẩn bị sẵn các cơ ngơi tại Mỹ?Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng bầu đoàn thê tử trong chuyến công cán bằng tiền nhà nước đến xứ sở tự do kết hợp thăm hai căn biệt thự của gia đìnhPhó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng bầu đoàn thê tử trong chuyến công  cán bằng tiền nhà nước đến xứ sở tự do kết hợp thăm hai căn biệt thự  của gia đình.

Việc chuẩn bị cơ ngơi tại Mỹ của ông Nguyễn Xuân Phúc được bắt đầu từ năm 2005, khi ông còn đương chức Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam kiêm Ủy viên Ban Kinh tế Ngân Sách Quốc Hội Khóa 12 và đang chạy về trung ương với chức Phó Tổng Thanh Tra Chính Phủ. Nhiệm vụ đứng tên này được giao cho gia đình người em kết nghĩa, đại gia Đặng Văn Thành (Sacombank) mà trực tiếp cô công chúa mía đường Đặng Huỳnh Ức My, ái nữ của Đặng Văn Thành, người được Nguyễn Xuân Hiếu (quý tử nhà Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc) gọi thân mật là “chị ba”.Vợ chồng Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, vợ chồng Đặng Văn Thành cùng công chúa mía đường Đặng Huỳnh Ức My tại tiệc hấp hôn đình đám của vợ chồng Đặng Văn ThànhVợ chồng Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, vợ chồng Đặng Văn Thành cùng công chúa mía đường Đặng Huỳnh Ức My tại tiệc hấp hôn đình đám của vợ chồng Đặng Văn Thành
Căn biệt thự thứ nhất tại Mỹ của phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã được mua ngày 3/6/2005 với giá 790 nghìn USD (khoảng 17 tỷ đồng, giá 2014 đã trên 1 triệu đô la Mỹ), tọa lạc tại số 636 South Halliday Street, Anaheim, CA 92804.Căn biệt thự tại số 636 South Halliday Street, Anaheim, CA 92804 được Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mua từ năm 2005Căn biệt thự tại số 636 South Halliday Street, Anaheim, CA 92804 được Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mua từ năm 2005
Đối diện căn biệt thự của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Mỹ là công viên, thảm cỏ xanh mướtĐối diện căn biệt thự của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Mỹ là công viên, thảm cỏ xanh mướt
Căn biệt thự thứ hai tại Mỹ được ông Nguyễn Xuân Phúc mua ngay trước thềm Đại hội Đảng 11 nằm cùng thành phố Anaheim, tọa lạc tại số 7556 East Calle Durango Street, Anaheim, CA 92808 cũng do nhà Đặng Văn Thành đứng tên ký hợp đồng ngày 18/10/2010 với giá 575 nghìn USD (khoảng 12,3 tỷ đồng).Căn biệt thự thứ 2 của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại số 7556 East Calle Durango Street, Anaheim, CA 92808Căn biệt thự thứ 2 của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại số 7556 East Calle Durango Street, Anaheim, CA 92808
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chuẩn bị cả hồ bơi gia đình phía sau căn biệt thự sang trọng nàyPhó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chuẩn bị cả hồ bơi gia đình phía sau căn biệt thự sang trọng này

Thực ra, phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tính toán việc xây dựng căn cứ tại Mỹ từ hàng chục năm trước khi đưa quý tử Nguyễn Xuân Hiếu vào TPHCM học trường Quốc tế (2005) đến khi đi du học Mỹ (2009). Từ đó đến nay, cậu quý tử Nguyễn Xuân Hiếu được bố nuôi Đặng Văn Thành bảo bọc từ A-Z, thậm chí tại tập đoàn Thành Công thành lập ra một tổ công tác do Ức My trực tiếp điều hành phụ trách cung phụng cho “cu Bin” (tên thân mật của Nguyễn Xuân Hiếu), thời gian ở Mỹ của Hiếu chủ yếu là chơi game, tiệc tùng và tán gái, ngay cả bài tập ở trường cũng được tổ công tác làm giúp.

Bằng lái xe tại Mỹ của Nguyễn Xuân Hiếu, quý tử của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ghi rõ địa chỉ căn biệt thự 636 South Halliday street, Anaheim, CA 92804Bằng lái xe tại Mỹ của Nguyễn Xuân Hiếu, quý tử của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ghi rõ địa chỉ căn biệt thự 636 South Halliday street, Anaheim, CA 92804

1

Thời gian du học tại Mỹ của quý tử Nguyễn Xuân Hiếu chủ yếu là chơi game, tiệc tùng và tán gái cùng các quý tử nhà đại gia Đặng Văn ThànhThời gian du học tại Mỹ của quý tử Nguyễn Xuân Hiếu chủ yếu là chơi game, tiệc tùng và tán gái cùng các quý tử nhà đại gia Đặng Văn Thành

Vậy là đã rõ, ngay trước Đại Hội Đảng 11, phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chuẩn bị sẵn sàng cuộc sống cho mình và gia đình tại Mỹ dưới sự giúp đỡ của Đặng Văn Thành. Câu hỏi cuối cùng dành cho Ban Nội chính TW, Ủy ban Kiểm tra TW là: Mục đích của ông phó Thủ Tướng khi mua 2 căn biệt thự tại Mỹ?, và một câu hỏi ngỏ, tại sao Đặng Văn Thành, Đặng Hồng Anh thoát khỏi vụ bê bối tại Sacombank, Sacomreal? Ngoài ra, không biết lương ông phó Thủ Tướng thường xuyên hô hào quyết liệt chống tham nhũng có đủ trả cho tiền thuế hàng năm tại Mỹ cho các căn biệt thự trên không?

1

Thành Kính Phân Ưu Cùng Anh Chị Đoàn Phương Hải K19

Card 7

Chúc Mừng Giáng Sinh 2015 & Năm Mới 2016

Christmas2015PNLV

Happy Thanksgiving

PNLV

Chuyến Nam du của tên xâm lược—Anh Ba Sàm

Tờ The Wall Street Journal hôm 22-09 có đăng bài phỏng vấn Tập Cận Bình khi đang ở Mỹ. Đề cập đến Biển Đông, kẻ đứng đầu cộng đảng và chính phủ Tàu thản nhiên tuyên bố nước y có chủ quyền tại khu vực đó kể từ thời cổ đại! Tiếp đến, trả lời phỏng vấn hãng thông tấn Reuters trước chuyến công du Anh Quốc (từ 19-10), Tập lại ngoác miệng khẳng định: “Các đảo và bãi đá ở biển Nam Trung Hoa là thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ lâu đời do tổ tiên người TQ để lại. Nhân dân TQ sẽ không cho phép bất kỳ một ai vi phạm chủ quyền và quyền lợi của mình trong vùng biển này. Hành động của TQ tại vùng biển Nam Trung Hoa là chính đáng để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ”. Y nói thế hiển nhiên là để chống đỡ việc Tàu cộng liên tục bị tố quân sự hóa các đảo nhân tạo thuộc khu vực đang tranh chấp—đúng ra là cướp của VN—ở Trường Sa, với mục đích biến Biển Đông thành của riêng mình và tước đoạt quyền tự do lưu thông tại đó. Nên Bắc Kinh đã tỏ ra hết sức phẫn nộ khi khu trục hạm USS Lassen của Hải quân Mỹ đến gần bãi Xu Bi và Vành Khăn hôm 27-10. (more…)

Vượt Tường Lửa—Kẻ Vô (Tích) Sự

Nhiều quý vị bây giờ vào Facebook hay các trang web bị chặn firewall quá “cực khổ” khi dùng các phần mêm như UltraSurf, Hotspot Shield… nhưng kết quả lại không ưng ý như gặp nhiều quảng cáo, không chơi games, không up load hình ảnh được, tốc độ lại quá chậm…

Add-on tên là AnonymoX 0.9.6 cho Firefox sẽ làm nhiệm vụ thay đổi IP của quý vị sang các nước khác như Mỹ, Anh, Đức để quý vị vào FB, Twitter và các trang web bị firewall chặn một cách bình thường như đang ở các nước mà quý vị đổi IP sang. Quý vị có thể làm mọi việc như chơi games, upload hình.. mọi chuyện trên Firefox một cách thoải mái.

Mời quý vị click và install add-on tại đây: https://addons.mozilla.org/en-US/firefox/addon/anonymox/  (more…)

Cái Chết Trong Tù Cộng Sản của cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát – Nguyễn Tú

Cái chết trong tù Cộng Sản của cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát – Nguyễn Tú

Bác Sĩ Phan Huy Quát sinh năm 1908 tại Nghệ Tĩnh, tham chính nhiều lần, từng làm Tổng Trưởng Giáo Dục, Tổng Trưởng Quốc Phòng, lần cuối cùng giữ chức vụ Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, vào năm 1965. Ông cũng là Chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng, phân bộ Việt Nam, và là chủ nhiệm tuần báo Diễn Ðàn, Sài gòn, 1972. Ngày 16 Tháng Tám 1975 Bác Sĩ Quát bị Cộng Sản bắt do nội phản trên đường vượt biên; và chưa đầy bốn năm sau ông từ trần trong nhà tù Chí Hòa. Bài dưới đây do ký giả kỳ cựu Nguyễn Tú, bạn ông, và cũng là bạn tù (người đã sống bên cạnh Bác Sĩ Quát trong những ngày tháng và giờ phút cuối cùng tại khám Chí Hòa), kể lại “như một nén hương chiêu niệm chung.” (more…)