Quốc Kỳ

Vì Tiền Đồ Tổ Quốc

Tháng Chín 2026
H B T N S B C
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

ĐA HIỆU ONLINE

3 Giờ Với LS. Nguyễn Mạnh Tường—Hòa Khánh

LS. Nguyễn Mạnh Tường (1909 – 1997) là một trong những người trí thức Việt Nam thông minh siêu việt gắn với nhiều huyền thoại, một nhà sư phạm mẫu mực giàu tài năng. Ông sinh ngày 16/9/1909 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 22 tuổi, là sinh viên Việt Nam (lúc đó còn thân phận thuộc địa) du học trên nước Pháp, Nguyễn Mạnh Tường đã lập nên kỷ lục làm chấn động học đường nước Pháp: trong một năm lấy luôn hai bằng Tiến sĩ Quốc gia Văn khoa và Luật khoa. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp đến 1954 thì trở về Hà Nội và làm giáo sư trường Đại học Văn khoa (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội). Ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại một phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội, LS. Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, đã đọc một bài diễn văn phân tích sâu sắc những sai lầm trong cải cách ruộng đất và đề ra phương hướng để tránh mắc lại sai lầm. Vì bài phát biểu này, LS. Nguyễn Mạnh Tường đã bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp và phải sống khó khăn thiếu thốn như một “kẻ bị khai trừ” (tên cuốn sách tự thuật của ông xuất bản năm 1992 tại Pháp). Ông mất năm 1996 tại Hà Nội, hưởng thọ 87 tuổi.)

NUYENMANHTUONGHOANGXUANHAN1989

Hai Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường và Hoàng Xuân Hãn tại Pháp năm 1989 

Lâu nay, tôi cứ đinh ninh là luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã mất. Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, tên tuổi của ông bặt đi. Có tin đồn là ông đã chết đâu đó ở một góc khuất tối tăm nào ở Hà Nội.

Thế rồi, bỗng dưng tôi lại nghe là ông vẫn còn sống, hơn nữa, đang có mặt tại Paris: ông được phép sang Pháp ba tháng để thăm viếng một số bạn bè cũ của ông.

KMSon_2

LS Nguyễn Mạnh Tường (bên phải) cùng anh vợ, DS Tống Lịch Cường

Được sự giới thiệu của một người quen, tôi và một anh bạn đã được luật sư Nguyễn Mạnh Tường tiếp trọn cả buổi chiều ngày thứ hai 27.11.1989.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường năm nay đúng 80 tuổi. Dáng người tầm thước, lưng hơi gù, da dẻ nhăn nheo, nhưng sức khoẻ khá tốt, đi đứng vững vàng, đặc biệt trí tuệ còn rất minh mẫn. Suốt hơn ba tiếng đồng hồ chuyện trò, chúng tôi không hề bắt gặp ở ông một dấu hiệu nào của sự đãng trí vốn thường xuất hiện ở người cao niên. Ông nói năng lưu loát, đôi khi hùng hồn. Ông nhớ chính xác chi tiết những sự kiện cũ hoặc mới. Cách lý luận rành mạch.

Điều chúng tôi thích nhất ở ông là sự thành thật. Ở vào hoàn cảnh của ông, thành thật cũng có nghĩa là can đảm. Hơn ba chục năm bị đày đoạ, luôn luôn sống trong tâm trạng phập phồng chờ đón những thảm kịch thảm khốc nhất, ông không khiếp sợ đến nỗi phải tự biến mình thành một con vẹt chỉ biết lải nhải lập lại những câu nói đã thành khẩu hiệu của chế độ hoặc co rút lại trong câm lặng, từ khước đối thoại để tránh khỏi nguy cơ bị hớ hênh, bị chụp mũ.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một người đầu tiên tôi gặp, từ chế độ cộng sản, vẫn giữ được cái sĩ khí của một người trí thức, “uy vũ bất năng khuất”. Ông không hề từ chối bất cứ câu hỏi nào của chúng tôi dù những câu hỏi đó bắt ông phải công khai bày tỏ thái độ với cái chế độ đã, đang, và có lẽ sẽ tiếp tục dập vùi ông.

Chúng tôi xin phép ghi âm buổi nói chuyện với một sự thiếu tự tin rõ rệt. Chúng tôi nghĩ là ông sẽ từ chối. Nhưng, không. Ông đã vui vẻ chấp nhận. Để bảo đảm sự trung thực, những chi tiết dưới đây, chúng tôi đều dựa vào bản ghi âm này.

Tưởng cũng nên nhắc lại, trước năm 1945, luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một trí thức xuất sắc nhất của Việt Nam với thành tích đến nay tại Việt Nam dường như chưa có ai theo kịp : 22 tuổi đậu hai bằng tiến sĩ quốc gia tại Pháp, một bằng về luật và một bằng về văn chương. Về nước, ông hành nghề luật sư và dạy học. Ở cả hai lãnh vực, ông đều thành công và tạo được một uy tín to lớn.

KMSon_4

Chúng tôi hỏi luật sư Nguyễn Mạnh Tường :

– Luật sư có thể cho biết luật sư đã tham gia phong trào Việt Minh và sau đó, tham gia kháng chiến như thế nào ?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đáp :

– Thật ra tôi không hề tham gia Mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Do đó tôi đã từng từ chối nhiều lời mời ra làm bộ trưởng của nhiều chính phủ. Người trí thức phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền. Người trí thức chỉ nên đứng ở lãnh vực thuần lý chính trị (politique spéculative). Nghiên cứu, thúc đẩy các trào lưu.

Cách mạng tháng Tám làm tôi rất vui mừng. Tôi mong muốn đóng góp vào việc xây dựng đất nước trong hai lãnh vực sở trường của mình : luật học và nghiên cứu văn học.

Năm 1946, một hôm, ông Nguyễn Hữu Đang, người sau này tham gia Nhân văn Giai phẩm và bị cộng sản kết án 15 năm tù, đến văn phòng luật sư của tôi nói là Cụ Hồ mời tôi đến gặp Cụ có việc cần. Nguyễn Hữu Đang chở tôi đến cái chỗ sau này gọi là Phủ Chủ tịch. Ở đó Vũ Đình Huỳnh, Vụ trưởng Vụ Lễ tân, ra tiếp và đưa vào gặp Cụ Hồ. Cụ gọi tôi là Ngài. Cụ nói : “Như Ngài đã biết, chính phủ vừa ký kết với Pháp một bản tạm ước. Theo bản tạm ước ấy, sắp tới, giữa ta và Pháp sẽ có một hội nghị quan trọng. Xin Ngài giúp soạn giùm cho một bản lập trường của chính phủ (thèse gouvernemental) để sử dụng như một cương lĩnh chỉ đạo cuộc hội nghị”. Tôi đáp : “Công việc này quan trọng quá, xin Cụ nhờ một người nào giỏi và có kinh nghiệm hơn tôi”. Cụ Hồ nói : “Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người và ai cũng bảo là chỉ có Ngài mới có thể làm được thôi”. Cuối cùng tôi nhhận lời, về nhà, đóng cửa văn phòng luật sư, vận dụng tất cả kiến thức về luật pháp quốc tế cũng như những điều khoản căn bản của tạm ước để soạn bản lập trường. Đến khi đem trình, được Cụ Hồ chấp thuận và do đó, buộc tôi phải tham dự Hội nghị Đà Lạt.

Chúng tôi hỏi:

– Luật sư giữ vai trò gì tại Hội nghị này ?

– Tôi là trưởng ban văn hóa và là uỷ viên trong ban chính trị.

– Cuộc hội nghị thành công tốt đẹp ?

– Vâng, về cuộc hôi nghị này, đã có nhiều người viết. Chỉ có một điều ít ai biết là, kết thúc cuộc hội nghị, hai bên đã tổ chức một bữa tiệc chung. Trong bữa tiệc ấy, tên tuỳ viên của thuỷ sư đô đốc Argenlieu đến cạnh tôi, nói là thuỷ sư đô đốc muốn gặp tôi để nói chuyện. Tôi bảo là tôi không phải trưởng đoàn do đó không có tư cách gì để gặp gỡ thuỷ sư đô đốc cả. Tên tuỳ viên lại bảo đây là sự gặp gỡ thân mật có tính cách cá nhân thôi chứ không phải để bàn bạc điều gì quan trọng cả. Nghe thế, tôi đứng dậy, rời bàn tiệc ra ngoài hành lang gặp Argenlieu. Lúc ấy trong bàn tiệc ai cũng thấy cả. Và cuộc nói chuyện cũng rất vu vơ, thăm hỏi xã giao về công ăn việc làm thôi. Thế nhưng, về Hà Nội bỗng dưng lại có tin đồn là Nguyễn Mạnh Tường thông đồng với giặc, là Nguyễn Mạnh Tường bán nước…

Chúng tôi hỏi:

– Luật sư có biết tin đồn đó xuất phát từ đâu không ?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười:

– Thì cũng phải có người phát thì nó mới động chứ. Tin đồn đó là cả một chiến dịch được tổ chức hẳn hoi. Anh Hoàng Xuân Hãn lúc ấy phải đến gặp hình như là Võ Nguyên Giáp thì phải, bảo Tường làm cái gì mà người ta lại tung tin đồn là nó bán nước, theo giặc ghê quá vậy. Nguy cho nó lắm. Mà nguy thật, chỉ cần một phát súng, một mũi dao là xong đời chứ gì. Từ khi anh Hãn can thiệp, tin đồn ấy mới lắng xuống rồi biến mất.

Chúng tôi hỏi:

– Có thể coi đó là nguyên nhân khiến cho về sau cộng sản bạc đãi luật sư chăng ?

– Không phải. Cộng sản, những người tham dự hội nghị cùng với tôi, họ biết thực hư, đầu đuôi thế nào hết chứ. Đâu có phải vì tin đồn ấy mà ngườ ta bạc đãi tôi. Đối với trí thức, nói chung cộng sản dùng thì dùng, nhưng bảo là họ có mến yêu không thì tôi… không dám nói là có.

Chúng tôi hướng câu chuyện vào vấn đề chúng tôi quan tâm nhất và có lẽ nhiều người cũng quan tâm đến nhất:

– Theo các tài liệu được phổ biến tại miền Nam trước đây cũng như ở ngoại quốc, luật sư có tham gia vụ Nhân văn Giai phẩm vào những năm 56, 57?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đáp nhanh:

– Thật ra tôi không hề tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm. Mãi sau này khi người ta kết án nhóm Nhân văn Giai phẩm, tôi mới biết đó là một tổ chức chống đảng với những tên tuổi như Trần Dần, Trần Duy, Hoàng Cầm… gì đó.

– Thế nhưng luật sư cũng có mấy bài viết cùng chung lập trường với họ.

– Vâng, tôi có cả thảy hai bài viết mà ông Hoàng Văn Chí có đăng lại trong quyển Trăm hoa đua nở trên đất Bắc ấy mà. Nguyên là, một hôm ông Nguyễn Hữu Đang và ông Trần Thiếu Bảo, chủ nhà xuất bản Minh Đức đến gặp tôi để xin bài. Cả hai đều quen biết với tôi từ trước. Chuyện gặp ông Nguyễn Hữu Đang tôi có kể qua lúc nãy. Còn ông Trần Thiếu Bảo thì tôi gặp ở Thái Bình thời kháng chiến chống Pháp. Lúc ấy, ông Bảo cũng làm nhà xuất bản. Tôi có đưa cho ông ấy xuất bản quyển “Một cuộc hành trình”,  quyển sách đầu tiên của tôi bằng tiếng Việt.

– Đó là một quyển hồi ký?

– Không. À mà cũng có thể gọi là nửa hồi ký, nửa nghị luận. Đại khái tôi kể chuyện cuộc đời mình, từ một người trí thức tham gia kháng chiến chống Pháp giành độc lập cho đất nước như thế nào…

– Xin trở lại vụ Nhân văn Giai phẩm…

– Vâng, thì cái bài đăng trên Giai phẩm mùa thu năm 1956 là thế. Còn bài viết về vụ cải cách ruộng đất thì là thế này: đó là bài tôi nói chuyện trong một cuộc hội nghị của Mặt trận Tổ quốc. Các anh cũng biết là vụ cải cách ruộng đất đã thất bại nặng nề đến nỗi ông Trường Chinh đã phải mất chức Tổng bí thư đảng cơ mà. Lúc đó có phong trào sửa sai ghê lắm. Trong cái cuộc vận động sửa sai như thế, ông Tố Hữu rồi ông Trường Chinh rồi ông Xuân Thuỷ đã lần lượt gọi tôi đến nhà riêng của các ông ấy để yêu cầu tôi, trong hội nghị của Mặt trận Tổ quốc, trình bầy cho mọi người biết thế nào là dân chủ. Các ông ấy nói là sau sai lầm của cải cách ruộng đất, chúng ta phải cố làm sao cho chế độ xã hội chủ nghĩa trở thành một chế độ thực sự dân chủ. Nghe thế, tôi mừng quá nên nhận lời ngay. Thế rồi hội nghị được tổ chức. Tôi thuyết trình trọn cả ngày, ba giờ buổi sáng, ba giờ buổi chiều. Thuyết trình xong, người ta khen ghê lắm. Ông Trường Chinh, Ông Xuân Thuỷ, ông Dương Bạch Mai sau đó lại yêu cầu tôi viết lại bài nói chuyện đó để đưa mấy ông xem.

– Thế, trong hội nghị, luật sư chỉ nói miệng chứ không đọc bài viết đã soạn sẵn?

– Không, thì giờ đâu. Chính mấy ông ấy bảo thì tôi mới viết lại chứ. Tôi đánh máy bài viết thành hai bản, nộp hết cho mấy ông. Thế mà, không biết tại sao, bài viết đó lại lọt ra nước ngoài, bọn báo chí ngoại quốc làm ầm ĩ lên thế mới chết chứ.

– Luật sư có nhớ chắc là không hề đưa bài viết ấy cho ai khác?

– Chắc chắn. Cả hai bản đánh máy tôi đều nộp hết cho ông Trường Chinh và ông Xuân Thuỷ. Tôi chỉ giữ lại bản nháp viết tay thôi.

– Thế thì luật sư có thể đoán được là tại sao, từ nguồn nào, bài viết của luật sư lại lọt ra nước ngoài được không?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười lắc đầu:

– Chịu thôi. Ở đời vẫn có những bí mật mật như thế đó, các anh ạ.

Chúng tôi lại hỏi:

– Thế sau khi bài viết bị tiết lộ ra ngoài thì cộng sản đối xử với luật sư như thế nào?

– Thì còn đối xử như thế nào nữa. Kiểm điểm rồi đuổi việc thôi.

– Luật sư có thể cho biết nội dung của những cuộc kiểm điểm ấy được không ạ?

– Được chứ. Thì ở đâu cũng giống nhau thôi. Cứ khăng khăng buộc tội tôi chống đảng.

– Khi buộc tội như vậy người ta dựa vào nội dung bài thuyết trình của luật sư hay dựa vào sự kiện bài tham luận được chuyển ra nước ngoài?

– Dựa vào nội dung bài thuyết trình mới chết chứ. Còn chuyện tại sao bài ấy lọt ra nước ngoài thì tôi có biết đâu. Và cũng không ai ghép tội tôi được : bằng chứng đâu?

– Nhưng nội dung bài thuyết trình, như luật sư cho biết là được soạn theo yêu cầu của ông Trường Chinh, Xuân Thuỷ, Tố Hữu mà…

– Thì đấy…

– Tại sao luật sư không nói cho họ biết điều đó?

– Có. Tôi có nói chứ. Nhưng ai nghe ? Người ta bảo cán bộ yêu cầu tôi phát biểu về nội dung khái niệm dân chủ chứ đâu có yêu cầu tôi chống lại đảng?

– Thế luật sư có chống lại đảng không?

– Ít ra, trong cuộc thuyết trình tại Hội nghị của Mặt trận Tổ quốc cũng như trong bài viết lại mà tôi nộp cho ông Trường Chinh, ông Xuân Thuỷ… thì tuyệt đối không có một câu, một chữ nào chống đảng cả. Tôi chỉ phê phán những sai lầm trong cải cách ruộng đất thôi. Mà những sai lầm ấy thì quá hiển nhiên, ngay cả đảng cũng nhìn nhận mà, chứ đâu phải mình tôi.

– Luật sư có đi tham gia cải cách ruộng đất?

– Có. Hồi ấy tất cả mọi cán bộ đều phải về các địa phương để tham gia cải cách ruộng đất cả. Tôi cũng phải đi.

– Luật sư về địa phương nào?

– Phủ Nho Quan.

– Công việc của các cán bộ cụ thể là làm gì?

– Để phụ với nhân dân tổ chức các cuộc cải cách ruộng đất thôi.

Trầm ngâm một lát, luật sư Nguyễn Mạnh Tường kể tiếp:

– Chính trong những đợt đi xuống điạ phương ấy tôi mới thấy rõ, thấy hết sự tàn bạo của nó.

Lại im lặng. Chúng tôi cũng im lặng chờ đợi. Giọng của luật sư Nguyễn Mạnh Tường trầm trầm, buồn buồn:

– Đầu tiên, về Phủ Nho Quan, chúng tôi được học tập là theo lệnh từ trên, tại điạ phương này có cả thảy 80% dân chúng thuộc thành phần địa chủ. Tôi điếng cả người. Phẫn nộ thấy ngay cách làm việc như vậy là rất trái khoa học. Khoa học nào cũng phải sử dụng phương pháp quy nạp, phải căn cứ trên quá trình điều tra thực tế cẩn thận, từ thực tế mà đúc kết thành nhận định. Đằng này thì mấy ông từ Trung ương cứ tưởng tượng ra các chỉ tiêu rồi ra lệnh xuống bắt các địa phương phải thực hiện. Cán bộ địa phương muốn hoàn thành công tác thì phải kích thôi. Có nhiều gia đình nghèo xơ nghèo xác, ở trong một căn nhà hẹp có hai gian, tài sản đâu chỉ được một hai mẫu ruộng, thế mà cũng bị khép vào thành phần địa chủ. Để cho đủ số lượng ấy mà ! Tội lắm. Oan ức nhiều không sao kể hết được.

– Luật sư có tham gia vào cuộc xử án nào không?

– Không. Người ta đâu có cần luật sư. Mình đi cốt là để rèn luyện quan điểm, rèn luyện lập trường thôi chứ đâu phải để xử án hay để biện hộ cho ai.

– Thế thì ai làm chánh án, luật sư trong các vụ đấu tố?

– Chẳng có chánh án, luật sư gì cả. Phiên toà được tổ chức ở một bãi sân rộng đâu đó trong làng. Mấy anh thuộc thành phần bần cố nông ngồi ngất ngưởng trên bàn để luận tội, còn mấy người bị gọi là địa chủ thì bị xích cổ, trói chân, trói tay quỳ mọp giữa sân…

– Có cả chuyện xích cổ ư?

– Có. Suốt “phiên toà”, hết bần cố nông này lên tiếng chửi thì bần cố nông khác lên chửi tiếp. Xong rồi thì đến lượt hành hình địa chủ, vậy thôi.

– Luật sư có bao giờ can thiệp vào những vụ đấu tố dã man như vậy không?

– Có mà muốn chết à ? Không. Có chảy nước mắt thì cũng ráng mà giấu đi.

– Có địa chủ nào được quyền tự biện hộ, tự thanh minh cho mình không?

– Không. Lúc đó ai cũng hồn kinh phách tán cả rồi, mặt mũi xanh rờn, đứng còn không nổi nữa thì nói gì đến chuyện tự biện hộ. Mà ai cho ? Cứ bị khép vào thành phần địa chủ là coi như đã chết.

– Luật sư có phỏng đoán được số lượng những người bị giết chết trong đợt cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào hồi ấy là bao nhiêu không?

– Không. Chỉ biết được ở cái điạ phương mình về thôi.

– Cụ thể, ở Phủ Nho Quan là bao nhiêu người bị giết chết?

– Tôi không nắm con số. Nhưng nhiều, nhiều lắm. Hơn nữa, sau các đợt cải cách ruộng đất còn có các đợt chỉnh phong trong hàng ngũ cán bộ cũng làm cho nhiều người bị oan ức lắm.

– Nội dung các cuộc chỉnh phong là sao?

– Là trừng phạt những đảng viên, những cán bộ có quan hệ ít nhiều với điạ chủ, với phản động. Thậm chí, có nhiều người lúc trẻ là đảng viên Quốc dân đảng, từ năm 45, 46, đã theo kháng chiến rồi vào đảng cộng sản, vậy mà người ta còn truy quá khứ ra để hành tội.

– Sau mấy chục năm, nhìn lại, luật sư đánh giá thế nào về cải cách ruộng đất?

– Dĩ nhiên là nó sai rồi. Không những sai, nó còn ác, cực ác nữa. Tôi nghĩ nó không có chút gì Việt Nam cả. Người Việt Nam, trong suốt lịch sử mấy ngàn năm, chưa bao giờ tàn bạo đến như vậy. Nó là dấu ấn của Mao…

– Dấu ấn trực tiếp hay gián tiếp?

– Tôi không biết. Ngay thời kháng chiến chống Pháp, tôi có gặp Đại sứ Trung Quốc trên các chiến khu. Bận một bộ đồ trắng toát, cưỡi ngựa, trông oai quyền ghê lắm. Ông ấy tên Lã Quý Ba. Người ta nói ông ấy chính là kẻ chỉ huy, vạch kế hoạch cho các phong trào cải cách ruộng đất tại Việt Nam.

– Nhưng Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền kia mà?

– Thì đấy. Ngay cái chuyện bắt chước Liên Xô, bắt chước Trung Quốc đã sai rồi thì những chuyện khác theo đó sai theo…

Chúng tôi trở lại chuyện Nhân văn Giai phẩm:

– Xin luật sư kể tiếp về những hình phạt đối với luật sư?

– Kiểm điểm rồi đuổi việc. Tôi có kể khi nãy.

– Cụ thể, trước đó, luật sư làm gì ?

– Tôi làm giám đốc Đại học Luật, phó giám đốc Đại học Sư phạm, chủ nhiệm Câu lạc bộ trí thức và nằm trong ban chấp hành của 10 tổ chức quần chúng ở miền Bắc.

– Đó là những tổ chức gì?

– Uỷ ban Hoà bình thế giới; Hội hữu nghị Việt Xô; Hội hữu nghị Việt Pháp; Hội Luật gia Việt Nam…

– Luật sư có bị bắt, có bị giam cầm gì không?

– Không. Chỉ bị đuổi ra khỏi tất cả những nơi đang làm việc. Và độc ác nhất là bị cô lập hoàn toàn. Các anh cứ tưởng tượng suốt mấy chục năm trời, không ai dám đến gặp tôi cả. Họ sợ bị liên luỵ đến bản thân, đến gia đình của họ. Có khi, đi ngoài đường, nhìn thấy tôi từ xa, là bạn bè, học trò cũ của tôi phải tránh đi chỗ khác. Tôi cũng không trách gì họ. Vì sự an toàn của họ, họ phải làm thế thôi. Nhưng đau xót lắm.

– Trong thời gian suốt mấy chục năm trời như vậy, luật sư làm gì để sống?

– Không làm gì cả. Xin việc gì người ta cũng không nhận. Thoạt đầu, cứ bán dần đồ đạc trong nhà mà ăn tiêu. Bán bàn ghế, giường tủ, rồi bán quần áo, giầy dép… cuối cùng phải bán đến cả sách vở tôi dành dụm thu thập sắm trong hai mươi năm. Bán theo giá bán giấy ký thôi. Rẻ mạt. Nhưng cần sống thì phải bán. Cứ mỗi lần bán sách là mỗi lần tôi có cảm tưởng như có ai lấy dao găm đâm vào tim của mình. Rồi tất cả đồ đạc cạn dần, cạn dần. Tôi lại sống bằng sự bố thí của anh em, bạn bè. Lâu lâu người này cho cái đồng hồ, người khác cho một ít tiền.

– Những người giúp luật sư thuộc thành phần nào?

– Một số là học trò cũ của tôi; một số là những bạn bè cuả tôi lúc tôi còn ở Pháp và một số khác nữa là những người hoàn toàn xa lạ vì nghe tiếng tôi, thương cho hoàn cảnh của tôi, từ Pháp thỉnh thoảng cho một ít quà.

– Họ là người Việt Nam hay người Pháp?

– Người Việt có, người Pháp có.

Thấy cuộc nói chuyện đã khá thân mật, chúng tôi dè dặt nêu ra câu hỏi khác, một câu hỏi thú thật chúng tôi rất tò mò:

– Ba mươi lăm năm sống dưới chế độ cộng sản, luật sư nhận xét gì về cái chế độ này?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đắn đo một lát rồi đáp:

– Mình nên khách quan. Người cộng sản họ vừa có công lại vừa có tội.

– Luật sư nghĩ gì khi có người gọi chế độ cộng sản tại Việt Nam là một nhà nước công an trị (état policier)?

– Đồng ý thôi. Điều đó thì rõ quá.

– Có người còn phân tích thêm, cái nhà nước công an trị ấy tồn tại bằng ba cơ chế : thứ nhất là công an khu vực; thứ hai là hộ khẩu; thứ ba là chế độ quản lý lương thực. Luật sư nghĩ sao?

– Đúng. Từ khi bị thất sủng, tôi vô cùng thấm thía những cái chuyện đó. Không đi làm được, sống bằng cách bán đồ đạc hoặc bằng sự bố thí của người khác mà phải mua lương thực tự do giá cao gấp trăm lần giá chính thức thì khó khăn ghê lắm. Có lúc tưởng không vượt qua được. Còn chuyện hộ khẩu và công an khu vực thì khỏi phải nói. Những chuyện ấy bây giờ vẫn còn đấy nhé.

NMTuong-1

LS. Nguyễn Mạnh Tường và hồi ký Un Excommunié xuất bản tại Pháp—1992

– Luật sư qua Pháp đã gần hai tháng nay, luật sư có theo dõi tình hình tại các nước Đông Âu không?

– Có chứ.

– Luật sư nghĩ sao?

– Mừng. Mừng lắm.

– Tình hình Việt Nam hiện nay thì sao?

– Khó khăn lắm.

– Phong trào đổi mới rồi sẽ tới đâu?

– Chưa biết được. Nhưng có điều chắc chắn là sẽ không có gì đổi mới cả nếu chưa có dân chủ, trước hết là chưa tôn trọng luật pháp. Vì luật pháp không anh minh cho nên có kêu gào đầu tư đến mấy cũng không có ai dám liều lĩnh đầu tư cả. Kinh tế vẫn kiệt quệ mãi.

– Tại sao cộng sản lại cho một người như luật sư sang Pháp?

– Tôi nộp đơn xin xuất cảnh đúng vào thời điểm họ tuyên bố đổi mới. Chứ nếu bây giờ, chưa chắc đã đi được.

– Luật sư nộp đơn xin xuất cảnh từ lúc nào?

– Năm ngoái. Hai tháng sau thì cầm được giấp phép của Việt Nam. Nhưng nộp vào Toà đại sứ Pháp thì phải chờ đúng tám tháng.

– Luật sư có ý định ở lại Pháp luôn không?

– Không. Tháng 12 tới tôi sẽ về lại. Trong thần thoại Hy Lạp có chuyện một vị thần chỉ mạnh mẽ khi đứng trên mặt đất, hễ ai nhấc lên khỏi mặt đất thì thành ra yếu ngay. Tôi nghĩ một người trí thức hay một văn nghệ sĩ cũng vậy. Phải ở trong nước, giữa những thử thách mới tìm ra được sức mạnh.

– Có một số anh em trí thức yêu nước, muốn về Việt Nam để canh tân đất nước, luật sư nghĩ là có nên hay không?

– Không. Cứ ở đây làm việc. Đừng về. Về sẽ bị kẹt.

– Tại sao?

– Tôi có nhiều kinh nghiệm về chuyện này. Thế hệ của tôi, bao nhiêu người tài giỏi, Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước… Về nước họ có làm được gì đâu ? Thì cũng có một vài đóng góp đấy, nhưng tôi nghĩ, hoàn toàn không tương xứng với khả năng của họ. Đó là chưa kể đến những người kém may mắn hơn. Như tôi chẳng hạn. Có làm gì được đâu?

– Lâu nay, luật sư có viết lách gì không?

– Có. Mấy chục năm qua, tôi hoàn thành được bốn công trình nghiên cứu. Một là “Lý luận giáo dục” (ở châu Âu từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18); hai là “Eschylle và bi kịch cổ đại Hy Lạp”; ba là “Virgile và anh hùng ca latin”; bốn là dịch vở kịch của Eschylle.

– Luật sư viết bằng tiếng Việt hay tiếng Pháp ?

– Tất cả đều bằng tiếng Việt. Dụng ý của tôi là để cho người Việt đọc. Tôi mượn những vấn đề trên để cho người Việt đặc biệt là những người lãnh đạo hiểu thế nào là con người, thế nào là dân chủ, tự do, thế nào là quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, v.v…

– Những quyển sách ấy có được in ra chưa?

– Chưa. Tôi có gửi lên Ban khoa giáo Trung ương. Người ta khen là nghiên cứu công phu. Nhưng đến nay không ai chịu in cả. Người ta bảo là không có giấy.

Nhìn đồng hồ thấy đã hơn 6 giờ chiều. Mùa đông trời tối sớm. Chúng tôi cám ơn luật sư Nguyễn Mạnh Tường để chấm dứt câu chuyện đã kéo dài hơn ba giờ liền. Và hỏi:

– Thưa luật sư, chúng tôi ghi âm buổi nói chuyện hôm nay với mục đích giữ làm kỷ niệm. Tuy nhiên không biết luật sư có đồng ý cho phép chúng tôi công bố những điều luật sư phát biểu chăng?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười dễ dãi:

– Các anh cứ tự nhiên. Những điều tôi nói toàn là sự thật cả.

– Sắp về lại Việt Nam, luật sư không sợ sao?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười to:

– Các anh nhớ là tôi đã 80 tuổi rồi. Tính theo tuổi ta là 81 đấy.

VN_NguyenManhTuong_02

Chúng tôi ra về, lòng phơi phới vui. Vui vì được gặp một người lâu nay mình ngỡ đã chết. Vui hơn nữa, vì thấy Nguyễn Mạnh Tường, cái tên tuổi mình từng kính phục từ thuở bùng nổ vụ Nhân văn Giai phẩm ở miền Bắc, sau bao nhiêu đoạ đầy, vùi dập, vẫn giữ nguyên cái sĩ khí của một người trí thức uy vũ bất năng khuất.

Ở Việt Nam giờ đây, còn được bao nhiêu người như thế nhỉ?

Hòa Khánh (Quê Mẹ)

Apple Park November 2017—Drone Tour


Vài Hình Ảnh Sinh Hoạt Đoàn PNLV—Hát Bình Phương K25

Happy Thanksgiving

il_fullxfull.1045109670_hx13

Cảm Tạ Của Gia Đình Anh Chị Trần Quang Minh K23

thumbnail

Irvine, California—Nơi Việt Cộng Mua Nhà

Autumn Glory—Paul Frederick

Sài Gòn Thập Niên 1970—Nhạc Xưa

Phân Ưu Cùng Anh Chị Trần Quang Minh K23

Card 7


PU-Alec-K23_750


CaoPho_Alec_23

Thư Mời—Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên

thumoi2

Kính gởi quý phu nhân, quý chị Phụ Nữ Lâm Viên bắc California,

Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên trân trọng kính mời quý phu nhân, quý chị vui lòng đến tham dự buổi sinh hoạt cuối năm, cuối nhiệm kỳ được tổ chức tại Hội Trường Whispering Hills Mobile Home Park với những chi tiết như sau:

 

 – Địa điểm: Whispering Hills Mobile Home Park
 – Thời gian: từ 10 giờ 30 sáng đến 2 giờ chiều ngày Chủ Nhật 12 tháng 11 năm 2017
 – Chương trình buổi sinh hoạt gồm có:
   1. Ban Chấp Hành Đoàn báo cáo tình hình sinh hoạt và các hoạt động đã qua thuộc nhiệm kỳ 2015-2017. 
   2. Đề cử hoặc bầu cử Chủ Tọa Đoàn điều khiển buổi bầu cử.
   3. Bầu cử trách vụ Đoàn Trưởng nhiệm kỳ 2017-2019.
   4. Quy định thời gian và thể thức bàn giao giữa hai Ban Chấp Hành mới và cũ.
   5. Dùng bữa trưa và trò chuyện.
   6. Những vấn đề khác ngoài chương trình (nếu có.)

 

Vì tính cách quan trọng của buổi sinh hoạt cuối nhiệm kỳ, xin quý phu nhân, quý chị vui lòng xắp xếp thời giờ tham dự đông đảo. 

 

Đặc biệt, xin quý phu quân, quý anh cựu SVSQ hết lòng giúp đỡ — chuyển thư mời này rộng rãi đến các diễn đàn, đến quý phu nhân, quý chị; Đồng thời, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các phu nhân của mình có thể tham dự dễ dàng. Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên cũng hân hạnh kính mời quý phu quân, quý anh cùng đến dự thính và ở lại dùng bữa trưa với chúng tôi. Xin cảm ơn quý phu quân, quý anh.

Trân trọng kính mời.
TM. BCH Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên bắc California
Đoàn Trưởng (2015-2017)
Nguyễn Kim Oanh, K30/1

Santa Rosa Fires Drone—Douglas Thron


Autumn Leaves—André Rieu

Vài Hình Ảnh Phiên Họp Ngày 24/9/17 của Hội Võ Bị Bắc Cali

1

2

4

3

5

Cảm Tạ của Gia Đình Niên Trưởng Nguyễn Văn Chấn K9

 

CamTa-F

CamTa-F1

 

Lonely Shepherd—Petruta Küpper

La Paloma—Vintage Esteban

Tang Lễ Niên Trưởng Nguyễn Văn Chấn K9—Thanh Nhàn & Vũ Thế Khanh K20


Tang Lễ CSVSQ Nguyễn Văn Chấn K9—Phạm Kim Vinh K19

Phân Ưu cùng Chị Cố Vấn

Card 7


caopho bac Chan-850

CaoPho-800

Phân Ưu Cùng Gia Đình Cựu Đại Tá Đỗ Ngọc Nhận K3

PNDoNgocNhan

MariaMadalena

Phân Ưu Cùng Bà Quả Phụ Võ Dinh K3/1

Card 7

10594339-CPFULL-Ong-VO-DINH

Cảm Tạ của Gia Đình cựu Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm Khóa 3

Hoang xuan lam_875

 

Cha Yêu—Quốc Vượng | Lâm Thuý Vân

5 Ngày Đi “Cruise”—Phương Hoa

Những năm gần đây, phong trào “đi Cruise” của người Việt Nam ở Mỹ và khắp nơi trên thế giới, kể cả bên Việt Nam, coi bộ khá thịnh hành. Nhưng đối với vợ chồng tôi cách giải trí này vẫn còn xa lạ lắm, dù tôi đã từng “nghe ké” rất nhiều về chuyện đi ngoạn cảnh bằng tàu thủy qua bài viết của các “du lịch gia”.

Người viết và ông xã trên tàu Carnival Imagination

Năm vừa rồi, sau khi nghỉ hưu, “cái nhà” của tôi coi bộ không khỏe. Ăn Tết Đinh Dậu xong tôi bàn với ông tìm một chuyến du thuyền ra biển để “xả xui”, may ra tốt hơn cho sức khỏe nhà tôi. Ông xã dễ dãi đồng ý ngay. Ừ thì đi. Coi như là ăn mừng kỷ niệm năm chục năm ngày cưới sớm hơn… mười hai tháng. Chàng đùa.

Nghe thế tôi muốn đi ngay. Nhưng mãi đến nay tôi mới kiếm được chuyến du lịch đường biển ngắn năm ngày, qua Mễ Tây Cơ.

Tàu khởi hành từ bến cảng Long Beach, California, nên những người sống ở Nam Cali rất may mắn, mua vé xong chỉ chờ ngày lên tàu. Chúng tôi ở miền Bắc, phải xuống “Tiểu Sài Gòn” mới đi taxi ra bến cảng. Tôi xếp thời gian đặt vé máy bay cùng ngày tàu khởi hành để khỏi mất công ở khách sạn. Xin ghi lại đây vài kinh nghiệm và kỷ niệm của chuyến hải hành, hầu chia sẻ với quý độc giả ai có ý định đi du thuyền ngắm cảnh trong tương lai. Bắt đầu bằng chuyện taxi.

– Uber đã lấy “Job” của người đồng hương taxi

Tôi tuy ở miền Bắc nhưng rất thường bay xuống Nam Cali, mỗi năm ít nhất vài lần, khi thì dự lễ phát thưởng Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo, khi thăm bà con, tham dự các việc quan, hôn, tang, tế của bạn bè. Thời gian qua có người giới thiệu cho tôi một tài xế taxi đồng hương rất vui vẻ dễ mến. Hẹn là anh đến đúng giờ, tôi xuống máy bay ra cổng là anh có mặt. Thường khi làm hẹn tôi hỏi giá trước và chuẩn bị sẵn số tiền cộng thêm chút tiền “tip”, đến nơi là đưa cho anh rồi xuống xe. Để phòng hờ khi cần thiết, tôi có mở một tài khoản với công ty Uber “Taxi trên ứng dụng” trong điện thoại, nhưng chưa bao giờ tôi đi xe họ.

Lần này sau khi đặt vé chuyến “Cruise”, tôi tò mò lấy điện thoại bấm thử Uber thì thấy từ phi trường đến cảng Long Beach 12 miles, họ cho cái giá $15. Ông xã tôi cản, thôi em, mình hẹn anh taxi quen cho có tình nghĩa trước sau, dù anh ấy có tính hơn Uber chút đỉnh cũng được. Tôi nghe lời gửi tin nhắn cho anh đồng hương làm hẹn khứ hồi. Từ phi trường ra cảng, rồi lúc về từ cảng đưa chúng tôi lại phi trường. Tôi hỏi giá để chuẩn bị tiền như mọi khi, thì anh tính cho tôi giá cao“gấp ba lần” giá của Uber. Tôi giật mình, nói nhẹ nhàng nhờ anh xem lại có nhầm địa chỉ hay không vì đường đi chỉ có 12 miles, và Uber tính giá khác xa. Anh cũng… rất nhẹ nhàng giải thích, vì anh phải chạy từ nhà ra phi trường, từ phi trường ra bến cảng, rồi từ bến cảng phải chạy về! Ồ tôi hiểu rồi! Tôi nói, và chân thành xin lỗi anh.

Ngày đi, sau khi máy bay hạ cánh, trên đường ra cổng tôi bấm vô Uber, cho địa chỉ đến bến cảng. Một cái danh sách tài xế hiện lên,và tôi chọn ngay chiếc Toyota Camry có đăng kèm hình một thanh niên Mỹ tên David nằm đầu tiên trong danh sách. Thú vị thay, hệ thống internet tự động nối máy cho tôi với tài xế. Anh ta nói tôi biết hiệu và màu xe để tôi dễ nhận, hỏi tôi cổng ra, và nói năm phút nữa sẽ tới. Tôi vừa… cà kê cho biết cổng ra, nói màu áo quần của chúng tôi đang mặc thì David đã thắng xe cái rẹt ngay trước mặt!

Trên đường ra bến cảng, tôi hỏi chuyện David cậu sinh viên đại học làm thêm nghề tài xế Uber, và vô cùng ngạc nhiên khi khám phá ra sự tuyệt vời của Uber. Lý do mà Uber “giật khách” của các taxi là sự nhanh chóng và giá rất rẻ, còn rẻ hơn cả Shuttle của chuyến tàu du lịch. David nói “bộ chỉ huy” Uber quản lý và theo dõi đường đi nước bước của các tài xế nhân viên. Trong lúc làm việc, điện thoại cài trên xe tài xế được mở online. Có khách cần, Uber kết nối cho liên lạc ngay với tài xế nào đang ở gần nhất hiện lên trong hệ thống. Hôm ấy David chở người đến phi trường vừa quay xe về thì được kết nối với tôi, cậu lập tức trở lại. Tiện lợi vô cùng. Tôi lẩn thẩn nghĩ, không biết rồi đây trong tương lai khi Uber ngày càng thịnh hành, thì công ty taxi và các taxi tự do như anh tài xế Việt tôi quen sẽ ra sao.

– Ngày Thứ Nhất: Lên Tàu, gặp gỡ con gái người tử sĩ

Theo thông báo, tàu sẽ khởi hành lúc 5:30 chiều. Nhưng chúng tôi đến cảng mới hơn11 giờ sáng,đã có nhân viên đón nhận hành lý,nói sẽ đưa qua check cổng an ninh dùm, rồi đem đến tận phòng. Chúng tôi rảnh taythong dong chụp vài tấm hình đầu tiên. Chiếc tàu to đến nỗi không thể nào thu hết vào ống kính, nhà tôi bèn chạy vào trạm quan sát nhờ người nhân viên trực chụp dùm một tấm rồi cùng tôi vô cổng xét an ninh. Sau đó lên tàu làm thủ tục nhận phòng. Tàu rộng thênh thang, cao14 tầng với nhiều trung tâm, hồ bơi, sòng bài, nhà hàng,khu giải trí,shopping, trung tâm thể dục…xen lẫn với nhiềudãy phòng ngủ nên phải mất một thời gian chúng tôi mới tìm được phòng của mình. Hai vali hành lý đã nằm sẵn trước cửa.

Phòng rất sạch sẽ, đầy đủ tiện nghi, có bàn ghế ngồi trang điểm, bàn ăn, TV và két sắt an toàn. Cửa sổ“Oceanview” thật tuyệt. Nhìn ra ngoài thấy nước biển xanh lơ êm ả lặng lờ vì tàu đang đậu. Phòng tắm cũng rất thoải mái, sạch sẽ thơm tho, nếu đem so sánh thì không thua những phòng ngủ cỡ 4 sao trên bờ. Tờ chương trình cho ngày đầu tiên được đặt sẵn trên bàn. Chúng tôi tắm rửa nghỉ ngơi một lát, rồi dậy “diện đồ đẹp” đi lên nhà hàng Lido ở tầng10 dự bữa trưa đầu tiên.

Thức ăn tự chọn của nhà hàng Lido thật là đa dạng và phong phú. Hôm nay đặt biệt có nhiều món Ý như mì xào, cá chiên bột, bò xào thập cẩm rosemary, thêm bít tết của Mỹ. Ăn xong, chúng tôi bắt đầu đi dạo “Get to know your ship” theo lời khuyên, để khám phá các nơi trên tàu, chuẩn bị cho những bước tiếp theo lịch trình trong ngày. Nơi đây còn có 24 giờ pizza và nhiều món khác như bít tết, Carnival Deli, Swirl Soft Serve sẵn sàng chờ đợi những ai cảm thấy cái bao tử đòi hỏi trong đêm khuya hay sáng sớm, khi mà các bữa chính chưa sẵn sàng. Chúng tôi cũng tìm được, buổi trưa ở tầng 10 có “Guy’s Burger Joint” là món Berger tự chọn nhân cho mình,và “Chef’s Choice Italian” món ăn Ý rất lạ. Dinner thì có các nhà hàng Pride Dining Room, Spirit Dining Room trên tầng 8, và hàng chục bar rượu với các giàn nhạc quy mô. Giữa khoang tàu tầng 10, là khu vực hồ bơi, nhiều hồ nước nóng spa xoa bóp, nước xoáy ào ào bọt văng tung tóe. Mới mấy giờ đầu mà nơi đây đã rộn ràng, người lớn trẻ em lớp tắm lớp bơi lớp nằm phơi nắng trên những dãy ghế.

Nhìn lên thấy còn mấy tầng trên cao ngất ngưởng, tôi lôi ông xã dắt tay chàng bắt trèo bộ lên cầu thang chứ không đi thang máy. Vừa trèo vừa hì hục thở, cuối cùng chúng tôi cũng leo tới trên boong, tầng 14, ở phía đầu tàu. Đuôi tàu xa tít mù tận phía bên kia. Gió thổi lồng lộng trên boong. Phó mặc mái tóc đã sấy chải kỹ càng cho gió tốc, tôi đứng tựa vào thành tàu hít từng hơi dài, cố nhét bầu không khí trong lànhvào cho đầy hai buồng phổi. Cả khu vực này là công viên với sân cỏ (giả) xanh rờn, có con đường lớn dành cho người chạy bộ, mỗi vòng khoảng chừng mười lăm phút. Nhiều người đang chơi golf trên cái sân mini giữa bãi cỏ. Đi dạo mấy vòng quanh công viên, thấy đã sắp đến giờ tàu ra khơi nên chúng tôi phải trèo xuống về phòng để chuẩn bị.

Hồi trưa trước lúc ra ngoài tôi tiện tay lấy ít tiền lẻ bỏ lên bàn, ghi vào tờ giấy chữ “Tips” đặt lên đó để cho bồi phòng ngày mai. Không ngờ trên tàu họ dọn phòng hai lần/ngày. Khi chúng tôi trở về thì gặp người bồi phòng vừa đóng cửa bước ra. Chúng tôi chào chàng trai nhanh nhẹn vui vẻ, vừa nói vài câu thì nghe loa thông báo mọi người phải có mặt ở sảnh đường để họp với thuyền trưởng.

Chúng tôi được chào đón trước cửa và đưa vào ngồi trong đại sảnh chờ thuyền trưởng đến. Bên trái tôi là một phụ nữ Mỹ trắng, hai tay cô đeo hai chiếc vòng chống ói. Tôi chào làm quen, hỏi có phải cô thường say sóng. Cô ta cười chào lại:

– Tôi bị say sóng ghê lắm, ngồi xe hơi cũng ói đến mật xanh, nếu tôi tự lái thì không sao. Nhờ những chiếc vòng này mà từ trưa đến giờ tôi có thể ăn uống đi đứng bình thường như mọi người. Cô đưa hai tay cho tôi coi.

Nói chuyện một lúc, thì ra phòng cô cùng khoang với chúng tôi. Vậy mình là hàng xóm rồi. Tôi đùa. Cô tên Kathy làm nghề y tá, đến một mình từ Arkansas. Anh chồng nhường cô đi chơi giải trí vì việc làm của cô căng thẳng, còn anh ở nhà trông hai đứa con nhỏ. Cô có vẻ cảm tình vì biết tôi là người Việt. Khi Kathy nói ba cô là một bác sĩ quân y Hoa Kỳ đã từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, tôi kêu lên thích thú.

Nhưng tôi chưa kịp hỏi thêm thì thuyền trưởng Pierluigi Lanaro tới, nên cuộc trò chuyện đành bỏ dở. Sau khi tóm tắt điều lệ và dặn dò những việc cần thiết để giữ an toàn cho bản thân và mọi người trên tàu, du khách được chia làm nhiều nhóm theo số tầng của khoang thuyền và khu vực phòng ngủ. Chỉ có hai chúng tôi là dân “đầu đen” trong nhóm đủ sắc dân này. Và suốt cuộc hải hành chúng tôi không gặp người Việt nào, cho đến khi lên bờ chờ xe Uber nhà tôi có gặp và trò chuyện cùng một vị HO cư ngụ ở Nam Cali. Tiếp đến, người trong thủy thủ đoàn đưa chúng tôi lên boong chỉ dẫn cách sử dụng áo phao phòng khi hữu sự. Kathy cũng ở trong nhóm, nhưng cô đứng cách xa nên dù tôi nôn nao muốn hỏi thăm về ba cô mà không thể bắt chuyện được.

Đúng 5:30pm tàu nhổ neo, kéo còi rời bến. Tôi xí xọn rủ ông xã trở về phòng thay đồ khác, trang trọng hơn, cho bữa tối đầu tiên ở nhà hàng Pride Dining Room trên tầng 8 theo lịch hẹn 6 giờ khi tôi đặt vé.

Đội ngũ nhân viên mặc đồng phục đứng nghiêm trang tại cửa nhà hàng đón chào chúng tôi với vẻ nồng ấm, đưa đến tận bàn, và trang trọng kéo ghế mời ngồi. Tôi thầm nghĩ, thật không uổng công chúng tôi “ăn diện” lịch sự. Điều thú vị là, bàn này họ “book” cho chúng tôi suốt tất cả các buổi dạ tiệc của chuyến đi. Khung cảnh nhà hàng đẹp lung linh huyền ảo, buổi trình diễn mở màn chào đón vui nhộn của đội ngũ đầu bếp, nhiều món ăn thật lạ mắt và quá ngon, cộng thêm chút men nồng của ly cocktail, làm cho chúng tôi có cảm giác như là đang đi… lạc vào động thiên thai trong huyền thoại.

Ăn xong chúng tôi ra ngoài rồi lại trèo lên boong tầng 14 lần nữa, để tiêu bớt số năng lượng vừa nạp vào hơi quá tải vì thức ăn ngon. Nhưng lần này đi bên phía đuôi tàu, khu vực dành cho sân chơi và trượt nước của trẻ em. Vì còn trong giờ ăn nên ở đây vắng vẻ. Tàu đã khá xa bờ, chạy thật nhanh vì trời yên biển lặng. Tôi dạo quanh, mải mê ngắm cảnh trời nước mênh mông dưới ánh chiều tà, và quên mất chàng “người dưng khác họ”của tôi hết một lúc. Đến chừng quay lại thì không thấy chàng đâu. Đi hết mấy vòng tìm kiếm, cuối cùng tôi bắt gặp anh đứng lặng lẽ phía sau đuôi tàu. Tay vịn thành lan can, mắt anh mơ màng dõi về hướng xa xăm với vẻ thất thần. Tôi bước lại thật gần anh mới giật mình như sực tỉnh:

– Đứng đây nhìn cảnh biển nước bao la xa tít mù khơi không thấy bến bờ, anh chợt nhớ lại cái cảm giác lần vượt biên ngày ấy. Thật là kinh hoàng! Chiếc ghe câu bé xíu chở những mười bảy mạng người, lắc lư trên sóng, mong manh như chiếc lá…

Nghe anh nói tôi chợt lạnh mình. Ôm vội lấy anh mà rưng rưng nước mắt. Nhớ lại cái ngày anh rời nhà xuống thuyền ra đi bỏ lại tôi và bốn đứa con thơ dại, tôi đã sợ hãi đến mức nào. Hàng ngày bị triệu tập lên đồn công an tra hỏi. Họ bắt cả đám thân nhân có người vượt biên ngồi trước cửa cái cầu tiêu thúi hoắc viết tường thuật, chứ không cho ngồi trong phòng. Vừa viết tôi vừa tự trách mình sao lại đồng ý để anh đi, giờ này bóng chim tăm cá không biết sống chết thế nào, còn bị hành hạ tinh thần, bỏ bê con cái ở nhà khổ sở. Nhưng nhớ lại các con tôi thường nói, nhờ sự hy sinh của ba mà chúng con mới có ngày hôm nay, tôi thấy sự liều lĩnh của anh rất là xứng đáng.

– Cũng may nhờ ơn phước thiêng liêng, anh đã may mắn đến được bến bờ tự do, nếu không thì em và các con sẽ chẳng biết ra sao ngày đó, và giờ này mình đâu có cơ hội được đứng nơi đây phải không anh. Tôi nói.

Anh cũng ôm lại tôi thật chặt. Nỗi ám ảnh sóng nước hiểm nguy ngày trước hiện về đã khiến cho anh xúc động gần như nghẹn lời. Cuối cùng anh khẽ nói: – Đúng lắm, trải qua bao nhiêu sóng gió mà mái gia đình nhỏ của chúng ta vẫn còn giữ được đến ngày nay, tương lai các con sáng lạng, cũng là nhờ ơn phước Bề Trên.

Đứng im lặng bên nhau một lúc thật lâu, chúng tôi lại dắt tay trèo xuống, về phòng chuẩn bị đi xem diễn kịch. Buổi tối, chúng tôi đi xem“Welcome Aboard Show” là sô chào mừng, ở sân khấu Dynasty Lounge tầng 8 do Jase, giám đốc chuyến hải hành điều khiển. Đến gần 11 giờ, chúng tôi lên tầng 9 vô “Illusions Nightclub” bar gọi hai ly sâm banh và xem đêm dành cho phụ nữ “Ladies Night” do DJ Mad Mike dẫn chương trình, rất hay và vui nhộn. Chúng tôi về đến phòng là đã nửa đêm, buồn ngủ ngất ngư nhưng niềm vui thì đầy ắp theo vào cả trong giấc ngủ. Thật là một bắt đầu tuyệt diệu.

– Ngày Thứ Hai: Lênh Đênh Trên Biển

Đúng 6 giờ, tôi đánh thức ông xã dậy thay đồ thể dục, lò dò trèo lên boong chạy bộ nửa tiếng rồi về phòng mặc đồ lên tầng 10 ăn sáng để còn chuẩn bị cho các hoạt động trong ngày. Đó là một ngày dày đặc các hoạt động vui chơi trên tàu. Có đến hàng trăm chương trình giá trị như Live Show with Jase, Art Guess The Price có thưởng tại phòng tranh, Raffle xổ số, $1,000 Bingo lô tô, Thriller Dance Class… Nhiều lắm, nhưng chúng tôi chỉ tham gia được một số tiết mục vì không đủ thời gian.

Sau khi ăn trưa ở Spirit Dining Room, chúng tôi lấy hai ly nước trái cây và trèo lên tầng 10 ngồi tắm nắng trên dãy ghế đặt dọc theo hai bên thành tàu quay mặt ra phía hồ bơi. Một phụ nữ mặc đồ rất “mát mẻ”che mặt bằng chiếc mũ rộng vành nằm phơi nắng trên chiếc ghế bên cạnh tôi. Khi cô ta lấy mũ ra, tôi vui mừng thấy đó là Kathy, cô y tá tôi quen ngày trước. Chúng tôi bắt đầu tán chuyện. Đang nói bỗng Kathy nhìn tôi và hỏi:

– Chị ở Việt Nam có biết nơi gọi là Long Khanh? Kathy đọc không dấu nên phải mất một hồi lâu, tôi bắt cô lập đi lập lại đánh vần từng chữ mới nhận ra đó là Long Khánh. Tôi giật mình:

– Biết chứ! Nơi đó thuộc miền Nam, gần Sài Gòn, làm sao cô biết chỗ này?

– Bố tôi đã tử trận ở đó. Cô nói, mắt nhìn vào khoảng không, vẻ mặt rất buồn. Năm năm trước tôi và mẹ có qua Việt Nam tìm đến vùng ngày xưa bố tôi đóng quân…

– Kathy, tôi vô cùng xin lỗi! Tôi nói trong xúc động, vói tay vỗ vào bờ vai trần của cô và an ủi: – Cuộc chiến Việt Nam thật là tồi tệ. Chồng tôi cũng là quân nhân thời đó, sau cuộc chiến anh đã liều thân vượt biển đến Philippines,và cuối cùng được sang Mỹ định cư.Có lẽ chuyện nhà tôi cũng từng là quân nhân trong chiến tranh Việt Nam làm Kathy thấy gần gũi hơn. Cô kể tôi nghe thêm về cha cô. Ngày ông rời Mỹ sang Việt Nam Kathy mới lên năm tuổi.

– Ba thương tôi lắm. Tôi còn nhớ ngày tiễn đưa ở sân bay ba ôm hôn tôi, mắt ba ngầu đỏ, dặn tôi ở nhà phải học giỏi, và ba hứa năm sau sẽ trở về. Nhưng rồi một năm sau người ta đưa ba về trong chiếc quan tài có phủ lá cờ Mỹ! Mẹ tôi thì ngã bệnh,còn tôi vì cú sốc nên bị chứng trầm cảm nặng trong nhiều năm. Do vậy mà khi lớn lên dù bớt bệnh, tôi vẫn không thể học nổi bác sĩ như lời tôi từng hứa với ba, lớn lên tôi sẽ làm bác sĩ như ba. Cố gắng lắm tôi cũng chỉ học xong được y tá!

Tôi bỗng cảm thấy muốn khóc. Trường hợp Kathy sao mà giống tôi quá thể! Ba tôi ngày xưa cũng yêu tôi vô vàn! Người cũng mất lúc tôi bắt đầu đi học, và tôi từng hứa với ba sau này lớn lên tôi sẽ làm nghề dạy học như ba. Nhưng rồi vì chiến tranh tôi đã bỏ học nửa chừng. Cho nên khi sang Mỹ có cơ hội dù tuổi không còn trẻ tôi vẫn ráng vào đại học để trở thành cô giáo cho tròn lời hứa với ba và mơ ước của tôi. Quả thật đã là con người thì dù có khác màu da sắc tóc, trái tim người cha người mẹ người con nào trên trái đất cũng chứa đựng lòng thương yêu ngút ngàn. Ngồi bật dậy, tôi bỏ hai chân xuống đất quay về phía Kathy và nói, mắt tôi đỏ hoe:

– Ôi Kathy! Ba tôi cũng mất khi tôi còn rất nhỏ. Cô còn khá hơn tôi là đã thực hiện lời hứa với ba sớm, dù không phải là bác sĩ nhưng y tá cùng ngành là tốt rồi. Còn tôi mãi đến lúc làm… bà nội mới hoàn thành được lời hứa với ba tôi, làm cô giáo.

Kathy nhìn tôi với vẻ mặt buồn đồng cảm. Một lát cô tiếp tục tâm sự. Sau ngày ba cô tử trận, mẹ cô có nhiều ác cảm với người Việt Nam, nếu không nói là rất ghét. Thông tin sai lạc từ những người phản chiến, TV, báo chí, là nguyên nhân. Lý do nữa là vì bịnh trầm cảm của Kathy ngày càng tồi tệ làm mẹ cô đau lòng, oán trách người Việt Nam. Nhưng về sau Kathy lớn lên, đọc được bài viết của các cựu chiến binh Mỹ, những người sống trở về thì cô và mẹ đã hiểu ra, nên mới cùng nhau đi Việt Nam. Kathy cho biết, tuy chuyến đi đó không gặt hái gì nhiều, nhưng phong cảnh và sự hiền hoà của người dân Việt Nam đã dành được cảm tình của hai mẹ con.

Tiện dịp, tôi kể cô nghe về bài viết Bảo Tàng Của Người Lính Bị Bỏ Quên, giải Nhất Viết Về Nước Mỹ Việt Báo của tôi, nói bản tiếng Anh hiện đăng trên trang nhà Viện Bảo Tàng Marysville, nếu cô muốn đọc để hiểu thêm về cuộc chiến Việt Nam ngày trước tôi sẽ đưa cho. Kathy hào hứng xin tôi địa chỉ trang web. Vì không có bút mực, tôi đánh máy địa chỉ trang web Bảo Tàng vào điện thoại cho cô. Kathy rất vui, hứa sẽ tìm đọc và đưa mẹ cô cùng đọc khi về nhà. Tôi còn hẹn cô sau dạ tiệc tối nay sẽ cùng nhau đi dự buổi hòa nhạc, “80S Music Trivia Party” do giám đốc Jase điều khiển.

Khi trở về phòng để nghỉ trưa, vừa bước vào cửa, ông xã tôi bỗng phá ra cười ngặt nghẽo. Trên giường ngủ, ra mền gối đã thay mới, sắp xếp thẳng băng như hôm qua chúng tôi mới đến. Nhưng lần này ở đuôi giường có đặt thêm một đôi thỏ dính liền nhau đầy đủ tay chân, tai to mũi vểnh mắt đen, thắt bằng tấm khăn lông trắng nuốt. Có lẽ cậu bồi phòng hôm qua gặp mặt tưởng chúng tôi là “tân lang tân giai nhân” đi hưởng tuần trăng mật, nên đã tặng cặp thỏ trong tư thế “tình hết biết” này. Cho đến cuối chuyến đi, mỗi ngày trên giường chúng tôi đều có đôi thú dễ thương thắt dính liền nhau, khi thì cặp ếch, lúc đôi chim ngộ nghĩnh.

Tối hôm thứ nhì là đêm dạ tiệc “Cruise Elegant” quan trọng nhất của chuyến đi. Họ yêu cầu mọi du khách phải ăn mặc lịchsự, không được mặc áo thun, quần sọt, mang sandals hay áo quần xuề xòa. Nếu ai không mang theo “đồ lớn” có shop cho thuê đồ dạ hội trên tàu. Và đó quả là một buổi tiệc nhớ đời. Nhiều món ăn lạ tôi không nhớ tên và đồ biển thì ngon đặc biệt, với bài nói chuyện vui của thuyền trường, giàn nhạc chơi nhộn nhịp, ban nhiếp ảnh đến từng bàn chỉ cách tạo dáng chụp hình kỷ niệm cho mọi người, và đội vũ “nhà bếp nhà hàng” thật là thú vị.

– Ngày Thứ Ba: Cập Bến Catalina

Catalina là một đảo nhỏ, nguyên thủy của người da đỏ bản xứ, thuộc tiểu bang California, với chiều dài chỉ 35 km và chiều rộng 13 km. Nhưng đây là điểm dừng của nhiều tàu thuyền du lịch vì lịch sử của nó. Trên đảo có rất nhiều chuyến du lịch ngoạn cảnh độc đáo, như đu dây ngang qua hẻm núi sâu, lên tàu thuỷ coi cá heo và các loại thủy sản, thăm sòng bài cổ kính… Chúng tôi đặt tour đi thăm thành phố Avalon, tháp William Wrigley và ngồi Thuyền Thủy Tinh xem cá lội dưới biển. Đường lên tháp Wrigley là con dốc đứng trèo mệt hụt hơi. Vườn Botanic Garden có rất nhiều loại hoa lạ và xương rồng quý hiếm, dù mệt mỏi ai cũng cố gắng dừng lại chụp vội vài tấm hình. William Wrigley là người sáng lập loại kẹo cao su có vị trái cây của Mỹ nổi tiếng trên thế giới đến ngày nay. Ông từ Philadelphia đến Catalina và yêu thích phong cảnh nơi này, ông bỏ tiền xây dựng nhiều cơ sở hữu ích cho cộng đồng, mua tàu chạy bằng hơi nước, xây Casino, trồng cây xanh và nhiều hoa lạ, tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân trên đảo. Sau khi viếng tháp và vườn xương rồng, tàu đưa chúng tôi xem cá cũng đầy thích thú. Đáy tàu thủy tinh, chạy ra khơi gặp đủ loại cá bơi lội dày đặc dưới nước nhìn thật đã mắt.

Buổi chiều về tàu sớm, chúng tôi vào trung tâm mua sắm lựa vài món đem về làm quà, rồi ghé vô sòng bài kéo máy. Gặp may mắn, chúng tôi kéo trúng “lô độc đắc” tới cả chục nghìn… pennies. Ngồi chơi thêm lúc nữa, thua lại hơn một nửa thì tới giờ cơm tối nên phải ra đổi tiền mà về. Thật vui, vì dù sao thì cũng gọi là…thắng.

– Ngày Thứ Tư: Cảng Ensenada, Mễ Tây Cơ

Trong cái danh sách giới thiệu các điểm du lịch trên đảo Ensenada,Mễ Tây Cơ, tôi chọn một chuyến đi có giá cả nhẹ nhàng nhưng địa danh đến thì nghe ngồ ngộ. “Water Sproud”, Nước Mọc. Tại một góc biển, có dòng suối tự nhiên nước từ trong lòng núi phụt lên từng cây cao như mái nhà. Từ chỗ đậu xe đến nơi Nước Mọc, du khách phải đi ngang qua những dãy hàng hóa và thức ăn bày bán dọc hai bên đường. Người ta kêu réo, mời chào inh ỏi, có người còn đem thức ăn ra mời du khách ăn thử miễn phí. Ai nấy tha hồ mua sắm vì thứ gì cũng đẹp mà rất rẻ.

Tôi đã biết Mễ Tây Cơ là một nước nghèo nên nhiều người dân vượt biên giới vào Mỹ tìm phương kiếm sống và gửi tiền về giúp gia đình. Hôm nay ngồi trên xe ngoạn cảnh vòng vòng Ensenada, tôi mới thấy hết cái nghèo của họ. Đây là thành phố biển, tiện lợi cho các du thuyền từ Mỹ đổ khách du lịch vào nườm nượp. Nhưng nhìn quang cảnh hai bên đường sao mà nghèo xác xơ. Nhà cửa nhỏ xíu, đa số là những căn nhà cỡ chừng bốn, năm mét vuông, thấp lè tè, nhem nhuốc cũ kỹ. Có rất nhiều nhà xây mới nửa chừng nhưng đã cũ mốc, hoặc chỉ xây tường mà chưa có mái, hay một vài bên vách đứng chơ vơ, rồi có chỗ chỉ vỏn vẹn mảnh nền để đó cho cỏ mọc, tất cả đều nhìn cũ kỹ như nhà từ thời tiền sử còn sót lại.

Bà hướng dẫn viên gốc Mễ giải thích, người dân ở đất nước này thường tự xây nhà cho họ. Khi để dành được tiền họ mua chút đất, rồi kiếm tiền mua gạch đá xây dần dần từng phần cho đến chừng nào xong, có nhà vì nghèo quá nên không bao giờ xây xong, phải chờ đến đời con cháu tiếp tục. Ở Hoa Kỳ, tôi từng ngạc nhiên thấy nhà cô bạn Mễ bốn gia đình mười mấy trẻ con cùng bà mẹ già sống chung vui vẻ, nấu nướng tiệc tùng hát ca trong căn nhà ba phòng ngủ. Bây giờ thì tôi đã hiểu.

Bến cảng Ensenada rất sâu, du thuyền cập bến sát cầu tàu. Du khách chỉ bước lên bờ là thuộc về nước Mễ. Vậy mà khi trở lại Mỹ, an ninh rà soát kỹ vô cùng. Phải kê khai tất cả những thứ từ Mễ mang về. Thức ăn hay trái cây đều bị cấm tuyệt.

Chúng tôi trở về tàu khi trời còn nắng nên vội thay đồ chạy ra hồ bơi. Đây là lần bơi duy nhất trong chuyến đi. Ít nhất cũng cho “đáng công” đi mua mấy bộ đồ tắm, tôi nói với ông xã. Bữa tối sau cùng trước lúc tàu nhổ neo về lại California cũng khá thịnh soạn. Nhưng chúng tôi ăn vội vàng để tận dụng thời gian đi xem văn nghệ các nơi. Tới Comedy Club coi Doug Williams diễn hài “Spare The Rod”, Thương-Cho-Roi-Cho-Vọt, cười một trận ngả nghiêng, rồi chạy qua Shangri La Loinge xem thi hát Karaoke có thưởng, sau cùng xuống tầng 8 vô Mirage Piano Bar kêu hai ly rượu đỏ ngồi xem Ewart điều khiển chương trình nhạc yêu cầu. Rượu vào…hành động ra, có hơi men chúng tôi cũng cao hứng vỗ tay nhịp chân ầm ỹ, lắc lư cùng mọi người, và cảm thấy mình như đang trong thời kỳ tuổi trẻ. Rất vô tư, quên hết mọi phiền toái thường ngày.

Tuy mãi đến quá nửa đêm mới về phòng ngủ, lòng vẫn còn tiếc nuối vì quá nhiều chỗ nhiều nơi chưa đi hết.

– Ngày Thứ Năm: Về Lại Cali

Buổi sáng chúng tôi thức dậy tàu đã cập bến Long Beach. Tuy là ngày cuối trêntàu, các nhà hàng vẫn mở cửa phục vụ khắp nơi, với nhiều loại thức ăn đặc biệt ngon và có nhiều món khác với thực đơn của mấy ngày trước. Người ta rộn ràng ăn uống trước khi rời tàu. Hành lý ai đặt trước cửa phòng đều có nhân viên đem đi check an ninh rồi đưa lên bờ trước, khi rời tàu chỉ việc đi nhận lại. Đáng tiếc, ngày cuối tôi đã không gặp lại Kathy để chào tạm biệt. Không biết cô còn nhớ đến tôi.

Chút kinh nghiệm muốn chia sẻ với các bạn, là trong suốt thời gian đi tàu chúng tôi ăn uống kiểu…thả giàn, thứ gì cũng thử, chứ không kiêng cữ như lúc ở nhà. Nhưng lại không bị tăng cân, có lẽ nhờ trèo lên trèo xuống cầu thang mười mấy tầng lầu ngày mấy bận, cộng với sáng nào cũng chạy bộ trên boong, và canh giờ về phòng nghỉ trưa vài chục phút. Điều đáng mừng, nhờ bận rộn với chương trình dày đặc như thế, chàng của tôi hầu như quên mất mình là người bệnh, cái chứng Vertigo “lắc lư con tàu đi”, và tôi cũng quên mất sự lo âu về sức khỏe của anh. Có thể nói chuyến đi này là một món quà quý chúng tôi “tự thưởng” cho nhau, sau hơn bốn mươi chín năm khổ sướng chung đường.

Về nhà kể chuyện, cô con dâu tôi trầm trồ kiểu như người Mỹ: Wow! Ba má đi du lịch chuyến này thật đáng giá từng penny!

Các bạn nếu ai có ý định… hấp hôn, thì đưa nhau lên tàu đi một chuyến Cruise là lựa chọn tuyệt vời nhất.

Phương Hoa



 

Dance with My Father by Celine Dion—Larry Acang

Happy Father’s Day

T_anigif


Papa—Paul Anka | Uniart

Thương Tiếc Chị Diệu Huệ – Hà Thị Lang K18/1

15101_LuongCongCan

Phân Ưu cùng Bà Quả Phụ Hoàng Xuân Lãm K3/1

 

1082432-3-calla-lily-on-black-glass(1)

10584924-CP1P-HOANG-XUAN-LAM-1


 

H3

Khách Sạn 22—Khôi An

Lisa choàng dậy, ngóc đầu nhìn. Xe bus vừa đi qua Palo Alto Highschool, nghĩa là chỉ còn vài phút nữa thì tới trạm. Nó gạt cái chăn mỏng sang một bên, chống tay ngồi dậy. Bên cạnh, Ba vẫn đang ngủ, đầu dựa vào cửa kính, miệng hơi há ra. Trong giấc ngủ mà trông ổng cũng như đang lo lắng chuyện gì, đôi lông mày nhíu lại. Lisa lặng lẽ xếp cái chăn rồi nhét vào túi xách dưới chân.
Đèn trong xe bật sáng, tiếng nói quen thuộc từ chiếc loa tự động phát lên “Xe bus đang vào trạm Palo Alto Transit Center, trạm cuối của tuyến đường 22. Xin mọi người chuẩn bị xuống xe.” Trong khoảnh khắc, trong xe ồn ào hẳn lên với tiếng ngáp, tiếng ho, tiếng lôi kéo hành lý, tiếng càu nhàu. Ba nó dụi mắt lia lịa, gài lại áo ấm rồi khoác mấy túi đồ đạc lên vai. Xe ghé trạm rồi từ từ ngừng lại. Người ta đổ xô ra cửa, Lisa và Ba cũng hòa vào dòng người, xuống xe.
Lisa đút hai tay vào túi áo. Tháng Mười rồi, đứng ngoài trời đêm mà không dấu kỹ thì chỉ một lát là hai bàn tay nó lạnh như nước đá. Từ xa, hai con mắt khổng lồ, vàng rực của chuyến xe đi hướng Đông đã hiện ra sau lớp sương mỏng. Lisa thở phào, nó sắp được chui vào trong xe ấm áp…
Chuyến xe về Eastridge Mall cũng gần đầy người. Như thường lệ, hai ba con Lisa nhanh chân giành được băng ghế cuối. Nó ngồi sát cửa sổ, nhìn ra ngoài. Con đường El Camino Real ở khúc này là đẹp nhất vì đi ngang qua thành phố Palo Alto, nơi nó nghe nói rằng chỉ có những người giàu kinh khủng mới có nhà ở đó. Xe đang đi dọc theo khoảng đất rộng hút mắt với những cây thông thật cao, dọc hàng rào có treo những tấm hình rực rỡ về trường đại học Stanford. Cái trường này nó biết vì mùa hè rồi trong những ngày trời nắng ấm hai ba con nó có lang thang đi bộ từ bến xe bus vô đó. Nó mê cái bãi cỏ mênh mông, xanh rờn ở phía trước tòa nhà mái đỏ ngay giữa trường, nhìn xéo qua ngọn tháp cao có cái nóc tròn trông giống như cây viết khổng lồ. Nằm ở đó nhìn lên thì trời xanh biếc, cây xanh nõn nà, nhìn chung quanh thì ai cũng tươi tốt, mạnh khỏe, tự tin. Nó nghĩ cảnh đó chắc giống như ở thiên đàng. Nó mê bãi cỏ đó đến nỗi có lần buột miệng hỏi “Ba ơi, nữa lớn con xin vô học trường này, được không Ba?” Ba nhìn nó, miệng há ra mà không nói được tiếng nào, một lát sau ổng mới thốt nên lời “Ờ…ờ…được chứ con… Con ráng hết sức thì… chắc được…” Nghe nói vậy nhưng nó không tin tưởng lắm vì điệu bộ của Ba nó giống y hệt như lần nó hỏi “Ba ơi chừng nào Mẹ về? “. Chỉ khác là hồi đó nó mới sáu tuổi và chưa hiểu “chết” nghĩa là không bao giờ về nữa.
Áp trán vào khung kính lạnh buốt và nhớ lại, nó nghĩ là muốn vô trường Stanford thì nó phải có cây đũa thần. Mà cũng chưa chắc, vì nếu cây đũa chỉ cho một điều ước thì nó sẽ ước cha con nó có một nơi để ở. Nó rất sợ thời gian ngủ lang thang trên mấy băng ghế lạnh ngắt trong những công viên tối thui. Có những đêm trời mưa lâm râm, hai ba con nó nằm ngược đầu đuôi trên băng ghế, đắp chung tấm nylon. Tiếng mưa lơi lộp độp trên nylon làm nó không ngủ được, thêm nữa nó cứ sợ ngủ quên mà trời mưa lớn thì ướt hết sách vở ở trong cái backpack gối dưới đầu. Sau mấy đêm như vậy, giờ hễ thấy trời âm u chuyển mưa là hai lòng bàn chân nó tự nhiên lạnh ngắt.
Cũng may mà hai cha con nó khám phá ra Khách Sạn 22.
Đó là cái tên mà những người không nhà đặt cho tuyến xe bus số 22.
Buổi chiều hôm đó, Lisa cứ nấn ná trên bãi cỏ xanh của trường Stanford nên tới hơn 8 giờ tối mới lên xe bus 22. Hai cha con định đi về khu phía Đông San Jose kiếm chỗ ngủ để ngày mai Ba còn đi xin việc làm ở mấy cái chợ Á châu gần đó. Lên xe, nó ngờ ngợ vì thấy xe đông hơn hẳn những chuyến bình thường, và ai cũng mang nhiều đồ đạc. Một bà ngồi ở băng ghế trước còn có cả một cái xe đẩy chất túi xách, chăn mền. Hơn hai tiếng sau, xe ghé trạm cuối ở Eastridge Mall, nó thấy phần đông khách trên xe lại xếp hàng chờ chuyến xe đi ngược lại. Lúc đó, hai ba con nó mới hỏi thăm và biết là có ba chiếc xe bus chạy vòng vòng trên tuyến đường này cho tới sáng. Từ ngày đó, hai cha con nó gia nhập Khách Sạn 22.
Đây là tuyến xe duy nhất chạy suốt ngày đêm của quận hạt Santa Clara, cũng là tuyến đông khách nhất và chạy con đường dài nhất. Bắt đầu từ Eastridge Mall ở phía Đông thành phố San Jose xe chạy qua đường Tully, quẹo trái đường King, dọc theo đường Santa Clara qua downtown San Jose, nối qua đường Alameda, lên El Camino Real, chạy qua ba thành phố Santa Clara, Sunnyvale, Mountain View trước khi vào thành phố Palo Alto rồi ghé vô trạm chót.
Bây giờ thì Lisa rành lắm rồi. Nó biết rõ đi một chuyến xe thì phải trả hai đô la. Nhưng hầu hết những người trên Khách Sạn 22 đều dùng vé tháng, mỗi tháng bảy chục đô la. Valley Transportation Authority của quận hạt Santa Clara, mà mọi người gọi là VTA, thỉnh thoảng còn cho những người không nhà hoặc những người sắp mất chỗ ở một tấm vé dùng được trong ba tháng. Mấy tấm vé miễn phí đó cũng hiếm hoi như một chỗ ngủ trong những nhà tạm trú (homeless shelter). Dù sao, chỉ tốn bảy mươi đô la mà có phương tiện đi lại và chỗ ngủ trong cả một tháng dài, đối với cha con nó lúc này, là một sự may mắn và vô cùng quan trọng.

Dù đã lang thang không nhà gần năm tháng, Lisa vẫn không nghĩ hai cha con nó là người homeless. Nó thấy chữ “homeless” nghe buồn bã quá, và chỉ hợp với những người chấp nhận là từ nay về sau họ sẽ không có nhà ở nữa. Ba con nó là những người “between homes”, nghĩa là đang kiếm chỗ ở.
Hồi xưa, lúc còn Mẹ, gia đình nó cũng có “home” trong một khu chung cư rất dễ thương, ở gần cái công viên thật rộng. Cuối tuần Ba tập cho nó chạy xe đạp còn Mẹ thì trải khăn trên thảm cỏ xanh rờn và nướng thịt bay mùi thơm phức. Tới giờ thỉnh thoảng nó vẫn còn nằm mơ thấy Mẹ cười thật tươi dưới tàn lá xanh lấp loáng ánh nắng công viên, và khi tỉnh dậy nó gần như chắc chắn là trong mơ nó đã ngửi thấy mùi thịt nướng.
Ngày đầu tiên nó vô lớp Một, Mẹ nó còn dắt nó đi học, còn đứng lấp ló ngó chừng, khi thấy nó không khóc Mẹ mới đi làm. Ngày Giáng Sinh năm đó nó còn vẽ tấm hình có nó, Ba, và Mẹ đánh son đỏ chót thiệt là đẹp. Vậy mà chỉ vài tháng sau Mẹ vô nhà thương. Bữa cô Cindy, em của Ba, hớt hải chạy vô xin cho nó về thăm Mẹ, cô giáo nắm tay nó và nói “Poor baby” (tội nghiệp cưng). Đó là lần đầu tiên nó thấy Ba khóc, nước mắt chảy ròng ròng. Và đó cũng là lần chót Mẹ mở mắt ra nhìn nó.
Sau đó Ba con nó dọn về ở chung với cô Cindy và chú Ben. Những chuyện xảy ra trong vài năm sau khi Mẹ mất, Lisa chỉ nhớ lác đác, tựa như đầu óc nó lạc trong một giấc ngủ dài sau khi Mẹ ra đi. Nhưng những chuyện gì đã nhớ thì nó nhớ rõ, thí dụ như là nó mới vô lớp Bốn thì Ba bị đau lưng. Chú Ben nói tại Ba làm cực, khiêng nặng mà không đeo thắt lưng bảo vệ. Ba bịnh chưa hết thì chú Ben mất việc làm. Ngày chú tìm được việc làm ở xa, hai cô chú và mấy đứa con phải dọn đi. Cô Cindy ôm hôn nó và nói “Con ráng ngoan nha”. Giọng cổ nghẹn ở mũi, nó nghĩ cổ nói vậy để khỏi khóc chứ ở chung mấy năm trời, cổ biết lúc nào nó chẳng ngoan.
Từ đó, hai cha con dọn một qua căn phòng nhỏ xíu. Ba vẫn đau lưng rề rề. Ba thuờng phải nghỉ làm, nằm một mình trong căn phòng đóng cửa tối mờ. Một ngày kia đi học về nó thấy trước nhà dán một phong thư. Đem vô đưa Ba coi, Ba không nói tiếng nào. Mãi đến khi ăn xong bữa tối Ba mới lấy thùng dọn đồ đạc vô và nói mình không có trả tiền nhà tháng rồi, chủ nhà gởi thư bắt dọn đi.
Bữa đầu hai cha con tới Commercial Street Inn ở San Jose. Sau khi đứng chờ ở một hàng dài, tới phiên hai cha con nó, cô thư ký lắc đầu:
– Ở đây là nơi tạm trú của các bà mẹ có con nhỏ.
Ba nó nài nỉ:
– Con tôi cũng nhỏ nhưng mẹ nó chết rồi. Cô làm ơn!
Cô ta vẫn lắc đầu:
– Mỗi phòng có bốn, năm đàn bà, con nít ở chung, làm sao tôi cho ông vô? Mà không có ông, ai chịu trách nhiệm cho con bé?
Thấy cha con nó ngần ngừ, ngơ ngác, không biết đi đâu, cô thư ký thương tình cho nằm đỡ dưới đất ngay trong phòng chờ đêm hôm đó. Hôm sau hai cha con lại dắt nhau đi.
Ba dắt nó vô thư viện coi nhờ Internet và xin tài liệu để đi tìm những shelter (nhà tạm trú) khác. Được bà coi thư viện tốt bụng in ra cho một danh sách các shelter trong quận Santa Clara con Lisa mừng quá. Nhìn thấy tới mười chỗ trong danh sách, nó chắc là cha con nó sẽ tìm được một nơi ở tạm vài tuần. Nhưng coi vậy mà không phải vậy…
Tuần lễ đó, hai cha con nó chỉ được ngủ trong shelter có hai ngày vì ở đâu cũng đầy người, nếu tới sau sáu giờ thì chắc chắn không còn giường trống. Có những shelter chỉ dành riêng cho những người bị bệnh tâm thần, và chỉ có một shelter dành cho gia đình chịu cấp phòng cho cha độc thân và con nhỏ. Có lần nó hỏi tại sao quận Santa Clara có tới hai chỗ cho những người mẹ có con nhỏ mà không có chỗ nào dành cho cha với con nhỏ, cô thư ký suy nghĩ một chút rồi nói:
– Bởi vì hầu hết những người có con nhỏ đến nhờ giúp đỡ đều là đàn bà. Em thông minh lắm, nhưng rất tiếc tôi không giúp được em. Người ta đặt ra những chương trình để phục vụ số đông. Cha con em là trường hợp đặc biệt.
Nó thấy buồn nhưng chỉ nắm tay Ba và trả lời: Vâng, cha của con là người rất đặc biệt.
Chỉ có một câu vậy thôi mà cả hai người lớn, cha nó và cô thư ký, đều chớp mắt như muốn khóc.
Trong mấy tháng cha con nó ngày nào cũng vô thư viện tìm thêm tài liệu về những shelter rồi đi xin khắp nơi. Nhờ đọc nhiều nên nó biết được là cứ mỗi đêm ở trong quận Santa Clara có tới hơn năm ngàn người không nhà cần chỗ ngủ. Mỗi shelter thường chỉ có mấy chục phòng, và có những nơi chỉ mở cửa vào mùa Đông. Hèn gì mà cha con nó thường phải ghi tên chờ tới phiên, có khi cả mấy tuần mới được.
Thời đó, cứ sau bữa ăn trưa là hai cha con lo tìm chỗ ngủ. Đi mấy chuyến xe bus mới tới nơi, người ta hết chỗ, đứng ngẩn ngơ vài phút rồi lại ráng đoán xem chỗ nào còn chỗ, leo lên xe đi tiếp. Rồi đêm xuống, vẫn còn ngoài đường, hai cha con thất thểu dắt nhau kiếm tòa nhà nào có chút mái che và sáng sủa cho đỡ nguy hiểm, rồi ráng quấn chăn cho ấm và ráng ngủ. Có nhiều đêm nó biết Ba sợ cho nó, bắt nó nằm vô sát vách rồi lấy chăn trùm kín mít. Vậy mà khi nó giật mình thức giấc vẫn thấy Ba mở mắt nằm thao thức.

https://i0.wp.com/vnthuquan.net/user/Ct.Ly/KhoiAn1.jpg

Khách Sạn 22 và những hành khách không nhà (Mercury News’ Photos)

Từ khi có Khách Sạn 22 làm nơi trú mỗi đêm, Lisa thấy đời sống của nó khá hơn nhiều.
Lúc đầu nó hơi khó ngủ vì xe cứ chạy rung rung rồi lại thắng ken két. Mỗi lần tới trạm loa phóng thanh còn phát tiếng nhắc nhở làm nó giật mình hoài. Những khi không ngủ được nó ngồi ngắm các hành khách. Lúc đầu khuya còn có những người đi làm ca đêm hoặc đi chơi về trễ. Những người này có vẻ vội vã, họ thường chăm chú bấm lia lịa trên điện thoại di động trong suốt chuyến xe. Qua hai giờ đêm, xe chỉ còn toàn là những người đi xe mà không có chỗ đến như cha con nó. Họ ngồi gật gù trong giấc ngủ chập chờn hoặc nằm co ro trên các băng ghế. Rồi nó cũng từ từ nằm xuống, gối đầu lên chiếc backpack, và thiếp đi.
Sau vài tuần nó đã quen. Nó có thể ngủ say nhưng luôn thức dậy khi xe tới bến chót, rồi lại ngủ tiếp trên chuyến xe ngược lại.
Điều làm Ba nó mừng nhất là trên xe bus an toàn. Về phần nó, nó thích nhất vì Khách Sạn 22 giúp mọi chuyện trở nên đều đặn. Mỗi sáng nó đi xe tới trường học, chiều về đón xe bus tới thư viện ở đường Alum Rock học bài. Tới giờ thư viện đóng cửa thì nó đi bộ qua tiệm Goodwill ngay gần đó. Tiệm này là nơi bán đồ cho người nghèo, những ngày Ba không đi xin việc thì ổng làm không có lương ở đây.
Những người lái xe chuyến 22 đều biết rõ là nhiều người không nhà dùng chiếc xe làm nơi ngủ nhưng họ không làm khó dễ. Chỉ cần những “hành khách đi không bao giờ tới” này tuân theo luật lệ, không ăn uống, hút thuốc, xả rác, hay làm ồn ào trên xe. Ông Tom, một trong những người lái xe, có lần nói:
– Đối với tôi, những người không nhà cũng như mọi hành khách khác. Nếu họ có vé thì họ được đi xe. Thường thường họ đều là người tốt, chỉ đang gặp khó khăn.
Thoát khỏi nổi lo lắng về chỗ ngủ đeo đuổi suốt ngày, Lisa học giỏi hơn trước. Có lẽ nhờ ngày nào cũng học trong thư viện nên năm nay nó đạt nhiều điểm cao nhất. Từ khi khai trường vô lớp Năm, nó thường xuyên được điểm A. Lần đi họp phụ huynh về, Ba nó ôm nó thật chặt rồi nói “Ba thiệt không dám tưởng tượng là con giỏi vậy!”
Bạn bè nó không ai biết là nó không có nhà, có lẽ vì hai cha con nó luôn giữ sạch sẽ, gọn gàng. Ngày nào sau giờ học nó cũng tới một trung tâm sinh hoạt cộng đồng có hồ bơi và phòng tắm cho người đi bơi. Nó hòa vô đám người đó tắm rửa rồi giặt quần áo, vắt khô bỏ vô bịch, sau đó trải một tấm nylon phơi lén ở cái bãi đậu xe đằng sau Goodwill.
Từ hồi tháng Chín, mỗi sáng khi xuống xe ở trạm gần trường, nó đều gặp một cặp vợ chồng với một đứa con trai nhỏ đón xe ở đó. Đứa bé chắc đang học lớp Một, giống như nó thời còn Mẹ. Lần đầu tiên nó nhìn họ từ trên xe bus, bà mẹ đang cúi xuống gài lại áo lạnh cho thằng bé. Không hiểu sao nó thấy cái cử chỉ đó, cái dáng điệu đó, giống in như mẹ nó ngày xưa. Lần đó, sau khi xuống xe, nó chậm bước nhìn họ cho rõ. Từ đó, lần nào gặp họ nó cũng phải nhìn, vừa nhìn vừa thầm mong cái buồn buồn xốn xang trong bụng đừng hiện ra trong con mắt. Có lẽ vì nó nhìn họ hoài, họ cũng nhớ mặt nó. Gần đây, ngày nào hai bên cũng nói Hello chào nhau. Thỉnh thoảng có ngày không gặp họ, nó cảm thấy chút gì như là mong nhớ…

Một đêm cuối tháng Mười, trên Khách Sạn 22 xuất hiện vài khuôn mặt lạ. Họ tự giới thiệu là phóng viên của báo San Jose Mercury News, nghe nói về nơi này và muốn tìm hiểu thêm. Lisa không muốn nhắc đến chuyện không có nhà nên kéo chăn che mặt, làm bộ ngủ. Ba chỉ miễn cưỡng trả lời vài câu hỏi và không đưa tên tuổi gì hết.

Lá phong trên hàng cây dọc con đường Alameda đã đổi màu, cửa kính của các nhà hàng đã xuất hiện hình vẽ gà tây bên cạnh những trái bí rợ. Màu cam, màu đỏ của mùa lễ làm Lisa thấy buồn buồn. Cái vui vẻ, ấm áp của người ta làm nó chợt nhớ rằng lâu lắm rồi nó không được nhìn thấy một nồi súp đang bốc khói, trên cái lò cháy đỏ, trong một căn bếp. Nơi mà các gia đình quây quần ăn bữa tối…
…Thứ Bảy, buổi sáng trời nắng ấm. Hai cha con nó xuống xe ở đường Santa Clara rồi đi bộ tới công viên Cesar Chavez. Có một nhóm người đang phát những thức ăn nóng tại đó. Nghe nói có súp đậu, gà nướng, khoai tán, và cả bánh nhân bí đỏ nữa. Những món ăn tuyệt vời, chỉ nghĩ thôi mà đã phát thèm! Nó nắm tay Ba nối đuôi xếp hàng, và háo hức chờ đợi. Chỉ còn năm, bẩy người nữa là tới phiên nó.
Bỗng tim nó thót lại!
Nó vừa nhìn thấy bà-mẹ-của-thằng-bé mà nó gặp hàng ngày đang tươi cười đứng trong đám múc đồ ăn cho đoàn người không nhà. Nó lôi Ba tách khỏi hàng, quay ngoắt đi, vội vàng như chạy trốn. Ba nó vừa rảo bước theo vừa hỏi “Sao vậy? Cái gì vậy? Lisa?” Nó không nói gì, chỉ cắm đầu đi. Qua một khúc quẹo, khi biết chắc là bà ta không thể thấy hai cha con nó, Lisa mới đứng lại. Rồi tự nhiên nó thấy giận. Giận vì mình không có nhà, giận vì mình sợ người ta biết, giận vì mình đã làm Ba mất một bữa ăn ngon. Nó bật khóc nức nở…
– Lisa, con ăn đi!
Tiếng Ba nó nhắc nhở làm nó trở về hiện tại. Nó đang ngồi trong một nhà hàng sang trọng ngay trung tâm thành phố San Jose, đối diện với ông Sam, bà Nancy, và thằng bé Danny (bây giờ nó đã biết tên của họ.) Ánh mắt của bà Nancy thật là vui và ấm áp. Nhưng nó vẫn thấy ngại ngùng, thắc mắc không hiểu tại sao họ cất công mời Ba và nó đi ăn. Không lẽ bà Nancy đã thấy nó bỏ chạy từ đoàn người xếp hàng xin thức ăn hôm nọ, và muốn đền bù cho hai cha con một bữa?
Sáng hôm qua, thứ Sáu, Ba và nó cũng mỉm cười chào gia đình thằng bé như mọi ngày. Bỗng ông Sam tiến tới bắt tay Ba rồi nói:
– Chào ông. Tôi là Sam, đây là vợ tôi, Nancy, và cháu trai Daniel. Chúng ta biết nhau khá lâu rồi, hôm nay tôi muốn được hỏi tên ông và cháu gái.
– Chào ông bà. Tôi là John, con gái tôi là Lisa.
Sau vài câu trao đổi, họ mời cha con nó đi ăn vào ngày mai. Ba nó cũng rất ngạc nhiên, ấp úng từ chối. Nhưng họ thuyết phục mãi, và bây giờ cha con nó đang ngồi đây.
Dù sao những món ăn trên bàn cũng quá hấp dẫn, và vẻ cởi mở, ân cần của hai ông bà cũng không có dấu hiệu gì đáng lo. Lisa bắt đầu cắn vào miếng thịt gà vàng rộm và mỉm cười với thằng bé Danny.
Khi Lisa vét xong muỗng kem tráng miệng cuối cùng, bà Nancy ngồi thẳng lên. Bà nhìn Lisa, rồi nhìn Ba, rồi nói:
– Cách đây hai tuần tôi thấy hình ông và cháu Lisa trên báo San Jose Mercury News.
Lisa nghe máu chạy một cái rần lên mặt. Nó không biết mặt nó đang đỏ bừng hay tái mét. Bên cạnh nó, Ba cũng có vẻ sững sờ. Hai cha con mở to mắt nhìn những người phía bên kia bàn.
Bà Nancy phác một cử chỉ như muốn nắm lấy tay nó. Bà tiếp tục nói, thật dịu dàng:
– Tôi có đưa bài báo đó cho nhà tôi coi. Ổng là giám đốc chương trình của một cơ quan thiện nguyện tên là Dịch Vụ Về Chỗ Ở Vùng Vịnh, và tôi là giáo sư ở trường Đại Học San Jose. Chúng tôi muốn giúp ông và cháu rời khỏi chiếc xe bus 22. Từ đó tới nay, chúng tôi đã gọi cho những người quen biết và tìm được một nơi có thể giúp ông và cháu. Thứ Hai, mời ông tới văn phòng…
*
Bây giờ hai cha con Lisa đã được cấp một căn phòng tại một nơi tạm trú cho các gia đình đang gặp khó khăn. Trong thời gian ở đây, Ba nó được đi học những lớp dạy nghề, và người ta hứa sẽ giúp Ba đi kiếm việc.
Mỗi khi nghĩ lại, Lisa thấy có nhiều việc liên hệ với nhau một cách diệu kỳ. Không biết có phải Mẹ đã đưa đẩy cho nó quen được những người tốt bụng để họ giúp đỡ cha con nó hay không.
Bây giờ ước mơ của nó là khi lớn lên sẽ làm giám đốc chương trình giúp đỡ nhà cửa cho người nghèo, giống như người ân nhân của nó. Khi đó, nó cũng có thể làm điều kỳ diệu cho những đứa bé không nhà khác, những đứa bé mà nó biết là có rất nhiều ở khắp nơi. Nó tin là nó sẽ làm được, chỉ cần ráng học thật giỏi và quyết tâm.
Và Lisa còn học được một điều mới nữa trong thời gian nương náu trên Khách Sạn 22.
Rằng, có những người thật sự có chiếc đũa thần, nhưng khi mới gặp mình không thấy được.
Bởi vì, chiếc đũa đó, họ cất ở trong tim.

Khôi An

Happy Mother’s Day

ThanksMomMasthead_135108


MothersDayLVD74


Nhật Ký Của Mẹ—Hiền Thục


Mother Of Mine—Paul Mauriat