Quốc Kỳ

Vì Tiền Đồ Tổ Quốc

Tháng Sáu 2026
H B T N S B C
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930  

ĐA HIỆU ONLINE

Phân Ưu Cùng Anh Chị Phạm Quang Thành Khóa 22

Cao-pho-ong-Tran-Van-Rinh-02
tp_k22_trangtran.png

Hình Ảnh Sinh Hoạt Tất Niên—Hát Bình Phương K25

 

Hình Ảnh Sinh Hoạt Tất Niên—Thắng Bùi K12/2

Thông Điệp Liên Bang Của Tổng Thống Donald Trump—Tomorrow’s New

donald-trump-state-of-the-union-lies

Thông điệp Liên bang đầu tiên trong nhiệm kỳ được tổng thống Donald Trump đọc trước lưỡng viện Quốc hội Mỹ vào lúc 21h ngày 30/1

Tổng thống Trump được mời tới Điện Capitol để đọc Thông điệp Liên bang, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan và Chủ tịch Thượng viện, Phó Tổng thống Mike Pence.

Thông điệp Liên bang 2018 là bản tổng kết những thành tựu, chính sách nổi bật trong năm đầu tiên cầm quyền của ông Trump, với nhiều dấu ấn để lại như việc rút Mỹ khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), siết chặt các quy định nhập cư, hay thúc đẩy mạnh mẽ chính sách “Nước Mỹ trên hết”…

https://baomai.blogspot.com/

Toàn văn Thông điệp Liên bang đầu tiên trong nhiệm kỳ của tổng thống Mỹ Donald Trump

Kính thưa ngài Chủ tịch Hạ viện, ngài Phó Tổng thống, các nghị sĩ Quốc hội, Đệ nhất Phu nhân Mỹ và toàn thể người dân Mỹ..

Một năm đã trôi qua kể từ lần đầu tiên tôi đứng trên bục này, giữa căn phòng tuyệt vời này, để thay mặt người dân Mỹ, nói lên những vấn đề cần giải quyết, ước mơ và nguyện vọng của đất nước chúng ta.

Đêm hôm đó, chính quyền mới của chúng ta đã hành động rất nhanh. Một làn sóng lạc quan mới đã quét qua đất nước ta. Từ đó, mỗi ngày chúng ta đều tiến về phía trước với một tầm nhìn rõ ràng và một sứ mệnh đúng đắn, để khiến nước Mỹ vĩ đại trở lại cho tất cả người Mỹ.

Trong một năm vừa qua, chúng ta đã có bước tiến thần kỳ và đạt được nhiều thành công đáng kinh ngạc. Chúng ta phải đối mặt với các thử thách hiện hữu và những thách thức không ngờ. Chúng ta cùng nhau trải qua giây phút vinh quang và những giai đoạn khó khăn gian khổ. Chúng ta chịu thiệt hại lớn từ những trận lũ lụt, hỏa hoạn và các đợt siêu bão. Nhưng sau tất cả, chúng ta đã chứng kiến vẻ đẹp của linh hồn Mỹ và sự quả cảm trong cốt tủy người Mỹ.

https://baomai.blogspot.com/

Mỗi phép thử lại tôi rèn được những anh hùng Mỹ mới, để nhắc cho chúng ta nhớ ta là ai, và cho ta thấy ta có thể trở thành thế nào. Chúng ta đã thấy những tình nguyện viên của Cajun Navy nhanh chóng đưa thuyền đánh cá của mình tới cứu người sau cơn bão kinh hoàng. Chúng ta đã thấy những người xa lạ che chở cho nhau dưới làn mưa đạn ở Las Vegas. Chúng ta đã nghe câu chuyện của nhiều người Mỹ, như Hạ sĩ Hải quân của lực lượng Bảo vệ Bờ biển Ashlee Leppert, người có mặt ở đây tối nay, cùng với [Đệ nhất phu nhân] Melania.

https://baomai.blogspot.com/

Ashlee là người điều khiển một trong những chiếc trực thăng đầu tiên tới Houston trong cơn bão Harvey. Trong 18 giờ đồng hồ giữa mưa lũ, Ashlee đã băng qua dòng nước sâu, đường dây điện nguy hiểm để cứu 40 mạng người. Ashlee, xin được cảm ơn cô. Cảm ơn cô rất nhiều.

https://baomai.blogspot.com/

Chúng ta cũng đã nghe nhiều về những người Mỹ anh hùng như lính cứu hỏa David Dahlberg. Hôm nay anh ấy cũng có mặt tại đây. David đã vượt qua tường lửa để cứu gần 60 trẻ nhỏ bị kẹt tại một trại hè ở California trong trận hỏa hoạn kinh hoàng. Với những người đang khắc phục hậu quả thiên tai từ Texas, Florida, Louisiana, Puerto Rico cho tới Virgin Islands và mọi nơi trên đất Mỹ, chúng tôi luôn bên cạnh các bạn, chúng tôi yêu các bạn, và chúng ta sẽ cùng nhau vượt qua những khó khăn này, luôn luôn là như vậy.

Xin được cảm ơn David và những người dân California quả cảm. Cảm ơn David rất nhiều. Anh làm tốt lắm!

Trong năm qua, một số thử thách đã chạm tới căn phòng này theo một cách rất riêng. Có mặt với chúng ta tại đây tối nay là một trong những người cứng rắn nhất từng phục vụ trong Quốc hội Mỹ, người đã bị trúng đạn, suýt nữa phải từ giã cõi đời, nhưng chỉ 3 tháng rưỡi đã quay lại làm việc. Đó là huyền thoại đến từ Louisiana, Nghị sĩ Steve Scalise.

https://baomai.blogspot.com/

Tôi nghĩ họ rất mến anh Steve. Chúng tôi rất biết ơn những nỗ lực anh dũng của các nhân viên cảnh sát Capitol (cơ quan hành pháp liên bang có nhiệm vụ bảo vệ Quốc hội Mỹ tại thủ đô Washington, D.C, trên khắp đất nước và các vùng lãnh thổ Mỹ – ND), cảnh sát thành phố Alexandria, các y bác sĩ, những người đã cứu sống ông ấy, cũng như rất nhiều người khác trong căn phòng này.

Sau vụ xả súng kinh hoàng đó, chúng ta đã sát cánh bên nhau, không phải với tư cách Đảng Cộng hòa hay Đảng Dân chủ, mà là những đại biểu đại diện cho người dân. Nhưng chỉ sát cánh bên nhau trong những thời đoạn bi kịch thì chưa đủ. Tối nay, tôi kêu gọi tất cả chúng ta dẹp khác biệt sang một bên để tìm kiếm những điểm chung, để triệu hồi tình đoàn kết mà ta cần truyền tải tới người dân. Điều này là cốt lõi. Đây là những người mà chúng ta được bầu để phục vụ.

https://baomai.blogspot.com/

Một năm vừa qua, thế giới đã chứng kiến và không thể phủ nhận rằng trên Trái Đất này, không dân tộc nào kiên cường, dũng cảm và có ý chí mạnh mẽ như người Mỹ. Có núi, chúng ta vượt núi. Có chướng ngại vật, chúng ta băng qua nó. Có thử thách, chúng ta thuần phục nó. Có cơ hội, chúng ta giữ chặt nó. Vậy hãy bắt đầu buổi tối nay bằng việc công nhận rằng nước Mỹ rất vững mạnh, bởi người dân của chúng ta rất mạnh mẽ.

Và cùng nhau, chúng ta sẽ xây dựng một nước Mỹ an toàn, hùng mạnh và đáng tự hào. Từ cuộc bầu cử, chúng ta đã tạo ra 2.4 triệu việc làm mới, bao gồm 200.000 việc làm chỉ tính riêng trong ngành sản xuất. Rất tuyệt vời.

Sau nhiều năm bị chững lại, cuối cùng chúng ta đã thấy mức lương đang tăng trở lại.

Tỉ lệ thất nghiệp đã giảm xuống mức thấp nhất trong 45 năm qua.

Và đặc biệt, tôi rất tự hào vì tỉ lệ thất nghiệp của người Mỹ gốc Phi đã đạt mức thấp kỉ lục từng ghi nhận. Tỉ lệ thất nghiệp của người Mỹ gốc Tây Ban Nha cũng đạt ngưỡng thấp nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Lòng tin vào hoạt động kinh doanh quy mô nhỏ đã đạt mức cao nhất từ trước tới nay. Thị trường chứng khoán phá vỡ từ kỉ lục này tới kỉ lục khác, thu về 8.000 tỷ USD chỉ trong một thời gian ngắn.

Melania-Trump-White-Dior-Suit-State-Union-2018

Đệ nhất phu nhân Melania tới nghe tổng thống Trump đọc Thông điệp Liên bang

Tin tốt cho người Mỹ là: Các quỹ 401k (chương trình hạn chế thuế cho người lao động. Theo phần 401, khoản k của Bộ luật về Ngân sách Liên bang Mỹ IRC, người lao động có thể trích một khoản lương cho quỹ này trước khi đóng thuế. Tiền lời sinh ra do đầu tư từ quỹ này sẽ không phải chịu thuế – ND), quỹ hưu trí và quỹ tiết kiệm đại học đã tăng cao. Và như tôi đã hứa với người dân Mỹ khi đứng trên bục này cách đây 11 tháng, chúng ta đã ban hành những quyết định cắt giảm và cải cách thuế lớn nhất trong lịch sử Mỹ.

Quyết định cắt giảm thuế khổng lồ của chúng ta đã giảm bớt gánh nặng cho tầng lớp trung lưu và các doanh nghiệp nhỏ, hạ mức thuế cho những người lao động Mỹ chăm chỉ. Chúng ta gần như đã tăng được gấp đôi khoản miễn trừ tiêu chuẩn cho tất cả mọi người.

Hiện giờ, 24.000 USD đầu tiên mà một cặp vợ chồng kiếm được sẽ không bị đánh thuế.

Chúng ta cũng tăng gấp đôi khoản tín thuế dành cho người nuôi con.

Một gia đình 4 thành viên điển hình, kiếm được 75.000 USD sẽ thấy mình được giảm 2.000 USD tiền thuế, giảm phân nửa.

Tháng 4 tới sẽ là lần cuối cùng các bạn phải khai thông tin dưới một hệ thống cũ kỹ, yếu kém. Và hàng triệu người Mỹ sẽ đem về nhiều tiền lương hơn, từ tháng sau. Nhiều hơn lắm đấy.

Chúng ta đã loại bỏ khoản thuế tàn nhẫn từng đánh vào cho những người Mỹ với mức thu nhập ít hơn 50.000 USD/năm, khiến họ phải trả khoản phạt khổng lồ, đơn thuần chỉ vì họ không thể chi trả cho chương trình sức khỏe do chính phủ yêu cầu. Chúng ta đã ngăn chặn được điểm cốt lõi của thảm họa có tên Obamacare. Các ràng buộc cá nhân giờ đã không còn. Thật may thay.

Chúng ta đã cắt giảm mức thuế doanh nghiệp từ 35% xuống còn 21%, và nhờ đó, các công ty Mỹ có thể cạnh tranh với bất kì đối thủ nào, ở bất kì đâu trên thế giới.

Chỉ riêng những thay đổi đó cũng đã tăng mức thu nhập bình quân của mỗi gia đình lên thêm 4.000 USD, một khoản tiền không nhỏ.

Thuế đối với doanh nghiệp nhỏ đã cắt giảm một khoản không nhỏ và chỉ còn 20%. Có mặt tại đây tối hôm nay là Steve Staub và Sandy Keplinger tới từ Doanh nghiệp Staub, một công ty nhỏ tại bang Ohio. Họ đã trải qua năm tuyệt vời nhất trong lịch sử 20 năm của mình.

Nhờ vào cải cách thuế, họ có nhiều tiền hơn để đầu tư, thuê được thêm 14 nhân công, và bắt đầu mở rộng quy mô xưởng sản xuất. Thật tuyệt vời.

Một trong những nhân viên của công ty Staub, Corey Adams, cũng có mặt với chúng ta ngày hôm nay. Corey là một công nhân Mỹ điển hình. Anh ấy tự trang trải để học hết phổ thông, mất việc trong giai đoạn suy thoái kinh tế hồi năm 2008, và sau đó đã được công ty Staub tuyển dụng và đào tạo trở thành thợ hàn. Giống như nhiều người Mỹ chăm chỉ khác, Corey có kế hoạch sử dụng khoản tiền tiết kiệm được nhờ cắt giảm thuế vào việc xây nhà mới, và đầu tư cho hai cô con gái ăn học. Corey, xin hãy đứng dậy.

Anh ấy là một thợ hàn tài năng. Tôi đã được giám đốc công ty Staub nói như vậy. Vậy nên, chúc mừng anh, Corey.

Sau đợt cắt giảm thuế, khoảng 3 triệu người lao động đã có thêm một khoản thu nhập không nhỏ. Hàng nghìn, hàng nghìn USD với mỗi người và khoản này tăng dần mỗi tháng, mỗi tuần. Công ty Apple thông báo sẽ đầu tư tổng cộng 350 tỷ USD vào nước Mỹ, và sẽ tuyển dụng thêm 20.000 nhân sự mới.

Và chỉ mới đây thôi, hãng Exxon Mobil thông báo sẽ đầu tư 50 tỷ USD cho nước Mỹ.

Thời điểm này chính là “thời điểm Mỹ mới” (new American moment) của chúng ta. Đây là khoảng thời gian tuyệt vời nhất để bắt đầu giấc mơ Mỹ.

Vậy nên, đối với mọi người dân đang xem chương trình này tối nay, không quan trọng các bạn đang ở đâu, không quan trọng các bạn tới từ đâu, đây là thời điểm của các bạn. Nếu bạn làm việc chăm chỉ, nếu bạn tin vào nước Mỹ, bạn có thể mơ ước mọi thứ, và bạn có thể trở thành bất kì ai bạn muốn. Cùng nhau, không có gì chúng ta không thể đạt được.

https://baomai.blogspot.com/

Tối nay, tôi muốn nói tới tương lai mà chúng ta sẽ có, đất nước mà chúng ta sẽ trở thành. Tất cả chúng ta, cùng với nhau, như là một nhóm, một dân tộc, một gia đình Mỹ.

Tất cả chúng ta đều chung một mái nhà, chung một trái tim, chung một số phận và chung một ngọn cờ Mỹ vĩ đại.

Chúng ta cùng nhau tìm lại con đường của nước Mỹ.

Ở Mỹ, chúng ta biết rằng lòng tin và gia đình, chứ không phải chính phủ và bộ máy quan liêu, mới là trung tâm của đời sống Mỹ. Phương châm của chúng ta là “Chúng ta tin vào thượng đế”.

Và chúng ta chúc mừng đội ngũ cảnh sát, quân nhân, cũng như các cựu binh tuyệt vời như những vị anh hùng, xứng đáng với sự ủng hộ toàn tâm, toàn ý của chúng ta.

https://baomai.blogspot.com/

Ở đây tối nay còn có Preston Sharp, một cậu bé 12 tuổi tới từ Redding, California. Cậu để ý rằng những ngôi mộ của cựu chiến binh không được treo cờ trong ngày Cựu Chiến binh. Cậu quyết định thay đổi chuyện đó, vận động chiến dịch thu hút mọi người cùng tham gia và hiện tại hơn 40.000 cờ đã được đặt trên nơi an nghỉ của những vị anh hùng nước Mỹ. Preston, cháu đã làm rất tốt!

See the source image

Những người yêu nước trẻ tuổi như Preston đã dạy chúng ta về trách nhiệm công dân của người Mỹ. Lòng tôn kính của Preston với những người đã ngã xuống vì tổ quốc nhắc nhở chúng ta tại sao chúng ta tôn vinh lá cờ Mỹ, tại sao chúng ta đặt tay lên tim khi đọc lời tuyên thệ trung thành, và tại sao chúng ta đứng tự hào hiên ngang dưới nền nhạc quốc ca.

Người Mỹ yêu tổ quốc. Và họ xứng đáng có được một chính phủ đáp lại họ với tình cảm cùng lòng trung thành như vậy..

Trong năm vừa qua, chúng ta đã tìm cách khôi phục lại niềm tin giữa dân chúng và chính phủ Mỹ.

Với sự hỗ trợ của Thượng viện, chúng tôi đang bổ nhiệm các thẩm phán, những người sẽ diễn giải Hiến pháp đúng như vốn có, bao gồm một thẩm phán Tòa án Tối cao mới và nhiều thẩm phán hạt hơn bất cứ chính quyền mới nào trong lịch sử đất nước ta.

Chúng tôi đang bảo vệ Tu chính án thứ Hai (bảo vệ quyền mang vũ khí của dân thường và binh lính Mỹ-ND) và có những hành động mang tính lịch sử để bảo vệ tự do tín ngưỡng.

Và chúng tôi cũng đáp ứng nguyện vọng của các cựu binh dũng cảm, bao gồm cả việc cho họ lựa chọn chương trình chăm sóc sức khỏe. Năm ngoái, Quốc hội đã thông qua và tôi đã ký Bộ Luật Trách nhiệm Giải trình về các Vấn đề liên quan tới Cựu chiến binh. Kể từ khi luật này được thông qua, chính quyền của tôi đã loại hơn 1.500 nhân viên không đạt yêu cầu, không cho các cựu binh của chúng ta chế độ chăm sóc mà họ đáng được hưởng – và chúng tôi đang tuyển mộ những người tài năng, những người yêu mến các cựu binh như chúng ta.

Tôi sẽ không dừng lại cho tới khi các cựu binh của chúng ta được chăm sóc một cách hợp lý, như những gì tôi đã hứa với họ từ đầu chặng hành trình tuyệt vời này.

Tất cả người Mỹ xứng đáng nhận được quyền lợi và sự tôn trọng – đó là những gì chúng ta sẽ làm ngày hôm nay. Tôi kêu gọi Quốc hội cấp quyền cho các Bộ trưởng nội các, cho phép họ thưởng những cá nhân xuất sắc – và sa thải những nhân viên Liên bang không có niềm tin vào dân chúng hay làm thất vọng người dân Mỹ.

Trong quá trình ấy, trong năm đầu tôi cầm quyền, Washington đã loại bỏ nhiều quy định hơn bất kì chính quyền nào trước đây trong lịch sử.

Chúng ta đã kết thúc mâu thuẫn xoay quanh vấn đề năng lượng – và chúng ta đã kết thúc tranh cãi về nhiên liệu sạch. Hiện tại, chúng ta là nhà xuất khẩu năng lượng cho thế giới.

Tại Detroit, tôi đã chấm dứt các ràng buộc của chính phủ từng khiến các cơ sở sản xuất ô tô của nước Mỹ phải lao đao. Nhờ đó, các xưởng sản xuất ô tô lại một lần nữa đi vào hoạt động.

Nhiều công ty ô tô hiện nay đang xây dựng và mở rộng xưởng nhà máy tại Mỹ – điều mà chúng ta chưa từng thấy trong nhiều thập kỉ qua. Hãng Chrysler đang chuyển một nhà máy lớn từ Mexico tới Michigan; Toyota và Mazda đang mở các công xưởng tại Alabama. Trong tương lai gần, các nhà máy sẽ vận hành trên khắp đất nước. Đây là điều làm nhiều người Mỹ cảm thấy lạ lẫm bởi trong nhiều năm qua, chúng ta chỉ nghe được rằng các doanh nghiệp và việc làm rời bỏ đất Mỹ. Nhưng vào thời điểm hiện tại, chúng đang quay trở lại.

Tổng thống Trump nhận được rất nhiều tràng pháo tay khi đọc Thông điệp Liên bang

Mỗi ngày đều có những tiến triển thú vị.

Để nhanh chóng tiếp cận với những phương pháp chữa bệnh đột phá và các loại thuốc generic vừa tiền (Thuốc generic là loại thuốc tương đương sinh học với thuốc phát minh, có tính chất dược động học, dược lực học tương tự như biệt dược gốc, được sản xuất khi quyền sở hữu của biệt dược đã hết hạn nên giá thành rẻ hơn – ND), năm ngoái Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã thông qua nhiều loại thuốc generic, cũng như nhiều thiết bị y tế mới hơn hẳn trước kia.

Chúng tôi cũng tin rằng các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, ở vào giao đoạn cuối nên được tiếp cận những phương pháp thử nghiệm, có khả năng cứu sống họ.

Các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo không cần phải đi hết nước này tới nước kia để tìm cách trị bệnh – Tôi muốn cho họ một cơ hội ở ngay đây, ngay tại quê nhà. Đã tới lúc Quốc hội Mỹ trao cho những người dân tuyệt vời ấy “quyền được thử”.

Một trong những ưu tiên hàng đầu của tôi là giảm giá thuốc kê theo đơn. Ở nhiều nước, các loại thuốc này có giá thành thấp hơn nhiều so với ở Mỹ. Đó là lý do vì sao tôi chỉ đạo chính quyền của mình đưa nhiệm vụ điều chỉnh sự bất công về giá thuốc cao lên làm một trong những ưu tiên hàng đầu. Giá thuốc sẽ giảm.

Nước Mỹ cuối cùng đã sang trang mới trong các thỏa thuận bất công kéo dài hàng thập kỉ, gây tổn hại sự thịnh vượng của chúng ta và đem các doanh nghiệp, việc làm và của cải của nước Mỹ rơi vào tay các nước khác.

Thời đại ấy đã kết thúc.

Từ bây giờ, chúng ta sẽ kì vọng vào những trao đổi thương mại công bằng và “có qua có lại”.

Chúng ta sẽ đàm phán lại những thỏa thuận tồi tệ và thỏa thuận thêm những cam kết mới.

Và chúng ta sẽ bảo vệ người lao động Mỹ, sở hữu trí tuệ Mỹ thông qua việc xiết chặt các quy định trong thỏa thuận thương mại.

Khi chúng ta tái thiết nền công nghiệp, chúng ta cũng xây dựng lại hệ thống cơ sở hạ tầng đang xuống cấp.

Mỹ là quốc gia của những người kiến tạo. Chúng ta chỉ mất 1 năm để xây tòa nhà Empire State. Nếu bây giờ chúng ta phải tốn 10 năm để xin cấp phép làm một con đường đơn giản thì chẳng phải là điều đáng hổ thẹn hay sao?

Tôi đề nghị cả hai đảng cùng hợp sức để có được một hạ tầng an toàn, nhanh chóng, đáng tin cậy và hiện đại mà nền kinh tế của chúng ta cần và người dân của chúng ta đáng được hưởng.

Tối nay, tôi kêu gọi Quốc hội Mỹ ra một dự thảo để cấp ít nhất 1.500 tỷ USD cho công tác đầu tư hạ tầng mới mà ta cần.

Mỗi đồng đô la trong ngân sách liên bang nên được tận dụng bằng cách kết hợp với chính quyền địa phương và nhà nước, những nơi thích hợp, rót vào đầu tư cho khu vực tư – để giải quyết tình trạng thâm hụt hạ tầng vĩnh viễn.

Bất kỳ dự luật nào cũng nên hợp lý hóa quá trình cấp phép và phê duyệt – giảm bớt xuống còn không quá 2 năm, thậm chí là 1 năm.

Cùng với nhau, chúng ta có thể cải tạo di sản của mình. Chúng ta sẽ xây nên những con đường sáng bóng, những cây cầu, những cao tốc, những đường ray và đường thủy mới trên khắp đất nước. Và chúng ta sẽ làm điều đó với trái tim, đôi tay và lòng quả cảm của người Mỹ.

Chúng tôi muốn mọi người dân Mỹ hiểu được giá trị của một ngày làm việc chăm chỉ. Chúng tôi muốn mọi đứa trẻ được an toàn khi đêm xuống. Và chúng tôi muốn mọi công dân tự hào về mảnh đất mà chúng ta đều yêu quý.

Chúng ta có thể đưa người dân từ tình trạng phải hưởng trợ cấp tới có việc làm, từ phụ thuộc tới độc lập tài chính, và từ đói nghèo thành giàu có.

Bởi cắt giảm thuế tạo thêm nhiều việc làm mới, hãy để chính phủ đầu tư vào phát triển nhân sự và đào tạo nghề. Hãy mở các trường dạy nghề tuyệt vời để những người lao động tương lai được đào tạo và khám phá tiềm năng của họ. Và hãy giúp đỡ các gia đình lao động bằng việc cấp hỗ trợ nghỉ phép.

Khi người Mỹ hồi phục được sức mạnh vốn có, cơ hội này phải công bằng với mọi công dân. Đó là lý do tại sao trong năm nay chúng ta sẽ cải cách nhà tù, giúp các công dân đang thụ án tù giam có cơ hội thứ hai.

Các nhóm cộng đồng đang phải đối mặt với khó khăn, đặc biệt là cộng đồng nhập cư, cũng sẽ được hỗ trợ bởi các chính sách nhập cư tập trung vào quyền lợi tốt nhất cho người lao động và các gia đình Mỹ.

Trong nhiều thập kỉ qua, việc mở cửa các vùng biên giới đã tạo điều kiện cho ma túy và các băng nhóm tội phạm tràn vào các cộng đồng dễ bị tổn thương nhất của nước Mỹ. Chúng khiến hàng triệu người với mức thu nhập thấp phải tranh đua vì việc làm. Bi kịch hơn cả, chúng đã cướp đi sinh mạng của vô số người vô tội.

Có mặt ở đây tối nay là 2 người cha và 2 người mẹ: Evelyn Rodriguez, Freddy Cuevas, Elizabeth Alvarado, và Robert Mickens. Hai con gái đang ở tuổi thiếu niên của họ – Kayla Cuevas và Nisa Mickens – là bạn thân ở Long Island. Thế nhưng, tháng 9/2016, vào sinh nhật 16 tuổi của Nisa, hai em đã không thể trở về nhà. Hai cô bé đáng quý này đã bị giết hại dã man khi đang cùng nhau dạo bộ ở thị trấn quê nhà. Sáu thành viên của băng đảng dã man MS-13 (MS-13 còn gọi là Mara Salvatrucha là một băng đảng tội phạm quốc tế có nguồn gốc từ Los Angeles, California. Băng đảng này gây ra hàng loạt vụ giết người man rợ – ND) đã bị kết tội sát hại Kayla và Nisa. Nhiều thành viên trong băng này đã tận dụng những lỗ hổng luật pháp để nhập cảnh vào đất nước như những phần tử nước ngoài đơn lẻ – và gây hoang mang cho trường của Kayla, Nisa.

Evelyn, Elizabeth, Freddy, và Robert: Tối nay, mọi người trong khán phòng này đều sẽ cầu nguyện cho các anh chị. Mọi người dân Mỹ sẽ chia sẻ với anh chị. Và 320 triệu trái tim đều xót thương cho các anh chị. Chúng tôi không thể tưởng tượng nổi mức độ đau xót mà các anh chị phải chịu đựng, nhưng chúng tôi có thể đảm bảo rằng các gia đình khác sẽ không bao giờ phải trải qua nỗi đau này.

Tối nay, tôi kêu gọi Quốc hội Mỹ khép lại những lỗ hổng chết người, những lỗ hổng đã tạo điều kiện cho MS-13, cũng như các tội phạm khác, xâm nhập vào đất nước ta. Chúng tôi đã đề xuất một luật mới nhằm sửa đổi luật nhập cư của chúng ta và hỗ trợ cho Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan (ICE), Cục Tuần tra Biên giới để chuyện này không tái diễn thêm một lần nữa.

Ông Trump cho biết đã đề xuất dự luật mới về vấn đề nhập cư tới Quốc hội Mỹ

Mỹ là một quốc gia giàu lòng cảm thông. Chúng ta tự hào vì chúng ta làm được nhiều hơn bất kì quốc gia nào khác trong việc giúp đỡ những người trong hoạn nạn, những người khốn khổ và người yếu thế trên toàn thế giới. Nhưng với cương vị là Tổng thống Mỹ, lòng thành của tôi, sự cảm thông của tôi, cùng mối quan tâm thường trực trong tôi luôn dành cho trẻ em Mỹ, những người lao động nghèo ở Mỹ và những cộng đồng bị quên lãng của Mỹ. Tôi muốn thế hệ trẻ lớn lên và đạt được những thành tựu vĩ đại. Tôi muốn những người nghèo có cơ hội đổi đời.

Vậy nên tối nay, tôi muốn bắt tay với lưỡng đảng – đảng Dân Chủ và đảng Cộng Hòa – trong việc bảo vệ công dân của chúng ta, bất kể lai lịch, màu da, vùng miền và tín ngưỡng. Trách nhiệm của tôi, và của trách nhiệm tối cao của mọi quan chức được bầu chọn trong căn phòng này, là bảo vệ người dân Mỹ – bảo vệ sự an toàn, gia đình của họ, cộng đồng của họ, và quyền lợi của họ trong Giấc mơ Mỹ. Bởi vì người Mỹ luôn ước mơ.

Tối nay, một trong những người đi đầu trong lĩnh vực bảo đảm an ninh đất nước cũng có mặt: Đặc vụ điều tra Celestino Martinez – hay còn được gọi là CJ – tới từ Bộ an ninh nội địa. Ông CJ đã phục vụ 15 năm trong Không quân Mỹ trước khi trở thành đặc vụ ICE và dành 15 năm tiếp theo để ngăn chặn các băng đảng và xóa sổ tội phạm khỏi đường phố. Có lúc, những kẻ cầm đầu MS-13 từng phát lệnh mưu sát CJ. Nhưng ông không hề sợ hãi hay do dự. Tháng 5 vừa qua, ông đã chỉ huy một chiến dịch truy lùng các thành viên băng nhóm tại Long Island. Nhóm của ông đã bắt được gần 400 người, bao gồm hơn 220 tên tội phạm thuộc MS-13.

CJ, ông rất tuyệt vời. Quốc hội sẽ gửi thêm viện trợ cho ông.

Trong vài tuần tới, Thượng viện và Hạ viện sẽ bỏ phiếu về một gói cải cách chính sách nhập cư.

Trong những tháng gần đây, chính phủ Mỹ đã nhiều lần gặp mặt đảng viên của cả đảng Dân chủ và Cộng hòa để đi tới một giải pháp được lưỡng đảng thống nhất trong việc cải cách nhập cư. Sau các buổi thảo luận, chúng tôi đã gửi tới Quốc hội một đề xuất chi tiết sẽ được ủng hộ bởi cả hai đảng, như một sự thỏa hiệp công bằng – đề xuất mà không phải ai cũng đạt được mọi điều họ muốn, nhưng đất nước chúng ta sẽ có được những cải cách trọng yếu cần thiết.

Sau đây là bốn “trụ cột” trong kế hoạch của chúng tôi:

Trụ cột thứ nhất trong khuôn khổ của chúng ta cung cấp một cách hào phóng lộ trình để có quyền công dân Mỹ cho 1.8 triệu người nhập cư bất hợp pháp, những người được cha mẹ đưa tới đây khi còn nhỏ – con số này lớn gấp gần 3 lần so với chính quyền trước làm được. Theo kế hoạch của chúng tôi, những người đáp ứng yêu cầu về giáo dục và việc làm, thể hiện tư cách đạo đức tốt, sẽ có thể trở thành công dân toàn diện của nước Mỹ.

Trụ cột thứ hai là kiểm soát toàn diện biên giới. Điều này có nghĩa là xây dựng một bức tường ở biên giới phía Nam, cũng như tuyển dụng thêm những người anh hùng như CJ để giúp cộng đồng của chúng ta được an toàn. Quan trọng hơn, kế hoạch của chúng tôi sẽ đóng lại những lỗ hổng tệ hại mà tội phạm và những kẻ khủng bố lợi dụng để xâm nhập vào nước ta – và cuối cùng sẽ chấm dứt được thực tế nguy hiểm của việc “bắt rồi thả”.

Cột trụ thứ ba là chấm dứt “Xổ số visa” – chương trình cấp thẻ xanh ngẫu nhiên cho người muốn nhập tịch Mỹ mà không đòi hỏi gì về kỹ năng, thành tích, hay sự an toàn của người dân của chúng ta. Đã đến lúc hướng tới một hệ thống nhập cư dựa trên đánh giá thành tích – chỉ chấp nhận những người có kỹ năng, những người muốn làm việc, cống hiến cho xã hội chúng ta, và những người yêu mến, tôn trọng đất nước ta.

Trụ cột thứ tư, cũng là cuối cùng, là bảo vệ gia đình hạt nhân bằng cách chấm dứt tình trạng “di cư dây chuyền” (tức những người có quyền công dân bảo trợ họ hàng không trực hệ từ nước ngoài vào Mỹ và trở thành công dân Mỹ-ND). Dưới hệ thống thiếu sót hiện nay, một người nhập cư đơn lẻ có thể đưa [vào Mỹ] số lượng không giới hạn những người họ hàng xa. Với kế hoạch của mình, chúng tôi tập trung vào quan hệ gia đình trực hệ, bằng cách giới hạn quyền bảo trợ [của một công dân] chỉ dành cho phối ngẫu của họ cùng trẻ vị thành niên. Cải cách quan trọng này là rất cần thiết, không chỉ đối với nền kinh tế của chúng ta, mà còn vì an ninh và tương lai của chúng ta.

Vài tuần qua, hai vụ tấn công khủng bố tại New York xảy ra một phần do chính sách xổ số visa và di cư theo chuỗi. Trong thời đại khủng bố, những chương trình này tồn tại những rủi ro chúng ta không thể dung thứ.

Đã tới lúc cải cách những luật lệ nhập cư lỗi thời, và đưa hệ thống nhập cư của chúng ta vào thế kỉ 21.

Bốn trụ cột đại diện cho một cam kết gồm 2 phần, một trong số đó là tạo ra hệ thống nhập cư an toàn, hiện đại, và hợp pháp.

Trong hơn 30 năm qua, Washington đã cố gắng và thất bại trong việc giải quyết vấn đề này. Quốc hội dường như là bên duy nhất có thể biến việc cải cách thành hiện thực.

Quan trọng hơn cả, bốn trụ cột sẽ tạo ra môi trường luật pháp giúp tôi hoàn thành lời hứa sắt đá là đặt nước Mỹ lên trước hết (America First). Chúng ta hãy đoàn kết, đặt chính trị sang một bên, và hoàn thành công việc này.

Các cải cách cũng sẽ giúp chúng ta đối mặt với thảm kịch gây ra bởi ma túy và opioid (nhóm thuốc giảm đau và cũng bao gồm các loại thuốc phiện – ND).

Năm 2016, 64.000 người Mỹ đã thiệt mạng vì dùng quá liều chất gây nghiện: tương đương 174 người chết mỗi ngày, 7 người mỗi giờ đồng hồ trôi qua. Nếu muốn ngăn chặn vấn nạn này, chúng ta phải mạnh tay hơn với những kẻ buôn bán và phân phối ma túy.

Chính quyền của tôi cam kết chiến đấu chống lại ma túy và giúp các nạn nhân điều trị cai nghiện. Đây là thách thức lâu dài và gian khổ – nhưng, như tinh thần của người Mỹ từ trước tới nay, chúng ta sẽ thành công.

Như chúng ta đã được chứng kiến, trước thử thách khó khăn nhất, người Mỹ lại vươn lên mạnh mẽ nhất.

Chúng ta thấy được ví dụ điển hình qua câu chuyện của nhà Holets ở New Mexico. Ryan Holets 27 tuổi, là một sĩ quan tại Sở Cảnh sát Albuquerque. Anh ấy có mặt tại đây tối nay với người vợ Rebecca.

Năm ngoái, khi thực hiện nhiệm vụ, sĩ quan Ryan nhìn thấy một thai phụ vô gia cư đang chuẩn bị tiêm heroin vào người. Khi Ryan nói rằng việc này sẽ làm hại đứa bé trong bụng, người thai phụ này bật khóc. Cô gái nói rằng cô không biết phải đi tới đâu, nhưng cô rất khao khát có một mái ấm cho đứa bé.

Trong khoảnh khắc ấy, Ryan như thấy Chúa nói anh: “Con sẽ làm được – bởi vì con có thể.”

Ryan lấy ra bức ảnh chụp người vợ và 4 đứa con của họ. Sau đó, anh trở về nhà, nói với vợ Rebecca và ngay lập tức, người vợ đồng ý nhận nuôi đứa bé. Gia đình Holets đặt tên cô con gái nuôi là Hope – “niềm hi vọng”.

Ryan và Rebecca, hai bạn là minh chứng cho những điều tốt đẹp ở đất nước này. Xin cảm ơn, và chúc mừng các bạn.

Khi chúng ta xây dựng sức mạnh và lòng tin trên đất Mỹ, chúng ta cũng khôi phục sức mạnh và vị thế Mỹ ở nước ngoài.

Trên khắp thế giới, chúng ta đối mặt với những chính phủ bất hảo, các nhóm khủng bố, và những đối thủ như Trung Quốc và Nga – những quốc gia thách thức quyền lợi, kinh tế và giá trị của chúng ta. Khi đối mặt với những mối nguy này, chúng ta biết rằng yếu đuối là con đường chắc chắn nhất dẫn đến mâu thuẫn, và sức mạnh tuyệt đối là cách thức phòng thủ chắc chắn nhất của chúng ta.

Vì lý do này, tôi yêu cầu Quốc hội chấm dứt việc cắt giảm ngân sách quốc phòng và đầu tư triệt để cho quân đội tuyệt vời của chúng ta.

Chúng ta phải hiện đại hóa và xây dựng lại kho vũ khí hạt nhân của mình – mà ta hi vọng rằng sẽ không bao giờ phải sử dụng tới chúng – đủ mạnh để ngăn chặn bất kì động thái gây hấn nào. Có thể một ngày nào đó trong tương lai, trong một giai đoạn diệu kì, các quốc gia trên thế giới sẽ cùng nhau loại trừ vũ khí hạt nhân. Không may thay, chúng ta vẫn chưa tới được được giai đoạn ấy.

Cuối năm ngoái, tôi đã cam kết rằng chúng ta sẽ cùng với các đồng minh quét sạch nhóm khủng bố IS khỏi bề mặt Trái Đất. Một năm sau, tôi rất tự hào khi liên minh diệt IS của Mỹ đã giải phóng gần như 100% vùng lãnh thổ bị IS chiếm đóng tại Iraq và Syria. Nhưng chiến dịch không thể dừng lại tại đây. Chúng ta sẽ tiếp tục chiến đấu cho tới khi IS bị xóa sổ hoàn toàn.

Hạ sĩ Lục quân Justin Peck có mặt ở đây hôm nay. Hồi cuối tháng 11 năm ngoái tại gần Raqqa, Justin và cộng sự của mình, Thượng sĩ Kenton Stacy, làm nhiệm vụ dọn dẹp những tòa nhà mà IS đã đặt thuốc nổ, để người dân có thể quay trở lại thành phố.

Kenton Stacy bị thương nặng do bom nổ khi đang rà phá tầng hai của một bệnh viện. Justin ngay lập tức lao vào tòa nhà nguy hiểm ấy và thấy Kenton ở trong tình trạng rất tệ. Anh đã ấn chặt vết thương và luồn ống để mở đường thở. Sau đó anh thực hiện thủ thuật hồi sức tim phổi (CPR) liên tục 20 phút trong suốt thời gian vận chuyển Kenton và duy trì hô hấp nhân tạo trong 2 giờ phẫu thuật cấp cứu.

Kenton Stacy chắc hẳn sẽ không thể sống nếu thiếu tình yêu thương quên mình mà Justin dành cho người đồng đội. Tối nay, Kenton đang hồi phục ở Texas. Raqqa đã được giải phóng. Còn Justin đang đeo huy chương Sao Đồng, với chữ “V” nghĩa là “Valor” (Lòng dũng cảm).

Hạ sĩ Peck: Toàn thể nước Mỹ xin được cúi chào anh.

Những tên khủng bố đặt bom tại bệnh viện là những kẻ xấu xa. Khi có thể, chúng ta tiêu diệt chúng. Khi cần thiết, chúng ta bắt giữ và thẩm vấn chúng. Nhưng chúng ta cần làm rõ: Khủng bố không phải tội phạm thông thường. Chúng là những chiến binh thù địch nằm ngoài vòng pháp luật. Khi bị bắt giữ ở nước ngoài, những tên khủng bố cần phải bị đối xử thích đáng.

Trong quá khứ, chúng ta đã sai lầm khi phóng thích hàng trăm tên khủng bố nguy hiểm, và phải chạm trán chúng một lần nữa trên chiến trường – bao gồm tên thủ lĩnh IS, al-Baghdadi.

Vậy nên ngày hôm nay, tôi giữ một lời hứa khác. Tôi vừa kí sắc lệnh yêu cầu Bộ trưởng [Quốc phòng] James Mattis kiểm tra lại chính sách quân sự của Mỹ và mở cửa lại các trại giam tại Vịnh Guantanamo.

Tôi cũng yêu cầu Quốc hội đảm bảo rằng chúng ta luôn có mọi sức mạnh cần thiết để chống lại khủng bố trong trận chiến với IS và al-Qaeda – bất kì khi nào chúng ta lần ra dấu vết của chúng.

Các chiến binh của chúng ta tại Afghanistan cũng có những nguyên tắc hoạt động mới. Cùng với những cộng sự Afghanistan anh dũng, quân đội của ta không còn bị tổn hại bởi những lộ trình tự tạo, và chúng ta không còn tiết lộ cho đối thủ kế hoạch của mình.

Tháng trước, tôi cũng đã làm một việc mà Thượng viện đã nhất trí thông qua được nhiều tháng: Tôi đã công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel.

Ngay sau đó, hàng chục quốc gia đã bỏ phiếu chống lại quyền chủ quyền, quyền được đưa ra quyết định này của nước Mỹ tại Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc. Những người đóng thuế ở Mỹ đã hào phóng chuyển cho chính những đất nước này hàng tỉ USD viện trợ hàng năm.

Đó là lý do vì sao, tối nay, tôi đề nghị Quốc hội thông qua điều luật để giúp đảm bảo tiền viện trợ nước ngoài của Mỹ luôn phục vụ cho lợi ích của Mỹ và chỉ về tay bè bạn của Mỹ.

Khi chúng ta củng cố tình bằng hữu trên khắp thế giới, chúng ta cũng khôi phục sự trong sạch về đối thủ của mình.

Khi người dân Iran đứng lên chống lại tội ác của chế độ độc tài tham nhũng, tôi không im lặng.. Nước Mỹ sát cánh cùng nhân dân Iran trong cuộc đấu tranh vì tự do đầy can đảm của họ.

Tôi đề nghị Quốc hội chỉ ra những sai sót cơ bản trong thỏa thuận hạt nhân tồi tệ với Iran.

Chính quyền của tôi đã siết chặt nhiều cấm vận hơn lên Cuba và Venezuela.

Nhưng không chính quyền nào chèn ép dân chúng của họ toàn diện và cay nghiệt như Triều Tiên.

Rất sớm thôi, chương trình tên lửa hạt nhân của Triều Tiên sẽ đủ khả năng đe dọa lãnh thổ Mỹ.

Chúng ta đang dùng mọi sức ép để ngăn chuyện đó xảy ra.

Kinh nghiệm trong quá khứ đã cho thấy rằng sự tự mãn và nhượng bộ chỉ tạo điều kiện cho sự hiếu chiến và khiêu khích. Tôi sẽ không nhắc lại sai lầm của những chính quyền tiền nhiệm đã đưa chúng ta vào tình thế nguy hiểm như ngày hôm nay.

Chỉ cần nhìn vào đặc điểm suy đồi của Triều Tiên là hiểu được bản chất của mối đe dọa hạt nhân mà nước này có thể gây ra cho Mỹ và đồng minh.

Otto Warmbier là một sinh viên chăm chỉ của đại học Virginia. Khi tới châu Á du học, Otto đã tham gia vào một tour du lịch Triều Tiên. Và kết quả là chàng trai trẻ tuổi tuyệt vời này đã bị bắt giữ, bị gán cho tội danh chống lại nhà nước [Triều Tiên]. Sau một phiên xử đáng xấu hổ, nhà cầm quyền tuyên phạt Otto 15 năm lao động khổ sai, trước khi trả cậu về Mỹ vào tháng 6 vừa qua – trong tình trạng bị thương nặng, ngay bên bờ sinh tử. Otto đã ra đi chỉ vài ngày sau khi trở về nhà.

Cha mẹ của Otto, Fred và Cindy Warmbier, có mặt tại đây cùng chúng ta tối nay – cùng em trai và em gái của Otto, Austin và Greta. Các bạn là những nhân chứng mạnh mẽ nhất cho mối họa đang đe dọa thế giới của chúng ta và sức mạnh của các bạn đã truyền lửa cho tất cả chúng tôi. Tối nay, chúng tôi nguyện tưởng nhớ Otto bằng ý chí của người Mỹ.

Cuối cùng, chúng ta có một nhân chứng khác từng chứng kiến sự xấu xa của Triều Tiên. Đó là Ji Seong-ho.

Năm 1996, cậu bé Seong-ho không đủ ăn, phải đi trộm than đá từ toa tàu hỏa để đổi lấy thực phẩm. Một ngày, cậu ngất đi vì đói trên đường ray và bị tàu hỏa cán qua. Khi tỉnh dậy, cậu trả qua hàng loạt phẫu thuật đoạn chi mà không có thuốc giảm đau. Các anh chị em của cậu dành những phần ăn ít ỏi để giúp cậu bình phục trong khi cơ thể của bản thân họ không thể phát triển đầy đủ vì thiếu ăn. Sau đó, Seong-ho bị chính quyền Triều Tiên tra tấn sau khi trở về từ chuyến đi ngắn ngày tới Trung Quốc. Những kẻ tra tấn muốn biết liệu cậu đã gặp người Công giáo nào hay chưa. Cậu thực sự đã gặp – và cậu mong muốn được tự do.

Seong-ho đã chống nạng, vượt hàng nghìn dặm đường qua Trung Quốc và Đông Nam Á để đến với tự do. Hầu hết các thành viên của gia đình cậu đều đi theo. Cha của cậu bị bắt khi đang cố chạy trốn và bị tra tấn cho tới chết.

Hiện nay Seong-ho sống tại Seoul, nơi anh giải cứu những người đào tẩu khác và tìm cách phát sóng ở Triều Tiên điều mà chính quyền sợ nhất — sự thật.

Hiện nay anh đã có chân mới, nhưng Seong-ho này, tôi tin là anh sẽ giữ những chiếc nạng như một kỷ vật để nhắc nhở bản thân mình đã đi được bao xa. Hi sinh lớn lao của anh là cảm hứng cho tất cả chúng tôi.

See the source image

Quang cảnh buổi phát biểu Thông điệp Liên bang 2018 của ông Trump

Câu chuyện của Seung-ho là chứng tích cho khao khát được sống tự do của mọi tâm hồn con người.

Đó cũng chính là khao khát tự do mà cách đây gần 250 năm đã cho ra đời một nơi đặc biệt, mang tên nước Mỹ. Đó là một nhóm dân cư nhỏ mắc kẹt giữa đại dương rộng lớn và chốn hoang vu mênh mông. Nhưng đó là nhà đối với một dân tộc lạ thường với một tư tưởng cách mạng: Rằng họ có thể tự mình cai quản. Rằng họ có thể vẽ nên vận mệnh của chính mình. Và rằng, cùng với nhau, họ có thể khiến thế giới tỏa sáng.

Đó là điều làm nên đất nước của chúng ta. Đó là điều mà người Mỹ luôn đứng lên bảo vệ, luôn đấu tranh và luôn thực hiện.

Ngay trên mái vòm của Điện Capitol là Tượng Tự do (Statue of Freedom). Nữ thần đứng cao và trang nghiêm giữa những tượng đài của tổ tiên chúng ta, những người đã sống, chiến đấu, và hi sinh khi bảo vệ nữ thần.

Từ đài tưởng niệm Washington, Jefferson cho tới Lincoln và [Martin Luther] King.

Các đài tưởng niệm tới những người anh hùng của Yorktown và Saratoga – những người Mỹ trẻ đã đổ máu trên bờ biển Normandy, và những nơi khác nữa. Hãy nhớ tới những người hi sinh ở những vùng biển Thái Bình Dương và trên bầu trời châu Á.

Và sự tự do đứng kiêu hãnh trên một tượng đài khác: Nơi này. Điện Capitol. Tượng đài sống với toàn thể người dân Mỹ, của những người anh hùng không chỉ trong quá khứ, mà ngay xung quanh chúng ta – bảo vệ niềm hi vọng, kiêu hãnh, và văn hóa Mỹ.

Họ làm việc trong mọi ngành nghề. Họ hy sinh để gây dựng gia đình. Họ chăm sóc cho con trẻ ở nhà. Họ bảo vệ màu cờ của ta ở nước ngoài. Họ là những bà mẹ mạnh mẽ và những đứa trẻ dũng cảm. Họ là những người lính cứu hỏa, những nhân viên cảnh sát, những đặc vụ biên giới, những bác sĩ và những người lính thủy quân lục chiến.

Nhưng trên hết, họ là người dân Mỹ. Và Tòa nhà Quốc hội này, thành phố này, đất nước này đều thuộc về họ.

Nhiệm vụ của chúng ta là tôn trọng họ, lắng nghe họ, phục vụ họ, bảo vệ họ và luôn xứng đáng với họ.

Người Mỹ đã khiến thế giới tràn ngập nghệ thuật và âm nhạc. Họ đẩy lùi những giới hạn của khoa học và khám phá. Và họ luôn nhắc cho ta nhớ điều ta không bao giờ được quên: Con người mơ về đất nước này. Con người xây dựng nên đất nước này. Và đó là những người đang khiến nước Mỹ vĩ đại trở lại.

Miễn là chúng ta tự hào về chính bản thân mình, về những gì mình đang chiến đấu, thì chẳng có gì ta không đạt được.

Miễn là chúng ta có lòng tin vào giá trị của mình, đặt niềm tin nơi công dân của mình và tin tưởng vào Chúa, thì chúng ta sẽ không bao giờ thất bại.

Gia đình chúng ta sẽ sung túc.

Dân tộc chúng ta sẽ phồn vinh.

Và đất nước chúng ta sẽ mãi mãi an toàn, mạnh mẽ, kiêu hãnh, hùng mạnh và tự do.

Xin cảm ơn, và Chúa phù hộ nước Mỹ.

Hình Ảnh Saigon 1960-1970

Đường phố sạch đẹp, hiện đại và văn minh là những ấn tượng đầu tiên khi xem chùm ảnh về đường phố của thành đô Saigon ở dưới đây.
Saigon trước 1975 có vẻ đẹp hào nhoáng, nhộn nhịp của nếp sống xưa, nhưng cũng có nhiều góc ảnh mang lại vẻ đẹp thanh bình hiếm có.
Saigon 1965 – Photo by William S. Fabianic. Đây là đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) lúc còn cho lưu thông 2 chiều. Khúc này là ngã tư Phan Đình Phùng và Trương Minh Giảng (nay là Trần Quốc Thảo). Đi tới nữa là ngã ba Phan Đình Phùng – Nguyễn Gia Thiều (chỗ có thấy hàng rào sắt màu xanh lá cây), là Consulat Général de France (trước 1966 hoặc 1967 là trường tư thục Lê Quý Đôn) do KTS Phạm Văn Thâng thiết kế. Ở bên phải của người chụp tấm hình này là Toà Tổng Giám Mục, kế bên là biệt thự của tổng giám đốc công ty Shell do KTS Nguyễn Văn Hoa thiết kế. Còn ở bên trái là biệt thự của tổng giám đốc Chartered Bank, cũng do KTS Hoa thiết kế đầu thập niên 1960, đã bị chính phủ đập phá để xây trường mầm non và chỉ còn lại hồ bơi.
Saigon 1967, Photo by Bill Mullin. Đường Trường Công Định (nay là đường Trường Định) chạy băng qua công viên Tao Đàn
Saigon 1967-1968 – đường Tự Do. Photo by Dave DeMilner
Saigon 1965 – Đường Tự Do, Photo by John A. Hansen
Saigon 1969, Đường Tự Do, gần góc Tự Do – Nguyễn Thiệp ở bên phải hình. STAR HOTEL tại số 123 đường Tự Do, nơi trước kia là cửa hàng PHARMACIE NORMALE (123 Rue Catinat). Photo by Rick Fredericksen
Saigon 1965 – Đường Trần Hưng Đạo, nhìn từ Plaza BEQ (135 Trần Hưng Đạo). Bên phải là Metropole Hotel.
Saigon 1968 – Đường Lê Lai nhìn từ tầng 5 KS Walling trên đường Phạm Ngũ Lão. Photo by Brian Wickham
Saigon 1965, đường Trần Hưng Đạo
Saigon 1964 – Công trường Chiến sĩ (trước khi có Hồ Con Rùa) nhìn từ đường Trần Quý Cáp (Nay là Võ Văn Tần), bên phải là ra Nhà thờ Đức Bà – Photo by Iparkes
Saigon 1969 – đường Nguyễn Huệ. Photo by Wayne Trucke
Saigon 1965 – Đường Hồ Huấn Nghiệp, nối từ đường Tự Do tới Công trường Mê Linh. Photo by John Hansen
Đường Tự Do – Công viên Chi Lăng 1967-1968, nay đã bị Vincom chiếm dụng riêng. Photo by Henry Bechtold
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Gần cuối đường Tự Do nhìn về phía sông Saigon. Ngay chỗ xe Taxi là ngã tư Tự Do – Ngô Đức Kế – Photo by Iparkes
Hình này chụp lúc chưa có Nhà Hàng Maxim sát bên khách sạn Majestic.
Góc hình ngược hướng với tấm hình bên trên, nhìn từ sông Saigon về phía đường Tự Do. Photo by Layered
Đường Tự Do
Saigon 1965-66 – Đường Phan Văn Đạt. Photo by Dale Ellingson
Phía xa là Công trường Mê Linh với bệ tượng đài Hai Bà Trưng
Saigon – Tháng 3 năm 1965 – Ngã tư Tự Do – Ngô Đức Kế – Photo by John A. Hansen 3. Đường Tự Do (tức Catinat thời Pháp thuộc) mang đậm dấu ấn kiến trúc Pháp.
Saigon 1971 – Moslem Mosque – Đường Thái Lập Thành. Photo by Mike Vogt. Đường Thái Lập Thành (nay là Đông Du) bắt đầu từ đường Tự Do, kế tiếp là ngã tư Hai Bà Trưng và ngã tư Thi Sách, và kết thúc tại đường Đồn Đất (nay là Thái Văn Lung).
Chợ Saigon Xuân Canh Tuất 1970 – Góc Lê Lai – Phan Châu Trinh
Saigon 1972 – Đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai). Ngã tư đằng trước là Hồng Thập Tự – Công Lý (nay là Nguyễn Thị Minh Khai – Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Bên phải là trường Lê Quý Đôn.
Saigon 1965-66 (9) – Ngã 6 Phù Đổng khi chưa có tượng Phù Đổng Thiên Vương. Bên trái là đường Phạm Hồng Thái. Đường ngang cạnh cây xăng SHELL là Phan Văn Hùm (là bến xe đò, nay là đường Nguyễn Thị Nghĩa). Photo by Gene Long.
Saigon 1974 – Đường Hàm Nghi. Xe taxi con cóc và xe La Dalat
Đường Nguyễn Huệ, Saigon 1971 – Photo by Mike Vogt. Phía trước là ngã tư Ngô Đức Kế.
Saigon 1968 – Đường Phạm Ngũ Lão Saigon Nov 1968 – Photo by Brian Wickham
Saigon – đường Nguyễn Huệ, gần trụ đồng hồ
Saigon 1969 – Ngã tư Lê Thánh Tôn – Công Lý, phía xa là đường Lê Lợi. Photo by Brian Wickham
Saigon 1967, kẹt xe trên đường Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi)
Saigon thập niên 1960. Đường Pasteur nhìn từ đầu cầu Mống. Người chụp đứng trên đầu cầu Mống ở đầu đường Pasteur. Phía trước là ngã tư Pasteur – Nguyễn Công Trứ. Bên phải là một phần mặt hông trái và góc sau của Ngân Hàng Quốc Gia tại góc Pasteur – Nguyễn Công Trứ. Phía xa là ngã tư Hàm Nghi – Pasteur. (tại góc đó có Tòa đại sứ Đài Loan và Giao Thông Ngân Hàng).
Saigon 1969 – Đường Pasteur, bên phải là Đại Học Kiến Trúc, bên trái là công viên Vạn Xuân. Sau này công viên này bị xóa bỏ và đưa vào khuôn viên của nhà thi đấu Phan Đình Phùng ngày nay.
Saigon 1965 – Đường Pasteur khúc giữa của đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng) và Nguyễn Du). Photo by Charles Cox
Saigon 1969 – đường Nguyễn Huệ. Photo by Wayne Trucke
Saigon 1968 – trên Đại lộ Cách Mạng 1-11. Photo by J. Patrick Phelan.
Đại Lộ Cách Mạng 1-11 (đoạn nối dài đường Công Lý) được đặt theo ngày đảo chánh Ngô Đình Diệm. Sau 1975 trở thành đường Nguyễn Văn Trỗi (Từ cầu Công Lý tới Hoàng Văn Thụ)
Saigon 1965-66 – Đường Công Lý – Photo by Thomas W. Johnson
Biểu ngữ trên đường Công Lý
Saigon 1969-70 – Đường Nguyễn Huệ cạnh góc Ngô Đức Kế – Photo by David Staszak
Saigon 1972 – Đường Ngô Đức Kế
Saigon 1967-1968 – Đường Đinh Tiên Hoàng đoạn gần Cầu Bông
Saigon 1967-1968, Casino Dakao đoạn ngã 3 Đinh Tiên Hoàng – Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu)
Saigon 1969-70. Đường Phạm Ngũ Lão
Ga xe lửa Bến Thành – Saiogn năm 1964-1965, nay trở thành công viên 23-9. Góc hình được nhìn từ đường Lê Lai về phía Trần Hưng Đạo. Ở góc trên trái nhìn thấy một chút mặt đứng của tòa nhà Hỏa Xa Đông Dương phía sau các mái nhà tôn.
Ga xe lửa Sài Gòn xưa khá rộng, nằm giữa các trục đường Phạm Ngũ Lão, Võ Tánh (Nguyễn Trãi bây giờ), Lê Lai và công trường Quách Thị Trang (nơi hiện đang xây dựng nhà ga tàu điện metro) – tương ứng với toàn bộ Công viên 23-9 và bến xe buýt hiện nay.
Saigon 1971 – Tượng đài Trần Nguyên Hãn nhìn từ trên cầu vượt dành cho khách bộ hành. Phía sau tượng đài nhìn thấy phần chân của cầu vượt bộ hành thứ hai từ bùng binh nối qua bến xe buýt. Nhà có mái ngói cao nhất trong hình là Nhà chú Hỏa, trên đường Phó Đức Chính.
Saigon 1969-70 – Chợ Bến Thành – Photo by David Staszak
Saigon 1969, cầu bộ hành trước chợ Bến Thành
Saigon đầu năm 1968, trước ngày Tết Mậu Thân
Vòng xoay Công trường Mê Linh đầu đường Hai Bà Trưng – Photo by Thomas W. Johnson
Đường Nguyễn Văn Thinh (nay là Mạc Thị Bưởi), ngã 3 với đường Phan Văn Đạt (đường ra công trường Mê Linh)
Saigon 1968,Photo by Darrel Lang. Đường Võ Di Nguy ở Phú Nhuận, nay là Nguyễn Kiệm.
Đường Tổng Đốc Phương (nay là Châu Văn Liêm) ở Chợ Lớn. Bùng binh là Tượng đài Chiến sĩ Vô danh giữa ngã tư Hồng Bàng – Tổng Đốc Phương
Saigon 1969 – đường Nguyễn Huệ. Photo by Wayne Trucke
Saigon1964 – Đường Lê Lợi. Photo by Al Adcock
Saigon 1968 – Đường Nguyễn Huệ. Photo by Sonnyb
Saigon 1969-70 – Đường Nguyễn Huệ. Photo by David Staszak
Ngã ba Nguyễn Huệ – Tôn Thất Thiệp. Bên trái là Tòa Hòa Giải
Saigon 1968 – Đường Hai Bà Trưng. Photo by Sonnyb
Saigon 1972. Đường Trần Hưng Đạo. Photo by Kemper14
Saigon 1969 – Đường Trần Hưng Đạo, Photo by Sonnyb. Chỗ gẫy góc về bên trái là ngã tư Trần Hưng Đạo – Cộng Hòa (nay là Nguyễn Văn Cừ). Ở giữa ảnh gần phía trên là nhà thờ Cầu Kho (nhìn thấy mặt sau, nhà có tháp trắng)
Saigon 1968 – Cổng vào Căn cứ Không quân TSN, nay là đầu đường Cộng Hòa nơi có cầu vượt vòng xoay Lăng Cha Cả.
Saigon 1968 – đường Lê Lợi. Photo by Larry Burrows
Góc Lê Lợi – Tự Do
Đại lộ Nguyễn Huệ sau cơn mưa
Đường Hồng Thâp Tự trước trường Lê Quý Đôn
 
Saigon về đêm
Một số hình ảnh về Đại Lộ Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn) dẫn vào Dinh Độc Lập:

Terror in Little Saigon—A. C. Thompson | PBS Frontline

Seat Auditorium—San Jose Scottish Rite Center

Xíu—Tiểu Tử

Nàng là người Việt gốc Hoa. Tên nàng là Trịnh Tiểu Mi, một cái tên rất… “tài tử Hồng Kông.” Mà thật sự, nàng cũng có nét tài tử Hồng Kông, bởi vì nàng đẹp. Ở nhà gọi nàng là “A Xíu”, một cái tên có âm thanh thật dễ thương. Và cũng hạp với con người của nàng: nhỏ nhỏ thon thon, cân đối gọn gàng như con búp-bế.Gia đình nàng có nhà ở Chợ Cũ Sàigòn. Tầng dưới là cửa hàng bán cà phê đã rang rồi, cà phê hột và cà phê xay đủ loại. Hai tầng trên để ở và sân thượng là nơi rang cà phê.

Nàng là con gái duy nhứt của gia đình, lại là đứa con út nên được cưng như trứng mỏng. Hai người anh đã có gia đình, đã “ra riêng”, cũng bán cà phê nhưng ở tuốt trong chợ lớn. Ngày ngày, nàng phụ “mà má” đứng bán cà phê. Khách hàng tới mua nườm nượp, nhất là giới trai trẻ. Cà phê được pha trộn và rang theo lối thủ công gia truyền, ngon có tiếng. Bán đắt đã đành nhưng cửa hàng đông khách, có lẽ phần lớn tại vì nàng duyên dáng dễ thương! Bằng cớ là thiên hạ nói “Cà phê A Xíu” chớ không ai nói “Cà phê Hối Ký” là bản hiệu của cửa hàng!

…Chàng là người Việt “chánh cống”, quê ở Cần Thơ. Chàng thuộc gia đình nông dân, ba đời làm ruộng. Chàng tên là Bảy vì là thứ bảy. Dáng vóc chàng cao ráo, “đô” con, nhưng tánh tình thì trầm lặng ít nói, còn có vẻ… lù đù nữa ! Vì vậy nên hồi đi lính quốc gia, bạn đồng đội “gắn” cho hỗn danh “thằng Bảy Lù.”
Hồi thời trước, nhờ bà con quen lớn sao đó mà chàng được về làm việc văn phòng ở tổng tham mưu. Chàng mướn một căn gác nhỏ ở khu cổng xe lửa số 6 để ở, rồi ngày ngày đi làm bằng xe đạp. Chàng không đủ sức mua Honda nên lúc nào cũng thấy đi xe đạp, cho dầu phải đạp xa cách mấy…
Chàng và nàng gặp nhau lần đầu trong bữa tiệc cưới của một người bạn chung. Chú rễ này cố tình sắp cho họ ngồi cạnh nhau, cùng bàn. Bởi vì khi giới thiệu, anh ta nói : “Đây là Tiểu Mi, người đẹp Chợ Cũ. Chưa có kép nào được lọt mắt xanh của nàng hết. Mày liệu thử thời vận coi ra sau. Còn đây là thằng Bảy, bạn cùng đơn vị. Nó hơi cù lần nhưng dễ thương như một tờ giấy trắng. Anh sắp nó ngồi cạnh Tiểu Mi để nó… hầu Tiểu Mi đó nghen !” Nàng nhìn chàng, mỉm cười mà hai vành tai đỏ ửng. Chàng gật đầu, nói lí nhí: “Hân hạnh…” Vậy rồi họ quen nhau…
Về đơn vị chàng giới thiệu “cà phê A Xíu”. Mấy xếp lớn xếp nhỏ uống thử, khen ngon. Sau đó, cứ vài hôm là chàng đạp xe xuống Chợ Cũ mua cà phê giùm mấy xếp. Nhờ vậy, họ thân nhau. “Pà-pá , mà-má” của Xíu cũng mến “thằng Bảy”, nên thường nói : “Tội nghiệp thằng nhỏ! Đạp xe lên xuống mua cà phê hoài mà không nghe than một tiếng”.
Rồi họ được phép đi chơi với nhau. Đi xe đạp, mỗi đứa một chiếc, chạy song song. Những lúc đi như vậy, chỉ có mình nàng nói, còn chàng thì mỉm cười lắng tai nghe, lâu lâu góp vào vài câu, nhưng góp đúng lúc. Nàng thích chàng ở chỗ tế nhị đó. Còn chàng thì thích nghe nàng nói, nói bất cứ chuyện gì. Bởi vì giọng nói của nàng đã dễ thương mà cách nàng nói càng dễ thương gấp bội.
Vậy rồi họ yêu nhau lúc nào không biết! Họ chưa từng nói “yêu nhau” nhưng họ biết họ yêu nhau. Bởi vì họ nói tình yêu bằng đôi mắt và họ nghe lời yêu bằng tất cả con tim…
Một hôm -chàng nhớ hoài cái hôm đó, đến bây giờ vẫn còn nhớ rõ, và có lẽ mãi mãi về sau … ờ… mãi mãi về sau … chắc chẳng bao giờ quên- hai đứa hẹn nhau đi chơi, Xíu nói : “Em để xe đạp ở nhà. Đi chơi mà đạp xe song song cứ phải nhìn qua ngó lại, sợ té sợ đụng, có khi quên bẵng đi mình đang nói cái gì … thành ra mất đi cái thú đi chung với nhau”. Rồi nàng nghiêng nghiêng đầu nhìn chàng, cười cười : “Em muốn anh chở em đi, được không?” Chàng sung sướng, gật đầu. Nàng ngồi lên pọt-ba-ga, hai chân buôn thõng một bên, một tay nắm lấy phía sau yên xe. Dáng nàng ngồi thong dong thoải mái. Chàng đạp xe, nghe nhẹ phiêu phiêu. Một lúc, chàng hỏi “Xíu ngồi có được không ?.” Nàng trả lời: “Được chớ anh.” Rồi tiếp: “Anh thấy không? Mình đi chung một xe như vầy, nói chuyện với nhau có phải thích hơn không? Dĩ nhiên, anh ngồi phía trước, em phía sau, mình không nhìn nhau được trong khi nói chuyện. Nhưng mình đâu cần nhìn nhau mà mình vẫn thấy nhau phải không anh?”.Chàng nghe mát cả lòng. Chàng gật đầu rồi nhấn mạnh lên bàn đạp cho xe đi nhanh nhanh như để nói lên niềm phấn khởi ! Rồi đột nhiên chàng nói, lời lẽ không biết từ đâu tuôn ra: “Xíu à! Chở Xíu đi như vầy, có phải đạp suốt ngày, suốt tháng, suốt năm… anh cũng đạp nổi.” Nàng cười sung sướng, đưa tay véo hông chàng một cái. Sao nàng thèm cắn người yêu thật đau cho hả “cái gì đó” đang căng đầy lồng ngực…
Từ đó, có đi chung thì luôn luôn chàng đèo nàng sau xe…Dễ thương quá là tình yêu của Bảy và Xíu!
Vậy rồi có ngày 30 tháng tư 1975… Phải có ngày đó, để đổ nát được cách mạng đề cao. Phải có ngày đó, để hoang tàn được cách mạng xem là thành tích. Miền Nam giống như nùi giẻ rách, nhờ đã được giải phóng hoàn toàn!
Hai người anh của Xíu đã đưa vợ con di-tản. Pà-pá, mà-má và Xíu ở lại buôn bán lai rai, chờ coi có “làm ăn gì được không”. Cửa hàng bây giờ thâu gọn lại chỉ còn có hai thùng kiếng nhỏ đặt phía trước. Bảng hiệu đã được gỡ xuống cất trên sân thượng. Mấy dụng cụ rang cà phê được chất ngổn ngang trong một góc, giống như đồ phế thải. Làm như vậy để thấy cái vẻ nghèo nàn, làm ăn khó khăn…
Bảy học tập ba hôm rồi về làm thợ phụ cho bác Năm thợ hồ ở cùng xóm. Chàng có “xẹt” qua Chợ Cũ thăm người yêu mấy lần. Bây giờ họ không còn thì giờ để đi chơi với nhau bởi vì ai cũng bận rộn bởi các buổi hội họp, học tập, khai báo, đi mết tinh v.v… là những thứ sanh hoạt rất cần thiết để đưa nhân dân lên làm chủ (Nhà Nước nói như vậy). Thành ra mỗi lần họ gặp nhau, họ coi thời gian quý như vàng! Có lẽ vì vậy mà bây giờ họ nhìn nhau nhiều hơn là họ nói chuyện với nhau…
Thời gian sau, chánh quyền “đánh tư sản mại bản”.Gia đình Xíu không tránh khỏi “đại nạn” này. Những người “cách mạng” xong vào nhà ngang nhiên và hùng hổ như một bọn cướp. Họ “bươi” từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ sau ra trước… giống như gà bươi đống rác. Gặp gì kiểm kê nấy. Vậy rồi… hốt hết ! Mà-má và Xíu chỉ biết ôm nhau mà khóc, còn Pà-pá thì ngồi trên ghế xích-đu, xích tới xích lui hút thuốc, nín thinh.
Sau “trận” đó, nhiều người nhảy lầu tự tử. Nghe thấy như vậy, Pà-pá nói: “Làm như vậy đâu có giải quyết cái gì ? Tụi nó còn cười, nói mình ngu ! Từ từ rồi tính nữa.” Trong khi chờ đợi pà-pá “tính nữa”, mẹ con Xíu ngồi xổm trên vỉa hè bán giò-cháo-quẩy bánh tiêu… Bây giờ, Bảy vẫn đạp xe xuống thăm Xíu. Lần nào cũng được nàng cho một cái bánh. Chàng ngồi xổm một bên, ăn. Không đói, nhưng vẩn ăn. Và ăn thấy ngon!
Cách mạng không…”quản lý” được thời gian nên thời gian vẫn đi qua, ngạo nghễ. Thiên hạ lần lượt đi chui-cũng gọi là “vượt biên.” Phần đông đi bằng đường biển. Có người đi thoát, có người bị bắt. Những người đi thoát, có khi mất tích, có khi bị cướp. Dầu vậy, đi chui cũng đã trở thành gần như là một phong trào!
Thấy mỗi người vượt biên phải đóng nhiều cây vàng cho người tổ chức, cán bộ cách mạng “nhào ra làm ăn.” Họ cũng tổ chức đi chui, nhưng là một loại đi chui không sợ bị bắt vì có chánh quyền … hộ tống. Vì vậy, thiên hạ gọi là “đi chui bán chánh thức” ! Người Tàu được ưu tiên đi bằng cách này. Cho nên họ đi ồ ạt…
Một hôm, được thơ hẹn của Xíu, Bảy xin nghỉ việc buổi chiều, đạp xe xuống “Con Rùa” đường Duy Tân, đợi. Một cô gái chở Xíu tới bằng Honda, gật đầu chào Bảy, đợi Xíu bước xuống rồi quay xe đi vội vã. Xíu mặc áo dài trắng, tóc được cột túm lại sau ót. Nhìn đôi mắt mọng đỏ của người yêu, Bảy linh cảm có một cái gì không ổn. Bảy hỏi: “Có chuyện gì vậy, Xíu?” Nàng không trả lời, nhưng nói giọng trống rỗng: “Anh chở em đi. Đi đâu cũng được”. Đợi nàng vén vạt áo ngồi vững vàng lên pọt-pa-ga, chàng mới đạp xe đi. Đi chầm chậm, đi thẳng. Lần này, Xíu không nắm phía sau yên xe. Xíu vòng một tay ôm lấy nửa người của Bảy. Lần đầu tiên được bàn tay thon nhỏ của người yêu đặt lên bụng mình, Bảy thật xúc động. Chàng đạp xe mà tưởng chừng như trên đường phố chỉ còn lại có hai đứa…
Một lúc sau, Xíu mới nói: “Pàpá cho phép em đi chơi với anh từ giờ tới năm giờ chiều”. Rồi nàng nghẹn ngào: “Đi với nhau lần cuối”. Bỗng nàng chồm tới, vòng cả hai tay ôm chặt lấy người yêu, úp mặt lên lưng chàng, khóc ngất. Chàng nghe rớt ra từng tiếng rời rã trên lưng: “Tối … nay … em … đi …” Mồ hôi bỗng vã ra như tắm, nhưng Bảy vẫn còn tỉnh táo để đặt một bàn tay lên bàn tay người yêu bóp nhẹ. Cử chỉ đó làm Xíu không kềm được nữa. Nàng vừa khóc lớn vừa giúi giúi mặt lên lưng người yêu, mạnh thật mạnh- Làm như nàng muốn chui hẳn vào người của chàng để hai đứa chỉ còn là một, để nước mắt và mồ hôi của hai đứa hòa quyện với nhau cùng chung niềm thống khổ, để đừng thấy đừng nghe đừng biết gì gì nữa, chết lịm đi cho cuộc tình khép lại, vĩnh viễn khép lại… Tội nghiệp! Rồi ngày mai, rồi mãi mãi, cuộc đời này còn ý nghĩa gì nữa đâu?
Hai người vẫn đèo nhau đi… Đầu óc trống rỗng. Chẳng còn nói được với nhau chuyện gì hết. Và chắc cũng chẳng còn biết phát âm là gì nữa ! Niềm đau quá lớn đã làm cho họ như người câm. Hai người câm…
Xíu vẫn ôm lấy người yêu, áp một bên má lên cái lưng chắc nịch của người yêu, quên mất rằng đây là lần đầu tiên Xíu chạm vào người của Bảy ! Lâu nay, mặc dầu yêu nhau tha thiết, họ chỉ dám nắm tay nhau thôi, và nắm tay nhau chỉ có mấy lần. Xíu nhắm mắt, tưởng chừng như thời gian đang ngừng lại. Nàng bỗng nghe rõ hơi thở, nghe rỏ nhịp tim của Bảy, những thứ mà lâu nay nàng chưa từng nghe. Mũi nàng bỗng hửi được mùi mồ hôi, hửi được mùi da thịt của Bảy, những thứ mà lâu nay nàng chưa từng dám nghĩ tới. Nàng bỗng nghe hơi ấm từ người của Bảy chuyền sang người nàng âm thầm nhưng rõ rệt, thứ cảm giác dìu dịu lân lân mà lâu nay nàng chưa từng được biết. Nàng bỗng nhận thức rằng người yêu nàng là đây, còn hiển hiện trong vòng tay. Rồi sẽ không bao giờ được như vầy nữa. Bởi vì đây là lần đầu và cũng là lần cuối, lần cuối… Thương xót quá ! Nàng siết chặt người yêu với tất cả sức mình mà nước mắt trào ra không dứt…
…Rồi Bảy cũng phải đưa Xíu về. Chàng vừa thắng xe, chống chân xuống đất, nàng đã đứng xuống chạy ù vào nhà. Tà áo dài trắng của nàng lất phất vài cái như vẫy chào lần cuối trước khi khuất sau cánh cửa. Bảy chống tay lên ghi-đông, đầu gục xuống giữa hai vai. Chàng có cảm giác như mình đã kiệt sức…
…Xíu đi rồi, ngày nào Bảy cũng đạp xe đi long bong. Không biết đi đâu, cứ đạp chầm chậm, đạp hoài. Khát, thì tấp vô uống cái gì đó. Đói, thì tấp vô ăn đại cái gì đó. Ăn gì uống gì, không cần để ý tới nữa.
Vậy mà Bảy cũng đạp tới cái công viên nhỏ mà hai đứa thường hẹn nhau. Chàng dựng xe cạnh chiếc băng xi măng mà hai đứa thường ngồi, rồi bước lại ngồi giống như ngày xưa chàng vẫn ngồi để đợi nàng tới. Nhưng bây giờ thì chàng ngồi một mình, ngồi thật lâu. Và không biết tại sao lại phải ngồi như vậy!
Rồi lại đạp xe đi loanh quanh. Không cần biết đi đâu…
Vậy mà Bảy cũng đi đến “Con Rùa” đường Duy Tân, chỗ hai đứa thường đến ăn kem, uống nước dừa. Chàng dựng xe rồi lại ngồi lên bệ gạch, chỗ quen ngồi để đợi nàng đến. Chỗ đó nhìn thẳng xuống sau lưng nhà thờ Đức Bà, nàng luôn luôn đi từ hướng đó đi lên, hướng mà bây giờ chàng nhìn đâm đâm, nhìn mãi…
Vậy mà Bảy cũng đi đến con đường Đinh Tiên Hoàng, khúc rộng thênh thang dẫn dài xuống bờ sông. Hai đứa thường đi bộ ở đó vì đường vắng và mát. Đường đó bây giờ vẫn vắng và mát, Bảy dẫn xe đi bộ chầm chậm như ngày xưa…
Rồi Bảy còn đến nhiều nơi nữa : sở thú, vườn Tao Đàn, con đò Thủ Thiêm, chùa Vĩnh Nghiêm, quán thạch chè Hiển Khánh… Những nơi những chốn mà hai đứa, ngày xưa, đã từng đến một lần, hai lần, nhiều lần. Không biết cái gì đã đưa đẩy chàng đi như vậy ?
Bảy không biết rằng mình đang đi lượm những mảnh vụn của cuộc tình. Nếu không có cái “ngày cách mạng thành công”, thì cuộc tình đó đã không bị đập tan thành mảnh vụn… Để thấy cái gọi là “cách mạng thành công” đã thật sự thành công trong nhiệm vụ phá tan đập nát tất cả những gì của miền Nam, kể cả những gì nhỏ bé nhứt tầm thường nhứt như tình yêu của chàng trai và cô gái đó!
Chuyện không nói Xíu có đi được đến bờ đến bến nào không. Điều mà người ta biết là có vài chiếc tàu “đi chui bán chánh thức” bị chìm vì gặp sóng to gió lớn. Việt cộng đã cho đi bằng loại tàu gần như phế thải, không còn đủ tiêu chuẩn vượt đại dương.
Nhưng chuyện nói rằng Bảy vẫn đạp xe đi loanh quanh, hết ngày này qua tháng khác. Và bây giờ Bảy hay đứng ở bờ sông Sàigòn, nhìn xa xăm rất lâu để chỉ gọi thầm có hai tiếng: “Xíu ơi…”.
Tiểu Tử

Lễ Ra Mắt Sách Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch Sử

by Vietoday


by Truyền Hình Việt Nam


by Khanh Vũ


by Anh Trương


VIETV Network by Stanley Cao

Hình Ảnh Sinh Hoạt Ngày 13 Tháng 1 năm 2018—Hồ Ngọc Hiệp K25

anigif

Qua phu_59-tile

Qua phu_73-tile

Qua phu_52-tile

Qua phu_24-tile

Qua phu_65-tile

Qua phu_70-tile

9661_1516158000085b-tile

Qua phu_01-tile

Qua phu_02-tile


Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

Tri Ân TPB-VNCH “Bên Nhau Đi Nốt Cuộc Đời” Xuân 2018, chiều 28.12.2017


Phân Ưu Cùng Anh Chị Vũ Đình Lâm Khóa 23

NPVuDinhLam

Những Mảng Bám—Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Ông dừng xe lại trước một con đường nhỏ rẽ vào một khu dân cư. Phong cảnh này… ồ, trông quen quá! Ông cố moi óc xem mình đã thấy nó ở đâu. Một con đường đầy những cây phượng tím trồng hai bên. Ông quẹo vào, và đậu lại bên lề. Ông bước ra khỏi xe. Màu tím của những bông hoa này ông không thể nói rằng gợi cho ông cảnh ở Việt Nam được. Việt Nam không có phượng tím. Nhưng cái dáng cây, hai hàng cây tăm tắp, những hạt nước mưa còn đọng trên lá như những giọt lệ, lại đang khiến một cái gì bật ra từ trong trí ông, như thể lâu nay nó đã nằm nghỉ thật sâu.
A! Ông như thấy lại những chuyến xe tất bật ra vào con đường này. Những chiếc xe lấm lem bùn đất. Những chiếc xe mang dấu hồng thập tự. Có những người tài xế mặc đồ “xi-vin”, và cũng có những người tài xế, những nhân viên mặc đồ lính. Ông thấy mình đang nằm trên một chiếc “băng-ca”. Ông không cần ngước lên mà cũng đã thấy được trời xanh mây trắng. Ông nghe được cảm giác đau đớn đến như tê dại ở cánh tay. Ông ngửi được mùi thuốc mê. Và ông hết ý thức…
Tiếng chuông từ chiếc cell phone trong túi áo vang lên. Ông giật mình. Những cảnh trong trí vụt biến mất hết. Ông bắt máy, nói theo phản xạ:
– Hello!
– Ông! Ông ở đâu, sao chưa thấy về ăn cơm”
– Hả”””
– Ông! Tôi đây nè! Ông đi đâu vậy”
– Ơ….
– Ông!
Ông ngơ ngác. Ông định thần một giây nữa, và đã nhận ra tiếng của bà. Ông đáp vội:
– Tôi đang ở… ở…
– Ở đâu”
– Tôi… – Ông ngó quanh- Tôi đang ở…
Giọng nói bên kia nghe rất sốt ruột:
– Ông nói nhanh lên! Có chuyện gì”
– Ơ… không… Tôi không biết… ở đâu…
– Ông nói gì kỳ vậy” Ông lái xe phải không”
– Phải.
– Xe.. có bị mất không”
– Không. Xe vẫn đang ở cạnh tôi đây.
– Vậy ông làm gì” Ông đang ở đâu” Ông… ông dòm cái tên đường, nói cho tôi biết đi!
– À… à, – Ông tiến đến dòm bảng tên đường – Dalton Drive.
– Ông tới đường đó làm gì”
– Tôi… tôi không biết.
– Làm sao ông tới đó”
– Tôi lái xe… nhưng … tôi không biết làm sao tôi tới đó.
– Thôi ông ơi, để tôi nhờ mấy đứa nhỏ giúp. Ông đứng đó, đừng đi đâu hết nhé!

Đường Dalton. Đường phượng tím. Con đường đẹp đến quen thuộc… Ủa, mà làm cách nào mình đã đến đó” Mình lái xe mà!.. Ông chơi vơi trước câu hỏi của gia đình và của chính ông. Ông bắt gặp vẻ mặt lo lắng của bà, và ánh nhìn nghi ngại của thằng con. Trong bữa cơm chiều, ông gắp và đưa đẩy thức ăn vào miệng như lấy lệ. Ông cũng còn hoang mang lắm. Ông từ từ nhớ ra là mình đã ngồi vào xe và lái đi như có ai dẫn dắt. Nhớ ra được rồi thì ông lại càng hoang mang hơn. Ôi! Ông đã làm cái gì vậy”””
Ông đến trước tủ lạnh, toan mở tủ lấy đĩa trái cây, nhưng ông dừng lại. Ông thấy trên mặt cửa tủ lạnh, gắn đầy những tờ “sticky notes” trên đó ghi những câu nhắc nhở: “Nhớ uống thuốc bổ lúc 6 giờ tối”, “Nhớ gọi điện thoại cho bác sĩ ngày thứ ba”, “Nhớ ghi địa chỉ nhà bác Châu”… Ông thấy bần thần quá! Ông trở lại bàn, ngồi lặng thinh.
Bà trở lại sau khi ra phòng ngoài nghe điện thoại. Bà hơi nghiêng đầu, hỏi ông:
– Ông không sao chứ”
– Tôi OK.
– Ông xem mà đi nghỉ sớm đi nhé!
– Ừ. Mà … bà này! Tự nhiên tôi muốn mình đi thăm bác Châu. Lâu quá không thăm bác. Chắc bác cũng bận đi đâu nên không thấy bác ghé mình.
Bà kêu lên thảng thốt:
– Kìa! Ông!
– Hả” Chuyện gì”
– Ông nói gì vậy” Hôm qua, nhà mình mới đi… phúng bác Châu. Bác ấy mất rồi! Ông quên rồi sao”
– Hả”””
Bà im lặng. Ông cũng im lặng. Không biết được bao lâu, rồi ông nghe bà nói khẽ:
– Ông đi nghỉ sớm nhé! Tôi đi tụng kinh đây!
– Ừ, đi… tụng kinh.
Ông cười nhẹ như để làm bà yên tâm.
Bà quay đi rồi, ông thơ thẩn ra sân. Ông đã nhớ lại, hôm qua cả nhà vừa mới đi đám bác Châu.

Ông cầm cây đàn lên. Đã lâu ông không đàn. Cây đàn guitar này là của thằng cháu nội. Ông nhớ một đoạn nhạc của Glen Campbell và ông khe khẽ hát. Bỗng nhiên trong tâm tưởng của ông, như một đợt sóng, những hình ảnh từ thuở xa xưa nào lần lượt sắp hàng trước mắt. Ông thấy mình và một bạn đồng đội đến trước căn nhà của bác Châu, ở một khu ngoại ô Sài Gòn. Hai bác cùng xuất hiện ở cửa, mời họ vào. Hai người lính, áo còn khét mùi chiến trận, vào nhà, và không dám ngồi. Trong một nghi thức tự lập ra, họ đứng nghiêm chào hai bác Châu, và báo tin con trai của họ đã tử trận. Ông thấy ông và bạn mình đứng thẳng, đông cứng như hai pho tượng bằng nước đá. Ông nghe tiếng kêu khô khan của bác Châu trai và tiếng nấc của bác Châu gái. Một hình ảnh khác tiến lên che mờ khuôn mặt của hai bác. Đó là gương mặt của người chiến hữu đang ngã xuống giữa khói đạn mịt mù. Ông thấy mình đang vuốt mắt cho bạn. Rồi ông thấy mình đang băng qua một hào sâu, tiếp tục cuộc chiến. Ông nghe một cái gì nhọn và nhỏ xoáy vào da, rồi cắm vào thịt rất nhanh, rất sâu, đi qua mạch máu. Ông ôm cánh tay, lết vào một chỗ nấp. Máu chảy quá nhiều. Ông nhắm mắt, nghiến răng chịu đau. Người lính cứu thương chạy đến gần. Ông như lịm đi…
Những cảnh gián đoạn trôi qua như trong một cuốn phim bị đứt. Ông thấy lại cảnh bệnh viện bên một con đường trồng đầy cây còng. Phải rồi! Cây còng. Ông nhớ như in. Hoa màu hồng nhưng sau những cơn mưa trông sao buồn quá! Ông hiểu vì sao nhìn cây phượng tím ông lại liên tưởng đến những con đường cây còng. Ông mỉm cười. Có một chút gì vui vui, như thể ông đang được xem một cuốn truyện cũ mà mình từng rất thích.
Bà đến ngồi bên ông. Ông nhìn qua, cười nhẹ:
– Bà muốn nghe hát không”
– Có.
– Bà muốn nghe nhạc gì”
– Gì cũng được. Ông đang chơi nhạc của Glen Campbell”
– Ừ. Tôi chơi tiếp nhé! Mà bà này, hình như Glen cũng bị…
– Bị gì” Ông hát đi! Bị gì… kệ người ta – Bà nói như át lời ông.
– Được. Bà không muốn tôi nói thì thôi. Tôi hát mà có quên lời thì bà nhắc nhé!
– OK.
Ông cười xòa. Rồi ông hát. Ông không quên một chữ.
“Galveston”. Gương mặt Glen Campbell thời trai trẻ hiện ra như đang song ca với ông. Ca sĩ thần tượng của ông, cùng tuổi với ông đấy! Ông thường nói với bà: “Tay này sướng hơn tôi nhiều, đâu có ra chiến trường như tôi, nhưng tôi cám ơn ổng vì ổng cho tuổi trẻ của mình những bản nhạc hay”.

“Galveston, oh, Galveston 
I am so afraid of dying 
Before I dry the tears she’s crying
Before I watch the sea birds flying in the sun…”

Ông dừng lại đột ngột. Bà nghĩ rằng ông quên lời. Bà nhắc:
– at Galveston.
Ông nhìn bà. Ông như người mê. Tôi sợ tôi chết trước khi tôi lau khô nước mắt của nàng, trước khi tôi được nhìn ngắm những cánh chim hải âu bay trong nắng… Ôi! Ông sợ ông sẽ quên trước khi ông nhớ được hết mọi điều. Bảy mươi mấy năm là một đoạn đời dài. Phải nói là những đoạn đời rất dài, nối với nhau ở những ngã rẽ. Ông đã để những đoạn đời lắng chìm. Đôi khi ông nhớ lại, nhớ rất rõ. Nhiều khi ông quên mất.
– Bà này! Tôi muốn nói với bà chuyện này, mà bà đừng có la tôi đấy!
– Ông nói đi. Về chuyện gì”
– Về Glen Campbell.
Bà như kêu lên:
– Lại nữa!
– Bà nghe này, Glen sẽ làm một “tour” hay một buổi “chia tay”, thấy cũng hay hay…
Bà ngập ngừng:
– Ông … ông muốn nói…”
Ông cười to:
– Bà khoan hiểu lầm đã. Tôi thì không. Hãy để cái gì đến sẽ đến. Tôi không muốn rùm beng đâu! Hơn nữa, mình không phải là nhân vật nổi tiếng gì cho lắm. Tôi muốn yên tĩnh.
– Nhưng nói cho mọi người, chia sẻ cho mọi người, thì cũng là một điều hay. Mà… ông ơi, nghe nói bệnh này có xác suất cao ở phụ nữ, sao ông lại…
– Bà lẩm cẩm chưa! Nam cũng bị vậy! Mà đúng ra nam là phải bị nhiều hơn chứ! Nam hút thuốc, nam uống rượu, nam ít vận động hơn nữ. Có gì đáng ngạc nhiên đâu! Có điều nữ bị nhiều hơn nam là ông Trời hơi bất công rồi đó!
– Tôi… tôi rồi… có sẽ bị không hở ông”
– Tôi tin là không. Bà kinh kệ hàng ngày, bà thông minh lắm đó, yên tâm đi!
Hai người cười vang, và lại trêu nhau vui vẻ. Ông như cất đi bớt chút gánh nặng. Nỗi ám ảnh đè lên tâm tư ông hàng ngày. Từ hôm lái xe đi như người mộng du đến khi vào bệnh viện để chẩn bệnh kỹ lưỡng, ông biết đã có một thay đổi rất lớn, như thể cuộc đời lại qua một ngã rẽ khác nữa. Nhưng ông vốn đã tập tính chấp nhận từ hồi còn trẻ, cho nên ông cố gắng bình tĩnh để đón nhận. Ông xin ngồi lại nói chuyện với bác sĩ. Bệnh ông chưa nặng, nhưng không thể coi thường. Bác sĩ cho ông xem hình chụp bộ não của ông, giải thích cho ông nghe về những chỗ có “vật lạ”. Những mảng bám! Người trong chuyên môn gọi đó là “amyloid plaque”. Vị nữ bác sĩ dễ thương lại còn lấy giấy bút ra vẽ và giải thích đơn giản cho ông biết đó là một loại chất đạm “cứng đầu”, bình thường nó tan rã, nhưng ở ông và những người đồng bệnh, chúng tích tụ lại và bám dính giữa những tế bào thần kinh, ngăn cản hoạt động của não. Cô lại vẽ thêm những “mớ tóc rối” nằm trong tế bào thần kinh, nói rằng đó là thủ phạm gây nên sự hủy hoại của các tế bào này. Đương nhiên là ông nhận được những loại thuốc đặc trị, rồi lời khuyên về một chế độ ăn uống và tập thể dục để “làm chậm tiến trình của bệnh”, ông chăm chú nghe theo.
“Làm chậm tiến trình của bệnh”, ông lẩm bẩm.

“Cho tôi lại trí nhớ!” – Ông thét vang trong giấc ngủ. Ông choàng tỉnh, thấy bốn bề yên lặng. Người bên cạnh ông vẫn đang ngủ say. Ông nhìn kỹ gương mặt này, nhờ ánh đèn mờ mờ của chiếc đèn ngủ. Trong giấc mơ ông đã thấy lại gương mặt của từng đồng đội. Ông nhớ rất rõ tên của từng người cùng những thói quen tốt hay xấu của họ. Cả những bản nhạc mà anh em cùng đàn hát với nhau khi về hậu cứ. Rồi đến những con sông, những ngọn núi, những khu rừng… tất cả sáng ngời trong một góc trí nhớ như người ta xem một phần sân khấu sáng choang nhờ ánh đèn chiếu tối đa vào. Bên ngoài khoảng sáng đó là một vùng đen thăm thẳm. Ông thức dậy thấy mình ở trong vũng đen ấy. Người bên cạnh ông vẫn ngủ say. Ông moi óc, tự hỏi: “Ai đây”..”

Ông đón cái cốc từ tay bà. Ông mỉm cười, nói:
– Cám ơn.
Bà nhìn ông hớp từng ngụm nóng hổi. Bà hỏi:
– Vừa uống không ông”
Ông gật gù:
– Ngon lắm, cháo ngon lắm!
Bà kêu lên:
– Ông nói sao”
– Cháo… cháo ngon lắm!
– Ông nè, ông hãy nhìn kỹ tôi pha cho ông cái gì đây!
Ông nhìn vào cốc, rồi bỗng như tắc hết ý, ông lắc đầu, ngơ ngác. Bà nói nhẹ nhàng:
– Cà phê, ông ạ! Ông muốn ghẹo tôi phải không”
– Ơ! Cà phê! Cà… phê!
Bà cười rồi quay đi như coi việc vừa rồi là chuyện ông cố ý trêu bà.
Nhưng ông thì không. Ông không đùa, không trêu. Mấy ngày nay ông đã thấy triệu chứng nhầm lẫn và quên tên những đồ vật thông thường nổi lên rõ ràng. Và đặc biệt hơn cả, đáng sợ hơn cả, là sự việc đêm hôm qua ông thức dậy không nhận ra bà bên cạnh. Ông biết đó là người rất quen nhưng không nhớ là ai, phải gọi là gì. Ông cảm thấy hoảng sợ với chính mình. Nhưng sáng ra thì mọi việc lại không có gì khác lạ. Ông đã mỉm cười chào bà khi bà ra sân, nơi ông đang ngồi sưởi nắng.
Ông đến bên bàn. Ông định thần một lát, nhìn vào cái vật quen thuộc hàng ngày mình vẫn dùng. Nó tên là gì nhỉ” Ông lại chơi vơi trong cái vũng tối. Bà đến bên cạnh, đoán ý:
– Ông định gọi cho ai”
– À… cho cái cô xinh đẹp hôm trước…
– Cô bác sĩ”
– Ồ đúng, đúng, cô bác sĩ. Cô bác sĩ có dặn khi nào muốn hỏi gì thì cứ gọi, không cần phải gặp.
– Vậy ông gọi cho cô ấy đi!
Ông cầm điện thoại lên, tần ngần một lát, rồi đưa cho bà:
– Bà … bà coi số rồi gọi giùm cho tôi. Nhiều số quá!…
Và ông nói chuyện với cô bác sĩ. Ông kể cho cô nghe về những giấc mơ, những hồi ức chính xác ông tìm về, cùng những điều lạ lùng xảy ra như quên tên các đồ vật, quên cách gọi người thân, nhầm lẫn và quên những việc vừa mới xảy ra, sự khó khăn với những con số… Rồi ông nghe cô bác sĩ khuyên nhủ ông hãy bình tĩnh, và cô giải thích về “trí nhớ ngắn hạn”, “trí nhớ dài hạn” bị ảnh hưởng ra sao trong căn bệnh của ông. Ông nghe thì ông hiểu. Nhưng ông e rằng sau đó ông sẽ quên hết. Chắc là cô bác sĩ hiểu điều này hơn nhiều, nên cô xin nói chuyện với bà. Ông trao điện thoại cho bà. Ông ngồi bên cạnh. Bà cũng nói chuyện rất lâu với bác sĩ. Khi bà chấm dứt câu chuyện, ông thấy đôi mắt bà đã đỏ hoe.
– Bà này, tôi không có làm sao đâu!
Bà cười gượng:
– Vâng, ông không có làm sao. Bác sĩ bảo ông ráng uống thuốc theo đúng toa. Ông sẽ khỏi bệnh. Có tôi chăm sóc cho ông, ông vui chứ”
– Vui lắm, tôi sẽ vui lắm! Cám ơn bà.
– Ông cám ơn tôi” Khách sáo vậy”
Ông cười to như để lây sự vui vẻ cho bà. Bà soạn trong tủ ra mấy cuốn album, đặt ngay ngắn trên bàn. Bà lẩm bẩm:
– Mình sẽ coi lại mấy cuốn album này nghen ông! Hy vọng những chuyện cũ ông không quên.
– Phải. Chuyện cũ tôi không quên.
– Vậy ông có nhớ lần đầu tiên hẹn tôi, ông thấy tôi mặc áo màu gì không”
– Không phải màu, mà là áo hoa. Bà mặc chiếc áo dài hoa vàng nền xanh rất nhã. Đúng không”
Bà cười trong nước mắt:
– Ông giỏi!
– Bà ơi, tôi xin bà một điều…
– Ông nói đi!
– Lỡ chăng… đến một ngày nào đó, khi tôi không còn nhớ bà là ai, xin bà đừng giận tôi nhé!
– Sao mà tôi giận ông được” Ông bệnh mà! Nhưng ông hãy vui lên, ông sẽ khỏi bệnh.
– Mình có thể làm chậm căn bệnh lại bà ạ, bác sĩ nói vậy. Làm chậm lại. Còn nếu mình muốn chậm lại mà nó không chậm, thì mình ráng chấp nhận nghen! Tôi cám ơn bà trước, vì lúc đó bà sẽ rất cực với tôi đấy! Bà và các con có thể gửi tôi vào viện dưỡng lão.
Bà ôm chặt lấy ông:
– Tôi sẽ chăm sóc cho ông, nếu trời không bắt tôi bị bệnh như ông.

Những mảng bám ngày càng nhiều trên óc. Ông có một thế giới khác. Một thế giới của riêng ông. Bà và các con, cùng với một người được thuê để phụ giúp, đã khá vất vả khi chăm sóc cho ông, bởi ông càng ngày càng khó khăn khi tự làm những công việc đơn giản cho chính mình. Cũng khá đau khổ, khi bà nhận thấy mình không còn quen thuộc với ông nữa. Nhưng ông tỏ vẻ vui thích khi nói về chuyện quá khứ. Ông chăm chú xem những cuốn album và nhận ra hết những người trong đó. Bà vui lây. Bà cũng đi vào cái thế giới đó với ông. Chỉ bằng cách đó. Đôi khi bà đứng lại phía ngoài. Bà để cho ông tự mình hồi tưởng, đắm chìm trong những kỷ niệm của đời người. Mỗi ngày hầu như ông chỉ sống cho hiện tại một vài khoảnh khắc ngắn ngủi. Còn với tương lai, ông không thể hoạch định.
Bà không có gì để than trách. Vì ông đã nói hết những lời “cám ơn, xin lỗi” với bà khi ông còn nhận ra bà. Ông chẳng đã hát “Tôi sợ tôi chết trước khi tôi lau khô nước mắt của nàng, trước khi tôi được nhìn ngắm những cánh chim hải âu bay trong nắng” rồi đó ư” Vậy thì hãy để ông sống với những ký ức cháy bỏng một thời của ông, những đoạn đời đáng sống mà ông luôn hoài niệm. Ít ra, trong giai đoạn này, “trí nhớ dài hạn” của ông vẫn còn nguyên vẹn, não của ông vẫn còn những vùng chưa bị tàn phá, đúng theo lời bác sĩ nói “Người bị bệnh Alzheimer vẫn có một điều hạnh phúc, đó là được sống với những ký ức tuyệt vời”.
Có một ngày, bà mở ti-vi cho ông xem. Ông không còn nhận ra Glen Campbell trên màn ảnh. Vì trên đó là một Glen Campbell bảy mươi mấy tuổi, bằng với ông hiện tại. Ông chỉ nhớ một Glen thời trai trẻ. Ông thấy chán, ông lim dim mắt. Ông nghe tiếng đàn guitar của chính mình. Ông nghe tiếng hát của đồng đội vang trong cánh rừng âm u sau một trận thắng. Rồi như lật qua một trang khác, ông thấy gương mặt của anh con bác Châu từ từ nhòa nhạt. Anh đã ngã xuống. Ông nghe lại tiếng đạn chui vào da thịt, vào đến mạch máu trong cánh tay mình.
Bà đem đến cho ông một ly nước gì không biết. Ông mở mắt, đón cái ly, uống mà không hiểu đó là gì. Rồi ông lại nhắm mắt, tiếp tục phiêu du vào cõi xưa, nơi ông thức dậy trong một bệnh viện. Người lính trẻ sức sống còn tràn đầy. Cánh tay bị thương đã được băng bó. Một gương mặt cúi xuống. Một mái tóc dài được bới gọn sau chiếc mũ trắng. Ông đón ly nước từ đôi bàn tay của người con gái. Nước! Nước ngon quá! Ông nhìn người đối diện. Một đôi mắt đen nhánh đầy tình yêu đang nhìn ông.

Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh

World & America By Drone—David | “Lonely Shepherd”


Phân Ưu Cùng Anh Chị Lê Văn Mễ Khóa 18

PU_TM_NT_LeVanMe

CaoPho_TM_NT_LeVanMe_K18

 

Giới Thiệu Sách “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch Sử”

Flyer 3-vert.X
thumbnail1

Flyer-vert

Người Vợ Là Một Vĩ Nhân—Tràm Cà Mau

Có thời ông Tư thường hay đùa, trêu chọc bạn bè rằng: “Đời người đàn ông có hai lần sung sướng: Lần cưới vợ, và lần vợ chết. “Bây giờ vợ chết, ông mới ý thức được cái câu đùa nghịch đó vô cùng bậy bạ và bất nhân, không nên nói. Có lẽ anh chàng nào nghĩ ra câu nầy là kẻ độc thân, chưa có kinh nghiệm chết vợ. Ông ân hận và tự giận mình.

Ông Tư gieo mình nằm vật ra tấm ghế bành, hai tay ôm mặt khóc rưng rức như đứa bé đi về vắng mẹ. Tiếng khóc buồn bã vang dội trong căn phòng vắng. Ông ước sao chuyện thật hôm nay là một giấc mộng dữ, để khi ông thức dậy, thấy còn có bà bên cạnh. Có thể ông sẽ bị vợ cằn nhằn trách móc một điều gì đó như thường ngày, nhưng thà còn có những phiền hà của vợ, còn hơn là nằm đây một m

Sau khi chết vợ, ông như mất hồn, lãng đãng, trí óc để trên mây. Nhiều lần trên đường về nhà, ông đi lạc, lái xe qua khỏi nhà rồi mà không biết. Ngày xưa, ông hay bực mình mỗi khi được bà nhắc nhở đi lối nầy, quẹo góc kia, và bà cũng nổi nóng la nạt ông mỗi khi đi lạc đường. Bây giờ, mong được nghe lời cáu kỉnh gây gổ đó, mà không có được. Ông thở dài và đau nhói trong tim như có vật nhọn đâm vào. Không thể ngờ, vợ ông không còn trên đời nầy nữa. Bây giờ bà nằm ngoài kia, nghĩa địa hoang lạnh âm u. Không còn chầm chập kiểm soát từng hành động của ông để mà phê bình sửa sai.

Mở cửa, bước vào nhà, ông nói lớn như khi bà còn sống: “Em ơi! Anh đi làm về.” Trước đây, nếu không nghe tiếng trả lời, ông chạy vụt lên lầu tìm vợ. Bây giờ, ông lẳng lặng đến thẳng bàn thờ, thắp ba cây nhang, lạy bốn lạy. Ông thầm nghĩ, người ta chỉ lạy vợ khi vợ đã chết rồi, tại sao không ai lạy vợ khi vợ còn sống? Dù có gây nên tội lỗi tầy đình, cũng không ai lạy vợ bao giờ.

Ông nhìn tấm hình màu, ảnh bán thân của bà, có nụ cười thật tươi, hai vành môi uốn cong, đôi mắt sáng tinh anh, có ánh tinh nghịch. Ông thấy bà còn đẹp lắm, nét đẹp dịu dàng. Thế mà bao nhiêu năm nay, ông không hề biết, và chưa một lần nhìn ngắm kỹ cái nhan sắc của vợ. Sống lâu ngày bên nhau, thấy nhau, nhưng quên nhìn ngắm, chỉ thấy hình thể tổng quát của nhau. Cũng như nhiều ông có vợ thiếu nhan sắc, cũng không bao giờ biết vợ họ xấu. Những ông lấy được vợ đẹp, lâu ngày, cũng chẳng còn biết vợ mình là đẹp. Nhiều bà đi xâm môi, xâm lông mày xong, về nhà, ông chồng cũng không hề biết có sự thay đổi trên mặt vợ.

Ông Tư gieo mình nằm vật ra tấm ghế bành, hai tay ôm mặt khóc rưng rức như đứa bé đi về vắng mẹ. Tiếng khóc buồn bã vang dội trong căn phòng vắng. Ông ước sao chuyện thật hôm nay là một giấc mộng dữ, để khi ông thức dậy, thấy còn có bà bên cạnh. Có thể ông sẽ bị vợ cằn nhằn trách móc một điều gì đó như thường ngày, nhưng thà còn có những phiền hà của vợ, còn hơn là nằm đây một mình.

Ông đã khóc như thế cả tháng mấy nay, mỗi lần đi làm về. Bước vào căn nhà vắng vẻ lạnh lẽo, không còn bóng dáng người vợ thương yêu, làm trái tim ông se sắt, tâm trí ông trống rỗng mịt mờ. Nỗi đau cũng tan dần theo giòng nước mắt, rồi ông thiếp đi trong một giấc ngủ buồn, ngắn. Khi thức dậy, ông nhìn quanh, đâu đâu cũng có bóng dáng, có kỷ niệm với bà. Tất cả đều còn đó. Vật dụng, đồ đạc của bà trước khi chết, vẫn còn để y chỗ cũ, giữ nguyên trạng. Ông không muốn thay đổi chuyển dịch gì cả. Trên bàn trang điểm, vẫn còn chiếc lược nằm nghiêng nghiêng, thỏi son dựng đứng, hộp phấn, những chai thuốc bôi tay cho mịn da, tất cả đều không xê dịch, không sắp xếp lại. Ông tưởng như hương tay của bà còn phảng phất trên từng món vật dụng.

Mỗi bữa ăn, không còn ai thúc hối, hò hét dục ông ngồi vào bàn ngay, sợ cơm canh nguội lạnh. Bây giờ, ông tha hồ lần lửa, không tha thiết đến bữa cơm. Có khi chín mười giờ mới bắt dầu ăn, qua loa cho xong, miệng nhạt phèo. Thường ông để thêm chén dĩa đũa muỗng đầy đủ cho bà. Rồi thì thầm mời vợ ăn, tưởng như bà còn sống, ngồi đối diện và cùng chia vui hạnh phúc trong từng giây phút của thời gian. Ông có ảo tưởng như bà còn ngồi đối diện, đang lắng nghe ông nói. Hôm nay bà làm biếng phê bình, không mắng trách khi ông làm rơi cơm canh ra bàn. Với cách đó, ông tự dối lòng, để có thể nuốt trôi những thức ăn, mà vì buồn chán, ông không còn cảm được hương vị ngon ngọt.

Nhiều khi thức giấc nửa đêm, vòng tay qua ôm vợ, ôm vào khoảng trống, ông giật mình thảng thốt, chợt hỏi thầm, bà đi đâu rồi? Khi chợt nhớ bà không còn nữa, nước mắt của ông chảy ra ướt cả gối. Có khi úp mặt khóc rưng rức, khóc cho đã, cho trái tim mủn ra, và thân thể rã rời. Chiếc giường trở thành trống trải, rộng thênh thang. Ông vẫn nằm phía riêng, bên kia còn để trống, dành cho bà. Ông ôm hôn cái gối, mùi hương của bà còn phảng phất gợi bao kỷ niệm của tháng ngày hạnh phúc bên nhau. Khi không ngủ được, ông bật đèn nằm đọc sách, bây giờ ông không sợ ai cằn nhằn, ngăn cấm đọc sách giữa đêm khuya. Trước đây, nhiều khi ông tha thiết thèm đọc vài trang sách trước khi đi ngủ, mà vợ cứ cằn nhằn mãi, làm ông mất đi cái thú vui nầy. Bây giờ ông nhận ra vì thương chồng, sợ ngày hôm sau ông buồn ngủ, mệt, nên bà ngăn cản, bảo là chói mắt không ngủ được.

Ông tiếc, vợ chồng đã hay cãi vã những chuyện không đâu, chẳng liên quan gì đến ai, mà làm mất đi cái vui, cái hòa hợp của gia đình. Có khi chỉ vì tranh luận chuyện con khỉ bên Phi Châu, mà đi đến to tiếng, giận hờn, khóc lóc, làm vợ chồng buồn giận nhau, dại dột như hai đứa trẻ con ngu dại.

Tại sao phải gắt gỏng, đâu có được gì, mà làm nhau buồn. Bây giờ muốn nói lời ân hận, thì làm sao cho bà nghe được. Ông tự xét, ông là một con người tệ mạt, thiếu hiểu biết. Khi có hạnh phúc trong tay thì không biết trân trọng, để đến khi mất đi, mới ân hận, mà không còn kịp nữa.

Nếu được làm lại, ông sẽ đối xử với bà tử tế hơn, nói nhiều những lời êm ái dịu dàng. Sẽ không nổi giận khi bà làm chuyện ngang phè, sẽ nhường nhịn bà nhiều hơn, và sẽ phớt tỉnh mỗi khi bị bà chê bai, mai miả. Nhất là bày tỏ cái lòng ông, nói ông yêu thương bà, yêu thương lắm lắm. Đâu có gì ngăn trở, mà những ngày bà còn sống, ông không nói được những điều đó. Ông chợt nhớ có ngưòi viết rằng, vợ chồng phải đối xử như ngày mai thức dậy sẽ không còn nhau. Vì chẳng ai được sống mãi, và cũng không biết chắc chuyện gì sẽ xảy ra trong giờ sắp tới, cho ngày hôm sau. Cuộc đời con người vốn bấp bênh trong định mệnh.

Lấy kinh nghiện đó, nhiều lần nói với những người bạn mà vợ chồng còn được sống bên nhau, cho họ biết rằng, họ đang có hạnh phúc quý báu,nênhọ nên trân trọng giữ gìn, kẻo mai đây, khi chiếc bóng, thì tiếc thương cũng đã muộn màng. Đa số có lắng nghe, và tin lời ông là đúng, nhưng họ quên phứt ngay sau đó, và không thực hành điều hiểu biết.

Mẹ ông mất trước vợ sáu tháng. Ông cũng buồn, thương. Nghĩ rằng mẹ già thì chết là chuyện thường tình. Nhưng khi mất vợ, ông cảm thấy đau đớn và buồn khổ vô cùng tận. Buồn hơn mất mẹ mười lần. Ông tự cảm thấy xấu hổ, vì mất mẹ mà lại không đau buồn bằng vợ chết! Có phải ông đã thương vợ hơn thương mẹ chăng? Có phải ông là đứa con bất hiếu? Ông cũng không biết, và không so sánh được hai cái đau vì mất mát. Nhưng rõ ràng, ông đã ngã gục khi chết vợ.

Có khi quẩn trí, ông muốn chết theo bà. Sao cuộc sống vô vị quá chừng. Rồi mai mốt cũng già, bệnh, đâu có thoát được cái chết. Chết bây giờ, nếu còn linh hồn, thì còn gặp lại vợ ngay. Nhưng ông sực nhớ nhiều lần bà nói không muốn gặp ông lại trong kiếp sau. Bà đâu có thù ghét ông mà nói câu đó nhỉ. Nói chi cho ông đau lòng lúc nghe, và còn đau cả đến tận bây giờ. Ông nghe nói, có một loài chim, khi một con chết đi, thì con kia ngày đêm kêu thương, bỏ ăn bỏ ngủ, than gào cho đến chết. Chim còn chung tình đến thế, mà ông thì còn sống, còn ăn, còn ngủ, còn đi làm, còn giữ tiền bạc. Chẳng bằng được loài chim sao?

Trong căn nhà nầy, đâu đâu cũng có dấu vết của bà. Mở tủ đựng ly chén ra, ông đứng nhìn xem, bên trong sắp đặt thứ tự, gọn gàng. Có những thứ mà bây giờ ông mới thấy, và không biết công dụng nó làm gì, khi nào thì dùng đến. Bà đã mua sắm, sắp đặt cẩn thận. Ông cầm một cái ly, biết vật nầy đã có bàn tay vợ đụng đến, ông ghé môi hôn, tưởng đang hôn bàn tay bà. Ba bộ ấm pha trà xinh xắn, bà mang về trong dịp đi du lịch bên Nhật, để cho ông thù tiếp bạn bè. Bà thương ông đến như vậy đó.

Hơn cả chục chai rượu nho, rượu mạnh trong tủ kiếng, cũng do một tay bà mua. Bà không biết uống, nhưng hễ nghe ai khen rượu ngon, rượu quý, thì bà cũng cố mang về cho chồng một vài chai. Ông thường dặn nếu không biết uống rượu thì đừng mua, vì khẩu vị của mỗi người khác nhau. Cũng như mình khen mắm nêm thơm ngon, nhưng cho Tây ăn, thì họ bịt mũi mà oẹ ra. Bây giờ đứng đây, đưa tay sờ vào những chai rượu màu nâu sẫm, lòng ông đầy ân hận, đáng ra lúc đó, ông phải nói những lời tử tế ngọt ngào cám ơn, và bày tỏ cái hân hoan với tình thương chăm sóc của vợ. Những khi đó, ông đã nói những lời chân thật như đất ruộng, làm phụ tấm lòng yêu thương của bà. Ông định nhấp vài hớp rượu để tưởng nhớ đến ơn vợ, nhưng rồi đặt chai xuống, và thì thầm hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương: “Em ơi! lửa tắt bình khô rượu. Đời vắng em rồi say với ai?” Mắt ông cay cay, tim đập sai nhịp.

Tủ áo quần của bà còn nguyên vẹn đó. Những chiếc áo giản dị, màu sắc khiêm tốn. Bà phải chờ cho đến khi bán hạ giá thấp nhất mới dám mua. Bà cần kiệm, không dám hoang phí. Đi đám cưới, tiệc tùng, bà không cần phải thay đổi áo mới, kiểu nầy, kiểu kia. Bà nói: “Ngay cả ông chồng, còn chưa nhớ được kỳ trước mình mặc áo nào, màu gì, huống chi thiên hạ. Họ đâu có dư thì giờ mà vớ vẩn nhớ đến cách phục sức của cả trăm người trong bữa tiệc. Mà dù cho họ có nhớ đi nữa, cũng không sao, đâu có gì quan trọng. Chắc cũng chẳng ai chê mình không có áo quần mới khi tham dự tiệc tùng.” Cái đơn sơ giản dị chân thành của bà làm ông thương và mến phục.

Áo quần của ông, cũng do bà tìm tòi mua giúp. Khi thấy cái áo quần tốt, màu sắc trang nhã, giá cả tương đối được, bà hối hả kêu ông chạy gấp đến tiệm thử liền. Ngay cả áo quần lót, vớ, cà-vạt, cũng do bà mua cho ông. Bà đem áo quần đã cũ sờn vất đi, thay vào các thứ mới. Ông cứ tự nhiên dùng, chưa bao giờ biết kích thước đúng của chính ông. Đã có bà lo hết. Bây giờ không còn bà, ông mới thấy rõ ràng hơn những gì đã nhận được xưa nay mà vô tình không nghĩ đến. Cầm chiếc quần được lên lai trong tay, nhìn đường kim mũi chỉ cẩn thận, ông thấy rõ tình thương của bà gói ghém trong đó. Áo quần mùa đông, mùa hè của ông cũng được bà sắp xếp riêng từng ngăn cẩn thận. Bà đã cho giặt sạch, kỹ lưỡng trước khi được treo xếp vào ngăn tủ áo quần, để dành mặc vào mùa sau. Từ khi có bà trong đời, ông mất dần đi khả năng tự lo, tự lập mà ông vô tình không biết.

Ông nhớ những khi tham dự tiệc tùng, trong lúc ăn uống, khi có chút rau, thịt mắc vào kẽ răng, không dùng lưỡi cạy ra được, bà nhìn ông, biết ngay. Bà len lén mở ví, kín đáo chuyền tay cho ông một cây tăm bọc trong giấy. Ông xem đó như chuyện tự nhiên. Cũng có khi ông quay qua bà hỏi khéo: “Em còn cây tăm nào không?” Bà mở ví, đưa cho ông ngay. Trong lúc ăn, có món ngon vừa ý, bà thì thầm nhắc ông. Hoặc khi lấy thức ăn, bà chọn cho ông miếng ngon nhất. Những lúc đó, ông hơi ngượng, liếc mắt nhìn quanh bàn. Phần ông, thì cứ gắp đại, chưa bao giờ phân biệt miếng ngon, miếng dở. Gắp được cục xương không dính chút thịt cũng cứ vui. Trong bữa ăn, khi thấy ly nước của ông cạn, bà châm, thêm, ông hoàn toàn không quan tâm đến.

Bà biết rõ ông ưa thích món ăn gì, để mỗi ngày nấu nướng. Khi nghe ông khen món nào đó, thì hôm sau, bà nấu ngay cho ông ăn. Ông chỉ lờ mờ nhận ra hảo ý của bà, nhưng không biết nói một câu nịnh cho vui lòng vợ.

Nhiều lần ông bà rủ nhau đi du lịch xa, ông có nhiệm vụ lên mạng mua vé máy bay, đặt thuê khách sạn. Thế là xong. Phần bà lo cho tất cả các mục còn lại. Từ áo quần thường, áo lạnh, áo ngủ, đồ lót, vớ, giày phụ, dép, bàn chải răng, kem, kiếng phụ, tăm, thuốc cấp cứu, thuốc dùng ngừa bệnh, điện thoại di động, giây cắm điện thoại, máy hình, máy điện toán xách tay và các thứ phụ tùng cần thiết. Danh sách của bà đủ bốn mươi tám món. Bà cũng không quên mang theo một ít thức ăn khô, phòng khi lỡ đường. Nhiều khi thấy va-li căng kè, nặng nề, ông gào to: “Đi chơi chứ đâu phải là dọn nhà? Sao không mang theo cả cái tủ lạnh cho tiện.”

Một lần đi Âu Châu, cuộc đình công kéo dài, điện tắt và trời bão tố. Ông bà bình tâm nằm trong khách sạn, không chút nao núng, vì đã có sẵn một ít thức ăn khô mang theo. Thường trước khi đi, bà đọc kỹ và kiểm soát lại chuyến bay, lộ trình, các hãng đưa đón, khách sạn, ngày giờ của các tua du lịch. Bà bắt ông xuất trình giấy thông hành, căn cước, thẻ tín dụng, tiền bạc, kiểm soát lại từng chút một, để khỏi quên bất cứ vật gì. Ông cảm thấy khó chịu vì bị vợ xem như đứa trẻ con. Nhưng khi vợ mất rồi, ông đi xa mà để quên đủ thứ, nghĩ lại càng thương bà hơn.

Ông thường ham mê xem các trận đấu thể thao. Nhiều lần ông đang đi chơi với bạn, bà sợ ông bỏ mất trận đấu, kêu điện thoại nhắc nhở: “Anh nhớ chiều nay 5 giờ có trận chung kết bóng rổ đó nghe!” Ông cám ơn bà, và thu xếp về cho kịp giờ khai đấu.

Từ khi có gia đình, ông phụ thuộc quá nhiều vào vợ. Không có bà, ông như rơi xuống một vực sâu, tối tăm mù mịt, ngày tháng tẻ nhạt. Không gian và thời gian dường như thành trống rỗng.

Mỗi chiều tan sở, ông bâng khuâng không biết đi đâu, về đâu cho đỡ thấy quạnh hiu. Khi vợ còn sống, phải lo về ngay, không dám ngồi quán cà phê lai rai, về nhà vợ hạch hỏi không dám trả lời thật. Có khi ông điện thoại cho bạn, hỏi chiều nay ông đến chơi được không, và xin được ăn cơm tối. Bạn biết ông đang buồn, đơn lẻ, nên thường niềm nở chấp nhận. Nhiều lần, ông mua một vài món ăn ở tiệm, đem đến nhà bạn góp vào mâm cơm chiều và sau bữa ăn, uống trà, cà phê. Ngồi trong ghế bành, đôi khi không nói gì, cầm tờ báo lật qua lật lại, thế mà thấy bớt cô đơn trong lòng yên ổn. Rồi cũng phải về cho gia chủ đi ngủ. Ông ra xe, nỗi buồn lại dấy lên thấm thiá. Trời đất như rộng thênh thang. Đường về nhà hiu quạnh. Nghĩ đến căn nhà trống vắng, lòng ông rưng rưng.

Mỗi khi mở tủ lạnh tìm thức ăn, thấy trống không, chẳng có thứ gì ăn được. Vài ba cây trái đã đen điu rồi? rữa thối. Mấy bó rau đã đổi màu đen, khô quéo. Chai nước lọc cũng cạn. Không còn gì. Trong nhà không có bàn tay đàn bà, thì xem như chẳng còn có cái gì cả. Ông thầm thán phục những người bạn độc thân. Không biết làm sao họ có thể sống sót đến tuổi già, mà vẫn vui vẻ, yêu đời, nói cười. Họ đã làm gì cho tiêu tán quãng thời gian trống rỗng sau giờ tan sở nhỉ?

Như một thói quen, những chiều tan sở, ông chạy thẳng ra nghĩa địa, thơ thẩn bên mộ bà. Trong nghĩa địa hoang vắng nầy, ông thấy bớt cô đơn hơn là về nhà một mình. Cắm vài bông hoa, thắp nén hương. Rồi ngồi trò chuyện, như khi bà còn sống. Nói đủ thứ chuyện, nói nhiều hơn cả khi ông bà còn bên nhau. Ông độc thọai, và ông cứ tin ở dưới lòng đất, bà đang lắng nghe ông tâm sự. Khi có người lạ đi đến gần, ông hơi xấu hổ, nói nhỏ lại, chỉ thì thầm thôi. Ông sợ thiên hạ lần tưởng ông đau bệnh thần kinh. Rồi ông hát cho bà nghe. Hát những bài kỷ niệm, mà ngày trước, ông bà cùng song ca trong những buổi “Karaoke” tổ chức tại nhà bạn bè. Tai ông, vẫn còn văng vẳng giọng bà thánh thót hoà lẫn với tiếng hát trầm ấm trên môi ông. Ông hát từ bài nầy qua bài khác đến khô ran cả cổ. Nhiều khi ông nằm dài trên cỏ, bên tấm bia mộ ngang bằng, nhìn lên trời cao mênh mông và tưởng tượng có bà đang thân thiết nằm bên cạnh. Nghe được cả hơi thở của bà. Hơi thở có mùi hương quen thuộc của ngày nào. Ông thèm nghe vài lời cằn nhằn trách móc của bà.

Khi bóng đêm bắt đầu phủ xuống trên nghĩa địa, ông mới uể oải đứng dậy ra về. Ông nấn ná không muốn rời khu mộ, nhưng vốn yếu bóng viá và sợ ma, không dám ở lại khi đêm đen bao trùm khu nghĩa địa hoang vắng. Ông thì thầm: “Ngày mai anh sẽ đến thăm em.” Có những ngày chủ nhật, ông cứ mãi thơ thẩn quanh khu mộ. Ông nhận ra rằng, bây giờ ông yêu thương yêu vợ hơn nhiều lần khi bà còn sống. Tình cảm ông tha thiết, nồng nàn hơn xưa rất nhiều.

Mùa đông mưa dầm dề, gió thốc từng cơn trên nghĩa địa trống trải, ông trùm áo mưa, ngồi co ro run rẩy trong buốt giá bên mộ bà. Ngày nghỉ ông ngồi từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều. Tâm trí miên man mơ hồ vô định.

Chỉ mới một năm thôi, ông hốc hác, gầy rộc, vì mãi miết đắm chìm trong thương nhớ, khổ đau. Nhiều người khuyên ông nên đi bác sĩ tâm lý để điều trị, để tránh sa vào tình trạng suy sụp trầm trọng.

Ông nghĩ, bác sĩ cũng không giúp gì được khi trong lòng ông thương nhớ bà. Bác sĩ không thể làm bà sống lại, không thể làm phép lạ cho ông quên buồn.

Một buổi sáng khi nắng vàng rực rỡ nhảy múa trên khu nghĩa địa, gió mát mơn man cỏ cây, tiếng chim kêu văng vẳng. Ông Tư rầu rĩ mang bó hoa hồng đến đặt lên mộ bà, định than vãn vài câu cho bớt nỗi buồn thương không dứt được trong lòng. Ông ngạc nhiên thấy một tờ giấy cuộn tròn trong bình đựng hoa. Ông giật mình, ô kià, lạ chưa, có nét chữ của bà. Ông mở tờ giấy ra đọc. Một bài thơ của ai chép tay chữ viết giống hệt nét chữ bà. Những chữ h, chữ g và cả cách đánh dấu hỏi ngã. Ông run run đọc:

“Đừng đứng khóc lóc bên mồ em. Bởi em đâu còn dưới đó nữa. Em đang là ngàn gió bay cao trên đồng nội, là ánh dương quang lóng lánh giữa biển trời. Em đang tắm trong mưa thu mát dượi. Em đang trên cao, ngàn sao của giải ngân hà. Và một sáng mai kia, tiếng chim đánh thức anh. Thì hãy biết đó là tiếng em kêu anh. Thôi đừng khóc bên mồ em, chúng ta sẽ gặp lại nhau sau…” 

Ông đọc đi đọc lại đến ba lần, và chợt nhớ ra đây là lời bản nhạc phổ từ bài thơ của bà Mary Elizabeth Frye viết trong cơn xúc động trên một mẫu giấy vụn. Trước đó bà Frye nầy chưa hề bao giờ làm thơ. Bài thơ nầy về sau rất nổi tiếng, phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới, được phỏng dịch ra hàng chục ngôn ngữ khác nhau. Ông đã từng nghe trong các đám tang người Mỹ. Nhưng khi đó, ông chẳng hề để ý. Bây giờ được đọc lại, ông thấm thiá và ngộ ra: Đúng. Bây giờ bà đâu còn nằm dưới đó nữa. Bà đang ở trên miền cực lạc. Bà đang sung sướng trong một thế giới khác, không có khó khăn, vất vả, không giận hờn ganh ghét, không có chiến tranh giành giựt, và không phải “Đổ mồ hôi trán mới có được miếng cơm vào mồm.” Thế thì, tại sao lâu nay ông phải âu sầu thương tiếc khóc lóc. Ông đã tự làm khổ ông, tự đọa đày trong vũng đau thương. Nếu bên kia thế giới mà bà biết được ông khổ sở rầu rĩ như thế nầy thì bà vui hay buồn? Ông tự hỏi, ông đau đớn vì thương bà hay tự thương mình? Bà đang hưởng lạc phúc, thì ông phải mừng, chứ sao lại sầu khổ? Nếu ông tự thương mình, thì phải chống tay đứng dậy, làm cho ngày tháng còn lại nầy được vui vẻ, hạnh phúc và lành mạnh hơn là chìm đắm trong tối tăm mịt mù. Ông đến trước bia mộ và thì thầm: “Đúng, em đâu còn nằm dưới lòng đất nầy nữa. Thân xác là cát bụi phải về với cát bụi. Không còn là em nữa. Em đã bay cao với gió trên mây vàng long lanh, đang rong chơi nơi thiên đường cực lạc. Anh phải biết mừng cho em. Phần anh, phải đi nốt tháng ngày còn lại trên hành tinh nầy với những bước chân vững vàng, vui vẻ và hạnh phúc cho riêng mình. Đó là bổn phận cấp thiết đối với bản thân.”

Ông lái xe ra về, lòng nhẹ thênh thang. Con đường có nắng vàng reo vui, cây cỏ xanh ngắt yêu đời. Tiếng nhạc vui rộn rã vang vang trong xe, ông đã tìm được ý nghiã cho tháng ngày vắng bóng vợ. Ông tin rằng, nếu chết là chưa hết, chưa vĩnh viễn tan biến, thì ông sẽ gặp lại bà trong tương lai, ở một nơi an bình hạnh phúc hơn ở cõi trần thế nầy. Nhưng nếu chết là hết, là xong, thì cũng khỏe. Bà đã khoẻ, và mai đây ông cũng sẽ theo bước bà tan vào hư không.

Về nhà, ông ngồi vào bàn, lập một chương trình sinh hoạt mới cho ngày tháng còn lại. Trước đây ông không dám về hưu vì sợ cô đơn, sợ không có việc chi làm bận rộn rồi sinh ra quẩn trí mà phát bệnh. Nhưng bây giờ, ông đã có một chương trình năng động, phủ kín thời gian trong tuần, còn sợ không đủ thì giờ để thực hiện. Nhưng không sao, với ông thì thi hành được chừng năm mươi phần trăm cũng đã là thành công rồi.

Mỗi sáng ông dậy sớm, đi đến phòng tập thể dục, chạy bộ trên dây?, cử tạ, bơi lội, tập yoga, tắm nước nóng. Sau đó họp bạn già uống cà phê, bàn chuyện trời đất thời thế. Về nhà đọc vi thư bạn bè, giải quyết các công việc lặt vặt. Rồi ngủ ngay một giấc ngắn. Tự nấu nướng lấy, mặc dù có thể đi ăn tiệm, hoặc mua thức ăn về. Ông học cách nấu ăn trong liên mạng vi tính. Đọc bốn năm bài dạy khác nhau, rồi chọn lựa, kết hợp, tìm ra cách nấu hợp với khẩu vị mà ông nghĩ là ngon nhất. Từ đó, ông ghiền xem truyền hình dạy nấu ăn, Ông nấu được những món ngon tiếp đãi bạn bè.

Có một bà góa ỡm ờ đề nghị: “Anh nấu ăn ngon thế nầy, mà ăn một mình cũng buồn và uổng quá. Hay là nấu cơm tháng cho em đi, mỗi ngày tới bữa em đến ăn. Hôm nào anh bận, thì báo trước, em sẽ đi ăn tiệm.”

Ông cười lịch sự đáp: “Cám ơn chị quá khen và đề nghị. Xin cho tôi suy nghĩ lại, xem có đủ sức phục vụ chị không, rồi sẽ trả lời sau.”

Ông bóng bẩy nhấn vào hai chữ phục vụ”làm bà kia đỏ mặt e thẹn. Ông không thể tưởng tượng nổi có người nào đó thay thế được vợ ông. Mỗi khi nói chuyện thân thiết với bà nào đó, mà trong lòng ông có dấy lên một chút cảm tình, thì ông thấy như mang tội với người vợ đã khuất, ông đã thiếu chung thủy. Cứ áy náy mãi.

Ông tham gia các chương trình du lịch xa, đi chơi trên du thuyền. Ông gặp nhiều bạn bè, đàn ông, đàn bà, cùng vui chơi. Tham dự các trò đùa tập thể trên du thuyền. Nhiều bà góa thấy ông cô đơn, nhắm muốn tung lưới bắt mạng, nhưng ông cũng đủ khôn ngoan để né tránh. Ông nói với bạn bè rằng, mình già rồi, khôn có lõi, không còn ngu ngơ dại dột như thời trai trẻ, để nhắm mắt chui đầu vào tròng.

Đôi khi ông cũng muốn có bạn gái, có chút chất “mái”, dù không làm gì được, nhưng mơ hồ thấy có sự thăng bằng nào đó trong tâm trí.

Ông đã cùng bạn bè tham gia các chuyến du lịch xa, Âu Châu, Ấn Độ, Phi Châu. Bây giờ còn đủ sức để đi, có điều kiện tài chánh thong thả, tham gia kẻo mai mốt khi yếu bệnh, khỏi luyến tiếc. Đi theo đoàn đông đảo bạn bè, thì giờ rất sát, eo hẹp, làm ông không kịp nghĩ, kịp buồn.

Trên du thuyền, gia đình người bạn giới thiệu bà Huyền cho ông, bà đẹp, duyên dáng, hơi trầm tư, đôi mắt mở to như khi nào cũng ngạc nhiên ngơ ngác, cánh mũi thon, môi hình trái tim chúm chím. Bà Huyền xa chồng đã hơn ba năm. Lòng ông Tư mơ hồ dấy lên chút cảm tình vì bà đẹp, hiền thục, ít nói. Mấy lần hai người ngồi gần nhau trong bữa ăn. Bà Huyền hé lộ một chút tâm sự riêng tư cho ông nghe, rằng bà may mắn chạy thoát đến Mỹ vào năm 1975, bà lặn lội thân cò nuôi chồng theo đuổi đại học trong bao nhiêu năm. Nhờ may mắn trong thương trường, tiền bạc có thời vô như nước. Gia đình vui vầy tràn đầy hạnh phúc. Rồi tai họa đổ xuống, chồng bà say mê một cô nhỏ tuổi hơn con gái ông, cô nầy làm công cho cơ sở thương mãi của gia đình. Ông chồng li dị bà để vui duyên mới. Bà nói rằng, chẳng trách gì ông, một phần cũng lỗi tại bà không phòng xa, để cho ông chồng và cô gái có dịp tiếp xúc thường xuyên. Lửa gần rơm thì phải cháy. Chia đôi gia tài, bà cho ông cơ sở kinh doanh, bà không cần làm nữa, tài sản có thể sống đến khi già chết.

Ông Tư cũng cảm mến bà Huyền vì cái giọng nói dịu dàng ngọt ngào, trái tim nhân ái, và tâm từ bi của bà cùng tấm lòng cao thượng. Khi nhắc đến ông chồng cũ phản bội mà không thù hận, không gay gắt giận hờn.

Bà Huyền biết kiên nhẫn lắng nghe, tôn trọng ý của người khác, dù có khi bất đồng quan điểm. Ông Tư cảm thương cho một người đàn bà biết điều như thế mà gặp phải hoàn cảnh không may. Cái tình cảm trong lòng ông đâm mầm nhú mộng êm ái. Đôi khi ông cũng giật mình, sợ trái tim ông yếu đuối, đổi cái quan hệ bạn bè với bà Huyền thành tình yêu. Ông không muốn mang mặc cảm phản bội bà vợ bên kia thế giới. Nhưng cũng là chuyện lửa gần rơm, mối giao hảo thân thiết của ông với bà Huyền càng ngày càng khắng khít. Đã có vài lần ông toan tính thổ lộ cho bà Huyền mối tình cảm chân thành của ông, nhưng rồi vốn nhát, nên lại thôi. Ông tự cười, đã chừng nầy tuổi, trên đầu tóc trắng nhiều hơn tóc đen, mà vẫn còn nhút nhát như thời mười sáu tuổi. Cuối cùng, chính bà Huyền đã mở đường dẫn ông vào cuộc tình già. Khi ông đi gần đến quyết định mời bà Huyền về sống chung, thì bạn bè can gián, cho ông biết bà Huyền là một trong ba người đàn bà nổi danh đanh đá độc ác nhất của thành phố nầy. Ai cũng biết, mà chỉ riêng ông Tư không biết mà thôi. Ông không tin một vài người, nhưng phải tin khi nghe nhiều người khác nói. Ông quyết tâm tìm hiểu, và vô tình gặp ông Duẫn là người chồng cũ của bà Huyền trong một buổi họp mặt. Ông lân la đến làm quen. Thấy ông Duẫn hiền khô, không rượu, không trà, không cả cà phê thuốc lá, và nói năng lịch sự dịu dàng. Bạn bè lâu năm của ông Duẫn cũng xác nhận anh nầy là một ông Phật đất. Hoàn toàn không hề có chuyện gian díu với một người đàn bà nào. Bà Huyền cũng không nuôi ông Duẫn một ngày trong đời như bà nói, bà đã đặt chuyện, cứ nói mãi, nên tin là có thật.

Ông Tư mạnh dạn hỏi thẳng Duẫn: “Anh nghĩ sao, nếu tôi cưới bà Huyền, vợ cũ của anh?”

Ông Duẫn gãi đầu, và nói ngập ngừng: “Ô… ô, không nghĩ sao cả. Đó là chuyện riêng của bà ấy với anh. Tôi không can dự gì. Chúng tôi đã ly hôn lâu rồi. Tại sao anh hỏi tôi câu đó?”

Ông Tư hạ giọng: “Không phải tôi xin phép anh, mà tôi muốn hỏi ý kiến của anh về bà ấy. Nhận xét của riêng tôi, thì bà Huyền là một người đoan trang, trinh thục, hiểu biết, có trái tim nhân ái. Nhưng theo nhiều người khác thì đó là một trong ba bà ác độc nhất của thành phố nầy. Có thật vậy không?”

Ông chồng cũ của bà Huyền ngửng mặt lên trời mà cười ha hả: “Khoan khoan, đừng nói thế mà tội cho người ta. Phần tôi, nếu không nói tốt cho bà ấy được, thì cũng không có quyền nói xấu. Tôi không dám có ý kiến gì cả. Có thể bà ấy không hợp với tôi, nhưng lại hợp với người khác. Có thể tại tôi bất tài, không tạo được hạnh phúc cho gia đình. Biết đâu, bà ấy với anh đồng điệu, hai người có thể tạo nên thiên đàng dưới trần thế nầy.”

Ông Tư ngại ngần và chùn chân, âm thầm lảng xa dần bà Huyền. Bà nầy biết được ý định, mắng ông Tư một trận nên thân, chưởi ông hèn nhát, bần tiện, keo kiết, không đáng xách dép cho bà. Ông Tư nghe xỉ vả chưởi mắng mà mừng húm. May mà chưa có cam kết gì với bà Huyền. Từ đó, ông đâm ra có thành kiến với bất cứ người đàn bà nào muốn tiếp cận với ông. Ông Tư đã hết suy sụp tinh thần, tự tổ chức cho ông một đời sống có ý nghĩa, có nhiều niềm vui nhỏ nhặt trong đời sống, tránh xa mọi phiền toái của thế gian. Trong nhà ông treo một tấm biển lớn, chữ viết theo lối bút họa, ghi lời của một người bạn: “Có thì vui. Không cũng vui. Được mất đều vui.”

Tràm Cà Mau

Ra Mắt Sách “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch Sử”

Flyer 3-vert.X

Các Cựu Chiến Binh Cộng Sản Việt Nam Biểu Tình Đòi Truất Phế Cộng Sản

Christmas Songs—Radiant |The Five Strings


Ventura County Thomas Fire Full Report – Live Weather Channel

Chúc Mừng Giáng Sinh & Năm Mới | Merry Christmas & Happy New Year

Christmas-vert

Mùa Thu Và Mối Tình Già-Cao Đắc Vinh

Chồng già hưu trí, vợ trẻ đi làm. Mỗi sáng cuối tuần em không bận đến sở, anh lại có dịp pha ly cà phê sữa cho em rồi chúng mình cùng ngồi thưởng thức…SAC Promobox

Mặt đối mặt, hít thở hương thơm tràn ngập gian nhà bếp giúp đôi ta tỉnh giấc. Nhìn em, làm dáng qua lớp phấn hồng vừa thoa lên má, mái tóc chải vội còn ướt long lanh buông xuống cạnh bờ môi có nụ cười muôn thuở… Anh thấy xuân về giữa mùa thu.

Phải nói ngay, anh thích cử chỉ làm dáng ấy vì ý tứ không suồng sã làm tăng phần tươi mát ở người đàn bà dày dạn ân tình mà tuổi 20 đã qua từ mấy thập niên! Người cũ nhưng vẫn mới khi đứng bên anh như cảnh đầu ngày trước ánh bình minh… Anh âu yếm chiêm ngưỡng mùa xuân mang lớp vỏ mùa thu bọc ngoài.

Câu chuyện cuối tuần về tin tức các con được trao đổi tự nhiên giữa vợ chồng. Hôm vui thì lạc quan như nắng ban mai nhảy múa trên những đóa hoa vừa nở nhưng cũng có lúc u sầu giống cơn mưa đêm nặng hạt chưa dứt vào lúc hừng đông.

Trách chi những con chim non rời tổ ấm, cất cánh bay xa tìm sự nghiệp và hạnh phúc phía chân trời… Chúng đang bươn chải sống đời tự lập nên đành tạm xa bố mẹ già với bao kỷ niệm êm đềm năm xưa. Ở thời đại đảo điên hôm nay, khó đoán trước nền hòa bình vững chãi cho xã hội và thế giới tương lai, làm cha mẹ hai đứa mình chỉ còn biết chắp tay cầu nguyện mong chúng may mắn sẽ có một thế hệ ngày mai tươi sáng.

Còn lại đây trong căn nhà nhỏ, mối tình già của đôi ta đang đi vào thu. Thu tháng 10 trên vạn vật là nghĩa bóng, bên cạnh còn hình ảnh mùa thu âm thầm lướt qua hình hài chúng ta là nghĩa đen. Chân dung hai mùa thu chẳng hẹn mà cùng đến theo chu kỳ, định luật của một kiếp người.

Anh biết mình đã già! Chiếc lá vàng bắt đầu cằn cỗi và người tình trăm năm ngồi trước mặt cũng chẳng còn thuở lá xanh nhưng sáng nay lòng anh bỗng se lại… Chẳng phải tại hơi thu lành lạnh thổi vào từ khu vườn nhỏ mà vì chợt thấy những nét tàn phai bắt đầu đậm rõ trên khóe mắt, làn môi em: Dấu chân chim mỗi ngày một dài cộng với bờ môi đã lạt màu theo năm tháng…

Ba mươi năm trước, cũng đôi mắt to ấy đã in toàn cảnh ngày hạnh phúc của cuộc đời cô thiếu nữ sửa soạn về nhà chồng… Đến bây giờ, sức quyến rũ vẫn đầy nhưng nét tinh anh ẩn hiện bóng dáng một mùa thu ảm đạm. Đôi môi khêu gợi này đã bao lần hôn say đắm, yêu đương bỏng cháy để rồi hôm nay in dấu những nếp nhăn tình ái.

Em đã qua mùa xuân con gái, kế tiếp sẽ là mùa thu cuộc đời. Mùa thu của em từ nay mất hẳn hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà chỉ có lá vàng khô la đà rụng từng ngày! Vẻ đẹp mỗi mùa khác nhau… nếu xuân rộn ràng thì thu hiu quạnh nhưng mùa nào chúng ta cũng có thể mang vào nhịp sống buồn vui lãng mạn của riêng mình.

Em vẫn đẹp nhưng cái đẹp của mùa thu như những bài thơ tình mùa thu bất hủ. Anh nguyện sẽ làm phu quét đường, đêm đêm gom lá vàng dưới chân em cho con đường tình cuối ta đi gọn gàng thông suốt rồi nếu có thể, lẳng lặng đếm từng chiếc lá để làm bằng chứng yêu em… Bao nhiêu lá bấy nhiêu tình! Hãy giữ mùa thu bên mình, đừng đi mỹ viện bởi hoa có bao giờ nở hai lần…

Còn lại những mùa thu tha hương cuối cùng bên nhau. Trời sắp vào thu ở Cali nhưng nơi đây, thiếu cảnh mưa phùn gió bấc, gió heo may bên nhà. Anh nhìn thấy em cũng vừa sang thu. Anh yêu mùa thu… cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

old-couple-on-park-bench

 

Giữ mãi dáng thon gọn, vẻ đẹp đơn thuần giản dị giống khuôn mặt trong sáng trước ly cà phê buổi sáng hôm nay em nhé! Nó đã tạo niềm vui và hứng khởi cho anh viết những dòng cảm xúc chân tình này…

Mai đây, khi đông về, có một mùa thu sẽ vĩnh viễn ra đi, mùa thu ấy không bao giờ trở lại để rồi người đi kẻ ở chỉ còn nỗi niềm thương tiếc khôn nguôi. Hiểu chân lý đó, chúng ta nên lãng mạn và lạc quan chấp nhận mùa thu cuộc đời rồi điều chỉnh hạnh phúc mối tình già với những gì đang có hôm nay.

Cao Đắc Vinh

Acadia | Maine

3 Giờ Với LS. Nguyễn Mạnh Tường—Hòa Khánh

LS. Nguyễn Mạnh Tường (1909 – 1997) là một trong những người trí thức Việt Nam thông minh siêu việt gắn với nhiều huyền thoại, một nhà sư phạm mẫu mực giàu tài năng. Ông sinh ngày 16/9/1909 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 22 tuổi, là sinh viên Việt Nam (lúc đó còn thân phận thuộc địa) du học trên nước Pháp, Nguyễn Mạnh Tường đã lập nên kỷ lục làm chấn động học đường nước Pháp: trong một năm lấy luôn hai bằng Tiến sĩ Quốc gia Văn khoa và Luật khoa. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp đến 1954 thì trở về Hà Nội và làm giáo sư trường Đại học Văn khoa (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội). Ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại một phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội, LS. Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, đã đọc một bài diễn văn phân tích sâu sắc những sai lầm trong cải cách ruộng đất và đề ra phương hướng để tránh mắc lại sai lầm. Vì bài phát biểu này, LS. Nguyễn Mạnh Tường đã bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp và phải sống khó khăn thiếu thốn như một “kẻ bị khai trừ” (tên cuốn sách tự thuật của ông xuất bản năm 1992 tại Pháp). Ông mất năm 1996 tại Hà Nội, hưởng thọ 87 tuổi.)

NUYENMANHTUONGHOANGXUANHAN1989

Hai Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường và Hoàng Xuân Hãn tại Pháp năm 1989 

Lâu nay, tôi cứ đinh ninh là luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã mất. Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, tên tuổi của ông bặt đi. Có tin đồn là ông đã chết đâu đó ở một góc khuất tối tăm nào ở Hà Nội.

Thế rồi, bỗng dưng tôi lại nghe là ông vẫn còn sống, hơn nữa, đang có mặt tại Paris: ông được phép sang Pháp ba tháng để thăm viếng một số bạn bè cũ của ông.

KMSon_2

LS Nguyễn Mạnh Tường (bên phải) cùng anh vợ, DS Tống Lịch Cường

Được sự giới thiệu của một người quen, tôi và một anh bạn đã được luật sư Nguyễn Mạnh Tường tiếp trọn cả buổi chiều ngày thứ hai 27.11.1989.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường năm nay đúng 80 tuổi. Dáng người tầm thước, lưng hơi gù, da dẻ nhăn nheo, nhưng sức khoẻ khá tốt, đi đứng vững vàng, đặc biệt trí tuệ còn rất minh mẫn. Suốt hơn ba tiếng đồng hồ chuyện trò, chúng tôi không hề bắt gặp ở ông một dấu hiệu nào của sự đãng trí vốn thường xuất hiện ở người cao niên. Ông nói năng lưu loát, đôi khi hùng hồn. Ông nhớ chính xác chi tiết những sự kiện cũ hoặc mới. Cách lý luận rành mạch.

Điều chúng tôi thích nhất ở ông là sự thành thật. Ở vào hoàn cảnh của ông, thành thật cũng có nghĩa là can đảm. Hơn ba chục năm bị đày đoạ, luôn luôn sống trong tâm trạng phập phồng chờ đón những thảm kịch thảm khốc nhất, ông không khiếp sợ đến nỗi phải tự biến mình thành một con vẹt chỉ biết lải nhải lập lại những câu nói đã thành khẩu hiệu của chế độ hoặc co rút lại trong câm lặng, từ khước đối thoại để tránh khỏi nguy cơ bị hớ hênh, bị chụp mũ.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một người đầu tiên tôi gặp, từ chế độ cộng sản, vẫn giữ được cái sĩ khí của một người trí thức, “uy vũ bất năng khuất”. Ông không hề từ chối bất cứ câu hỏi nào của chúng tôi dù những câu hỏi đó bắt ông phải công khai bày tỏ thái độ với cái chế độ đã, đang, và có lẽ sẽ tiếp tục dập vùi ông.

Chúng tôi xin phép ghi âm buổi nói chuyện với một sự thiếu tự tin rõ rệt. Chúng tôi nghĩ là ông sẽ từ chối. Nhưng, không. Ông đã vui vẻ chấp nhận. Để bảo đảm sự trung thực, những chi tiết dưới đây, chúng tôi đều dựa vào bản ghi âm này.

Tưởng cũng nên nhắc lại, trước năm 1945, luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một trí thức xuất sắc nhất của Việt Nam với thành tích đến nay tại Việt Nam dường như chưa có ai theo kịp : 22 tuổi đậu hai bằng tiến sĩ quốc gia tại Pháp, một bằng về luật và một bằng về văn chương. Về nước, ông hành nghề luật sư và dạy học. Ở cả hai lãnh vực, ông đều thành công và tạo được một uy tín to lớn.

KMSon_4

Chúng tôi hỏi luật sư Nguyễn Mạnh Tường :

– Luật sư có thể cho biết luật sư đã tham gia phong trào Việt Minh và sau đó, tham gia kháng chiến như thế nào ?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đáp :

– Thật ra tôi không hề tham gia Mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Do đó tôi đã từng từ chối nhiều lời mời ra làm bộ trưởng của nhiều chính phủ. Người trí thức phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền. Người trí thức chỉ nên đứng ở lãnh vực thuần lý chính trị (politique spéculative). Nghiên cứu, thúc đẩy các trào lưu.

Cách mạng tháng Tám làm tôi rất vui mừng. Tôi mong muốn đóng góp vào việc xây dựng đất nước trong hai lãnh vực sở trường của mình : luật học và nghiên cứu văn học.

Năm 1946, một hôm, ông Nguyễn Hữu Đang, người sau này tham gia Nhân văn Giai phẩm và bị cộng sản kết án 15 năm tù, đến văn phòng luật sư của tôi nói là Cụ Hồ mời tôi đến gặp Cụ có việc cần. Nguyễn Hữu Đang chở tôi đến cái chỗ sau này gọi là Phủ Chủ tịch. Ở đó Vũ Đình Huỳnh, Vụ trưởng Vụ Lễ tân, ra tiếp và đưa vào gặp Cụ Hồ. Cụ gọi tôi là Ngài. Cụ nói : “Như Ngài đã biết, chính phủ vừa ký kết với Pháp một bản tạm ước. Theo bản tạm ước ấy, sắp tới, giữa ta và Pháp sẽ có một hội nghị quan trọng. Xin Ngài giúp soạn giùm cho một bản lập trường của chính phủ (thèse gouvernemental) để sử dụng như một cương lĩnh chỉ đạo cuộc hội nghị”. Tôi đáp : “Công việc này quan trọng quá, xin Cụ nhờ một người nào giỏi và có kinh nghiệm hơn tôi”. Cụ Hồ nói : “Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người và ai cũng bảo là chỉ có Ngài mới có thể làm được thôi”. Cuối cùng tôi nhhận lời, về nhà, đóng cửa văn phòng luật sư, vận dụng tất cả kiến thức về luật pháp quốc tế cũng như những điều khoản căn bản của tạm ước để soạn bản lập trường. Đến khi đem trình, được Cụ Hồ chấp thuận và do đó, buộc tôi phải tham dự Hội nghị Đà Lạt.

Chúng tôi hỏi:

– Luật sư giữ vai trò gì tại Hội nghị này ?

– Tôi là trưởng ban văn hóa và là uỷ viên trong ban chính trị.

– Cuộc hội nghị thành công tốt đẹp ?

– Vâng, về cuộc hôi nghị này, đã có nhiều người viết. Chỉ có một điều ít ai biết là, kết thúc cuộc hội nghị, hai bên đã tổ chức một bữa tiệc chung. Trong bữa tiệc ấy, tên tuỳ viên của thuỷ sư đô đốc Argenlieu đến cạnh tôi, nói là thuỷ sư đô đốc muốn gặp tôi để nói chuyện. Tôi bảo là tôi không phải trưởng đoàn do đó không có tư cách gì để gặp gỡ thuỷ sư đô đốc cả. Tên tuỳ viên lại bảo đây là sự gặp gỡ thân mật có tính cách cá nhân thôi chứ không phải để bàn bạc điều gì quan trọng cả. Nghe thế, tôi đứng dậy, rời bàn tiệc ra ngoài hành lang gặp Argenlieu. Lúc ấy trong bàn tiệc ai cũng thấy cả. Và cuộc nói chuyện cũng rất vu vơ, thăm hỏi xã giao về công ăn việc làm thôi. Thế nhưng, về Hà Nội bỗng dưng lại có tin đồn là Nguyễn Mạnh Tường thông đồng với giặc, là Nguyễn Mạnh Tường bán nước…

Chúng tôi hỏi:

– Luật sư có biết tin đồn đó xuất phát từ đâu không ?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười:

– Thì cũng phải có người phát thì nó mới động chứ. Tin đồn đó là cả một chiến dịch được tổ chức hẳn hoi. Anh Hoàng Xuân Hãn lúc ấy phải đến gặp hình như là Võ Nguyên Giáp thì phải, bảo Tường làm cái gì mà người ta lại tung tin đồn là nó bán nước, theo giặc ghê quá vậy. Nguy cho nó lắm. Mà nguy thật, chỉ cần một phát súng, một mũi dao là xong đời chứ gì. Từ khi anh Hãn can thiệp, tin đồn ấy mới lắng xuống rồi biến mất.

Chúng tôi hỏi:

– Có thể coi đó là nguyên nhân khiến cho về sau cộng sản bạc đãi luật sư chăng ?

– Không phải. Cộng sản, những người tham dự hội nghị cùng với tôi, họ biết thực hư, đầu đuôi thế nào hết chứ. Đâu có phải vì tin đồn ấy mà ngườ ta bạc đãi tôi. Đối với trí thức, nói chung cộng sản dùng thì dùng, nhưng bảo là họ có mến yêu không thì tôi… không dám nói là có.

Chúng tôi hướng câu chuyện vào vấn đề chúng tôi quan tâm nhất và có lẽ nhiều người cũng quan tâm đến nhất:

– Theo các tài liệu được phổ biến tại miền Nam trước đây cũng như ở ngoại quốc, luật sư có tham gia vụ Nhân văn Giai phẩm vào những năm 56, 57?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đáp nhanh:

– Thật ra tôi không hề tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm. Mãi sau này khi người ta kết án nhóm Nhân văn Giai phẩm, tôi mới biết đó là một tổ chức chống đảng với những tên tuổi như Trần Dần, Trần Duy, Hoàng Cầm… gì đó.

– Thế nhưng luật sư cũng có mấy bài viết cùng chung lập trường với họ.

– Vâng, tôi có cả thảy hai bài viết mà ông Hoàng Văn Chí có đăng lại trong quyển Trăm hoa đua nở trên đất Bắc ấy mà. Nguyên là, một hôm ông Nguyễn Hữu Đang và ông Trần Thiếu Bảo, chủ nhà xuất bản Minh Đức đến gặp tôi để xin bài. Cả hai đều quen biết với tôi từ trước. Chuyện gặp ông Nguyễn Hữu Đang tôi có kể qua lúc nãy. Còn ông Trần Thiếu Bảo thì tôi gặp ở Thái Bình thời kháng chiến chống Pháp. Lúc ấy, ông Bảo cũng làm nhà xuất bản. Tôi có đưa cho ông ấy xuất bản quyển “Một cuộc hành trình”,  quyển sách đầu tiên của tôi bằng tiếng Việt.

– Đó là một quyển hồi ký?

– Không. À mà cũng có thể gọi là nửa hồi ký, nửa nghị luận. Đại khái tôi kể chuyện cuộc đời mình, từ một người trí thức tham gia kháng chiến chống Pháp giành độc lập cho đất nước như thế nào…

– Xin trở lại vụ Nhân văn Giai phẩm…

– Vâng, thì cái bài đăng trên Giai phẩm mùa thu năm 1956 là thế. Còn bài viết về vụ cải cách ruộng đất thì là thế này: đó là bài tôi nói chuyện trong một cuộc hội nghị của Mặt trận Tổ quốc. Các anh cũng biết là vụ cải cách ruộng đất đã thất bại nặng nề đến nỗi ông Trường Chinh đã phải mất chức Tổng bí thư đảng cơ mà. Lúc đó có phong trào sửa sai ghê lắm. Trong cái cuộc vận động sửa sai như thế, ông Tố Hữu rồi ông Trường Chinh rồi ông Xuân Thuỷ đã lần lượt gọi tôi đến nhà riêng của các ông ấy để yêu cầu tôi, trong hội nghị của Mặt trận Tổ quốc, trình bầy cho mọi người biết thế nào là dân chủ. Các ông ấy nói là sau sai lầm của cải cách ruộng đất, chúng ta phải cố làm sao cho chế độ xã hội chủ nghĩa trở thành một chế độ thực sự dân chủ. Nghe thế, tôi mừng quá nên nhận lời ngay. Thế rồi hội nghị được tổ chức. Tôi thuyết trình trọn cả ngày, ba giờ buổi sáng, ba giờ buổi chiều. Thuyết trình xong, người ta khen ghê lắm. Ông Trường Chinh, Ông Xuân Thuỷ, ông Dương Bạch Mai sau đó lại yêu cầu tôi viết lại bài nói chuyện đó để đưa mấy ông xem.

– Thế, trong hội nghị, luật sư chỉ nói miệng chứ không đọc bài viết đã soạn sẵn?

– Không, thì giờ đâu. Chính mấy ông ấy bảo thì tôi mới viết lại chứ. Tôi đánh máy bài viết thành hai bản, nộp hết cho mấy ông. Thế mà, không biết tại sao, bài viết đó lại lọt ra nước ngoài, bọn báo chí ngoại quốc làm ầm ĩ lên thế mới chết chứ.

– Luật sư có nhớ chắc là không hề đưa bài viết ấy cho ai khác?

– Chắc chắn. Cả hai bản đánh máy tôi đều nộp hết cho ông Trường Chinh và ông Xuân Thuỷ. Tôi chỉ giữ lại bản nháp viết tay thôi.

– Thế thì luật sư có thể đoán được là tại sao, từ nguồn nào, bài viết của luật sư lại lọt ra nước ngoài được không?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười lắc đầu:

– Chịu thôi. Ở đời vẫn có những bí mật mật như thế đó, các anh ạ.

Chúng tôi lại hỏi:

– Thế sau khi bài viết bị tiết lộ ra ngoài thì cộng sản đối xử với luật sư như thế nào?

– Thì còn đối xử như thế nào nữa. Kiểm điểm rồi đuổi việc thôi.

– Luật sư có thể cho biết nội dung của những cuộc kiểm điểm ấy được không ạ?

– Được chứ. Thì ở đâu cũng giống nhau thôi. Cứ khăng khăng buộc tội tôi chống đảng.

– Khi buộc tội như vậy người ta dựa vào nội dung bài thuyết trình của luật sư hay dựa vào sự kiện bài tham luận được chuyển ra nước ngoài?

– Dựa vào nội dung bài thuyết trình mới chết chứ. Còn chuyện tại sao bài ấy lọt ra nước ngoài thì tôi có biết đâu. Và cũng không ai ghép tội tôi được : bằng chứng đâu?

– Nhưng nội dung bài thuyết trình, như luật sư cho biết là được soạn theo yêu cầu của ông Trường Chinh, Xuân Thuỷ, Tố Hữu mà…

– Thì đấy…

– Tại sao luật sư không nói cho họ biết điều đó?

– Có. Tôi có nói chứ. Nhưng ai nghe ? Người ta bảo cán bộ yêu cầu tôi phát biểu về nội dung khái niệm dân chủ chứ đâu có yêu cầu tôi chống lại đảng?

– Thế luật sư có chống lại đảng không?

– Ít ra, trong cuộc thuyết trình tại Hội nghị của Mặt trận Tổ quốc cũng như trong bài viết lại mà tôi nộp cho ông Trường Chinh, ông Xuân Thuỷ… thì tuyệt đối không có một câu, một chữ nào chống đảng cả. Tôi chỉ phê phán những sai lầm trong cải cách ruộng đất thôi. Mà những sai lầm ấy thì quá hiển nhiên, ngay cả đảng cũng nhìn nhận mà, chứ đâu phải mình tôi.

– Luật sư có đi tham gia cải cách ruộng đất?

– Có. Hồi ấy tất cả mọi cán bộ đều phải về các địa phương để tham gia cải cách ruộng đất cả. Tôi cũng phải đi.

– Luật sư về địa phương nào?

– Phủ Nho Quan.

– Công việc của các cán bộ cụ thể là làm gì?

– Để phụ với nhân dân tổ chức các cuộc cải cách ruộng đất thôi.

Trầm ngâm một lát, luật sư Nguyễn Mạnh Tường kể tiếp:

– Chính trong những đợt đi xuống điạ phương ấy tôi mới thấy rõ, thấy hết sự tàn bạo của nó.

Lại im lặng. Chúng tôi cũng im lặng chờ đợi. Giọng của luật sư Nguyễn Mạnh Tường trầm trầm, buồn buồn:

– Đầu tiên, về Phủ Nho Quan, chúng tôi được học tập là theo lệnh từ trên, tại điạ phương này có cả thảy 80% dân chúng thuộc thành phần địa chủ. Tôi điếng cả người. Phẫn nộ thấy ngay cách làm việc như vậy là rất trái khoa học. Khoa học nào cũng phải sử dụng phương pháp quy nạp, phải căn cứ trên quá trình điều tra thực tế cẩn thận, từ thực tế mà đúc kết thành nhận định. Đằng này thì mấy ông từ Trung ương cứ tưởng tượng ra các chỉ tiêu rồi ra lệnh xuống bắt các địa phương phải thực hiện. Cán bộ địa phương muốn hoàn thành công tác thì phải kích thôi. Có nhiều gia đình nghèo xơ nghèo xác, ở trong một căn nhà hẹp có hai gian, tài sản đâu chỉ được một hai mẫu ruộng, thế mà cũng bị khép vào thành phần địa chủ. Để cho đủ số lượng ấy mà ! Tội lắm. Oan ức nhiều không sao kể hết được.

– Luật sư có tham gia vào cuộc xử án nào không?

– Không. Người ta đâu có cần luật sư. Mình đi cốt là để rèn luyện quan điểm, rèn luyện lập trường thôi chứ đâu phải để xử án hay để biện hộ cho ai.

– Thế thì ai làm chánh án, luật sư trong các vụ đấu tố?

– Chẳng có chánh án, luật sư gì cả. Phiên toà được tổ chức ở một bãi sân rộng đâu đó trong làng. Mấy anh thuộc thành phần bần cố nông ngồi ngất ngưởng trên bàn để luận tội, còn mấy người bị gọi là địa chủ thì bị xích cổ, trói chân, trói tay quỳ mọp giữa sân…

– Có cả chuyện xích cổ ư?

– Có. Suốt “phiên toà”, hết bần cố nông này lên tiếng chửi thì bần cố nông khác lên chửi tiếp. Xong rồi thì đến lượt hành hình địa chủ, vậy thôi.

– Luật sư có bao giờ can thiệp vào những vụ đấu tố dã man như vậy không?

– Có mà muốn chết à ? Không. Có chảy nước mắt thì cũng ráng mà giấu đi.

– Có địa chủ nào được quyền tự biện hộ, tự thanh minh cho mình không?

– Không. Lúc đó ai cũng hồn kinh phách tán cả rồi, mặt mũi xanh rờn, đứng còn không nổi nữa thì nói gì đến chuyện tự biện hộ. Mà ai cho ? Cứ bị khép vào thành phần địa chủ là coi như đã chết.

– Luật sư có phỏng đoán được số lượng những người bị giết chết trong đợt cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào hồi ấy là bao nhiêu không?

– Không. Chỉ biết được ở cái điạ phương mình về thôi.

– Cụ thể, ở Phủ Nho Quan là bao nhiêu người bị giết chết?

– Tôi không nắm con số. Nhưng nhiều, nhiều lắm. Hơn nữa, sau các đợt cải cách ruộng đất còn có các đợt chỉnh phong trong hàng ngũ cán bộ cũng làm cho nhiều người bị oan ức lắm.

– Nội dung các cuộc chỉnh phong là sao?

– Là trừng phạt những đảng viên, những cán bộ có quan hệ ít nhiều với điạ chủ, với phản động. Thậm chí, có nhiều người lúc trẻ là đảng viên Quốc dân đảng, từ năm 45, 46, đã theo kháng chiến rồi vào đảng cộng sản, vậy mà người ta còn truy quá khứ ra để hành tội.

– Sau mấy chục năm, nhìn lại, luật sư đánh giá thế nào về cải cách ruộng đất?

– Dĩ nhiên là nó sai rồi. Không những sai, nó còn ác, cực ác nữa. Tôi nghĩ nó không có chút gì Việt Nam cả. Người Việt Nam, trong suốt lịch sử mấy ngàn năm, chưa bao giờ tàn bạo đến như vậy. Nó là dấu ấn của Mao…

– Dấu ấn trực tiếp hay gián tiếp?

– Tôi không biết. Ngay thời kháng chiến chống Pháp, tôi có gặp Đại sứ Trung Quốc trên các chiến khu. Bận một bộ đồ trắng toát, cưỡi ngựa, trông oai quyền ghê lắm. Ông ấy tên Lã Quý Ba. Người ta nói ông ấy chính là kẻ chỉ huy, vạch kế hoạch cho các phong trào cải cách ruộng đất tại Việt Nam.

– Nhưng Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền kia mà?

– Thì đấy. Ngay cái chuyện bắt chước Liên Xô, bắt chước Trung Quốc đã sai rồi thì những chuyện khác theo đó sai theo…

Chúng tôi trở lại chuyện Nhân văn Giai phẩm:

– Xin luật sư kể tiếp về những hình phạt đối với luật sư?

– Kiểm điểm rồi đuổi việc. Tôi có kể khi nãy.

– Cụ thể, trước đó, luật sư làm gì ?

– Tôi làm giám đốc Đại học Luật, phó giám đốc Đại học Sư phạm, chủ nhiệm Câu lạc bộ trí thức và nằm trong ban chấp hành của 10 tổ chức quần chúng ở miền Bắc.

– Đó là những tổ chức gì?

– Uỷ ban Hoà bình thế giới; Hội hữu nghị Việt Xô; Hội hữu nghị Việt Pháp; Hội Luật gia Việt Nam…

– Luật sư có bị bắt, có bị giam cầm gì không?

– Không. Chỉ bị đuổi ra khỏi tất cả những nơi đang làm việc. Và độc ác nhất là bị cô lập hoàn toàn. Các anh cứ tưởng tượng suốt mấy chục năm trời, không ai dám đến gặp tôi cả. Họ sợ bị liên luỵ đến bản thân, đến gia đình của họ. Có khi, đi ngoài đường, nhìn thấy tôi từ xa, là bạn bè, học trò cũ của tôi phải tránh đi chỗ khác. Tôi cũng không trách gì họ. Vì sự an toàn của họ, họ phải làm thế thôi. Nhưng đau xót lắm.

– Trong thời gian suốt mấy chục năm trời như vậy, luật sư làm gì để sống?

– Không làm gì cả. Xin việc gì người ta cũng không nhận. Thoạt đầu, cứ bán dần đồ đạc trong nhà mà ăn tiêu. Bán bàn ghế, giường tủ, rồi bán quần áo, giầy dép… cuối cùng phải bán đến cả sách vở tôi dành dụm thu thập sắm trong hai mươi năm. Bán theo giá bán giấy ký thôi. Rẻ mạt. Nhưng cần sống thì phải bán. Cứ mỗi lần bán sách là mỗi lần tôi có cảm tưởng như có ai lấy dao găm đâm vào tim của mình. Rồi tất cả đồ đạc cạn dần, cạn dần. Tôi lại sống bằng sự bố thí của anh em, bạn bè. Lâu lâu người này cho cái đồng hồ, người khác cho một ít tiền.

– Những người giúp luật sư thuộc thành phần nào?

– Một số là học trò cũ của tôi; một số là những bạn bè cuả tôi lúc tôi còn ở Pháp và một số khác nữa là những người hoàn toàn xa lạ vì nghe tiếng tôi, thương cho hoàn cảnh của tôi, từ Pháp thỉnh thoảng cho một ít quà.

– Họ là người Việt Nam hay người Pháp?

– Người Việt có, người Pháp có.

Thấy cuộc nói chuyện đã khá thân mật, chúng tôi dè dặt nêu ra câu hỏi khác, một câu hỏi thú thật chúng tôi rất tò mò:

– Ba mươi lăm năm sống dưới chế độ cộng sản, luật sư nhận xét gì về cái chế độ này?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đắn đo một lát rồi đáp:

– Mình nên khách quan. Người cộng sản họ vừa có công lại vừa có tội.

– Luật sư nghĩ gì khi có người gọi chế độ cộng sản tại Việt Nam là một nhà nước công an trị (état policier)?

– Đồng ý thôi. Điều đó thì rõ quá.

– Có người còn phân tích thêm, cái nhà nước công an trị ấy tồn tại bằng ba cơ chế : thứ nhất là công an khu vực; thứ hai là hộ khẩu; thứ ba là chế độ quản lý lương thực. Luật sư nghĩ sao?

– Đúng. Từ khi bị thất sủng, tôi vô cùng thấm thía những cái chuyện đó. Không đi làm được, sống bằng cách bán đồ đạc hoặc bằng sự bố thí của người khác mà phải mua lương thực tự do giá cao gấp trăm lần giá chính thức thì khó khăn ghê lắm. Có lúc tưởng không vượt qua được. Còn chuyện hộ khẩu và công an khu vực thì khỏi phải nói. Những chuyện ấy bây giờ vẫn còn đấy nhé.

NMTuong-1

LS. Nguyễn Mạnh Tường và hồi ký Un Excommunié xuất bản tại Pháp—1992

– Luật sư qua Pháp đã gần hai tháng nay, luật sư có theo dõi tình hình tại các nước Đông Âu không?

– Có chứ.

– Luật sư nghĩ sao?

– Mừng. Mừng lắm.

– Tình hình Việt Nam hiện nay thì sao?

– Khó khăn lắm.

– Phong trào đổi mới rồi sẽ tới đâu?

– Chưa biết được. Nhưng có điều chắc chắn là sẽ không có gì đổi mới cả nếu chưa có dân chủ, trước hết là chưa tôn trọng luật pháp. Vì luật pháp không anh minh cho nên có kêu gào đầu tư đến mấy cũng không có ai dám liều lĩnh đầu tư cả. Kinh tế vẫn kiệt quệ mãi.

– Tại sao cộng sản lại cho một người như luật sư sang Pháp?

– Tôi nộp đơn xin xuất cảnh đúng vào thời điểm họ tuyên bố đổi mới. Chứ nếu bây giờ, chưa chắc đã đi được.

– Luật sư nộp đơn xin xuất cảnh từ lúc nào?

– Năm ngoái. Hai tháng sau thì cầm được giấp phép của Việt Nam. Nhưng nộp vào Toà đại sứ Pháp thì phải chờ đúng tám tháng.

– Luật sư có ý định ở lại Pháp luôn không?

– Không. Tháng 12 tới tôi sẽ về lại. Trong thần thoại Hy Lạp có chuyện một vị thần chỉ mạnh mẽ khi đứng trên mặt đất, hễ ai nhấc lên khỏi mặt đất thì thành ra yếu ngay. Tôi nghĩ một người trí thức hay một văn nghệ sĩ cũng vậy. Phải ở trong nước, giữa những thử thách mới tìm ra được sức mạnh.

– Có một số anh em trí thức yêu nước, muốn về Việt Nam để canh tân đất nước, luật sư nghĩ là có nên hay không?

– Không. Cứ ở đây làm việc. Đừng về. Về sẽ bị kẹt.

– Tại sao?

– Tôi có nhiều kinh nghiệm về chuyện này. Thế hệ của tôi, bao nhiêu người tài giỏi, Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước… Về nước họ có làm được gì đâu ? Thì cũng có một vài đóng góp đấy, nhưng tôi nghĩ, hoàn toàn không tương xứng với khả năng của họ. Đó là chưa kể đến những người kém may mắn hơn. Như tôi chẳng hạn. Có làm gì được đâu?

– Lâu nay, luật sư có viết lách gì không?

– Có. Mấy chục năm qua, tôi hoàn thành được bốn công trình nghiên cứu. Một là “Lý luận giáo dục” (ở châu Âu từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18); hai là “Eschylle và bi kịch cổ đại Hy Lạp”; ba là “Virgile và anh hùng ca latin”; bốn là dịch vở kịch của Eschylle.

– Luật sư viết bằng tiếng Việt hay tiếng Pháp ?

– Tất cả đều bằng tiếng Việt. Dụng ý của tôi là để cho người Việt đọc. Tôi mượn những vấn đề trên để cho người Việt đặc biệt là những người lãnh đạo hiểu thế nào là con người, thế nào là dân chủ, tự do, thế nào là quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, v.v…

– Những quyển sách ấy có được in ra chưa?

– Chưa. Tôi có gửi lên Ban khoa giáo Trung ương. Người ta khen là nghiên cứu công phu. Nhưng đến nay không ai chịu in cả. Người ta bảo là không có giấy.

Nhìn đồng hồ thấy đã hơn 6 giờ chiều. Mùa đông trời tối sớm. Chúng tôi cám ơn luật sư Nguyễn Mạnh Tường để chấm dứt câu chuyện đã kéo dài hơn ba giờ liền. Và hỏi:

– Thưa luật sư, chúng tôi ghi âm buổi nói chuyện hôm nay với mục đích giữ làm kỷ niệm. Tuy nhiên không biết luật sư có đồng ý cho phép chúng tôi công bố những điều luật sư phát biểu chăng?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười dễ dãi:

– Các anh cứ tự nhiên. Những điều tôi nói toàn là sự thật cả.

– Sắp về lại Việt Nam, luật sư không sợ sao?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười to:

– Các anh nhớ là tôi đã 80 tuổi rồi. Tính theo tuổi ta là 81 đấy.

VN_NguyenManhTuong_02

Chúng tôi ra về, lòng phơi phới vui. Vui vì được gặp một người lâu nay mình ngỡ đã chết. Vui hơn nữa, vì thấy Nguyễn Mạnh Tường, cái tên tuổi mình từng kính phục từ thuở bùng nổ vụ Nhân văn Giai phẩm ở miền Bắc, sau bao nhiêu đoạ đầy, vùi dập, vẫn giữ nguyên cái sĩ khí của một người trí thức uy vũ bất năng khuất.

Ở Việt Nam giờ đây, còn được bao nhiêu người như thế nhỉ?

Hòa Khánh (Quê Mẹ)

Apple Park November 2017—Drone Tour


Vài Hình Ảnh Sinh Hoạt Đoàn PNLV—Hát Bình Phương K25

Happy Thanksgiving

il_fullxfull.1045109670_hx13

Cảm Tạ Của Gia Đình Anh Chị Trần Quang Minh K23

thumbnail

Irvine, California—Nơi Việt Cộng Mua Nhà