Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc » Sinh Hoạt (Trang 11)
Category Archives: Sinh Hoạt
New ways to get more done in Outlook.com-Microsoft Outlook
New ways In Outlook
Using Outlook Web App (Office 15-Minute Webinar)
8 great timesavers in Outlook (Office 15-Minute Webinar)
Picnic Hè 2016 — Almaden Lake Park


Mark Keliihoomalu
Tòa Trọng Tài LHQ ra phán quyết Biển Đông
Tòa quốc tế ra phán quyết bác bỏ yêu sách chủ quyền và đường chín đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông.

“Tòa kết luận không có căn cứ pháp lý để Trung Quốc đòi quyền lịch sử với các vùng biển nằm trong ‘đường chín đoạn’,” theo thông cáo của Tòa Trọng tài thường trực ở Hague.
“Tòa xác định rằng, mặc dù các nhà hàng hải TQ và ngư dân của họ, cũng như những người như vậy từ các Quốc gia khác, đã từng trong lịch sử sử dụng những hòn đảo này ở Biển Nam Trung Hoa, hiện không hề có chứng cứ gì rằng Trung Quốc đã thực thi về mặt lịch sử sự kiểm soát đặc quyền trên toàn vùng nước hay tài nguyên. Vì thế, Tòa kết luận rằng không có căn cứ pháp lý cho việc Trung Quốc nêu quyền lịch sử với các tài nguyên nằm trong vùng biển trong Đường Chín Đoạn”.
Trung Quốc đã ra phản ứng, nói phán quyết “vô căn cứ.”Tân Hoa Xã nói phán quyết “không có giá trị”. Hãng tin nhà nước Trung Quốc nói: “Toà trọng tài không có quyền tài phán, Trung Quốc không chấp nhận, cũng không công nhận.
Philippe Sands, một luật sư cho Philippines trong vụ kiện, nói đây là “phán quyết rõ ràng và thống nhất ủng hộ pháp quyền và chủ quyền của Philippines”.
Trong văn bản 497 trang, các quan tòa nói các tàu chấp pháp Trung Quốc gây rủi ro đụng chạm với tàu đánh cá Philippines trong vùng biển và việc xây dựng của Trung Quốc gây thiệt hại vô kể với các rạn san hô.
Nhật Bản tuyên bố phán quyết của tòa án ở Hague là mang tính chung cuộc, ràng buộc pháp lý, yêu cầu các bên liên quan tới vụ kiện thực hiện theo quyết định này.
Ngoại trưởng Fumio Kishida nói trong thông cáo rằng Nhật Bản đã luôn ủng hộ tầm quan trọng của luật pháp và việc sử dụng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hay cưỡng chế trong giải quyết tranh chấp hàng hải.
“Đường Chín Đoạn” là gì?
Bắc Kinh tuyên bố “chủ quyền không thể chối cãi” đối với khoảng trên 85% diện tích Biển Đông, tương đương 3 triệu trên tổng số 3,5 triệu cây số vuông toàn bộ vùng biển này.
“Đường Chín Đoạn” chạy có những chỗ cách xa khỏi Trung Hoa lục địa tới 2.000km và vào sát bờ biển Philippines, Malaysia và Việt Nam vài trăm cây số.
“Đường Chín Đoạn” ban đầu xuất hiện trên một bản đồ của Trung Quốc hồi 1947 với 11 đoạn đứt quãng, khi lực lượng hải quân của Cộng hoà Trung Hoa thuộc Quốc Dân đảng khi đó kiểm soát được một số đảo vốn do Nhật chiếm đóng trong thời Đại chiến Thế giới lần thứ hai.
Khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949 và Quốc Dân đảng phải bỏ chạy ra Đài Loan, chính quyền cộng sản đã tự tuyên bố mình là đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Quốc và thừa kế toàn bộ các tuyên bố về biển đảo của nước này trong khu vực.
Sau đó, đầu thập niên 1950, hai “đoạn đứt quãng” được bỏ đi ở khu vực Vịnh Bắc Bộ như một hành động thân thiện của Bắc Kinh với chính quyền miền Bắc Việt Nam.
PCA là tổ chức liên chính phủ lâu đời nhất thế giới, chuyên xử lý các vụ tranh chấp quốc tế thông qua biện pháp trọng tài “và các biện pháp hoà bình khác”.
PCA được thành lập năm 1899 trong Hội nghị Hoà bình Hague, do Sa Hoàng Đệ Nhị của Nga tổ chức. Cơ quan này dẫn chiếu tới các hợp đồng, các thoả thuận đặc biệt, và nhiều hiệp ước khác nhau của Liên hợp quốc để phân xử tranh chấp.
![]() |
Hội Đồng trọng tài của PCA
PCA cũng hiện diện thường trực tại Mauritius, và có thể tiến hành các phiên tranh tụng trên toàn thế giới.
Nhắc lại vụ kiện Philippines về Đường Lưỡi Bò:
“Philippines đưa vụ kiện ‘đường chín đoạn’ ra Tòa Trọng Tài năm 2013.
Họ cáo buộc Trung Quốc cấm đánh bắt cá, nạo vét để bồi đắp đảo nhân tạo và gây nguy hiểm cho tàu bè tại Biển Đông.
Họ cũng yêu cầu tòa bác tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về ‘đường chín đoạn’, chiếm giữ 90% Biển Nam Hải (Biển Đông), trên bản đồ chính thức của Trung Theo nhà báo và cũng là nhà nghiên cứu Biển Đông Bill Hayton, phần lớn vụ kiện là yêu cầu tòa án ra phán quyết về những tuyên bố chủ quyền của mỗi quốc gia tại Biển Đông.
Các nhà ngoại giao Trung Quốc đã viết một loạt bài trên các báo tiếng Anh chỉ rõ lập trường của Bắc Kinh về Biển Đông.
Trung Quốc cho biết khoảng 60 quốc gia ủng hộ lập trường của họ rằng nên bác phán quyết của tòa, nhưng chỉ một vài nước tuyên bố ủng hộ họ công khai.
Phóng viên BBC Jonah Fischer từ Manila: “Nay Trung Quốc chắc chắn lo sợ Việt Nam cũng sẽ làm theo Philippines là đem một vụ kiện ra Tòa.”
Phóng viên Jonah Fischer của BBC từ Manila: “Phán quyết của Tòa Trọng tài là một cú giáng mạnh vào Trung Quốc.
“Không chỉ Đường Chín Đoạn bị bác bỏ mà Tòa còn nói rằng các cấu trúc (features) Trung Quốc xây trên Biển Đông không tạo ra cơ sở để có chủ quyền. Đây là thắng lợi lớn cho Philippines.”
Thái Lan thúc giục tất cả các bên liên quan tại Biển Đông duy trì hòa bình và ổn định.
Trong một thông cáo đưa ra trước phán quyết của tòa The Hague, Bộ Ngoại giao Thái Lan nói điều quan trọng là khôi phục sự tin tưởng và lòng tin của các nước trong khu vực.
Thông cáo nói tình hình tại Biển Nam Trung hoa (Biển Đông) nên được giải quyết “trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau và lợi ích công bình” theo đó thể hiện mối quan hệ lâu dài giữa Trung Quốc và Asean.
Quan chức Bộ Ngoại giao Philippines từ Manila trong họp báo: “Đây là phán quyết có tính chất nền tảng.”
Ngoại trưởng Philippines kêu gọi “kiềm chế và tỉnh táo” tại Biển Đông ngay sau một phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế có lợi cho Manila và lên án Bắc Kinh.
“Các chuyên gia của chúng tôi đang nghiên cứu phán quyết này cẩn trọng và triệt để bởi đó là kết quả quan trọng của tòa trọng tài.
Ngoại trưởng Perfecto Yasay nói tại một cuộc họp báo.”Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên liên quan kiềm chế và tỉnh táo. Philippines khẳng định hết sức tôn trọng quyết định cột mốc này”.
Trích đoạn phán quyết của Tòa Trọng tài LHQ về ‘Đường Chín Đoạn’ của Trung Cộng:
Tính hợp pháp của các hành động Trung Cộng:
Tòa đã xem xét tính hợp pháp của các hành động Trung Quốc gây ra tại Biển Nam Trung Hoa. Tòa nhận thấy một số khu vực nằm trong vùng kinh tế đặc quyền (EEZ) của Philippines, và theo tòa, Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của Philippines trong EEZ qua cách:
(a) Can thiệp vào công tác khai thác dầu khí và ngư nghiệp của Philippines,
(b) Xây dựng đảo nhân tạo, và
(c) Không ngăn các ngư dân Trung Quốc đến đánh cá trong EEZ này.
Tòa cũng nhận định rằng ngư dân Philippines có quyền đánh cá truyền thống (traditional fishing rights) tại Bãi Scarborough và Trung Quốc đã ngăn cản quyền của họ.
Tòa nhận định rằng các tàu hải tuần của Trung Quốc đã tạo ra một cách phi pháp rủi ro nghiêm trọng cho các vụ va đập khi họ thực hiện việc ngăn cản các tàu thuyền Philippines.
Một đoạn khác:
Về đường chín đoạn và những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc phán quyết của tòa viết:
“Lập trường này đã bị bác bỏ, tuy nhiên văn bản cuối cùng của Công ước cho phép các Quốc gia khác có quyền đi lại có giới hạn để đánh cá ở khu vực đặc quyền kinh tế (trong trường hợp Quốc gia ven biển không thể đánh bắt với toàn bộ ở khu vực này) và không có quyền khai thác dầu và khí đốt cũng như các nguồn tài nguyên. Tòa thấy rằng tuyên bố của Trung Quốc với các quyền có tính lịch sử tới tài nguyên là không phù hợp với các vị trí cụ thể về quyền và các vùng hải phận theo Công ước và kết luận rằng, với mức độ Trung Quốc có quyền lịch sử ở vùng Biển Đông thì những quyền này sẽ bị loại bỏ do hiệu lực của Công tước và tuyên bố chủ quyền đó trở nên không phù hợp với hệ thống các vùng hải phận thể theo Công ước.”
Tòa kết luận sự hiện diện của nhân viên chính thức trên nhiều cấu trúc địa lý này không tạo lập năng lực của chúng, trong điều kiện tự nhiên, có thể duy trì sự ổn định của một cộng đồng con người và xét thấy bằng chứng lịch sử con người sinh sống hay đời sống kinh tế có liên quan nhiều hơn tới năng lực của các cấu trúc địa lý này. Xem xét các ghi nhận lịch sử, Tòa ghi nhận rằng Trường Sa theo lịch sử đã được sử dụng bởi nhiều nhóm ngư dân từ Trung Quốc cũng như các Quốc gia và một số công ty mỏ và đánh cá của Nhật Bản cũng đã thử khai thác vào những năm 1920 và 1930. Tòa kết luận rằng việc sử dụng tạm thời các cấu trúc địa lý này của các ngư dân không tạo lập sự sinh sống của một cộng đồng ổn định và tất cả các hoạt động kinh tế lịch sử …. Vì thế Tòa kết luận rằng mọi cấu trúc địa lý khi thủy triều lên tại Trường Sa là các “bãi đá” hợp pháp không tạo ra vùng đặc khu kinh tế hay thềm lục địa. Hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông:
Tòa quyết định là Trung Quốc đã vi phạm các nghĩa vụ của họ thể theo Công ước Quốc tế và Quy định Ngăn ngừa Va chạm trên Biển (Convention on the International Regulations for Preventing Collisions at Sea) năm 1972, và Điều khoản 94 của Công ước liên quan tới an toàn hàng hải.
Tính nghiêm trọng của các tranh chấp giữa các bên
Tòa ghi nhận Trung Quốc đã:
(a) xây dựng đảo nhân tạo tại Bãi đá Vành Khăn, một cấu trúc địa lý nhô lên trên mặt biển khi thủy triều xuống tại đặc khu kinh tế của Philippines;
(b) gây nguy hại vĩnh viễn và không thể khắc phục tới hệ sinh thái rặng san hô;
(c) phá hủy vĩnh viễn bằng chứng về điều kiện tự nhiên của các cấu trúc địa lý đang được nói tới.
Tòa kết luận Trung Quốc vi phạm nghĩa vụ của họ trong việc kiềm chế không làm nghiêm trọng thêm hay gia tăng tranh chấp trong thời gian chờ quá trình phán quyết.
Hành xử tương lai của các bên
Cuối cùng, Tòa án xem xét yêu cầu của Philippines có một tuyên bố rằng, trong tương lai, Trung Quốc sẽ tôn trọng các quyền và tự do của Philippines và tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo Công ước. Trên khía cạnh này, Tòa lưu ý rằng cả Philippines và Trung Quốc đã nhiều lần chấp nhận các nghĩa vụ của Công ước và nghĩa vụ chung với niềm tin tốt đã xác định và định hướng hành vi của họ. Tòa cho rằng gốc rễ của vụ tranh chấp trong vụ kiện ra trọng tài này không nằm trong bất kỳ ý định nào của Trung Quốc hay Philippines để xâm phạm quyền lợi hợp pháp của nước kia, mà là ở khác biệt hiểu biết cơ bản các quyền của mình theo Công ước trong các vùng biển ở Biển Đông. Tòa nhắc lại rằng một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là tin tưởng nhau và lưu ý rằng Điều 11 của Phụ lục VII quy định rằng “kết luận. . . phải được các bên có tranh chấp tuân thủ.” Tòa do đó cho rằng không cần có thêm một tuyên bố nào khác.
Tờ Inquirer của Philippines tường thuật Nhật Bản đang dàn xếp một thông cáo chung về phán quyết Biển Đông với các đối tác trong nhóm các quốc gia G7 có nền kinh tế phát triển như một phần của xu hướng “ngoại giao chủ động”, mặc dù Nhật Bản có thể sẽ im lặng khi phán quyết được công bố.
Alexander Neill, chuyên viên nghiên cứu lâu năm tại Viện nghiên Cứu chiến lực châu Á IISS-Asia viết:
Việc xây dựng và cải tạo đảo phục vụ cho mục đích kép, vừa củng cố tuyên bố chủ quyền của Trung cộng và vừa tạo ra một sự hiện diện liên tục của Trung cộng, cả quân sự và dân sự tại Biển Đông.
… Có một vùng rộng lớn tại phía nam của Biển Đông là khá nông – độ sâu dưới 100m. Tuy nhiên, gần tiếp giáp với “đường chín đoạn” (đường mà Trung cộng tuyên bố chủ quyền của Biển Đông) thì thềm lục địa có độ sâu khoảng 4,000m, tạo điều kiện tốt hơn cho tàu ngầm hoạt động.
Đó là lý do tại sao một số chuyên gia tin rằng vùng nước sâu của Biển Đông, và những nỗ lực của Trung cộng tăng cường chống tàu ngầm ở đó, có thể tạo địa bàn cho các tàu ngầm của Trung cộng trong tương lai.
Trong những năm gần đây, độ sâu của Biển Đông đã trở thành tâm điểm cạnh tranh ngày càng gia tăng giữa Trung cộng và Hoa Kỳ.”
Nồi Chè Của Ông Tướng—Khôi An
Năm nay, Fathers Day của nước Mỹ là 19 tháng 6, trùng với Ngày Quân Lực VNCH trước 1975, xin mời đọc bài mới của Khôi An, chuyện ông Tướng mà cũng là chuyện Người Cha. Tác giả từng phải rời bố mẹ vượt biển năm 1983 khi còn tuổi học trò và là một kỹ sư có hơn hai mươi năm làm việc cho Intel tại tại miền Bắc California. Dự Viết Về Nước Mỹ từ 2008, cô đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2013. Sang năm 2015, thêm giải Việt Bút Trùng Quang, dành cho những nỗ lực bảo vệ, phát huy văn hóa Việt trên đất Mỹ.
Ảnh của Richard Stayner from the Internet: Cần Thơ năm 1972
Không hiểu chị tôi đã nghe tin về ông bằng cách nào.
Thời đó, đầu thập niên tám mươi, mọi phương tiện truyền thông đều thuộc về nhà nước Cộng Sản, quanh năm suốt tháng báo chỉ đăng tin “nước ta đang trong thời kỳ quá độ…” Kiểu dùng chữ như vậy mọi người phải chịu đựng mãi nên đỡ thấy quái đản. Người đọc cứ tự điền vào chỗ trống thành “nghèo quá độ”, “đói quá độ” hay “láo quá độ”… tùy theo câu.
Vậy mà, một buổi tối, đột nhiên chị tôi nói “Em có biết Tướng Lê Minh Đảo không? Ông tướng đánh trận Xuân Lộc đó. Nghe nói ổng mới chết trong tù rồi! Tội quá, ổng còn trẻ lắm!”
Trước ngày miền Nam thất thủ tôi không biết ông Lê Minh Đảo. Sau đó, tôi có nghe loáng thoáng người lớn rỉ tai nhau về trận đánh ác liệt bảo vệ ngõ vào Sài Gòn trong những ngày đầu tháng Tư, 1975 tại Xuân Lộc. Tôi cảm phục những người chiến đấu đến cùng, nhưng điều đó sớm chìm vào những hỗn độn của cuộc đổi đời. Vả lại tôi còn nhỏ quá, chẳng biết nghĩ gì hơn.
Cũng như thế, tối hôm đó, sau khi nghe chị tôi nói, chúng tôi chỉ biết nhìn nhau trong niềm xót thương lặng lẽ.
Một thời gian sau, tôi lại nghe một người bạn nói “Ông Lê Minh Đảo còn sống. Ổng chỉ bị mù thôi.”
Ở trong tù mà bị mù thì chắc còn khổ hơn chết. Tôi thở dài – trẻ con Việt Nam sớm biết thở dài – rồi thầm đọc một lời cầu nguyện. Cho ông và những người tù chính trị đang bị đọa đày.
Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo (1972)
Đến năm 1993, khi đang ở Mỹ, nghe tin Tướng Lê đã sang theo diện HO và mắt vẫn sáng, tôi ngạc nhiên và vui lắm. Mừng cho ông cuối cùng cũng có những ngày bình an sau gần hai thập niên tù ngục.
Nhiều năm sau, khi internet cung cấp mọi tin tức mà ngày trước không dễ kiếm, tôi đã lên mạng tìm xem mặt Tướng Lê và nghe ông nói. Tôi muốn biết về ông. Không phải qua những lời kể, mà bằng cảm nhận của chính tôi.
Và tôi đã gặp được đoạn phim buổi nói chuyện của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo với Việt Dzũng. Buổi phỏng vấn khá dài nhưng tôi nhớ nhất là khi ông nói về sự hy sinh của người lính. Giọng ông hơi lạc đi khi nhắc đến tình bạn của hai người lính trẻ và sự đơn sơ, không hận thù trước bờ sinh tử của họ.
Phút nghẹn ngào của Tướng Lê đã làm tôi bồi hồi. Tôi ngỡ tim ông đã cứng và nước mắt ông đã kiệt sau mấy chục năm ngang dọc trên chiến trường và mười bảy năm trong tù. Tôi ngỡ ông sẽ nói nhiều về những chiến công và những đóng góp của ông trong hai mươi năm gìn giữ miền Nam. Nhưng ông nói về các điều khác, như cái chết của người lính trẻ và sự hy sinh của chiến binh. Hơn hai mươi năm đã qua, ông vẫn tự trách mình, môi ông run run khi nói “…chúng tôi cũng không lo được cho họ một cách đầy đủ…” Có lẽ chưa bao giờ ông ngưng buồn về chuyện đó. Tài làm tướng của ông đã làm tôi phục. Nhưng vết thương mấy chục năm trong lòng ông mà tôi vừa chứng kiến đã làm tôi quý mến ông.
Đầu tháng Tư, 2015 tôi viết lại chuyện của những sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ bốn mươi năm trước. Họ tụ tập tại một chung cư cũ kỹ ở Houston, khắc khoải nhìn về miền Nam đang vuột mất. Người sinh viên năm xưa cứ nhắc đi nhắc lại niềm hy vọng bùng lên khi đám người Việt trẻ theo dõi sự anh dũng của những chiến sĩ Xuân Lộc, dù bị dồn tới chân tường.
Vì thế, tôi tìm xem lại những khúc phim của tháng Tư xưa. Tôi thấy lại khói lửa điêu tàn. Tôi gặp lại các chiến sĩ anh hùng. Và Tướng Lê Minh Đảo, mắt nảy lửa, nghiến răng thề quyết chiến.
Rồi tôi giật mình, nhận ra rằng những người trai dũng mãnh ấy nay đã già, và tôi cũng đang già. Mai này khi chúng tôi ra đi, đàn con gốc Việt còn biết gì về quê cha đất tổ? Phải chăng điều đó tùy thuộc vào những gì chúng tôi làm hôm nay?
Thế hệ trẻ cần nghe những điều thật từ những người thật. Sẽ tốt biết bao nếu họ được gặp gỡ những nhân vật lịch sử như Tướng Lê Minh Đảo.
Thế là tôi lần mò đi tìm Tướng Lê.
Tôi không có mối quen biết xa gần nào với ông, cũng chẳng có chức tước ở bất cứ hội đoàn nào. Vậy mà tôi thấy chuyện mời ông đến vùng Thung Lũng Điện Tử thật tự nhiên, nhẹ nhàng. Có lẽ tôi linh cảm rằng vị tướng, người sau hơn hai mươi năm vẫn khóc cho lính, rất quan tâm tới lớp trẻ.
Sau hai tuần hỏi thăm nhiều người, cuối cùng tôi may mắn có được sự giúp đỡ tận tình của một người chị làm báo. Tôi được một cái hẹn nói chuyện với Tướng Lê. Mười giờ sáng, một ngày đầu tháng Tư, 2015.
Gần tới giờ hẹn, tôi thấy hơi hồi hộp. Thật tình tôi sẽ buồn chút thôi nếu Tướng Lê từ chối sang California nói chuyện. Nhưng tôi sẽ buồn nhiều nếu thực tế quá khác với những cảm nghĩ ở trong lòng.
Ông đến San Jose chiều 27 tháng Tư, 2015 trên chuyến bay từ Arizona. Từ xa, tôi thấy ông trong chiếc áo sơ mi kiểu Hawaii màu vàng nhạt có hoa xám, đang dáo dác nhìn quanh.
“Thưa Bác! Con là Kh.A.”
Ông cười. Chúng tôi bắt tay nhau. Giản dị như đã quen từ trước.
Ông cho biết đã lên máy bay ngay sau khi dự buổi lễ kỷ niệm bốn mươi năm miền Nam bị cưỡng chiếm với cộng đồng Việt-Mỹ ở Pheonix, Arizona. Tôi hỏi ông có mệt không, ông nói “Không sao đâu. Bác giờ như một kho sách cũ, chỉ lo không đủ giờ để trao lại kiến thức cho những người đi sau…”
Tối hôm đó, chúng tôi mời ông ghé chơi nhà một người bạn. Khi bước vào nhà, trên salon có một cây đàn guitar kiểu mới, chỉ có khung sắt mà không có thùng đàn. Tôi thấy mắt ông ngời lên một sự thích thú gần như trẻ thơ. Ông bước nhanh tới, nâng cây đàn lạ mắt, vuốt nhẹ lên những sợi dây.
Khi chúng tôi mời ông đánh một bài, ông xòe bàn tay ra nhìn, cười nhẹ rồi nói:
– Ở tù bị thương, hư tay rồi. Giờ lại già nữa, đánh kém lắm.
Chúng tôi không nài ép, chỉ lẳng lặng nhìn ông vừa nói chuyện vừa lơ đãng lướt tay trên cần đàn. Một lúc sau, như hứng khởi, ông hát
“Trùng dương dâng sóng, biển khơi như thét gào. Cuốn đi cánh hoa đào dạt trôi nơi nao… “
Bài hát đó ông sáng tác trong tù, ngày nghe tin người bạn cùng trại mất hết vợ con trên đường vượt biển.
“Còn sống tôi còn khóc, tôi còn thương quê hương tôi …”(*)
Giọng ông nhẹ và buồn. Tôi nghe, và nghĩ rằng ông đang nói những điều tận đáy lòng.
Sáng 29 tháng Tư, Tướng Lê bắt tay vào chuẩn bị cho buổi nói chuyện ngay sau ly cà phê sớm. Ông sắp xếp ý nghĩ, soạn phần trả lời cho các câu hỏi các sinh viên đã gởi đến, và ghi xuống một loạt các quyển sách nói về chiến tranh Việt Nam để giới thiệu đến các sinh viên.
Mãi tới giờ ăn trưa tôi mới có dịp nói chuyện với ông. Vì có quá nhiều điều muốn hỏi, tôi buột miệng:
– Bác ơi, có bao giờ Bác hối hận đã làm cho các con Bác kẹt lại với Cộng Sản sau ngày mất miền Nam không? Các con Bác có bao giờ trách Bác không?
Nói xong, tôi hơi bối rối vì đã hỏi một câu khá nặng nề trong lúc ông đang nghỉ ngơi. Nhưng ông trả lời ngay:
– Đó là một quyết định rất đau lòng, nhưng Bác chưa bao giờ hối hận. Bác ra lệnh cho anh em binh sĩ quyết đánh, gia đình của họ đều ở lại, có lẽ nào Bác lo cho con Bác ra đi? Bác có thể thu xếp cho gia đình mình, nhưng làm sao thu xếp được cho mọi gia đình của những người đang tin vào Bác? Nếu Bác cho vợ con đi trước, lính của Bác biết là giờ chót Bác có thể lên máy bay đi bất cứ lúc nào. Như vậy họ còn tin tưởng để đánh hay không? Như vậy Bác có công bằng với họ hay không? Bác chấp nhận định mệnh của Bác và gia đình, nếu có phải chết thì chết cùng nhau. Bác muốn đối xử công bằng để sau này con bác không phải xấu hổ với con em của những người từng nghe lời Bác mà liều chết. Bác muốn con bác sau này không phải nhìn Bác mà nghĩ ông già mình ngày xưa từng gạt lính.
Trầm ngâm vài giây, rồi ông tiếp:
– Năm 1979, lúc Bác đang bị Cộng Sản đày đọa, nghe tin gia đình đi thoát hết sau năm lần vượt biên bị tù, Bác trút được gánh nặng khủng khiếp trong lòng. Bác tạ ơn trời đã cho Bác ân huệ được lương tâm yên ổn, được trọn vẹn mọi bề. Từ đó, Bác không còn phải lo lắng, đau khổ cho số phận của vợ con trong nanh vuốt của kẻ thù nữa. Bác không sợ kẻ thù dùng các con thơ để khống chế mình nữa. Bác được tự do.
Còn các con Bác, tụi nó cũng hiểu và không trách Bác. Trong bốn năm kẹt lại, tụi nó đã học được rất nhiều. Những kinh nghiệm sống đó làm cho chúng biết thương người, biết khiêm nhường, biết quý những điều tưởng như là tầm thường. Các con của Bác có thể tự hào rằng mình đã hiểu biết về Cộng Sản và đã vượt thoát khỏi ngục tù của họ. Đó là một tài sản mà Bác nghĩ các con Bác nên hãnh diện đã có được.
Tôi uống một ngụm trà, nuốt xuống cái nghèn nghẹn ở cổ. Tôi nghĩ, trước khi tử chiến ở Xuân Lộc, nếu ông lo cho gia đình đi thì đó cũng là chuyện thường tình. Không ai trách được ông. Nhưng Tướng Lê không phải là người làm những chuyện thường tình…
Thời vừa bị chiếm, mạng sống của người miền Nam rất nhỏ, thêm dịch bệnh hoành hành làm trẻ con chết rất nhiều. Nếu chỉ một trong chín người con ông có mệnh hệ nào, nỗi dằn vặt sẽ ám ảnh ông suốt đời. Nhưng Thượng Đế đã gìn giữ gia đình ông vẹn toàn. Cám ơn Thượng Đế, Tướng Lê cần và xứng đáng với ơn huệ của ngài.
Hôm sau, ngày 30 tháng 4, 2015, ông và người thông dịch miệt mài chuẩn bị cho buổi nói chuyện lúc 6 giờ chiều. Trưa đến, tôi nhắc ông đi ăn nhưng ông dùng dằng mãi vẫn chưa đứng lên được. Thấy vậy tôi đành khuân về mấy ổ bánh mì thịt nguội. Ông gặm bánh mì, uống beer và cười nói vui vẻ, hài lòng vì buổi nói chuyện được chuẩn bị chu đáo.
Cuôc gặp gỡ với sinh viên diễn ra thành công và cảm động. Tướng Lê đã nhắn nhủ lớp trẻ bằng những điều ông đúc kết suốt nửa cuộc đời trong chiến tranh cộng với mười bảy năm trong tù ngục. Những chia sẻ của ông thiết tha, sâu sắc nhưng cũng rất thực tế, phù hợp với tâm hồn và đời sống của giới trẻ.
Buổi họp kết thúc khá trễ nên chúng tôi chỉ ghé tiệm kem ăn tráng miệng rồi về.
Mãi đến đêm, tôi mới chợt nhận ra rằng bữa ăn “đàng hoàng” nhất của Tướng Lê ngày hôm đó là ổ bánh mì. Vì ông đã không đụng đến đĩa thức ăn do các em sinh viên mời lúc chiều, ông nói muốn tập trung để nói chuyện với các em.
“Con gián làm mồi câu tốt lắm, con à.”
Buổi chuyện trò của tôi và Tướng Lê ngày hôm sau bắt đầu bằng câu chuyện đời thường như thế. Ông kể thời ông ở Cần Thơ, ông thường bắt gián ở đằng sau một tiệm ăn ở gần nhà rồi đem ra bến Ninh Kiều câu cá.
Biết rằng lúc đó ông đã lên tới cấp Tá, tôi hỏi:
– Chắc Bác câu cá cho vui hả Bác?
– Câu cá về ăn chớ! Nhà Bác đông con, lương của Bác thì khá so với lính, nhưng chẳng dư dả gì đâu, con. Lính mình hồi đó cực lắm con à, một tháng lương mua được một tạ gạo. Còn lương Bác cũng chỉ tạm đủ lo cho vợ con.
Hoàn cảnh lính và những hy sinh của gia đình lính thì không nói sao cho xiết, con à. Gần một triệu người đã chết và bị thương trong cuộc chiến, còn số người chịu mất mát sau lưng họ thì không biết đếm bằng cách nào! Bác cứ nghĩ con người ta ai cũng bằng xương bằng thịt, nếu Bác chết trận, mười người trong gia đình Bác đau đớn bao nhiêu thì những cái chết trong gia đình lính cũng đau bấy nhiêu. Hồi ở Chương Thiện, có một người lính đi phục kích, vợ con bị địch câu pháo trúng vô nhà, chết hết. Anh ta về, ngồi gục mặt trước đống gạch nát, Bác đứng đó mà chỉ biết đặt tay lên vai anh ta, không tìm được lời nào an ủi. Vậy mà hai bữa sau, anh ta trở lại đơn vị, tiếp tục đánh giặc…
Cái nhíu mày của ông làm tôi nghĩ ruột ông đang thắt lại, nên tôi chuyển qua đề tài khác:
– Thời Bác ở trong quân đội, di chuyển nhiều nơi, cả nhà đều đi theo hả Bác?
Nụ cười nhẹ làm những vết nhăn trên trán ông dãn ra.
– Ờ! Bác bận rộn quá nên đi đâu Bác cũng cố gắng đem gia đình theo để được ở gần càng nhiều càng tốt. Khi nào có dịp nghỉ, Bác dắt vợ con đi chơi. Nhưng sau này, Bác ở đóng quân ở Long Bình thì tụi nhỏ đi học ở Sài Gòn, cuối tuần nếu Bác không đi hành quân thì mới được gặp. Có một lần Bác dắt tụi nhỏ đi coi chiếu bóng về, tụi nó than đói bụng. Ở tỉnh lỵ đâu có hàng quán ban đêm, Bác lại không muốn sai lính nên tự nấu chè cho tụi nó ăn. Nấu nước sôi, đập vô một củ gừng, quậy đường cát, rồi xé bánh tráng bỏ vô. Bánh tráng mà mình hay ăn đồ cuốn đó. Bánh tráng coi mặn mặn vậy mà nấu chè ngon lắm! Bữa nào con làm thử đi!
Ông vừa nói vừa gật đầu để thêm phần… thuyết phục. Tôi tròn mắt nhìn ông. Chỉ là một kỷ niệm vui, không màu mè, bóng bẩy, nhưng ông làm tôi cảm động lẫn ngạc nhiên. Một vị Tư Lệnh tự nấu chè cho con ăn khuya? Nồi chè mà tôi không cần thử cũng biết là không thể ngon. Nhưng nó làm tôi thương người cha ở trong ông, và tự hào vì quân lực VNCH đã có một vị chỉ huy như ông. Ôi, nồi chè của ông Tướng!
Càng nói chuyện với ông, tôi càng thấy ông rất “không thuờng tình”. Ông không dè dặt, thận trọng như thường thấy ở những người từng chứng kiến nhiều mưu mô, tráo trở. Ông không có cái trầm ngâm, chán chường của một người nếm quá nhiều đau thương. Ông nhiệt tình, hăng hái, và thật. Như thể cuộc đời ông chưa từng bị dập vùi, như thể ông còn rất trẻ và còn tin tưởng rất nhiều vào con người.
Và, ông hoàn toàn không có cái xa cách của người xem mình là quan trọng. Vì thế, tôi đã hỏi ông một câu mà trước khi gặp ông tôi không nghĩ là mình dám hỏi:
– Bác ơi, ngày 30 tháng Tư 1975, sau khi miền Nam thất thủ, Bác có bao giờ nghĩ đến chuyện tự sát hay không?
– Lúc đó, mỗi người có một quyết định riêng, không ai đúng ai sai. Riêng Bác, Bác không có ý định tự tử. Các con Bác đã mất quá nhiều, Bác không muốn chúng phải mất cha. Nếu bị giặc Cộng giết, Bác chấp nhận nhưng Bác không tự mình làm điều đó với các con. Hơn nữa, Bác không có cái uất ức, đau khổ của một bại tướng vì Bác chưa bao giờ nghĩ là mình thua. Mình chỉ tạm thời khó khăn vì những thế lực quốc tế đẩy mình tới đó, nhưng Bác muốn sống để xem mọi sự xoay vần tới đâu.
Nếu chỉ được dùng một từ để diễn tả Tướng Lê, tôi sẽ chọn “lãng mạn”.
Những quyết định cực kỳ cứng rắn, những hành động hết sức can đảm của ông đều bắt nguồn từ những tình cảm sâu xa. Chỉ có người rất lãng mạn mới đủ tin yêu để làm những điều phi thường như ông đã làm. Ông để vợ con cùng ở lại đương đầu với Cộng quân là vì ông yêu sự “công bằng” mà ông đã nhắc đến mấy lần trong câu trả lời ngắn. Ông tử chiến vì ông hết lòng tin vào sứ mạng gìn giữ miền Nam. Ông không sợ chết vì ông không muốn phụ lòng những người lính đã nằm xuống và những người lính đã dựa vào ông mà đứng lên từ những căn nhà cháy ra tro của họ.
Cống hiến của ông cho đời giống như những viên kim cương, tuyệt sáng và tuyệt cứng. Nhưng chúng đã được hun đúc từ phần lõi là những tình cảm tinh tuyền, và những giọt nước mắt. Sẽ không có kim cương nếu không có phần lõi đó.
Lịch sử Việt Nam có Tướng Phạm Ngũ Lão gạt nước mắt, chia tay mẹ già đi đánh giặc. Có Tướng Trần Khánh Giư bỏ gánh than, từ giã đời ở ẩn để trở về cứu nước. Có biết bao chuyện nhờ dân gian ghi lại mà ngày nay chúng ta được biết.
Cho nên, tôi muốn ghi lại nồi chè bánh tráng của Tướng Lê Minh Đảo. Ghi lại lúc ông chấp nhận để các con ông cùng chung số phận với gia đình lính. Ghi lại lòng thương yêu và quý trọng vô bờ của ông với binh sĩ và vợ con của họ. Về lời ông nói, đùa mà rất thật “nếu trời cho sống đến hơn trăm tuổi, tôi vẫn muốn cống hiến thời giờ và sức lực cho Việt Nam tới phút cuối.”
Năm nay Tướng Lê đã tám mươi ba. Vinh, nhục, yêu, ghét, thăng hoa, đày đọa … ông đều đã trải. Vì thế, tôi viết bài này không phải cho ông. Mà để lưu lại vài mẩu chuyện về Ông Tướng Lãng Mạn cho mai sau. Để góp một chút tin yêu bởi vì làm người Việt Nam rất buồn. Để cho chính tôi nhớ gương của Tướng Lê, lạc quan trong khó khăn và cố gắng làm những điều tốt đẹp nhất trong khả năng của mình, hầu mong mai sau con cháu không phải ngần ngại nhận mình là Việt.
Khôi An
(*) Lưu Đày – Nhạc và lời của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo
Bài dịch tiếng Anh “Tướng Lê Minh Đảo tại Đại Học Stanford” và những câu trả lời sinh viên trên trang của SVSA (Stanford Vietnamese Student Assocication):
http://svsa.stanford.edu/blackapril.html#leminhdao
Ngày Đó Cha Tôi—Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích
Cha tôi là con trai út trong gia đình sáu người con của Ông Bà Nội. Có lẽ theo thói quen mà Bà Nội thường hay gọi cha tôi là thằng Nhỏ mặc dù ông đã có vợ, con.

Happy Mothers Day

Mother Of Mine—Paul Mauriat
Nhật Ký Của Mẹ—Hiền Thục
Khi Toàn Dân Biểu Tình Vì Việt Nam
Tại Sài Gòn
Tại Hà Nội
Tại Nghệ Tĩnh
Lễ Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai—Hội Võ Bị Dallas-Fort Worth

Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai Khóa 5 Hoàng Diệu TVBQGVN
Một buổi lễ “ Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai Khóa 5 Hoàng Diệu TVBQGVN” do Hội CSVSQTVBQG-DFW tổ chức đã diễn ra thật trang trọng; với sự hiện diện gần 200 quan khách cùng rất nhiều đồng hương; hội đoàn; các cơ quan truyền thông báo chí:
Thời gian từ 2pm đến 5pm ngày 26-2-2016 tại Sparkman Crane Funeral Home tại 10.501 Garland Rd Dallas,Texas 75218.
Chương trình do MC Lưu Xuân Phước K24 VB đảm trách khai mạc đúng giờ. Hầu hết các vị đại diện các chức sắc tôn giáo, cộng đồng hội đoàn đều được mời lên phát biểu.
NT Nguyễn Quang Vinh K14 đã đại diện Tổng Hội CSVSQTVBQGVN ngỏ lời cám ơn toàn thể quan khách tham dự và chuyển lời Phân Ưu của Tổng Hội cùng tang quyến.
Thượng tọa Thích Huyền Việt đến từ Houston phát biểu những tình cảm sâu đậm của mình với một Tướng Lãnh liêm khiết vì yêu quân đội và đất nước nên phải chịu đọa đày 17 năm trong các nhà tù cộng sản
HT Ngô Văn Tuận đã đại diện hội thành kính phân ưu cùng tang quyến và nói lên tình cảm của tất cả CSVSQTVBQGVN – DFW đối với một vị NT đáng kính cùng thành thật cám ơn tất cả mọi người đến tham dự buổi lễ hôm nay:
Thiếu Tướng KQ Đặng Đình Linh, Bà Pham Nguyễn Thanh Thúy Hội Trưởng Hội Cao Niên hạt Tarrant , ông Hà Thúc Thanh Phó chủ tịch Ngoại vụ Cộng đồng Hạt Tarrant , ông Phan Văn Phúc Tổng Hội Cựu TNCT, ông Nguyễn Ngọc Quý Liên Hội CCSVNCH-DFW, ông Đoàn Tống Hội Trưởng CSQG-DFW, ông Huỳnh Công Đấu TQLC, ông Nguyễn Văn Nở HT Hội Hải Quân –DFW, NT Cựu Trung Tá Lê Chu, ông Trương Sĩ Lương Bán Nguyệt San TGM, bà Thu Nga Giám Đốc Đài Truyền Hình DFW và Radio 1600am …tất cả đều bùi ngùi xúc động trước sự mất mát lớn lao nầy và thành kính phân ưu cùng tang quyến.
CSVSQ Phạm Văn Tiền Khóa 20 đã đại diện Hội CSVSQTVBQGVN-DFW đọc bài điếu văn tiễn biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai trước khi tất cả mọi người nghiêm chỉnh đứng im lặng dành “ Một Phút Mặc Niệm” để cầu nguyện NT bình an trên đường về nước Chúa ..theo truyền thống truy điệu của TVBQGVN . Qua bài Thơ Tù của NT cũng được phát âm qua giọng đọc của NT vẫn còn văng vẳng đâu đây….trước khi nghi lễ kết thúc.
Buổi lễ đã chấm dứt đúng 5pm cùng ngày trong niềm đau tận cùng của thân phận mỗi một con người còn lại hôm nay.

Điếu Văn: Vĩnh Biệt Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai DFW ngày 26-2-2016
Thưa Cựu Thiếu Tướng NT Đỗ Kế Giai,
Thưa gia đình cùng tang quyến,
Trời Dallas đang vào Xuân mọi người còn đang vui Tết thì được tin NT mất. Không ai ngạc nhiên nhưng thật xúc động khi nhận được tin nầy vì biết NT không còn đủ sức khỏe và đã nhập viện vào nhà dưỡng lão từ lâu …
Trên cõi đời nầycó sinh là phải có tử, có đến rồi cũng có đi và NT đã ra đi ở vào giai đoạn cuối một đời người ở tuổi trường thọ 87. Mặc dầu rất buồn nhưng sự ra đi của NT hôm nay như vậy là quá đủ, quá đủ ân phúc mà Thương Đế đã ưu ái dành cho NT nào mấy ai có được!
Mới đây thôi , lần cuối cùng mọi người gặp NT vào ngày 17-1-2016, nhân dịp Xuân Chiến Sĩ của Liên Hội -DFW, măc dầu sức khỏe yếu phải ngồi xe lăn nhưng NT vẫn cố gắng đến với đàn em chúng tôi trong đậm đà của tình chiến hữu thuở nào. Có ai ngờ đây là lần cuối cùng và cũng là lần các cựu quân nhân chúng tôi vĩnh biệt người NT đáng kính, một vị tướng lãnh anh hùng liêm khiết của QLVNCH.
Từ lâu NT là một trong những cánh chim đầu đàn của Tổng Hội CSVSQ-TVBQGVN. Niên trưởng là vị tướng mẫu mực trên chiến trường và cũng là người đàn Anh đáng kính của tập thể CSVSQ/TVBQGVN. Thiếu vắng NT trong gia đình Võ Bị là thiếu đi những lời chỉ dạy ân cần cho công cuộc đấu tranh chung vì độc lập tự do dân tộc còn đang dang dở.
Biến cố 30 tháng Tư 1975, sẵn phương tiện trong tay mặc dầu có Tướng Times bên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp đưa cả gia đình đi Mỹ, nhưng NT quyết định ở lại vì trách nhiệm của một tướng lãnh. Ngày 15 tháng 5, 1975, Cộng Sản đến nhà mời NT đi họp và đưa thẳng vào khám Chí Hòa, sau đó đưa NT cùng với các vị tướng lãnh khác ra Bắc Việt.
Ðến ngày 5 tháng 5 năm 1992, sau 17 năm NT mới được trả tự do, là một trong 4 vị cấp tướng cuối cùng ra trại tù CS cùng với Cựu Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Trần Bá Di va Lê Văn Thân.
NT và gia đình được xếp vào danh sách H.40 nhưng cuối cùng được đôn lên H.07, đến Mỹ vào tháng 11 năm 1994 định cư tại thành phố Garland, Texas. Và cũng từ đó NT là thành viên của Hội Võ Bị Dallas-Fort Worth Texas.
Vài năm sau nầy khi phải vào viện dưỡng lão, mỗi lần có ai vào thăm NT rất vui mừng. Hội CSVSQTVBQGVN – DFW vẫn thường xuyên sát cánh cùng NT: NT Nguyễn Du Nghi K13 & NĐ Lương Dũng Sinh K30 là người tận tình với NT nhiều nhất, thế mà NT Nghi cũng đã ra đi vài năm trước rồi!
Niên trưởng thường tâm sự mỗi khi có ai hỏi NT về cuộc chiến Việt Nam: Vài năm trước đây và ngay bây giờ, có nhiều nhà xuất bản Mỹ và Việt đề nghị tôi viết hồi ký và họ sẽ giúp xuất bản. Không! Tôi dứt khoát là không. Tôi trả lời là đối với tôi điều nầy khó quá. Bởi nếu đã viết, thì phải nói hết, nói thật, mọi sự việc mà tôi nghe, tôi biết, tôi thấy. Như vậy e rằng sẽ làm mất lòng nhiều người. Hơn nữa, vấn đề nầy tôi xin bày tỏ quan niệm tôi qua hai câu của người xưa:
“BẠI BINH CHI TƯỚNG, BẤT KHẢ NGÔN DŨNG VONG QUỐC CHI ĐẠI PHU, BẤT KHẢ NGÔN TRÍ.” (Tướng bại trận không thể nói mạnh. Quan mất nước, không thể nói hay)
Thưa NT,
Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng, Đến trần truồng và đi vẫn tay không. Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng, Nay rũ sạch…lên bờ, thuyền đến bến…
NT đã sống thật thanh liêm khi làm Tướng và rất bình dị thanh thản lúc ra đi! Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi, Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…
Bây giờ NT đã không còn là Thiếu Tướng nữa mà là Cụ Ông. Kính chúc Cụ Ông Edmond Marie Đỗ Kế Giai bình an trên đường về nhà Chúa…
GIA ĐÌNH HỘI CSVSQTVBQGVN-DFW THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Nói Chuyện Với Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai—Tạp Chí Trẻ
Tạp Chí TRẺ trong Số Tháng Tư 2009 có bài tường thuật Cuộc Nói Chuyện giữa Phóng Viên Trẻ và Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai
Lời nói đầu của Phóng viên Tạp Chí Trẻ:
Qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Trọng Huấn, một Cựu Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, thành viên Hội Quảng Đà Dallas-Fortworth, Texas, đã đưa chúng tôi đến thăm Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai tại Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt Cao Niên Garland, Texas
Chúng tôi đến Trung Tâm vào giờ ăn trưa của các cụ nơi đây và được bác Đỗ, Giám đốc Trung Tâm tiếp đón. Bác Đỗ nhờ người thưa với Cựu Thiếu Tường Đỗ Kế Giai là có nhà báo chúng tôi xin được gặp ông, và mời ông Tướng ra phòng khách để cho chúng tôi được gặp, bác Đỗ cho chúng tôi biết ông Đỗ Kế Giai hôm nay không được khoẻ lắm.
Rồi tôi thấy Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đi vào phòng khách của Trung Tâm. Hình ảnh một vị cao niên chống gậy vẫn không che được phong cách và uy nghi của một vị Tướng lãnh từng một thời oai vũ.
Chân dung và tiểu sử Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai được ghi lại không đầy đủ như sau: Ông xuất thân Khoá 5 Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, ra trường Tháng 4/1952, ông về phục vụ Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội. Năm 1954, ông là sĩ quan hành quân “Officier Adjoint” cho Thiếu tá Mollo ở Đồng Đế, Nha Trang, với cấp bậc Trung úy. Cấp bậc cuối cùng của ông là Thiếu Tướng Biệt Động Quân, chỉ huy Lực Lượng bảo vệ Sài Gòn cho tới khi nhận lệnh buông súng…
Những người đàn anh của tôi ở đây là những cựu Trung úy, cựu Đại úy đang làm thiện nguyện ở Trung Tâm, các anh lo bữa ăn trưa cho vài chục cụ người Việt cao niên ở đây, các cụ đang… nói chuyện, chơi cờ, xem ca nhạc Asia và chờ cơm. Thấy Thiếu Tướng đi tới các anh đến mới ông đến chiếc ghế êm ả nhất phòng. Tôi cúi chào Thiếu Tướng.
Phóng Viên Trẻ: “Thưa bác, cháu là phóng viên Tạp Chí Trẻ. Xin được chào bác, chúc bác sức khoẻ. Xin được hỏi bác đôi điều…”
Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai: “Từ ngày xưa, tôi đánh giặc đã không thích kể chuyện đăng báo vì kể lể chiến công với báo chí tôi cho là việc tự kể cho đối phương nghe, biết chiến thuật của mình”
PV Trẻ: “Thưa bác, cháu xin không hỏi bác nhiều về những chuyện đã qua. Thay mặt Nhóm thực hiện báo Trẻ, cháu đến thăm hỏi sức khoẻ bác vì được nghe bác đã tham gia sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên Garland.”
CTT ĐKGiai: “Nếu anh muốn hỏi gì thì phải đợi tôi nói xong hãy hỏi tiếp, đừng hỏi ngang làm tôi quên chuyện tôi đang nói…”
PV Trẻ: “Thưa bác, bác có viết quyển hồi ký nào không?”
CTT ĐKGiai: “Tôi không viết hồi ký vì những đánh bóng cá nhân hay chạy tội trước lịch sử đều không phải là hồi ký. Theo thời gian, tôi chỉ nói ra những gì tôi thấy là cần thiết…”
PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã trả lời. Xin hỏi bác đã đi “cải tạo” bao nhiêu năm?”
CTT ĐKG: “Tôi không có đi cải tạo. Tôi đi tù.”
PV Trẻ: “Xin lỗi bác, cháu chỉ muốn dùng lời nói cho nó nhẹ nhàng thôi!”
CTT ĐKG: “Ngày tôi đi phỏng vấn ở Trụ Sở ODP để sang đây, có người thông dịch viên cũng hỏi tôi một câu như thế. Tôi cũng trả lời rõ ràng như thế. Và ông nhân viên Mỹ nói luôn với tôi: “Mời ông ký giấy tờ để hoàn tất thủ tục.”
PV Trẻ: “Thưa bác, thời gian… ở tù của bác bao lâu?”
CTT ĐKG: “17 năm thiếu 10 ngày.”
PV Trẻ: “Xin hỏi: Có phải bác là người đi tù sớm nhất và về trễ nhất?”
CTT ĐKG: “ Có thể. Ngày 15 tháng 5, 1975, họ đến nhà tôi, mời tôi đi họp nhưng thật ra là bắt tôi đi luôn từ đó. Lệnh tập trung những sĩ quan Quân lực VNCH vào Tháng 6, họ bắt tôi giữa Tháng 5. Có thể tôi là người đi tù sớm nhất!”
PV Trẻ: “Nhưng khi ấy họ chưa tổ chức kịp những trại tập trung thì họ đưa bác đi giam ở đâu?”
CTT ĐKG: “Khám Chí Hoà. Một năm sau họ đưa tôi từ Nhà Tù Chí Hoà đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cũ. Bữa sau nữa, họ đưa tôi ra Bắc.”
PV Trẻ: “Bác tù ở ngoài Bắc 17 năm. Khi trở về Nam, bác thấy miền Nam sau 17 năm kiểu cộng sản “giải phóng” thế nào?”
CTT ĐKG: “Tôi không thích tiếng: giải phóng”!
Bác Giai im lặng-hồi tưởng. Mọi người im lặng-chờ đợi. Ở đây chỉ có những người trẻ làm thiện nguyện là đến trung tâm sinh hoạt cao niên này để phục vụ người già. Trong thái độ, ánh mắt, giọng nói của những người lính cũ, tôi cảm nhận được sự kính trọng Tướng Giai của họ như ngày họ còn tấm thẻ bài lính chiến trên ngực. Hình như với những người lính cũ, kỷ luật quân đội vẫn sống trong họ.
Bác Giai nói tiếp: “Hôm đó trong trại tù, một người thuộc Mặt Trận Giải Phóng miền Nam nói với tôi: “… Trong Quốc ca của các anh có câu: Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…, thì hôm nay chúng tôi đã giải phóng cho các anh rồi! Còn thắc mắc gì nữa!” Tôi nghe anh ta nói câu đó thì tức đến chết được, để rồi tôi nói cho các anh nghe về lịch sử bài quốc ca của Quốc Gia VNCH…”
Cuộc nói chuyện ngưng vì bác Đỗ đến mời vị Cựu Tướng đi ăn cơm, anh Tuấn và tôi được mời cùng ăn với vị Cựu Tướng. Bác Giai chống gậy, đi đứng đã có phần khó khăn, nhưng vẫn đi được một mình. Nhìn bác tự lo cho mình bữa ăn, tôi không biết ngày xưa, cấp Tướng thì có bao nhiêu người phục vụ? Tôi thấy ở ông phong cách tự tại, bình thản của một cụ già người Việt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên. Một chút ngậm ngùi nổi lên trong lòng tôi dù tôi thấy là vô lý. Bác Giai rất an nhiên, tự tại.
Tôi nói với bác Giai: “Hôm qua, cháu nói điện thoại với cô Kiều Mỹ Duyên. Cô gởi lời thăm bác.”
Ông ngồi yên như hồi tưởng lại những người quen biết cũ.
Thấy ông có vể xúc động, tôi hỏi thêm câu nữa: “Ngày xưa, chắc cô Kiều Mỹ Duyên đẹp lắm hả bác?”
Ông cười, nụ cười bí hiểm với ánh mắt trầm mặc sau làn kính cận dày. Nhưng sau đó… ông tỏ ra bớt “quạu”, chắc tâm tư sảng khoái nên ông ăn cơm thấy ngon.
Tôi hỏi: “Cơm ngon không bác? Cháu thấy món thịt kho rất ngon.”
Ông trả lời nhẹ nhàng: “ Ngon hơn cơm tù.”
Trên chiếc bàn trải khăn trắng muốt, đơn sơ, mỗi người một đĩa cơm có thịt kho, cải xào, chén canh đậu hũ trắng nấu với cà chua và thịt bằm. Trước mặt có ly trà, trái chuối để tráng miệng. Một phần ăn trưa rất bình thường ở Mỹ, bình thường đến nỗi người ăn chỉ làm công việc ăn chứ ít ai nghĩ đến ân sủng của Ơn Trên đã ban cho lương thực hàng ngày hay công lao người nấu bữa ăn, hoặc tiền chợ có từ đâu? Nhưng nghe bác Giai vừa ăn vừa nói chuyện, mọi người như mới nhận thức ra giá trị của bữa ăn hàng ngày, bác nói:
“Từ ngày tôi ra tù đến nay, không bao giờ tôi bình phẩm về món ăn.”
Là một phóng viên chuyên thực hiện những cuộc phỏng vấn, nhưng lần này có lẽ là lần thứ nhất tôi không muốn đóng vai trò phóng viên đặt câu hỏi mà chỉ muốn ngồi nghe câu chuyện của một chứng nhân lịch sử, một trong những “Tự điển sống” hiếm hoi còn lại tới bây giờ. Những câu hỏi về lịch sử không phù hợp với không gian, thời gian. Từng câu hỏi như những mũi kim chích vào ung nhọt quá khứ, nó có cái “đã” của một vết thương mưng mủ được tuôn ra, nhưng tiếp theo sau là nỗi buồn vết sẹo không lành sau mỗi câu trả lời của vị Cựu Tướng. Tôi tự thấy mình có lỗi trong những câu hỏi có thể gợi sự bất an, hay không vui trong lòng vị Cựu Tướng nên tôi chuyển sang chuyện khác, may ra cuộc trò chuyện được vui vẻ hơn.
PV Trẻ: “Thưa bác, hiện nay bác đến Trung Tâm này sinh hoạt hàng ngày hay sao?”
CTT ĐKG: “Không, một tuần tôi đến đây ba ngày thôi.”
PV Trẻ: “Vậy, những ngày ở nhà thì bác làm gì? Bác đang sống với ai?”
CTT ĐKG: “Tôi sống với hai người con trai của tôi, hai con tôi qua đây đã lỡ tuổi, dở dang mọi chuyện nên chúng không lập gia đình. Công việc hàng ngày thì tôi làm được gì thì làm, được tới đâu hay tới đó.”
PV Trẻ: “Bác có thường xuyên liên lạc với bạn hữu và các vị tướng lãnh xưa không ạ?”
CTT ĐKG: “Ít khi. Từ hôm ra tù đã thế. Ngày ra tù, họ cho hay trong nửa ngày phải thu xếp rời trại. Tưởng chuyển trại thôi vì tôi tin là tôi sẽ ở tù tới chết. Không ngờ họ cho về. Tôi với Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo là 4 người trong 100 người mà họ muốn giam tù cho tới chết. Nhưng nhờ sự đấu tranh của các chiến hữu, các vị đồng hương ở hải ngoại, tạo thành áp lực buộc họ phải thả chúng tôi. Bốn người chúng tôi là đợt cuối cùng trong 8 đợt thả 100 người tù cuối sổ. Lúc đợi xe đưa về Sài Gòn bốn chúng tôi tính với nhau: tôi sẽ được đưa về nhà trước vì là người lớn tuổi nhất trong anh em, kế đến là Trần Bá Di, tới Lê Văn Thân. Lê Minh Đảo trẻ tuổi nhất, sẽ về sau chót. Nhưng khi xe đưa chúng tôi về đến Sài Gòn thì thì những người áp giải chúng tôi làm ngược lại! Lê Minh Đảo được đưa về nhà trước nhất, tôi là người về nhà sau cùng.”
PV Trẻ: “Vậy, bác đúng là người đi tù trước nhất và về nhà sau cùng. Bác có không được vui về chuyện ấy không?”
CTT ĐKG: “Từ những ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, sau khi Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã rời Sài Gòn thì ngày 28, 29 Tháng Tư, tướng Times bên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp tôi đưa cả gia đình tôi đi ra nước ngoài. Nhưng tôi quyết định ở lại vì trách nhiệm.”
PV Trẻ: “Bác có ân hận về quyết định ở lại đó với 17 năm tù và về sau chót?”
CTT ĐKG: “Không. Tôi đã làm tròn trách nhiệm của một Tướng lãnh với Tổ Quốc, với Quân đội, với đồng bào và đồng đội. Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ tác phong, danh dự của Quân Lực VNCH. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.”
PV Trẻ: “Đối với bên kia, thì đã rõ về tác phong của bác. Nhưng đối với đồng đội, đặc biệt là với các vị Tướng đã bỏ nước ra đi vào những phút chót dầu sôi lửa bỏng, Bác nghĩ gì về họ?”
CTT ĐKG: “ Tôi quyết định ở lại vì tôi thấy hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích những người ra đi Tháng Tư năm 1975. Bởi vì trường hợp mất Nam Việt Nam thật đặc biệt, không thể qui trách cho những người cầm súng giữ nước. Các đơn vị quân đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chạy trước cộng quân. Quân đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quí vị Tướng có ở lại trong nước thì trước sau các ông cũng vô tù như tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát được ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cứu vãn những người còn kẹt lại. Về mặt kinh tế, những người đi trước đa số đã thành công trong việc xây dựng được cuộc sống ổn định ở nước ngoài, nhờ đó ta có thể có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên nói nhiều nữa về chuyện đi hay không đi, đi trước- đi sau, mà mọi người nên, và phải cùng chung lưng xây dựng một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.”
PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã cho nghe về lịch sử và những biến động ở Sài Gòn cũng như miền Nam vào những ngày cuối cùng của nền Cộng Hoà. Trong tương lai, bác có suy tư nào để chia sẻ với những người đời sau?”
CTT ĐKG: “Những ngày lễ, ngày Tết, đặc biệt là Ngày 30 Tháng Tư hàng năm, đều có những người trẻ tìm đến tôi để hỏi thăm. Tôi cảm ơn nhiều. Phần các cháu hỏi, thì câu trả lời của tôi còn đó, đến năm sau có thể ta sẽ lại gặp nhau. Các cháu hãy làm đi, làm những gì có thể làm cho quốc gia, dân tộc chúng ta khá hơn, hay hơn.”
PV Trẻ: “Cảm ơn lời chỉ dạy của bác. Xin được chào bác và để bác nghỉ. Xin chúc bác được nhiều sức khoẻ để làm chỗ dựa tinh thần cho lớp trẻ dấn thân vào việc xây dựng tương lai chung của chúng ta. Kính chào bác.”
Khi ngồi nghe chuyện Cựu Tướng Đỗ Kế Giai sau bữa ăn trưa ở Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt cao niên, những câu hỏi tôi đã chuẩn bị để hỏi ông không có cơ hội được tôi nói ra vì dòng hồi tưởng của vị Tướng Già cứ tuôn chảy theo ký ức và tâm cảm của ông. Hai nữa có những chuyện tôi không muốn hỏi sợ làm ông buồn.
Thế rồi bác Đỗ lái xe đưa bác Giai về tư gia. Trongcuộc sống âm thầm nơi viễn xứ, những người lính cũ vẫn sống bên nhau với tình đồng đội ngày nào. Thật đáng kính phục những người Lính Chiến của một Quân Lực oai hùng nay không còn nữa.
Tôi trở về toà soạn, ngồi gõ keyboard viết những dòng chữ này để Tưởng Niệm Tháng Tư 2009 gửi đến quí vị độc giả Tạp Chí Trẻ.
Người viết Phóng Viên Trẻ
Cô Bé Tỵ Nạn Việt Nam Thành Thẩm Phán Mỹ—BBC
Báo New York Times nêu tên bà Jacqueline Nguyễn trong số sáu người có khả năng được bổ nhiệm thành Thẩm phán Tòa Thượng thẩm, sau khi ông Antonin Gregory Scalia, vị thẩm phán kỳ cựu, qua đời.

Năm nay 51 tuổi, bà Jacqueline Nguyễn “sang Hoa Kỳ năm 10 tuổi cùng gia đình, sau khi chính quyền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975”, tờ báo Mỹ viết.
“Hiện đã là thẩm phán Toà Phúc thẩm Hoa Kỳ, bà được Tổng thống Obama bổ nhiệm vào tháng 5/2012,” trang báo cho hay.
Các báo tiếng Việt cho biết bà tên là Nguyễn Thị Hồng Ngọc, sinh năm 1965 tại Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam.
Một trang web của người Việt tại Hoa Kỳ viết rằng cha bà, cựu thiếu tá Quân lực Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Bình đưa gia đình sang tị nạn tại Hoa Kỳ năm 1975, ban đầu ở Trại Pendleton, sau đó định cư ở Los Angeles.
Các trang báo cũng nói khi mới sang Hoa Kỳ cô bé Jacqueline “đi phụ bán bánh với mẹ để kiếm sống”
Thẩm phán liên bang
Tốt nghiệp Occidental College và trường Luật UCLA, bà đã từng hành nghề luật, chủ yếu trong các vụ kiện tụng dân sự, và sau đó giữ các chức vụ trong bộ máy tư pháp ở California, theo New York Times.
T̀háng 5/2012, với số phiếu 91-3, bà được phê chuẩn trở thành thẩm phán Tòa Phúc thẩm Liên Bang Hoa Kỳ Khu Vực 9 (Ninth Circuit U.S. Court of Appeals).

Bà Jacqueline Nguyễ́n hiện là thẩm phán liên bang Hoa Kỳ khu vực 9
Ngoài bà Jacqueline Nguyễn, năm nhân vật được tờ New York Times nêu lên là các “ứng viên tiềm năng” lên thay vị trí củ̃a ông Antonin Scalia là các ông Merrick B. Garland, (63 tuổi), Padmanabhan Srikanth Srinivasan (48 tuổi, sinh tại Ấn Độ), Cory Booker (46 tuổi, thượng nghị sỹ New Jersey), các bà Kamala D. Harris (51 tuổi, người gốc Á – Phi), Patricia Ann Millet (52 tuổi).
Cùng thời gian, một tờ báo khác ở Hoa Kỳ nêu ra tên bảy ứng viên tiềm năng vào chức tân thẩm phán Toà Thượng Thẩm.
Họ là Jane Kelly, Sri Srinivasan, Amy Klobuchar, Merrick Garland, Paul Watford, Pam Karlan và Jacqueline Nguyễn.
Trang Vox.com viết rằng nếu được bổ nhiệm, bà Nguyễn sẽ là người Mỹ gốc Đông Á đầu tiên nắm chức vụ này.
Tuy nhiên, trang web này cũng cho rằng hiện khó biết bà Jacqueline Nguyễn sẽ là một thẩm phán Tòa Thượng thẩm ra sao vì bà “như một trang giấy trắng’ (blank slate), hàm ý không có thành tích biểu quyết rõ rệt.
Trái lại, người vừa tạ thế năm 79 tuổi, thẩm phán Antonin Scalia, có quan điểm bảo thủ, nổi tiếng với các quyết định làm biến đổi lịch sử ngành tư pháp và chính trị Mỹ.
BBC
Hình Ảnh Sinh Hoạt ngày 24/1/16 — Hồ Ngọc Hiệp K25 & Nguyễn Gia Thiếu K30
Photos by Hồ Ngọc Hiệp K25
Photos by Nguyễn Gia Thiếu K30
Lại Tin Thất Thiệt Về Việc Định Cư Thương Phế Binh VNCH!—Nam Lộc
(January 19, 2016) Trong khoảng hai tuần qua, có một bản tin được phổ biến rộng rãi ở trên các diễn đàn công luận và được hàng chục ngàn người theo dõi cũng như chia xẻ với bạn bè hoặc người thân. Bản tin được lấy từ Facebook của một người tên là Vũ Hoàng có tiêu đề là:
NGHỊ QUYẾT SJR 5 TÁI ĐỊNH CƯ CHO THƯƠNG PHẾ BINH VNCH
https://www.facebook.com/video.php?v=1548295758828806
Tôi không rõ ông Vũ Hoàng là tác giả bài viết hay được trích dẫn nguyên văn từ bản tin mà ông để là “Theo Washington Post”? Dù biết đây có thể là nhã ý của người chủ trang Facebook muốn chia xẻ “tin vui”, nhưng rất tiếc đây lại là một bản tin không chính xác và vô cùng nguy hiểm, vì nó sẽ tạo ra những kỳ vọng hão huyền đồng thời vô tình làm cho những kẻ gian có thể dựa vào đó để trục lợi hoặc làm tiền người nhẹ dạ.
Điều không chính xác thứ nhất, là bởi vì bản tin nói rằng “Nghị quyết SJR 5 được Hạ viện và Thượng viện Mỹ đã thông qua, còn phải trình chính quyền liên bang và Tổng thống Barak Obama phê chuẩn…)”. Tôi xin xác quyết rằng “nghị quyết SJR5” CHƯA HỀ được hạ hay thượng viện Hoa Kỳ đem ra thảo luận chứ đừng nói là được “thông qua”, vì thế không có việc đợi “trình chính quyền liên bang” hay chờ “tổng thống Obama phê chuẩn” ban hành nghị quyết như bài viết! Cũng nên nói thêm ở đây rằng SJR5 chỉ là một nghị quyết của lưỡng viện quốc hội tiểu bang California do bà TNS Janet Nguyễn đệ trình để “yêu cầu chính phủ HK cho phép định cư các TPB VNCH” mà thôi. Và trong cơ cấu tổ chức chính quyền ở nước Mỹ, sẽ không bao giờ có việc tổng thống HK “phê chuẩn” hoặc “ký ban hành” một nghị quyết tiểu bang.
Kế tiếp trong bản tin còn nói rằng “theo Janet Nguyễn, hiện nay (chính phủ) Hoa Kỳ đang có danh sách khoảng 20 ngàn TPB VNCH”. Tôi xin khẳng định rằng con số “20 ngàn TPB VNCH” mà TNS Janet Nguyễn thường đề cập đến trong cuộc vận động này là danh sách các Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH gởi đến hội HO Cứu Trợ TPB & QP VNCH (do bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn làm hội trưởng) để xin được trợ cấp hàng năm. Hội HO Cứu Trợ TPB & QP VNCH chưa hề phổ biến hoặc trao cho ai (kể cả bà Janet Nguyễn) danh sách nói trên, vì thế nói rằng “hiện nay (chính phủ) Hoa Kỳ đang có danh sách khoảng 20 ngàn TPB VNCH” là một điều hoàn toàn thất thiệt!
Ngoài ra không cần phải truy cập thì ai cũng có thể hiểu được rằng Washington Post là một tờ nhật báo lớn và đứng đắn ở Hoa Kỳ, không bao giờ họ đưa ra một bản tin thiếu chính xác và vô trách nhiệm như vậy cả!
Một trong những điều “nguy hiểm” nữa là ở phần cuối bản tin, ông Vũ Hoàng đã tự động trả lời các câu hỏi của độc giả liên quan đến tin tức cùng điều kiện để được cứu xét đơn xin định cư theo diện TPB của nghị quyết SRJ5! Xin mạn phép chia xẻ cùng ông Vũ Hoàng rằng, luật lệ Hoa Kỳ chỉ cho phép các luật sư có bằng hành nghề, hoặc các vị cố vấn di trú được Hội Đồng Kháng Cáo Di Trú thuộc Bộ Tư Pháp HK chuẩn thuận (BIA Accredited) thì mới có quyền cố vấn luật pháp liên quan đến vấn đề nhập cư. Tôi không rõ ông Vũ Hoàng có thuộc một trong hai thành phần nói trên hay không? Tuy nhiên dù luật sư hay cố vấn di trú chuẩn thuận cũng KHÔNG ĐƯỢC PHÉP TRẢ LỜI những câu hỏi liên quan đến bất cứ đạo luật nào khi mà nó CHƯA ĐƯỢC BAN HÀNH cũng như CHƯA ĐƯỢC SOẠN THẢO ĐIỀU LỆ.
Sở dĩ mà tôi phải lên tiếng vì đã có rất nhiều người vào đọc bản tin về “nghị quyết SRJ5, tái định cư TPB VNCH” trong trang Facebook của ông Vũ Hoàng, nếu tôi không lầm thì con số đã lên đến hơn 36 ngàn người, và chính họ đã chuyển tin cũng như email đến cho tôi (qua vai trò cố vấn định cư) để yêu cầu xác nhận về nguồn tin này. Rất tiếc là vì tôi không có trang Facebook cá nhân cho nên không thể liên lạc được với ông Vũ Hoàng. Hy vọng ông đọc được những lời nhận định trên của tôi qua bài viết này và mong có cơ hội được trao đổi cùng tìm hiểu thêm tin tức mà ông đã phổ biến.
Nam Lộc













