Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc (Trang 9)
Category Archives: Quê Hương và Tổ Quốc
Happy Mothers Day

Paul Mauriat—Mother of mine
Nhật Ký Của Mẹ—Hiền Thục
Sinh Nhật Trung Tướng Lâm Quang Thi, Cựu Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt
Trưa Chủ Nhật—5/5/2019, chúng tôi gồm một số CSVSQ và PNLV đại diện cho Hội Võ Bị Bắc Cali đã có cơ may đến thăm và chúc mừng sinh nhật cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi—cựu Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN. Chúng tôi cũng gặp 2 người con của ông là chị Lâm Bích Ngọc và anh Lâm Quang Dũng. NT Thi cùng phu nhân hiện đang sống tại 1 viện dưỡng lão (senior assisted living care.) Viện dưỡng lão xinh đẹp này có nhiều thành tích tốt trong việc phục vụ và chăm sóc sức khoẻ cho người cao niên, được yelp và caring xếp hạng 4-5 sao tại miền bắc California.
Nơi NT Thi và phu nhân cư ngụ là thành phố Fremont hiền hòa, có hãng xe Tesla danh tiếng đặt bản doanh, cách San José khoảng 20 miles về hướng bắc-tây bắc.
5 tháng 5 là ngày Cinco De Mayo. Khi chúng tôi đến, Vũ Đoàn Las Palmas (được viện dưỡng lão mời) đang trình diễn những vũ điệu ngọan mục, lồng trong nhiều nhạc phẩm Mexico vui nhộn cho các vị cao niên thưởng thức. NT Thi không thích xem những tiết mục văn nghệ này, ông thích gặp gỡ con cháu và chúng tôi hơn.
Bản tính nghiêm nghị và ít khi cười, nhưng khi nhìn thấy chúng tôi, NT Lâm Quang Thi tươi nét mặt, lộ vẻ hân hoan. Dáng dấp dong dỏng cao, vẫn mảnh khảnh—chưa bao giờ béo phì, ông bước những bước chậm rãi, vẫn còn khá vững chắc tiến dần về phía chúng tôi. Vì tuổi đời chồng chất, NT Thi đã bớt đi vẻ tráng kiện của những ngày tháng cũ. Bằng giọng nói thân mật, ông ân cần bắt tay từng người, thăm hỏi và tiếp đón chúng tôi tại căn dining room được dành riêng.
“Lúc này tôi ưa quên quá!” Ông than phiền mỗi khi chợt nhận ra rằng mình không thể nhớ tên của một ai đó. Mới ngày nào, từng là sĩ quan cấp tướng trẻ tuổi nhất nước (33 tuổi), nay NT Thi đã bước sang tuổi 87.
Ông hơi khựng lại, thoáng ngẩn ngơ khi nghe chúng tôi xác nhận về tin tức cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn vừa mới từ trần tại San José. “Mấy ổng lần lần chết hết rồi!” NT Thi nói như một lời cảm thán. “Ông Dinh, ông Lãm cùng Khóa 3 với tôi cũng chết rồi. Tôi còn sống ngày nào, thì biết ngày đó,” ông nói thêm.

Sau khi mọi người cùng chúc mừng NT Lâm Quang Thi qua bản nhạc đồng ca “Happy Birth Day” bất hủ, chúng tôi đại diện cho các CSVSQ khắp thế giới, chúc thọ vị cựu Chỉ Huy Trưởng.
Mặc dầu chẳng mấy khi nở nụ cười trọn vẹn, NT Thi tỏ vẻ xúc động. “Tôi rất lấy làm sung sướng được anh em tới thăm và chúc mừng sinh nhật,” ông nói, trước khi nâng ly mời mọi người dùng bữa. Chúng tôi ăn trưa với NT Thi, với các con cháu và người giúp việc của ông. Phu nhân NT Thi không được khoẻ nên không thể tham dự. Bà đang được nurse săn sóc tại phòng riêng.
Mấy món ăn ngon đầy bàn gồm có bún thịt nướng, gà xì dầu, bánh bột lọc, chả giò, xôi vò, bánh mì, rượu nho và nước táo… Dĩ nhiên, không thể thiếu chiếc bánh sinh nhật với ngọn nến lung linh.
Bằng giọng hóm hỉnh và vui vẻ, NT Thi kể cho chúng tôi nghe vài câu chuyện xưa của ông—những mẩu chuyện mà chẳng mấy ai biết được. Chuyện vì sao Tổng Cục Taekwondo Đại Hàn đã trao tặng huyền đai đệ tam đẳng cho ông tức thì, ngay khi ông vừa đặt chân đến thăm Trường Võ Bị Đại Hàn (KMA—Korea Military Academy.) Chuyện Bà Từ Cung Hoàng Thái Hậu (Đức Từ Cung, thân mẫu Vua Bảo Đại) cầm tay ông, ân cần hỏi “sao không có nàng hầu?”.
Có lẽ, NT Lâm Quang Thi là vị Chỉ Huy Trưởng chịu khó học hỏi nhất. Ông đã liên tiếp hướng dẫn phái đoàn của Trường Võ Bị Đà Lạt thăm viếng các Trường Võ Bị thuộc nhiều quốc gia đồng minh như Thái Lan (Hải Quân Hoàng Gia, Võ Bị Hoàng Gia), Philippines, Đại Hàn (Lục Quân, Không Quân, Hải Quân), Đài Loan, Nhật Bản (Không Quân, Hải Quân), Úc (Võ Bị Hoàng Gia, Không Quân), Hoa Kỳ (Lục Quân—ROTC, Không Quân, Hải Quân) và Võ Bị West Point. Theo NT Thi, mỗi quân trường bạn đều có sắc thái riêng. Ông và phái đoàn Trường Võ Bị Đà Lạt của ông đã học hỏi được vô số điều bổ ích.
Năm 1986, NT Lâm Quang Thi đã nhận trách vụ Hội Trưởng của Hội Ái Hữu CSVSQ/TVBQGVN (tiền thân của Tổng Hội Võ Bị ngày nay) 2 nhiệm kỳ. Tại Đại Hội Võ Bị lần thứ 4 (25 /5/1986), trong bài diễn văn mãn nhiệm gây nhiều cảm xúc, NT Thi tuyên bố: “Võ Bị là lý tưởng của đời tôi.”
Hôm nay, ông vẫn lập lại câu nói đó trong bữa ăn trưa mừng sinh nhật, trước mặt các đàn em và các con cháu.
Nhớ ngày trước, đa số các viện Đại Học dân sự tại Việt Nam (mà các Viện Trưởng tốt nghiệp từ Pháp) đều rập khuôn theo lối học và thi cử từ chương của người Pháp; trong khi đó, TVBQGVN lại áp dụng hệ thống tín chỉ theo đường lối giáo dục thực dụng của người Mỹ (Trường Võ Bị West Point); Uỷ Ban Thẩm Định Văn Bằng của Liên Viện Đại Học Quốc Gia đã xem thường, nghi ngại và không chịu nhìn nhận văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng của Trường Võ Bị Đà Lạt. Chỉ Huy Trưởng Lâm Quang Thi nhất định phản đối sự đánh giá sai lạc đó. Sau nhiều lần tranh biện không thành công, ông đã phải yêu cầu Bộ Giáo Dục mời Uỷ Ban Thẩm Định Văn Bằng gồm các vị Viện Trưởng các Trường Đại Học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ cùng với vị Giám Đốc Trường Kỹ Sư Phú Thọ làm một cuộc quan sát lượng định ngay tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Sau khi tận mục sở thị, xem xét từng lớp học, đánh giá từng chương trình giảng dạy, cuối cùng Uỷ Ban Thẩm Định đã phải công nhận Văn Bằng Cử Nhân của các sinh viên Trường Võ Bị. NT Thi rất mãn nguyện và thường tự hào về thắng lợi này cho các CSVSQ của ông.
Đối với quê hương, NT Lâm Quang Thi mãi thao thức về việc lịch sử chiến tranh Việt Nam đã bị giới truyền thông Mỹ bóp méo một cách tồi bại. Người ta (giới truyền thông và phản chiến Mỹ) đã không ngớt tô vẽ, thổi phồng và chỉ trích (bằng Anh ngữ) QL/VNCH là một đội quân yếu kém, hèn nhát, tham nhũng, v.v. đã đưa đến thất bại cay đắng cho Mỹ và cho VNCH. Vì vậy, ông đã viết một số sách bằng Anh ngữ về chiến tranh Việt Nam để ra sức cải chính, lấy lại sự thật và công bằng cho quân đội và chiến binh của mình. Các sách sau đây của NT Thi đã được Trường Đại Học Hoa Kỳ ấn hành:
– Autopsy: The Dead of South Viet Nam (Sphinx Pub. 1986)
– The Twenty-five Year Century (UNT Pub. 2002)
– Hell in An Loc (UNT Pub. 2009)

Âm thầm và miệt mài nhiều năm qua, NT Thi cố công viết sách, viết blog (bằng Anh ngữ) để vạch cho cả thế giới thấy rõ—trong chiến tranh quy ước, nếu được yểm trợ đầy đủ—QL/VNCH với quân số chỉ bằng 1/3 quân địch, vẫn có khả năng đánh bại những đạo quân thiện chiến. Ông làm việc này không ngoài mục đích nói ra những điều mà người ta cố tình nhận chìm, lấy lại chút công đạo đã bị cướp mất cho những cựu chiến binh VNCH thua thiệt.
Trong phần điểm sách “Hell in An Loc”, người ta đọc được Midwest Book Review (The Military Shelf) có đoạn viết “…Được thảo ra một cách tỉ mỉ và cụ thể để làm đúng lại lịch sử, Hell in An Loc phải được đặc biệt giới thiệu cho các thư viện đại học và các bộ sưu tập quân sử đang tập trung vào chiến tranh Việt Nam.”
Quyển Hell in An Loc do chính tác giả phát hành ngày 24/1/2010 tại San José đã được phổ biến khắp nơi từ dạo ấy, và nó đang nằm trong hầu hết các thư viện đại học. Do yêu cầu của các độc giả Việt Nam, NT Thi lại tiếp tục chuyển ngữ quyển Hell in An Loc sang tiếng Việt như ông đã làm với quyển The Twenty-five Years Century.
Vậy mà thật không may, phu nhân của ông thình lình trở bệnh và rồi bệnh tình mỗi ngày thêm trầm trọng. Là một phu quân gương mẫu, hết lòng yêu thương vợ mình—ông luôn túc trực bên giường bệnh—không còn lòng dạ nào để hoàn tất quyển sách bằng Việt ngữ nữa.
NT Thi đã trao phiên bản tiếng Việt cho chúng tôi và đồng ý phổ biến sách Địa Ngục An Lộc online theo đề nghị của BCH Tổng Hội. Anh Lâm Quang Dũng (nhà văn Andrew Lam)—thứ nam của NT Thi rất tán thành ý kiến này. Theo anh, giới trẻ Việt Nam không còn tin tưởng vào đảng CS nữa; họ đang rất cần những tài liệu trung thực của VNCH. Anh Dũng cũng tỏ ra ưu tư về việc cần giúp đỡ giới độc giả trong nước vượt tường lửa (firewall.)
Rồi đây, trong tương lai gần—qua Đa Hiệu Online—phiên bản Hell in An Loc bằng Việt ngữ sẽ đến tay quý niên trưởng, quý bạn, quý độc giả gần xa.

Hôm nay—7/5/2019 là ngày Sinh Nhật chính thức của NT. Lâm Quang Thi. Chúng tôi gồm, Cao Yết K16 (và phu nhân), Lê Tấn Tài K20, Nguyễn Đức Quyền K28, Lê Thi K29 (và phu nhân), Nguyễn Gia Thiếu K30 (và phu nhân), Nguyễn Văn Được K31, Phạm Văn Pho K31 một lần nữa xin kính chúc Thầy Cũ—cựu Chỉ Huy Trưởng—Đại Niên Trưởng “Happy Birth Day.”
* Tiếc rằng, chị Nguyễn Văn Chấn K9/1 đang bệnh, NT Lê Viết Đắc K22 bị bận cuối tuần và anh Lâm Quang Tuấn K3/2 phải đi xa không thể tham dự buổi ăn trưa này như đã dự tính.

(Lâm Quang Dũng K3/2 chụp hình, nên không có mặt trong hình này)
Nguyễn Gia Thiếu K30 tường thuật
Mr. Tariffs—Nguyễn Đạt Thịnh
Tổng Thống Donald Trump vừa đe ông Tập Cận Bình, “Im a tariff Man. I will restart trade war if China-talks fail.” (Tôi thích đóng thuế Tariffs; Tầu mà phá bĩnh Hội Đàm Thuế Vụ, là tôi cho chiến tranh ngoại thương Mỹ-Hoa tái diễn ngay.”
Khi Người Cao Tuổi Lái Xe—Bảo Huân
Cứ mỗi ngày ở Mỹ có 10 ngàn người bước vào tuổi 65, và đa số những người này vẫn còn lái xe. Những kỹ thuật mới của xe hơi, và số lượng càng ngày càng đông đảo xe cộ lưu thông, nhiều thay đổi của cảnh quan và đường sá, tất cả đều tạo thêm nhiều thách đố hơn đối với những vị lái xe cao tuổi.

Một số sai phạm mà người lái xe hay mắc phải là chạy quá tốc độ cho phép, vượt đèn đỏ, không ngừng ở nơi có bảng stop, lái xe không đúng lane, quẹo trái không đúng cách… Đã vậy, đối với người cao tuổi, lại còn có những yếu tố khác như tâm tính thay đổi hoặc những hạn chế do sức khỏe gây ra, cũng làm cho việc lái xe thêm phần nguy hiểm.
Nếu quý vị, hoặc người thân là người tài xế cao tuổi, có nhiều phương cách để giúp quý vị an toàn trên xa lộ và tiếp tục lái xe thêm nhiều năm nữa. Điều cốt yếu là phải biết khả năng thể lý bị hạn chế ra sao lúc về già. Sau đây là một số gợi ý của AARP (American Association of Retired Persons, Hiệp hội Người Mỹ Cao niên).
1. Theo dõi về sức khỏe: Cẩn thận khi có những thay đổi về sức khỏe như tầm nhìn, âm độ nghe, trí nhớ và sự tập trung.
2. Giữ khoảng cách an toàn. Áp dụng luật “3 giây đồng hồ” khi lái xe sau một xe khác để kịp đủ thời giờ phản ứng lại những nguy hiểm có thể xảy ra. (Luật ba giây: Nhìn xe phía trước khi xe đó chạy ngang qua một đối tượng nào đó, như cột đèn, bảng chỉ dẫn lưu thông… rồi bắt đầu đếm (một ngàn một, một ngàn hai, một ngàn ba) xem xe mình đã tới đối tượng đó chưa. Nếu chưa đủ 3 giây mà đã tới đối tượng đó rồi thì là ta chạy quá gần xe trước, nên chậm lại để khoảng cách với xe đó không quá gần).
3. Tránh phân tâm. Bất cứ chuyện gì khiến mắt ta không nhìn mặt đường là sự phân tâm, như dùng cell phone, ăn uống, dùng GPS, thay đổi tần số đài radio…
4. Điều chỉnh cho thích hợp. Ghế ngồi, gương chiếu hậu, gương hai bên xe… nên được chỉnh sao cho vừa với tầm nhìn để có thể thấy được xe cộ di chuyển phía sau và hai bên hông xe.
5. Tự hạn chế. Tránh lái xe trong giờ cao điểm, ban đêm, hoặc thời tiết xấu, mà nên lái lúc ban ngày sáng sủa vào những giờ ít xe cộ lưu thông vội vã.
6. Quẹo phải. Thay vì quẹo trái ở những đường quẹo nguy hiểm nhiều xe cộ qua lại, nên quẹo phải, có thể tới ba lần để đến hướng quý vị cần đi.
7. Đừng quên stop. Ở nơi có bảng stop, nhìn kỹ đường trước khi ngưng xe. Nếu có xe đi trước, đợi hai giây cho xe đó đi rồi mới tiến tới chỗ stop, ngừng hẳn rồi mới tiếp tục đi.
8. Kiểm tra lại thuốc men. Hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ xem thứ thuốc ta dùng có gây hậu quả gì khi lái xe hay không.
9. Cảnh giác về người khác. Xe đạp, xe gắn máy, người đi bộ… đều tạo thêm những thử thách cho người cao niên khi lái xe. Hãy rất mực cẩn thận tại các ngã tư đường và khi nhập xe vào dòng xe cộ trên đường.
10. Sao cho có khoảng đệm. Giữ sao cho có khoảng trống chung quanh xe của quý vị, trên đường hoặc ở bãi đậu xe, để còn chỗ xoay xở khi cần.
Có một số tài xế còn trẻ thường tỏ ra bực bội khi chạy gần xe những vị cao niên, hoặc vì tốc độ thường chậm hay vì những phản ứng không mấy nhanh lẹ của những vị này. Xin hãy có tấm lòng bao dung đối với người già cả để thông cảm hơn là tỏ thái độ bực tức.

Từ Thủ Thiêm tới Nam Quan—Hải Triều
Nam Quan đã mất, lệ tràn Thủ Thiêm
Mưa hay lệ đổ bên thềm
Cửa nhà tan nát không kềm lệ sa!
Đời dân không cửa không nhà
Đời đảng ngôi báu gọi là quang vinh
Giải phóng hóa ra cực hình
Bóng ma cách mạng thất kinh cõi người!
Thành Hồ liệm tắt tiếng cười
Thủ Thiêm tan tác đất trời hận căm
Đảng hồ ngự trị trăm năm
Ba miền Nam Bắc âm thầm ngục đen!
Hải Triều–Lê Khắc Anh Hào
Người Vợ Mù—Vô Danh
Trong một chương trình radio mang tên “Nẻo Về của Trái Tim”, một cô gái mù đã gửi cho những người làm chương trình câu chuyện của mình sau đây:
Tôi là một kiến trúc sư vui vẻ, hoạt bát. Cách đây một năm, tôi là người vợ hạnh phúc nhất. Khi thức dậy cùng người mình yêu vào mỗi sáng, chúng tôi thường cùng nhau thưởng thức một tách trà trong không gian yên tĩnh đầu ngày.
Chúng tôi xây dựng cho mình một thói quen: sẽ luôn cố gắng chia sẻ với nhau những suy tư và cảm nhận chân thật nhất của mỗi người để gìn giữ hạnh phúc.
Cuộc sống của chúng tôi êm đềm trôi qua cho tới một ngày. Trên đường từ bến xe buýt vào tới công ty, tôi thấy mọi thứ như nhòa đi trước mắt, chỉ còn lại những tiếng còi xe inh ỏi. Rồi tôi lập tức được đưa vào bệnh viện. Ngày hôm đó, tôi vẫn còn nhớ rất rõ ràng cảm giác khi nghe câu kết luận của bác sĩ:
“Đây là một căn bệnh thoái hóa nên chúng tôi cũng không thể giúp được gì.” Bác sĩ còn giải thích rất nhiều điều nữa, nhưng trong đầu tôi chỉ còn đọng lại duy nhất câu nói: “Cô sẽ sớm bị mù.”
Tôi không biết các bạn sẽ cảm thấy ra sao khi đối diện với sự thật này. Còn tôi, tôi đã đầu hàng một cách hèn nhát. Tôi khóc, tôi cáu bẳn thậm chí nhiều lần gắt gỏng, đặc biệt khi chỉ có tôi và anh, trong căn nhà hạnh phúc của chúng tôi.
Tôi đã rất sợ, sợ bị rơi vào bóng tối, sợ phải làm một người mù và sợ nhất rằng tình yêu của anh dành cho tôi cũng sẽ không còn.
Thời gian đó, ông chủ vẫn sắp xếp cho tôi một công việc nhỏ trong văn phòng. Nhờ đó, tôi có thể được ra ngoài vào mỗi sáng. Được đi làm đã trở thành niềm hạnh phúc nhất của tôi khi ấy. Công việc cho tôi cảm giác tôi không phải là người thừa, tôi được chứng minh sự mạnh mẽ của mình và thỏa mãn cái tôi đang bị tổn thương ghê gớm.
Tôi không còn dùng trà vào mỗi buổi sáng với chồng nữa. Bởi tôi muốn tất cả phải chịu trách nhiệm về căn bệnh của mình, đặc biệt là chồng tôi.
Trước sự thay đổi chóng mặt của vợ, chồng tôi không nói gì, anh chỉ lẳng lặng quan sát và chịu đựng những cơn nóng giận vô cớ. Hơn thế nữa, anh giúp tôi làm mọi công việc nhà bất chấp sự phản đổi đầy ngang bướng của tôi.
Tôi quyết định vẫn đi xe buýt tới công ty như tôi luôn làm trước đây. Tôi biết mình đã rất quen với con đường và tôi cũng đã dần thành thục việc sử dụng cây gậy cho người mù.
Chồng tôi đề nghị, hãy để anh đưa tôi đi làm mỗi sáng và trở về đón tôi mỗi buổi chiều. Nhưng tôi từ chối, tôi không muốn anh phải vất vả như vậy, bởi nơi chúng tôi làm việc cách nhau rất xa.
Chồng tôi không phản đối, anh chỉ nói: “Hãy cẩn thận khi qua đường nhé, ngã ba đó khiến anh lo lắng hơn cả.”
Tôi giữ im lặng trước lời dặn dò của anh.
Mọi chuyện sau đó diễn ra suông sẻ ngoài mong đợi của tôi. Có lẽ sự lo lắng của tôi và chồng tôi đều là thái quá. Khi dừng tại đèn đỏ ở ngã ba đầu tiên, tôi nhớ lại lời của chồng và bắt đầu cảm thấy sợ. Ngay lúc ấy có một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên:
“Cô ơi, cô có thể dẫn cháu qua đường không?” Tôi quá đỗi ngạc nhiên với câu hỏi của cậu bé, hình như cậu bé không biết tôi bị mù. “Cháu à, cô xin lỗi, nhưng cô sẽ không bảo đảm an toàn được cho cháu vì cô không nhìn thấy…” Tôi chưa kịp nói hết câu thì cậu bé chen vào.
“Cháu biết cô bị mù, cháu xin lỗi! Ý cháu là cô không nhìn thấy, nhưng không sao… Cô là người cao lớn, những người lái xe sẽ nhìn thấy cô, họ sẽ tránh chúng ta. Còn cháu sẽ dắt cô qua đường, cháu sẽ làm đôi mắt cho cô ở ngã ba này nhé.”
Trước lời nói ngây thơ của cậu bé, tôi thấy mũi mình cay cay. Chuyển gậy dò đường sang tay phải, tôi chìa bàn tay còn lại để nắm lấy bàn tay nhỏ bé đó. Cậu bé nắm tay tôi thật chặt. Cái siết tay của cậu khiến tôi có thêm rất nhiều tự tin.
Hóa ra tôi vẫn còn có ích, vẫn có thể giúp đỡ một ai đó chứ không hoàn toàn là “đồ vô dụng” như tôi luôn nghĩ về mình sau khi không còn nhìn thấy. Bên trong tôi bất giác thấy lại được niềm vui. Cậu bé quả là một người dẫn đường tài tình, chúng tôi đã qua đường an toàn và dường như không làm một người lái xe nào nổi giận. Khi chia tay ở ngã ba, cậu bé nói: “Cháu hy vọng mai cô sẽ lại ở đây nữa, vì sáng nào cháu cũng phải đi qua ngã ba này để đến trường. Cảm ơn cô nhiều nhé. Giờ cháu đi học đây.”
Cậu bé chào tôi và chạy đi nhanh như một cơn gió. Trước khi đi, cậu bé quay lại, nói thật to: “Hẹn cô ngày mai nhé, cháu sẽ chờ cô đấy.” Cậu bé khiến nụ cười trở về trên môi tôi, đôi má tôi cũng ửng hồng.
Một cảm giác ấm áp khiến những căng thẳng bao ngày qua tan mất. Có lẽ ai đó nhìn thấy tôi lúc ấy sẽ phải thắc mắc: cô gái mù ấy sao lại cười rạng rỡ như thế?
Không để tôi thất vọng, ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa, cậu bé vẫn xuất hiện và chúng tôi đã trở thành đôi bạn “chinh phục ngã ba” từ đó.
Đôi lúc chúng tôi còn nán lại nói chuyện với nhau. Tôi đã biết cậu bé thiên thần ấy tên là Jimmy. Jimmy nhỏ người, mặt nhiều tàn nhang, tóc màu hung và có một cái mũi hơi kì lạ. Đó là dáng vẻ mà cậu bé tả về mình cho tôi nghe.
Nhờ Jimmy bé nhỏ, tôi dần lấy lại niềm vui trong cuộc sống của mình. Tôi cũng đã có thể đối đãi dịu dàng trở lại với chồng, không còn nặng nề với anh nữa. Nhưng cảm giác muốn mở lòng để chia sẻ với chồng vẫn chưa trở về.
Niềm vui của tôi chỉ kéo dài được một tháng.
Sáng hôm đó, khi ở ngã ba tôi không thấy Jimmy, cậu bé đến muộn chăng? Tôi chợt hiểu ra rằng hình như những đứa trẻ đã kết thúc năm học và Jimmy sẽ không đến trường ngày hôm nay. Tôi chưa biết làm thế nào để qua đường khi không có người hoa tiêu nhỏ bé, tiếng lanh lảnh quen thuộc vang lên: “Cô James chờ cháu.”
“Cháu đấy à, cô mừng quá, cô cứ nghĩ là cháu sẽ không đến.”
“Cháu không thể để cô một mình qua đường được. Đó là lời hứa danh dự. Nhưng cháu sắp theo bố mẹ về quê với ông bà rồi. Cô biết mà, trường học đã nghỉ hè và hôm nay là ngày cuối cùng cháu ở đây.” Tôi cảm thấy lo lắng và hơi buồn, nhưng cố trấn tĩnh. Tôi hỏi Jimmy về “lời hứa danh dự” của cậu bé, điều khiến tôi cảm thấy rất tò mò.
“Cháu đã hứa với một người. Nhưng chú ấy không cho cháu nói điều này với cô.” Chúng tôi cùng nhau băng qua đường trong im lặng. Nhưng khi tới nơi, cậu bé níu tay tôi lại, hỏi rằng tôi có thể đi với cậu bé một chút không? Tôi đồng ý và chúng tôi thả bộ cùng nhau trong một công viên gần đó. Hóa ra cậu bé muốn kể cho tôi nghe về lời hứa danh dự của mình.
Ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, đã có một người đàn ông nhờ cậu bé dắt một phụ nữ xinh đẹp nhưng bị mù qua đường.
Người đàn ông ấy giải thích với cậu bé rằng, đó là vợ chú. Cô ấy vừa bị mất đi đôi mắt và chú không thể yên tâm để cô ấy một mình đi qua con phố đông đúc này. Nhưng chú cũng không thể tự tay dắt cô sang đường, vì cô đang đóng cửa tâm hồn mình với chú. Nước mắt tôi bắt đầu rơi. Cậu bé tiếp tục kể. Cậu bé đã đồng ý giúp người đàn ông lạ mặt đó.
“Không chỉ một lần, cháu không biết tại sao nhưng khi nghe chú ấy kể về cô, cháu nhớ đến cách bố cháu nói về mẹ, đầy yêu thương. Vì thế, cháu đã hỏi chú ấy có cần cháu giúp những ngày tiếp theo không. Đôi mắt của chú ấy lúc đấy rạng rỡ như mắt cháu lúc được đi chơi hay ăn kem vậy.”
“Đó là lý do vì sao sáng nào cháu cũng ở đây chờ cô?” Vâng, nhưng không chỉ chờ cô, cháu chờ cả chú ấy nữa. Chú ấy ngày nào cũng đi qua đường với chúng ta mà.
Chú chỉ lặng lẽ đi cạnh cô, cách cô một đoạn để cô không cảm thấy sự có mặt của chú ấy. Chỉ khi cô cháu mình sang đường an toàn chú ấy mới đi làm.” “Thật vậy sao?”
Tôi không còn biết nói gì hơn. “Cháu không định nói chuyện này cho cô nghe. Nhưng ngày mai cháu đi rồi. Cháu sợ cô sẽ thấy hoang mang vì không có cháu. Thêm nữa, cháu sợ cô vẫn giận chú.” “Vậy hôm nay chú ấy có đi cùng chúng ta không, Jimmy?”
Chồng tôi đã đứng đó từ bao giờ. Anh đã lắng nghe câu chuyện của cô cháu tôi. Tôi không biết khuôn mặt anh lúc ấy như thế nào… Chỉ biết có một bàn tay to lớn, ấm áp và rất quen thuộc nắm lấy bàn tay tôi, nhẹ nhàng dắt tôi đi hết quãng đường từ công viên tới văn phòng.
Sau ngày hôm ấy, tôi đồng ý để chồng chở đi làm, và buổi chiều tôi đi xe buýt về, anh đã nhờ được một người bạn trong công ty đưa tôi ra bến xe. Tôi còn được biết, công việc mà ông chủ sắp xếp cho tôi chính là nhờ anh đã tới gặp và thuyết phục ông.
Đó là câu chuyện tình yêu mà tôi muốn chia sẻ với các bạn.
Những ngày tháng vừa qua đã khiến tôi nhận ra rằng: Trong cuộc sống nhiều đau khổ này, tình yêu thực sự hiện hữu, và nó mang một sức mạnh chữa lành thật to lớn. Khi nghĩ về sự nhẫn nại của anh suốt thời gian cùng tôi và Jimmy sang đường, khi cảm nhận được rằng trái tim chan chứa thiện niệm của anh luôn nghĩ cho cảm giác của tôi, nghĩ đến việc làm thế nào để tôi an toàn và hạnh phúc nhất, tôi mới hiểu ra thế nào là thực sự yêu một ai đó…
Chia sẻ câu chuyện này cũng là cách tôi muốn anh biết: Từ tận đáy lòng, tôi biết ơn tình thương và những điều anh đã dành cho tôi. Và hơn thế nữa, anh và Jimmy bé nhỏ đã cho tôi hiểu và học được rằng, yêu thương một người là dành cho người đó sự bao dung, nhẫn nại và những điều thiện lành nhất mỗi ngày
Vô Danh
Ghen—Nguyễn Thị Hải Hà
Quê liếc nhìn tờ giấy đặt ở góc bàn làm việc của chồng. Đến gần hơn một chút chị nhận ra đó là tờ báo cáo hàng tháng của Visa. Quê ngạc nhiên, chồng chị không khi nào để giấy tờ liên quan đến tiền bạc lộ liễu như thế. Lấy nhau lâu năm chị không hề biết chồng làm bao nhiêu tiền, tiêu xài vào khoản nào bởi vì chồng chị giấu rất kỹ những chuyện “riêng” như thế. Có lẽ anh vội vã chuyện gì đó nên quên. Tò mò chị cầm tờ báo cáo lên xem, dịp may có một không hai mà. Trên tờ báo cáo đa số là những khoản chi tiêu bình thường như tiền chợ ở Shop Rite, đổ xăng, cái bánh sinh nhật mừng chú em rể. Tuy nhiên, có ba khoản tiền lạ, đó là tiền ăn ở nhà hàng sushi ở Highland Park vào buổi trưa một ngày thứ Tư, tiền ăn ở một tiệm sushi khác ở Edison vào chiều thứ sáu, và tiền ăn ở cái Diner Sunset cách nhà Quê hai đèn giao thông vào sáng thứ Bảy. Thứ Tư và thứ Sáu Quê đi làm. Thứ Bảy Quê đi thư viện rồi đi chợ và thật tình chị không chú ý anh ở nhà hay đi đâu. Mà anh có đi đâu loanh quanh thì cũng là chuyện bình thường. Anh em của anh sống gần chung quanh. Anh đến nhà anh em, ở ăn cơm hay giúp làm giấy tờ nếu có ai nhờ. Chị biết tính chồng rất giản dị. Anh không thích đi ăn ở nhà hàng, viện cớ phải đóng bộ cho tươm tất, phải chờ đợi lâu lắc, thức ăn dầu mỡ không tốt cho sức khỏe. Anh lại càng không thích sushi bảo rằng ăn gỏi cuốn ngon hơn gấp mấy lần. Quê không thể nào hình dung chồng chị vào nhà hàng gọi thức ăn rồi ngồi ăn một mình bởi vì cái hình ảnh ấy quá khác biệt với người chồng chị chung sống bao nhiêu năm.
Ai? Đồng tiền nối liền khúc ruột. Đàn ông thường mở hầu bao nơi họ đặt trái tim. Ai là người khiến anh vượt qua thói quen không đi ăn nhà hàng và không thích ăn sushi? Nếu anh đi ăn với bạn bè sao chẳng nghe anh nói? Trước hôm tiệc Giáng sinh, anh đi mua sắm quần áo. Đây là chuyện lạ, ít khi anh chưng diện se sua. Có lẽ chị để lộ vẻ ngạc nhiên nên anh giải thích, “tiệm nào cũng có big sale, anh thấy rẻ quá nên mua thêm quần áo giày vớ.”
Quê vừa khen chồng, vừa đùa: “Anh diện lên trông trẻ hẳn ra. Coi chừng người ta mê là mệt nhé!”
Anh trả lời: “Anh không diện cũng có người mê!”
“Ai mê?” – Chị hỏi.
Anh cười, không trả lời.
Bạn gái của anh chỉ có Katya, cô bạn học chung trường Luật. Cô chừng hơn bốn
mươi, tóc vàng, mắt xanh. Katya nói tiếng Anh có giọng Nga khá nặng. Nàng có một con trai và đã ly dị chồng. Katya có cặp mắt rất to, dường như thu hồn người. Trước khi gặp Katya, Quê không thể nào tưởng tượng được có người có cặp mắt to và sâu như thế. Quê nghĩ với đôi mắt ấy nhìn sâu vào có thể thấy được rừng cây khô sau nhà, vẽ thành tranh chắc cũng đẹp như tranh Đinh Tiến Luyện trên những bìa của báo Tuổi Ngọc. Cô không đẹp đến choáng người nhưng càng nhìn càng thấy xinh. Hôm lễ Tạ ơn, anh đột nhiên bảo Quê:
“Ngày mai Quê làm gỏi cuốn nhé.”
Quê hơi ngạc nhiên. Anh ít khi nào đặt món ăn như thế. Thậm chí chị hỏi anh thích ăn món gì anh cũng chỉ ừ à cho qua chuyện. Quê hỏi:
“Tại sao lại làm gỏi cuốn?”
“Vì ngày mai Cá Linh ở trường về, sẵn dịp đãi con bé.”
Cá Linh đang học nội trú ở Rutgers , trường đại học cách nhà chừng nửa giờ lái xe. Mãi một lúc sau, giữa những chuyện lặt vặt trong nhà anh như sực nhớ ra, nói thêm: “Ngày mai sau khi ký giấy tờ sang tên nhà của anh Tu chị Na cho đứa con trai của anh chị, anh mời Katya ở lại ăn tối.”
Anh giải thích thêm là tuy anh làm sẵn giấy tờ nhưng anh muốn Katya làm luật sư cho anh chị bởi vì anh là người trong gia đình nên không muốn ra mặt chịu trách nhiệm. Quê đoán là anh muốn giúp đỡ Katya bằng cách đưa thân chủ cho nàng. Nàng mới mở văn phòng luật, chưa có thân chủ, nợ nần tứ tung lại còn phải nuôi đứa con trai tật nguyền. Chị có cảm tưởng anh muốn đãi Katya món gỏi cuốn; nhưng tại sao lại không nói thẳng với chị? Bữa ăn ấy Quê không làm gỏi cuốn vì Cá Linh bảo muốn ăn cà-ri. Quê nghe anh giải thích với Katya, gỏi cuốn tương tự sushi và nàng nhìn Quê với đôi mắt xanh thăm thẳm bảo rằng nàng rất thích sushi nhưng chưa bao giờ được ăn gỏi cuốn. Quê cười nói với Katya: “Lần khác Quê xin được đãi bạn món này. Quê không biết chồng Quê muốn giới thiệu món gỏi cuốn với bạn. Giá mà anh ấy bảo với Quê thì Quê đã làm.” Có thể nào là nàng không? Quê không dám nghĩ sâu xa hơn. Lâu nay chị hoàn toàn tin cậy chồng; giữa hai người nếu có vấp ngã thì chỉ có Quê là người vấp ngã. Dù gì hai người cũng quen nhau từ hồi ở Việt Nam, gặp lại nhau ở trại tị nạn, yêu nhau giúp đỡ nhau học hành suốt mười năm trời trước khi chính thức kết hôn. Tình sâu nghĩa nặng lắm mà. Ăn tối xong, Quê dọn dẹp rửa chén bát, còn anh và Katya ngồi nán lại ở bàn ăn nói chuyện thì thầm rất lâu. Ách Cơ, đứa con lớn bảo với Quê, Katya đến nhà vài lần khi mẹ không có ở nhà, mẹ có biết không? Quê tự bảo mình không nên ghen xằng nhưng bỗng dưng thấy mệt đuối. Ngày mai anh sẽ đưa Quê đi leo núi nhân dịp này chị sẽ hỏi anh cho biết đầu đuôi.
Quê soi mình trong gương thấy thương hại cái già nua xấu xí của mình. Không béo lắm nhưng đã có cằm đôi. Quê có gương mặt tròn ngày còn nhỏ thường bị mắng là
mặt thịt, mặt thịt là mặt của người ngu. Nhiều khi ngẫm nghĩ Quê thấy mình thật thà quá hóa ngu. Cái eo của Quê ngày trước hình chữ V nay đã biến thành chữ U. Quê bị chứng mặc cảm tự ti rất nặng; ít khi giao du bạn bè vì Quê tin rằng người nào tiếp xúc với chị đều không thích chị vì chị không dịu dàng hay bặt thiệp. Quê đi leo núi với chồng vì anh bảo Quê cần phải vận động nhiều hơn, ngồi một chỗ nhiều dễ sinh bệnh tật, nhất là mới đây Quê bỗng bị ngất xỉu đôi lần. Biết mình cần đi khám tim nhưng Quê cứ chần chờ, dường như chị sợ khám phá trái tim của chị có chứa những điều không hay.
Địa điểm leo núi cách nhà khoảng hơn một giờ lái xe. Điểm cao nhất khoảng ba trăm năm mươi mét so với mực nước biển. Mùa Đông năm nay thời tiết ôn hòa, giữa mùa Đông mà ấm đến 45 độ F. Quê nhìn rừng núi, tuy đã rụng hết lá mà vẫn đầy vẻ rậm rạp nói với chồng:
“Mùa hè mà đến đây có lẽ sẽ bị con tick cắn hay muỗi cắn anh nhỉ?”
Chồng chị nói nhẹ nhàng: “Con tick là con bọ chét. Em có cái tật hay chêm tiếng Anh nói hoài không được.” Anh lúc nào cũng khôn hơn, giỏi hơn, cầu toàn hơn và luôn luôn chỉnh sửa Quê. Nhiều khi không vui nhưng Quê vẫn im lặng vâng lời chồng. Vợ chồng Quê ít khi cãi nhau, bạn bè người thân vẫn thường kháo nhau gia đình Quê hạnh phúc nhất. Anh nói thêm: “Bọ chét thì có thể nhưng muỗi chắc không nhiều vì ở đây không có đầm lầy.”
Tin cậy chồng, Quê lặng lẽ nối buớc. Quê không thường thắc mắc chất vấn vì biết tính chồng cẩn thận chu đáo. Đôi khi Quê có ý thích khác nhưng biết rằng khó mà lay chuyển quyết định của chồng nên thường chịu thua trước khi mở lời. Mỗi khi đi đâu anh nghiên cứu bản đồ biết rõ địa thế nơi muốn đến vì thế Quê thường để tùy anh quyết định. Lúc nãy chị thấy bảng ở bãi đậu xe cho biết đây là con đường mòn vòng quanh núi Turkey. Chị đi theo anh, quá thân thuộc nên không có gì phải nói. Bước đi của hai người đều đặn nhịp nhàng như một bản đàn quen thuộc. Anh chỉ cho chị thấy những ô vuông màu đỏ khắc trên cây.
“Cứ đi theo những ô vuông màu đỏ khắc trên cây như thế này là sẽ đi hết con đường mòn vòng quanh núi và về địa điểm khởi hành.” – Anh nói.
Rừng già, lá vàng khô rơi phủ mặt đất dày như thảm. Vài nơi, nước đóng thành băng từ dưới lòng đất trồi lên trông giống như những cây đinh to màu đá cẩm thạch trắng đục có vân đen. Đường đi mỗi lúc một cheo leo. Bên cạnh con đường mòn hẹp là hố sâu. Chỉ cần không chú ý là có thể trượt chân rơi xuống hố. “Giá mà rơi xuống có lẽ sẽ không đau đâu nhỉ, thảm lá dày trông êm ái như thế kia. Nhưng có lẽ khó mà leo lên từ hố sâu như thế.” – Quê nghĩ thầm. Một cơn mưa to những đường trũng ấy sẽ biến thành những con suối ồ ạt chảy. Chăm chú leo núi, Quê thở gấp. Đôi ba lần chị muốn hỏi về những lần đi ăn nhà hàng của anh nhưng không tiện mở lời.
Ở đỉnh núi, nhìn phía xa xa là một chục ngôi nhà dưới thung lũng. Bên tay phải là hai cái hồ, một cái rất to, một cái nhỏ hơn, nối vào nhau. Anh bảo:
“Đó là hồ Valhala. Mình đi đến đó để chụp ảnh nhé.”
Quê yêu thích cảnh đẹp. Những lần đi chơi chị đều mang theo cái máy ảnh bỏ túi để ghi lại cảnh thiên nhiên. Quê thường xa lánh những nơi nhộn nhịp, thiên nhiên là nơi tịnh dưỡng tâm hồn. Rủ đi đâu chị có thể từ chối nhưng để được ngắm cảnh đẹp Quê sẵn sàng lặn lội. Đi để có thể viết bài và có hình đăng lên blog.
Hai người leo qua những tảng đá, lội qua những con suối cạn, nước trong veo thấy những hòn đá trắng dưới đáy. Quê bảo với chồng:
“Hễ có hồ là có nước đọng và thế nào cũng có muỗi.”
Hai người bắt đầu chuyến đi hơi trễ. Ra khỏi nhà một giờ trưa. Đến nơi hơn hai giờ. Lang thang trong núi rừng vẹt lau xua cỏ tránh nhánh gai, chị mệt đuối sức và mặt trời sắp lặn. Buổi chiều sụp xuống rất nhanh, hơi núi làm chị thấy lạnh. Hai cái hồ thấy gần như vậy mà đi hoài không đến. Quê thấy lo lắng, đòi về.
“Thôi mình đi về đi anh, tối rồi, coi chừng bị lạc trong rừng.”
Chồng chị đưa cho chị bình nước anh đeo trong ba-lô. Mấy tiếng đồng hồ mà bình nước trà có pha chút cà phê vẫn còn ấm áp.
“Em ăn thêm chút phô-mai cho đỡ mệt.”
Quê nhìn quanh, những cây chung quanh Quê không còn ô vuông đỏ nào cả. Quê nói với chồng: “Mình đi lạc rồi anh.”
Chồng chị nói giọng vẫn đầm ấm tỉnh táo:
“Mình chỉ cần đi lên chút nữa đến gần hồ sẽ bắt vào con đường mòn khác và sẽ trở ra đường lớn chỗ để xe.”
Bóng cây với những cành khô có vẻ gì dọa nạt, trông giống như những bàn tay xương xẩu móng nhọn níu xước áo chị. Quê thấy sợ hãi, tim đập mạnh khó thở choáng váng. Anh đi trước, nhẹ nhàng, nhanh nhẹn tay bật đèn pin. Cây gậy dùng để giữ thăng bằng khi leo núi vung vẩy trên tay. Quê nghĩ chồng giống Hiệp Khách Hành. Trên đồi cao trông anh dường như cao lớn hơn. Quê càng lúc càng bị tuột lại sau lưng. Quê có cảm tưởng suốt đời mình cứ phải cố gắng để đi theo kịp chồng trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Một cố gắng lâu dài đôi khi Quê thấy mình mỏi mệt như kiệt sức. Anh đi nhanh quá, khỏe quá, hăng say quá không ngó lại sau lưng. Thoáng một cái anh khuất sau những bụi cây tảng đá rồi mất dạng. Quê cố gắng ngóng cổ tìm bỗng trượt chân, bổ nhào hai ba bước. Quê thấy mình rơi, quơ níu hụt hẫng. Và tất cả chỉ còn lại bóng tối.
Khi tỉnh lại, Quê thấy vầng trăng đã lên. Hai chân Quê mềm èo nằm quặt dưới thân người Quê như hai sợi dây thừng. Quê không thấy đau, chỉ thấy tê dại. Trăng trên núi thật lạ, gần như ở sát mặt của Quê. Ở giữa mặt trăng là một đường rạn nứt thật to. Một bên trăng màu nâu đỏ trông giống như một miếng kẹo có đường phơn phớt, bên kia màu xanh lá cây thật nhạt có thủng nhiều lỗ tròn trông ngon như một
miếng Swiss cheese. Nghiêng đầu, Quê nhìn thấy phía dưới chỗ mình đang nằm là những vệt trắng đang chuyển động. Nhìn kỹ, Quê thấy đó là những con mèo, chó, chim cú, ếch nhái, ốc sên đủ loại đủ cỡ màu đất sét nung đang di động như đang sống trong cái xã hội nho nhỏ của chúng. Con chó to như con voi trong khi con bò thì lại bé cở nắm tay và ếch nhái giống như những cái cúc áo. Quê nghĩ, mình đang nằm mơ chăng? Đám thú vật màu đất sét nung di chuyển nhưng cứng ngắc như những pho tượng bị giới hạn trong một dòng chảy chậm từ từ trôi đi đều đặn liên tục. Quê thấy có cái gì vừa nhám vừa ấm trên má. Con mèo Nora đang liếm mặt Quê. Nó mang mắt kính đen, mặc váy, đi hai chân như trong phim hoạt họa.
“Nora đấy à? Sao Nora lại ở đây? Anh đâu?” – Quê hỏi.
“Anh đi tìm người đem chị về. Lâu lắm anh mới quay lại.” -Nora trả lời.
“Quê bị ngã?” – Nora không trả lời.
Đầu óc Quê bỗng dưng không còn mụ mị nữa. Quê nhận ra ý định của chồng. Quê bảo Nora. “Đây là âm mưu của anh!”
Nora lặng thinh. Chị nhớ một lần anh đòi lái xe bắt đầu từ lúc mười giờ khuya đưa Quê vào hồ Tahoe, chung quanh là núi đèo cao bảy tám ngàn feet. Quê sợ không dám đi bảo rằng đi như thế rất nguy hiểm. Quê không muốn chết. Anh nổi giận gắt to, đi với anh làm sao mà chết được. Lần đầu tiên Quê nghe theo linh tính và chống lại quyết định của chồng đưa đến chỗ hai vợ chồng to tiếng với nhau ở một nơi công cộng, cây xăng. Anh bảo Quê thuộc loại đàn bà bossy. Lần khác anh nhất định chọn con đường lạ băng rừng trong khi xe đã hết xăng. Mỗi lần sợ hãi là Quê choáng váng khó thở muốn ngất đi. Tai nạn chết người dễ dàng xảy ra với người bị ngất xỉu, chóng mặt rơi xuống hồ chết đuối, nứt sọ, hay gãy cổ. Gia đình của Quê nổi tiếng là hạnh phúc, sẽ không ai nghi ngờ nếu tai nạn xảy ra. Một lần đang ngủ thức giấc Quê thấy chồng đang dùng ngón tay ấn chặt mạch máu cổ của Quê như muốn chắn đường không cho máu chạy lên óc. Quê cố xua đuổi những nghi ngờ của mình. Tính anh vẫn dịu dàng ngọt ngào như ban đầu khi mới quen nhau.
“Quê cho anh đầy đủ tự do, nếu không muốn ở với nhau nữa thì cứ chia tay tại sao lại âm mưu giết Quê? Tại sao?” – Quê hỏi Nora. “Nora ở nhà, thấy hết, biết hết. Nói cho Quê biết đi. Vì tiền phải không?”
Nora gỡ cặp mắt kính đen. Ánh trăng rọi vào mắt nó một bên có màu xanh biếc còn bên kia đỏ như lửa cháy. Và đôi mắt của nó bỗng nở to ra sâu thăm thẳm như đôi mắt Katya. Nó nói thong thả, nghe như tiếng gù gù trong cổ nó mỗi lần nó nằm trên lòng Quê lúc chị viết blog.
“Tiền là một trong những lý do. Chị không giàu lắm nhưng có thể nói là khá nhiều tiền. Nếu ly dị tiền của phải chia hai. Nếu chị chết tiền gom về người thừa kế.”
Quê và chồng tuy chính thức kết hôn nhưng mỗi người có ngân hàng riêng. Đời sống và văn hóa ở đây cho phép như thế. Lúc mới lấy nhau tiền bạc thường là lý do cãi vã của hai người. Giữ tiền riêng nhưng cùng góp chung vào những chi phí trong gia đình giữ được hòa khí của hai người.
“Tuy nhiên tiền không phải là lý do duy nhất.” – Nora bảo.
Quê suy nghĩ. Chồng chị biết, chị không bao giờ van xin hay khóc lóc nếu anh muốn chia tay. Nora cười, nhe mấy cái răng nhọn hoắc. Con mèo này kỳ cục, đáng lẽ nó phải mếu vì thương xót chị chứ. Chẳng lẽ nó chẳng thương mến Quê? Suốt ngày nó quấn quít với Quê thế mà… ừ, phải đến lúc ngặt nghèo thì mới biết được ai là người thương yêu mình. Nora hỏi:
“Chị có nhớ chuyện năm năm về trước không? Lúc chị …”
Quê vội ngắt lời Nora vì không muốn nghe thêm. “Nhớ chứ. Nhưng sau đó anh đồng ý quên quá khứ, bắt đầu lại từ đầu và xây lại hạnh phúc với Quê.”
“Nhưng anh không thật sự quên. Anh vẫn nghi ngờ, theo dõi và bắt đầu lập mưu kể từ khi anh thấy chị mở blog và bắt đầu viết trở lại.” – Nora nói một cách đầy hiểu biết.
Từ lâu Quê nhìn thấy vết rạn nứt trong lòng mình nhưng không thể nói với ai. Không ai hiểu được vì sao Quê không thấy hạnh phúc. Dường như có chồng tốt, không cờ bạc, không đĩ điếm, không hoang đàng lãng phí vẫn không làm người ta thấy hạnh phúc khi không thể bù lấp khoảng cách giữa hai tâm hồn. Anh đòi hỏi một sự toàn hảo từ nhan sắc đến tâm hồn mà Quê không thể nào có được. Quê mê văn chương. Vì phải kiếm sống, nuôi con, trong môi trường ngôn ngữ xa lạ, Quê chỉ có thể viết blog cho đỡ nhớ tiếng Việt. Đàn bà mà, khi mê say một cái gì quá, cũng bị người ta cho là lố bịch. Anh chỉ trích, Quê viết toàn những chuyện nhảm nhí. Thời buổi này, Quê có viết cũng chẳng ai đọc. Quê nói như phản đối dù rằng phản đối với con mèo thì chẳng ăn nhằm gì. “Quê chỉ viết thôi. Còn anh thì ôm cái computer tủm tỉm cười một mình đến cả hai ba giờ sáng. Quê không bao giờ gặng hỏi anh làm gì, trò chuyện với ai. Quê để cho anh tự do.”
“Chính vì thế anh mới nghi ngờ chị. Chị chỉ chúi đầu vào cái computer không đếm xỉa gì đến người chung quanh. Rồi chị viết những chuyện tình ướt át. Chị yêu thương, khóc cười, dịu dàng, đam mê với nhân vật trong khi chị nguội lạnh với anh. Những nhân vật ấy là ai? Liên hệ như thế nào với chị? Phải có thật thì viết mới giống thật như thế. Chị phải có người nào nên chị mới chẳng quan tâm đến chuyện mất chồng.” – Nora giải thích. Quê muốn khóc nhưng không khóc được; chợt thấy một nửa mặt trăng rơi những hạt nước mắt màu xanh. Nửa mặt trăng màu nâu đỏ thoát ra tiếng dồn dập như tiếng trống, như nhịp tim đập nhanh, rối loạn, nhức nhối. Ước gì được nghe những khúc sáo và vĩ cầm trong phim Chocolate nhỉ? Khúc nhạc này có thể ru ngủ. Quê nghĩ nếu ngủ được lúc này mình sẽ dễ chịu biết mấy. Cái cảm giác có một khối nặng đè trên ngực càng lúc càng tăng.
“Thế Nora có thể giúp Quê thoát ra khỏi nơi này không?” -Quê dịu giọng với con mèo.
“Nora có nhiệm vụ rước chị rời nơi này vì chị chỉ có Nora là bạn. Chị có thể nghiêng người và lăn xuống cái dòng chảy có những con thú màu đất sét nung, rồi chị cũng biến thành màu đất nung như thế. Hay chị có thể đi theo Nora.” Con mèo
lấy đôi kính đen đeo lên mắt. Trông nó có vẻ sang trọng, bệ vệ. Nora không phải là một cô bé mười lăm tuổi như Quê vẫn tưởng. Trông Nora như một người phụ nữ chín chắn ở tuổi bốn mươi. Không. Quê không muốn đi theo Nora nữa. Quê sẽ đi một mình. Mặt trăng sà xuống gần mặt Quê. Quê rướn người vói lấy mặt trăng để đứng dậy. Mặt trăng vỡ làm đôi, và Quê lại rơi. Rơi cho đến khi Quê nghe tiếng kêu “Mẹ! Mẹ!”
Cá Linh đang lay vai Quê thật mạnh. “Mẹ! Mẹ! Nước tràn ra ngoài lâu rồi.” Quê đang đứng rửa chén mãi suy nghĩ không ngờ nước tràn mà không hay.
“Mẹ đang lo nghĩ chuyện gì?” – Con gái út của Quê nhìn mẹ dò hỏi. Quê nói với Cá Linh: “Mẹ có một thắc mắc mấy hôm nay mẹ suy nghĩ mãi và nghi ngờ bố. Bố không thích ăn ngoài, cũng không thích sushi thế mà mẹ thấy bố dùng thẻ tín dụng trả tiền nhà hàng sushi ở Highland Park trưa ngày thứ Tư tháng trước.” “À! Cái đó của con. Con và các bạn đi ăn.” Cá Linh nói. “Bố cũng đi ăn sushi ở Edison .” – Quê nói. “Cái đó cũng của con luôn.” – Cá Linh nói. “Thế còn cái bữa ăn sáng ở Diner Sunset?” – Chị hỏi. “Cái đó cũng của con. Mẹ không nhớ con đã kể với mẹ à. Con ở chơi qua đêm nhà bạn Rohini, buổi sáng tụi con đi ăn trước khi chia tay.” – Cá Linh nói. “Nhưng tại sao lại trên thẻ của bố?” “Bố đưa thẻ của bố cho con dùng, chỉ dặn con là đừng tiêu quá mức.” Quê nhận ra Highland Park và Edison đều gần trường Rutgers . Quê hỏi Cá Linh: “Nora đâu rồi?” “Nora đang ngủ trên giường của con.” – Cá Linh nhìn Quê lạ lẫm. Quê thấy cục nghẹn trong ngực mình đã biến mất tự bao giờ. “May mà mình không đặt vấn đề với anh nếu không đã để lộ tính ghen bậy.” – Quê tự nhủ.
Cảnh sát phỏng vấn, người chồng không biết vợ anh có trang facebook. Anh chỉ biết trang blog của chị thôi.
Nguyễn Thị Hải Hà
Chuyện Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Di Tản—Hoàng Thị Tố Lang

Tên tôi là Nguyễn Thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.
Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời.
Tôi là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 44 năm qua…
RBC Convention Centre Winnipeg
Đã 44 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người Di Tản Buồn” của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ.. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:
Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi, mẹ đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác, các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ:
– Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc?
Mẹ ôm tôi vào lòng và nói:
– Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao.
Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:
– Con là người gì?
– Dạ thưa con là người Việt nam.
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản.
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm!
Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao. Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường Tiểu Học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái apartment (chung cư) mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt Nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.
Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về, tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi:
– “What is your name?” (Tên con là gì?)
Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản.” Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi “Your name is Đaithen.” Tôi lắc đầu và lập lại “Di Tản”. Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp.
Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi “Con đi học có vui không?” Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, tôi òa lên khóc và bảo:
– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.
Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con? Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải.
Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không?
Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô giáo không biết cách phát âm của người Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.
Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.
– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi! Mẹ chỉ còn cái tên Việt Nam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không?
Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn mẹ, và bảo:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ?
Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.
– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm.
Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả. Lúc tôi vào Highschool (Trung Học) tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời mẹ. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết.
Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.
Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp Mẫu Giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được. Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.
Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ hoắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc. Trên tay cầm bài test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai Then”… Cả lớp ồ lên một loạt “Oh, my god”. Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo:
– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.
Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai Then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặc đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.
Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây, Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.
Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ.
Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được.”
Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi lại đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản, Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.
Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.
Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.
Mẹ như điên loạn.
Rồi mẹ tỉnh lại.
Mẹ biếng cười, biếng nói.
Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.
Ngoài giờ ở sở, về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ.
Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn Khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.
Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm”… v.v… và v..v…
Tôi nịnh Mẹ:
– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.
Mẹ cười thật dễ thương.
Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.
Tôi không ích kỷ, song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.
Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 44 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.
Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại. Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con: “Bố sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu!”
Hoàng Thị Tố Lang
DỊCH: Một Nghề Nhàn Nhã—Luân Tế
“Dịch” đây không phải là “Mắc Dịch”, “Già Dịch”, “Dịch Hạch – Dịch Tả” hay bệnh “Dịch” lan tràn; cũng không phải là “Tinh Dịch”, ”Dịch Hoàn”, “Dung Dịch”, hay “Kinh Dịch” – một trong năm cái “Ngũ Kinh Dị” của Ba Tầu – mà là “Thông Dịch”, việc chuyển ngữ từ tiếng nước này sang tiếng nước khác.
“Good morning/afternoon. My name is Tuấn, a Vietnamese interpreter for you today. How can I help you with?”
“Chào ông/bà… Tên tôi là Tuấn. Tôi sẽ là người thông dịch cho ông/bà… hôm nay.
Từ khoảng 4 năm nay, sau một thập niên dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, tôi trở về với một việc làm có lẽ là nhàn nhất thế giới: Đó là nghề thông dịch viên (TDV) Anh – Việt, Việt – Anh cho một công ty ở Portland Oregon. Tuy công ty này có trụ sở tại Oregon nhưng tôi thì làm việc ở Huntington Beach. Sở dĩ tôi cho công việc này là nhàn nhất thế giới là thay vì phải đóng bộ complet-cà vạt như khi đi làm hồi thế kỷ trước, bây giờ mùa hè thì tôi mặc quần xà lỏn, áo thung; mùa đông thì mặc flannel pajamas, khoác cái robe khi làm việc. Và nhất là không phải lái xe vì tôi làm TDV tại nhà, trên điện thoại, trong cái phòng làm việc xinh sắn của tôi, giúp cho những người cần tiếp xúc với các cơ quan ở Mỹ nhưng không đủ khả năng để trình bầy họ muốn gì. Và giúp cho các cơ quan ở Mỹ (và ở cả các nước khác) hiểu được người nói tiếng Việt Nam đang tiếp xúc với họ muốn gì.
Thông dịch tại bệnh viện
Để tôi kể qua tiến trình một ngày làm việc của tôi. Ngủ dậy buổi sáng, đánh răng, uống cà phê xong thì tôi vào phòng làm việc, mở computer xem / trả lời emails, lên mạng xem tin ở các trang như Skimm, The Daily Beast, The New York Times; rồi bắt đầu viết lách qua loa. Cùng lúc đó tôi lấy điện thoại bàn (không được dùng điện thoại di động) gọi vào công ty rồi bấm số #1 để “log in”. Thế là xong. Sau khi “log in” thì tôi có nhiệm vụ trả lời những cú điện thoại của hãng gọi cho tôi rồi nối đường đây điện thoại của tôi với thân chủ đang chờ sẵn. Lúc nào không muốn làm vì bận việc riêng thì tôi lại gọi số của hãng rồi bấm số #2 để “log out”. Có nhiều lúc sau khi đã “log out” rồi mà điện thoại vẫn reo với “ID caller” của hãng. Nếu tôi nhấc máy, nhân viên của hãng sẽ xin lỗi là đã làm phiền tôi và yêu cầu tôi, nếu có thể được, giúp trả lời cú điện thoại này vì lý do hãng không đủ người thông dịch tiếng Việt lúc đó, hay có một thân chủ nào tôi đã giúp trong quá khứ nêu đích danh và xin hãng liên lạc với tôi, yêu cầu tôi giúp. Không phải lúc nào tôi cũng làm việc; có ngày đắt hàng, có ngày ế. Thứ Hai thường là bận rộn nhất. Một ngày trung bình tôi dịch trên điện thoại khoảng từ 250 đến 300 phút. Trong những lúc không có “khứa” thì tôi có thể đi lau nhà, rửa bát, giặt quần áo, làm vườn cho vợ. Đến năm giờ chiều thì tôi “log out”, đi tắm, rồi ngả người trên ghế recliner nhấp một ly rượu vang (hay 2) hay một shot (hay 2) Cognac/Whisky/Tequila, xem báo, làm ô chữ, nghe nhạc. Những ngày cuối tuần nghỉ.
Tôi không lạ gì với cái nghề TDV này cho lắm. Thật ra, cái “job” đầu tiên của tôi trên đất Mỹ là TDV trong trại tị nạn IndianTown Gap, Pennsylvania vào giữa 1975. Vừa xuống máy bay thì tôi bị lùa vào phòng “processing” để làm cuộc phỏng vấn đầu tiên cho thủ tục nhập cảnh. Ngồi cạnh nhân viên sở di trú là chị X., một người tôi quen sơ bên Guam, sang trước và đang làm TDV. Chị X. thấy tôi vào, và vì biết khả năng của tôi, nên để tự tôi trả lời cuộc phỏng vấn rồi xin phép đi ra ngoài. Phỏng vấn xong thì người nhân viên di trú Mỹ yêu cầu tôi làm TDV thay cho chị X. bắt đầu từ sáng hôm sau và nói là tuy chị X. làm TDV tự nguyện không lương cho trại tị nạn, anh sẽ trả cho tôi $20.00 một ngày. Sau hơn một tháng xếp hàng xin cơm ở Guam, nhờ vào cái “job” này, gia đình tôi bắt đầu vào PX mua thức ăn và không thèm ăn cơm phát chẩn nữa trong suốt thời gian ở IndianTown Gap (Tôi còn để dành được vài chục và trong một canh xì phé với các bạn trong barracks, ăn non, gom đủ tiền chạy vào PX mua được cái đồng hồ Omega tự động—chỉ cần lắc cổ tay vài cái là coi như đã lên giây—giá là $175.00. Anh Vũ Huyến, cùng ở chung trại, trong một canh bài khác, cũng ăn non, chạy ra PX mua cái đồng hồ này. Khoảng 20 năm sau thì đồng hồ của tôi hỏng, thợ mở ra thì thấy máy ở trong cứng ngắc, không lắc nữa. Đồng hồ của anh Huyến thì không sao.)
Trại Fort Indiantown Gap, PA
Một trang báo về Fort Indiantown Gap
Trở về hiện tại, khách hàng của công ty tôi làm phần đông là người Việt lớn tuổi đi mua thuốc, khám bệnh, nằm nhà thương, vào phòng cấp cứu, đi chụp hình quang tuyến (Xray-Scan-MRI). Trẻ hơn thì ra tòa vì tội DUI, vượt đèn đỏ, đánh vợ, khai bankruptcy, quỵt nợ, đến sở xã hội xin welfare, medicaid, foods tamps, housing. Còn có những người liên lạc với nhà băng, hãng bảo hiểm (xe, y tế, nhân thọ), hãng telephone v…v…Còn có cả những cú điện thoại từ Việt Nam gọi sang tố cáo với công ty mẹ những hành vi ngược đãi nhân viên của những cơ sở ở VN. Cũng có những công ty ở Mỹ gọi về VN nói chuyện về nhiều vấn đề.
Nhiều người cố gắng nói tiếng Anh nhưng khi hai bên không hiểu được nhau vì rào cản ngôn ngữ thì họ cầu cứu tới hãng tôi làm việc. Ngay lập tức hãng liên lạc với tôi hay những TDV khác. Nhấc điện thoại lên, tôi nói một tràng tiếng Anh, như người máy: “Good morning/afternoon. My name is Tuấn, a Vietnamese interpreter for you today. How can I help you with?” Sau khi người Mỹ tự giới thiệu và nói lý do họ muốn có sự giúp đỡ của tôi, tôi quay sang nói bằng tiếng Việt: “Chào ông/bà..tên tôi là Tuấn. Tôi sẽ là người thông dịch cho ông/bà…hôm nay”. Một số cơ quan (phần nhiều là nhà thương và vài văn phòng an sinh xã hội) dùng hệ thống hai máy điện thoại song song—một cho người Mỹ và một cho người Việt, rất tiện cho TDV. Có những chỗ chỉ có một máy nên tôi sẽ nghe một bên rồi chờ máy chuyển sang cho người kia rồi dịch lại. Thường thì thân chủ để máy ở vị trí speaker phone trong phòng để mọi người cùng nghe lời dịch Việt–Anh, Anh–Việt của tôi. Nói chuyện và dịch qua speaker phone rất khó, nhất là gặp người Mỹ nói nhanh và ngọng (như mấy anh gốc Ấn Độ hay Mễ Tây Cơ) và bên kia là một cụ già người Quảng đang lên cơn suyễn, nói không thành tiếng, mà có thành tiếng thì cũng rất khó nghe. Speaker phone cũng được dùng ngoài tòa án. Luật sư ngoài tòa và bác sĩ trong bệnh viện thường nói rất nhanh, hình như lúc nào cũng vội để còn gặp thân chủ/bệnh nhân khác. Các ông chánh án thường chậm rãi hơn và bao giờ cũng ngỏ lời cám ơn Mr. Lê (tôi) trước khi gác máy.

Thông dịch tại tòa án
Có một số ít người Việt Nam khi nghe tôi tự giới thiệu là TDV thì tỏ vẻ khó chịu—có lẽ là vì nghĩ rằng mình nói tiếng Anh ngon lành, cần gì thằng cha này—và bộc lộ thái độ của mình bằng cách lờ tôi đi, tiếp tục nói tiếng Anh. Tôi “ ngậm miệng ăn tiền”—nhưng vẫn phải theo dõi cuộc đối thoại—chờ cho đến khi nào một trong hai bên “bí”, (người Mỹ nói, “What did he say, interpreter?; người Việt thì hỏi, “Nó nói gì vậy anh?”) thì tôi mới mở miệng. Nhiều khi tôi “ngậm miệng ăn tiền” như thế đến 10, 15 phút. Chắc quý vị cũng đã từng phải chờ đợi khá lâu tại văn phòng bác sĩ. Tôi cũng thường xuyên phải chờ bác sĩ khá lâu, nhưng khác một cái là càng chờ lâu trên điện thoại thì tôi lại kiếm nhiều tiền hơn mà không phải làm gì cả.
Làm cái nghề thông dịch này của tôi dễ mà khó. Dễ là vì chẳng phải có bằng cấp, thi cử gì, chỉ cần khả năng nghe giỏi và nói một ngoại ngữ lưu loát ngang với tiếng mẹ đẻ. (Xin mở ngoặc nói thêm về một loại TDV được gọi là TDV Hữu Thệ—Certified Interpreter—phần nhiều làm việc ở tòa án. Những TDV này phải qua một kỳ khảo hạch của tiểu bang nơi họ muốn hành nghề. Tôi nghe nói là kỳ khảo hạch này của California rất khó nuốt, một phần vì hội hay nghiệp đoàn các TDVHT ở California không muốn có nhiều TDV quá, mất ăn, nên làm khó những người muốn thi vào. Tôi chưa hề trải qua cuộc khảo hạch này nên không có kinh nghiệm bản thân về chuyện này.) Khó là vì chuyển ngữ là một nghệ thuật và năng khiếu trời cho, không phải ai cũng làm được dù cho có giỏi ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ đến đâu đi nữa. Diễn tiến của việc thông dịch như sau: tai tiếp nhận được những dữ kiện của ngôn ngữ #1 rồi chuyển lên óc, óc nhận được, dịch ngôn ngữ #1 sang ngôn ngữ #2 rồi ra lệnh cho lưỡi hoạt động, nói thành tiếng bằng ngôn ngữ #2. Tiến trình này diễn tả thì lâu nhưng thực sự chỉ xẩy ra trong một phần ngàn của một giây. Cho nên khả năng thông dịch hầu như hoàn toàn dựa theo phản xạ tự nhiên của người biết nghe và nói thông thạo 2 thứ tiếng khi làm TDV.
Ngoài ra còn vấn đề phát âm. Số đông những người nói ngoại ngữ không được chuẩn vì không được học nhiều và không xử dụng thường xuyên trong đời sống hàng ngày. Một số có học nhưng không có khiếu nói ngoại ngữ nên rất khó chuyển đạt những gì mình muốn nói đến người khác. Hai điểm quan trọng nhất trong việc nói ngoại ngữ là cái tai và khả năng bắt chước lối phát âm của người bản xứ. Khi tôi về dậy Anh Văn ở Việt Nam (lớp đào tạo giáo viên), tôi nói với các học viên của tôi ( tất cả đang dậy Anh Văn) là nếu tai các bạn không tự nhận thấy là các bạn phát âm sai thì hết thuốc chữa. Tôi còn nhớ cách đây hơn 20 năm, tôi về hưu sớm đi làm phim. Trong lúc rảnh rỗi có một hãng mời tôi đi thông dịch cho những phiên tòa hành chánh xử các vụ xin tiền an sinh xã hội về bệnh tật. Lúc đó hầu như tất cả các luật sư đại diện cho thân chủ xin tiền ASXH đều là người Việt Nam, cỡ tuổi tôi hoặc lớn hơn, đã từng hành nghề LS tại VN, sang đây học và thi lại. Luật pháp Hoa Kỳ bắt buộc lời khai của người đi xin tiền ASXH phải được dịch qua TDV và ghi lại bằng máy ghi âm hay máy tốc ký. Một hôm, ông LS trình bầy sự kiện trước ông chánh án bằng tiếng Anh thì bị ngưng lại không cho nói tiếp. Rồi ông chánh án nói, “Xin lỗi anh. Tôi không hiểu anh nói gì cả. Sao anh không nói tiếng Việt, rồi nhờ ông thông dịch viên này giúp cho?” Tất nhiên là ông LS đó phải nói tiếng Việt theo lệnh ông chánh án nhưng mặt ông ta sưng lên và nhìn tôi với con mắt mất thiện cảm.

Như trên đã nói, phần đông những người tôi giúp là người lớn tuổi, nhưng gần đây có một hiện tượng là có những người trên điện thoại là dân Bắc Kỳ 75. Chuyện này xẩy ra thường xuyên hơn trong những cú điện thoại ở Canada (Dân Hải Phòng thì nà mà…) Còn ở Mỹ tôi cũng gặp khá nhiều trên điện thoại. Sau đợt của các cựu sĩ quan VNCH đã bị Cộng Sản giam cầm di dân sang Mỹ cùng với gia đình theo diện HO thì đến lượt dân Bắc Kỳ 75 kéo nhau sang. Những người này thường còn rất trẻ, không biết tiếng Anh, “lói” giọng Hà Lội, ráng rặn ra một đứa con (phải có con nhỏ mới đủ điều kiện) rồi đi xin welfare, medicaid, food stamps, housing. Vấn đề tôi đặt ra ở đây là, những người này chắc chắn phải là dân có tiền hay là loại COCC tham nhũng mới có thể xoay sở lấy cái visa di dân sang Mỹ. Sang đến Mỹ rồi thì chôn vàng, dấu của, lợi dụng tình nhân đạo và kẽ hở luật pháp của nước Mỹ, đi ăn mày xã hội. Và quý vị và tôi phải è cổ đóng thuế để nuôi những thành phần (có thể là giầu hơn chúng ta rất nhiều) này.
Nhắc đến Bắc Kỳ 75 thì tôi có một giai thoại về tòa án. Hôm đó tôi trả lời điện thoại thì được hỏi, “Do you speak the Southern dialect?” Tuy nói tiếng Bắc nhưng vào Nam từ năm lên tám nên tôi trả lời, “Yes, I do.”Sau khi được nối dây với tòa, tôi tự giới thiệu. Ông chánh án cẩn thận hỏi một lần nữa; tôi trả lời “Yes, your honor!” Rồi ông yêu cầu tôi nói một vài câu với người bị cáo đang đứng trước tòa. Tôi nói bằng tiếng Bắc cố hữu thử xem người kia có hiểu không thì có một giọng đàn bà người miền Nam trả lời rất ngọt ngào. Tôi hỏi bà có hiểu tôi nói gì không. Bà bảo hiểu chứ. Tôi bèn báo cáo với ông chánh án là chúng tôi nói cùng một thứ tiếng và hiểu nhau hoàn toàn. Ông chánh án nói với tôi là sở dĩ ông phải yêu cầu một TDV nói tiếng Nam là vì người TDVHT, lúc đó hãy còn đứng trong tòa, nói tiếng Bắc với bị cáo nhưng bà này than phiền là không hiểu người TDV nói gì. Tôi hiểu ngay câu chuyện. Đã có vài lần các cơ quan thông dịch bị chập dây nên có 2 TDV trên máy cùng một lúc. Khi tôi và người TDV kia biết thì một người sẽ cúp máy nhường, tùy trường hợp hãng nào nhận điện thoại trước. Qua một hai câu nói thì tôi biết người TDV kia là Bắc Kỳ 75. Và đã nhiều lần tôi nghe thân chủ than phiền,“Ông ơi, ông nói tui hiểu hết mà sao mấy cô cậu trẻ nói giọng Bắc gì kỳ quá, tui hổng hiểu gì hết trơn hết trọi.” Thì ra các cô, các cậu con ông cháu cha ở “nước ta” sang “nước mình” học, rồi ở lại, đi làm TDV. Bắc Kỳ cũ 54 như tôi mà còn thấy chói tai, ngơ ngác khi nghe thứ tiếng “Mọi” của người Hà “Lội” ngày nay thì các ông bà người miền Nam làm sao hiểu nổi vì chưa được “ân hận” nghe cái giọng 4000 năm văn hiến của các cô các cậu Bắc Kỳ 75 này.
Nói về “giọng.” Có lẽ vì tôi nói to (chắc tại tai hơi điếc) và nói tiếng Anh lưu loát nên các thân chủ người Việt tưởng là tôi còn trẻ. Có người xưng “Ông” với tôi. Có người xưng bác, chú, anh, chị. Một hôm, tôi nói, “Chào Bà…” và sau khi nghe giọng một người đàn bà miền Nam có vẻ còn trẻ, đổi sang “Cô” thì bà này lập tức xưng “cô” và gọi tôi bằng “con.” Khi tôi nói là tôi gần 70 rồi, bà ta xoay chiều, xin lỗi và gọi tôi là ông anh, xưng em. Một trường hợp khác cũng tương tự nhưng vui hơn. Sau khi tôi nói là tôi gần 70 rồi, một bà nói với tôi bằng một giọng rất đanh đá và hơi xấc, “Già rồi mà không chịu nghỉ cho khỏe, ham tiền đi mần làm chi cho nó khổ…” Tự nhiên nhớ đến nhạc sĩ Đức Huy, bạn tôi, tôi trả lời ngay lập tức, “Dạ, tôi nghỉ hưu mấy năm rồi đó chớ, nhưng kẹt một cái là năm rồi, tôi dzề Dziệt Nam lấy con dzợ mới 26 tuổi, sanh được thằng con trai gần 2 tháng nên phải đi làm lại…” Dzợ tôi đang ở gần đó, nghe tôi nói, phá lên cười.
Cuối cùng xin kể một giai thoại nhỏ về cái phản ứng tự nhiên của một TDV. Tôi dịch cho một bà bác sĩ và một cô gái quê miền Nam mới sang Mỹ có mấy tháng đi khám sức khỏe tổng quát. Lúc khám đến ngực thì bà bác sĩ hỏi, “Do you have breast implants?” Phản xạ tự nhiên lúc đó của tôi là câu hỏi đầy tính chất bình dân học vụ, bật ra từ miệng rất nhanh, “Dzú cô là dzú thiệt hay dzú giả?”, và cô gái quê bẽn lẽn trả lời, “Dạ, thưa chú, dzú con là dzú thiệc…”
Mỗi khi chấm dứt một câu điện thoại, tôi kết thúc bằng: “Thank you for using our services. Have a good day…”
Và tôi cũng xin chấm dứt bài này bằng: “Cám ơn quý vị và các bạn đã đọc bài này… Chúc quý vị và các bạn một ngày vui…”
Luân Tế
Chuyện Chú A Tỷ và Tiểu Thanh—Đỗ Duy Ngọc
Hồi mới vô Sài Gòn, tôi thuê căn nhà nhỏ trên kênh Nhiêu Lộc ở cùng với mấy người bạn. Đầu hẻm ở mặt tiền đường có một tiệm tạp hoá của một gia đình người Hoa. Có người gọi là tiệm chạp phô. Chắc là gọi theo tiếng Quảng.
Một góc trên kênh Nhiêu Lộc
Honda dame
Chủ tiệm là một người đàn ông trung niên, lúc nào cũng mặc chiếc áo thun ba lỗ với cái quần chỉ ngắn đến đầu gối. Chú đi chiếc xe Honda Dame màu đỏ, loại bán cho quân nhân hồi xe Honda mới nhập vào miền Nam. Có hai lí do mà đám sinh viên chúng tôi để ý đến tiệm tạp hoá này. Thứ nhất tiệm này cần mua gì cũng có, bán giá rẻ hơn nơi khác, dù chỉ vài đồng, nhưng sinh viên nghèo mà, rẻ hơn đồng nào đỡ đồng đó. Tiệm lại luôn mở cửa để bán hàng cho khách. Nhiều lần đi chơi đêm về khuya lắc lơ, muốn mua mấy gói mì hay chai bia con cọp, đập cửa rầm rầm, chú vẫn vui vẻ mở cửa bán hàng. Thứ hai là chú có cô con gái khá dễ thương. Tóc bím hai bên, da trắng hồng, lại hay mặc áo cắt theo kiểu người Hoa, nhìn ngộ lắm. Cô bé chắc nhỏ hơn tụi tôi vài tuổi. Thằng nào đi đâu về trước khi vào hẻm cũng liếc vào xem cô bé có ở tiệm không, dù chưa đứa nào tán được cô bé một câu. Chú tên A Tỷ, cô bé tên Tiểu Thanh. Biết tên cô bé là do công của tôi. Một lần vào tiệm mua đồ, chú A Tỷ lấy hàng, cô bé ngồi học bài ở gần kệ thu tiền, tôi thấy trên nhãn vở đề tên Tiểu Thanh bằng tiếng Hoa. Tôi là dân học Việt Hán, hai chữ này cũng dễ đọc nên tôi đọc được ngay. Tôi hỏi: Em tên Tiểu Thanh à? Cô bé ngước lên nhìn tôi, đôi mắt tròn xoe ngạc nhiên, cười rồi lại cúi xuống không trả lời. Chú A Tỷ đưa hàng, tôi không có lý do gi nán lại đành đi về. Về nhà, tôi nổ với mấy đứa cùng phòng là đã nói chuyện được với cô bé, biết được tên cô bé, mấy đứa phục tôi lắm.
Tiệm chạp phô
Chú A Tỷ cũng được mọi người chung quanh và cả những người ở trong xóm sâu thương yêu vì chú lúc nào cũng nhẹ nhàng, mua bán đàng hoàng, biết gia đình nào khó khăn có khi chú không lấy tiền, lại cho thêm vài món. Nhờ thế, chú buôn bán phát đạt, hàng hoá càng ngày càng phong phú. Tết đến, chú mang tặng những gia đình nghèo trong xóm bờ kênh nước đen gói quà có mứt, bánh và lạp xưởng. Họ biết ơn chú lắm nên mua gì cũng ra tiệm của chú. Ăn Tết xong chú sửa nhà, xây thêm hai tầng, cửa tiệm bây giờ không còn là tiệm tạp hoá nho nhỏ nữa mà là một cửa hàng rộng rãi với hàng hoá chất đầy. Đàng sau chú làm cái kho, chứa gạo, đường , sữa… đầy nhóc. Mà quên, chưa nói đến vợ chú. Đó là người đàn bà Hoa có khuôn mặt phúc hậu, ít nói nhưng hay cười. Cũng là người tốt như chú. Chiều chiều, ngồi bán hàng thấy mấy đứa nhỏ đi học về, bà hay kêu vào lúc cho cái bánh, khi cho cái kẹo nên mấy đứa nhỏ thương bà lắm. Lúc nào gặp bà cũng vòng tay chào rất lễ phép.
Từ hôm biết tên cô bé là Tiểu Thanh, tôi lại càng siêng ghé tiệm của chú mua đồ, có khi mấy đứa bạn cần mua gì tôi lại xung phong đi mua giúp. Nhưng cũng hiếm khi gặp cô bé, nhất là khi nhà có thêm tầng lầu, chắc là cô bé ngồi học trên đó. Mà hoạ hoằn có gặp, tôi cười chào thì cô bé cũng chỉ nhoẻn cái miệng rất xinh cười lại thôi, chứ chẳng nói được gì. Nhưng rồi tôi cũng gặp may một lần. Hôm đó trên đường từ Đại học Văn Khoa về, xe bus thả tôi xuống đầu đường Trương Minh Giảng. Vừa xuống xe thì gặp Tiểu Thanh đang loay hoay với chiếc xe đạp tuột xích. Trưa nắng gắt, cô bé sửa hoài mà không gắn được sợi xích vào ổ líp, mặt đầy mồ hôi, má ửng hồng vì nóng. Thế là tôi ra tay hiệp sĩ, sửa xe cho nàng rồi luôn tiện xin đi ké chở nàng về luôn. Từ đó, tôi thường gặp cô bé hơn qua những cuộc hẹn. Thì cũng chỉ đi loanh quanh bằng chiếc xe đạp của Tiểu Thanh, bởi lúc đấy tôi chẳng có xe xiếc gì, đi đâu cũng cuốc bộ hay đi xa hơn thì có xe bus vàng. Đi ngồi quán thì cũng chỉ là những quán chè, quán nước bên đường hay mấy quán gỏi đu đủ, bột chiên. Có lẽ cô bé cũng biết tôi là sinh viên nghèo nên em chẳng bao giờ có ý kiến chi. Nói chuyện với nhau thì cũng là chuyện nắng mưa, chuyện học hành, luẩn quẩn lần nào cũng từng đấy chuyện. Tôi cũng hay hỏi em về những chữ Hán, những bài thơ Đường dù lúc đấy em mới học lớp mười một theo chương trình của Đài Loan. Tình thì cũng đã bén rồi, nhưng cả hai chẳng ai đề cập đến. Đến cái nắm tay, cái vuốt ve cũng chưa có dù cả hai đã có mấy lần vào Rex xem phim. Thế nhưng mấy đứa trong phòng thường được nghe tôi kể xạo như trong tiểu thuyết Quỳnh Giao, lãng mạn lắm, tình cảm lắm, thằng nào cũng phục lăn, lè lưỡi thèm thuồng.
Cuối năm đấy, tôi có được một học bổng của Bộ Giáo Dục đi du học ở Pháp. Mừng vì được đi nước ngoài học nhưng cũng buồn vì xa Tiểu Thanh dù tình cảm cũng đang lửng lơ nửa vời. Tôi và Tiểu Thanh ngồi với nhau ở kem Bạch Đằng, đây là lần đầu tiên tôi xài sang thế. Và cũng lần đầu tôi cầm tay Tiểu Thanh để thông báo cho nàng tôi sắp đi học xa. Tiểu Thanh vẫn để yên bàn tay của em trong bàn tay tôi và em khóc. Tôi hỏi: Em chờ anh được không? Em bảo: Em chờ, bao lâu em cũng chờ. Ba em đang chuẩn bị cho em sang Đài Loan học Đại học, nhưng chắc em không đi. Em không muốn sống xa Ba Má, không nỡ để Ba Má ở một mình. Em ở lại Việt Nam chờ anh về.
Và thế là tôi đi. Hành trang tôi mang theo chẳng có gì chỉ là chiếc va li nhỏ. Tiểu Thanh gởi tôi món quà là chiếc khăn tay có thêu tên tôi và tên nàng và một lá bùa nhỏ gói trong chiếc khăn màu đỏ rực. Nàng bảo đó là lá bùa hộ mệnh giúp tôi luôn được mạnh khoẻ và sẽ thành công. Mấy năm ở Pháp, tuần nào tôi cũng gởi thư về cho nàng, và tuần nào tôi cũng nhận được thư của Tiểu Thanh. Tôi cũng thường gởi quà cho em, sinh viên nghèo, học bổng chẳng là bao chỉ đủ chi tiêu tằn tiện nên quà cũng chỉ là những món đồ kỷ niệm ít tiền, nhưng Tiểu Thanh rất vui. Nàng cũng báo tin là Ba Má nàng đã chấp nhận không qua Đài Loan học nữa. Và Tiểu Thanh trông ngóng tôi về.
Giáng sinh năm 1974, tôi về nước. Tiểu Thanh bây giờ là một cô gái hăm mốt tuổi, xinh hơn nhiều trong ý nghĩ của tôi. Chú A Tỷ vẫn vậy, vẫn cái áo thun ba lỗ và chiếc quần ngắn ngang đầu gối và vẫn cỡi chiếc xe Honda Dame màu đỏ. Tôi và Tiểu Thanh bàn cách để nói chuyện với chú A Tỷ xin cưới Tiểu Thanh làm vợ. Bởi phong tục người Hoa không muốn con gái lấy trai Việt, nên đó là cản trở lớn nhất của chúng tôi. Chưa có dịp để nói chuyện thì chiến sự càng ngày càng gay cấn. Và rồi 30.4.75, bộ đội miền Bắc chiếm được Sài Gòn. Chú A Tỷ vẫn bình thản vì chú bảo mình làm ăn lương thiện, chế độ nào cũng cần phải ăn để sống, chú cũng chẳng tham gia chính quyền cũ, chú sống tốt với mọi người, chú không có kẻ thù, chú không có gì phải ngại chính quyền chế độ mới. Nhưng rồi tai hoạ ập xuống gia đình chú. Vợ chú bị đau ruột thừa, vào bệnh viện, tình hình đang lộn xộn, bác sĩ cũ lớp thì di tản, lớp thì còn đang e ngại, lớp thì đi học tập chưa về, đa số là các bác sĩ và y tá trong rừng ra và ngoài Bắc vào. Chẳng biết họ chữa làm sao mà thím A Tỷ bị vỡ phúc mạc, chết trên bàn mổ. Tiểu Thanh khóc sưng cả mắt, chú A Tỷ thì như người mất hồn cứ đi ra đi vào và hỏi sao lại thế, sao lại thế? Lúc đấy xã hội lộn xộn lắm, ai cũng thu mình lại, dấu mình đi vì sợ. Bang hội của chú cũng đến giúp tang ma. Tôi cùng bạn bè và bà con trong xóm cũng lặng lẽ đến để đám tang được trọn vẹn. Chú A Tỷ ngơ ngẩn cả tháng trời, Tiểu Thanh cũng buồn bỏ cả ăn uống, người gầy rạc đi. Thế là chúng tôi chưa có dịp để nói chuyện cưới xin, mà phải đợi ít năm nữa sau khi mãn tang mới bàn tính được
Nhưng tai hoạ không chỉ dừng lại đó, mấy tháng sau gần ngày tết Trung thu năm bảy lăm, lúc đó khoảng bảy giờ tối, Tiểu Thanh hốt hoảng đạp xe đến báo cho tôi hay là bộ đội vào nhà, đang kiểm kê và niêm phong hàng hoá, kết tôi chú A Tỷ là tư sản bóc lột, làm giàu trên xương máu nhân dân. Tôi chở nàng chạy về thì thấy bộ đội súng ống kè kè đi với một đám tay đeo băng đỏ cũng rần rộ súng ống đang lùng sục trong cửa hàng, mặt ai cũng đằng đằng sát khí. Chú A Tỷ thì vẫn áo ba lỗ và quần ngắn thường ngày, ngồi gục đầu như tượng, họ bảo ký vào đâu thì ký vào đó, không nói một lời. Tiểu Thanh thì run rẩy đứng tựa vào người tôi, đôi mắt mở to, uất hận đầy nước mắt nhưng cũng chẳng nói gì. Đến nửa đêm thì họ đọc quyết định tịch thu hàng hoá và căn nhà, ra lệnh gia định chuẩn bị để đi vùng kinh tế mới. Lúc đó chú A Tỷ ngã ra bất tỉnh, Tiểu Thanh cũng gục trên vai tôi, mặt xanh như xác chết. Cả một đời gầy dựng, cả một đời làm ăn lương thiện chỉ một lời quyết định, người ta đã lấy hết, tịch thu hết lại còn kết án là kẻ bóc lột, đuổi đi vùng kinh tế mới. Chú A Tỷ vừa lai tỉnh, chú nhìn quanh, hét lên một tiếng lớn, đẩy căm hờn như tiếng thú trong cơn tuyệt vọng cùng đường rồi lại ngã ra sàn bất tỉnh lần nữa. Tiểu Thanh cũng thét lên tiếng thét ai oán: Ba ơi! rồi gục trên thân thể lạnh giá của cha. Tình trạng thảm thương đó chẳng làm động lòng đám người thi hành lệnh, họ vẫn mặt lạnh như tiền, súng gờm gờm trên tay như sẵn sàng nhả đạn những ai có hành động phản kháng. Hàng hóa ngổn ngang, không khí như nén lại. Tôi bất lực chẳng biết phải làm gì ngoài việc cứ xức dầu cho chú A Tỷ.

Bích chương tuyên truyền của Việt cộng
Sáng hôm sau, đoàn xe đến chở người đi vùng kinh tế mới. Tiếng loa oang oang như nhói vào tai, bộ đội, du kích súng ống kè kè đưa từng hộ gia đình lên xe. Những người bị đưa đi ngơ ngác nhìn, đau khổ nhìn, uất ức nhìn nhà cửa, tài sản của mình đóng dấu niêm phong với dấu đỏ loè loẹt như những vết máu. Tôi ngồi theo xe cùng chú A Tỷ và Tiểu Thanh, đồ đạc chỉ được phép lầy mang theo là mấy cái nồi niêu, xong chảo và mùng mền chiếu gối. Tài sản bao nhiêu năm giờ chỉ là một đống đồ chẳng giá trị gì. Chú A Tỷ vẫn im lặng gục đầu. Tiểu Thanh vẫn đầy nước mắt, ngơ ngác không biết ngày mai sẽ ra sao? Nhiều người quay đầu nhìn lại, họ biết tất cả sẽ chẳng còn gì, tất cả đã bị tịch thu.
Xe chạy gần một ngày, qua những đoạn đường đầy bụi, xe dằn xốc liên tục, mặt mũi ai cũng bơ phờ đầy bụi đỏ. Đến chiều khi mặt trời đỏ như máu đang dần xuống ở đầu ngọn cây thì đoàn xe dừng lại. Mọi người bị lùa xuống một khoảng rừng thưa, trước là một bãi đất đầy cỏ dại ngút ngàn, khô cằn, hoang vu trong hoàng hôn. Có lác đác mấy lều tạm bợ đã được dựng sẵn. Loa lại kêu từng hộ gia đình vào lều, nhìn cảnh tượng như cảnh nhập trại tù binh của người Do Thái thời phát xít Đức. Buổi cơm tối được nấu tạm bợ trong chập choạng mờ tối với những ánh lửa hiu hắt. Nhưng chẳng ai nuốt nổi. Cả ngày đi đường quá mệt, tâm trạng lại rối bời, lại nhìn cánh rừng mà mốt mai phải sống ở đây, ai cũng lắc đầu ngao ngán. Nghe mọi người bảo đây là vùng Đắc Nông, Phước Long gì đó. Nghe như chốn xa vạn dặm nào. Tôi thu xếp cho Tiểu Thanh và chú A Tỷ có một chỗ tạm ngụ, sáng hôm sau tôi lại bu mấy xe đò chạy than về lại thành phố.
Vùng Kinh Tế Mới
Lúc này tôi đã nộp đơn xin đi làm mấy cơ quan, nhưng chẳng chỗ nào nhận. Họ bảo lý lịch của tôi có nhiều điểm bất minh, cần làm rõ. Đặc biệt là sao tôi lại trở về Việt Nam vào tháng 12 năm 1974. Họ cho công an điều tra xem tôi trở về để làm gì? Có nhận nhiệm vụ gì của tổ chức nào không v..v? Cũng may, cuối cùng tôi cũng được Sở Giáo dục nhận, nhưng cũng do lý lịch, họ đẩy tôi về dạy học ở Củ Chi. Có lẽ lúc này nhà nước đang thiếu giáo viên quá. Nhìn ngôi trường, tôi quá ngao ngán. Đó là một ngôi trường quê, chỉ có một dãy khoảng năm phòng làm lớp học, một dãy nhà lợp tole khác gồm hai phòng làm phòng ban giám hiệu và kho chứa đồ. Ban đêm thầy cô giáo xếp bàn làm giường, giăng mùng nằm ngủ. Các tiện nghi sinh hoạt thiếu thốn trầm trọng. Tôi tự nhủ cố gắng cho qua rồi tính tiếp.
Tôi không có giờ dạy ngày thứ hai, nên hai tuần một lần thứ bảy tôi qua mấy chặng xe lên Đắc Nông thăm Tiểu Thanh và chú A Tỷ, sáng thứ hai hoặc tối chủ nhật lại bu mấy chặng xe về. Có mấy thứ nhu yếu phẩm cỏn con, có khi chỉ vài muỗng bột ngọt, miếng vải mùng, nhúm hạt tiêu, vài ba gói thuốc lá đen, tôi cũng để dành mang lên cho họ. Họ sống khó khăn quá. Toàn dân thành phố mà bây giờ phải vào rừng chặt cây dựng nhà, học cách trồng cây, gieo mạ, cấy lúa trên miếng đất khô cằn. Lác đác đã có người trốn về. Nhưng về thành phố rồi làm gì, ở đâu? Họ biến thành những kẻ đầu đường xó chợ. Lương thiện thì đi ăn xin, bất lương thì đi ăn trộm, móc túi để sống. Tôi thấy Tiểu Thanh và chú A Tỷ ở đây không ổn rồi, tôi đang tính cách để đưa họ về lại thành phố mà tính mãi chưa ra. Tính chưa xong thì lần thứ ba tôi lên lại Đắc Nông, tôi chứng kiến Tiểu Thanh bị rắn độc cắn cùng hai người khác khi đi rừng. Ba nạn nhân được dân chúng gánh về bệnh viện bằng cái võng và thân cây tre làm đòn khiêng. Chẳng có phương tiện nào khác. Tôi vừa chạy theo vừa niệm khẩn cầu Quan Thế Âm Bồ Tát, nhưng người không đoái hoài. Và cả ba đã chết trên đường đi. Nửa người của Tiểu Thanh tím đen vì nọc độc, mắt Tiểu Thanh không nhắm, mở trừng trừng như muốn nhìn thấu nỗi oan khiên. Chú A Tỷ một lần nữa ngã quỵ, chú bây giờ như bộ xương khô, đôi mắt lạc thần, khuôn mặt như kẻ điên dại. Tiểu Thanh được chôn trong nghĩa địa vừa mới hình thành, lác đác đã có gần chục nấm mồ mới mọc, cỏ chưa kịp xanh vì tuần nào cũng có người chết. Kẻ bị rắn cắn, người bị cây đè, người khác bị bom mìn còn sót nổ khi cuốc đất, người thì thấy bế tắc quá, tự tử chết, đủ cách để chết. Tôi khuyên chú A Tỷ trốn về, nhưng chú bảo bây giờ còn mộ Tiểu Thanh ở đây, con mới mất, chú đi không đành, ở lại để chiều chiều, sáng sáng thắp cho nó cây nhang, đêm đêm chuyện trò với nó, kẻo nó buồn, nó tủi thân. Tôi chỉ biết khóc, tội nghiệp Tiểu Thanh quá. Và tội cho chú A Tỷ nữa. Cũng tội nghiệp cho mọi người bị lùa lên đây. Họ làm gì nên tội. Đã lấy tài sản một đời gom góp của họ, đã cướp nhà của họ, có người chồng đã đi vào trại cải tạo không có ngày về, sao lại đày đoạ họ đến đây với rừng rú, với hoang địa, với đói nghèo và cận kề cái chết như thế này? Cùng một dòng máu đỏ da vàng mà sao người ta tàn nhẫn thế, ác nhân thế? Mà thật ra có thù hằn gì nhau đâu mà phải trả thù. Họ có tội gì đâu mà bắt họ đền tội.
Tôi vẫn tiếp tục đi dạy học ở trường quê đấy. Hàng ngày phải gào giọng rao giảng những điều giả dối, hàng ngày phải tuôn ra những lời ca tụng thời đại đẹp nhất trong lịch sử, ca ngợi những con người đang đày đoạ nhân dân mình trong đói nghèo và lạc hậu. Thỉnh thoảng đôi tuần, tôi lại bu xe về Đắc Nông thăm chú A Tỷ. Có nhiều đêm hai chú cháu nằm nói chuyện suốt đêm trong nước mắt. Chú bảo chú biết con và Tiểu Thanh thương nhau, nếu ngày xưa chắc hôn sự khó thành, nhưng thời buổi đảo điên này, chú định bỏ qua lệ ấy mà tác thành cho hai đứa, không ngờ mẹ nó chết rồi đến nó cũng không sống được. Chú quý con lắm, thôi thì số phận đã thế thì mình phải chịu phần số thế thôi. Rồi chú lại khóc. Chú ôm chặt vai tôi mà khóc, nước mắt đẫm vai tôi, rồi chú uống rượu, uống nhiều lắm dù trước đây chú chưa bao giờ biết đến rượu bia.
Mấy tháng cuối năm học, luyện cho học trò thi tốt nghiệp, rồi bận gác thi, chấm thi, tôi không ghé thăm chú được. Lúc công việc đã vãn, lên thăm thì nghe người ta bảo chú bị lên cơn điên, đưa vào bệnh viện huyện rồi chú trốn về mất biệt, không biết đi đâu. Tôi về thành phố, tìm khắp không gặp chú. Cuối cùng tôi nghĩ bụng chắc chú về khu nhà cũ. Đúng y như thế. Chú về căn nhà cũ, tối nằm ở vỉa hè trước nhà, ngày đi lượm ve chai, đói ai cho gì ăn đấy. Căn nhà của chú cấp cho gia đình cán bộ ngoài Bắc vào. Cũng có vài lần họ đuổi chú đi, nhưng chú lại về, ngủ ở đấy mặc họ la hét, chửi rủa, riết rồi họ chán, họ im. Lâu lâu có dịp về thành phố, tôi lại tìm đến chú, hai chú cháu ra quán, kêu vài món, vài ly bia hơi nhạt nhẽo, lần nào chú cũng khóc. Chú càng ngày càng gầy, áo quần rách rưới. Giờ chú không còn mặc áo thun ba lỗ với chiếc quần ngắn đến đầu gối nữa. Chú mặc bất cứ thứ gì kiếm được hoặc của mọi người mang đến cho. Dân ở khu đấy đã từng biết chú cũng hay giúp chú miếng ăn khi đói, viên thuốc khi bệnh. Nhưng mà lúc đấy ai cũng khó khăn,ai cũng túng bấn, không có gạo trắng để ăn, lương thực toàn bo bo với bột khoai mì với vài ba ký gạo hẩm. Nhiều khi nhiều người muốn giúp chú mà cũng chẳng có gì để giúp.
Mùa mưa năm 1977, không hiểu sao Sài Gòn cứ mưa mãi thế. Nhiều lúc mua từ nửa khuya cho đến hết ngày. Mưa như trút nước. Mưa như trời giận dữ loài người. Lại thêm bệnh ghẻ ngứa. Không biết sao mà người bị bệnh đó lắm thế. Mọi người cứ gãi sồn sột. Gãi đến tróc da, chảy máu. Con nít ngứa khóc suốt đêm, người lớn ngứa không ngủ được. Vào bệnh viện toàn cho thuốc xuyên tâm liên. Bệnh gì cũng xuyên tâm liên. Xuyên tâm liên là thuốc tiên, chữa bá bệnh.

Cảnh mưa lụt ở Sài Gòn
Buổi chiều hôm đấy trời mưa, một trận mưa lịch sử. Đường sá Sài Gòn ngập lên đến bụng, cả thành phố như một biển nước. Lại thêm gió ào ạt, nghe đâu có bão rớt. Lo cho chú A Tỷ, đêm hôm sau tôi ghé chú vì chú chỉ về đó ban đêm. Đến nơi không thấy chú, hỏi thăm thì mọi người bảo chú chết rồi, chết đêm qua, trong cơn mưa bão. Xác chú dập dềnh suốt đêm trước cửa nhà. Sáng sớm bà giúp việc mở cửa định tát nước ra thì thấy xác chú lừng lững trôi vào nhà. Bà giúp việc hoảng quá la hét rầm trời bỏ chạy. Bà chủ nhà trên lầu bước xuống thấy xác chú vào đến giữa nhà, xoay mòng mòng theo con nước dội vào nhà khi có xe qua, bà sợ quá hét lên một tiếng rồi ngất xỉu. Ông chủ nhà là một cán bộ lãnh đạo của thành phố cũng từ trên lầu chạy xuống, thấy xác chú quay tròn giữa phòng khách thì cũng cứng đơ người, sai bà giúp việc lấy cây đẩy ra, nhưng càng đẩy ra, xác lại giạt vào. Ông ta hoảng quá gọi công an. Một giờ sau công an có mặt, xác vẫn xoay tròn. Công an làm biên bản, gọi xe cứu thương đến nhận xác. Lúc đấy, nước bắt đầu rút, xác chú A Tỷ xoay dến chân câu thang, nằm lại đó, đôi chân như muốn bước lên. Người ta chở xác chú đi đâu không rõ.
Từ đấy, người ta đồn nhà ấy có ma. Đêm đêm có người đàn ông đi lên đi xuống cầu thang. Có người còn kể thấy chú đứng ở balcon, mặc áo thun ba lỗ với chiếc quần ngắn đến đầu gối nhìn xuống đường. Gia đình cán bộ hãi quá, xin đổi nhà khác. Những gia đình đến sau đấy cũng ở không yên, đêm thì nghe tiếng khóc, đêm thì nghe tiếng người đi, đêm thì thấy bóng người ngồi thu lu trên ghế. Người không ở được, nhà nước chuyển thành văn phòng của ủy ban phường, sau đó thành đồn công an phường. Mấy anh công an kể đêm nào cũng thấy ma.
Đến thời kỳ đổi mới, nhà nước bán cho một công ty nước ngoài đập bỏ xây cao ốc. Không biết chú còn vất vưởng ở đó không hay đầu thai kiếp khác rồi. Và cũng từ đấy, ngôi nhà, cơ nghiệp cả đời của chú A Tỷ đã biến mất, chẳng còn dấu tích gì trên cõi đời này nữa.
Đỗ Duy Ngọc
Tôi Đi Thi Hoa Hậu Phu Nhân—Gió Đồng Nội
Theo đúng sách vở ông bà dạy: “Trời đánh tránh bữa ăn” tôi áp dụng y chang như thế. Chờ cho chồng ăn xong bữa tối, tráng miệng đầy đủ, chuẩn bị ra ghế sô pha ngồi coi truyền hình tôi mới xà lại gần thỏ thẻ: Anh nè, em ghi tên dự thi hoa hậu phu nhân. Ông chồng té cái bịch xuống chiếc ghế ngay bên cạnh (may mà tôi đã chuẩn bị), mặt mày hốt hoảng, miệng cà lăm: e..m nói cái gì vậy?
Tôi cũng ngồi xuống theo rồi mới chậm rãi lặp lại: em đi thi hoa hậu phu nhân. Rồi không để chàng kịp “quay” mình, tôi làm một hơi. Này nhé, anh vẫn nói đàn bà là hoa. Hoa nào cũng có nét đẹp riêng, mỗi bông mỗi vẻ. Đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy lại nên em nghĩ mình dự thi cùng các chị khác khoe sắc đẹp trong mùa xuân để mọi người thưởng thức những cánh hoa biết nói đó mà. Em nghiên cứu kỹ càng đơn dự thi rồi.
Mấy năm trước đơn dự thi bằng tiếng Mỹ lẫn tiếng Việt, dài tới 2 trang giấy lận. Có câu hỏi em không hiểu là người Việt gốc gì. Không lẽ người Việt gốc Mỹ đi thi ở đây? Rồi các câu thích ăn gì, có tham gia, hoạt động trong đoàn thể nào, đã từng thi hoa hậu hay làm người mẫu bao giờ chưa.. làm em ngại quá, không biết trả lời, đâu dám hỏi ai nên cứ để bụng thôi. Điều kiện dự thi thì phải trên 40 tuổi, không có tiền án (bị tù), không làm những chuyện phạm đến thuần phong mỹ tục Việt Nam.
Năm nay đơn chỉ còn 1 trang, bớt những câu hỏi “hơi khó trả lời”. Đọc hiểu liền. Điều kiện dự thi “vũ như cẩn” dễ ợt. Trước tiên là phải trên 35 tuổi (năm nay hạ xuống 5 tuổi). Ngoài tên, tuổi, chiều cao, sức nặng, năng khiếu, sở thích, là lý do muốn dự thi và điều gì mình muốn từ cuộc thi này. Sau lời cam kết giữ đúng những qui định và điều lệ của ban tổ chức thì mình ký tên là xong.
Anh đừng lo em mất nhiều thời gian tập dợt, hai buổi thôi. Mà em có gọi cho bà Phương Thảo, trưởng ban tổ chức kỳ thi hoa hậu phu nhân năm nay nữa. Hoa hậu phu nhân lần đầu tiên của Florida mình đó. Không phải nói nịnh chớ bà đẹp thiệt. Ăn nói ngọt ngào lắm. Đám chị em đi dự thi ai cũng khoái bả. Bao nhiêu kinh nghiệm bản thân bả truyền lại hết cho cả bọn. Từ cách đi, đứng, nói chuyện sao cho duyên dáng bà chỉ vẽ cho từng người, bắt tụi em “cọp bi” lại y chang. Sửa tới, sửa lui rồi bả dặn về nhà nhớ đứng trước gương tập dợt mỗi ngày. Bởi vậy anh có thấy cái bước của em bữa nay mềm mại chớ không lật đật như trước không. Học mà có hành là vậy.
Phải đi ra ngoài, gặp gỡ chị em bạn em mới thấy cái hay của mỗi người mà học hỏi. Có cái chị cao cao (em không nói tên để bữa thi anh đoán xem người nào nha) nói chuyện vui lắm. Thấy quen quen, em bắt chuyện. Vừa mở miệng hỏi phải năm ngoái.. thì chị hiểu liền: “Tui chớ ai. Năm nào tui cũng đi thi cho vui. Có người hỏi cắc cớ ngay mặt tại sao tui rớt hoài mà cứ đi thi hoài vậy. Họ đâu có biết đậu hay rớt tui không quan tâm. Tui đi thi cho rậm đám. Càng đông càng vui. Cuộc thi hoa hậu của cộng đồng càng xôm tụ. Đi thi thì mình có dịp diện áo mới. Hơn nữa ngày Tết mình bận áo dài truyền thống thật đẹp, mát mắt bà con đi coi. Đem niềm vui trước là cho mình, sau là cho khán giả rồi còn chụp hình kỷ niệm để mai mốt đi không nổi thì ngồi một chỗ mà coi lại cũng đỡ buồn vậy”. À há. Chị này nói nghe hay hết biết.
Vui bây giờ chưa đã còn cất dành niềm vui cho mai mốt về già. Cỡ nào cũng được vui. Mà thiệt vậy. Bữa hôm đi chụp hình để thi giải “ăn ảnh” cảm động lắm. Mười mấy mạng chụp mỗi người một hình bán thân. Không cần “photoshop” chỉnh trang lại mà ai cũng đẹp tự nhiên. Coi bộ khó cho ban giám khảo chấm giải này rồi đó. Rồi giải thời trang khi mỗi người tự lựa bộ đồ diện lúc ăn tiệc. Có bộ lộng lẫy, có bộ đơn sơ nhưng sang trọng. Cũng có bộ thật lịch sự. Tùy theo người mặc. Người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân quả không sai.
Tiếng là đi thi chứ mấy chị ai cũng dễ thương, thân thiện, không thấy ai tranh dành chi hết, cười giỡn cả buổi tập rồi hẹn hò nhau đi ăn. Không thấy có chút xíu ganh đua gì trong đó. Các “phu nhân”, người nào cũng con đàn cháu đống, thiếu điều có chắt nữa, đều đạt đạo (lão) rồi nên mọi chuyện đời rồi ra nước chảy hoa trôi, chi bằng lấy vui làm chính.
Có một chị “hơi nặng cân” khoe đám tụi em là nhờ ghi danh đi thi nên mới chịu khó kiêng cữ mà xuống được cả chục pound. Đã thiệt. Chắc là chỉ phải kỷ luật cái miệng dữ lắm. Anh biết rồi đó. Tuổi mình bây giờ ngửi hơi thức ăn không đã lên ký vù vù. Nhịn ăn, nhịn uống quá xá chừng trọng lượng mới bớt được chút đỉnh. Không chừng chỉ có tập thể dục kèm theo thì quá tốt luôn. Bớt mập thì bớt “ba cao” (cao máu, cao mỡ, cao đường). Vừa khỏe, vừa đẹp. Anh thấy đi thi hoa hậu phu nhân có ích lợi chưa?
Sau vụ thi này thế nào em cũng bắt chước để anh thấy bà xã cũng còn ngon lành. Mấy bữa nữa ban tổ chức sẽ đưa cho thí sinh những câu hỏi sẽ được bốc thăm để trả lời. Mình được học trước ở nhà nên em sẽ nhờ anh “gà” cho nhuần nhuyễn. Vòng đầu thì vậy đó. Ngược lại, vòng chung kết chỉ là 1 câu hỏi không ai biết trước để thi sự đối đáp của thí sinh. Câu trả lời này quyết định ra xem ai là người trúng giải hoa hậu.
Rồi còn giải thời trang nữa. Nhắc vụ này em mới nhớ cái áo đã lựa ngoài tiệm Macy. Có gì tối mai anh đi coi em mặc thử xem có hạp không nha. Biết là ý em chọn nhưng có thêm ý kiến của anh vẫn tốt hơn. Ủa anh không nghe em vừa nói đây là giải thời trang hả? Áo dài vẫn là chính ông xã ơi. Đây nè, đây là cái áo dài của ban tổ chức tặng cho mỗi thí sinh nè. Cùng màu xanh kim tuyến đẹp quá chừng.
Đâu phải chỉ mặc áo dài xanh này. Mình được mặc chiếc áo dài riêng của mình nữa mà. Bởi vậy mới có giải duyên dáng. Em phải lựa coi chiếc áo dài nào tăng phần thướt tha, dịu dàng khi khoác lên người. Dễ mà khó đó anh. Từ sắc áo đến màu hoa, qua cách cắt may khít khao, vừa vặn. Không được chật, mặc vô giống đòn bánh tét. Lỡ hắt hơi một cái, khuy nút bung hết ra trống hốc trống hoác thì có đường độn thổ. Còn rộng rinh sẽ lụng thụng như áo tế, trông giống ông bù nhìn coi chán chết. Khó là vậy.
Chưa hết đâu Anh, còn giải thân thiện mọi năm do thí sinh tự chấm cho nhau, năm nay do ban giám khảo kín đáo theo dõi cách hành xử của thí sinh để âm thầm cho điểm nên ai cũng vui. Mà anh biết không? Ban giám khảo năm nay toàn người mới, có 2 người em biết mặt còn 5 người kia lạ hoắc. Cuộc thi hoa hậu phu nhân năm nay có nhiều thay đổi mới mẻ chắc sẽ tốt đẹp hơn mọi năm.
Người tính không bằng trời định. 5 ngày nữa tới cuộc thi hoa hậu thì tôi lăn ra bệnh. Cúm nó hành. Đắc Kỷ ho gà chắc cũng “nổ cổ, khổ họng” cỡ tôi là cùng. Tức ngực, ba sườn đau như võ sĩ thua trận, bị dần một trận nhừ tử. Nước mắt nước mũi lòng thòng, cổ họng khô đắng. Thôi đành rút đơn đi thi hoa hậu phu nhân năm nay. Đến hẹn (sang năm) lại lên. Thế nào cũng có tôi góp mặt. Nhất định như thế. Tôi sẽ chuẩn bị từ bây giờ. Độc giả nhớ đi coi ủng hộ nha.
Thật là may mắn cho cộng đồng, tới ngày thi Trời thật ấm. Không đi thi được thì mình đi coi lấy kinh nghiệm. Tôi ráng uống thuốc đều chi đẩy bà cúm đi, lấy lại sức du Xuân ở hội chợ Tết cộng đồng.
Trả 5 đô la mua vé vào cửa xong tôi đi ngang qua “ông hàng hoa” bán cả trái cây trước khi bước vào hội trường. Ngay chỗ xét vé là cổ động viên của 2 liên danh ứng cử ban đại diện cộng đồng niên khóa 2014-2016 đứng phát giấy quảng cáo. Bên tay mặt là bàn của Ban Bầu Cử. Đưa bằng lái xe để ghi danh đi bầu xong thì bước sang bàn bên cạnh để bỏ phiếu. Làm xong nhiệm vụ “công dân”, một lá phiếu là một viên gạch xây dựng cộng đồng, tôi tiếp tục du xuân. Bàn bên cạnh của hội Thủ Đức. Kế tiếp là bàn dành cho hội Cao Niên. Đứng ngắm những hình ảnh trình bày sinh hoạt của hội, tôi được một vị đưa cho bản tin. Cất về nhà đọc, tôi bước sang gian của hội Đức Thánh Trần cùng hội Tế Lễ. Thấy những sản phẩm thủ công nghệ mũ, khăn quàng, áo len em bé, móc bằng tay thật đẹp và rẻ. Chỉ $10 đô la. Tôi chọn chiếc áo đầm len màu hồng thật dễ thương.
Nhìn thấy lá cờ Vàng nho nhỏ cắm trên nóc mái nhà tranh ở góc phía phải hội trường, tôi bước lại gần hàng rào để thấy con heo mọi chạy lăng quăng trong chuồng. Hàng xóm của nó là những cô gà mái tơ mập mạp đang bươi thóc cùng hai anh gà trống đang khoe bộ lông sặc sỡ đầy màu sắc trên chiếc thanh tre gác ngang gần nóc chuồng. Trong sân bày những chiếc ghế nhỏ quanh các bàn ăn. Tất cả đều dùng tre. Cả một trời quê hương mang theo ra xứ người. Tiếc một điều là không thấy tên của quán. Tôi mua một tô mì Quảng cho bạn, một ly sữa đậu nành cho mình rồi tiếp tục vòng chợ Tết. Những quán bán thức ăn đông đảo người thưởng thức.
Đủ mọi món ăn truyền thống trong những ngày xuân. Qua những gian quảng cáo luật sư, bán bảo hiểm là nơi Wallgreen tặng quà như hộp đựng thuốc, bút viết, túi xách.. để giới thiệu chương trình bảo vệ sức khỏe. Dược sĩ Thắng Phạm cho biết Wallgreen chúc mừng năm mới đến người Việt bằng những thử nghiệm miễn phí cho: Áp suất máu, Cao Mỡ, Tiểu Đường trong 2 ngày chợ Tết của Cộng Đồng Việt Nam Trung Tâm Florida. Đọc tờ giới thiệu mới thấy Wallgreen nhận bảo hiểm, lại có chích ngừa Flu, ngừa nhiều thứ bệnh, cả loại Tdap mà trước đây tôi phải đến tận Department Of Health của chính phủ tốn gần hai trăm bạc (2 người) vì họ không nhận bảo hiểm. Uổng thật. Còn nữa, mỗi Thứ Ba đầu Tháng, nếu mua thuốc do Wallgreen chế tạo (Wallgreen Brand) bạn sẽ được bớt 20% và 15% cho những sản phẩm khác của Wallgreen. Tôi không có ý quảng cáo (không công) cho họ mà chỉ nói những điều tôi đã trải qua để bạn tự nghiệm nhé.
Thế là hết một vòng chợ. Ngồi nghỉ chân, tôi lẩn thẩn nghĩ. Đã có cuộc thi hoa hậu, rồi hoa hậu phu nhân. Hai loại hoa mà không có gì cho “gươm” hay “súng”. Tôi đề nghị ban tổ chức đặt giải thi “Lực Sĩ đẹp” cho thanh niên lớp tuổi dưới 30. Phần các cụ trên 60 sẽ thi giải “Liệt Sĩ khỏe”. Bảo đảm sẽ có nhiều người thi, kéo theo người đi ủng hộ. Chắc chắn ngày Tết sẽ đông và vui hơn nữa. (Sáng kiến này của tôi đã trình tòa lấy độc quyền rồi. Ai xử dụng đều phải xin phép đó).
Trở lại buổi du Xuân, tôi kiếm một chỗ ngồi gần sân khấu, phía giữa, ngay sau lưng ban giám khảo để dễ chụp hình và nhìn bao quát cả hội trường. Sân khấu tương đối đơn sơ. Khán giả khá đông. Thí sinh mà tôi nhắm đã vào chung kết. Cuộc thi đã vào phần cuối. Còn lại 5 người. Tôi đang hồi hộp chờ câu hỏi sau cùng thì chút trở ngại xảy ra. Ban giám khảo ngưng cuộc thi đôi phút để giải quyết. Ban tổ chức năm nay thật hay và có quyết định đúng đắn. Tất cả mọi người có mặt đều hài lòng. Công tâm mà nói, trục trặc thì ở đâu cũng có, ăn thua cách giải quyết thôi. Đừng để người dân mất lòng tin. Chương trình thi hoa hậu năm nay đã thu hút được nhiều khán giả. Nếu cứ làm việc đúng đắn như thế tôi nghĩ số người yểm trợ sang năm sẽ tăng thêm bội phần. Và số thí sinh dự thi cũng nhiều hơn vì biết là mình được đối xử công bằng, phân minh, và tôn trọng.
Bạn đọc ơi, nhớ nhé, sang năm, trước đoàn dự thi, có tôi đi hàng đầu…
Hẹn bạn năm sau.
Gió Đồng Nội
Luật Mới Áp Dụng Năm 2019 Tại California—LS. Nguyễn Quốc Lân
Thống Đốc Tiểu Bang Jerry Brown sẽ rời khỏi chức vụ ngày 7 Tháng Giêng, năm 2019, sau khi ký hơn 1,000 dự luật thành luật trong năm cuối cùng của ông tại văn phòng, hầu hết đều có hiệu lực từ ngày 1 Tháng Giêng. 2019. (Hình: AP/ Damian Dovarganes)
Kết thúc khóa họp Nghị Viện (Legislative Session) năm 2018, Thống Đốc Tiểu Bang Jerry Brown đã ký chuẩn thuận 1,016 dự luật trong số 1,217 dự luật được Nghị Hội được thông qua. Đa số các điều luật này có hiệu lực bắt đầu từ ngày đầu năm 2019. Qua truyền thống này, mỗi ngày đầu năm, hàng loạt các điều luật mới bắt đầu được áp dụng. Các thay đổi này có khi không ảnh hưởng gì đến ai, nhưng cũng có khi ảnh hưởng rất nhiều trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Sau đây là một số các điều luật có ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của nhiều người tại California bắt đầu từ ngày đầu năm 2019.
Dưới đây chỉ là tóm tắt của một số các điều luật tiêu biểu. Quý vị muốn tìm hiểu thêm xin vào trang nhà của Nghị Hội Tiểu Bang California (California Legislature)—https://leginfo.legislature.ca.gov/ và chọn các điều luật theo ký số AB – Assembly Bill hay SB – Senate Bill. Muốn tìm hiểu xem các thay đổi này có áp dụng trong trường hợp của mình hay không, quý vị nên tham khảo với một luật sư hay tìm hiểu để đọc cho rõ ngôn ngữ các điều luật đó chứ không nên dựa vào bài viết này.
Luật Lao Động
Bắt đầu vào ngày đầu năm 2019, mức lương tối thiểu tại California là $11 đối với các hãng xưởng có dưới 25 nhân viên hay $12 cho các hãng xưởng có từ 25 nhân viên trở lên. Lịch trình tăng lương này bắt đầu từ năm 2016 với mục tiêu nâng mức lương tối thiểu cho mọi nhân viên lên đến $15 vào năm 2022. Nhiều thành phố có mức lương tối thiểu cao hơn và mức lương đó được áp dụng tại các địa phương đó. Mức lương tối thiểu của liên bang vẫn ở mức $7.50 một giờ nhưng chỉ được áp dụng tại các tiểu bang không có mức lương cao hơn.
Tiểu bang cũng đã thông qua nhiều điều luật khác có ảnh hưởng sâu rộng đến các quan hệ lao động.
SB 1976 – buộc chủ nhân phải, trong khả năng có thể được, cung cấp nơi vắt sữa cho con bú thuận tiện hơn là “phòng vệ sinh” như thường thấy xảy ra.
AB 1565 – buộc các công ty thầu xây cất (construction contractors) phải chịu trách nhiệm trả lương cho nhân viên làm việc cho các người phụ thầu (sub-contractors) bằng cách giữ lại số tiền dự trù để trả cho nhân viên trong trường hợp họ không được trả tiền đầy đủ.
SB 1412 – buộc chủ nhân chỉ được quyền điều tra về hồ sơ phạm pháp liên quan đến các tội danh có liên hệ trực tiếp đến trách nhiệm của việc làm liên hệ. Năm ngoái, một điều luật mới thông qua chỉ cho phép chủ nhân được hỏi đến hồ sơ phạm pháp chỉ khi đã quyết định thuê mướn và chỉ còn kiểm chứng hồ sơ phạm pháp.
Vấn đề sách nhiễu tình dục
Để đối phó với nhiều biến cố liên quan đến vấn đề xách nhiễu tình dục tại sở làm, tiểu bang California đã thông qua nhiều điều luật nhằm bảo vệ các nạn nhân sách nhiễu tình dục hay điều tra để truy tố những phần tử gây ra vấn đề này.
SB 3109 – Ngăn cấm hay vô hiệu hóa các thỏa thuận kiện tụng giữa nhân viên và chủ nhân mà trong đó có những điều khoản nhằm ngăn cấm bất cứ ai ra làm chứng hay khai báo các hành vi sách nhiễu tình dục tại các thủ tục toà án, điều tra hay lập pháp. Một điều khoản khác, SB 820, ngăn cấm các điều khoản trong thỏa thuận kiện tụng mà có những điều khoản nhằm ngăn cản việc tiết lộ các dữ kiện liên quan đến hồ sơ sách nhiễu tình dục, kỳ thị giới tính hay bị chủ nhân trả thù vì những lời cáo buộc này.
SB 1300 – Ngăn cấm chủ nhân buộc nhân viên phải khai báo về hồ sơ khai báo hay từ bỏ khiếu kiện về lao động để được tăng lương hay tiếp tục làm việc, hay buộc chủ hãng phải chịu trách nhiệm ngay cả cho những hành động kỳ thị của những thành phần có liên hệ hợp đồng với chủ nhân nhưng không phải là nhân viên của chủ nhân.
AB 2770 – Không công nhận các lời cáo buộc trong các đơn kiện về sách nhiễu tình dục có thể làm lý do cho các đơn kiện về mạ lỵ hay bôi nhọ cá nhân nếu những lời cáo buộc đó không có ác ý.
SB 1343 – Buộc các hãng xưởng có từ 5 nhân viên trở lên phải tổ chức huấn luyện thường xuyên cho nhân viên và nhân viên cấp trên về vấn đề sách nhiễu tình dục. Luật hiện nay chỉ buộc các hãng xưởng có từ 50 nhân viên trở lên cung cấp những khóa huấn luyện này mà thôi.
AB 1619 – Kéo dài thời hạn làm đơn kiện về sách nhiễu tình dục từ 2 năm lên 10 năm hay 3 năm sau khi phát hiện ra thương tích đã xảy ra. Việc kéo dài thời hạn này sẽ tạo điều kiện cho nhiều người có thể nạp đơn kiện về vấn đề sách nhiễu tình dục.
Hồ sơ kỷ luật của bác sĩ
SB 1448 – Bắt đầu từ Tháng Bảy, 2019, nếu bác sĩ bị quản chế bởi các cơ quan cấp bằng hành nghề vì lý do kỷ luật, người bác sĩ đó phải thông báo cho bệnh nhân biết là họ đang bị quản chế trước khi chữa trị cho bệnh nhân.
Giáo dục
AB 1871 – buộc các trường học công cộng phải cung cấp tối thiểu một bữa ăn có đầy đủ dinh dưỡng cho học sinh. Quy định này nhằm đối phó với các học sinh bỏ ăn vì bận học và lười biếng nhận phần ăn trưa, cho dù là miễn phí.
AB 1974 – Trường học không được quyền giữ lại bằng tốt nghiệp vì lý do thiếu tiền phạt mất sách hay tiền lệ phí đóng cho trường.
Bầu cử
AB 216 – Buộc chính quyền phải trả bưu phí khi gởi phiếu bầu trở lại để cử tri khỏi phải trả tiền tem khi gởi phiếu bầu trở lại phòng phiếu.
SB 568 – Dời ngày bầu cử Sơ Bộ Tổng Thống năm 2020 lên Thứ Ba đầu Tháng Ba để có thêm ảnh hưởng trên toàn quốc trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới.
Thực phẩm
AB 1884 – Nhà hàng sẽ không được tự động đưa ra các ống hút bằng nhựa để uống nước, trừ khi được yêu cầu bởi khách hàng.

SB 1192 – Nhà hàng có thức ăn cho con nít không được tự động cung cấp các thức uống có nhiều đường, trừ khi được yêu cầu bởi khách hàng trẻ em.
SB 1164 – Các cơ sở làm rượu hay bia có thể bán trực tiếp cho khách hàng, thay vì chỉ được qua các hình thức nếm rượu hay bia tại cơ sở sản xuất rượu bia.
SB 1138 – Các bệnh viện phải cung cấp các món ăn chay trong số các phần ăn hàng ngày.
AB 626 – Cho phép bán đồ ăn nấu sẵn tại nhà mà không phải qua nhà hàng. Tuy nhiên, các dịch vụ nấu ăn này vẫn phải thông qua các tiêu chuẩn vệ sinh của sở y tế địa phương.
Súc vật
AB 2274 – Tòa án ly dị có thể phán quyết về phân chia quyền nuôi súc vật trong hồ sơ ly dị. Trước đây luật gia đình coi súc vật như là đồ vật và ra phán quyết tương tự như đối với đồ vật.
AB 485 – Cấm các tiệm bán súc vật không được bán các loại chó, mèo hay thỏ đến từ các nhà chuyên gây giống các loài vật này để bán. Các loại súc vật này nếu bán tại các cửa tiệm súc vật chỉ được lấy từ các cơ sở bảo vệ súc vật bỏ rơi để nhận đem về nuôi.
Giao thông
AB 2989 – Người lớn trên 18 tuổi dùng xe điện hai bánh (electric scooters) thì không cần mang nón an toàn. Tuy nhiên trẻ em dưới 18 tuổi vẫn phải mang nón an toàn. Tốc độ dùng xe điện này có thể lên đến 35 mile một giờ thay vì 25 mile như trước đây. Một điều luật khác, AB 3077, quy định là các trẻ em nào dùng xe này mà không mang nón an toàn có thể bị giấy phạt, nhưng có thể được xóa nếu các em đi học một lớp an toàn và chứng minh có mua mũ an toàn trong vòng 120 ngày.
SB 1014 – Buộc các hãng xe đưa đón cá nhân như Uber hay Lyft phải gia tăng số lượng xe dùng ít khí thải vào không khí. AB 2886 còn buộc các xe này phải tiết lộ tên tài xế, ảnh, hình dạng của chiếc xe và bảng số xe trước khi đến đón khách.
SB 1046 – Buộc những người bị kết án lái xe say rượu tái phạm hay có gây thương tích phải gắn dụng cụ phát hiện lượng rượu trước khi nổ máy để từ 12 đến 48 tháng để ngăn ngừa lái xe khi uống rượu bia. Ngược lại người lái xe có gắn máy này không bị giới hạn nơi lái xe đến.
SB 179 – Người xin bằng lái xe hay thẻ căn cước có thể tuyên bố giới tính khác nam hay nữ và được đánh dấu bằng chữ X. Bất cứ ai muốn đổi hồ sơ giới tính của mình trên bằng lái xe hay thẻ căn cước cũng có thể xin đổi ngay hay khi đổi bằng lái xe hay thẻ căn cước.
AB 1274 – Gia tăng xe mới từ 6 năm lên 8 năm được miễn khỏi phải kiểm tra mức khí thải (smog check) mỗi hai năm một lần. Bù lại, những chủ xe này phải trả một lệ phí $25 vào quỹ giảm thiểu khí thải vào không khí.
Hình sự
SB 1391 – Cấm giam trẻ em dưới 16 tuổi trong nhà tù người lớn cho dầu các em này phạm tội nghiêm trọng và bị xét xử như người lớn.
SB 10 – Hủy bỏ hình thức đóng tiền thế chân để được tại ngoại hầu tra bắt đầu từ Tháng Mười, 2019. Thay vào đó, những nghi can bị tội nghiêm trọng sẽ được thẩm định mức độ rủi ro bỏ trốn trong thời gian chờ đợi ra tòa và những người bị tội nhẹ sẽ được tạm thả tự do chờ ngày ra tòa mà không cần phải đóng tiền thế chân. Tiểu bang California đã trở thành tiểu bang đầu tiên hủy bỏ thể thức đóng tiền thế chân, một thủ tục quan trọng trong hệ thống công lý của Hoa Kỳ.
AB 1793 – Bắt đầu từ Tháng Bảy, 2019, Bộ Tư Pháp Tiểu Bang có thể duyệt xét các hồ sơ kết án về xử dụng hay cầm giữ cần sa để có hủy bỏ các án phạt này. Tiểu bang California đã thông qua luật cho phép xử dụng cần sa để giải trí và đang theo đuổi chính sách coi nhẹ các án phạt liên quan đến cần sa.
SB 1100 – Nâng tuổi mua súng dài tại California từ 18 tuổi lên 21 tuổi bắt đầu từ ngày 1 Tháng Hai. AB 2103 quy định những người muốn xin mang súng giấu kín trên người phải theo học tối thiểu 8 tiếng đồng hồ về sử dụng súng.
Kết luận
Trên đây chỉ là một số thay đổi tiêu biểu và có ảnh hưởng đến nhiều người trong số hàng ngàn điều luật mới vào ngày đầu năm tại đủ các cấp chính quyền từ liên bang, tiểu bang, quận hạt hay thành phố. Mỗi tiểu bang trên toàn Hoa Kỳ cũng có những điều luật mới với nhiều thay đổi khác nhau.
Luật chung tại Hoa Kỳ xác định là không biết luật không phải là biện hộ vô tôi. Tuy nhiên luật pháp cũng có phần du di đối với những điều luật mới ban hành mà ít ai biết đến. Do đó, đón chào năm mới với hàng ngàn hay hàng trăm ngàn điều luật mới, mọi người cũng không nên bận tâm lắm vì những điều luật mới.
Luật Sư Nguyễn Quốc Lân
Bài Thơ Cho Nước—Trương Chi

Trương Chi
Bao nhiêu năm viết “Độc lập-Tự do…
và Hạnh phúc” nhưng chưa từng thấy thế
Họ nói rằng: Bác là thánh, là tiên
Người đưa Nước thoát khỏi vòng nô lệ
Dân làm giặc mà Đảng lại làm vua
Trên danh nghĩa “kẻ tôi đòi trung hiếu”
Từ cây kim, sợi chỉ đến chén cơm, manh áo dù rách nát, nhỏ nhoi
Thì tất cả đều nhờ ơn của Đảng
Bao người vì non sông với niềm tin vào ngày mai nước Việt hùng cường
Đều lần lượt chịu tù đày, khổ ải
Từ thức ăn, nước uống đến không khí ô nhiễm tràn lan
Từ nhu yếu phẩm của đứa trẻ sơ sinh đến cụ già sắp lìa khỏi trần gian
Đều tẩm độc vào xác-hồn nước Việt
Bằng thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa thế này không?
Máu dân oan đã nhuộm đỏ sông Hồng
Loài hung bạo chiếm hết trời-đất-biển…
Ngược văn minh, ngược tiến hóa loài người
Những phát ngôn của quan chức nực cười
Ngược đời thế, nhưng “tài tình lãnh đạo”
Với hàng trăm tờ báo, đài vô tuyến-truyền hình
Ngoài mị dân, ru ngủ, chỉ những tin “cướp-giết-hiếp” hay bản nhạc “đúng quy trình”
Còn nhục nước họa dân thì muôn đời nín lặng
Còn hơn thời phong kiến, thực dân
Những trạm BOT mọc lên khắp tỉnh thành
Cùng hàng vạn “áo vàng” chực rình thu mãi lộ
Làm suy đồi đạo đức mấy ngàn năm
Đưa quốc dân vào chia rẽ-thù hằn
Và kiềm tỏa đường tương lai dân tộc
Mất Hoàng Sa, rồi mất đến Trường Sa
Mất Biển Đông, Bản Giốc, rồi những nơi trọng yếu của nước nhà
Đảng biết rõ, nhưng làm ngơ tất cả
Như mệnh trời muốn thử thách người Nam
Mà Đảng vẫn huênh hoang nào “thắng lợi vẻ vang”
Nào “thời đại Hồ Chí Minh”, nào “dân giàu nước mạnh”
Còn dân đen thì đói khổ, nghèo nàn
Những ủy ban, hội đồng… đều mang mác “nhân dân”
Chỉ kho bạc là của riêng “nhà nước”
Bao đời Tổng Bí thư từ Chinh, Duẩn, Linh, Mười…
Bao sai lầm mà Đảng chẳng nên người
Sợi kinh nghiệm rút kiếp nào cho hết
Cứ chết dần trong mơ ước tàn phai
Trong căn bệnh ung thư hay tai nạn giao thông… rồi sẽ đến một mai
“Chết từ từ” để giết nòi giống Việt
Và viết chung ngôn ngữ với một đảng đê hèn
Hít thở bầu khí quyển màu đen
Bóp nghẹt Tự Do ở dưới triều Cộng Sản
Nhưng tôi là một người Việt Tự Do
Trong tim tôi là lý tưởng Quốc Gia
Và chính nghĩa là chủ trương dân tộc
Và những người yêu Nước của hôm nay
Đã dấn thân vào những chốn đọa đày
Vẫn khí khái cất cao lời tranh đấu
“Yêu đồng bào” từ giòng máu Việt Nam
Chúng ta là con cháu xứ Văn Lang
Và thề quyết làm sáng danh Hồng-Lạc
Hãy đứng lên vì non nước lầm than
Diệt bá quyền, lật đổ lũ tham tàn
Cho không thẹn với hồn thiêng sông núi
Triệu tấm lòng vì đất nước-quê hương
Sẽ noi gương anh dũng của Trưng Vương
Mang ý chí Diên Hồng xây đắp nền Cộng Hòa tự chủ.

















