Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc (Trang 20)

Category Archives: Quê Hương và Tổ Quốc

Phỏng Vấn Người Tù Kiên Giang Nguyễn Hữu Cầu từ Saigon—Dương Phục

Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên Houston chuẩn bị Vòng Hoa Truy Điệu—Nguyễn Tài Ánh K20

Kính thưa quý NT, NĐ, quý chị PNLV, Đ/TTNĐH.

Theo như ước hẹn, chiều nay 30/3 lúc 2g các chị PNLV đã tụ họp tại nhà CSVSQ Nguyễn Tài Ánh để kết 31 vòng hoa truy điệu cho 31 Khóa trong đêm Truy Điệu ngoài trời thứ sáu 4th July tại Đài Tưởng Niệm chiến sĩ Việt Mỹ đường Bellaire.

Nhìn các chị đến, làm việc, vui cười trong khung cảnh tươi vui đoàn kết một lòng ” Tất cả cho Đại Hội VB 19 “, thú thật trong cương vị TBTC/ĐH 19 tôi vô cùng mừng, tự hào và vững tin ĐH/19 sẽ thành công theo đúng ước vọng của mọi người. Tôi cũng chỉ biết post lên các hình ảnh chụp được trong buổi làm việc của các chị để thay thế cho phần tường trình mà tôi không đủ khả năng để thực hiện.

Trong buổi này, NĐ Nguyễn Đức Lâm K29 mang đến mô hình 1 CSVSQ trình kiếm sẽ được dùng trang trí cho ngày ĐH. Nhìn hình người CSVSQ cầm kiếm giữa các bông hoa thật và giả, tôi nói đùa: Gươm lạc giữa rừng hoa. Mà quả như vậy, những tấm hình rực rỡ, mầu sắc tươi vui trông đẹp quá. Tôi sẽ chọn tấm nào đẹp nhất thử phóng lớn xem sao.

Thay mặt BTC/ĐH 19 tôi xin cám ơn quý chị PNLV và quý anh tháp tùng.

Sau đây xin mời quý vị xem hình ảnh chụp được.

13524641873_5d932f28ca_c

13524405755_ea0dc1788d_c

13524418895_fc28aec716_c

13524523325_9e584d8d93_c

13524699013_b6b3f54e8b_c

13524715003_23d3e8bf41_c

13524721815_109ee9ec06_c

13524751445_ea6aea8e59_c

13524796013_c46992785e_c

13524805585_1293035abe_c

13524873353_fae8aa59fd_c

13524874905_7de8c6f7bc_c

13524882514_42192424a9_c

13525212654_81cc32a743_b

Vài Hỏi & Đáp về Ẩm Thực & Lệ Phí Ghi Danh tại Đại Hội Võ Bị XIX—Nguyễn Xuân Thắng K25

Kính thưa quý N/T và các bạn,

Với mục đích thông tin và liên lạc cho Đại Hội 19 được nhanh chóng và hiệu quả hơn, kể từ hôm nay, HỘP THƯ ĐH19 sẽ nhận lãnh trách nhiệm nhận và trả lời tất cả các thắc mắc và câu hỏi của quý N/T và các bạn có liên quan đến việc tổ chức, yểm trợ cũng như tham gia Đại Hội 19.

Sau đây là một số thắc mắc về vấn đề ẩm thực và lệ phí ghi danh, chúng tôi xin được trả lời chung như sau:

1- Q. Thành viên tham dự ĐH 19 có bắt buộc phải tham gia tất cả các mục ẩm thực do BTC đưa ra hay không ?

A. Thành viên tham dự Đại Hội KHÔNG BẮT BUỘC phải tham gia toàn thể chương trình cũng như các mục ẩm thực do BTC đưa ra.

2- Q. Nếu không bắt buộc thì BTC cho biết chi phí ẩm thực từng phần như thế nào?

A. Theo hợp đồng giữa BTC và Khách sạn Hilton, để giảm giá tiền mướn phòng họp, phòng ngủ cũng như tăng thêm phần trang trọng cho Đại Hội, BTC đã quyết định đặt phần ăn sáng và trưa cho tất cả CSVSQ + ĐPNLV + TTNĐH tham dự ĐH19 qua dịch vụ của Khách Sạn. Do đó BTC có chiết tính 2 phần chi phí sau đây:

– Ăn sáng + Trưa + Đêm Dạ Tiệc = $100.00/người/2 ngày ĐH (+ Đêm Truy Điệu)

– Đêm Dạ Tiệc (only) = $50.00

Riêng các trường hợp đặc biệt của một số các thành viên không muốn ăn sáng hoặc ăn trưa hoặc cả hai hoặc chưa quyết định, BTC xin quý vị đó chỉ yểm trợ $50.00 tiền chi phí cho buổi Dạ Tiệc mà thôi.

BTC quan niệm chỉ có SỰ THAM DỰ ĐẠI HỘI của tất cả CSVSQ và gia đình mới là CẦN THIẾT và QUAN TRỌNG. Nên xin quý N/T và các bạn đừng ngần ngại – Xin Quý N/T và các bạn hãy ghi danh tham dự ĐH thật đông. Còn những phần khác, BTC chúng tôi sẽ lo liệu.

3- Q. Bản chiết tính không thấy nói đến người vợ đi cùng chồng thì hai ngày ĐH đó người vợ ăn sáng và trưa ở đâu?

A. Theo chương trình ĐH19 đã thông báo, tham dự ĐH19 gồm 3 thành phần: CSVSQ + Đoàn PNLV và TTNĐH. Do đó, tất cả các sinh hoạt của 2 ngày ĐH, Đêm Dạ Tiệc và Đêm Truy Điệu đều có mặt chung của 3 thành phần này; Ngoại trừ chiều Chủ Nhật bầu cử: Đoàn PNLV và các cháu TTNĐH có phòng họp để sinh hoạt riêng.

4- Q. Có tiệm ăn VN nào bên cạnh Hotel hay không?

A. Khách sạn Hilton Garden Inn toạ lạc tại góc đường Bellaire Blvd và Sam Houston Parkway nơi trung tâm thương mại của người Á Đông. Xung quanh có đầy đủ hàng quán Việt Nam, Trung Hoa, Mỹ , Mễ Tây Cơ, Đại Hàn, Nhật Bản… Quý vị có thể đi bộ để shopping hay ăn uống thoải mái mà không cần xe hơi.

Trên đây là những giải thích theo sự hiểu biết của chúng tôi. Nếu quý N/T và các bạn thấy chưa rõ ràng hay còn câu hỏi hay cần sự giúp đỡ như ghi danh ĐH, Du ngoạn, Hotel, đưa đón phi trường, tham gia văn nghệ .v.v.. xin vui lòng liên lạc với Hộp Thư ĐH19 chúng tôi tại: dalat25@yahoo.com hay Tel. 281-639-0157. Hoặc thăm viếng Trang Nhà của Đại Hội 19 sau đây:
13336834245_6346af9c90_n

Trân trọng,
CSVSQ Nguyễn Xuân Thắng K25
HỘP THƯ ĐH19
1990167544

MỘT VÀI HÌNH ẢNH SINH HOẠT CHUẨN BỊ ĐẠI HỘI 19 CỦA ĐOÀN PHỤ NỮ LÂM VIÊN HOUSTON
PNLV10

PNLV1

PNLV2

PNLV3

PNLV4

PNLV5

PNLV6

PNLV7

PNLV8

PNLV9

Tù Cải Tạo: Tội ác chống nhân loại của Cộng sản VN—Đỗ Ngọc Uyển

Sau khi chiếm được chính quyền tại Miền Bắc Việt Nam vào năm 1954, Hồ Chí Minh đã bê nguyên cái mô hình “hoc tập cải tạo” của Mao Trạch Đông từ Trung Cộng vào Miền Bắc Việt Nam. Đây là một kế hoạch nằm trong chính sách giết người có chủ đích, có tính toán dưới cái chiêu bài giả hiệu là “cải tạo” những người chống đối chủ nghĩa xã hội để trở thành công dân của nước xã hội chủ nghĩa. Với kế hoạch “cải tạo giết người” này, Hồ Chí Minh đã giết và thủ tiêu 850,000 người dân Miền Bắc trong những cái gọi là “trại học tập cải tạo.”

Sau ngày 30-4-1975, lũ Việt gian cộng sản cũng tiếp tục kế hoạch giết người này, và chúng đã giết và thủ tiêu 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia trong 150 “trại cải tạo” của chúng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

“Học Tập Cải Tạo” Bắt Đầu tại Miền Bắc Việt Nam
Để xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tiêu diệt tất cả những thành phần chống đối bằng những kế hoạch khủng bố sắt máu như: Rèn Cán Chỉnh Quân, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Cải Cách Ruộng Đất, và đàn áp những phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Trăm Hoa Đua Nở… Số nạn nhân của những vụ khủng bố này không ai biết là bao nhiêu, nhưng có thể ước tính là trên một triệu người, bởi vì chỉ riêng vụ gọi là Cải Cách Ruộng Đất đã có 700,000 nạn nhân. Nói chung, cho tới đầu năm 1960 toàn thể xã hội Miền Bắc đã bị “cào bằng,” không còn giai cấp (social class). Các giai cấp trí, phú, địa, hào đã bị đào tận gốc, trốc tận rễ. Không ai có quyền tư hữu và mọi người đều nghèo khổ, đói rách như nhau. Mỗi năm, mỗi người được phát 2 thước vải thô Nam Định chỉ có thể may được một cái quần hay một cái áo, và hàng tháng được phát 15kg gạo, 200gr đường… Chưa hết, với chủ trương tuyệt diệt những thành phần chống đối, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho cái quốc hội bù nhìn “ban hành” một nghị quyết về “học tập cải tạo.” Đây là một mẻ lưới “vĩ đại” cuối cùng nhằm vét hết những thành phần có thể gây cản trở cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của y. Các trại “cải tạo” của Hồ Chí Minh được rập theo đúng khuôn mẫu các trại “lao cải” (laogai hay laojiao) của Mao Trạch Đông. . . Theo lệnh của Hồ, quốc hội cộng sản đã “ban hành” một Nghị Quyết (Resolution) về “học tập cải tạo” mang số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961. Căn cứ vào nghị quyết này, hội đồng chính phủ đã “đẻ” ra cái Thông Tư (General Circular) số 121-CP ngày 8-9-1961 để áp dụng trong toàn nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Những nạn nhân bị chi phối bởi cái nghị quyết trên gồm những thành phần sau đây:

1. Tất cả những gián điệp nguy hiểm, những biệt động; tất cả những quân nhân và viên chức hành chánh của chính quyền quốc gia trước đây.
2. Tất cả những nhân vật nòng cốt của các tổ chức và đảng phái đối lập.
3. Tất cả những thành phần ngoan cố thuộc giai cấp bóc lột và những kẻ chống phá cách mạng.
4. Tất cả những kẻ chống phá cách mạng đã bị tù và hết hạn tù nhưng không chịu cải tạo.
Bốn thành phần trên đây đều có một đặc điểm chung mà cộng sản gọi là “những thành phần ngoan cố, chống phá cách mạng.” (obstinate counter-revolutionary elements). Thời gian “cải tạo” được ấn định là 3 năm, nhưng sau 3 năm mà chưa “tiến bộ” thì “cải tạo” thêm 3 năm nữa và cứ như thế tiếp tục tăng thêm 3 năm nữa… cho đến khi nào “học tập tốt, cải tạo tốt” thì về, thực tế là vô thời hạn. Ngoài Hồ Chí Minh và những tên đồng đảng ra, không ai biết được số nạn nhân bị đưa đi “cải tạo” là bao nhiêu; nhưng có thể ước tính là nhiều triệu người, căn cứ vào con số nạn nhân chết trong các “trại cải tạo” là 850,000 người do Tổ Chức Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (The Victims of Communism Memorial Foundation) đưa ra: (…When Ho Chi Minh sent 850,000 Vietnamese to their graves in reeducation camps …)

“Học Tập Cải Tạo” tại Miền Nam Việt Nam
Cộng sản ước tính rằng tại Miền Nam có 1,300,000 người đã tham gia vào chính quyền Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và mỗi gia đình có 5 người; như vậy là có 6,500,000 người có nợ máu với chúng. Những người nào phục vụ trong quân đội hay trong chính quyền thì phải đi “cải tạo” và những thành phần còn lại trong gia đình thì phải đi những “khu kinh tế mới;” cũng là một cách đưa đi đầy ải tại những vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh. Đây là một kế hoạch “tắm máu trắng” đã được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của của tập đoàn Việt gian cộng sản.

Một tháng sau khi xâm chiếm được Miền Nam, lũ bán nước cộng sản áp dụng Nghị Quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 và Thông Tư số 121-CP ngày 8-9-1961 của chúng để đưa một triệu quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia chống cộng đi “học tập cải tạo,” thưc chất là đưa đi tù để trả thù (revenge). Đây là cung cách hành xử man rợ của thời trung cổ. Và bằng lối hành xử dã man, rừng rú này, cộng sản đã phạm 5 trong số 11 Tội Ác chống Nhân Loại [1] (Crimes against Humanity) theo luật pháp quốc tế được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) như sau:

Tội ác thứ 1
Tội cầm tù hay tước đoạt tự do thân thể một cách nghiêm trọng, vi phạm những điều luật căn bản của luật pháp quốc tế (Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law)

Những người bị cộng sản cầm tù (imprisonment) sau ngày 30-4-1975 là những người bị cộng sản trả thù vì lý do chống cộng tức lý do chính trị. Cộng sản không thể mang những người này – công dân của một một quốc gia độc lập đã bị Việt gian cộng sản, tay sai của Quốc Tế 3, xâm chiếm bằng vũ lực (aggression) một cách phi pháp – ra toà án để kết tội. Cộng sản nguỵ biện một cách láo xược rằng những người này là những tội phạm chiến tranh (war criminals) theo điều 3 của đạo luật về tội chống phá cách mạng ban hành ngày 30-9-1967 của chúng (article 3 of the 30 October 1967 law on counter-revolutionary crimes) và rằng nếu mang ra tòa án xét xử thì những người này có thể bị kết án từ 20 năm tù đến chung thân hay tử hình; nhưng vì chính sách “khoan hồng” và sự “chiếu cố” của đảng nên những người này được đưa đi “học tập cải tạo” thay vì đưa ra toà án xét xử. Đây là một sự nguỵ biện trơ trẽn và lếu láo. Luật rừng rú của đảng cộng sản không có một chút gì gọi là công lý của thời đại văn minh mà chỉ là một công cụ man rợ của thời trung cổ để khủng bố người dân Miền Bắc dưới sự thống trị của chúng, và không thể mang ra áp dụng cho công dân của một quốc gia văn minh như VNCH được.

Tóm lại, giam cầm người không chính thức kết án, không xét xử (imprisonment without formal charge or trial) là vi phạm nhân quyền và là Tội Ác chống Loài Người.

Tội ác thứ 2
Tội tra tấn, hành hạ (Torture) Đối với cộng sản, các quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà và những người quốc gia chống cộng là kẻ thù không đội trời chung của chúng. Do đó, một khi đã sa cơ rơi vào tay chúng là dịp để chúng trả thù bằng tra tấn và hành hạ. Mục đích trả thù của chúng là nhằm tiêu diệt hết khả năng chống cự của cả thể chất lẫn tinh thần của người tù. Sau đây là vài đòn thù tiêu biểu:

a. Hành hạ bằng cách bỏ đói – Đây là một đòn thù thâm độc nhằm tiêu diệt ý chí của người tù về lâu về dài. Người tù bị đói triền miên, không còn nghĩ đến chuyện gì khác ngoài miếng ăn. Quanh năm suốt tháng không một bữa được ăn no; càng ăn càng đói và đói cho tới khi chết. Ngay cả trong giấc ngủ cũng chỉ mơ đến miếng ăn. Bát cơm và miếng thịt là một ước mơ xa vời. Trên nguyên tắc, mỗi người tù được cấp mỗi tháng 12kg gạo. Nhưng thực tế, người tù chỉ được cấp ngô, khoai, sắn, bo bo… tương đương với 12kg gạo mà chúng gọi là “quy ra gạo.” Ngô, khoai, sắn và bo bo mà chúng cho tù ăn là những thứ được cất giữ lâu ngày trong những kho ẩm thấp, bị mục nát, hư hỏng và đầy sâu bọ. Với số lượng và phẩm chất lương thực như thế, tính ra chỉ cung cấp đươc khoảng từ 600 đến 800 calories một ngày, không đủ để sống cầm hơi, lại phải làm công việc khổ sai nặng nhọc cho nên đã có rất nhiều tù nhân chết vì đói, vì suy dinh dưỡng. Sau đây là một ví dụ: vào cuối năm 1978, tại trại 2 thuộc liên trại 1 Hoàng Liên Sơn có một anh bạn tù vì “lao động” nặng nhọc và suy dinh dưỡng đang nằm chờ chết. Anh em bạn tù thấy vậy bèn hỏi xem anh ta có muốn nhắn gì về cho vợ con hay người thân không? Anh bạn tù sắp chết nói rằng anh ta chỉ muốn được ăn no một bữa khoai mì luộc! Nghe vậy, có một anh tù, vì thương bạn, đã mạo hiểm chui qua hàng rào, đào trộm vài củ khoai mì do chính tù trồng, mang về luộc, rồi mang lên cho bạn thì anh bạn đã chết. Thỉnh thoảng tù cũng được cho ăn cơm nhưng lại độn hai phần sắn hay khoai với một phần gạo, và mỗi bữa ăn, mỗi người được phân phát một chén nhỏ với nước muối. Đến mùa “thu hoạch” ngô và khoai mì do tù trồng, anh em tù cũng được cấp phát ngô và khoai mì luộc. Mỗi bữa ăn được phân phát hai cái bắp ngô, chỉ đếm được chừng 1000 hạt, và khoai mì thì được cấp phát hai khúc, mỗi khúc ngắn độ một gang tay. Còn thịt thì chỉ được cấp phát vào những dịp đặc biệt như ngày tết Nguyên Đán, ngày lễ độc lập của chúng, ngày sinh nhật “Bác”của chúng; mỗi phần ăn được khoảng 100gr thịt heo hay thịt trâu.

Bỏ đói tù là một thủ đoạn tra tấn/hành hạ (torture) đê tiện, có tính toán của cộng sản. Ngoài việc huỷ diệt ý chí của người tù, sự bỏ đói còn nhằm huỷ hoại thể chất của người tù để không còn sức đề kháng chống lại bệnh tật. Do đó, đã có rất nhiều anh em mắc những chứng bệnh do suy dinh dưỡng như lao phổi, kiệt sức, phù thũng, kiết lỵ, ghẻ lở…, và có rất nhiều cái chết rất đau lòng chỉ vì đói, vì suy dinh dưỡng, vì thiếu thuốc men và không được chữa trị…

b. Hành hạ thể xác – Cộng sản vẽ ra khẩu hiệu “lao động là vinh quang.” Chúng bắt người tù phải làm công việc khổ sai nặng nhọc như cuốc đất, đào đất, làm đường, đào ao, chặt cây, đốn gỗ, cưa xẻ, làm gạch… Người tù đã thiếu ăn, kiệt sức; chúng lại đặt ra những chỉ tiêu cao để người tù không thể đạt được, và chúng kiếm cớ để hành hạ thể xác:

•Cắt tiêu chuẩn lương thực từ 12kg xuống còn 9kg và nhốt vào conex, khoá chặt. Người tù bị nhốt như vậy có khi hàng tháng. Với sức nóng mùa Hè và khí lạnh mùa Đông không thể chịu đựng nổi, người tù bị chết vì sức nóng và chết vì rét.
•Cắt tiêu chuẩn lương thực xuống còn 9kg; nhốt trong sà lim; hai chân bị cùm siết chặt đến chảy máu; da thịt bị nhiễm trùng, lở loét; người tù bị nhốt như vậy trong nhiều tháng trời và khi được thả ra chỉ còn da bọc xương, đi không nổi phải bò.
•Chúng cột người tù vào một cây cột và bắt người tù phải đứng thẳng hoặc nằm hay ngồi cả tuần lễ có khi lâu hơn.
•Chúng trói người tù theo kiểu cánh bướm “butterfly style or contorted position” bằng cách bắt một cánh tay bắt chéo qua vai và cánh tay kia bắt qua sau lưng và cột chặt hai ngón tay cái với nhau. Chúng cột người tù trong tư thế bị trói như vậy vào một cái cột và bắt đứng trong nhiều tiếng đồng hồ. Người tù chịu không nổi, bị ngất xỉu.
Trên đây chỉ là vài cách hành hạ (torture) thể xác tiêu biểu. Cộng sản còn nhiêu kiểu hành hạ độc ác khác như nhốt người tù vào chuồng cọp hay bỏ xuống những giếng nước khô cạn, bỏ hoang lâu ngày, đầy những ổ rắn rết…

c. Tra tấn tinh thần – Mục đích của cộng sản là làm cho tinh thần người tù luôn luôn bị căng thẳng để gây tổn thương trầm trọng cho sức khoẻ thể chất và tinh thần (causing serious injury to physical and mental health) bằng hai phương pháp sau đây:

– Nhồi sọ chính trị (Political indoctrination) – Để mở đầu kế hoạch “cải tạo,” cộng sản bắt người tù phải học 9 bài chính trị. Mỗi bài phải học từ một tuần lễ đến 10 ngày gồm: lên lớp, thảo luận trong tổ, trong đội… Cuối mỗi bài học, người tù phải viết một bản gọi là “thâu hoạch” để nộp cho chúng. Nội dung những bài học gọi là chính trị này chỉ là những bài tuyên truyền rẻ tiền như: Mỹ là tên đầu sỏ đế quốc, là con bạch tuộc có hai vòi: một vòi hút máu nhân dân Mỹ và một vòi hút máu nhân dân nước ngoài. Ta đánh Mỹ cũng là giải phóng cho nhân dân Mỹ thoát khỏi sự bóc lột của đế quốc Mỹ. Đế quốc Mỹ là con hổ giấy. Mỹ giầu nhưng không mạnh. Ta nghèo nhưng ta mạnh.

Dưới sự lãnh đạo của đảng quang vinh, ta đã đánh thắng tên đế quốc sừng sỏ nhất thời đại. Nguỵ quân, nguỵ quyền là tay sai của đế quốc Mỹ, có nợ máu với nhân dân và là tội phạm chiến tranh…Bài học cuối cùng là bài “lao động là vinh quang” để chuẩn bị bắt người tù làm những việc khổ sai nặng nhọc.

Những bài tuyên truyền rẻ tiền và ấu trĩ trên đây chỉ có thể áp dụng cho người dân bị bưng bít và thiếu học ở Miền Bắc đã bị cộng sản u mê hoá chứ không có tác dụng gì đối với những người đã sống dưới chính thể tự do tại Miền Nam. Tuy nhiên, cái không khí khủng bố của trại tù đã làm cho một số anh em hoang mang và căng thẳng tinh thần. Do đó, đã có một số người tự sát và trốn trại. Những người trốn trại chẳng may bị bắt lại đã bị chúng mang ra toà án nhân dân của chúng kết tội và bắn chết ngay tại chỗ. Đây là đòn khủng bố tinh thần phủ đầu của cộng sản theo kiểu “sát nhất nhân, vạn nhân cụ.”

– Tự phê (Confession) – Tiếp theo phần “học tập chính trị” là phần “tự phê.” Người tù phải viết một bản tiểu sử kể từ khi còn nhỏ cho tới khi vào tù; phải kê khai thành phần giai cấp của dòng họ từ ba đời trước cho đến con cháu sau này; phải kê khai những việc làm trong quá khứ và phải kết tội những việc làm đó là gian ác cũng như phải tự kết tội mình có nợ máu với nhân dân. Người phát thư cũng bị kết tội là đã chuyển thư tín giúp cho bộ máy kìm kẹp của nguỵ quân, nguỵ quyền. Các vị tuyên uý trong quân đội bị kết tội là đã nâng cao tinh thần chiến đấu của nguỵ quân. Các bác sĩ quân y thì bị kết tội là đã chữa trị cho các thương, bệnh binh để mau chóng phục hồi sức chiến đấu của nguỵ quân…Tóm lại, tất cả nguỵ quân, nguỵ quyền đều là những thành phần ác ôn, có nợ máu với nhân dân và phải thành khẩn khai báo những tội ác cũng như phải thành khẩn lao động sản xuất để sớm được đảng cứu xét cho về đứng “trong lòng dân tộc.” Trong suốt thòi gian bị tù, người tù phải liên tiếp viết những bản tự phê; phải moi óc tìm và “phịa” ra những “tội ác” để tự gán và kết tội mình, và nếu bản viết lần sau thiếu vài “tội ác” so với bản viết lần trước, anh sẽ bị kết tội là vẫn còn ngoan cố và thời gian học tập sẽ còn lâu dài.

“Tự phê” một đòn tra tấn tinh thần rất ác ôn. Nó làm cho người tù bị căng thẳng tinh thần triền miên kể cả trong giấc ngủ và đã có một số anh em gần như phát điên, la hét, nói năng lảm nhảm và có người đã tự vẫn…

Tội ác thứ 3 – Tội giết người (Murder)
Những anh em trốn trại bị bắt lại đã bị cộng sản mang ra xử tại toà án nhân dân của chúng và bị bắn chết ngay tại chỗ. Đây là tội ác giết người (murder) bởi vì trên danh nghĩa cũng như theo pháp lý thì những người này chỉ là những người đi học tập. Và khi một người đi học tập mà trốn trại học tập là chuyện rất thường tình, không có tội lỗi gì đối với pháp luật. Nhưng đối với bọn vô nhân tính cộng sản thì không thể nói chuyện lý lẽ với chúng được. Vào một ngày cuối năm 1975, tại trại giam Suối Máu, Biên Hoà, chúng mang hai anh sĩ quan cấp uý trốn trại bị bắt lại ra xử tại toà án nhân dân rừng rú của chúng được thiết lập ngay trong trại giam. Trước khi mang ra xử, chúng đã tra tấn hai anh này đến mềm người, rũ rượi, xụi lơ, không còn biết gì nữa. Ngồi trên ghế xử, tên “chánh án” cùng ba tên đồng đảng giết người mặt sắt đen sì, răng đen mã tấu, dép râu, nón cối, ngập ngọng giọng Bắc Kỳ 75 đọc xong “bản án giết người” đã viết sẵn và ngay lập tức chúng mang hai anh ra bắn chết cạnh hai cái hố đã đào sẵn. Buổi trưa hôm đó bầu trời Biên Hoà có nắng đẹp, nhưng khi tiếng súng giết người nổ vang lên, mây đen bỗng kéo đến phủ tối cả bầu trời và đổ xuống những hạt mưa nặng hạt. Tất cả anh em trong trại giam lặng lẽ cúi đầu tiễn đưa hai đồng đội sa cơ, thất thế.

Ngoài cách giết người rừng rú trên đây, cộng sản còn chủ tâm giết người bằng nhiều cách khác như cho ăn đói và bắt làm khổ sai nặng nhọc để chết dần chết mòn; để cho chết bệnh, không cung cấp thuốc men, không chữa trị; bắt làm những việc nguy hiểm chết người như gỡ mìn bằng tay không…

Tội ác thứ 4 – Tội bắt làm nô lệ (Enslavement)
Người tù phải sản xuất lương thực như trồng sắn, trồng ngô, trồng khoai, trồng rau…để tự nuôi mình; ngoài ra, còn phải sản xuất hàng hoá, sản phẩm để bán ra ngoài thị trường. Tại các trại tù trong vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn, người tù phải đốn gỗ, cưa xẻ, chặt giang, chặt nứa, chặt vầu… để trại tù mang đi bán. Tai trại tù Hà Sơn Bình có những đội cưa xẻ, đội mộc, đội gạch để sản xuất bàn, ghế, giường, tủ và gạch để bán. Tại trại tù Z30D, Hàm Tân, người tù phải trồng mía, sản xuất đường; mỗi tháng bán hàng tấn đường ra ngoài thị trường… Cộng sản bắt người tù phải làm công việc như người nô lệ thời trung cổ khi phe thắng trận bắt người bên phe thua trận phải làm nô lệ lao động (slave labour) thay vì mang đi giết. Đây là sự vi phạm nhân quyền một cách man rợ của thời trung cổ và là một Tội Ác chống Loài Người.

Tội ác thứ 5 – Tội thủ tiêu mất tích người (Enforced disappearance of persons)
Theo các tài liệu nghiên cứu có giá trị hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu thì số nạn nhân chết trong các “trại cải tạo” là 165,000 người. Hiện nay, ngoài cộng sản ra, không ai biết nơi chôn cất các nạn nhân này. Suốt 33 năm nay, chúng không cho thân nhân cải táng để mang hài cốt về quê quán. Đây là đòn thù vô nhân đạo đối với những nạn nhân đã nằm xuống, và là hành vi độc ác (inhumane act) gây đau khổ tinh thần triền miên, suốt đời cho thân nhân các nạn nhân. Chỉ có một số rất ít, không đáng kể, thân nhân các nạn nhân đã chạy chọt, tìm được cách cải táng người thân của họ; còn tuyệt đại đa số 165,000 người tù chính trị được coi như đã bị thủ tiêu mất tích. Đây là chủ tâm trả thù dã man của cộng sản và là một Tội Ác chống Nhân Loại.

Mới đây nhất, trong cuộc họp với tổng thống George W. Bush tai Bạch Cung ngày 24-6-2008, Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng hứa sẽ tiếp tục tìm kiếm và trao cho Hoa Kỳ hài cốt những quân nhân Mỹ mất tích (MIA) trong cuộc chiến VN. Trong khi đó quân cộng sản giết người đang chôn giấu để thủ tiêu mất tích hài cốt của 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia đã bị chúng sát hại, sau ngày 30-4-1975, trong 150 “trại tù cải tạo” của chúng trên toàn cõi VN. Điều này chứng tỏ rằng lũ Việt gian cộng sản tiếp tục nuôi dưỡng hận thù đối với người Việt quốc gia, ngay cả đối với những người đã nằm xuống, trong khi miệng chúng luôn luôn hô hào hoà hợp hoà giải. “Đừng nghe những gì cộng sản nói; hãy nhìn kỹ những gì chúng làm.”

Ngoài 5 tội ác chống loài người kể trên, vào năm 1980, cộng sản đã có kế hoạch đưa gia đình những người tù từ Miền Nam để cùng với những thân nhân của họ đang bị tù tại Miền Bắc đi “định cư” tại những “khu kinh tế mới” ở Miền Bắc mà thí điểm đầu tiên là khu Thanh Phong/Thanh Cầm, một khu rừng thiêng nước độc tại Miền Bắc, nơi đang có những “trại cải tạo.” Ý đồ của âm mưu thâm hiểm này là đưa đi đầy chung thân, khổ sai, biệt xứ để giết dần, giết mòn tất cả những người tù cùng với gia đình họ. Đây là một kế hoạch diệt chủng (genocide) được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của tập đoàn Việt gian cộng sản. Nhưng trời bất dung gian, chúng không thực hiện được âm mưu diệt chủng này vì cục diện thế giới thay đổi dẫn đến sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, và chúng đã phải thả những nạn nhân của chúng ra để họ đi định cư tại Hoa Kỳ với tư cách là những người tỵ nạn chính trị (political refugees).

Cái nghị quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 của tên đại Việt gian bán nước Hồ Chí Minh – cho tới ngày hôm nay vẫn còn hiệu lực – là một dụng cụ đàn áp thâm hiểm nhất để chống lại nhân quyền (the most repressive tool against human rights). Suốt nửa thế kỷ vừa qua, bằng cái nghị quyết phản động này, lũ bán nước cộng sản đã và đang tiếp tục đưa hàng triệu, triệu người Việt Nam đi “học tập cải tạo” mà không qua một thủ tục pháp lý nào cả. Với 5 Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity) như đã trình bày trên đây, bọn Việt gian cộng sản phải bị mang ra xét xử tại Toà Án Hình Sự Quốc Tế [2] (International Criminal Court).

Số Nạn Nhân Bị Giam Cầm, Số Nạn Nhân Chết và Số “Trại Tù Cải Tạo”
Theo sự ước tính của các tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu đã được phổ biến “…According to the published academic studies in the United States and Europe…” thì số nạn nhân và số các “trại tù cải tạo” được ước tính như sau:

•1 triệu nạn nhân đã bị giam giữ không bị chính thức kết tội hay xét xử (without formal charge or trial).
•165,000 nạn nhân chết tại các “trại tù cải tạo.”
•Có ít nhất 150 “trại tù cải tạo” sau khi Sàigòn sụp đổ.

Thời Gian “Cải Tạo”
Có những nạn nhân đã bị giam giữ tới 17 năm, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đại đa số nạn nhân bị giam giữ từ 3 tới 10 năm, và tính trung bình mỗi người phải trải qua 5 trại giam. “…according to the U.S. Department of State, most term ranging from three to 10 years…” Nếu lấy con số trung bình là 7 năm tù cho mỗi người thì số năm tù của một triệu nạn nhân là 7 triệu năm. Đây là một tội ác lịch sử không tiền khoáng hậu của bọn Việt gian cộng sản; vượt xa cả tội ác một ngàn năm của bọn giặc Tầu và một trăm năm bon giặc Tây cộng lại.

Món Nợ của Hoa Kỳ Đối Với Đồng Minh.
Chính phủ Hoa Kỳ công nhận những người bị giam cầm (imprisonment) này là những ngưòi tù chính trị, và đã điều đình với phỉ quyền cộng sản để cho những người này được thả ra để cùng với gia đình đi đinh cư tỵ nạn tại Mỹ ưu tiên theo Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) đối với những người bị giam cầm từ 3 năm trở lên. “…The U.S. government considers reeducation detainees to be political prisoners. In 1989 the Reagan administration entered into an agreement with the Vietnamese government, pursuant to which Vietnam would free all former AVN soldiers and officials held in reeducation camps and allow them to immigrate to the United States… that gives priority to those who spent at least three years in reeducation…”

Hoa Kỳ coi việc đưa những người tù chính trị này sang định cư tỵ nạn tại Mỹ là để trả một món nợ quốc gia đối với đồng minh trong thời chiến. Những người này đã bị giam cầm vì đã cộng tác mật thiết với Hoa Kỳ trong cuộc chiến. “… Resettling this group will be a step toward closing out this nation’s debt to its Indochina wartime allies. “These people have been detained because of their closed association with us during the war,” said Robert Funseth, the senior deputy assistance secretary of state for refugee affairs who spent most of this decade negotiating their resettlement…”

Phải nói môt cách chính sác rằng những người tù chính trị Việt Nam đi định cư tỵ nạn tại Mỹ theo một chương trình ra đi đặc biệt (a special program) nằm trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) chứ không phải theo chương trình HO (Humanitarian Operation) tưởng tượng nào cả. Cái gọi là chương trình HO chỉ là sự suy diễn từ các con số thứ tự của các danh sách những người tù chính trị đã được cộng sản trao cho Hoa Kỳ để phỏng vấn đi tỵ nạn tại Mỹ theo thứ tự: H.01, H.02…. H.10, H.11, H.12…

Cộng sản và tay sai có thể lợi dụng cái danh xưng “HO” không Chính không Thực và Lập Lờ này cho những âm mưu đen tối của chúng. Chúng có thể tuyên truyền lếu láo rằng: “Không những đảng đã tha chết cho bọn tội phạm chiến tranh này, mà còn tổ chức cả một “Chiến Dịch Nhân Đạo/HO” để cho đi định cư tại ngoại quốc. Ra đến ngoại quốc đã không biết ơn lại còn đi đấu tranh, biểu tình chống lại đảng…” Sự kiện tù chính trị là một sự kiện có tính chính trị và lịch sử; phải xử dụng Danh cho Chính. Không thể Lộng Giả Thành Chân cái nguỵ danh “HO” để xuyên tạc sự thật lịch.

Học tập cải tạo” là một nguỵ danh để che đậy 5 Tội Ác chống Loài Người (Crimes against Humanity) được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) của bè lũ Việt gian cộng sản đối với quân, dân, cán, chính VNCH đã bị chúng giam cầm (imprisonment) một cách phi pháp sau ngày 30-4-1975. Đây cũng là một tội ác có tính lịch sử của lũ Việt gian cộng sản. Cái nguỵ danh “tù cải tạo/HO” phải được Chính Danh là: Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân của Tội Ác chống Loài Người của Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản. Cũng cần phải nói thêm rằng khi dùng cái danh từ “cải tạo” của cộng sản là mắc mưu chúng bởi vì chúng tuyên bố lếu láo rằng vì các anh có “nợ máu” với nhân dân nên các anh phải đi “cải tạo,” và khi tự gọi mình là “tù cải tạo” tức là tự nhận mình có tội. Cũng như khi tự gọi mình là một “HO”- một cái nguỵ danh đã bị lộng giả thành chân để chỉ một người “tù cải tạo” – là tự từ bỏ cái căn cước người tù chính trị của mình. Cho nên, Chính Danh là vấn đề rất quan trọng cả về chính trị và lịch sử. Dùng Nguỵ Danh để che đậy và bóp méo một sự kiện lịch sử là tội đại gian và có tội đối với lịch sử.

Đỗ Ngọc Uyển – San José, California

Tài liệu tham khảo:
http://en.wikipedia.org/wiki/Reeducation_camp
http://www.ofc.berkeley.edu/~sdenney/Vietnam-Reeducation-Camps-1982
http://www.victimsofcommunism.org/history_communism.php
http://untreaty.un.org/cod/icc/STATUTE/99_corr/cstatute.htm (Rome Statute of International Criminal Court)
http://www.optionaljournal.com/best/?id=110010372″ (The Wall Street Journal, Monday, July 23, 2007 – Best of The Web Today by James Tananto)
http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=953D7103DF936A25 753C1A96F948260&sec= &spon=…(The New York Times, October 15, 1989
– THE NATION; The Next Wave From Vietnam: A new Disability by Seth Mydans)
– U.S Department of State – Fact sheet – Bureau of Population, Refugee and Migration – Washington DC – January 16, 2004
Chú thích :
[1] 11 tội ác chống nhân loại được dự liệu trong Điều 7 của Đạo Luật Rome gồm có: 1- Murder; 2- Extermination ; 3- Enslavement; 4- Deportation or forcible transfer of population; 5- Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law; 6- Torture; 7- Rape, sexual slavery, enforced prostitution, forced pregnancy, enforced sterilization or other form of sexual violence of comparable gravity; 8- Persecution against any identifiable group or collectivity on political, racial, national, ethnic, cultural, religious, gender as defined in paragraph 3, or other grounds that are universally recognized as impermissible under international law in connection with any crime within the jurisdiction of the court; 9- Enforced disappearance of persons; 10- The crime of apartheid; 11- Other inhumane acts of a similar character causing great suffering, or serious injury to body or to mental or physical health;
[2] Toà Án Hình Sự Quốc Tế (International Criminal Court) là toà án độc lập và thường trực được thành lập theo Đạo Luật Rome (The Rome Statute) để điều tra và xét xử 4 loại tội ác sau đây: 1- Crimes against humanity (Tội ác chống nhân loại); 2- The crime of genocide (Tội ác diệt chủng); 3- Crimes of war (Tội ác chiến tranh); 4- Crimes of aggression (tội ác xâm lược).#
1975 – 1980:
– Cướp tài sản của nhân dân bằng cách đánh tư bản mại sản. Mua nhà của dân, rồi in và đổi tiền nhiều lần.
– Bắt nghĩa vụ quân sự thanh niên miền nam, bắt huấn luyện tượng trưng vài tháng rồi dẫn độ qua Campuchia cho bọn Polpot bắn giết từ phía trước và giặc bộ đội chính quy việt nam bắn từ phía sau…với mục đích tiêu trừ thật nhiều thanh niên miền nam, những người đã lớn lên, sống và hiểu biết về chế độ tàn ác cộng sản. Hàng ngàn thanh thiếu niên đã chết tức tưởi và không được thông báo cho gia đình…Đây là chiến dịch giệt chủng tàn độc của bọn việt cộng giải phóng…
– Chuyện một em bé 12 tuổi ăn cắp một con gà…Chính quyền giải phóng miền nam bắt em mang ra sân vận động Đạt Đức ở gần Xóm Mới bắn tử hình để dằn mặt người dân miền nam năm 1975…Với khẩu hiệu “Đảng Liêm Chính và Chuyên Chính Vô Sản”.
– Chương trình kinh tế mới nhằm cướp thêm tài sản của dân trong vùng thành phố. Nhất là những tài sản của gia đình quân nhân VNCH. “Chương trình Lao Động Để Được Nhà Nước Khoan Hồng”.
– Người vượt biên, vượt biển thì chúng ghép cho tội: Những loại người phản quốc / bọn đầu trộm đuôi cướp / đĩ điếm v.v… Nay thì lại đổi giọng là Việt Kiều Yêu Nước / Khúc ruột ngàn dặm v.v.. Xin mời người việt hải ngoại trở về giúp xây dựng đất nước!!??
– Đảng và nhà nước – một lũ ăn cướp biết bao nhiêu là tài sản của nhân dân, dâng Hoàng Sa Trường sa cho giặc / dẫn giặc tàu vào Tây Nguyên qua chương trình khai thác Bauxite và những khu đất rừng cho tàu cộng mượn 50 năm không tính toán!!?? Nước việt nam có khu khai mỏ của tàu (đây là căn cứ của gián điệp tàu cộng do nhóm quân đội trung quốc là những công nhân trá hình đang phát triển những căn cứ / quân khu ngầm ngay trong lòng đất việt!!!, nhạc tàu, gái việt lấy tàu, đẻ con cho tàu…Chính quyền và đảng cộng sản việt nam đang tiếp tay cho Tàu cơ hội phát huy chiến dịch đồng hóa dân việt…
– Phá rừng, khai sông, phá hoại thiên nhiên không tội vạ! Ai đã và đang làm những điều này?
– Hàng trăm ngàn tội ác khác mà không lâu nữa những người cộng sản sẽ phải trả lời dưới ánh sáng của mặt trời và trước toàn thể người dân Việt Nam…
Khốn nạn thay…

Tháng Ba Trên Tỉnh Lộ 7B—Nguyễn Thị Thanh Dương

(Cảm tác theo hình ảnh và bài viết của Phi LoanHoàng Thị Cỏ May)

 

Tháng Ba trên tỉnh lộ 7B,

Đoàn người chạy loạn dài lê thê,

Người mẹ tất tả đôi quang gánh,

Gia tài là những đứa con kia.

 

Thằng anh túm áo mẹ bước theo,

Thằng em ngồi trong thúng thơ ngây,

Chắc nó tưởng trò chơi chốc lát,

Mẹ gánh về nhà như mọi ngày.

 

Theo dòng người mẹ nó bước mau,

Cha nó còn cố thủ dãi dầu?

Người lính tan hàng không đơn vị,

Những ngày cuối cùng anh ở đâu ?

 

Có người di tản từ Pleiku,

Phố núi cao, phố núi sương mù,

Hoa Dã Quỳ vẫn vàng đâu đó,

Nước vẫn trong xanh nước Biển Hồ.

 

Có người di tản từ Kontum,

Đạn bom xé nát rừng cao nguyên,

Người dân ngơ ngác rời thành phố,

Nỗi buồn cao như đỉnh Ngọc Linh.

 

Người ta gọi nhau trong hãi hùng,

Kẻ ngược người xuôi, đường mịt mùng ,

Về Tuy Hòa hay đi Phú Bổn ?

Có nơi nào bình yên hơn không?

 

Tiếng khóc, tiếng súng, tiếng còi xe,

Rợn người như từ ác mộng về,

Bên đường đồ đạc nằm vương vãi,

Người bên người mà vẫn phân ly.

 

Bao quân, dân, cán, chính miền Nam ,

Trên tỉnh lộ này đã hi sinh,

Quân đoàn 2 rút quân, triệt thoái,

16 tháng Ba năm 75.

 

Đường liên tỉnh lộ 7B ơi,

Bao tháng Ba qua, bao ngậm ngùi,

Bốn phương tám hướng đời dâu bể,

Ai có thể quên kỷ niệm này.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương ( March 20, 2013 )

Thư Không Niêm Gửi Bạn—Trần Văn Lương

(Thay lời một vị thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đang kẹt ở VN gửi người bạn cũ ngày xưa đã vượt biên nhưng nay lại viện dẫn đủ mọi lý do để về vui chơi)

Gửi nhờ tập vé số trên tay,
Chống nạng đến đây để gặp mày.
Hụt hẫng thấy mày ngồi giữa quán,
Đang cùng bầy cán bộ vui say.

Không muốn mang tiếng quấy rầy mày
Khi lòng đang thất vọng chua cay,
Nên đành mượn tạm vài trang giấy,
Viết bậy đôi câu gửi tới mày.

Mày hãy cùng tao nhớ lại ngày
Cùng mày trong bóng tối chia tay,
Mày thề rằng nếu Trời cho thoát,
Mày ắt không quên mối hận này.

Từ đó, trong đau đớn dập vùi,
Bọn tao mòn mỏi đợi tin vui.
Ngờ đâu hạnh phúc lùi xa mãi,
Nghĩ đến quê hương lại ngậm ngùi.

Mày trở về chơi đã lắm lần,
Lúc thì viện cớ gặp người thân,
Lúc theo “từ thiện” tìm danh vọng,
Hí hửng vô tròng bọn ác nhân.

Hàng vạn hàng trăm các hội đoàn,
Tranh đua làm thiện thật gian nan.
Hân hoan vì chút hào quang giả,
Họ đã an nhiên giúp bạo tàn.

Mày cũng lần theo đóm múa may,
Hết quà lại cáp phát rền tay.
Tiền Tây, tiền Mỹ xài như rác,
Lầu các thi nhau mọc dẫy đầy.

Mầy biết dân đây được những gì,
Khi đoàn cứu trợ đã ra đi?
Đất đai ngập lụt, nhà tan nát,
Ngơ ngác trên tay một gói mì!

Biết chăng vì những đứa như mày,
Sự thật quê nhà chẳng chịu hay,
Hãnh diện ta đây về “cứu viện”,
Nên bầy quỷ đỏ hiện còn đây.

Mày có biết mày đã tiếp tay,
Nuôi dân cho chúng để rồi nay,
Chúng càng thêm có đầy phương tiện,
Để khiến dân ta mãi đọa đày.
Cả bầy chúng vẫn sống xa hoa
Xuất ngoại đầu tư, sắm sửa nhà,
Con cái tiêu ra hàng bạc triệu,
Đồng tiền đó liệu lấy đâu ra?
Mầy so với chúng được bao lăm,
Tỷ phú tiền Tây chúng cả trăm.
Của cải một thằng trong Bắc phủ,
Thừa nuôi dân sống đủ nhiều năm.

Phải chăng vì cật ấm cơm no,
Mày lại mơ màng chức vị to,
Nên mới trở cờ o bế giặc,
Qua sông ngoảnh mặt với con đò?

Tao xót xa nhìn lũ bạn thân,
Ngày xưa vượt biển lắm gian truân,
Nay khuân tiền bạc về quê cũ,
Góp sức nuôi bè lũ hại dân.

Bạn mình giờ lắm kẻ giàu sang,
Áo gấm xênh xang rộn xóm làng.
Có đứa vênh vang bằng cấp lớn,
Hùa theo lũ ngợm chống Cờ Vàng.

Có thằng may mắn lắm đồng ra,
Thơ thới về đây, bỏ vợ nhà.
Có đứa làm sui gia với giặc,
Ra ngoài trở mặt líu lo ca.

Thấy miệng mày thoa mỡ nói năng,
Lòng tao chua xót chợt hay rằng,
Xuống thuyền mấy đứa đêm hôm đó,
Giờ đã “vinh quy” đủ bấy thằng!

Tao tưởng bao năm ở nước ngoài,
Chúng mày phải biết rõ hơn ai,
Ngày ngày đọc thấy nhiều tin tức,
Sao lại vô tâm được thế này?

Lần cuối cho tao nói một lời:
Nếu còn người trở lại ăn chơi,
Đua đòi danh lợi, buôn “từ thiện”,
Thì chớ mơ chi chuyện vá trời.

Nắng chiều cuốn xác lá trôi,
Bóng đôi nạng gỗ đơn côi ngược dòng.

Trần Văn Lương

Ngày Này 36 Năm Trước—Phi Loan Hoàng Thị Cỏ May


 

Ngày này 36 năm trước21-3-1975

Ngày 21 tháng 3 năm 1975 nguyên gia đình bị Cộng sản bắn chết ở quốc lộ 1, gần đèo Hải Vân đang trên đường di tản.

TẠI BAN MÊ THUỘT

DiTan5

DiTan8

– 2 giờ 20 sáng ngày thứ hai-10 tháng 3 năm 1975, quân Cộng sản bắc việt bắt đầu nã pháo đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly vào các cứ điểm quân sự và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.
– 4 giờ chiều ngày thứ hai-10 tháng 3 năm 1975, quân Cộng sản bắc việt chiếm thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh còn được trấn giữ…
– 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975, thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người”. (Nguyễn Định, BMTNĐCC.) Theo nguồn Quốc Gia Hành Chánh.

DiTan16

TẠI QUẢNG TRỊ

DiTan13

TẠI HUẾ

Ngày 21 tháng 3 năm 1975 nguyên gia đình bị Cộng sản bắn chết ở quốc lộ 1, gần đèo Hải Vân đang trên đường di tản.

Người phụ nữ này 1 mình dẫn mấy đứa con chạy nạn từ Huế đang ngồi trên đèo Hải Vân với nỗi lo âu.

DiTan15

TẠI CỬA THUẬN AN

v42_50329095

DiTan17

Chiếc xà lan Quân vận Vùng 1, di tản Quân & Dân chuyến cuối cùng từ Cửa Thuận An.

 

TẠI ĐÀ NẴNG

Ngày 27-28 tháng 3 năm 1975, người Đà Nẳng chạy trốn Cộng sản.

Ngày 27-3-1975 Chuyến máy bay dân sự đầu tiên của Mỹ mướn đáp xuống phi trường Đà Nẵng để đưa người di tản, nhưng mỗi khi máy bay đáp xuống những hỗn loạn diễn ra dữ dội. Nên các chuyến bay dân sự đó phải đình chỉ.

Sau đó thay đổi bằng 4 máy bay C-130 nhưng hỗn loạn vẫn liên tục nên 4 chiếc này chỉ cất cánh duy nhất được một lần vào ngày 29-3-1975

Ngày 27 tháng 3 năm 1975 tại bến tàu Đà Nẵng.

Cảng Đà Nẵng, trong giờ phút hấp hối. Người dân chạy trốn Cộng sản được câu lên tàu SS Pioneer Contender.

Một Số người dân di tản đả được ngồi yên dưới hầm tàu.

Những ngày cuối tháng 3-1975. Có 6 chiếc xà lan do các tàu kéo từ Vũng Tàu ra Đà Nẵng để đưa người di tản.

Bến tàu Đà Nẵng rất hỗn loạn, nên các chiếc tàu thả neo ngoài xa, dân dùng thuyền bè từ bờ ra tàu tại Đà Nẵng

Mỗi chiếc tàu chở được chừng 10 ngàn người thì nhổ neo về Cam Ranh.

Chiều ngày 28-3-1975, tại bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Những cảnh hỗn loạn xảy ra. Cả chục chiếc thiết vận xa M-113 làm đầu cầu nối ra biển để lên tàu.  Sau đó có nhiều chiếc bị chìm xuống biển và một số binh sĩ biết lội thì còn sống sót, số người không biết lội đã bị chìm dần xuống đáy biển Mỹ Khê.

Tối 28-3-75 bọn Cộng sản pháo kích vô căn cứ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, lửa cháy rực một góc trời.

Chiến Hạm HQ-802 nhổ neo xuôi Nam lúc 11 giờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975.

Và những số người dân khác. cố gắng dùng đủ loại phương tiện để chạy ra khỏi Đà Nẵng. Phải bằng mọi cách để trốn thoát khỏi Cộng sản ngày 28 tháng 3 năm 1975.

Ngày 30 tháng 3 năm 1975 Dân tị nạn từ Huế, Đà Nẵng và các thành phố khác chen chúc chạy trốn Cộng sản trên quốc lộ 1 hướng vô Nam.

 

TẠI TUY HÒA, PHÚ YÊN

Ngày 16 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột, Pleiku, KonTum, Phú Bổn nói chung là tất cả các tỉnh trên Cao Nguyên đang vào giờ hấp hối, cho nên những con đường để thoát chạy như là, 7B, 14, 19, 20, 21.

Nhưng tổn thất nhất là con đường 7B có thể nói đó là CON ĐƯỜNG MÁU của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa & Dân chúng.

Những người dân rút chạy khỏi cao nguyên ngày 19-3-1975 tại Phú Bổn, Kontum.

Một quân nhân VNCH trên trực thăng đã cứu bé trong cuộc di tản hỗn loan

Đoàn xe nối đuôi qua cầu phao trên Sông Ba ngày 18-3-1975. Phú Yên.

Ngày 22-3-1975 một phụ nữ được trực thăng di tản ra khỏi Tuy Hòa, ôm chặt con vào lòng với nỗi đau khổ vì người chồng còn kẹt ở lại.

41 năm qua,   xin được mời các anh chị đọc để nhớ về thăng trầm và  khổ đau cuả dân tộc mình trên chặng đường di tản trong biến động 1975 trên con đường tỉnh lộ 7B

(Viết cho những khốn khổ, những điêu linh của đất nước tôi và dân tộc tôi)      

Tôi gấp quyển sách đang đọc dở dang, đưa tay chùi vội những giọt nước mắt vừa lăn dài xuống má. Quyển sách đó có tựa đề thật đơn giản “Những người tù cuối cùng” của tác giả PGĐ   và chính anh cũng là một trong hai mươi người tù cuối cùng được thả ra sau hơn mười bảy năm bị giam cầm, tù đày trong lao tù Cộng sản. Anh và các bạn đã là nhân chứng sống của lịch sử. Những giòng chữ đó có hấp lực thật lạ lùng, càng đọc càng như bị kéo ngược về dĩ vãng – một dĩ vãng đau buồn và uất hận mà tôi đã cố chôn vùi thật sâu trong tận cùng của ký ức…

Sau biến cố tang thương của tháng 3 năm 1975 khi  Ban Mê Thuột bị thất thủ – là kéo theo những đổ vỡ-những mất mát-những chia lìa-những đọa đày-những uất hận của tập thể Quân Dân Cán Chính VIỆT NAM CỘNG HÒA của một quân đội hùng mạnh của những người con đã sống chết cho lý tưởng Tự Do và sự phồn vinh của dân tộc. Ba mươi sáu năm qua biết bao thăng trầm – nhưng mỗi lần nhớ về, lại là những lần nhói buốt, nó như vết thương lòng không thể nào lành. Tôi thầm cám ơn tác giả của quyển sách đó đã là động lực để tôi ngồi xuống ghi lại những hình ảnh mà tôi đã chứng kiến của buổi chiều hôm ấy…

Trong cái lũ lượt của đoàn người di tản từ PLEIKU và KONTUM qua con đường liên tỉnh lộ 7B. Con đường này bỗng nhiên ồn ào, náo nhiệt trong hỗn loạn, rồi tiếng gọi nhau vang dội cả một góc rừng. Tiếng khóc than, tiếng xe, tiếng súng nổ rền vang, hệt như đàn ong vỡ tổ, người chạy ngược kẻ chạy xuôi, tìm kiếm người thân bị thất lạc, đồ đạc vất bừa bãi, những chiếc xe hư bỏ lại trên đường ngỗn ngang. Tôi và HÙNG người em trai nhỏ, cũng tất bật trong đoàn người gian truân đó, bây giờ chỉ còn hai chị em, ba mẹ và các em còn kẹt lại Ban Mê Thuột, mấy bữa nay tôi đã chạy đôn chạy đáo để dò la tin tức gia đình, nhưng biết hỏi ai bây giờ, bởi chẳng ai biết rõ điều gì đã xảy ra.

Trong tâm trạng rối bời đó, tôi chỉ còn nhớ một điều là khi đến lớp, điều làm tôi ngạc nhiên là sĩ số các em học sinh đến trường chỉ còn một nữa, tôi đang tìm câu trả lời thì có một em học sinh đến gần bên tôi nhỏ nhẹ lên tiếng hỏi:

– Thưa cô, ba mẹ em muốn biết là cô có muốn chạy loạn cùng xe với gia đinh em không?

Chạy loạn!!! Tôi nghe tiếng chạy loạn mà tim nhói đau, có nghĩa là tôi phãi rời bỏ nơi chốn này, xa trường, xa học trò thân yêu của tôi, mà đi đâu kia chứ? Nhìn đứa học trò ngoan mà tôi thương nhất lớp chưa biết phải trả lời ra sao?

Tôi mới ra trường được vài tháng, nhận nhiệm sở ở đây, ngôi trường nằm trên ngọn đồi thoai thoải trông thật dễ thương, tuy mới về nhưng tôi được học sinh, phụ huynh học sinh và các đồng nghiệp thương mến chắc tại cái nhỏ nhoi, yếu đuối của tôi trong làn sương mù và cái se lạnh của PLEIKU chăng? Tôi nghĩ thế.

– Thưa cô, cô quyết định như thế nào ạ?

Tiếng nhỏ nhẹ của người học trò lại cất lên, cắt ngang giòng suy tư của tôi, tôi lặng lẽ gật đầu. Thế là mọi chuyện cứ tuần tự đi qua như đã đuợc sắp xếp tự bao giờ để giờ này đây tôi cũng có mặt trong đoàn người di tản. Khi chiếc xe bị kẹt cứng, không thể nhích thêm một chút xíu nào, tôi nhảy xuống xe để được thoải mái một lát và đi lần về phía trước, bỗng nghe một giọng ru con lanh lảnh vừa ru, vừa khóc nghe thật não lòng!!…

– “Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi, con đi trường học, mẹ đi trường đời”.

Tôi lần theo tiếng ru hời đó, đến dưới gốc cây to thấy  một người đàn bà, đầu tóc rối bù, quần áo xốc xếch, ôm chặt đứa con trong lòng mà ru, tôi tò mò bước đến gần để hỏi thăm, chỉ vừa kịp nhìn thấy đứa bé có nước da xám sậm, tôi như muốn ngã qụy xuống, không biết đứa bé đã chết tự bao giờ, vậy mà người mẹ vẫn cất tiếng ru nảo ruột để ôm ấp, để vỗ về con mình. Tôi kêu thất thanh

– Xin giúp chị ấy, con chị đã chết rồi!

Thấy tôi la lớn tiếng, có mấy người đang ở gần đấy bèn chạy lại, nhưng không thể nào lấy được đứa bé ra khỏi vòng tay của chị, chị cứ ghì chặt đứa con của chị vào lòng, đứa bé như một bảo vật, một gia tài cuối cùng của chị, chị vừa khóc vừa ru “Con đi trường học, mẹ đi trường đời”.

“Chị đã thi đậu trường đời rồi đó chị”, tôi thầm nhủ như thế, định mệnh oan nghiệt đã cướp đi người con yêu dấu của chị, chị cứ thế mà than van, “Con ơi! con bú đi con…” Tôi đưa tay bịt tai lại để không còn nghe giọng ru hời thống thiết của một người mẹ vừa mất đi đứa con nhỏ thân yêu.

Không thể chịu đựng thêm nữa, tôi vội quỳ xuống truớc khoảng đất trống gần đó mà lạy mười phương tám hướng vừa khóc, vừa van vái. Xin tha cho dân tộc con, cho đất nước con… Tôi úp mặt vào đôi bàn tay nhỏ bé kêu lên “Chúa ơi!”…

Bỗng một bàn tay, đặt lên vai tôi:

– Chị ơi, chạy mau đi, không kip nữa đâu!

Tiếng người em trai hối thúc. Tôi vội vàng đứng lên như người vừa hoàn hồn, tôi chạy như bay để lại sau lưng người đàn bà đang ôm ghì xác đứa con đã chết với tiếng ru hời bi thảm…

Ba mươi sáu năm trôi qua, chẳng biết người đàn bà với tiếng hát ru hời ấy về đâu???


Phi LoanHoàng Thị Cỏ May

Người Con Gái Việt Nam—Dzuy Linh

Em Tôi—Phan Nhật Nam K18

muathutrentocemyq0

Năm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết.

Tôi hơn em sáu tuổi. Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn để thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong đêm. Chín tuổi, tôi đã biết mình là người nam độc nhất trong gia đình, đã biết ẩm bồng đút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi đã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngôì ăn cơm bên ngọn đèn dầu , tôi và em hỏi han, an ủi mẹ. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng.

Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm để trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau cải ở chợ Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra đi thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiều. Một tuần bảy ngày, mẹ đi đi về về trong nỗi cô đơn.

Năm em vừa tròn năm tuổi thì mẹ cho em vào mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay đã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổi. Tôi là học trò lớn nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy Hiệu trưởng cho tôi được thi nhảy tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết quả là tôi đã đỗ được bằng Tiểu Học năm đó.

Vào lớp đệ thất trường Trần quốc Tuấn, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm Đệ Ngũ tôi thi nhảy một lần nữa lấy bằng Trung Học. Đến niên học Đệ Tam thì tôi đã bắt kịp đám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với đám bạn ngày xưa. Đây là giai đoạn mà tôi cần tiền để mua sách học và may thêm quần áo, thời tiểu học và trung học Đệ Nhất Cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ đã lên Đệ Nhị Cấp rồi, đã bắt đầu biết đỏ mặt khi nhìn những đứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng đã biết theo bạn tập uống cà phê, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không đủ, tôi bắt đầu công việc kèm trẻ tư gia để kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu đệ thất đệ lục, nghĩa là cũng chỉ bé thua tôi vài tuổi.
Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về căn nhà nhỏ, căn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra đi.

Hết năm Đệ Tam, tôi nộp đơn thi Tú Tài phần nhất. Tôi đậu bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình. Tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần đây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục đục dậy thật sớm nấu cơm để dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang đôi quang gánh lên va, những tối ngồi trâm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng ho. Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng Tú Tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau, và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở…

Em đã bắt đầu tuổi lớn, đã bắt đầu tuổi mộng mơ con gái, đã bắt đầu bước vào “tuổi ngọc”. Nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai đoạn cho chóng thành tài. Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay đổi. Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi “quyền huynh thế phụ”… Nhiều lúc nhìn mẹ, nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra đi.

Tôi thi đỗ Tú Tài toàn phần năm 18 tuổi, và ra Huế học Đại học Văn khoa. Mẹ ở một mình với em ở Đà Nẵng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe đò về thăm mẹ và em, đến sáng thứ hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư gia. Với số tiền nhỏ nhoi kiếm đuợc, tôi phụ mẹ một ít nuôi em.

Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya đó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế.

Lật đật trở vào Đà Nẵng bằng chuyến xe đò chót. Trời tối đã lâu, không kịp ăn uống, từ bến xe tôi đi thẳng đến bệnh viện. Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Đứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khoé mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt.

Đánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giây. Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và oà lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lại. Tôi an ủi em, rồi cùng em ra văn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị đứt một tĩnh mạch ở đầu. Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa…

Tối đó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ say. Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ mẹ ơi, mẹ ơi rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình đừng khóc, đừng khóc… nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai giòng nước mắt chảy nhạt nhoà trên má.

Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại để trăn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lặng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậy. Hai anh em hôn lên trán mẹ giã từ. Em vuốt mắt mẹ. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: mẹ ơi, mẹ ơi .. Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẫm cả vạt áo mẹ bạc màu . Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim. Tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôi. Em mới mười ba tuổi…

Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nữa. Nhưng em thì phải trở lại trường.

Bán đi căn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi đưa hết số tiền cho mẹ của Minh (một người bạn thân tôi). Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi , cùng lớp với em. Tôi gửi em đến đó ở và đi học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em đủ điều. Số tiền tôi gởi cho mẹ Minh đủ để trả tiền ăn ở của em trong hai ba năm. Tôi còn đưa thêm cho em một ít để em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn đời. Tôi vào trường Võ Bị Đà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gởi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao giờ dấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lời. Mỗi năm tôi được về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rời. Tôi đưa em đi thăm mẹ. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng.

Em lớn lên và ngày càng giống mẹ. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xăm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ quá sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khoá của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đỗ vào trường Sư phạm Qui Nhơn, hai năm nửa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ, mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người.

Ra trường, tôi chọn binh chủng Nhảy Dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường Sư Phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn… Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em đã làm trong mấy năm qua. Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhỡ có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ…

airborne012

Hai năm em học Sư Phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ đã là một cô giáo trẻ. Em được đổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi đến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng. Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một Sĩ Quan Hải Quân đồn trú ở Phan Rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nói. Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già.

Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới được về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm. Tôi dấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lễ nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đăng trên các báo và tạp chí. Tôi kể lại những trận đụng độ kinh hoàng giữa đơn vị tôi và giặc Cộng, tôi kể lại những “kỳ tích” của bạn tôi, của Mễ, của Lô…

Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay băng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết đâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ được về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thăm . Thoạt nhìn, tôi đã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lễ ở Phan Rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ăn sáng, trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn đó đợi giờ ba cô giáo đi dạy học về. Buổi tối, em đi ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuya. Bên ly cà phê, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim cũ quay chầm chậm.. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối, tôi thấy mắt Tuấn long lanh…

Bảy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Sài Gòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia đình (mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư). Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép được đưa mẹ Tuấn đến gặp tôi. Tuấn hứa là sẽ săn sóc và thương yêu em. Đọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậu. Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo. Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải Quân cùng đơn vị. Nhìn em súng sính trong bộ đồ cưới, tươi cười đứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm mẹ ơi, mẹ ơi, về đây dự đám cưới của em. Tôi theo đơn vị lội thêm hai năm nữa ở vùng giới tuyến, thì “tai nạn” xảy ra. Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết quả là tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng Nhảy Dù.

Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về cục Tâm lý Chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng, những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long, An Lộc… đã làm vinh danh binh chủng cũ của tôi. Tôi được giải thưởng văn học với bút ký “Mùa hè đỏ lửa”. Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan Rang, gần trường em dạy.

Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rảnh rỗi tôi lại ra Phan Rang ở chơi với em, với cháu. Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của đời theo tiếng cười lanh lảnh dòn tan của cháu mà bay xa, bay xa. Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao uớc mẹ tôi nhìn thấy được cảnh này.

Biến cố tháng 4/75 tới như một định mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi đều phải ra trình diện cải tạo. Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa đầy sáu tuổi và đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ. Trong trại, tôi cứ đứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn đã quá già, làm sao lo phụ với em đây. Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ đến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé, con đã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con đang ở đây tù tội thì làm sao lo được cho em…

HQPD_1380916284

Năm 76 tôi bị đưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thăm gửi.. Không biết em có biết Tuấn ở đâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng Lớn, qua Suối Máu , đâu đâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệu. Tù nhân đông quá…

Trại cải tạo Sơn La, sau đợt cho viết thư về gia đình đầu tiên, ba tháng sau tôi nhận được thư em. Thư em đến tay tôi vào giữa năm 77. Hơn 2 năm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhòa. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em đặt tên Tâm, Trần thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù.

Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu năm 76 có tìm đến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi năm sau gặp lại làm sao em nhận được, bố xoa đầu đám cháu ngoại đang trố mắt nhìn nguời đàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố đang có gia đình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gái. Đứa trai lớn nhất thua em bốn tuổi.

Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi bố trở về Hà nội. Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nào. Bố thích lắm, bố hứa sẽ đến thăm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc dến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấy. Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mũi ra sao, hai mươi mấy năm, tôi tưởng bố tôi đã chết.

Tháng 12 năm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố đến thăm tôi.

Đứng trong văn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của tên đại úy truởng trại tiết lộ về địa vị không nhỏ của người này. Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoài. Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ…

Bố đến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng anh, bố kể là đã gặp em ở Phan Rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông đã biết về cái chết của mẹ. Bố nói là có đọc văn tôi… Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng , bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo đó là đường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm được khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dửng dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình. Đó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi năm là thế đấy. Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngăn cách, có cái gì đó phân chia, có cái gì đó tôi không hiểu và không diễn tả được. Bây gi tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng đến thế mà em lại chỉ đề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thư.

Lần đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc.

Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp đi dạy không đủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thăm nuôi Tuấn được một lần nào. Không thể để bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà Nội vì cụ bây giờ đã quá yếu, mỗi buổi ăn, Uyên, cháu lớn phải đút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán bắp nướng đến khuya để kiếm thêm tiền đong gạọ. Em than là dạo này mất ngủ, sức khoẻ yếu lắm, em sợ nhỡ có mệnh hệ nào…

Tôi thẫn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bảy, bảy cây thập giá đời đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi , khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi hải quân và lon còn thấp, không có tội với cách mạng nhiều. Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nữa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa đốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái đói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn?

Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thăm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng đang đi cải tạo, chị chết đi, để lại bốn con thơ, đứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa đầy chín tuổi. Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một ai. Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng sĩ quan hải quân đang đi tù cải tạo ở đâu đó trong Nam. Nguời chồng, trung úy hải quân trước cũng đóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, Hải Quân Trung Úy Trần nguyên Tuấn. Tôi thấy đất trời đảo lộn, tôi thấy mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc đứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng nguời nói lao xao. Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi đang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa đầy ba tuổi đang lấy tay lay lay xác mẹ, cháu lớn Thu Uyên chưa đủ chín tuổi đang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê, hai đứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác đứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hoá đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ này. Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhoà, chập chờn. Em của tôi, đứa em côi cút của tôi… Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du…


Năm em tôi lên ba
Ðã chịu đời xa bố
Mẹ tất tả thân mòn
Nuôi con bao vất vả
Ðời thiếu nữ lớn lên
Ðắng cay thêm tủi hổ
Áo vá bạc vai gầy
Tuổi thơ sôi cuồng nộ.
Mẹ mất năm mười-ba
Thảm thiết sao kể xiết
Cố nuôi em từng ngày
Khốn khó dài biền biệt.
Bạn học những tỵ hiềm
Thầy, cô nặng trì siết
Em vây chặt buồn phiền
Tuổi học trò thua thiệt
……
Tôi đi làm lính chiến
Trôi nổi chốn trận tiền
Em một mình côi cút
Ðâu được ngày đoàn viên.
Mong em sau lớn lên
Tình duyên nên mãn nguyện
Cầu em đời bình yên
Quên xóa ngày uất nghẹn.
Nào đâu buổi sụp vỡ
Cảnh nước mất tan nhà
Lâm thân sơ, thất sở
Vây quanh khốn mù sa.
Long Thành, chồng tập trung
Anh ngục tù lấm nhục
Trên quê hương lưu đầy
Rừng rực lửa địa ngục.
Bốn con thơ khốn cùng
Sức người căng vượt sống
Tư trang bán sạch dần
Cây rừng khô lá rụng.
……
Tôi đi lên miền Bắc
Thân kiệt cùng thậm ngặt
Nhớ thương em dãi dầu
Nơi quê nhà bằn bặt
Rừng núi trời vào thu
Tù leo đồi đốn nứa
Bên đường đèo nghỉ đỡ
Nghe chuyện buồn thương tâm
“..Người chồng đi tập trung
Vợ ở nhà chết thảm
Bốn con nhỏ khốn cùng
Quay quắt bên thây cứng!!”
Những tưởng nghe nhầm tai
Giật mình gào hỏi lại
Ôi xiết bao kinh hãi
Ðúng tên chồng em gái?!
Chuyện những Ðồi Hoa Sim
Nay một lần lập lại
Không chết người ngục tù
Một mình em oan trái!
Tôi bật khóc trên đồi
Nhìn khoảng không vần vũ
Có còn không.. Ðất, trời!!
Mây mang mang kéo lũ
Rừng chập chùng lá đổ
Sương dầy vây khói xanh
Thật hay không đấy hở?!
Tạo Hóa nghiệt cùng đành!
Cháu tôi ai nuôi đây?
Bé nhất chưa biết nói
Chịu sao nổi đọa đày
Giữa trùng vây khổ đói
……
Năm năm ngày giỗ em
Cấm phòng ngồi gục mặt
Nhói đau trũng ngực nặng
Em chết thật sao Khanh?

Phan Nhật Nam

Võ Bị Hành Khúc & Hải Lục Không Quân Hành Khúc—Ban Hợp Ca Lâm Viên Hội Võ Bị Hoa Thịnh Đốn

Võ Bị Hành Khúc

Hải Lục Không Quân Hành Khúc

Vài Hình Ảnh Chuẩn Bị Thiệp Mời Đại Hội XIX—Hội Võ Bị Houston & Phụ Cận

12878870825_6b08b63e2b_cNhững con tem được đính sẵn giúp việc dán tem vào bì thư nhanh chóng hơn

12879014465_3080c690d9_c

12879043643_fd5bdf8c3e_c

12879333783_18c069bc6b_c

12879371275_a424159566_c“Tình Tự Võ Bị” được gói ghém vào những phong thư này

Việt Nam Quê Hương Tôi


Ukraine đi về đâu? RFA

Từ Ukraina, Việt Nam sẽ học hỏi và cải cách những gì?—Mặc Lâm

Khi giới cầm súng của Ukraina từ chối không tiếp tục bắn vào người dân theo lệnh của Tổng thống Viktor Yanukovych nữa thì cuộc cờ giữa dân chúng và chính phủ coi như kết thúc. Người luôn luôn chấp nhận những yêu cầu của Nga trước khi lắng nghe nguyện vọng của dân chúng đã phải rời bỏ dinh thự riêng cực kỳ xa hoa của mình để chạy trốn người dân. Viktor Yanukovych biết rõ nếu bị bắt sinh mạng của ông sẽ không ai bảo đảm, kể cả mẫu quốc Nga hay người bạn Putin.

Ukraine2Bà Catherine Ashton, đại diện ngoại giao châu Âu đang chụp hình tại khu tưởng niệm tạm thời những người thiệt mạng do biểu tình chống chính phủ tại Quảng trường Độc lập, Kiev hôm 24/2/2014. AFP photo

Khi giới cầm súng của Ukraina từ chối không tiếp tục bắn vào người theo lệnh của Tổng thống Viktor Yanukovych nữa thì cuộc cờ giữa dân chúng và chính phủ coi như kết thúc. Người luôn luôn chấp nhận những yêu cầu của Nga trước khi lắng nghe nguyện vọng của dân chúng đã phải rời bỏ dinh thự riêng cực kỳ xa hoa của mình để chạy trốn người dân. Viktor Yanukovych biết rõ nếu bị bắt sinh mạng của ông sẽ không ai bảo đảm, kể cả mẫu quốc Nga hay người bạn Putin.

Sự chọn lựa Nga, khước từ liên minh EU của Viktor Yanukovych đã dấy lên lòng căm phẫn của người dân Ukraina vốn luôn rất nhạy cảm với Nga, đất nước từng chôn vùi dân chúng Ukraina trong triểu đại Stalin qua cuộc tắm máu người dân nước này vào thập niên 30 đã làm cho dân chúng không còn sợ hãi họng súng của chính phủ.

Ba tháng kéo dài tranh đấu trong băng giá đã tôi luyện ý chí dân chúng cho thành quả hôm nay: độc tài phải ra đi nhường sân chơi lại cho những người yêu tự do dân chủ.

Những hứa hẹn về kinh tế của Nga không mê hoặc được dân chúng Ukraina vì họ biết rằng trong thế giới toàn cầu ngày nay đất nước này sẽ được vực dậy nếu có quyết tâm chuyển đổi nền kinh tế một cách khôn ngoan và Nga không phải là nước duy nhất có thể làm bạn với Ukraina khi bên cạnh nó một khối EU hùng mạnh sẵn sàng đưa tay nắm chặt người láng giềng đang tự cô lập mình bởi những món tiền mà tổng thống Viktor Yanukovych nhận được.

“Đúng là vấn đề Ukcraina với Việt Nam là khá giống nhau. Chính quyền đi thân với mẫu quốc chứ còn nhân dân thì người ta lại muốn tự do đi với phương tây thế cho nên hai bên mâu thuẫn, Việt Nam cũng đang y như thế.”

Tiến sĩ Hà Sĩ Phu nhận xét biến cố này qua so sánh Ukraina với Việt Nam, một đất nước theo ông đang từ chối cơ hội tốt hơn để nhận về phần quà cho một thiểu số cầm quyền:

Đúng là vấn đề Ukcraina với Việt Nam là khá giống nhau. Chính quyền đi thân với mẫu quốc chứ còn nhân dân thì người ta lại muốn tự do đi với phương tây thế cho nên hai bên mâu thuẫn, Việt Nam cũng đang y như thế. Tóm lại mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam mà đại diện là những tầng lớp dân chủ, trí thức, giới trẻ và giới tiến bộ trong nhân dân với đảng. Nhân dân ở đây phải được hiểu là giới tiên tiến chứ số đông thì chỉ là con số chưa có định hướng.

Người ta bảo nhân dân là một dãy số 0 nhưng khi nó đứng sau một con số có nghĩa thì những số 0 ấy trở thành có nghĩa. Rõ ràng có mâu thuẫn giữa nhân dân và đảng. Cái quyết tâm giữ cho kỳ được cái độc tài, đặc quyền đặc lợi của Việt Nam nó còn mạnh hơn cả Ukraina nữa.

Blogger Mẹ Nấm cùng quan điểm với TS Hà Sĩ Phu khi chị cho rằng Việt Nam không hề cô độc sao phải tự lừa dối mình bằng chính sách ổn định chính trị, chị nói:

Việt Nam có rất nhiều sự lựa chọn chứ không phải chỉ có một con đường là ngả về phía Trung Quốc vì thật sự ngả về phía Trung Quốc không còn là lợi ích nhà nước hay quốc gia nữa mà là lợi ích và sự tồn vong của đảng cộng sản. Với cái thế cân bằng hiện nay mà Mỹ và các nước khác đã mở ra cho Việt Nam thì không thể dùng lý luận là nước yếu hay nhỏ đề mà thần phục Trung Quốc. Phải có thái độ dứt khoát và rõ ràng các vấn đề trên Biển Đông, biên giới hay vấn đề tiểu ngạch hay mậu dịch. Đừng sử dụng tiểu xảo với thế giới, cứ làm đàng hoàng thì Việt Nam chắc chắn sẽ có cửa đề thấy sự thay đổi.

Yếu tố Trung Quốc đã và đang chia cắt chính quyền với người dân, tuy nhiên đối với nông dân thì mối quan ngại của họ vẫn là đất đai và hy vọng đó đã tiêu tan khi bản hiến pháp mới vẫn không thay đổi những lề luật cơ bản khi viết rằng “đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý”.

Ông Trần Văn Huỳnh, cha của người tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức cho rằng sai lầm quan trọng của nhà nước rất nhiều tuy nhiên làm yên dân trước tiên thì không gì tốt hơn là cải tổ luật đất đai, ông nói:

Rõ ràng là có những sai lầm trong vấn đề quản lý nhà nước và sửa đổi những sai lầm đó thì tôi thấy rằng đó là việc cần phải làm còn nếu không thì hậu quả thế nào thì không biết đò là quy luật. Hiện giờ trong nội bộ đảng cầm quyền ai cũng thấy điều đó. Tôi cho rằng nếu mà khắc phục những sai lầm đó thì sẽ tránh được tình trạng Ukraina. Phải thấy cái nào lớn hơn, cái nào liên quan đến lợi ích tối thượng của đất nước và dân tộc. Tôi cho rằng khi luật đất đai được thông qua thì sẽ có thể giảm tệ nạn tham nhũng mà chính tệ nạn đó là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ tất yếu không thể tránh khỏi.

Đừng xem thường tiếng nói người dân

Ukraine1
Người dân Ukraine mang một cây thánh giá lớn tưởng niệm cho các nạn nhân của cuộc xung đột gần đây giữa người biểu tình và cảnh sát tại Kiev. Ảnh chụp hôm 24/2/2014. AFP photo
Blogger Mẹ Nấm người từng được hãng tin CNN phỏng vấn vì các hoạt động dân chủ, nhân quyền thì cho rằng bên cạnh yếu tố Trung Quốc việc nhà nước cần làm hiện nay là lắng nghe tiếng nói của người dân thông qua các cá nhân bất đồng chính kiến. Lắng nghe sẽ tránh được bài học của Tổng thống Viktor Yanukovych khi xem thường tiếng nói của người dân:

Tôi nghĩ việc đầu tiên dễ nhất mà nhà nước có thể làm đó là tránh việc chụp mũ và bắt những người bất đồng chính kiến vì những lý do khác nhau. Có sửa đổi hay không thì nó phải bắt nguồn từ sự lắng nghe. Cách dễ nhất có thể học được từ Ukraina đó là lắng nghe nguyện vọng của người dân.

Riêng luật sư Lê Thị Công Nhân qua kinh nghiệm đấu tranh của mình cho rằng báo chí tư nhân xuất hiện trong lúc này sẽ phần nào rút bớt những bức xúc trong dư luận quần chúng. LS cho biết:

Cộng sản Việt Nam hiện nay chắc chắn không thể cùng một lúc giải quyết được nhiều việc đúng như anh nói tại vì đảng quá bừa bộn và trên mọi lĩnh vực chúng ta đều thấy. Theo tôi nghĩ thì trước mắt phải thả bớt áp lực tinh thần người dân đã bị dồn nén suốt nhiều năm qua bằng cách thực hiện việc tự do ngôn luận mà cụ thể là cho Việt Nam có được nền báo chí tư nhân. Tuy chỉ là tinh thần thôi nhưng các diễn biến trong đời sống của đất nước nó sẽ bộc lộ hết bản chất thật.

Bên cạnh tự do ngôn luận thì kinh tế Việt Nam cũng phải được nhìn lại một cách khách quan đúng theo quy luật phát triển của một nền kinh tế lành mạnh. Theo LS Lê Thị Công Nhân, muốn thế thì Việt Nam phải can đảm triệt bỏ các doanh nghiệp quốc doanh vốn đang giết chết dần nền kinh tế Việt Nam qua sự bòn rút, thâm lạm và đặt lợi ích nhóm cao hơn lợi ích quốc gia của các tổng công ty, tập đoàn nhà nước.

Khía cạnh thứ hai đó là buông tất cả những doanh nghiệp nhà nước dưới mọi hình thức dù là tổng công ty, hay là tập đoàn như là cái đài truyền hình Việt Nam chằng hạn. Buông tất cả những cái đó để cho giới tư nhân người ta làm mà ở Việt Nam người ta gọi là cổ phần hóa chính là tư nhân hóa tất cả lĩnh vực kinh tế mà hiện nay nhà nước sống chết nắm lấy một cách hết sức mù quáng.

“ Có sửa đổi hay không thì nó phải bắt nguồn từ sự lắng nghe. Cách dễ nhất có thể học được tù Ukraina đó là lắng nghe nguyện vọng của người dân.
– Blogger Mẹ Nấm

Doanh nghiệp nhà nước đã bóp chết nền kinh tế bởi vì đã giao cho doanh nghiệp nhà nước quá nhiều đặc quyền, đặc lợi trong khi hiệu quả kinh tế gần như là thấp kém thậm chí là âm trong rất nhiều doanh nghiệp nhà nước.

Sau khi Liên sô sụp đổ, Việt Nam đổi mới để tồn tại. Với cuộc cách mạng Mùa xuân Ả Rập, Việt Nam siết chặt mạng lưới Internet, bắt giam blogger, nhà báo, dân oan, những người đấu tranh đòi dân chủ và nhân quyền.

Ukraina là lần thứ ba và người dân Việt Nam lại rất tin câu nói của ông bà để lại “nhất quá tam ba bận”.

Liệu bận thứ ba Việt Nam sẽ có quyết định như thế nào và người dân Việt Nam có xứng đáng để được lãnh đạo lắng nghe thực sự?

Mặc Lâm RFA

Ukraine: Chúng Tôi Muốn Tự Do


Cô gái trong video là sinh viên Yulia, tham gia biểu tình từ khi phong trào mới bắt đầu tại Ukraine. Nhìn thẳng vào ống kính, Yulia đưa ra những thông điệp đơn giản.

“Tôi là người Ukraine, sinh ra tại thành phố Kiev. Bây giờ tôi đang đứng tại quảng trường Maidan, trung tâm thành phố của tôi. Tôi muốn cho quý vị biết lý do tại sao hàng ngàn người khắp nơi trên đất nước tôi đang xuống đường.

Chỉ có một lý do. Họ muốn được tự do thoát khỏi kẻ độc tài. Họ muốn được tự do thoát khỏi bọn làm chính trị chỉ biết vì quyền lợi của chính bản thân chúng nó. Chúng nó đã bắn giết, đánh đập gây thương tích dân lành để bảo vệ tiền bạc, nhà cửa và quyền hành của chúng.

Tôi muốn những người xuống đường tại đây có được nhân phẩm, lòng can đảm và sống một đời sống bình thường.

Chúng tôi là những con người văn minh, nhưng chính quyền chúng tôi là bọn man rợ.

Đất nước này không phải là Nga Sô. Chúng tôi muốn có tòa án không tham nhũng. Chúng tôi muốn có tự do.

Tôi biết có thể ngày mai chúng tôi không còn điện thoại, không còn internet—chúng tôi sẽ cô đơn ở nơi này không ai biết đến, và có thể công an sẽ giết chúng tôi từng người một trong bóng đêm nơi này.

Đó là lý do lúc này tôi cầu mong quý vị giúp chúng tôi—giúp cho ý chí tự do ấp ủ trong tim chúng tôi, giúp cho ý chí tự do ấp ủ trong đầu chúng tôi. Và ngay bây giờ tôi yêu cầu quý vị giúp đỡ xây dựng nền tự do cho đất nước chúng tôi.

Quý vị có thể giúp chúng tôi kể lại câu chuyện này cho bạn bè chỉ bằng cách chia sẻ đoạn phim này. Xin hãy gởi video này, nói với bạn bè, gia đình, chính phủ của quý vị rằng quý vị đang ỦNG HỘ chúng tôi”.







Vài Hình Ảnh Lễ Giỗ Chị Tuyết Nga K19/1—Hát Bình Phương K25, Kim Oanh K30/1

DSC03242

damgio_Nga_01

damgio_Nga_02

damgio_Nga_03

damgio_Nga_04

damgio_Nga_05

DSC03217

DSC03221

DSC03225

DSC03228

DSC03229

DSC03234

DSC03238

DSC03241

Lễ Phủ Cờ CSVSQ Lương Văn Ngọ K6—Phạm Kim Vinh K19

Quốc Hội Tiểu Bang Virginia Vinh Danh Việt Nam Cộng Hoà


IMG_0174_1
Với ánh mắt cảm thông và ngưỡng mộ, 40 vị Thượng Nghị Sĩ đã đồng loạt đứng dậy vỗ tay chào mừng Phái Đoàn VNCH đang có mặt trong Tòa Đại Sảnh của Quốc Hội Tiểu Bang Virginia Hoa Kỳ, trong một tràng pháo tay nồng nhiệt và kéo dài đến độ ai cũng phải ngạc nhiên. Quốc Hội Tiểu Bang Virginia qua Nghị Quyết J.R. 455 vinh danh về những thành quả chiến đấu cũng như sự hy sinh của Quân Lực VNCH đã đạt được sự đồng thuận gần như tuyệt đối của lưỡng viện Quốc Hội Virginia với tỷ lệ 139/140. Lúc bấy giờ về phía VNCH tất cả cũng đã đứng dậy nghiêm nghị lắng nghe những lời ca ngợi về sự chiến đấu và hy sinh của Quân Lực VNCH vang lên một cách trang trọng trong phòng họp lớn của Thượng Nghị Viện. Thượng Nghị Sĩ Dick Black người đầu tiên được mời phát biểu trong buổi lễ, ông nói, đã đến lúc phải nhắc nhở đến một đồng minh thân cận lâu năm của Hoa Kỳ và vinh danh cho họ, đó là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từng chiến đấu can trường trước sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt với sự hổ trợ của cả khối cộng sản quốc tế… Nghe những điều xác nhận nầy mọi người tham dự ai cũng cảm thấy ấm lòng và rộn lên một cảm giác bùi ngùi khó tả, đâu đây có tiếng nấc sùi sụt, có người không ngăn được giọt lệ mùng vui tủi buồn lẫn lộn và đó là hình ảnh xúc động nhất, đáng ghi nhớ nhất trong Ngày Lễ Vinh Danh Việt Nam Cộng Hòa tại Quốc Hội Tiểu Bang Virginia Hoa Kỳ vào lúc 12 giờ Ngày 10/2/2014 vừa qua.

Có thể nói đây là lần đầu tiên Việt Nam Cộng Hòa một đất Nước với nhiều oan khiên hệ lụy, từng chiến đấu một cách anh dũng để chống lại kẻ thù phương Bắc để bảo vệ miền Nam nhưng cuối cùng vì sa cơ thất thế nên đã bị cộng sản Việt Nam dùng vũ lực xâm chiếm một cách bất hợp lệ và cho đến hôm nay mới được chính giới Hoa Kỳ long trọng vinh danh một cách công khai sau 39 năm im lặng. Nhân vật được Phái Đoàn VNCH nói đến nhiều nhất là tác giả của Nghị Quyết JR 455 Thượng nghị sĩ Dick Black một cựu chiến binh Việt Nam từng vào sinh ra tử khi sát cánh chiến đấu bên cạnh người lính VNCH. Ông đã tham gia và chứng kiến những trận đánh khốc liệt từ trên đường phố (Tết Mậu Thân 1968) trên chiến trường (Mùa hè đỏ lửa 1972) với sự chống trả mãnh liệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng với những hy sinh gian khổ cũng như thiệt thòi của họ. Vì thế, đối với ông, VNCH là một ấn tượng sâu sắc và bi thảm nhất, vì vậy nhân kỷ niệm 1 năm ngày ban hành Nghị Quyết JR 455 Ông nhấn mạnh là mong muốn tất cả mọi người phải biết đến công lao của Người Lính VNCH và qua việc vi phạm Hiệp Định Paris 1973 cưỡng chiếm VNCH một cách thô bạo của Việt cộng chứng tỏ VNCH vẩn còn chứ không phải đã mất như 1 số người đã nói. Thượng Nghị Sĩ Dick Black còn thố lộ tâm sự là ông muốn trở thành một công dân danh dự của nước VNCH.

Mặc dù sự chuẩn bị vội vàng gấp rút, trong cái giá lạnh của miền đông nước Mỹ, Phái Đoàn VNCH đã có khoảng 40 người tham dự gồm có Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích và một số thành viên trong Uỷ Ban LDLTVNCH, Dân Biểu VNCH Lý Hiền Tài, Ông Đoàn Hữu Định Chủ Tịch Cộng Đồng VN tại DC-MD-VA, Ông Nguyễn Mậu Trinh Chủ Tịch Hội Cao Niên, Ông Huỳnh Hiệp, Tăng Văn Tuệ, Châu Thành từ Richmond cùng với các vị đại diện tôn giáo như Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và Tin Lành. Ông Phan Văn Tính, Cô Mỹ Lan là những người đã góp phần vận động Nghị Quyết JR 455. Về phía Quân Đội có Thiếu Tướng Trần Quang Khôi, Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Trung Tá Người Nhái Nguyễn Văn Tiên, Văn Kỳ Biệt Động Quân. Từ California có Nhạc Sĩ Hồ Văn Sinh, Cô Diệu Chi sĩ quan Nữ Quân Nhân và một số các chị phụ nữ tại địa phương lộng lẫy trong chiếc áo dài màu vàng với banner cờ vàng 3 sọc đỏ đã làm tăng thêm màu sắc của Quân Dân Cán Chính VNCH trong ngày Lễ Vinh Danh lịch sử cho Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra còn có một số báo chí địa phương và Cô Destiny Huỳnh của Đài Truyền Hình SBTN thực hiện các phóng sự tại chỗ rất sống động. Đài SBTV là đài truyển hình duy nhất lấy hình ảnh của buổi lễ từ đầu cho đến lúc cuối.

Sau buổi lễ vinh danh toàn thể Phái Đoàn VNCH đã được mời tham dự bữa tiệc do Hiệp Hội Thương Mại Á Châu VA khoản đãi, trong một bầu không khí rất vui tươi thân mật như tình quân dân cá với nước. Trước khi nhập tiệc mọi người đã trao đổi các ý kiến, nhận xét nhưng tựu chung đã bừng bừng một tinh thần đoàn kết hướng về quê hương đất nước. Mọi người ai cũng vui và lên tinh thần. Rồi cuộc vui cũng tàn mọi người lưu luyến chia tay tất cả đều hẹn nhau trong những ngày sắp tới với quyết tâm giương cao ngọn cờ vàng chính nghĩa, đấu tranh cho một ngày về trên đất Mẹ Việt Nam.

IMG_0018_1
IMG_0031_1
IMG_0031_2
IMG_0050_1
IMG_0059_1 IMG_0061_1
IMG_0064_1
IMG_0066_1
IMG_0072_1
IMG_0080_1
IMG_0081_1
IMG_0082_1
IMG_0083_1
IMG_0144_1
IMG_0153_1
IMG_0195_1

Happy Valentine’s

Rose

Hội Võ Bị Nam Cali Phát Hành Đa Hiệu Số 100

Biển Đông: Những Diễn Tiến Ngày Càng Nguy Hiểm—Trần Hoàng

Trước và sau Tết Nguyên Đán Trung Quốc liên tục “tung chưởng” trên Biển Đông. Khu vực và thế giới sẽ phản ứng như thế nào đối với một cuộc tập kích chớp nhoáng của Trung Quốc vào đảo Thị Tứ vào lúc tàu thăm dò dầu khí Joides Resolution đang có mặt trong khu vực chiến sự?

Mồng 2 Tết, Mỹ đã nhanh chóng phản ứng và lên tiếng cảnh cáo Trung Quốc về dự án thành lập vùng nhận dạng phòng không ADIZ (mới), lấy quần đảo Hoàng Sa làm trung tâm, từ đó mở rộng ra để bao phủ hầu như toàn bộ Biển Đông. Dự án này đã được trình lên các giới chức quân sự cao cấp của Trung Quốc từ tháng 5/2013 và hiện đang được cứu xét. Hôm 31/1, Phó Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Marie Harf tuyên bố Mỹ coi các dự án như vậy là “hành động khiêu khích, có thể làm gia tăng căng thẳng và gây nghi ngờ về cam kết của Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ qua con đường ngoại giao”. Washington xem việc thiết lập một ADIZ (mới) trên các vùng biển đảo đang có tranh chấp là hành động gây mất ổn định, có thể dẫn đến những thay đổi về sự hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Á.

Mới và phức tạp

Chưa hết, tiếp theo việc chính quyền đảo Hải Nam đưa ra quy định về khai thác hải sản trên Biển Đông, khiến nhiều nước trong khu vực lên tiếng phản đối, ngày 13/1, tờ China Daily Mail lại đăng bài về khả năng Trung Quốc sẽ bất ngờ đánh chiếm đảo Pagasa mà Việt Nam gọi là Thị Tứ, hiện do Philippines kiểm soát, trên quần đảo Trường Sa. Ngay giáp Tết, 27/1, một đoàn đặc nhiệm Hải quân Trung Quốc gồm tàu đổ quân Trường Bạch Sơn, khu trục hạm Vũ Hán và khu trục hạm Hải Khẩu sau hai ngày tập trận đổ bộ và chống tàu ngầm ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, đã di chuyển xuống phía Nam, tới tuần tiểu và tập trận chống tàu ngầm ở khu vực quần đảo Trường Sa rồi đi xuống vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, cách bờ biển nước này khoảng 80km và xa bờ biển Trung Quốc 1800km.

Những động thái kể trên của Trung Quốc xem ra quen thuộc, nhưng có điểm mới và phức tạp. Quân đội Trung Quốc trước đó được huấn luyện để chuẩn bị cho điều mà họ gọi là “giải phóng Pagasa” (tức chiếm đảo Thị Tứ) từ năm 2010. Họ đã liên tục gửi đi những tín hiệu đe dọa tấn công đảo. Vào tháng 8/2010,  Trung Quốc đã có cuộc tập trận lớn với giả định là họ lấy một hòn đảo đang được kiểm soát bởi nước khác. Bắc Kinh đã gửi tín hiệu này cho chính phủ Aquino từ những ngày đầu tiên. Trung Quốc liên tục lên kế hoạch và gửi thông điệp về các khả năng lẫn chiến thuật cưỡng chiếm đảo. Vừa qua là thông điệp mới nhất. Thông điệp này được giới phân tích cho là do một nhóm nào đó trong giới quốc phòng hay ngoại giao “phóng” ra để thêm một lần, làm cho khu vực ăn không ngon ngủ không yên.

Nhưng dường như thấy vẫn chưa đủ độ sốc nên 29 Tết, nhật báo South China Morning Post (Hong Kong) lại giật tít về một đoàn khoa học gia quốc tế đã khởi hành trên chiếc tàu khoan Joides Resolution của tổ chức National Science Foundation (NSF/Mỹ), bắt đầu hành trình thăm dò dầu khí tại những vùng biển đang có tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines trên Biển Đông. Chuyến đi kéo dài khoảng hai tháng với sự tham gia của 31 nhà khoa học từ 10 nước và khu vực, trong đó có 13 nhà khoa học từ Trung Quốc, 9 từ Mỹ và 1 từ Đài Loan. Các nhà khoa học sẽ tiến hành khoan ở ba địa điểm để lấy các mẫu trầm tích và đá. Các mẫu trầm tích và đá này sẽ giúp hiểu rõ hơn sự tiến hóa về kiến tạo của đáy Biển Đông, từ đó xác định được vị trí các mỏ dầu khí tại đây.

Điểm lại các diễn tiến “tầm ăn dâu” của Trung Quốc: 2012 cưỡng chiếm Scarborough, 2013 tấn công bãi Cỏ Mây, 2014 đe dọa lấy đảo Thị Tứ và triển khai cái gọi là “nghiên cứu khoa học” trên Biển Đông. Trước “sự ỡm ờ chiến lược” của Mỹ, tình trạng “tan đàn xẻ nghé” của ASEAN, có thể Bắc Kinh cho đây là thời cơ ra tay mà khỏi cần đến đạo lý và pháp lý.

Nhìn lại các diễn tiến “tầm ăn dâu”: 2012 cưỡng chiếm Scarborough, 2013 tấn công bãi Cỏ Mây, 2014 đe dọa lấy thêm đảo Thị Tứ thuộc Trường Sa và triển khai “nghiên cứu khoa học” trên vùng biển Trung Quốc đòi chiếm hữu hơn 80% diện tích. Nếu tới đây Trung Quốc bất ngờ chiếm Thị Tứ thì đây sẽ là lần đầu tiên Bắc Kinh sử dụng vũ lực với một thành viên ASEAN và cũng là lần đầu tiên sử dụng vũ lực đối với chính đồng minh của Mỹ. Nếu Mỹ để Trung Quốc dùng vũ lực với Philippines thì nay mai Trung Quốc cũng có thể dùng vũ lực với Nhật. Tình huống này buộc các nước liên quan phải sớm có kế sách. Mỹ và Nhật có thể cùng hành động? Philippines sẽ hoan nghênh sự có mặt của Nhật để tăng an ninh trong vùng? Câu trả lời từ các nhà hoạch định chính sách chắc hẳn đã có sẵn trong đầu.

Bởi vì tất cả dường như đang diễn ra theo kịch bản của một “cuộc chiến đòn cân não” hay một “kiểu chiến tranh tâm lý”, trước khi xẩy ra sự xung đột bằng vũ trang trên thực địa. Những đe nẹt của Trung Quốc trong hơn 60 năm qua đối với các lân bang của họ đều là con dao hai lưỡi. Với chiến tranh Triều Tiên (1953), với Ấn Độ (1962) và với cả cuộc tấn công trên 6 tỉnh biên giới Việt Nam (tháng 2/1979), các thông điệp vừa mang tính đe dọa, nhưng cũng vừa là những cảnh báo có thực. Trung Quốc tự tin cho rằng, họ dư khả năng để thực thi điều họ dọa nạt thiên hạ, vấn đề chỉ là chọn thời cơ mà thôi. Trước tình trạng “ỡm ờ chiến lược” (strategic ambiguity) của Mỹ và “tan đàn xẻ nghé” (weariness) của ASEAN, có thể Bắc Kinh cho đây là lúc cộng hưởng các khả năng để hành động mà khỏi cần đến đạo lý và pháp lý.

Để cứu vãn tình hình

Mỹ và các nước trong khu vực sẽ phản ứng như thế nào đối với một cuộc tập kích chớp nhoáng của Trung Quốc vào đảo Thị Tứ hay một đảo nào khác thuộc thuộc quần đảo Trường Sa vào lúc con tàu Joides Resolution nói trên đang có mặt trong khu vực chiến sự? Các nước liên quan rồi ra có thể hoặc có kịp trở tay? Không phải ngẫu nhiên, ngày 23/1, các chuyên gia Viện Brookings, một “think-tank” hàng đầu của Mỹ đã đưa ra một số khuyến nghị đối với chính quyền Obama nhằm tránh các sự cố bất ngờ trong bối cảnh nỗ lực tái phối trí về châu Á đang gặp nhiều trở ngại. Các khuyến nghị này càng có ý nghĩa thời sự khi Trung Quốc hiện đang tìm mọi cách trì hoãn, hoặc vô hiệu hóa những đề xuất nhằm kiến tạo nên bộ Luật COC giải quyết tranh chấp giữa Trung Quốc và một số quốc gia trên Biển Đông.

Bước vào Giáp Ngọ, an ninh/an toàn hàng hải tại các biển châu Á tiếp tục xấu đi. Từ cấm đánh bắt cá đến đe dọa chiếm thêm đảo, từ việc lập đoàn thám hiểm thăm dò dầu khí đến ra tuyên bố các vùng nhận dạng phòng không (mới) tại những vùng biển tranh chấp, Trung Quốc trên thực tế đang gia tăng nguy cơ xung đột hoặc xẩy ra các sự cố ngoài ý muốn. Trong khi đó, quan tâm của Mỹ trước các diễn biến tại Trung Đông đang làm cho châu Á nghĩ rằng Washington có phần lơ là chính sách tái cân bằng. “Thừa gió bẻ măng”, Bắc Kinh càng tranh thủ gieo rắc hoang mang và nghi ngờ về khả năng Washington can thiệp khi xẩy ra sự cố tại châu Á. Tránh cho tình hình vượt khỏi tầm kiểm soát và ngăn ngừa nguy cơ xung đột, các chuyên gia Viện Brookings đã đưa ra bốn khuyến nghị (nóng) đối với Tổng thống Obama.

Thứ nhất, Mỹ phải đẩy mạnh các cam kết đối với các đồng minh châu Á. Lập trường của Cố vấn An ninh Rice, quan điểm trong chuyến công du Đông Bắc Á của Phó Tổng thống Biden và phản ứng kịp thời của Ngoại trưởng Kerry lẫn Bộ trưởng Quốc phòng Hagel về ADIZ của Trung Quốc là rất cần thiết đối với các đồng minh lẫn đối tác của Mỹ. Mặt khác, Washington cũng cần nhấn mạnh với đồng minh/đối tác, không nên dựa vào những cam kết này để khai thác tình hình căng thẳng. Khuyến nghị thứ hai là Mỹ cần gia tăng nỗ lực trao đổi, tiếp xúc với các đồng minh, sử dụng các kênh thông tin hiện có với Nhật Bản và Hàn Quốc, để giảm thiểu những kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, như trong trường hợp quan hệ Nhật-Hàn và tránh các hành động gây nhiễu giữa các “đồng minh ruột”.

Thư ba, trong bang giao với Trung Quốc, đề nghị Tổng thống Obama nhắc lại với Chủ tịch Tập Cận Bình về cam kết «một kiểu quan hệ mới giữa các cường quốc». Nếu Trung Quốc không khoan nhượng đối với các lợi ích của mình tại Biển Đông/biển Hoa Đông, thì Hoa Kỳ phải nhấn mạnh đến những hậu quả có thể xẩy ra, một khi Trung Quốc theo đuổi các lợi ích ấy bằng vũ lực. Thứ tư, Nhà Trắng nên chỉ định một quan chức cấp cao phụ trách an ninh với các nhiệm vụ: Thiết lập khuôn khổ bảo đảm an ninh trên biển châu Á, với sự tham gia hoặc cam kết của các nước trong/ngoài khu vực. Nhận diện các cơ chế quản lý xung đột và các quy trình áp dụng các cơ chế ấy ở hai vùng biển nói trên. Và cuối cùng là xác định những cơ hội để nâng cao khả năng của Mỹ trong việc bảo đảm an ninh các tuyến vận tải đường biển mà Trung Quốc và nhiều nước khác phải phụ thuộc.

Trần Hoàng

Thiệp Mời Đại Hội Võ Bị XIX tại Houston, Texas

 

official-logo

 

ThiepMoiDaiHoi19

DH2
DH3
DH4

Mời click vào thiệp để phóng lớn

Thư Mời Tham Dự Lễ Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa 2014—Liên Hội Cựu Quân Nhân & Liên Hội Người Việt Quốc Gia

ThuMoiDongDaMời click vào hình trên để xem phóng ảnh lớn hơn

Tương Lai Trung Quốc—Hùng Tâm

Trung Quốc đang là mối quan tâm của thế giới. Thế giới đó có các doanh gia và chiến lược gia Hoa Kỳ khi họ nghĩ đến quyền và lợi của nước Mỹ. Thế giới đó có các nước Á Châu, từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, từ Ấn Độ tới các nước Đông Nam Á và Nhật Bản. Thế giới đó cũng có Việt Nam và hơn 90 triệu người ở trong và ngoài nước. Cho một số tất niên trước thềm năm mới, “Hồ Sơ Người-Việt” xin vén mở tương lai về Trung Quốc – hoàn toàn dựa trên những dữ kiện của thực tế…

Thực Tế Về Trung Quốc

Trung Quốc có một lãnh thổ bát ngát bằng diện tích của nước Mỹ, là 10 triệu cây số vuông. Nhưng Trung Quốc có một lãnh thổ nghèo, rất thiếu hai phương tiện sinh sống căn bản cho con người là đất canh tác và nước ngọt. Diện tích khả canh, có thể canh tác được, của Trung Quốc chỉ bằng một phần ba của trung bình toàn cầu. Nếu tính theo đầu người của xứ này thì lượng nước ngọt, từ sông hồ đến giếng sâu và cả nước mưa, thuộc loại thấp nhất Á Châu, và Á Châu thiếu nước nhất trong các lục địa của thế giới.

Lãnh thổ của Trung Quốc lại có những khác biệt chết người. Đó là một vòng bao lơn hiểm trở khắc nghiệt vây quanh và nhìn xuống vùng đất tương đối phì nhiêu hơn ở phía Đông, gần duyên hải. Xưa nay, biển người từ bao lơn ba phía đổ xuống vùng Trung Nguyên đã làm nên lịch sử hợp tan của Trung Quốc. Nếu biết nhìn vào địa dư người ta cũng có thể hiểu ra một phần của lịch sử.

Với thực tế ngàn đời ấy, lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc đã có hơn 30 năm tăng trưởng từ 1979 đến 2009, trung bình là tăng 10% một năm. Từ một quốc gia có hơn một tỷ 300 triệu người, đà gia tăng ấy quả nhiên là đáng kể. Những người lãnh đạo Trung Quốc và giới kinh doanh làm ăn tại đây đều ngợi ca rằng đấy là sự kỳ diệu, một phép lạ kinh tế. Nhưng sự thật thì Trung Quốc vẫn là một nước cực nghèo. Hãy nói về cái nghèo đó.

Cả thế giới cứ nói đến các đại gia mới nổi của Trung Quốc, thành phần tỷ phú đang làm loại sản phẩm xa xỉ đắt tiền tăng giá lên trời. Nhưng theo thống kê của nhà nước Bắc Kinh, chỉ có 60 triệu người là có lợi tức đồng niên nhiều hơn hai vạn đô la. Sáu mươi triệu người thì đông thật, nhưng là thiểu số hơn 4% giữa một tỷ 350 triệu người. Lợi tức trung bình của dân Mỹ là 53 ngàn đô la và của dân Tầu là 10 ngàn hai trăm đô la. Con số trung bình ấy che giấu nhiều chuyện khác: khoảng 600 triệu người không kiếm ra hai đồng một ngày để sống. Có 400 triệu người khá giả gấp đôi vì kiếm được từ hai đến bốn đô la một ngày. Vị chi, có một tỷ người Tầu chưa đạt mức lợi tức bần cùng là bốn Mỹ kim một ngày! “Hồ Sơ Người-Việt” cứ nói đến lời ngợi ca của doanh gia Mỹ về triển vọng kinh tế Trung Quốc. Ăn cây nào họ rào cây nấy.

Nhưng sự thật thì kinh tế Trung Quốc làm giàu cho các tổ hợp như Wal Mart, Home Depot hay Carrefour của Pháp. Và cả một khu vực duyên hải lại gắn bó và gần gũi với Wal Mart hay Apple hơn là với các tỉnh khác ở bên trong. Nghĩa là kinh tế Trung Quốc lệ thuộc vào giới tiêu thụ ở bên ngoài, trong các nước giàu có tại Hoa Kỳ hay Âu Châu. Nếu giới tiêu thụ đó từ chối thì hàng hóa “Made in China” dù có rẻ mạt vẫn vượt khỏi sức mua của đa số người dân Hoa lục. Bài toán của lãnh đạo Bắc Kinh là nâng sức mua đó, nhưng họ không có giải pháp kỳ diệu!

Từ kinh tế mà nhìn ngược về lịch sử, người ta thấy rằng trong quá khứ, Trung Quốc đã từng có những bước nhảy vọt và thời nguy nàn. Sau giai đoạn mộng mị của Mao Trạch Đông, nếu xứ này có vọt lên trong ba thập niên thì cũng sẽ có lúc tuột xích, nhất là khi lãnh đạo không tìm ra cái phép thần thông để giải quyết tình trạng nghèo khốn và khác biệt ở bên trong. Ra khỏi lãnh vực kinh tế, nhiều người lạc quan cũng nói đến một tương lai khác, là khi Trung Quốc có thể dân chủ hóa và tiến tới thể chế liên bang. Đây là chuyện mộng mị khác. Đa số người dân Trung Quốc rất hài lòng với hiện tại. Họ hãnh diện về sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc và chưa từng say đắm nguyên tắc dân chủ. Những người có trí nhớ sâu xa nhất, lên tới trăm năm về trước, thì còn e sợ dân chủ như đã thấy dưới thời Cộng hoà của Trung Hoa Dân Quốc. Họ coi đó là mầm đại loạn và nội chiến. Trong cái DNA của họ chưa hề có tế bào dân chủ. Quốc gia rộng lớn này đang trở về trạng thái cũ, chẳng có gì là phép lạ. Và nếu trạng thái cũ có là nội loạn thì cũng chỉ là truyền thống.

Cận Cảnh của Trung Quốc

Nói về những chuyện xa xôi, lớn lao hay mơ hồ như kinh tế xã hội của trăm năm thì nhiều người khó mường tượng ra thực tế trước mắt, nghĩa là nhìn trong cận cảnh. Thực tế trước mắt là các doanh nghiệp quốc tế đều đang nhìn lại Trung Quốc, và nhìn qua xứ khác trước khi xứ này có loạn. Có ba lý do đều chính đáng cho sự chuyển hướng ấy.

Thứ nhất là sau hai chục năm mở cửa đón nhận các tổ hợp quốc tế đầu tư vào trong nước, doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc đã học được một số bí quyết làm ăn và với quyền lực chính trị trước đây không hề có, lãnh đạo các tập đoàn kinh tế nhà nước không muốn chia phần cho thiên hạ. Là Trung ương Ủy viên có ảnh hưởng, họ bắt đầy gây khó cho doanh nghiệp ngoại quốc. Ăn của địch để đánh địch là một phép khôn ngoan đã từng có trong Binh pháp Tôn Ngô!

Thứ nhì, ưu thế của thị trường Trung Quốc là dân nhiều lương rẻ nay đã không còn. Dân số Trung Quốc hết tăng, vựa người từ thôn quê ra tỉnh kiếm việc đã cạn dần và thợ thuyền ở tỉnh muốn phải có lương cao hơn. Trung Quốc bị nạn thiếu người và mức lương tối thiểu khoảng 300 đô là một tháng hết được coi là rẻ, vì gấp đôi Việt Nam, gấp ba Cam Bốt, gấp bốn năm lần mức lương của Bangladesh hay Miến Điện. Bị nhà nước gây khó và công nhân đòi tăng lương, doanh nghiệp quốc tế đã thất vọng về thị trường Trung Quốc.

Thứ ba, thị trường này sẽ không tăng mà có khi lại gặp loạn. Thị trường này không tăng và tốc độ 10% một năm đã hết. Đầu tiên là sức người có hạn, dân số đã hết tăng mà còn bị lão hóa. Năng suất cũng vậy khi giảm dần vì kinh tế bước qua hình thái khác. Khi thấy đà tăng trưởng sút giảm dưới 8%, lãnh đạo xứ này đã ồ ạt bơm tiền. Tín dụng đổ ra có thể chảy vào ba ngả, là đầu tư sản xuất cho số cung, là tiêu thụ để nâng số cầu, hay đầu cơ để làm giàu cho các đại gia. Vì những lệch lạc ngay trong cơ chế kinh tế và chính trị, lượng tiền bơm ra đã chảy vào khu vực nhà nước, chứ không vào sức mua của người dân, và từ khu vực nhà nước chảy qua lãnh vực đầu cơ. Nạn đầu cơ thổi lên bóng bóng và khi bể thì sẽ như Nhật Bản hơn 20 năm trước. Nhưng khủng hoảng kinh tế trong một xứ độc tài lại dễ đưa tới khủng hoảng chính trị. Nghịch lý ở đây là các doanh nghiệp quốc tế càng rút chạy thì nguy cơ bể bóng càng tăng và đấy là mầm khủng hoảng tài chánh, rồi kinh tế.

Khi thị trường cổ phiếu tại Mỹ sụt giá mạnh từ tuần qua cho đến hôm qua, một trong những nguyên nhân chính là mối lo của giới đầu tư về kinh tế Trung Quốc!

Kết luận ở đây là gì?

Hãy quẳng gánh lo mà nghĩ cho mình. Nghĩ cho mình là cho Việt Nam. Đừng phục Trung Quốc như đã từng trong cả ngàn năm. Hãy tin vào dân mình để tìm ra ngả khác. Đấy là ước nguyện cho năm Giáp Ngọ khang cường.

Hùng Tâm

Tái Dựng Tết Đống Đa Trên Đất Bắc Cali—Truyền Hình CaliToday

Vài Hình Ảnh Chúc Tết Niên Trưởng Lâm Quang Thi K3 Và Phu Nhân

DSC03166 DSC03196 DSC03176 DSC03177 DSC03185 DSC03188 DSC03189 DSC03191 DSC03194

Thơ Xuân Giáp Ngọ—Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng K1

KhietChau copy

 

Nhạc Xuân Tuyển Chọn

Chúc Tết Giáp Ngọ

ChucTet

Một Số Hình Ảnh Dạ Tiệc—Nhiều Tác Giả

::: Photos by:  Phạm Kim Vinh K19—Vũ Thế Khanh K20—Nguyễn Như Chương K21—Nguyễn Gia Thiếu K30—Bùi Công Thắng K12/2 :::

00

01

01a

IMG_1837a

IMG_1832a

02

02a

02b

03

04

IMG_1858a

IMG_1857a

IMG_1853a

IMG_1854a

04a

04b

06

07

08

08a

08b

10

10a

11

11a

TN5

11b

11c

11d

11e

01c

11l

12l

12a

12b

13

13a

13b

13d

02

14

15

15a

16

17

19

20

20a

20b

21

21a

21b

22

22a

23

23a

23b

25

26

26a

26b

27

35a

27a

28

28a

28b

28c

29

29a

29b

29c

29d

30

30a

31

31a

32

32a

32b

33

33a

33b

33c

34

34a

34b

35

36

37

37a

37b

37c

37e

37f

37g

12054174463_570d50429f_c

01b

12052344715_25bafede64_c

12052580453_e01e60e03d_c

38

38a

39

39a

39b

40

40a

40b

40c

40d

41

42

42a

42b

42c

42d

44

44a

44b

44c

44d

45

45a

47

47a

47b

47c

48

49

50

51

DSC03000

IMG_1921a

IMG_1920a

TN8

TN9

IMG_1919a

TN10

TN14

TN17

TN19

TN20

IMG_1922a