Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà » Quê Hương và Tổ Quốc (Trang 18)

Category Archives: Quê Hương và Tổ Quốc

Nguyen Van Hai 2013 IPFA Acceptance Speech (November 25, 2014)—Committee to Protect Journalists

Gs. Kim Oanh Choàng Cờ Vàng Cho Blogger Điếu Cày—Lại Đình Đán K18

Chúc Mừng Anh Đặng Văn Thái K15—Trưởng Ban Văn Nghệ

ChucMungAnhThaiK15

Happy Thanksgiving

ThanksPNLV
1290072587_03

Lực Lượng Đối Trọng Với IS — Nguyễn Đạt Thịnh K6

Tổng Tư Lệnh Barack Obama đang lọng cọng trong chiến lược “tạo suy nhược, rồi tiêu diệt” đoàn quân khát máu IS; lọng cọng vì ông tìm giải pháp chính trị và chiến lược cho một bài toán chỉ nằm trên bình diện chiến thuật, và lọng cọng vì ông ôm đồm, muốn cùng một lúc tấn công cả IS lẫn Bashar al-Assad — tổng thống Syria.

Ôm đồm có thể làm hỏng cuộc hành quân đang được hoạch định, do đó ông cần tập trung nỗ lực vào mục đích tối hậu là tiêu diệt lực lượng quân sự IS; lực lượng này được CIA đánh giá là có từ 20,000 đến 31,500 tay súng. Thành tích mới nhất của IS là cắt đầu 2 ký giả Mỹ và 1 người Anh đến Iraq làm việc từ thiện.

Trước đó, ngày mùng 5 tháng Sáu, 2014, IS đột ngột phát động cuộc tấn công vào vùng Bắc Iraq và chiếm thị trấn Samarra, rồi ồ ạt tiến về chiếm thành phố Mosul đêm 6/9, chiếm Tikrit ngày 6/11, rồi chiếm vùng dầu hỏa Kirkuk ngày 6/13.

Mức hiếu sát, và hành động tàn bạo của quân IS khiến quân chính phủ Iraq khiếp sợ, tháo chạy, những quân nhân không chạy thoát bị thảm sát. Cuối tháng Sáu 2014 quân Iraq bỏ trống nguyên giải biên giới giữa Iraq với Syria và Jordan; thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki kêu gọi Hoa Kỳ tiếp cứu; tổng thống Obama đặt điều kiện đòi ông al-Maliki phải từ chức, và chính phủ Iraq phải cải tổ bằng cách mở rộng và mời những chính khách thành phần Sunny tham chính; Sunny là nhánh tín đồ Hồi Giáo bất mãn chính phủ Maliki, đổ theo ủng hộ lực lượng IS.

Maliki và thành phần Shiite chống lại đòi hỏi của Hoa Kỳ, nhưng cuối cùng, trước áp lực quân sự quá mạnh của IS, ngày 14 tháng Tám Maliki vẫn phải từ chức, nhường chỗ cho một chính khách có lập trường dung hòa giáo phái hơn -ông Haider al-Abadi.

Nhượng bộ này tạo căn bản chính trị để không quân Hoa Kỳ can thiệp, chặn đứng, rồi đánh tan lực lượng tấn công; IS rút về lãnh thổ Syria, rồi trả đũa bằng cách cắt đầu 2 ký giả Mỹ.

Hoa Kỳ có khả năng tiêu diệt toàn bộ 31,500 tay súng IS trong vài tháng ngắn ngủi nếu giao tranh chỉ diễn ra trên lãnh thổ Iraq — thân hữu với Hoa Kỳ; nhưng vấn đề là đại bộ phận của IS đặt căn cứ trong lãnh thổ Syria — một quốc gia đối nghịch với Hoa Kỳ và thân Nga.

Mặc dù IS là lực lượng đã từng tấn công chính phủ Bashar al-Assad, nhưng Nga và Syria vẫn lên tiếng cảnh cáo Hoa Kỳ đừng xâm phạm không phận Syria. Điều này làm nhiều quốc gia Âu Châu, đồng minh với Mỹ, ngần ngại.

Một phát ngôn viên ngoại giao của Nga nói, phi cơ Mỹ bay vào không phận Syria sẽ là một vi phạm trầm trọng luật pháp quốc tế. Mỹ có thể giải quyết trở ngại này bằng cách xin tư cách hành quân quốc tế của Liên Hiệp Quốc, hoặc sử dụng quyền truy kích cứ bay vào không phận Syria, tấn công quân IS, nhưng phải chấp nhận nguy cơ bị bắn rơi vì vũ khí phòng không Nga trang bị cho Syria.

Dù Obama có giải quyết khó khăn này, thì ông vẫn còn phải đối diện với khó khăn thứ nhì là không quân, đơn phương, không tiêu diệt được IS; do đó Hoa Kỳ cần một lực lượng bộ binh, như lực lượng đối trọng (LLĐT) với IS.

Cho đến ngày thứ Năm 9/11, mọi việc vẫn còn trong giai đoạn chuẩn bị — tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ mới phác họa chiến lược tấn công IS, và 2 lực lượng thực hiện cuộc tấn công này là không quân và bộ binh; không quân oanh kích tiêu diệt IS, trong lúc bộ binh chiếm lĩnh chiến trường.

Chỉ mới đến giai đoạn này Obama đã sai lầm trong việc đòi hỏi bộ binh phải chiếm đóng những phần lãnh thổ IS bỏ trống sau khi bị không quân Hoa Kỳ tiêu diệt. Ông không ý niệm được 2 điều kiện mà cả 2 lực lượng không quân và bộ binh tấn công IS phải có, mới hoàn thành được mục đích tiêu diệt IS, là lúc nào cũng ở trong thế công, và không thể nào bị tiêu diệt. Chiếm đất là mất thế công, rơi vào thế thủ, và chiếm đất là bị động, là rơi vào thế dễ bị tổn thất, bị tiêu diệt.

Không lực Hoa Kỳ và Đồng Minh hội đủ 2 tiêu chuẩn thường xuyên giữ thế công, và không bị tiêu diệt; nhưng Obama không biết làm cách nào để lực lượng bộ binh đối trọng với IS cũng luôn luôn giữ thế công, và địch quân không có cách nào tiêu diệt được.

Ông đi vào con đường cũ, vào vết xe đổ — ông dự trù tạo ra LLĐT chống với lực lượng khủng bố IS bằng cách tuyển mộ và sử dụng thành phần đã từng nổi dậy chống al-Assad — từng đồng hành với IS, dù chống đối bản chất tàn bạo của lực lượng này. Chính phủ Hoa Kỳ gọi họ là moderate Syrian rebels (quân nổi dậy người Syria có lập trường không quá khích); và không quá khích có nghĩa là những chiến sĩ “Hồi Giáo trung dung” không khát máu quá đáng như quân cờ đen IS.

Phải giải thích loanh quanh như vậy để nhấn mạnh tình trạng người Mỹ thiếu một hiểu biết rõ rệt về LLĐT, lực lượng chuyên chở một nửa hy vọng thành công của tổng tư lệnh Obama.

CIA vừa thất bại trong việc sử dụng tướng Salim Idris, một tướng lãnh trong quân đội Syria bỏ ngũ theo kháng chiến chống Assad, để tổ chức LLĐT; và đang loay hoay tìm người thay thế.

Mặc dù chưa có một ý niệm rõ rệt về LLĐT, Bạch Cung vẫn đang xin Quốc Hội chuẩn chi 500 triệu dollars để giúp tuyển mộ, huấn luyện và sử dụng lực lượng này.

Người Mỹ không hài lòng lắm về trị giá của lực lượng “Hồi Giáo trung dung”; Obama nói là ông sẽ huấn luyện họ. Nhưng ông không biết phải huấn luyện họ như thế nào để tạo cho họ khả năng hoàn thành vai trò tạo “một nửa chiến thắng” trong công cuộc tiêu diệt IS.

Kinh nghiệm của Hoa Kỳ về một lực lượng trong chiến tranh Đông Dương có thể giúp Obama hình dung đúng về LLĐT — lực lượng Hmong của tướng Vang Pao.

Giám đốc CIA ngày đó — ông William Colby — gọi Vang Pao là “người hùng của chiến tranh Việt Nam,” vì thành tích ông chỉ huy một lực lượng du kích chống Nhật, rồi chống Việt Cộng trong suốt 15 năm. Trước khi cộng tác với quân đội Mỹ, ông đã cộng tác với quân đội Pháp, tạo ra một chiến khu mà Việt Cộng không có cách nào tiêu diệt được.

Đặc điểm của lực lượng này là họ phục vụ cho quyền lợi của chính họ — quyền lợi của người Mường trồng á phiện — trong lúc họ vẫn phục vụ nhu cầu chiến tranh của Pháp, của Hoa Kỳ, và lãnh lương của của Tây, của Mỹ.

Dĩ nhiên nhu cầu và bối cảnh hiện tại khác với giai thoại Vang Pao 60 năm trước, nhưng Hoa Kỳ vẫn có thể giúp những người Hồi Giáo đã từng cầm súng chống cả al-Assad lẫn IS và hiện đang bị cả 2 thế lực này truy lùng trên lãnh thổ Syria; Hoa Kỳ cần giúp họ kháng cự để tồn tại, và để họ giúp lại không quân Hoa Kỳ bằng cách đóng vai trò tiền sát viên không quân, hướng dẫn những cuộc oanh kích tiêu diệt IS -như quyết tâm của tổng tư lệnh Obama.

Nhiều quốc gia Ả Rập đã đồng ý tài trợ và cung cấp cho Hoa Kỳ mọi tiện nghi để huấn luyện LLĐT, phần việc còn lại của Hoa Kỳ là biết những gì cần huấn luyện cho khoảng 3,000 chiến sĩ người Syria đã thực sự chiến đấu từ nhiều năm nay. Hoa Kỳ còn cần ý thức được là công tác huấn luyện quân đội Iraq vô cùng tốn kém mà họ làm vài năm trước, đã không mang lại một kết quả nhỏ nào cả; chứng minh cụ thể là quân đội này bỏ chạy trước một lực lượng IS ít hơn, võ trang thô sơ hơn, nhưng bạo tợn hơn.

Hai điều Hoa Kỳ cần huấn luyện cho những chiến sĩ trong LLĐT là (1) chiến thuật du kích để biết cách tránh né, biết cách bảo tồn tiềm lực, không cần tiếp viện, không cần hỏa lực yểm trợ, mà vẫn không bao giờ bị tiêu diệt; trong chiến thuật này, kỹ thuật ngăn cấm giao thông cần được đặt nặng, ít nhất trong giai đoạn đầu; và (2) huấn luyện họ về kỹ thuật hướng dẫn không kích.

Nếu 3,000 chiến sĩ thuộc LLĐT được chia thành 10 toán, chịu trách nhiệm 10 địa phương đang do quân IS chiếm lãnh, và mỗi chiến sĩ chỉ cần gài 10 quả mìn chống xe trên những trục lộ giao thông địa phương, thì khả năng xê dịch của IS bị tê liệt ngay từ tuần lễ đầu tiên LLĐT được đưa trở lại chiến trường, với 30,000 quả mìn gài trên mọi trục lưu thông.

Ngăn cấm lưu thông, là loại bỏ những cuộc hành quân tấn công quy mô và ồ ạt của IS, khiến chúng phải đi bộ để vướng lựu đạn gài, vướng mìn claymore, và chịu đựng tổn thất vì bị du kích bắn sẻ.

Trong chiến thuật du kích, LLĐT sẽ không chiếm đóng mà chỉ làm 2 việc: chủ động tấn công, và hướng dẫn không quân oanh kích quân IS. Khi bị quân IS phản công, họ phân tán mỏng để giảm thiểu tổn thất; và, trong vai trò những tiền sát viên, hướng dẫn không quân oanh kích IS, trong lúc họ vẫn không có nhu cầu giải cứu hay tiếp viện cho họ.

Sự phối hợp nhịp nhàng giữa tiền sát viên với hỏa lực không kích, cả hai chỉ thuần tấn công, không bao giờ phòng thủ, so với quân IS bị gài vào thế đã thụ động lại còn bất động không di chuyển được, lực lượng IS sẽ nhanh chóng tan vỡ trước hỏa lực khiếp đảm của không quân Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, mọi việc vẫn bế tắc, quân IS vẫn an toàn trong các thị trấn Syria mà họ đang chiếm đóng, ngày nào tổng tư lệnh Hoa Kỳ vẫn chưa tìm được bí quyết Vang Pao để xây dựng và sử dụng LLĐT.

Nguyễn Đạt Thịnh

Rơi Trên Đất Địch—Nguyễn Hữu Phước phỏng dịch

*Chuyện thật xảy ra trong chiến tranh Việt Nam
Nguyễn Hữu Phước (phóng tác theo nguyệt san Reader’s Digest)

Trong cuộc chiến chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam trước đây, bên cạnh những chiến tích hào hùng, những tấm gương can đảm của người quân nhân QLVNCH, chúng ta cũng không thể không nói đến sự chiến đấu của người bạn đồng minh.

Họ là những quân nhân đã vượt ngàn dặm để chiến đấu tại một vùng đất xa lạ chỉ vì lý tưởng bảo vệ tự do. Có những người ra đi để rồi không bao giờ trở lại, nhưng cũng có người may mắn sống sót. Và một trong những người may mắn nhất phải là Đại úy Locher của Không lực Hoa Kỳ.

R1
Maj. Robert Lodge (left) and Capt. Roger Locher (right) in the cockpit of their F-4D, seen earlier in 1972: the team already had two MiG-kills to their credit when they clashed with MiG-19s and MiG-21s on the morning of May 10, 1972.

Sau đây mời quý bạn theo dõi câu chuyện về Đại úy Roger Locher, một sĩ quan phi hành, kiêm chuyên viên vũ khí, đã từng tham dự nhiều phi vụ trên không phận Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam.

Locher thường bay trên loại phi cơ phản lực F-4 Phantom và đã hạ được nhiều phản lực MiG của địch trước khi chính phi cơ của anh bị bắn hạ trên không phận Bắc Việt. Anh tìm cách lẩn trốn và sau 23 ngày đã được toán cấp cứu bốc ra khỏi miền Bắc một cách an toàn. Tên tuổi của Locher được ghi lại với một kỹ lục trong cuộc chiến Việt Nam: Sống sót và được cứu thoát sau 23 ngày kẹt trong lòng địch.

Trong khi đang đu đưa với chiếc dù lơ lửng trên bầu trời phía Tây Bắc, cách Hà Nội 40 dặm, Đại úy Locher vẫn chưa thể tin đó là sự thật: mình bị bắn rơi. Tương tự như những người đi bay khác, anh không bao giờ nghĩ rằng chuyện đó có thể xảy ra cho mình.

Nhưng nó đã xảy ra. Một cảm giác nghẹt thở vì sự sợ hãi, bơ vơ đến càng lúc càng rõ rệt. Hai chiếc MiG màu bạc bóng loáng lướt qua phía trên Locher ở cao độ 10,000 bộ. Rồi những đám rừng cây hiện lờ mờ phía dưới. Anh đáp xuyên qua những ngọn cây và cuối cùng đôi bốt đã chạm đất…

Roger Locher là một sĩ quan trẻ mới 25 tuổi, vóc dáng cao lớn. Anh cất cánh vào sáng ngày 10 tháng 5 năm 1972 từ một căn cứ không quân bên Thái Lan. Mục tiêu: Hà Nội. Nhiệm vụ: ngăn chận và tiêu diệt các phi cơ MiG của địch trước khi chúng có thể tấn công các oanh tạc cơ của Hoa Kỳ.
Đây là phi vụ thứ 407 của Locher. Anh ngồi ghế sau của chiếc chiến đấu cơ phản lực F-4 Phantom hai chỗ ngồi, có nhiệm vụ điều khiển hệ thống vũ khí gồm các loại hỏa tiển, đại bác và bom. Trước đó không lâu, Locher đã bắn hạ được hai chiến đấu cơ MiG-21 của không quân Bắc Việt.

R2

Lúc này, trước mặt Locher về phía Tây Hà Nội, một chiếc MiG đang nhào xuống một chiếc Phantom. Anh khai hỏa hai hỏa tiển không-đối-không, chiếc MiG bốc cháy. Thêm hai chiếc MiG nữa bị các Phantom của Hoa Kỳ bắn hạ trước khi người phi công lái chiếc Phantom của Locher thét lên : Chúng mình bị trúng đạn rồi !

Khi ngọn lửa đã lan dần và chiếc Phantom không còn kiểm soát được nữa, lao đi vùn vụt, Locher hét lên : Tôi sắp sửa rời phi cơ. Rồi anh kéo mạnh cần máy tống, sau một tiếng ‘ bụp’ khô khan, thân người anh bị bắn văng ra không gian và anh ngất đi vài giây đông hồ…

Sau khi chạm đất, Locher đã hoàn toàn tĩnh táo. Anh biết chắc hai chiếc MiG vừa bay ngang đã liên lạc vô tuyến thông báo cho các lực lượng dưới đất biết về vị trí của mình. Cái dù của Locher bị vướng trên những cành cây mà anh không thể kéo ra được sẽ khiến địch xác định được vị trí một cách dễ dàng. Locher vội vã tháo dù ra khỏi người và bắt đầu di chuyển một cách khó nhọc, tiến lên phía sườn núi. Anh cẩn thận không để lại một dấu vết sau những bước chân của mình.

Khoảng mười phút sau, Locher thở thật khó khăn, cảm thấy chóng mặt, đôi chân mềm tựa như cao-su, hai bàn chân lạnh ngắt. Anh nghĩ thầm ‘ Mình bị shock. Hãy dừng lại. Bình tĩnh. Hãy bắt bộ óc mình hoạt động’. Rồi anh bò sâu vào cánh rừng đầy cây lá rậm rạp và nằm rạp xuống theo tư thế đôi chân cao hơn đầu.

Nghĩ đến tình trạng nguy hiểm hiện tại, Locher biết rằng mọi việc đang diễn ra một cách tệ hại. Vị trí anh đang ở quá xa về hướng Bắc. Điểm gần nhất mà anh có thể dùng máy liên lạc cấp cứu loại bỏ túi với các phi cơ bạn đang bay trên bầu trời là 90 dặm về phía Nam. Locher tính toán : 90 dặm ! Tìm cách lẩn trốn và bám chặt theo sườn núi, làm sao đi bộ ít nhất hai dặm trong một ngày, trong vòng 45 ngày, không lương thực và trên một địa thế hoàn toàn xa lạ. Nhưng bắt buộc phải cố gắng. Nếu kẻ thù có bắt được mình thì cũng thể để chúng bắt được một cách dễ dàng!

Locher lấy bình nước từ trong áo cấp cứu mặc trên người và từ từ uống hết một nửa, sửa lại cái nón lưới chống muỗi đội trên đầu, rồi với một cái địa bàn cầm tay và bản đồ hướng dẫn, anh thận trọng khởi hành về hướng Tây Nam. Sau mỗi bước chân, anh phải xem xét lại để xóa bỏ mọi dấu vết của đôi giày bốt, của những cành cây nhỏ bị đạp gẩy và tất cả những dấu vết khác có thể làm lộ tung tích của mình.

Tới trưa, đang đi bỗng Locher khựng lại, chết điếng. Từ phía trước mặt có những tiếng réo gọi nhau và những tiếng la hét như giận dữ tiến thẳng về phía anh. Anh vội vã bò sâu vào một bụi cây và nằm yên, trong lúc bọn người lùng sục tiến đến càng lúc càng gần.

Locher bỗng nhớ lại thời niên thiếu của mình ở vùng quê Sabetha, tiểu bang Akansas, nơi mà anh thường chơi trò giả làm vịt trời trốn trong bụi lau, cố gắng ẩn náu, để người thợ săn đang đến gần không thể phát giác. Locher nhủ thầm: Hãy thở thật nhẹ, đừng đầu hàng…Mồ hôi đổ ướt lưng, anh thầm cầu nguyện. Mũi anh có thể ngữi thấy cả mùi thuốc lá của những người đang sục sạo chung quanh. Có lúc tiếng chân người bước qua sát chổ anh đang ẩn nấp…

Ngày kế tiếp, sự việc trên lại tái diễn. Nhưng lần này, ngoài tiếng người la hét, Locher còn nghe thấy tiếng súng nổ. Anh nghĩ thầm : Họ đang tìm cách làm mình phải rời khỏi chổ ẩn nấp, giống như xua đuổi một con vịt trời bay ra khỏi bụi để bắn. Mình phải nằm yên. Họ có đạp lên mình mới mong tìm thấy…
Kẻ thù đã suýt chút nữa thì làm được viêc đó : Locher nghe thấy tiếng cành lá bị nghiền nát bởi bước chân người, sau đó hai người đàn ông với súng tiểu liên trên tay tiến tới cách chỗ anh chỉ có vài mét và…ngồi xuống nghỉ mệt. Một lúc sau, họ bỏ đi. Tiếp theo là một sự yên lặng rất đáng nghi ngờ. Họ bỏ đi thật hay gài bẩy chờ con chim bay ra khỏi cành? Locher quyết định tiếp tục nằm im tại chổ cho đến hết ngày, thỉnh thoảng chỉ dám duổi nhẹ chân tay, để cho các bắp thịt đỡ mỏi.

R3

Sang ngày thứ ba, Locher thử mở cái máy liên lạc dò tìm tần số cấp cứu và anh đã bắt được đối thoại của những phi công đang bay tìm kiếm một nhân viên phi hành vừa bị bắn rơi. Nhân viên này báo cáo rằng kẻ thù đang theo đuổi ông ta, đã rất gần và yêu cầu nên oanh tạc vị trí của mình. Ông ta đã chọn lựa cái chết hơn là bị cầm tù!…

Tín hiệu yếu dần, Locher tắt máy liên lạc. Sau đó anh nghe thấy tiếng nói chuyện của những tên cộng sản đang đi truy lùng mình, cách chỗ anh ẩn nấp khoảng 200 thước… Cái gì thế này ? Locher vừa thắc mắc tự hỏi vừa tìm cách tống khứ những con vắt đang lợi dụng tình thế ngặt nghèo này để tấn công cổ và cườm tay của anh. Rồi Locher nghĩ thầm : Trong ba ngày qua mình đã không đi đưọc quá một dặm. Có thể mình sẽ không thoát khỏi nơi này. Nhưng thôi, cứ hãy cố gắng xem mình sẽ trì hoãn bao lâu cái kết cuộc không thể nào tránh né được.

Sang ngày thứ tư, mặc dù phải bước đi một cách mệt nhọc, Locher vẫn kiên trì men theo sườn núi, lên xuống hết ngọn đồi này tới ngọn đồi khác. Nước không thành vấn đề. Trời mưa cách đêm, và vào buổi sáng anh phải hong quần áo cho khô, cẩn thận tránh không để cho giầy và vớ bị hôi thối.

Nhưng Locher không có lương thực. Anh đã thử ba loại trái cây rừng. Lúc đầu gậm nhấm một chút ít, rồi chờ khoảng nửa giờ xem phản ứng cơ thể ra sao. Kết quả, anh thấy những loại trái cây này không có hại. Nhưng số lượng tìm được cũng chẳng bao nhiêu…

Locher có thể cảm thấy sức lực trong người mình sa sút một cách rõ rệt theo từng ngày. Điều này rất dễ dàng đưa đến sự chấp nhận đầu hàng. Không, nhất định không. Locher tự nhủ mỗi ngày. Hãy để cho kẻ thù phải khổ công tìm kiếm mình !

Ngày thứ 12, sau khi trời hừng sáng, Locher tìm thấy một con đường mòn khá tốt dẫn về hướng Nam. Đối với Locher, con đường này thật tuyệt hảo, vì anh không còn phải dùng sức nhiều như khi đi xuyên rừng. Bất chợt, Locher nghe thấy nhều giọng nói đang tiến gần về phía mình. Những đứa trẻ chăn trâu đang lùa trâu về phía cánh đồng cỏ. Locher vội nhào vào một bụi rậm, bò đi cách đường mòn vài thước và nằm im. Nhưng những con trâu đã dừng lại gặm cỏ bên vệ đường, có con chỉ cách chổ chàng nằm vài thước. Thời gian trôi qua một cách chậm chạp, hành hạ Locher trong khi anh nằm im giờ này qua giờ khác.

Mãi tới gần hoàng hôn, Locher mới nghe thấy tiếng bọn trẻ gọi nhau, anh nghĩ : chúng bắt đầu lùa trâu về làng! Anh nghe thấy tiếng thở hồng hộc của từng con trâu và tiếng roi của bọn trẻ quất trên lưng những con vật để thúc chúng đi về. Một con trâu giận dữ khịt mũi, đạp chân vào một cành cây sát chỗ Locher nằm, khiến cành cây này đập mạnh vào mắt cá chân. Anh há hốc miệng vì đau, nhưng cố giữ không cho âm thanh thoát ra. Sau khi con trâu đi qua, lại tới đúa bé dẩm lên cành cây hồi nãy, khiến nó đập xuống đùi Locher. Cuối cùng là sự im lặng.

Sau khi trời tối, Locher lén đi bọc vòng quanh làng và tiến lên phía sườn núi để do xét tình hình chung quanh. Rồi anh lấy lá cây xếp thành một cái giường để ngủ. Thỉnh thoảng anh lại thức giấc, để tống khứ những con vắt đang hút máu mình. Mỗi con để lại một vết đau. Sau đó một trận mưa đổ xuống.
Trời sáng, Locher vừa sưởi nắng cho khô quần áo, vừa nghiên cứu cẩn thận lại bản đồ, rồi đi tới một kết luận kinh hoàng…là trong 12 ngày qua, anh chưa đi được quá 10 dặm đường chim bay! Nếu vẫn còn ở khu vực phía Bắc quá xa này, anh không có hy vọng được cứu thoát. Phải tiếp tục đi về phía Nam. Nhưng từ đây ra đồng bằng sông Hồng, với bề rộng chừng 20 dặm, khó lòng mà tìm được nơi trú ẩn khi hữu sự.

Không biết phải giải quyết ra sao, Locher đành ở lại vị trí ẩn náu của mình. Ngôi làng trải dài khoảng 500 mét dưới chân núi, và Locher có thể nghe thấy tiếng kẻng hàng ngày. Kẻng báo thức buổi sáng, kẻng đi làm, kẻng nghỉ giải lao, kẻng ăn trưa.v.v…

Ngày lại ngày trôi qua. Tới ngày thứ 20, Locher biết mình đã phí công sức. Anh sờ xuống đôi mông và cảm thấy chỉ còn da bọc xương. Đầu óc anh trống rỗng và chỉ còn nghĩ tới miếng ăn. Chỉ có hai giải pháp : một, nằm chết đói ở đây, hai, là đi xuống đồng bằng tìm cách lấy trộm thực phẩm.

Nhưng Locher cũng biết rằng, sau khi anh bắt đầu vượt qua cái thung lũng trống trải để xuống đồng bằng thì hầu như nắm chắc trong tay việc bị bắt làm tù binh. Locher nghĩ tới viễn tượng khủng khiếp khi bị giam cầm và xác định quyết tâm sẽ tự hành xử một cách danh dự, không để trở thành tù binh của địch. Thượng đế đã ban cho anh hai mươi lăm năm tự do và anh đã tận hưởng.

Vào tối ngày thứ 21, sau khi quyết định sẽ đi xuống đồng bằng vào trước rạng đông ngày hôm sau, Locher cảm thấy tâm hồn mình bình thản. Anh nhìn lên vần trăng vàng từ từ trôi ngang bầu trời, hít thở mùi vị tươi mát của không khí và thưởng thức sự cô quạnh của mình : anh vẫn còn tự do…

Một cơn mưa dài và nặng hạt làm Locher tĩnh giấc vào buổi sáng ngày thứ 22. Thì ra anh ngủ quên ! Mặt trời đã lên cao. Locher tức giận với chính mình. Dù đã có quyết định tự hành xử, nhưng anh không thể liều mạng một cách vô lý, đi ngang qua làng vào giữa thanh thiên bạch nhật. Thế là lại thêm một ngày chờ đợi và chiến đấu với đàn muỗi rừng…

Locher vừa thiếp đi thì chợt tĩnh vì những tiếng đạn. Anh nhìn thấy cả ánh chớp của những hỏa tiển địa-không được bắn lên từ ngôi làng kế cận, cách chỗ anh khoảng 8 dặm. Địch đang bắn lên các phi cơ Mỹ. Không chậm trể một giây, Locher vội vã nhấn nút máy liên lạc cấp cứu và nói : Bất cứ phi cơ Mỹ nào nghe tên OYSTER ONE BRAVO xin trả lời. (Oyster=tên hiệu anh trong phi vụ ; One=phi cơ dẫn đầu ; Bravo=ghế sau)

Sau đó, Locher nhấn nút nhận tín hiệu và nghe thấy tiếng người trả lời : Go ahead, Oyster One Bravo

” Ê anh bạn, tôi bị bắn hạ ở đây đã hơn 22 ngày. Chuyển tin dùm tôi vẫn bình an”
“Sẽ chuyển và tiếp tục liên lạc”
Mười phút sau, Locher nghe tiếng trả lời:
“Toán cấp cứu trên đường đến”

Toán cấp cứu đến liền sau đó nhưng đã bị các phi cơ MiG và đủ loại phòng không của địch đẩy lui. Locher tin tưởng một cách tuyệt đối rằng những người bạn của mình sẽ trở lại vào sáng hôm sau, và chắc chắn họ sẽ được địch ‘đón tiếp nồng hậu’.

Thực vậy, suốt buổi chiều và tối, Locher nghe thấy tiếng xe chở bộ đội tới và tiếng phi cơ MiG đáp xuống một phi trường gần đó. Như vậy, địch cũng đoán biết những gì sẽ xảy ra vào ngày hôm sau. Locher lo lắng không biết sự việc rồi đây sẽ ra sao…

Buổi sáng ngày thứ 23, kể từ ngày Đại úy Roger Locher bị bắn rơi, một lực lượng 38 phi cơ Mỹ gồm chiến đấu cơ, oanh tạc cơ phản lực, khu trục cánh quạt, trực thăng cấp cứu và phi cơ tiếp tế nhiên liệu trên không, cất cánh từ Thái Lan tới Bắc Việt để cứu người bị nạn. Đầu tiên, hai phi cơ mở tần số liên lạc với Locher và xử dụng các máy móc điện tử để xác định vị trí của anh. Một phi công nói qua máy: “Chúng tôi đã biết anh đang ở đâu rồi. Bây giờ anh cứ đúng tại chỗ, chúng tôi sắp kéo anh ra khỏi nơi này”

R4
Captain Roger Locher returns to Udorn Air Force Base in Thailand, greeted by General John W. Vogt, Seven Air Force Commander. Locher was retrieved from behind enemy lines only 60 miles (97 km) from Hanoi after 23 days evading capture.

Bên dưới mặt đất, Locher lạnh và run rẩy: “Xin Thượng đế bảo vệ họ, đừng để ai bị bắn rơi vì con”.
Khoảng 30 phút sau, hai trực thăng xuất hiện. Trong khi Locher làm dấu hiệu xác định vị trí của mình bằng kính phản chiếu, một trong hai chiếc bay về phía anh, chiếc còn lại chờ đợi tiếp cứu trong trường hợp khẩn cấp. Phía trên, các chiến đấu cơ vần vũ, gầm thét uy hiếp tinh thần địch.

Chiếc trực thăng dừng lại, lơ lửng phía trên vị trí của Locher khoảng 15 mét và thả xuống một ‘penetrator’ (dụng cụ có hình trái thủy lôi, có trọng lượng vừa đủ để làm xuyên thủng những tàng cây che phủ vị trí Locher đang ẩn nấp).

Tiếng súng liên thanh đồng loạt bắn ra từ ngôi làng dưới chân núi, nhưng sau đó đã vội im tiếng, vì bị trực thăng võ trang trả đũa.

Locher nhào về phia penetrator. Anh nhanh nhẹn kéo dây an toàn từ penetrator ra nịt vào người, và banh ba càng ngồi hình mỏ neo ra ngồi vào. Sau đó anh dơ ngón tay ra hiệu…

Trong khoảnh khắc, Locher đã được kéo lên và đưa vào trong thân trực thăng. Lực lượng cấp cứu trở về căn cứ. Một số MiG của địch bay lượn ở xa xa, hậm hực chứng kiến mà không dám lại gần, vì biết không thể địch lại lực lượng hùng hậu của Mỹ.

Về phần Đại úy Roger Locher, chuyến bay về Thái Lan phải là chuyến bay hạnh phúc nhất đời. Lúc đó anh không thể biết mình đã sút đi gần 15 kí-lô sau 23 ngày hoạn nạn, anh cũng không biết rằng mình là người sống sót lâu nhất trong số các phi công lâm nạn và đã được cứu thoát trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, và dĩ nhiên, anh cũng không thể biết rằng, cuộc cấp cứu anh là cuộc cấp cứu vào sâu trong lãnh thổ địch nhất và tất cả đã trở về an toàn.

Anh chỉ biết có một điều là mình đã được bạn bè cứu thoát. Họ đã liều chết để cứu anh. Bây giờ, ngồi trên phi cơ, họ luôn miệng cười đùa như thể đã quên mất việc mình vừa đi vào đất địch. Họ không cho Locher một dịp may nào để nói một lời cảm ơn. Anh chỉ biết nhìn họ với đôi mắt mở to, với nụ cười dễ thương, và những giọt lệ từ khóe mắt tràn ra, rồi từ từ lăn xuống bộ râu rậm của mình…

Nguyễn Hữu Phước
LTUC Xuân 93

Tôi Rất Yêu Em—Nguyệt Ánh & Tuấn Minh

Phân Ưu — Cựu SVSQ Nguyễn Bảo Sơn K21

PUNguyenBaoSonK21CaoPhoNguyenBaoSonK21

Thư Mời Họp của Hội Võ Bị Bắc Cali

ThuMoiHop9.11

Tội Ác Hồ Chí Minh Toàn Tập—Nguyên

Hong Kong Protest — The New York Times | Financial Times | CNN



Dự án Tượng đài Chiến sĩ Việt-Mỹ Được Chính Thức Chấp Nhận Tại San Jose—Việt Vùng Vịnh

Sau hai năm chuẩn bị và vận động, Dự án Tượng đài Chiến sĩ Việt-Mỹ do tổ chức Thank You America Foundation đề xướng đã được hội đồng Santa Clara County Supervisors chính thức chấp thuận trong một phiên họp vào lúc 10 giờ sáng thứ Năm ngày 18 tháng 9 năm 2014 vừa qua tại San Jose.

Một số đông đảo đồng bào và lãnh đạo cộng đồng đã đến tham dự, lắng nghe, và lên tiếng phát biểu trong buổi điều trần quan trọng nầy với sự chủ tọa của hai ông GSV Dave Cortese và GSV Mike Wasserman.

Mở đầu phần điều trần, Kiến trúc sư Dave Barry thuộc Ủy Ban Quy chế Santa Clara County đã trình bày sơ lược về quá trình thành lập và tiến triển của dự án tượng đài. Ông Barry cho biết đây là dự án kiểu mẫu đầu tiên hoàn toàn do người Việt đứng ra thành lập và tài trợ, do đó không trở thành gánh nặng ngân sách cho County. Dự án xây dựng tượng đài cũng là một công trình cần thiết, một nghĩa cử cao đẹp ghi lại dấu tích lịch sử của cộng đồng người Việt tại địa phương.

Đến phần phát biểu, ông Dave Cortese đã mời LS Nguyễn Tâm, chủ tịch UB Tượng đài cùng với một số thân hào nhân sĩ cộng đồng lên diễn đàn. LS Nguyễn Tâm tỏ lòi cám ơn hội đồng GSV và đặc biệt ông Dave Cortese đã tích cực yểm trợ và hướng dẫn trong tiến trình vận động và thủ tục thành lập. LS Tâm cũng giới thiệu một số thành phần trong Ủy ban hiện đang có mặt như anh Bùi Nghiệp, BS Phạm Đức Vượng, v.v.. Ngoài ra, cũng có những phát biểu ủng hộ tích cực của Vũ Văn Lộc, giám đốc IRCC và Việt Museum, BS Phạm Đức Vượng, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH TT Tây Bắc Hoa Kỳ, ông Lê Văn Ý thuộc tổ chức Lương Tâm Công Giáo và ông Trương Thành Minh, Chủ tịch Ban Đại Diện Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Bắc Cali.

Được biết, Ủy Ban Tượng Đài hiện đã phối hợp chặt chẽ với CĐNVQG để chuẩn bị một đại hội tường trình công tác xây dựng tượng đài và khai mạc chiến dịch gây quỹ. Đã có một số đông nhân sĩ và thương gia ghi tên vào danh sách mạnh thường quân. Cũng theo lời LS Nguyễn Tâm, kiến trúc mô hình tượng đài sẽ có những bảng bia đá khắc tên các cá nhân hay tổ chức ủng hộ gây quỹ xây dựng tượng đài. Mọi chi tiết xin liên lạc LS Nguyễn Tâm: 408-876-8766.

VVVNews


Thế Giới Nối Kết Tận Diệt Quân Khủng Bố ISIS—RFA

Hình Ảnh Picnic Hè 2014

PinicSlide

Nội Quy và Tu Chính

_NoiQuyVaTuChinh2012

Nội Quy Tổng Hội CSVSQ/TVBQGVN

NoiQuy2012

_NoiQuyVaTuChinh2012

Cách Viết Hoa Trong Tiếng Việt—Đào Văn Bình

Trong văn chương Hoa Kỳ, viết hoa gọi là “capital letter,” còn viết chữ thường gọi là “lower case”. Ðây là quy tắc thống nhất được áp dụng ở khắp mọi nơi. Ít khi thấy nhà văn, nhà thơ, nhà báo Hoa Kỳ vi phạm quy tắc này. Nguyên do chính là vì xã hội của họ đã ổn định cả hai trăm năm nay, việc gì cũng đã trở thành quy củ, nề nếp, có trường ốc.

Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.

Ðiều này cũng dễ hiểu vì tôi không tốt nghiệp hoặc chưa theo học một trường hoặc một lớp dạy viết văn nào. Mặc dầu tôi đã trải qua sáu năm đại học nhưng ở đại học người ta không chấm điểm theo nghệ thuật viết văn mà chấm điểm theo nội dung bài vở. Cho nên khi khởi đầu viết tác phẩm “Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ” năm 1987 thì kỹ thuật viết văn của tôi như nguyên tắc viết hoa, cách chấm câu v.v.. hoàn toàn là của Lớp Ðệ Thất, Ðệ Lục với lời dạy của thầy, cô trong môn Việt Văn rất đơn sơ mà tôi chỉ còn nhớ lõm bõm.

Sau mười năm sống ở Mỹ tức khoảng năm 1995 và sau khi đã làm việc trong các trường học, theo dõi các bài giảng dạy viết văn của học sinh Mỹ, đọc các sách biên khảo về văn chương Hoa Kỳ tôi mới bắt đầu hiểu một số vấn đề như quy tắc viết hoa:

I. Quy tắc viết hoa trong văn chương Việt Nam

Trước khi nói về nguyên tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ chúng ta thử tìm hiểu xem nguyên tắc viết hoa của văn chương Việt Nam như thế nào. Theo tôi, khi tổ tiên chúng ta còn xử dụng tiếng Hán để làm văn tự thì chắc chắn không có quy tắc viết hoa. Khi chữ quốc ngữ được sáng tạo thì quy tắc viết hoa của chúng ta đã được mô phỏng hoặc bắt chước theo lối viết hoa của văn chương Pháp. Thế nhưng quy tắc mà chúng ta ứng dụng hoặc bắt chước lại hỗn loạn và không thống nhất. Tôi không hiểu lỗi này do cha ông chúng ta không có một Hàn Lâm Viện để đặt một quy tắc thống nhất hoặc giả đây là lỗi của nhà văn, nhà xuất bản, của ban biên tập, của người sắp chữ (sau này là người đánh máy)? Riêng bản thân tôi, cho mãi tới năm 2000 – tức là sau 15 năm viết văn tôi mới chính thức tuân thủ lối viết hoa thống nhất theo văn chương Hoa Kỳ.

Ðiều này qúy vị độc giả có thể nhận thấy trong cuốn Ký Sự 15 Năm xuất bản năm 2000. Chứ còn 5 tác phẩm về trước, lối viết hoa của tôi hoàn toàn không thống nhất và hết sức lộn xộn. Sau đây là lối viết hoa trong văn chương Việt Nam theo thứ tự thời gian mà tôi đưa ra như những điển hình.

1) Viết hoa theo Việt Nam Tự Ðiển Khai Trí Tiến Ðức (1931):

Chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa và có gạch nối giữa các chữ.

Thí dụ: Kinh-dương-vương, Hà-nội, Hà-nam, Hà-tĩnh, Giáo-sư, Giáo-sĩ, Hương-giang, Nga-la-tư, Thái-bình-dương.

Thế nhưng: A-di-đà-Phật (chữ Phật cuối cùng lại viết hoa.)

2) Lối viết hoa không thống nhất trong tác phẩm Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng:

– Tên người: Viết hoa cả họ, tên và chữ lót theo văn chương Mỹ nhưng vẫn có gạch nối theo lối cũ.

Thí dụ: Dương-Huy, Nguyễn-Thiết-Thanh, Nguyễn-Yên. Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết: Dương-thị-Mai (chữ thị không viết hoa). Tước hiệu, chức vụ: Thường không viết hoa và rất lộn xộn.

Thí dụ: cụ tú Ninh-Bắc, cụ tú Lãm, ông hàn Thanh

nhưng ở một chỗ khác lại viết Bà Cán, ông Tham Lộc

(Tham ở đây là một tước vị lại viết hoa.)

– Ðịa danh, dinh thự, công viên, thành phố, trường học:

Khái Hưng chỉ viết hoa chữ đầu và vẫn có gạch nối theo lối cũ.

Thí dụ: Phúc-yên, Hà-nội, chùa Bách-môn

Thế nhưng ở những chỗ khác tất cả lại viết hoa.

Thí dụ: Thạch-Lỗi, Quan-Thánh, Phú-Thọ, Trù-Mật, Ninh-Bắc, Nam-Ðịnh, Gia-Lâm

Các con đường, con sông Khái Hưng viết hoa cũng không thống nhất:

Thí dụ: đường Quan-Thánh (Quan Thánh viết hoa)

Sông Tô-lịch (sông viết hoa, lịch lại không viết hoa.)

Ngày, tháng Khái Hưng không viết hoa. Thí dụ: thứ bảy.

3) Lối viết hoa của Nhất Linh trong Bướm Trắng:

– Về địa danh, Nhất Linh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối theo lối cũ.

Thí dụ: Sầm-sơn, Hà-nội, Khâm-thiên, Chợ-lớn. Thế nhưng Sài Gòn có chỗ lại viết:

Sài gòn (không gạch nối.)

Sài-gòn (có gạch nối.)

Nhật bản (không gạch nối)

– Về tên người Nhất Linh viết hoa theo lối Mỹ. Thí dụ: Bác sĩ Trần Ðình Chuyên (không gạch nối, chữ lót viết hoa.) Nhưng ở một chỗ khác lại viết: Vũ-đình-Trương (có gạch nối và chữ lót lại không viết hoa)

4) Lối viết hoa không thống nhất của Thanh Tịnh trong Quê Mẹ: các địa danh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối.

Thí dụ: phá Tam-giang, trường Mỹ-lý, Trung-kỳ, Hà-nội. Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Trường Mỹ-lý (trường viết hoa mà không phải ở đầu câu,) làng Hòa ấp (lại không có gạch nối,) chùa Ðồng Tâm (chữ tâm lại viết hoa và không có gạch nối.)

– Chức vụ chỉ viết hoa chữ đầu. Thí dụ: Hương-thơ

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

ông đốc (đốc không viết hoa)

ông Huyện Phong (hai chữ sau lại viết hoa)

Miếu Thần Ðá (tất cả lại viết hoa)

miễu Thánh (chữ miễu không viết hoa)

– Các tên người đều viết hoa theo lối Mỹ nhưng có gạch nối. Thí dụ:

Hoàng-Thiên-Y, Khổng-Tử, Lý-Tịnh, Na-Tra

Nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Lê Bá Xuân (không gạch nối)

5) Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Văn Chí (1964):

Về tên các quốc gia: Viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Việt-Nam, Ðông-Nam-Á, Ðông-Dương, Hòa-Lan

Nhưng ở nhiều chỗ khác chỉ viết hoa chữ đầu:

Hoa-kỳ, Thái-lan, Ấn-độ, Trung-cộng, Tây-tạng,

Tên các nhân vật: Có lúc viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Khuyển-Dưỡng-Nghị, Tôn-Văn, Vương-Dương-Minh

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

Phan-đình-Phùng, Tôn-thất-Thuyết (chữ lót không viết hoa)

– Nhóm, hội đoàn, đoàn thể: Viết hoa không thống nhất, chỗ có gạch nối, chỗ không. Thí dụ:

Phong trào Cần-Vương

Phong trào Ðông Du (không gạch nối)

Phong trào Văn-Thân

phong trào cộng sản (cả bốn chữ lại không viết hoa)

– Các địa danh viết hoa cũng không thống nhất.

Thí dụ: Thượng-Hải, Hồng-Kông, Trà-Lùng, Hàng-Bông, Làng Cổ-Am, Yên-Báy, Hải-Phòng

Thế nhưng ở những chỗ khác lại chỉ viết hoa chữ đầu mà thôi. Thí dụ: Hà-nội, Quảng-châu, Quảng-nam, Lạng-sơn, Dương-tư, Nam-đàn, v.v…

9) Lối viết hoa của Nguyễn Hưng Quốc trong Tạp Chí Văn Học năm 2000

Nguyễn Hưng Quốc là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học. Là một nhà bình luận văn học rất kỹ lưỡng thế nhưng Nguyễn Hưng Quốc cũng không chú ý đến quy luật viết hoa.

– Tên các tác phẩm đều viết hoa như:

Truyện Kiều

Thơ Mới của Hoài Thanh

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

thơ Nguyễn Công Trứ (chữ thơ không viết hoa)

– Các tên nhóm, hội đoàn đều viết hoa như:

Nhóm Sáng Tạo (chữ nhóm viết hoa)

trường phái Phê Bình Mới (đáng lẽ chữ trường phái cũng phải viết hoa)

Rồi ở một chỗ khác lại viết:

nhóm Ngôn ngữ học tại Moscow (đáng lý phải viết: Nhóm Ngôn Ngữ Học tại Moscow.

II. Quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ

Trong văn chương Hoa Kỳ, viết hoa gọi là “capital letter ”, còn viết chữ thường gọi là “lower case”. Ðây là quy tắc thống nhất được áp dụng ở khắp mọi nơi. Ít khi thấy nhà văn, nhà thơ, nhà báo Hoa Kỳ vi phạm quy tắc này. Nguyên do chính là vì xã hội của họ đã ổn định cả hai trăm năm nay, việc gì cũng đã trở thành quy củ, nề nếp, có trường ốc. Ngoài ra tờ báo nào, nhà xuất bản nào cũng có một ban biên tập chịu trách nhiệm về vấn đề này chứ không “tự biên tự diễn, tự đánh máy, tự in, tự sáng chế” như chúng ta.

Giới thiệu quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ ở đây không có nghĩa là cái gì của Mỹ cũng nhất. Quy tắc nào cũng tốt cả nhưng với điều kiện phải thống nhất. Không thể ở đầu trang viết:Phong trào Ðông du rồi ở cuối sách lại viết Phong Trào Ðông Du. Nếu cứ tiếp tục viết lộn xộn như thế này thì con cháu chúng ta cũng sẽ tiếp tục thừa kế cái lộn xộn đó và hậu quả là cả ngàn năm sau nền văn chương Việt Nam vẫn cứ tiếp tục lộn xộn làm người ngoại quốc điên đầu khi nghiên cứu văn chương Việt Nam. Sau đây là quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ:

1) Tên người: Thí dụ: Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Lê Chân, Ông Tô Hiến Thành, Ông Cao Bá Quát, Ông Tôn Thất Thuyết, Bà Ðoàn Thị Ðiểm, Ông Ðặng Trần Côn, Cô Nguyễn Thị Giang, Cô Bắc.

2) Các con vật mình nuôi và thương mến/thú cưng (pet): con Vàng, con Vện, con Loulou, con Cún, con Bống.

3) Các chức vụ, tước hiệu và các chữ tắt của tên:

Thí dụ: Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sử Gia Lê Văn Hưu, Chúa Sãi, Chúa Trịnh, Bà Huyện Thanh Quan, Ðô Ðốc Tuyết, Cai Tổng Vàng, Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Giáo Sư Nguyễn C. Hách, GS. Phạm B. Tâm, Ðại Sứ Cabot Lodge, Tiến Sĩ Kissinger, Tổng Thống Roosevelt.

4) Ngôi thứ trong gia đình:

Thí dụ: Cô Bảy, Bác Ba, Bà Cả Tề, Thím Năm, Cô Ba Bến Tre, Cô Năm Phỉ, Út Trà Ôn.

5) Ðịa danh, dinh thự, công viên, thành phố, quận:

Thí dụ: Thành Phố Ðà Lạt, Dinh Ðộc Lập, Phủ Thủ Hiến, Phủ Thủ Tướng, Tòa Thị Chính Nha Trang, Công Viên Tao Ðàn, Vườn Hoa Con Cóc, Vườn Hoa Chéo, Công Viên Tao Đàn, Chùa Hương Tích, Thành Phố Hải Phòng, Quận Hương Điền, Quận Châu Thành Mỹ Tho, Xã An Hội …

6) Bến, cảng, phi trường:

Thí dụ: Phi Trường Tân Sơn Nhất, Ga Hàng Cỏ, Bến Vân Ðồn, Bến Sáu Kho, Bến Ðò Bính, Bến Ðò Lèn, Bến Nhà Rồng, Cảng Hải Phòng.

7) Ðường:

Thí dụ: Ðường Trần Hưng Ðạo, Xa Lộ Biên Hòa, Quốc Lộ 1, Liên Tỉnh Lộ 7, Hương Lộ 8…

8) Chợ:

Thí dụ: Chợ Bến Thành, Chợ Ðồng Xuân, Chợ Tân Ðịnh, Chợ Bà Chiểu, Chợ Lớn, Chợ Huyện Thanh Vân…

9) Núi, đèo, cửa ải:

Thí dụ: Núi Hoàng Liên Sơn, Núi Sam, Núi Ba Vì, Núi Ngũ Hành, Núi Ông Voi, Núi Ngự, Ðèo Hải Vân, Ðèo Cả, Ải Nam Quan…

10) Sông, thác, hồ, suối:

Thí dụ: Sông Hồng, Sông Mã, Sông Chu, Sông Hương, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Than Thở, Hồ Ba Bể, Thác Bản Giốc, Suối Giải Oan…

11) Vịnh, biển, đảo:

Thí dụ: Vịnh Hạ Long, Vịnh Cam Ranh, Rạch Cái Cối, Vũng Rô, Quần Ðảo Hoàng Sa, Quần Ðảo Trường Sa, Ðảo Tây Sa, Côn Ðảo, Hòn Bà, Hòn Chồng, Hòn Vọng Phu, Phá Tam Giang.

12) Ngày tháng:

Thí dụ: Tháng Giêng, Thứ Hai, nhưng mùa thu, mùa xuân (các mùa lại không viết hoa)

13) Ngày lễ:

Thí dụ: Lễ Hai Bà Trưng, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Ðán, Tết Ðoan Ngọ, Ngày Thiếu Nhi Toàn Quốc, Ngày Quốc Tế Nhân Quyền…

14) Nhóm, hội đoàn:

Thí dụ: Nhóm Sáng Tạo, Nhóm Ngàn Lau, Hội Ðua Ngựa Phú Thọ, Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Hội Ái Hữu Gò Công, Câu Lạc Bộ Lướt Sóng, Môn Phái Vovinam, Môn Phái Thiếu Lâm, Trường Phái Siêu Thực, Trường Phái Dã Thú, Trường Phái Ấn Tượng.

15) Ban nhạc:

Thí dụ: Ban Thăng Long, Ban Tiếng Tơ Ðồng, Ban The Rolling Stone, Ðoàn Cải Lương Hương Mùa Thu, Ðoàn Thoại Kịch Tiếng Chuông Vàng.

16) Báo chí, tựa đề các cuốn sách, thơ, bài báo, vở kịch, bức hoạ, bản nhạc, truyện, cuốn phim và tựa đề của một bài viết:

Thí dụ: Nam Phong Tạp Chí, Tạp Chí Bách Khoa, Nhật Báo Người Việt, Ðoạn Tuyệt, Thơ Vũ Hoàng Chương, Truyện Kiều, Kịch Lôi Vũ, Trường Ca Con Đường Cái Quan, Cầu Sông Qwai…

17) Thánh thần và kinh sách:

Thí dụ: Trời, Phật, Chúa, Ðức Thánh Trần, Bà Chúa Liễu Hạnh, Mẹ Âu Cơ, Kinh Kim Cang, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Coran, Kinh Cựu Ước..

18) Miền, vùng của một đất nước (nhưng không phải để chỉ phương hướng). Thí dụ:

Miền Nam, Miền Bắc, Miền Trung, Vùng Cao Nguyên, Miền Tây, Vùng Tây Bắc, Bắc Bình Ðịnh…

19) Các biến cố lịch sử, tài liệu, mốc thời gian:

Thí dụ: Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ, Ðệ II Thế Chiến, Thời Kỳ Chiến Tranh Lạnh…

Thời Kỳ Bắc Thuộc, Thời Kỳ Trịnh – Nguyễn Phân Tranh, Thời Kỳ Phục Hưng, Nhà Hậu Lê, Bình Ngô Ðại Cáo…

20) Ngôn ngữ, chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo:

Thí dụ: Anh Ngữ, Pháp Ngữ, Hoa Ngữ, Nhật Ngữ, Việt Ngữ

Thái, Nùng, Dao, Mèo, Kinh, Thượng, Mường, Ra-Ðê, Việt, Hoa v.v…

Việt Tịch, Pháp Tịch, Ấn Tịch… Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Ấn Ðộ Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo…

21) Tên các con tàu, xe lửa, máy bay hoặc nhãn hiệu xe hơi:

Thí dụ: Tuần Dương Hạm Yết Kiêu, Khu Trục Hạm Vạn Kiếp, Hàng Không Mẫu Hạm Trần Hưng Ðạo…La Dalat, Citroyen, Toyota v.v…

Thiên Lôi (Thunderchief), Con Ma (Phantom)

22) Chữ đầu của câu trích dẫn:

Thí dụ: Trần Bình Trọng dõng dạc nói, “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.”

Xin  quý vị nào nghiên cứu về văn phạm Việt Nam đóng góp thêm ý kiến để sau này có thể hình thành một quy tắc viết hoa thống nhất cho văn chương Việt Nam.

Đào Văn Bình (Trích Tuyển Tập 20 Năm Viết Văn xuất bản năm 2004)

Hình Ảnh Cầu Nguyện Tại Nhà Anh Nguyễn Vạn Xuân K23

NguyenKinh

Thông Báo Picnic Hè 2014 của Hội Võ Bị Bắc Cali

ThongBaoPicnic2014

Kính thưa:

– Quý Niên Trưởng, quý Phu Nhân cùng các Bạn và Gia Đình,

– Quý cựu Giáo Sư, cựu Cán Bộ TVBQGVN và Gia Đình,

– Quý Chị PNLV cùng các Cháu TTNĐH và Gia Đình,

– Quý Chiến Hữu, quý Thân Hữu Võ Bị,

Trân trọng kính mời quý vị đến tham dự Picnic Hè 2014 do Hội Võ Bị Bắc Cali tổ chức:

Thời gian: từ 10 giờ sáng tới 5 giờ chiều ngày Chủ Nhật 31 tháng 8 năm 2014

Địa điểm: tại Family Circle, Kelley Park 1500-1690 Senter Rd. San Jose, CA 95112

(Mời click vào đ/c trên để xem bản đồ).

Đúng như tên gọi, Family Circle tại Kelley Park—toạ lạc giữa Japanese Friendship Garden và History Park—là một địa điểm sinh hoạt ngoài trời mang đậm tính chất thân mật của gia đình.

454_1d6340_aea4366_oj

*** Family Circle—địa điểm picnic; ** Parking lot tại Phelan Avenue; * Parking lot tại Senter Road

2d7_1d64bd_66a7df77_oj

Landmark của Family Circle

2d3_1d64c1_6477cc7_oj

Với nhiều cây cao bóng mát, Family Circle thích hợp cho những buổi picnic mùa hè

2d8_1d64bc_2186b99f_oj

Những tia nắng gay gắt hầu như không thể xuyên thủng được những tàn cây xanh

2d4_1d64c0_398a7da1_oj

Lò BBQ hình tròn tại trung tâm tạo không khí gia đình—hết sức thân mật

2dc_1d64b8_f7ff1cff_oj

Kế bên là Japanese Friendship Garden với những cảnh sắc tuyệt đẹp (đi bộ sang)

457_1d633d_37b3ddf6_oj

Một trong những cây cầu nhỏ tại Japanese Friendship Garden

2db_1d64b9_b85c8cdf_oj

Kế bên còn có Viet Museum với nhiều di ảnh, di vật lịch sử (đi bộ sang)

452_1d6342_f9c9d322_oj

Bia Tưởng Niệm trong khuôn viên Viet Museum

2d9_1d64bb_612949bf_oj

Parking lot nhỏ trên đường Senter dẫn đến Family Circle chỉ mất vài bước đường tắt

453_1d6341_2772c4c_oj

Quang cảnh lối vào parking lot nhỏ trên đường Senter, từ hướng đường Tully

Đến tham dự pinic hè, quý vị có thể:

– Đậu xe tại parking lot nhỏ trên đường Senter (giữa E. Alma Ave. và Phelan Ave.) kế bên Viet Museum để vào Family Circle rất gần và thuận tiện.

– Dùng xe bus số 73: north bound dừng tại góc Senter Rd. và Phelan Ave; south bound dừng tại góc E. Alma Ave. và Senter Rd.

2d2_1d64c2_24f96d65_oj

Không ảnh Kelley Park với Family Circle. Đậu xe ở parking lot nhỏ rất thuận tiện để đến địa điểm picnic

Picnic Hè là một sinh hoạt ngoài trời để đại Gia Đình Võ Bị chúng ta cùng trò chuyện & hàn huyên, thưởng thức những món ăn ngon do chính tay quý Phu Nhân đảm trách; cùng vui chơi và thưởng lãm một chương trình văn nghệ & biểu diễn “cây nhà lá vườn” của các “nghệ sĩ Võ Bị”, của quý Chị PNLV và các Cháu TTNĐH.

Kính nhờ quý Niên Trưởng và quý Bạn Đại Diện Khoá phổ biến Thư Mời này đến mọi thành viên thuộc Khoá của mình; đồng thời vận động & mời gọi tham dự để chúng ta có một ngày vui mùa hè trọn vẹn.

Cũng nhân dịp này, Hội Võ Bị Bắc Cali kính mời quý Niên Trưởng, quý Phu Nhân và Gia Đình từ phương xa, nếu có dịp ghé thăm San Jose, xin cùng đến tham dự picnic hè thân mật với chúng tôi.

Trân trọng kính mời,

TM. Hội Võ Bị Bắc Cali

Hội Trưởng

CSVSQ Nguyễn Thanh Lương K24

_________________________________________________________________________

picnic11

Xin mời xem lại một vài hình ảnh picnic hè trước đây

_________________________________________________________________________

456_1d633e_a71d56_oj

Một Vài Hình Ảnh Picnic Hè

Picnic1

Trung Cộng rút giàn khoan HD981, tiếp theo sẽ là gì?

Trại Tập Trung Cải Tạo: Một Kiểu Nhà Tù Man Rợ Nhất Của Chế Độ Cộng Sản Mà Nhân Loại Từng Biết Đến

Đại Hội Võ Bị XIX tại Houston, Texas

IMG_2125

Tuyên Bố thành lập Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam tại Sài Gòn ngày 4 tháng 7 năm 2014


Phỏng Vấn Ông Phạm Chí Dũng, Chủ Tịch Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam

Tuyên bố thành lập Hội Nhà báo độc lập Việt Nam

HoiNhaBaoDocLapVietNam5

HoiNhaBaoDocLapVietNam3

Sài Gòn ngày 4 tháng 7 năm 2014

Làm thế nào để báo chí và các nhà báo cất được tiếng nói theo đúng nghĩa của hai từ “tự do”? Làm thế nào để báo chí được làm đúng thiên chức của mình, phản biện và xây dựng một xã hội công bằng, một đất nước thật sự độc lập tự chủ, không cúi đầu hoặc run sợ trước hiểm họa ngoại xâm đang quá cận kề?
Đã đến lúc báo chí và các nhà báo Việt Nam cần có tư cách độc lập để trả lời những câu hỏi trên. Tuân theo kinh nghiệm của mọi xã hội dân sự tiến bộ nhất trên thế giới, một trong những giải pháp cần phải có là Hội Nhà báo độc lập Việt Nam.
1* Quan điểm thành lập:
– Hội Nhà báo độc lập Việt Nam (tiếng Anh: Independent Journalists Association of Vietnam – IJAVN) là tổ chức xã hội dân sự nằm trong xã hội dân sự Việt Nam, vì một Việt Nam tiến bộ xã hội, dân chủ và đa nguyên, văn minh và giàu mạnh.
– Hội Nhà báo độc lập Việt Nam hoạt động trên cơ sở:
+ Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam là một thành viên có nghĩa vụ tuân thủ.
+ Các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội được minh định trong Hiến pháp Việt Nam.
– Thông qua hoạt động báo chí, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc ôn hòa, bất bạo động; tôn trọng đa nguyên chính trị; phi lợi nhuận; hướng đến mục tiêu cổ súy cho tự do của người dân và dân chủ cho toàn xã hội, đóng góp ý kiến phản biện dưới dạng các tác phẩm báo chí và diễn đàn ngôn luận cho xã hội và đất nước.
– Hội Nhà báo độc lập Việt Nam hướng đến mục tiêu xây dựng môi trường sinh hoạt trí tuệ và lành mạnh cho các hội viên và những người yêu thích nghề báo, đặc biệt là những người trẻ, nhằm thực hiện quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí.
– Hội Nhà báo độc lập Việt Nam gồm những người có quá trình hoạt động báo chí không phân biệt quan điểm chính trị, tôn giáo, giới tính, độ tuổi; không phân biệt người trong nước và ngoài nước; tự nguyện dấn thân vì tự do báo chí, vì một nền dân chủ thật sự, vì tiến bộ xã hội và hạnh phúc người dân.
– Hội Nhà báo độc lập Việt Nam độc lập về quan điểm, nhân sự, tài chính…

2* Mục đích thành lập:
– Phản ánh trung thực và sâu sắc những vấn đề nóng bỏng của xã hội và đất nước.
– Phản biện đối với những chính sách bất hợp lý của nhà nước liên quan đến quản lý xã hội và tự do báo chí.
– Tổ chức trao đổi, đối thoại với các cấp chính quyền về tự do báo chí và quản lý xã hội khi có điều kiện, đồng thuận với những chính sách, giải pháp hợp lòng dân và có lợi cho đất nước.
– Hỗ trợ về tinh thần và vật chất, hoạt động tương thân tương ái giữa các hội viên.
– Lên tiếng và có hành động cần thiết để bảo vệ những người làm báo vì tiến bộ xã hội, nhưng bị sách nhiễu, bắt bớ, tù đày, khủng bố… Đấu tranh yêu cầu Nhà nước Việt Nam hủy bỏ những điều luật mơ hồ của Bộ luật hình sự được dùng để áp chế tự do báo chí như Điều 258, 88…
– Thu hút và đào tạo cây viết trẻ nhằm đóng góp cho nền báo chí chuyên nghiệp Việt Nam trong tương lai.
– Thu hút và tạo môi trường sinh hoạt cho các nhà báo và cộng tác viên báo chí, không phân biệt báo nhà nước hay truyền thông xã hội.

3* Những nội dung hoạt động chính:
– Sinh hoạt định kỳ và đột xuất về thông tin thời sự. Trao đổi về phương hướng và chủ đề viết.
– Tổ chức tọa đàm, hội thảo về một số chủ đề quan trọng của xã hội và đất nước.
– Xây dựng lực lượng làm báo trẻ để tạo lớp kế thừa cho lớp nhà báo lớn tuổi.
– Lên tiếng kịp thời về những trường hợp người dân và nhà báo bị xâm hại.
– Chuyển tải những vấn đề nóng bỏng và cấp thiết của đất nước, xã hội ra hệ thống truyền thông quốc tế.
– Liên kết và hợp tác với những tổ chức chính phủ và phi chính phủ quốc tế về báo chí.
– Vận hành một trang báo mạng dành cho các nhà báo và cộng tác viên.

4* Cơ cấu tổ chức:
Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có Ban lãnh đạo gồm chủ tịch và một số phó chủ tịch, ủy viên. Ban lãnh đạo được phân công điều hành theo các công việc và theo khu vực.

Ban lãnh đạo:
– Chủ tịch: Nhà báo Phạm Chí Dũng.
Phụ trách chung các hoạt động của Hội. Email: phamchidungsg@gmail.com
– Phó chủ tịch thường trực: Nhà báo, linh mục Anton Lê Ngọc Thanh.
Phụ trách khu vực miền Nam và trang báo của Hội. Email: naygum@gmail.com
– Phó chủ tịch: Nhà báo Nguyễn Tường Thụy.
Phụ trách khu vực miền Bắc. Email: tuongthuy52@gmail.com
– Phó chủ tịch: Nhà báo Bùi Minh Quốc.
Phụ trách khu vực miền Trung. Email: bmquoc40@gmail.com
– Ủy viên: Nhà báo Ngô Nhật Đăng.
Trị sự hai trang báo: Việt Nam Thời Báo và Vietnam Times Email: dangngonhat@gmail.com hoặc vietnamtimes00@gmail.com

Cơ cấu ban:
Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có một số ban chuyên môn và trang báo là cơ quan ngôn luận của Hội.

Hội Nhà báo độc lập Việt Nam mời gọi những người làm báo có tâm nguyện với dân tộc tham gia vào Hội, chung sức làm mọi việc có ích cho quê hương.
Mọi liên hệ, ghi tên tham gia và ủng hộ Hội Nhà báo độc lập Việt Nam xin gửi về các địa chỉ email: hoinhabaodoclapvietnam@gmail.com

Ban lãnh đạo Hội Nhà báo độc lập Việt Nam
– Phạm Chí Dũng
– Anton Lê Ngọc Thanh
– Nguyễn Tường Thụy
– Bùi Minh Quốc
– Ngô Nhật Đăng

140703005

HoiNhaBaoDocLapVietNam

HoiNhaBaoDocLapVietNam4

Xem Truyền Hình Trực Tiếp Về Đại Hội 19 Tại Houston

Mời click lên hình để xem
Capture

TÂM THƯ – “Mẹ VIỆT NAM Ơi, Chúng Con Vẫn Còn Đây!”—Đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu Bắc California Và Bạn Hữu

Mời click lên hình để xem phóng ảnh lớn hơn

TamThuThanhThieuNienMeVIETNAMOiChungConVanConDay

Bài Ca Hạnh Ngộ—Thanh Hằng, Hiếu Thuận, Tuyết Diệp

Lửa trong Vùng Đất của Tuyết: Các Vụ Tự Thiêu ở Tây Tạng—VOA

Mặt Thật Đồ Tể Hồ Chí Minh—Hồ Tuấn Hùng

HoChiMinh

Mời click vào link dưới đây để đọc:
Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh