Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà (Trang 9)

Category Archives: Việt Nam Cộng Hoà

Bò Cách Ly—Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Minh Hải Hồ là họ tên quay nôi của cha mẹ Việt gốc Tàu đặt lúc anh mới chào đời tại Chợ Lớn. Suốt hai mươi năm trong quân ngũ, từ cấp binh nhì dần dà được thăng cấp lên Trung sĩ. Vì có tinh thần chiên đấu xuất sắc nên được cấp trên cho đi thụ huấn khóa sĩ quan đặc biệt. Từ năm 1974 thượng cấp bổ nhiệm anh giữ chức Đại đội phó kiêm sĩ quan CTCT thuộc một đại đội Địa Phương Quân bảo vệ an ninh vòng đai phi trường.
Sau cuộc “đổi đời 1975”, Đại úy Minh Hải Hồ vào tù. Dù tuổi đời tròn trèm bốn mươi nhưng bạn bè đùa chơi cứ gọi anh là Bác mỗi khi không có cán bộ. Bác Minh Hải Hồ chẳng phiền trách mà lấy đó làm vui.
Một hôm, cả đội đang trồng sắn trên đồi, Hải Hồ xin phép cán bộ đi “đại tiện.” Lúc điểm danh thấy vắng mặt, anh em hỏi: “Bác đâu?” Bỗng, từ trong bụi rậm anh vội vàng chạy ra, vừa cột dây lưng quần vừa la lớn: “có Bác Hồ đây.” Cả đội sửng sốt, lạnh cả người.
Quản giáo đội nghe được, gọi anh lại hỏi:
-Anh tên gì ?
-Thưa cán bộ, tên Hồ.
-Họ gì?
-Minh.
-Ai đặt tên cho anh thế?
Cha mẹ đặt trong khai sinh.
Anh có biết anh đã xúc phạm đến tên thiêng liêng của Bác không? từ nay trở đi, tôi cấm anh không được xưng tên đó nữa.
-Thưa cán bộ, vậy gọi tên gì?
Muốn kêu tên gì tùy ý trừ cái tên thiêng liêng đó. Tối nay anh viết kiểm điểm, ngày mai nộp cho tôi.
Minh Hải Hồ trình bày trước đội Tù về lệnh của cán bộ quản giáo buộc anh đặt tên khác. Ai ai cũng bụm miệng cười.

Để giải quyết sự khó khăn của Hồ, bạn bè góp ý tìm cho anh một tên mới. Ác thay, cái họ Minh của anh cũng “phạm húy”. Vì vậy có người đề nghị lấy tên lót Hải thay tên Hồ để gọi nhau, nhưng trong đội đã có Hải trắng và Hải đen.
Ông bà ta thường nhắm người mà đặt tên, nên cả đội đồng ý lấy tên Hải Vồ là hợp hơn cả. Dù sao thì cái tên Vồ vẫn còn giữ được âm ồ mà cha mẹ anh đã chọn. Đồng thời lại hợp với chiếc trán dô ra quá cỡ của anh.
Sáng hôm sau, Hải Vồ nộp tờ kiểm điểm cho quản giáo. Nhìn vào tờ giấy, cán bộ hỏi:
-Anh tên gì ?
-Thưa cán bộ, tên Hải Vồ,
Trong danh sách đội không có tên nầy. Ai bảo anh đổi tên?
Cán bộ ra lệnh.
Tôi bảo anh đừng xưng tên của Bác, đâu bảo anh sửa tên trong tờ kiểm điểm!
-Tại sao anh không thừa nhận có khuyết điểm ?
-Thưa cán bộ, tôi đâu có vi phạm nội quy.
-Anh ù lỳ đấy à? Anh xúc phạm đến tên thiêng liêng của Bác mà dám bảo là không sai phạm.
-Thưa cán bộ, cha mẹ đặt tên cho tôi đấy chứ!
Cha mẹ đặt nhưng anh mang tên đó. Anh rõ chưa ?
Dạ, rõ ạ.
Đúng là lý luận của loài cáo đối với chú cừu con “mầy không lỗi thì đời cha mầy lỗi, đời cha không lỗi thì đời ông mầy vậy.”(Thơ Ngụ ngôn của La Fontaine.) Ông Quản giáo lôi lý lịch cả ba đời ra, tha hồ mà bắt tội!
Hải Vồ trong suốt ba năm cải tạo không có một lần thăm nuôi. Tuy vậy, anh rất yêu đời và tin tưởng tuyệt đối vào lời hứa của cách mạng: “Trước sau như một, trại viên nào lao động tốt sẽ được tha.”
Hải Vồ bản chất cục mịch thiệt thà, làm việc cật lực, lúc nào cũng vượt chỉ tiêu của trại đề ra. Hàng tuần, hàng tháng, hàng năm, anh luôn luôn được xếp hạng thành tích lao động đầu bảng. Anh em trong đội đều kiêng dè không dám khuyên can. Những buổi kiểm điểm công tác lao động trong tuần, tên Hải Vồ thường được quản giáo phát huy để nêu gương phấn đấu cho toàn đội. Đặc biệt nhất là cuộc tổng kết bình bầu tròn ba năm.
Trong ngày lễ mồng 2 tháng 9, Hải Vồ được tuyên dương “Tù Cải Tạo Lao Động Tiên Tiến”. Lần nầy, Hải Vồ lại viết thư, mặc dầu những lá thư trước chẳng có hồi âm. Anh dặn vơ: “Em ở nhà phải thi hành nghiêm chỉnh chính sách của Đảng, nhà nước, chính quyền địa phương. Cần kết hợp giữa gia đình và cải tạo viên, hai bên cùng phát huy lao động tốt thì ngày về của anh không còn bao xa nữa. Đảng đã hứa trước sau như một em à.”
Lao động đã tốt mà còn thuộc bài như thế, hỏi ai không tin Hải Vồ được đảng sắp vào hàng ưu tiên!
Chiều ngày 15 tháng 10 năm 1977, lệnh từ Tổng trại ban ra : “Các đội nhận cơm vắt và chuẩn bị hành trang đi lao động xa.” Tù nhân bắt đầu xôn xao. Cộng sản nói một đường, làm một nẻo. Vì thế, kẻ đoán đi đào kênh người nghi dời trại. Theo kinh nghiệm, mỗi lần dời trại là có đợt phóng thích. Chung quy đều là những dự đoán.
Riêng Hải Vồ lần nầy chắc mẩm sẽ được ra tù. Anh nghĩ như thế và tin như thế bởi đảng nói trước sau như một mà. Ba năm liền có ai lao động hơn anh đâu. Tháng vừa rồi đại úy Toà, trưởng ban tiếp liệu không quân đã bị cảnh cáo toàn trại “tội lười lao động” với lý do gánh rạ không chịu bó chặt bị cán bộ quản giáo bắt gặp còn được phóng thích về đoàn tụ với gia đình huống hồ anh đã từng gánh sắn vượt chỉ tiêu gấp hai lần, từ tám đến chín chục cân.
Chính ủy Sư đoàn trực tiếp tuyên dương anh trước tổng trại. Hải Vồ còn nhớ nằm lòng câu nói của người cán bộ cấp cao : “Lao động như anh Minh Hải Hồ mới thực sự là tự giác và thể hiện sự tiến bộ của cải tạo viên.” Đêm đó, Hải Vồ sướng ran người mặc dù anh cảm thấy chất gì nhột nhạt trong cổ họng, khạc ra có vị mằn mặn và ngực hơi khó thở. Anh nghĩ thầm : “Ồ, chỉ vài sợi máu vấy trong đờm, nhằm nhò gì. Mình sẽ được về với vợ con nay mai, cách mạng hứa là phải giữ lời với tù chứ!”
Hải Vồ thao thức gần trọn đêm. Anh tưởng tượng giờ phút cán bộ gọi tên mình lên văn phòng nhận giấy ra trại, lại có thêm phần tuyên dương: “Một cải tạo viên tiến bộ về tư tưởng, có thành tích lao động vượt chỉ tiêu suốt ba năm.” Anh nghĩ đến đôi mắt sửng sốt của vợ khi trông thấy chồng lù lù xuất hiện nơi khung cửa và bầy con bảy đứa nhào đến đứa ôm cổ, đứa ôm chân bố! Niềm hân hoan chạy rần rật trong cái thân thể da bọc xương của anh như vừa “phi” một hơi thuốc phiện.
Kẻng báo thức từ lúc màn sương còn phủ dày đặc trên khắp miền thung lũng. Chim rừng lặng tiếng trước cái lạnh nhức mắt của những ngày cuối Đông. Tù nhân run rẩy tập họp trước sân trại. Những ba lô, xách tay, chiếu mùng, xoong nồi cồng kềnh như đám dân du mục, họ lần lượt lên chiếc xe tải bịt bùng khi tên mình được xướng lên.
Danh sách đầu tiên gồm thành phần An ninh, Tình báo, Chiến tranh Chính trị, và các sĩ quan cấp tá. Điều đáng ngạc nhiên là Minh Hải Hồ có tên trong danh sách nầy. Không còn nghi ngờ gì nữa, tù bị chuyển đi trại khác. Tù ở Bắc hay tù ở Trung vẫn là những ngày khổ ải tiếp tục kéo dài.
Hải Vồ bắt đầu khóc cùng lúc với đoàn xe lăn bánh. Anh khóc như một người vợ khi nghe tin chồng tử trận. Ôm đầu vật vã tưởng chừng anh sắp lên cơn điên. Niềm tin trong anh vừa bị bức tử từ lúc gọi tên mình lên xe. Cách mạng đã dối trá, lừa gạt cái đầu quá đơn giản của anh. Và chính cái đầu đơn giản đó đã làm cho bao nhiêu đồng đội phải lao đao, khốn khổ vì mức lao động vượt chỉ tiêu của mình.
Chỉ là một đại đội phó Địa Phương Quân bảo vệ phi trường, Hải Vồ đã thật thà khai báo cho thêm phần quan trọng “Đại đội phó an ninh phi trường kiêm Sĩ quan CTCT.” Hai chữ An ninh và Chiến Tranh Chính Trị khốn khổ đã đẩy anh thêm mấy năm tù nữa… Kể từ đó, cái tên Hải Vồ được thay bằng tên “Minh Sáng Mắt.”

Đoàn xe mười hai chiếc gầm gừ leo lên dốc tiến vào cổng trại Cải Tạo An Điềm. Lần lượt từng chiếc một đổ đám tù lếch thêch tả tơi giữa khu sân rộng. Trại tù nằm trên đỉnh đồi với hai mươi căn nhà xây vách gạch, mái ngói trông rất bề thế, được bao bọc bởi bức tường cao bằng gạch xi măng kiên cố, trên đầu tường thêm mấy hàng kẻm gai.. Là nhà tù chính thức do lực lượng công an là Cai tù chuyên nghiêp Xã hội Chủ nghĩa điều hành nên khác xa cảnh trại tập trung tạm thời do bộ đội quản lý.
Đám công an đồng phục màu vàng, tay lăm le cò súng, chĩa thẳng nòng vào đoàn tù xơ xác đang sắp thành bốn hàng ngang chờ cán bộ khám xét đồ dùng trước khi nhập tù. Không khí nặng nề, nghẹt thở.
Ban giám thị trại gọi tên từng người tuần tự vào các nhà số 1, số 2, số 3… Đủ sáu mươi người là cánh cửa đồ sộ được đóng lại. Cán bộ công an bảo vệ chốt cửa bằng một thanh gỗ lớn từ phía bên ngoài.
Nỗi chán chường hiện rõ trên nét mặt tối sầm của từng tù nhân. Thế là hết, chút hy vọng về nhà tù mới được thoải mái hơn đã tắt theo ánh sáng khung cửa duy nhất của phòng giam vừa đóng kín. Bóng tối lờ mờ từ các khung cửa sổ tò vò rọi vào những khuôn mặt chập chờn như bóng ma. Ánh mắt không hồn nhìn nhau ẩn chứa một điều duy nhất: “Những ngày tháng khắc nghiệt hơn, đau khổ hơn đang chờ đợi người tù…”

Cái Tết đầu tiên tại trại tù do công an quản lý, ban giám thị cho tù nhân bồi dưỡng ba con bò và một trăm ký nếp gói bánh ú. Khi tin ấy được thông báo, mọi người rất hồ hởi. Anh em mừng thầm : “Tết nầy có chất tươi khấm khá”.
“Ai bảo công an là chúa khắc nghiệt đối với tù? Ai bảo công an là hiện thân của hung thần chốn trần gian?…” Đó là ý niệm đầu tiên về lực lượng “Công an Nhân dân” mà người tù miền Nam xem chúng chẳng khác gì lực lượng SS của Đức quốc xã, mật vụ KGB cuả Staline. Ai đã đọc truyện Một Ngày Trong Đời Ivan Denissovitch hoặc Tầng Đầu Địa Ngục của tác giả Nga Soljenitsyne thì không ít nhiều đều khiếp sợ.
Dù sao thì không khí lo âu trong những ngày đầu mới đến đây có phần lắng dịu.
Chiều ba mươi Tết, đến giờ lãnh thức ăn, kẻ cầm ca, người cầm gô, khuôn mặt người nào cũng hớn hở. Họ vui mừng sắp có một bữa thịt bò tươi sau bao ngày thèm thuồng đói khát. Ai cũng thầm mong có được một chén thịt đầy, tươm mỡ.
Món thịt bò xào thơm ngào ngạt từ nhà bếp bay đến tận các láng trại. Tù nhân hít hà, nước miếng tuôn ra. Người dự tính chén ngay phần thịt bò trước tiên cho đã cơn ghiền. Một bạn khác có ý kiến chí lý hơn, khuyên nên ăn một nửa thịt thôi, còn nửa kia dành lại để ăn trước khi đi ngủ cho đỡ phần xót bụng. Người bạn nằm bên nhắc khéo: “Nầy, đằng ấy chớ nên ăn vội vàng nhé, nhớ nhai thật nhỏ, mình mới thưởng thức hết hương vị ngọt ngào, béo ngậy của miếng thịt bò tươi.” Ôi, niềm hạnh phúc to lớn của tù đang căng đầy trên năm mươi cặp mắt sáng rỡ.
Toán trực bưng thức ăn về đến cửa. Cả phòng gióng mắt đợi chờ. Khi mười hai ô thịt được đặt “an vị” trên sạp nằm, mọi người ồ lên thất vọng. Một phần ba ô thịt chia cho mười người. Kết quả, mỗi tù nhân vỏn vẹn có bốn miếng da dính thịt, hai miếng gân, một cục xương với nửa chén nước luộc da bò! Hy vọng càng nhiều thất vọng càng lớn. Ở đây, nỗi thất vọng càng làm cho ruột gan mọi người “xót như muối, nhàu như dưa” trước cái thân phận tù đày của mình! Cơn vui đang căng phồng tột đỉnh, đột ngột xẹp nhanh như chiếc bong bóng xì hơi khi từng người nhận về phần thịt và da ít oi của mình.
Ngay chiều hôm đó, một “bản tin truyền tai” được đánh đi từ nhà bếp : “Lòng ưu ái của đảng và nhà nước dành cho 1200 tù cải tạo trong ngày Tết thiêng liêng của dân tộc là ba con BÒ CÁCH LY!”
Nhà tù cộng sản nào cũng có khu cách ly dành cho tù bị bệnh truyền nhiễm như lao phổi, kiết lỵ, thương hàn… Thành phần nầy toàn là những người suy nhược, mất sức, thân thể gầy còm chỉ còn da bọc xương.
Những ngày mùa đông nắng ráo, nhìn những thân thể trần trụi của bệnh nhân phơi nắng trong khu tù cách ly, ta có cảm tưởng là khu triển lãm lộ thiên những bộ xương người. Thân hình vặn vẹo, co quắp, bày ra những chiếc xương sườn được bọc lớp da xanh xao, vàng tái đầy ghẻ lở. Chân tay là những khúc xương khẳng khiu nối liền với các khớp sưng vù do bệnh thấp khớp kinh niên. Đôi chân rã rời bước đi như người máy hết pin, run run, chập chững. Đôi tay buông thõng bất lực trước lũ ruồi đang tranh nhau đục khoét những ổ vi trùng trong đám ghẻ lở.
Đêm ba mươi, lệnh từ trên ban xuống: “Tù nhân không được ngủ, phải hát những bài đồng ca, đón giao thừa tập thể. Ngồi nghiêm chỉnh nghe lời chúc Tết của Chủ tịch nước được truyền qua loa phóng thanh. Đội nào im tiếng hát là có ý đồ chống đối.
Tội nghiệp cho thân tù, với bốn miếng da bò dai như da giày, một cái bánh ú gạo nếp bằng nắm tay trẻ con mà phải thức trả nợ suốt cả đêm. Lời chúc Tết năm xưa phát ra từ cái Tết Mậu Thân đầy máu và nước mắt: “…Đánh cho Mỹ cút ngụy nhào. Tiến lên chiến sĩ đồng bào, Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn…” được truyền thanh liên tục mấy cái Tết liền, nhân dân cả nước đã nhét đầy lỗ tai đến độ tràn ra ngoài, không còn chỗ nào nhét nổi, bây giờ vẫn còn tiếp tục phát đi.

Tối mồng hai Tết, lệnh tập họp khẩn trương toàn trai. Công An bảo vệ súng trong tay, nét mặt đằng đằng sát khí tràn ngập cả khu tập thể. Sau khi các khối tù ngồi ổn định trên sân, hai tù nhân được áp giải ra trước sân hội trường trình diện Ban giám thị. Hai phạm tù bị xích tay chung một còng số tám do hai công an áp giải. Ánh sáng ngọn đèn điện vàng vọt soi vào khuôn mặt hốc hác của hai bạn tù thoạt trông như hai chiếc đầu lâu đang di động. Chúng đẩy hai tù phạm đến dưới chân cột đèn đối diện với đám người áo vàng đang ngồi trên dãy ghế cao. Từng người một lần lượt tự đọc tờ kiểm điểm về bản tin đã loan truyền “ba con bò cách ly” mà các bạn ấy nói đùa trong lúc vô tình.
Giám thị trưởng đóng vai quan tòa đọc bản lên án hai phạm tù : “Trần Siêng và Minh Hải Hồ đã tung tin thất thiệt, dùng danh từ “bò cách ly” để ám chỉ Đảng và Nhà nước ta cho tù ăn thịt bò ốm đau, có toan tính làm hạ uy tín cán bộ và lãnh đạo trại, tuyên truyền xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước. Để chận đứng hình thức tuyên truyền phản động, nay quyết định dành hình phạt để giáo dục hai phạm tù Trần Siêng và Minh Hải Hồ như sau: Cùm sấp hai mươi bốn giờ, nhốt phòng biệt giam một tuần lễ, hạ tiêu chuẩn phần ăn, cấm thăm nuôi một năm và đuổi ra khỏi nhà bếp đi lao động ngoài.”
Trần Siêng và Hải Hồ thuộc đội nhà bếp phụ trách làm thịt bò. Họ đã chứng kiến ba con bò già, bịnh hoạn, phế thải chỉ còn da bọc xương mà ban giám thị dành bồi dưỡng cho tù.
Sự hài hước châm biếm cười ra nước mắt của họ là dùng từ “bò cách ly.” Và ba chữ “bò cách ly” trở nên thành ngữ của tù mỗi khi đùa cợt.

Về sau, mỗi đợt được gia đình thăm nuôi, thế nào cũng có anh than vãn đại loại như:
“Từ ngày vào hợp tác xã, bầy con tớ thiếu ăn gầy như đàn” bò cách ly”, trông thấy chúng mà ruột mình như xát muối”.
Hay một anh bạn khác trong toán cày bừa vừa bắt được ếch ngoài ruộng lén mang vào trại lên tiếng:
“Tớ tóm được hai chú ếch thuộc loại “bò cách ly” đây, ông nào tình nguyện chạy bếp nấu cháo, hai bên cùng có lợi, chia hai.”

Như thế đó, đám tù cùng khổ thỉnh thoảng cũng có một vài phút giải sầu. Xin cảm ơn hai bạn tù nhà bếp đã làm giàu thêm cho bộ từ điển nhân gian nhóm từ ngữ rất hiện đại: “Bò cách ly.” Các nhà biên soạn từ điển thuộc nhóm Khoa học Xã hội ở Hà Nội nhớ đừng quên bổ túc thành ngữ mới đầy ý nghĩa nầy vào bộ Đại Từ Điển Tiếng Việt với ghi chú nơi xuất xứ: “từ nhà tù Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam!”

(Lưu Dấu Ngày Xưa)—Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Phân Ưu Cùng Anh Chị Trần Trọng Lợi, K30 Võ Bị

TMChiMaiTran

CaoPhoTMChiMai

“Sea of Black”—Trúc Hồ | SBTN

 

Tiếng Hát Hậu Phương, kỳ 262, với Cựu Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy và Cựu Đại Úy Nguyễn Phán—Hồn Việt TV

Trump speaks to reporters after G20 summit | FULL PRESS CONFERENCE—Fox News

Vài Hình Ảnh Kỷ Niệm Ngày Quân Lực 19 Tháng 6 Tại San José—Vũ Thế Khanh, K20

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Picnic Mùa Hè—Chủ Nhật 4 tháng 8, 2019 | Hội Võ Bị Bắc Cali

FlyerPicnic2019

Kính thưa:
– Quý Niên Trưởng, quý Phu Nhân, quý Bạn và Gia Đình,
– Quý cựu Giáo Sư, cựu Huấn Luyện Viên và Gia Đình,
– Quý Chị PNLV, Anh Chị Em TTNĐH và Gia Đình,
– Quý Chiến Hữu, Thân Hữu và Gia Đình,

Hội Võ Bị Bắc Cali trân trọng kính mời quý vị đến tham dự Picnic Hè 2019 do Hội Võ Bị Bắc Cali tổ chức với những chi tiết như sau:

  (1) Thời gian: từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều Chủ Nhật 4 tháng 8 năm 2019. 

  (2) Địa điểm: Hellyer County Park 985 Hellyer Ave. San Jose, CA 95111 (Mời click vào đ/c trên để xem bản đồ nếu chưa biết chỗ)

Hellyer County Park là một công viên tuyệt đẹp, rộng hơn 178 mẫu đất, tọa lạc về hướng nam đông-nam Thành Phố San José. Với phong cảnh thiên nhiên ngoạn mục và không khí trong lành mát mẻ quanh năm, Hellyer County Park là nơi lý tưởng cho các sinh hoạt ngoài trời vào mùa Hè—đã được google & tripadvisor đánh giá 4.5*. (more…)

Happy Father’s Day

FathersDay2019

D-Day 75th Anniversary—Donald J. Trump

DonaldTrump1

Chặng Đường Dài tới Tòa Bạch Ốc của Donald J. Trump—Tổng Hợp



Vài Hình Ảnh Sinh Hoạt Ngày 25/5/2019—Nguyễn Đức Quyền | Nguyễn Gia Thiếu

Cả Xã Hội Trung Cộng Ăn Cắp Bí Mật Mỹ—Vi Anh

XaHoiTrungCong1

Tại Paris, Tập Cận Bình huênh hoang tuyên bố, Trung Cộng chỉ cần 40 năm để hoàn thành những việc mà Âu Châu phải mất 300 năm

Vào ngày 26/03/2019, Chủ Tịch Trung Cộng Tập cận Bình trong cuộc họp ở Paris, tự phụ tuyên bố trước Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, Thủ tướng Đức Angela Merkel và Chủ tịch Ủy Ban Châu Âu Jean-Claude Juncker, rằng trong 40 năm chúng tôi đã làm được những việc mà quý vị phải mất đến 300 năm. Nhưng cả thế giới nực cười, chế nhạo TC có gần 1 tỷ 400 triệu dân mà không có một Nobel khoa học kỹ thuật, y học nào cả, TC chỉ toàn ăn cắp, mua chuộc, bắt bí lấy của Âu Mỹ.
Vào ngày 26/4, Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ FBI Christopher Wray tại Hội đồng Quan hệ đối ngoại (Council on Foreign Relations) phát biểu rằng không có quốc gia nào đặt ra mối đe dọa to lớn và nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ bằng Trung cộng về góc độ tình báo, thông tấn xã Pháp AFP đưa tin như thế. Ông nói rõ“TC là người dẫn đầu huy động toàn xã hội ăn cắp, thông qua tất cả các loại hình thức công ty, trường đại học và tổ chức, làm tất cả mọi thứ có thể để đánh cắp những sáng tạo của chúng tôi, thông qua các cơ quan tình báo TC, các doanh nghiệp nhà nước, số lượng lớn các doanh nghiệp tư nhân, nghiên cứu sinh và học giả cùng nhiều người khác trở thành người làm việc cho TC”.

XaHoiTrungCong2

Giám Đốc FBI Christopher Wray điều trần tại Council on Foreign Relation

Giám đốc FBI còn cáo buộc Đảng Cộng Sản Trung cộng [ĐCSTC ] đánh cắp công nghệ Mỹ để leo thang kinh tế: “Nói thẳng ra, TC dường như nhẫn tâm hy sinh lợi ích của chúng tôi, thông qua trộm cắp để leo lên nấc thang kinh tế.” Ông cho rằng các hành động của ĐCSTC không chỉ là mối đe dọa đối với an ninh kinh tế, mà còn là mối đe dọa an ninh quốc gia Hoa Kỳ.

Hành vi trộm cắp quyền sở hữu trí tuệ của ĐCSTC cũng là trọng tâm xét xử của Washington. Tổng thống Trump đã nghiêm khắc cáo buộc Bắc Kinh áp dụng các biện pháp thương mại không công bằng như chuyển giao công nghệ bắt buộc và trộm cắp quyền sở hữu trí tuệ, xâm phạm lợi ích của người Mỹ.

Và Mỹ, Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ  không giấu diếm, nói rõ dự án phản gián điệp hiện tại của Washington đang tập trung vào vấn đề gián điệp kinh tế của ĐCSTC.

XaHoiTrungCong3

Cố vấn kinh tế Toà Bạch Ốc Larry Kudlow

Sau nhiều vòng đàm phán, cuối cùng TC đã thừa nhận hành vi ăn cắp công nghệ của mình. Đầu tháng 4, Cố vấn kinh tế Toà Bạch Ốc Larry Kudlow phát biểu trước truyền thông cho biết, lần đầu tiên Trung cộng thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ bắt buộc và tổ chức tin tặc làm gián điệp Internet. Ông Kudlow nói rằng trước đó ĐCSTC đã hoàn toàn phủ nhận các cáo buộc về hành vi trộm cắp quyền tài sản trí tuệ của Hoa Kỳ. Ông Giám đốc FBI Wray cho biết, Hoa Kỳ không phải là mục tiêu kinh tế duy nhất mà ĐCSTC nhắm tới. “Cách tiếp cận của họ là chiến lược. Trên thực tế, họ có kế hoạch 5 năm hẳn hoi, từng bước đạt được vị trí thống lĩnh trong các lĩnh vực then chốt. Để đạt được mục tiêu của mình, họ sử dụng một loạt các biện pháp phi truyền thống, cả hợp pháp lẫn bất hợp pháp, kết hợp đầu tư nước ngoài và mua lại công ty, xâm nhập Internet và đe dọa chuỗi cung ứng”.

ĐCSTC đang cố tình thực hiện kế hoạch trộm cắp này. Trong vài thập kỷ qua, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp mối đe dọa của ĐCSTC và bây giờ mọi người mới nhận thức được tính nghiêm trọng của mối đe dọa này, ông Way nói thêm.

XaHoiTrungCong4

Tẩy chay hàng hóa Trung Cộng

Năm ngoái, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã khai triển “Sáng kiến Trung Cộng” (China Initiative), trong đó Hoa Kỳ sẽ tích cực điều tra và truy tố các công ty, cá nhân TC bị nghi ngờ tham gia trộm cắp bí quyết thương mại và gián điệp kinh tế.

Đây không phải lần đầu Giám đốc FBI Christopher Wray tố cáo về nạn gián điệp của Đảng Nhà Nước và của xã hội của chế độ TC.  Hồi năm 2018 ngày 11 tháng 12, trong cuộc điều trần trước Ủy ban Tư pháp Thượng viện ở Washington Giám đốc FBI Christopher Wray nói rằng Trung Cộng không chỉ dựa vào các tổ chức nhà nước để làm suy yếu sức mạnh quân sự, kinh tế, văn hóa và thông tin của Mỹ trên toàn cầu.Giám đốc FBI nhìn nhận mối đe dọa không chỉ đến từ chính phủ Trung cộng mà còn từ toàn xã hội Trung Cộng. Ông kêu gọi “toàn xã hội” Mỹ đoàn kết để đối phó với Trung Cộng.

XaHoiTrungCong5

Diễn Đàn An Ninh Aspen

Nhớ  tại Diễn đàn An ninh Aspen, hôm thứ Tư 18/7/ 2018, các phóng viên đã đặt câu hỏi liệu ông Giám đốc FBI Christopher Wray có coi Trung Cộng là “kẻ thù” hay không và ở mức độ nào. Ô. Wray trả lời không phải Nga, mà Trung Cộng mới là mối đe dọa lớn nhất về tình báo đối với nước Mỹ. Ông dẫn giải Trung Cộng phủ mạng lưới tình báo khắp 50 tiểu bang của Mỹ, còn tình báo Nga thì không.

“Xét từ góc độ điều tra phản gián, tôi cho rằng Trung Cộng là mối đe dọa lớn nhất, thách thức nhất và đáng lo ngại nhất của nước Mỹ”.”Sở dĩ tôi nói vậy là bởi họ đã tiến hành nhiều động thái gián điệp toàn diện trong nội bộ nước Mỹ. Không chỉ gài gián điệp thông thường, họ còn có cả gián điệp kinh tế [tại Mỹ]. Ngoài những đặc vụ truyền thống, họ còn tiến hành thu thập thông tin bằng nhiều cách khác, bằng nhân lực hoặc các thiết bị điện tử”.”Chúng tôi đã tiến hành điều tra gián điệp kinh tế trong tất cả 50 tiểu bang của Mỹ, và tất cả đều có bàn tay của Trung Cộng. Thiết bị theo dõi được tìm thấy ở những nơi ít ai ngờ tới – trong hạt ngô ở Iowa, hay những cối xay gió ở Massachusets… Do đó tôi cho rằng chúng ta không thể coi thường tầm cỡ, số lượng hay mức độ thâm nhập của gián điệp Trung Cộng”.

XaHoiTrungCong6

Gián điệp Trung Cộng có thể ở khắp mọi nơi

Báo chí, truyền thông, quốc hội Mỹ từ lâu cũng rất thường đưa ra những thông tin nghị luận vạch trần các hành động của tình báo TC ăn cắp “bí mật kinh doanh, tài sản online”, giả mạo và “buôn bán hàng giả.” Năm 2017 FBI cũng có một báo cáo cho biết việc Trung Cộng ăn cắp sở hữu trí tuệ đã khiến Mỹ thiệt hại đến 600 tỉ USD hàng năm.

Ông Giám đốc FBI Christopher Wray nhận định hoạt động gián điệp của Trung Cộng tại Mỹ mang tính chiến lược hơn và có quy mô lớn hơn nhiều so với hoạt động can thiệp nội bộ nước Mỹ của Nga trong những năm gần đây, dù những cáo buộc về Nga dường như đang “chiếm sóng” truyền thông nhiều hơn.

Blue Computer Hacker

Hackers Trung Cộng đang ngày đêm rình mò, phá hoại và trộm cắp dữ liệu điện toán

TC đã đánh cắp hàng khối dữ  liệu của Hải Quân Mỹ. Theo Reuters, ngày 14/12, báo Wall Street Jourrnal (WSJ) đưa tin, tin tặc Trung Cộng đã tấn công các nhà thầu của Hải quân Mỹ để đánh cắp hàng loạt thông tin, trong đó có các sơ đồ về hoả tiễn. Động thái này bị một số quan chức coi là chiến dịch tấn công mạng hiểm hóc nhất có liên quan tới Bắc Kinh.Các nhà lập pháp cũng bày tỏ lo ngại việc TC lợi dụng trí thức ở nước ngoài. Chính phủ Trung Cộng có thể gây áp lực cho các Hoa kiều được họ tài trợ để học tập và nghiên cứu tại Mỹ nhằm tiếp cận các nghiên cứu có giá trị chiến lược.

XaHoiTrungCong8

Trung Cộng bất chấp mọi thủ đoạn để đạt đến mục tiêu

XaHoiTrungCong9

Phụ tá Giám Đốc FBI Bill Priestap cảnh báo về hoạt động của các “Viện Khổng Tử”

Trung Cộng sử dụng “Viện Khổng tử”, các tổ chức được thành lập trong các trường đại học Mỹ với sự tài trợ của Chính phủ Trung Cộng để dạy ngôn ngữ và văn hóa Trung Cộng, cũng thu hút sự chú ý. Ông Bill Priestap cho biết có 150 Viện Khổng tử trong các trường đại học ở Mỹ. Chính phủ Trung Cộng từ năm 2008 đã tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài và chi tiền cho họ nhằm hỗ trợ hiện đại hóa Trung Cộng, hơn 300 nhà nghiên cứu của Chính phủ Mỹ đã chấp nhận khoản chi của Trung Cộng. James Mulvenon cho biết không rõ họ đã nhận được sự cho phép từ cơ quan của mình để nhận khoản tài trợ này hay chưa.

Vi Anh

____________________________________

In the Name of Confucius

Thảm Họa Bắc Thuộc—Vietnam Film Club

 


DI CHÚC CỦA HOÀNG ĐẾ TRẦN NHÂN TÔNG (1258–1308)

di-chuc

VFC – Hồn Tử Sĩ (Souls of The Fallen – Bien Hoa Military Cemetery)—Vietnam Film Club

19/5: Sinh Nhật Một Thi Hào—Trần Khải

TanDaNguyenKhacHieu(1)

Ngày 19 tháng 5 là sinh nhật một thi hào? Đúng vậy. Không chỉ làm thơ siêu xuất, ông cũng là người ấn hành tạp chí văn học đầu tiên tại Việt Nam. Đó là Tản Đà.

Nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 – mất ngày 7 tháng 6 năm 1939, tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Tự điển Wikipedia kể: Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là “gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”.

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự Sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao – Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định.) Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu Thư, rồi Hiệu Trưởng trường Tân Quy, Đốc Học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô – Ninh Bình, Vụ Bản – Nam Định, Quảng Oai – Sơn Tây, Vĩnh Tường – Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời…

Từ 1915 đến 1926 là những năm tháng đắc ý nhất của Tản Đà. Năm 1915, cuốn sách đầu tiên của Tản Đà được xuất bản, gây tiếng vang lớn, đó là tập thơ “Khối tình con I.”

Sau thành công đó, ông viết liền cuốn “Giấc mộng con” (cho in năm 1917) và một số vở tuồng: “Người Cá”, “Tây Thi”, “Dương Quý Phi”, “Thiên Thai” (diễn lần đầu năm 1916 tại Hải Phòng.)

Năm 1917, Phạm Quỳnh sáng lập ra “Nam Phong tạp chí”, và bài của Tản Đà có trên tạp chí này từ số đầu tiên. Năm 1918, Phạm Quỳnh ca ngợi cuốn “Khối tình con I” và phê phán cuốn “Giấc mộng con I”, cả khen lẫn chê đều dùng những lời lẽ sâu cay, biến Tản Đà trở thành một hiện tượng trên văn đàn. Sau bài phê phán tư tưởng của “Giấc mộng con”, Tản Đà thôi cộng tác với Nam Phong tạp chí và mở một số cuộc hội đàm để chống lại những lời phê phán đó, sự kiện này cũng được nhiều giới quan tâm.

PhamQuynh
Từ 1919 tới 1921, Tản Đà viết một loạt sách; truyện thì có “Thần Tiền”, “Đàn Bà Tàu” (1919); sách giáo khoa, luân lý thì có “Đài Gương”, “Lên Sáu” (1919), “Lên Tám” (1920), thơ thì có tập “Còn Chơi” (1921). Thời kỳ này ông quen với một nhà tư sản nữa là ông Bùi Huy Tín, cùng nhau du lịch khắp Bắc, Trung kỳ và làm chủ bút “Hữu Thanh tạp chí” một thời gian.

Năm 1922, Tản Đà thành lập “Tản Đà thư điếm” (sau đổi thành “Tản Đà thư cục”), đây là nhà xuất bản riêng đầu tiên của ông. Tại đây đã xuất và tái bản hết những sách quan trọng trong sự nghiệp của Tản Đà; “Tản Đà Tùng Văn” (tuyển cả thơ và văn xuôi, trong đó có truyện “Thề Non Nước”, 1922); “Truyện Thế Gian” tập I và II (1922), “Trần Ai Tri Kỷ” (1924), “Quốc Sử Huấn Nông (1924), và tập “Thơ Tản Đà” (1925). Ngoài ra thư cục này còn cho xuất bản sách của Ngô Tất Tố, Đoàn Tư Thuật.

Năm 38 tuổi (1926), Hữu Thanh tạp chí đình bản, Tản Đà cho ra đời “An Nam tạp chí” số đầu tiên với tòa soạn ở phố Hàng Lọng. Sự ra đời của “An Nam tạp chí”, tờ báo mà Tản Đà dành hết tâm huyết, đã bắt đầu quãng đời lận đận của ông…

Năm 1931-1932, Tản Đà có cuộc bút chiến nổi tiếng với Phan Khôi về luân lý và Tống Nho. Ông có câu nói đi vào lịch sử khi kết án Phan Khôi: “vu hãm tiên hiền, loạn ngôn hoặc chúng, bại hoại phong quá” và đòi đem Phan Khôi ra Văn Miếu quất roi vào đít. Thời gian này, ông có vào Sài Gòn ít lâu và đảm nhận phụ trương văn chương cho tờ báo của ông Diệp Văn Kỳ, và cư ngụ tại Xóm Gà.

Phan Khoi (1)

Tự điển Wikpedia cũng ghi nhận: Tản Đà người sáng lập ra tờ báo chuyên về văn học đầu tiên của Việt Nam: tờ “An Nam tạp chí”. Số đầu tiên ra ngày 1 tháng 7 năm 1926, Tản Đà làm chủ báo, thư ký tòa soạn là Ngô Tất Tố. Tờ báo xem như gắn liền với sự nghiệp làm báo của Tản Đà, song nó không hoạt động yên ổn như ý, cho đến ngày chính thức “chết”, tờ báo đã trải qua ba lần đình bản.

“An Nam tạp chí” đình bản lần đầu tiên vào tháng 3 năm 1927, sau khi ra được 10 số. Sau đó, đến năm 1929, Tản Đà hợp tác với một người ở Hàng Gai, cho tái bản tạp chí. Theo ông Lâm Tuyền Khách, sự tái bản này là ý của người kia, ra tạp chí để có dịp thu nợ vì Tản Đà nợ ông một món không dễ trả. Trên bìa “An Nam tạp chí” lúc ấy ghi Tản Đà là “chủ sự”, còn ông nọ là “chủ nhân”. Cũng theo ông Lâm Tuyền Khách, còn một lý do nữa là nếu ngày ấy An Nam tạp chí không tái bản thì sẽ bị thu giấy phép.

Lần tái bản này chỉ ra được vài số rồi lại đình bản. Đến tháng 4 năm 1931, “An Nam tạp chí” lại tái bản, lần này hoạt động đến ngày 1 tháng 3 năm 1933 thì đình bản vĩnh viễn vì lý do tài chính.

Tản Đà là cây bút chủ lực của “An Nam tạp chí”, cách làm báo của ông có thể coi là khá đặc biệt. Theo Lâm Tuyền Khách, ban ngày ông không làm việc, chỉ uống rượu, nói chuyện hay đọc sách, đến hai – ba giờ đêm ông mới trở dậy thắp đèn viết cho đến sáng. Trong tờ báo nhiều khi độc giả thấy những bài viết đang liền mạch, tự nhiên bị bỏ dở trong một thời gian dài mới thấy Tản Đà xuất hiện viết tiếp.

Tờ “An Nam tạp chí” tuy tổng cộng chỉ có 48 số, lại hoạt động thất thường, thiếu chuyên nghiệp nhưng được coi là một trong những tờ đầu tiên có những đóng góp tích cực vào sự phát triển của văn học Việt Nam thời cận đại theo khuynh hướng hiện thực. Bên cạnh đó nó thể hiện một cách kín đáo lòng yêu nước của Tản Đà, qua những bài tiểu luận, bài thơ đăng rải rác…

Có nhiều lời nhận xét đáng chú ý về thi sĩ Tản Đà.

Nguyễn Tuân viết: “Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Bùi Giáng viết: “…bản dịch “Trường hận ca” của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết: “Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết: “Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Lưu Trọng Lư viết: “…trước chúng tôi, không kèn không trống, lặng lặng im im, tiên sinh cũng đã làm ra “thơ mới” đó thôi!”

Khái Hưng viết: “Nhưng trong làng văn nước ta, được nhiều người yêu mến thời còn sống, dễ mới có Tản Đà.”

Hai nhà bình luận Hoài Thanh, Hoài Chân viết trong bộ “Thi Nhân Việt Nam” về Tản Đà: “Anh em ở đây, tuy người sau kẻ trước, nhưng ai nấy đều là con đầu lòng của thế kỷ hai mươi. Trên hội Tao đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỷ. Tiên sinh sẽ đại biểu cho một lớp người để chứng giám công việc lớp người kế tiếp. Ở địa vị ấy còn có ai xứng đáng hơn tiên sinh…”

Xin đồng bào nhớ nhé: ngày 19 tháng 5 là sinh nhật của một nhà thơ vĩ đại nơi núi Tản sông Đà…

Trần Khải

Đại Lễ Vesak 2019: Những Vết Đen Điếm Nhục Của Phật Giáo Quốc Doanh—Gió Bấc | VIETLIVE.TV

000_1GE9FT_960Các nhà sư đang tụng kinh tại một lễ ở Chùa Tam Chúc ở Hà Nam hôm 13/5/2019 trước lễ Vesak

Đại lễ Vesak 2019 tại Việt Nam lẽ ra là niềm vui hạnh phúc của cộng đồng Phật giáo và niềm vui chung của dân tộc là cơ hội để mỗi con người gội rửa thân tâm hướng đến thảnh thơi an lạc và ứng xử với nhau bằng hạnh hỷ xả. Việt Nam cũng chia sẻ với thế giới những giá trị trí tuệ của tinh hoa Phật học.

Rất tiếc, những đồng chí được đảng nhà nước phân công vào vai hòa thượng, thượng tọa Phật giáo quốc doanh đã quá trâng tráo, hành xử ngông nghênh vô học, báng bổ phật pháp, tạo ra những vết đen nghiệp chướng muôn đời không tẩy xóa.

Báng bổ đạo pháp

Ngay trước đại hội, báo chí quốc doanh đồng loạt đưa tin về bức tranh Đạo Pháp và dân tộc. Tối 10/5/2019, tại Học viện Phật Giáo Việt Nam, tọa lạc tại Sóc Sơn, Hà Nội, hòa thượng, tiến sĩ Thích Thanh Đạt, Ủy viên thư ký Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thượng tọa, tiến sĩ Thích Thanh Quyết- Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các vị cán bộ lão thành các cấp cùng hàng trăm tăng ni phật tử tham dự, thượng tọa Thích Thanh Quyết công bố ra mắt bức tranh sơn ta “Đạo pháp và dân tộc”  Thượng tọa Thích Thanh Quyết đã cùng Nhà đầu tư Hà Huy Thanh, cháu của cố Tổng bí thư Hà Huy Tập, làm lễ kéo khăn nhiễu công bố bức tranh trước tiếng vỗ tay không ngừng của các tăng ni, phật tử.

Thượng tọa Thích Thanh Quyết đã đặt những nét vẽ đầu tiên để “khai bút” vẽ một bên là Phật Thích Ca Mâu Ni, một bên là Hồ Chí Minh, và ở giữa là bánh xe chuyển pháp luân. “Đạo pháp và dân tộc” là tác phẩm được xây dựng dựa trên sáng kiến của ông Hà Huy Thanh, sự ủng hộ và hưởng ứng nhiệt tình của thượng tọa, TS Thích Thanh Quyết cùng đông đảo cán bộ và tăng ni sinh của học viện Phật Giáo Việt Nam.

Thích Thanh Quyết còn dám đại xảo ngôn cho rằng, bức tranh có bố cục trọng tâm là bánh xe chuyển pháp luân nói lên sự vận động của quy luật nhân quả, sinh diệt mà chúng sinh giác ngộ được Phật Pháp. Đây là bức tranh đặc biệt có ý nghĩa, đức Phật tổ Thích Ca và Bác Hồ đều là những vị cứu tinh của nhân loại, càng có ý nghĩa hơn khi đúng với tinh thần của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam là “Đạo pháp và dân tộc”, Đức Phật biểu trưng cho Đạo pháp, Bác Hồ tượng trưng cho tinh thần dân tộc. {1}

HCM2Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội hôm 10/5/2019, đã tổ chức sự kiện mừng Lễ Phật Đản năm 2019 và công bố bức tranh sơn mài có tên “Đạo Pháp và Dân Tộc”. Courtesy of baotintuc.vn

Bức tranh đã tạo ra cơn địa chấn phẫn nộ trong cộng đồng phật tử Việt Nam vốn dĩ hiền hòa đôn hậu. Nội dung hình ảnh trong bức tranh và lời lẽ xảo ngôn của Thích Thanh Quyết đã chạm vào những giá tri thiêng liêng của Phật pháp. Sự sắp đặt đức Thích Ca Mâu Ni ngang hàng với Hồ Chính Minh xem Hồ Chí Minh là đại diện tiêu biếu cho Dân Tộc là xúc xiểm không chỉ cộng đồng Phật giáo mà đến cả dân tộc Việt Nam trong ngoài nước.

Không cứ phải là Phật tử, một người khách quan, tác giả Bên Thắng Cuộc, nhà báo Huy Đức nhìn hiện tượng này với vẻ diễu cợt đau xót “Suốt hơn hai nghìn năm qua, giới tăng lữ luôn được đặt ở đẳng cấp cao nhất trong xã hội. Chỉ trong thời mạt pháp, các chức sắc của một tôn giáo có đông tín đồ nhất mới tụt xuống hàng cuối cùng cả về văn hoá và tư cách như thế:

PS: Chân tướng cái gọi là “Nhà đầu tư Hà Huy Thanh, cháu của cố Tổng bí thư Hà Huy Tập” đang chuẩn bị được làm rõ; rồi chúng ta sẽ biết bản chất bọn buôn thần bán thánh ra sao”.{2}

Xảo ngôn, nịnh hót

Cư sĩ, nhà văn, Tiến sĩ Trần Kiêm Đoàn đang giảng dạy đai học ờ Mỹ, có bài viết trên Fb “ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC…CẦN ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN CĂN BẢN NHÂN VĂN VÀ TRUNG THỰC”.

Ông Đoàn viết, Trong khi VESAK – Lễ hội Phật Đản Thế giới – đang diễn ra ở Hà Nam thì “hậu trường sân khấu” lại có những màn trình diễn vớ vẩn như bức tranh này. Đây là một hình thức báng bổ Phật giáo cũng như hạ thấp tinh thần dân tộc và lịch sử Việt Nam xuống ngang tầm với trò quảng cáo lãnh tụ và tuyên truyền chính trị!

Nhiều Phật tử và Thân hữu đã bày tỏ tâm đắc với lời nhận định của ông NT về bức tranh sơn mài “Mừng Phật Đản 2019” nầy, khi ông viết:

“ Đây là biểu tượng cho một thứ văn hoá nô bộc và tôn sùng lãnh tụ theo tâm lý bầy đàn thời Trung Cổ.”

Đức Phật là Đức Phật; Cụ Hồ Chí Minh là cụ Hồ Chí Minh.

Đức Phật là biểu tượng truyền thống cho tôn giáo Phật giáo. Quả nhiên đây là điều không thể hiểu mập mờ hay phủ nhận được.

Nhưng cụ Hồ Chí Minh không phải là biểu tượng truyền thống cho dân tộc Việt Nam nói chung. Cụ là một nhà lãnh đạo của phong trào Cộng Sản thời 1930. Người cộng sản Việt Nam có quyền tôn sùng Cụ Hồ như là biểu tượng cho một dân tộc Việt Nam theo chủ nghĩa Xã Hội hay Cộng Sản mà thôi. Nhưng không ai có quyền áp đặt Cụ Hồ trở thành biểu tượng chung cho toàn thể dân tộc Việt Nam cả. Sự nịnh hót lộ liễu và trắng trợn luôn luôn đồng nghĩa với sự hủy hoại thanh danh và nhân cách của cả hai đối tượng NỊNH HÓT và BỊ NỊNH HÓT!” {3}

Hòa thượng Thích Thanh Quyết

Hòa thượng Thích Thanh Quyết. Courtesy of phatgiao.org

Thích Thanh Quyết đã hết sức xảo ngôn khi đánh đồng Đức Phật với Hồ Chí Minh là cúu tinh của nhân loại. Đức Phật thật sự là vị cứu tinh khi tìm ra chân lý Tứ diệu đế, Bát chánh đạo để con người thoát khỏi sự vô minh hướng đến tuệ giác, an lạc. Còn Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân loại di sản gì? Có lẽ với lòng hỷ xả của Phật tử, Tiến sĩ Trần Kiêm Đoàn chỉ không chấp nhận Hồ Chí Minh là đại diện của dân tộc Việt Nam mà không nhắc đến những tội ác của họ Hồ đã gây ra với dân tộc. Hồ Chí Minh đã đem về cái chủ nghĩa Mác Lê thống trị dân tộc Việt hơn nửa thê kỷ. Cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu từ bài viết “Địa chủ ác ghê!” của Hồ đã giết oan hàng vạn người ở Miền Bắc. Cái ý chí hiếu chiến hiếu thắng “thà đốt cháy cả dãi Trường Sơn cũng quyết thắng giặc Mỹ” đã thúc đẩy cuộc nội chiến 20 năm giết chết hàng triệu người Việt và gây ra hiềm khích, ngăn cách trong lòng dân tộc không biết đến bao giờ có thể hàn gắn. Riêng bài thơ Mừng xuân 68 phát trên đài Hà Nội lúc giao thừa là mật lệnh mở màn cho cuộc chiến Mậu Thân làm chết oan hàng vạn thường dân đã đủ truy cứu Hồ Chí Minh như tội phạm diệt chủng.

Đánh đồng đức từ bi vô lượng với kẻ hiếu sát, Thích Thanh Quyết đã tự lột áo nhà tu lộ nguyên hình là tên cán bộ cộng sản nói dối không biết ngượng mồm.

Văn nghệ sex phục vụ chư tăng!

Không chỉ sốc với bức tranh của ma tăng Thích Thanh Quyết, dư luận còn sốc hơn khi xem đài truyền hình Việt Nam tường thuật diễn biến dại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2019 trong đó có chương trình văn nghệ với điệu múa sexy của các nữ diễn viên với trang phục mỏng tang, được pha đèn ngược sáng lộ rỏ đường cong cơ thể và cả sắc màu da thịt,

Fb Võ Khánh Tuyển đăng bài viết NGHĨ GÌ ??? và một chùm ảnh các điệu múa này đã nhận được 393 like, 158 bình luận và 98 lượt chia sẻ.

Võ Khánh Tuyến nêu vấn đề “… Nếu là chương trình biểu diễn bình thường, thì có sexy và khêu gợi hơn nữa cũng chẳng có gì đáng nói .

… Nhưng đây lại là Chương trình hoạt động của Lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2019 do Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai tổ chức. Đài Truyền hình Quốc Gia Việt Nam VTV trực tiếp truyền hình .

Không biết các vị Chức sắc tu hành của Phật Giáo, đại biểu Phật Giáo của bao nhiêu nước tham dự… sẽ có suy nghĩ gì khi được Giáo hội Phật Giáo Việt Nam ” chiêu đãi” như thế này ?” {4}

Fb Chu Hồng Quỳ đã chỉ ra điều cốt tử là “CẤM NGHE, XEM CÁC HÌNH THỨC BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT là 1 trong 28 giới cấm của giới Bồ-tát tại gia, cũng là 1 trong 48 giới cấm của giới Bồ-tát xuất gia, 1 trong 250 giới cấm của giới Tỳ-kheo, cũng như 1 trong 384 giới cấm của giới Tỳ-kheo ni. Thậm chí trong 8 giới cấm ở ngày thọ giới Bát quan trai của Phật tử tại gia cũng có giới cấm nghe xem này.

Vậy mà các người ngửa cổ, vểnh tai xem người ta hát hò múa may ở Đại lễ Phật đản Thế giới Vesak 2019.

Hỡi các tăng, ni phá giới, hỡi các bồ-tát xú uế, bồ-tát chi-đà-na! Các vị tu cả đời cũng không bù lại một giờ phá giới. Các người đang hủy hoại chánh pháp và phỉ báng Đức Thế tôn Như-Lai vào đúng dịp kỷ niệm ngày đãn sinh của Ngài”. {5}

Cũng cùng quan điểm này, Fb của Nguyễn Đình Bổn có bài “Đi ngược với Giới, Luật của Thích Ca!”

Nguyễn Đình Bổn lý giải “Trong nhiều kinh và luật của Phật giáo dạy rằng các vị tu sĩ xuất gia và các vị cư sĩ tại gia tự nguyện tập sự xuất gia qua việc thọ Bát Quan Trai giới cần tránh xa việc xem nghe ca hát và tự mình ca hát vì mục đích của người tu hành là giải thoát mọi sự khổ đau của cuộc đời.

Trong Tạng luật, Tiểu phẩm chương “Các Tiểu Sự” ghi lại lời Đức Phật đã dạy: “Này các tỳ khưu, không nên đi xem vũ, ca, hoặc tấu nhạc; vị nào đi thì phạm tội dukkaṭa (tác ác- nghĩa là không tốt, không thiện, làm chuyện xấu).

Ngay cả khi giảng pháp, Đức Phật cũng không cho phép ngâm nga theo âm điệu trầm bổng, Đức Phật dạy về 5 điều sai trái khi ngâm nga như sau: “Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi khi ngâm nga Pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài: Bản thân vị ấy bị say đắm trong âm điệu, luôn cả những kẻ khác cũng bị say đắm trong âm điệu, hàng tại gia phàn nàn, trong khi ra sức thể hiện âm điệu thiền định bị phân tán, điều cuối cùng là dân chúng thực hành theo đường lối sai trái”. Và trong “Pháp hội Vườn xoài”, được ghi trong Kinh Trường Bộ – Sa Môn Quả, [Điều thứ 45] Đức Phật nhân giảng cho vua nước Magadha về Tỳ-kheo giới hạnh cụ túc, Ngài nói: “Phải từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, diễn kịch”.

Giáo hội Phật giáo VN ngày nay đã suy đồi cùng cực và bày ra nhiều trò dị hợm đi ngược với Giới, Luật của Thích Ca!” {6}

Quảng bá kinh doanh du lịch tâm linh

Nguyên Giảng viên đại học, Nhà báo Nguyễn Thông cũng ngậm ngùi viết trên Fb “Hỏng cả sinh nhật Đức Phật

Thú thực, xem các cảnh trên tivi, tôi có cảm giác đại lễ Vesak Phật đản 2019 mà xứ ta đăng cai tổ chức không khác gì một chương trình nghệ thuật tổng hợp ca nhạc-tạp kỹ-thời trang và kết hợp khoe mẽ chính thể, quảng bá du lịch, chứ chả có gì của Phật, của tôn giáo từ bi bác ái. Rồi không hiểu những ngày tiếp theo họ còn làm cái gì để rồi sẽ “thành công tốt đẹp” {7}

Những giòng ngắn ngủi của Nhà báo Nguyễn Thông đã bật ra một vấn đề quan trọng. Ngoài việc làm bức tranh, làm hoạt cảnh tự do tôn giáo che đậy cho sự đàn áp dã man những bậc tu hành chân chính, đại lễ Vesak do giáo hôi Phật giáo quốc doanh Việt Nam tổ chức còn là cơ hội quảng cáo cho mô hình du lịch tâm linh của các nhóm lợi ích đang khuynh đảo quốc gia.

Báo Dân Việt có bài viết nhận xét “Những năm gần đây, một khái niệm mới trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành du lịch Việt Nam nói riêng ra đời, đó là “du lịch tâm linh”. Đây là loại hình vừa đáp ứng nhu cầu thờ tự, tín ngưỡng lại vừa giúp mọi người có cơ hội đi thưởng ngoạn, ngắm cảnh.”

Hình minh họa. Người dân thắp đền tại chùa Tam Chúc ở Hà Nam hôm 13/5/2019 trước lễ Vesak

Hình minh họa. Người dân thắp đền tại chùa Tam Chúc ở Hà Nam hôm 13/5/2019 trước lễ Vesak AFP

Thử dùng từ khóa “Du lịch tâm linh Việt Nam” trên công cụ tìm kiếm của Google, chúng ta sẽ có 14.200.000 kết quả. Điều đó cho thấy sức quảng bá cho mô hình này kinh khủng đến mức nào. Càng kinh khủng hơn là việc các nhóm lợi ích đã chia chác tài nguyên đất đai núi rừng, thắng cảnh thiên nhiên di tích lịch sử trục lợi qua danh nghĩa mỹ miều “du lịch tâm linh”.

Báo Dân Việt đã giới thiệu khái quát về một trong những mô hình này “Đáng chú ý, cái tên Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường (có trụ sở ở Ninh Bình) của tỷ phú Xuân Trường đang là tâm điểm du luận sau hàng loạt dự án tâm linh có số vốn đầu tư “khủng” dao động từ 10.000 – 15.000 tỷ đồng, với diện tích đất mỗi dự án hàng nghìn ha. Dư luận xã hội đặc biệt quan tâm ở cả khía cạnh kinh tế và văn hóa, tâm linh khi phát triển dự án tâm linh này.

Đầu tiên phải kể đến dự án quần thể tâm linh chùa Bái Đính tại Ninh Bình. Quần thể chùa này có diện tích 1.700ha bao gồm khu chùa Bái Đính cổ, khu chùa Bái Đính mới và các khu vực như: công viên văn hoá và học viện Phật giáo, khu đón tiếp và công viên cảnh quan, đường giao thông và bãi đỗ xe, khu hồ Đàm Thị, hồ phóng sinh…

Sau khi tạo được tiếng vang lớn từ dự án chùa Bái Đính, doanh nghiệp Xuân Trường “bắt tay” xin đầu tư, kinh doanh những dự án tâm linh khác với quy mô càng ngày càng “khủng”. Trong đó, xôn xao dư luận gần đây là dự án chùa Tam Chúc – Ba Sao (Hà Nam). Theo giới thiệu của doanh nghiệp Xuân Trường, khu dự án tâm linh này có tổng diện tích lên tới 5.100ha (bằng kích thước gần 300 sân vận động quốc gia Mỹ Đình cộng lại)….” {8}

Xin đừng tiếp tay cho cái ác!

Đại lễ năm nay được đăng cai tổ chức tại Tam Chúc thực chất chỉ là tấn tuồng quảng bá cho dự án kinh doanh mua thần bán thánh này, Nếu soi từ triết lý sống thiểu dục của Đức Phật “Tài sản của mỗi người chỉ là mấy bộ cà sa và y bát. Tất cả cũng chỉ là để hành đạo” thì việc xây chùa to, phật lớn đã là đi ngược đạo pháp.

Những vết nhơ về nội dung tổ chức đại lễ cho thấy thực tâm của nhà nước và giáo hội quốc doanh. Đại lễ Vesak 2014 tổ chức tại Bái Đính và lần này tại Tam Chúc đều là cơ hội và mục tiêu quảng bá cho doanh nghiệp kinh doanh du lịch tâm linh Xuân Trường. Trong các dịch vụ kinh doanh ấy có cả casino. Trong khi đó chùa Liên Trì ở Thủ Thiêm, chùa An Cư ở Đà Năng bị chính quyền đập phá cũng để phục vụ cho các dự án kinh doanh địa ốc. Một dự án Bản Hoa Anh Đào ở Bảo Lộc chuyên điều tri bệnh nhân trầm cảm của Đại đức Thích Minh Niệm, tác giả quyền sách nổi tiếng Hiểu về trái tim cũng buộc phải đóng cửa không có lý do. Đai đức Minh Niệm phải “tu dạo” nhờ các chùa khác và thuyết pháp online.

Viết những giòng chữ này, chúng tôi muốn gởi đến quý cao tăng, quý nguyên thủ quốc gia đã nhọc công tham dự Vesak 2019 xin hãy phát tâm lắng nghe tiếng nói đau khổ của chư tăng ni phật tử Việt Nam và có thái độ đúng đắn trong ứng xử với Giáo hội Phật giáo quốc doanh hiện nay. Đây thực chất không phải là giáo hội Phật giáo mà chỉ là một tổ chức ngoại vi trá hình của đảng cộng san. Họ đang kinh doanh mua thần bán thánh gieo rắc mê tín di đoan như cúng sao giải hạn, giải oan trái chủ, kích hoạt lòng tham mê muội của con ngượi Hệ thống công an tôn giáo, Ban Tôn Giáo chính phủ kiểm soát về nhân sự toàn bộ hệ thống giáo hội này.

Những nhà tu chân chính như Thích Quảng Độ và Giáo hội phật giáo VN thống nhất, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo thuần túy đang bị đàn áp, bức hại khốc liêt.

Hy vọng rằng quý vị đừng vì ngộ nhận mà vô tình trở thành kẻ tiếp tay, trở thành những diễn viên cho các tấn tuồng dối trá, làm bình phong cho chế độ độc tài khống chế người dân, biến nền đạo pháp trí tuệ từ bi thành phương tiện chiếm đoạt tài nguyên đất nước để kinh doanh trục lợi.

1. http://bit.ly/2WIncot

2. https://www.facebook.com/Osinhuyduc

3. https://www.facebook.com/TranKiemDoan?__tn__=%2CdC-R-R&eid=ARCVYYxmUSf9L…

4- http://bit.ly/2JHDGJW

5-http://bit.ly/2Q4BOfp

6- http://bit.ly/2Q47xO0

7-http://danviet.vn/kinh-te/kinh-doanh-tam-linh-khu-chua-nghin-ha-day-song-du-luan-956978.html

Trung Cộng Yếu Trong Cuộc Chiến Mậu Dịch—Ngô Nhân Dụng

Harley-DavidsonMỹ còn muốn Trung Cộng phải cho các xí nghiệp Mỹ làm ăn ở bên Tàu phải có quyền thưa kiện nếu bị lấy cắp hoặc bị ép buộc… Trong hình, một cửa hàng Harley-Davidson tại Shanghai
Ngày Thứ Sáu Mỹ bắt đầu tăng thuế quan từ 10% lên 25% trên $200 tỷ hàng mua từ nước Tàu, hiệu lực ngay tức khắc. Ngày Thứ Hai Trung Cộng mới trả đũa, đánh thuế trên $60 tỷ hàng hóa Mỹ, đến đầu Tháng Sáu mới thi hành. Phản ứng chậm ba ngày và hoãn một tháng rưỡi mới áp dụng, rất có ý nghĩa. Bắt buộc phải trả đũa, nếu không sẽ mất mặt với dân chúng, nhưng Bắc Kinh vẫn muốn tỏ ý hòa hoãn.
Nhưng Tổng Thống Donald Trump không hòa hoãn mà còn đả mạnh hơn: Ra lệnh cho Cơ Quan Đại Diện Thương Mại (USTR, đóng vai trò một Bộ Ngoại Thương) công bố danh sách những món hàng còn lại nhập cảng từ bên Tàu, trị giá $300 tỷ, sẽ bị đánh giá 25% nốt.

(more…)

Chúc Mừng Đa Hiệu Online

ChucMungDaHieuOnline-R

Happy Mothers Day


Paul Mauriat—Mother of mine


Nhật Ký Của Mẹ—Hiền Thục

Sinh Nhật Trung Tướng Lâm Quang Thi, Cựu Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt

Trưa Chủ Nhật—5/5/2019, chúng tôi gồm một số CSVSQ và PNLV đại diện cho Hội Võ Bị Bắc Cali đã có cơ may đến thăm và chúc mừng sinh nhật cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi—cựu Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN. Chúng tôi cũng gặp 2 người con của ông là chị Lâm Bích Ngọc và anh Lâm Quang Dũng. NT Thi cùng phu nhân hiện đang sống tại 1 viện dưỡng lão (senior assisted living care.) Viện dưỡng lão xinh đẹp này có nhiều thành tích tốt trong việc phục vụ và chăm sóc sức khoẻ cho người cao niên, được yelp và caring xếp hạng 4-5 sao tại miền bắc California.

Nơi NT Thi và phu nhân cư ngụ là thành phố Fremont hiền hòa, có hãng xe Tesla danh tiếng đặt bản doanh, cách San José khoảng 20 miles về hướng bắc-tây bắc.

5 tháng 5 là ngày Cinco De Mayo. Khi chúng tôi đến, Vũ Đoàn Las Palmas (được viện dưỡng lão mời) đang trình diễn những vũ điệu ngọan mục, lồng trong nhiều nhạc phẩm Mexico vui nhộn cho các vị cao niên thưởng thức. NT Thi không thích xem những tiết mục văn nghệ này, ông thích gặp gỡ con cháu và chúng tôi hơn.

Bản tính nghiêm nghị và ít khi cười, nhưng khi nhìn thấy chúng tôi, NT Lâm Quang Thi tươi nét mặt, lộ vẻ hân hoan. Dáng dấp dong dỏng cao, vẫn mảnh khảnh—chưa bao giờ béo phì, ông bước những bước chậm rãi, vẫn còn khá vững chắc tiến dần về phía chúng tôi. Vì tuổi đời chồng chất, NT Thi đã bớt đi vẻ tráng kiện của những ngày tháng cũ. Bằng giọng nói thân mật, ông ân cần bắt tay từng người, thăm hỏi và tiếp đón chúng tôi tại căn dining room được dành riêng.

“Lúc này tôi ưa quên quá!” Ông than phiền mỗi khi chợt nhận ra rằng mình không thể nhớ tên của một ai đó. Mới ngày nào, từng là sĩ quan cấp tướng trẻ tuổi nhất nước (33 tuổi), nay NT Thi đã bước sang tuổi 87. 

Ông hơi khựng lại, thoáng ngẩn ngơ khi nghe chúng tôi xác nhận về tin tức cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn vừa mới từ trần tại San José. “Mấy ổng lần lần chết hết rồi!” NT Thi nói như một lời cảm thán. “Ông Dinh, ông Lãm cùng Khóa 3 với tôi cũng chết rồi. Tôi còn sống ngày nào, thì biết ngày đó,” ông nói thêm.

Tiễn biệt NT Bùi Đình Đạm Khóa 1 trong nỗi buồn vô hạn (tháng 6/2009)

Sau khi mọi người cùng chúc mừng NT Lâm Quang Thi qua bản nhạc đồng ca “Happy Birth Day” bất hủ, chúng tôi đại diện cho các CSVSQ khắp thế giới, chúc thọ vị cựu Chỉ Huy Trưởng.

Mặc dầu chẳng mấy khi nở nụ cười trọn vẹn, NT Thi tỏ vẻ xúc động. “Tôi rất lấy làm sung sướng được anh em tới thăm và chúc mừng sinh nhật,” ông nói, trước khi nâng ly mời mọi người dùng bữa. Chúng tôi ăn trưa với NT Thi, với các con cháu và người giúp việc của ông. Phu nhân NT Thi không được khoẻ nên không thể tham dự. Bà đang được nurse săn sóc tại phòng riêng. 

Mấy món ăn ngon đầy bàn gồm có bún thịt nướng, gà xì dầu, bánh bột lọc, chả giò, xôi vò, bánh mì, rượu nho và nước táo… Dĩ nhiên, không thể thiếu chiếc bánh sinh nhật với ngọn nến lung linh.

Bằng giọng hóm hỉnh và vui vẻ, NT Thi kể cho chúng tôi nghe vài câu chuyện xưa của ông—những mẩu chuyện mà chẳng mấy ai biết được. Chuyện vì sao Tổng Cục Taekwondo Đại Hàn đã trao tặng huyền đai đệ tam đẳng cho ông tức thì, ngay khi ông vừa đặt chân đến thăm Trường Võ Bị Đại Hàn (KMA—Korea Military Academy.) Chuyện Bà Từ Cung Hoàng Thái Hậu (Đức Từ Cung, thân mẫu Vua Bảo Đại) cầm tay ông, ân cần hỏi “sao không có nàng hầu?”. 

Có lẽ, NT Lâm Quang Thi là vị Chỉ Huy Trưởng chịu khó học hỏi nhất. Ông đã liên tiếp hướng dẫn phái đoàn của Trường Võ Bị Đà Lạt thăm viếng các Trường Võ Bị thuộc nhiều quốc gia đồng minh như Thái Lan (Hải Quân Hoàng Gia, Võ Bị Hoàng Gia), Philippines, Đại Hàn (Lục Quân, Không Quân, Hải Quân), Đài Loan, Nhật Bản (Không Quân, Hải Quân), Úc (Võ Bị Hoàng Gia, Không Quân), Hoa Kỳ (Lục Quân—ROTC, Không Quân, Hải Quân) và Võ Bị West Point. Theo NT Thi, mỗi quân trường bạn đều có sắc thái riêng. Ông và phái đoàn Trường Võ Bị Đà Lạt của ông đã học hỏi được vô số điều bổ ích.

(Video clip—CSVSQ Nguyễn Đức Quyền)

Năm 1986, NT Lâm Quang Thi đã nhận trách vụ Hội Trưởng của Hội Ái Hữu CSVSQ/TVBQGVN (tiền thân của Tổng Hội Võ Bị ngày nay) 2 nhiệm kỳ. Tại Đại Hội Võ Bị lần thứ 4 (25 /5/1986), trong bài diễn văn mãn nhiệm gây nhiều cảm xúc, NT Thi tuyên bố: “Võ Bị là lý tưởng của đời tôi.”

Hôm nay, ông vẫn lập lại câu nói đó trong bữa ăn trưa mừng sinh nhật, trước mặt các đàn em và các con cháu.

Nhớ ngày trước, đa số các viện Đại Học dân sự tại Việt Nam (mà các Viện Trưởng tốt nghiệp từ Pháp) đều rập khuôn theo lối học và thi cử từ chương của người Pháp; trong khi đó, TVBQGVN lại áp dụng hệ thống tín chỉ theo đường lối giáo dục thực dụng của người Mỹ (Trường Võ Bị West Point); Uỷ Ban Thẩm Định Văn Bằng của Liên Viện Đại Học Quốc Gia đã xem thường, nghi ngại và không chịu nhìn nhận văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng của Trường Võ Bị Đà Lạt. Chỉ Huy Trưởng Lâm Quang Thi nhất định phản đối sự đánh giá sai lạc đó. Sau nhiều lần tranh biện không thành công, ông đã phải yêu cầu Bộ Giáo Dục mời Uỷ Ban Thẩm Định Văn Bằng gồm các vị Viện Trưởng các Trường Đại Học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ cùng với vị Giám Đốc Trường Kỹ Sư Phú Thọ làm một cuộc quan sát lượng định ngay tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Sau khi tận mục sở thị, xem xét từng lớp học, đánh giá từng chương trình giảng dạy, cuối cùng Uỷ Ban Thẩm Định đã phải công nhận Văn Bằng Cử Nhân của các sinh viên Trường Võ Bị. NT Thi rất mãn nguyện và thường tự hào về thắng lợi này cho các CSVSQ của ông.

Một video clip cũ về Trường Võ Bị Đà Lạt. Ở phút 2:31, người ta có thể tìm thấy hình ảnh Trung Tướng Chỉ Huy Trưởng Lâm Quang Thi đang quan sát việc huấn luyện

Đối với quê hương, NT Lâm Quang Thi mãi thao thức về việc lịch sử chiến tranh Việt Nam đã bị giới truyền thông Mỹ bóp méo một cách tồi bại. Người ta (giới truyền thông và phản chiến Mỹ) đã không ngớt tô vẽ, thổi phồng và chỉ trích (bằng Anh ngữ) QL/VNCH là một đội quân yếu kém, hèn nhát, tham nhũng, v.v. đã đưa đến thất bại cay đắng cho Mỹ và cho VNCH. Vì vậy, ông đã viết một số sách bằng Anh ngữ về chiến tranh Việt Nam để ra sức cải chính, lấy lại sự thật và công bằng cho quân đội và chiến binh của mình. Các sách sau đây của NT Thi đã được Trường Đại Học Hoa Kỳ ấn hành:

– Autopsy: The Dead of South Viet Nam (Sphinx Pub. 1986)

– The Twenty-five Year Century (UNT Pub. 2002)

– Hell in An Loc (UNT Pub. 2009)

Âm thầm và miệt mài nhiều năm qua, NT Thi cố công viết sách, viết blog (bằng Anh ngữ) để vạch cho cả thế giới thấy rõ—trong chiến tranh quy ước, nếu được yểm trợ đầy đủ—QL/VNCH với quân số chỉ bằng 1/3 quân địch, vẫn có khả năng đánh bại những đạo quân thiện chiến. Ông làm việc này không ngoài mục đích nói ra những điều mà người ta cố tình nhận chìm, lấy lại chút công đạo đã bị cướp mất cho những cựu chiến binh VNCH thua thiệt.

Trong phần điểm sách “Hell in An Loc”, người ta đọc được Midwest Book Review (The Military Shelf) có đoạn viết “…Được thảo ra một cách tỉ mỉ và cụ thể để làm đúng lại lịch sử, Hell in An Loc phải được đặc biệt giới thiệu cho các thư viện đại học và các bộ sưu tập quân sử đang tập trung vào chiến tranh Việt Nam.”

Quyển Hell in An Loc do chính tác giả phát hành ngày 24/1/2010 tại San José đã được phổ biến khắp nơi từ dạo ấy, và nó đang nằm trong hầu hết các thư viện đại học. Do yêu cầu của các độc giả Việt Nam, NT Thi lại tiếp tục chuyển ngữ quyển Hell in An Loc sang tiếng Việt như ông đã làm với quyển The Twenty-five Years Century.

Vậy mà thật không may, phu nhân của ông thình lình trở bệnh và rồi bệnh tình mỗi ngày thêm trầm trọng. Là một phu quân gương mẫu, hết lòng yêu thương vợ mình—ông luôn túc trực bên giường bệnh—không còn lòng dạ nào để hoàn tất quyển sách bằng Việt ngữ nữa. 

NT Thi đã trao phiên bản tiếng Việt cho chúng tôi và đồng ý phổ biến sách Địa Ngục An Lộc online theo đề nghị của BCH Tổng Hội. Anh Lâm Quang Dũng (nhà văn Andrew Lam)—thứ nam của NT Thi rất tán thành ý kiến này. Theo anh, giới trẻ Việt Nam không còn tin tưởng vào đảng CS nữa; họ đang rất cần những tài liệu trung thực của VNCH. Anh Dũng cũng tỏ ra ưu tư về việc cần giúp đỡ giới độc giả trong nước vượt tường lửa (firewall.)

Rồi đây, trong tương lai gần—qua Đa Hiệu Online—phiên bản Hell in An Loc bằng Việt ngữ sẽ đến tay quý niên trưởng, quý bạn, quý độc giả gần xa.

Vài lời nhắn nhủ của cựu Chỉ Huy Trưởng (Video clip—CSVSQ Nguyễn Đức Quyền K28)
Trong lúc dùng bữa trưa, NT Lâm Quang Thi K3 đàm đạo với người bạn đồng Khóa—NT Đỗ Ngọc Nhận K3 qua điện thoại

Hôm nay—7/5/2019 là ngày Sinh Nhật chính thức của NT. Lâm Quang Thi. Chúng tôi gồm, Cao Yết K16 (và phu nhân), Lê Tấn Tài K20, Nguyễn Đức Quyền K28, Lê Thi K29 (và phu nhân), Nguyễn Gia Thiếu K30 (và phu nhân), Nguyễn Văn Được K31, Phạm Văn Pho K31 một lần nữa xin kính chúc Thầy Cũ—cựu Chỉ Huy Trưởng—Đại Niên Trưởng “Happy Birth Day.”

* Tiếc rằng, chị Nguyễn Văn Chấn K9/1 đang bệnh, NT Lê Viết Đắc K22 bị bận cuối tuần và anh Lâm Quang Tuấn K3/2 phải đi xa không thể tham dự buổi ăn trưa này như đã dự tính.

Video clip do CSVSQ Trương Kim Anh K23 & CSVSQ Nguyễn Đức Quyền K28 thực hiện

NT Lâm Quang Thi ngồi giữa. Từ trái sang phải: Lâm Bích Ngọc K3/2, phu nhân và Lê Thi K29, Phạm Văn Pho K31, Lê Tấn Tài K20, Cao Yết K16 và phu nhân, phu nhân và Nguyễn Gia Thiếu K30, Nguyễn Văn Được K31, Nguyễn Đức Quyền K28
(Lâm Quang Dũng K3/2 chụp hình, nên không có mặt trong hình này)

Nguyễn Gia Thiếu K30 tường thuật

Mr. Tariffs—Nguyễn Đạt Thịnh

Mr.Tariffs(1)

Tổng Thống Donald Trump vừa đe ông Tập Cận Bình, “Im a tariff Man. I will restart trade war if China-talks fail.” (Tôi thích đóng thuế Tariffs; Tầu mà phá bĩnh Hội Đàm Thuế Vụ, là tôi cho chiến tranh ngoại thương Mỹ-Hoa tái diễn ngay.”

(more…)

Khi Người Cao Tuổi Lái Xe—Bảo Huân

Cứ mỗi ngày ở Mỹ có 10 ngàn người bước vào tuổi 65, và đa số những người này vẫn còn lái xe. Những kỹ thuật mới của xe hơi, và số lượng càng ngày càng đông đảo xe cộ lưu thông, nhiều thay đổi của cảnh quan và đường sá, tất cả đều tạo thêm nhiều thách đố hơn đối với những vị lái xe cao tuổi.

09_urgent_signs_loved_one_stop_driving_driving_behavior_changes_monkeybusinessimages

Một số sai phạm mà người lái xe hay mắc phải là chạy quá tốc độ cho phép, vượt đèn đỏ, không ngừng ở nơi có bảng stop, lái xe không đúng lane, quẹo trái không đúng cách… Đã vậy, đối với người cao tuổi, lại còn có những yếu tố khác như tâm tính thay đổi hoặc những hạn chế do sức khỏe gây ra, cũng làm cho việc lái xe thêm phần nguy hiểm.

Nếu quý vị, hoặc người thân là người tài xế cao tuổi, có nhiều phương cách để giúp quý vị an toàn trên xa lộ và tiếp tục lái xe thêm nhiều năm nữa. Điều cốt yếu là phải biết khả năng thể lý bị hạn chế ra sao lúc về già. Sau đây là một số gợi ý của AARP (American Association of Retired Persons, Hiệp hội Người Mỹ Cao niên).

1. Theo dõi về sức khỏe: Cẩn thận khi có những thay đổi về sức khỏe như tầm nhìn, âm độ nghe, trí nhớ và sự tập trung.

2. Giữ khoảng cách an toàn. Áp dụng luật “3 giây đồng hồ” khi lái xe sau một xe khác để kịp đủ thời giờ phản ứng lại những nguy hiểm có thể xảy ra. (Luật ba giây: Nhìn xe phía trước khi xe đó chạy ngang qua một đối tượng nào đó, như cột đèn, bảng chỉ dẫn lưu thông… rồi bắt đầu đếm (một ngàn một, một ngàn hai, một ngàn ba) xem xe mình đã tới đối tượng đó chưa. Nếu chưa đủ 3 giây mà đã tới đối tượng đó rồi thì là ta chạy quá gần xe trước, nên chậm lại để khoảng cách với xe đó không quá gần).

3. Tránh phân tâm. Bất cứ chuyện gì khiến mắt ta không nhìn mặt đường là sự phân tâm, như dùng cell phone, ăn uống, dùng GPS, thay đổi tần số đài radio…

4. Điều chỉnh cho thích hợp. Ghế ngồi, gương chiếu hậu, gương hai bên xe… nên được chỉnh sao cho vừa với tầm nhìn để có thể thấy được xe cộ di chuyển phía sau và hai bên hông xe.

5. Tự hạn chế. Tránh lái xe trong giờ cao điểm, ban đêm, hoặc thời tiết xấu, mà nên lái lúc ban ngày sáng sủa vào những giờ ít xe cộ lưu thông vội vã.

6. Quẹo phải. Thay vì quẹo trái ở những đường quẹo nguy hiểm nhiều xe cộ qua lại, nên quẹo phải, có thể tới ba lần để đến hướng quý vị cần đi.

7. Đừng quên stop. Ở nơi có bảng stop, nhìn kỹ đường trước khi ngưng xe. Nếu có xe đi trước, đợi hai giây cho xe đó đi rồi mới tiến tới chỗ stop, ngừng hẳn rồi mới tiếp tục đi.

8. Kiểm tra lại thuốc men. Hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ xem thứ thuốc ta dùng có gây hậu quả gì khi lái xe hay không.

9. Cảnh giác về người khác. Xe đạp, xe gắn máy, người đi bộ… đều tạo thêm những thử thách cho người cao niên khi lái xe. Hãy rất mực cẩn thận tại các ngã tư đường và khi nhập xe vào dòng xe cộ trên đường.

10. Sao cho có khoảng đệm. Giữ sao cho có khoảng trống chung quanh xe của quý vị, trên đường hoặc ở bãi đậu xe, để còn chỗ xoay xở khi cần.

Có một số tài xế còn trẻ thường tỏ ra bực bội khi chạy gần xe những vị cao niên, hoặc vì tốc độ thường chậm hay vì những phản ứng không mấy nhanh lẹ của những vị này. Xin hãy có tấm lòng bao dung đối với người già cả để thông cảm hơn là tỏ thái độ bực tức.

Driving-01
Bảo Huân

Thư Mời Tham Dự Sinh Hoạt Ngày 25 Tháng 5, 2019

POSTER-25-5-19

Từ Thủ Thiêm tới Nam Quan—Hải Triều

Nam Quan đã mất, lệ tràn Thủ Thiêm

Mưa hay lệ đổ bên thềm

Cửa nhà tan nát không kềm lệ sa!

Đời dân không cửa không nhà

Đời đảng ngôi báu gọi là quang vinh

Giải phóng hóa ra cực hình

Bóng ma cách mạng thất kinh cõi người!

Thành Hồ liệm tắt tiếng cười

Thủ Thiêm tan tác đất trời hận căm

Đảng hồ ngự trị trăm năm

Ba miền Nam Bắc âm thầm ngục đen!

Hải Triều–Lê Khắc Anh Hào

Phân Ưu cùng Chị Tô Công Minh K23/1

Người Vợ Mù—Vô Danh

Trong một chương trình radio mang tên “Nẻo Về của Trái Tim”, một cô gái mù đã gửi cho những người làm chương trình câu chuyện của mình sau đây:

Tôi là một kiến trúc sư vui vẻ, hoạt bát. Cách đây một năm, tôi là người vợ hạnh phúc nhất. Khi thức dậy cùng người mình yêu vào mỗi sáng, chúng tôi thường cùng nhau thưởng thức một tách trà trong không gian yên tĩnh đầu ngày.
Chúng tôi xây dựng cho mình một thói quen: sẽ luôn cố gắng chia sẻ với nhau những suy tư và cảm nhận chân thật nhất của mỗi người để gìn giữ hạnh phúc.
Cuộc sống của chúng tôi êm đềm trôi qua cho tới một ngày. Trên đường từ bến xe buýt vào tới công ty, tôi thấy mọi thứ như nhòa đi trước mắt, chỉ còn lại những tiếng còi xe inh ỏi. Rồi tôi lập tức được đưa vào bệnh viện. Ngày hôm đó, tôi vẫn còn nhớ rất rõ ràng cảm giác khi nghe câu kết luận của bác sĩ: 
“Đây là một căn bệnh thoái hóa nên chúng tôi cũng không thể giúp được gì.” Bác sĩ còn giải thích rất nhiều điều nữa, nhưng trong đầu tôi chỉ còn đọng lại duy nhất câu nói: “Cô sẽ sớm bị mù.”
Tôi không biết các bạn sẽ cảm thấy ra sao khi đối diện với sự thật này. Còn tôi, tôi đã đầu hàng một cách hèn nhát. Tôi khóc, tôi cáu bẳn thậm chí nhiều lần gắt gỏng, đặc biệt khi chỉ có tôi và anh, trong căn nhà hạnh phúc của chúng tôi.
Tôi đã rất sợ, sợ bị rơi vào bóng tối, sợ phải làm một người mù và sợ nhất rằng tình yêu của anh dành cho tôi cũng sẽ không còn.
Thời gian đó, ông chủ vẫn sắp xếp cho tôi một công việc nhỏ trong văn phòng. Nhờ đó, tôi có thể được ra ngoài vào mỗi sáng. Được đi làm đã trở thành niềm hạnh phúc nhất của tôi khi ấy. Công việc cho tôi cảm giác tôi không phải là người thừa, tôi được chứng minh sự mạnh mẽ của mình và thỏa mãn cái tôi đang bị tổn thương ghê gớm.
Tôi không còn dùng trà vào mỗi buổi sáng với chồng nữa. Bởi tôi muốn tất cả phải chịu trách nhiệm về căn bệnh của mình, đặc biệt là chồng tôi.
Trước sự thay đổi chóng mặt của vợ, chồng tôi không nói gì, anh chỉ lẳng lặng quan sát và chịu đựng những cơn nóng giận vô cớ. Hơn thế nữa, anh giúp tôi làm mọi công việc nhà bất chấp sự phản đổi đầy ngang bướng của tôi.
Tôi quyết định vẫn đi xe buýt tới công ty như tôi luôn làm trước đây. Tôi biết mình đã rất quen với con đường và tôi cũng đã dần thành thục việc sử dụng cây gậy cho người mù. 
Chồng tôi đề nghị, hãy để anh đưa tôi đi làm mỗi sáng và trở về đón tôi mỗi buổi chiều. Nhưng tôi từ chối, tôi không muốn anh phải vất vả như vậy, bởi nơi chúng tôi làm việc cách nhau rất xa.
Chồng tôi không phản đối, anh chỉ nói: “Hãy cẩn thận khi qua đường nhé, ngã ba đó khiến anh lo lắng hơn cả.”
Tôi giữ im lặng trước lời dặn dò của anh.
Mọi chuyện sau đó diễn ra suông sẻ ngoài mong đợi của tôi. Có lẽ sự lo lắng của tôi và chồng tôi đều là thái quá. Khi dừng tại đèn đỏ ở ngã ba đầu tiên, tôi nhớ lại lời của chồng và bắt đầu cảm thấy sợ. Ngay lúc ấy có một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên:
“Cô ơi, cô có thể dẫn cháu qua đường không?” Tôi quá đỗi ngạc nhiên với câu hỏi của cậu bé, hình như cậu bé không biết tôi bị mù. “Cháu à, cô xin lỗi, nhưng cô sẽ không bảo đảm an toàn được cho cháu vì cô không nhìn thấy…” Tôi chưa kịp nói hết câu thì cậu bé chen vào.
“Cháu biết cô bị mù, cháu xin lỗi! Ý cháu là cô không nhìn thấy, nhưng không sao… Cô là người cao lớn, những người lái xe sẽ nhìn thấy cô, họ sẽ tránh chúng ta. Còn cháu sẽ dắt cô qua đường, cháu sẽ làm đôi mắt cho cô ở ngã ba này nhé.”
Trước lời nói ngây thơ của cậu bé, tôi thấy mũi mình cay cay. Chuyển gậy dò đường sang tay phải, tôi chìa bàn tay còn lại để nắm lấy bàn tay nhỏ bé đó. Cậu bé nắm tay tôi thật chặt. Cái siết tay của cậu khiến tôi có thêm rất nhiều tự tin. 
Hóa ra tôi vẫn còn có ích, vẫn có thể giúp đỡ một ai đó chứ không hoàn toàn là “đồ vô dụng” như tôi luôn nghĩ về mình sau khi không còn nhìn thấy. Bên trong tôi bất giác thấy lại được niềm vui. Cậu bé quả là một người dẫn đường tài tình, chúng tôi đã qua đường an toàn và dường như không làm một người lái xe nào nổi giận. Khi chia tay ở ngã ba, cậu bé nói: “Cháu hy vọng mai cô sẽ lại ở đây nữa, vì sáng nào cháu cũng phải đi qua ngã ba này để đến trường. Cảm ơn cô nhiều nhé. Giờ cháu đi học đây.”
Cậu bé chào tôi và chạy đi nhanh như một cơn gió. Trước khi đi, cậu bé quay lại, nói thật to: “Hẹn cô ngày mai nhé, cháu sẽ chờ cô đấy.” Cậu bé khiến nụ cười trở về trên môi tôi, đôi má tôi cũng ửng hồng.
Một cảm giác ấm áp khiến những căng thẳng bao ngày qua tan mất. Có lẽ ai đó nhìn thấy tôi lúc ấy sẽ phải thắc mắc: cô gái mù ấy sao lại cười rạng rỡ như thế?
Không để tôi thất vọng, ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa, cậu bé vẫn xuất hiện và chúng tôi đã trở thành đôi bạn “chinh phục ngã ba” từ đó.
Đôi lúc chúng tôi còn nán lại nói chuyện với nhau. Tôi đã biết cậu bé thiên thần ấy tên là Jimmy. Jimmy nhỏ người, mặt nhiều tàn nhang, tóc màu hung và có một cái mũi hơi kì lạ. Đó là dáng vẻ mà cậu bé tả về mình cho tôi nghe.
Nhờ Jimmy bé nhỏ, tôi dần lấy lại niềm vui trong cuộc sống của mình. Tôi cũng đã có thể đối đãi dịu dàng trở lại với chồng, không còn nặng nề với anh nữa. Nhưng cảm giác muốn mở lòng để chia sẻ với chồng vẫn chưa trở về.
Niềm vui của tôi chỉ kéo dài được một tháng.
Sáng hôm đó, khi ở ngã ba tôi không thấy Jimmy, cậu bé đến muộn chăng? Tôi chợt hiểu ra rằng hình như những đứa trẻ đã kết thúc năm học và Jimmy sẽ không đến trường ngày hôm nay. Tôi chưa biết làm thế nào để qua đường khi không có người hoa tiêu nhỏ bé, tiếng lanh lảnh quen thuộc vang lên: “Cô James chờ cháu.”

“Cháu đấy à, cô mừng quá, cô cứ nghĩ là cháu sẽ không đến.”
“Cháu không thể để cô một mình qua đường được. Đó là lời hứa danh dự. Nhưng cháu sắp theo bố mẹ về quê với ông bà rồi. Cô biết mà, trường học đã nghỉ hè và hôm nay là ngày cuối cùng cháu ở đây.” Tôi cảm thấy lo lắng và hơi buồn, nhưng cố trấn tĩnh. Tôi hỏi Jimmy về “lời hứa danh dự” của cậu bé, điều khiến tôi cảm thấy rất tò mò.
“Cháu đã hứa với một người. Nhưng chú ấy không cho cháu nói điều này với cô.” Chúng tôi cùng nhau băng qua đường trong im lặng. Nhưng khi tới nơi, cậu bé níu tay tôi lại, hỏi rằng tôi có thể đi với cậu bé một chút không? Tôi đồng ý và chúng tôi thả bộ cùng nhau trong một công viên gần đó. Hóa ra cậu bé muốn kể cho tôi nghe về lời hứa danh dự của mình.
Ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, đã có một người đàn ông nhờ cậu bé dắt một phụ nữ xinh đẹp nhưng bị mù qua đường.

Người đàn ông ấy giải thích với cậu bé rằng, đó là vợ chú. Cô ấy vừa bị mất đi đôi mắt và chú không thể yên tâm để cô ấy một mình đi qua con phố đông đúc này. Nhưng chú cũng không thể tự tay dắt cô sang đường, vì cô đang đóng cửa tâm hồn mình với chú. Nước mắt tôi bắt đầu rơi. Cậu bé tiếp tục kể. Cậu bé đã đồng ý giúp người đàn ông lạ mặt đó.
“Không chỉ một lần, cháu không biết tại sao nhưng khi nghe chú ấy kể về cô, cháu nhớ đến cách bố cháu nói về mẹ, đầy yêu thương. Vì thế, cháu đã hỏi chú ấy có cần cháu giúp những ngày tiếp theo không. Đôi mắt của chú ấy lúc đấy rạng rỡ như mắt cháu lúc được đi chơi hay ăn kem vậy.”
“Đó là lý do vì sao sáng nào cháu cũng ở đây chờ cô?” Vâng, nhưng không chỉ chờ cô, cháu chờ cả chú ấy nữa. Chú ấy ngày nào cũng đi qua đường với chúng ta mà.
Chú chỉ lặng lẽ đi cạnh cô, cách cô một đoạn để cô không cảm thấy sự có mặt của chú ấy. Chỉ khi cô cháu mình sang đường an toàn chú ấy mới đi làm.” “Thật vậy sao?”
Tôi không còn biết nói gì hơn. “Cháu không định nói chuyện này cho cô nghe. Nhưng ngày mai cháu đi rồi. Cháu sợ cô sẽ thấy hoang mang vì không có cháu. Thêm nữa, cháu sợ cô vẫn giận chú.” “Vậy hôm nay chú ấy có đi cùng chúng ta không, Jimmy?”
Chồng tôi đã đứng đó từ bao giờ. Anh đã lắng nghe câu chuyện của cô cháu tôi. Tôi không biết khuôn mặt anh lúc ấy như thế nào… Chỉ biết có một bàn tay to lớn, ấm áp và rất quen thuộc nắm lấy bàn tay tôi, nhẹ nhàng dắt tôi đi hết quãng đường từ công viên tới văn phòng.
Sau ngày hôm ấy, tôi đồng ý để chồng chở đi làm, và buổi chiều tôi đi xe buýt về, anh đã nhờ được một người bạn trong công ty đưa tôi ra bến xe. Tôi còn được biết, công việc mà ông chủ sắp xếp cho tôi chính là nhờ anh đã tới gặp và thuyết phục ông.
Đó là câu chuyện tình yêu mà tôi muốn chia sẻ với các bạn.

Những ngày tháng vừa qua đã khiến tôi nhận ra rằng: Trong cuộc sống nhiều đau khổ này, tình yêu thực sự hiện hữu, và nó mang một sức mạnh chữa lành thật to lớn. Khi nghĩ về sự nhẫn nại của anh suốt thời gian cùng tôi và Jimmy sang đường, khi cảm nhận được rằng trái tim chan chứa thiện niệm của anh luôn nghĩ cho cảm giác của tôi, nghĩ đến việc làm thế nào để tôi an toàn và hạnh phúc nhất, tôi mới hiểu ra thế nào là thực sự yêu một ai đó…
Chia sẻ câu chuyện này cũng là cách tôi muốn anh biết: Từ tận đáy lòng, tôi biết ơn tình thương và những điều anh đã dành cho tôi. Và hơn thế nữa, anh và Jimmy bé nhỏ đã cho tôi hiểu và học được rằng, yêu thương một người là dành cho người đó sự bao dung, nhẫn nại và những điều thiện lành nhất mỗi ngày

Vô Danh

Ghen—Nguyễn Thị Hải Hà

Quê liếc nhìn tờ giấy đặt ở góc bàn làm việc của chồng. Đến gần hơn một chút chị nhận ra đó là tờ báo cáo hàng tháng của Visa. Quê ngạc nhiên, chồng chị không khi nào để giấy tờ liên quan đến tiền bạc lộ liễu như thế. Lấy nhau lâu năm chị không hề biết chồng làm bao nhiêu tiền, tiêu xài vào khoản nào bởi vì chồng chị giấu rất kỹ những chuyện “riêng” như thế. Có lẽ anh vội vã chuyện gì đó nên quên. Tò mò chị cầm tờ báo cáo lên xem, dịp may có một không hai mà. Trên tờ báo cáo đa số là những khoản chi tiêu bình thường như tiền chợ ở Shop Rite, đổ xăng, cái bánh sinh nhật mừng chú em rể. Tuy nhiên, có ba khoản tiền lạ, đó là tiền ăn ở nhà hàng sushi ở Highland Park vào buổi trưa một ngày thứ Tư, tiền ăn ở một tiệm sushi khác ở Edison vào chiều thứ sáu, và tiền ăn ở cái Diner Sunset cách nhà Quê hai đèn giao thông vào sáng thứ Bảy. Thứ Tư và thứ Sáu Quê đi làm. Thứ Bảy Quê đi thư viện rồi đi chợ và thật tình chị không chú ý anh ở nhà hay đi đâu. Mà anh có đi đâu loanh quanh thì cũng là chuyện bình thường. Anh em của anh sống gần chung quanh. Anh đến nhà anh em, ở ăn cơm hay giúp làm giấy tờ nếu có ai nhờ. Chị biết tính chồng rất giản dị. Anh không thích đi ăn ở nhà hàng, viện cớ phải đóng bộ cho tươm tất, phải chờ đợi lâu lắc, thức ăn dầu mỡ không tốt cho sức khỏe. Anh lại càng không thích sushi bảo rằng ăn gỏi cuốn ngon hơn gấp mấy lần. Quê không thể nào hình dung chồng chị vào nhà hàng gọi thức ăn rồi ngồi ăn một mình bởi vì cái hình ảnh ấy quá khác biệt với người chồng chị chung sống bao nhiêu năm.

Ai? Đồng tiền nối liền khúc ruột. Đàn ông thường mở hầu bao nơi họ đặt trái tim. Ai là người khiến anh vượt qua thói quen không đi ăn nhà hàng và không thích ăn sushi? Nếu anh đi ăn với bạn bè sao chẳng nghe anh nói? Trước hôm tiệc Giáng sinh, anh đi mua sắm quần áo. Đây là chuyện lạ, ít khi anh chưng diện se sua. Có lẽ chị để lộ vẻ ngạc nhiên nên anh giải thích, “tiệm nào cũng có big sale, anh thấy rẻ quá nên mua thêm quần áo giày vớ.”

Quê vừa khen chồng, vừa đùa: “Anh diện lên trông trẻ hẳn ra. Coi chừng người ta mê là mệt nhé!”

Anh trả lời: “Anh không diện cũng có người mê!”

“Ai mê?” – Chị hỏi.

Anh cười, không trả lời.

Bạn gái của anh chỉ có Katya, cô bạn học chung trường Luật. Cô chừng hơn bốn

mươi, tóc vàng, mắt xanh. Katya nói tiếng Anh có giọng Nga khá nặng. Nàng có một con trai và đã ly dị chồng. Katya có cặp mắt rất to, dường như thu hồn người. Trước khi gặp Katya, Quê không thể nào tưởng tượng được có người có cặp mắt to và sâu như thế. Quê nghĩ với đôi mắt ấy nhìn sâu vào có thể thấy được rừng cây khô sau nhà, vẽ thành tranh chắc cũng đẹp như tranh Đinh Tiến Luyện trên những bìa của báo Tuổi Ngọc. Cô không đẹp đến choáng người nhưng càng nhìn càng thấy xinh. Hôm lễ Tạ ơn, anh đột nhiên bảo Quê:

“Ngày mai Quê làm gỏi cuốn nhé.”

Quê hơi ngạc nhiên. Anh ít khi nào đặt món ăn như thế. Thậm chí chị hỏi anh thích ăn món gì anh cũng chỉ ừ à cho qua chuyện. Quê hỏi:

“Tại sao lại làm gỏi cuốn?”

“Vì ngày mai Cá Linh ở trường về, sẵn dịp đãi con bé.”

Cá Linh đang học nội trú ở Rutgers , trường đại học cách nhà chừng nửa giờ lái xe. Mãi một lúc sau, giữa những chuyện lặt vặt trong nhà anh như sực nhớ ra, nói thêm: “Ngày mai sau khi ký giấy tờ sang tên nhà của anh Tu chị Na cho đứa con trai của anh chị, anh mời Katya ở lại ăn tối.”

Anh giải thích thêm là tuy anh làm sẵn giấy tờ nhưng anh muốn Katya làm luật sư cho anh chị bởi vì anh là người trong gia đình nên không muốn ra mặt chịu trách nhiệm. Quê đoán là anh muốn giúp đỡ Katya bằng cách đưa thân chủ cho nàng. Nàng mới mở văn phòng luật, chưa có thân chủ, nợ nần tứ tung lại còn phải nuôi đứa con trai tật nguyền. Chị có cảm tưởng anh muốn đãi Katya món gỏi cuốn; nhưng tại sao lại không nói thẳng với chị? Bữa ăn ấy Quê không làm gỏi cuốn vì Cá Linh bảo muốn ăn cà-ri. Quê nghe anh giải thích với Katya, gỏi cuốn tương tự sushi và nàng nhìn Quê với đôi mắt xanh thăm thẳm bảo rằng nàng rất thích sushi nhưng chưa bao giờ được ăn gỏi cuốn. Quê cười nói với Katya: “Lần khác Quê xin được đãi bạn món này. Quê không biết chồng Quê muốn giới thiệu món gỏi cuốn với bạn. Giá mà anh ấy bảo với Quê thì Quê đã làm.” Có thể nào là nàng không? Quê không dám nghĩ sâu xa hơn. Lâu nay chị hoàn toàn tin cậy chồng; giữa hai người nếu có vấp ngã thì chỉ có Quê là người vấp ngã. Dù gì hai người cũng quen nhau từ hồi ở Việt Nam, gặp lại nhau ở trại tị nạn, yêu nhau giúp đỡ nhau học hành suốt mười năm trời trước khi chính thức kết hôn. Tình sâu nghĩa nặng lắm mà. Ăn tối xong, Quê dọn dẹp rửa chén bát, còn anh và Katya ngồi nán lại ở bàn ăn nói chuyện thì thầm rất lâu. Ách Cơ, đứa con lớn bảo với Quê, Katya đến nhà vài lần khi mẹ không có ở nhà, mẹ có biết không? Quê tự bảo mình không nên ghen xằng nhưng bỗng dưng thấy mệt đuối. Ngày mai anh sẽ đưa Quê đi leo núi nhân dịp này chị sẽ hỏi anh cho biết đầu đuôi.

Quê soi mình trong gương thấy thương hại cái già nua xấu xí của mình. Không béo lắm nhưng đã có cằm đôi. Quê có gương mặt tròn ngày còn nhỏ thường bị mắng là

mặt thịt, mặt thịt là mặt của người ngu. Nhiều khi ngẫm nghĩ Quê thấy mình thật thà quá hóa ngu. Cái eo của Quê ngày trước hình chữ V nay đã biến thành chữ U. Quê bị chứng mặc cảm tự ti rất nặng; ít khi giao du bạn bè vì Quê tin rằng người nào tiếp xúc với chị đều không thích chị vì chị không dịu dàng hay bặt thiệp. Quê đi leo núi với chồng vì anh bảo Quê cần phải vận động nhiều hơn, ngồi một chỗ nhiều dễ sinh bệnh tật, nhất là mới đây Quê bỗng bị ngất xỉu đôi lần. Biết mình cần đi khám tim nhưng Quê cứ chần chờ, dường như chị sợ khám phá trái tim của chị có chứa những điều không hay.

Địa điểm leo núi cách nhà khoảng hơn một giờ lái xe. Điểm cao nhất khoảng ba trăm năm mươi mét so với mực nước biển. Mùa Đông năm nay thời tiết ôn hòa, giữa mùa Đông mà ấm đến 45 độ F. Quê nhìn rừng núi, tuy đã rụng hết lá mà vẫn đầy vẻ rậm rạp nói với chồng:

“Mùa hè mà đến đây có lẽ sẽ bị con tick cắn hay muỗi cắn anh nhỉ?”

Chồng chị nói nhẹ nhàng: “Con tick là con bọ chét. Em có cái tật hay chêm tiếng Anh nói hoài không được.” Anh lúc nào cũng khôn hơn, giỏi hơn, cầu toàn hơn và luôn luôn chỉnh sửa Quê. Nhiều khi không vui nhưng Quê vẫn im lặng vâng lời chồng. Vợ chồng Quê ít khi cãi nhau, bạn bè người thân vẫn thường kháo nhau gia đình Quê hạnh phúc nhất. Anh nói thêm: “Bọ chét thì có thể nhưng muỗi chắc không nhiều vì ở đây không có đầm lầy.”

Tin cậy chồng, Quê lặng lẽ nối buớc. Quê không thường thắc mắc chất vấn vì biết tính chồng cẩn thận chu đáo. Đôi khi Quê có ý thích khác nhưng biết rằng khó mà lay chuyển quyết định của chồng nên thường chịu thua trước khi mở lời. Mỗi khi đi đâu anh nghiên cứu bản đồ biết rõ địa thế nơi muốn đến vì thế Quê thường để tùy anh quyết định. Lúc nãy chị thấy bảng ở bãi đậu xe cho biết đây là con đường mòn vòng quanh núi Turkey. Chị đi theo anh, quá thân thuộc nên không có gì phải nói. Bước đi của hai người đều đặn nhịp nhàng như một bản đàn quen thuộc. Anh chỉ cho chị thấy những ô vuông màu đỏ khắc trên cây.

“Cứ đi theo những ô vuông màu đỏ khắc trên cây như thế này là sẽ đi hết con đường mòn vòng quanh núi và về địa điểm khởi hành.” – Anh nói.

Rừng già, lá vàng khô rơi phủ mặt đất dày như thảm. Vài nơi, nước đóng thành băng từ dưới lòng đất trồi lên trông giống như những cây đinh to màu đá cẩm thạch trắng đục có vân đen. Đường đi mỗi lúc một cheo leo. Bên cạnh con đường mòn hẹp là hố sâu. Chỉ cần không chú ý là có thể trượt chân rơi xuống hố. “Giá mà rơi xuống có lẽ sẽ không đau đâu nhỉ, thảm lá dày trông êm ái như thế kia. Nhưng có lẽ khó mà leo lên từ hố sâu như thế.” – Quê nghĩ thầm. Một cơn mưa to những đường trũng ấy sẽ biến thành những con suối ồ ạt chảy. Chăm chú leo núi, Quê thở gấp. Đôi ba lần chị muốn hỏi về những lần đi ăn nhà hàng của anh nhưng không tiện mở lời.

Ở đỉnh núi, nhìn phía xa xa là một chục ngôi nhà dưới thung lũng. Bên tay phải là hai cái hồ, một cái rất to, một cái nhỏ hơn, nối vào nhau. Anh bảo:

“Đó là hồ Valhala. Mình đi đến đó để chụp ảnh nhé.”

Quê yêu thích cảnh đẹp. Những lần đi chơi chị đều mang theo cái máy ảnh bỏ túi để ghi lại cảnh thiên nhiên. Quê thường xa lánh những nơi nhộn nhịp, thiên nhiên là nơi tịnh dưỡng tâm hồn. Rủ đi đâu chị có thể từ chối nhưng để được ngắm cảnh đẹp Quê sẵn sàng lặn lội. Đi để có thể viết bài và có hình đăng lên blog.

Hai người leo qua những tảng đá, lội qua những con suối cạn, nước trong veo thấy những hòn đá trắng dưới đáy. Quê bảo với chồng:

“Hễ có hồ là có nước đọng và thế nào cũng có muỗi.”

Hai người bắt đầu chuyến đi hơi trễ. Ra khỏi nhà một giờ trưa. Đến nơi hơn hai giờ. Lang thang trong núi rừng vẹt lau xua cỏ tránh nhánh gai, chị mệt đuối sức và mặt trời sắp lặn. Buổi chiều sụp xuống rất nhanh, hơi núi làm chị thấy lạnh. Hai cái hồ thấy gần như vậy mà đi hoài không đến. Quê thấy lo lắng, đòi về.

“Thôi mình đi về đi anh, tối rồi, coi chừng bị lạc trong rừng.”

Chồng chị đưa cho chị bình nước anh đeo trong ba-lô. Mấy tiếng đồng hồ mà bình nước trà có pha chút cà phê vẫn còn ấm áp.

“Em ăn thêm chút phô-mai cho đỡ mệt.”

Quê nhìn quanh, những cây chung quanh Quê không còn ô vuông đỏ nào cả. Quê nói với chồng: “Mình đi lạc rồi anh.”

Chồng chị nói giọng vẫn đầm ấm tỉnh táo:

“Mình chỉ cần đi lên chút nữa đến gần hồ sẽ bắt vào con đường mòn khác và sẽ trở ra đường lớn chỗ để xe.”

Bóng cây với những cành khô có vẻ gì dọa nạt, trông giống như những bàn tay xương xẩu móng nhọn níu xước áo chị. Quê thấy sợ hãi, tim đập mạnh khó thở choáng váng. Anh đi trước, nhẹ nhàng, nhanh nhẹn tay bật đèn pin. Cây gậy dùng để giữ thăng bằng khi leo núi vung vẩy trên tay. Quê nghĩ chồng giống Hiệp Khách Hành. Trên đồi cao trông anh dường như cao lớn hơn. Quê càng lúc càng bị tuột lại sau lưng. Quê có cảm tưởng suốt đời mình cứ phải cố gắng để đi theo kịp chồng trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Một cố gắng lâu dài đôi khi Quê thấy mình mỏi mệt như kiệt sức. Anh đi nhanh quá, khỏe quá, hăng say quá không ngó lại sau lưng. Thoáng một cái anh khuất sau những bụi cây tảng đá rồi mất dạng. Quê cố gắng ngóng cổ tìm bỗng trượt chân, bổ nhào hai ba bước. Quê thấy mình rơi, quơ níu hụt hẫng. Và tất cả chỉ còn lại bóng tối.

Khi tỉnh lại, Quê thấy vầng trăng đã lên. Hai chân Quê mềm èo nằm quặt dưới thân người Quê như hai sợi dây thừng. Quê không thấy đau, chỉ thấy tê dại. Trăng trên núi thật lạ, gần như ở sát mặt của Quê. Ở giữa mặt trăng là một đường rạn nứt thật to. Một bên trăng màu nâu đỏ trông giống như một miếng kẹo có đường phơn phớt, bên kia màu xanh lá cây thật nhạt có thủng nhiều lỗ tròn trông ngon như một

miếng Swiss cheese. Nghiêng đầu, Quê nhìn thấy phía dưới chỗ mình đang nằm là những vệt trắng đang chuyển động. Nhìn kỹ, Quê thấy đó là những con mèo, chó, chim cú, ếch nhái, ốc sên đủ loại đủ cỡ màu đất sét nung đang di động như đang sống trong cái xã hội nho nhỏ của chúng. Con chó to như con voi trong khi con bò thì lại bé cở nắm tay và ếch nhái giống như những cái cúc áo. Quê nghĩ, mình đang nằm mơ chăng? Đám thú vật màu đất sét nung di chuyển nhưng cứng ngắc như những pho tượng bị giới hạn trong một dòng chảy chậm từ từ trôi đi đều đặn liên tục. Quê thấy có cái gì vừa nhám vừa ấm trên má. Con mèo Nora đang liếm mặt Quê. Nó mang mắt kính đen, mặc váy, đi hai chân như trong phim hoạt họa.

“Nora đấy à? Sao Nora lại ở đây? Anh đâu?” – Quê hỏi.

“Anh đi tìm người đem chị về. Lâu lắm anh mới quay lại.” -Nora trả lời.

“Quê bị ngã?” – Nora không trả lời.

Đầu óc Quê bỗng dưng không còn mụ mị nữa. Quê nhận ra ý định của chồng. Quê bảo Nora. “Đây là âm mưu của anh!”

Nora lặng thinh. Chị nhớ một lần anh đòi lái xe bắt đầu từ lúc mười giờ khuya đưa Quê vào hồ Tahoe, chung quanh là núi đèo cao bảy tám ngàn feet. Quê sợ không dám đi bảo rằng đi như thế rất nguy hiểm. Quê không muốn chết. Anh nổi giận gắt to, đi với anh làm sao mà chết được. Lần đầu tiên Quê nghe theo linh tính và chống lại quyết định của chồng đưa đến chỗ hai vợ chồng to tiếng với nhau ở một nơi công cộng, cây xăng. Anh bảo Quê thuộc loại đàn bà bossy. Lần khác anh nhất định chọn con đường lạ băng rừng trong khi xe đã hết xăng. Mỗi lần sợ hãi là Quê choáng váng khó thở muốn ngất đi. Tai nạn chết người dễ dàng xảy ra với người bị ngất xỉu, chóng mặt rơi xuống hồ chết đuối, nứt sọ, hay gãy cổ. Gia đình của Quê nổi tiếng là hạnh phúc, sẽ không ai nghi ngờ nếu tai nạn xảy ra. Một lần đang ngủ thức giấc Quê thấy chồng đang dùng ngón tay ấn chặt mạch máu cổ của Quê như muốn chắn đường không cho máu chạy lên óc. Quê cố xua đuổi những nghi ngờ của mình. Tính anh vẫn dịu dàng ngọt ngào như ban đầu khi mới quen nhau.

“Quê cho anh đầy đủ tự do, nếu không muốn ở với nhau nữa thì cứ chia tay tại sao lại âm mưu giết Quê? Tại sao?” – Quê hỏi Nora. “Nora ở nhà, thấy hết, biết hết. Nói cho Quê biết đi. Vì tiền phải không?”

Nora gỡ cặp mắt kính đen. Ánh trăng rọi vào mắt nó một bên có màu xanh biếc còn bên kia đỏ như lửa cháy. Và đôi mắt của nó bỗng nở to ra sâu thăm thẳm như đôi mắt Katya. Nó nói thong thả, nghe như tiếng gù gù trong cổ nó mỗi lần nó nằm trên lòng Quê lúc chị viết blog.

“Tiền là một trong những lý do. Chị không giàu lắm nhưng có thể nói là khá nhiều tiền. Nếu ly dị tiền của phải chia hai. Nếu chị chết tiền gom về người thừa kế.”

Quê và chồng tuy chính thức kết hôn nhưng mỗi người có ngân hàng riêng. Đời sống và văn hóa ở đây cho phép như thế. Lúc mới lấy nhau tiền bạc thường là lý do cãi vã của hai người. Giữ tiền riêng nhưng cùng góp chung vào những chi phí trong gia đình giữ được hòa khí của hai người.

“Tuy nhiên tiền không phải là lý do duy nhất.” – Nora bảo.

Quê suy nghĩ. Chồng chị biết, chị không bao giờ van xin hay khóc lóc nếu anh muốn chia tay. Nora cười, nhe mấy cái răng nhọn hoắc. Con mèo này kỳ cục, đáng lẽ nó phải mếu vì thương xót chị chứ. Chẳng lẽ nó chẳng thương mến Quê? Suốt ngày nó quấn quít với Quê thế mà… ừ, phải đến lúc ngặt nghèo thì mới biết được ai là người thương yêu mình. Nora hỏi:

“Chị có nhớ chuyện năm năm về trước không? Lúc chị …”

Quê vội ngắt lời Nora vì không muốn nghe thêm. “Nhớ chứ. Nhưng sau đó anh đồng ý quên quá khứ, bắt đầu lại từ đầu và xây lại hạnh phúc với Quê.”

“Nhưng anh không thật sự quên. Anh vẫn nghi ngờ, theo dõi và bắt đầu lập mưu kể từ khi anh thấy chị mở blog và bắt đầu viết trở lại.” – Nora nói một cách đầy hiểu biết.

Từ lâu Quê nhìn thấy vết rạn nứt trong lòng mình nhưng không thể nói với ai. Không ai hiểu được vì sao Quê không thấy hạnh phúc. Dường như có chồng tốt, không cờ bạc, không đĩ điếm, không hoang đàng lãng phí vẫn không làm người ta thấy hạnh phúc khi không thể bù lấp khoảng cách giữa hai tâm hồn. Anh đòi hỏi một sự toàn hảo từ nhan sắc đến tâm hồn mà Quê không thể nào có được. Quê mê văn chương. Vì phải kiếm sống, nuôi con, trong môi trường ngôn ngữ xa lạ, Quê chỉ có thể viết blog cho đỡ nhớ tiếng Việt. Đàn bà mà, khi mê say một cái gì quá, cũng bị người ta cho là lố bịch. Anh chỉ trích, Quê viết toàn những chuyện nhảm nhí. Thời buổi này, Quê có viết cũng chẳng ai đọc. Quê nói như phản đối dù rằng phản đối với con mèo thì chẳng ăn nhằm gì. “Quê chỉ viết thôi. Còn anh thì ôm cái computer tủm tỉm cười một mình đến cả hai ba giờ sáng. Quê không bao giờ gặng hỏi anh làm gì, trò chuyện với ai. Quê để cho anh tự do.”

“Chính vì thế anh mới nghi ngờ chị. Chị chỉ chúi đầu vào cái computer không đếm xỉa gì đến người chung quanh. Rồi chị viết những chuyện tình ướt át. Chị yêu thương, khóc cười, dịu dàng, đam mê với nhân vật trong khi chị nguội lạnh với anh. Những nhân vật ấy là ai? Liên hệ như thế nào với chị? Phải có thật thì viết mới giống thật như thế. Chị phải có người nào nên chị mới chẳng quan tâm đến chuyện mất chồng.” – Nora giải thích. Quê muốn khóc nhưng không khóc được; chợt thấy một nửa mặt trăng rơi những hạt nước mắt màu xanh. Nửa mặt trăng màu nâu đỏ thoát ra tiếng dồn dập như tiếng trống, như nhịp tim đập nhanh, rối loạn, nhức nhối. Ước gì được nghe những khúc sáo và vĩ cầm trong phim Chocolate nhỉ? Khúc nhạc này có thể ru ngủ. Quê nghĩ nếu ngủ được lúc này mình sẽ dễ chịu biết mấy. Cái cảm giác có một khối nặng đè trên ngực càng lúc càng tăng.

“Thế Nora có thể giúp Quê thoát ra khỏi nơi này không?” -Quê dịu giọng với con mèo.

“Nora có nhiệm vụ rước chị rời nơi này vì chị chỉ có Nora là bạn. Chị có thể nghiêng người và lăn xuống cái dòng chảy có những con thú màu đất sét nung, rồi chị cũng biến thành màu đất nung như thế. Hay chị có thể đi theo Nora.” Con mèo

lấy đôi kính đen đeo lên mắt. Trông nó có vẻ sang trọng, bệ vệ. Nora không phải là một cô bé mười lăm tuổi như Quê vẫn tưởng. Trông Nora như một người phụ nữ chín chắn ở tuổi bốn mươi. Không. Quê không muốn đi theo Nora nữa. Quê sẽ đi một mình. Mặt trăng sà xuống gần mặt Quê. Quê rướn người vói lấy mặt trăng để đứng dậy. Mặt trăng vỡ làm đôi, và Quê lại rơi. Rơi cho đến khi Quê nghe tiếng kêu “Mẹ! Mẹ!”

Cá Linh đang lay vai Quê thật mạnh. “Mẹ! Mẹ! Nước tràn ra ngoài lâu rồi.” Quê đang đứng rửa chén mãi suy nghĩ không ngờ nước tràn mà không hay.

“Mẹ đang lo nghĩ chuyện gì?” – Con gái út của Quê nhìn mẹ dò hỏi. Quê nói với Cá Linh: “Mẹ có một thắc mắc mấy hôm nay mẹ suy nghĩ mãi và nghi ngờ bố. Bố không thích ăn ngoài, cũng không thích sushi thế mà mẹ thấy bố dùng thẻ tín dụng trả tiền nhà hàng sushi ở Highland Park trưa ngày thứ Tư tháng trước.” “À! Cái đó của con. Con và các bạn đi ăn.” Cá Linh nói. “Bố cũng đi ăn sushi ở Edison .” – Quê nói. “Cái đó cũng của con luôn.” – Cá Linh nói. “Thế còn cái bữa ăn sáng ở Diner Sunset?” – Chị hỏi. “Cái đó cũng của con. Mẹ không nhớ con đã kể với mẹ à. Con ở chơi qua đêm nhà bạn Rohini, buổi sáng tụi con đi ăn trước khi chia tay.” – Cá Linh nói. “Nhưng tại sao lại trên thẻ của bố?” “Bố đưa thẻ của bố cho con dùng, chỉ dặn con là đừng tiêu quá mức.” Quê nhận ra Highland Park và Edison đều gần trường Rutgers . Quê hỏi Cá Linh: “Nora đâu rồi?” “Nora đang ngủ trên giường của con.” – Cá Linh nhìn Quê lạ lẫm. Quê thấy cục nghẹn trong ngực mình đã biến mất tự bao giờ. “May mà mình không đặt vấn đề với anh nếu không đã để lộ tính ghen bậy.” – Quê tự nhủ.

Cảnh sát phỏng vấn, người chồng không biết vợ anh có trang facebook. Anh chỉ biết trang blog của chị thôi.

Nguyễn Thị Hải Hà

 

Cái Cò—Hoàng Thục Linh

Chuyện Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Di Tản—Hoàng Thị Tố Lang

Sarah4

Tên tôi là Nguyễn Thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.

Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời.

Tôi là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 44 năm qua…

banner_fallbackRBC Convention Centre Winnipeg

Đã 44 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người Di Tản Buồn” của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ.. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:

Chiều nay có một người đôi mắt buồn
Nhìn xa xăm về quê hương rất xa
Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha
Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa
Bạn ơi đó là người di tản buồn
Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau
Rồi đêm khuya hằn lên đôi mắt sâu
Thời gian đâu còn những phút nhiệm mầu
Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ
Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương
Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vươn dài bóng mát
Cho tôi yêu lại từ đầu, bên người yêu dấu ngày xưa
Chiều nay có một người di tản buồn
Nhìn quê hương còn ai, hay mất ai?
Còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu?
Và bao nhiêu nằm trong những lao tù?
Ở đây có những chiều mưa rất nhiều!
Nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa
Buồn hơn khi rừng khuya vang tiếng bom
Ngày vui ơi giờ đâu nước không còn
Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất
Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!

Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi, mẹ đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác, các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ:
– Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc?

Mẹ ôm tôi vào lòng và nói:
– Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao.

Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:

– Con là người gì?
– Dạ thưa con là người Việt nam.
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản.
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm!

Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao. Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường Tiểu Học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái apartment (chung cư) mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt Nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.

Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về, tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi:
– “What is your name?” (Tên con là gì?)

Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản.” Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi “Your name is Đaithen.” Tôi lắc đầu và lập lại “Di Tản”. Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp.

Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi “Con đi học có vui không?” Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, tôi òa lên khóc và bảo:

– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.

Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con? Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải.

Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không?

Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô giáo không biết cách phát âm của người Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.

Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.
– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi! Mẹ chỉ còn cái tên Việt Nam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không?

Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn mẹ, và bảo:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ?

Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.
– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm.

Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả. Lúc tôi vào Highschool (Trung Học) tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời mẹ. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết.

Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.

Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp Mẫu Giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được. Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.

Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ hoắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc. Trên tay cầm bài test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai Then”… Cả lớp ồ lên một loạt “Oh, my god”. Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo:

– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.

Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai Then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặc đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.

Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây, Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.

Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ.

Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được.”

Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi lại đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản, Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.

Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.

Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.

Mẹ như điên loạn.
Rồi mẹ tỉnh lại.
Mẹ biếng cười, biếng nói.
Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.

Ngoài giờ ở sở, về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ.

Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn Khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.

Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm”… v.v… và v..v…

Tôi nịnh Mẹ:
– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.

Mẹ cười thật dễ thương.

Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.

Tôi không ích kỷ, song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.

Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 44 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.

Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại. Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con: “Bố sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu!”

Hoàng Thị Tố Lang

DỊCH: Một Nghề Nhàn Nhã—Luân Tế

“Dịch” đây không phải là “Mắc Dịch”, “Già Dịch”, “Dịch Hạch – Dịch Tả” hay bệnh “Dịch” lan tràn; cũng không phải là “Tinh Dịch”, ”Dịch Hoàn”, “Dung Dịch”, hay “Kinh Dịch” – một trong năm cái “Ngũ Kinh Dị” của Ba Tầu – mà là “Thông Dịch”, việc chuyển ngữ từ tiếng nước này sang tiếng nước khác.

“Good morning/afternoon. My name is Tuấn, a Vietnamese interpreter for you today. How can I help you with?”

“Chào ông/bà… Tên tôi là Tuấn. Tôi sẽ là người thông dịch cho ông/bà… hôm nay.

Từ khoảng 4 năm nay, sau một thập niên dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, tôi trở về với một việc làm có lẽ là nhàn nhất thế giới: Đó là nghề thông dịch viên (TDV) Anh – Việt, Việt – Anh cho một công ty ở Portland Oregon. Tuy công ty này có trụ sở tại Oregon nhưng tôi thì làm việc ở Huntington Beach. Sở dĩ tôi cho công việc này là nhàn nhất thế giới là thay vì phải đóng bộ complet-cà vạt như khi đi làm hồi thế kỷ trước, bây giờ mùa hè thì tôi mặc quần xà lỏn, áo thung; mùa đông thì mặc flannel pajamas, khoác cái robe khi làm việc. Và nhất là không phải lái xe vì tôi làm TDV tại nhà, trên điện thoại, trong cái phòng làm việc xinh sắn của tôi, giúp cho những người cần tiếp xúc với các cơ quan ở Mỹ nhưng không đủ khả năng để trình bầy họ muốn gì. Và giúp cho các cơ quan ở Mỹ (và ở cả các nước khác) hiểu được người nói tiếng Việt Nam đang tiếp xúc với họ muốn gì.

Interpreter3Thông dịch tại bệnh viện

Để tôi kể qua tiến trình một ngày làm việc của tôi. Ngủ dậy buổi sáng, đánh răng, uống cà phê xong thì tôi vào phòng làm việc, mở computer xem / trả lời emails, lên mạng xem tin ở các trang như Skimm, The Daily Beast, The New York Times; rồi bắt đầu viết lách qua loa. Cùng lúc đó tôi lấy điện thoại bàn (không được dùng điện thoại di động) gọi vào công ty rồi bấm số #1 để “log in”. Thế là xong. Sau khi “log in” thì tôi có nhiệm vụ trả lời những cú điện thoại của hãng gọi cho tôi rồi nối đường đây điện thoại của tôi với thân chủ đang chờ sẵn. Lúc nào không muốn làm vì bận việc riêng thì tôi lại gọi số của hãng rồi bấm số #2 để “log out”. Có nhiều lúc sau khi đã “log out” rồi mà điện thoại vẫn reo với “ID caller” của hãng. Nếu tôi nhấc máy, nhân viên của hãng sẽ xin lỗi là đã làm phiền tôi và yêu cầu tôi, nếu có thể được, giúp trả lời cú điện thoại này vì lý do hãng không đủ người thông dịch tiếng Việt lúc đó, hay có một thân chủ nào tôi đã giúp trong quá khứ nêu đích danh và xin hãng liên lạc với tôi, yêu cầu tôi giúp. Không phải lúc nào tôi cũng làm việc; có ngày đắt hàng, có ngày ế. Thứ Hai thường là bận rộn nhất. Một ngày trung bình tôi dịch trên điện thoại khoảng từ 250 đến 300 phút. Trong những lúc không có “khứa” thì tôi có thể đi lau nhà, rửa bát, giặt quần áo, làm vườn cho vợ. Đến năm giờ chiều thì tôi “log out”, đi tắm, rồi ngả người trên ghế recliner nhấp một ly rượu vang (hay 2) hay một shot (hay 2) Cognac/Whisky/Tequila, xem báo, làm ô chữ, nghe nhạc. Những ngày cuối tuần nghỉ.

Tôi không lạ gì với cái nghề TDV này cho lắm. Thật ra, cái “job” đầu tiên của tôi trên đất Mỹ là TDV trong trại tị nạn IndianTown Gap, Pennsylvania vào giữa 1975. Vừa xuống máy bay thì tôi bị lùa vào phòng “processing” để làm cuộc phỏng vấn đầu tiên cho thủ tục nhập cảnh. Ngồi cạnh nhân viên sở di trú là chị X., một người tôi quen sơ bên Guam, sang trước và đang làm TDV. Chị X. thấy tôi vào, và vì biết khả năng của tôi, nên để tự tôi trả lời cuộc phỏng vấn rồi xin phép đi ra ngoài. Phỏng vấn xong thì người nhân viên di trú Mỹ yêu cầu tôi làm TDV thay cho chị X. bắt đầu từ sáng hôm sau và nói là tuy chị X. làm TDV tự nguyện không lương cho trại tị nạn, anh sẽ trả cho tôi $20.00 một ngày. Sau hơn một tháng xếp hàng xin cơm ở Guam, nhờ vào cái “job” này, gia đình tôi bắt đầu vào PX mua thức ăn và không thèm ăn cơm phát chẩn nữa trong suốt thời gian ở IndianTown Gap (Tôi còn để dành được vài chục và trong một canh xì phé với các bạn trong barracks, ăn non, gom đủ tiền chạy vào PX mua được cái đồng hồ Omega tự động—chỉ cần lắc cổ tay vài cái là coi như đã lên giây—giá là $175.00. Anh Vũ Huyến, cùng ở chung trại, trong một canh bài khác, cũng ăn non, chạy ra PX mua cái đồng hồ này. Khoảng 20 năm sau thì đồng hồ của tôi hỏng, thợ mở ra thì thấy máy ở trong cứng ngắc, không lắc nữa. Đồng hồ của anh Huyến thì không sao.)

Interpreter4Trại Fort Indiantown Gap, PA

Interpreter5Một trang báo về Fort Indiantown Gap

Trở về hiện tại, khách hàng của công ty tôi làm phần đông là người Việt lớn tuổi đi mua thuốc, khám bệnh, nằm nhà thương, vào phòng cấp cứu, đi chụp hình quang tuyến (Xray-Scan-MRI). Trẻ hơn thì ra tòa vì tội DUI, vượt đèn đỏ, đánh vợ, khai bankruptcy, quỵt nợ, đến sở xã hội xin welfare, medicaid, foods tamps, housing. Còn có những người liên lạc với nhà băng, hãng bảo hiểm (xe, y tế, nhân thọ), hãng telephone v…v…Còn có cả những cú điện thoại từ Việt Nam gọi sang tố cáo với công ty mẹ những hành vi ngược đãi nhân viên của những cơ sở ở VN. Cũng có những công ty ở Mỹ gọi về VN nói chuyện về nhiều vấn đề.

Nhiều người cố gắng nói tiếng Anh nhưng khi hai bên không hiểu được nhau vì rào cản ngôn ngữ thì họ cầu cứu tới hãng tôi làm việc. Ngay lập tức hãng liên lạc với tôi hay những TDV khác. Nhấc điện thoại lên, tôi nói một tràng tiếng Anh, như người máy: “Good morning/afternoon. My name is Tuấn, a Vietnamese interpreter for you today. How can I help you with?” Sau khi người Mỹ tự giới thiệu và nói lý do họ muốn có sự giúp đỡ của tôi, tôi quay sang nói bằng tiếng Việt: “Chào ông/bà..tên tôi là Tuấn. Tôi sẽ là người thông dịch cho ông/bà…hôm nay”. Một số cơ quan (phần nhiều là nhà thương và vài văn phòng an sinh xã hội) dùng hệ thống hai máy điện thoại song song—một cho người Mỹ và một cho người Việt, rất tiện cho TDV. Có những chỗ chỉ có một máy nên tôi sẽ nghe một bên rồi chờ máy chuyển sang cho người kia rồi dịch lại. Thường thì thân chủ để máy ở vị trí speaker phone trong phòng để mọi người cùng nghe lời dịch Việt–Anh, Anh–Việt của tôi. Nói chuyện và dịch qua speaker phone rất khó, nhất là gặp người Mỹ nói nhanh và ngọng (như mấy anh gốc Ấn Độ hay Mễ Tây Cơ) và bên kia là một cụ già người Quảng đang lên cơn suyễn, nói không thành tiếng, mà có thành tiếng thì cũng rất khó nghe. Speaker phone cũng được dùng ngoài tòa án. Luật sư ngoài tòa và bác sĩ trong bệnh viện thường nói rất nhanh, hình như lúc nào cũng vội để còn gặp thân chủ/bệnh nhân khác. Các ông chánh án thường chậm rãi hơn và bao giờ cũng ngỏ lời cám ơn Mr. Lê (tôi) trước khi gác máy.

interpreter1

interpreter6Thông dịch tại tòa án

Có một số ít người Việt Nam khi nghe tôi tự giới thiệu là TDV thì tỏ vẻ khó chịu—có lẽ là vì nghĩ rằng mình nói tiếng Anh ngon lành, cần gì thằng cha này—và bộc lộ thái độ của mình bằng cách lờ tôi đi, tiếp tục nói tiếng Anh. Tôi “ ngậm miệng ăn tiền”—nhưng vẫn phải theo dõi cuộc đối thoại—chờ cho đến khi nào một trong hai bên “bí”, (người Mỹ nói, “What did he say, interpreter?; người Việt thì hỏi, “Nó nói gì vậy anh?”) thì tôi mới mở miệng. Nhiều khi tôi “ngậm miệng ăn tiền” như thế đến 10, 15 phút. Chắc quý vị cũng đã từng phải chờ đợi khá lâu tại văn phòng bác sĩ. Tôi cũng thường xuyên phải chờ bác sĩ khá lâu, nhưng khác một cái là càng chờ lâu trên điện thoại thì tôi lại kiếm nhiều tiền hơn mà không phải làm gì cả.

Làm cái nghề thông dịch này của tôi dễ mà khó. Dễ là vì chẳng phải có bằng cấp, thi cử gì, chỉ cần khả năng nghe giỏi và nói một ngoại ngữ lưu loát ngang với tiếng mẹ đẻ. (Xin mở ngoặc nói thêm về một loại TDV được gọi là TDV Hữu Thệ—Certified Interpreter—phần nhiều làm việc ở tòa án. Những TDV này phải qua một kỳ khảo hạch của tiểu bang nơi họ muốn hành nghề. Tôi nghe nói là kỳ khảo hạch này của California rất khó nuốt, một phần vì hội hay nghiệp đoàn các TDVHT ở California không muốn có nhiều TDV quá, mất ăn, nên làm khó những người muốn thi vào. Tôi chưa hề trải qua cuộc khảo hạch này nên không có kinh nghiệm bản thân về chuyện này.) Khó là vì chuyển ngữ là một nghệ thuật và năng khiếu trời cho, không phải ai cũng làm được dù cho có giỏi ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ đến đâu đi nữa. Diễn tiến của việc thông dịch như sau: tai tiếp nhận được những dữ kiện của ngôn ngữ #1 rồi chuyển lên óc, óc nhận được, dịch ngôn ngữ #1 sang ngôn ngữ #2 rồi ra lệnh cho lưỡi hoạt động, nói thành tiếng bằng ngôn ngữ #2. Tiến trình này diễn tả thì lâu nhưng thực sự chỉ xẩy ra trong một phần ngàn của một giây. Cho nên khả năng thông dịch hầu như hoàn toàn dựa theo phản xạ tự nhiên của người biết nghe và nói thông thạo 2 thứ tiếng khi làm TDV.

Ngoài ra còn vấn đề phát âm. Số đông những người nói ngoại ngữ không được chuẩn vì không được học nhiều và không xử dụng thường xuyên trong đời sống hàng ngày. Một số có học nhưng không có khiếu nói ngoại ngữ nên rất khó chuyển đạt những gì mình muốn nói đến người khác. Hai điểm quan trọng nhất trong việc nói ngoại ngữ là cái tai và khả năng bắt chước lối phát âm của người bản xứ. Khi tôi về dậy Anh Văn ở Việt Nam (lớp đào tạo giáo viên), tôi nói với các học viên của tôi ( tất cả đang dậy Anh Văn) là nếu tai các bạn không tự nhận thấy là các bạn phát âm sai thì hết thuốc chữa. Tôi còn nhớ cách đây hơn 20 năm, tôi về hưu sớm đi làm phim. Trong lúc rảnh rỗi có một hãng mời tôi đi thông dịch cho những phiên tòa hành chánh xử các vụ xin tiền an sinh xã hội về bệnh tật. Lúc đó hầu như tất cả các luật sư đại diện cho thân chủ xin tiền ASXH đều là người Việt Nam, cỡ tuổi tôi hoặc lớn hơn, đã từng hành nghề LS tại VN, sang đây học và thi lại. Luật pháp Hoa Kỳ bắt buộc lời khai của người đi xin tiền ASXH phải được dịch qua TDV và ghi lại bằng máy ghi âm hay máy tốc ký. Một hôm, ông LS trình bầy sự kiện trước ông chánh án bằng tiếng Anh thì bị ngưng lại không cho nói tiếp. Rồi ông chánh án nói, “Xin lỗi anh. Tôi không hiểu anh nói gì cả. Sao anh không nói tiếng Việt, rồi nhờ ông thông dịch viên này giúp cho?” Tất nhiên là ông LS đó phải nói tiếng Việt theo lệnh ông chánh án nhưng mặt ông ta sưng lên và nhìn tôi với con mắt mất thiện cảm.

Interpreter

Như trên đã nói, phần đông những người tôi giúp là người lớn tuổi, nhưng gần đây có một hiện tượng là có những người trên điện thoại là dân Bắc Kỳ 75. Chuyện này xẩy ra thường xuyên hơn trong những cú điện thoại ở Canada (Dân Hải Phòng thì nà mà…) Còn ở Mỹ tôi cũng gặp khá nhiều trên điện thoại. Sau đợt của các cựu sĩ quan VNCH đã bị Cộng Sản giam cầm di dân sang Mỹ cùng với gia đình theo diện HO thì đến lượt dân Bắc Kỳ 75 kéo nhau sang. Những người này thường còn rất trẻ, không biết tiếng Anh, “lói” giọng Hà Lội, ráng rặn ra một đứa con (phải có con nhỏ mới đủ điều kiện) rồi đi xin welfare, medicaid, food stamps, housing. Vấn đề tôi đặt ra ở đây là, những người này chắc chắn phải là dân có tiền hay là loại COCC tham nhũng mới có thể xoay sở lấy cái visa di dân sang Mỹ. Sang đến Mỹ rồi thì chôn vàng, dấu của, lợi dụng tình nhân đạo và kẽ hở luật pháp của nước Mỹ, đi ăn mày xã hội. Và quý vị và tôi phải è cổ đóng thuế để nuôi những thành phần (có thể là giầu hơn chúng ta rất nhiều) này.

Nhắc đến Bắc Kỳ 75 thì tôi có một giai thoại về tòa án. Hôm đó tôi trả lời điện thoại thì được hỏi, “Do you speak the Southern dialect?” Tuy nói tiếng Bắc nhưng vào Nam từ năm lên tám nên tôi trả lời, “Yes, I do.”Sau khi được nối dây với tòa, tôi tự giới thiệu. Ông chánh án cẩn thận hỏi một lần nữa; tôi trả lời “Yes, your honor!” Rồi ông yêu cầu tôi nói một vài câu với người bị cáo đang đứng trước tòa. Tôi nói bằng tiếng Bắc cố hữu thử xem người kia có hiểu không thì có một giọng đàn bà người miền Nam trả lời rất ngọt ngào. Tôi hỏi bà có hiểu tôi nói gì không. Bà bảo hiểu chứ. Tôi bèn báo cáo với ông chánh án là chúng tôi nói cùng một thứ tiếng và hiểu nhau hoàn toàn. Ông chánh án nói với tôi là sở dĩ ông phải yêu cầu một TDV nói tiếng Nam là vì người TDVHT, lúc đó hãy còn đứng trong tòa, nói tiếng Bắc với bị cáo nhưng bà này than phiền là không hiểu người TDV nói gì. Tôi hiểu ngay câu chuyện. Đã có vài lần các cơ quan thông dịch bị chập dây nên có 2 TDV trên máy cùng một lúc. Khi tôi và người TDV kia biết thì một người sẽ cúp máy nhường, tùy trường hợp hãng nào nhận điện thoại trước. Qua một hai câu nói thì tôi biết người TDV kia là Bắc Kỳ 75. Và đã nhiều lần tôi nghe thân chủ than phiền,“Ông ơi, ông nói tui hiểu hết mà sao mấy cô cậu trẻ nói giọng Bắc gì kỳ quá, tui hổng hiểu gì hết trơn hết trọi.” Thì ra các cô, các cậu con ông cháu cha ở “nước ta” sang “nước mình” học, rồi ở lại, đi làm TDV. Bắc Kỳ cũ 54 như tôi mà còn thấy chói tai, ngơ ngác khi nghe thứ tiếng “Mọi” của người Hà “Lội” ngày nay thì các ông bà người miền Nam làm sao hiểu nổi vì chưa được “ân hận” nghe cái giọng 4000 năm văn hiến của các cô các cậu Bắc Kỳ 75 này.

Nói về “giọng.” Có lẽ vì tôi nói to (chắc tại tai hơi điếc) và nói tiếng Anh lưu loát nên các thân chủ người Việt tưởng là tôi còn trẻ. Có người xưng “Ông” với tôi. Có người xưng bác, chú, anh, chị. Một hôm, tôi nói, “Chào Bà…” và sau khi nghe giọng một người đàn bà miền Nam có vẻ còn trẻ, đổi sang “Cô” thì bà này lập tức xưng “cô” và gọi tôi bằng “con.” Khi tôi nói là tôi gần 70 rồi, bà ta xoay chiều, xin lỗi và gọi tôi là ông anh, xưng em. Một trường hợp khác cũng tương tự nhưng vui hơn. Sau khi tôi nói là tôi gần 70 rồi, một bà nói với tôi bằng một giọng rất đanh đá và hơi xấc, “Già rồi mà không chịu nghỉ cho khỏe, ham tiền đi mần làm chi cho nó khổ…” Tự nhiên nhớ đến nhạc sĩ Đức Huy, bạn tôi, tôi trả lời ngay lập tức, “Dạ, tôi nghỉ hưu mấy năm rồi đó chớ, nhưng kẹt một cái là năm rồi, tôi dzề Dziệt Nam lấy con dzợ mới 26 tuổi, sanh được thằng con trai gần 2 tháng nên phải đi làm lại…” Dzợ tôi đang ở gần đó, nghe tôi nói, phá lên cười.

Cuối cùng xin kể một giai thoại nhỏ về cái phản ứng tự nhiên của một TDV. Tôi dịch cho một bà bác sĩ và một cô gái quê miền Nam mới sang Mỹ có mấy tháng đi khám sức khỏe tổng quát. Lúc khám đến ngực thì bà bác sĩ hỏi, “Do you have breast implants?” Phản xạ tự nhiên lúc đó của tôi là câu hỏi đầy tính chất bình dân học vụ, bật ra từ miệng rất nhanh, “Dzú cô là dzú thiệt hay dzú giả?”, và cô gái quê bẽn lẽn trả lời, “Dạ, thưa chú, dzú con là dzú thiệc…”

Mỗi khi chấm dứt một câu điện thoại, tôi kết thúc bằng: “Thank you for using our services. Have a good day…”

Và tôi cũng xin chấm dứt bài này bằng: “Cám ơn quý vị và các bạn đã đọc bài này… Chúc quý vị và các bạn một ngày vui…”

Luân Tế