Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà (Trang 22)

Category Archives: Việt Nam Cộng Hoà

Happy New Year

25

Nghệ sĩ Asia & SBTN tưởng nhớ Nhạc sĩ Việt Dzũng—SBTN




Khủng bố người tị nạn về Việt Nam tại phi trường Tân Sơn Nhất

 

Ho Chi Minh The Man and The Myth—CLS Video

Việt Dzũng hát bài “Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển”

Nam Lộc nói về sự ra đi của nhạc sĩ Việt Dzũng

 
CaoPhoVietDzung 
 
 
NL&VD
 
Dĩ nhiên sự ra đi bất ngờ của nhạc sĩ Việt Dzũng là một mất mát rất lớn lao đối với tôi khi mà người bạn đồng hành của mình trong suốt hơn 30 năm qua trên con đường văn nghệ, vận động cho nhân quyền và tranh đấu cho tự do, dân chủ là nhạc sĩ Việt Dzũng đã không còn nữa. Tuy nhiên tôi thương anh ít hơn là thương những người quý mến anh còn ở lại trên cõi đời này, trong đó có tôi. Mặc dù đã phải ra đi ở độ tuổi còn trẻ, nhưng suốt hơn 50 năm qua, Việt Dzũng đã sống thật trọn vẹn và thật đầy đủ với những gì anh muốn làm cùng những điều anh muốn thực hiện. Sống với lý tưởng, với lương tâm và đem tâm sức cùng tài năng của mình để phục vụ cuộc đời.
 
Vì sức khỏe không được tốt cho nên Việt Dzũng cũng đã chuẩn bị tinh thần cho những điều bất trắc có thể xẩy ra. Và có lẽ cũng vì thế nên khi có những biến chuyển về bệnh trạng, anh đã ra đi thật nhanh chóng, thật thản nhiên, chỉ để lại bao đau đớn, xót xa cho những người thương mến anh đang còn sống. Điển hình là chưa đầy 24 tiếng đồng hồ kể từ khi tin về sự ra đi của anh được loan truyền đã gây sự xúc động và bàng hoàng cho rất nhiều người. Hầu như điện thoại, text và email của tôi đã tràn ngập lời nhắn của những người thân hoặc những người chưa bao giờ tôi quen biết. Quý vị đã gọi từ khắp mọi nơi trên thế giới kể cả từ VN với những lời chia sẻ, nhắn gửi chân thành và những giọt nước mắt thiết tha dành cho Việt Dzũng.
Một trong những điều may mắn và hân hạnh trong cuộc đời của tôi, là được đứng bên cạnh một người mà tôi luôn luôn ngưỡng mộ và quý mến từ bao năm qua cũng như được hoạt động cùng anh trong nhiều lãnh vực. Nếu không có Việt Dzũng ở bên cạnh, nếu không có Việt Dzũng cố vấn, an ủi, khuyến khích thì chắc tôi đã không hoàn thành được những gì mà mình muốn và đã thực hiện.
Việt Dzũng đã ra đi, nhưng tinh thần và lý tưởng phục vụ cho tha nhân, cho quê hương đất nước cùng dòng nhạc của anh vẫn còn tồn tại và sẽ sống mãi trong lòng những người thương mến anh. Tôi chỉ buồn một điều là từ nay sẽ không còn ai chọc phá mình trên sân khấu hay trước mặt khán thính giả nữa. Thằng em tôi nó đang ngủ thật bình yên!
Nam Lộc, December 21, 2013
Một mùa Giáng Sinh buồn!

Vài Hình Ảnh Phiên Họp Khoáng Đại 2013 Của Hội Võ Bị Bắc Cali—Vũ Thế Khanh K20

HopKhoangDai.15.12.13

HopKhoangDai.15.12.13.1

HopKhoangDai.15.12.13.13

HopKhoangDai.15.12.13.2

HopKhoangDai.15.12.13.5

HopKhoangDai.15.12.13.11

HopKhoangDai.15.12.13.12

HopKhoangDai.15.12.13.7

HopKhoangDai.15.12.13.3

HopKhoangDai.15.12.13.6

HopKhoangDai.15.12.13.17

HopKhoangDai.15.12.13.4

HopKhoangDai.15.12.13.10

HopKhoangDai.15.12.13.9

HopKhoangDai.15.12.13.8

HopKhoangDai.15.12.13.15

HopKhoangDai.15.12.13.19

HopKhoangDai.15.12.13.14

HopKhoangDai.15.12.13.16

HopKhoangDai.15.12.13.18

HopKhoangDai.15.12.13.20

HopKhoangDai.15.12.13.24

HopKhoangDai.15.12.13.21

HopKhoangDai.15.12.13.23

HopKhoangDai.15.12.13.22

Mất Sài Gòn lãnh đòn của đảng—Uyển Thi

https://phunulamvien.org/wp-content/uploads/2013/12/2572e-30-04-1975-danlambao.jpg

Kể từ lúc Sài Gòn thất thủ
Việt Nam ơi sầu rũ sợi buồn
Triệu người phải sống tha phương
Triệu người cải tạo tan xương trong tù.
Trai xuất khẩu di cư lao động 
Gái lấy chồng kiếp sống ngoại bang
Ba miền cơ cực lầm than
Cha già không đất đồng hoang bạc mầu.
 
Đảng bán nước đỏ ngầu bô xít
Rừng tây nguyên đang chết từng ngày
Nhọc nhằn mắt mẹ lệ cay
Chờ con xa xứ đong đầy nhớ thương.
 
Nhóm lợi ích trung ương đấu đá
Dân lại thêm nghiệt ngã khốn cùng
Thuế nhà thuế đất thuế nương
Thuế người nghệ sỹ thuế thằng cu li.
 
Dân đói khổ phải đi ra biển
Bắt cá tôm tìm kiếm miếng ăn
Bị thằng bốn tốt bạn vàng
Bắt đòi tiền chuộc khổ càng khổ thêm.
 
Trong bĩnh cực gọng kìm cộng sản
Dân lầm than chán nản tột cùng
Người tìm đến nỗi sầu chung
Người tìm cái chết để đừng khổ đau.
 
Đừng tuyệt vọng chuyện đâu còn đó
Anh em ơi đảng đỏ giết người
Vùng lên nước Việt Nam ơi
Cứu cha cứu mẹ thoát đời khổ đau.
 
Hãy xiết lấy tay nhau giữ nước
Ta đồng lòng sánh bước tiến lên
Cứu đàn em trẻ yếu hèn
Cứu người con gái chồng bên nước ngoài.
 

Dead by China—Peter Navarro & Greg Autry

 

Bản dịch Việt ngữ:

 
 

Chết bởi Trung Cộng—Hồ Phú Bông

Cách đây khoảng hai năm chúng tôi ghé lại tiệm thực phẩm chó mèo để mua cho cô nàng chó cưng của chúng tôi mấy bọc thực phẩm nhỏ, loại chó ưa thích, để dễ dạy chúng (treat foods). Lúc chọn lựa chỉ so sánh giá cả, rẻ thì mua, không quan tâm đến nơi sản xuất vì nghĩ đấy ‘chỉ là chuyện chó mèo’!  Hơn một tuần sau cô chó bỗng rụng vài mảng lông và da ở khu vực đó có vẻ sần sùi như bị lác!  Lại ‘rất vô tư’ đi mua thuốc chống ngứa đem về.  Cũng nghĩ là cô nàng bị bịnh ngoài da chi đó rồi sẽ khỏi thôi, vì chúng tôi chăm sóc rất chu đáo!  Thế nhưng những ngày kế tiếp tình trạng đã không khá hơn mà da chỗ khác cũng có triệu chứng không tốt!  Đến lúc đó chúng tôi mới đem gói treat food ra xem lại. Made in China!  
 
Từ chuyện nhỏ đó của con chó, chúng tôi bắt đầu tự cảnh giác 3 chữ Made in China! 
Ấy thế mà trước khi ngồi gõ những dòng nầy, tôi thử nhìn quanh trong nhà, liệu chúng tôi đã lặng lẽ khuân về bao nhiêu thứ Made in China?  Thật ngạc nhiên, có ‘vô số’.  Từ đồ dùng đến thực phẩm, kể cả tủ quần áo cũng không thoát khỏi, mà nếu kể ra đây chắc cũng tốn nhiều dòng!
Điều ngạc nhiên nhất là cái hộc đựng muỗng đũa!  Có ít nhất cũng hơn 10 đôi muỗng plastic và đũa tre chưa đụng tới, còn nguyên trong bọc giấy Made in China.  Như vậy thì số muỗng đũa đã dùng rồi quăng đi, hiển nhiên không phải là ít!   Mà số muỗng đũa đó lại từ nhà hàng Việt Nam(!) cung cấp, do chúng tôi mua ‘food to go’!
Ai dám bảo số đũa tre là không bị ngâm trong hóa chất độc hại để chống ẩm, mốc hay cong vẹo?
Như vậy thì dù đã ‘tự cảnh giác’ nhưng chúng tôi vẫn ‘tự sát’ một cách vô tình!
Đọc quyển Death by China của đồng tác giả Tiến sĩ Peter Navarro và Giáo sư Greg Autry, bản dịch của Tiến sĩ Trần Diệu Chân vừa mới phát hành, để thấy rằng những cái chết đã xảy vô cùng êm ái, không một tiếng động!  Những cái chết đó phải chăng chỉ xảy ra cho một số người?  Không, thưa không đơn giản như thế!  Đấy là cái chết tiệm tiến đang diễn ra cho cả nhân loại, trên toàn thế giới mà chế độ Trung Cộng đem đến!
Nội dung sách như một cuốn cẩm nang được dẫn chứng bằng luận cứ khoa học mà có thể tra cứu để tìm hiểu căn nguyên bệnh trạng cho cả nhân loại, do sản phẩm độc hại của một chế độ bất chấp sinh mạng con người!  Và, đặc biệt là sự tàn phá môi trường sống của địa cầu!  Với 326 trang viết, 12 trang hình ảnh dẫn chứng, cộng thêm 90 trang phần tiểu luận đặc biệt Những vấn đề Trung Quốc của dân tộc Việt Nam của dịch giả Trần Diệu Chân, Tiến sĩ Kinh tế University of California at Santa Cruz.
Tựa đề bản dịch tiếng Việt là Chết bởi Trung Quốc là chính xác nhưng mang tính hàn lâm.  Còn tôi, đơn giản hơn, cụ thể hơn, thay vì dùng Trung Quốc để chỉ một đất nước, một dân tộc, tôi dùng Trung Cộng, như tựa đề bên trên, để nói về bản chất của chế độ cộng sản, một chế độ đã và đang còn gây tai ương cho toàn thế giới!
  
Sách gồm 16 chương, mỗi chương cô đọng một vấn đề. 
Thí dụ Chương II:  Chết vì thuốc độc Trung Quốc.  Hóa chất Melamine, Heparin.  Chương III:  Chết vì hàng tồi Trung Quốc.  Những hồ sơ kinh hãi về an toàn sản phẩm.  Công ty cao su Zhongce ở Hàng Châu qua mặt pháp lý Hoa Kỳ về chất lượng vỏ xe gây tai nạn giết người.  Chương V: Chết vì bị thao túng tiền tệ.  Công nhân Hoa Kỳ khó thể cạnh tranh hiệu quả với công nhân Trung Quốc.  Vì không thể cạnh tranh khi tỷ giá đồng Mỹ Kim với đồng Nhân dân tệ (Yuan) bị thao túng!  Chương VII: Chết bởi Rồng thực dân.  Thực dân Trung Quốc tại Phi Châu, Châu Mỹ La tinh, cung cấp sản phẩm giết người và đổ rác độc hại.  Chương IX: Chết vì gián điệp Trung Quốc tràn ngập trong mọi lãnh vực.  Chương XIII:  Trung Quốc nói dối ngay trong Hiến pháp của họ “Công dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do diễn hành và biểu tình” (Điều 35)…
Tác phẩm là một tài liệu sống động, cụ thể.  Là kết quả công sức của hai tác giả sau hai năm nghiên cứu, viếng thăm, phỏng vấn tại nhiều thành phố, nhiều công xưởng ở Trung Cộng.  Sách được phát hành đúng 22 năm ngày xảy ra biến cố Thiên An môn (1989-2011) và bộ phim Death by China cũng đã được trình chiếu ra mắt tại Pasadena, Nam California ngày 17/8/2012. 
Hai tác giả cũng như sách đều đang bị cấm tuyệt tại Trung Cộng. 
Là tác phẩm chính trị nhưng không khô khan như thường nghĩ!  Trái lại, có thể nói đây là một tác phẩm vô cùng lôi cuốn đối với người không liên quan đến bất cứ sinh hoạt chính trị nào, như tôi! 
Bây giờ, thử đi vào chi tiết một chương.  Chương nói về những việc rất đỗi bình thường trong đời sống hàng ngày mà hiếm khi chúng ta để ý. 
Xin trích vài đoạn trong Chương II, từ trang 39 – 54:
“Chết vì thuốc độc Trung Cộng*
 “Trong tủ lạnh chúng ta, Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất về Thủy sản cho Hoa Kỳ, cung cấp then chốt về thịt gà và xuất khẩu trà đứng thứ 3 trên thế giới.  Những nông gia Trung Quốc cũng cung cấp 60% nước táo đặc, 50% tỏi và những số lượng đáng kể về mọi thứ từ lê và nấm đóng hộp đến mật ong thường và mật ong chúa.
Về dược phẩm, Trung Quốc là nơi sản xuất 70% penicillin của htế giới, 50% aspirin và 33% Tylenol.  Các công ty dược phẩm Trung Quốc cũng chiếm lĩnh nhiều thị trường thế giới về kháng sainh, enzyme, amino acid, thuốc bổ.  Thậm chí, Trung Quốc còn chiếm lĩnh đến 90% thị trường thế giới về vitamin C, đóng vai tròhàng đầu trong việc sản xuất vitamin A, B12 và E, bên cạnh những thành tố gốc trong các thuốc multivitamins” (trg 39-40)
“Một ví dụ như 10% các nhà hàng Trung Quốc đã sống nhờ cái gọi là “dầu phế thải” (Gutter Oil) dùng làm dầu nấu ăn.  “Gutter Oil” là loại dầu cặn bã đã sử dụng được vớt lên từ những ống cống hôi thối của các nhà hàng, có chứa rất nhiều độc tố gây ung thư gan có tên là “aflatoxinmold”.  Những bọn vớt dầu cặm bã Trung Quốc bán nó ngay tại cửa sau của nhiều nhà hàng với giá bằng 1/5 giá của dầu đậu nành hay đậu phọng mới.  Bên cạnh chứng ung thư gan, chất dầu cặn bã nầy và đủ loại thức ăn vụn trong đó có thể gây chết bất đắc kỳ tử cho những ai bị dị ứng” (trg 40-41)
“Melamine – kẻ sát nhân hàng loạt của Trung Cộng*
“Mặc dù loại dầu cặn bã tuy thấy tởm, nhưng không ăn thua gì so với cách giết người hàng loạt của những kẻ sát nhân Trung Quốc bằng chất độc melamine… Melamine thực sự là một hóa chất có giá trị – khi nó không được lén lút bỏ vào thức ăn.  Tổng hợp nó với Formaldehyde để chế ra nhựa melamine..  có thể sử dụng melamine như chất làm chậm cháy, phân bón, hay chất siêu plastic để làm bê tông có sức đề kháng cao.  Nhưng nếu cho melamine vào thức ăn để cho gà, chó mèo, sữa, hay sữa bột trẻ em thì nó phá hủy hai trái thận nhanh hơn bất kỳ thứ gì khác.  Nhưng tại sao bọn gian thương “tim đen” của Trung Quốc lại cho melamine vào trong thực phẩm?  Đó là vì số lượng nitrogen cao trong melamine sẽ làm tăng chỉ số chất đạm (protein).  “Sự giả mạo protein của Trung Quốc” như thế nhằm đánh lừa những nhân viên kiểm tra thực phẩm về mức độ protein trong thức ăn.  Vì melamine rẻ hơn protein rất nhiều…” 
“Trung Cộng* giết người bằng chất Heparin”
“Heparin là một hoạt chất chống đông máu rất phổ thông trong những vụ giải phẫu và chuyền máu cũng như lọc thận, được tinh chế từ màng nhờn ruột heo. Trên thực tế, đó là lý do tại sao Trung Quốc đã đi vào tiến trình sản xuất heparin: Vốn là thủ đô lợn của thế giới..” “Để tăng lời, các nhà sản xuất Trung Quốc đã bỏ thêm vào heparin một chất có hoạt tính tương tự như heparin nhưng nguy hiểm chết người, đó là chất chondroitin sulfate với nồng độ sulfate quá tải, đưa đến phản ứng trầm trọng có thể giết người như hạ huyết áp, thở rút, nôn mửa và tiêu chảy… Điều đáng ghê sợ là chất này rất giống heparin khiến việc điều tra chất heparin rất khó khăn; tà chất này lại rẻ gấp 100 lần so với giá trung bình: chỉ có $9 một pound so với heparin $900 một pound. (trg 44-45) 
(Hết trích)
Sự hiểu biết của chúng ta về hàng hóa Trung Cộng thường chỉ qua dư luận.  Sự hiểu biết đó là cần thiết nhưng không cụ thể.  Đọc Chết bởi Trung Quốc chúng ta như trải nghiệm được là chết như thế nào.  Mà khi đã trải nghiệm thì sẽ khó quên!  Chính sự khó quên đó giúp ta tự giải quyết vấn đề cho riêng mình, cho gia đình và sau đó mới có thể làm nhân chứng cho người khác!  
Người chưa đọc Chết bởi Trung Quốc có thể bâng khuâng với câu hỏi:  Có phải đấy là sự thật hay tuyên truyền vì kỳ thị người Trung Hoa? 
“Tác giả đã chia xẻ với tôi (dịch giả – nv) điều mà ông đã từng phát biểu nhiều nơi khi ra mắt tập sách rằng Tác giả đã không viết trong tinh thần bài Hoa, mà ngược lại, để bài trừ một chế độ đã giết hại quá nhiều người dân Trung Hoa – kể cả người dân các sắc tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ, Nội Mông; đó chính là chế độ cộng sản Trung Quốc.” (Trích, trg 10)
Trung Cộng với dân số khổng lồ, 1 tỉ 350 triệu người, nên chính họ cũng đã coi sinh mạng người dân như cỏ rác.  Tiêu biểu như câu chuyện vô cùng thương tâm mới xảy ra cách đây không lâu.  Tai nạn của một bé gái 5, 6 tuổi đã bị 4, 5 xe cán qua mà tài xế vẫn thản nhiên bỏ chạy (nhờ camera ghi hình mới biết được) để cuối cùng một người đàn bà quét đường lao ra cứu và em bé đã chết sau đó tại bệnh viện! 
Chính Mao Trạch Đông trong cuộc “Cách mạng Văn hóa” đã dùng Hồng Vệ binh giết hàng triệu người mà cho đến bây giờ chân dung ông vẫn chễm chệ ngay giữa quảng trường Thiên An môn!
‘Cách mạng đã ăn thịt chính con đẻ của nó’!  Câu nói đó hoàn toàn chính xác với chế độ cộng sản!  Không cần nhìn những diễn biến chính trị phức tạp tại Trung Cộng, người Việt Nam cũng đã và đang chứng kiến tận mắt!  Sau khi chiếm được miền Bắc, cộng sản đã ‘ăn thịt con đẻ’ của họ qua chương trình Cải cách Ruộng đất (1956-1958) với hàng trăm ngàn nông dân bỗng chốc bị quy kết là địa chủ và bị xử tử hình!  Câu chuyện Bà Cát Thanh Long Nguyễn Thị Năm, một người đã từng nuôi dưỡng và che giấu cho các cán bộ lãnh đạo cao cấp nhất của đảng cộng sản Việt Nam, đã bị ông Hồ Chí Minh làm ngơ để mở đầu cho phát súng “đào tận gốc, trốc tận rễ bọn trí, phú, địa, hào!”  Và hôm nay, các bà “mẹ liệt sĩ”, “thương binh” “anh hùng..”… bị cướp đất, cướp nhà đang lê lết ngoài đường phố, khiếu kiện từ địa phương đến trung ương, năm nầy qua năm khác..
Vì thế căn bản của vấn đề là chủ nghĩa cộng sản.  Chính chủ nghĩa nầy là quái thai của con người!  Cộng sản sẵn sàng vứt bỏ mọi giá trị căn bản của con người chỉ với tham vọng không tưởng.  Tham vọng mà Trung Cộng đang ấp ủ là đến năm 2050 họ sẽ trở thành cường quốc số một thế giới!
Người Trung Hoa đang chiếm gần một phần tư dân số thế giới và trái đất ngày nay như nhỏ bé hẳn lại, nhờ tin học.  Do đó bất cứ diễn biến gì trên thế giới cũng đều có liên hệ ràng buộc xã hội.  Vì thế cả tỉ người Trung Cộng đang là nạn nhân trực tiếp “Chết bởi Trung Quốc” của chế độ cộng sản mà chính cá nhân họ đôi khi cũng không hề hay biết.  Thì sự báo động đỏ về nguyên nhân “Chết bởi Trung Quốc” không hẳn chỉ cho người bên ngoài mà cũng chính là cho người Trung Hoa lục địa.  Vì nếu không có ý thức trong sinh hoạt hàng ngày thì cả tỉ người đó cũng là tác nhân gây ô nhiễm thêm cho toàn cầu!
Tập sách như một cánh cửa vừa được mở ra cho thế giới nhìn vào thực trạng ở Trung Cộng mà cũng chính cho người lục địa nhìn ngược ra thế giới bên ngoài!  Vì thế, nếu có nghi ngờ về mục đích của cuốn sách là kỳ thị người Tàu thì một câu hỏi đơn giản phải có, đó là:  Liệu chúng ta có thể chống gần một phần tư nhân loại? 
Dù muốn hay không nhân loại cũng phải sống chung trên trái đất, hít thở chung một bầu khí quyển!  Cho nên đánh thức lương tri của giới cầm quyền là trách nhiệm chung.  Và chế độ chính trị nào gây di hại cho nhân loại, chế độ đó nhất định sẽ bị đào thãi! 
Đã hẳn là không dân tộc nào không có tham vọng!  Nhưng tham vọng đó là phải tôn trọng luật chơi chung của thế giới:  Phải bảo vệ sinh mạng con người!  Chế độ cộng sản Trung Quốc đang bất chấp quy luật đó thì mỗi người chúng ta đều phải cảnh giác và hành động! 
Là người Việt Nam, hơn ai hết, chúng ta càng không thể làm ngơ với tên láng giềng có cả lịch sử bốn ngàn năm xâm lược!
Hồ Phú Bông

Trung Cộng đi lầm nước cờ ADIZ—Ngô Nhân Dụng

Nước Tàu đã đẻ ra những ông Quản Trọng, Khổng Minh; cho nên khi nói họ đi một nước cờ dại dột chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận lắm. Nhưng suy đi nghĩ lại, vẫn phải nói là nước cờ họ mới đi là sai lầm. Mười ngày trước (23 tháng 11, 2013) Bắc Kinh công bố lập một vùng phòng thủ kiểm soát không lưu (Air Defense Identification Zone – ADIZ) ở Ðông Hải. Nếu tính lợi hại thì chẳng thấy lợi đâu cả. Mà thiệt hại thì thấy ngay trước mắt. Về đủ mọi mặt.
Vùng phòng thủ không lưu ADIZ này bao trùm lên mấy hòn đảo nhỏ li ti đang tranh chấp, tên Nhật Bản là Senkaku, Trung Quốc gọi là Ðiếu Ngư. Bắc Kinh đòi tất cả các máy bay qua vùng này phải thông báo cho họ biết, nếu không sẽ có “biện pháp phòng không,” chẳng nói rõ là sẽ làm gì. Chính phủ Nhật Bản đã phản đối mạnh mẽ, vì ngoài Senkaku, vùng ADIZ của Bắc Kinh trùm lên vùng biển mà Nhật đã ấn định là vùng phòng không của họ. Hán Thành cũng phản đối. Mỹ ở xa, chỉ tỏ ý phàn nàn rằng Trung Cộng đơn phương thay đổi thế cân bằng đang có sẵn. Vùng ADIZ này máy bay thương mại qua lại thường xuyên, trong các chuyến bay giữa Trung Quốc, Nhật, Nam Hàn, Ðài Loan, và từ nơi khác tới các nước này. Phản ứng của ba nước cho thấy nếu Trung Cộng muốn ép các nước phải công nhận vùng vùng biển mà họ khoanh ra đòi kiểm soát, thì họ đã hoàn toàn thất bại. Họ không ép được ai cả. Không đạt được lợi lộc nào. Ngược lại, Bắc Kinh đã bị mất mặt.
 
Lúc đầu, hai công ty hàng không thương mại của Nhật đã tuân theo lệnh, các phi công báo cho Bắc Kinh biết đường bay của họ khi bay qua vùng này. Nhưng sau khi chính phủ Nhật Bản lên tiếng phản đối thì các công ty hàng không Nhật đã ngưng, coi như không. Các máy bay thương mại của Nam Hàn cũng bỏ qua, không làm theo lệnh Bắc Kinh. Cơ quan hàng không Mỹ khuyến cáo các hãng máy bay của họ hãy thông báo đường bay khi qua vùng này, để bảo đảm an toàn cho hành khách. Nhưng chính quyền Mỹ thử bằng hành động: Ngày 26 tháng 11, hai pháo đài bay B52 cất cánh từ đảo Guam đã bay thẳng qua không phận quần đảo Senkaku, mà không hề báo tin cho Bắc Kinh biết, như quy luật họ đặt ra. Chính phủ Mỹ cho biết đây là một chuyến bay diễn tập thường xuyên, và hai máy bay không đem theo bom. Nhưng ai cũng thấy đây là một hành động vừa để cảnh cáo vừa trắc nghiệm xem Trung Cộng sẽ đối phó thế nào. Trung Cộng không làm gì hết. Họ cố gỡ thể diện với lời giải thích rằng các máy bay quân sự Mỹ chỉ bay qua sát đường ranh của vùng kiểm soát phòng không họ đã vẽ mà thôi. Giải thích như vậy người Tàu lục địa nghe có thể tin, nhưng người ngoại quốc sẽ cười thầm. Bởi vì chính quyền Mỹ ngay sau đó cũng thông báo là các chuyến bay quân sự sau này đi qua vùng ADIZ đó cũng sẽ không báo trước cho Bắc Kinh biết. Và các chương trình tập trận giữa quân đội Mỹ với quân Nhật sẽ diễn ra trong vùng biển phía Ðông của Trung Quốc như đã dự trù. Cuộc thao diễn này lấy chủ đề là nếu nước Nhật bị tấn công thì quân hai nước sẽ phối hợp ra sao. Quan trọng nhất, cả bộ trưởng quốc phòng và phó tổng thống Mỹ, trong chuyến công du qua Tokyo, đều nhân dịp này nhắc lại rằng Mỹ phải bảo vệ Nhật Bản theo hiệp ước an ninh hỗ tương đã ký kết. Và họ nhấn mạnh hiệp ước này bao gồm cả quần đảo Senkaku.

Nếu Bắc Kinh đặt ra vùng ADIZ này để muốn đe dọa các nước chung quanh và Mỹ, thì họ hoàn toàn thất bại. Không ai tỏ ra sợ. Những pháo đài bay B52 còn có ý thử thách, nếu không nói là khiêu khích, mà Bắc Kinh không dám phản ứng. Bắc Kinh đã mất thể diện. Nhưng hậu quả của vụ này sẽ còn kéo dài chứ không biến đi trong mấy tuần hay mấy tháng.
 
Trước hết là thái độ của dân chúng các nước Nhật Bản và Nam Hàn đối với Trung Cộng sẽ trở nên nhiều nghi ngờ, thêm cứng rắn, và khinh thường sức mạnh của Trung Quốc hơn. Thái độ đó sẽ thể hiện trong các lá phiếu, họ sẽ ủng hộ các nhà chính trị cứng rắn khi đối đầu với Bắc Kinh.
 
Một hậu quả mà Bắc Kinh chắc không tính trước, là hành động của họ đã đẩy Nam Hàn về phía Nhật Bản. Xưa nay hai nước vẫn thù nghịch, vì Nhật đô hộ Hàn Quốc trong thế kỷ 20 với những chính sách tàn bạo. Nhưng với quyết định ADIZ vừa rồi, người dân Nam Hàn sẽ cảm thấy họ cũng chịu chung một mối đe dọa như dân Nhật. Vùng ADIZ này cũng bao gồm cả mấy hòn đảo Socotra Rock mà Trung Quốc đang muốn tranh với Nam Hàn. Nước này đang xây dựng một căn cứ hải quân tại đảo Jeju, ngay bên cạnh vùng ADIZ của Bắc Kinh. Căn cứ hải quân này chứa 20 chiến hạm, tầu ngầm, nhắm mục đích bảo vệ an ninh đường biển cho các tàu xuất cảng. Cả Nam Hàn và Nhật Bản đều đang xuất cảng và đầu tư vào Trung Quốc, nhưng mối lợi về thương mại này cũng không khiến cho dân chúng chấp nhận nhượng bộ một hòn đảo nào cho Bắc Kinh, và càng bị đe dọa thì họ càng phản ứng mạnh hơn.
 
Trong tháng Mười, Nhật Bản mới thành lập một Hội đồng An ninh Quốc gia; giống như Trung Cộng cũng vừa mới làm. Hiến Pháp của Nhật, do Mỹ soạn thảo năm 1947, vẫn cấm không cho lập quân đội, chỉ có “lính tự vệ,” như vậy thì lập ra một Hội đồng An ninh Quốc gia để làm gì? Dân Nhật Bản cho đến nay đa số vẫn muốn giữ bản Hiến Pháp hòa bình này. Nhưng nhiều nhà chính trị đang muốn thay đổi hoàn toàn, nghĩa là tái lập quân đội và tái võ trang. Cứ để yên như bây giờ, lực lượng “tự vệ” của Nhật đã mạnh ngang với Trung Quốc, và mạnh hơn về hải quân và không quân. Nếu nước Nhật tái võ trang, liệu họ có tính làm bom nguyên tử hay không?
 
Gần đây, một máy bay không người lái của Trung Quốc đã bay qua vùng đảo Senkaku không người ở. Người Nhật đe dọa rằng lần sau thấy họ sẽ bắn rớt, và một vị tướng Trung Cộng đã phản ứng, nói rằng làm như vậy coi như là “gây chiến.” Cuộc đối đáp đó cho thấy không khí bang giao đang sôi nóng như thế nào.
 
Việc bảo vệ an ninh cho Nhật hiện nay do Mỹ phụ trách, với quân đội đóng trên quần đảo Okinawa; nằm sát vùng ADIZ của Trung Cộng. Việc tuần phòng trên biển cũng do hải quân Mỹ làm. Nhưng chính phủ Nhật đang dự trù đưa tới Okinawa những máy bay chiến đấu F-15, cùng với các máy bay quân sự do thám bằng radar, cùng một mẫu hạm cho máy bay trực thăng. Họ cũng sẽ xây dựng một căn cứ quân sự mới, năm 2016 sẽ xong, trên một hòn đảo hiện nay bỏ hoang, nằm gần Senkaku. Trong chính sách chuyển hướng quốc phòng về miền biển phía Nam, chính phủ Nhật cũng đang mua những máy bay không người lái (drone) của Mỹ để tuần tiễu thường xuyên trong vùng biển giữa Nhật và Trung Quốc. Giới quân sự Nhật đang cố vận động tâm lý dân chúng để ủng hộ chương trình canh tân quân đội “tự vệ.” Giới tư bản công nghiệp Nhật sẽ hoan nghênh nếu được trao thêm những hợp đồng quốc phòng. Quyết định lập ra vùng ADIZ của Bắc Kinh tặng cho họ một cơ hội bằng vàng. Nhất là nếu người Nhật cảm thấy nghi ngờ về quyết tâm của chính phủ Mỹ trong việc bảo vệ họ.

 

Ngô Nhân Dụng

Thư Mời Tham Dự Phiên Họp Khoáng Đại ngày 15/12/2013

ThuMoi

Mỹ lui bước lúc Bắc Kinh vẫn rụt rè?—Việt Long K23 – RFA

Trước sau “không như một”?

F-15

Chiến đấu cơ F-10 của Nhật Bản – US Airforce photo

Phó Tổng thống Mỹ Josepth Biden công du châu Á lần này để thực hiện đường lối ngoại giao tế nhị của Hoa Kỳ ở Đông Á: một mặt tìm cách hạ nhiệt mối căng thẳng quân sự với Trung Quốc, mặt khác bày tỏ lập trường ủng hộ đồng minh Nhật Bản giữa lúc Tokyo cương quyết đối đầu với Bắc Kinh trong cuộc tranh chấp lãnh hải trên biển Hoa Đông.

Chuyến đi Nhật Bản-Trung Quốc-Hàn quốc của ông Biden đã được Tòa Bạch ốc hoạch định từ lâu, để chứng minh chính sách chuyển trục chiến lược sang châu Á, giữa khi nhiều nước Á châu quan ngại rằng Mỹ đã lơ là với khu vực địa chính trị quan trọng này vì Tổng thống cùng các cố vấn hàng đầu phải chú tâm vào những cuộc tranh chấp chính trị nội bộ, trong khi Ngoại trưởng Kerry để hết thì giờ và tâm trí vào vấn đề Iran ở Trung đông.

Cuộc đối đầu Tokyo-Bắc Kinh đưa đến quyết định của Trung Quốc xác lập vùng xác định phòng không, ngôn ngữ quốc tế gọi là ADIZ, viết tắt nhóm từ Air Defense Idendification Zone. Khu vực ADIZ này bao gồm cả vùng đảo tranh chấp Senkakư/ Điếu Ngư với Nhật Bản và đảo Ieodo tranh chấp với Hàn quốc.

Hoa Kỳ chỉ trích Trung Quốc đã làm tình hình căng thẳng, và tái xác nhận quyền hành chính của Nhật Bản trên vùng đảo tranh chấp. Và đột nhiên hai pháo đài bay B-52 không võ trang từ Guam được điều động bay qua không phận này lúc sáng thứ ba, 3 ngày sau khi Bắc Kinh công bố về ADIZ của họ. Không ngoài dự kiến, Trung Quốc chỉ phản ứng bằng lời lẽ ngoại giao. Nhật Bản liền khuyến cáo các phi cơ dân dụng bay qua đó đừng thông báo theo Trung Quốc yêu cầu, như họ đã làm trước đó một ngày, và các phi cơ của All Nippon Ailines và Japan Airlines cùng với Peach Aviation đã ngưng thông báo.

J-10

Chiến đấu cơ J-10 của Trung cộng – Courtesy of ausairpower.net

Điều đáng lưu ý là trước khi B-52 bay qua ADIZ mới của Trung Quốc, chính Tokyo đã khuyên các hãng bay hãy thi hành quy định của Bắc Kinh về thông báo như vậy trong không phận này.

Sau đó Nhật Bản, Đài Loan và Hàn quốc liền theo chân phi vụ B-52 của Hoa Kỳ, điều động nhiều phi cơ thám sát và chiến đấu cơ bay qua đó trong những ngày kế tiếp. Trung Quốc cũng đưa phi cơ chiến đấu tới, gọi là để quan sát, theo dõi, và dành cơ hội cho báo chí Nhà nước tô vẽ lại thể diện của chính quyền Bắc Kinh. Báo chí và dư luận theo khuynh hướng quốc gia cực đoan của Trung Quốc liền thổi phồng điều họ gọi là “khả năng theo dõi và kiểm soát những hành vi phạm pháp của các phi cơ nước ngoài, để những lực lượng đó không dám hành động quá trớn!”

Nhưng, đang lúc Bắc Kinh còn rụt rè chỉ lên gân nửa chừng, thì lại một lần bất ngờ, vào lúc phó Tổng thống Biden lên đường đi Tokyo, tòa Bạch ốc thông báo rằng chính phủ Mỹ đã đề nghị những công ty hàng không quốc tế của Mỹ hãy tuân thủ quy định của Bắc Kinh về việc thông báo mọi chi tiết về đường bay của những phi cơ Mỹ bay qua không phận ADIZ mới được Trung Quốc thiết lập.

Tokyo hiển nhiên khá thất vọng trước thái độ gọi là “trước sau như hai, ba” của Washington, trong khi mọi đồng minh châu Á đang kỳ vọng vào lập trường “trước sau như một” của quốc gia đứng đầu phương Tây, mặc dù tòa Bạch ốc khẳng định ngay rằng đề nghị như vậy không phải là công nhận vùng ADIZ do Trung Quốc đơn phương áp đặt.

Lý do nào đưa đến quyết định xem ra như một bước lùi của Washington trong khi Bắc Kinh vẫn còn lấp ló chung quanh vùng ADIZ đó?

Lùi một bước, tiến bao nhiêu?

Các chuyên gia về Trung Quốc và châu Á đều đoan chắc là tại Tokyo phó Tổng thống Biden sẽ tái xác định một cách chắc chắn nhất rằng Hoa Kỳ luôn luôn có mặt đúng lúc và đúng nơi trong mọi tình huống an ninh của đồng minh Nhật Bản, thể theo chương 5 của Hiệp ước phòng thủ chung ký kết từ thập niên 1950, đồng thời khẳng định lại sự nhìn nhận quyền kiểm soát hành chính của Tokyo trên vùng tranh chấp, và phản kháng mọi hành động xâm hại đến quyền đó.

JapanAir

Chiến đấu cơ của Nhật Bản

Song song, một số nhân vật trong giới quan sát nhận định rằng Washington đã có hành động tế nhị về ngoại giao và giải quyết xung đột khi khuyến cáo các phi cơ dân dụng tuân thủ quy định của Bắc Kinh về ADIZ. Hành động tế nhị này, theo những chuyên gia ấy, nhằm tạo tiền đề thuận lợi cho phó Tổng thống Joseph Biden để giúp Trung Quốc thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng do họ gây nên.

Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia tại Luân Đôn, Jonathal Eyal, cho rằng ngày thứ tư này Phó Tổng thống Biden sẽ nêu ra với chủ tịch Tập Cận Bình một cách thức để thoát khỏi cuộc khủng hoảng, “Người Mỹ có thể sẽ nói với người Hoa rằng cuộc khua chiêng gõ trống này chẳng phải là điều khôn ngoan lắm, chỉ gây phản tác dụng, và lối thoát chỉ đơn giản là Trung Quốc hãy xuống thang trong việc khẳng định cứng nhắc vùng ADIZ như đã làm, và đừng cưỡng hành một cách cứng rắn quy định riêng của họ như đã đe dọa biện pháp quân sự vào lúc công bố không phận xác định phòng không này.

Nguyên cố vấn của phó Tổng thống Biden, bà Julie Smith, cho rằng ông Biden luôn luôn tự tin vào khả năng xã giao lịch thiệp hòa nhã cùng với tài năng riêng của ông trong những mối quan hệ cá nhân, khi ông diện kiến chủ tịch họ Tập, mà ông từng quen biết từ trước khi ông Cận-Bình bước lên ngôi vị tối cao của đại cường Trung Hoa. Bà Smith nói “Ông Biden biết cách nói chuyện, để cho người đối diện hiểu rằng ông không chỉ vẽ họ phải làm gì, mà chỉ nêu ra những điều tư vấn để bên ấy tham khảo. Vì họ đã có quan hệ cá nhân từ trước, phía ông Tập sẽ lắng nghe nghiêm chỉnh và cân nhắc kỹ lưỡng những đề nghị ấy”.

Vai trò lãnh đạo

Một năm sau khi ông Tập bước lên ngôi vị tối cao ở Hoa lục, Hoa Kỳ tuy còn đối đầu quân sự với Trung Quốc nhưng đã thấy nhiều tiến bộ trong công cuộc hợp tác với Trung Quốc trên sân khấu quốc tế, từ vấn đề thay đổi khi hậu đến vấn đề tham vọng hạt nhân của Bắc Hàn, mới nhất là vấn đề hạt nhân tại Iran.

Giáo sư Jia Qingguo, phó viện trưởng Học viện nghiên cứu quốc tế của đại học Bắc Kinh, cho rằng một giải pháp lập tức cho vấn đề ADIZ có thể không thành hình. Ông nói :”Có thể phía Trung Quốc sẽ hỏi rằng đó là hành động thông thường của trên 20 quốc gia, sao phải ầm ỹ thế? Vì vậy hai bên nên tìm hiểu ý định của nhau, và minh định ý muốn, rồi cùng tìm hiểu xem nên cùng mong đợi điều gì. Tuy vậy vấn đề này có thể vẫn dai dẳng. Dù sao thì ông Biden đến Bắc Kinh lần này cũng là điều hay để vấn đề được thảo luận ở cấp tối cao. Ngoài ra còn những vấn đề khác cũng cần được nói tới”

KoreanAir

Chiến đấu cơ của Hàn quốc – Courtesy of Wikimedia Commons

Nhà nghiên cứu Jonathal Eyal thì cho rằng chuyến công tác của phó Tổng thống Biden đi đến với cả các đồng minh cũng như đối thủ chính yếu trong khu vực là nhằm chứng tỏ rằng Hoa Kỳ là cường quốc duy nhất đủ sức duy trì sự cân bằng của khu vực, và đó là mục đích chính khi người Mỹ xác định chính sách chuyển trục sang châu Á”

Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia tại Luân Đôn, Jonathal Eyal, cho rằng Trung Quốc đã mạnh bạo thiết lập ADIZ là vì quan điểm phổ biến tại châu Á rằng Washington không dám đụng tới biện pháp quân sự sau những tổn thất sinh mạng và phí tổn tài chính khổng lồ ở Iraq, Afghanistan, cùng với mối nghi ngờ của người châu Á về sự lơ là của người Mỹ với khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Vì thế Hoa Kỳ đã đi đầu trong phản ứng mang tính cách quân sự đối với ADIZ, và lại dịu ngọt xuống thang để đóng vai trò cường quốc duy nhất có khả năng hòa giải, lấy lại thăng bằng cho cán cân lực lượng và sự ổn định cho khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Việt Long – RFA

Happy Thanksgiving!

 

 photo Thanksgiving2013_zps0313ad26.jpg

Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên Houston – Texas

Phân Ưu cùng Tang Quyến cố Trung Tướng Phan Trọng Chinh K5

K5PhanTrongChinh

Trốn Trại—Nguyễn Ngọc Thạch K20

alt

     Sau khi ở tù cải tạo được 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa, thì có một số tù được đua lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long. Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này. Đơn vị đầu tiên khi tôi mới ra truờng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long. Và trong suốt thời gian phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở trong vùng rừng xanh đất đỏ này.
     Giữa tháng 5 năm 1980, họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại Tống Lê Chân. Đây là một trại tù ở giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẽm gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín, không nhìn thấy được bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh được trí súng đại liên. Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn càng sớm càng tốt.
     Khi ở trại Suối Máu Biên Hòa tôi có lượm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu ngón tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm được treo trên sợi chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng Bắc, còn đầu kia là hướng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi phải dùng dầu hắc nhựa đường để làm dấu đầu hướng Bắc.
     Trong thời gian ở tù chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu, một nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp. Thu cũng cho biết là có thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình. Bình là một nguời rất tháo vát, lanh lợi và đã từng đỗ đầu khóa học “Rừng Núi Sình Lầy” ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Bình đã làm đuợc một cái kềm để cắt kẽm gai. Kềm này làm bằng hai quai xách của cuộn kẻm gai concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng. Khi một đầu được đập dẹp, mũi mài nhọn và đục lỗ, thì trông giống như lưỡi dao. Nhưng khi hai cái luởi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm trục xỏ xuyên qua hai lỗ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.
     Để chuẩn bị cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải ngụy trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối v.v… Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc nylon thật kín cho khỏi ướt, để bên trong áo trước ngực, mặc đồ trận áo lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để cất giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu hướng Bắc bằng dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là biết để đi cả ban đêm. Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải, đồ đạc mang theo tất cả đều phải được ngụy trang cho tiệp với màu cây lá trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào. Ngoài ra chúng tôi còn sắp đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy tạo như là có ý định sẽ đi xa, tức là sẽ đi về hướng Bắc để qua biên giới Kampuchia.
     Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem tất cả những gì ngon đem ra ăn, ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi. Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn dấu. Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè. Tôi có cho một người bạn cùng khóa là Lương Văn Thìn mấy gói mì, mà bạn tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên tôi không có đá động gì tới chuyện trốn trại.
     Suốt trong ba tuần lể liền, Thu đã phải theo dõi thật kỹ các toán tuần tra canh gác, giờ nào đi tuần, giờ nào đổi gác v.v… Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ xuất phát là 9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra. Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho công an coi truyền hình, đến 9 giờ thì tắt. Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần. Và theo như chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để cắt kẻm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua con đường tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài. Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại. Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở dưới đất được, theo đúng nguyên tắc canh gác ban đêm là phải ở dưới thấp. Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối tuần trăng, để khi chui ra thì trời còn tối, đến nửa đêm trăng lên dễ thấy đường để đi. Chúng tôi chọn đêm 22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là không tốt.
     Đúng 8 giờ ruỡi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm 1980, chúng tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để chuẩn bị cắt dây lạt của lớp hàng rào tre trước, để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện vừa tắt là chui ngay. Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở ngoài suối có ánh đèn của công an đang đi bắt cá ở dưới suối, nên chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thường lệ.
     Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa, vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ. Lần này cũng đúng 8 giờ rưỡi là ra cầu tiêu, vì cầu tiêu là chỗ tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý. Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẳn sàng chui ra. Lớp hàng rào tre này được chôn sâu dưới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy đặc. Vì vậy rất khó gỡ ra, phải đào sâu xuống đất mới vạch ra một lỗ vừa chui và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn tre. Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu chui, thì bất ngờ có hai người đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng trốn. Bình chui ra trước là để cắt kẽm gai rồi đến tôi chui kế, tiếp theo là hai người trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng.
     Sau khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẻm gai thứ nhứt. Nhưng phía dưới lớp hàng rào kẽm gai này là rãnh thoát nước với đất bùn xình hôi thúi, nên chui lòn qua được mà khỏi phải cắt. Đến lớp hàng rào kẽm gai thứ hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẽm gai của VC rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ. Họ bắt phải đào một cái rảnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẻm gai ngay từ phía dưới rào lên, rồi lấp đất lại, nên không có cách nào vén lên để chui lòn qua được, mà chỉ có cách duy nhứt là phải cắt thì mới chui ra đuợc. Mà cái kềm cắt kẽm gai của Bình biến chế nên không cắt dễ dàng nhanh chóng được. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn xình hôi thúi, tôi nhìn lên bầu trời đầy sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến, vì không còn cách nào hơn để lựa chọn được nữa.
     Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua được và còn một lớp sau cùng cũng mất 5 phút nữa. Và cuối cùng chúng tôi chui qua được hết và phải bò thật nhanh, chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hỏa lực, vuợt thật nhanh qua khoảng đất trống, rồi trườn mình xuống suối. Lúc đó tôi có cảm giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực. Tiếng thở dồn dập hổn hển mà tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng nước khi ngâm mình trong nước để lội qua suối.
     Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rễ cây để leo lên vì lòng suối sâu thẳm. Lên khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre, rồi băng qua con đường mòn. Con đường mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới. Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ nhau kéo Thu lên. Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm.

Không bao lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nổ ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần. Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài con đường mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì vậy chúng tôi hết đường chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó. Sau này được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời chui trốn theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuổi theo để bắt chúng tôi.

     Chúng tôi cố nằm yên không động đậy. Một lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong trại, chắc là VC đang ra lệnh tập họp điểm danh. Một hồi lâu sau thấy yên tịnh, không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay là đã đi chỗ khác. Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò đi vì không thể chần chờ ở đây lâu được.

Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật nhẹ nhàng, nếu lỡ có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò được một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi được bao nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì. Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chỗ này, nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, bước đi thật nhẹ nhàng im lặng. Tôi lấy thẳng huớng Nam mà đi, đi ngược với hướng Bắc là hướng qua biên giới. Chúng tôi giữ đúng hướng, không đi theo đường mòn hay chỗ trống, bất kể là băng qua các đám ôrô dưới suối hay bụi lùm gai góc. Và càng lúc nghe tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần.

     Khi đó nghe có tiếng xe molotova, loại xe chở quân của VC, chạy đổ ra tứ phía. Chúng tôi phải đi chậm lại, sửa soạn đồ đạc cho thật gọn gàng, tuyệt đối không được gây tiếng động và phải quan sát cho thật kỹ. Mỗi nguời nhìn một hướng, khi đến chỗ trống hay gặp đường mòn là dừng lại lủi ngay vô bụi rậm gần nhứt rồi từ từ quan sát sau. Có nhiều lúc gặp họ đang đi bằng xe đạp, chạy ngang qua rất gần mà họ không thấy. Mỗi khi muốn băng qua đường mòn hay trảng trống, chúng tôi dừng lại nghe ngóng quan sát rất kỹ rồi mới chạy nhanh qua từng người một. Bỗng đâu có một tốp nguời Thượng, vợ chồng con cái vừa đi vừa nói chuyện lào xào, nên chúng tôi lủi tránh kịp thời.
     Lúc trời sáng hẳn chúng tôi đổi huớng đi về phía Đông tức là hướng ra quốc lộ 13. Đi trong rừng hoang vắng nhưng thỉnh thoảng nghe có tiếng đốn cây chặt củi, chúng tôi phải tránh xa ra. Đi tới chiều thì gặp con đường lộ đá đỏ, đó là đường vô Minh Thạnh. Chúng tôi chuẩn bị kỹ rồi băng qua đường cho thật nhanh và lủi vô sâu trong rừng một khoảng xa rồi dừng lại nghỉ. Chúng tôi lựa chỗ kín đáo để dừng lại nghỉ, bởi vì từ đêm tới giờ gần một ngày tròn đã đem hết sức lực để cố vượt thoát xa vùng nguy hiểm, nên bây giờ thấy thấm mệt, nhứt là vấn đề nước uống rất là khan hiếm. Tôi mang theo lon guigoz đựng nuớc uống nhưng đã bị đổ mất hết vì nắp đậy của lon guigoz không kín chắc, giờ thấy khát rát cổ họng. May sao Bình tìm đuợc một giếng nước bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, nhìn xuống giếng tối om không thấy nước, nhưng khi thòng lon guigoz xuống, múc lên được những lon nuớc thật trong veo, uống thật ngon thật đã, nhờ đó chúng tôi ăn mì gói với nước lạnh. Xong rồi lấy thêm đầy nuớc rồi đi ngay, tiếp tục lấy hướng Đông để ra Quốc lộ 13.
     Trời bắt đầu tối, nhưng khi tiếp tục đi thì nghe có nhiều tiếng súng trong rừng, chắc có lẻ là họ đi săn, mà cũng có thể là bọn công an, vì vậy chúng tôi phải dừng lại để tìm cách lẩn tránh. Chúng tôi ra giữa đám trảng tranh lớn cao quá ngang đầu, vạch đuờng ra ở giữa đám tranh, trải một tấm nylon để nằm nghỉ lưng và canh chừng mọi động tĩnh chung quanh. Nếu có nguời đi tới thì chúng tôi sẽ thấy dễ dàng để tìm đường lẫn tránh, nhưng nguợc lại họ sẽ không thấy chúng tôi được vì tranh cao quá khỏi đầu. Khi đó hỏi chuyện nhau mới biết tên hai nguời đi chui theo, đó là Tường phi công phản lực A37 và một nguời nữa tên là Thạch, hình như là nguời Việt gốc Hoa, tôi không biết đơn vị, cả hai anh đều mang dép nên rất khó đi.
     Sáng sớm hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đuờng sau khi xóa mọi dấu vết. Khi đi thỉnh thoảng gặp các bẫy của người Thuợng rất là nguy hiểm, như bẫy cò ke, nếu vướng chân vào thì cần bật sẽ bung lên rất là mạnh, có thể làm bị thương, hay bẫy bắn tên khi đụng vào cần bật thì bao nhiêu mũi tên tẩm thuốc độc sẽ bắn xuống. Vì vậy khi thấy khả nghi là phải dừng lại xem xét cho thật kỹ rồi tránh xa ra. Chúng tôi rất khát nước vì đi cả ngày mồ hôi ra nhiều mà không có miếng nước uống nên khát dữ lắm. Gặp một cây nói là trái gấm, Bình leo lên hái xuống ăn thử, vừa ngứa miệng, vừa khát nước thêm. Có lần gặp được nước đọng trong các lằn bánh xe bò và trên những lá cây khô còn đọng nước của những trận mưa truớc, chúng tôi góp nhặt lại hớp những giọt nước đó cho đỡ khát.

Đến chiều thì trong lúc đang đi bất chợt gặp một em bé trai độ 11, 12 tuổi đang lang thang trong rừng. Chúng tôi giả dạng như là cán bộ đi khảo sát địa chất và hỏi em bé ở đâu có suối, thì em bé đó chỉ về hướng trước mặt, đi thêm vài chục thước là thấy suối, một con suối rất lớn. Nhìn ở phía xa kia là một khu rừng đã được phát quang và có các cây to bị đốt cháy nám đen, một đám người đang cuốc đất làm rẫy, chắc là dân vùng kinh tế mới. Chúng tôi lội xuống suối uống một bụng nước thật no nê. Sau đó chúng tôi tìm chỗ bụi lùm kín đáo để nấu cơm, nấu bằng lon guigoz, hai đứa thay phiên nhau quạt để khói đừng bốc lên cao. Chúng tôi ăn bữa cơm này thật là ngon, ăn cơm nóng với bột ngọt trong gói mì.

     Sau khi ăn xong, trời đã xế chiều, chúng tôi thấy đoàn nguời làm rẫy đi về nhà đi theo hướng Đông, như vậy là ra Quốc lộ 13, nên chúng tôi đợi cho họ đi hết rồi mới men theo con đuờng mòn đó để đi cho nhanh. Đi độ chừng một tiếng đồng hồ thì ra tới ấp, tôi đoán chừng là vùng Tân Khai hay Tàu Ô, nằm cạnh Quốc lộ 13. Thấp thoáng nhìn từ xa thì thấy có lớp hàng rào tre bao bọc, và hình như có cổng ra vào, giống như một trại tập trung, nên chúng tôi không dám đến gần và cũng không muốn vô đó làm gì.
     Sau khi trời xụp tối thì chúng tôi tiếp tục đi, chúng tôi dự định đi trong bìa rừng theo đường rầy xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh nằm song song với Quốc lộ 13 để đi, dự định sẽ đi qua khỏi quận Chơn Thành, rồi mới ra đường đón xe. Riêng hai nguời trốn theo là Tuờng và Thạch thì không dám đi nữa, mà họ có cho địa chỉ nếu ai về được đến Sài Gòn thì nhắn dùm gia đình họ lên đón. Chúng tôi ba đứa đi lần mò trong đêm và vì trời tối quá nên không đi đuợc bao xa, mà đành phải dừng lại nghỉ qua đêm.

Sáng sớm hôm sau lên đường đi tiếp, đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ bên cạnh một cái ao nhỏ xung quanh có cây cối um tùm, dễ ẩn náu để nấu cơm ăn. Xong rồi lại đi tiếp, đến chiều chạng vạng tối thì đến một cái ấp khác, một xóm nhà lô nhô ngoài gần quốc lộ, chúng tôi ở bìa rừng trốn trong hầm hố cũ đuợc che phủ bởi những lùm tre rất kín đáo. Buổi chiều dân trong làng đi lao động về, họ đi ngang qua khá gần chỗ chúng tôi đang trốn, tiếng chó sủa dữ dội nhưng họ không để ý mà chỉ lo đi cho mau về nhà.

     Chiều hôm đó nằm nghe tiếng chó sủa, tiếng trẻ con đùa giỡn trên đường, nhìn khói lam chiều từ một mái nhà tranh quyện bay lên không trung mà lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn. Chạnh lòng nhớ đến vợ con, thầm nghĩ đến một mái ấm gia đình bên vợ hiền con thơ mà tôi uớc mơ đuợc như họ. Được sống đầm ấm trong một căn nhà tranh vách đất ở một miền thôn quê rừng núi nào đó. Nhưng nghĩ lại thân phận tôi là một người tù trốn trại, tương lai rất mờ mịt, không biết ngày mai sẽ ra sao. Một ước muốn tầm thuờng, được làm một nguời dân bình thường để sống mà lo cho gia đinh nuôi vợ nuôi con cũng không được. Tôi buồn cho thân phận bơ vơ lạc lõng của tôi trong cái xã hội mới này. Hoàn cảnh của tôi thật đúng với câu “nước mất nhà tan, gia đình ly tán”. 
     Đêm đó chúng tôi khát nước vô cùng, cồn cào lên cổ họng. Bình với ý định lẻn vô nhà dân để xin nước uống, nhưng tôi với Thu cản lại, vì bao công trình giờ rủi ro vô gặp phải nhà của công an thì nguy khốn, đành chịu nhịn khát qua đêm. Nhưng không ngờ đến khoảng nửa đêm thì trời đổ xuống một trận mưa thật lớn. Chúng tôi mừng quá lấy tấm nylon ra căng để hứng nuớc uống. Uống no bụng xong rồi, đổ đầy vô lon guigoz mà trời vẫn tiếp tục mưa càng lúc càng lớn. Chúng tôi bị lạnh quá phải ôm lấy nhau trên đầu phủ tấm nylon và mỗi đứa phải lo ôm thật chặt bộ quần áo tốt ở trong bọc nylon, ôm kỹ ở trước ngực để gưữ cho khô. Trận mưa này thật lớn thật lâu sau cùng rồi cũng dứt hẳn. Vì không thể đi tiếp trong rừng cho đến quận Chơn Thành, vì đường còn xa mà đường rầy xe lửa thì không còn nguyên như truớc nữa, mà chỉ còn là những đám rừng tre che phủ um tùm rất là khó đi, chỉ có thể chui lòn dưới đám tre gai, cho nên chúng tôi quyết định là sẽ chia tay nhau ở đây, phân tán ra mỗi nguời tự tìm cách để đi về Sài Gòn rồi sẽ gặp lại nhau sau.

Trời hừng sáng chúng tôi thay bộ đồ thật tốt thật tươm tất, đồ đạc còn lại đem chôn dấu trong bụi, xong chờ cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là lần lượt ra đường, lựa khoảng trống giữa hai nhà mà ra đón xe. Bình lên đường trước tiên, một lúc sau thì đến Thu, và tôi là người ra đường sau cùng. Khi bước ra quốc lộ 13 tôi lấy bình tĩnh đi men theo bên đường chờ đón xe. Tôi không thấy Bình đâu hết mà chỉ thấy Thu đang đi phía truớc tôi một khoảng xa. Có chiếc xe Lam (xe ba bánh chở hành khách hiệu Lambretta) chạy trờ tới tôi liền đón để đi, vì xe đã đầy nguời nên tôi phải đeo theo xe đứng ở phía sau. Thu cũng lên được chiếc xe đi trước tôi. Xe chạy qua cầu Tàu Ô và như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ ở giửa khoảng Tàu Ô – Tân Khai. Trước kia, đây là đoạn đường nguy hiểm nhứt của quốc lộ máu mang số 13 và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận chiến vô cùng ác liệt, mà dấu vết các hầm hố còn lại rất nhiều, dọc theo bìa rừng trông ra quốc lộ.

     Khi xe vô quận lỵ Chơn Thành tôi xuống xe ở đầu ấp Chơn Thành 2 để đi bộ vô, vì sợ vô tới bến xe sẽ gặp công an. Đi bộ dọc theo con đuờng vào quận lỵ, tôi nhớ lại các nơi mà ngày xưa quen biết như Trại cưa Lê Quang, Trại cưa Mai Chấn Hung, Lò than ông Năm Thãnh, sau này ông Năm Thãnh cũng lập thêm trại cưa. Đi gần đến chợ là đến bến xe và tại ngã tư đường đi Đồng Xoài có một đồn cảnh sát hồi xưa, bây giờ là đồn công an Việt Cộng. Tôi dự định đi bộ ra khỏi quận lỵ rồi mới đón xe để đi Bình Dương. Tôi đi ngang qua dãy phố chợ mà ngày xưa có các tiệm ăn như Nghĩa Thành, Bạch Tuyết, nổi tiếng với món canh chua cá lóc, cá kho tộ. Đi ngang qua ngôi chùa, qua cây cầu là gần đến đầu quận lỵ. Tôi nhìn thấy Thu đang đi phía truớc bỗng dưng đổi huớng qua trái tấp vô một quán nước. Tôi nhìn kỹ về phía truớc phía bên phải thì thấy có một trạm kiểm soát nên tôi cũng đổi hướng qua trái tấp vô một quán nuớc. Tôi nhớ mài mại hình như đây là quán của bà Năm Chích, có cô con gái ra tiếp. Tôi kêu một ly cà phê, ngồi uống để quan sát coi trạm kiểm soát đó nó hoạt động như thế nào. Tôi thấy rõ hai thằng công an coi tù ở trong trại ra đây chận xét xe để nhìn mặt bắt chúng tôi, hai tên này đứng bên cạnh trạm kiểm soát tài nguyên. Mỗi khi xe đến đó, tài xế vô trình giấy tờ cho trạm kiểm soát tài nguyên ở bên trong, thì hai tên công an đứng bên ngoài đi ra lục soát xe.
     Tôi đoán chắc là nó sẽ bố trí chận xét ở đây để bắt tù trốn trại, vì đây là quân lỵ gần nhất, mà muốn ra khỏi quận thì phải đi ngang qua trạm kiểm soát này. Nếu đi bằng xe đạp, xe thồ, mặc đồ như nguời đi làm cây làm củi trong rừng thì mới lọt qua đuợc. Còn nếu bây giờ băng vô trong rừng để đi bọc qua thì cũng sợ gặp phải người lạ mặt họ dễ nghi ngờ, vì mình mặc đồ sạch sẽ tươm tất quá. Tôi còn đang phân vân không biết phải làm cách nào để qua khỏi trạm kiểm soát này, thì thấy Thu đi ngược trở lại, ngang qua chổ tôi. Thu trở lại bến xe để đón xe đi, còn Bình thì không còn thấy tâm dạng đâu hết, chắc là đã đi thoát rồi.
     Tôi ngồi chờ một hồi thì thấy chiếc xe lô chạy trờ tới, tôi nhìn thấy Thu ngồi ở băng sau cùng. Xe tới trạm kiểm soát thì ngừng lại, trong khi người tài xế vô trình giấy tờ thì một tên công an đi ra nhìn vào xe, một lúc sau thì tài xế trở ra và nó cho xe chạy đi. Tôi mừng cho Thu đã thoát nạn, giờ đây chỉ còn lại một mình tôi, tôi không còn biết cách nào khác hơn là trở lại bến xe để đón xe đi. Đây là chổ nguy hiểm nhứt mà tôi cố tránh nhưng không đuợc nên đành phải liều mạng.
     Khi vô bến xe thì thấy có một chiếc xe lô, loại xe nhỏ để chở khách, tôi thấy xe trống trơn chưa có ai, tôi lên ngồi băng sau cùng. Ngồi một lúc lâu thấy nóng ruột nên mới hỏi bác tài là xe chừng nào chạy, ông ta nói chờ khách lên đầy thì đi, mà thường là khách ở trong Minh Thạnh ra nhiều. Tôi hơi lo vì khách ở trong Minh Thạnh ra có thể là công an trong trại ra đi phép. Ngồi một hồi lâu thì chợt có một tốp người đi buôn than họ lên gần đầy. Bỗng tôi thấy có hai đứa nhỏ độ hơn mười tuổi tay cầm một con gà, tay xách một giỏ đồ, tôi liền nhanh miệng kêu hai em bé đó vô ngồi gần bên tôi và tôi phụ xách dùm đồ, làm như vậy thấy đỡ trống trải vì có hai em nhỏ che đỡ phần nào.

Khi xe chạy tới trạm kiểm soát thì dừng lại, bác tài vào trình giấy tờ trong trại kiểm soát tài nguyên. Tôi thấy một thằng công an, đứng bên cạnh trạm kiểm soát, bước ra để nhìn mặt nguời trên xe. Nó nhìn vào băng trước, trên đó có hai người ngồi, tôi nghe tiếng quát tháo của tên công an là hai nguời ngồi đằng truớc là “tại sao đầu tóc để dài bù sù nhu cao bồi du đãng, đâu đưa giấy tờ coi”. Sau khi coi xong giấy tờ hai người phía truớc là nó liệng vô xe rồi ra lệnh cho đi một cách thật oai quyền. Cũng vừa lúc bác tài đã trở ra xe, bác tài liền rồ ga cho xe chạy đi, mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa thoát được một trạm kiểm soát thật là vô cùng nguy hiểm.

     Xe chạy qua khỏi Tham Rớt, Bầu Bàn, Bầu Lòng rồi đến quận Bến Cát, ở đây cũng có trạm kiểm soát nhưng là trạm kiểm soát tài nguyên nên không có gì trở ngại. Xe chạy về tới Chánh Hiệp Bình Dương, một trạm kiểm soát rất lớn, nơi cửa ngỏ vô thành phố nên xe đậu nối đuôi nhau rất dài. Chiếc xe tôi đi là xe nhỏ chở than lậu nên tài xế đã biết cách vô trình giấy tờ và nộp tiền mãi lộ là xong ngay. Xe đi tiếp vô thành phố vào đậu ở bến xe, tôi xuống xe cũng vẫn còn nắm tay hai em bé vô mua giấy xe để về Sài Gòn, vì hai em bé đó cũng về Sài Gòn. Tôi thấy người ta sắp thành hàng dài để chờ mua vé xe, tôi cũng sắp vô hàng chờ đợi. Nhưng khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy mỗi người khi mua vé xe đều phải trình ra một thứ giấy tờ gì đó, hình như là giấy phép đi đường hay là giấy căn cước, mà trong mình tôi thì không có thứ giấy tờ nào nên tôi hơi sợ, nên mới nói với hai em nhỏ là cứ sắp hàng để mua vé về Sài Gòn truớc đi còn tôi thì sẽ đi sau. Tôi bỏ ra ngoài tìm đường khác để đi, chớ khi mua vé họ hỏi đến giấy tờ là mình không biết trả lời ra sao, vì trong mình tôi không có thứ giấy tờ nào hết. Tôi vào quán nước kêu ly nước đá chanh vừa uống vừa quan sát để tính kế. Bỗng chợt thấy xe Honda ôm, tôi liền nghĩ ra phương cách hay nhứt để đi về Sài Gòn là bằng xe ôm. Tôi dự định là sẽ về nhà của chị Đồ ở Phú Thọ. Trong những lần đi thăm nuôi, vợ tôi thường đi chung với chị Đồ nên hai gia đinh rất thân nhau và trước khi trốn trại tôi có dọ hỏi anh Đồ địa chỉ nhà cho thật kỷ, thật đầy đủ chi tiết đuờng đi nước bước, làm sao vô nhà, đi vô ngõ hẻm nào v.v…. Tôi chỉ hỏi chơi chơi chứ không cho anh biết ý định trốn trại của tôi.
     Anh lái xe ôm ra giá đi Sài Gòn là 50 đồng, tôi không có đủ tiền nhưng tôi nói với anh là đưa tôi về đến nhà tôi lấy tiền rồi trả sau. Sau khi bằng lòng giá cả anh ta mới đi đổ xăng và trở lại đón tôi. Trên đường đi tôi cũng nói thêm với anh là tôi vừa ở vùng kinh tế mới về, bị mất hết giấy tờ nên nhờ anh chạy làm sao để tránh các trạm kiểm soát. Anh ta nói là tụi công an nó chỉ xét coi có buôn đồ lậu, chứ như ông đi mình không, thì không có gì để xét thì đừng có lo. Tôi nghe mừng trong bụng và trong lúc đi đuờng tôi có hỏi chuyện thì anh có cho biết hồi truớc anh là lính của Sư đoàn 5 Bộ Binh. Nghe biết vậy thôi chứ tôi cũng không có hỏi thêm gì về chuyện ngày trước. Xe chạy qua các trạm kiểm soát Búng, Lái Thiêu rồi Bình Triệu. Thấy xe kẹt đậu dài dài để chờ xét, còn xe Honda ôm này chạy qua hết mà không bị hỏi han gì và sau cùng vô Sài Gòn qua ngả cầu cư xá Thanh Đa rồi qua cầu Phan Thanh Giản và chạy trên đường Phan Thanh Giản để về Phú Thọ.
     Nhìn quang cảnh thành phố Sài Gòn sau 5 năm trở lại, tôi cảm thấy như bơ vơ lạc lõng, như lạc vào một thế giới nào xa lạ lắm. Đây không phải là thủ đô Sài Gòn năm xưa, một thời đã từng đuợc mệnh danh là một  “Hòn Ngọc Viễn Đông”.  Nay tôi thấy trên đường toàn là xe đạp, mà người người trông lam lũ tả tơi, không cười không nói, với dáng vẻ buồn thiu ảm đạm, thật đúng với câu “nguời buồn mà cảnh có vui đâu bao giờ”.

Khi đến Phú Thọ, xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ, một số con nít chạy theo. Khi xe vô đúng số nhà mà tôi đã học thuộc lòng, tôi gỏ cửa và chị Đồ ra mở cửa. Khi thấy tôi chị buột miệng la lên: “Ủa anh Thạch mới đuợc thả về, còn ông Đồ của tôi đâu”. Tôi lật đật nói nhanh là tôi mới đuợc thả về và xin mượn chị 50 đồng để trả tiền xe. Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe. Khi xe đi rồi và đám con nít đã tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là tôi trốn trại và nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay. Chị hốt hoảng cho biết là mới vừa tuần truớc đây thằng em trai của chị vừa mới vượt biên đã đi thoát được. Nhà chị đang bị công an phường khóm điều tra theo dõi, cho nên chị không dám chứa tôi trong nhà, mà bảo tôi ra ngoài đường đón xe autobus để ra bến xe Xa Cảng miền Tây, ở Phú Lâm, rồi sẽ tính sau. Trước khi đi tôi còn hỏi mượn chị đôi giày, vì đôi giày tôi đang đi là loại giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không tiện. Chị cho tôi mượn đôi giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị nói là chị sẽ đem lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới.

     Tôi ra khỏi hẻm ra ngoài đuờng thì thấy có một quán hủ tiếu, tôi liền tấp vô ăn một tô hủ tiếu, uống một ly cà phê sữa, rồi mới ra đón xe autobus để đi ra Xa Cảng miền Tây. Khi ra đến bến xe Xa Cảng miền Tây, tôi thấy cả một rừng nguời hỗn độn la liệt khắp nơi. Họ trải chiếu, trải tấm nylon hay kê tấm ván tùm lum tứ tung không theo một lề lối nào cả. Hỏi ra mới biết đây là những nguời bỏ vùng kinh tế mới trở về, nhà cửa bị tịch thu không nơi nương tựa đành phải sống lang thang đầu đường xó chợ bến xe. Sau khi thấy cảnh hổn độn này tôi nghĩ thầm là mình có thể trà trộn để ngủ tạm qua đêm ở đây.
     Trong khi đó thì chị Đồ đạp xe đạp từ Phú Thọ vô Gia Định để báo tin cho vợ tôi biết. Sau này gia đình kể lại là khi chị Đồ vào nhà, chị rất lo sợ có người theo dõi, nên chị kéo vợ tôi ra phía sau nhà, không cho mấy đứa con tôi lại gần, rồi chị mới nói cho vợ tôi hay là tôi đã trốn trại. Tôi đang ngồi uống nước đá chanh ở xe nước đá và định chỗ ngủ qua đêm, thì bỗng thấy chị Đồ đạp xe đạp ra tới. Chị đưa cho tôi 50 đồng và một giấy cử tri của vợ tôi gởi và căn dặn tôi sáng mai ra mua vé xe đò để về Mỷ Tho.

Sáng sớm hôm sau trước khi ra bến xe tôi đi tìm nhà của Thạch, là một trong hai người trốn chui theo. Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng và có dặn là nếu ai có thoát về được Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ biết tin, để tìm cách lên đón. Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở gần Phú Lâm nên tôi sẵn dịp ghé qua báo tin. Lúc đó trời còn lờ mờ chưa sáng hẳn, đường vắng vẻ. Khi đi ngang qua trạm xe chữa lửa có vài tên công an đang đứng nói chuyện ở phía truớc, tôi cố giử bình tỉnh khi đi ngang qua. Sau cùng tôi tìm được nhà của Thạch, tôi gõ cửa một hồi thì có người ra mở cửa nhưng với dáng vẻ bực bội vì tôi đánh thức họ quá sớm. Tôi hỏi có phải là nhà của Thạch không, thì họ không trả lời mà đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ một lúc, vì tiếc là không báo tin cho gia đinh Thạch được. Tôi cũng không biết là có đúng nhà không, hay là họ sợ không dám tiếp tôi. Cho đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì về hai nguời trốn chui theo, có thoát được không và bây giờ ra sao.

     Tôi trở ra bến xe ngồi xếp hàng chờ để mua vé xe về Mỷ Tho, trong túi có 50 đồng và thẻ cử tri nên thấy hơi yên tâm. Một hàng rất dài ngồi chờ mua vé xe rồi từ từ nhích lần lên. Tôi ngồi chòm hỏm hai tay bó gối gục đầu rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng đâu có nguời vỗ vai kêu tên tôi, tôi giật mình nhìn lên thì thấy chị Đồ, chị bảo tôi vô quán nước ở bên kia đuờng để gặp bà xã tôi. Vừa mừng vừa lo, chỉ sợ công an theo dõi vợ tôi để đón bắt tôi nên tôi hơi luỡng lự. Chị Đồ vô đứng thế chổ tôi để mua vé xe.

Tôi vô quán để gặp bà xã tôi, vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu, bánh bao, xiếu mại v.v…. Bà xã tôi kêu tôi ăn đi ăn đi. Tôi hỏi coi có ai biết hay theo dõi gì không, thì thấy không có dấu hiệu gì. Ba đứa con tôi đang ở nhà chưa hay biết gì về chuyện này. Sau này kể lại mới biết là chúng nó đói khổ lắm, đâu có được ăn hủ tiếu bánh bao như thế này. Từ ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp, có bao giờ dám ăn các món cao lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ tôi cùng ăn, bà xã tôi cứ kêu tôi ăn đi ăn đi. Phần thì lo sợ công an nó theo dõi, phần thì không biết là về Mỹ Tho rồi sẽ làm gì, nên tôi cố nhét cho đầy bụng rồi đi liền. Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỹ Tho, mà nên ở nhà lo cho mấy đứa con còn nhỏ dại, đừng để bị nguy hiểm cho cả hai, rồi không ai lo cho các con.

     Tôi trở ra chỗ mua vé xe thì chị Đồ đã mua vé xong xuôi và chị còn cẩn thận mua cho tôi tờ báo Nhân dân, chị bảo lên xe đọc báo này người ta tưởng là cán bộ. Tôi lên xe ngồi gần băng phía sau. Xe chạy qua hết các trạm kiểm soát một cách dễ dàng vì ở mỗi trạm bác tài đều biết thủ tục đầu tiên, là tiền đâu. Qua Bình Chánh, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương rồi vô thành phố Mỹ Tho.
     Xe vô đến bến, tôi xuống xe và vô tìm đứa em gái tôi. Vợ tôi có cho biết là em gái tôi bây giờ làm ở tổ hợp may mặc phường 4 ở bến xe này. Mới vừa vô gặp mặt em tôi, nó mừng rỡ rồi la lớn “Ủa anh Tư mới đuợc thả về”. Tôi hơi bối rối vì sát bên cạnh tiệm may là đồn công an phường 4, có một số công an đang đứng gần đó sợ nó nghe được. Tôi giả bộ như thiệt nói một hơi là anh mới đuợc thả về bây giờ em có rảnh ra quán uống nuớc. Em tôi lật đật xin phép bà hội truởng hợp tác xã rồi đi liền. Ra tới quán nuớc tôi mới nói thiệt với em tôi là tôi trốn trại. Em tôi giật mình mặt tái xanh vì quá bất ngờ. Tôi dặn dò em tôi về nhà cho má hay và coi chung quanh có ai không rồi cho anh biết để anh về nhà. Em tôi đạp xe đạp chạy về báo tin xong trở lại làm việc, còn tôi một mình đi bộ về nhà. Má tôi đã biết truớc nên đã mở cửa sẳn chờ. Khi vô nhà tôi đi thật nhanh và đi thẳng ra phía sau nhà vì sợ lối xóm nhìn thấy.
     Sau đó em tôi đi làm về có mua cho tôi một dĩa cơm suờn và hôm sau là cơm tấm bì chả và mua hủ tiếu bánh bao v.v…. toàn là các món ăn ngon đắt tiền mà tôi cũng quên hỏi là em tôi đi may lương tháng bao nhiêu. Má tôi thì già yếu không có làm gì ra tiền. Hồi truớc Má tôi đi may đồ quần áo ở trong nhà thương Mỷ Tho, nhưng đã nghỉ lâu rồi. Sau này mới biết là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo, đôi khi còn phải bán máu để đổi lấy mấy bát cơm, thì nói gì đến thức ăn sang trọng. Thì ra em tôi chạy qua Chợ Củ để xin Cô tôi. Cô Ba tôi có mở tiệm ăn, Cô rất thương tôi, vì vậy khi hay tin tôi về, cô tôi liền gởi cơm và đồ ăn rất ngon qua cho tôi.
     Ở đây đuợc mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi làm cho tôi càng thêm lo sợ, vì sợ công an theo dõi. Tôi mới tính tìm đuờng vuợt biên chớ ở đây lâu thế nào cũng bị bại lộ. Mà tìm đuờng dây để vượt biên không phải là chuyện dễ dàng.  Phần thì không có tiền, phần thì không dám đi lại nên cũng không biết cách nào để vuợt biên, mà tội vuợt biên lúc đó bị coi như là tội phản quốc, chạy theo đế quốc, bọn công an biên phòng bắt đuợc là chỉ có chết. Hồi đó đã có xảy ra những cảnh vuợt biên bị đổ bể, bị công an tàn sát như ở cầu Chữ Y Sài Gòn, như ở bãi biển Vũng Tàu, nhu ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa biển Gò Công v.v…. Họ tàn sát không nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ thơ, hay những lời van xin lạy lục, của những nguời khốn khổ cùng đuờng. Tôi dự định nếu không tìm được đuờng đi bằng ghe tàu, thì như đã hẹn với Thu và Bình, là sau một tháng chúng tôi sẽ gặp lại nhau, để bàn tính để đi bằng đuờng bộ.

Vợ tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của tôi. Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai, vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn. Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ, thì có một người anh bà con cô cậu, đi cùng với một nguời bạn, xuống thăm để từ giã Má tôi, để sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia, và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên, và anh muốn xin địa chỉ của em tôi, hiện đang sống ở Mỹ, để anh liên lạc khi cần. Thật là một điều quá may mắn cho tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn.

     Thế là phải trở về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đuờng đi Kampuchia. Tôi từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà Nội. Tôi và vợ tôi đi theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn. Tôi ra đi mà lòng buồn vô hạn, rồi không biết sẽ đi tới đâu trên buớc đuờng bôn ba vô định này. Ở lại Mỷ Tho thì không được, mà đi qua Kampuchia thì cũng không biết ra sao, thật là đau lòng truớc cảnh chia tay, rồi đây không biết có còn được gặp lại nhau. Trong đêm đó hai bà cháu đã tụng niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được bình an. Trời đã tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài Gòn. Chúng tôi đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương, hy vọng ở đó sẽ có nhiều xe miền Tây lên, dể đón hơn. Ông xe lôi, đạp không muốn nổi, vì trên xe có tới 4 nguời, nên chúng tôi phải thay phiên nhau nhảy xuống để đẩy phụ, nhứt là khi lên dốc cầu Trung An, thì phải nhảy xuống hết rồi qua cầu mới nhảy lên lại.
     Vô tới ngã ba Trung Lương là trời đã tối, nên không còn thấy xe miền Tây nào hết, mà chỉ thấy có một chiếc xe hàng bị hư máy và nguời tài xế đang sửa chửa. Chúng tôi mon men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi xin quá giang về Sài Gòn, nhưng ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ điều gì nên lắc đầu trả lời một cách sẳn giọng là xe đang hư mà làm sao cho quá giang đuợc, vì vậy chúng tôi lại lủi thủi đi tiếp. Ở đây có một trạm công an khá lớn để xét xe từ miền Tây lên, nên có nhiều công an ở đồn bót này, nên trong đêm tối mà đi lang thang ở đây cũng nguy hiểm lắm. Tình cờ có một chiếc xe lô chạy từ Mỷ Tho lên huớng về Sài Gòn, chúng tôi mừng quá đón ngoắc lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một khoảng, rồi bỗng đâu xe dừng lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang. Bác tài chỉ cho đi quá giang một quãng đuờng lên đến Tân Hương để đón xe khác mà đi, vì xe này đi về nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn.
     Trong khi xe đang chạy và qua tài giao thiệp của anh Long, cũng là lơ xe, nên anh biết nhiều nguời trong nghề xe đo nên câu chuyện dần dần trở nên thân mật và bác tài dần dần có cảm tình với chúng tôi. Và sẳn đó anh Long đề nghị bao xe đi Phú Lâm rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách cho chuyến trở về. Vợ tôi móc trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị bao xe 200 đồng và nhờ anh Long nói thêm vô, nên sau cùng bác tài chịu đi Phú Lâm với giá 200 đồng. Thật là hết sức may mắn, chớ nếu tới Tân Hương chưa chắc gì có xe để đi, mà nếu không lên kịp Sài Gòn trong đêm nay thì ngày mai xe sẽ đi sớm rồi, sẽ mất đi một dịp may hiếm có ngàn vàng.
     Khi xe chạy qua khỏi trạm công an Tân Huong một quảng, thì gặp một tốp công an ra chận đuờng. Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác, chỉ có gia đinh tôi, nên rất khó xoay sở trà trộn. Tôi có ý dò hỏi bác tài coi tính sao, nhung bác tài cho biết là xe không có ngừng đâu vì tụi này là tụi chuyên chận xe dọc đuờng để ăn cuớp, bác tài rất rành về bọn này. Tôi nghe thế cũng thấy mừng thêm, vì thà là chạy luôn nó có bắn theo cũng khó trúng. Bác tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần bọn chúng thì tống hết ga vuợt nhanh qua, nên chúng trở tay không kịp, nên xe chạy vuợt qua một cách êm xuôi. Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế tiếp sợ tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn. Tôi hỏi ý bác tài thì bác tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo đừng có lo, nên tôi càng yên tâm tin tuởng bác tài muôn phần. Xe qua khỏi Tân An, Bến Lức, Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi.
     Sau khi trả tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối rồi mà còn phải chạy lo kiếm mượn tiền để đi. Chúng tôi về nhà của Nghĩa cũng ở gần đó, vợ chồng tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ. Vô tới nhà chị Đồ là đúng nửa đêm, giờ giới nghiêm. Chị Đồ không có sẳn vàng chị rút chiếc nhẩn đang đeo trên tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở. Tôi đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của Nghĩa trong lúc đã quá giờ nghiêm nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại thì trể chuyến xe sáng sớm mai đi. Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi, vợ tôi phải xuống xe đẩy phụ qua cầu, nguời của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh xao.
     Về tới nhà Nghĩa, là chúng tôi phải đi ngay đến chổ đậu xe, để kịp chui vô trong xe sắp xếp truớc khi trời sáng. Đây là chiếc xe hàng dân sự bị VC trưng dụng để chở chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên Kampuchia. Long là lơ xe của chiếc xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô trong đống chiếu mà tài xế không hay biết gì. Sau khi sắp lại đống chiếu, vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô, xong rồi Long mới gát hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên như cũ rất là kín đáo. Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với một gói muối.
     Ngoài hai chỉ vàng của chị Đồ cho muợn, vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cuới đang đeo ở tay đưa cho tôi, như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới. Lúc đó cũng khoảng 3,4 giờ sáng, vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn ngồi đâu đó để chờ sáng ra xe chạy. Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi biết là vợ tôi và má của Nghĩa khóc nhiều lắm, vì không biết chúng tôi đi làm sao, vì không ai có tiền hay có vàng đem theo, không biết rồi sẽ đi đến đâu. Riêng tôi thì tôi quyết ra đi mặc dầu không biết ra sao, nhưng vẫn còn tốt hơn là ở lại Việt Nam.

Sáng sớm hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang, nhìn qua khe ván ở sàn xe trời còn lờ mờ nghe tiếng nguời nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền. Khi đến trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì đây là chuyến xe công tác chở đồ cho bộ đội VC. Xe chạy càng nhanh đống chiếu trên đầu càng đe nặng, vì cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên vị trí củ, mà vì sự lúc lắc của chiếc xe đa làm lệch đi và hai đứa tôi phải đưa lưng chống đở sức nặng bên trên đè xuống. Tệ hại hơn nữa là dọc đuờng VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu chúng tôi. Nghe tiếng họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay trên đầu mình. Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng, vì chỉ sợ nó sụp xuống thì bị lộ ngay, rất là nguy hiểm. Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy nhanh rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên ngoài không thấy không biết.

     Đến chiều thì xe tới nơi đậu vào một chổ nào đó mà tôi nghe có tiếng nhạc của những bản nhạc ngày xua. Tôi mừng thầm vì được nghe lại những tiếng hát quen thuộc đầm ấm nồng nàn tràn đầy kỷ niệm của ngày truớc. Tiếng nhạc hòa lẫn tiếng nguời nói chuyện lao xao gần bên cạnh xe. Chúng tôi vẫn nằm im trong xe chờ khi nào có hiệu lệnh của Long thì mới ra đuợc. Một hồi lâu sau khi bên ngoài hoàn toàn im vắng và khi nghe ba tiếng hiệu lệnh của Long thì chúng tôi chui ra. Khi nhảy xuống xe, tôi không thể đứng được vì bị ngồi lâu trong thế co ro nên chân bị tê cứng, mà Long thì thúc hối phải đi khỏi nơi đây ngay vì sợ tài xế và an ninh đoàn xe họ biết, nên tôi và Nghĩa phải cố lết đi ra khỏi xe thật xa.
     Nhìn chung quanh, đây là một bồn binh khá lớn ở cuối đại lộ, bên cạnh một sân vận động, xe đậu một đoàn dài chừng vài chục chiếc, tài xế và lơ xe khá đông, có nhiều xe họ mang theo cả gia đinh vợ con với đồ đoàn nồi niêu soong chảo, nên tôi thấy cũng dễ trà trộn ẩn thân. Tối đó tôi và Nghĩa ngủ ở một đám cỏ bên cạnh đường khoảng giữa đoàn xe và không dám gần xe nào cả vì sợ họ báo với an ninh đoàn xe.
     Ngay tối hôm sau, tôi bán chiếc nhẩn cuới đuợc 75 đồng Riel, tiền Kampuchia, và nhờ Long môi giới mời một số tài xế lơ xe ra quán nuớc uống cà phê nghe nhạc, để tìm cách lân la làm quen gây cảm tình với họ. Tôi và Nghĩa đóng vai lơ xe, bạn với Long. Vì Nghĩa cũng là lơ xe nên nói chuyện dễ dàng, còn tôi thì cảm thấy hoàn toàn xa lạ, nên trong các câu giao tiếp tôi thuờng cuời nhiều hon là nói vì sợ bị bại lộ tông tích.

Ban ngày thì ra chợ Nam Vang, bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi nguời thấy, và vì không biết đường, mấy lần sau thì đi bộ. Đi ngang qua mấy con đuờng rất đẹp với hai hàng cây phủ mát bên đuờng, với những ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu villa của Pháp, giống nhu khu đường Duy Tân, Yên Đổ ở bên xứ mình. Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ là dinh của VC, treo cờ đỏ sao vàng và có lính canh truớc cổng. Mỗi khi đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi giấy tờ bất tử.

     Uống nuớc phong tên ở gần đó, ăn cơm thì mua của mấy gánh bán hàng rong, cơm một dĩa 10 đồng Riel. Ra ngoài chợ thì đi lòng vòng coi nhìn cái này cái nọ cho hết thì giờ, thỉnh thoảng công an chạy ruợt đuổi bắt người ở trong chợ, làm mình cũng sợ giật mình. Tôi thì có ý định tìm mua một quyển sách địa lý để coi bản đồ vùng Battambang, Siem Rệp, vùng biên giới Thái Lan. Họ bày bán sách cũ rất nhiều nhưng đều là tiếng Miên. Tôi lựa xem mấy cuốn sách có hình bản đồ rồi mua một quyển. Nhưng vì tôi không biết tiếng Miên mà mua sách Miên trong đó có hình bản đồ địa lý, nên họ có ý nghi ngờ. Mua xong tôi lật đật đi bộ về chổ đậu xe vì sợ họ báo với công an chợ. Sau khi nghiên cứu bản đồ để biết địa thế, đường đi nuớc buớc, cũng như khoảng cách bao xa. Tôi cố học thuộc lòng vùng Battambang, Siem Rep, vùng gần biên giới Thái Lan, rồi xé bỏ quyển sách đó ngay.
     Lúc bấy giờ bên Miên hoàn toàn do VC kiểm soát, thỉnh thoảng có mấy tên lính Miên trẻ mặt còn non choẹt, mang khẩu AK dài đụng tới đất. Ở đây họ mắc loa phóng thanh cứ sáng sớm và chiều tối là nghe tiếng nhạc Miên, một âm điệu đều đều nghe buồn não ruột, nghe nhớ nhà, nhớ vợ nhớ con, nhớ quê hương mình vô cùng. Cuộc đời tôi cũng không ngờ lại lưu lạc đến noi đây, xứ lạ quê nguời, rồi cũng không biết ngày mai sẽ ra sao. Nghĩ lại thân phận mình, lêu bêu bình bồng, mà cảm thấy buồn vô hạn.

Tôi lân la mấy quán nuớc làm quen hỏi chuyện để tìm đuờng đi, thì đuợc biết là xe lửa chạy từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn chạy nữa, bây giờ chỉ còn đuờng xe, nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm soát để chận bắt đào binh, nên rất khó mà lọt qua đuợc. Tôi ra phía đầu thành phố đường đi về huớng Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra sao. Tôi thấy rất ít xe đi về phía đó và họ kiểm soát rất kỹ. Xe thì không thấy loại xe đò chở khách, mà toàn là xe chở hàng hay xe quân sự. Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng thoát qua đuợc, giá mà còn xe lửa thì tốt hơn.

alt

     Ở đây đuợc ba ngày thì nghe tin đoàn xe được lệnh đi xuống hải cảng Kompong Som tức là Sihanoukville. Tôi không biết hải cảng này ra sao, nhưng nghe nói ở đó có tàu ngoại quốc ra vào. Trước đó tôi có dọ hỏi đuờng lên Battambang, thì họ nói là phải có nguời dẫn đuờng và phải trả bằng vàng, ít nhứt là hai lượng.  Trong mình tôi chỉ đuợc hai chỉ vàng thì làm sao mà đi và hơn nữa chúng tôi không biết tiếng Miên nên rất khó khăn, thành ra tôi đã bỏ ý định đi lên Battambang. Bây giờ nghe tin đi xuống hải cảng Kampong Som thì tôi thấy cứ đi đại xuống đó rồi sẽ tính sau, dầu sao ở hải cảng cũng còn có hy vọng hơn.
     Buổi trua hôm đó tôi và Nghĩa ra chợ mua một nải chuối, lên chùa Năm Tháp gần đó để cúng Phật, để cầu xin Đức Phật Từ Bi độ trì đưa đuờng dẫn lối cho chúng tôi thoát ra đuợc khỏi nạn cộng sản. Sau khi quỳ lạy cầu nguyện Đức Phật xong, khi đứng lên là không còn thấy nải chuối đâu hết, mà trong lúc chúng tôi quỳ lạy thì có nguời tới chớp nải chuối đi mất thật là nhanh.
     Đêm đó suy tính cách theo xe để đi, vì Long bảo phải tìm xe khác mà đi, chứ không được đi theo xe cũ vì sợ tài xế biết. Trong thời gian mấy ngày ở đó tôi cũng đã quen biết nhiều nên họ nhận cho tôi đi theo. Đoàn xe đi đến trạm kiểm soát thì ngừng lại để xét truớc khi ra khỏi thành phố, nhưng vì đoàn xe này có sự vụ lệnh đi công tác xuống hải cảng để chở hàng cho bộ đội VC nên không bị lục soát hay hỏi han gì và qua trạm kiểm soát này một cách dễ dàng.
     Trên đuờng đi VC đóng đồn dọc theo đường, thỉnh thoảng đón xe quá giang, nhưng tôi ngồi phía trước chung với tài xế và lơ xe, nên rất là yên tâm. Trên xe bác tài có khoe một khẩu súng AK47 đuợc phát cho mỗi xe, nhưng chưa chắc là bác tài đã biết sử dụng. Tôi nhớ bữa đó trời mua tầm tả và xe bị hư máy phải dừng lại để sửa chữa, nhưng bác tài rất rành nghề chỉ sửa một chút là xong ngay, nhưng phải câu một bình xăng phụ ở bên ngoài. Đến chiều thì xe đến hải cảng Kampong Som, xe dừng trước cổng trên con đường lộ đá dẫn vào hải cảng. Khi xe vừa đến nơi thì tài xế và lơ xe đi vô cổng một cách tự nhiên mà không bị hỏi giấy tờ gì hết, nên tôi, Long và Nghĩa cũng đi theo vô trong hải cảng một cách dễ dàng.

Hải cảng này ở xa khu dân cư, có mấy lớp hàng rào kẻm gai bao bọc chung quanh, và một trạm kiểm soát tại cổng chính ra vào, với một số công an biên phòng VC canh gác. Đóng trên một ngọn đồi gần đó là một đồn công an biên phòng. Bên trong hải cảng là một bến đá, xây bằng đá tảng, để tàu cặp bến. Tôi cố nhìn thật kỹ quanh bến tàu để tìm xem có chiếc tàu nào của nuớc tự do, nhưng tôi chỉ thấy toàn cờ đỏ búa lìềm, toàn cờ cộng sản, thật là thất vọng vô cùng. Gần bến tàu là hai nhà kho rất lớn bằng sắt cất theo kiểu tiền chế của Mỹ. Có một đuờng rầy xe lửa, và ở phía trong xó góc có vài toa xe lửa bỏ không, không thấy nguời lai vãng, gần đó có một phong tên nuớc. Ở phía ngoài cổng bên cạnh con đuờng lộ đá là một cái ao khá lớn, mà thỉnh thoảng thấy có công an đến câu cá. Chiều tối đó tôi trở ra xe để ngủ qua đêm.

     Sáng sớm hôm sau xe vô đậu truớc nhà kho lớn để chất hàng lên. Họ chất lên những bao bắp hột do nhân đạo quốc tế viện trợ để cứu đói cho dân Kampuchia, nay thực phẩm đó đuợc dùng để nuôi ăn cho bộ đội VC. Tôi chỉ còn bửa nay để đi lại thong thả trong hải cảng này, đến sáng mai khi đoàn xe đi rồi thì tôi không còn chuờng mặt ra đây đuợc nữa, vì bọn công an thấy sẽ biết ngay.
     Chúng tôi đang lân la trong hải cảng thì bỗng có một chiếc tàu tuần của công an biên phòng VC vào cặp bến để lấy nước ngọt ở cái phong tên nuớc. Khi đó họ có hỏi tụi tôi, có muốn mua mấy món đồ lậu như ruợu, thuốc lá, đồng hồ, máy radio cassette v.v….Chúng tôi làm bộ nhận chịu, nhưng hẹn với họ ngày mai sẽ gom tiền cho nhiều để mua một lần cho tiện. Họ nghe nói thế tuởng là trúng mối to. Sau khi lấy nuớc xong là họ đi, truớc khi rời bến họ rủ chúng tôi lên tàu. Long nhanh chân nhảy lên truớc, tôi còn đang luỡng lự ngần ngừ, vì không biết họ đi đâu và đi làm cái gì, họ không nói gì cả, chỉ rủ lên tàu để đi thế thôi. Long đã ở trên tàu rồi nên thúc hối tôi lên tàu. Khi tàu mở dây cột tàu sắp chạy và vì sự thúc hối của Long nên tôi cũng nhảy lên theo, còn Nghĩa thì không đi.
     Tàu chạy ra ngoài, nghe họ kể về những chuyện đi bắt ghe tàu vuợt biên. Họ đã bắt rất nhiều ghe tàu vuợt biên và lên giọng rất là sắt máu. Nguyền rủa những nguời vuợt biên là bọn phản quốc, chạy ra nuớc ngoài, bám chân đế quốc để ăn bơ thừa sữa cặn v.v… Tôi thầm nghĩ đến những chiếc ghe tàu vuợt biên nếu bị chiếc tàu tuần này bắt, thì coi như là thân tàn ma dại. Có những chuyến ghe tàu vuợt biên bị công an VC xả súng tàn sát mặc dầu họ biết đa số là đàn bà con trẻ.
     Họ dẫn chúng tôi xuống hầm tàu để quảng cáo mấy món hàng mà chúng tôi hứa sẽ mua. Tàu chạy một lúc rồi cặp bến vô đậu trong căn cứ hải quân của chúng, rồi bảo chúng tôi lên bờ. Tôi cứ tuởng là tàu trở lại bến cũ cho mình lên, ai dè lại vô căn cứ VC nên cũng hơi ngại ngại. Hai đứa tôi đi ra cổng và đi theo con đuờng lộ đá dẫn vô bờ. Căn cứ này nằm xa bờ chừng vài chục thuớc, có con đuờng lộ đá làm bằng những tảng đá núi mà xe loại lớn có thể chạy đuợc.
     Vô tới bờ đi bộ nguợc trở về hải cảng, dọc theo bờ biển thấy có một xóm chài, có một số tàu đánh cá, hai đứa tôi vô hỏi thăm. Lên một chiếc tàu thì gặp một nguời có mang một khẩu súng AK47, lỡ rồi nên tôi làm bộ hỏi để mua cá. Anh này nguời Miên gốc Việt nên nói được tiếng Việt. Anh ta ngó tới ngó lui rồi hỏi tụi tôi có muốn vuợt biên không. Chắc có lẽ họ thấy bộ dạng mình vô đây là định tìm đuờng vuợt biên nên mới hỏi thẳng như vậy. Thấy anh ta có súng thì hơi sợ, nhưng trong bụng thì muốn tìm cơ hội để đi, nên tôi cũng trả lời lưng chừng là bây giờ mà tính chuyện vuợt biên đâu phải dễ, tụi tôi ở đoàn xe vận tải đang đi công tác ở hải cảng. Ông ta tiếp thêm là nếu muốn vuợt biên thì ba ngày nữa trở lại đây rồi họ sẽ đưa ra hải đảo, ở đó họ sẽ chuyển qua tàu đánh cá Thái Lan, mỗi nguời hai lượng vàng, ba ngày nữa tàu sẽ ra khơi, nếu muốn đi thì lại đây. Nói xong ông ta cho một con cá to và hối tụi tôi đi ngay, vì ở đây lâu không tiện dễ bị nghi ngờ.
     Tôi và Long trở về hải cảng, trên đuờng đi thỉnh thoảng gặp các toán tuần tiểu của công an biên phòng, họ đi tuần tra dọc theo bờ biển. Chúng tôi giả vờ mò cua bắt cá trong các hóc kẻ đá, khi họ đi qua khỏi rồi thì tiếp tục đi. Đi bộ một đoạn đường khá xa chừng vài cây số. Khi về đến chỗ đậu xe thì thấy có gánh bán cơm, tôi đổi cho họ con cá để lấy hai dĩa cơm. Sau khi ăn xong, tôi bàn với Long và Nghĩa là tối nay phải vô ngủ ở trong hải cảng, vì sáng sớm đoàn xe sẽ chạy trở về Nam Vang, khi đó thì mình không còn có chỗ ẩn thân ở bên ngoài đuợc. Long và Nghĩa thì có ý định trở lại Nam Vang, rồi trở về Việt Nam kiếm thêm tiền, vàng rồi trở qua đây, để đi theo mấy ghe tàu đánh cá. Riêng tôi thì tôi quyết tâm ở lại, kiếm chỗ ẩn náu quanh đây, may ra có dịp tìm đường đi, chớ quay trở lại Việt Nam thì không thể đuợc. Tôi quyết tâm là sẽ đi tới mãi chớ không quay lui. Riêng Long và Nghĩa đều là lơ xe nên chuyện đi hay trở về đều không có gì là nguy hiểm cả. Sau khi bàn tính một lúc thì Long và Nghĩa đồng ý ở lại vì thấy tôi quá quyết tâm. Chúng tôi mua ba ỗ bánh mì và lấy theo một bình nuớc rồi vô trong hải cảng ngay, truớc khi trời tối.
     Tôi đã để ý từ truớc thấy có mấy goong xe lửa bỏ không ở một xó góc không có nguời lui tới. Vì vậy chúng tôi đợi đến khi trời tối, kín đáo lẻn vô trong toa xe đó và trốn luôn trong đó. Ngồi trong goong xe nhìn qua khe ván thấy đồn công an canh gác ở cổng cũng không xa lắm, vì vậy chúng tôi phải giữ gìn thật hết sức im lặng, đề phòng thật kỹ luỡng. Trong những lúc nguy hiểm tôi thuờng cảnh giác thức suốt đêm, quan sát nghe ngóng mọi động tịnh bên ngoài. Sợ khi ngủ hết, lỡ mà có nguời nào ngủ mớ la hoảng hay phát ra tiếng ngáy thì nguy hiểm lắm.
     Khi trời sáng hẳn, tiếng đoàn xe rời hải cảng để trở về Nam Vang. Lúc bấy giờ bên ngoài không còn nguời lui tới, không còn thấy bóng dáng tài xế hay lơ xe nữa, vì vậy chúng tôi phải ẩn mình cho thật kỹ.  Chúng tôi nằm im trong toa xe lửa đó, buổi trưa trời nóng như thiêu, chúng tôi cởi trần, nhờ khe ván hở nên cũng không đến đỗi nào. Tôi chỉ sợ nếu có nguời muốn sử dụng goong xe này, họ đến kéo đi thì rất là nguy, chúng tôi sẽ bị phát giác ngay.
     Cho đến chiều thì may quá có một đoàn xe khác xuống cùng vào đậu ở phía cổng như truớc. Tôi mừng quá vì lại có dịp ra ngoài trà trộn với đám tài xế lơ xe mà không ai để ý. Và cũng vào khoảng  4 , 5 giờ chiều hôm đó, bỗng đâu xuất hiện một chấm đen từ ngoài biển khơi đang tiến dần vô bờ, càng lúc càng lớn dần và sau cùng hiện rõ ra một chiếc tàu đang huớng vô hải cảng, rồi từ từ cặp vào bến đá. Một chiếc thương thuyền quá lớn mang tên PEP STAR, đặc biệt là lá cờ trên tàu không phải là cờ đỏ búa liềm, chắc chắn không phải là tàu cộng sản. Hơn nữa chữ PEP STAR có vẻ là tiếng Anh hơn là tiếng Nga.
 alt
     Sau khi tàu cặp bến xong xuôi, thấy có nhiều nguời đi lại gần chiếc tàu, khi đó tài xế và lơ xe ra vô tấp nập. Trời đã tối chúng tôi chui ra khỏi chỗ trốn và tìm cách lại gần chiếc tàu. Lúc đó có nhiều công nhân nguời Miên đang lên tàu, tôi liền hỏi nguời thủy thủ trên tàu họ cho biết là tàu của nuớc Đan Mạch, mà Đan Mạch là một nuớc ở Âu Châu, nên tôi yên trí chắc chắn không phải là một nuớc cộng sản, tôi mừng quá vì có thể xin tị nạn đuợc.
     Trong bóng tối chúng tôi ngồi ở xa xa nhìn lên chiếc tàu thấy công nhân nguời Miên lên xuống theo chiếc cầu sắt cặp sát bên hông tàu. Ở trên tàu ngay chỗ đầu cầu lên xuống có hai tên công an đang đứng canh gác kiểm soát mọi nguời lên xuống rất là kỹ lưỡng. Tôi tập trung quan sát mọi hoạt động trên tàu để tìm cách lẻn trốn lên tàu, nhưng rất là khó khăn vì hai tên công an đang canh gác quá kỹ. Nếu lở lên tàu mà chúng bắt tại trận thì hết đuờng chối cãi chỉ có nuớc vô tù, mà riêng tôi thêm tội trốn trại nữa thì chắc chúng sẽ không tha.
     Kể từ khi chui ra khỏi hàng rào ở trại tù Tống Lê Chân cho đến bây giờ là tôi đã vuợt đuợc một quảng đuờng khá xa, đã ra khỏi nuớc và ra đến biển và con đuờng duy nhất là phải lên cho bằng đuợc chiếc tàu này.  Nhìn lên trên tàu mà thèm thuồng uớc gì mình đuợc trốn vô nằm trong chiếc thuyền cấp cứu đang treo lủng lẳng đong đưa trên đó thì quá kín đáo. Tôi cứ nhìn hoài, tàu này chở những chiếc xe truck, chỉ có phần đầu máy với cái suờn phía sau. Đây là những chiếc xe viện trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc. Cần trục trên tàu đang hoạt động liên tục đang bốc hàng xuống, mỗi lần một chiếc xe, cho nên rất là nhanh. Theo tôi nghĩ thì trong đêm nay sẽ bốc hàng xong và ngày mai tàu sẽ đi, mà tàu của các nuớc Âu Châu thì hiếm khi vào hải cảng của nuớc cộng sản này.
     Trời tối dần mà Long và Nghia thì cứ hối thúc hoài, định leo đại theo dây cột tàu mà ra tàu. Nhưng đèn pha chiếu sáng khắp tứ phía thì làm sao mà leo ra đuợc, mà làm sao thoát hết đuợc ba đứa. Rồi Long lại tính đuờng nhảy xuống nuớc bơi qua bên kia thành tàu rồi tìm cách leo lên tàu. Tàu thì cao sừng sững đâu có dễ gì leo lên được, mà chung quanh đèn chiếu sáng choang, vừa nhảy xuống nuớc là bị bắn liền chứ đừng nói gì tới bơi ra tàu.
     Tôi cứ chờ đợi dịp thuận tiện, mắt tôi cứ dán sát vào hai tên công an đang đứng gác trên tàu, một tên mang súng AK47, còn một tên mang K54 có lẽ là cán bộ. Quan sát theo dõi họ thật kỹ để mong tìm một chút sơ hở, nhưng mỗi lần có ai lên tàu là nó chận lại xét hỏi rất kỹ càng. Với lại mình không biết tiếng Miên, không giống nguời Miên, nên khó qua mặt đuợc nó.
     Bỗng dưng trời xui đất khiến hai tên công an này đồng lúc rời bỏ vị trí buớc vô trong cabin tàu. Tôi vụt chạy lên tàu tức khắc kéo theo Long và Nghĩa. Khi lên đuợc trên tàu chúng tôi chạy băng qua bên kia thành tàu và tìm chỗ ẩn trốn, thì khi đó hai tên công an lại trở ra canh gác như cũ, nhưng chúng chỉ nhìn về phía cầu thang lên xuống, chứ không để ý gì về phía chúng tôi. Tôi nhìn quanh quất không thấy có chỗ nào để ẩn thân, không thể chui vô đống dây luột hay đống cây gỗ bên cạnh đó, vì dấu đầu lòi đuôi không thể che dấu hết ba nguời. Nhìn xuống hầm tàu thì thấy nhân công Miên đang làm ở duới đó và không thể lẫn quẫn ở đây lâu đuợc vì thủy thủ hay công nhân Miên bất chợt họ thấy họ sẽ nghi.
     Ở trên tàu có hai cần trục một cần trục ở phía bên kia đang hoạt động liên tục, còn một cần trục phía gần bên tôi thì không hoạt động. Ở phía trên là phòng điều khiển bằng kiến, ở bên duới là phòng máy, có một lỗ tròn vừa nguời chun vô, tôi liền thử chui vô rồi kéo Long và Nghia vô theo. Tôi cố ép sát nguời vô trong để vừa đủ chỗ cho ba đứa ẩn mình. Lần lần tôi dọn dẹp các lon dầu, đồ đạt dụng cụ để chui sâu vào trong. Nếu có ai bất chợt đi ngang qua thì sẽ không thấy chúng tôi đuợc, nhưng nếu ló đầu vô trong thì sẽ thấy ngay. Hơi yên tâm một chút, lúc đó chắc cũng vào khoảng 11, 12 giờ đêm.
     Cần trục bên kia vẫn còn đang tiếp tục hoạt động, độ một giờ sau thì chấm dứt. Sau đó công nhân lần luợt rời khỏi tàu, duy chỉ còn hai tên công an vẫn đi tới đi lui canh gác bên kia thành tàu. Sau đó nắp hầm tàu đuợc đóng lại, nắp hầm tàu làm bằng những lá sách bằng sắt nó chạy từ trong ra ngoài nghe rền vang. Sau khi nắp hầm tàu đậy xong, bây giờ chúng tôi có thể chui vô sâu thêm nằm truờn mình trên nóc hầm tàu và mọi sự trở lại vắng lặng hoàn toàn.
     Tôi suy nghĩ, truớc khi tàu rời bến chắc chắn công an biên phòng và quan thuế sẽ kiểm soát rất kỹ, cho nên tôi phải tìm chỗ trốn khác kín đáo hơn, chớ không thể trốn ở đây đuợc. Lúc còn ở duới nhìn kỹ mọi hoạt động trên tàu, tôi thấy thỉnh thoảng có thủy thủ lên xuống ở phía truớc mủi tàu, như vậy phải có cầu thang lên xuống ở mũi tàu.
     Đợi đêm thật khuya vắng lặng, tôi dặn dò Long và Nghĩa từng nguời một lần luợt chui ra và phải chờ khi nào công an quay lưng lại thì mới cho chui ra. Bò theo thành tàu, bò ra phía truớc mũi tàu để tìm cầu thang đi xuống hầm tàu. Trên tàu rất trống trải mà đèn thì sáng choang, do đó phải bò thật thấp để không thấy lộ hình lên trên nền trời. Sau cùng tôi đợi khi tên công an vừa xây lưng lại là tôi chui ra sau cùng, bò dọc núp duới thành tàu đến gần mủi tàu thì thấy có một cửa nhỏ, tôi mở chốt cửa rồi chui vào trong, có một cầu thang bằng sắt hình khu ốc, tôi lần theo xuống.
     Xuống đến hầm tàu thì tôi thấy Long và Nghĩa nằm dài ở đó. Đây là khoang tàu nơi chứa hàng, sau khi hàng bốc đi rồi thì trống trơn không có chỗ nào để ẩn thân, mấy cây cột bằng sắt cũng không lớn đủ để che thân. Tôi thấy trốn ở đây không đuợc vì sẽ bị lộ ngay. Tôi lần theo cầu thang khu ốc để đi xuống nữa, thì khi xuống duới đáy hầm tàu, tôi thấy có một đống cây gỗ ở ngay mũi tàu, tôi mừng quá vì tìm đuợc chỗ trốn tốt. Tôi sắp lại đống cây gỗ để chừa ra một lỗ trống, đủ chỗ để cho ba đứa chui vào, xong rồi kéo thanh gỗ đậy lại, trông giống như cũ, không có dấu vết gì khả nghi. Lúc đó chắc khoảng 3, 4 giờ sáng, tôi nằm im trong đó, không dám ngủ và dặn kỹ Long và Nghĩa phải giữ thật im lặng, không được thở mạnh hay ho hen.
     Độ khoảng 6 giờ sáng, tôi nghe tiếng lộp cộp đi xuống cầu thang, họ quét đèn lên trên đống cây, nhưng không thấy gì khả nghi, họ bỏ đi trở lên. Một lúc sau nữa tôi nghe tiếng còi tàu hụ lên ba tiếng, tôi mừng quá vì “tàu souffler ba là tàu ra cửa biển”. Một hồi sau tôi nghe tiếng sóng nước rào rào ở mủi tàu, tôi chợt biết là tàu đã chạy. Vì đang ở mủi tàu nên tôi không nghe tiếng máy tàu, mà chỉ nghe tiếng sóng nước đập vào thân tàu nghe rào rào và càng lúc càng mạnh. Đến một hồi nữa nghe ầm ầm, tôi biết là tàu đang chạy nhanh, đang rẽ sóng ra khơi. Một hồi sau chúng tôi chui ra khỏi đống cây gỗ.
     Tôi định chờ một ngày một đêm rồi mới lên trình diện vì sợ nếu còn trong hải phận Kampuchia hay Việt Nam, thì họ có thể kêu tàu tuần đến bắt chúng tôi. Nhưng đến chiều thì Long bị ói mửa vì say sóng, càng lúc càng nặng, mặc dù trong bụng không còn thức ăn, chỉ ói ra nuớc, ói ra mật xanh. Sau cùng Long năn nỉ tôi phải lên trình diện, nếu không sẽ chết. Lúc đó tôi nghĩ là tàu đã chạy đuợc khoảng 8, 9 tiếng đồng hồ, chưa được xa lắm, chắc là còn trong hải phận Việt Nam, nhưng vì Long năn nỉ quá, nên sau cùng tôi đành phải lên trình diện.
     Một mình tôi lên truớc, theo cầu thang khu ốc để lên và khi vừa chui ra khỏi cửa ở mủi tàu nhìn lên phía phòng lái bằng kính, tôi thấy nguời hoa tiêu đang nhìn xuống phía chỗ tôi, chỗ mũi tàu. Tôi tức tốc tìm cách đi thật nhanh lên đó ngay, vì sợ họ kêu tàu tuần đến bắt. Tôi đi thật nhanh, leo lên cầu thang lên tầng trên cùng và đi thẳng vô phòng lái.
     Thấy tôi vừa buớc vô phòng hoa tiêu, ông ta nỗi giận dậm chân đùng đùng, bấm còi báo động. Ông hỏi tôi là ai, làm gì vô đây. Tôi liền trả lời tôi là sĩ quan Việt Nam trốn từ trại tù ở Việt Nam sang Kampuchia và trốn xuống tàu hồi đêm qua, tôi xin được tị nạn. Nhờ tôi nói bằng tiếng Anh, mặc dù không được trôi chảy, nhưng cũng hiểu đuợc phần nào. Lúc đó quần áo mặt mày tôi lem luốt dính đầy dầu nhớt, mạt cưa trông không giống ai. Tôi nói tiếp tên họ số quân của tôi và tôi đã học khóa Bộ Binh Cao Cấp tại truờng Fort Benning, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ và xin ông vui lòng liên lạc với tòa đại sứ Mỹ nào gần đây thì sẽ xác đinh đuợc lý lịch của tôi. Tôi xin ông một điều là nếu ông không nhận cho tôi tị nạn, thì xin ông bỏ tôi xuống biển, chớ đừng gọi tàu tuần đến bắt tôi, vì họ sẽ giết tôi.
     Sau khi nghe tôi trình bày sự việc, tình hình bắt đầu lắng dịu, tôi liền nói thêm là hiện còn có hai nguời nữa còn đang trốn duới hầm tàu. Ông ta lại nỗi giận lên, kêu nguời đi xuống dẫn Long và Nghĩa lên. Long và Nghĩa đuợc dẫn lên ngồi trong góc, trông rất thãm não, mặt mày xanh xao, quần áo lem luốc bẩn thỉu. Xong rồi ông Thuyền truởng gọi báo về công ty, một lúc sau thì công ty chấp nhận cho chúng tôi tị nạn. Tôi mừng quá đỗi, coi như được sống lại và tôi có hỏi ông là hiện giờ tàu đang ở đâu, có còn trong hải phận Việt Nam không, thì ông chỉ cho tôi thấy một hòn đảo trông mờ mờ từ xa đó là đảo Thổ Chu của Việt Nam và ông cũng nói thêm rằng là kể từ bây giờ không ai có quyền lên tàu này để bắt chúng tôi lại, vì đây là tàu của Đan Mạch là đất nuớc Đan Mạch.
     Một số thủy thủ đứng chung quanh, nghe thấy, dần dần họ có cảm tình với chúng tôi, họ đưa cho quần áo giày dép rồi dẫn chúng tôi đi tắm. Cho chúng tôi vô ở trong một căn phòng, đây là phòng của một ông kỹ sư đã đi phép. Trên giường nệm có hai tấm nệm tôi lấy một tấm đặt xuống sàn nằm ngã lưng xuống một cách thoải mái tuyệt trần. Một lúc sau chúng tôi được dẫn đi ăn, một bửa ăn thật tuyệt diệu trong đời, trong đó có cơm chiên dương châu và mấy khúc cá thu hấp rất thơm ngon chưa từng có. Đây là một bửa ăn tuyệt diệu nhất, tự do nhất, thoải mái nhất, mà tôi cảm thấy như đuợc sống lại sau bao nhiêu ngày trốn tránh lang thang vất vả căng thẳng tột cùng, có đôi khi gần nhu tuyệt vọng.
     Sau khi ăn xong bửa cơm tuyệt diệu đó, chúng tôi đuợc dẫn đi thăm viếng tàu. Truớc hết đến phòng ông thuyền truởng, ông rót ruợu uống mừng cho chúng tôi đã thoát nạn cộng sản và chụp hình lưu niệm. Sau đó đi tiếp qua các phòng và được biết trên chiếc tàu này có nhiều nguời thuộc quốc tịch khác nhau như Hòa Lan, Đan Mạch, Ba Tây, Phi Luật Tân v.v….Các thủy thủ trên tàu cho chúng tôi xem hình ảnh gia đình của họ và chuyện trò rất là thân mật, thật là hết sức lịch sự và đầy tình nhân ái. Nghĩa có mang theo một số tiền Việt Nam không còn xài được nữa, nên mới đưa cho các thủy thủ. Họ rất tốt bụng đã cho lại chúng tôi mỗi nguời 20 US dollars và chọn cho chúng tôi mỗi đứa một bộ đồ vừa vặn đẹp đẽ để mặc khi lên bờ.
     Chúng tôi được cho lên phòng hoa tiêu để ngắm nhìn hoàng hôn trong buổi chiều tàn, nhìn mặt trời lặn trong cảnh nuớc trời bao la, thật là tuyệt đẹp, mà tuởng chừng như trên chốn bồng lai tiên cảnh nào vậy, trong khi con tàu đang luớt sóng thật êm đềm. Đây là một chiếc thương thuyền rất lớn nên chạy thật là êm ái, khác xa với cảnh tuợng của những chiếc ghe vuợt biên bé nhỏ, chở đầy nguời, bập bềnh trên biển cả mênh mông, sóng gió hãi hùng, và còn phải lo sợ bị hải tặc hảm hiếp, cuớp của giết nguời thật là ghê rợn.
     Buổi tối hôm sau tàu tiến vô một hải cảng với muôn ngàn ánh đèn rực rỡ, trong một vùng vịnh bao la, với vô số thương thuyền tàu bè đủ loại, trông thật hùng vĩ huy hoàng tráng lệ. Đó là hải cảng Singapore. Theo thủ tục của luật di trú thì chúng tôi phải vô trong phòng và thuyền truởng sẽ khóa cửa lại, để giử chúng tôi trong đó. Tuy nhiên nếu có cần gì thì cứ gọi, thỉnh thoảng có nguời đến thăm chừng, thật là hết sức lịch sự tử tế và chu đáo vô cùng.
     Chừng vài tiếng đồng hồ sau thì có hai nhân viên của sở di trú Singapore đi xuồng máy ra lên tàu và mở khóa cửa phòng, thẫm vấn chúng tôi và làm thủ tục giấy tờ, xong rồi họ đi ngay. Sau đó thì có một phái đoàn của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, UNHCR, xuống phỏng vấn và làm thủ tục. Tôi trình bày bằng tiếng Anh, nhưng bất ngờ nguời đó trả lời bằng tiếng Việt và bảo tôi cứ nói bằng tiếng Việt Nam đuợc rồi. Tôi mừng quá vì đuợc gặp nguời đồng hương, sau này tôi đuợc biết đó là cô Bích làm việc trong văn phòng Cao Ủy Tị Nạn ở Singapore. Khi làm thủ tục giấy tờ, và trong nguyện vọng xin đi định cư nuớc nào, thì tôi xin đuợc đi Mỹ, vì hiện tôi có một đứa em đang ở Mỹ, và tôi cũng đã từng du học ở Mỹ, nên nghĩ rằng sẽ đuợc cứu xét dễ dàng hơn. Chúng tôi ngủ thêm một đêm trên tàu và sáng hôm sau thì có nguời của Cao Ủy Tị Nạn ra đón ba đứa tôi lên bờ, tôi còn nhớ đó là cô Robin, nguời nuớc New Zealand.
     Sau một thời gian 22 ngày đêm vuợt thoát từ trại tù Tống Lê Chân, nay tôi được đặt chân lên một đất nuớc tự do là nuớc Singapore vào ngày 27 tháng 6 năm 1980. Chúng tôi đuợc đưa về tạm trú ở khách sạn YMCA. Ở đây hiện có chừng muời nguời Việt Nam tị nạn cũng mới đến chừng vài ngày truớc và họ giao nhiệm vụ cho tôi làm thông dịch viên. Điều đầu tiên là tôi ra Bưu điện để đánh điện tín về Việt Nam cho gia đình tôi biết tin. Vì có tiền 20 dollars nên tôi gọi taxi ra Bưu điện và gởi điện tín về cho vợ tôi với nội dung nhu sau: “Đã giải phẩu xong bình an” , đó là câu mật hiệu để cho vợ tôi biết là tôi đã thoát nạn và đã đến nơi an toàn. Điện tín này đã đến nhà tôi vào ngày 30 tháng 6 năm 1980. Vợ tôi hết sức vui mừng khi nhận đuợc điện tín này, phân vân không biết Singapore là nước nào ở đâu. Vợ tôi liền đi xuống Mỹ Tho để báo tin mừng và vô Trung Lương, nơi đất hương quả mồ mã tổ tiên để cúng tạ.
     Chúng tôi ở khách sạn YMCA vài ba ngày để làm thủ tục. Buổi chiều rỗi rảnh chúng tôi dắt nhau ra chợ Tàu. Đi bộ chừng 15 phút là đến, một dãy kios quán ăn rất là đông vui và ngon miệng. Long biết nói tiếng Tàu nên rất dễ giao tiếp. Ở Singapore 80% là người Hoa, còn lại là nguời Ấn và người Mã Lai.
     Sau đó chúng tôi đuợc đưa vào Trại Tị nạn Sambewang, còn gọi là trại Hawkins. Khi vừa buớc vô văn phòng trại tị nạn, tôi chợt thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn treo trên tường mà lòng hân hoan vui mừng quá độ. Tôi và nhóm nguời mới tới đều vui mừng sung suớng đến rơi nuớc mắt, đuợc hôn lên Lá Cờ  Quốc Gia Dân Tộc và biết chắc rằng mình đã thật sự thoát khỏi ngục tù cộng sản và đã đến đuợc bến bờ tự do.
     Chúng tôi đuợc lãnh tiền trợ cấp mỗi nguời 2.50 đồng một ngày, một đồng Singapore lúc đó trị giá vào khoảng 0.8 dollar Mỹ. Ngoài ra còn đuợc phát mỗi nguời một chiếc chiếu, và cứ 6 nguời thì đuợc phát một cái lò nấu ăn. Đây là một trại lính với nhiều tòa nhà có hai tầng khang trang, trại viên trải chiếu trên sàn gạch rất mát mẻ sạch sẽ, không có ruồi muỗi. Phía ngoài là sân cỏ, đuợc giử gìn chăm sóc cắt xén rất đẹp như một tấm thảm xanh.
     Cuộc sống ở trại tị nạn này rất là thoải mái, có khu chợ nhỏ ngay trong trại, đa số là nguời Ấn độ, bán đủ loại thực phẩm, rau cải, trái cây, đặc biệt là trái sầu riêng ở đây có rất nhiều. Ở ngoài vòng rào và cách trại chừng vài trăm thuớc, có một con rạch rất lớn, có nhiều cá, nhứt là cá rô Phi. Có nguời chui rào ra, luới đuợc rất nhiều cá, đem về bán chui qua các nhà.
     Những nguời đuợc đưa về trại này thuờng là chỉ đuợc tạm trú ở đây khoảng 3 tháng, để làm thủ tục đi định cu, hoặc là những nguời từ trại đảo Galang đưa đến chờ máy bay để đi định cư. Hàng ngày công việc của trại là theo dỏi tin tức phát thanh trên loa, để biết khi nào đuợc gặp phái đoàn để đuợc phỏng vấn và khám sức khỏe.
     Khi mới đến trại khai hồ sơ lý lịch, vì tôi đã từng du học bên Mỹ nên được Ban Chỉ huy trại giao nhiệm vụ làm Thông dịch viên. Công việc thường ngày của tôi là giúp thông dịch nếu có phái đoàn vô trại. Còn không thì phải đưa người đi ra các toà Đại Sứ Anh, Mỹ, Úc v.v…Hoặc đưa người đi bệnh viện, để khám sức khỏe để đi định cư. Ở trong trại cũng có bệnh xá để điều trị các bệnh nhẹ thông thường như ho, đau bụng, nhức đầu, nóng lạnh v.v…Lúc đó có Bác sĩ Rạng trách nhiệm bệnh xá, ông cũng là người tị nạn và trước kia ông từng là bác sĩ của Bệnh viện 3 Dã chiến ở Phú lợi Bình Dương.
     Ở trong trại tôi thấy có nhiều hoàn cảnh rất là thương tâm. Có nhiều nguời mất vợ mất con mất cha mất chồng trên đường vượt biển. Như có một ông bác sĩ, tôi nhớ mang máng tên là Phùng, Bác sĩ Phùng, ông bị khủng hoảng tinh thần gần như điên loạn, vì cả gia đinh vợ con đều bị chết. Tôi thấy ông cứ đi lang thang nói nhảm suốt cả ngày.  Vì ông mắc bệnh tâm thần như vậy nên không được phái đoàn nào phỏng vấn, rồi không biết sau này ra sao.
     Sau khi đến trại đuợc một tuần, tôi liền gởi gói quà nhỏ đầu tiên về cho gia đình, trong đó có vài thước vải đen, chai dầu xanh và kẹo bánh. Ba tháng sau vào tháng 10 năm 1980 thì tôi được đi định cư qua Mỹ. Long và Nghĩa thì được định cư ở Đan Mạch.
     Với lòng tri ơn sâu xa, tôi xin ghi lòng tạc dạ công ơn cứu tử của thuyền trưởng và toàn thể thủy thủ đoàn trên chiếc thương thuyền Pep Star, thuộc công ty hàng hải của nước Đan Mạch, đã cứu vớt tôi và giúp cho tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản và cho tôi đến được bến bờ tự do. Đây quả là một công ơn quá lớn lao mà suốt đời tôi không bao giờ quên đuợc.
     Tôi cũng không bao giờ quên nghĩa cử cao đẹp, đầy lòng nhân đạo của Cơ quan Tị nạn Liên Hiệp Quốc UN/HCR và dân tộc các nuớc trên thế giới, đã mở rộng vòng tay cứu vớt, trợ giúp và cưu mang chúng tôi, những người tị nạn trốn chạy khỏi chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân bản.
     Sau khi đến Hoa Kỳ được một năm thì tôi được vào quy chế thường trú, năm năm thì đuợc vào quốc tịch. Ngay khi đến Hoa Kỳ, tôi lo ngay việc nạp đon xin bảo lãnh gia đình qua chương trình ODP và 9 năm sau thì vợ tôi và ba đứa con đã đến được Hoa Kỳ. Sau hơn 14 năm xa cách kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản, nay gia đinh tôi được đoàn tụ lại như xưa, đã thoát khỏi gông cùm cộng sản và được sống trên quê hương mới đầy lòng nhân ái bao dung.
     Đây quả như là một phép lạ do Ơn Trên ban phuớc cho.
     Nguyễn Ngọc Thạch, K20

Thông Báo Đa Hiệu

ThongBao

Xin Trời để lại còn tôi còn bà—Vô Danh

80 tuoi

Mất gì thì mất bà ơi
Xin trời để lại còn tôi còn bà
Nếu mà có phải đi xa
Để tôi đi trước còn bà đi sau
Mong bà đừng ốm đừng đau
Để tôi có bát cơm rau sớm chiều
Càng già càng quý, càng yêu
Bâng khuâng lại nhớ ít nhiều ngày xưa
Mất gì thì mất bà ơi
Xin trời để lại còn tôi còn bà
Tôi bà nay tuổi đã già
Mà tôi vẫn sợ còn tôi mất bà…

Thuyền Trưởng Đại Hàn Vớt Thuyền Nhân Việt Nam

Thăm Niên trưởng Đông Anh Nguyễn Đình Tạo K10P

DSC05462

DSC05464

DSC05467

DSC05453

DSC05450

DSC05447

DSC05445

DSC05441

DSC05439

DSC05440

Ngọn nến hiệp thông cùng giáo xứ Mỹ Yên bừng sáng khắp nơi

“Hiệp thông trong đau thương, ta cùng nhau thắp sáng lên, những ngọn nến cháy tỏa lan mọi nơi. Nguyện cầu cho đoàn chiên xứ Mỹ Yên được bình an, cho giáo phận Vinh vững niềm tin, để khổ đau tan biến dần. Con xin dâng lên bao nhiêu oan trái những ngày qua, khi muôn con tim luôn luôn khát khao sống trong bình an. Nguyện cầu cùng Chúa ban thêm đức tin xuống trên đoàn con, gìn giữ xác thân hồn con, qua muôn khổ đau trần gian…” (Ngọn nến hiệp thông – Huyền Phạm).

Giáo hạt Nguồn Son (Quảng Bình)
 
Kể từ sau sự kiện công an Nghệ An “bày binh bố trận” để đàn áp bà con giáo dân giáo xứ Mỹ Yên (04/09/2013), mặc dầu rất xa xôi về mặt địa lý, quý cha cùng bà con giáo dân ở Quảng Bình nói chung và Giáo hạt Nguồn Son nói riêng luôn hướng lòng về Mỹ Yên để hiệp thông  chia sẻ bằng những lời cầu nguyện, sự hy sinh… Quý cha trong Giáo hạt đã đọc Thư Chung của vị Chủ chăn giáo phận, Bản tường trình, Văn thư phản đối báo đài và truyền hình, để bà con giáo dân được hiểu đúng chân tướng sự việc. Đặc biệt, tối Chúa nhật 22.09.2013,  quý cha trong Giáo hạt Nguồn Son đã tập trung về thánh đường giáo xứ Đồng Tróoc, trụ sở của Hạt để hiệp dâng thánh lễ Chúa nhật.Sau thánh lễ, quý cha cùng cộng đoàn trị sở đã tổ chức chầu Thánh Thể long trọng, bày tỏ tình liên đới hiệp thông với bà con giáo xứ Mỹ Yên trong giai đoạn khó khăn và thử thách này. Đồng thời, quý cha cùng cộng đoàn tha thiết cầu xin Chúa Giêsu Thánh Thể soi lòng mở trí cho các nhà lãnh đão quốc gia và địa phương biết tôn trọng phẩm giá và sự tự do chính đáng của con người, hầu mọi người được hưởng một nền hoà bình thực sự và viên mãn.

———————————-
 
Giáo xứ An Nhiên

———————————-
 
Giáo xứ Kinh Nhuận (Quảng Bình)

———————————-
 
Giáo xứ Lộc Thủy (Nghệ An)


———————————-
 
Giáo xứ Mỹ Hòa


 
———————————-
 
Giáo xứ Ngọc Long



———————————-
 
Cộng đồng Công giáo Việt Nam tại San Jose, Cali, Hoa Kỳ 
 
Tình trạng đàn áp tôn giáo tại Việt Nam với vụ nhà cầm quyền tấn công thô bạo gần đây tại Giáo xứ Mỹ Yên, Giáo phận Vinh, đã khiến đông đảo tín hữu tại giáo phận San Jose, và các nơi lân cận thuộc vùng Bắc Cali, quy tụ trong một thánh lễ và thắp nến cầu nguyện hiệp thông vào tối ngày 20 tháng 9, 2013 tại Trung tâm Công giáo Việt Nam, San Jose.
 
Buổi lễ long trọng được Hội Ái hữu Giáo phận Vinh Bắc Cali, phối hợp với các hội đoàn bạn tại địa phương tổ chức. Linh mục Phaolô Lưu Đình Dương, Tuyên úy của Hội, đã chủ trì thánh lễ và cuộc đốt nến, cùng với 7 linh mục và phó tế hiện diện…
 
Trần Hiếu




———————————-
 
Giáo xứ Song Ngọc

———————————-
 
Sinh viên Công giáo Vinh tại Quảng Bình

———————————-
 
Giáo xứ Thịnh Lạc (Hương Khê – Hà Tĩnh)


———————————-
 
Giáo xứ Thọ Ninh




———————————-
 
Giáo xứ Thuận Giang


———————————-
 
Giáo xứ Thu Chỉ




 
———————————-
 
Giáo họ Yên Lưu (xứ Thuận Nghĩa)


———————————-
Giáo xứ Tràng Lưu


———————————-
 
Giáo xứ Thuận Nghĩa


———————————-
 
Giáo xứ Mỹ Dụ

———————————-
 
Giáo xứ Trung Song

———————————-
 
Giáo xứ Tĩnh Giang

———————————-
 
Giáo xứ Phú Linh


 

Tôi là Ai? Việt hay Mỹ?—Kim Thu

Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.

Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose , hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là người Việt Nam , để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.

Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.

Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.

Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.

Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.

Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.

Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.

Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại.

Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?

Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.

Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.

Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.

Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam .

Lại có những lần ở Việt Nam , tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.

Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.

Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ!

So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?

Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.

Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.

Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.

Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam , gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!

Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.

Khi về đổi họ thay tên.
Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng.

Kim Thu

Hồ Chí Minh “sao y bản chánh” cách mạng vô sản của Trung Cộng—Hứa Hoành GS/VHV

“Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó, không phải là vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không, mà chính là vấn đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyển hay không” (Tưởng Vĩnh Kính, sách Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, trang 356-357).

– Ít ai ngờ rằng ông Hồ từng tâm sự với cán bộ thân tín rằng “Thà để cho thực dân Pháp đô họ thêm 5, 10 năm nữa, còn hơn để các đảng phái quốc gia giành được chánh quyền một nước Việt Nam độc lập!

“Nhằm tranh thủ quần chúng, ông (Hồ) dựng cờ chống Pháp và tranh thủ độc lập dân tộc, trong khi đó, ông lại bán rẻ và bài trừ các đảng phái chống Pháp và tranh thủ độc lập dân tộc chân chính khác… Ông tuyệt đối cần ngoại viện, nhưng ông không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào nhận ngoại viện. Ông cũng cần tranh thủ quần chúng, nhưng không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào tranh thủ quần chúng…..” (Sách đã dẫn, trang 373).
Những năm gần đây càng ngày càng có nhiều học giả khám phá thêm nhiều tài liệu lịch sử, làm sáng tỏ nhiều vấn đề từ trước tới nay ít người biết. Các sử liệu ấy đã đánh đổ nhiều huyền thoại về Hồ Chí Minh, mà đảng cộng sản của ông đã thêu dệt, bịa đặt để thần thánh hóa ông ta. Sự thật ông Hồ không có sáng kiến gì cả. Cái gọi là “sự vận dụng nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác Lê”, chẳng qua là sự sao chép, cóp nhặt, vay mượn của người khác. Nếu không có cuộc cách mạng vô sản ở Trung Cộng, liệu ông Hồ có thành công ở Việt Nam hay không?
Ông Hồ chỉ học lớp 7 trung học phổ thông. Ông chưa biết hết khái niệm thông thường của khoa học thường thức. Tuy nhiên, vì ra đời sớm, tự lập để mưu sinh bằng đủ thứ nghề: bồi tàu hạng bét, phu quét tuyết trên đường phố Luân Đôn, bồi khách sạn, thợ rửa ảnh…. ông Hồ có nhiều mưu gian mẹo vặt và thủ đoạn gian hùng. Ông sáng trí trong việc bắt chước. Ông không bao giờ nêu xuất xứ. Đó là thái độ thiếu minh bạch.

Hơn 20 năm làm cán bộ tình báo, gián điệp (1924 – 44), ông Hồ ăn lương, lãnh phụ cấp, giấy thông hành của Liên Xô để qua các nước Á Châu hoạt động. Liên Xô không trả tiền để ông đi “giải phóng dân tộc” Việt Nam của ông. “Ai chi tiền, người ấy chỉ huy”, đó là một định luật. Ông Hồ ăn cơm chúa phải múa tối ngày. Những từ ngữ “đi tìm đường cứu nước”, “giải phóng dân tộc” là những huyền thoại mà đảng CSVN thêu dệt, bịa đặt thêm sau nầy, để tôn ông lên hàng “cha già dân tộc”. Sự thật thủy chung ông Hồ vẫn là một cán bộ cộng sản quốc tế, có nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa CS sang các nước. Ông phải ngụy trang dưới chiếc áo dân tộc, để lừa gạt mọi người. Ông tới Trung Hoa trước sau 5 lần. Mỗi lần ông ở lại một thời gian khác nhau và lấy những bí danh khác nhau, để hoạt động gián điệp trá hình, và xuất cảng chủ nghĩa CS theo lịnh của nước chi tiền.

ÔNG HỒ KHÔNG THIẾT THA GÌ ĐẾN “ĐỘC LẬP DÂN TỘC”:

Những ai từng nghiên cứu về cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh cũng nhận ra một điều quan trọng: Đối với ông, không có tình yêu nước hay dân tộc. Tuy nhiên, lúc nào ông cũng ngụy trang, nép mình dưới chủ nghĩa dân tộc để truyền bá chủ nghĩa cộng sản. Đó chính là lý tưởng suốt đời của ông. Nó thôi thúc ông trong bữa ăn, trong giấc ngủ. Nó biến thành một bản năng mãnh liệt.

Vào năm 1941, từ biên giới Trung Quốc, ông lén lút về hoạt động, ngụ tại hang Pác Bó (Cao Bằng). Thấy mình chưa có địa vị và quyền hành gì trong đảng CSVN, ông đã nghĩ ra mưu sâu kế độc “tiêu diệt trung ương đảng ở tại Nam Kỳ”. Ông bí mật chỉ điểm cho Pháp hốt trọn ổ trung ương đảng ở Nam Kỳ, rồi lập ra trung ương đảng mới, cử Trường Chính làm tổng bí thư. Theo sự nghiên cứu của các học giả Trung Quốc: “Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó, không phải là “vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không mà chính là vấn đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyền hay không?”

Với thực lực còn yếu kém, cho nên vào các năm 1942 – 43, ông Hồ đã nghĩ đến việc phải thương lượng bắt tay với kẻ thù chánh là Pháp. Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/46 của Hồ Chí Minh và Pháp sau nầy đã manh nha từ mấy năm trước.

Khi tiếp xúc được với đại diện phái bộ Đồng minh đi tìm phi công bị bắn rơi, ông Hồ tìm cách lợi dụng họ. Ông luôn che giấu bộ mặt thật cộng sản của mình. ông còn tuyên truyền lừa bịp rằng “Việt Minh là một sự liên minh của các đảng phái quốc gia…..?”

Ông gấp rút lập một căn cứ địa trong rừng núi Việt Bắc để đón tiếp “phái bộ không trợ trên mặt đất của Mỹ” để xin viện trợ, xin cung cấp võ khí và huấn luyện. Đổi lại, Việt Minh có cứu được vài phi công dẫn qua biên giới, trao cho đại diện của Đồng minh. Tại căn cứ, ông Hồ tỏ ra thân thiện với phái bộ Mỹ. Ông đã dùng điện đài của một viên trung sĩ Mỹ tại căn cứ nầy để liên lạc với đại diện của phe De Gaulle tại Côn Minh để xác nhận:

– Pháp phải hứa với ông (có giấy bảo chứng) sẽ trả độc lập cho VN từ 5 tới 10 năm nữa, thì ông sẽ cộng tác với Pháp.

– Yêu cầu Pháp giúp võ khí và huấn luyện.

Cũng qua các cuộc điện đàm, Hồ Chí Minh hứa sẽ thân thiện với Tây phương, đặc biệt là Pháp và Mỹ. Đồng thời ông tố cáo đảng Đại Việt (Đại Việt Duy Tân thân Nhựt) đang chĩa mũi nhọn vào người Pháp. Ông tiếp “Việt Minh sẽ ra lịnh cho hai triệu đảng viên và dân chúng ủng hộ, hãy đem hết khả năng đề phòng cẩn mật, cùng ngăn chận kế hoạch phạm pháp nầy của đảng Đại Việt……” (Đối với Việt Minh, đảng Đại Việt đang chống Pháp là “phạm pháp”, còn VM thì bắt tay và ủng hộ Pháp!). Xem “Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, của Tưởng Vĩnh Kính, trang 359).

“Hồ Chí Minh nói xấu và bán rẻ đảng Đại Việt, không những để tranh thủ ân sủng của người Pháp, mà còn gián tiếp phản Hoa….” (Sách đã dẫn trang 359)…Trong một đoạn khác cùng tài liệu đã dẫn, cho biết: “Trước ngày Nhựt đầu hàng không lâu, John (Người Mỹ trong phái bộ Đồng minh đến căn cứ của ông Hồ) đã dùng điện đài của hắn đánh đi bức điện tín sau đây giùm ông Hồ:

“Đảng Đại Việt (chống Việt Minh) đang trù tính gây cuộc khủng bố chống Pháp đại quy mô và mưu toan giá họa cho Việt Minh…”

(Sách đã dẫn, trang 358).

Như vậy trong thâm tâm ông Hồ chẳng thiết tha gì đến độc lập dân tộc. Đó chỉ là chiêu bãi để ông sử dụng trong giai đoạn. Ông chỉ băn khoăn lo sợ rằng các đảng phái quốc gia sẽ phỏng tay trên ông, cướp chánh quyền trước, cho nên ông sẵn sàng liên kết với kẻ thù để tiêu diệt anh em cùng chung một mục đích. Đó là mưu kế gian manh, phản trắc của ông Hồ và tập đoàn đảng CSVN. Hồ Chí Minh suốt đời chỉ ôm ấp một giấc mộng đem chủ nghĩa cộng sản du nhập vào nước ta, và biến dân tộc nầy trở thành chư hầu của Liên Xô, cho nên đi đâu và lúc nào nhìn ở đâu ông cũng thấy hình ảnh Các Mác, Lenin, Engels…. Khi về ẩn náu trong hang Pác Bó, ông đặt tên ngọn núi phía sau hang là “núi Các Mác”, suối trước mặt là “Suối Lenin”, còn rừng xung quanh là “rừng Engels”, hoa dại ven rừng là “hoa vô sản”… Nhìn đâu, ông cũng thấy các lãnh tụ cộng sản, các lý thuyết gia cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản đã thâm nhập vào đầu óc ông ta mấy mươi năm, cho nên ông đâu có màng gì đến độc lập, tự do của dân tộc? Nước ta đang bị hai từng áp bức bốc lột của Pháp Nhựt, dân chúng nhứt là miền Bắc và Trung đang rên xiết, oằn oại dưới sự bốc lột của thực dân, ông đâu có đau khổ……? Ông chỉ mượn các thảm cảnh ấy làm chiêu bài đấu tranh giai đoạn mà thôi.

Ít ai ngờ rằng ông Hồ từng tâm sự với các cán bộ thân tín rằng “Thà để cho thực dân Pháp đô hộ thêm VN 5, 10 năm nữa, còn hơn để các đảng phái quốc gia giành được chánh quyền một nước Việt Nam độc lập” (Sách đã dẫn).

Nếu như không tình cờ có cuộc “chiến tranh giải phóng” ở Trung Quốc, để đưa toàn dân Trung Hoa vào quỹ đạo cộng sản, liệu ông Hồ có tìm ở đâu cái khuôn mẫu để tổ chức kháng chiến ở Việt Nam?

Ngụy trang dưới chiêu bài quốc gia dân tộc, giấu bộ mặt thật cộng sản để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi tiến hành cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam, giết biết bao nhiêu người vô tội cũng chỉ vì yêu nước, theo kháng chiến, lập nhiều chiến công, rồi lại bị quy chụp là “giả vờ kháng chiến, leo cao, chui sâu vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại….” Đó là cách kết tội những người đi theo kháng chiến trước khi hạ sát họ. Chiếm được phân nửa đất nước miền Bắc, ông Hồ dựng lên chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước” (Lại bắt chước Trung Cộng “Kháng Nhựt cứu nước”) để lừa bịp toàn dân vào cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt, chiếm cho bằng được miền Nam, mệnh danh là “giải phóng dân tộc?”

Chữ nghĩa đã bị cộng sản làm thay đổi ý nghĩa nguyên thủy. Nếu như không sống với cộng sản thì không thể hiểu được tâm địa và mặt mũi họ. “Giải phóng” gì mà một nước nghèo nàn lạc hậu, dân trí thấp, đời sống cơ cực… đem quân chiếm một nước giàu có, phồn thịnh hơn mình để cướp của, cướp tài sản…. thì gọi là “giải phóng dân tộc đó ư?”

MẶT TRẬN VIỆT MINH (1914) VÀ “MẶT TRẬN GPMN”, SAO Y BẢN CHÁNH CỦA TRUNG CỘNG:

Năm 1938, từ Liên Xô, ông Hồ trở qua Trung Quốc lần thứ 3. Tại căn cứ địa Diên An, ông Hồ gia nhập làm đảng viên của Trung Cộng do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Rồi ông gia nhập quân đội của Mao để làm lính đánh thuê cho Mao. Muốn thấy rõ tiến trình hoạt động của ông Hồ, chúng tôi xin nhắc lại giáo điều của Cộng Sản Quốc Tế:

“Hồ Chí Minh đã rập khuôn các giáo điều của CSQT, đem cuộc vận động cách mạng VN chia làm 2 giai đoạn:

– Giai đoạn 1: Dùng chủ nghĩa dân tộc làm chiếc áo che ngoài, và thiết lập chính quyền dân chủ của giai cấp tư sản (Chính phủ liên hiệp hồi 1946 và “chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam VN” 1973).

– Giai đoạn 2: thực sự đi vào cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hồi đó báo “Thanh Niên” do “Đồng chí hội” phát hành, cũng là “tiếng nói của giai đoạn 1”. Nó không hề nói đến chủ nghĩa Mác Lê một cách trực tiếp, mà các luận đề thảo luận trước tiên về chủ nghĩa dân tộc, rồi khéo léo xen vào một vài giáo điều cơ bản cùng quan điển của Lénin, để “chuẩn bị chuyển hướng đến giai đoạn 2”. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, dùng làm tài liệu học tập cho cán bộ, ông Hồ công khai nói rõ chủ nghĩa Mác Lê…..” (Sách đã dẫn, trang 96).

Nên nhớ vào năm 1935, trong kỳ Đại hội CSQT kỳ 7, đã chỉ thị cho Trung Cộng: “Phải thay đổi đường lối là sau khi Mao Trạch Đông chạy thoát cuộc bao vay của Quốc Dân Đảng, còn gọi “Vạn lý trường chinh”, là phải thành lập “Mặt trận dân tộc”, rồi dùng chiêu bài “Kháng Nhựt cứu nước”. Tất cả các tổ chức “cứu quốc” của ông Hồ đều mô phỏng y chang tổ chức của Trung Cộng mà thôi….”Mặt trận dân tộc”, các tổ chức “Cứu quốc”, rồi căn cứ địa, khu giải phóng…. đều được ông Hồ bê y chang đem về VN để lập “Mặt trận Việt Minh”, và các tổ chức phụ thuộc cùng tên gọi với các tổ chức của Trung Cộng. Khi Nhựt vào VN, uy hiếp Pháp, ông Hồ lợi dụng thời cơ lập ra cái gọi là “Mặt trận Việt Minh”, để xây dựng chính quyền địa phương và chuẩn bị cướp chính quyền y chang như bên Trung Cộng.

Trong thời gian làm lính đánh thuê cho Trung Cộng, ông Hồ học được nhiều kinh nghiệm về tổ chức huấn luyện cho binh sĩ, tổ chức các khóa học chính trị, và lập ra các tổ chức bịp bợm, ngụy trang dưới hình thức chính nghĩa. Ngoài ra, ông Hồ cũng học kinh nghiệm cùng phương pháp xâm nhập, lũng đoạn các tổ chức khác, để phá hoại lôi cuốn người của họ về phe mình.

Có thể nói Mặt trận Việt Minh (1941 – 51) rồi “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (1960 – 75) cũng như khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước” chính là bắt chước các tổ chức của Trung Cộng mà thôi. Sách lược của tổ chức nầy, ngoài mặt “kêu gọi đoàn kết rộng rãi các dân tộc và đảng phái”, nhưng ý đồ sâu kín của họ là phân hóa hàng ngũ những người quốc gia, tiêu diệt các đảng theo hệ phái dân tộc chủ nghĩa, đồng thời khuếch xung lực lượng của riêng CS lớn mạnh thêm. Trước khi chọn danh xưng”Mặt trận Việt Minh”, ông Hồ giả bộ thảo luận để chọn lựa từng chữ: “trước cục diện mới, vấn đề đoàn kết dân tộc càng quan trọng. Chúng ta phải cân nhắc kỹ để thành lập một mặt trận mà hình thức và tên gọi sao cho tuyệt đối phù hợp với cục diện đó”. “Chữ Việt Minh” do “VN Độc lập đồng minh”). (Sách đã dẫn, trang 186).

Từ đó, ông Hồ tìm sự mập mờ giữa các đảng “VN cách mạng Đồng Minh Hội” và “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” của những người quốc gia, có trước bên Trung Hoa, để lập ra “VN độc lập Đồng Minh” tức “Việt Minh”, rồi lại định nghĩa “Việt minh là sự liên minh các đảng phái quốc gia….”

Tưởng cũng nên nhắc lại rằng “VN Cách mạng đồng minh hội” là một tổ chức hợp pháp của các đảng theo xu hướng chủ nghĩa dân tộc, của các nhà cách mạng VN sống lưu vong tại Trung Hoa năm 1942. Thực chất “Việt Minh” là CS trá hình nhằm ngụy trang để lôi cuốn mọi từng lớp nhân dân. Khi mặt trận “Việt Minh” ra đời, ông Hồ đem các tổ chức “thanh niên cứu quốc”, “phụ nữ cứu quốc”, “công nhân cứu quốc”, “nông dân cứu quốc”……(đều bắt chước Mao) làm nồng cốt, núp dưới mỹ từ chính nghĩa “cứu quốc”.

Các tổ chức mệnh danh là “cứu quốc” thật ra khủng bố đồng bào trong các vùng họ chưa thiết lập được chính quyền. Các tổ chức “cứu quốc” còn tranh công với phe quốc gia đang xả thân kháng chiến, rồi tìm cách tiêu diệt người quốc gia tiểu tư sản, bằng cách vu khống, chụp mũ, rồi thủ tiêu….

Khai sinh ra “Mặt trận Việt Minh” thì ông Hồ nhằm mục đích lợi dụng danh nghĩa “VN Độc Lập Đồng Minh Hội”, để chiêu tập tổ chức quần chúng của tổ chức này, và đồng thời chiêu dụ tàn quân của phe thân Nhựt. Ông Hồ lợi dụng danh nghĩa “VN Độc Lập Đồng Minh Hội” để lôi cuốn phe thân Nhựt, cũng giống như việc ông lợi dụng danh nghĩa “Giải Phóng Đồng Minh Hội” của Trung Quốc, để lôi cuốn phe thân Hoa. Mục tiêu thật sự của ông nhằm phân hóa hàng ngũ đối phương và xây dựng thêm lực lượng riêng của ông ta. Có thể nói không lầm lẫn rằng: khi lập Mặt Trận “Việt Minh”, ông Hồ muốn che giấu bộ mặt thật cộng sản của mình và tổ chức của mình. Lý do hai chữ “cộng sản” đã bị dân chúng ghét bỏ vì nó đã tàn sát dã man người Việt trong vụ “cộng sản dậy năm 1940”, mà sách của cộng sản gọi “Nam Kỳ khởi nghĩa”. Mặt trận “Việt Minh” là sự ngụy trang chủ nghĩa dân tộc, bắt chước tổ chức “Mặt trận dân tộc” tung khẩu hiệu “Kháng Nhựt cứu nước”, thì mục đích chánh của nó không phải đánh Nhựt, mà chỉ làm tiêu hao lực lượng của chính phủ Quốc Dân Đảng, đồng thời khuếch trương lực lượng của riêng ông ta. Theo cách đó, ông Hồ lập “Mặt trận Việt Minh”, kêu gọi đoàn kết chống Pháp, nhưng mục tiêu thật sự của nó nhằm phân hóa hàng ngũ của phe quốc gia, để tiêu diệt họ. Khi mặt trận “Việt Minh” ra đời rồi, ông Hồ cũng bắt chước phương pháp của Trung Cộng để tiến hành:

– Cho cán bộ thụ huấn về chánh trị ở Tỉnh Tây làm nòng cốt.

– Củng cố và phát triển căn cứ địa.

Ông nói: “Muốn củng cố thì phải lấy huấn luyện chính trị làm cơ bản. Muốn phát triển phải tuyên truyền. Trong chế độ cộng sản, sự tuyên truyền (lừa bịp) là quốc sách hàng đầu….Khi chính phủ lâm thời tự phong đầu tiên trong rừng Thái Nguyên, ông Hồ có lập Bộ Tuyên Truyền, giao cho Trần Huy Liệu làm Bộ Trưởng. Cách tổ chức “chiến khu” thời kháng Pháp là bắt chước phương thức của Quốc Dân Đảng Trung Hoa thời kháng Nhựt. Hai chữ “chiến khu” thời kháng chiến như có ma lực, quyến rũ nhờ cách tuyên truyền qua các bài hát thịnh hành lúc đó:

“Chiều nay nhớ chiến khu,

“Trong rừng chiều….

Tôi chắc rằng quý vị ở tuổi cổ lai hi hôm nay, nhiều ngời còn nhớ bài hát rất được thanh niên ưa thích nầy. Chánh sách của Việt Minh gồm hai mặt: điểm và diện. Nói chỗ nầy nhằm tấn công chỗ khác. Nói thẳng mình là cộng sản, và muốn làm cách mạng vô sản thì phần đông dân chúng chán ghét, sẽ thất bại. ông phải “nói một đàng, làm một nẻo”. Muốn vậy phải học tập chính trị, nhồi sọ “chính nghĩa giai đoạn” cho mọi cán bộ. Cán bộ sẽ bảo đảm thi hành đúng đường lối và chánh sách của đảng đề ra. Trong sách “Hồ Chí Minh tại Trung Quốc”, tác giả Tưởng Vĩnh Kính có nhắc tới: “Ông Hồ tỉ dụ: “Cuộc vận động cách mạng (không phải kháng chiến giải phóng đất nước như họ đã tuyên truyền), giống như thủy triều lên. Các phần tử trung kiên giống như hàng cọc đóng xuống đất cát; khi thủy triều xuống, hàng cọc nầy sẽ chận giữ đất cát lại, không để cho trôi đi” (Sách đã dẫn, trang 210).

Phương pháp tuyên truyền của VC trước sau như một: trước hết dùng lời lẽ ngọt dịu để quyến rũ. Sau đó, tới giai đoạn làm áp lực, buộc thanh niên nam nữ gia nhập các tổ chức. Ai không theo bị gán tội “Việt gian” sẽ bị giết bất cứ lúc nào và tịch thu gia sản. Vì lẽ đó, thời kháng chiến chống Pháp, nhiều gia đình trung lưu phải bỏ vùng “giải phóng”, để ra vùng Pháp chiếm mới bảo toàn được sinh mạng, tuy bị mang tiếng phản bội.

Hồi mới về tuyên truyền lập các căn cứ du kích tại vùng của dân tộc Nùng, Thái đâu biết gì đến “độc lập” “tự do”. Họ chỉ biết có một điều “cơm no, áo ấm”, và cán bộ Việt Minh bảo họ cứ theo “Kê Hồ” tức có đủ hai thứ đó, thế thì nhiều người theo. Tuyên truyền với dân tộc thiểu số rất dễ dàng, và ông Hồ nhờ đó thành công bước đầu.

Chẳng những ông Hồ nhập nhằng giữa danh xưng các tổ chức có sẵn để lợi dụng, mà ông còn xâm nhập vào các tổ chức có trước, để lũng đoạn, phá hoại. Khi ở Liễu Châu (1942 – 44), ông Hồ tìm cách gia nhập “VN Cách Mạng Đồng Minh Hội” (lập 10 – 1942) để tìm viện trợ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng….Tuy nhiên, ông chỉ gia nhập với tư cách cá nhân, chớ không đem cái mặt trận Việt Minh của mình theo. Về chiến thuật này, ông Hồ từng nói với cán bộ: “Ta phải lợi dụng cơ hội đó mà gia nhập “VN Cách Mạng Đồng Minh Hội” để biến tổ chức của địch làm tổ chức của ta. Ta cũng lũng đoạn tổ chức của họ, khiến nó phân hóa”. Thủ đoạn nầy được ông Hồ áp dụng triệt để trong thời chiến tranh Quốc Cộng Nam Bắc 1954 – 75.

Sách lược của ông Hồ là bất luận phe phái nào, tổ chức nào, miễn có lợi cho quyền lợi riêng của đảng CS, thì ông không bao giờ bỏ qua. Ông lợi dụng triệt để, để tiến hành công tác riêng của đảng CS.

Vì không biết rõ tâm địa của Hồ Chí Minh, nhiều trí thức, đảng phải quốc gia chỉ trích ông ta “trước ở hải ngoại thì cùng chung tranh đấu giành độc lập, nay về nước thì phản bội”. Thật sự, chủ trương của ông Hồ chỉ giả vờ “đoàn kết”, thế thôi, ông Hồ “đoàn kết cuội”, để lừa dối họ, chớ đâu có thiết tha gì đến độc lập!

Nỗi ưu tư lớn nhứt của ông hồ là làm sao nắm chính quyền hợp pháp. Cướp chính quyền tháng 8 – 1945, chỉ có giá trị bằng sức mạnh, nhưng thiếu tư cách pháp lý để quốc tế nhìn nhận. Ông cần tư cách ấy, để kết tội những kẻ chống đối bằng những tội trạng bịa đặt, vu khống rồi tiêu diệt hoặc thủ tiêu. Sau đó mượn chánh nghĩa “Kháng chiến” giành độc lập để tiến hành cuộc cách mạng vô sản, để trở thành một nước xã hội chủ nghĩa, chư hầu của Nga, Tàu.

Nói tóm lại, thái độ của ông Hồ và đảng CS thay đổi như cái chong chóng: Khi thân Hoa, khi thân Mỹ, khi thân Pháp….có lúc lại biến tất cả thành kẻ thù. Lại có khi “liên hiệp” với các đảng quốc gia, nhứt cử nhứt động của ông ta, đều là những cử chỉ, thái độ giả trá. Mục đích của ông là làm sao cho Việt Minh cướp được chánh quyền. Khi có danh chánh ngôn thuận, tư cách chánh phủ hợp pháp, ông Hồ liền loại tất cả những ai không ở trong tổ chức Việt Minh. Sau khi bầu cử quốc hội cuội xong, ông Hồ, với tư cách chủ tịch nước, được quốc hội phê chuẩn, liền dùng mánh khóe, chụp mũ, vu cáo “những người quốc gia làm loạn”, giết người cướp của….rồi hạ lệnh cho bọn “tự vệ”, “cứu quốc” lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu. Mặt khác, ông Hồ cho liên tục mở các khóa huấn luyện chánh trị cho cán bộ, để làm cái nhân của Việt Minh CS. Lẽ ra. “kháng chiến”, một cuộc chiến tranh chống xâm lăng như dưới đời nhà Trần, nhà Lê, nó đâu cần “nhồi nhét” lý thuyết chánh trị vào đầu óc cán bộ, binh sĩ. Kháng chiến tự nó đã có chánh nghĩa, chớ không phải “có chánh nghĩa giai đoạn” như Việt Minh đề ra. Vai trò làm bình phong và cũng để lừa gạt dư luận của các trí thức như các ông Nguyễn Văn Huyên, Trần Đăng Khoa, Trần Thiện Lộc, Bùi Bằng Đoàn, Hoàng Minh Giám, Đặng Phúc Thông…. bị gạt bỏ, khi sự lừa bịp đã bị phơi bày. Hồi mới sang sảng kêu gọi, thúc giục toàn dân kháng chiến của ông Hồ, thanh niên cứ đinh ninh có một điều: “ta chiến đấu để đuổi quân thù ra khỏi đất nước, để nư?c nhà độc lập, rạng rỡ, quang vinh. Nào ngờ, cuộc kháng chiến cứ đi ngoằn ngoèo từng giai đoạn. Đó là “chỉnh huấn”. Đó là “rèn cán chỉnh quân”. Đó là “Cải cách ruộng đất”. Rồi phải học tập chỉ thị của đảng “đi theo cách mạng” (không còn kháng chiến nữa) là để cải tạo tư tưởng thối tha, để xưng đáng “là người của đảng, của xã hội mới”, chớ không phải kháng chiến để mong tới ngày độc lập như họ đã hứa, đã tuyên truyền mấy năm trước! Những cán bộ sau khi thụ huấn ở Tỉnh Tây về, trở thành những kẻ giảng dậy cho binh sĩ tân tuyển. Huấn luyện xong, cán bộ, binh sĩ trở thành “những kẻ bảo vệ quyền lãnh đạo của đảng”. Họ được đưa vào Nam, để thay thế các chức vụ then chốt mà những người có tài, có khả năng, được binh sĩ, dân chúng kính trọng nắm giữ…. Xin nhắc lại nỗi bận tâm duy nhứt của ông Hồ và đảng CS tức Việt Minh không phải là vấn đề “VN có sớm được độc lập hay không, mà là vấn đề bản thân Việt Min có thể đoạt thủ chánh quyền hay không” (sách đã dẫn, trang 357). Vì thế, khi Nhựt đầu hàng, các đảng quốc gia từ Trung Quốc kéo về, bị Việt Minh liên tục chận đánh và tiêu diệt dọc đường. Từ tháng 5 – 1945, Việt Minh cũng đổi thái độ từ thân ra thù với Trung Hoa Quốc Dân Đảng, vì sợ chánh phủ Tưởng Giới Thạch lãnh đạo, sẽ giúp người quốc gia “hãm Việt Minh vào thế bất lợi.”

Mở các khóa huấn luyện, ông Hồ bí mật cho phân loại thành phần xã hội những người đã theo Việt Minh để kháng chiến. Binh sĩ, cán bộ thuộc các gia đình tiểu tư sản, con cháu quan lại cũ, công chức thời Pháp, các gia đình điền chủ…. đều cảm thấy không còn chỗ đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa. Họ đã vì yêu nước mà theo Việt Minh, đã lập nhiều chiến công để Việt Minh nổi tiếng, bây giờ đến lúc “phải anh dũng hy sinh trong các trận đánh với Pháp”. Mỗi khi lâm trận, con em các gia đình tiểu tư sản bị dồn ra phía trước, làm bia đỡ đạn. Họ là những thành phần “phải xung phong trong chiến thuật biển người” của CS. Lợi dụng kẻ thù hy sinh cho đảng hưởng lợi là sách lược trước sau như một. Chánh sách nầy còn được tiếp diễn trong cuộc nội chiến Quốc Cộng (1954 – 75) và ngay cả tới ngày nay. Những người tị nạn CS, chạy thụt mạng trên biển Đông, bây giờ, trở thành “Việt kiều yêu nước”, đem tiền bạc, trí tuệ về “xây dựng quê hương”, tức vỗ béo cán bộ, đảng viên CS!

Từ khi Mặt Trận Việt Minh ra đời (5-1941) cho tới khi chiếm được chánh quyền (2-9-1945), đảng CS và bản thân ông Hồ, đều ngụy trang dưới hình thức chủ nghĩa dân tộc. Trong tiến trình khuếch trương lực lượng để cướp chính quyền, ông Hồ có quá nhiều kẻ thù: Pháp, Nhựt, Trung Hoa Quốc Dân Đảng, Mỹ…. và các đảng phái quốc gia. Ông Hồ quỷ quyệt dùng nhiều thủ đoạn nay bạn, mai thù, sớm đầu tối đánh, khi thân, khi chống…. Ông còn giả vờ hợp tác với các đảng quốc gia trong “chánh phủ liên hiệp”, để phá hoại và tiêu diệt đối phương. Đời ông chỉ có hai nước mà thủy chung ông vẫn tôn thờ, sùng bái là Liên Xô, Trung Quốc. Tuy nhiên, lãnh tụ các nước ấy khinh bỉ ông ra mặt. Năm 1949, Mao Trạch Đông là chủ tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ông Hồ cũng là chủ tịch nước Việt Nam 4 năm rồi. Vậy mà ông Hồ cầm đầu một phái đoàn đi xin viện trợ, phải băng rừng lội suối đến biên giới. Nhà cầm quyền Trung Cộng dùng một chiếc xe hàng (truck) chở phái đoàn lên Quảng Tây, bất chấp nghi thức ngoại giao không kèn, không trống. Sau đó, ông đi Liên Xô. Ông Lê Phát, thành viên của phái đoàn nầy kể lại: “….Sau nầy khi xem cuốn hồi ký “Memoires Inedites” của Nikita Kroutchev do nhà xuất bản Pierre Belfont dịch và in ở Paris, tôi biết thêm về chuyến “vi hành đầy gian khổ của ông Hồ. Tác giả (Nikita Kroutchev kể lại:

“Tôi nhớ Hồ Chí Minh đã đến Moscou để xin viện trợ vật chất và vũ khí để chống Pháp. Staline không tin vào cuộc chiến ở VN, nên đối xử với ông Hồ một cách nhục mạ. Tôi không thấy ở ông ta chút cảm tình nào đối với một người CS như Hồ……”Đáng lẽ phải kính trọng, biết ơn…. Tôi còn nhớ một việc khác xúc phạm đến Hồ. Staline nói với chúng tôi là Hồ xin được đón với tư cách là chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Staline không chấp nhận, đã trả lời Hồ: ” Cơ hội ấy đã qua rồi. Ông đến Moscou không ai biết, không thể thông báo việc ông đến được”…….Hồ chỉ đề nghị Staline cho một máy bay và chuẩn bị diễn văn đón Hồ, có thể từ trên máy bay xuống, để được đón như chủ tịch nước. Staline từ chối và ông ta cười khoái trá khi kể cho chúng tôi nghe việc ấy……” (Hồi ký Lê Phát, Quê Mẹ, số 140).

Chúng tôi xin mượn lời kết của Tưởng Vĩnh Kính: “Nhằm tranh thủ quần chúng, ông (Hồ) dựng cờ chống Pháp và tranh đấu độc lập dân tộc, trong khi đó, ông lại bán rẻ và bài trừ các đảng phái chống Pháp và tranh thủ độc lập dân tộc chân chính khác. Khi cần thiết, ông thà từ bỏ nhu cầu độc lập, để mưu cầu sự sinh tồn và phát triển cho bản thân ông. Ông cũng tuyên truyền chống Nhựt, nhưng lại kết hợp và lợi dụng các thế lực thân Nhựt, thậm chí còn cùng với Nhựt hành động song hành, hiệp trợ nhau chống lại kẻ địch khác, chỉ cốt mưu cầu bành trướng thế lực của bản thân ông. Ông cũng bày tỏ thái độ thân Hoa, nhưng chỉ là lợi dụng tổ chức thân Hoa nầy, để bài trừ hoặc tiêu diệt các đảng phái thân Hoa khác. Lúc cần thiết, ông lại thực thi các hành động bài Hoa để đạt mục đích khác. Ông tuyệt đối cần ngoại viện, nhưng ông không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào nhận ngoại viện. Ông cũng cần tranh thủ quần chúng, nhưng không muốn cho cá nhân hoặc đảng phái nào khác tranh thủ quần chúng. Ông lớn mạnh không phải từ những hô hào về chủ nghĩa cộng sản. ông đã dùng rất nhiều tên giả, lấy chủ nghĩa dân tộc để ngụy trang, lợi dụng tất cả các cơ hội có lợi, để bảo tồn và phát triển lực lượng bản thân ông. Ông cũng lợi dụng những nhược điểm của đối phương để làm cho lực lượng đối phương yếu đi, hoặc bị tiêu diệt hẳn… Bởi vậy, mỗi một hành động của ông đều cho thấy ông là một người theo cơ hội chủ nghĩa, chỉ biết lấy sự sinh tồn, lợi hại của bản thân mình làm mục tiêu chính.” (Sách đã dẫn, trang 373).

Hứa Hoành

Đóng cửa chính phủ, nước Mỹ đi về đâu?

Hậu quả của việc chính quyền Hoa Kỳ ngừng hoạt động—Tổng hợp

Ðài Tưởng niệm Lincoln ở Washington đóng cửa, ngày 1/10/2013.

Hai đảng đổ lỗi nhau khi chính phủ Mỹ ngừng hoạt động

Tổng thống thuộc đảng Dân chủ của Mỹ chỉ trích các thành viên của đảng Cộng hòa tại Hạ viện “trốn tránh trách nhiệm” khiến chính phủ Mỹ phải đóng cửa, trong khi đảng Cộng hòa cho biết họ đang nỗ lực để tìm hướng giải quyết chung.

USA Todaydẫn lời Tổng thống Barack Obama cho rằng các nghị sĩ của đảng Cộng hòa phải chịu trách nhiệm về việc chính phủ Mỹ ngừng hoạt động, đồng thời khẳng định kế hoạch về y tế của ông sẽ “tiếp tục thực hiện”.

Cuối ngày, tổng thống Mỹ có cuộc nói chuyện điện thoại với Chủ tịch Hạ viện John Boehner cùng một số nhà lập pháp hàng đầu khác nhưng không tìm được hướng giải quyết bế tắc.

“Quốc hội có hai trách nhiệm, thông qua một dự luật về nâng trần nợ ngân sách và giải quyết các khoản nợ của chính phủ. Đảng Cộng hòa Mỹ đang trốn tránh cả hai việc đó”, ông Obama nói.

Hạ viện Mỹ nhanh chóng có sự đáp trả sau phát biểu của tổng thống Mỹ. Telegraph dẫn lời ông Boehner cho biết các thành viên đảng Cộng hòa trong Hạ viện không hề có ý định làm chính phủ Mỹ phải đóng cửa. “Chúng tôi đã bỏ phiếu để chính phủ Mỹ tiếp tục hoạt động”, ông nói.

John Boehner còn kêu gọi “sự công bằng” cho tất cả công dân Mỹ khi đạo luật chăm sóc sức khỏe (Obamacare) được thực hiện. Ông cho rằng Thượng viện và Hạ viện Mỹ cần ngồi lại với nhau trong một cuộc họp để xóa bỏ sự khác biệt.

Nancy Pelosi, lãnh đạo phe thiểu số của đảng Dân chủ trong Hạ viện, lại cho biết việc buộc chính phủ Mỹ đóng cửa nằm trong kế hoạch của đảng Cộng hòa và là sản phẩm của hệ tư tưởng chống chính phủ trong đảng này.

“Đó là một sự bất đồng không cần thiết, làm thổi bay nước Mỹ”, Harry Reid, lãnh đạo phe đa số ở Thượng viện cho biết khi thời hạn đêm ngày 30/9 đã trôi qua được 2 phút.

Người dân Mỹ đã có nhiều phản ứng khác nhau sau khi biết tin Quốc hội thất bại trong việc đưa ra ý kiến thống nhất chung, buộc chính phủ Mỹ phải tạm ngừng hoạt động.

“Họ nên cùng nhau thỏa hiệp. Tuy nhiên, tôi cảm thấy thất vọng vì họ không có đủ khả năng làm điều đó”, Emily Enfinger, một người thích đi du lịch nói sau khi biết tin tượng Nữ thần Tự Do buộc phải đóng cửa.

“Hóa đơn hàng tháng, học phí con gái. Tôi còn nhiều vấn đề cần giải quyết bằng tiền lương của mình”, ông Smith, một bảo vệ 23 tuổi ở Công viên lịch sử di sản hàng không quốc gia Dayton, bang Ohio cho biết. “Tôi đang rối loạn và cũng chỉ biết chờ đợi như bao người khác”.

Nguyễn Tâm

Mỹ: Hết ngân sách, 800.000 công chức nghỉ việc không lương (RFI, 01/2013)

Nước Mỹ gần như tê liệt. Những lời kêu gọi của Tổng thống Barack Obama không làm thay đổi tình thế. Quốc hội lưỡng viện Hoa Kỳ không đạt được đồng thuận về Đạo luật Tài chính cho phép tránh được cái gọi là « bức tường ngân sách ». Các cuộc thương lượng vẫn tiếp tục, nhưng trong khi chờ đợi, nước Mỹ phải hoạt động chậm lại do không còn tiền. Khoảng 800 000 công chức buộc phải nghỉ việc không lương.

Từ Washington, thông tín viên Anne-Marie Capomaccio tường trình  :

“Trong những giờ qua, các văn bản được trao đổi liên tục giữa Hạ viện và Thượng viện. Nhưng trên thực tế, các cuộc thương lượng giữa các nghị sĩ không hề tiến triển. Hạ viện chuyển tới Thượng viện Đạo luật tài chính đẩy lùi một năm việc thực hiện cải cách bảo hiểm xã hội. Các văn bản này, sau khi được sửa đổi và tái lập lịch trình thực hiện cải cách bảo hiểm xã hội, gọi là « Obamacare », được Thượng viện gửi trả lại Hạ viện. Có thể gọi đây là cuộc đối thoại giữa những người điếc. Do Đạo luật tài chính không được thông qua, một phần ba công chức rơi vào tình trạng thất nghiệp kỹ thuật kể từ hôm nay, 01/10/2013.

Các lời kêu gọi của Tổng thống Barack Obama về trách nhiệm của các nghị sĩ cũng như các tiếp xúc của ông với các lãnh đạo đảng Cộng Hòa không làm thay đổi được tình thế, cho dù, theo các cuộc thăm dò dư luận do các phương tiện truyền thông thực hiện, người dân Mỹ mệt mỏi về cuộc khủng hoảng này và đa số quy trách nhiệm cho đảng Cộng Hòa về việc đóng cửa các cơ quan Nhà nước.

Tuy nhiên, bên trong đảng Cộng Hòa đã bắt đầu có những thay đổi. Bởi vì giờ đây, khủng hoảng đã xảy ra và không ai chịu nhượng bộ cả, các dân biểu do vậy phải thương lượng với nhau. Mọi việc đều có thể. Bên trong đảng Cộng hòa , vào đêm qua, đã có một sự nổi dậy của những chính trị gia ôn hòa, họ đã bỏ phiếu chống lại đảng của mình để tránh một tìnht trạng thất nghiệp kỹ thuật đối với các công chức. Nhưng họ không đủ đông, thiếu mất vài phiếu. Điều này có nghĩa là một số chính trị gia bắt đầu chán ngán cuộc chiến chống Đạo luật về bảo hiểm xã hội – Obamacare, được bỏ phiếu thông qua cách nay ba năm.

Bởi vì, các nhà phân tích đều đồng ý với nhau trên một điểm  : Cuộc khủng hoảng này có hại cho đảng Cộng Hòa. Được hưởng lợi từ cuộc khủng hoảng này là các dân biểu cực hữu, thuộc Tea Party. Chính đảng cực đoan này chống lại mọi sự can thiệp của Nhà nước và bác bỏ thẳng thừng mọi đề xuất, được đánh giá là chính đáng, của Tổng thống Barack Obama.

Lãnh đạo Tea Party Amy Kremer tuyên bố  : Luật cải cách bảo hiểm xã hội đã được thông qua mà không có lấy một phiếu ủng hộ của đảng Cộng Hòa. Tôi nghĩ là kết quả cuộc bầu cử tổng thống lẽ ra sẽ khác. Đúng là ông Obama đã tái đắc cử nhưng Hạ viện đã được bầu lại, với đa số thuộc đảng bảo thủ. Bà Kremer còn tố cáo Thượng nghị sĩ Harry Reid, thuộc đảng Dân Chủ là muốn đóng cửa các cơ quan của Nhà nước bởi vì ông ta nghĩ rằng đó sẽ là một thắng lợi đối với đảng Dân Chủ trong năm 2014.

Đối với các nghị sĩ ôn hòa thuộc đảng Cộng Hòa, họ có nguy cơ bị mất ghế trong cuộc bầu cử vào năm tới.
Trong khi chờ đợi các dân biểu đạt được thỏa thuận, 800 000 công chức Mỹ bị thất nghiệp kỹ thuật. Điều đó có nghĩa là nhiều lĩnh vực phải hoạt động chậm lại hoặc không hoạt động gì hết.

Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA gần như bị đóng cửa  : 97% trong tổng số 18 000 nhân viên buộc phải ở nhà. Đây cũng là trường hợp các công chức làm việc trong Cơ quan bảo vệ môi trường  ; hậu quả là các khuôn viên quốc gia phải đóng cửa từ 01/10/2013.

Các lĩnh vực Y tế, Quốc phòng bị mất 50% nhân viên. Trong các bệnh viện, chỉ có những nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân còn làm việc. Trong lĩnh vực Quốc phòng, tất cả những gì liên quan đến an ninh quốc gia thì vẫn hoạt động, như cuộc chiến chống khủng bố. Các binh sĩ vẫn ở vị trí của mình, các hoạt động kiểm tra hải quan không bị ảnh hưởng.

Những công chức nói trên tuy vẫn làm việc, nhưng lương của họ sẽ bị trả chậm, trong khi đó, số nhân viên được coi là « không cần thiết » thì phải nghỉ không ăn lương.

Cuộc khủng hoảng này gây ra những rối loạn trong tổ chức công việc, nhưng việc đóng cửa các cơ quan của Nhà nước gây tốn kém khoảng 200 triệu đô la mỗi ngày cho nước Mỹ”.

Anne-Marie Capomaccio

Viễn cảnh nước Mỹ khi chính phủ đóng cửa

Tượng Nữ thần Tự do, biểu tượng của New York và nước Mỹ, sẽ đóng cửa với khách tham quan, trong khi hầu như toàn bộ Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ ngừng hoạt động khi chính phủ Mỹ đóng cửa.

Dưới đây là viễn cảnh của nước Mỹ khi chính phủ ngừng một phần từ hôm nay do không được bơm tiền hoạt động.

Công chức

Tổng thống Obama hôm qua cho biết hàng trăm nghìn nhân viên chính phủ làm việc trên khắp thế giới sẽ thấy bị chậm lương do chính phủ đóng cửa, và thêm hàng trăm nghìn người nữa sẽ phải nghỉ phép vô thời hạn.

Theo dự tính của hãng tin Reuters, sẽ có tới một triệu nhân viên liên bang có thể phải đối mặt với cảnh nghỉ việc không lương từ ngày 1/10.

“Thứ sẽ không được chi trả tất nhiên sẽ là các hóa đơn, tài sản thế chấp, tiền học, tiền xe của họ. Họ sẽ bị chịu thiệt hại nặng nề, và kết quả là tất cả chúng ta sẽ bị ảnh hưởng nặng nếu Quốc hội quyết định đóng cửa chính phủ của người dân”, Obama nói.

Văn phòng Ngân sách Quốc hội tuyên bố “sẽ đóng cửa trên quy mô lớn” nếu chính phủ không còn tiền. Hầu hết các nhân viên Cơ quan Bảo vệ Môi sinh và Ủy ban Giao dịch hàng hóa giao sau cũng sẽ bị nghỉ việc không lương.

Giao thông hàng không

Các nhân viên kiểm soát không lưu liên bang vẫn làm việc bình thường ; các bộ phận kiểm tra an ninh sân bay cũng vậy. Thanh tra liên bang sẽ làm việc để đảm bảo các quy định an toàn bay.

Di chuyển quốc tế

Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ tiếp tục xử lý đơn xin visa từ nước ngoài và đơn xin cấp hộ chiếu Mỹ, bởi chi phí làm đơn dùng để trang trải cho các dịch vụ này. Các đại sứ quán, lãnh sự ở nước ngoài sẽ tiếp tục cung cấp dịch vụ cho công dân Mỹ. Tuy nhiên, bộ tuần này cảnh báo rằng hoạt động lãnh sự tại Mỹ và nước ngoài sẽ chỉ mở chừng nào “còn có đủ tiền hỗ trợ hoạt động”.

Từ 20.000-30.000 đơn xin visa đã không được xử lý mỗi ngày trong suốt hơn hai chục ngày chính phủ ngừng hoạt động vào giữa những năm 1990, theo cơ quan nghiên cứu của Quốc hội. Gần 200.000 đơn xin cấp hộ chiếu Mỹ cũng không được xử lý, gây thất thoát hàng triệu USD cho ngành công nghiệp du lịch và hàng không Mỹ, báo cáo cho hay.

Tòa án liên bang

Tòa án liên bang thông thường sẽ tiếp tục hoạt động trong vòng tầm10 ngày làm việc sau khi việc đóng cửa chính phủ bắt đầu, có thể cho tới khoảng giữa tháng 10. Nếu việc đóng cửa tiếp diễn, cơ quan tư pháp có thể sẽ phải cho nghỉ phép không lương đối với những nhân viên làm những việc không được coi là thiết yếu. Nhưng các vụ án sẽ vẫn được thụ lý.

Bộ Tư pháp thông báo họ sẽ đình chỉ nhiều vụ việc dân sự, nhưng những vụ án hình sự sẽ tiếp tục bình thường.

Giải trí

Tất cả công viên quốc gia nhiều khả năng sẽ đóng cửa, bên cạnh các bảo tàng Smithsonian, Vườn thú Quốc gia ở Washington. Những người đến công viên để cắm trại qua đêm hay sử dụng cơ sở vật chất công viên sẽ được cho 48 giờ để sắp xếp và rời công viên. Các trung tâm tham quan khác sẽ bị đóng cửa còn có : Tượng Nữ thần Tự do và Đảo Ellis ở New York, Hội trường Độc lập ở Philadelphia, đảo Alcatraz gần San Franciso và Đài tưởng niệm Washington.

Số nhân viên sẽ ở mức “tối thiểu nhằm thực hiện các chức năng thiết yếu”, theo Bộ Nội vụ. Điều này đồng nghĩa với việc có thể tới 70.000 nhân viên sẽ bị phải nghỉ việc không lương.

Việc đóng cửa 368 địa điểm công viên quốc gia làm mất đi 7 triệu khách tham quan trong vụ đóng cửa năm 1995 và 1996. Còn việc đóng cửa các công viên, tượng đài quốc gia dẫn thất thu hàng triệu USD cho cộng đồng địa phương.

Y tế

Các bệnh nhân mới sẽ không được tiếp nhận vào nghiên cứu y học tại Viện Y tế Quốc gia (NIH), nhưng những bệnh nhân hiện có sẽ tiếp tục được chăm sóc. Hoạt động nghiên cứu y học tại NIH sẽ bị đình chỉ và một số nghiên cứu sẽ bị trì hoãn. Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Bệnh dịch cũng sẽ bị hạn chế mạnh trong việc phát hiện và nghiên cứu những nạn dịch, từ cúm tới virus MERS bí ẩn từ Trung Đông.

An toàn thực phẩm

Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ sẽ xử lý những khiếu nại có nguy cơ cao và có khả năng đình chỉ hầu hết những cuộc thanh tra định kỳ. Công tác thanh tra thịt liên bang dự kiến diễn ra như thường lệ.

Thuế

Người Mỹ sẽ vẫn phải đóng thuế và khai thuế, nhưng Sở Thuế Vụ nói họ sẽ đình chỉ tất cả hoạt động kiểm toán. Có thắc mắc ? Rất tiếc, dịch vụ dành cho người nộp thuế, trong đó có đường dây giải đáp câu hỏi cũng sẽ đóng cửa.

Nhiều người đi vay thu nhập từ thấp tới trung bình, và những người mua nhà lần đầu muốn xin một khoản thế chấp có sự hỗ trợ của chính phủ sẽ bị trì hoãn trong quá trình đóng cửa. Cơ quan Quản lý Nhà Liên bang, vốn đảm bảo 30% số thế chấp nhà, sẽ không bảo lãnh phát hành hay chấp nhận bất cứ khoản vay mới này trong quá trình đóng cửa. Các hoạt động cho vay do chính phủ hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ cũng sẽ bị đình chỉ.

Khoa học

Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) “sẽ đóng cửa gần như toàn bộ”, tổng thống Mỹ nói. Chỉ có những nhân viên tại Trung tâm Điều khiển bay ở Houston và một số nơi khác sẽ tiếp tục làm việc để hỗ trợ trạm Vũ trụ Quốc tế, nơi hai phi hành gia Mỹ và 4 người khác đang được triển khai.

Dịch vụ Thời tiết Quốc gia Mỹ sẽ tiếp tục dự báo thời tiết và phát cảnh báo, còn Trung tâm Bão quốc gia vẫn sẽ theo dõi bão. Tuy nhiên, hoạt động khoa học tại Cục Khảo sát Địa chất Mỹ sẽ bị đình chỉ.

Nhà tù

Tất cả 116 nhà tù liên bang vẫn mở cửa, và kiện tụng hình sự vẫn diễn ra. Tuy nhiên, tiền lương dành cho quản tù có thể sẽ bị chậm.

Quân đội

Tổng thống hôm qua ký luật đảm bảo rằng 1,4 triệu binh sĩ đang làm nhiệm vụ sẽ vẫn được trả lương trong giai đoạn chính phủ đóng cửa.

“Quốc hội đã thông qua, và tôi đang ký thành luật, đảm bảo rằng các bạn nhận lương đúng thời hạn. Và chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc để giải quyết bất cứ tác động nào mà vụ đóng cửa này gây ra đối với các bạn và gia đình”, Obama nói trong một thông điệp video dành cho quân đội Mỹ và gia đình họ.

Tuy nhiên khoảng một nửa số nhân viên dân sự của Lầu Năm Góc sẽ được cho nghỉ việc không lương.

Trọng Giáp

Tài chính thế giới phản ứng trái chiều với tin xấu từ Mỹ

Việc Mỹ tạm đóng cửa chính phủ chưa gây “sóng gió” đáng kể trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, đồng đôla đã giảm nhẹ và giá vàng đi lên.

Tin Quốc hội Mỹ không tin được tiếng nói chung trong chính sách y tế (Obamacare) khiến chính phủ nước này đóng cửa gây ảnh hưởng trái chiều lên thị trường tài chính quốc tế, sau ít giờ được công bố. Tính đến giữa chiều nay (1/10) theo giờ Hà Nội, đôla Mỹ đã giảm giá 0,1% so với các đồng tiền trong rổ tiền tệ phổ biến, xuống mức thấp nhất trong vòng 7 tháng.

Trên thị trường hàng hóa, vàng tăng 0,1%, lên mức 1.328,6 USD một ounce. Trước đó, kim loại quý đã tăng liền 7,6% trong quý III, giúp đồ thị đảo chiều sau 3 quý giảm trước đó. Ngược lại, giá dầu thô Brent hạ 0,5%, ở ngưỡng 107,8 USD một thùng sau khi tăng 6% trong 3 tháng.

Trên thị trường chứng khoán, do các thị trường tại Mỹ và châu Âu chưa bước sang ngày 1/10 nên diễn biến chủ yếu được ghi nhận tại châu Á. Chỉ số MSCI Châu Á Thái Bình Dương tăng 0,4%, đạt 139,05 điểm vào giữa phiên tại Tokyo. Angus Gluskie, Giám đốc đầu tư của quỹ quản lý tài sản White Funds đánh giá : “Các số liệu về kinh tế tại châu Á đã tốt hơn và điều này đem lại cho các nhà đầu tư chút gì đó lạc quan”.

Chỉ số Nikkei 225 của Nhật cũng tăng 0,2% lên gần 14.485 điểm, Kospi của Hàn Quốc tăng 0,1% và Straits Time (Singapore) thêm gần 0,5%, Taiex (Đài Loan – Trung Quốc) tăng 0,16%… Trong khi đó, ASX của Australia dao động liên tục giữa tăng và giảm. Riêng thị trường Hong Kong và Trung Quốc đang đóng cửa nghỉ Quốc khánh 1/10.

Dường như quên đi vấn đề của Mỹ, các nhà đầu tư tại châu Á đang đợi chờ tuyên bố của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe về gói kích cầu kinh tế và kế hoạch tăng thuế tiêu dùng tại đất nước Mặt trời mọc.

Đây là lần đầu tiên sau 17 năm nhiều cơ quan liên bang Mỹ phải ngừng hoạt động khi hai viện không thông qua được ngân sách. Hệ quả sáng ngày 1/10 (theo giờ Mỹ) sẽ có khoảng 800.000 lao động phải nghỉ việc vô thời hạn, trong đó ước tính 400.000 người đang làm việc trong Bộ Quốc phòng, 30.000 người thuộc Bộ Thương mại và hàng chục nghìn nhân lực thuộc các Bộ khác. Chỉ có 3 bộ phận vẫn hoạt động bình thường là điều phối không lưu, an ninh quốc phòng, năng lượng và vũ khí hạt nhân

Khánh Linh

Đọc Hồi Ký Của Một Vị Niên Trưởng—Nguyên Thiều

Cuốn Hồi Ký này thuật lại những sự thực hiển nhiên trong Chiến Tranh Việt Nam, để hậu thuẫn cho chính nghĩa của phe Quốc Gia ở Miền Nam, để khẳng định đức hạnh và danh dự của quân nhân VNCH và Hoa Kỳ (và Đồng Minh) đã chiến đấu cho Tự Do của Miền Nam. Cựu chiến sĩ Mỹ và VNCH nên đọc và lưu lại cho con cháu. Đây là cuốn sách đầu tiên của một quân nhân Việt Nam viết bằng tiếng Anh dài 598 trang về Chiến Tranh Việt Nam.

Tôi không là nhà báo hay văn sĩ, lại càng không phải là người điểm sách. Với tầm hiểu biết của một độc giả bình thường, xin được nêu ra vài nhận xét nhỏvà cũng nhân đó giới thiệu về quyển sách mà một vị niên trưởng đồng môn của tôi đã viết. Độ dày của sách khiến tôi tò mò vì xưa nay ít có nhà xuất bản Mỹ nào chịu in những quyển sách dày như vậy. Tò mò của tôi đã nhanh chóng chuyển thành ngạc nhiên sau khi đọc qua những mẩu chuyện “thật thà như đếm” mà lại lôi cuốn một cách nhẹ nhàng kỳ thú chứa đựng trong đó. Tôi dán theo những nhận xét của tôi vài tấm hình; quý vị sẽ không thể thấy được hình ảnh nếu đọc message trong Yahoo Group (do hạn chế html của new version). Hình sẽ chỉ hiển thị nếu được đọc trong inbox cá nhân hoặc Google Group. Tôi rất xin lỗi về sự bất tiện này.

Viện Đại Học Indiana cho ra mắt một quyển sách có nhan đề về Chiến Tranh Việt Nam vào mùa xuân năm 2012. Không kể trang bìa, 15 trang mục lục, dẫn nhập và giới thiệu, sách dầy 598 trang, in trên khổ giấy 6X9, bìa cứng, được viết theo thể hồi ký, không viết theo mẫu mực sưu tầm nghiên cứu. Sách gồm 6 phần, 30 chương với tựa đề: Nationalist in the Viet Nam Wars—the Memoirs of a Victim turned Soldier. Tạm dịch là, Người Quốc Gia trong Chiến Tranh Việt Nam—Hồi Ký của một Nạn Nhân trở thành Chiến Binh.

 
Khi tự nói về mình, tác giả một mực khiêm tốn cho rằng, ông là “nobody”; nhưng đọc qua vài chương, bị cuốn hút vào những câu chuyện sôi nổi và nhận chân được giá trị của cuốn sách, độc giả chắc chắn hiểu rằng—người viết chẳng phải là “nobody” mà phải là “somebody”. Sách tường thuật lại những biến cố, những kinh nghiệm bản thân và thực tế cuộc đời trong chiến tranh mà tác giả đã trải qua—hoặc biết được và tin chắc là sự thật từ đầu thập niên 1940 khi ông còn tấm bé, cho đến tháng 10 năm 1990 khi ông cùng gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ. Ngay sau khi xuất bản, quyển sách đã được quảng bá và đón nhận rộng rãi; thế nhưng, ngay tại địa phương nơi tác giả cư ngụ, có vẻ như—vẫn không mấy người biết đến. Người ta có thể tìm được phần nhận xét, điểm sách, giới thiệu… của nhiều nhân vật tiếng tăm đã đọc quyển sách này và viết ra những nhận xét của họ như:
 
– Đại Tá Gregory Fontenot, Tiến Sĩ–Giám Đốc University of Foreign Military and Cultural Studies (Army magazine, trang 65):
…”This book is a first-rate contribution to correcting the record. Readers who approach writer with their hackles well down will find a new and refreshing view of what happened in Vietnam from the end of WWII through 1975″…
– Cố Vấn Daniel J. Cragg, Luật Sư–Chánh Án Toà Thượng Thẩm: 
…”Never once in this long book does he refer to Saigon as “Ho Chi Minh City.” He is still a Vietnamese patriot although now fate has decreed that one day his bones will rest in foreign soil. For the people of his generation that may be the greatest tragedy of the Vietnam War”.
 
– Luật Sư Đoàn Thanh Liêm:
…”Người viết rất hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn hồi ký rất trung thục và lý thú này của vị cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là một người có tấm lòng yêu nước nồng nhiệt chân thành. Sau cùng, người viết xin được bày tỏ lòng biết ơn và quý trọng chân thực đối với tác giả vì sự đóng góp thật quý báu này”.
 
– Nhà Văn Mặc Giao:
…”Đây là một cuốn sách rất đáng đọc, đáng được giới thiệu cho bạn bè ngoại quốc, nhất là cho những người trẻ Việt Nam để họ hiểu được, thấy được những lầm than, nỗ lực và hy sinh của thế hệ cha anh cho đất nước và cho chính họ”. 
 
– Thiếu Tướng David T. Zabecki:
…”An important book. One of the most compelling and thoughtful ARVN (Army of the Republic of Viet Nam) accounts I have ever read…. It is an unblinking, unflinching account… a very honest book, the author’s integrity comes through on every page.” 
 
Giáo Sư Williamson Murray:
“The study of the Vietnam wars is too often a cottage industry of Americans, many of whom seem to believe the war only began with increasing U.S. involvement in the early 1960s. Admittedly, interesting work from the North Vietnamese perspective, largely in literary form, has begun to emerge, but the perspective of those who fought for the Republic of Vietnam has largely gone unreported. That is why this is an important book”. 
 
– Trung Tướng Lawson Magruder:
“Of all the many books I have read about the Vietnam War, this one pays the ultimate tribute to the incredible sacrifices made by the courageous soldiers and people of South Vietnam. Through the eyes of a true patriot, the history and decisive operations of the conflict are reviewed from the unique perspective of a victim turned soldier. I have known the author for nearly four decades and can attest to his personal courage, his passion for life, and his intense love for his country. This book is a must read for those who want the complete picture and whole truth about a tragic war that consumed the world for over two decades.”
 
– Giáo Sư Olga Dror:
“His work provides us with a unique voice from the South Vietnamese side of the conflict in Vietnam. But it does much more than this. The author skillfully entwines memories of his and his family’s life with the broader picture of the events taking place in his country. As his book is unique, so has been his life”. 
 
– Đại Tá John Swindells:
“This detailed history of the life of a Vietnamese officer offers the best understanding of the wars in Southeast Asia that I have found. Even after two year-long tours in country, I learned much from this book about the history of the region and the culture of the Vietnamese people. No one who has not read this book can claim to understand what happened. As an American officer, some of the detail is quite painful to me. Nevertheless, I strongly recommend it”. 
 
Người Việt có câu: “Bụt Chùa nhà không thiêng”. Người Mỹ bảo rằng: “No man is a prophet in his own land”. Người Pháp cũng nói: “Nul n’est prophète en son pays”. Cả 3 câu nói Việt–Mỹ–Pháp vừa kể nếu đem áp dụng vào trường hợp của quyển Nationalist in the Viet Nam Wars xem chừng cũng có vài phần thích hợp. 
 
Tác giả quyển sách là Niên Trưởng Nguyễn Công Luận—cựu sinh viên sĩ quan Khoá 12 của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Ông là một cây viết từng cộng tác với nhiều tờ báo tại Sài Gòn từ trước năm 1975—(kể cả tờ Diều Hâu) dưới bút hiệu Lữ Tuấn. Được biết, cùng với 4 học giả Hoa Kỳ khác—mà niên trưởng là nhân vật số 2, ông đã cộng tác với Giáo Sư—Nhà Sử Học Spencer C. Tucker trong vai trò associate editor soạn thảo pho sách Encyclopedia of the Vietnam War xuất bản hồi năm 1998 (ABC-CLIO). Hiện nay, niên trưởng cũng viết cho đặc san Đa Hiệu của Tổng Hội Võ Bị và một vài tờ nhật báo, tuần báo tại California.   
 
Nội dung Nationalist in the Viet Nam Wars thuật lại các biến cố đáng kể xảy ra đối với cuộc đời của một người Việt Nam bình thường điển hình—tiêu biểu cho thế hệ của tác giả trong hai cuộc chiến tranh 1946-1954 và 1955-1975 tại Việt Nam, những trận giao tranh ác liệt, những cảnh giết chóc tàn bạo, những hành hạ và tù đầy thảm khốc, những tấm lòng nhân ái hay tàn ác trong chiến tranh, về con người trước súng đạn và thù hận. Sách này không phải là tài liệu nghiên cứu, mà là hồi ký có góc nhìn trung thực từ những vị trí thấp bé của người dân, người lính, không phải từ vị trí của các nhân vật quyền lực luận bàn về chuyện quốc gia đại sự.
  
Toàn bộ cuốn sách được trình bầy như một quyển truyện—quyển tiểu sử viết về một cá nhân theo diễn tiến thời gian song song với lịch sử quốc gia, mà trong đó bao trùm những sự kiện và các biến cố của dân tộc về mọi mặt văn hóa, chính trị, xã hội—khi chiến tranh và lúc thanh bình. Những vấn đề được nêu lên trong sách rất đa dạng, người đọc khó có thể liệt kê hết vào nội dung của vài lời nhận xét ngắn ngủi. Hầu như vấn đề nào có liên quan đến chiến tranh, đặc biệt là những sự thật đã bị Việt cộng, giới truyền thông Mỹ và ngoại quốc xuyên tạc, vu cáo đều được ghi lại.
 
Tác giả chú trọng nhiều đến những biến cố hoặc sự kiện mà đa số người ngoại quốc và một số người Việt Nam không biết, hoặc biết nhưng không quan tâm đến tác động và hậu quả. Rất nhiều điều mà người Việt Nam ai cũng rõ như một cộng một là hai; thế nhưng, nhiều người ngoài cuộc vẫn hiểu ngược lại vì thiếu dữ kiện so sánh; và nhất là, vì từ lâu đã bị đầu độc bởi những tuyên truyền xuyên tạc ác ý. Tác giả thuật lại những gì mình ghi nhận được về nhiều mặt, những sự kiện cũng như sắc thái của cuộc tranh chấp quốc-cộng qua những đoạn đời từng trải, từ thuở ấu thơ là nạn nhân của chiến tranh cho đến khi trưởng thành nhập ngũ, trực tiếp tham dự vào cuộc chiến ấy. Người đọc sẽ thấy những tâm tư của một người Việt trong một đất nước nghèo hạnh phúc và an vui, mà lại giầu bom đạn và lòng hận thù qua những mẩu chuyện nho nhỏnhững nhận xét khách quan về nhiều mặt hay dở, tốt xấu, thành bại của giới cầm quyền và quân đội của cả đôi bên diễn ra tại hạ tầng cơ sở. Nhiều vấn đề không được thế giới bên ngoài, nhất là dư luận phương Tây và Hoa Kỳ biết đến hoặc đã bị hiểu một cách sai lệch được vạch trần và kể lại trong quyển sách này. Thí dụ như, chiến tranh tại Việt Nam không phải chỉ xẩy ra từ đầu năm 1962 khi quân lực Mỹ bắt đầu can thiệp vào Việt Nam như báo chí ngoại quốc vẫn lầm tưởng.
 
Tác giả thẳng thắn kể đến những bất cập của chính quyền và quân đội VNCH về chính trị hành chánh, chiến thuật, về tệ nạn tham nhũng, về thực chất chế độ dân chủ ở Miền Nam và những hạn chế nỗ lực chiến tranh không thể vượt qua; về quân sự như chiến thuật (sử dụng lực lượng), quản trị nhân sự (thăng thưởng bừa bãi); gánh nặng gia đình binh sĩ cũng như gánh nặng “tự do báo chí” và những nhiễu loạn chính trị… Chẳng hạn như, CSVN bỏ xa VNCH về kỹ thuật xảo trá–quỷ quyệt trong tuyên truyền và phản tuyên truyền.
 
Tác giả chứng minh rằng VNCH không dám mạnh tay với dân chúng để đẩy mạnh nỗ lực chiến tranh chống Việt cộng trong khi hệ thống tuyên truyền lưu manh cùng với bộ máy khủng bố cùng hung cực ác của Việt cộng tại thôn quê đã nắm chặt từng mảnh vườn, từng căn nhà và từng mạng sống của người dân. Dân chúng phải làm mọi việc mà CSVN ra lệnh và chúng đã kiểm soát họ bằng súng, lựu đạn, dao găm… CSVN thực hành các phương pháp khủng bố rất hữu hiệu song song với các thủ đoạn tuyên truyền chinh phục đối tượng một cách tài giỏi. Rất nhiều anh em ruột theo 2 phe đã giết nhau không nhân nhượng chỉ vì một bên đã mù quáng nghe theo lời tuyên truyền của cộng sản. Ở nhiều chỗ trong sách cũng nói về chế độ tù đầy của cộng sản và quốc gia; thí dụ như, sự thực về vụ Phú Lợi (Chương 13).
 
Bằng những hiểu biết và kinh nghiệm từng trải khi phục vụ ở nhiều nơi như Kontum, Quy Nhơn, Sài Gòn, v.v… tác giả nêu lên những sự thật về cuộc chiến ở nông thôn cũng như ở thành thị—tác dụng của chiến tranh trên mọi lãnh vực như tình yêu và hôn nhân, đạo đức và sa đọa, khuynh hướng hiện sinh và tệ nạn băng đảng…
 
Tác giả ghi nhận đóng góp của những người vợ lính nghèo nàn nhưng hết lòng hy sinh cho chồng (Chương 23). Nhiều người tham dự trực tiếp trên chiến hào hay công sự phòng thủ hoặc chuyển đạn dược tiếp tế cho chồng và các chiến hữu của chồng. Trong số này có người bạn đời của tác giả, đã hỗ trợ đắc lực cho chồng, đặc biệt trong việc giúp đỡ cuộc sống của gia đình binh sĩ thuộc quyền. Chính bà cũng là sức cản mạnh mẽ giúp chồng tránh khỏi những vụ tham nhũng lớn nhỏ. Tác giả có những mối tình sâu đậm mang nặng ảnh hưởng của chiến tranh. Mối tình sôi nổi hồi năm 1957 đến 1961 không mấy phai mờ. Cho đến nay, hình ảnh người đẹp của hơn 50 năm trước vẫn còn thường xuyên ám ảnh chàng trai ngày nào trong những giấc mơ chập chờn lúc nửa đêm.
 
Trong đời sống công vụ và quân vụ, tác giả chủ trương thừa hành nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phải đối phó bằng tình cảm thích đáng song song với kỷ luật và pháp chế đối với thuộc cấp, với dân chúng và với địch quân. Là một cựu Giám Đốc Nha Tiếp Nhận thuộc Bộ Thông Tin Chiêu Hồi, ông đã nhắc đến thành công lớn của chế độ VNCH về chính sách Chiêu Hồi, một chính sách độc đáo mà trên thế giới không nước nào có (Chương 19). Lòng khoan dung của người quốc gia đã thu hút về phía mình hơn 150.000 sĩ quan, cán bộ và binh sĩ CSVN (tương đương với 20 sư đoàn cộng sản) trong thời gian 12 năm (1963-1975) được rất ít người biết đến.
 
Cuốn sách cũng nhắc đến những người Mỹ ở nhiều cơ quan, đơn vị tại Việt Nam, trên trận địa cũng như trong bar, night club hay trên đường phố để xác định người lính Mỹ không giống như lính Pháp trong chiến tranh 1946-1954sang VN để tái lập chế độ thuộc địa Pháp, giết chóc hãm hiếp bừa bãi như cộng sản đã ra rả xuyên tạc (và đã thành công). Khi nhìn bề ngoài, lính Pháp và lính Mỹ giống nhau (cũng nón sắt, quân phục màu olive, mũi lõ, mắt xanh, da trắng). Tuy vậy, Mỹ cũng mắc nhiều lỗi lầm chủ quan như thiếu hiểu biết về địch và bạn, không biết và không khai thác những chỗ yếu của đảng, quân đội và xã hội Miền Bắc, không biết bản chất cuộc chiến tranh du kích, ỷ lại vào hỏa lực mạnh và vũ khí tinh vi, đánh giá thấp chiến tranh tâm lý. Về phương diện tích cực, nhiều người Mỹ đến VN với thiện chí cao đẹp, các đơn vị Mỹ không ngại nguy hiểm khi hết lòng cấp cứu nạn nhân thiên tai và chiến tranh. Đa số các cố vấn quân sự tỏ ra khiêm tốn, thân thiện và gắn bó với các đơn vị mà họ chịu trách nhiệm. Họ truyền thụ tay nghề cho các chuyên viên VN với nhiều nhiệt tình, làm thay đổi bộ mặt khoa học kỹ thuật của Miền Nam trong chiến tranh (và cả nước ngày nay).
 
Một chương trong sách (Chương 12) được dành ra để nói về những cải tổ sâu rộng toàn diện của quân đội Miền Nam cũng như Trường Võ Bị Đà Lạt (quân phục sinh viên sĩ quan, chương trình huấn luyện, hệ thống tự chỉ huy, nghi lễ) sau khi VNCH ra đời cuối năm 1955, khi Khóa 12 đang thụ huấn. Tinh thần và khả năng của lớp sĩ quan trẻ. Ngoài ra còn có một số tin tức và vấn đề đặc biệt mà ít người được biết về Chiến Tranh Việt Nam, như so sánh tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá giữa 2 miền Nam Bắc trong chiến tranh.
 
Người đọc có thể thấy, một trong những mục tiêu của tập hồi ký là xác định vai trò lịch sử, bản chất xấu tốt và chính nghĩa của người Việt quốc gia và quân đội VNCH trong cuộc tranh chấp đổ máu quốc cộng tại Việt Nam mở màn ngay từ 1945 đến những năm tháng của bắt bớ và tù đày sau 30/4/1975. Mục tiêu hàng đầu của cuốn hồi ký là nhắm vào các thế hệ trẻ gốc Việt ở nước ngoài chỉ thông thạo Anh ngữ và các cựu chiến binh Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam. Đây là 2 lớp người cần hiểu biết rõ ràng, chính xác và đầy đủ về lịch sử Việt Nam thời cận kim để thấy Chiến Tranh Việt Nam đã bị bóp méo, xuyên tạc với những tin tức không đầy đủ, với những phóng sự vu cáo, bịa đặt, thiên vị làm lợi cho cộng sản.
 
Hiển nhiên, cuốn hồi ký góp phần không nhỏ vào việc phục hồi danh dự, đồng thời vinh danh sự hy sinh cao quý của người lính Quân Lực VNCH cũng như Quân Lực Hoa Kỳ và Đồng Minh. Ở mức độ cao hơn, cuốn sách thực sự đóng góp vào nỗ lực xác định vị trí chính nghĩa vững vàng và vinh quang của chính thể VNCH trên trường quốc tế. VNCH và quân đội đã đóng góp thành công như thế nào trong việc xây dựng đất nước—đặc biệt về kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa giáo dục… vào những thời kỳ mà chiến tranh đang lên đến mức ác liệt nhất. Sau năm 1975, các tiến bộ về khoa học kỹ thuật của VNCH để lại đã giúp cho chế độ CSVN rất nhiều trong việc xây cất, phát triển kỹ nghệ. Khi tiếp thu Sài Gòn, các kỹ thuật gia Liên Xô rất ngạc nhiên trước trình độ hiểu biết tân tiến của chuyên viên Miền Nam—thừa nhận rằng, ngay tại Mạc Tư Khoa, họ cũng chỉ nghe nói đến một số kỹ thuật cao cấp ở Miền Nam Việt Nam chứ chưa hề được ứng dụng.
 
Lập trường về CSVN được nói rõ ở nhiều phần trong sách. Đối với những lời khuyên chúng ta quên hận thù, tác giả khẳng định rằng người quốc gia không thù hận các cán bộ, đảng viên ở cấp thừa hành có hành động tàn ác, dã man, xảo quyệt, hại dân vì họ chỉ là tay sai phải làm những việc do cấp trên của họ chỉ định và bắt buộc. Nhưng lòng thù hận sắt máu đối với các lãnh tụ cộng sản cao cấp thì không thể quên được vì chúng đã cố tình đem chủ nghĩa cộng sản tàn độc vào làm hại đất nước, gây chết chóc cho nhiều triệu đồng bàotàn phá quê hương, làm suy đồi nhân bản, văn hóa, đạo đức. Chúng ta không bao giờ quên mối thù sâu đậm đối với bọn lãnh tụ trung ương đảng cũng như chúng ta không thể quên được vết cắn đau đớn của con chó dại trên bắp chân mình.
 
Để trả lời câu hỏi “Chúng ta sẽ đối xử với người CSVN như thế nào nếu chúng ta là kẻ thắng trận?”; tác giả cho rằng, “Chắc chắn VNCH sẽ không kỳ thị, không phân biệt đối xử, không cầm tù, không trả thù người cộng sản, không thủ tiêu hoặc xử tử như họ đã đối xử với chúng ta”.  
 
Untitled-1
Encyclopedia of the Vietnam War (1998) và Nationalist in the Viet Nam Wars (2012)
 
Không dễ dàng gì mà nhà xuất bản của một viện đại học lớn danh tiếng chịu ấn hành tác phẩm của một người Việt “nobody” dài 600 trang về đề tài Chiến Tranh Việt Nam—một đề tài vốn đã cũ, bị xem là nhàm chán với hàng trăm quyển sách đã được viết ra trong hơn bốn thập niên vừa quanếu quyển sách này không thực sự có một giá trị đặc biệt độc đáo. Việc Viện Đại Học Indiana tuyển chọn và xuất bản tác phẩm đã nói lên tầm mức uy tín và giá trị hàn lâm của cuốn sách. So với hàng núi báo chí, sách vở được các nhà in vô danh ấn hành và xuất bản một cách dễ dàng hiện nay, quyển sách này là một tác phẩm chứa đựng nhiều công phu, đem lại sự trung thực và đang góp phần làm sáng tỏ chính nghĩa VNCH.
 
Hiện nay, Nationalist in the Vietnam War đã nhanh chóng trở thành tài liệu cho sinh viên dân sự tại nhiều thư viện của các Viện Đại Học như: Stanford University, Cal Poly, UC DavisUCLA, University of Oklahoma,  University of Wyoming, University of Denver, University of Idaho, Portland State… Đồng thời cũng được lựa chọn đưa vào tủ sách của các Trường Võ Bị Hải Lục Không Quân Hoa Kỳ như: US Air Force Academy, US Naval Academy, US Military Academy
 
Bằng lối hành văn giản dị, trong sáng với những tình tiết trung thực—30 chương sách với vô số câu chuyện tách biệt nhưng không rời rạc—lôi cuốn người đọc một cách nhẹ nhàng thú vị. Tác giả đưa độc giả đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, đặc biệt đối với những độc giả thuộc giới trẻ, chỉ biết đến chiến tranh Việt Nam qua sách báo ngoại quốc. Sự trung thực và chính xác của các vấn đề do tác giả trình bày được xem là hết sức thành thật. Độc giả có thể đọc sách tuỳ theo cảm hứng của mình đối với từng chương sách, mà không nhất thiết cần phải theo đuổi một thứ tự nào nhất định nào.

Mỗi gia đình người Việt có con cháu chỉ thông thạo Anh ngữ, nhất là các anh chị em TTN/Đa Hiệu nên và cần đọc qua quyển sách này để thấu hiểu một cách thông suốt và chính xác về lịch sử Việt Nam.
 
 
nguyencongluan
Tác giả quyển Nationalist in the Viet Nam WarsNiên Trưởng Nguyễn Công Luận K12 (2010)
 
Ngay sau khi được xuất bản—từ mùa xuân 2012, Nationalist in the Vietnam War đã được giới thiệu và bày bán tại nhiều hiệu sách khắp nơi như: nhà xuất bản Indiana University Press, Booktopia, Barnes & Noble, Amazon.com, Tower Books, Powell’s, AbeBooks, Whitcoulls
 
381912_orig
Flyer mời tham dự buổi giới thiệu quyển Nationalist in the Viet Nam Wars tại San Jose
8908478_orig
Đọc Nationalist in the Viet Nam Wars bằng Kindle Fire

Do yêu cầu của bạn đọc, của văn thi hữu, của đồng môn, đồng ngũ và thân nhân, Nationalist in the Viet Nam Wars sẽ được chính thức giới thiệu vào chiều Chủ Nhật sắp tới—ngày 6 tháng 10 năm 2013 tại thành phố San Jose. Được biết, cựu Trung Tướng Lawson William Magruder III, Luật Sư Đoàn Thanh Liêm, Nhà Văn Mặc Giao, Luật Sư Jimmy Nguyễn và chính tác giả sẽ giới thiệu về quyển sách đến độc giả bốn phương. Nếu quý vị cảm thấy muốn tìm hiểu thêm về quyển sách và buổi giới thiệu này, xin vui lòng tham khảo tại http://vietnamesenationalist.org hoặc liên lạc trực tiếp với Niên Trưởng Nguyễn Công Luận K12 qua đ/c e-mail: lutuan.k12@gmail.com

Và, để có quyển Nationalist in the Viet Nam Wars—bìa cứng với chữ ký lưu niệm của tác giả, xin mời quý vị đến tham dự buổi giới thiệu (rất ngắn—vì lý do sức khoẻ của tác giả) được tổ chức tại: Mount Pleasant High School—1750 S. White Rd. San Jose, CA 95127 từ 2 giờ trưa đến 5 giờ chiều ngày Chủ Nhật 6 tháng 10 năm 2013.

Sau hết, một điều khiến tôi rất lấy làm tiếc về Nationalist in the Viet Nam Wars—là, một quyển sách hay mà lại có vẻ như rất thiếu hình ảnh!

Nguyên Thiều

Truyền Thông và Cách Mạng—Nguyễn Hưng Quốc

Xã hội, bất cứ hình thức xã hội gì, cũng đều được xây dựng trên nhiều nền tảng, nhưng một trong những nền tảng căn bản và quan trọng nhất là: truyền thông. Không có truyền thông, một tập thể người, dù đông đảo đến mấy, cũng không thể trở thành một xã hội.
Điều kiện để một xã hội được hình thành không phải là số đông mà là sự nối kết. Điều kiện để có sự nối kết là một mẫu số chung nào đó. Cái mẫu số chung ấy, dù rất hiển nhiên, như là huyết thống và quyền lợi kinh tế, vẫn không thể được ghi nhận và chia sẻ nếu thiếu một yếu tố: truyền thông. Đó là lý do tại sao, ngay từ xưa, trong quá trình lập quốc, người ta đã đề cao việc có một ngôn ngữ chung; trường hợp không có một ngôn ngữ chung, người ta cố gắng xây dựng một hệ thống chữ viết chung (như trường hợp chữ Hán của Trung Hoa).
Theo Benedict Anderson, trong cuốn Imagined Communities (Verso, 1983), hầu hết các biến chuyển lớn ở Tây phương thời hiện đại đều gắn liền với kỹ nghệ ấn loát mới với việc nở rộ của sách và báo khắp châu Âu. Trước, La Mã dễ dàng đánh bại mọi kẻ thù nhờ họ làm chủ một phương tiện truyền thông hoàn hảo và có ưu thể hơn hẳn (tr. 39). Sau, với sự xuất hiện của máy in, kiến thức được phân phối rộng rãi và tự do, làm cơ sở cho sự nảy nở và phát triển của phong trào Cải cách, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành với vai trò nổi bật của Martin Luther, người có sách bán chạy nhất trong nửa đầu thế kỷ 16 – được xem là tác giả best-seller đầu tiên trong lịch sử (tr. 39). Kỹ nghệ ấn loát mới cũng dẫn đến sự hình thành của quốc gia và chủ nghĩa quốc gia (nationalism): Qua sách báo được xuất bản, mọi người, bất kể những khác biệt về huyết thống, giai cấp và phái tính, có một ký ức chung và một tưởng tượng chung vốn là những yếu tính để hình thành một cộng đồng có tên là dân tộc hay quốc gia.
Giống xã hội hay quốc gia dân tộc, các cuộc cách mạng cũng được xây dựng trên truyền thông. Xin lưu ý, cách mạng là một khái niệm khá mới, chỉ xuất hiện trong thời hiện đại. Xưa, người ta có thể cướp ngôi nhau nhưng lại không có cái gọi là cách mạng. Để được xem là cách mạng, ngoài việc thay đổi tầng lớp thống trị, người ta còn phải thay đổi cả hệ thống quyền lực và ý thức hệ làm nền tảng cho hệ thống quyền lực mới ấy cũng như toàn bộ cấu trúc xã hội. Với ý nghĩa như thế, hai cuộc cách mạng lớn được ghi nhận nhiều nhất là: một, cuộc cách mạng tư sản Pháp vào năm 1789 và cuộc cách mạng vô sản ở Nga vào năm 1917.
Hai cuộc cách mạng vừa kể khác hẳn nhau, trong đó, hai sự khác biệt lớn nhất là: một mở đầu cho trào lưu dân chủ và một mở đầu cho hệ thống toàn trị; một thành công, càng ngày càng thành công, và một thất bại sau hơn 70 năm thử nghiệm một cách đẫm máu. Tuy nhiên cả hai lại giống nhau ở một điểm: tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại. Trong Cách mạng Pháp, truyền đơn và các cuốn sách tuyên truyền mong mỏng (pamphlet) được in và phân phát khắp nơi. Trong Cách mạng Nga cũng vậy. Ngoài truyền đơn, lãnh tụ của cuộc cách mạng Lenin còn là một tác giả có sức sáng tác dồi dào dưới nhiều hình thức khác nhau (sau, ở Nga, người ta sưu tập và in các tác phẩm của ông thành 54 tập, mỗi tập dày khoảng 650 trang, như vậy, tổng cộng khoảng 35000 trang!).
Ở Việt Nam, vào đầu thế kỷ 20, trong cuộc vận động chống lại thực dân Pháp để giành độc lập, hầu như tất cả các sĩ phu yêu nước đều ý thức rất rõ tầm quan trọng của truyền thông. Họ làm thơ và viết văn để cổ vũ lòng tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết cũng như bất khuất. Quan trọng nhất, họ sẵn sàng hy sinh tự ái dân tộc để chấp nhận chữ quốc ngữ do các cố đạo Tây phương sáng chế và được thực dân Pháp ủng hộ như hệ thống chữ viết mới cho cả nước, thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, với hy vọng, với thứ chữ viết mới ấy, trình độ dân trí sẽ nhanh chóng được nâng cao và quá trình hiện đại hóa đất nước sẽ dễ dàng được thực hiện.
Ngay từ giữa năm 1944, chưa cướp được chính quyền, Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, cũng đã ý thức được ngay tầm quan trọng của truyền thông. Đội quân chủ lực đầu tiên do họ thành lập mang tên là Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với hai nhiệm vụ chính: vừa quân sự vừa chính trị, trong đó, chính trị được xem là quan trọng hơn quân sự. Thực chất đó là “đội tuyên truyền”. Ngay sau khi cướp chính quyền, Hồ Chí Minh đã nêu lên ba nhiệm vụ chính của chính phủ mới: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Nhiệm vụ trung tâm của chiến dịch “diệt giặc dốt” là phong trào Bình dân Học vụ nhằm xóa nạn mù chữ để ai cũng có thể đọc được… truyền đơn.
Chính vì ý thức rất sớm tầm quan trọng của truyền thông như vậy nên trong suốt thời gian đảng Cộng sản cầm quyền, từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trong cả nước, giới lãnh đạo Cộng sản luôn luôn chủ trương độc quyền về truyền thông. Kinh tế có thể đa nguyên hóa. Giáo dục có thể đa nguyên hóa. Xã hội có thể đa nguyên hóa. Nhưng với truyền thông thì tuyêt đối không: Tất cả mọi cơ quan truyền thông, từ xuất bản đến báo chí, từ báo in đến báo nói và báo hình, đều nằm trong tay nhà nước và đều bị kiểm soát và kiểm duyệt nghiêm ngặt. Giới lãnh đạo xem đó là một trong những biện pháp chính yếu để bảo vệ quyền lực của họ.
Nói chung, có ba loại quyền lực chính: Thứ nhất là quyền lực ý tưởng (idea power) thể hiện qua các phương tiện truyền thông, nhằm chinh phục cả trái tim lẫn khối óc của quần chúng để họ không những tin và phục mà còn sẵn sàng vâng lệnh nhà cầm quyền. Thứ hai là quyền lực kinh tế (ở Việt Nam, trước, thể hiện qua chính sách phân phối lương thực, sau, qua vai trò ưu tiên của hệ thống quốc doanh) nhằm kiểm soát bao tử và túi tiền của dân chúng khiến họ phải khuất phục. Và thứ ba, quyền lực vật lý (physical power) thể hiện qua quân đội, cảnh sát, công an, hệ thống tòa án và nhà tù nhằm làm cho mọi người khiếp sợ.
Đối với ba loại quyền lực trên, những nhà đối kháng và muốn đấu tranh cho dân chủ, phần lớn chủ trương bất bạo động, đã né tránh việc đối đầu với chính quyền ở góc độ quyền lực vật lý và, thành thực mà nói, hoàn toàn không có điều kiện và khả năng để thách thức chính quyền về quyền lực kinh tế. Chỉ còn một không gian duy nhất có thể biến thành nơi tranh chấp và có thể làm xuất hiện một thứ đối-quyền lực (counterpower) với chính quyền: quyền lực ý tưởng.
Tập trung vào quyền lực ý tưởng là chọn truyền thông làm mặt trận chính.
Cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, chủ yếu là cuộc đấu tranh trên phương diện truyền thông để giành giật phần thắng về ý tưởng. Trong cuộc đấu tranh ấy, người Việt có một phương tiện mới rất đắc dụng: internet.
Với internet, người ta có thể xây dựng được một thứ quyền lực từ dưới lên (power from below), hay nói theo chữ của Vaclav Havel, “quyền lực của những kẻ vốn không có quyền lực” (the power of the powerless).
Nhưng đó là chuyện dài. Xin đề cập sau.

Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể còn tồn tại được bao lâu?

thienanmon-030-danlambao
How long can the Communist party survive in China?
 
Trong khi kinh tế phát triển chậm và sự bất mãn của giới trung lưu gia tăng, đây là vấn đề đang được hỏi không những ở nước ngoài mà ngay cả ở trong nước. Ngay tại Trường Trung Ương Đảng, có cuộc thảo luận về điều không thể nghĩ đến: sự sụp đổ của chế độ cộng sản Trung Quốc.
Nép vào giữa trường gián điệp cao cấp của Trung Quốc và hoàng cung mùa hè về phía tây của Bắc Kinh là một nơi duy nhất trong nước mà người ta có thể bàn cãi công khai về cái chết của đảng Cộng Sản đang cai trị Trung Quốc mà không sợ bị trả thù. Nhưng địa chỉ nhiều bóng cây này không phải là trụ sở của một cơ quan nghiên cứu do Hoa Kỳ tài trợ hay là một tổ bí mật của những người bất đồng chính kiến. Đây là trường huấn luyện đảng của Ủy Ban Trung Ương Cộng Sản Trung Quốc, một học viện dành cho những nhà lãnh đạo chuyên quyền, “một lò luyện để nuôi dưỡng tinh thần của đảng viên” như được mô tả trong tài liệu tuyên truyền chính thức.

455cec11-6675-45ce-af86-da37c9ea1614_img
Trường Trung Ương Đảng – học viện dành cho các thành phần chính trị ưu tú  
©Eric Gregory Powell
 
Trường Trung Ương Đảng được thành lập vào năm 1933 để truyền bá cán bộ về chủ nghĩa Marx và Lenin và sau này là Tư Tưởng Mao Trạch Đông và những viện trưởng quá khứ bao gồm chính Mao Trạch Đông, và lãnh tụ mới được tấn phong gần đây là Tập Cận Bình và người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào. Chương trình giảng dậy được thay đổi triệt để để đáp ứng với những thay đổi quan trọng trong xã hội Trung Quốc. Học viên vẫn phải nghiền ngẫm về sự khôn ngoan của Tư Bản Luận và “Lý Thuyết Đặng Tiểu Bình” nhưng cũng được học những lớp về kinh tế, luật, tôn giáo, quân vụ, và những tư tưởng chính trị tây phương. Những cán bộ trung cấp và cao cấp là những học viên được học về cách thưởng thức ca vũ kịch và phép xã giao cũng như là xem những phim tài liệu về chống tham nhũng và tham gia vào việc hát những ca khúc cách mạng tập thể.
Một sự thay đổi quan trọng hơn đối với một học viện được thành lập để thực thi sự thuần khiết tư tưởng là việc thiết lập một khu vực thảo luận tự do, theo đó không có điều gì bị cấm bàn cãi. Đây là một vai trò tương đối mới. Một giảng viên của trường không muốn nêu tên vì không được phép nói chuyện với báo chí nước ngoài nói rằng “Chúng tôi vừa có một cuộc hội thảo với một nhóm đông người gồm những những đảng viên có thế lực và họ hỏi chúng tôi đảng sẽ còn nắm quyền được bao lâu và chúng tôi hoạch định những gì khi đảng sụp đổ. Thành thật mà nói, đây là câu hỏi bất cứ ai tại Trung Quốc cũng đang đề cập đến nhưng tôi sợ rằng nó rất khó để trả lời.”
Những người thừa kế cuộc cách mạng 1949 của Mao có thể bám vào quyền lực trong bao lâu là một câu hỏi từ năm này qua năm khác kể từ khi có cuộc tàn sát Thiên An Môn vào năm 1989 và sự tan rã của Liên Xô. Đã có nhiều tiên đoán thảm khốc về sự sụp đổ sắp xảy ra nhưng đảng vẫn tồn tại và lại còn phát triển mạnh, đặc biệt kể từ khi nó mở cửa đón nhận những nhà tư bản lần đầu tiên một thập niên trước đây. Ngày nay, đảng cách mạng của giai cấp vô sản có thể được mô tả một cách hay nhất là một phòng thương mại lớn nhất thế giới và quy chế đảng viên là cách hay nhất cho những nhà kinh doanh móc nối và lấy được hợp đồng lời nhiều.
Trong khoảng chưa tới năm năm, đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ thử thách Liên Xô (69 hay 74 năm cầm quyền tùy theo cách đếm) và Đảng Cách Mạng Định chế (Institutional Revolutionary Party) của Mexico (71 năm cho đến 2000) để trở thành một đảng chính trị cai trị liên tục lâu nhất. Theo lý thuyết hiện đại hóa, một chính thể độc tài có khuynh hướng dân chủ hóa khi lợi tức gia tăng, sự thành hình một tầng lớp trung lưu lớn sẽ đẩy mạnh tiến trình và khi nền kinh tế trì trệ tiếp theo một giai đoạn phát triển nhanh và lâu dài sẽ làm cho sự chuyển tiếp dễ xẩy ra hơn. Tình trạng bất quân bình trầm trọng và ngày càng tệ hại hơn cộng thêm với nạn tham nhũng cao sẽ là những lực thúc đẩy sự thay đổi.
Trung Quốc hiện nay đang có tất cả những yếu tố này, nhưng những lý thuyết gia chính trị kể cả những nhân vật tại Trường Trung Ương Đảng, lập luận rằng Trung Quốc là một trường hợp đặc biệt về phương diện văn hóa và chính trị và làn sóng làm sụp đổ các chế độ độc tài còn đang lên cao trong thế giới Ả Rập sẽ không bao giờ đến bờ Trung Quốc. Những người khác, kể cả những nhà trí thức có uy thế Trung Quốc, những chuyên gia tây phương về Trung Quốc nổi tiếng, và ngay cả những đảng viên cao cấp có đầu óc cởi mở, tin rằng đây là những ngày cuối cùng của thời đại Cộng Sản và đảng sẽ bị cuốn trôi đi nếu không sớm có một cuộc cải tổ chính trị quan trọng.
“Một ngàn mùa thu và một vạn thế hệ”
Ông Chen Shu là một giáo sư về lịch sử đảng, “xây dựng đảng” và Tư Tưởng Mao Trạch Đông tại Trường Trung Ương Đảng. Quan điểm của ông phản ảnh lối suy nghĩ chính thống của thành phần cao cấp của đảng. Với tất cả những khích động trí thức và tự do trao đổi ý kiến bên trong những bức tường của trường, người nước ngoài vẫn còn bị cấm vào nếu không có phép đặc biệt, luật lệ này có từ thời khi sự hiện diện của trường còn là một bí mật quốc gia. Ông Chen đồng ý gặp Financial Times tại một quán trà bên kia đường đối diện với Hoàng Cung Mùa Hè, nhưng ông thiếu kiên nhẫn khi được hỏi ông nghĩ gì về tương lai của đảng.
Ông trả lời với một giọng làm cho từ “tây phương” có nghĩa xấu: “Tất cả những lý thuyết về cuộc khủng hoảng ở Trung Quốc hay Trung Quốc sụp đổ là hoàn toàn có tính cách tây phương. Càng nhiều áp lực đặt trên văn hóa và đảng Cộng Sản Trung Quốc, họ sẽ càng đoàn kết và càng có khả năng để làm những phép lạ.”
temp-danlambao-43
Giáo sư Lin Zhe ở phía ngoài
Trường Trung Ương Đảng.
©Eric Gregory Powell
Lin Zhe là giáo sư của Trường Trung Ương Đảng, một người đã nghiên cứu làm sao giải quyết nạn tham nhũng trong hàng ngũ đảng. Cũng tại cùng quán trà, bà vui vẻ tiên đoán rằng đảng sẽ đón mừng 100 năm cầm quyền vào năm 2049 và nói rằng đảng đang chuẩn bị, theo một tục ngữ của Trung Quốc, sẽ lãnh đạo “một ngàn mùa thu và một vạn thế hệ.” Nhưng cả Bà Lin lẫn Ông Chen cũng cảnh cáo rằng tính cách chính danh của đảng bị đe dọa bởi nạn tham nhũng địa phương. Nó đã lan tràn vào mọi tầng lớp trong xã hội. Bà Lin nói “Vấn đề này rất nghiêm trọng, như những nhà lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc đã nói, nó có thể tiêu diệt đảng và quốc gia.”
Sự bền bỉ độc đoán
Trong cuốn sách xuất bản vào năm 1992, Tận Cùng của Lịch Sử và Người Cuối Cùng (The End of history and The Last Man), Francis Fukuyama lập luận rằng nền dân chủ cấp tiến tây phương là một dạng chính quyền sau cùng của loài người và mục tiêu cuối cùng của cách mạng tư tưởng. Lập luận này được hỗ trợ bởi sự bành trướng của chế độ dân chủ trong thế kỷ 20. Vào năm 1900, không một quốc gia nào trên thế giới có một chính thể cạnh tranh đa đảng và phổ thông đầu phiếu và chỉ có khoảng 12% nhân loại được sống dưới một chính thể được xem như là dân chủ theo một tổ chức Hoa Kỳ phi chính phủ Freedom House. Vào đầu thế kỷ 21, 120 nước trong số 192 quốc gia được quốc tế công nhận có chính thể dân chủ bầu phiếu với và 60% dân số thế giới sống dưới sự lãnh đạo của những nhân vật được bầu lên theo thể thức dân chủ.
 
Ông Fukuyama, hiện nay là một nhà nghiên cứu cấp cao tại Standford University, nói rằng ông tin rằng Trung Quốc sẽ theo con đường của phần đông các quốc gia khác, qua sự cởi mở tự do dần dần để sau cùng tiến đến dân chủ. Ông nói, nhưng nếu điều này không xẩy ra, có thể dân chúng sẽ nổi dậy tương tự như Mùa Xuân Ả Rập.
Ông Fukuyama nói: “Mô hình chính trị của Trung Quốc không thể tồn tại được vì thành phần trung lưu ngày càng lớn mạnh – một thế lực thúc đẩy dân chủ ở khắp mọi nơi. Thế hệ mới tại Trung Quốc rất khác biệt với thế hệ đã rời bỏ ruộng vườn và thúc đẩy đợt công nghiệp hóa đầu tiên – họ có trình độ học vấn cao hơn nhiều, giầu hơn nhiều và nhiều đòi hỏi mới như không khí trong sạch, nước trong sạch, thực phẩm an toàn, và những vấn đề khác không thể giải quyết được chỉ bằng phát triển kinh tế nhanh chóng.”
Ước tính kích thước của thành phần trung lưu của Trung Quốc thay đổi tùy thuộc định nghĩa nhưng một điều chắc chắn là giai cấp này không hiện hữu hai chục năm về trước nay phát triển rất nhanh chóng. Theo công ty tư vấn McKinsey, từng lớp trung lưu trên cùng – phần dân số có lợi tức gia đình hàng năm trong khoảng $17,350 – $37,500 – chiếm 14% số gia đình thành thị vào năm vừa qua, nhưng sẽ gia tăng đến 54% trong chưa tới 10 năm tới.
Trung Quốc thường hay dấu những bằng chứng để làm thuyết Fukuyama mất giá trị với những nhà phê bình lập luận rằng tiến trình tái sáng tạo của đảng đáp ứng được nhiều hơn đối với nhu cầu và đòi hỏi của dân chúng so với những chế độ độc tài theo lỗi cổ. Ông David Shambaugh, giám đốc Chương Trình Chính Sách Trung Quốc tại George Washington University và một chuyên gia về hệ thống chính trị Trung Quốc, từng ủng hộ quan điểm này. Nhưng vài năm gần đây, ông đã thay đổi ý kiến và hiện nay tin rằng đảng đang ở trong tình trạng đi xuống. Sự kiện này lập lại những ngày cuối cùng của các triều đại trong lịch sử.
Dấu hiệu bao gồm lý tưởng quốc gia trỗng rỗng mà xã hội không tin tưởng nhưng giả vờ làm theo cho đúng nghi thức, tham nhũng ngày càng tồi tệ, không cung cấp cho công chúng được đầy đủ an sinh xã hội, cảm giác bất ổn và thất vọng lan tràn trong quần chúng. Những dấu hiệu khác bao gồm gia tăng bất ổn xả hội và sắc tộc, nạn bè phái, thuế quá cao với tiền thâu phần lớn chui vào túi của giới chức nhà nước, bất quân bình lợi tức ngày càng trầm trọng và không có chế độ pháp trị đáng tin cậy.
Ông Shambaugh nói rằng một dấu hiệu mạnh mẽ về sự thiếu tin tưởng vào hệ thống là số dân giàu có ưu tú có tích sản và tài sản ở ngoại quốc, chương mục ngân hàng ở nước ngoài, và cho con cái học tại các đại học tây phương.
Ông Shambaugh nói “Những cá nhân này sẵn sàng bỏ trốn khi được thông báo, ngay khi hệ thống chính trị vào giai đoạn lâm chung – nhưng họ sẽ ở lại Trung Quốc để có thể thâu tóm được những đồng nhân dân tệ cuối cùng. Hành vi phòng thân của họ nói lên rất nhiều về tình trạng ổn định mong manh của đảng Cộng Sản Trung Quốc ngày nay.”
Xác ướp trong quan tài pha lê
82ed11d5-11e4-4ecf-9ee3-280a3eb9d131_img
Quảng trường Thiên An Môn, ©Eric Gregory Powell
 
Chân dung khổng lồ của Mao Trạch Đông được treo ở ngay trên Thiên An Môn – lối vào phía nam của Tử Cấm Thành, nhìn chằm chằm, qua quảng trường mang tên ông, vào lăng tẩm oai nghiêm nơi thể xác được ướp của ông được quấn trong một lá cờ Cộng Sản. Mỗi buổi sáng trong tuần ngoại trừ thứ Hai, du khách Trung Quốc xếp hàng dài tại quảng trường để được nhìn thấy lãnh tụ vĩ đại trong chiếc quan tài bằng pha lê.
Một thập niên trước, người ta thường được chứng kiến những xúc động bộc phát lớn lao và những người hành hương quỳ xuống trước “hoàng đế đỏ” đã quá cố của Trung Quốc. Nhưng vào một ngày trong tuần mới đây, cảm nghĩ nổi bật của những người đến xem có vẻ lãnh đạm (dửng dưng) hoặc thất vọng vừa phải. Một người ở tuổi trung niên với giọng địa phương nói rằng “Tôi xếp hàng một tiếng đồng hồ để thế này sao? Tôi tin rằng xác này làm bằng sáp; Thật là phí thời giờ.”
Sự thay đổi thái độ tinh tế này trong 10 năm qua thể hiện sự biến chuyển sâu sa hơn trong xã hội Trung Quốc tuy khó đo lường nhưng ngày càng rõ rệt. GS Perry Link tại Đại Học California ở Riverside, một trong những chuyên gia tây phương về Trung Quốc được kính trọng, nói rằng “Nền tảng tư tưởng của đảng thật rất nông cạn. Người dân gia nhập đảng ngày nay để móc nối và tiến thân không vì bất cứ một lý tưởng xã hội nào.”
Có lẽ truyền thông đại chúng qua Internet là một nhân tố quan trọng khích động sự chỉ trích chua cay và nghi ngờ giới nắm quyền lực. Chế độ kiểm duyệt Internet của Trung Quốc chặt chẽ nhất thế giới với Twitter, Facebook, Youtube và vô số mạng và dịch vụ trực tuyến bị ngăn chặn vì đảng lo sợ rằng những phương tiện này có thể được sử dụng để tổ chức đối lập chính trị. Nhưng sự bành trướng của những hệ thống thông tin tương tự trong nước, đặc biệt những mạng cực nhỏ “Weibo” giống như Twitter, vẫn cho phép dân chúng phá vỡ được sự kiểm soát của đảng đối với cuộc thảo luận công cộng theo một cách mà trước đây không thể làm được.
Trong khi kinh tế Trung Quốc phát triển chậm lại và sự tức giận tăng lên do một số vấn đề phát xuất từ sự thiếu vắng một thể chế cho phép người dân tham gia vào chính trị, đảng thật sự lo lắng về sự mất kiểm soát về tư tưởng, ý kiến, và thông điệp.
“Bẩy điều không thể nói đến”
temp-danlambao-44
GS Shen Zhihua – 
East China Normal University
©Eric Gregory Powell
Ông Shen Zhihua là một giáo sư tại Đại Học Sư Phạm Hoa Đông, chuyên về Liên Bang Xô Viết và là con của một trong những sĩ quan trong quân Đội Giái Phóng Nhân Dân từng phục vụ sát cánh với Mao trong cuộc cách mạng. Ông bị giam tù hai năm vào đầu thập niên 1980 sau khi bị kết tội oan làm gián điệp cho CIA. Vào tháng 9, 2009, Ông Shen trong một nhóm gồm một số ít học giả được tín cậy và được cựu Chủ Tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân triệu tập để thảo luận về sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết. Ông Giang hỏi họ về những yếu tố rõ ràng nào đã đưa đền sự tan rã của Xô Viết và nói rằng “Gorbachev đã phản bội cuộc cách mạng.”
Theo ông Shen, quan điểm của Giang Trạch Dân cũng là niềm tin chính thống của những nhà lãnh đạo Trung Quốc kể cả Tập Cận Bình. Trong bài diễn văn dành cho đảng viên sau khi ông được chọn làm người lãnh đạo đảng và quân đội vào cuối năm vừa qua, Tập Cận Bình nói rằng đế quốc Xô Viết đổ vỡ “bởi vì không có ai đủ dung cảm để đứng lên và chống lại.”
GS Shambaugh của George Washington University nói rằng “Tôi có thể không nhấn mạnh đủ về một sự kiện là những nhà lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục sống dưới bóng Liên Xô – Họ ý thức tối đa về những cải tổ Gorbachev thực hiện và tuyệt đối không đi theo con đường này.”
Tập Cận Bình bày tỏ quyền lực phù hợp với lập trường quả quyết của ông trên võ đài quốc tế vì Trung Quốc tiếp tục bành trướng vai trò của một siêu cường thứ hai của thế giới. Nhưng trong khi chính quyền mới biểu dương sức mạnh ở nước ngoài trong những cuộc tranh chấp sôi sục về lãnh thổ với những quốc gia láng giềng về phía đông, nam, và tây, chính quyền này tỏ ra lo âu và hoang mang hơn ở trong nước.
GS Link nói “Trung Quốc có sức mạnh về quân sự, ngoại giao và kinh tế hơn so với quá khứ và có thể bảo những nước như Anh và Hoa Kỳ nhượng bộ theo cách mà trước đây không thể làm được. Nhưng với tất cả sức mạnh đối ngoại mới, chính quyền Trung Quốc xem ra yếu ớt rất nhiều ở quốc nội, lo ngại rất nhiều về vấn đề bao lâu chính quyền nay có thể kiểm soát được chiếc vạc đang sôi sục này.”
Kể từ khi nhậm chức, Tập Cận Bình thi hành một loạt những cuộc đàn áp không nương tay đối với những người bất đồng chính kiến, tự do ngôn luận, những người sắc tộc ly khai, và xã hội dân sự. Ông tuyệt đối không cho thấy một dấu hiệu nào chứng tỏ rằng ông là một người chủ trương cải tổ ngầm mà một số người đã hi vọng. “Tài Liệu Số Chín”, một giác thư bí mật được phổ biến cho cán bộ vào tháng Tư và bị tiết lộ ra ngoài qua truyền thông Trung Quốc ở hải ngoại, cho thấy giới lãnh đạo mới lo ngại như thế nào về những đe dọa nhận thấy được đối với sự cai trị của đảng. Tài liệu nói rằng “Những lực lượng thù nghịch tây phương và những kẻ chống đối ở quốc nội không ngừng xâm nhập vào lãnh vực tư tưởng. Để có thể duy trì quyền lực của đảng, cần chú ý đến những cách thức suy nghĩ, lập trường, và hành động sai lầm.”
Theo tài liệu này, đảng đang thực hiện một cuộc đấu tranh khốc liệt liên hệ đến bẩy mối đe dọa trầm trọng mà trong giới hàn lâm gọi là “bẩy điều không thể nói đến”. Đứng đầu danh sách là “nền dân chủ hiến định tây phương” và tiếp theo là những điều cấm kỵ như nhân quyền, tư pháp độc lập, báo chi độc lập và phê bình quá khứ của đảng.
GS Shen Zhihua nói “Nhiều người cực kỳ thất vọng về lời nói và hành động của Tập Cận Bình. Nhưng có một số người bênh vực ông và nói rằng một khi ông củng cố được quyền lực và ổn định được tình trạng chính trị, lúc đó ông sẽ thúc đẩy những cải tổ.” Theo lý lẽ này, những hành động độc đoán của Tập Cận Bình trong giai đoạn chập chững này có tính cách chiến thuật hơn là chiến lược, một cách để tập hợp những người trung thành trong đảng cho chương trình cải tổ khó khăn sắp đến.
Một người chủ trương cải tổ, “hoàng tử” của một cựu lãnh tụ cao cấp Trung Quốc, biết rõ Tập Cận Bình, yêu cầu không nêu tên để tránh hậu quả chính trị, nói rằng “Cách giải thích bi quan hơn và thực tế một cách ngay thật hơn là Tập Cận Bình không có một sáng kiến nào cả. Vì vậy ông chỉ trích dẫn Mao và cố gắng nắm chặt lấy quyền hành. Trong trường hợp này, Trung Quốc không có hi vọng và sau cùng sự căm phẫn trong xã hội sẽ nổ tung thành một cuộc nổi dậy của dân chúng.”
Không còn phép lạ?
Trong ba thập niên kể từ khi Đặng Tiểu Bình phát động cuộc cải tổ theo định hướng thị trường và bắt đầu mở Trung Quốc đón tiếp thế giới, kinh tế phát triển trung bình khoảng 10% mỗi năm. Thành quả ngoạn mục này đã giải thoát hàng trăm triệu người ra khỏi tình trạng nghèo đói và đã khiến cho một vài người lập luận rằng chủ nghĩa “thị trường Lenin” đã thách đố học thuyết rằng các xã hội dân chủ hóa khi trở nên giàu có hơn. Nhưng theo Phó Giáo Sư chính trị học Liu Yu của Đại Học Tsinghua tại Bắc Kinh và GS Chen Dingding của Đại Học Macau, viết trong tạp chí Washington Quarterly năm vừa qua rằng “Những người biện minh rằng Trung Quốc là một trường hợp cá biệt không chú ý tới một sự kiện là hiện nay còn quá sớm để bảo Trung Quốc chấp thuận hay không tán thành học thuyết hiện đại hóa.”
Tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product – GDP) trung bình đầu người của Trung Quốc tính theo sức mua bình giá vào năm 2012 là $8,200, nhưng theo hai giáo sư Liu và Chen, con số này chưa đạt tới mức khiến cho các quốc gia với nền tảng văn hóa và lịch sự tương tự bắt đầu chuyển tiếp qua chế độ dân chủ. Cũng theo hai giáo sư Liu và Chen Vào năm 1988, hai nước đang dân chủ hóa Nam Hàn và Đài Loan có tổng sản phẩm nội địa trung bình đầu người theo sức mua bình giá lần lượt là $12,221 và $14,584 (theo giá đồng dollar 2010). Mức lợi tức của Liên Xô và Hung Gia Lợi vào năm 1989, khi hai nước này bắt đầu những chuyển tiếp chính trị lần lượt là $16,976 và $11,257 (theo giá đồng dollar 2010).
Những con số này cho thấy rằng việc kinh tế tiếp tục phát triển nhanh chóng sẽ làm Trung Quốc tự biến đổi chính trị chỉ trong vòng vài năm. Theo lý lẽ này, kể từ khi từ bỏ chủ nghĩa Mao, tính cách chính đáng của đảng chủ yếu dựa vào khả năng duy trì phát triển nhanh và nâng cao mức sống – nhưng đây cũng sẽ chính là lý do sau cùng làm cho đảng mất quyền kiểm soát tuyệt đối.
Ngày nay có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng mô hình kinh tế của Trung Quốc – đầu tư nhiều, định hướng xuất cảng, nhà nước chế ngự đang mất sức và sự phát triển sẽ chậm lại rõ rệt hơn là Bắc Kinh tiên đoán. GDP theo thời giá phát triển hàng năm chậm lại từ 17% trong quý thứ tư của năm 2011 xuống còn 8 % trong quý thứ hai của năm nay và mức phát triển của năm vừa qua xuống thấp nhất trong vòng 13 năm qua. Phần đông những kinh tế gia trông đợi mức phát triển sẽ còn ôn hòa hơn trong một ít năm sắp đến.
Bằng hầu hết các cách đo lường, Trung Quốc Cộng Sản là một xã hội bất quân bình nhất trên trái đất, với hầu hết sự giầu có tập trung vào trong tay một ít người ưu tú kết nối với nhau về mặt chính trị. Nếu sự giảm tốc độ hiện nay biến thành một cuộc khủng hoảng kinh tế hay gây ra nạn thất nghiệp rộng lớn, phần đông những phân tách gia tin rằng chính quyền sẽ nhanh chóng phải đương đầu với một cuộc nổi dậy của dân chúng. Ông Mao Yushi, kinh tế gia, 84 tuổi, được xem là cha đỡ đầu của nền kinh tế vĩ mô của Trung Quốc, nói rằng “Trong vòng hai thế kỷ, 30 năm vừa qua là một giai đoạn kéo dài duy nhất không có chiến tranh, nạn đói, hay hành hình hàng loạt, một giai đoạn mà đời sống của mọi người ngày càng tốt đẹp hơn. Tính cách chính đáng của chế độ chủ yếu dựa vào sự thành công của cải tổ kinh tế, nhưng vấn đề to lớn là hiện nay những kỳ vọng rất cao.
temp-danlambao-45
Kinh tế gia Mao Yushi
©Eric Gregory Powell
Nhà kinh tế già nua này bị thanh trừng nhiều lần trong thời đại Maoit. Ông làm lao động khổ sai trong 20 năm nhưng không liên tục tại vùng thôn quê và bị đánh đập và làm nhục. Sau việc phục hồi chính trị, ông tiếp tục sống và vào năm 1993 thành lập Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Unirule, một trung tâm nghiên cứu độc lập, và ông tiếp tục có ảnh hưởng trong những người chủ trương cải tổ trong đảng và chính quyền.
Ông Mao tiên đoán rằng Trung Quốc sẽ phải đương đầu với cuộc khủng hoảng tài chánh không thể tránh được trong một đến ba năm tới vì nợ xấu chồng chất và tình trạng thị trường bong bóng nhà đất, nhưng ông nghĩ rằng chính sự kiện này sẽ đẩy Trung Quốc đến chế độ dân chủ. Ông Mao nói “Tôi nghĩ rằng cuộc khủng hoảng tài chánh có thể thật sự tốt cho Trung Quốc vì nó sẽ buộc chính quyền phải thực hiện những cuộc cải tổ kinh tế và chính trị. Đây sẽ là kịch bản tốt nhất nhưng kịch bản xấu nhất là một cuộc nổi dậy hung bạo, tiếp theo là một giai đoạn dài với bất ổn và kinh tế suy sụp, giống như tình trạng chúng ta thấy tại Ai Cập.”
Những nhà phân tách chính trị Trung Quốc và Tây phương không ngừng dẫn chứng thí dụ tiêu cực Ai Cập. Giống như cựu lãnh tụ độc tài Hosni Mubarak, đảng Cộng Sản khá thành công trong việc đè bẹp bất cứ một lực lượng có tổ chức nào trước khi nó có thể mọc rễ.
GS Link nói “Chế độ Trung Quốc hiện nay chắc chắn sẽ sụp đổ ở một thời điểm nào đó – có thể vài tháng, vài năm, hay vài thập niên nhưng khi nó tan vỡ, mọi người sẽ nói dĩ nhiên nó sẽ xẩy ra. Vấn đề làm tôi lo âu là điều gì sẽ tiếp theo. Đảng loại trừ mọi nhóm mà nó không kiểm soát hoặc không nhìn thế giới như đảng và sẽ không có gì cả để thay thế đảng.”
Tai họa Olympic
Chắc chắn chỉ là một sự trùng hợp duyên dáng của lịch sử mà không một chế độ độc tài nào ngoại trừ chế độ dộc tài Mexico tồn tại hơn một thập niên sau khi tổ chức Thế Vận Hội Olympic – hãy nghĩ đến Berlin 1936, Moscow 1980, Sarajevo 1984 và Seoul 1988. Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thấy những cuộc tranh đua tại Bắc Kinh vào năm 2008 như một “tiệc ra mắt” của đảng trên sân khấu thế giới. Năm năm tới, đảng không những sẽ bất chấp tai họa Olympic này mà còn qua mặt chu kỳ sinh tồn của Liên Xô và giúp đánh đổ học thuyết dân chủ hóa.
Nhưng ngay cả những người bảo vệ chế độ hăng say nhất thừa nhận rằng những lãnh tụ Trung Quốc không thể tiếp tục cai trị vô thời hạn mà không đáp ứng những đòi hỏi được tham gia vào hoạt động chính trị của giới trung lưu ngày càng lớn mạnh. Họ lưu tâm nhiểu đến không khí trong sạch, nước trong sạch, chính quyền trong sạch và thực phẩm an toàn hơn là mức phát triển GDP.
Sau ba chục năm kinh tế bành trướng xuất sắc, mô hình phát triển của Trung Quốc bắt đầu mất sức và nếu Trung Quốc phải đối mặt với sự giảm sút bất ngờ đảng sẽ mất phương tiện chính đáng và dễ thuyết phục nhất để bảo vệ tính cách chính danh. Nếu chủ tịch mới của Trung Quốc Tập Cận Bình nắm lấy sáng kiến và phát động những cuộc cải tổ chính trị ý nghĩa, khi đó Trung Quốc có thể đi theo con đường của Đài Loan và Nam Hàn trong hai thập niên 1980 và 1990 và điều khiển một cuộc chuyển tiếp ôn hòa sang một thể chế dân chủ đa nguyên.
Trong sân Trường Đảng xanh tươi, một vài giáo sư đã nghiên cứu làm thế nào để thực hiện kỳ công này. Nhưng cho đến nay, Tập Cận Bình không bầy tỏ một khuynh hướng nào muốn làm một điều gì ngoại trừ xiết chặt quyền lực trong tay đảng và trừng phạt những kẻ nghi ngờ một chế độ độc đảng vĩnh viễn.
Nhiều người trong và ngoài đảng lo ngại rằng bằng cách chèn ép sự bất mãn của đại chúng bằng những dụng cụ đàn áp cổ điển, chính quyền mới một ngày nào đó ngủ dậy sẽ thấy đại chúng tràn ngập đường phố. GS Shen Zhihua nói “Tập Cận Bình và chính quyền này tạo cho Trung Quốc một cơ hội cuối cùng để thực hiện sự thay đổi xã hội thành một hệ thống chính trị cởi mở hơn từ trong nội bộ của đảng và trong hệ thống. Không có những cải tổ này, chắc chắn sẽ có cuộc bùng nổ xã hội.”20-9-2013

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa