Trang chủ » Nữ Công Gia Chánh » Tiêu Khiển (Trang 4)

Category Archives: Tiêu Khiển

Giã Từ Đà Lạt (Khóa 26 Võ Bị)—Peter Han

Buổi phát thanh đặc biệt “Giã Từ Đà Lạt” dịp mãn khóa tốt nghiệp của Khóa 26 (18/1/ 1974)

The U.S. Military Academy at West Point (USMA)—Maharbal5022

 


The U.S. Military Academy at West Point (USMA) (documentary)—Maharbal5022

 

“Con” Bính—Topa

Trong phòng chờ đợi để ra máy bay đầy người. Có nhiều người phải đứng. Trong số những người đứng có nhiều người đưa mắt nhìn đến những cái ghế không có người ngồi với vẻ mặt không vui. Những cái ghế trống đó đã bị những hành khách có hành lý xách tay để lên nên họ phải đứng.

Ngoài trời tuyết vẫn đang rơi, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ làm cho không khí lạnh buốt vào những ngày cuối đông. Trong phòng chờ có để sưởi vậy mà một người đàn ông trung niên lấy cái khăn quàng cổ định quàng cho người đàn bàcó lẽ là vợ của ôngnhưng bị người đàn bà có dáng sang trọng cằn nhằn và nói là đang bị nực.

Thái độ của người đàn bà đã làm cho Thành, trưởng toán nhóm làm vệ sinh máy bay phải chú ý đến, để rồi, anh nhận ra người đàn bà sang trọng đó chính là “con” Bính ngày xưa. Thời gian bốn mươi hai năm dài không một lần gặp lại nhưng Thành dễ dàng nhận ra “con” Bính vì sự thay đổi trên khuôn mặt không nhiều. Thành không ngạc nhiên khi thấy “con” Bính còn đẹp hơn ngày trước nữa. “Người có tiền khác với người nghèo là vậy”. Thành nghĩ như vậy rồi lại nhìn khắp phòng; nhìn những người sẽ đi chuyến bay hôm nay để về thăm quê hương. Thành lại nhìn “con” Bính và chợt nhớ năm nay là năm Bính Thân thì “con” Bính, mà tên đầy đủ trong giấy khai sinh là Ngô Thị Hoàng Bính; cũng được đúng sáu mươi tuổi. Ngày trước người đàn bà sáu mươi tuổi, như má của Thành, đã là bà già. Nhưng, với “con” Bính và với rất nhiều người đàn bà thời nay thì khác. Hình ảnh của “con” Bính, của những ngày xa xưa thân ái, của một thời tuổi thơ khi đất nước đang thanh bình, và, của một thời mới lớn chợt hiện ra trong đầu của Thành…

***

Năm Bính Thân 1956, khi đó Thành được năm tuổi, một hôm má của Thành nói:

– Con theo má qua bên nhà bác Hai hàng xóm có chút việc. Bác Hai mới sinh một bé gái chắc con thích lắm.

Sở dĩ má của Thành nói vậy vì Thành cứ hỏi khi nào má sinh em bé. Trong lúc má của Thành và bác Hai nói chuyện thì Thành đến cầm tay đứa bé và nựng nó cách sung sướng như thể đó chính là em ruột của Thành vậy. Thành quay đầu nhìn má hỏi:

– Má ơi con nhỏ này  tên gì hả má?

Bác Hai trả lời thay:

– Tên của em là Bính đó con. Con thương em không?

– Dạ…

Má của Thành trách yêu:

– Con phải gọi là em chứ sao lại gọi con.

– Nó là con gái thì con gọi nó là con.

– Nó là con gái thì con gọi nó là con. Mà… mà sao nó giống con khỉ quá vậy má?

Hai người đàn bà nhìn nhau cười thật lớn nhưng không ai nói thêm điều gì nên Thành đinh ninh cách gọi của Thành là đúng. Sau này khi lớn lên Thành mới được biết là “con” Bính khi mới sinh cái mặt của nó nhăn nhiều nên trông giống con khỉ con. Má “con” Bính định đặt tên cho con là Bính Thân vì sinh  năm Bính Thân, nhưng rồi ba má nó chỉ đặt tên Bính thôi.

Sau đó má của “con” Bính cầm tờ giấy một đồng đưa cho Thành và nói:

– Mỗi sáng con cầm cái tô đựng nước tiểu của con qua đây rồi bác lại cho con một đồng.

Thành còn đang ngơ ngác không hiểu má của “con” Bính nói gì thì má của Thành đã giục:

– Cám ơn bác và chào bác rồi đi về con.

Tối hôm đó trước khi đi ngủ má của Thành để một cái tô ngay chân giường và căn dặn:

– Sáng ra con cứ đái vào cái tô này rồi cầm đem qua cho má của bé Bính và bác ấy sẽ cho con tiền. Còn cái tô thì cứ để ở bên ấy chiều má qua lấy, hoặc bác ấy sẽ đem qua sau.

Từ đó mỗi sáng Thành đều làm đúng như má dặn và Thành cũng không thắc mắc tại sao má của “con” Bính lại… mua nước tiểu của Thành để làm gì. Cho đến một buổi sáng nọ, sau khi Thành đưa tô nước tiểu và nhận một đồng, thay vì Thành đi ăn sáng ngay như mọi khi thì vì muốn nựng “con” Bính nên Thành được chứng kiến má của “con” Bính cầm tô nước tiểu của Thành uống một hơi cạn hết tô. Thành vội vàng chạy thật nhanh về nhà để nói cho má nghe điều mà Thành cho là… khủng khiếp.

Vừa bước chân vào đến nhà Thành kêu lên thật lớn:

– Má ơi má. Má ơi má.

– Chuyện gì vậy Thành.

Má của Thành vội vã đi từ nhà sau lên và vừa đi vừa hỏi với vẻ lo lắng.

– Má của “con” Bính cầm cái tô nước tiểu của con rồi uống một hơi hết trơn hết trọi luôn.

Má của Thành vội đưa một ngón tay trỏ lên miệng của mình ra dấu cho Thành đừng nói lớn.

– S…u…ỵ…t… Sao con lại la toáng lên như vậy là sao hả, thằng quỷ. Bác ấy bị… gì đó nên thầy Hòa dặn bác ấy là mỗi sáng phải uống nước tiểu của đứa con trai còn nhỏ như con thì mới tốt. Nhà bác ấy giàu và hơn nữa bác ấy thương con nên cho một đồng chứ ai lại làm vậy bao giờ. Con đừng nói cho ai biết chuyện này nghe hôn. Con mà nói thì bác ấy không cho con tiền nữa đâu.

Thành gật đầu và anh cũng không nói cho ai biết điều đó vì Thành sợ không được một đồng. Trước đó thì mỗi sáng má của Thành chỉ cho anh năm cắc thôi. Tuy chỉ là năm cắc nhưng Thành cũng mua được gói xôi bắp hoặc khúc bánh mì bì ăn no căng bụng luôn. Bây giờ có một đồng thì Thành ăn sáng cũng chỉ năm cắc, còn năm cắc thì để đến giờ ra chơi Thành sẽ mua một cây cà-rem ba cắc và một bịch nước đá nhận si-rô hai cắc.

Một thời gian ngắn sau đó khi má của “con” Bính không cần uống nước tiểu nữa thì cũng vừa lúc Thành được gia đình đưa lên học nội trú trên Đàlạt. Từ đó Thành cũng quên “con” Bính và chuyện tô nước tiểu luôn. Vì gia đình của Thành cách Đàlạt khá xa và hơn nữa tiền bạc cũng eo hẹp nên một vài năm Thành mới về thăm nhà một lần. Khi Thành về thăm nhà lần đầu vào dịp Tết năm 1960, Thành có qua thăm gia đình “con” Bính và có vài lần nắm tay dẫn nó đi loanh quanh nhà. Năm năm sau cũng vào dịp Tết Thành trở về thăm gia đình thì anh nhìn thấy một cô bé khoảng chín tuổi rất xinh trong bộ đầm mới toanh đứng trong sân nhà của Thành. Thấy Thành nhìn con bé với vẻ thích thú nên má của Thành nói:

– Bé Bính đó con. Con nhìn nó không ra là đúng rồi. Lớn cứ như thổi và xinh vô cùng.

Khi nghe má nói như vậy  thì hình ảnh… tiểu vào tô những buổi sáng vừa thức dậy chợt hiện ra nên Thành vội vã hỏi:

– Má của “con” Bính…

– Bác ấy mất khoảng hai năm nay rồi con à.

Thành cảm thấy như bị một vật gì chận ngay cổ làm cho anh bị nghẹn và làm cho hai con mắt của anh bị cay cay. Thành tội nghiệp cho má của “con” Bính vì bác ấy đối xử rất tốt với Thành. Thành đi ra sân gặp “con” Bính. Thành gọi:

– Bính.

“Con” Bính quay nhìn Thành với hai con mắt mở lớn ngạc nhiên. “Con” Bính quay người toan bỏ đi thì má của Thành cũng vừa đến bên:

– Bính à, đây là anh Thành con của bác đó con. Vô đây con. Vô đây bác cho con ăn mứt bí ngon lắm con.

“Con” Bính vui vẻ đi theo má của Thành vô nhà. Con Bính tỏ ra dạn dĩ với Thành chứ không rụt rè. “Con” Bính vừa ăn mứt vừa nghe Thành kể chuyện. Khi Thành kể chuyện ma thì “con” Bính nói:

– Em sợ ma quá à.

Thành cười thật lớn và nói:

– Em đừng có sợ. Đâu có ma đâu mà sợ.

“Con” Bính nhìn Thành không nói nhưng Thành nghĩ là nó không tin không có ma.

Những ngày sau đó Thành dẫn “con” Bính, lúc thì đi xem hội chợ rồi sau đó đi ăn chè. Hôm khác thì đi xi-nê rồi sau đó đi ăn hủ tiếu bò viên. “Con” Bính tỏ ra quyến luyến Thành nên thường xin ba cho qua ăn cơm tối với Thành. Ba của “con” Bính khen Thành còn nhỏ mà đã tỏ ra chững chạc và trí thức. Ngày anh từ giã để trở về Đàlạt học tiếp thì “con” Bính khóc lóc đòi đi theo làm cho anh phải dỗ mãi với những lời hứa sẽ mau về và đưa nó đi hội chợ và đi ăn hủ tiếu bò viên là món mà nó rất thích thì nó mới chịu nín. Vậy mà mãi đến tám năm sau, tức là năm 1973 khi Thành tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Đàlạt, khi đó Thành hai mươi hai tuổi, anh mới quay trở về lại căn nhà xưa. Lúc này má của Thành đã già nhưng vẫn còn mạnh khỏe lắm. Khi Thành vừa bước vô nhà thì thấy một cô thiếu nữ xinh đẹp và cao ráo đang bước ra khỏi nhà. Thành vội vã chào:

– Chào cô.

Cô gái nhìn ngay Thành và nở nụ cười thật tươi đưa ra hai hàm răng trắng muốt và thật đều. Cô gái nhí nhảnh hỏi Thành vẻ thật thân mật:

– Anh Thành phải không? Anh nhớ em không?

Thành còn đang ngơ ngác thì cô gái bĩu cái môi dưới ra và hỏi vẻ thách đố:

– Chắc anh quên rồi chứ gì?

Thành còn đang ngờ ngợ thì cô gái đã tự giới thiệu:

– Em là… con Bính nè.

Thành vội buông cái túi xách xuống đất rồi hai tay chắp lại với nhau như tỏ vẻ muốn xin lỗi. Thành nói:

– Cô… em… em Bính… mau lớn quá anh nhìn không ra. Anh không ngờ…

Bính nhắc lại chuyện xưa mà Thành đã hứa làm cho anh ngượng vô cùng:

– Anh không ngờ anh hứa lèo mà… con Bính này thì không quên phải hông?

Thánh ấp úng nói:

– Anh… Anh thật có lỗi… với em quá….

– Ủa, sao anh Thành không gọi em là “con” Bính nữa mà lại gọi là em?

Bất chợt hình ảnh của đôi song ca kích động rất nổi tiếng Mai lệ Huyền và Hùng Cường chợt hiện ra làm cho Thành mỉm cười vì trong một bài hát kích động có câu: “Sao không kêu người ta như ngày xưa. Không kêu người ta con nhỏ…”

Má của Thành nãy giờ đứng nhìn Thành và Bính, bây giờ bà mới lên tiếng:

– Bính à. Con về nói với ba là bác mời ba và con chiều nay qua nhà bác ăn cơm mừng anh Thành về phép nghe con.

– Dạ.

Bính nhìn Thành với ánh mắt thật tình cảm:

– Em về nha anh Thành.

Khi tiễn Bính ra tới cổng, Thành nói nhỏ:

– Em và ba nhớ qua sớm nghe… em Bính.

***

Cuối năm sau 1974 Trung uý Thành về phép thăm gia đình. Bây giờ “con” Bính đang làm việc trong trường mẫu giáo có hai mươi bốn em. Trong thời gian gần một năm qua Thành gởi về sáu cái thư cho “con” Bính với những lời thật  tình cảm nhưng “con” Bính chỉ hồi âm có một lần. Vừa gặp mặt Thành liền gặng hỏi:

– Em lười viết thư hay em không thích viết cho anh?

– Em sợ…

– Em sợ ma?

– Không. Bây giờ em không còn sợ ma nữa. Nhưng em sợ… anh đi rồi không về thì chắc em sẽ là ma.

– Em không bao giờ là ma đâu. Em là thiên thần. Thiên thần thì chế ngự được ma quỷ và sẽ… phù hộ cho anh; cho… cả hai đứa mình.

– Anh có giận em không?

– Giận em thì anh không gặp lại em hôm nay. Má anh có cho biết tin về em nên anh cũng yên tâm. Anh chỉ sợ em… có người khác rồi quên anh thôi.

– Em không bao giờ quên anh đâu. Mãi mãi không bao giờ em quên anh.

– Bính à, chắc em cũng hiểu lòng anh như thế nào rồi. Chiến tranh đã làm cho chúng mình phải tạm thời xa cách nhưng anh cũng không bao giờ quên em. Nếu em đồng ý thì má anh sẽ qua nhà nói chuyện với ba em rồi khoảng giữa năm sau hai đứa mình sẽ làm lễ cưới. Em thấy anh tính như vậy có được không thì cho anh biết.

– Anh tính sao cũng được hết.

Nhưng, lễ cưới của Thành và “con” Bính đã không bao giờ được thực hiện như dự tính. Cho đến một ngày đầu xuân năm 1983, Thành mới được ra khỏi trại cải tạo sau tám năm bị giam trong cái gọi là, trại học tập cải tạo. Đơn vị mà Thành là Đại úy Đại đội trưởng đã bị một đơn vị của Bắc quân tràn ngập. Trong tám năm tù Thành không được một lần thăm viếng vì gia đình tưởng anh bị mất tích. Tang thương đã đến với gia đình Thành khi má anh qua đời trong cô đơn và đói nghèo mà anh thì hoàn toàn không nhận được tin tức; kể cả tin của người vợ sắp cưới. Ngày ra tù Thành phải sống lang thang rày đây mai đó cho đến một năm sau thì anh thoát ra khỏi nước và đến định cư tại thủ đô Paris.

***

Hành khách đang lần lượt đi vào máy bay. Khi “con” Bính và chồng đi ngang qua chỗ Thành đứng anh liền quay mặt qua hướng khác. Thành rất muốn gặp lại “con” Bính nhưng lại sợ làm cuộc sống của nàng bị xáo trộn. Tự trong thâm tâm Thành vẫn tin tuyệt đối là “con” Bính không quên anh như anh không bao giờ quên. Thành nhìn đồng hồ thì thấy chỉ còn tám phút nữa máy bay sẽ cất cánh. Tuy không nhìn ngay hai người, nhưng nghe lỏm câu chuyện họ đang trao đổi, và chuyến bay sẽ đáp ở Seattle, Thành nghĩ là hai người sống đâu đó trong nước Mỹ. Trong lòng, anh rất muốn xem tên người trong vé có phải là “Ngo” không, như để xác quyết trí nhớ của mình, nhưng sau đó anh lại nghĩ: “biết để làm gì, chuyện gì đã yên thì để nó yên đi”. Như anh, hết ca làm mỗi ngày thì anh sẽ lại về nhà, dùng bữa tối trong gia đình hay thỉnh thoảng ghé quán nhậu với bạn. Không ai muốn tự dưng nếp sống đều đặn này bị xáo lên vì một chuyện “không đâu”. Tuy thế, mắt anh vẫn thấy cay cay, và anh nhìn mãi cánh cửa dẫn ra hành lang vào phi cơ giờ đã đóng. Thành  muốn biết “con” Bính đang ở thành phố nào. Trong danh sách hành khách của chuyến bay, tên Ngô Thị Hoàng Bính là công dân Mỹ và sinh sống ở tiểu bang Texas.

Rồi khi Thành nhìn chiếc máy bay đang từ từ chạy ra phi đạo. Anh nói nhỏ như đang nói với “con” Bính: “Vĩnh biệt em. Vĩnh biệt “con” Bính yêu quý của anh.”

Lần thứ hai trong đời Thành thấy như bị một vật nào đó chận ngay cổ và hai con mắt bị cay cay.

Topa (Hoà Lan)

 

Nghệ Thuật Quàng Khăn

Phó Thủ Tướng “Chống Tham Nhũng” Việt Cộng Nguyễn Xuân Phúc Và Hai Căn Biệt Thự Tại Mỹ—Báo Trong Nước

Báo trong nước tố cáo phó Thủ Tướng Việt cộng Nguyễn Xuân Phúc:

Đến giờ này, ai cũng đã biết phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc và gia đình đang trực tiếp sở hữu khối tài sản hàng nghìn tỷ đồng tại Việt Nam, chưa tính những tài sản bằng cổ phiếu, kim cương và những bất động sản ở Mỹ, Singapore mà gia đình phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc nhờ “anh chị em kết nghĩa” đứng tên hộ, điển hình là 2 căn biệt thự tại thành phố Anaheim (quận Cam, tiểu bang California, thành phố nổi tiếng với công viên giải trí Theme Park) mà chúng tôi đang thông tin đến bạn đọc. Qua đó, nhiều câu hỏi được đặt ra: Ông Phúc sở hữu những tài sản gì tại Mỹ và từ bao giờ? Ai quản lý giúp ông những khối tài sản này? Và quan trọng nhất, mục đích của ông khi chuẩn bị sẵn các cơ ngơi tại Mỹ?Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng bầu đoàn thê tử trong chuyến công cán bằng tiền nhà nước đến xứ sở tự do kết hợp thăm hai căn biệt thự của gia đìnhPhó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng bầu đoàn thê tử trong chuyến công  cán bằng tiền nhà nước đến xứ sở tự do kết hợp thăm hai căn biệt thự  của gia đình.

Việc chuẩn bị cơ ngơi tại Mỹ của ông Nguyễn Xuân Phúc được bắt đầu từ năm 2005, khi ông còn đương chức Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam kiêm Ủy viên Ban Kinh tế Ngân Sách Quốc Hội Khóa 12 và đang chạy về trung ương với chức Phó Tổng Thanh Tra Chính Phủ. Nhiệm vụ đứng tên này được giao cho gia đình người em kết nghĩa, đại gia Đặng Văn Thành (Sacombank) mà trực tiếp cô công chúa mía đường Đặng Huỳnh Ức My, ái nữ của Đặng Văn Thành, người được Nguyễn Xuân Hiếu (quý tử nhà Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc) gọi thân mật là “chị ba”.Vợ chồng Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, vợ chồng Đặng Văn Thành cùng công chúa mía đường Đặng Huỳnh Ức My tại tiệc hấp hôn đình đám của vợ chồng Đặng Văn ThànhVợ chồng Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, vợ chồng Đặng Văn Thành cùng công chúa mía đường Đặng Huỳnh Ức My tại tiệc hấp hôn đình đám của vợ chồng Đặng Văn Thành
Căn biệt thự thứ nhất tại Mỹ của phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã được mua ngày 3/6/2005 với giá 790 nghìn USD (khoảng 17 tỷ đồng, giá 2014 đã trên 1 triệu đô la Mỹ), tọa lạc tại số 636 South Halliday Street, Anaheim, CA 92804.Căn biệt thự tại số 636 South Halliday Street, Anaheim, CA 92804 được Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mua từ năm 2005Căn biệt thự tại số 636 South Halliday Street, Anaheim, CA 92804 được Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mua từ năm 2005
Đối diện căn biệt thự của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Mỹ là công viên, thảm cỏ xanh mướtĐối diện căn biệt thự của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Mỹ là công viên, thảm cỏ xanh mướt
Căn biệt thự thứ hai tại Mỹ được ông Nguyễn Xuân Phúc mua ngay trước thềm Đại hội Đảng 11 nằm cùng thành phố Anaheim, tọa lạc tại số 7556 East Calle Durango Street, Anaheim, CA 92808 cũng do nhà Đặng Văn Thành đứng tên ký hợp đồng ngày 18/10/2010 với giá 575 nghìn USD (khoảng 12,3 tỷ đồng).Căn biệt thự thứ 2 của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại số 7556 East Calle Durango Street, Anaheim, CA 92808Căn biệt thự thứ 2 của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại số 7556 East Calle Durango Street, Anaheim, CA 92808
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chuẩn bị cả hồ bơi gia đình phía sau căn biệt thự sang trọng nàyPhó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chuẩn bị cả hồ bơi gia đình phía sau căn biệt thự sang trọng này

Thực ra, phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tính toán việc xây dựng căn cứ tại Mỹ từ hàng chục năm trước khi đưa quý tử Nguyễn Xuân Hiếu vào TPHCM học trường Quốc tế (2005) đến khi đi du học Mỹ (2009). Từ đó đến nay, cậu quý tử Nguyễn Xuân Hiếu được bố nuôi Đặng Văn Thành bảo bọc từ A-Z, thậm chí tại tập đoàn Thành Công thành lập ra một tổ công tác do Ức My trực tiếp điều hành phụ trách cung phụng cho “cu Bin” (tên thân mật của Nguyễn Xuân Hiếu), thời gian ở Mỹ của Hiếu chủ yếu là chơi game, tiệc tùng và tán gái, ngay cả bài tập ở trường cũng được tổ công tác làm giúp.

Bằng lái xe tại Mỹ của Nguyễn Xuân Hiếu, quý tử của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ghi rõ địa chỉ căn biệt thự 636 South Halliday street, Anaheim, CA 92804Bằng lái xe tại Mỹ của Nguyễn Xuân Hiếu, quý tử của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ghi rõ địa chỉ căn biệt thự 636 South Halliday street, Anaheim, CA 92804

1

Thời gian du học tại Mỹ của quý tử Nguyễn Xuân Hiếu chủ yếu là chơi game, tiệc tùng và tán gái cùng các quý tử nhà đại gia Đặng Văn ThànhThời gian du học tại Mỹ của quý tử Nguyễn Xuân Hiếu chủ yếu là chơi game, tiệc tùng và tán gái cùng các quý tử nhà đại gia Đặng Văn Thành

Vậy là đã rõ, ngay trước Đại Hội Đảng 11, phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chuẩn bị sẵn sàng cuộc sống cho mình và gia đình tại Mỹ dưới sự giúp đỡ của Đặng Văn Thành. Câu hỏi cuối cùng dành cho Ban Nội chính TW, Ủy ban Kiểm tra TW là: Mục đích của ông phó Thủ Tướng khi mua 2 căn biệt thự tại Mỹ?, và một câu hỏi ngỏ, tại sao Đặng Văn Thành, Đặng Hồng Anh thoát khỏi vụ bê bối tại Sacombank, Sacomreal? Ngoài ra, không biết lương ông phó Thủ Tướng thường xuyên hô hào quyết liệt chống tham nhũng có đủ trả cho tiền thuế hàng năm tại Mỹ cho các căn biệt thự trên không?

1

Điềm Gở Cho Trung Cộng: Cờ Máu Tuột 3 Lần Khi Kéo Lên Tại Toà Bạch Ốc Washington DC

Lúc kéo cờ Tàu Cộng lên bị tai nạn 3 lần. Đến lần thứ tư cờ máu Tàu Cộng mới run rẩy leo lên nổi. Đây là điềm gở cho bọn Tàu Cộng. Chúng rất sợ chữ tứ vì phát âm na ná với chữ tử. Tiếng Nhật cũng vậy, shitứ, đồng âm với tử. Điềm gở này lại giáng đúng ngay đầu Tàu Cộng là bọn đại mê tín dị đoan. Mời quý vị theo dõi đoạn video clip dưới đây.

Khám Phá Kim Tự Tháp (Large Structure) HD Vietsub

Tôi Bị Móc Túi Ở ‘Kinh Thành Ánh Sáng’ — Hà Giang

Buổi sáng Thứ Sáu lướt báo, mẩu tin “Tháp Eiffel đóng cửa vì nhân viên phản đối nạn móc túi” làm tôi chú ý. Đọc chưa được mấy hàng, khi tim nhói lên, tôi mới biết dư âm của việc chính mình là nạn nhân của nạn móc túi tại thành phố này cách đây chưa hai tuần, vẫn chưa nguôi ngoai. (more…)

Uncontacted Amazon Tribe: First ever aerial footage

Máu Lửa Charlie — Lam Sơn

Asia – Dương Nguyệt Ánh – Nam Lộc – Thương Phế Binh VNCH

Đại Hội Xuân Ất Mùi Của Đồng Hương Thừa Thiên – Huế 2015 tại San Jose 21/3/15—Hao Ha

Arizona Skies II — CEBImagegery

Arizona Skies II

Đà Lạt – Tuyên Đức — LPSLIDES

The Cats — Acrobatic & Contortion Act — The world greatest Cabaret

Đêm Tri Ân Võ Bị Đà Lạt—Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu Houston

Cuộc Tình Cuối Đời – Nguyễn Đạt Thịnh K6

Bữa cơm tối Chủ Nhật 29 Tết chỉ có hai món: một con cá hồng chưng tương tầu và một dĩa rau muống xào. Rau xào bằng loại chảo không dính để tránh dùng dầu ăn. Dĩa rau nhỏ hơn nhưng lại mắc hơn dĩa cá, vì mâm cơm dọn ở thành phố Biloxi vào một đêm đông. Tiết trời tháng Hai dưong lịch đã lạnh khiến rau muống phải nhập cảng từ Mễ vào.
Khí hậu giải thích giá rau mắc, và vị trí của Biloxi giải thích giá cá rẻ. Nằm trên Vịnh Mễ Tây Cơ, Biloxi là thị trấn định cư của hàng ngàn ngư phủ Việt Nam. Con cá hồng 3 pao giá một đồng. Cá phải mua vì cửa biển đã đóng từ tuần trước, khi giới chức dưỡng ngư quyết định thời điểm chấm dứt mùa đánh tôm.
Mùa tôm kéo dài 5 tháng mỗi năm; 7 tháng còn lại để tôm sanh sản và lớn đến mức 50 con cân nặng một pao thì cửa biển lại mở để ngư phủ hành nghề. Ngư phủ Việt Nam, quen sống giữa Thái Bình Dương hùng vĩ, mênh mông, không gọi Vịnh Mễ Tây Cơ là biển, mà coi nó như một cái hồ. Ngày đầu mùa tôm là ngày mở cửa hồ.
Cửa hồ đã mở rồi thì cá chỉ có nước đổ đi. Bốn trăm chiếc tầu cào, mỗi hai tiếng đồng hồ kéo lưới lên một lần, mỗi lần mỗi lưới vét từ đáy biển khoảng trên một tấn hải sản đủ loại, trong số đó tôm –loại bán được– ít nhất, và cá –loại không ai mua– nhiều nhất. Mỗi 24 tiếng đồng hồ 400 chiếc tầu cào đổ xuống biển 5,000 tấn cá. Con số này không khuếch đại, và đã từng làm nhiều người có óc doanh thương và biết nghề làm nước mắm tiếc hùi hụi.
Mỗi lần tầu kéo lưới hàng ngàn con hải âu ồn ào bay theo, lượn quanh chờ ngư phủ cào cá xuống biển là xà sát mặt nước dùng mỏ gắp cá chết bay lên. Hàng vạn con cá sống cũng lội theo tầu tìm ăn cá chết. Sinh hoạt nhộn nhịp trên cả ba tầng cao độ: trên không, trên và dưới mặt biển. Hải âu và cá tuy nhiều nhưng nguồn thực phẩm đổ đi lại quá thừa thãi, ăn không kịp, nên thông thường ngư phủ vẫn phải lưới trở lại những con cá chết đã bị lưới ít nhất là một lần.
Một vài ngư phủ bợm nhậu đã chế ra cách câu hải âu để đánh tiết canh. Họ móc mồi cá vào lưỡi câu rồi thả xuống nước. Sức tầu xê dịch kéo con cá mồi nổi trên mặt nước, thu hút sự chú ý của hải âu. Chim xà xuống biển ăn cá, mắc câu, bay bổng lên trông giống như một con diều lộng gió. Anh bợm nhậu kéo diều xuống, cắt cổ lấy tiết rồi ném con chim xuống biển. Việc câu chim làm mồi nhậu sau này bị cấm đoán vì ngư phủ Mỹ vớt trúng những xác hải âu đã tố cáo với cốt gạc là việc giết chim làm tiết canh vô nhân đạo hơn việc giết cá, giết tôm đóng hộp. Người Mỹ văn minh quý sinh mạng con chim, con chó, hơn sinh mạng người dân Palestine nhiều.
Trên bàn ăn chỉ có hai người: ông Chương và bà Thủy, cả hai tròm trèm 70. Bà Thủy khéo léo lách lưỡi dao bàn theo lườn xương cá, cắt ra nguyên thớ phi lê dài trên một tấc. Cách bà cầm nĩa, cầm dao bàn, cho thấy bà đã được giảng dạy những điều lịch sự trên bàn ăn, và cũng đã nhiều lần ăn theo lối tây phương.
“Anh dùng miếng nạc này đi”. Giọng người đàn bà Hà Nội nghe ngọt hơn thớ cá chưng tương hoisin. Ong Chương chưa ăn cá, ông cũng không uống rượu, nhưng đang ngây ngất say men tình. Dùng đũa sắn đôi thỏi phi lê, ông gắp phần đầu vào chén cơm của bà, phần đuôi ông bỏ vào chén cho mình.
“Ăn cá, ăn rau lành mạnh như thế này là mình dư sức thọ trăm tuổi”. Ông nói để khen cái quyết định ăn uống thanh đạm mà bà đã chọn, ăn chỉ vừa đủ để bồi dưỡng theo đúng nhu cầu của cơ thể chứ không ăn cho đã miệng để rồi tự tử bằng thực phẩm. Ong còn muốn nói thêm là bữa ăn không thịt, không dầu mỡ, nhưng vẫn ngon là nhờ tài nấu nướng khéo léo của bà, nhưng không nói vì e ly chè ngợi khen quá ngọt sẽ khó nuốt. Điều chính ông muốn nói là ông muốn sống trăm tuổi với bà.
Năm ngoái ông không yêu đời đến mức ao ước thọ trăm tuổi. Dù tương đối khỏe mạnh, nhưng ông không thấy chuỗi ngày mùa đông thê thảm của cuộc đời cám dỗ gì lắm. Nhưng từ mấy tháng nay, từ ngày gặp bà Thủy, cuộc sống trở thành dễ thương hơn. Oâng biết những thay đổi đó là nhờ bà.
Bà thường ngượng nghịu mỗi khi ông khen quá lời, nhưng ông vẫn thèm khen. Nhiều lần ông đã biện bạch là lời ông khen chỉ nói lên một sự thật hiển nhiên, và dù ông có khen bà nhiều hơn nữa, ngôn từ ông dùng vẫn chưa diễn tả được một nửa ý ông.
Ông Chương yêu bà Thủy. Yêu thật chứ không phải thương, quý, hay trọng gì cả. Ông có trọng cái tư cách nghiêm trang, đài các, có thương cái nết đằm thắm, dịu dàng, có quý cái đức đảm đang, cần kiệm của bà, nhưng tất cả những thứ đó đều đi sau chữ “yêu” nồng nàn, say đắm.
Ông yêu bà vì cái thể xác tuyệt mỹ, cái duyên kín đáo của bà; ông say đắm hưởng những phút khoái lạc dục tình ông tưởng đã vĩnh viễn mất đi sau tuổi thất thập. Tết này, ngày mốt, ông đúng 70. Cả hai ông bà vẫn tráng kiện. Họ biết giữ gìn sức khỏe. Ngoài việc ăn uống thanh đạm, họ còn tập thể dục. Mỗi buổi chiều, họ sóng vai chạy trên bãi biển suốt nửa tiếng đồng hồ. Vào mùa ấm, họ còn bơi lội nữa.

Bà Thuỷ 66. Bà sinh năm 1936, năm năm trước ngày Tây thuộc địa bị Nhật quân phiệt hạ bệ tại Việt Nam. Những năm đó, những thập niên đó, làn gió Tây học bắt đầu rụt rè thổi vào mảnh đất có bờ biển mang hình dạng một chữ ét xì dài 2,500 kí lô mét, vô cùng trù phú mà cũng vô cùng hiền lành. Nhiễm gió tây học, người Việt Nam bị trị bắt đầu nhìn những ông Tây, những bà đầm ăn, ở sang trọng, hưởng thụ thừa mứa, bóc lột thẳng tay, mà còn làm mưa, làm gió trên quê hương họ, như những ngoại nhân tiếm quyền và bạo ngược.
Cụ thân sinh ra bà Thủy là một thầy phán tòa toàn quyền Pháp tại Hà Nội. Mặc dù làm thông phán cho bộ máy cai trị của thực dân, nhưng học thức cũng vẫn khiến cụ Phán có tư tưởng chống Pháp. Cụ bí mật đọc những tài liệu cách mạng, bí mật đóng góp giúp tài trợ phong trào Việt Nam Quốc Dân Đảng mà cụ vô cùng thán phục vị Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học và những đảng viên anh hùng đã dũng mãnh ngay cả trong phút bước lên đoạn đầu đài.
Cụ Phán cũng họ Nguyễn, cùng họ với vị anh hùng chống Pháp. Lòng kính phục của cụ đối với Nguyễn Thái Học khiến cụ mượn chữ “Thái” trong tên ông làm chữ lót cho tên cô con gái đầu lòng: Cô bé Nguyễn-Thị-Thái-Thủy. Mặc dù chưa bỏ được chữ thị tiềm ẩn kỳ thị nam nữ, nhưng cái tên dài 4 chữ cũng đã là chỉ dấu văn minh của một ông bố thông phán 66 năm về trước.
Cụ Phán văn minh? Nhưng cụ chỉ thụ động hưởng ứng cuộc cách mạng dân tộc? Cụ vẫn chưa vượt được chữ “thị” kỳ thị? Tất cả những điều đó không còn quan hệ nữa. Trăm điều của thế kỷ trước đã trở thành lịch sử. Tất cả đã sang trang. Người Việt quảng đại đã tha thứ, không còn hận Tây, không còn thù Nhật nữa. Ngay cả bà Thái Thủy, con gái rượu của cụ Phán cũng đã thành một bà cụ, và cũng đang sắp sang trang. Trang giấy ghi chép mọi diễn biến của cuộc đời nhiều gian truân đang ở những giòng chữ cuối cùng.
Thế hệ bà Thủy sống là thế hệ lắm diễn biến. Thế hệ trước, song thân bà không gặp nhiều đổi thay đến như vậy. Diễn biến cũng không quá nhiều đối với thế hệ con bà. Mọi điều vật đổi sao dời đều chờ cho đến thế hệ của bà để xẩy ra.
Dù chỉ kể những diễn biến lớn của đất nước, bà Thái Thủy cũng đã chứng kiến 4 năm “xuống chó” của thực dân Pháp, song song với cái thế “lên voi” của những ông lính Nhật quấn xà cạp bó ống quần, đeo vừa gươm dài, vừa súng ngắn trên thắt lưng.
Sau 4 năm bạo ngược, mổ bụng người ăn vụng vì quá đói, chặt tay người ăn trộm vì quá nghèo, và tạo ra nạn đói giết hai triệu người Việt Nam, quân đội Nhật hát bài Xây O Na Ra với giấc mộng Đại Á. Họ nói là họ đến Việt Nam để giải phóng nước Việt ra khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Họ không nói đến cái ách đô hộ khác, cũng nặng nề, tàn bạo không kém ách cũ, mà họ đem từ Đông Kinh sang để lại tròng lên cổ người Việt. Họ đi trước Việt Cộng trong sáng kiến gọi việc đổi gông là giải phóng. Thất trận, họ đầu hàng.
Bé Thái Thủy, 10 tuổi, theo bố ra Công Trường Ba Đình chứng kiến cảnh Bác mang râu, đội mão tuyên bố Việt Nam độc lập.
Cụ Phán đã khóc vì mừng và vì xúc đọâng trước những danh từ to lớn và mới toanh, nói lên niềm thèm khát chân chính của cả một dân tộc. Ngôn ngữ quả là một khoa học chính xác, được cộng sản đem áp dụng lần đầu tiên trên dân tộc Việt Nam. Trước đó Tây thực dân không thấy, và Nhật quân phiệt không có nhu cầu vận dụng xúc động của người Việt. Hơn nữa cả hai cùng không biết tuyên truyền là thứ khí giới mới nhưng vô cùng lợi hại của chiến tranh. Những danh từ “độc lập”, “cơm áo”, “chủ quyền quốc gia”, ” tự do”, “hạnh phúc”, … đánh vào từng giây thần kinh căng cứng của người Việt, tạo ra những phản tác như giây đàn tạo ra âm thanh. Cả nước cùng khóc với cụ Phán, cả nước cùng xúc động vì được Bác lừa. Bác tiếp tục dùng ngôn ngữ đánh lận 30 triệu người Việt Nam để họ đem thân xác ra làm chiến lũy bảo vệ cho chủ nghĩa cộng sản trong lúc họ tưởng họ chiến đấu để giải phóng dân tộc.
Cụ Phán trở thành một cán bộ cộng sản. Học thức giúp cụ thâu nhận nhanh chóng những tư tưởng mới, những kỹ thuật, chiến thuật mới để chỉ huy những người chậm thu nhận hơn. Cụ vắng nhà suốt 5 năm để kháng chiến chống Pháp.
Năm 1951 cụ trở về Hà Nội. Kiến thức giúp cụ nhận ra chân tướng của Việt Cộng mặc dù vào thời điểm đó chúng còn trá hình dưới bộ mặt Việt Minh. Cụ ghê tởm cộng sản hơn là ghê tởm thực dân. Cả thực dân lẫn cộng sản đều bóc lột, nhưng cộng sản vô luân hơn vì chúng còn lừa gạt và giết người. Về thành, cụ buôn bán nuôi con, tạm gác việc nước mà cụ không có môi trường gánh vác nữa.
Năm 1954 cô thiếu nữ 18 Nguyễn Thị Thái Thủy theo bố mẹ và một triệu người Bắc Việt thực hiện cuộc bỏ phiếu bằng chân lần đầu tiên trong chiến sử Việt Nam để quyết liệt bầy tỏ thái độ chính trị chống cộng. Họ bỏ lại sau lưng mồ mả tổ tiên, nhà cửa, tài sản, để chọn tự do.
Năm 1957, cô sinh viên luật khoa 21 tuổi nhận lời cầu hôn của Hải Quân Thiếu Úy Trần Đại Dương. Bỏ học cô theo chồng ra Nha Trang để bắt đầu cuộc sống vợ lính trong trại gia binh. Cô chứng kiến đầy đủ những khó khăn khiếp đảm, những hy sinh, những cố gắng tuyệt vời của người lính Nam Việt trong suốt 21 năm chiến đấu bảo vệ quê hương.
Ngày cuối cùng của cuộc chiến Đại Tá Trần Đại Dương chỉ huy một đoàn 4 chiếc chiến hạm rời căn cứ Hải Quân Cần Thơ, xuôi giòng Hậu Giang rút ra đại dương chở theo 756 trong số hai triệu cử tri tham dự cuộc bỏ phiếu bằng chân lần thứ nhì.
Trang giấy ghi chép cuộc đời người đàn bà sinh ra và lớn lên giữa “thủa trời đất nổi cơn gió bụi” mang nhiều trân chuyên chồng chất, chi chít.
Mất nước, người lính biển anh hùng mang cái tên tiền định Trần Đại Dương vẫn ngày ngày đè gió, cỡi sóng, vượt biển, nhưng ông không tuần phòng duyên hải ngăn cấm địch quân xâm nhập nữa. Ông trở thành một ngư phủ. Môi trường sinh hoạt vẫn là sóng cao, biển cả, nhưng người lính thất trận không còn bao giờ tìm lại được những phút vui hồn nhiên ngày xưa. Ông lơ là với mọi việc, kể cả việc giáo dục, hướng dẫn con cái trên đường học vấn.
Gánh nặng trách nhiệm gia đình ông đặt hết lên đôi vai gầy của vợ. Bà can đảm, tháo vác gây dựng cho đàn con 4 đứa. Đứa nào cũng tốt nghiệp đại học, cũng có công ăn, việc làm vững vàng. Sáu năm trước người lính biển Đại Dương qua đời. Bác sĩ ghi trên giấy khai tử là ông chết tự nhiên, không bệnh hoạn gì cả. Nhưng bà Thủy biết ông bệnh: cái bệnh u buồn, uất ức của một người lính đã làm tất cả những gì sức mình làm được mà vẫn không bảo vệ được đất nước.
Chôn chồng xong, bà tiếp tục lo cho con, trách nhiệm mà bà vẫn gánh vác ngay cả trong lúc ông còn sống. Bà vui với trách nhiệm, với sự thành công của con cái, và những tưởng trang sổ đời bà đã ghi đến những giòng cuối, với bốn chữ “Tiết Hạnh Khả Phong” đúc bằng bạch kim, lộng trong khung vàng 24 để vinh danh cuộc đời bó tròn, nén vuông của một người đàn bà Việt Nam. Nhưng giờ này, chữ chót trên trang giấy lại là chữ “yêu” đầy trớ trêu khiến bà Thái Thủy nghe ngượng ngùng với gia đình, với con, với người đồng hương trong cái xã hội Việt Nam thích miệng tiếng.

Bà Thuỷ Ngượng vì tính chất muộn màng của cuộc tình cuối đời. Tuy nhiên bà vững vàng và chân thành tin tưởng tình yêu giữa bà và ông Chương đích thực là tình yêu chứ không phải là một cuộc sống chung để đỡ đần, an ủi nhau trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời. Nhiều người đàn bà trang lứa với bà đã hành động như vậy. Vài năm sau khi chôn cất người bạn đời, họ tìm một người bạn cuối đời, để trốn cái quạnh hiu, lạnh lẽo của những năm empty nest ảm đạm: con chim trống gẫy cánh, đàn chim con bay xa, xây dựng tổ riêng của chúng, bỏ quên bà đối diện với những buổi chiều dài vô tận.
Bà Thủy không chóa mắt với cái “cấp bằng” tiết hạnh khả phong của xã hội, nhưng bà cũng không coi nhẹ việc bước thêm một bước nữa. Bà đã diện bích trong suốt 6 năm dài. Bà sợ cái trống vắng, cô quạnh của người đàn bà góa Việt Nam, quen lấy cuộc sống gia đình làm căn bản, và đặt nhẹ, nếu không hoàn toàn gạt bỏ, mọi sinh hoạt bên ngoài ngưỡng cửa. Giờ này, không còn cuộc sống gia đình, họ không còn bất cứ một bận rộn, một bận tâm nào khác nữa. Họ mất căn bản, giao động và thèm một ràng buộc có tác dụng tạo thăng bằng.
Khoảng thời gian khắc nghiệt nhất là 4 tiếng đồng hồ giữa bữa ăn chiều và giờ đi ngủ. Bốn tiếng đồng hồ đó bà không nói một tiếng nào, không có ai để nói. Bà ngồi yên trên ghế, tắt truyền hình, tắt đèn lớn và cam phận im lặng. Tất cả, từ ngoại vi đến nội tâm, đều trống vắng.
Bà xin bác sĩ thuốc ngủ, hy vọng kéo dài giấc ngủ, kéo dài thời gian vô tri giác, để chạy trốn cô quạnh. Yếu tố giúp bà còn chịu đựng được với cô quạnh là bà vô cùng quan tâm đến cảm giác của các con trước giả thuyết bà lập lại gia đình. Bà có thể có chồng khác, nhưng, bà biết, chúng không bao giờ hình dung được, không bao giờ chấp nhận được sự hiện diện của người đàn ông thứ nhì trong đời bà với ngôi vị của cha chúng ngày trước.
Bốn đứa con của bà Thái Thủy, 3 trai, một gái, đều là những con chim trưởng thành, đủ lông, đủ cánh, rời tổ, và vỗ cánh bay thật xa. Chúng vô cùng hiếu thảo, vô cùng thương yêu mẹ, nhưng chắc chắn chúng sẽ ngạc nhiên nếu có người nói cho chúng biết là bà cô quạnh đến mức không thể nào chịu đựng lâu hơn được nữa. Thằng lớn, thằng Châu, làm bác sĩ giải phẫu tại San Francisco, thằng thứ nhì, thằng Đức, làm giáo sư tại U.Mass/Boston; đứa thứ ba, con Oanh, dạy cùng trường với thằng Đức, và đứa út, thằng Hoàng, một khoa học gia không gian, làm việc tại Texas.
Bà Thủy chưa có cháu. Nàng dâu độc nhất của bà là bác sĩ Agatha Trần, người Anh, vợ của giáo sư thạc sĩ Đức. Thằng Châu đang đính hôn với cô Lý Lệ Bông, nhà vô địch trợt tuyết của Trung Cộng. Con Oanh thương một nhà thơ Nhật, thĩ sĩ Satoru, chuyên viết bình luận cho tờ Boston Globe. Thằng Hoàng đầu để trên Hỏa Tinh, chân không chạm đất, và chưa bao giờ nhận ra là trên mặt quả cầu còn có phái nữ mà nó có thể cưới làm vợ. Nó tính toán chính xác từng phút khoảng thời gian cần thiết để một chiếc vệ tinh bay từ Texas đến quỷ đạo của Hỏa Tinh, ngôi tinh tú mà nó đang là một trong những khoa học gia phụ trách chương trình nghiên cứu. Nhưng nó sẽ phải mở sổ ra coi nếu có ai hỏi số tiền nó đang có trong chương mục ngân hàng, hoặc số điện thoại của mẹ.
Bà Thủy không có một khó khăn nhỏ nào trong những liên hệ với các con, với cô dâu Ăng Lê, cô dâu tương lai Trung Cộng và cậu rể tương lai Phú Sĩ Sơn. Bẩy người này đều yêu thương bà và mỗi năm 4 lần biểu lộ tình thương bằng những lời chúc tụng và quà cáp qua 4 dịp: Sinh nhật bà, ngày Từ mẫu, ngày Giáng Sinh và ngày Tết âm lịch.
Không có những khó khăn nhỏ, nhưng bà đang dấu một khó khăn lớn: cuộc tình cuối đời của bà. Bà van vái cuộc tình này không chạm vào những cảm quan căn bản của con, và gây cho chúng những xúc động quá đáng. Bà tự hiểu thái độ không vui của chúng sẽ là cái giá mà bà không nhận trả để tiếp tục duy trì cuộc tình mà bà vô cùng trân quý. Đó là trở ngại duy nhất.

“Anh xơi lưng bát nữa”, bà Thủy mời, mặc dù bà biết ông Chương không ăn nữa. Mỗi bữa ông chỉ ăn hai chén cơm. Thêm một chén rau và một pao cá nữa cũng vừa no. Giá sinh hoạt tại thành phố Biloxi rất rẻ. Hai người ăn uống đầy đủ cũng không tốn kém nhiều hơn mười đồng mỗi ngày. Tiền hưu trí của họ thừa thãi bảo đảm cho họ một cuộc sống vô lo cho đến miên viễn.
Ông Chương không hút thuốc, không uống rượu. Số tiền phung phí duy nhất của ông là $600 tiền mướn căn phố số 913, mười sáu tầng thấp hơn căn phố số 2513 mà ông đang ngồi ăn cơm. Cả tháng ông không về đến phòng ông một lần. Quần áo, giấy tờ của ông, ông để cả trên này. Thơ từ ông nhận qua thùng thơ.
Tất cả những gì trong hai cuộc đời đều đã bỏ chung vào một, trừ chương mục ngân hàng và hai căn phố. Họ tránh không đả động đến chuyện này, cũng như chưa bao giờ họ đề cập đến việc hợp thức hóa liên hệ đã 99 phần trăm mang tính chất vợ chồng của họ. Phần trăm còn lại là công bố liên hệ tình cảm của họ với 4 đứa con bà.
“Để em gọt xoài anh dùng tráng miệng”, giọng người đàn bà Hà Nội lần này ngọt hơn miếng xoài ông Chương chưa ăn.
Bà vói tay định lấy quả xoài trong cái làn mây nhỏ đựng trái cây đặt trên đầu bàn thi chuông điện thoại reo. Cánh tay bà ngừng đứng. Khuôn mặt ông nghiêm trọng.
“Chắc mấy đứa nhỏ”, bà vừa nói vừa đứng dạy đi lại tủ sách, trên mặt tủ chiếc điện thoại đang reo đến tiếng thứ ba.
Bà Thủy vừa cất tiếng là Oanh reo lên, “Mommy. I miss you”, tiếng nàng rõ đến mức ngồi khá xa ông Chương vẫn nghe rõ. “Ngày mai con về ăn tết với Mommy”.
“Con đi hãng máy bay nào? Mấy giờ tới để má đi rước”.
“Con take American Airlines, flight 107. Arrival time at Gulf Port Airport là 11:15. Nhưng má đừng rước, con có rent-a-car included trong package rồi”.
“Satoru có về với con không?”
“He has no vacation. Con về một mình. Nó muốn join con lắm, nó thích cái giao thừa tradition của mình. Nó xuống rước con ngày week end.”
Bà Thủy cười vì cách nói tiếng Việt ba rọi của cô con gái cưng. “Mai má làm món mắm thái thịt luộc cho con ăn.”
“Con thích ăn mắm. Cảm ơn má nhớ món preferred của con. See you tomorrow”.
Mặc dù ngôn ngữ pha trộn nhưng cuộc điện đàm ngắn vẫn chuyên chở đầy đủ tình cô con gái thương mẹ. Oanh chào đời tại Biloxi, một năm sau ngày mất nước. Nói theo ngôn từ của dân chài thì nàng sanh dưới nước. Ba chữ này có nghĩa là Oanh là con của một ngư phủ, sanh ra để trở thành ngư phủ.
Đặt ống nói xuống, bà Thủy bảo ông Chương điều ông đã nghe, và đã đoán hiểu, “Ngày mai con Oanh về ăn tết với em”.
“Mừng em. Anh biết em nhớ con”, ông Chương nói mừng nhưng giọng ông không nghe mừng. Bà Thủy nhận ra ngay và hiểu nguyên nhân nỗi buồn của ông: ông sẽ cô độc trong những ngày đầu năm.
“Con Oanh chỉ ở đây vài ngày”, bà an ủi ông. “Cuối tuần thằng Satoru xuống đón nó”.
“Con về thăm em là chuyện vui. Anh mừng cho em. Sáng sớm mai anh dọn xuống dưới cho rộng chỗ”. Ông làm như chỉ vì thiếu chỗ mà ông nhường chỗ cho Oanh. Nhưng dĩ nhiên lý do ông dọn ra không phải là nhu cầu khoảng trống.
Căn phố 2513 hai phòng. Hai ông bà chỉ xử dụng có một phòng, phòng kia là phòng vãng lai vẫn luôn luôn bỏ trống. Ngoài giường ngủ, bà Thủy còn kê thêm bộ computer để tối tối liên lạc email với con. Điều trớ trêu là khách xử dụng phòng vãng lai lại không ai khác hơn là các con bà, do đó, hễ có khách là không thể có ông Chương. Ít nhất tình trạng đó cũng sẽ còn kéo dài đến ngày nào bà nói được với con việc tái giá.
Ông Chương xuống căn 913 để nhường chỗ cho Oanh. Nhu cầu nhường nhịn có thật, nhưng chỗ nhường không phải là trong không gian mà là trên tình cảm. Oanh không chiếm chỗ của ông trong căn phố, chỗ cô chiếm là trong tình cảm của bà mẹ.
“Xin anh đừng buồn”, bà Thủy bảo ông. “Nhường cho con vài ngày rồi nó lại trở về Boston”.
Ông cười gượng, “Sao anh lại buồn? Anh hiểu nỗi khổ tâm của em. Anh yêu em”.

Buớc nhanh xuống, không đóng cửa xe, cô “Mỹ con” ôm chầm lấy mẹ hôn dài. “I miss you, Mommy”.
“Má thương con”, câu trả lời điềm đạm hơn nhưng không kém thắm thiết.
Oanh buông mẹ ra, “Để con đem baggage xuống”. Câu nói, nụ hôn, và cái ôm không có gạch nối và dường như tự động, dễ dàng diễn ra. Người bàng quang có thể cho là Oanh hơi máy móc, nhưng bà Thủy vẫn nhận đủ hơi ấm tình mẹ con. Bà không đòi hỏi nhiều hơn nữa.
“Bỏ hành lý xuống đây, mẹ kéo lên lầu trước, con đem xe cất vào nhà xe rồi lên sau”. Bà đã quen thuộc đến mức không nhận ra thái độ và ngôn ngữ rất ít Việt Nam của con. Bà tự an ủi là cái vỏ lai căng đó không quan hệ ngày nào nó vẫn còn gói ghém tình thương của con cái. Oanh Mỹ hóa từ từ, từng ngày một, trước cập mắt chứng kiến và chấp nhận của bà. Bà thụ động chịu thua cuộc trong cuộc tranh chấp văn hóa mà đối tượng là các con bà. Thế lực tranh chấp với bà quá mạnh. Trường học, bạn bè, môi trường, truyền thông, … tất cả đều tạo cho các con bà trở thành những người Mỹ. Ảnh hưởng của bà nhỏ hơn. Nhưng bà thương con, dù nó sống theo bất cứ lối nào. Tình thương của bà hoàn toàn không điều kiện.
Mặc dù phải cất xe, Oanh chỉ chậm hơn mẹ khoảng hai phút. Trẻ hơn mẹ 41 tuổi, cô nhanh nhẹn, mau mắn hơn rất nhiều. Bước qua ngưỡng cửa, cô hinh hỉnh mũi rồi hỏi mẹ, “There is no mùi mắm?”
“Mắm thái có nấu đâu mà có mùi”, bà Thủy bảo con. “Chắc con quên rồi, món mắm thái ăn cặp với thịt heo luộc đó”.
“Ồ, I remember now. Món đó ngon lắm. Satoru nó ưa lắm, lần trước nó ăn ở đây”.
“Con còn ở đây mấy ngày, mẹ nấu những món con vẫn thích cho con ăn”.
“Ơ Boston có Vietnamese restaurant, nhưng nó không biết cook giống mẹ cook đâu. Con thích nhiều món mẹ cook lắm, nhưng con không biết tên để order nhà hàng”.
“Mẹ biết con thích những món gì”.
Oanh lại ôm mẹ, “I know that you know. Cảm ơn Mommy”.
Lật cổ tay coi đồng hồ cô nói, “Còn sớm quá, mình xuống biển chơi. Con nhớ biển Biloxi”.
Bãi biển nằm ngay trước cao ốc. Qua cửa sổ bà Thủy nhìn giải cát trắng trải dài đến mút tầm mắt bên dưới. Trời lạnh nhưng nắng đẹp. Vài cánh buồm màu sắc rực rỡ đang đẩy những con thuyền thể thao lướt sóng. Những người chơi thuyền chấp nhận cái lạnh của mùa đông. Có thể tiết trời này còn kích thích họ nữa. Nhưng giá lạnh không kích thích người tản bộ: bờ biển vắng ngắt.
Bất chấp lạnh và vắng, bà Thủy chiều con. “Để mẹ mặc thêm cái áo ấm rồi mình đi”, bà bảo con.

Nhưng Oanh không định đi dạo biển như bà tưởng. Vào thang máy nàng không nhấn L đề xuống lobby mà lại nhấn P.2 để thang ngừng ở nhà xe.
“Con đi dạo biển bằng xe à?” giọng bà Thủy hơi ngạc nhiên.
“Con xuống bến tầu South East. Con muốn nhìn lại cảnh cầu tầu”.
South East là tên một hãng hải sản. Những hãng này thường làm một cầu tầu bằng gỗ dài khoảng 30 thước, đủ cho chiều dài của hai chiếc tầu đậu cặp mỗi bên. Tầu đậu cặp đôi, và đậu cả hai bên cầu nên thường xuyên có tám chiếc buộc đỏi tại đó. Liên hệ giữa chủ hãng hải sản và chủ tầu là liên hệ thương mại. Mặc dù không bị ràng buộc bởi khế ước hay khẩu ước, nhưng tầu đậu cầu nào, bán tôm cho hãng hải sản đó, và nếu hãng có cây dầu, nhà máy làm nước đá tầu cũng đổ dầu, mua đá tại hãng.
Không chủ tầu nào vi phạm khế ước ngầm này. Đi biển về, họ lái tầu thẳng vào cái ụ quen thuộc, buộc đỏi, đem tôm lên hãng cân bán. Giá tôm, giá dầu, và giá đá được toàn thể chủ hãng hải sản ấn định và đồng loạt thi hành nên không có chênh lệch giá cả tạo ra tranh thương.
Ông Đại Dương đậu chiếc ngư thuyền Thái Thủy tại bến South East. Bà Thủy thường dẫn con xuống cầu tầu đón chồng mỗi lần ông về bến. Trước khi về ông luôn luôn báo tin trước. Tình yêu vợ và thói quen sinh hoạt quân sự tạo cho ông cái nhu cầu liên lạc vô tuyến giữa chiếc ngư thuyền đang lênh đênh trên mặt biển và gia đình ông trên bờ.
Ông đặt một máy vô tuyến ở nhà. Máy trên tầu thường xuyên mở vì nhu cầu hải hành và ngư nghiệp nên bà có thể gọi ông bất cứ lúc nào cần gọi. Nhưng dù không có chuyện gì bà cũng vẫn mở máy liên lạc với ông mỗi ngày 3 lần vào những lúc 8 giờ sáng, 1 giờ trưa và 7 giờ tối. Ông chỉ nói chuyện với con mỗi tối, vì những giờ liên lạc sáng và trưa, chúng còn ở trong trường học. Gần 20 năm liên lạc vô tuyến với bố vào một thời điểm nhất định đã tạo ra thói quen thân thuộc cho cả 4 đứa con ông, nhất là cho Oanh, cô gái rượu mà ông cưng chiều. Oanh vẫn còn nhớ hình ảnh hùng mạnh của bố, đứng trước mũi ghe, dùng tay ra thủ lệnh cho người “bạn” lái tầu cặp bến. Khi tầu cập đủ gần cầu, ông ném đầu giây đỏi lên cho Châu để cậu trai trưởng cột tầu.
Chỉ những ngày tầu về bến đúng dịp cuối tuần bà Thủy mới đưa con xuống bến đón chồng. Ngày thường, bà xuống một mình. Do đó Oanh không nhìn thấy hình ảnh sinh hoạt của bố nhiều bằng nàng nghe giọng ông trên máy. Ông có thể hỏi nàng: Con hiểu phương trình đại số đó chưa? Phương trình ông hỏi là để giải bài toán mà ông đã giảng cho con tối hôm trước, khi Oanh nói với ông là nàng không làm được. 

Ông hỏi từng đứa về chuyện học hành của chúng, và giờ liên lạc truyền tin buổi tối giúp duy trì quan hệ mật thiết giữa người cha lênh đênh trên biển cả và đàn con đang quây quần trên bàn học, quanh cái máy radio. 
“Radio communication là cái military nostalgy chót của ba”, vừa đi với mẹ trên cầu tầu, Oanh vừa hỏi. “Mommy có nghĩ vậy không?”
Điều bà Thủy đang nghĩ là nguyên nhân nào Oanh đưa bà xuống đây để nhắc lại cái kỷ niệm liên lạc vô tuyến ngày trước. Phải chăng cô đã biết mối tình giữa bà và ông Chương?
 

Chiếc ngư thuyền Thái Thủy cột đỏi ở cuối cầu. Chủ mới cũng là một ngư phủ Việt Nam. Có thể vì ngại làm thủ tục đổi tên tầu nên ông ta vẫn giữ nguyên cái tên Thái Thủy.
“The new owner không care vẽ đẹp the boat’s name”, Oanh nhận xét.
Trước kia ông Đại Dương sơn tên vợ lên mũi tầu bằng lối chữ viết thảo, mầu tím trên nền trắng. Ông giải thích: “Năm 57 anh đem cô nữ sinh mực tím xuống với sinh hoạt của Thái Bình Dương, năm 75 anh lại đem Thái Thủy mực tím xuống Đại Tây Dương”.
Không phải chờ đến việc ông đem tên bà đặt tên cho con tầu ngày đêm cùng ông cỡi sóng, lướt gió bà mới ý thức được tình ông yêu bà vô cùng nồng nàn, bền chặt. Bà nhận ra tình yêu của ông trong mọi sinh hoạt hàng ngày, từ giọng nói cho đến ánh mắt ông nhìn bà. Nhưng bà Thủy cũng biết là bà chỉ chiếm một phần ba tình cảm của ông. Ngoài bà, ông còn yêu nước và yêu quân đội.
Gần 30 năm sống lưu vong, bà có dịp nhận ra là quân nhân Mỹ – và có thể quân nhân thuộc mọi quốc gia khác – không yêu nước, yêu quân đội bằng yêu vợ. Bà không thấy họ tha thiết, mải mê với việc phục vụ quân đội, phục vụ đất nước đến mức quên và hy sinh cả vợ, con. Quân nhân Việt Nam phục vụ như vậy. Nước Mỹ chưa bao giờ mất vào tay quân thù nên bà không có tiêu chuẩn để so sánh tâm trạng của người Mỹ mất nước với tâm trạng của chồng bà.
“Cái tầu looked indestructible”, Oanh nhận xét. “Phải không Mommy?”
“Năm mới qua đây, ba con tự tay đóng lấy đó. Ba con lựa gỗ tốt, đóng dàn sườn kỹ lắm”.
Bà Thủy vẫn phân vân chưa tìm ra nguyên nhân Oanh đưa bà xuống cầu tầu South East. Cô đang nhắc bà là chiếc Thái Thủy còn đó, bà còn đó. Người không còn nữa là bố cô.
“Sao con lại đưa mẹ xuống đây để nhắc đến ba?” bà hỏi con. Bà không muốn kéo dài những ngờ vực ngỡ ngàng. Nếu Oanh đã biết chuyện tình của bà với ông Chương, bà muốn cô biết thật đúng, thật rõ tâm trạng và hoàn cảnh của bà.
“You ask me tại sao?” Oanh bật cười. “I don’t know tại sao. May be tại tết is reminding me about his lì xì”. Giọng nói, tiếng cười và khuôn mặt chân tình của con lập tức đập tan mọi ngờ vực trong lòng người mẹ. Bà Thủy biết con bà không có tính nói quanh. Cả 4 đứa cùng không thích quanh co. Chúng xử sự thẳng thắn, minh bạch.

CHỈ TỐI HÔM ĐÓ Oanh chứng minh cho mẹ thấy là bà không nhận xét lầm về tính nết của cô.
Chín giờ tối, sau bữa cơm chiều và dăm câu chuyện khào, Oanh vào căn buồng vãng lai đã trở thành buồng ngủ của nàng. Lấy quần áo trong va li ra treo vào tủ áo, nàng chưng hửng nhìn cái áo veste đàn ông trên móc. Áo của bố ngày xưa? Oanh cầm áo lên và tin là không đúng size của bố. Tò mò nàng thọc tay tìm túi ngoài, túi trong và vật nàng tìm được là một tập cùi ngân phiếu mang tên người chủ chương mục là ông Lý văn Chương.
Chưa suy luận một giây ngắn nào cả, Oanh chạy vội sang buồng mẹ, chìa cuồn ngân phiếu cũ ra hỏi: “Ong Chương nào vậy, Mommy?”
Bà Thủy không nhìn tập ngân phiếu mà nhìn thẳng vào mặt con. Nét ngay thẳng buổi trưa vẫn còn nguyên đó. Khuôn mặt vô tâm chỉ đang biến đổi dần theo thái độ im lặng của mẹ.
“Who ông Chương is, Mommy?” giọng Oanh cấp bách hơn. “His suit is in my closet”.
“Con ngồi xuống đây, mẹ nói hết cho con nghe”.
Bà Thủy nói hết. Bà nói rất thành thật. Giọng bà nghẹn lại khi bà đề cập đến những buổi tối trống vắng, dài vô tận mà bà đã câm lặng chịu đựng.

Oanh ôm chầm lấy mẹ. “Poor Mommy. I love you.”
“Con có tha thứ cho mẹ không?”
“Who am I to accuse you? Mommy”. Oanh nói. “I love you. I now love you much more than before you told me about your loneliness.”

Nửa đêm, 
Bà Thủy cúng giao thừa một mình. Ngày còn nhỏ Oanh rất thích thức khuya chờ xem mẹ cúng.
Đêm nay cửa phòng nàng đóng chặt. Bà Thủy nghe văng vẳng có tiếng nàng nói. Bà nghĩ Oanh điện thoại cho anh, em cô về chuyện tình của mẹ mà nàng vừa biết.
Bà cũng điện thoại. Giọng thì thào bà bảo ông Chương: “Con nó biết rồi. Em cũng đã nói hết mọi điều cho nó nghe. Anh biết tại sao nó biết không?” Bà kể cho ông nghe chuyện cái áo ông bỏ quên trên móc.
“Anh xin lỗi em”, tiếng ông Chương thoang thoảng như tiếng gió ngoài Vịnh Mễ Tây Cơ. “Anh vô ý quá.”
“Việc đã rồi. Vả lại em cũng không có ý dấu con mãi mãi.”
“Anh muốn có mặt bên em trong lúc này. Anh muốn ôm em vào lòng, muốn hôn em để cùng chia những lo lắng của em.”
“Em cũng thèm như vậy lắm”, bà Thủy nói như rít lên. Thèm muốn được tiếng rít diễn tả đầy đủ hơn khả năng hạn hẹp của ngôn ngữ để nói lên cảm giác thật bà đang sống. “Con nó khóa kín cửa buồng lại. Nó đang nói chuyện bằng điện thoại cầm tay của nó. Nhưng nó có thể mở cửa ra bất cứ lúc nào.”
 

Bà Thủy muốn bà có mặt lúc Oanh mở cửa. Nhưng bà cũng muốn ra thang máy xuống tầng lầu 9 tìm người yêu.

Trong bữa cơm trưa mồng một tết Oanh nói với mẹ: “Please invite ông Chương to our dinner tonight at nhà hàng Michell, Mommy.”
Bà Thủy vui mừng nhưng không muốn tỏ ra cho con thấy. “Cảm ơn con,” bà vừa nói vừa nhìn con. “Mẹ sẽ mời ổng.”
“You are very welcome, Mommy.”
Câu nói nghe khách sáo nhưng bà Thủy tin là Oanh xúc động nhiều hơn vẻ lịch sự bên ngoài.
Oanh nói tiếp: “Dinner lúc 8 giờ. Con tới đó trước. You come later with ông Chương.”
“Sao con không cùng đi?”
“I’m the host, Oanh nói. “I want to be there trước để lo that every thing is right.”
Bà Thủy cười vì cái cung cách ngoại lai của con. “Mẹ mày”, bà chửi yêu.
Người đàn bà trẻ bị Mỹ hóa vẫn hiểu cái nghĩa âu yếm của tiếng chửi. “I love you, Mommy”, Oanh vừa nói vừa hôn mẹ.

“Anh hình dung thử thái độ của Oanh sẽ như thế nào?” Giọng bà Thủy lo lắng.
Xe đã vào đến bãi đậu của nhà hàng, ông Chương cẩn thận lui vào khoảng trống giữa hai cái xe đã đậu trước. “Anh nghĩ Oanh nó sẽ không phản đối. Nó mời anh ăn tết là chỉ dấu tốt.” Ông Chương nói cứng để người yêu vững bụng. Giọng ông không phản ánh nội dung câu nói.
Bà Thủy bám ngay vào cái phao lạc quan này: “Em van vái là con nó đừng buồn. Nó buồn, nó khổ, chắc em chết mất. Em thương nó lắm.”
Ông Chương đưa tay choàng ngang lưng bà. Ông dìu bà, và bà yếu đuối dựa vào vòng tay dìu dặt của ông. Cánh cửa tự động của nhà hàng mở rộng đón mời họ. Người quản lý đứng sẵn, có vẻ đang chờ họ. Trịnh trọng đưa tay trong cử chỉ hướng dẫn, ông ta nói: “Xin mời ông bà đi thẳng vào phòng ăn riêng,” vừa nói ông vừa lăng xăng đi trước mở cửa.
Ông Chương nghe cơ thể người yêu run rẩy trong vòng tay ông. Bà hồi hộp. Vòng tay nâng đỡ siết lại chặt chẽ hơn, cam kết hơn.
Bản nhạc “Here Comes the Bride” trổi lên, không bằng âm điệu mà qua giọng hợp ca của 7 người trẻ, nam có, nữ có, Việt có, Nhật có, Anh có. Bẩy người đứng thành một hàng ngang, cả bẩy khuôn mặt cùng nghiêm chỉnh như họ đang hát quốc ca.
Bà Thủy chết lặng. Bà lựng khựng không biết phải nói gì, phải làm gì.
Thằng Châu, con trưởng của bà, trang trọng nói: “Chúng con kính chúc má và dượng Chương trăm năm hạnh phúc.”
Mọi người vỗ tay. Ngoài trước cửa nhà hàng một giây pháo 15,000 viên bắt đầu phát nổ. Bà Thủy thầm cảm ơn tràng pháo giúp bà vài phút để dằn cho xúc động lắng xuống. Nếu phải trả lời con ngay lập tức, chắc bà sẽ òa lên khóc vì cảm động. Giây pháo dứt, bà cất tiếng: “Mẹ cảm ơn các con đã đồng ý cho mẹ lập lại cuộc đời. Mẹ không muốn tạo cảnh khó xử cho các con, nhưng quả thực mẹ không chịu nổi những buổi tối cô quạnh quá dài, quá nặng nề…” bà lựng khựng, không tìm được lời để mô tả tâm trạng của mình.
Thằng Hoàng, nhà khoa học gia không gian, lên tiếng: “You don’t need our consent. Mommy vui, con vui.”
Cô dâu Agatha chạy lại nắm tay bà: “Thủy, we are very happy because you are.”
Oanh cầm nĩa gõ lên miệng ly. Sáu người kia tưng bừng gõ theo. Họ đòi cô dâu chú rể hôn nhau. Thủy ngượng nghịu quay lại nhìn Chương. Ông trịnh trọng nói: “Anh yêu em”, rồi quay ra nói chung với mọi người, “Tôi thành thật cảm ơn quý anh quý chị đã nhận tôi vào gia đình của quý anh, quý chị. Tôi hứa làm tất cả những gì trong sức tôi để bảo đảm hạnh phúc trọn khúc cuối cuộc đời của Thủy.”
Cúi xuống ông trang trọng hôn trên môi người yêu. Nụ hôn thật dài mà cũng thật say đắm.

Nguyễn Đạt Thịnh

Có Những Người Anh – Võ Đức Hảo


[vnguitar_net]-co nhung nguoi anh

NYC Aerials – Corbis Motion

Corbis NYC Aerials from Corbis Motion on Vimeo.

Tôi Nhớ Tên Anh—Hoàng Thi Thơ—Trish Thùy Trang—Mỹ Huyền


Toinhotenanh_1Toinhotenanh_2

Đón Xuân—Phạm Đình Chương—Ngọc Trân

Donxuan_1
Donxuan_2

2014 Wide Angles Los Angeles—Corbis Motion

Cần Cẩn Thận Với 9 Volt Batteries – Inside Edition

Hans Klok – World record – 15 grandes illusions en 5 minutes

Mùa Lễ Tạ Ơn: Cách Nướng Gà Tây Ngon—Nguyễn Thị Kim Loan

Gà tây mà… ngon ư? Thưa là có cách nướng cho ngon đấy ạ!

Nhưng trước khi nói cách nướng gà, xin nói chuyện về Lễ Tạ Ơn cái đã. Tôi chỉ biết đại khái là người Mỹ có truyền thống ăn gà tây (turkey) trong dịp Lễ Tạ Ơn vào mùa thu, cuối tháng 11. Gà tây được ăn kèm với các rau quả phụ như đậu que, bắp, khoai tán, bánh mì vụn nhào với nước cốt gà và gia vị (có thể nhồi vào bụng gà trước khi nướng nên gọi là stuffing)… Tráng miệng thì phải là bánh pie có nhân làm bằng bí đỏ (pumpkin) hoặc táo. Vào thời điểm này mùa màng đã xong và người ta sẽ nghỉ ngơi khi mùa đông tới, nên ăn mừng và tạ ơn Thiên Chúa, hoặc nói theo kiểu người nông dân là tạ ơn Trời Đất, về những hoa màu đã thu hoạch được trong năm qua.

CornucopiaThanksgivingKhông riêng gì bữa ăn đặc biệt vào dịp lễ Tạ Ơn, mà trong bữa ăn hằng ngày chúng ta cũng bày tỏ lòng tạ ơn với Thiên Chúa. Gia đình tôi, cũng như nhiều gia đình Công Giáo Việt Nam, thường nguyện Kinh Lạy Cha trước khi ăn, có lẽ vì có câu “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”. Người Mỹ không đọc Kinh Lạy Cha mà đọc lời nguyện trước bữa ăn trong đó mang ý nghĩa tạ ơn. Con tôi đọc kinh tiếng Việt như những con vẹt, chứ nào có liên tưởng đến thức ăn khi đọc từ “lương thực”, hoặc liên tưởng đến giờ chết khi chúng đọc “giờ lâm tử”. Sau này có khi tôi xướng Kinh Lạy Cha, có khi tôi đọc lời tạ ơn và xin Chúa “làm phép của ăn” như các Cha hay đọc trong các bữa tiệc cưới.

Cho đến một hôm, nhìn đĩa rau luộc xanh mát trên bàn ăn, tôi chợt liên tưởng đến người nông dân cực khổ gieo hạt, tưới nước, cắt rau đóng vào thùng đem tới vựa bán. Người tài xế chuyên chở và phân phối rau đi khắp nơi. Người làm công trong tiệm bày bán đầy đủ các loại rau cần thiết cho mọi người. Lại còn chủ hãng muớn tôi làm để tôi có tiền mua rau và các thực phẩm khác. Ðể có một món ăn đơn giản là đĩa rau luộc, mà Thiên Chúa đã ban cho biết bao con người sức khoẻ và thời giờ, cũng như sự khôn ngoan buôn bán, để phục vụ lẫn nhau! Và tôi cảm thấy Thiên Chúa thật là chu đáo trong đời sống của từng người. Tuy vẫn có những người không đủ ăn đủ mặc, nhưng có lẽ Chúa muốn để cho chúng ta có cơ hội bắt chước Ngài mà chăm lo giúp đỡ nhau. Từ đó trong lời nguyện trước bữa ăn, gia đình tôi cám ơn sự chu đáo của Thiên Chúa, và xin Chúa chúc lành cho gia đình của những người đã làm việc vất vả để chúng tôi có được những món ăn trên bàn. 

Bây giờ trở lại chuyện gà tây. Nói chung người VN thường cho là thịt gà tây không ngon nên không ăn, hoặc nếu… bất đắc dĩ phải ăn thì sẽ xin thêm đĩa muối tiêu chanh hoặc… nước mắm gừng! Riêng đại gia đình của tôi thì năm nào cũng ăn gà tây và năm nay là lần ăn gà tây thứ… 28 rồi! Năm đầu người Mỹ nướng, không thấy ngon. Mấy năm sau mình nướng, cũng không thấy ngon. Rồi thử đủ kiểu, thịt vẫn khô! Cách đây khoảng 8,9 năm, tôi thử tổng hợp nhiều… kỹ thuật nướng gà tây thành 1 công thức riêng và mọi người ăn đều thích. Cả những người vốn có thành kiến với thịt gà tây cũng ngạc nhiên khi ăn thử vì thấy thịt mềm, mướt, ngọt, và thơm. Cách làm này được viết ra đây để các bạn đọc nào cảm thấy muốn gà tây cho thật ngon thì cứ việc thử. Năm ngoái tôi đã chỉ trên internet như thế này và nhiều người đã làm thử và báo cho tôi biết rằng rất ngon. Tuy viết dài nhưng làm rất đơn giản và không cần nhiều vật liệu. 

BÍ QUYẾT:

1. Ướp gà qua đêm. 

2. Lúc đầu nướng 10 – 15’ to lửa (450 độ) không đậy cho da gà săn lại và giữ nước bên trong. 

2. Kế đó đổ hỗn hợp rượu vang trắng + nước broth gà đã đun sôi vào bụng gà. 

3. Tiếp tục nướng nhưng vặn nhỏ lò (325 độ F) và đậy lại, thịt gà sẽ không bị khô. 

4. Khoảng 1 giờ nướng cuối cùng thì mở ra cho da vàng và căng lên. 

VẬT LIỆU: 

– Gà tây 

– Seasoning salt (hoặc muối+tiêu) 

– Itialian herb mix (hoặc rosemary+thyme – loại khô) 

– 2 trái chanh xanh (lime) 

Dầu ăn để thoa gà 

– 1 lon nước broth gà (nước cốt gà) 

– 1 cup vang trắng 

roasted-turkey
CÁCH LÀM: 

1. Nếu gà đông lạnh thì bỏ xuống tủ lạnh dưới từ 3 ngày trước cho hết đá bên trong, hoặc ngâm nguyên ngày hôm trước trong một cái nồi lớn có đổ nước lạnh cho ngập gà. 

2. Buổi tối trước ngày Thanksgiving, lấy gà ra, moi bịch đồ lòng ra và rửa sạch trong ngoài, để cho gà ráo nước. Coi trên bịch nylon đựng gà để xem gà nặng bao nhiêu pounds, mỗi pound cần nướng bao nhiêu phút rồi nhân lên để tính thời lượng gà cần nướng trong lò cho đủ chín. 

3. Cắt 1 hoặc 2 trái chanh xanh (lime) chà kỹ khắp da gà, vừa chà vừa vắt nhẹ cho nước chanh phủ đều da gà. 

4. Rắc một lớp seasoning salt (hoặc mưối + tiêu) thật mỏng đều khắp da gà và chà vào phía trong bụng gà nữa. 

5. Dùng Italian herb mix, hoặc trộn các loại rosemary & thyme (khô) chung vào thành một hỗn hợp, chà (rub) lên da gà cho dính. 

6. Để gà vô khay sâu, phủ plastic, bỏ vô tủ lạnh ướp qua đệm. 

7. Sáng ngày Thanksgiving, lấy gà ra ngoài khoảng ½ giờ cho bớt lạnh. Vặn lò nóng 450 độ F. 

8. Thoa một lớp dầu ăn lên da gà. 

9. Cho gà vào khay sâu, bỏ vô lò 450 độ F, không đậy, nướng khoảng 15 phút cho da hơi khô lại để giữ nước gà bên trong không rỉ ra. Trong khi đó, nấu 1 long nước broth gà + 1 cup vang trắng cho sôi. Ðổ dung dịch này vào trong bụng gà. 

10. Lấy giấy bạc khổ lớn đậy kín gà lại. Vặn lửa nhỏ xuống 325 độ F và tiếp tục nướng theo thời lượng cần thiết cho sức nặng của gà. 

11. Trước khi gà chín khoảng 1 tiếng, gỡ giấy bạc ra và nướng tiếp cho da gà căng lên và trở màu vàng xậm. Khi gà vàng, lấy gà ra để bên ngoài thêm 10, 15 phút nữa hãy bắt đầu dung dao bén để cắt từng lát theo thớ thịt (carving). 

12. Có thể lấy nước cốt gà còn lại trong khay rạ, lấy bớt mỡ, xong đun sôi rồi đổ vào một cái thố sâu. Bỏ từng lát thịt gà vừa cắt vào thố nước này để dọn ra bàn ăn. Thịt gà sẽ nóng và bảo đảm không khô! 

detail_tip_slicedRoastedTurkey

Ghi chú: 

Nếu muốn gà còn hơi dai một chút kiểu người VN thích, thì tắt lò sớm khoảng 30 phút, để thêm 10 phút rồi lấy ra. 

Chúc các bạn thành công. Happy Thanksgiving! 

Nguyễn Thị Kim Loan

Bí Mật Của Ảo Thuật Được Giải Mã – Full Collection

Rơi Trên Đất Địch—Nguyễn Hữu Phước phỏng dịch

*Chuyện thật xảy ra trong chiến tranh Việt Nam
Nguyễn Hữu Phước (phóng tác theo nguyệt san Reader’s Digest)

Trong cuộc chiến chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam trước đây, bên cạnh những chiến tích hào hùng, những tấm gương can đảm của người quân nhân QLVNCH, chúng ta cũng không thể không nói đến sự chiến đấu của người bạn đồng minh.

Họ là những quân nhân đã vượt ngàn dặm để chiến đấu tại một vùng đất xa lạ chỉ vì lý tưởng bảo vệ tự do. Có những người ra đi để rồi không bao giờ trở lại, nhưng cũng có người may mắn sống sót. Và một trong những người may mắn nhất phải là Đại úy Locher của Không lực Hoa Kỳ.

R1
Maj. Robert Lodge (left) and Capt. Roger Locher (right) in the cockpit of their F-4D, seen earlier in 1972: the team already had two MiG-kills to their credit when they clashed with MiG-19s and MiG-21s on the morning of May 10, 1972.

Sau đây mời quý bạn theo dõi câu chuyện về Đại úy Roger Locher, một sĩ quan phi hành, kiêm chuyên viên vũ khí, đã từng tham dự nhiều phi vụ trên không phận Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam.

Locher thường bay trên loại phi cơ phản lực F-4 Phantom và đã hạ được nhiều phản lực MiG của địch trước khi chính phi cơ của anh bị bắn hạ trên không phận Bắc Việt. Anh tìm cách lẩn trốn và sau 23 ngày đã được toán cấp cứu bốc ra khỏi miền Bắc một cách an toàn. Tên tuổi của Locher được ghi lại với một kỹ lục trong cuộc chiến Việt Nam: Sống sót và được cứu thoát sau 23 ngày kẹt trong lòng địch.

Trong khi đang đu đưa với chiếc dù lơ lửng trên bầu trời phía Tây Bắc, cách Hà Nội 40 dặm, Đại úy Locher vẫn chưa thể tin đó là sự thật: mình bị bắn rơi. Tương tự như những người đi bay khác, anh không bao giờ nghĩ rằng chuyện đó có thể xảy ra cho mình.

Nhưng nó đã xảy ra. Một cảm giác nghẹt thở vì sự sợ hãi, bơ vơ đến càng lúc càng rõ rệt. Hai chiếc MiG màu bạc bóng loáng lướt qua phía trên Locher ở cao độ 10,000 bộ. Rồi những đám rừng cây hiện lờ mờ phía dưới. Anh đáp xuyên qua những ngọn cây và cuối cùng đôi bốt đã chạm đất…

Roger Locher là một sĩ quan trẻ mới 25 tuổi, vóc dáng cao lớn. Anh cất cánh vào sáng ngày 10 tháng 5 năm 1972 từ một căn cứ không quân bên Thái Lan. Mục tiêu: Hà Nội. Nhiệm vụ: ngăn chận và tiêu diệt các phi cơ MiG của địch trước khi chúng có thể tấn công các oanh tạc cơ của Hoa Kỳ.
Đây là phi vụ thứ 407 của Locher. Anh ngồi ghế sau của chiếc chiến đấu cơ phản lực F-4 Phantom hai chỗ ngồi, có nhiệm vụ điều khiển hệ thống vũ khí gồm các loại hỏa tiển, đại bác và bom. Trước đó không lâu, Locher đã bắn hạ được hai chiến đấu cơ MiG-21 của không quân Bắc Việt.

R2

Lúc này, trước mặt Locher về phía Tây Hà Nội, một chiếc MiG đang nhào xuống một chiếc Phantom. Anh khai hỏa hai hỏa tiển không-đối-không, chiếc MiG bốc cháy. Thêm hai chiếc MiG nữa bị các Phantom của Hoa Kỳ bắn hạ trước khi người phi công lái chiếc Phantom của Locher thét lên : Chúng mình bị trúng đạn rồi !

Khi ngọn lửa đã lan dần và chiếc Phantom không còn kiểm soát được nữa, lao đi vùn vụt, Locher hét lên : Tôi sắp sửa rời phi cơ. Rồi anh kéo mạnh cần máy tống, sau một tiếng ‘ bụp’ khô khan, thân người anh bị bắn văng ra không gian và anh ngất đi vài giây đông hồ…

Sau khi chạm đất, Locher đã hoàn toàn tĩnh táo. Anh biết chắc hai chiếc MiG vừa bay ngang đã liên lạc vô tuyến thông báo cho các lực lượng dưới đất biết về vị trí của mình. Cái dù của Locher bị vướng trên những cành cây mà anh không thể kéo ra được sẽ khiến địch xác định được vị trí một cách dễ dàng. Locher vội vã tháo dù ra khỏi người và bắt đầu di chuyển một cách khó nhọc, tiến lên phía sườn núi. Anh cẩn thận không để lại một dấu vết sau những bước chân của mình.

Khoảng mười phút sau, Locher thở thật khó khăn, cảm thấy chóng mặt, đôi chân mềm tựa như cao-su, hai bàn chân lạnh ngắt. Anh nghĩ thầm ‘ Mình bị shock. Hãy dừng lại. Bình tĩnh. Hãy bắt bộ óc mình hoạt động’. Rồi anh bò sâu vào cánh rừng đầy cây lá rậm rạp và nằm rạp xuống theo tư thế đôi chân cao hơn đầu.

Nghĩ đến tình trạng nguy hiểm hiện tại, Locher biết rằng mọi việc đang diễn ra một cách tệ hại. Vị trí anh đang ở quá xa về hướng Bắc. Điểm gần nhất mà anh có thể dùng máy liên lạc cấp cứu loại bỏ túi với các phi cơ bạn đang bay trên bầu trời là 90 dặm về phía Nam. Locher tính toán : 90 dặm ! Tìm cách lẩn trốn và bám chặt theo sườn núi, làm sao đi bộ ít nhất hai dặm trong một ngày, trong vòng 45 ngày, không lương thực và trên một địa thế hoàn toàn xa lạ. Nhưng bắt buộc phải cố gắng. Nếu kẻ thù có bắt được mình thì cũng thể để chúng bắt được một cách dễ dàng!

Locher lấy bình nước từ trong áo cấp cứu mặc trên người và từ từ uống hết một nửa, sửa lại cái nón lưới chống muỗi đội trên đầu, rồi với một cái địa bàn cầm tay và bản đồ hướng dẫn, anh thận trọng khởi hành về hướng Tây Nam. Sau mỗi bước chân, anh phải xem xét lại để xóa bỏ mọi dấu vết của đôi giày bốt, của những cành cây nhỏ bị đạp gẩy và tất cả những dấu vết khác có thể làm lộ tung tích của mình.

Tới trưa, đang đi bỗng Locher khựng lại, chết điếng. Từ phía trước mặt có những tiếng réo gọi nhau và những tiếng la hét như giận dữ tiến thẳng về phía anh. Anh vội vã bò sâu vào một bụi cây và nằm yên, trong lúc bọn người lùng sục tiến đến càng lúc càng gần.

Locher bỗng nhớ lại thời niên thiếu của mình ở vùng quê Sabetha, tiểu bang Akansas, nơi mà anh thường chơi trò giả làm vịt trời trốn trong bụi lau, cố gắng ẩn náu, để người thợ săn đang đến gần không thể phát giác. Locher nhủ thầm: Hãy thở thật nhẹ, đừng đầu hàng…Mồ hôi đổ ướt lưng, anh thầm cầu nguyện. Mũi anh có thể ngữi thấy cả mùi thuốc lá của những người đang sục sạo chung quanh. Có lúc tiếng chân người bước qua sát chổ anh đang ẩn nấp…

Ngày kế tiếp, sự việc trên lại tái diễn. Nhưng lần này, ngoài tiếng người la hét, Locher còn nghe thấy tiếng súng nổ. Anh nghĩ thầm : Họ đang tìm cách làm mình phải rời khỏi chổ ẩn nấp, giống như xua đuổi một con vịt trời bay ra khỏi bụi để bắn. Mình phải nằm yên. Họ có đạp lên mình mới mong tìm thấy…
Kẻ thù đã suýt chút nữa thì làm được viêc đó : Locher nghe thấy tiếng cành lá bị nghiền nát bởi bước chân người, sau đó hai người đàn ông với súng tiểu liên trên tay tiến tới cách chỗ anh chỉ có vài mét và…ngồi xuống nghỉ mệt. Một lúc sau, họ bỏ đi. Tiếp theo là một sự yên lặng rất đáng nghi ngờ. Họ bỏ đi thật hay gài bẩy chờ con chim bay ra khỏi cành? Locher quyết định tiếp tục nằm im tại chổ cho đến hết ngày, thỉnh thoảng chỉ dám duổi nhẹ chân tay, để cho các bắp thịt đỡ mỏi.

R3

Sang ngày thứ ba, Locher thử mở cái máy liên lạc dò tìm tần số cấp cứu và anh đã bắt được đối thoại của những phi công đang bay tìm kiếm một nhân viên phi hành vừa bị bắn rơi. Nhân viên này báo cáo rằng kẻ thù đang theo đuổi ông ta, đã rất gần và yêu cầu nên oanh tạc vị trí của mình. Ông ta đã chọn lựa cái chết hơn là bị cầm tù!…

Tín hiệu yếu dần, Locher tắt máy liên lạc. Sau đó anh nghe thấy tiếng nói chuyện của những tên cộng sản đang đi truy lùng mình, cách chỗ anh ẩn nấp khoảng 200 thước… Cái gì thế này ? Locher vừa thắc mắc tự hỏi vừa tìm cách tống khứ những con vắt đang lợi dụng tình thế ngặt nghèo này để tấn công cổ và cườm tay của anh. Rồi Locher nghĩ thầm : Trong ba ngày qua mình đã không đi đưọc quá một dặm. Có thể mình sẽ không thoát khỏi nơi này. Nhưng thôi, cứ hãy cố gắng xem mình sẽ trì hoãn bao lâu cái kết cuộc không thể nào tránh né được.

Sang ngày thứ tư, mặc dù phải bước đi một cách mệt nhọc, Locher vẫn kiên trì men theo sườn núi, lên xuống hết ngọn đồi này tới ngọn đồi khác. Nước không thành vấn đề. Trời mưa cách đêm, và vào buổi sáng anh phải hong quần áo cho khô, cẩn thận tránh không để cho giầy và vớ bị hôi thối.

Nhưng Locher không có lương thực. Anh đã thử ba loại trái cây rừng. Lúc đầu gậm nhấm một chút ít, rồi chờ khoảng nửa giờ xem phản ứng cơ thể ra sao. Kết quả, anh thấy những loại trái cây này không có hại. Nhưng số lượng tìm được cũng chẳng bao nhiêu…

Locher có thể cảm thấy sức lực trong người mình sa sút một cách rõ rệt theo từng ngày. Điều này rất dễ dàng đưa đến sự chấp nhận đầu hàng. Không, nhất định không. Locher tự nhủ mỗi ngày. Hãy để cho kẻ thù phải khổ công tìm kiếm mình !

Ngày thứ 12, sau khi trời hừng sáng, Locher tìm thấy một con đường mòn khá tốt dẫn về hướng Nam. Đối với Locher, con đường này thật tuyệt hảo, vì anh không còn phải dùng sức nhiều như khi đi xuyên rừng. Bất chợt, Locher nghe thấy nhều giọng nói đang tiến gần về phía mình. Những đứa trẻ chăn trâu đang lùa trâu về phía cánh đồng cỏ. Locher vội nhào vào một bụi rậm, bò đi cách đường mòn vài thước và nằm im. Nhưng những con trâu đã dừng lại gặm cỏ bên vệ đường, có con chỉ cách chổ chàng nằm vài thước. Thời gian trôi qua một cách chậm chạp, hành hạ Locher trong khi anh nằm im giờ này qua giờ khác.

Mãi tới gần hoàng hôn, Locher mới nghe thấy tiếng bọn trẻ gọi nhau, anh nghĩ : chúng bắt đầu lùa trâu về làng! Anh nghe thấy tiếng thở hồng hộc của từng con trâu và tiếng roi của bọn trẻ quất trên lưng những con vật để thúc chúng đi về. Một con trâu giận dữ khịt mũi, đạp chân vào một cành cây sát chỗ Locher nằm, khiến cành cây này đập mạnh vào mắt cá chân. Anh há hốc miệng vì đau, nhưng cố giữ không cho âm thanh thoát ra. Sau khi con trâu đi qua, lại tới đúa bé dẩm lên cành cây hồi nãy, khiến nó đập xuống đùi Locher. Cuối cùng là sự im lặng.

Sau khi trời tối, Locher lén đi bọc vòng quanh làng và tiến lên phía sườn núi để do xét tình hình chung quanh. Rồi anh lấy lá cây xếp thành một cái giường để ngủ. Thỉnh thoảng anh lại thức giấc, để tống khứ những con vắt đang hút máu mình. Mỗi con để lại một vết đau. Sau đó một trận mưa đổ xuống.
Trời sáng, Locher vừa sưởi nắng cho khô quần áo, vừa nghiên cứu cẩn thận lại bản đồ, rồi đi tới một kết luận kinh hoàng…là trong 12 ngày qua, anh chưa đi được quá 10 dặm đường chim bay! Nếu vẫn còn ở khu vực phía Bắc quá xa này, anh không có hy vọng được cứu thoát. Phải tiếp tục đi về phía Nam. Nhưng từ đây ra đồng bằng sông Hồng, với bề rộng chừng 20 dặm, khó lòng mà tìm được nơi trú ẩn khi hữu sự.

Không biết phải giải quyết ra sao, Locher đành ở lại vị trí ẩn náu của mình. Ngôi làng trải dài khoảng 500 mét dưới chân núi, và Locher có thể nghe thấy tiếng kẻng hàng ngày. Kẻng báo thức buổi sáng, kẻng đi làm, kẻng nghỉ giải lao, kẻng ăn trưa.v.v…

Ngày lại ngày trôi qua. Tới ngày thứ 20, Locher biết mình đã phí công sức. Anh sờ xuống đôi mông và cảm thấy chỉ còn da bọc xương. Đầu óc anh trống rỗng và chỉ còn nghĩ tới miếng ăn. Chỉ có hai giải pháp : một, nằm chết đói ở đây, hai, là đi xuống đồng bằng tìm cách lấy trộm thực phẩm.

Nhưng Locher cũng biết rằng, sau khi anh bắt đầu vượt qua cái thung lũng trống trải để xuống đồng bằng thì hầu như nắm chắc trong tay việc bị bắt làm tù binh. Locher nghĩ tới viễn tượng khủng khiếp khi bị giam cầm và xác định quyết tâm sẽ tự hành xử một cách danh dự, không để trở thành tù binh của địch. Thượng đế đã ban cho anh hai mươi lăm năm tự do và anh đã tận hưởng.

Vào tối ngày thứ 21, sau khi quyết định sẽ đi xuống đồng bằng vào trước rạng đông ngày hôm sau, Locher cảm thấy tâm hồn mình bình thản. Anh nhìn lên vần trăng vàng từ từ trôi ngang bầu trời, hít thở mùi vị tươi mát của không khí và thưởng thức sự cô quạnh của mình : anh vẫn còn tự do…

Một cơn mưa dài và nặng hạt làm Locher tĩnh giấc vào buổi sáng ngày thứ 22. Thì ra anh ngủ quên ! Mặt trời đã lên cao. Locher tức giận với chính mình. Dù đã có quyết định tự hành xử, nhưng anh không thể liều mạng một cách vô lý, đi ngang qua làng vào giữa thanh thiên bạch nhật. Thế là lại thêm một ngày chờ đợi và chiến đấu với đàn muỗi rừng…

Locher vừa thiếp đi thì chợt tĩnh vì những tiếng đạn. Anh nhìn thấy cả ánh chớp của những hỏa tiển địa-không được bắn lên từ ngôi làng kế cận, cách chỗ anh khoảng 8 dặm. Địch đang bắn lên các phi cơ Mỹ. Không chậm trể một giây, Locher vội vã nhấn nút máy liên lạc cấp cứu và nói : Bất cứ phi cơ Mỹ nào nghe tên OYSTER ONE BRAVO xin trả lời. (Oyster=tên hiệu anh trong phi vụ ; One=phi cơ dẫn đầu ; Bravo=ghế sau)

Sau đó, Locher nhấn nút nhận tín hiệu và nghe thấy tiếng người trả lời : Go ahead, Oyster One Bravo

” Ê anh bạn, tôi bị bắn hạ ở đây đã hơn 22 ngày. Chuyển tin dùm tôi vẫn bình an”
“Sẽ chuyển và tiếp tục liên lạc”
Mười phút sau, Locher nghe tiếng trả lời:
“Toán cấp cứu trên đường đến”

Toán cấp cứu đến liền sau đó nhưng đã bị các phi cơ MiG và đủ loại phòng không của địch đẩy lui. Locher tin tưởng một cách tuyệt đối rằng những người bạn của mình sẽ trở lại vào sáng hôm sau, và chắc chắn họ sẽ được địch ‘đón tiếp nồng hậu’.

Thực vậy, suốt buổi chiều và tối, Locher nghe thấy tiếng xe chở bộ đội tới và tiếng phi cơ MiG đáp xuống một phi trường gần đó. Như vậy, địch cũng đoán biết những gì sẽ xảy ra vào ngày hôm sau. Locher lo lắng không biết sự việc rồi đây sẽ ra sao…

Buổi sáng ngày thứ 23, kể từ ngày Đại úy Roger Locher bị bắn rơi, một lực lượng 38 phi cơ Mỹ gồm chiến đấu cơ, oanh tạc cơ phản lực, khu trục cánh quạt, trực thăng cấp cứu và phi cơ tiếp tế nhiên liệu trên không, cất cánh từ Thái Lan tới Bắc Việt để cứu người bị nạn. Đầu tiên, hai phi cơ mở tần số liên lạc với Locher và xử dụng các máy móc điện tử để xác định vị trí của anh. Một phi công nói qua máy: “Chúng tôi đã biết anh đang ở đâu rồi. Bây giờ anh cứ đúng tại chỗ, chúng tôi sắp kéo anh ra khỏi nơi này”

R4
Captain Roger Locher returns to Udorn Air Force Base in Thailand, greeted by General John W. Vogt, Seven Air Force Commander. Locher was retrieved from behind enemy lines only 60 miles (97 km) from Hanoi after 23 days evading capture.

Bên dưới mặt đất, Locher lạnh và run rẩy: “Xin Thượng đế bảo vệ họ, đừng để ai bị bắn rơi vì con”.
Khoảng 30 phút sau, hai trực thăng xuất hiện. Trong khi Locher làm dấu hiệu xác định vị trí của mình bằng kính phản chiếu, một trong hai chiếc bay về phía anh, chiếc còn lại chờ đợi tiếp cứu trong trường hợp khẩn cấp. Phía trên, các chiến đấu cơ vần vũ, gầm thét uy hiếp tinh thần địch.

Chiếc trực thăng dừng lại, lơ lửng phía trên vị trí của Locher khoảng 15 mét và thả xuống một ‘penetrator’ (dụng cụ có hình trái thủy lôi, có trọng lượng vừa đủ để làm xuyên thủng những tàng cây che phủ vị trí Locher đang ẩn nấp).

Tiếng súng liên thanh đồng loạt bắn ra từ ngôi làng dưới chân núi, nhưng sau đó đã vội im tiếng, vì bị trực thăng võ trang trả đũa.

Locher nhào về phia penetrator. Anh nhanh nhẹn kéo dây an toàn từ penetrator ra nịt vào người, và banh ba càng ngồi hình mỏ neo ra ngồi vào. Sau đó anh dơ ngón tay ra hiệu…

Trong khoảnh khắc, Locher đã được kéo lên và đưa vào trong thân trực thăng. Lực lượng cấp cứu trở về căn cứ. Một số MiG của địch bay lượn ở xa xa, hậm hực chứng kiến mà không dám lại gần, vì biết không thể địch lại lực lượng hùng hậu của Mỹ.

Về phần Đại úy Roger Locher, chuyến bay về Thái Lan phải là chuyến bay hạnh phúc nhất đời. Lúc đó anh không thể biết mình đã sút đi gần 15 kí-lô sau 23 ngày hoạn nạn, anh cũng không biết rằng mình là người sống sót lâu nhất trong số các phi công lâm nạn và đã được cứu thoát trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, và dĩ nhiên, anh cũng không thể biết rằng, cuộc cấp cứu anh là cuộc cấp cứu vào sâu trong lãnh thổ địch nhất và tất cả đã trở về an toàn.

Anh chỉ biết có một điều là mình đã được bạn bè cứu thoát. Họ đã liều chết để cứu anh. Bây giờ, ngồi trên phi cơ, họ luôn miệng cười đùa như thể đã quên mất việc mình vừa đi vào đất địch. Họ không cho Locher một dịp may nào để nói một lời cảm ơn. Anh chỉ biết nhìn họ với đôi mắt mở to, với nụ cười dễ thương, và những giọt lệ từ khóe mắt tràn ra, rồi từ từ lăn xuống bộ râu rậm của mình…

Nguyễn Hữu Phước
LTUC Xuân 93

Tôi Rất Yêu Em—Nguyệt Ánh & Tuấn Minh

Liên Khúc Sa Mạc Tình Yêu & Đời Đá Vàng – Thiên Kim & Y Phương

Hãy rất cẩn thận đối với trẻ em