Trang chủ » Nữ Công Gia Chánh (Trang 9)
Category Archives: Nữ Công Gia Chánh
An Lộc: Từ Địa Ngục Đến Anh Dũng—Đức Hà
“Nếu có người Mỹ nào thật sự muốn biết liệu kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh có thành công, hay liệu những đồng minh của người Mỹ có xứng đáng với sự hy sinh của biết bao binh lính Mỹ và gia đình, thì “Hell in An Loc” sẽ dứt khoát trả lời câu hỏi đó…”
George J. Veith, tác giả cuốn “Code-Name Bright Light: The Untold Story of U.S. POW Rescue Efforts During the Vietnam War.”
Từ căn hộ tại lầu ba một chung cư hiền hòa yên bình ở Fremont, người ở có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn những hàng cây với tàn lá đổi màu theo ngày tháng, mùa hè xanh biếc, sang thu chuyển vàng rồi rụng rơi trải thảm khắp mặt đường khi đông tới. Đó là một nơi tuyệt vời để nghỉ hưu và an hưởng tuổi già sau những ngày tháng vật vã với cuộc sống và quên đi dư âm vang vọng của đại bác, chiến xa, khói lửa chiến tranh. Nhưng người ở lại là một cựu tướng, một người từng cầm quân chỉ huy thế nên tâm hồn ông, trái tim ông, suy nghĩ của ông luôn khắc khoải về đất nước mà ông đã phải bỏ lại cách nay hơn 30 năm.
“Tuy gặp may mắn hơn nhiều người Việt tỵ nạn khác khi đến định cư tại Mỹ – kể cả những người ngang cấp bậc, nhưng tôi vẫn thấy buồn. Buồn vì mất nước và buồn vì nhiều người phải vướng vào lao tù, bao nhiêu gia đình ly tán,” cựu tướng Lâm Quang Thi chia xẻ trong một buổi chiều cuối thu lạnh giá.
Gần 80 tuổi, người ông vẫn thẳng đứng, dáng mảnh khảnh, giọng nói lớn sang sảng như khi còn chỉ huy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I năm nào. Có thể chăng vì nỗi u sầu ẩn khuất đó, nên ít thấy ông cười, cho dù câu chuyện trao đổi đôi lúc cũng ra ngoài đề tài về địa ngục An Lộc.
“Trận An Lộc được xem là trận chiến lớn nhứt trong suốt cuộc chiến Việt Nam – mà Sir Robert Thompson, cố vấn đặc biệt của Tổng Thống Nixon từng mô tả là chiến thắng quân sự lớn nhứt của Thế Giới Tự Do chống lại Cộng Sản sau Thế Chiến II, thế mà chưa bao giờ được truyền thông Mỹ nhắc tới,” ông bày tỏ sự bực tức và khẳng định rằng nếu mất An Lộc năm 1972 thì chỉ 24 tiếng đồng hồ sau quân Bắc Việt – dùng An Lộc làm bàn đạp, sẽ tiến thẳng vào Sài Gòn mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể nữa.
Nếu chiến thắng An Lộc giúp miền Nam đứng vững thêm được ba năm nữa nhưng cũng là tiền đề cho sự xụp đổ hoàn toàn của Cộng Sản vài năm sau đó, theo lời tác giả Lâm Quang Thi. Ông giải thích:
“Đó là điều mà ít người nhận thấy. Họ (truyền thông Mỹ) chỉ đề cao những chiến thắng của người Mỹ, và sự thật về An Lộc chưa bao giờ được nhắc đến cho đến ngày hôm nay, trong cuốn sách này.”
Những trăn trở đó đã khiến vị tướng quê Bạc Liêu không tiếc thời gian, bỏ công sức hơn bốn năm dài để nghiên cứu thu thập tài liệu, sử liệu, phỏng vấn những chỉ huy mặt trận còn sống sót, tiếp xúc những quân nhân tham dự trận đánh, so sánh các tài liệu của hai phía Việt và Mỹ, kể cả tranh luận với các tác giả Mỹ để hoàn thành cuốn “Hell in An Loc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam.”
Khi góp ý rằng hồi ký chiến tranh của người Việt xuất bản rất nhiều, phần lớn thổi phồng cá nhân, tài liệu dựa vào trí nhớ hay viết nhằm mục đích riêng tư nào đó nên người đọc đôi khi cảm thấy chán ngán và nghi ngờ thì cuốn Hell in An Lộc được tác giả nhấn mạnh là hoàn toàn trung thực. Ông nói:
“Năm 1972 tôi làm Tư Lệnh tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương điều động ba sư đoàn Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh trấn giữ hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên ở phía bắc và không liên quan gì đến chiến sự tại Vùng III nơi diễn ra trận chiến An Lộc. Thế nên tôi tin rằng có cái nhìn chính xác hơn, khách quan hơn và chủ yếu không phải phóng đại hay tâng bốc bất cứ ai.”
Ông cho biết thêm rằng khi nhà xuất bản University of North Texas Press bằng lòng cho in, sau khi hội đồng biên tập tranh luận về tính xác thực của các tài liệu, các chứng cứ ghi trong bản thảo và chấp nhận những phản bác có giá trị của ông đưa ra, thì đó là một thắng lợi nữa của An Lộc, tuy hơn muộn màng.
“Tôi không tin rằng đưa cuốn sách này ra vào thời điểm bây giờ là quá muộn cho dù câu chuyện xảy ra từ 1972; thêm vào đó sự thật về cuộc chiến An Lộc – mà tất cả người dân miền Nam đều biết dưới tên gọi Bình Long Anh Dũng trong Mùa Hè Đỏ Lửa, chưa bao giờ được nói tới.”
Tướng Thi cho hay mục đích của sách không ngoài việc cho thế hệ đi sau biết bậc cha ông đã chiến đấu dũng cảm vượt bực trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam, đồng thời cũng không quên nhắc đến vai trò thiết yếu của cố vấn Mỹ và sự yểm trợ hỏa lực tối đa của không quân và lục quân Mỹ cho An Lộc. Ông nói rằng từ cuốn sách này cộng đồng thế giới, các trường đại học, giới quân sự, các học giả có thêm một tài liệu tham khảo và biết thêm là quân dân Miền Nam đã bảo vệ sự vẹn toàn của đất nước như thế nào – trái với những tuyên truyền sai lệch và ác ý trước đây.
Tác giả cuốn “A Sense of Duty: My Father, My American Journey,” Quang X. Phạm, một cựu phi công Thủy Quân Lục Chiến Mỹ nhận xét: “Cuốn sách thứ hai đáng lẽ phải được viết từ lâu của Tướng Lâm Quang Thi đã cung cấp một góc độ nhìn thiếu sót hết sức quan trọng từ phía những người bạn đồng minh Mỹ trên chiến trường Nam Việt Nam. Có thể quan trọng hơn nữa, công trình nghiên cứu của ông đã thu thập được những tài liệu về những nỗ lực dũng cảm của quân lực Nam Việt Nam trong trận chiến quy mô nhứt, không hề được truyền thông Mỹ, quân đội Mỹ và điện ảnh Mỹ quan tâm nhắc nhở. Những cố vấn Mỹ hiện nay và những nhà lãnh đạo quân đội Iraq đang hình thành có thể học hỏi được nhiều từ cuốn sách này trong sứ mạng cùng nhau đánh một mặt trận.”
Vì thế nên khi đến thị sát An Lộc ngày 7 tháng Bẩy, 1972 Tổng Thống Thiệu đã phát biểu: “Chiến thắng Bình Long không chỉ là chiến thắng của Nam Việt Nam chống Cộng Sản Bắc Việt, chiến thắng Bình Long còn là chiến thắng của Thế Giới Tự Do đối với thuyết chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng thế giới của Cộng Sản.”
Vậy thì tại sao thắng lợi đó không được truyền thông Mỹ đề cao?
Phản Chiến
Giải thích về sự thờ ơ của truyền thông Mỹ, ông Thi cho hay năm 1972 khi Mỹ bắt đầu thi hành kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, báo chí chỉ nhắm chỉ trích sự yếu kém, nhu nhược và tham nhũng của quân lực VNCH, thậm chí viết cả sách bôi nhọ chưa kể là lúc đó họ có xu hướng phản chiến và thiên tả.
Tuy nhiên sự thật vẫn là sự thật. Với mức thiệt hại hơn 10,000 quân địch thuộc ba Công Trường 5, 7, và 9 trang bị hiện đại với chiến xa hạng nặng và không đầy 2,300 tử vong, 8,500 bị thương bên tử thủ, phía VNCH đã phải đối đầu với một lực lượng đông gấp ba lần và vẫn chiến thắng. Và mọi người vẫn còn nhớ câu chuyện về quân trú đóng An Lộc phải tìm cách hạ tăng địch bằng khẩu phóng lựu M-72 khiêm nhường.
Tướng Thi tin rằng nếu sự yểm trợ quân sự của đồng minh vẫn tiếp tục thì ngày 30 tháng Tư, 1975 không chắc đã xảy ra.
“Tiếc rằng người Mỹ không đủ kiên nhẫn để tham gia một trận chiến trường kỳ và cũng không dám đánh thẳng ra Bắc. Lúc đó người Mỹ có một sứ mạng rõ rệt là chận đứng đà bành trướng của Cộng Sản nhưng lại không có một chiến lược rõ ràng khi tham chiến tại Việt Nam, và đó là điều đưa đến thất bại.”
Tuy vậy vẫn theo lời tác giả Lâm Quang Thi sự kiện Nam Việt Nam mất là cơ hội để các nước láng giềng như Thái-Lan, Indonesia, Malaysia … không bị Cộng Sản hóa và tiếp tục tồn tại trong tự do.
Chuyển lời đến người Mỹ, người viết hai đầu sách về chiến tranh Việt Nam, ông George J. Veith gợi ý rằng “nếu có người Mỹ nào thật sự muốn biết liệu kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh có thành công, hay liệu những đồng minh của người Mỹ có xứng đáng với sự hy sinh của biết bao binh lính Mỹ và gia đình, thì “Hell in An Loc” sẽ dứt khoát trả lời câu hỏi đó…”
Và bên cạnh câu chuyện về viết sách, dịch sang tiếng Việt, bán sách gởi tiền giúp các cựu quân nhân thiếu thốn còn ở quê nhà, ông còn chia xẻ về niềm vui chăm sóc đưa đón ba cháu nội trai chỉ ở cách đó mươi phút. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó mới thấy gương mặt ông bớt đăm chiêu nghiêm nghị. Thế nhưng hạnh phúc hiện tại dường không thể đè lên nỗi bứt rứt của người quân nhân buộc lòng phải thua trận mất nước, vẫn sống bằng hy vọng về một tương lai sáng sủa hơn cho quê hương. Sau cùng khi hỏi về một nước Việt mai sau sẽ biến chuyển như thế nào. Ông nói rằng nước Việt phải là một – đương nhiên rồi, nhưng phải thống nhứt dưới một thể chế dân chủ tự do và điều đó chưa hẳn là không thể xảy ra:
“Với tôi, cuộc chiến Việt Nam chưa hề kết thúc, mà đang diễn ra dưới một hình thức khác,” ông cả quyết.
Đức Hà
OneViet.com
Trận Chiến Chưa Kết Thúc—Nguyên Thiều

Nguyên-Tắc về Việc Viết Chữ Hoa trong Tiếng Việt—Khải Chính Phạm Kim Thư
Khi viết Việt-văn, ngoài việc áp-dụng cho đúng về cú-pháp, văn-pháp, tiến- trình viết văn, nguyên-tắc sử-dụng các dấu chấm câu hay các dấu của câu văn, và cách đánh dấu các chữ Việt, các nhà văn còn phải áp-dụng cho đúng những nguyên-tắc về việc viết chữ hoa thì bài văn mới có giá-trị cả về nội-dung lẫn hình-thức.
Để giúp các bạn trẻ học-hỏi về cách viết văn tiếng Việt cho đúng, chúng tôi đã trình-bày và phổ-biến những bài viết về cú-pháp tiếng Việt, văn-pháp tiếng Việt và tiến-trình viết văn, cách sử-dụng nguyên-âm “i” và “y,” cùng cách đánh dấu các chữ Việt. Sau đây chúng tôi xin trình bày nguyên-tắc về việc viết chữ hoa trong tiếng Việt.
I. Nguyên-Tắc về Việc Viết Chữ Hoa trong Tiếng Việt Theo ngữ-pháp tiếng Việt, các danh-từ và các chữ trong những trường-hợp sau đây phải được viết hoa:
1. Viết Hoa Các Danh-Từ Riêng
a- Các danh-từ riêng liên-quan đến tên người phải được viết hoa: Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Du, và Trần Trọng San, v.v.
Ghi-Chú:
* Ở Việt-Nam trước đây, nhất là vào khoảng từ năm 1925 đến năm 1975, các nhà văn thường dùng gạch nối (gạch ngang) để viết tên người, các danh-từ riêng khác, và các danh-từ kép: Dương-Quảng-Hàm, Phan-Bội-Châu, Việt-Nam Tiểu-Học Tùng-Thư, Việt-Nam Văn-Học Sử-Yếu, Thu-Giang Nguyễn-Duy-Cần, Cái Cười của Thánh-Nhân, chính-trị, và phong-tục, v.v.
Hiện nay một số đông các nhà văn cũng dùng gạch nối (gạch ngang) để viết các danh-từ kép và tên người: phụ-âm, nguyên-âm, giađdình, học-đường, Hoa-Hoàng-Lan, vĩ-cầm, và Phạm Quang-Vinh, v.v. Nếu dùng gạch nối (gạch ngang) ở giữa các danh-từ kép và danh-từ riêng, đó là điều rất hợp-tình hơ.p-lý. Tuy-nhiên, nếu không dùng gạch nối thì cũng không sao vì chúng ta chưa có hàn-lâm-viện để quy-định các tiêu-chuẩn về việc sử-dụng Việt-Ngữ. Hàn-lâm-viện (academy) là một cơ-quan chính-thức do chính-phủ của một nước thành-lập ra để nghiên-cứu về văn-chương, khoa-học, hay mỹ- thuật, v.v.
* Trong trường-hợp tên người là tên kép thì cả tên họ và tên kép đều phải được viết hoa: Phạm Trung-Hậu, Phạm thị Thanh-Bình, và Phạm Tường-Lân, v.v.
* Về cách đặt tên người, người Việt mình thường dùng chữ lót như chữ “văn” để chỉ phái-nam và chữ “thị” để chỉ phái-nữ. Hai chữ này thường không được viết hoa: Nguyễn thị Loan, Bùi văn Hùng. Tuy-nhiên, trong trường-hợp chữ “văn” hay chữ “thị” đi kèm với các chữ khác làm thành danh-từ kép như “văn-minh” và “thị-uy” v.v. mà tên người lại được đặt với các danh-từ kép này thì chữ “văn” và chữ “thị” phải được viết hoa: Phạm Văn-Minh, Nguyễn Thị-Uy.
* Ngày nay, tất cả mọi chữ trong tên người đều được viết hoa như các trường-hợp của các tên sau đây: Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Văn Thảo, Nguyễn Văn Khôn, và Nguyễn Thị Hồng, v.v. Viết hoa các chữ trong tên người Việt kiểu này rất phù-hợp với cách viết hoa tên của người Bắc-Mỹ hiện nay, tức là chữ nào của tên người cũng được viết hoa kể cả khi viết tắt.
b- Các danh-từ riêng về địa-lý liên-quan đến năm châu bốn bể, các quốc-gia, các phần của nước, các tỉnh, các thành-phố hay đô-thị, các phố-phường, xóm làng, thôn-xã, các con sông, các dãy núi, các hồ, các cầu, tên các tươ.ngđdài, và tên các cây tháp, v.v. cần phải được viết hoa: Châu Á (Á-Châu), Nam-Hải, Việt-Nam, Miền Nam, Nam-Việt, Miền Trung, Trung-Việt, Miền Bắc, Bắc-Việt, Cần-Thơ, Sài-Gòn, Phố Hàng-Đào, Xóm Bồ-Đề, Làng Quần-Phương-Đông, Huyện Hải-Hậu, Tỉnh Nam-Định, Sông Cửu-Long, Cửu-Long Giang, Núi Tản-Viên, Hồ Hoàn-Kiếm, Cầu Ông-Lãnh, Chợ Lương, Cầu Ngói, Tượng-Đài Đức Phù-Đổng Thiên-Vương, Tượng-Đài Chiến-Sĩ Việt-Mỹ, Tháp Chàm, Trường Trung-Học Phan Bội-Châu, và Xa-Lộ Biên-Hòa,v.v.
Ghi-Chú:
* Nếu các danh-từ chỉ phương-hướng được dùng để chỉ phương-hướng không thôi thì chúng không được viết hoa: Anh ta đi về hướng nam. Nếu danh-từ chỉ phương- hướng được dùng để chỉ miền đặc-biệt của một nước như trên đã nói thì phải viết hoa: Tôi ở Miền Nam.
c- Các danh-từ riêng liên quan đến tổ-chức xã-hội, các cơ-quan chính-phủ, các trường học, các chợ-búa, các tổ-chức thương-mại hay các tiệm buôn, các chùa-chiền, các nhà thờ, các đảng-phái hay tổ-chức chính-trị, các sắc-dân, các năm âm-lịch, các ngày lễ tết, và các trận-chiến, v.v. cần phải được viết hoa: Hội Cựu Học-Sinh Trưng-Vương, Bộ Quốc-Gia GiáoĐục, Nha Sư -Phạm, Trường Cao-Đẳng Sư-Phạm Sài-Gòn, Trường Trung-Học Phan Bội-Châu, Chợ Lương, Yiễm-Yiễm Thư-Quán, Chùa Hương, Nhà Thờ Bùi-Chu, Đảng Cần-Lao Nhân-Vị, Đảng Dân-Chủ, Đảng Tự-Do, Mường, Mán, Quý-Mùi, Da Đỏ, Tết Nguyên-Đán, Thế-Chiến Thứ Hai, v. v.
d- Các chữ viết tắt của danh-từ riêng hay danh-từ chung đứng trước danh-từ riêng để bổ nghĩa cho danh-từ riêng đều phải được viết hoa: VNCH (Viê.t-Nam Cộng-Hòa), QLVNCH (Quân-Lực Viê.t-Nam Cộng- Hòa), VBVNHN (Văn-Bút Viê.t-Nam Hải-Ngoại), QĐ3 (Quân-Đoàn 3), GS Doãn Quốc-Sỹ, LS Hoàng Duy Hùng, VH Trần Thy Vân, v.v. (GS: Giáo-Sư; LS: Luật-Sư, VH: Văn Hữu).
Thường thường các chữ viết tắt phải có dấu chấm đứng ngay sau chữ đó (L.S., G.S., V.H.). Tuy nhiên, riêng các chữ viết tắt ở trên đã từng được viết như thế từ trước tới nay và được mọi người công-nhận.
2. Viết Hoa Những Danh-Từ Chung trong Trường-Hợp Đặc-Biệt
a- Khi các danh-từ chung đứng ở vi.-trí trọng-yếu trước danh-từ riêng hay đứng một mình ở vị-trí của danh-từ riêng để vói về chức-tước, việc tôn-sùng các bậc vua chúa thần-thánh, và nghề-nghiệp cao-cấp:
Đức Thánh Trần, Đức Chúa Giê-Su, Đức Phật Thích-Ca, Tổng-Thống Ngô-Đình Diệm; Ngô-Đình Diệm, Tổng-Thống của Việt-Nam Cộng-Hòa; Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu; Đại-Tá Hồ Ngọc Cẩn; Bác-Sĩ Phạm Quang-Khải; Giáo-Sư Doãn Quốc-Sỹ; Tổng-Thống đã đến rồi; thưa Gíao-Sư, kính thưa Đại-Tá, v.v.
Ghi-Chú:
Khi các danh-từ chung như “tổng-thống,” “đại-tá,” “bác-sĩ,” “giáo-sư,” “hòa-thượng,” v.v. không đi chung với danh-từ riêng thì những danh-từ này không được viết hoa: Hồi trước nắm 1975, anh ta là một đại-tá. Con trai út của gia-đình ấy là bác-sĩ. Ông ta là một giáo-sư rất lỗi-lạc. Vị tổng-thống đầu tiên của nước ta là Tổng-Thống Ngô-Đình Diệm. Vị hòa-thượng là vị ở bậc trên cả trong chùa.
b- Viết hoa những danh-từ chung nói về thân-nhân trong gia đình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, v.v.) khi những danh-từ này đứng trước tên riêng hay đứng một mình ở vị-trí của tên riêng :
Cậu Oánh; Anh Phạm Trung-Hậu; lá thư này của Má; Chị Thu- Hương; Ông đi chơi với Ba rồi; v.v.
Ghi-Chú:
Nếu các danh-từ chung này không đứng trước danh-từ riêng hoặc đứng trước sở-hữu từ: “của tôi,” “của anh,” và “của chị,” v.v. thì chúng không được viết hoa: các anh, các chị, ông của tôi, anh của tôi, chị của anh, ba của chị, cậu của tôi, v.v.
3.Viết Hoa Các Chữ của Tựa-Đề Các Cuốn Sách, Các Tờ Báo, Bài Văn, Bài Thơ, và Tiểu-Đề của Từng Đoạn Văn trong Một Bài Văn, v.v. :
Dòng Mực Hưng-Quốc (tác-phẩm của Lê Bá Kông); Sức Khỏe và Đời Sống (tác-phẩm của Bác-Sĩ Nguyễn Ý Đức); Án-Tích Cộng-Sản Viê.t-Nam (tác-phẩm của Sử-Gia Trần Gia Phụng); Công Việc Họ Trịnh Làm ở Đất Bắc (Chương V), Việc Giao-Thiệp với Nhà Thanh (tiểu-đề số 1), Việt-Nam Sử-Lược (tác-phẩm của Sử-Gia Trần Trọng Kim); Pháp-Âm (tâ.p-san do Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu làm chủ- nhiệm); Chủ-Nghĩa Sát-Nhân (tên bài thơ của Ý Nga), Trái Đắng Quê-Nhà (thi-phẩm của Ý Nga); v.v.
Ghi-Chú:
* Trên đây là cách viết hoa về các tựa-đề cùng tiểu-đề được áp-dụng ngay trên các cuốn sách hay tờ báo. Tuy-nhiên, nếu chúng ta viết bài tham-luận mà đề-cập đến những tài-liệu của các tác-phẩm hay báo-chí để dẫn chứng thì tên sách hay tên tờ báo không những phải được viết hoa mà còn phải được viết nghiêng (khi đánh máy) hay gạch dưới (khi viết tay): Dòng Mực Hưng-Quốc, Dòng Mực Hưng-Quốc; Trái Đắng Quê Nhà, Trái Đắng Quê Nhà; Pháp Âm; v.v.
* Nếu trong các tư.ađdề hay tiểuđdề này có các giới-từ (với, tại, ở, trong, của, v.v.) và liên-từ (và, hoặc, hay, nhưng, v,v,) thì các giới-từ hay liên-từ này không được viết hoa: Công-Việc Họ Trịnh Làm ở Đất Bắc, Việc Giao-Thiệp với Nhà Thanh.
* Đối với các bài văn hay bài thơ trong sách hay báo-chí mà ta dùng để tham- khảo thì khi đề-cập tới, ta không những phải viết hoa mà còn phải dùng dấu ngoặc kép (” “) nữa: Bài “Vụ Án Điển-Hình của Chế-Độ Độc-Tài Không Luật-Lệ,” trang 217, trong tác-phẩm Án-Tích Cộng-Sản Việt-Nam của Sử-Gia Trần Gia Phụng. Bài “Công Việc Họ Trịnh Làm ở Đất Bắc,” trang 51, trong tác-phẩm Việt-Nam Sử-Lược, Quyển II, của Sử-Gia Trần Trọng Kim. Bài thơ “Nghĩ Đến Quê-Hương,” trang 12, trong thi-phẩm Trái Đắng Quê Nhà của Nữ Thi-Sĩ Ý Nga.
4- Viết Hoa Chữ Đầu Tiên của Mỗi Câu Văn
Phải viết hoa chữ đầu tiên của mỗi câu văn của mình, chữ đầu tiên của câu văn được trích trong tác-phẩm của người khác dù là câu này được viết giữa câu văn của mình, và chữ đầu tiên của mỗi câu thơ dù là ở cuối câu thơ trên có dấu phảy (phết):
– Từ khi khai-thiên lập-địa đến này, không có loài vật nào độc-ác bằng bọn Việt-Minh, tức là bọn Cộng-Sản Việt-Nam.
– Toàn-dân đã có câu ca-dao như sau:
“Từ khi có đất có trời,
“Không gì độc-ác bằng loài Việt-Minh.”
– Bạn tôi bảo tôi rằng: “Chúng ta đều được mời đi tham-dự buổi nói chuyện của Ông Ernie Eves, Thủ-Trưởng Tỉnh-Bang Ontario, vào lúc 6 giờ 30 chiều ngày 12-9-2003 tại London, Ontario.”
II. Các Lỗi-Lầm Mà Một Số Nhà Văn Đã và Đang Mắc Phải về Việc Viết Chữ Hoa hay Không Viết Chữ Hoa.
- Thời xưa, đối với các danh-từ riêng về địa-lý, người ta chỉ viết hoa chữ cái của danh-từ đầu tiên mà thôi, chữ thứ hai không được viết hoa như: Việt-nam, Cửu-long, Thái-bình, Vĩnh-long, Vân-nam, Vân -đồn, Tây-ban-nha. Cách viết này không thích-hợp với ngữ-pháp tiếng Việt về cách viết hoa các danh-từ riêng. Các chữ trong những danh-từ địa-lý này đều phải được viết hoa thì mới đúng: Việt-Nam, Cửu-Long, Thái-Bình, Vĩnh-Long, Vân-Nam, Tây-Ban-Nha.
2. Đa-số người cầm bút thường có thói quen không viết hoa các danh-từ chung đứng trước các danh-từ riêng như: sông Cửu-Long, núi Tản-Viên, phố HàngĐDào, trường trung-học Phan Bô.i-Châu, xa-lộ Biên-Hòa, thủđdô Sài-Gòn, v.v. Cách viết này không đúng với nguyên-tắc viết hoa các danh-từ riêng. Khi những danh-từ chung đi với danh-từ riêng để bổ-nghĩa cho danh-từ riêng thì tất cả các danh-từ này đều phải được viết hoa: Sông Cửu-Long, Núi Tản-Viên, Phố Hàng-Đào, Trường Trung-Học Phan Bội-Châu, Xa-Lộ Biên-Hòa, Thủ-Đô Sài-Gòn, v.v.
3. Trong một vài tác-phẩm được xuất-bản vào năm 1971, một số tác-giả viết danh-từ riêng về tên người bằng cách chỉ viết hoa chữ đầu (họ) và chữ cuối cùng của tên. Các chữ đứng ở giữa của tên dù là một phần của tên kép cũng đều không được viết hoa. Họ viết những tên kép này có khi có gạch nối có khi không và chỉ viết hoa chữ đầu hay chữ thứ hai của tên kép này mà thôi: Lê Thái-hậu, Lê Thái-tổ, Lý Thần-tông, Lý Anh-tông, Nguyễn thành Ý, Nguyễn quang Hiển, Phan quí Hữu, v.v. Cách viết này không đúng với nguyên-tắc viết chữ hoa về tên riêng của người vì các chữ trong danh-từ riêng về tên người đều phải được viết hoa, nhất là các tên kép. Các danh-từ riêng về tên người ở trên phải được viết lại như sau mới đúng: Lê Thái-Hậu, Lê Thái-Tổ, Lý Thần-Tông, Lý Anh-Tông, Nguyễn Thành-Ý, Nguyễn Quang-Hiển, Phan Quí-Hữu.
4. Hiện nay, trong một số báo-chí và sách-vở, người ta không viết hoa cả tựa-đề bài thơ hay bài văn lẫn tên tác-giả của bài thơ hay bài văn đó. Cách viết này trái với nguyên-tắc viết hoa các danh-từ riêng về tên người và về tựa-đề các bài thơ hay bài văn. Tên tác-giả dĩ-nhiên phải được viết hoa, nếu không viết hoa thì đó là sự sai-lầm nghiêm-trọng vì vừa trái nguyên tắc vừa phạm tội vô-lễ. Sởđĩ tư.ađdề của các bài văn hay bài thơ phải được viết hoa là vì chúng là danh-từ riêng, tức là tên riêng của bài thơ hay bài văn. Đã là tên riêng thì phải được viết hoa, nếu không viết hoa thì đó là sự sai-lầm
trầm-tro.ng.
5. Trong quá-khứ cũng như hiện-tại đã có người viết hoa những danh-từ chung một cách vô lý như sau: “dung Da So truoc, roi dung Luat Le Sau de bat phe Thieu so phai phuc tung.” Điều này chứng-tỏ tác-giả của câu văn này không biết nguyên-tắc về cách viết chữ hoa và cách dùng kỹ-thuật để nhấn mạnh các chữ hay ý- kiến cho bạn đọc chú-ý.
Khi viết văn, muốn nhấn mạnh những chữ thuộc loại danh-từ chung thì ta không được viết hoa những chữ đó mà nên để những chữ đó trong dấu “ngoặc kép,” nên gạch dưới các chữ đó, nên viết nghiêng các chữ đó, hay nên viết nét đậm cho các chữ đó. Nếu viết hoa những chữ đó là ta đã làm điều sai lầm. Khi những chữ mà ta muốn nhấn mạnh lại là danh-từ riêng thì ta vừa phải viết hoa những chữ đó vừa viết đậm nét, viết chữ nghiêng, hay gạch dưới các chữ đó. Câu văn có các danh-từ chung được viết hoa ở trên phải được sửa lại như sau mới đúng: “… dùng đa-số trước rồi dùng luật-lệ sau để bắt phe thiểu-số phải phục-tùng.”III. Kết-Luận
Nguyên-tắc viết chữ hoa trong tiếng Việt hết sức rõ-ràng và dễ nhớ. Tuy-nhiên, đã viết văn thì thế nào cũng có khi mắc lỗi-lầm không những về việc viết chữ hoa mà còn vướng phải các lỗi-lầm khác nữa. Việc mắc lỗi trong khi viết văn là chuyện bình-thường. Khi viết văn, bất cứ ai cũng có lỗi, không nhiều thì ít. Tuy-nhiên, các nhà văn càng có kinh-nghiệm viết văn thì lỗi càng ít.
Vấn-đề chính-yếu là sau khi viết xong bài nào, chúng ta phải đọc đi đọc lại càng nhiều lần càng tốt để sửa-chữa, tu-chính, hay nhuận-sắc bài viết của mình. Nếu có thể, nên nhờ người có kinh-nghiệm viết văn và có kiến-văn về đề-tài của bài mình viết để họ đọc giùm và sửa bài đó cho mình. Có như thế thì các lỗi sẽ bớt đi chứ chưa chắc đã sửa hết được. Chính vì thế mà có nhiều nhà văn đã dành rất nhiều thì giờ để sửa-chữa tác-phẩm của họ đến cả chục lần trước khi cho xuất-bản nên tác-phẩm của họ có rất ít lỗi chứ không phải hoàn-toàn không có lỗi. Tuy đã được sửa đi sửa lại mà tác-phẩm vẫn còn có lỗi, đó là chuyện bình-thường vì con người có thất-tình nhục-dục nên việc mắc lỗi-lầm là lẽ dĩ-nhiên.
Chính vì lỗi-lầm ai cũng có thể mắc phải nên một trường học ở Canada đã công-khai phổ-biến cho ho.c-sinh các tài-liệu về “Rights” (Quyền-Lợi) và “Responsibilities” (Trách-Nhiệm) mà trong đó có hai câu như sau: “I have the right to make mistakes” (Tôi có quyền làm điều sai-lầm) và ” I have a responsibility to respect the rights of others to make mistakes” (Tôi có trách-nhiệm tôn-trọng quyền của người khác làm điều sai-lầm). Thấy điều kỳ-cục này, tôi đã viết thư cho nhà trường đó để phản đối việc này với đại-ý là lỗi-lầm thì ai cũng có thể mắc phải nhưng chỉ do vô-tình hay sơ-ý mà thôi. Nếu chấp-nhận có quyền làm lầm lỗi, tức là biết đó là điều sai lầm mà vẫn còn cố tình làm, và chấp nhận quyền làm điều sai lầm của người khác thì có nghĩa là nhà trường đã khuyến-khích học-sinh cứ việc nói bậy, làm bậy, và viết bậy. Như thế thì việc này có tính cách phản giáođục. Họ không viết thư trả lời tôi mà chỉ gọi điện-thoại cho tôi để cám ơn và nói là lời góp ý của tôi rất hữu-lý.
Điều quan-trọng là khi ta mắc lỗi mà có người góp ý sửa cho mình thì mình phải vui vẻ đón nhận để nghiên-cứu lại. Những nhà văn chân-chính bao giờ cũng vui vẻ đón nhận sự góp ý của đô.c-giả để cứu-xét lại bài của mình. Nếu lời góp ý đúng, ta phải viết thư cảm ơn họ, nếu họ góp ý sai thì ta cũng phải giải-thích một cách lịch-sự và lễ-độ cho họ hiểu rõ chứ không được chửi-bới người ta. Khi người ta có lòng tốt chỉ bảo điều lầm-lẫn của mình mà mình lại vì tự-ái chửi-bới người ta thì mình là loại người vô-lễ, vô-liêm-sỉ, và là hạng tiểu-nhân.
Tóm lại, muốn viết văn cho giỏi, ta phải luôn-luôn nghiên-cứu và học-hỏi những điều mình chưa rõ để viết cho đúng cho hay vì biển học mênh-mông mà trí người có hạn. Vả lại, người xưa cũng nói rằng: “Người ta thông-minh thánh-trí đến đâu cũng không sao biết cho hết mọi sự-vật được.” Chính vì thế, chúng ta phải luôn-luôn tìm hiểu, nghiên-cứu, và ho.c-hỏi thêm để làm cho kiến-văn của mình càng ngày càng uyên-thâm và kỹ-thuật viết văn càng ngày càng tinh-nhuệ.Canada, 2003
Cách Sử Dụng “I” và “Y” và Nguyên Tắc Đánh Dấu trong Tiếng Việt—Khải Chính Phạm Kim Thư
Nhiều bạn trẻ ta thán rằng khi viết văn, một số người có khuynh hướng đổi “y” thành “i” trong các trường hợp như “Bắc Mỹ” thành ra “Bắc Mĩ,” “Quý Mùi” thành ra “Quí Mùi,” và “thế kỷ” thành ra “thế kỉ,”v.v. Họ yêu cầu tôi viết bài để giúp họ hiểu rõ tại sao lại có những trường hợp như thế. Chính vì thế, chúng tôi mới có động lực để viết bài “Cách Sử Dụng ‘i’ và ‘y’ trong Tiếng Việt.” Muốn hiểu rõ về cách ghép vần với nguyên âm “i” hay “y” và phương pháp đánh dấu trong tiếng Việt, trước hết chúng ta cần ôn lại về các chữ cái (tự mẫu) cũng như các nguyên âm và phụ âm.
I. Nguyên âm và Phụ âm trong Tiếng Việt
Chữ ” i ” là chữ cái (tự mẫu) thứ 9 trong 23 chữ cái của tiếngViệt và “y” là chữ cái cuối cùng trong 23 chữ cái của tiếng Việt.
23 chữ cái của tiếng Việt gồm có: a, b, c, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n, o, p, q, r, s, t, u, v, x, y. Trong 23 chữ cái này, có 6 nguyên âm chính (a, e, i, o, u, y) và 17 phụ âm đơn (b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x). Bốn nguyên âm “a, e, o, u” trong số 6 nguyên âm chính “a,e, i, o, u, y” này còn có thêm các dấu nữa (ă, â, ê, ô, ơ, ư) nên 4 nguyên âm này trở thành 10 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, o, ô, ơ, u, ư. Chính vì lý do này mà tiếng Việt có tất cả 12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y. Ngoài 17 phụ âm đơn, tiếng Việt còn có các phụ âm kép. Các phụ âm kép do hai hay ba phụ âm đơn làm thành (ch, gh, kh, ng, ngh, nh, ph, th, tr) hoặc do một phụ âm đơn và một nguyên âm chính (i hay u) làm thành (gi, qu). Chính vì thế, tiếng Việt có tất cả 28 phụ âm: b, c, ch, d, đ, g, gh, gi, h, k, kh, l, m, n, ng, ngh, nh, p, ph, q, qu, r, s, t, th, tr, v, x, và 12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y.
II. Cách Sử Dụng Nguyên Âm “I” và “Y”
Tùy theo mỗi vần và theo nghĩa của mỗi chữ, có những trường hợp ta chỉ được dùng “y” hay “i” để viết, chứ không thể dùng “i” để thay thế cho “y” hay dùng “y” để thay thế cho “i” được. Ở một số trường hợp khác, trong cùng một chữ, có người viết bằng “i” có người viết bằng “y” như trong trường hợp “quí” hay “quý” chẳng hạn. Tuy nhiên, theo phong tục tập quán, hầu hết các nhà văn thường viết các chữ với nguyên âm “y” hơn là”i” khi các chữ này có cùng một nghĩa và phát âm giống nhau. Lý do chính là vì các chữ có nguyên âm “y” trông có vẻ lịch sự, kính trọng, quý mến, trang nhã, mỹ thuật, và đầy tình cảm hơn những chữ viết bằng nguyên âm “i,” chẳng hạn như trong trường hợp của nhóm chữ “quý văn hữu,” “quý ông quý bà,” “quý quan khách,” “quý bạn,” “quý vị,” “quý chiến hữu,” hay “quý cụ,”v.v.
A. Những Trường Hợp Có Thể Dùng “I” hay “Y” Cũng Được
Tùy theo tập quán hay thói quen, có người dùng “i” hay “y” để viết cùng một chữ. Dù là được viết dưới dạng bằng nguyên âm “i” hay “y,” nhưng khi được đọc lên thì chữ này vẫn có cùng một âm thanh và cùng một nghĩa.
Thí dụ:
– Ì ạch, ỳ ạch; ì ra, ỳ ra; i như, y như; v.v.
– Hi hữu, hy hữu; du hí, du hý; hí đài, hý đài; hí hởn, hý hởn; hí hửng, hý hửng; hí họa, hý họa; hí kịch, hý kịch; hí viện, hý viện; hí trường, hý trường; báo hỉ, báo hỷ; hoan hỉ, hoan hỷ; hỷ tín, hỉ tín; v.v.
– Kí cóp, ký cóp; kì cạch, kỳ cạch; kì cọ, kỳ cọ; một li, một ly (millimeter), v.v.
– Mỹ lệ, mĩ lệ; mỹ cảm, mĩ cảm; mỹ mãn, mĩ mãn; mỹ miều, mĩ miều; mỹ nữ, mĩ nữ; mỹ nghệ, mĩ nghệ; mỹ nhân, mĩ nhân; mị dân, mỵ dân; v.v.
– Ti tiện, ty tiện; ty tiểu, ti tiểu; tự ty mặc cảm, tự ti mặc cảm; ty trưởng, ti trưởng; năm tý, năm tí; tỳ bà, tì bà; tỳ nữ, tì nữ; tỳ tướng, tì tướng; thị tỳ, thị tì; tỳ thiếp, tì thiếp; tỳ vết, tì vết; tỳ vị, tì vị; tỉ dụ, tỷ dụ; một tỉ đồng, một tỷ đồng; tỉ lệ, tỷ lệ; tỉ mỉ, tỷ mỉ; tỷ muội, tỉ muội; tỉ như, tỷ như; tỉ số, tỷ số; tỉ thí, tỷ thí; tỉ trọng, tỷ trọng; năm tỵ, năm tị; tỵ nạn, tị nạn; tị nạnh, tỵ nạnh; v.v.
– Qui, quy (con rùa); nội qui, nội quy; chính qui, chính quy; vu qui, vu quy; qui chế, quy chế; qui củ, quy củ; qui định, quy định; qui hàng, quy hàng; qui hồi, quy hồi; qui luật, quy luật; qui mô, quy mô; qui nạp, quy nạp; qui phục, quy phục; qui tắc, quy tắc; qui thuận, quy thuận; qui tiên, quy tiên; qui tội, quy tội; qui tụ, quy tụ; qui ước, quy ước; qui y, quy y; quí báu, quý báu; quí danh, quý danh; quí hóa, quý hóa; quí hồ, quý hồ; quí hữu, quý hữu; quí khách, quý khách; Quí Mùi, Quý Mùi; quí nhân, quý nhân; quí nữ, quý nữ; quí ông, quý ông; quí phái, quý phái; quí phi, quý phi; quí quốc, quý quốc; quí san, quý san; quí tòa, quý tòa; quí tộc, quý tộc; quí trọng, quý trọng; quí tử, quý tử; quí vật, quý vật; quí vị, quý vị; quì gối, quỳ gối; quì lạy, quỳ lạy; quỉ kế, quỷ kế; quỉ quái, quỷ quái; quỉ quyệt, quỷ quyệt; quỉ sứ, quỷ sứ; quỉ thần, quỷ thần; thủ quĩ , thủ quỹ; ngân quĩ, ngân quỹ; ký quĩ, ký quỹ; quĩ đạo, quỹ đạo; quị lụy, quỵ lụy…
Ghi Chú:
* Khi viết văn, nhiều người chỉ ghép phụ âm kép “qu” với nguyên âm “y.” Tuy nhiên, trong vài quyển Việt Nam Tự Điển, tác giả chỉ đề cập trường hợp của các chữ do phụ âm kép “qu” ghép với nguyên âm “i” mà thôi. Còn về phụ âm kép “qu” ghép vời nguyên âm “y” thì các tác giả chỉ ghi: “quy, xt qui; quý, xt quí; quy,ø xt quì; quỷ, xt quỉ; quy,õ xt quĩ; quỵ, xt quị” (chữ “xt” là dạng viết tắt của “xem từ”). Có quyển tự điển lại ghi “quy (qui),” “quý (quiù),” “quỳ (quiø),” “quỷ (quỉ),” “quỹ (quiõ),” và “quỵ (quị).” Điều này có nghĩa là ta dùng “y” hay “i” để viết chữ có cùng một nghĩa cũng được.
* Trong trường hợp danh từ riêng như tên thành phố, tên nước, hay tên người, v.v., nếu các chữ đã được viết bằng “i” hay “y” thì ta không được quyền tự ý thay đổi như trong trường hợp của tên thành phố hay tên người sau đây: Thị xã Qui Nhơn, Mỹ Quốc, Mỹ Châu, tỉnh Mỹ Tho, Mị Châu (con gái vua Thục An Dương Vương lấy Trọng Thủy, con của Triệu Đà), Mị Nương (con gái vua Hùng Vương), GS. Doãn Quốc Sỹ, và CH Trần Thy Vân, v.v.
* Khi đánh các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, và nặng lên chữ “quy” hay “qui,” chúng ta phải đánh dấu lên trên nguyên âm “y” hay “i” vì chữ “u” trong chữ phụ âm kép “qu” đã cùng vơiù “q” để biến thành phụ âm kép chứ không còn là một nguyên âm nữa. Trong trường hợp phụ âm kép “th” ghép với vần “ui” hay “uy” thì các dấu phải đánh lên nguyên âm thứ nhất “úi” (thúi) và “úy” (thúy). Nếu nguyên âm thứ 2 có dấu sẵn như “uê” hay “uơ” thì các dấu phải đánh lên nguyên âm thứ 2 này “uế” (thuế) và “uở” (thuở). Xin xem tiếp phần “III” nói về Nguyên Tắc Đánh Dấu Trong Tiếng Việt ở dưới đây.
B. Những Chữ Chỉ Được Viết với Nguyên Âm I”
1. Những Chữ Có Các Vần Sau Đây Chỉ Được Viết với Nguyên Âm “I”: ai, ia, ich, iêc, iêm, iên, iêng, iêp, iết, iêu, im, in, inh, ip, it, iu, oai, oi, ôi, ơi, ui, uôi, ưi, ươi, v.v.
-Ai: Ai oán, thất bại, cải dạng, chài lưới, dai dẳng, khán đài, gái tơ, âm giai, hài lòng, khai giảng, tương lai, mái nhà, van nài, ngái ngủ, lải nhải, lẽ phải, quái kiệt, rải rác, sai bảo, tai vạ, thái độ, từng trải, vai trò, tiêu xài, v.v.
– Ia: Ỉa đái, bia miệng, địa chỉ, đôi hia, trông kìa, khía cạnh, lia lịa, mỉa mai, cái nĩa, nghĩa cử, tứ phía, chầu rìa, sỉa xuống, tia sáng, cái thìa, tría lịa, hú vía, xỉa răng, v.v.
– Ich: Ích lợi, bích chương, chích thuốc, xê dịch, mục đích, hích nhau, đả kích, khiêu khích, lý lịch, tĩnh mịch, chật ních, nghịch ngợm, nhúc nhích, phình phịch, cũ rích, sình sịch, diện tích, sở thích, chỉ trích, xích đạo, v.v.
– Iêc: Xanh biếc, chiếc thuyền, cá diếc, điếc tai, liếc mắt, mắng nhiếc, thương tiếc, ấm thiếc, công việc, xem xiếc, v.v.
– Iêm: Châm biếm; chiêm ngưỡng, bao diêm, điềm lành, hiếm hoi, kiếm hiệp, liêm sỉ, niêm luật, truyền nhiễm, chuyện phiếm, siểm nịnh, tiêm thuốc, thiêm thiếp, viêm lương, Xiêm La, v.v.
– Iên: Biên bản, chiến tranh, diễn thuyết, điên đảo, hiên ngang, kiên cố, xui khiến, liên bang, miền xuôi, nghiên cứu, tất nhiên, luân phiên, trước tiên, thiên vị, triền miên, viên mãn, xiên xẹo, v.v.
– Iêng: Biếng nhác, chiêng trống, chết điếng, tháng giêng, hiêng hiếng, kiêng khem, khiêng vác, liểng xiểng, súc miệng, nghiêng ngửa, riêng biệt, siêng học, hòm siểng, mang tiếng, linh thiêng, xiềng xích, v.v,
– Iêp: Ngọc diệp, trùng điệp, hiếp đáp, duyên kiếp, khiếp sợ, tầy liếp, cơ nghiệp, nhiếp ảnh, trực tiếp, thiệp mời, v.v.
– Iêt: Biết điều, chiết cây, diệt vong, giết giặc, kiệt lực, tinh khiết, quyết liệt, miệt mài, ác nghiệt, nhiệt huyết, quân phiệt, chạy riết, siết chặt, trinh tiết, kiến thiết, triết lý, viết văn, Việt Nam, xiết chặt, v.v.
– Iêu: Phát biểu, chiếu cố, cái diều, điêu luyện, hiếu đễ, kiêu ngạo, cô liêu, văn miếu, nồi niêu, phì nhiêu, phiêu bạt, bún riêu, siêu nhân, tiêu chuẩn, thiếu phụ, thủy triều, xiêu vẹo, v.v.
– Im: Im lặng; bím tóc, con chim, dìm thuyền, him híp, kim chỉ, lim dim, mỉm cười, con nhím (dím), chiếu phim, rim cá, trái sim, tìm tòi, chú thím, v.v.
– In: In sách, bịn rịn, chín chắn, gìn giữ, kín đáo, mịn màng, nín hơi, nghìn đời, nhịn nhục, đèn pin, phin cà phê, nước rịn ra (nhỏ ra, rỉ ra), tin cậy, năm thìn, vịn cớ, xin lỗi, v.v.
– Inh: Inh ỏi, binh lính, chính giữa, dinh dưỡng, đỉnh chung, hình ảnh, kinh đô, khinh bỉ, linh thiêng, minh bạch, an ninh, nghinh chiến, nhinh nhỉnh, má phính, rình mò, sinh khí, tinh khiết, thính giả, vĩnh biệt, xinh đẹp, v.v.
– Ip: Lừa bịp, chíp chíp, dịp may, híp mắt, kịp thì, nhịp điệu, v.v.
– It: Ít ỏi, bịt miệng, chi chít, đá đít, hít hơi, đen kịt, khít khao, lít nước, mịt mờ, con nít, đông nghịt, quịt nợ, ríu rít, đen sịt, xa tít, thin thít, con vịt, xịt thuốc, v.v.
– Iu: Ỉu xịu, bận bịu, chịu khó, dịu dàng, hiu hắt, kĩu kịt, líu nhíu, níu lại, nhíu mắt, phụng phịu, ríu rít, tiu nghỉu, thiu thối, trìu mến, víu vào, bé xíu, v.v.
– Oai: Oai hùng, choai choái, đoái hoài, khoái chí, loài vật, năm ngoái, ngoại cảm, mệt nhoài, soái phủ, toại nguyện, thoải mái, xoai xoải, v.v.
– Oi: Oi bức, thầy bói, cõi Phật, chọi gà, theo dõi, đòi nợ, gọi dạ bảo vâng, giỏi giang, hói đầu, khỏi bệnh, lòi tói, mỏi mệt, nòi giống, ngòi bút, nhoi nhói, rọi đèn, soi gương, củ tỏi, thói đời, trói buộc, vòi nước, xoi bói, v.v.
– Ôi: Ôi chao! Bối rối, cỗi rễ, chồi cây, dồi dào, đôi khi, gội đầu, giồi phấn, hối cải, khôi phục, lôi thôi, mối tình, nối dõi, ngồi xuống, nhồi thịt, phối hợp, rối loạn, sôi nổi, tối cao, thôi thúc, trôi chảy, vội vã, xối xả, v.v.
– Ơi: Ới trời ơi! Bơi lội, dời đổi, đời người, giới thiệu, hơi thở, khởi hành, lợi hại, mới tinh, nơi chốn, ngợi khen, phơi phới, rời khỏi, sợi dây, tơi bời, thời sự, trời biển, vời vợi, xới đất,v.v.
– Ui: Ủi quần áo, búi tóc, cúi đầu, chùi tay, dùi trống, đui mù, giúi tiền, húi tóc, khui thùng gạo, lui lủi, mui xe, nùi lửa, ngùi ngùi, nhủi vào lỗ, phủi bụi, rủi ro, sui gia, túi bụi, thui thủi, trụi lủi, vui vẻ, xui khiến, v.v.
– Ưi: Khung cửi, chửi mắng, gửi thư, ngửi hơi,v.v.
– Uôi: Buổi sáng, cuối cùng, chuỗi hạt, duỗi chân, đuôi ngựa, muối mặt, nuôi dưỡng, nguôi giận, ruổi theo, suối vàng, tuổi tác, xuôi lòng, v.v.
– Ươi: Quả bưởi, cưới hỏi, dưới nước, lười biếng, mười mươi, người ta, rười rượi, lò sưởi, tươi cười,v.v.
2. Những Chữ Sau Đây Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “I” Bằng Cách Ghép Phụ Âm Đơn với Nguyên Âm “I.”
-“B-i”: Bi ai, hòn bi, bí ba bí bô, bí mật, quả bí, vận bí, say bí tỉ, li bì, so bì, phong bì, bì bạch, bì phu, bỉ sắc tư phong, bỉ thử, bỉ mặt, bĩ cực, bị tù, bị động, phòng bị, bị gậy, bị té, v.v.
– “D-i”: Di cư, Di Đà, di tích, man di, tru di, di ngôn, di hài, di họa, di truyền, di vật, dí vào, bẹp dí, dì ghẻ, dỉ tai, bất đắc dĩ, khả dĩ, dĩ nhiên, dĩ vãng, kỳ dị, dị đoan, dị nghị, v.v.
– “Đ-i”: Đi bộ, đi đời, đi cầu, đi đứt, đi thi, đi tu, đi vắng, đi đò, lờ đi, bỏ đi, lẹ đi, đi lẹ, làm đi, đì đẹt đì đùng, đĩ điếm, v.v.
– “G-i”: Gí mũi vào, can gì, có gì đâu, v.v.
– “H-i”: Khóc hi hi, cười hi hỉ, ngựa hí, hí hởn, hí hoáy, hí hởn, hí hửng, hì hà hì hục, cười hì hì, hỉ mũi, hỉ hả, v.v.
– “K-i”: Ki lô mét, một kí, kì kèo, kị (cụ), v.v.
– “L-i”: Li bì, nhỏ li ti, lí la lí lô, lí nhí, lì lợm, lì xì, v.v.
– “M-i”: Mi (mày), mi (nốt đàn), lông mi, mí mắt, bánh mì, Mị Châu, mị dân, Mị Nương, v.v.
– “N-i”: Chỗ ni chỗ nớ (chỗ này chỗi kia), ni cô, nỉ non, nỉ (dạ, len), v.v.
– “R-i”: Khóc như ri, làm ri (làm thế này), nước chảy ri rỉ, nhỏ rí, xanh rì, rì rầm (thì thầm), chậm rì rì, mưa rì rào, mưa rỉ rả, rỉ từng giọt, rỉ tai, rỉ hơi, v.v.
– “S-i”: Cây si, si tình, ngu si, gắn si, đen sì, bán sỉ, liêm sỉ, sỉ nhục, sỉ vả, văn sĩ, kẻ sĩ, sĩ tử, sĩ hoạn, sĩ phu, nghệ sĩ, sĩ quan, binh sĩ, sĩ diện, sĩ khí, v.v.
– “T-i”: Tôn ti trật tự, kẻ tôn người ti, ti hí, ti ma (để tang 3 tháng), ti toe, ti trúc, ti hí, ti tỉ tì ti, tí hon, một tí, tí nhau, tí teo, tí tẹo, tí xíu, tí ti, tí tị, tí nữa, tí chút, tí tách, tí toe tí toét, cậu bé Tí, tí xíu, tì tích, tì hưu, tì tì, tì tay xuống, ngọc tỉ, tỉ tê, lòi tĩ, ganh tị, ghen tị, tị tẹo, v.v.
– “V-i”: Vi cá (vây cá), vi trùng, vi hành, chu vi, hiển vi, huyền vi, hành vi, vi hiến, vi âm, vi vu, vi vút, cái ví, ví von, ví bằng, ví dụ, ví như, trị vì, tại vì, nể vì, vì đâu, vì rằng, bởi vì, làm vì, thay vì, vì thế, vì vèo, vỉ đập ruồi, thủ vĩ, vĩ tuyến, vĩ đại, vĩ đạo, vĩ đại, vĩ nhân, vĩ tuyến, ngôi vị, vô vị, quý vị, bài vị, tự vị, vị chi, tì vị, vị lai, vị tha, vị chi, mùi vị, gia vị, vị giác, vị hôn thê, vị kỷ, vị lai, vị lợi, vị nể, vị tất, vị thành niên, vị trí, vị vong nhân, v.v.
– “X-i”: Xi đái, gắn xi, xi măng, chuồng xí, xí gạt, xí nghiệp, cờ xí, xí chỗ, xí phần, xí xóa, xí xa xí xô, xì hơi, xì xào, xì dầu, xì gà, xì xằng, xì xụt, xì xụp, xì xồ, bạch xỉ, xỉ mũi, xa xỉ, xỉ vả, xị mặt ra, v.v.
3. Những Chữ Sau Đây Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “I” Bằng Cách Ghép Phụ âm Kép với Nguyên Âm “I.”
“Ch-i”: Làm chi vậy, tứ chi, hình chữ chi, thập nhị chi, chi thu, chi nhánh, chí khí, chi lan, tạp chí, chí hiếu, chí cuối, con chí, hạ chí, bút chì, chỉ chỏ, chỉ biết, sợi chỉ, tôn chỉ, chứng chỉ, cấm chỉ, Giao Chỉ, điểm chỉ, chỉ bảo, chỉ số, chỉ trích, chị em, v.v.
“Gh-i”: Ghi chép, ghi nhớ, ôm ghì, v.v.
“Kh-i”: Khi xưa, khinh khi, khi không, khi quân, khi đi, không khí, khí cụ, khí cốt, tức khí, tinh khí, khí cầu, khí hậu, khí phách, khí quản, khí tiết, khí tượng, khí huyết, khí khái, khí sắc, khí vật, đồ khí gió, cười khì, ngủ khì, con khỉ, khỉ khô, v.v.
“Ngh-i”: Nghi hoặc, nghi lễ, tiện nghi, nghi gia, nghi ngút, nghí ngoáy, vô nghì, nghỉ ngơi, nghĩ ngợi, lo nghĩ, hữu nghị, quyết nghị, nghị lực, nghị luận, v.v.
“Nh-i”: Nhi đồng, nhí nhảnh, hạng nhì, nhì nhằng, to nhỉ, đẹp quá nhỉ! Nhĩ mục(tai mắt), mộc nhĩ, nhị đào, đệ nhị, nhị tì, Nhị Độ Mai, Nhị Hà, v.v.
“Ph-i”: Chánh phi, phi mỡ, phi cơ, phi tang, phi mã, phi chiến, phi đạn, Phi Châu, Phi Luật Tân, phi tần, phi phàm, phi lý, phí phạm, phát phì, phì cười, phì nhiêu, phì phà phì phèo, thở phì phì, phỉ lòng, thổ phỉ, phỉ báng, phỉ chí, phỉ sức, phỉ nhổ, phỉ vào mặt, phị mặt ra, v.v.
“Th-i”: Thi cử, thi sĩ, Kinh Thi, con nhà thi lễ, dòng dõi thi thư, thi hài, cỏ thi, thi ân, thí sinh, thí nghiệm, bố thí, thí mạng, thí phát, thí dụ, đói thì ăn, thì giờ, dậy thì, cây thì là, thì ra, thì thầm, thì thọt, thì thùng, hồ thỉ, quả thị, dấu hoa thị, thị vệ, thị giác, thị thực, thị uy, kỳ thị, thị hiếu, yết thị, thị dục, Phạm Thị Thu, miệt thị, thị phi, đích thị, thị vệ, thị nữ, thị xã, v.v.
“Tr-i” Bạn tri âm, bố trí, tri giác, trí mạng, tri phủ, trí sĩ, trí tuệ, thông tri, trí thức, trí trá, bảo trì, duy trì, đan trì, trì giới, trì hoãn, phù trì, thành trì, trì trọng, trụ trì, ấu trĩ, bệnh trĩ, chim trĩ, bình trị, cai trị, giá trị, trị liệu, trị tội, trị thủy, v.v.
C. Những Chữ Chỉ Được Viết với Nguyên âm “Y”
1. Những Chữ Có Các Vần Sau Đây Chỉ Được Viết với Nguyên Âm “Y”: ay, ây, oay, uây, uy, uya, uych, uyên, uyêt, uynh, uyt, uyu, yên, yêt, và ynh.
– Ay: Áy náy, tụi bay, cay cú, ăn chay, day dứt, dạy bảo, đáy nồi, gay gắt, giày dép, hay chữ, khay nước, lay động, may mắn, nảy mầm, ngay thật, nhay nháy, dao phay, quay mình, ray rứt, say mê, tay chân, thay đổi, trảy (hái) quả mơ, vay nợ, xảy ra, v.v.
– Ây: Cái ấy, bây giờ, cây cảnh, cây đàn, chầy cối, dây thép, đây này, gây gổ, giây phút, hây hây, lầy nhầy, mấy quyển sách, nẩy mầm, ngây ngất, nhầy nhụa, phây phây, quây quần, rầy rà, sẩy đàn, tầy trời, thầy mẹ, trẩy hội, vây cánh, xây nhà,v.v.
* Trường hợp sau đây là ngoại lệ vì chữ viết và đọc khác nhau nhưng có cùng một nghĩa: quải gánh, quảy gánh, hay quẩy gánh (đều có cùng một nghĩa là gánh trên vai).
– Oay: Cái khoáy, loay hoay, nghí ngoáy, xoay vần, v.v.
– Uây: Khuây khỏa, ngoe nguẩy, v.v.
– Uy: Uy danh, cung thương giốc chủy vũ, duy ngã, huy hiệu, khuy áo, lũy tre, nguy cấp, suy nhược, tuy nhiên, thủy chung, truy tố, cổ xúy, v.v.
– Uya: Thức khuya, v.v.
– Uych: Ngã uỵch, huých nhau, huỳnh huỵch, v.v.
– Uyên: Uyên bác, chuyên cần, duyên dáng, huyên náo, khuyên bảo, luyến ái, nguyên chất, nhuyễn thể, bệnh suyễn, tuyên dương, thuyên chuyển, truyền thống, xuyên tạc, v.v.
– Uyêt: Chuyết kiến (ý kiến thô thiển của tôi), duyệt binh, huyết mạch, khuyết điểm, nguyệt liễm, tuyệt diệu, thuyết phục, điểm xuyết, v.v.
– Uynh: Huynh đệ, khuynh hướng, luýnh quýnh, v.v.
– Uyt: Huýt sáo, lườm nguýt, xuýt chết, v.v.
– Uyu: Khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, v.v.
– Yên (qu + yên): Quyên sinh, quyến thuộc, quyền lợi, chính quyền, lưỡng quyền, quyền quý, quyển sách, ống quyển, v.v.
– Yêt (qu + yêt): Cương quyết, bí quyết, hành quyết, quyết nghị, xảo quyệt, v.v.
– Ynh (qu + ynh): Mừng quýnh, cây quỳnh, quỳnh bôi, quỳnh tương, v.v.
2. Những Chữ Sau Đây Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “Y” Đứng Một Mình hay Đứng Đầu Mỗi Chữ:
– Nguyên Âm “Y” Đứng Một Mình:
Y đến rồi, y án, vàng y, qui y, chuẩn y hay y chuẩn, y hẹn; y hi, y sĩ, qui y, y theo, ý chí, ý định, ý nhị, ý kiến, ý nghĩa, ý thích, ý tứ, ý vị, ỷ mình, ỷ lại, ỷ lại, ỷ quyền, béo ỵ, v.v.
– Nguyên Âm “Y” Đứng Đầu Mỗi Chữ:
Yêm hoạn (hoạn quan), yếm thế, yểm bùa, cái yếm, yểm trợ, v.v.; Yên Đổ (Nguyễn Khuyến), Bình yên, yên hà, yên xe, yên đổ (tửu sắc yên đổ), yên trí, yến tiệc, yến oanh, yến sào, v.v.; con yểng; yết hầu, yết kiến, niêm yết, yết thị, yết hậu (lối thơ mà câu cuối cùng chỉ có một chữ), v.v.; yêu cầu, yêu chuộng, yêu đạo, yêu quái, yêu vận, phái yếu, yếu điểm, yếu tố, chết yểu, yểu điệu, yểu tướng, v.v.
3. Những Chữ Sau Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “Y” Bằng Cách Ghép Phụ Âm Đơn với Nguyên Âm “y.”
-“H-y”: Hy Lạp, hy vọng, hy sinh, hy hãn, hý lộng, hý ngôn, hỷ lạc, hỷ nộ, hỷ sự, v.v.
-“K-y”: Ký âm, bi ký, chữ ký, ký danh, ký giả, ký hiệu, ký lục, nhật ký, ký quỹ, ký sinh trùng, ký sự, ký tên, ký túc xá, ký thác, thư ky,ù ký ức, Bắc Kỳ, cầm kỳ thi hoạ, kỳ cục, kỳ cùng, cực kỳ, kỳ cựu, kỳ diệu, kỳ duyên, kỳ đà, kỳ đài, đến kỳ, kỳ đồng, kỳ được, kỳ ghê, kỳ hạn, kỳ hào, hiếu kỳ, học kỳ, kỳ khôi, kỳ khu, kinh kỳ, kỳ lạ, kỳ lão, kỳ lân, kỳ lưng, kỳ mục, Nam Kỳ, kỳ ngộ, phân kỳ, kỳ phùng địch thủ, kỳ quặc, kỳ quái, kỳ quan, quốc kỳ, kỳ thị, kỳ thú, kỳ thực, Trung Kỳ, kỳ vọng, kỷ cương, ghế trường kỷ, ích kỷ, kỷ luật, kỷ lục, kỷ niệm, kỷ nguyên, tự kỷ, thế kỷ, kỷ yếu; kỹ càng, kỹ nghệ, làm kỹ, kỹ nữ, ngủ kỹ, kỹ nhé, kỹ sư, kỹ thuật, nhà có kỵ (ngày giỗ), đố kỵ, kỵ binh, kỵ gió, kỵ mã, kỵ nhau, kỵ sĩ, v.v.
– “L-y”: cái ly, ly biệt, quẻ ly, hồ ly, ly bôi (chén rượu uống lúc chia tay), ly dị, ly gián, ly hương, ly khai, ly kỳ, ly tán, giáo lý, lý ngư, cố lý, hành lý, đào lý, lý lẽ, lý hóa, lý lịch, lý sự, lý tài, lý thuyết, lý trí, lý tưởng, lý trưởng, mạ lỵ, bệnh kiết lỵ, v.v.
– “M-y”: Bắc Mỹ, Mỹ Châu, Mỹ Quốc, Mỹ kim, hoa mỹ, mỹ sắc, thẩm mỹ, Mỹ Tho, mỹ thuật, mỹ tục, mỹ từ pháp, mỹ tửu, mỹ xảo, mỹ vị, mỹ viện, mỹ ý, v.v.
– “T-y”: Ty mật thám, công ty, tỳ tạng, tỳ kheo, tỳ vị, tỷ đối, tỵ hiềm, v.v.
III. Nguyên Tắc Đánh Dấu trong Tiếng Việt:
– Nếu một chữ có phụ âm đơn hay phụ âm kép ghép với một nguyên âm, thì các dấu phải đánh vào nguyên âm đó: bé, tá, phò mã, khỉ, xạ thủ, v.v.
– Nguyên âm “u” và “i” trong phụ âm kép “qu” và “gi” đã cùng với phụ âm “q” và “g” để biến thành phụ âm kép chứ không còn là một nguyên âm nữa. Chính vì thế mà hai phụ âm kép này ghép với 1 hay 2 nguyên âm thì các dấu phải đánh vào nguyên âm ở ngay sau phụ âm kép này: quý, quí, quá, quà, quả, quỹ quạ, già, giá, giữa, giác, giải, giả, v.v.
– Nếu trước 2 nguyên âm mà có phụ âm đơn hay kép và sau 2 nguyên âm này lại không có phụ âm nào thì các dấu phải đánh vào nguyên âm thứ nhất như: chùa, chúa, thúy, thùy, thúi, lũy, gào, góa, bùa, của, bùi, chúa, khói, khảo, khóa, lìa, trào tráo, khéo, khỏe, khóe, chúi, thủy, và trụy, v.v.
– Trong một chữ có 2 hay 3 nguyên âm mà1 nguyên âm đã có dấu sẵn như: ă, â, ê, ô, ơ, ư, v.v. thì các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, và nặng phải đánh vào nguyên âm đó: thuế, thuấn, thuyền, thuở, uyển chuyển, chữa, suyễn, diễm, truyện, diệu, v.v. Nếu 2 nguyên đều có dấu cả như “ư và ơ” thì các dấu phải đánh lên nguyên âm thứ hai: tướng lãnh, thường lệ, thưởng phạt, dưỡng khí, thượng lộ, v.v.
– Nếu trong một chữ chỉ có 2 nguyên âm mà trước và sau 2 nguyên âm này đều có phụ âm đơn hay kép thì các dấu phải đánh vào nguyên âm thứ hai: đoán, khoáng, khoát, khoét, toàn, khoảng, loãng, loạng choạng, v.v.
– Khi một chữ tận cùng bằng 3 nguyên âm, thì các dấu phải đánh lên nguyên âm ở giữa như: thoái thác, ngoéo cổ, cười, bải hoải, khúc khuỷu, choãi chân, hải ngoại, v.v.
IV. Tổng Kết
Những điều chúng tôi trình bày trên đây là có ý định giúp các bạn trẻ ở hải ngoại có tài liệu học hỏi về cách ghép vần với nguyên âm “i” và “y” cùng với cách đánh dấu tiếng Việt. Việc ghép vần và đánh dấu tiếng Việt hết sức là quan trọng. Chúng ta cần phải học hỏi và nghiên cứu mới thấu đáo được. Có thấu đáo được cách ghép vần và đánh dấu tiếng Việt thì mới giỏi tiếng Việt. Có giỏi tiếng Việt ta mới xứng đáng là người Việt và mới có cơ hội học hỏi về lịch sử, phong tục, và truyền thống của tổ tiên. Có như thế thì nước Việt của chúng ta mới thoát khỏi ách Cộng Sản. Có thoát khỏi ách Cộng Sản, nước ta mới hùng cường và toàn dân mới được hưởng dân chủ, tự do, nhân quyền, âm no, và hạnh phúc muôn đời.
Canada, 2003
Khải Chính Phạm Kim Thư
