Trang chủ » 2019 (Trang 2)

Yearly Archives: 2019

Bò Cách Ly—Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Minh Hải Hồ là họ tên quay nôi của cha mẹ Việt gốc Tàu đặt lúc anh mới chào đời tại Chợ Lớn. Suốt hai mươi năm trong quân ngũ, từ cấp binh nhì dần dà được thăng cấp lên Trung sĩ. Vì có tinh thần chiên đấu xuất sắc nên được cấp trên cho đi thụ huấn khóa sĩ quan đặc biệt. Từ năm 1974 thượng cấp bổ nhiệm anh giữ chức Đại đội phó kiêm sĩ quan CTCT thuộc một đại đội Địa Phương Quân bảo vệ an ninh vòng đai phi trường.
Sau cuộc “đổi đời 1975”, Đại úy Minh Hải Hồ vào tù. Dù tuổi đời tròn trèm bốn mươi nhưng bạn bè đùa chơi cứ gọi anh là Bác mỗi khi không có cán bộ. Bác Minh Hải Hồ chẳng phiền trách mà lấy đó làm vui.
Một hôm, cả đội đang trồng sắn trên đồi, Hải Hồ xin phép cán bộ đi “đại tiện.” Lúc điểm danh thấy vắng mặt, anh em hỏi: “Bác đâu?” Bỗng, từ trong bụi rậm anh vội vàng chạy ra, vừa cột dây lưng quần vừa la lớn: “có Bác Hồ đây.” Cả đội sửng sốt, lạnh cả người.
Quản giáo đội nghe được, gọi anh lại hỏi:
-Anh tên gì ?
-Thưa cán bộ, tên Hồ.
-Họ gì?
-Minh.
-Ai đặt tên cho anh thế?
Cha mẹ đặt trong khai sinh.
Anh có biết anh đã xúc phạm đến tên thiêng liêng của Bác không? từ nay trở đi, tôi cấm anh không được xưng tên đó nữa.
-Thưa cán bộ, vậy gọi tên gì?
Muốn kêu tên gì tùy ý trừ cái tên thiêng liêng đó. Tối nay anh viết kiểm điểm, ngày mai nộp cho tôi.
Minh Hải Hồ trình bày trước đội Tù về lệnh của cán bộ quản giáo buộc anh đặt tên khác. Ai ai cũng bụm miệng cười.

Để giải quyết sự khó khăn của Hồ, bạn bè góp ý tìm cho anh một tên mới. Ác thay, cái họ Minh của anh cũng “phạm húy”. Vì vậy có người đề nghị lấy tên lót Hải thay tên Hồ để gọi nhau, nhưng trong đội đã có Hải trắng và Hải đen.
Ông bà ta thường nhắm người mà đặt tên, nên cả đội đồng ý lấy tên Hải Vồ là hợp hơn cả. Dù sao thì cái tên Vồ vẫn còn giữ được âm ồ mà cha mẹ anh đã chọn. Đồng thời lại hợp với chiếc trán dô ra quá cỡ của anh.
Sáng hôm sau, Hải Vồ nộp tờ kiểm điểm cho quản giáo. Nhìn vào tờ giấy, cán bộ hỏi:
-Anh tên gì ?
-Thưa cán bộ, tên Hải Vồ,
Trong danh sách đội không có tên nầy. Ai bảo anh đổi tên?
Cán bộ ra lệnh.
Tôi bảo anh đừng xưng tên của Bác, đâu bảo anh sửa tên trong tờ kiểm điểm!
-Tại sao anh không thừa nhận có khuyết điểm ?
-Thưa cán bộ, tôi đâu có vi phạm nội quy.
-Anh ù lỳ đấy à? Anh xúc phạm đến tên thiêng liêng của Bác mà dám bảo là không sai phạm.
-Thưa cán bộ, cha mẹ đặt tên cho tôi đấy chứ!
Cha mẹ đặt nhưng anh mang tên đó. Anh rõ chưa ?
Dạ, rõ ạ.
Đúng là lý luận của loài cáo đối với chú cừu con “mầy không lỗi thì đời cha mầy lỗi, đời cha không lỗi thì đời ông mầy vậy.”(Thơ Ngụ ngôn của La Fontaine.) Ông Quản giáo lôi lý lịch cả ba đời ra, tha hồ mà bắt tội!
Hải Vồ trong suốt ba năm cải tạo không có một lần thăm nuôi. Tuy vậy, anh rất yêu đời và tin tưởng tuyệt đối vào lời hứa của cách mạng: “Trước sau như một, trại viên nào lao động tốt sẽ được tha.”
Hải Vồ bản chất cục mịch thiệt thà, làm việc cật lực, lúc nào cũng vượt chỉ tiêu của trại đề ra. Hàng tuần, hàng tháng, hàng năm, anh luôn luôn được xếp hạng thành tích lao động đầu bảng. Anh em trong đội đều kiêng dè không dám khuyên can. Những buổi kiểm điểm công tác lao động trong tuần, tên Hải Vồ thường được quản giáo phát huy để nêu gương phấn đấu cho toàn đội. Đặc biệt nhất là cuộc tổng kết bình bầu tròn ba năm.
Trong ngày lễ mồng 2 tháng 9, Hải Vồ được tuyên dương “Tù Cải Tạo Lao Động Tiên Tiến”. Lần nầy, Hải Vồ lại viết thư, mặc dầu những lá thư trước chẳng có hồi âm. Anh dặn vơ: “Em ở nhà phải thi hành nghiêm chỉnh chính sách của Đảng, nhà nước, chính quyền địa phương. Cần kết hợp giữa gia đình và cải tạo viên, hai bên cùng phát huy lao động tốt thì ngày về của anh không còn bao xa nữa. Đảng đã hứa trước sau như một em à.”
Lao động đã tốt mà còn thuộc bài như thế, hỏi ai không tin Hải Vồ được đảng sắp vào hàng ưu tiên!
Chiều ngày 15 tháng 10 năm 1977, lệnh từ Tổng trại ban ra : “Các đội nhận cơm vắt và chuẩn bị hành trang đi lao động xa.” Tù nhân bắt đầu xôn xao. Cộng sản nói một đường, làm một nẻo. Vì thế, kẻ đoán đi đào kênh người nghi dời trại. Theo kinh nghiệm, mỗi lần dời trại là có đợt phóng thích. Chung quy đều là những dự đoán.
Riêng Hải Vồ lần nầy chắc mẩm sẽ được ra tù. Anh nghĩ như thế và tin như thế bởi đảng nói trước sau như một mà. Ba năm liền có ai lao động hơn anh đâu. Tháng vừa rồi đại úy Toà, trưởng ban tiếp liệu không quân đã bị cảnh cáo toàn trại “tội lười lao động” với lý do gánh rạ không chịu bó chặt bị cán bộ quản giáo bắt gặp còn được phóng thích về đoàn tụ với gia đình huống hồ anh đã từng gánh sắn vượt chỉ tiêu gấp hai lần, từ tám đến chín chục cân.
Chính ủy Sư đoàn trực tiếp tuyên dương anh trước tổng trại. Hải Vồ còn nhớ nằm lòng câu nói của người cán bộ cấp cao : “Lao động như anh Minh Hải Hồ mới thực sự là tự giác và thể hiện sự tiến bộ của cải tạo viên.” Đêm đó, Hải Vồ sướng ran người mặc dù anh cảm thấy chất gì nhột nhạt trong cổ họng, khạc ra có vị mằn mặn và ngực hơi khó thở. Anh nghĩ thầm : “Ồ, chỉ vài sợi máu vấy trong đờm, nhằm nhò gì. Mình sẽ được về với vợ con nay mai, cách mạng hứa là phải giữ lời với tù chứ!”
Hải Vồ thao thức gần trọn đêm. Anh tưởng tượng giờ phút cán bộ gọi tên mình lên văn phòng nhận giấy ra trại, lại có thêm phần tuyên dương: “Một cải tạo viên tiến bộ về tư tưởng, có thành tích lao động vượt chỉ tiêu suốt ba năm.” Anh nghĩ đến đôi mắt sửng sốt của vợ khi trông thấy chồng lù lù xuất hiện nơi khung cửa và bầy con bảy đứa nhào đến đứa ôm cổ, đứa ôm chân bố! Niềm hân hoan chạy rần rật trong cái thân thể da bọc xương của anh như vừa “phi” một hơi thuốc phiện.
Kẻng báo thức từ lúc màn sương còn phủ dày đặc trên khắp miền thung lũng. Chim rừng lặng tiếng trước cái lạnh nhức mắt của những ngày cuối Đông. Tù nhân run rẩy tập họp trước sân trại. Những ba lô, xách tay, chiếu mùng, xoong nồi cồng kềnh như đám dân du mục, họ lần lượt lên chiếc xe tải bịt bùng khi tên mình được xướng lên.
Danh sách đầu tiên gồm thành phần An ninh, Tình báo, Chiến tranh Chính trị, và các sĩ quan cấp tá. Điều đáng ngạc nhiên là Minh Hải Hồ có tên trong danh sách nầy. Không còn nghi ngờ gì nữa, tù bị chuyển đi trại khác. Tù ở Bắc hay tù ở Trung vẫn là những ngày khổ ải tiếp tục kéo dài.
Hải Vồ bắt đầu khóc cùng lúc với đoàn xe lăn bánh. Anh khóc như một người vợ khi nghe tin chồng tử trận. Ôm đầu vật vã tưởng chừng anh sắp lên cơn điên. Niềm tin trong anh vừa bị bức tử từ lúc gọi tên mình lên xe. Cách mạng đã dối trá, lừa gạt cái đầu quá đơn giản của anh. Và chính cái đầu đơn giản đó đã làm cho bao nhiêu đồng đội phải lao đao, khốn khổ vì mức lao động vượt chỉ tiêu của mình.
Chỉ là một đại đội phó Địa Phương Quân bảo vệ phi trường, Hải Vồ đã thật thà khai báo cho thêm phần quan trọng “Đại đội phó an ninh phi trường kiêm Sĩ quan CTCT.” Hai chữ An ninh và Chiến Tranh Chính Trị khốn khổ đã đẩy anh thêm mấy năm tù nữa… Kể từ đó, cái tên Hải Vồ được thay bằng tên “Minh Sáng Mắt.”

Đoàn xe mười hai chiếc gầm gừ leo lên dốc tiến vào cổng trại Cải Tạo An Điềm. Lần lượt từng chiếc một đổ đám tù lếch thêch tả tơi giữa khu sân rộng. Trại tù nằm trên đỉnh đồi với hai mươi căn nhà xây vách gạch, mái ngói trông rất bề thế, được bao bọc bởi bức tường cao bằng gạch xi măng kiên cố, trên đầu tường thêm mấy hàng kẻm gai.. Là nhà tù chính thức do lực lượng công an là Cai tù chuyên nghiêp Xã hội Chủ nghĩa điều hành nên khác xa cảnh trại tập trung tạm thời do bộ đội quản lý.
Đám công an đồng phục màu vàng, tay lăm le cò súng, chĩa thẳng nòng vào đoàn tù xơ xác đang sắp thành bốn hàng ngang chờ cán bộ khám xét đồ dùng trước khi nhập tù. Không khí nặng nề, nghẹt thở.
Ban giám thị trại gọi tên từng người tuần tự vào các nhà số 1, số 2, số 3… Đủ sáu mươi người là cánh cửa đồ sộ được đóng lại. Cán bộ công an bảo vệ chốt cửa bằng một thanh gỗ lớn từ phía bên ngoài.
Nỗi chán chường hiện rõ trên nét mặt tối sầm của từng tù nhân. Thế là hết, chút hy vọng về nhà tù mới được thoải mái hơn đã tắt theo ánh sáng khung cửa duy nhất của phòng giam vừa đóng kín. Bóng tối lờ mờ từ các khung cửa sổ tò vò rọi vào những khuôn mặt chập chờn như bóng ma. Ánh mắt không hồn nhìn nhau ẩn chứa một điều duy nhất: “Những ngày tháng khắc nghiệt hơn, đau khổ hơn đang chờ đợi người tù…”

Cái Tết đầu tiên tại trại tù do công an quản lý, ban giám thị cho tù nhân bồi dưỡng ba con bò và một trăm ký nếp gói bánh ú. Khi tin ấy được thông báo, mọi người rất hồ hởi. Anh em mừng thầm : “Tết nầy có chất tươi khấm khá”.
“Ai bảo công an là chúa khắc nghiệt đối với tù? Ai bảo công an là hiện thân của hung thần chốn trần gian?…” Đó là ý niệm đầu tiên về lực lượng “Công an Nhân dân” mà người tù miền Nam xem chúng chẳng khác gì lực lượng SS của Đức quốc xã, mật vụ KGB cuả Staline. Ai đã đọc truyện Một Ngày Trong Đời Ivan Denissovitch hoặc Tầng Đầu Địa Ngục của tác giả Nga Soljenitsyne thì không ít nhiều đều khiếp sợ.
Dù sao thì không khí lo âu trong những ngày đầu mới đến đây có phần lắng dịu.
Chiều ba mươi Tết, đến giờ lãnh thức ăn, kẻ cầm ca, người cầm gô, khuôn mặt người nào cũng hớn hở. Họ vui mừng sắp có một bữa thịt bò tươi sau bao ngày thèm thuồng đói khát. Ai cũng thầm mong có được một chén thịt đầy, tươm mỡ.
Món thịt bò xào thơm ngào ngạt từ nhà bếp bay đến tận các láng trại. Tù nhân hít hà, nước miếng tuôn ra. Người dự tính chén ngay phần thịt bò trước tiên cho đã cơn ghiền. Một bạn khác có ý kiến chí lý hơn, khuyên nên ăn một nửa thịt thôi, còn nửa kia dành lại để ăn trước khi đi ngủ cho đỡ phần xót bụng. Người bạn nằm bên nhắc khéo: “Nầy, đằng ấy chớ nên ăn vội vàng nhé, nhớ nhai thật nhỏ, mình mới thưởng thức hết hương vị ngọt ngào, béo ngậy của miếng thịt bò tươi.” Ôi, niềm hạnh phúc to lớn của tù đang căng đầy trên năm mươi cặp mắt sáng rỡ.
Toán trực bưng thức ăn về đến cửa. Cả phòng gióng mắt đợi chờ. Khi mười hai ô thịt được đặt “an vị” trên sạp nằm, mọi người ồ lên thất vọng. Một phần ba ô thịt chia cho mười người. Kết quả, mỗi tù nhân vỏn vẹn có bốn miếng da dính thịt, hai miếng gân, một cục xương với nửa chén nước luộc da bò! Hy vọng càng nhiều thất vọng càng lớn. Ở đây, nỗi thất vọng càng làm cho ruột gan mọi người “xót như muối, nhàu như dưa” trước cái thân phận tù đày của mình! Cơn vui đang căng phồng tột đỉnh, đột ngột xẹp nhanh như chiếc bong bóng xì hơi khi từng người nhận về phần thịt và da ít oi của mình.
Ngay chiều hôm đó, một “bản tin truyền tai” được đánh đi từ nhà bếp : “Lòng ưu ái của đảng và nhà nước dành cho 1200 tù cải tạo trong ngày Tết thiêng liêng của dân tộc là ba con BÒ CÁCH LY!”
Nhà tù cộng sản nào cũng có khu cách ly dành cho tù bị bệnh truyền nhiễm như lao phổi, kiết lỵ, thương hàn… Thành phần nầy toàn là những người suy nhược, mất sức, thân thể gầy còm chỉ còn da bọc xương.
Những ngày mùa đông nắng ráo, nhìn những thân thể trần trụi của bệnh nhân phơi nắng trong khu tù cách ly, ta có cảm tưởng là khu triển lãm lộ thiên những bộ xương người. Thân hình vặn vẹo, co quắp, bày ra những chiếc xương sườn được bọc lớp da xanh xao, vàng tái đầy ghẻ lở. Chân tay là những khúc xương khẳng khiu nối liền với các khớp sưng vù do bệnh thấp khớp kinh niên. Đôi chân rã rời bước đi như người máy hết pin, run run, chập chững. Đôi tay buông thõng bất lực trước lũ ruồi đang tranh nhau đục khoét những ổ vi trùng trong đám ghẻ lở.
Đêm ba mươi, lệnh từ trên ban xuống: “Tù nhân không được ngủ, phải hát những bài đồng ca, đón giao thừa tập thể. Ngồi nghiêm chỉnh nghe lời chúc Tết của Chủ tịch nước được truyền qua loa phóng thanh. Đội nào im tiếng hát là có ý đồ chống đối.
Tội nghiệp cho thân tù, với bốn miếng da bò dai như da giày, một cái bánh ú gạo nếp bằng nắm tay trẻ con mà phải thức trả nợ suốt cả đêm. Lời chúc Tết năm xưa phát ra từ cái Tết Mậu Thân đầy máu và nước mắt: “…Đánh cho Mỹ cút ngụy nhào. Tiến lên chiến sĩ đồng bào, Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn…” được truyền thanh liên tục mấy cái Tết liền, nhân dân cả nước đã nhét đầy lỗ tai đến độ tràn ra ngoài, không còn chỗ nào nhét nổi, bây giờ vẫn còn tiếp tục phát đi.

Tối mồng hai Tết, lệnh tập họp khẩn trương toàn trai. Công An bảo vệ súng trong tay, nét mặt đằng đằng sát khí tràn ngập cả khu tập thể. Sau khi các khối tù ngồi ổn định trên sân, hai tù nhân được áp giải ra trước sân hội trường trình diện Ban giám thị. Hai phạm tù bị xích tay chung một còng số tám do hai công an áp giải. Ánh sáng ngọn đèn điện vàng vọt soi vào khuôn mặt hốc hác của hai bạn tù thoạt trông như hai chiếc đầu lâu đang di động. Chúng đẩy hai tù phạm đến dưới chân cột đèn đối diện với đám người áo vàng đang ngồi trên dãy ghế cao. Từng người một lần lượt tự đọc tờ kiểm điểm về bản tin đã loan truyền “ba con bò cách ly” mà các bạn ấy nói đùa trong lúc vô tình.
Giám thị trưởng đóng vai quan tòa đọc bản lên án hai phạm tù : “Trần Siêng và Minh Hải Hồ đã tung tin thất thiệt, dùng danh từ “bò cách ly” để ám chỉ Đảng và Nhà nước ta cho tù ăn thịt bò ốm đau, có toan tính làm hạ uy tín cán bộ và lãnh đạo trại, tuyên truyền xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước. Để chận đứng hình thức tuyên truyền phản động, nay quyết định dành hình phạt để giáo dục hai phạm tù Trần Siêng và Minh Hải Hồ như sau: Cùm sấp hai mươi bốn giờ, nhốt phòng biệt giam một tuần lễ, hạ tiêu chuẩn phần ăn, cấm thăm nuôi một năm và đuổi ra khỏi nhà bếp đi lao động ngoài.”
Trần Siêng và Hải Hồ thuộc đội nhà bếp phụ trách làm thịt bò. Họ đã chứng kiến ba con bò già, bịnh hoạn, phế thải chỉ còn da bọc xương mà ban giám thị dành bồi dưỡng cho tù.
Sự hài hước châm biếm cười ra nước mắt của họ là dùng từ “bò cách ly.” Và ba chữ “bò cách ly” trở nên thành ngữ của tù mỗi khi đùa cợt.

Về sau, mỗi đợt được gia đình thăm nuôi, thế nào cũng có anh than vãn đại loại như:
“Từ ngày vào hợp tác xã, bầy con tớ thiếu ăn gầy như đàn” bò cách ly”, trông thấy chúng mà ruột mình như xát muối”.
Hay một anh bạn khác trong toán cày bừa vừa bắt được ếch ngoài ruộng lén mang vào trại lên tiếng:
“Tớ tóm được hai chú ếch thuộc loại “bò cách ly” đây, ông nào tình nguyện chạy bếp nấu cháo, hai bên cùng có lợi, chia hai.”

Như thế đó, đám tù cùng khổ thỉnh thoảng cũng có một vài phút giải sầu. Xin cảm ơn hai bạn tù nhà bếp đã làm giàu thêm cho bộ từ điển nhân gian nhóm từ ngữ rất hiện đại: “Bò cách ly.” Các nhà biên soạn từ điển thuộc nhóm Khoa học Xã hội ở Hà Nội nhớ đừng quên bổ túc thành ngữ mới đầy ý nghĩa nầy vào bộ Đại Từ Điển Tiếng Việt với ghi chú nơi xuất xứ: “từ nhà tù Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam!”

(Lưu Dấu Ngày Xưa)—Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Phân Ưu Cùng Anh Chị Trần Trọng Lợi, K30 Võ Bị

TMChiMaiTran

CaoPhoTMChiMai

“Sea of Black”—Trúc Hồ | SBTN

 

Tiếng Hát Hậu Phương, kỳ 262, với Cựu Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy và Cựu Đại Úy Nguyễn Phán—Hồn Việt TV

Trump speaks to reporters after G20 summit | FULL PRESS CONFERENCE—Fox News

Một Ngày Với Mùa Xuân Hà Nội—Kim Thanh

I. Tôi sinh ra, và lớn lên, tại Nha Trang. Gia đình bên ngoại gốc “Nhe Treng” rặt, và bên nội, gốc Quảng Trị, cũng rặt. Bởi vậy, anh em tôi trong nhà nói một thứ tiếng lai căng, ở trường học không nói tiếng Việt, thành thử ra ngoài không có cái giọng, kiểu “chu che bữ nê mềnh lợi eng cuôm dí ké nữ” (dịch nghĩa: Chu cha bữa nay mình lại ăn cơm với cá nữa) cố hữu của dân địa phương thứ thiệt, như mấy đứa bạn cùng xóm. Rồi sau năm 1954, người Bắc di cư vô Nam nói, ôi thôi, đủ thứ tiếng Bắc kỳ, nghe rất mệt tai. Trong số, tôi chỉ chấm, và mê, tiếng hát mượt mà, đài các, phát âm chuẩn xác của những nữ ca sĩ chính gốc Hà Nội, như Kim Tước, Thái Thanh, Mộc Lan, Tâm Vấn, và những minh tinh, như Kiều Chinh, Mai Trâm. Tất cả những mỹ nhân một thời ấy đã mang theo vào Miền Nam dáng vẻ thanh lịch và giọng nói quý phái từ Hà Nội cổ kính, và cố đô Thăng Long ngàn năm văn vật.

Hà Nội mà tôi chưa bao giờ được thấy, nhưng biết qua thơ văn nhờ hồi đi lính bắt đầu đọc những tiểu thuyết tiền chiến và những tạp chí của mấy ông nhà văn, nhà thơ Bắc kỳ di cư. Nhất là nghe những ca khúc đương thời thương về Hà Nội. Trong đó có một câu, trong một bài, mà ông cậu ruột mười sáu tuổi, em út của mẹ tôi, nghĩa là dân Nhe Treng đặc sệt, cứ âm ư mãi, riết rồi thành lố bịch: “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu…” Lố bịch là phải, bởi lẽ không ai có thể gây xúc động mạnh lên trái tim thính giả trong những bài hát nhớ Hà Nội cho bằng những nhạc sĩ, ca sĩ di cư chánh hiệu Hà Nội của thời trước 1975.

      Quả vậy, Trịnh Công Sơn, tên nằm vùng phản chiến, gốc Huế, sau 1975, muốn lấy điểm với chế độ mới, cũng bắt chước viết hai ca khúc về Hà Nội, nhưng không hay bằng, vì cảm xúc, nguồn hứng rất giả tạo, và hình ảnh rất ước lệ, khuôn sáo, mặc dù cũng vẫn là Hồ Tây, cũng mùa thu mây bay, cũng mùi hoa sữa, cũng cây bàng lá đỏ… Chưa kể, câu kết, trong bài “Nhớ mùa thu Hà Nội”,“Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội / Nhớ đến một người để nhớ mọi người”, muốn nhắn gửi gì đây? Chưa vội chụp nón cối, người ta phải thắc mắc: Mùa thu nào? Tổng khởi nghĩa 1945 ư? Một người  nào? Đồ tể Hồ Chí Minh, với khẩu hiệu “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, mà các tù binh cải tạo đã phải nghe lải nhải hoài, phát ớn đến tận cổ?
 
      II. Hà Nội, tôi đã thấy, đã nghe, đã gặp một lần, vào tháng 4 năm 1983. Cách đây ba mươi hai năm. Không như một du khách, hay một Việt Kiều yêu nước. Mà như một tù binh cải tạo. Đúng ra gặp hai lần.       
      Lần đầu, cuối năm 1975, một cách chớp nhoáng, bất đắc dĩ. Tại bến cảng Hải Phòng, tôi được bốc từ tàu Sông Hương ra và tống lên xe lửa, chực sẵn để chở, cùng với hàng trăm ngàn đồng đội, lần lượt, đến các trại giam vùng biên giới, Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cổng Trời… Khi đoàn tàu đi ngang Hà Nội, chắc quá nửa đêm, tôi cố nhướng mắt nhìn ra bên ngoài, từ song cửa sổ hẹp. Tàu chạy nhanh, trời lại tối, và đèn đường leo lét, chỗ có chỗ không, nên tôi không thấy gì cả, ngoài một Hà Nội còn đang ngủ say, phố xá lặng thinh, sương rơi lả tả, và những hàng cờ đỏ sao vàng giăng mắc, ủ rũ, trên những góc phố. Làm nhớ đến hai câu thơ oan nghiệt –đã bóp chết đời tác gỉả, Trần Dần: 
      Tôi bước đi, không thấy phố, thấy nhà / 
      Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ… 
      Rồi tàu rẽ lên cầu Long Biên, khá dài. Tôi thấy hai bên đường sắt vài người dân đi bộ hay đạp xe, không biết về đâu, co ro trong chiếc áo tơi thô sơ. Trên sông, vài chiếc thuyền câu đậu bến im lìm.
      Lần thứ hai, lần này, tám năm sau, được tiếp xúc với Hà Nội lâu hơn, đúng một ngày, nghĩa là mười hai tiếng đồng hồ. Quả thế, một buổi sáng đẹp trời, tại trại giam Vĩnh Phú, K1, đang chuẩn bị đi lao động, tôi nghe đọc tên mình được thả – áp chót trong danh sách một trăm mười người thuộc tất cả các trại Miền Bắc, mà Vĩnh Phú chiếm nhiều nhất: có bốn mươi tên trúng số độc đắc, trên toàn năm K, trong khi ở một số trại, nhỏ hơn, chỉ có vài mạng thôi. Tôi ngạc nhiên, không biết tại sao mình lại được thả, nhưng chắc chắn không phải vì công đức cải tạo tốt, trái lại. Thây kệ, tôi tự nhủ, thắc mắc làm chi. Vội vàng về “buồng” (phòng), vì chỉ được mười phút sửa soạn tư trang. Không có gì, ngoài bộ đồ tù đang mặc trên người, và mùng, mền, khăn mặt, bàn chải đánh răng, một bịch đường táng đen, một gói bánh mì khô, hai hộp sữa đặc, và một mớ thuốc cảm, đau đầu, đầu bụng, để dành từ những lần thăm nuôi trước. Tôi tặng hết đồ ăn và thuốc men cho những anh em, lúc ấy, khai bệnh nằm nhà.
      Rồi tất cả lội bộ xuống K5, tức K chỉ huy, cách khoảng 15 km, để làm thủ tục xuất trại. Tại đây, được trả lại quần áo “dân sự”, đồng hồ, và tiền bạc bị “đăng ” để “Cách mạng giữ hộ” khi bước chân vào trại tù đầu tiên, ở Miền Nam. Không biết đủ, thiếu thế nào, vì sau tám năm, không nhớ và điều đó không quan trọng nữa. Tù binh được thả sinh hoạt tại một buồng riêng, không được “quan hệ linh tinh” với các cải tạo viên khác.
      Khoảng 10 giờ sáng hôm sau, chúng tôi trút bỏ bộ đồ tù, mặc lại quần áo cũ, có anh diện giày da thay dép râu. Ai nấy mặt mày tươi rói, đẹp trai hẳn ra, như dưới chiếc đũa thần của một bà tiên, không còn hốc hác, bèo nhèo như dạo nào, nhất là sau mấy ngày được vỗ béo, ăn no ngủ kỹ. Được xe trâu chở ra tận bến phà trên sông Hồng. Sau hơn nửa giờ, cập bờ Ấm Thượng. Ở đây, phải chờ đến 10 giờ đêm mới có chuyến xe lửa từ Lào Cai đến “rước” về Hà Nội. Đi theo có hai cán bộ. Hai tên này, bình thường thuộc loại hắc ám, bữa nay có vẻ dễ dãi, chắc vì được dịp đi chơi Hà Nội hoặc tin rằng không thằng tù binh nào được thả lại dại dột âm mưu làm điều “phản động”. Để giúp thời gian qua mau, chúng tôi tụm năm tụm ba nói chuyện, cười đùa rổn rảng, hoặc mua bún, bắp luộc, xôi vò và bánh gai của các bà và em bé bán hàng rong tại chỗ – đã quá quen thuộc với những đợt thả tù binh. Nghe nói Ấm Thượng có đền thờ Hùng Vương, tôi và một anh bạn xin phép đi viếng, nhưng cán bộ bảo xa lắm, không cho. Trời hơi nóng, tôi bèn cởi áo quần nhảy xuống sông tắm. Nước phù sa đỏ ngầu, nhuộm cả ra quần đùi mới, trắng tinh. Lội ra xa, thấy sóng lớn quá, sợ bị cuốn đi, chết uổng mạng, tôi bơi vào, lên bờ nằm nghỉ, phơi nắng, đợi xe lửa.
 
      III. Ấm Thượng không xa Hà Nội bao nhiêu, trên dưới 100km, mà ì ạch mãi đến 8 giờ sáng hôm sau, tàu mới đến ga Hàng Cỏ, sau khi dừng lại nhiều trạm dọc đường. Đám tù phải đợi đến 8 giờ tối mới có chuyến tàu Thống Nhất vào Sài Gòn. Hai tên cán bộ điểm danh, và bắt tất cả “tập trung” ở một góc nhà ga, dặn không được đi đâu xa, “vì các anh chưa được phát giấy ra trại”. Ga tấp nập hành khách và bộ đội chờ đi các tỉnh phía Bắc, và rất đông “gian thương” (buôn bán chui) lượn tới lượn lui, rình mồi, nhiều nhất là những người mua đi bán lại quần áo, vai vác bao tải to kềnh, trông như một cảnh chợ trời, sau 30 tháng 4, 1975 tại Sài Gòn. Tất cả đều quay nhìn chúng tôi, biết ngay là đám sĩ quan tù binh cải tạo từ biên giới được thả về Nam, với cặp mắt tò mò, hoặc cảm thông. Một vài thanh niên, thiếu nữ còn dạn dĩ, đến bắt chuyện, hỏi về “quân hàm” (cấp bậc) của anh em, và xuýt xoa với nhau: “Ghê nhỉ! Trông trẻ thế mà đã là đại úy, thiếu tá cả, gần mười năm trước cơ đấy!”
 
      1) Các cô, các bà mua bán chui thấy một số tù binh, trong đó có tôi, mặc quần jeans, mà họ gọi là “quần bò”, liền sà đến, gạ mua. Một cô, khá xinh, mồm dẻo kẹo, chỉ vào cái quần xanh, bạc màu, bụi đời (càng bụi càng có giá, cô nói) của tôi, và bắt đầu dụ, ngon lành:
      – Ônanh bán cái quần bò này cho em nhá!
      Tôi giật mình, khoát tay:  
      – Đâu được cô! Hiện giờ tôi chỉ có mỗi cái quần này trên người, bán cho cô, lấy gì mặc?
      Cô vẫn nài nỉ:
      – Thì em đổi rẻ cho anh cái quần tây thường khác.        
      Tôi vẫn lắc đầu. Rồi cặp mắt thiện nghệ của cô bỗng rà lên khắp châu thân tôi, như radar, ngừng trên chiếc áo pull trắng, cổ cao, tôi đang mặc, tuy còn mới, nhưng sau tám năm “biệt giam” trong nhà kho kín mít, đã ngả sang màu vàng nhạt, và thoang thoảng có mùi mốc, pha lẫn với hương nách cũ, chưa kịp giặt, bay ra… khá nồng. Cô lên tiếng tán, ngọt xớt:
      – Hay là ônanh bán cái áo này cho em!
      Trong túi xách tôi còn một áo sơ mi xanh, nên đồng ý bán. Cô ta trả giá 3 đồng. Tôi ngồi im re. Từ hồi cha sanh mẹ đẻ đến nay, tôi có đem áo quần đi bán bao giờ đâu, làm sao biết giá cả? Một bà già, hàm răng đen láy, ngồi cạnh cô bỗng lớn tiếng nói: “Ối giời, chỉ có quân ăn cướp ngày mới giả cái giá đó. Tôi giả 5 đồng đấy, cậu bán, tôi lấy ngay!” Tôi lại càng phân vân, chưa biết xử trí thế nào thì cô nọ liếc xéo bà kia: “Tôi tăng lên 10, mụ già nhà quê Quảng Ninh có theo nổi không nào?” Nghe hai người sừng sộ với nhau, đám tù binh và cả tên cán bộ xúm lại, xem màn bán đấu giá “đột xuất”, càng lúc càng hấp dẫn. Một anh thiếu tá đồng tù đập đập tay xuống thềm xi măng, hỏi: “Mại dô, mại dô. Có ai trả thêm nữa không?” Bà già cười khẩy: “Tôi giả 12 đồng đấy, con nặc nô Hà Tĩnh có ý kiến gì không nhỉ?” Cô gái tức khí, đáp lễ: “Tôi trả thêm 3 đồng, tổng cộng 15, mụ già nhà quê Quảng Ninh thấy thế nào?” Cả đám vỗ tay rào rào, tên cán bộ cũng cười. “Mụ già nhà quê Quảng Ninh”, cuối cùng, chịu không thấu, bỏ cuộc. Anh thiếu tá chỉ vào “con nặc nô Hà Tĩnh”, phán: “Không ai trả thêm nữa, tôi khóa sổ nè và long trọng tuyên bố rằng cô em gái Hà Tĩnh này được trúng tuyển mua áo pull của anh trai đại úy tù binh ngụy Vĩnh Phú, với giá 15 đồng chẵn, không bớt xu nào”. Cả đám, tù cũng như dân, ôm bụng cười lăn. Tiền trao áo múc, tôi bèn cởi ra ngay tại chỗ, giao tận tay cho cô. Vào thời điểm đó, 15 đồng là món tiền phải chăng, vì giá một tô phở khoảng 7 đồng, một ly bia 3 đồng. Tổng kết, có hai mươi tù binh “bị” mua áo, mua quần trong buổi sáng đó. Đủ tiền bát phố Hà Nội trong một ngày.
 
      2) Bất ngờ có tiền phụ trội trên trời rớt xuống, cộng vào món tiền khiêm tốn được trại trả lại, tôi bỗng nổi hứng, đóng vai trưởng giả học làm sang: tắm nước nóng. Phòng tắm kế bên sân ga, thấp, nhỏ, mái tôn và vách lợp bằng tre đan. Trên cửa, viết nguệch ngoạc ba chữ bằng vôi trắng: Tắm lước lóng. Phòng chỉ có một lối ra vào. Giá vé là 2 đồng, trả trước cho một chị sồn sồn, hô răng, ngồi gác bên ngoài. Vừa lom khom chui vào, đóng cửa lại, chưa kịp làm gì, tôi nghe có tiếng nước xối ở gian trong, và dưới ánh nắng lùa qua khe hở, thấy vắt ngang trên tấm liếp ngăn hai gian một quần tây xanh đậm, và một áo lụa vàng, có thêu chim cò, kèm theo hai mảnh đồ lót, trên trắng, dưới hồng, rất “hiện đại”, rất khêu gợi mà, tôi đoán nhanh, chủ nhân chắc chắn không thể là một trong những “mụ già nhà quê Quảng Ninh” khi nãy. Tôi đang đứng lóng ngóng, chưa biết phải làm gì, thì từ phía trong vọng ra một giọng Bắc còn trẻ, nhưng không phải âm hưởng Hà Nội, của một cô chắc đã nhìn thấy tôi qua khe liếp, trong gian ngoài đầy ánh sáng: “Anh là tù cải tạo hả? Đừng ngại, cứ vô tư cởi quần áo ra, phòng tắm công cộng, ai cũng làm như thế cả!” Tôi im lặng, vì sợ gặp phải thứ dữ, chứ có gái nhà lành nào cả gan dám tắm truồng chung đụng như thế, chưa kể tắm xong, làm sao đi ra, nếu gian ngoài đang có người? Tôi đứng bất động như người trúng gió, căng mắt dòm vào, nhưng bị bóng tối ghen tuông che kín, không cho thấy chi hết. Sau tám năm thiếu đàn bà, trí tưởng tượng vụt bay lên, bay cao, bay xa, rạo rực, nhưng cố dằn xuống kịp thời.
      Tôi múc, bằng gáo, nước từ trong hai cái vò sành, bắt đầu súc miệng. Nước quá lạnh, buốt thấu răng, và óc, làm tê liệt giây thần kinh thèm muốn. Tôi mở hé cửa ngoài, thò đầu ra, khiếu nại với chị bán vé. Chị ta trả lời, đúng bài bản, như quá quen với “sự cố” này: “Bữa lay, nhiều khách tắm quá, bác ạ, đến nượt bác thì lước lóng hết đột xuất, em đun không kịp, bác cố gắng khắc phục tắm bằng lước nạnh hộ em!” Tôi đành rửa mặt, và nhúng khăn lau sơ phần trên, rồi mặc lại áo, đi ra. Xong một buổi tắm “lước lóng”. Tại thủ đô nước CHXHCNVN, năm 1983. Không biết bây giờ phòng tắm dã chiến bên hông ga Hàng Cỏ ngày ấy có còn không.
 
     3) Vì thời gian chờ xe lửa quá lâu, theo đề nghị của anh em, trưởng đoàn tù binh, trung úy người Huế – được bầu một cách “khẩn trương” do nhu cầu công vụ – xin cán bộ cho phép anh em đi “tham quan” Hà Nội mùa xuân. Hai cán bộ “hội ý” với nhau, và chấp thuận, với điều kiện không đi xa và phải trở lại ga trước 7 giờ tối, ai trễ sẽ bị bỏ lại, ráng chịu. Lúc đó mới 11 giờ trưa. Tất cả hồ hởi phấn khởi xuất quân. Một vài anh em già, yếu, bệnh, mệt, ở lại nhà ga và tình nguyện giữ hộ các túi xách với lời bảo đảm sẽ được “đền ơn bội hậu” khi anh em đi chơi về.
      Tôi rủ ba người bạn khá thân cùng đội tù K1 đi chung, trong số có một ông Thiếu tá già Tiếp Liệu Bộ Tổng Tham Mưu, cởi mở, chính gốc Hà Nội, nói năng lúc nào cũng từ tốn, chậm rãi, rề rà, nghe sốt cả ruột. Vừa rời sân ga, ông Thiếu tá bỗng dừng lại, vẻ mặt đăm chiêu, mắt ngó ngang ngó dọc, chỉ chỏ cho ba chúng tôi, không phải dân Bắc kỳ, và nói:
      – Hồi năm 1954, nhà tớ ở gần ga Hàng Cỏ này, trong khu Hàng Bông-Thợ Nhuộm, tức phía Cửa Nam. Không biết căn nhà có còn đấy không.
      Rồi ông dẫn cả bọn đi loanh quanh, và cuối cùng chui vào một dãy phố, đối diện ga. Những túp nhà chạy dọc theo con phố đều cũ mèm, mái đã rêu phong với những viên ngói lung lay, như răng bà lão, không biết bay theo gió lúc nào, tường vôi lâu ngày loang lổ thành màu trắng đục, có chỗ lòi ra một lớp gạch xám xịt. Phía trước là những hiệu buôn, đượcông thiếu tá gọi là “hàng”, thấp lè tè, bước vào sơ ý là bị đụng vỡ đầu, nối liền với những “căn hộ” phía sau, cao hơn, lớn hơn. Sau một phút lưỡng lự, ông bước vô một gian “hàng”, không biết tên gọi là gì, có lẽ hàng Giày, vì bán toàn giày dép. Nghe ông kể, khi cả gia đình ông leo lên tàu há mồm vào Nam, thì, dĩ nhiên, cửa hiệu bán guốc và nhà ở của gia đình ông bị tịch thu và đổi chủ. Chủ mới, không biết mấy đời rồi, là một anh trung niên, nói tiếng Quảng Bình giả giọng Bắc, lịch sự hỏi: “Các bác muốn gì ạ?” Ông thiếu tá già cười, mà như mếu, theo nghĩa hoàn toàn đen, vì tám năm dài đằng đẵng trong tù bạn bè đã bẻ giùm ông, bằng những sợi chỉ bện lại, mất hết năm răng cửa và hai răng hàm: “Trước năm 1954, tôi đã ở nhà này”, ông trả lời. Rồi xin ra phía sau để nhìn lại nó, và kể hết đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong thiên tình sử, anh chủ mới mủi lòng, ân cần mời ông chủ cũ lên cầu thang gỗ thăm lại căn nhà của chính ông.  
 
      4) Ba thằng chúng tôi, hai Nam kỳ, và một Trungkỳ, không có dây mơ rễ má gì với cố đô Hà Nội, hay tàu há mồm, xin rút lui, để mặc ông thiếu tá già thoải mái đi tìm thời gian đã mất, như văn sĩ Pháp Marcel Proust. Lúc ấy có hai đồng tù trẻ, khác K, xin nhập bọn. Tiếp tục dạo phố. Vừa đi tôi vừa quan sát, ngắm nhìn thiên hạ, vừa nghĩ đến những giai nhân Hà Thành trước kia, mà suốt bao năm tôi đã ấp ủ trong tim bóng hình thướt tha và giọng ca vàng đầy chất Hà Nội được phát thanh trực tiếp trên các làn sóng Sài Gòn. Hay lãng mạn, hư cấu hơn, những nữ nhân vật có học, duyên dáng trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng –mà khung cảnh đều là Hà Nội của những thập niên 30, 40. Và, trên hết, các công chúa Mỵ Châu, Lý Chiêu Hoàng, Trần Huyền Trân, Lê Ngọc Hân của Thăng Long nghìn tuổi, mang kiếp hồng nhan bạc phận trong thực tại lịch sử, đã làm ngây ngất trí tưởng nơi người hậu thế “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” (Kiều), như những giấc mơ huyền thoại quyến rũ, dị kỳ.
      Những cô gái, gọi là Hà Nội, dưới thời Việt Cộng, mà hôm nay tôi mới được diện kiến trực tiếp, thấy khác lạ quá đỗi. Đã thiếu nhan sắc, và thước tấc, mà lại kênh kiệu, nói năng cộc lốc, không bao giờ được học và nói hai chữ “cám ơn” và “xin lỗi.” Mặc áo sơ mi nhét trong quần tây, theo mốt hiện hành, bỏ chiếc áo dài cổ truyền, và chân đi “sa-bô” (sabot?), danh từ tôi mới nghe lần đầu, tức loại giày nhựa, bịt kín phía mũi, gót để trống, đế rất cao, như một thứ dép tân thời, thay cho “thanh bình tiếng guốc reo vui” ngày xưa của nhạc sĩ Hoàng Dương. Lại còn giọng nói nữa. Lạ lắm, trời ạ! Tiếng Hà Nội gì mà nghe như pha với giọng Nghệ An của “Bác”, hay Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình. Những dấu sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã phát ra lung tung, loạn xạ, tùy tiện. Nghe chua lè, còn hơn giấm. Bởi thế, khi giọng nói Hà Nội ấy bay vào Miền Nam, sau cuộc đổi đời, người dân Sài Gòn nhận ra ngay sự khác biệt rõ rệt giữa hai thứ tiếng Bắc kỳ, (19)54 = 9 nút, của Kim Tước, Thái Thanh… và Bắc kỳ, (19)75 = 2 nút, rất lơ lớ, chói tai, của những ca sĩ trẻ, từ Hà Nội, ồ ạt Nam tiến, rồi sau đó và bây giờ, thừa thắng xông lên, xâm nhập luôn những Cộng đồng Việt Nam tỵ nạn tại Mỹ, vô tình hay hữu ý thực hiện chủ trương “giao lưu văn hóa” của VC, tiếp tay bởi tên nhà văn MC thò lò hai mặt. Về dung nhan, các ca sĩ ấy vượt trội những cô gái mà tôi đã gặp tại Hà Nội năm 1983. Nhưng giọng nói “2 nút” chua lè thì vẫn y chang.
 
      5) Lang thang mãi, mỏi chân, và đói bụng, chúng tôi tắp vào một quán phở, không xa ga Hàng Cỏ là bao. Ba cô gái “phục vụ” (chạy bàn), mặc đồng phục, sơ mi và quần tây, đứng ở quầy hàng, thấy năm ông khách quý bước vào, trơ mắt ngó, không thèm chào mời. Và phớt lờ, tiếp tục trò chuyện với nhau. Quán lúc ấy không có ai ngoài năm đứa tôi.       
      Chờ lâu, một anh, cựu trung úy Biệt Động Quân, người Nam hiền khô, nhưng tướng rất ngầu, da ngăm ngăm đen, nói năng bạt mạng, lại ngọng nữa, sốt ruột, lớn tiếng hỏi:     
      – Nè, bộ mấy bà chê tụi tui không tiền hay sao mà không ai ga (ra) tiếp dzậy?
      Một cô trả lời, giọng Bắc the thé như lai tiếng Thanh Hóa, Nghệ An:
      – Ăn gì thì đến quầy mà gọi.     
      Anh BĐQ đứng lên, khệnh khạng tiến tới quầy, hai tay thọc trong hai túi quần. Tôi bước theo, sợ to chuyện, và nhắc nhở “tụi mình vẫn còn là tù binh, chưa được phát giấy ra trại”. Anh hiểu, và nói mộthơi:    
      – Cho tụi này năm tô phở bò tàu bay Hiền Vương, tái, chín, nạm, gầu, gân, sách, nước béo, giá trụng, hành trần, chanh, ớt, tương đen, ngò gai, nhiều bánh, nghe kịp không?
       Ba cô, dĩ nhiên, nghe sao kịp, không hiểu, hay chỉ hiểu lõm bõm, trợn tròn mắt, tưởng anh nói tiếng Ấn Độ. Một cô, có lẽ tổ trưởng, xẵng giọng:
      – Đây là cửa hiệu quốc doanh. Chỉ có một loại phở mà thôi, không có thứ gì khác. Rõ chưa?
      Anh quay nhìn tôi, rồi ngó thấy cô “chằn” quá, liền xuống nước:
      – Gõ gồi (rõ rồi). Ờ, thì cô bán cho năm tô đi. Và năm chai bia.
      – Không có bia chai, mà chỉ bia “bốc” thôi.
      Anh lại hỏi:
     – Bia “bốc” là bia gì dzậy?        
     – Là bia hơi rót từ cái bình thủy tinh lớn kia, ông cụ nội ạ, chứ còn là bia gì nữa
 Tôi cười cười, cố tình nói đùa cho tình hình bớt căng thẳng:
     – Nghĩa là chưa uống nó đã “bốc hơi” bay đi hết, phải không cô?  
      Nhưng cô quốc doanh nguýt tôi, rồi lườm anhBĐQ, mắt tóe lửa, như muốn nhai tươi nuốt sống hai thằng. Và bảo “trả tiền trước đi đã”, tổng cộng cả bia lẫn phở cho năm tên “ngụy” là 50 đồng.
      Hai thằng trở lại bàn. Ngồi chờ mãi, gần nửa tiếng, mà phở, bia chưa thấy mang ra, anh lại bực bội, gõ chiếc muỗng vào cái ly nghe leng keng, rồi nói lớn:
       – Sao lâu quá gồi mà không thấy ai bưng phở, đem bia ga dzậy cà?
        Cô “tổ trưởng” từ quầy cũng to tiếng, đáp lễ:
       – Đến đây mà bê ra, không ai hầu cho đâu!
      Cả đám bật đứng lên, bước đến phía quầy, thấy một lô tô phở, không nước, làm sẵn đồng loạt từ lâu, nằm chình ình trên một cái khay lớn. Nghĩa là khách địa phương, rành thủ tục, chỉ có việc đến quầy trả tiền, lúc đó các cô “phục vụ” mới đổ nước lèo nóng vào, rồi tự động ai nấy bưng tô phở ra bàn. Phở lơ thơ vài cọng rau, chỉ có một lát thịt bò thái mỏng như lưỡi lam cạo râu, sẵn sàng bay theo cơn gió vô tình lướt qua. Nước phở còn nhạt hơn nước ốc. Bia “bốchơi” thì khỏi nói: không khác chi nước trà lên men.       
      Ăn uống tạm no, nhưng còn ấm ức, anh trung úy BĐQ rút điếu thuốc Điện Biên ra hút, mơ màng nhả khói, như triết gia Jean-Paul Sartre trên vỉa hè Paris, rồi than nhỏ với tôi: “ĐM. Cái gì cũng quốc doanh, không khá nổi. Phở, bia, hay cha, thầy, sư quốc doanh gì cũng đều cà chớn gáo (ráo) trọi.”
      Ra đường, gặp một toán khác đi ngược chiều – khoe vừa mới nhậu thịt chó xong. Hỏi ngon không, thì một anh hậm hực trả lời: “Ngon gì mà ngon. Thịt chó quốc doanh chỉ có độc mỗi món luộc chấm với mắm tôm, không ớt, mùi tanh lắm. Nhưng lỡ trả tiền rồi, cũng phải ráng nuốt thôi. Thịt chó Hà Nội gì mà bết bát hết sức, thua xa thịt chó Hố Nai.”
 
      IV. Rồi năm đứa chia tay nhau, đường ai nấy đi, hồn ai nấy giữ. Hẹn trở về ga Hàng Cỏ trước 7 giờ tối, hoặc sớm hơn. Còn nhiều thời gian để mà giết. Làm gì cho hết nửa ngày nữa?
      Tôi nẩy ý muốn đi xem phong cảnh Hà Nội. Bèn vẫy một chiếc xích lô. Phu xe là một thanh niên trên ba mươi, tên Tứ, dáng dấp khỏe mạnh, nói nhiều, giọng Bắc Khu Tư (Vinh). Tôi thương lượng:    
      – Anh chở tôi đi chơi vòng vòng xem cho biết Hà Nội, cứ đạp từ từ, đến chỗ nào cũng được, tùy ý anh, trong ba tiếng, rồi chở tôi trở lại ga Hàng Cỏ trước 7 giờ. Anh lấy bao nhiêu?
      Anh mau mắn đáp:
– Dạ, bèo lắm thì cũng 40 đồng đấy anh ạ…
      Tôi vừa ngồi lên nệm xe, anh đã đề nghị đi Hồ Hoàn Kiếm trước. Hà Nội đang còn mùa xuân, hai bên đường hoa nở rộ, thắm tươi. Những cành đào nặng trĩu hoa, rực rỡ một màu đỏ hồng, cong xuống, la đà theo gió. Thấy tôi mải mê ngắm nghía một cách thích thú, Tứ góp chuyện:
      – Còn một loài hoa nhỏ, chỉ nở từ tháng 3 đến cuối tháng 4, tức tháng này, trắng xóa ven đường, lại tỏa hương thơm nhè nhẹ. Tuyệt vời, anh ạ. Đó là hoa sưa… Đấy, anh ngắm đi, kia kìa, đúng là một cảnh tuyết, giống ở Sapa…
       Tôi hỏi lại:
      – Hoa sưa hay hoa sữa?
      – Dạ sưa. Du khách Sài Gòn ra, ai cũng lộn.
      Dọc đường, ít thấy xe hơi, xe gắn máy hay bộ hành qua lại. Du khách ngoại quốc, hay Việt kiều, cũng vắng. Một thủ đô đang hấp hối hay đang ngái ngủ, tôi có cảm tưởng, lạc hậu nhất trên hành tinh này. Lãnh đạo tự phong toàn là một lũ thất học, ngu đần, lúc bấy giờ còn say men chiến thắng, còn bận nhiều việc: trả nợ cho hai nước “anh em vĩ đại”, Liên Xô và Tàu Cộng, trả thù người chế độ cũ, lừa và lùa hàng trăm ngàn tù binh “ngụy” vào rọ “học tập cải tạo”, đày dân đi vùng kinh tế mới để cướp nhà của họ, vơ vét và chia chác của cải từ Miền Nam khuân ra Bắc, khoác lác khoe khoang với thế giới rằng “VN đã đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, Pháp và Mỹ”, và “VN chúng tôi có quá nhiều anh hùng, vừa ra ngõ là gặp anh hùng”… Nên chúng chưa có kế hoạch phát triển kinh tế, làm cho đất nước giàu mạnh.
      Xích lô chạy một hồi, đến hồ Hoàn Kiếm lúc nào không hay. Tôi bước xuống, đi bộ lên thảm cỏ xanh. Những nhánh liễu ven hồ, rũ xuống, tàn lá lưa thưa, không đủ “che nửa mặt hoa” (Bạch Cư Dị) của những cô gái trẻ ngồi tâm sự bên tình nhân, trên ghế đá. Tôi thấy họ có vẻ ngượng nghịu, lúng túng đến tội nghiệp khi nắm lấy tay nhau, nói chi ôm nhau, hôn nhau. Thương cho họ. Và ở một cảnh ngộ khác, thương cho chính tôi và những chiến hữu bất ngờ trở thành tù binh, không kịp hẹn trước với Định Mệnh, vừa đứng trước cổng trại giam là đã phải bỏ lại tất cả: quá khứ, vị lai, tình yêu, ước mơ, và thảm não hơn, hy vọng. Dường như những cặp tình nhân này mới dưới quê lên thành phố, hoặc vừa được Bác và Đảng “cởi trói” cho phép yêu nhau, sau tám năm “chiến thắng” Miền Nam, trong khi Bác và bè lũ, những con yêu râu xanh thời đại, tha hồ “đồi trụy”, vợ nọ con kia, mà mồm cứ phun ra những lời sặc mùi đạo đức giả.
      Những tia nắng lấp lánh đuổi nhau trên mặt hồ. Nhìn xa thấy màu nước đẹp lung linh, xanh như một tấm thảm rêu trải dài. Gần bờ, trái lại, nước hồ quá bẩn, có chỗ lềnh bềnh những rác rưởi, giấy báo, bao ni lông, lon, ca, cóng do ai vứt xuống bừa bãi, tắt nghẽn, không trôi đi được. Trước kia, tôi đã đọc trong một quyển tiểu thuyết và nghe các ông bạn lớn tuổi, chính gốc Hà Nội ba mươi sáu phố phường, kể rằng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm thời trước 1954, sạch sẽ lắm, là nơi tụ họp vui chơi cuối ngày, và cuối tuần, của đông đảo dân Hà Thành, có những kiosques bán kem và lạc rang húng lìu nóng dòn, có giọng ca nhí nhảnh của Joséphine Baker phát ra từ đĩa nhạcxưa, “J’ai deux amours: mon pays et Paris..”  nhưng bây giờ, đứng đấy, tôi không nghe, không thấy gì hết. Cũng như, theo lời Tứ kể, ở Hồ Tây, mà anh ngại xa không muốn chở đến, không còn những chiếc périssoires (thuyền thoi) – mà dân Đà Lạt rất quen thuộc trước 1975, trên hồ Xuân Hương. Hay người Cộng sản không biết ăn kem Bờ Hồ, không biết nhai lạc rang, không biết nghe nhạc Pháp, không biết bơi thuyền thoi, cho đó là sản phẩm của Thực dân, Đế quốc? Vua Lê Lợi nếu sống lại chắc sẽ cămgiận lắm về những hậu sinh khả ố, mất dạy, mê muội hiện tại, nhắm mắt theo đuôi chủ nghĩa Cộng sản khốn nạn. Tôi cầu xin, khi mùa đông về, mưa bay lất phất, rùa thần nổi lên mặt hồ, cho ngài mượn lại thanh kiếm báu để chém bay đầu bè lũ chúng nó, như trưóc kia đã chém bay đầu Liễu Thăng và giặc Minh…
      Rời hồ Hoàn Kiếm, Tứ chở tôi dạo một vòng Bưu điện gần đó, là một tòa nhà đồ sộ xây theo lối Tây, và xa hơn, những “phố” (thực ra là những con đường) Huế, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng… mà tại mọi góc đều có Công An đứng gác, súng ống trang bị đến tận răng, mắt cú vọ nhìn gốc cây nào cũng thấy “phản động”, mặc dù đất nước đã thanh bình lâu rồi.
      Khi tôi ngỏ ý muốn đi thăm Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Tứ lẩm nhẩm tính:
      – Đến Văn Miếu thì phải vòng trở lại ga Hàng Cỏ, qua phố Hàng Lọng, theo phố Sinh Từ…
       Tôi cắt ngang:
      – Anh có nói, tôi cũng chẳng biết phố nào là phố nào. Thôi, tôi nhắm mắt để anh chở tôi đi đường nào cũng được.
       Như tên gọi, đó là một khu “miếu” lớn, với lối kiến trúc cổ xưa, từ thế kỷ XV, trang nghiêm, thanh nhã, gồm một gian thờ Khổng Tử và môn đệ, một lầu vuông tám mái gọi là Khuê Văn Các, nơi bình thơ của các sĩ tử, cạnh giếng Thiên Quang mà hai bên tả, hữu thấy dựng hai hàng bia đá khắc tên tám mươi hai vị đỗ tiến sĩ, qua các triều đại. Trên cổng ngoài cùng có vẽ hình hai con cá chép theo điển tích “cá vượt vũ môn”, ngụ ý người học trò đi thi được ví như cá chép phải vượt ba đợt sóng dữ, tại cửa sông, mới biến thành rồng, chỉ sự thành công tột bực. Chứ không phải, tôi nghe ai kể, các thí sinh thích ăn cá chép, theo cách hiểu của đa số học sinh XHCN bây giờ. Bước đi, tôi thấy người bỗng thoát trần, xa rời tục lụy và thực tế tối đen, xấu xí hiện nay, để lòng nhẹ tênh. Như bay bổng trong không gian và thời gian lồng lộng. Như nghe tiếng thiết tha gọi về từ đáy Hôn Dân Tộc thanh cao của bốn ngàn năm văn hiến và từ những trang Sử Việt oai hùng qua bao dòng đời hưng phế, với Trưng, Triệu, Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn… những triều đại bị bọn “đỉnh cao trí tuệ” Trường Sơn chê là phong kiến, lạc hậu, độc tài, mà người dân vẫn được tự do đi lại, vẫn được ăn no mặc ấm, vẫn được vua chúa thương yêu như con, vẫn được học hành đến nơi đến chốn theo truyền thống nhân bản, vẫn được gọi mời tham gia vào công cuộc trị nước và giữ nước. Mà những tiến sĩ, đang hiện diện trong Văn Miếu kia, được vinh danh và trọng vọng nhờ vào thực tài, đức hạnh, chứ không bởi văn bằng dỏm, văn bằng lậu, văn bằng tậu được do tiền bạc và mánh mung, như trong thời kỳđồ đá, đồ khỉ, đồ đểu hiện nay…
 
      V. Từ giã Văn Miếu, thấy còn dư một tiếng, tôi đề nghị Tứ chở đi xem giếng ngọc của Trọng Thủy và Mỵ Châu – mà chuyện tình diễm ảo và bi thảm đã ám ảnh, mê hoặc hồn tôi, từ lúc còn trẻ cho mãi đến bây giờ, hơn bất cứ chuyện tình diễm ảo và bi thảm nào trong văn chương thế giới, kể cả Tristan et Iseut  hay Romeo and Juliet. Tứ đáp:
      – Xa lắm anh ạ, tận mãi Cổ Loa, quận Đông Anh, phía Bắc, cách Hà Nội 16km, không đi xích lô được, vả lại không kịp giờ lên xe lửa đâu.       
      Đành trở lại ga Hàng Cỏ, trước giờ qui định. Trao tặng những anh giữ-hộ-viên-túi-xách một bịch chuối ép khô mua tại cửa Bưu điện và kể sơ về chuyến du hành bằng xích lô. Hai cán bộ đã có mặt. Rồi lục tục, các đồng tù trở về “trình diện” kịp, hay trước, giờ, vì không ai dại, làm lỡ chuyến tàu xuôi Nam. Đúng 8 giờ tối, tất cả lên tàu, ngồi trong một toa, do “trên” (nhà nước) dành riêng, sau khi cán bộ đọc tên và phát cho từng người giấy ra trại, kèm theo lời dặn dò, hay mệnh lệnh chót, “các anh nhớ thi hành tốt lệnh quản chế địa phương, và phấn đấu làm ăn tốt, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đừng trốn chạy ra nước ngoài”. Hai tên cán bộ ở lại ga và chúng tôi hoàn toàn tự do, từ đây, ít ra trong đêm đó.
 
      Tàu khởi hành trễ nửa giờ. Chạy khoảng một tiếng thì ngừng lại tại một ga nhỏ, đón khách “nhảy tàu” (buôn bán lậu trên xe lửa) ra Bắc và trở vào Nam. Đa số là phụ nữ Miền Nam, còn trẻ, biết có một toa tù cải tạo được thả, họ đem hàng đến gửi, nhét đại phía dưới ghế ngồi, vì qua kinh nghiệm, tin rằng công an không bao giờ vô lục khám. Chúng tôi thông cảm, để mặc và ngược lại họ mua bánh trái đãiđằng để trả công ơn đồng lõa. Vài người, mà thân nhân còn trong tù cải tạo, đứng nán lại, hỏi han, tâm sự. Và bất ngờ, tôi được biết trong số có một chị là vợ của một trung úy, đồng đội K1, không được thăm nuôi, đói, nhưng rất có bản lĩnh, tư cách. Tôi nói nhỏ với chị:
      – Ảnh đói lắm. Chị ráng thu xếp ra thăm ảnh một chuyến.
      Chị bật khóc, nước mắt đầm đìa, trả lời:
       – Em biết. Và thương ảnh lắm. Nhưng nhà nghèo quá, phải nuôi đàn con nhỏ nữa. Khi nào dành dụm được chút ít, chắc chắn em sẽ ra thăm ảnh
      Cảm động, tôi móc từ túi quần được một nắm tiền, chừng hơn 100 đồng của trại trả lại, kín đáo đưa tặng chị, nói để “mua quà cho các cháu”. Chị không nhận và vì tế nhị, tôi không nài ép. Cách đây hai năm, tình cờ tôi gặp lại anh chị – qua Mỹ theo diện HO, và làm ăn khá giả, con cái thành đạt – tại nhà một người bạn chung. Sau ba mươi năm, chị nhìn tôi, xa lạ, không nhận ra là ai và tôi cũng không nhắc gì về chuyến tàu đêm năm cũ ấy.
 
      Tàu chạy thâu đêm, qua những địa danh lịch sử, tôi chỉ nghe nói đến mà chưa hề thấy tận mắt, như Hà Tĩnh, quê hương tuổi nhỏ của đại thi hào Nguyễn Du. Hay Quảng Bình, nơi sinh quán của Tổng thống Ngô Đình Diệm, với Đèo Ngang nổi tiếng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan và sông Gianh phân chia ranh giới Bắc Nam giữa quân Trịnh và quân Nguyễn, thếkỷ XVII. Khi đến Cửa Tùng, An Du Tây, Quảng Trị, quê nội tôi, trước khi tàu qua cầu Bến Hải, tôi nhìn chăm chú ra ngoài, như một phản xạ, nhưng không thấy gì cả ngoại trừ một vùng đồng ruộng tăm tối, bao la. Tự nhiên, một cảm giác xa lạ, trống vắng xâm chiếm tâm hồn. Và thấy đắng chát trong cổ họng… Bởi một nơi không đến bao giờ, và không có một chút kỷ niệm, dù là quê cha đất tổ, cũng chỉ là một chấm đen trên bản đồ. Tôi gục đầu xuống thành cửa sổ, muốn khóc. Bỗng nhớ ba tôi quay quắt, đã mất không lâu trước đó, mà tôi không được gặp mặt. 
     
      Ngược lại, tại sân ga Huế, sáng trưng ánh đèn, một cảnh sinh hoạt náo nhiệt diễn ra, dù đã quá nửa khuya. Khi những em bé bán bánh, nước trà bắt gặp chúng tôi ngồi la liệt trong toa đặc biệt, biết là tù “ngụy” trở về, liền báo động cho những đồng nghiệp lớn tuổi, và một đám các bà, các o chạy túa đến, reo vui: “Sĩ quan cải tạo về kia tề, anh mô cũng đẹp trai hết, không như mấy cha bộ đội. Thấy các anh cực khổ mà thương chi lạ!”. Vài anh thò đầu qua cửa sổ mua bánh, chuối, thịt gà chiên, nhưng họ không lấy tiền. Lại còn, khi tàu chuyển bánh, chạy theo, ném thêm qua cửa sổ…
 
      Sáng hôm sau, tàu ngừng tại ga Nha Trang, lúc 9 giờ. Tôi thuê xích lô trở về nhà. Xuất hiện tại cửa như một bóng ma hiện hình. Mẹ và Bội Trân đứng sững giây lâu, rồi cả hai ôm chầm lấy tôi, khóc nức nở. Tôi hôn lên má, lên tóc Mẹ và qua vầng trán nhăn nheo và mái đầu bạc trắng, ngậm ngùi tưởng nhớ dung nhan của Mẹ ngày xưa và tình thương bao la suốt đời Mẹ dành cho từng đứa con. Tôi nhìn Bội Trân, người em tiếp viên Air Vietnam kiều diễm của tôi, sau ngày đất nước đổi chủ, đổi tên, đã bị trời xanh quen thói má hồng đánh ghen bắt chịu nhiều nỗi truân chuyên, như người chinh phụ trong Đoàn Thị Điểm. Ôm em trong tay mà tưởng như ôm một khối tình sầu hóa thân chất ngất, chưa tan, mà biết rằng em, qua dòng lệ mừng cho tôi, cũng đang khóc nhớ hôn phu – một phi công, vì em không đi, đã ở lại Sài Gòn sáng 30 tháng 4, để bây giờ vĩnh viễn gãy cánh, nằm xuống tại một nơi nào trong trại tù Thanh Phong. Bởi em buồn, tủi phận, tôi cũng thấy hồn mình nát tan, không muốn bộc lộ nỗi vui được thả, không muốn kể gì về những trại tù đã đi qua… Xem tất cả như một chương đời khổ nạn khép lại, một cơn ác mộng phải quên. Cho riêng tôi, và cho giùm em gái và những người vợ tù khác.
 
      VI. Ba mươi hai năm qua, kể từ ngày ấy. Biết bao nhiêu chuyện đời xảy đến. Từ Mỹ, tôi đã đi thăm nhiều thủ đô lớn, nhỏ trên thế giới. Nhưng vẫn không sao quên được hình ảnh Hà Nội tuyệt đẹp, mà tôi đã gặp trong sử sách, cùng với hình ảnh cố đô Thăng Long cổ kính và huyễn mộng qua hàng chục thế kỷchiến tranh giữ nước. Thăng Long hay Hà Nội. Của một Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân, rồi cưỡi thiết mã bay về trời. Của một Lý Thường Kiệt đứng trên sông Như Nguyệt, sang sảng ngâm bài thơ, được xem là bản tuyên ngôn đầu tiên về chủ quyền quốc gia Việt Nam, cách đây mười thế kỷ, độc đáo nhất, quyết liệt nhất: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư...”, trước khi xuất trận đánh tan quân xâm lược. Của một Trần Nhân Tông và các bô lão trong Hội Nghị Diên Hồng, đồng thanh quyết chiến đến cùng. Của một Trần Hưng Đạo với câu nói, có một không hai trong lịch sử nhân loại về sự hy sinh tột độ cho đất nước: “Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng” – là danh tướng duy nhất trong quân sử thế giới đã đánh bại đế quốc Mông Cổ (tức nhà Nguyên), hùng mạnh nhất lúc bấy giờ, bách chiến bách thắng, mà vó ngựa đã giẫm nát toàn cõi Đông Âu, Nga, Trung Đông và Đông Nam Á. Của một Trần Bình Trọng, bị bắt, với thái độ hiên ngang, ngẩng cao đầu trước địch quân: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Của một Lê Lợi với hơn mười năm kháng chiến nằm gai nếm mật. Của một Nguyễn Trãi với chính sách thu phục nhân tâm diệu kỳ“Lấy trí nhân thay cường bạo”. Của một Nguyễn Huệ với những chiến thắng mùa xuân thần tốc lẫy lừng. Của một Hoàng Diệu, tổng đốc trung liệt, đã tuẫn tiết cùng chết với thành Hà Nội. Của toàn dân, qua các triều đại, đã sát cánh với vua, quan, tướng lãnh đánh đuổi bọn Đại Hán xâm lược, mà dù là Ân, Ngô, Tống, Nguyên, Minh, Thanh xưa kia, hay Mao (Cộng) ngày nay – tất cả đều là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
 
      Cũng như tôi không sao quên được hình ảnh, ngược lại, điêu tàn của một Hà Nội mà tôi đã gặp vào một ngày mùa xuân 1983, cổ lỗ và rách nát trong tay giặc Việt Cộng. Dưới sự thống trị của bọn lãnh đạo ma đầu thay nhau tự phong, ngu dốt, tham tàn, phản bội dân tộc, rước voi về giày mả tổ, thấy kẻ thù là run như cầy sấy, nhưng đối với dân thì hung bạo, đánh đập, bắn giết, bỏ tù. Hà Nội trong mắt tôi, ngày xuân ấy và nhất là bây giờ, dưới xích xiềng giặc Việt Cộng, chỉ là thủ đô của hận thù, của hạ tiện, của xảo trá, của băng hoại về mọi giá trị đạo đức, xã hội, giáo dục, kinh tế, an sinh và lương tâm. Chỉ là biểu tượng của một đất nước mà dân nghèo phải đầu tắt mặt tối, bươn chải kiếm sống, mà học sinh phải đu dây qua sông để đến trường, mà dân giàu lo ăn chơi, trụy lạc, say xỉn, mà tướng tá và công an được mua bằng tiền, tự biến thành chó ngựa, cung cúc phục vụ chế độ phi nhân, mà tất cả, trong những hoàn cảnh sống khác nhau như thế, cũng đều quên đi nhiệm vụ cao cả do tiền nhân giao phó: đứng lên chiến đấu giữ nước, trước hiểm họa Bắc thuộc do Tàu Cộng đang mưu toan với chiến thuật mới, mềm dẻo hơn, tinh vi hơn, nghĩa là bằng chính tay những thằng lãnh đạo Việt Cộng.
      Hà Nội ấy, một lần đi qua, tôi sẽ không bao giờ trở lại, dù chỉ một giờ, một phút, nếu tổ quốc Việt Nam yêu dấu chưa sạch bóng nội thù Việt Cộng, nếu người dân chưa, hay chưa thể, đứng lên tiêu diệt bọn lãnh đạo bây giờ, và ném vào sọt rác lịch sử cái chủ nghĩa Cộng sản quái thai, quái dị, quái đản, đã ngự trị từ hơn ba phần tư thế kỷ trên đất nước tang thương, bất hạnh này –đã vô phúc sản sinh ra một tên Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, còn bỉ ổi, ghê tởm hơn Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống.     
 
      VII. Khát vọng và ước mơ tuyệt vời đó về một Việt Nam tương lai phi Cộng sản, tôi lo, khó thành hiện thực cho tôi và những ông bạn chiến binh già, trong cuộc đời này. Thời gian vô tình cứ trôi đi, và bóng đời cứ nghiêng đổ, mà giật mình ngoảnh lại, thấy chưa làm gì được cho đất nước thân yêu còn mãi quằn quại trong nanh vuốt Việt Cộng. Có thể không kịp nữa. Họa may, kiếp sau. Nếu Thần Chết không bắt chúng tôi bỏ lại tất cả mọi hy vọng,  khi bước qua bờ tử sinh. Và nếu trong Inferno, thi hào Dante cũng tha, cho những kẻ đứng trước cửa địa ngục, hình phạt nặng nề nhất, tức là phải mang theo mối tuyệt vọng đời đời. Lasciate ogni speranza voi ch’entrate (Hãy vứt bỏ tất cả hy vọng, hỡi các ngươi đang bước vào.)
Kim Thanh (NLGO)

Space Needle: Remaking an Icon—King 5 Evening

Part 1


Part 2


Part 3


Part 4—The Big Reveal


 

Vài Hình Ảnh Kỷ Niệm Ngày Quân Lực 19 Tháng 6 Tại San José—Vũ Thế Khanh, K20

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Picnic Mùa Hè—Chủ Nhật 4 tháng 8, 2019 | Hội Võ Bị Bắc Cali

FlyerPicnic2019

Kính thưa:
– Quý Niên Trưởng, quý Phu Nhân, quý Bạn và Gia Đình,
– Quý cựu Giáo Sư, cựu Huấn Luyện Viên và Gia Đình,
– Quý Chị PNLV, Anh Chị Em TTNĐH và Gia Đình,
– Quý Chiến Hữu, Thân Hữu và Gia Đình,

Hội Võ Bị Bắc Cali trân trọng kính mời quý vị đến tham dự Picnic Hè 2019 do Hội Võ Bị Bắc Cali tổ chức với những chi tiết như sau:

  (1) Thời gian: từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều Chủ Nhật 4 tháng 8 năm 2019. 

  (2) Địa điểm: Hellyer County Park 985 Hellyer Ave. San Jose, CA 95111 (Mời click vào đ/c trên để xem bản đồ nếu chưa biết chỗ)

Hellyer County Park là một công viên tuyệt đẹp, rộng hơn 178 mẫu đất, tọa lạc về hướng nam đông-nam Thành Phố San José. Với phong cảnh thiên nhiên ngoạn mục và không khí trong lành mát mẻ quanh năm, Hellyer County Park là nơi lý tưởng cho các sinh hoạt ngoài trời vào mùa Hè—đã được google & tripadvisor đánh giá 4.5*. (more…)

Happy Father’s Day

FathersDay2019

Tình Cha—Lê Văn Ở | Papa—Paul Anka | Daddy’s Little Girl—The Shires




 

D-Day 75th Anniversary—Donald J. Trump

DonaldTrump1

Chặng Đường Dài tới Tòa Bạch Ốc của Donald J. Trump—Tổng Hợp



Vài Hình Ảnh Sinh Hoạt Ngày 25/5/2019—Nguyễn Đức Quyền | Nguyễn Gia Thiếu

2019 West Point Graduation Closing Minutes Alma Mater to Toss—USMA


Mưa Lạnh Tàn Canh—Hoàng Thục Linh

Cả Xã Hội Trung Cộng Ăn Cắp Bí Mật Mỹ—Vi Anh

XaHoiTrungCong1

Tại Paris, Tập Cận Bình huênh hoang tuyên bố, Trung Cộng chỉ cần 40 năm để hoàn thành những việc mà Âu Châu phải mất 300 năm

Vào ngày 26/03/2019, Chủ Tịch Trung Cộng Tập cận Bình trong cuộc họp ở Paris, tự phụ tuyên bố trước Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, Thủ tướng Đức Angela Merkel và Chủ tịch Ủy Ban Châu Âu Jean-Claude Juncker, rằng trong 40 năm chúng tôi đã làm được những việc mà quý vị phải mất đến 300 năm. Nhưng cả thế giới nực cười, chế nhạo TC có gần 1 tỷ 400 triệu dân mà không có một Nobel khoa học kỹ thuật, y học nào cả, TC chỉ toàn ăn cắp, mua chuộc, bắt bí lấy của Âu Mỹ.
Vào ngày 26/4, Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ FBI Christopher Wray tại Hội đồng Quan hệ đối ngoại (Council on Foreign Relations) phát biểu rằng không có quốc gia nào đặt ra mối đe dọa to lớn và nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ bằng Trung cộng về góc độ tình báo, thông tấn xã Pháp AFP đưa tin như thế. Ông nói rõ“TC là người dẫn đầu huy động toàn xã hội ăn cắp, thông qua tất cả các loại hình thức công ty, trường đại học và tổ chức, làm tất cả mọi thứ có thể để đánh cắp những sáng tạo của chúng tôi, thông qua các cơ quan tình báo TC, các doanh nghiệp nhà nước, số lượng lớn các doanh nghiệp tư nhân, nghiên cứu sinh và học giả cùng nhiều người khác trở thành người làm việc cho TC”.

XaHoiTrungCong2

Giám Đốc FBI Christopher Wray điều trần tại Council on Foreign Relation

Giám đốc FBI còn cáo buộc Đảng Cộng Sản Trung cộng [ĐCSTC ] đánh cắp công nghệ Mỹ để leo thang kinh tế: “Nói thẳng ra, TC dường như nhẫn tâm hy sinh lợi ích của chúng tôi, thông qua trộm cắp để leo lên nấc thang kinh tế.” Ông cho rằng các hành động của ĐCSTC không chỉ là mối đe dọa đối với an ninh kinh tế, mà còn là mối đe dọa an ninh quốc gia Hoa Kỳ.

Hành vi trộm cắp quyền sở hữu trí tuệ của ĐCSTC cũng là trọng tâm xét xử của Washington. Tổng thống Trump đã nghiêm khắc cáo buộc Bắc Kinh áp dụng các biện pháp thương mại không công bằng như chuyển giao công nghệ bắt buộc và trộm cắp quyền sở hữu trí tuệ, xâm phạm lợi ích của người Mỹ.

Và Mỹ, Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ  không giấu diếm, nói rõ dự án phản gián điệp hiện tại của Washington đang tập trung vào vấn đề gián điệp kinh tế của ĐCSTC.

XaHoiTrungCong3

Cố vấn kinh tế Toà Bạch Ốc Larry Kudlow

Sau nhiều vòng đàm phán, cuối cùng TC đã thừa nhận hành vi ăn cắp công nghệ của mình. Đầu tháng 4, Cố vấn kinh tế Toà Bạch Ốc Larry Kudlow phát biểu trước truyền thông cho biết, lần đầu tiên Trung cộng thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ bắt buộc và tổ chức tin tặc làm gián điệp Internet. Ông Kudlow nói rằng trước đó ĐCSTC đã hoàn toàn phủ nhận các cáo buộc về hành vi trộm cắp quyền tài sản trí tuệ của Hoa Kỳ. Ông Giám đốc FBI Wray cho biết, Hoa Kỳ không phải là mục tiêu kinh tế duy nhất mà ĐCSTC nhắm tới. “Cách tiếp cận của họ là chiến lược. Trên thực tế, họ có kế hoạch 5 năm hẳn hoi, từng bước đạt được vị trí thống lĩnh trong các lĩnh vực then chốt. Để đạt được mục tiêu của mình, họ sử dụng một loạt các biện pháp phi truyền thống, cả hợp pháp lẫn bất hợp pháp, kết hợp đầu tư nước ngoài và mua lại công ty, xâm nhập Internet và đe dọa chuỗi cung ứng”.

ĐCSTC đang cố tình thực hiện kế hoạch trộm cắp này. Trong vài thập kỷ qua, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp mối đe dọa của ĐCSTC và bây giờ mọi người mới nhận thức được tính nghiêm trọng của mối đe dọa này, ông Way nói thêm.

XaHoiTrungCong4

Tẩy chay hàng hóa Trung Cộng

Năm ngoái, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã khai triển “Sáng kiến Trung Cộng” (China Initiative), trong đó Hoa Kỳ sẽ tích cực điều tra và truy tố các công ty, cá nhân TC bị nghi ngờ tham gia trộm cắp bí quyết thương mại và gián điệp kinh tế.

Đây không phải lần đầu Giám đốc FBI Christopher Wray tố cáo về nạn gián điệp của Đảng Nhà Nước và của xã hội của chế độ TC.  Hồi năm 2018 ngày 11 tháng 12, trong cuộc điều trần trước Ủy ban Tư pháp Thượng viện ở Washington Giám đốc FBI Christopher Wray nói rằng Trung Cộng không chỉ dựa vào các tổ chức nhà nước để làm suy yếu sức mạnh quân sự, kinh tế, văn hóa và thông tin của Mỹ trên toàn cầu.Giám đốc FBI nhìn nhận mối đe dọa không chỉ đến từ chính phủ Trung cộng mà còn từ toàn xã hội Trung Cộng. Ông kêu gọi “toàn xã hội” Mỹ đoàn kết để đối phó với Trung Cộng.

XaHoiTrungCong5

Diễn Đàn An Ninh Aspen

Nhớ  tại Diễn đàn An ninh Aspen, hôm thứ Tư 18/7/ 2018, các phóng viên đã đặt câu hỏi liệu ông Giám đốc FBI Christopher Wray có coi Trung Cộng là “kẻ thù” hay không và ở mức độ nào. Ô. Wray trả lời không phải Nga, mà Trung Cộng mới là mối đe dọa lớn nhất về tình báo đối với nước Mỹ. Ông dẫn giải Trung Cộng phủ mạng lưới tình báo khắp 50 tiểu bang của Mỹ, còn tình báo Nga thì không.

“Xét từ góc độ điều tra phản gián, tôi cho rằng Trung Cộng là mối đe dọa lớn nhất, thách thức nhất và đáng lo ngại nhất của nước Mỹ”.”Sở dĩ tôi nói vậy là bởi họ đã tiến hành nhiều động thái gián điệp toàn diện trong nội bộ nước Mỹ. Không chỉ gài gián điệp thông thường, họ còn có cả gián điệp kinh tế [tại Mỹ]. Ngoài những đặc vụ truyền thống, họ còn tiến hành thu thập thông tin bằng nhiều cách khác, bằng nhân lực hoặc các thiết bị điện tử”.”Chúng tôi đã tiến hành điều tra gián điệp kinh tế trong tất cả 50 tiểu bang của Mỹ, và tất cả đều có bàn tay của Trung Cộng. Thiết bị theo dõi được tìm thấy ở những nơi ít ai ngờ tới – trong hạt ngô ở Iowa, hay những cối xay gió ở Massachusets… Do đó tôi cho rằng chúng ta không thể coi thường tầm cỡ, số lượng hay mức độ thâm nhập của gián điệp Trung Cộng”.

XaHoiTrungCong6

Gián điệp Trung Cộng có thể ở khắp mọi nơi

Báo chí, truyền thông, quốc hội Mỹ từ lâu cũng rất thường đưa ra những thông tin nghị luận vạch trần các hành động của tình báo TC ăn cắp “bí mật kinh doanh, tài sản online”, giả mạo và “buôn bán hàng giả.” Năm 2017 FBI cũng có một báo cáo cho biết việc Trung Cộng ăn cắp sở hữu trí tuệ đã khiến Mỹ thiệt hại đến 600 tỉ USD hàng năm.

Ông Giám đốc FBI Christopher Wray nhận định hoạt động gián điệp của Trung Cộng tại Mỹ mang tính chiến lược hơn và có quy mô lớn hơn nhiều so với hoạt động can thiệp nội bộ nước Mỹ của Nga trong những năm gần đây, dù những cáo buộc về Nga dường như đang “chiếm sóng” truyền thông nhiều hơn.

Blue Computer Hacker

Hackers Trung Cộng đang ngày đêm rình mò, phá hoại và trộm cắp dữ liệu điện toán

TC đã đánh cắp hàng khối dữ  liệu của Hải Quân Mỹ. Theo Reuters, ngày 14/12, báo Wall Street Jourrnal (WSJ) đưa tin, tin tặc Trung Cộng đã tấn công các nhà thầu của Hải quân Mỹ để đánh cắp hàng loạt thông tin, trong đó có các sơ đồ về hoả tiễn. Động thái này bị một số quan chức coi là chiến dịch tấn công mạng hiểm hóc nhất có liên quan tới Bắc Kinh.Các nhà lập pháp cũng bày tỏ lo ngại việc TC lợi dụng trí thức ở nước ngoài. Chính phủ Trung Cộng có thể gây áp lực cho các Hoa kiều được họ tài trợ để học tập và nghiên cứu tại Mỹ nhằm tiếp cận các nghiên cứu có giá trị chiến lược.

XaHoiTrungCong8

Trung Cộng bất chấp mọi thủ đoạn để đạt đến mục tiêu

XaHoiTrungCong9

Phụ tá Giám Đốc FBI Bill Priestap cảnh báo về hoạt động của các “Viện Khổng Tử”

Trung Cộng sử dụng “Viện Khổng tử”, các tổ chức được thành lập trong các trường đại học Mỹ với sự tài trợ của Chính phủ Trung Cộng để dạy ngôn ngữ và văn hóa Trung Cộng, cũng thu hút sự chú ý. Ông Bill Priestap cho biết có 150 Viện Khổng tử trong các trường đại học ở Mỹ. Chính phủ Trung Cộng từ năm 2008 đã tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài và chi tiền cho họ nhằm hỗ trợ hiện đại hóa Trung Cộng, hơn 300 nhà nghiên cứu của Chính phủ Mỹ đã chấp nhận khoản chi của Trung Cộng. James Mulvenon cho biết không rõ họ đã nhận được sự cho phép từ cơ quan của mình để nhận khoản tài trợ này hay chưa.

Vi Anh

____________________________________

In the Name of Confucius

Thảm Họa Bắc Thuộc—Vietnam Film Club

 


DI CHÚC CỦA HOÀNG ĐẾ TRẦN NHÂN TÔNG (1258–1308)

di-chuc

VFC – Hồn Tử Sĩ (Souls of The Fallen – Bien Hoa Military Cemetery)—Vietnam Film Club

19/5: Sinh Nhật Một Thi Hào—Trần Khải

TanDaNguyenKhacHieu(1)

Ngày 19 tháng 5 là sinh nhật một thi hào? Đúng vậy. Không chỉ làm thơ siêu xuất, ông cũng là người ấn hành tạp chí văn học đầu tiên tại Việt Nam. Đó là Tản Đà.

Nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 – mất ngày 7 tháng 6 năm 1939, tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Tự điển Wikipedia kể: Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là “gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”.

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự Sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao – Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định.) Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu Thư, rồi Hiệu Trưởng trường Tân Quy, Đốc Học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô – Ninh Bình, Vụ Bản – Nam Định, Quảng Oai – Sơn Tây, Vĩnh Tường – Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời…

Từ 1915 đến 1926 là những năm tháng đắc ý nhất của Tản Đà. Năm 1915, cuốn sách đầu tiên của Tản Đà được xuất bản, gây tiếng vang lớn, đó là tập thơ “Khối tình con I.”

Sau thành công đó, ông viết liền cuốn “Giấc mộng con” (cho in năm 1917) và một số vở tuồng: “Người Cá”, “Tây Thi”, “Dương Quý Phi”, “Thiên Thai” (diễn lần đầu năm 1916 tại Hải Phòng.)

Năm 1917, Phạm Quỳnh sáng lập ra “Nam Phong tạp chí”, và bài của Tản Đà có trên tạp chí này từ số đầu tiên. Năm 1918, Phạm Quỳnh ca ngợi cuốn “Khối tình con I” và phê phán cuốn “Giấc mộng con I”, cả khen lẫn chê đều dùng những lời lẽ sâu cay, biến Tản Đà trở thành một hiện tượng trên văn đàn. Sau bài phê phán tư tưởng của “Giấc mộng con”, Tản Đà thôi cộng tác với Nam Phong tạp chí và mở một số cuộc hội đàm để chống lại những lời phê phán đó, sự kiện này cũng được nhiều giới quan tâm.

PhamQuynh
Từ 1919 tới 1921, Tản Đà viết một loạt sách; truyện thì có “Thần Tiền”, “Đàn Bà Tàu” (1919); sách giáo khoa, luân lý thì có “Đài Gương”, “Lên Sáu” (1919), “Lên Tám” (1920), thơ thì có tập “Còn Chơi” (1921). Thời kỳ này ông quen với một nhà tư sản nữa là ông Bùi Huy Tín, cùng nhau du lịch khắp Bắc, Trung kỳ và làm chủ bút “Hữu Thanh tạp chí” một thời gian.

Năm 1922, Tản Đà thành lập “Tản Đà thư điếm” (sau đổi thành “Tản Đà thư cục”), đây là nhà xuất bản riêng đầu tiên của ông. Tại đây đã xuất và tái bản hết những sách quan trọng trong sự nghiệp của Tản Đà; “Tản Đà Tùng Văn” (tuyển cả thơ và văn xuôi, trong đó có truyện “Thề Non Nước”, 1922); “Truyện Thế Gian” tập I và II (1922), “Trần Ai Tri Kỷ” (1924), “Quốc Sử Huấn Nông (1924), và tập “Thơ Tản Đà” (1925). Ngoài ra thư cục này còn cho xuất bản sách của Ngô Tất Tố, Đoàn Tư Thuật.

Năm 38 tuổi (1926), Hữu Thanh tạp chí đình bản, Tản Đà cho ra đời “An Nam tạp chí” số đầu tiên với tòa soạn ở phố Hàng Lọng. Sự ra đời của “An Nam tạp chí”, tờ báo mà Tản Đà dành hết tâm huyết, đã bắt đầu quãng đời lận đận của ông…

Năm 1931-1932, Tản Đà có cuộc bút chiến nổi tiếng với Phan Khôi về luân lý và Tống Nho. Ông có câu nói đi vào lịch sử khi kết án Phan Khôi: “vu hãm tiên hiền, loạn ngôn hoặc chúng, bại hoại phong quá” và đòi đem Phan Khôi ra Văn Miếu quất roi vào đít. Thời gian này, ông có vào Sài Gòn ít lâu và đảm nhận phụ trương văn chương cho tờ báo của ông Diệp Văn Kỳ, và cư ngụ tại Xóm Gà.

Phan Khoi (1)

Tự điển Wikpedia cũng ghi nhận: Tản Đà người sáng lập ra tờ báo chuyên về văn học đầu tiên của Việt Nam: tờ “An Nam tạp chí”. Số đầu tiên ra ngày 1 tháng 7 năm 1926, Tản Đà làm chủ báo, thư ký tòa soạn là Ngô Tất Tố. Tờ báo xem như gắn liền với sự nghiệp làm báo của Tản Đà, song nó không hoạt động yên ổn như ý, cho đến ngày chính thức “chết”, tờ báo đã trải qua ba lần đình bản.

“An Nam tạp chí” đình bản lần đầu tiên vào tháng 3 năm 1927, sau khi ra được 10 số. Sau đó, đến năm 1929, Tản Đà hợp tác với một người ở Hàng Gai, cho tái bản tạp chí. Theo ông Lâm Tuyền Khách, sự tái bản này là ý của người kia, ra tạp chí để có dịp thu nợ vì Tản Đà nợ ông một món không dễ trả. Trên bìa “An Nam tạp chí” lúc ấy ghi Tản Đà là “chủ sự”, còn ông nọ là “chủ nhân”. Cũng theo ông Lâm Tuyền Khách, còn một lý do nữa là nếu ngày ấy An Nam tạp chí không tái bản thì sẽ bị thu giấy phép.

Lần tái bản này chỉ ra được vài số rồi lại đình bản. Đến tháng 4 năm 1931, “An Nam tạp chí” lại tái bản, lần này hoạt động đến ngày 1 tháng 3 năm 1933 thì đình bản vĩnh viễn vì lý do tài chính.

Tản Đà là cây bút chủ lực của “An Nam tạp chí”, cách làm báo của ông có thể coi là khá đặc biệt. Theo Lâm Tuyền Khách, ban ngày ông không làm việc, chỉ uống rượu, nói chuyện hay đọc sách, đến hai – ba giờ đêm ông mới trở dậy thắp đèn viết cho đến sáng. Trong tờ báo nhiều khi độc giả thấy những bài viết đang liền mạch, tự nhiên bị bỏ dở trong một thời gian dài mới thấy Tản Đà xuất hiện viết tiếp.

Tờ “An Nam tạp chí” tuy tổng cộng chỉ có 48 số, lại hoạt động thất thường, thiếu chuyên nghiệp nhưng được coi là một trong những tờ đầu tiên có những đóng góp tích cực vào sự phát triển của văn học Việt Nam thời cận đại theo khuynh hướng hiện thực. Bên cạnh đó nó thể hiện một cách kín đáo lòng yêu nước của Tản Đà, qua những bài tiểu luận, bài thơ đăng rải rác…

Có nhiều lời nhận xét đáng chú ý về thi sĩ Tản Đà.

Nguyễn Tuân viết: “Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Bùi Giáng viết: “…bản dịch “Trường hận ca” của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết: “Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết: “Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Lưu Trọng Lư viết: “…trước chúng tôi, không kèn không trống, lặng lặng im im, tiên sinh cũng đã làm ra “thơ mới” đó thôi!”

Khái Hưng viết: “Nhưng trong làng văn nước ta, được nhiều người yêu mến thời còn sống, dễ mới có Tản Đà.”

Hai nhà bình luận Hoài Thanh, Hoài Chân viết trong bộ “Thi Nhân Việt Nam” về Tản Đà: “Anh em ở đây, tuy người sau kẻ trước, nhưng ai nấy đều là con đầu lòng của thế kỷ hai mươi. Trên hội Tao đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỷ. Tiên sinh sẽ đại biểu cho một lớp người để chứng giám công việc lớp người kế tiếp. Ở địa vị ấy còn có ai xứng đáng hơn tiên sinh…”

Xin đồng bào nhớ nhé: ngày 19 tháng 5 là sinh nhật của một nhà thơ vĩ đại nơi núi Tản sông Đà…

Trần Khải

Đại Lễ Vesak 2019: Những Vết Đen Điếm Nhục Của Phật Giáo Quốc Doanh—Gió Bấc | VIETLIVE.TV

000_1GE9FT_960Các nhà sư đang tụng kinh tại một lễ ở Chùa Tam Chúc ở Hà Nam hôm 13/5/2019 trước lễ Vesak

Đại lễ Vesak 2019 tại Việt Nam lẽ ra là niềm vui hạnh phúc của cộng đồng Phật giáo và niềm vui chung của dân tộc là cơ hội để mỗi con người gội rửa thân tâm hướng đến thảnh thơi an lạc và ứng xử với nhau bằng hạnh hỷ xả. Việt Nam cũng chia sẻ với thế giới những giá trị trí tuệ của tinh hoa Phật học.

Rất tiếc, những đồng chí được đảng nhà nước phân công vào vai hòa thượng, thượng tọa Phật giáo quốc doanh đã quá trâng tráo, hành xử ngông nghênh vô học, báng bổ phật pháp, tạo ra những vết đen nghiệp chướng muôn đời không tẩy xóa.

Báng bổ đạo pháp

Ngay trước đại hội, báo chí quốc doanh đồng loạt đưa tin về bức tranh Đạo Pháp và dân tộc. Tối 10/5/2019, tại Học viện Phật Giáo Việt Nam, tọa lạc tại Sóc Sơn, Hà Nội, hòa thượng, tiến sĩ Thích Thanh Đạt, Ủy viên thư ký Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thượng tọa, tiến sĩ Thích Thanh Quyết- Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các vị cán bộ lão thành các cấp cùng hàng trăm tăng ni phật tử tham dự, thượng tọa Thích Thanh Quyết công bố ra mắt bức tranh sơn ta “Đạo pháp và dân tộc”  Thượng tọa Thích Thanh Quyết đã cùng Nhà đầu tư Hà Huy Thanh, cháu của cố Tổng bí thư Hà Huy Tập, làm lễ kéo khăn nhiễu công bố bức tranh trước tiếng vỗ tay không ngừng của các tăng ni, phật tử.

Thượng tọa Thích Thanh Quyết đã đặt những nét vẽ đầu tiên để “khai bút” vẽ một bên là Phật Thích Ca Mâu Ni, một bên là Hồ Chí Minh, và ở giữa là bánh xe chuyển pháp luân. “Đạo pháp và dân tộc” là tác phẩm được xây dựng dựa trên sáng kiến của ông Hà Huy Thanh, sự ủng hộ và hưởng ứng nhiệt tình của thượng tọa, TS Thích Thanh Quyết cùng đông đảo cán bộ và tăng ni sinh của học viện Phật Giáo Việt Nam.

Thích Thanh Quyết còn dám đại xảo ngôn cho rằng, bức tranh có bố cục trọng tâm là bánh xe chuyển pháp luân nói lên sự vận động của quy luật nhân quả, sinh diệt mà chúng sinh giác ngộ được Phật Pháp. Đây là bức tranh đặc biệt có ý nghĩa, đức Phật tổ Thích Ca và Bác Hồ đều là những vị cứu tinh của nhân loại, càng có ý nghĩa hơn khi đúng với tinh thần của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam là “Đạo pháp và dân tộc”, Đức Phật biểu trưng cho Đạo pháp, Bác Hồ tượng trưng cho tinh thần dân tộc. {1}

HCM2Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội hôm 10/5/2019, đã tổ chức sự kiện mừng Lễ Phật Đản năm 2019 và công bố bức tranh sơn mài có tên “Đạo Pháp và Dân Tộc”. Courtesy of baotintuc.vn

Bức tranh đã tạo ra cơn địa chấn phẫn nộ trong cộng đồng phật tử Việt Nam vốn dĩ hiền hòa đôn hậu. Nội dung hình ảnh trong bức tranh và lời lẽ xảo ngôn của Thích Thanh Quyết đã chạm vào những giá tri thiêng liêng của Phật pháp. Sự sắp đặt đức Thích Ca Mâu Ni ngang hàng với Hồ Chính Minh xem Hồ Chí Minh là đại diện tiêu biếu cho Dân Tộc là xúc xiểm không chỉ cộng đồng Phật giáo mà đến cả dân tộc Việt Nam trong ngoài nước.

Không cứ phải là Phật tử, một người khách quan, tác giả Bên Thắng Cuộc, nhà báo Huy Đức nhìn hiện tượng này với vẻ diễu cợt đau xót “Suốt hơn hai nghìn năm qua, giới tăng lữ luôn được đặt ở đẳng cấp cao nhất trong xã hội. Chỉ trong thời mạt pháp, các chức sắc của một tôn giáo có đông tín đồ nhất mới tụt xuống hàng cuối cùng cả về văn hoá và tư cách như thế:

PS: Chân tướng cái gọi là “Nhà đầu tư Hà Huy Thanh, cháu của cố Tổng bí thư Hà Huy Tập” đang chuẩn bị được làm rõ; rồi chúng ta sẽ biết bản chất bọn buôn thần bán thánh ra sao”.{2}

Xảo ngôn, nịnh hót

Cư sĩ, nhà văn, Tiến sĩ Trần Kiêm Đoàn đang giảng dạy đai học ờ Mỹ, có bài viết trên Fb “ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC…CẦN ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN CĂN BẢN NHÂN VĂN VÀ TRUNG THỰC”.

Ông Đoàn viết, Trong khi VESAK – Lễ hội Phật Đản Thế giới – đang diễn ra ở Hà Nam thì “hậu trường sân khấu” lại có những màn trình diễn vớ vẩn như bức tranh này. Đây là một hình thức báng bổ Phật giáo cũng như hạ thấp tinh thần dân tộc và lịch sử Việt Nam xuống ngang tầm với trò quảng cáo lãnh tụ và tuyên truyền chính trị!

Nhiều Phật tử và Thân hữu đã bày tỏ tâm đắc với lời nhận định của ông NT về bức tranh sơn mài “Mừng Phật Đản 2019” nầy, khi ông viết:

“ Đây là biểu tượng cho một thứ văn hoá nô bộc và tôn sùng lãnh tụ theo tâm lý bầy đàn thời Trung Cổ.”

Đức Phật là Đức Phật; Cụ Hồ Chí Minh là cụ Hồ Chí Minh.

Đức Phật là biểu tượng truyền thống cho tôn giáo Phật giáo. Quả nhiên đây là điều không thể hiểu mập mờ hay phủ nhận được.

Nhưng cụ Hồ Chí Minh không phải là biểu tượng truyền thống cho dân tộc Việt Nam nói chung. Cụ là một nhà lãnh đạo của phong trào Cộng Sản thời 1930. Người cộng sản Việt Nam có quyền tôn sùng Cụ Hồ như là biểu tượng cho một dân tộc Việt Nam theo chủ nghĩa Xã Hội hay Cộng Sản mà thôi. Nhưng không ai có quyền áp đặt Cụ Hồ trở thành biểu tượng chung cho toàn thể dân tộc Việt Nam cả. Sự nịnh hót lộ liễu và trắng trợn luôn luôn đồng nghĩa với sự hủy hoại thanh danh và nhân cách của cả hai đối tượng NỊNH HÓT và BỊ NỊNH HÓT!” {3}

Hòa thượng Thích Thanh Quyết

Hòa thượng Thích Thanh Quyết. Courtesy of phatgiao.org

Thích Thanh Quyết đã hết sức xảo ngôn khi đánh đồng Đức Phật với Hồ Chí Minh là cúu tinh của nhân loại. Đức Phật thật sự là vị cứu tinh khi tìm ra chân lý Tứ diệu đế, Bát chánh đạo để con người thoát khỏi sự vô minh hướng đến tuệ giác, an lạc. Còn Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân loại di sản gì? Có lẽ với lòng hỷ xả của Phật tử, Tiến sĩ Trần Kiêm Đoàn chỉ không chấp nhận Hồ Chí Minh là đại diện của dân tộc Việt Nam mà không nhắc đến những tội ác của họ Hồ đã gây ra với dân tộc. Hồ Chí Minh đã đem về cái chủ nghĩa Mác Lê thống trị dân tộc Việt hơn nửa thê kỷ. Cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu từ bài viết “Địa chủ ác ghê!” của Hồ đã giết oan hàng vạn người ở Miền Bắc. Cái ý chí hiếu chiến hiếu thắng “thà đốt cháy cả dãi Trường Sơn cũng quyết thắng giặc Mỹ” đã thúc đẩy cuộc nội chiến 20 năm giết chết hàng triệu người Việt và gây ra hiềm khích, ngăn cách trong lòng dân tộc không biết đến bao giờ có thể hàn gắn. Riêng bài thơ Mừng xuân 68 phát trên đài Hà Nội lúc giao thừa là mật lệnh mở màn cho cuộc chiến Mậu Thân làm chết oan hàng vạn thường dân đã đủ truy cứu Hồ Chí Minh như tội phạm diệt chủng.

Đánh đồng đức từ bi vô lượng với kẻ hiếu sát, Thích Thanh Quyết đã tự lột áo nhà tu lộ nguyên hình là tên cán bộ cộng sản nói dối không biết ngượng mồm.

Văn nghệ sex phục vụ chư tăng!

Không chỉ sốc với bức tranh của ma tăng Thích Thanh Quyết, dư luận còn sốc hơn khi xem đài truyền hình Việt Nam tường thuật diễn biến dại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2019 trong đó có chương trình văn nghệ với điệu múa sexy của các nữ diễn viên với trang phục mỏng tang, được pha đèn ngược sáng lộ rỏ đường cong cơ thể và cả sắc màu da thịt,

Fb Võ Khánh Tuyển đăng bài viết NGHĨ GÌ ??? và một chùm ảnh các điệu múa này đã nhận được 393 like, 158 bình luận và 98 lượt chia sẻ.

Võ Khánh Tuyến nêu vấn đề “… Nếu là chương trình biểu diễn bình thường, thì có sexy và khêu gợi hơn nữa cũng chẳng có gì đáng nói .

… Nhưng đây lại là Chương trình hoạt động của Lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2019 do Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai tổ chức. Đài Truyền hình Quốc Gia Việt Nam VTV trực tiếp truyền hình .

Không biết các vị Chức sắc tu hành của Phật Giáo, đại biểu Phật Giáo của bao nhiêu nước tham dự… sẽ có suy nghĩ gì khi được Giáo hội Phật Giáo Việt Nam ” chiêu đãi” như thế này ?” {4}

Fb Chu Hồng Quỳ đã chỉ ra điều cốt tử là “CẤM NGHE, XEM CÁC HÌNH THỨC BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT là 1 trong 28 giới cấm của giới Bồ-tát tại gia, cũng là 1 trong 48 giới cấm của giới Bồ-tát xuất gia, 1 trong 250 giới cấm của giới Tỳ-kheo, cũng như 1 trong 384 giới cấm của giới Tỳ-kheo ni. Thậm chí trong 8 giới cấm ở ngày thọ giới Bát quan trai của Phật tử tại gia cũng có giới cấm nghe xem này.

Vậy mà các người ngửa cổ, vểnh tai xem người ta hát hò múa may ở Đại lễ Phật đản Thế giới Vesak 2019.

Hỡi các tăng, ni phá giới, hỡi các bồ-tát xú uế, bồ-tát chi-đà-na! Các vị tu cả đời cũng không bù lại một giờ phá giới. Các người đang hủy hoại chánh pháp và phỉ báng Đức Thế tôn Như-Lai vào đúng dịp kỷ niệm ngày đãn sinh của Ngài”. {5}

Cũng cùng quan điểm này, Fb của Nguyễn Đình Bổn có bài “Đi ngược với Giới, Luật của Thích Ca!”

Nguyễn Đình Bổn lý giải “Trong nhiều kinh và luật của Phật giáo dạy rằng các vị tu sĩ xuất gia và các vị cư sĩ tại gia tự nguyện tập sự xuất gia qua việc thọ Bát Quan Trai giới cần tránh xa việc xem nghe ca hát và tự mình ca hát vì mục đích của người tu hành là giải thoát mọi sự khổ đau của cuộc đời.

Trong Tạng luật, Tiểu phẩm chương “Các Tiểu Sự” ghi lại lời Đức Phật đã dạy: “Này các tỳ khưu, không nên đi xem vũ, ca, hoặc tấu nhạc; vị nào đi thì phạm tội dukkaṭa (tác ác- nghĩa là không tốt, không thiện, làm chuyện xấu).

Ngay cả khi giảng pháp, Đức Phật cũng không cho phép ngâm nga theo âm điệu trầm bổng, Đức Phật dạy về 5 điều sai trái khi ngâm nga như sau: “Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi khi ngâm nga Pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài: Bản thân vị ấy bị say đắm trong âm điệu, luôn cả những kẻ khác cũng bị say đắm trong âm điệu, hàng tại gia phàn nàn, trong khi ra sức thể hiện âm điệu thiền định bị phân tán, điều cuối cùng là dân chúng thực hành theo đường lối sai trái”. Và trong “Pháp hội Vườn xoài”, được ghi trong Kinh Trường Bộ – Sa Môn Quả, [Điều thứ 45] Đức Phật nhân giảng cho vua nước Magadha về Tỳ-kheo giới hạnh cụ túc, Ngài nói: “Phải từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, diễn kịch”.

Giáo hội Phật giáo VN ngày nay đã suy đồi cùng cực và bày ra nhiều trò dị hợm đi ngược với Giới, Luật của Thích Ca!” {6}

Quảng bá kinh doanh du lịch tâm linh

Nguyên Giảng viên đại học, Nhà báo Nguyễn Thông cũng ngậm ngùi viết trên Fb “Hỏng cả sinh nhật Đức Phật

Thú thực, xem các cảnh trên tivi, tôi có cảm giác đại lễ Vesak Phật đản 2019 mà xứ ta đăng cai tổ chức không khác gì một chương trình nghệ thuật tổng hợp ca nhạc-tạp kỹ-thời trang và kết hợp khoe mẽ chính thể, quảng bá du lịch, chứ chả có gì của Phật, của tôn giáo từ bi bác ái. Rồi không hiểu những ngày tiếp theo họ còn làm cái gì để rồi sẽ “thành công tốt đẹp” {7}

Những giòng ngắn ngủi của Nhà báo Nguyễn Thông đã bật ra một vấn đề quan trọng. Ngoài việc làm bức tranh, làm hoạt cảnh tự do tôn giáo che đậy cho sự đàn áp dã man những bậc tu hành chân chính, đại lễ Vesak do giáo hôi Phật giáo quốc doanh Việt Nam tổ chức còn là cơ hội quảng cáo cho mô hình du lịch tâm linh của các nhóm lợi ích đang khuynh đảo quốc gia.

Báo Dân Việt có bài viết nhận xét “Những năm gần đây, một khái niệm mới trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành du lịch Việt Nam nói riêng ra đời, đó là “du lịch tâm linh”. Đây là loại hình vừa đáp ứng nhu cầu thờ tự, tín ngưỡng lại vừa giúp mọi người có cơ hội đi thưởng ngoạn, ngắm cảnh.”

Hình minh họa. Người dân thắp đền tại chùa Tam Chúc ở Hà Nam hôm 13/5/2019 trước lễ Vesak

Hình minh họa. Người dân thắp đền tại chùa Tam Chúc ở Hà Nam hôm 13/5/2019 trước lễ Vesak AFP

Thử dùng từ khóa “Du lịch tâm linh Việt Nam” trên công cụ tìm kiếm của Google, chúng ta sẽ có 14.200.000 kết quả. Điều đó cho thấy sức quảng bá cho mô hình này kinh khủng đến mức nào. Càng kinh khủng hơn là việc các nhóm lợi ích đã chia chác tài nguyên đất đai núi rừng, thắng cảnh thiên nhiên di tích lịch sử trục lợi qua danh nghĩa mỹ miều “du lịch tâm linh”.

Báo Dân Việt đã giới thiệu khái quát về một trong những mô hình này “Đáng chú ý, cái tên Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường (có trụ sở ở Ninh Bình) của tỷ phú Xuân Trường đang là tâm điểm du luận sau hàng loạt dự án tâm linh có số vốn đầu tư “khủng” dao động từ 10.000 – 15.000 tỷ đồng, với diện tích đất mỗi dự án hàng nghìn ha. Dư luận xã hội đặc biệt quan tâm ở cả khía cạnh kinh tế và văn hóa, tâm linh khi phát triển dự án tâm linh này.

Đầu tiên phải kể đến dự án quần thể tâm linh chùa Bái Đính tại Ninh Bình. Quần thể chùa này có diện tích 1.700ha bao gồm khu chùa Bái Đính cổ, khu chùa Bái Đính mới và các khu vực như: công viên văn hoá và học viện Phật giáo, khu đón tiếp và công viên cảnh quan, đường giao thông và bãi đỗ xe, khu hồ Đàm Thị, hồ phóng sinh…

Sau khi tạo được tiếng vang lớn từ dự án chùa Bái Đính, doanh nghiệp Xuân Trường “bắt tay” xin đầu tư, kinh doanh những dự án tâm linh khác với quy mô càng ngày càng “khủng”. Trong đó, xôn xao dư luận gần đây là dự án chùa Tam Chúc – Ba Sao (Hà Nam). Theo giới thiệu của doanh nghiệp Xuân Trường, khu dự án tâm linh này có tổng diện tích lên tới 5.100ha (bằng kích thước gần 300 sân vận động quốc gia Mỹ Đình cộng lại)….” {8}

Xin đừng tiếp tay cho cái ác!

Đại lễ năm nay được đăng cai tổ chức tại Tam Chúc thực chất chỉ là tấn tuồng quảng bá cho dự án kinh doanh mua thần bán thánh này, Nếu soi từ triết lý sống thiểu dục của Đức Phật “Tài sản của mỗi người chỉ là mấy bộ cà sa và y bát. Tất cả cũng chỉ là để hành đạo” thì việc xây chùa to, phật lớn đã là đi ngược đạo pháp.

Những vết nhơ về nội dung tổ chức đại lễ cho thấy thực tâm của nhà nước và giáo hội quốc doanh. Đại lễ Vesak 2014 tổ chức tại Bái Đính và lần này tại Tam Chúc đều là cơ hội và mục tiêu quảng bá cho doanh nghiệp kinh doanh du lịch tâm linh Xuân Trường. Trong các dịch vụ kinh doanh ấy có cả casino. Trong khi đó chùa Liên Trì ở Thủ Thiêm, chùa An Cư ở Đà Năng bị chính quyền đập phá cũng để phục vụ cho các dự án kinh doanh địa ốc. Một dự án Bản Hoa Anh Đào ở Bảo Lộc chuyên điều tri bệnh nhân trầm cảm của Đại đức Thích Minh Niệm, tác giả quyền sách nổi tiếng Hiểu về trái tim cũng buộc phải đóng cửa không có lý do. Đai đức Minh Niệm phải “tu dạo” nhờ các chùa khác và thuyết pháp online.

Viết những giòng chữ này, chúng tôi muốn gởi đến quý cao tăng, quý nguyên thủ quốc gia đã nhọc công tham dự Vesak 2019 xin hãy phát tâm lắng nghe tiếng nói đau khổ của chư tăng ni phật tử Việt Nam và có thái độ đúng đắn trong ứng xử với Giáo hội Phật giáo quốc doanh hiện nay. Đây thực chất không phải là giáo hội Phật giáo mà chỉ là một tổ chức ngoại vi trá hình của đảng cộng san. Họ đang kinh doanh mua thần bán thánh gieo rắc mê tín di đoan như cúng sao giải hạn, giải oan trái chủ, kích hoạt lòng tham mê muội của con ngượi Hệ thống công an tôn giáo, Ban Tôn Giáo chính phủ kiểm soát về nhân sự toàn bộ hệ thống giáo hội này.

Những nhà tu chân chính như Thích Quảng Độ và Giáo hội phật giáo VN thống nhất, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo thuần túy đang bị đàn áp, bức hại khốc liêt.

Hy vọng rằng quý vị đừng vì ngộ nhận mà vô tình trở thành kẻ tiếp tay, trở thành những diễn viên cho các tấn tuồng dối trá, làm bình phong cho chế độ độc tài khống chế người dân, biến nền đạo pháp trí tuệ từ bi thành phương tiện chiếm đoạt tài nguyên đất nước để kinh doanh trục lợi.

1. http://bit.ly/2WIncot

2. https://www.facebook.com/Osinhuyduc

3. https://www.facebook.com/TranKiemDoan?__tn__=%2CdC-R-R&eid=ARCVYYxmUSf9L…

4- http://bit.ly/2JHDGJW

5-http://bit.ly/2Q4BOfp

6- http://bit.ly/2Q47xO0

7-http://danviet.vn/kinh-te/kinh-doanh-tam-linh-khu-chua-nghin-ha-day-song-du-luan-956978.html

Trung Cộng Yếu Trong Cuộc Chiến Mậu Dịch—Ngô Nhân Dụng

Harley-DavidsonMỹ còn muốn Trung Cộng phải cho các xí nghiệp Mỹ làm ăn ở bên Tàu phải có quyền thưa kiện nếu bị lấy cắp hoặc bị ép buộc… Trong hình, một cửa hàng Harley-Davidson tại Shanghai
Ngày Thứ Sáu Mỹ bắt đầu tăng thuế quan từ 10% lên 25% trên $200 tỷ hàng mua từ nước Tàu, hiệu lực ngay tức khắc. Ngày Thứ Hai Trung Cộng mới trả đũa, đánh thuế trên $60 tỷ hàng hóa Mỹ, đến đầu Tháng Sáu mới thi hành. Phản ứng chậm ba ngày và hoãn một tháng rưỡi mới áp dụng, rất có ý nghĩa. Bắt buộc phải trả đũa, nếu không sẽ mất mặt với dân chúng, nhưng Bắc Kinh vẫn muốn tỏ ý hòa hoãn.
Nhưng Tổng Thống Donald Trump không hòa hoãn mà còn đả mạnh hơn: Ra lệnh cho Cơ Quan Đại Diện Thương Mại (USTR, đóng vai trò một Bộ Ngoại Thương) công bố danh sách những món hàng còn lại nhập cảng từ bên Tàu, trị giá $300 tỷ, sẽ bị đánh giá 25% nốt.

(more…)

Chúc Mừng Đa Hiệu Online

ChucMungDaHieuOnline-R

Happy Mothers Day


Paul Mauriat—Mother of mine


Nhật Ký Của Mẹ—Hiền Thục

Sinh Nhật Trung Tướng Lâm Quang Thi, Cựu Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt

Trưa Chủ Nhật—5/5/2019, chúng tôi gồm một số CSVSQ và PNLV đại diện cho Hội Võ Bị Bắc Cali đã có cơ may đến thăm và chúc mừng sinh nhật cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi—cựu Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN. Chúng tôi cũng gặp 2 người con của ông là chị Lâm Bích Ngọc và anh Lâm Quang Dũng. NT Thi cùng phu nhân hiện đang sống tại 1 viện dưỡng lão (senior assisted living care.) Viện dưỡng lão xinh đẹp này có nhiều thành tích tốt trong việc phục vụ và chăm sóc sức khoẻ cho người cao niên, được yelp và caring xếp hạng 4-5 sao tại miền bắc California.

Nơi NT Thi và phu nhân cư ngụ là thành phố Fremont hiền hòa, có hãng xe Tesla danh tiếng đặt bản doanh, cách San José khoảng 20 miles về hướng bắc-tây bắc.

5 tháng 5 là ngày Cinco De Mayo. Khi chúng tôi đến, Vũ Đoàn Las Palmas (được viện dưỡng lão mời) đang trình diễn những vũ điệu ngọan mục, lồng trong nhiều nhạc phẩm Mexico vui nhộn cho các vị cao niên thưởng thức. NT Thi không thích xem những tiết mục văn nghệ này, ông thích gặp gỡ con cháu và chúng tôi hơn.

Bản tính nghiêm nghị và ít khi cười, nhưng khi nhìn thấy chúng tôi, NT Lâm Quang Thi tươi nét mặt, lộ vẻ hân hoan. Dáng dấp dong dỏng cao, vẫn mảnh khảnh—chưa bao giờ béo phì, ông bước những bước chậm rãi, vẫn còn khá vững chắc tiến dần về phía chúng tôi. Vì tuổi đời chồng chất, NT Thi đã bớt đi vẻ tráng kiện của những ngày tháng cũ. Bằng giọng nói thân mật, ông ân cần bắt tay từng người, thăm hỏi và tiếp đón chúng tôi tại căn dining room được dành riêng.

“Lúc này tôi ưa quên quá!” Ông than phiền mỗi khi chợt nhận ra rằng mình không thể nhớ tên của một ai đó. Mới ngày nào, từng là sĩ quan cấp tướng trẻ tuổi nhất nước (33 tuổi), nay NT Thi đã bước sang tuổi 87. 

Ông hơi khựng lại, thoáng ngẩn ngơ khi nghe chúng tôi xác nhận về tin tức cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn vừa mới từ trần tại San José. “Mấy ổng lần lần chết hết rồi!” NT Thi nói như một lời cảm thán. “Ông Dinh, ông Lãm cùng Khóa 3 với tôi cũng chết rồi. Tôi còn sống ngày nào, thì biết ngày đó,” ông nói thêm.

Tiễn biệt NT Bùi Đình Đạm Khóa 1 trong nỗi buồn vô hạn (tháng 6/2009)

Sau khi mọi người cùng chúc mừng NT Lâm Quang Thi qua bản nhạc đồng ca “Happy Birth Day” bất hủ, chúng tôi đại diện cho các CSVSQ khắp thế giới, chúc thọ vị cựu Chỉ Huy Trưởng.

Mặc dầu chẳng mấy khi nở nụ cười trọn vẹn, NT Thi tỏ vẻ xúc động. “Tôi rất lấy làm sung sướng được anh em tới thăm và chúc mừng sinh nhật,” ông nói, trước khi nâng ly mời mọi người dùng bữa. Chúng tôi ăn trưa với NT Thi, với các con cháu và người giúp việc của ông. Phu nhân NT Thi không được khoẻ nên không thể tham dự. Bà đang được nurse săn sóc tại phòng riêng. 

Mấy món ăn ngon đầy bàn gồm có bún thịt nướng, gà xì dầu, bánh bột lọc, chả giò, xôi vò, bánh mì, rượu nho và nước táo… Dĩ nhiên, không thể thiếu chiếc bánh sinh nhật với ngọn nến lung linh.

Bằng giọng hóm hỉnh và vui vẻ, NT Thi kể cho chúng tôi nghe vài câu chuyện xưa của ông—những mẩu chuyện mà chẳng mấy ai biết được. Chuyện vì sao Tổng Cục Taekwondo Đại Hàn đã trao tặng huyền đai đệ tam đẳng cho ông tức thì, ngay khi ông vừa đặt chân đến thăm Trường Võ Bị Đại Hàn (KMA—Korea Military Academy.) Chuyện Bà Từ Cung Hoàng Thái Hậu (Đức Từ Cung, thân mẫu Vua Bảo Đại) cầm tay ông, ân cần hỏi “sao không có nàng hầu?”. 

Có lẽ, NT Lâm Quang Thi là vị Chỉ Huy Trưởng chịu khó học hỏi nhất. Ông đã liên tiếp hướng dẫn phái đoàn của Trường Võ Bị Đà Lạt thăm viếng các Trường Võ Bị thuộc nhiều quốc gia đồng minh như Thái Lan (Hải Quân Hoàng Gia, Võ Bị Hoàng Gia), Philippines, Đại Hàn (Lục Quân, Không Quân, Hải Quân), Đài Loan, Nhật Bản (Không Quân, Hải Quân), Úc (Võ Bị Hoàng Gia, Không Quân), Hoa Kỳ (Lục Quân—ROTC, Không Quân, Hải Quân) và Võ Bị West Point. Theo NT Thi, mỗi quân trường bạn đều có sắc thái riêng. Ông và phái đoàn Trường Võ Bị Đà Lạt của ông đã học hỏi được vô số điều bổ ích.

(Video clip—CSVSQ Nguyễn Đức Quyền)

Năm 1986, NT Lâm Quang Thi đã nhận trách vụ Hội Trưởng của Hội Ái Hữu CSVSQ/TVBQGVN (tiền thân của Tổng Hội Võ Bị ngày nay) 2 nhiệm kỳ. Tại Đại Hội Võ Bị lần thứ 4 (25 /5/1986), trong bài diễn văn mãn nhiệm gây nhiều cảm xúc, NT Thi tuyên bố: “Võ Bị là lý tưởng của đời tôi.”

Hôm nay, ông vẫn lập lại câu nói đó trong bữa ăn trưa mừng sinh nhật, trước mặt các đàn em và các con cháu.

Nhớ ngày trước, đa số các viện Đại Học dân sự tại Việt Nam (mà các Viện Trưởng tốt nghiệp từ Pháp) đều rập khuôn theo lối học và thi cử từ chương của người Pháp; trong khi đó, TVBQGVN lại áp dụng hệ thống tín chỉ theo đường lối giáo dục thực dụng của người Mỹ (Trường Võ Bị West Point); Uỷ Ban Thẩm Định Văn Bằng của Liên Viện Đại Học Quốc Gia đã xem thường, nghi ngại và không chịu nhìn nhận văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng của Trường Võ Bị Đà Lạt. Chỉ Huy Trưởng Lâm Quang Thi nhất định phản đối sự đánh giá sai lạc đó. Sau nhiều lần tranh biện không thành công, ông đã phải yêu cầu Bộ Giáo Dục mời Uỷ Ban Thẩm Định Văn Bằng gồm các vị Viện Trưởng các Trường Đại Học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ cùng với vị Giám Đốc Trường Kỹ Sư Phú Thọ làm một cuộc quan sát lượng định ngay tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Sau khi tận mục sở thị, xem xét từng lớp học, đánh giá từng chương trình giảng dạy, cuối cùng Uỷ Ban Thẩm Định đã phải công nhận Văn Bằng Cử Nhân của các sinh viên Trường Võ Bị. NT Thi rất mãn nguyện và thường tự hào về thắng lợi này cho các CSVSQ của ông.

Một video clip cũ về Trường Võ Bị Đà Lạt. Ở phút 2:31, người ta có thể tìm thấy hình ảnh Trung Tướng Chỉ Huy Trưởng Lâm Quang Thi đang quan sát việc huấn luyện

Đối với quê hương, NT Lâm Quang Thi mãi thao thức về việc lịch sử chiến tranh Việt Nam đã bị giới truyền thông Mỹ bóp méo một cách tồi bại. Người ta (giới truyền thông và phản chiến Mỹ) đã không ngớt tô vẽ, thổi phồng và chỉ trích (bằng Anh ngữ) QL/VNCH là một đội quân yếu kém, hèn nhát, tham nhũng, v.v. đã đưa đến thất bại cay đắng cho Mỹ và cho VNCH. Vì vậy, ông đã viết một số sách bằng Anh ngữ về chiến tranh Việt Nam để ra sức cải chính, lấy lại sự thật và công bằng cho quân đội và chiến binh của mình. Các sách sau đây của NT Thi đã được Trường Đại Học Hoa Kỳ ấn hành:

– Autopsy: The Dead of South Viet Nam (Sphinx Pub. 1986)

– The Twenty-five Year Century (UNT Pub. 2002)

– Hell in An Loc (UNT Pub. 2009)

Âm thầm và miệt mài nhiều năm qua, NT Thi cố công viết sách, viết blog (bằng Anh ngữ) để vạch cho cả thế giới thấy rõ—trong chiến tranh quy ước, nếu được yểm trợ đầy đủ—QL/VNCH với quân số chỉ bằng 1/3 quân địch, vẫn có khả năng đánh bại những đạo quân thiện chiến. Ông làm việc này không ngoài mục đích nói ra những điều mà người ta cố tình nhận chìm, lấy lại chút công đạo đã bị cướp mất cho những cựu chiến binh VNCH thua thiệt.

Trong phần điểm sách “Hell in An Loc”, người ta đọc được Midwest Book Review (The Military Shelf) có đoạn viết “…Được thảo ra một cách tỉ mỉ và cụ thể để làm đúng lại lịch sử, Hell in An Loc phải được đặc biệt giới thiệu cho các thư viện đại học và các bộ sưu tập quân sử đang tập trung vào chiến tranh Việt Nam.”

Quyển Hell in An Loc do chính tác giả phát hành ngày 24/1/2010 tại San José đã được phổ biến khắp nơi từ dạo ấy, và nó đang nằm trong hầu hết các thư viện đại học. Do yêu cầu của các độc giả Việt Nam, NT Thi lại tiếp tục chuyển ngữ quyển Hell in An Loc sang tiếng Việt như ông đã làm với quyển The Twenty-five Years Century.

Vậy mà thật không may, phu nhân của ông thình lình trở bệnh và rồi bệnh tình mỗi ngày thêm trầm trọng. Là một phu quân gương mẫu, hết lòng yêu thương vợ mình—ông luôn túc trực bên giường bệnh—không còn lòng dạ nào để hoàn tất quyển sách bằng Việt ngữ nữa. 

NT Thi đã trao phiên bản tiếng Việt cho chúng tôi và đồng ý phổ biến sách Địa Ngục An Lộc online theo đề nghị của BCH Tổng Hội. Anh Lâm Quang Dũng (nhà văn Andrew Lam)—thứ nam của NT Thi rất tán thành ý kiến này. Theo anh, giới trẻ Việt Nam không còn tin tưởng vào đảng CS nữa; họ đang rất cần những tài liệu trung thực của VNCH. Anh Dũng cũng tỏ ra ưu tư về việc cần giúp đỡ giới độc giả trong nước vượt tường lửa (firewall.)

Rồi đây, trong tương lai gần—qua Đa Hiệu Online—phiên bản Hell in An Loc bằng Việt ngữ sẽ đến tay quý niên trưởng, quý bạn, quý độc giả gần xa.

Vài lời nhắn nhủ của cựu Chỉ Huy Trưởng (Video clip—CSVSQ Nguyễn Đức Quyền K28)
Trong lúc dùng bữa trưa, NT Lâm Quang Thi K3 đàm đạo với người bạn đồng Khóa—NT Đỗ Ngọc Nhận K3 qua điện thoại

Hôm nay—7/5/2019 là ngày Sinh Nhật chính thức của NT. Lâm Quang Thi. Chúng tôi gồm, Cao Yết K16 (và phu nhân), Lê Tấn Tài K20, Nguyễn Đức Quyền K28, Lê Thi K29 (và phu nhân), Nguyễn Gia Thiếu K30 (và phu nhân), Nguyễn Văn Được K31, Phạm Văn Pho K31 một lần nữa xin kính chúc Thầy Cũ—cựu Chỉ Huy Trưởng—Đại Niên Trưởng “Happy Birth Day.”

* Tiếc rằng, chị Nguyễn Văn Chấn K9/1 đang bệnh, NT Lê Viết Đắc K22 bị bận cuối tuần và anh Lâm Quang Tuấn K3/2 phải đi xa không thể tham dự buổi ăn trưa này như đã dự tính.

Video clip do CSVSQ Trương Kim Anh K23 & CSVSQ Nguyễn Đức Quyền K28 thực hiện

NT Lâm Quang Thi ngồi giữa. Từ trái sang phải: Lâm Bích Ngọc K3/2, phu nhân và Lê Thi K29, Phạm Văn Pho K31, Lê Tấn Tài K20, Cao Yết K16 và phu nhân, phu nhân và Nguyễn Gia Thiếu K30, Nguyễn Văn Được K31, Nguyễn Đức Quyền K28
(Lâm Quang Dũng K3/2 chụp hình, nên không có mặt trong hình này)

Nguyễn Gia Thiếu K30 tường thuật

Mr. Tariffs—Nguyễn Đạt Thịnh

Mr.Tariffs(1)

Tổng Thống Donald Trump vừa đe ông Tập Cận Bình, “Im a tariff Man. I will restart trade war if China-talks fail.” (Tôi thích đóng thuế Tariffs; Tầu mà phá bĩnh Hội Đàm Thuế Vụ, là tôi cho chiến tranh ngoại thương Mỹ-Hoa tái diễn ngay.”

(more…)

Khi Người Cao Tuổi Lái Xe—Bảo Huân

Cứ mỗi ngày ở Mỹ có 10 ngàn người bước vào tuổi 65, và đa số những người này vẫn còn lái xe. Những kỹ thuật mới của xe hơi, và số lượng càng ngày càng đông đảo xe cộ lưu thông, nhiều thay đổi của cảnh quan và đường sá, tất cả đều tạo thêm nhiều thách đố hơn đối với những vị lái xe cao tuổi.

09_urgent_signs_loved_one_stop_driving_driving_behavior_changes_monkeybusinessimages

Một số sai phạm mà người lái xe hay mắc phải là chạy quá tốc độ cho phép, vượt đèn đỏ, không ngừng ở nơi có bảng stop, lái xe không đúng lane, quẹo trái không đúng cách… Đã vậy, đối với người cao tuổi, lại còn có những yếu tố khác như tâm tính thay đổi hoặc những hạn chế do sức khỏe gây ra, cũng làm cho việc lái xe thêm phần nguy hiểm.

Nếu quý vị, hoặc người thân là người tài xế cao tuổi, có nhiều phương cách để giúp quý vị an toàn trên xa lộ và tiếp tục lái xe thêm nhiều năm nữa. Điều cốt yếu là phải biết khả năng thể lý bị hạn chế ra sao lúc về già. Sau đây là một số gợi ý của AARP (American Association of Retired Persons, Hiệp hội Người Mỹ Cao niên).

1. Theo dõi về sức khỏe: Cẩn thận khi có những thay đổi về sức khỏe như tầm nhìn, âm độ nghe, trí nhớ và sự tập trung.

2. Giữ khoảng cách an toàn. Áp dụng luật “3 giây đồng hồ” khi lái xe sau một xe khác để kịp đủ thời giờ phản ứng lại những nguy hiểm có thể xảy ra. (Luật ba giây: Nhìn xe phía trước khi xe đó chạy ngang qua một đối tượng nào đó, như cột đèn, bảng chỉ dẫn lưu thông… rồi bắt đầu đếm (một ngàn một, một ngàn hai, một ngàn ba) xem xe mình đã tới đối tượng đó chưa. Nếu chưa đủ 3 giây mà đã tới đối tượng đó rồi thì là ta chạy quá gần xe trước, nên chậm lại để khoảng cách với xe đó không quá gần).

3. Tránh phân tâm. Bất cứ chuyện gì khiến mắt ta không nhìn mặt đường là sự phân tâm, như dùng cell phone, ăn uống, dùng GPS, thay đổi tần số đài radio…

4. Điều chỉnh cho thích hợp. Ghế ngồi, gương chiếu hậu, gương hai bên xe… nên được chỉnh sao cho vừa với tầm nhìn để có thể thấy được xe cộ di chuyển phía sau và hai bên hông xe.

5. Tự hạn chế. Tránh lái xe trong giờ cao điểm, ban đêm, hoặc thời tiết xấu, mà nên lái lúc ban ngày sáng sủa vào những giờ ít xe cộ lưu thông vội vã.

6. Quẹo phải. Thay vì quẹo trái ở những đường quẹo nguy hiểm nhiều xe cộ qua lại, nên quẹo phải, có thể tới ba lần để đến hướng quý vị cần đi.

7. Đừng quên stop. Ở nơi có bảng stop, nhìn kỹ đường trước khi ngưng xe. Nếu có xe đi trước, đợi hai giây cho xe đó đi rồi mới tiến tới chỗ stop, ngừng hẳn rồi mới tiếp tục đi.

8. Kiểm tra lại thuốc men. Hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ xem thứ thuốc ta dùng có gây hậu quả gì khi lái xe hay không.

9. Cảnh giác về người khác. Xe đạp, xe gắn máy, người đi bộ… đều tạo thêm những thử thách cho người cao niên khi lái xe. Hãy rất mực cẩn thận tại các ngã tư đường và khi nhập xe vào dòng xe cộ trên đường.

10. Sao cho có khoảng đệm. Giữ sao cho có khoảng trống chung quanh xe của quý vị, trên đường hoặc ở bãi đậu xe, để còn chỗ xoay xở khi cần.

Có một số tài xế còn trẻ thường tỏ ra bực bội khi chạy gần xe những vị cao niên, hoặc vì tốc độ thường chậm hay vì những phản ứng không mấy nhanh lẹ của những vị này. Xin hãy có tấm lòng bao dung đối với người già cả để thông cảm hơn là tỏ thái độ bực tức.

Driving-01
Bảo Huân

Thư Mời Tham Dự Sinh Hoạt Ngày 25 Tháng 5, 2019

POSTER-25-5-19

Từ Thủ Thiêm tới Nam Quan—Hải Triều

Nam Quan đã mất, lệ tràn Thủ Thiêm

Mưa hay lệ đổ bên thềm

Cửa nhà tan nát không kềm lệ sa!

Đời dân không cửa không nhà

Đời đảng ngôi báu gọi là quang vinh

Giải phóng hóa ra cực hình

Bóng ma cách mạng thất kinh cõi người!

Thành Hồ liệm tắt tiếng cười

Thủ Thiêm tan tác đất trời hận căm

Đảng hồ ngự trị trăm năm

Ba miền Nam Bắc âm thầm ngục đen!

Hải Triều–Lê Khắc Anh Hào

Phân Ưu cùng Chị Tô Công Minh K23/1