Việt Nam thuộc 10 nước có nền tự do báo chí tồi tệ nhất thế giới – Trà Mi
“…Trong số 10 nước chót bảng Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới 2013, sau Việt Nam là Trung Quốc, Iran, Somalia, Syria, Turkmenistan, Bắc Triều Tiên, và Eritrea. Trong khu vực Châu Á, Việt Nam, Trung Quốc, Lào, và Bắc Triều Tiên bị xem là các nước không có dấu hiệu cải thiện…”
WASHINGTON, D.C. — Việt Nam tiếp tục đứng thứ 172/179 quốc gia được đánh giá trên bảng xếp hạng về Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới 2013 do tổ chức Phóng Viên Không Biên giới (RSF) thực hiện. Tổ chức bảo vệ nhân quyền có trụ sở tại Pháp này nhận xét rằng tình hình tự do báo chí tại Việt Nam đang ngày càng xuống cấp trầm trọng và Việt Nam từ vị trí thứ ba đã nhảy lên hàng thứ hai trong danh sách các nước cầm tù nhiều cư dân mạng nhất trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc.
Trong cuộc trao đổi với Trà Mi Ban Việt ngữ, ông Benjamin Ismail, Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á-Thái Bình Dương trong tổ chức RSF, cho biết:
Ông Benjamin Ismail: Dù vị trí của Việt Nam trên bảng xếp hạng về Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới 2013 không thay đổi so với bảng xếp hạng 2011-2012, tình hình tự do báo chí tại Việt Nam đang xuống dốc tệ hại. Nói về thứ hạng, ở vị trí như Việt Nam 172/179 quốc gia được đánh giá, tức thuộc nhóm 10 nước có nền tự do báo chí tệ nhất trên thế giới, không dễ bị rớt hạng xuống thấp hơn nữa.
VOA: Thứ hạng của Việt Nam không thay đổi so với năm ngoái, vì sao tình hình tự do báo chí tại Việt Nam năm qua lại bị đánh giá là tuột dốc thay vì là vẫn y nguyên như năm trước?
Ông Benjamin Ismail: Do vị trí thứ hạng là một dữ liệu tương đối. Vì phương pháp nghiên cứu của chúng tôi năm nay có thay đổi, cho nên không thể so sánh điểm số khảo sát của Việt Nam năm nay so với năm ngoái, nhưng tình hình thực tế thì xuống dốc so với năm trước. Chúng tôi cũng cập nhật con số các cư dân mạng bị cầm tù tại Việt Nam từ các thông tin mới mà chúng tôi có thể xác nhận. Việt Nam hiện là nước thứ hai trên thế giới có số cư dân mạng bị cầm tù nhiều nhất, chỉ sau Trung Quốc. Đối chiếu trên tỷ lệ dân số, thì Việt Nam là nhà tù lớn nhất thế giới đối với cư dân mạng. Năm trước, Việt Nam giữ vị trí hàng thứ ba trong danh sách các nước giam cầm nhiều công dân mạng nhất trên thế giới, sau Trung Quốc và Iran, nhưng đã vọt lên hàng thứ hai trong năm vừa qua. Tại Việt Nam hiện có 34 cư dân mạng bị cầm tù và ít nhất 12 blogger hay công dân mạng đã bị tuyên phạt với các bản án lên tới mức cao nhất 13 năm tù trong khi số ký giả hay cư dân mạng bị giam cầm trong năm trước là khoảng 19 người. Điều này chứng tỏ sự đàn áp của đảng cộng sản Việt Nam đối với quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận của công dân ngày một gia tăng.
VOA: Những điểm nào được xem là đáng lưu ý nhất về tình hình tự do báo chí tại Việt Nam trong năm qua, thưa ông?
Ông Benjamin Ismail: Hoàn toàn không có chỗ cho bất kỳ một sự chỉ trích nào đối với nhà cầm quyền, các chính sách của nhà nước, hệ thống chính trị, hay các quan chức nhà nước. Các bản án dành cho những blogger trong nhóm 14 nhà hoạt động Công giáo và Tin lành gần đây thật sự gây phẫn nộ công luận. Việt Nam cáo buộc đảng Việt Tân ở hải ngoại là khủng bố và bất kỳ ai có liên hệ với đảng phái này đều bị Hà Nội dán nhãn khủng bố rồi cáo buộc tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”. Trong số những nhà bất đồng chính kiến trên mạng và những blogger bị tù đày có trường hợp của blogger Paulus Lê Văn Sơn. Việt Nam cáo buộc Sơn đã tham gia khóa huấn luyện kỹ năng đấu tranh bất bạo động do Việt Tân tổ chức ở Thái Lan cuối tháng 7/2011 nhưng thật ra đó là khóa huấn luyện kỹ năng báo chí độc lập do chính tổ chức Phóng viên Không biên giới của chúng tôi tổ chức. Chúng tôi có thể cung cấp bằng chứng, vật chứng để xác minh điều này. Chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ hủy bỏ bản án cho blogger Lê Văn Sơn vì nó dựa trên những lời cáo buộc sai sự thật.
VOA: Bảng Chỉ số về Tự do Báo chí trên thế giới của tổ chức Phóng viên Không biên giới có giá trị và vai trò như thế nào so với các khảo sát khác của những tổ chức bảo vệ nhân quyền khác?
Ông Benjamin Ismail: Bảng xếp hạng này rất quan trọng vì kể từ khi ra đời năm 2002 tới nay, chúng tôi hằng năm đều cải tiến phương pháp khảo sát, nghiên cứu. Năm nay số câu hỏi trong bảng khảo sát đã được tăng lên gấp đôi từ 40 câu trong năm trước lên thành 80 câu năm nay. Chúng tôi phối hợp các dữ kiện thống kê, các nguồn thông tin thu thập được trong cả năm, và nhận xét từ giới ký giả, giới chuyên gia phân tích kể cả các chuyên gia trong giới truyền thông và các chuyên gia chuyên nghiên cứu về Việt Nam, giới blogger, giới hoạt động nhân quyền cả trong và ngoài nước về mức độ tự do báo chí của từng quốc gia một.
VOA: Cảm ơn ông Benjamin Ismail, Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á-Thái Bình Dương trong tổ chức Phóng viên Không biên giới đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.
Trong số 10 nước chót bảng Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới 2013, sau Việt Nam là Trung Quốc, Iran, Somalia, Syria, Turkmenistan, Bắc Triều Tiên, và Eritrea. Trong khu vực Châu Á, Việt Nam, Trung Quốc, Lào, và Bắc Triều Tiên bị xem là các nước không có dấu hiệu cải thiện về tự do báo chí.
Tổ chức Phóng viên Không biên giới chuyên cổ xúy và bênh vực cho quyền được thông tin và thông tin của mọi người trên toàn cầu. RSF có trụ sở chính ở Paris (Pháp) cùng với các văn phòng quốc tế tại 10 nước trên thế giới, với hơn 150 ký giả ở khắp năm châu.
Trà Mi
Vượt tường lửa an toàn bằng Hotspot Shield
Mặc định Hotspot Shield được chọn tự động chạy khi khởi động, bạn có thể tắt đi bằng cách click chuột phải lên biểu tượng Hotspot Shield ở system tray và bỏ chọn “Show on restart.
Muốn kiểm tra thông tin chi tiết kết nối bao gồm Virtual IP, thời gian kết nối… thì bạn nhấn chuột phải vào biểu tượng của phần mềm này trên thanh taskbar (ở góc phải bên dưới màn hình), nhấn chuột vào dòng Details sẽ thấy.
Chú ý: Các bạn có thể thấy trên đầu trang web bạn truy cập sẽ có quảng cáo của Hotspot Shield chèn vào. Nếu bạn dùng IE thì bạn sẽ phải chung sống với nó vì không có cách nào loại bỏ được. Nếu bạn dùng Firefox hoặc Chrome thì có thể loại bỏ quảng cáo này rất đơn giản bằng cách cài thêm add-on AdBlock Plus, frame quảng cáo sẽ bị chặn và bạn sẽ thấy trang web như bình thường.
Bàn phím ảo – Bảo vệ máy tính khỏi sự nhòm ngó của phần mềm gián điệp – Dân Làm Báo
Với bất cứ máy tính cá nhân nào, đa số người sử dụng đều không biết đầy đủ các cách bảo vệ sự xâm nhập hay nằm vùng của các phần mềm độc hại. Bài viết này hướng dẫn các bạn bước cơ bản để có thể tự bảo vệ mình bằng chương trình bàn phím ảo
10 tội ác lớn nhất của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam
Long Điền (Danlambao) – Nhu cầu tiếp cận thông tin trung thực về lịch sử Việt Nam của thanh thiếu niên ngày càng nhiều. Khốn nỗi lịch sử Việt Nam trong nước thì đại đa số là gian dối, đa số các “sử gia” trong nước viết sử theo đơn đặt hàng, mục đích để bảo vệ đảng và chủ nghĩa Cộng Sản Việt Nam (CSVN).
Quyển sách “Cuộc Chiến Việt Nam 1945-1975” của tác giả Long Điền đã được thế hệ trẻ tại Việt Nam đón đọc qua Internet, nhiều câu hỏi từ các độc giả mong muốn tìm hiểu sự thật lịch sử Việt Nam. Hiện nay thanh niên trí thức Việt Nam rất khó truy tìm tài liệu lịch sử trung thực. Vì lẽ CSVN sẵn sàng pha trộn, ngụy tạo lịch sử để tiếp tục lừa dối toàn dân ngõ hầu tiếp tục cai trị trên máu xương Dân Tộc. Làm sao giải tỏa nhiều thế hệ thanh niên, trí thức tại quốc nội bị đầu độc bằng các mệnh đề kêu to mà rỗng tuếch của CSVN, đó là niềm khắc khoải của những ai luôn nghĩ đến vận mệnh nước nhà:
– CSVN có công giành Độc Lập (1945-1954)
– CSVN có công chống thực dân Pháp (1945-1954)
– CSVN có công chống Mỹ, ngụy (đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào) (1954-1975).
– CSVN có công Giải Phóng Dân Tộc và Thống Nhất đất nước (1945-1975).
Trả lời cho các lập luận trên, không cần phải chứng minh dài dòng, chúng ta chỉ cần đưa ra 10 tội ác lớn nhất của đảng CSVN mà chúng đã phạm phải, dựa trên các tài liệu lịch sử của chính đảng CSVN đã tiết lộ, chúng ta thách thức đảng CSVN đối chất với sự thật:
1- CSVN gây ra cuộc chiến dai dẳng từ năm 1945-1975, có tội cướp chính quyền hợp pháp và hợp hiến của chính phủ Trần Trọng Kim::
… Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm thuộc địa Đông Dương. Để tranh thủ sự ủng hộ của người Việt cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng như Miến Điện, Philippines, Nhật tuyên bố “trao trả độc lập” cho Việt Nam. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam. Trần Trọng Kim được giao thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4năm 1945. Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam “độc lập” trên danh nghĩa và Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam.
2- CSVN sát hại các đảng phái (không cộng sản) khi họ đang hợp tác với phong trào kháng chiến Việt Minh chống Thực dân Pháp:
Trần Trọng Kim: Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc, nào là tự do, bình đẳng, mà sự thật thì trái ngược tất cả. Những lối họ dùng là nói dối, đánh lừa cướp bóc, giết hại tàn phá, không kiêng dè gì cả, miễn làm cho người ta mắc lừa hay sợ mà theo mình là được Hồ Chí Minh và đảng CSVN là một tập đoàn mafia luôn gây chia rẽ, phá hoại đất nước, tạo ra cuộc nội chiến dai dẳng, không cần thiết trên đất nước VN, làm suy yếu tiềm lực quốc gia, dân tộc bằng sự sát hại các phần tử kháng chiến nhưng không theo CNCS. Những khẩu hiệu mà CSVN thường dùng là độc lập, tự do, hạnh phúc, bình đẳng chỉ dùng để dối gạt dân Việt Nam mà thôi!”
3- Trong kháng chiến chống Pháp, CSVN đã thỏa hiệp và rước Pháp vào lại VN năm 1946:
“… Thực hiện chủ trương tạm thời hòa hoản với thực dân Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng ra khỏi miền Bắc, chính phủ Việt Nam đã ký với đại diện chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ tại ngôi nhà số 2 phố Lê Lai, Hà Nội.
Nội dung cơ bản của Hiệp định là:
– Nước Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính của mình ở trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp.
– Nước Pháp cam đoan sẽ thừa nhận kết quả của cuộc trưng cầu ý dân về việc thống nhất ba kỳ.
– Nước Việt Nam thuận để 15.000 quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay quân Tưởng và sẽ rút hết sau 5 năm, mỗi năm rút 1/5.”
4- Năm 1945 CSVN chủ trương cướp gạo cứu đói do chính phủ Trần Trọng Kim chuyên chở ra miền Bắc, hành động nầy khiến trên 2.000.000 người chết vì đói:
“Thứ nhất, Việt Minh xúi dân chúng chống đối việc trưng mua lúa gạo, xúi dân đánh phá các kho lúa. Trong cơn nghèo đói túng quẫn, có người bày cho phương cách kiếm gạo để ăn, nên dân chúng hưởng ứng khá đông.
Thứ nhì, lợi dụng việc chính phủ tiếp tế để cứu đói ở miền Bắc, Việt Minh âm thầm chận bắt những chuyến xe hay những chuyến ghe chở gạo từ miền Nam ra, rồi Việt Minh đem tiếp tế cho những mật khu của họ (David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power [Việt Nam 1945, đi tìm quyền lực], University of California Press, Berkeley, 1995.
Trong cơn đói, có người đành phải lên mật khu gia nhập Việt Minh để được chia phần gạo cướp được cho qua nạn đói. Hành động của Việt Minh làm cho việc tiếp tế gạo từ Nam ra Bắc càng trở nên khó khăn. Từ đó, nạn đói càng trầm trọng và Việt Minh càng dễ hoạt động tuyên truyền, kích động quần chúng.
Đặc biệt hơn nữa, sau ngày 2-9-1945, Việt Minh tịch thu toàn bộ tiền bạc của các quỹ cứu đói trên toàn quốc (Ngô Thế Vinh dịch và trích dẫn trong bài “Từ Ất Dậu – 1945 sáu mươi năm đi tới cây cầu Cần Thơ – 2005”, đăng trên tạp chí Hợp Lưu, California, số 51, tháng 2 & 3 năm 2000. tr. 173), nghĩa là cướp lấy tài sản của những người đang đói, do những người hằng tâm khắp nước giúp đỡ.”
5- CSVN từ 1955-1956 thi hành chỉ thị của Trung Cộng thực hiện Cải Cách Ruộng Đất khiến 200.000 người bị thảm sát:
… Cuộc đấu tố “ Cải cách Ruộng Đất theo chỉ thị của Stalin và Mao Trạch Đông từ năm 1953 đến 1957 đã cướp đi sinh mạng của gần 200.000 người Việt và hậu quả không những về người mà còn làm băng hoại đạo đức và văn hóa Dân Tộc.
… Thống kê chính thức của nhà nước Việt Nam được đăng trong cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam (tập hai) cho biết là đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông (trong đó có 123.266 người bị quy sai, hơn 70%, tức là bị oan).
6- CSVN sát hại trí thức góp ý sửa sai đảng trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm:
“… Cuộc Cách mạng văn hóa chống Nhân Văn Giai Phẩm 1957-1960: Hàng ngàn Trí thức, Nhà Văn, Nhà báo có tư tưởng dân chủ bị vào tù, nhiều người bị chết trong ngục tối.”
7- CSVN tiến hành xâm lăng Miền Nam Việt Nam theo chỉ thị của Cộng Sản Quốc Tế bất chấp nguyện vọng hòa bình của toàn dân:
“Việt Nam Cộng Hòa là một Quốc Gia Hợp Pháp được công nhận bởi nhiều quốc gia trên thế giới qua Hiệp Định Genève 1954, đã từng có quy chế là một quốc gia quan sát viên của Liên Hiệp Quốc. Từ năm 1954 cho đến năm 1975.” Như vậy ta có thể thấy được rằng ngay người đàn anh cộng sản Liên Xô của cộng sản Việt Nam cũng phải công nhận tính chính danh và hợp pháp của nước Việt Nam Cộng Hòa mà bất cứ nước nào cũng không có quyền xâm phạm.
Lê Duẫn, bí thư thứ nhất đảng Lao Động (năm 1976 đổi là tổng bí thư), đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” Thật ra, ngay từ năm 1950, Việt Minh cũng đã đánh cho Trung Quốc.
8- CSVN phản bội quyền lợi của toàn dân, rước voi dày mả tổ, bị Trung Cộng sách động và lợi dụng:
“CSTQ chiếm đất, chiếm đảo của chúng ta, không phải do tài ba của CSTQ, mà do Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo CSVN, rước voi về giày mộ tổ, đúng theo kế hoạch thâm độc của cường quyền phương Bắc là “dĩ Việt chế Việt” (dùng người Việt chế ngự người Việt).
Như thế, trong chiến tranh ba mươi năm vừa qua trên đất nước Việt Nam, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD nhờ CSTQ để đánh Pháp, không khác gì nhờ một kẻ cướp đuổi một tên trộm. Tên trộm bỏ chạy thì kẻ cướp vào nhà. Đây không phải chỉ là những sai lầm chiến lược của Hồ Chí Minh và đảng Lao Động Việt Nam, mà đây chính là tội lỗi phản quốc lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ cổ chí kim. Những tội lỗi nầy hiện đưa đến những hậu quả tai hại mà người Việt Nam ngày nay đang phải đối mặt”.
9- CSVN bán nước, dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng:>
“Theo tài liệu điều trần của Bác Sĩ Trần Đại Sĩ thì Việt Nam nhượng cho Trung Quốc 789 cây số vuông (Km2) dọc theo biên giới hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, và theo những tài liệu trong nước đưa ra thì Việt Nam mất 720 cây số vuông (cả hai tài liệu đều cho thấy phần hiến đất lớn hơn cả lãnh thổ Singapore). Như vậy năm 2000, CSVN đã ký nhường thêm gần 8.8% lãnh hải vịnh Bắc Việt tương đương gần 11,000 cây số vuông, và lãnh hải của Trung Cộng nay chạy sâu tận đảo Bạch Long Vĩ.”
10- CSVN đã lường gạt toàn dân Việt Nam qua nhiều thế hệ. Hồ Chí Minh và đảng CSVN không hề vì quyền lợi quốc gia dân tộc mà chỉ vì Quốc Tế Vô Sản mà thôi:
“Một số người thậm chí cho rằng sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã “sai ngay từ đầu”, rằng giá như vào nửa đầu thế kỷ XX, đi con đường khác thì biết đâu nước ta vẫn giành được độc lập, kinh tế, văn hóa vẫn phát triển, lại tránh được mấy cuộc kháng chiến gian khổ, hao tổn biết bao xương máu. v. v..”
Cũng chính Hồ Chí Minh đã viết trên trang nhất của Tạp Chí Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội vào 26/12/1956: “Chủ nghĩa ái quốc cần phải bị tiêu diệt để thay thế bằng chủ nghĩa cộng sản.” Nhân dân Việt Nam không được quyền yêu TQVN!!!
Tóm lại:
– Cộng sản không có công gì trong việc dành Độc Lập cho đất nước Việt Nam, ngược lại CSVN tạo ra chiến tranh suốt 30 năm làm suy yếu đất nước và tổn hao sinh mạng, tài sản rất lớn cho Dân Tộc VN.
– Công lao chống thực dân Pháp là của Toàn Dân VN, CSVN chỉ cướp công kháng chiến và sát hại các đảng phái không theo CS.
– Mỹ không hề có ý định xâm chiếm lãnh thổ của bất cứ quốc gia nào, Mỹ và các lực lượng Đồng Minh của Việt Nam như Đại Hàn, Thái Lan, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan… là lực lượng trợ giúp MNVN chặn làn sóng đỏ.
3/2013
Long Điền
danlambaovn.blogspot.com
Cố Hương – Cố Quốc
Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.
Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose, hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là người Việt Nam, để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.
Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.
Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.
Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.
Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà. Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.
Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.
Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại. Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?
Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.
Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình. Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.
Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.
Lại có những lần ở Việt Nam, tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.
Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.
Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ!
So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?
Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.
Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.
Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.
Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!
Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.
So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.
“Khi về đổi họ thay tên.
“Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng”.
Tình Quê Hương – Thuỵ Du Khúc – Ngọc Hạ
Ngày Quốc Hận phải là Ngày Quốc Hận
(Tin liên mạng: Lưỡng Viện Quốc Hội của tiểu bang Virginia đã ban hành một nghị quyết công nhận ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày Nam Việt Nam (hay cũng có thể nói gọn là ngày Việt Nam Cộng Hòa ), đó là Nghị Quyết SJR 455 được Thượng Viện Virginia chấp thuận ngày 21/2/ 2013 và Hạ Viện Virginia chấp thuận ngày 22/2/2013. Nhưng với tác giả cùng với hàng chục triệu người VN trong và ngoài nước thì ngày 30/4/1975 phải là Ngày Quốc Hận và sẽ mãi mãi là Ngày Quốc Hận bởi những lý do công bình và đơn giản trong bài thơ dưới đây)
NGÀY QUỐC HẬN PHẢI LÀ NGÀY QUỐC HẬN
Trong trái tim, trong sách sử loài người
Để ghi lại thời đau thương chất ngất
Cộng cướp miền Nam, cộng giết cuộc đời
NGÀY QUỐC HẬN PHẢI LÀ NGÀY QUỐC HẬN
Sao lại là ngày ” NGÀY NAM VIỆT NAM???”
Ngày Nam Việt Nam nghĩa gì? Nói thật…
Nghe sao mập mờ, quỷ quyệt, mưu toan???
NGÀY QUỐC HẬN PHẢI LÀ NGÀY QUỐC HẬN
Bởi BA MƯƠI, một cuối THÁNG TƯ xưa
Ngày Việt Cộng gây tang thương vô tận
Bức tử miền Nam, đảng, kẻ tội đồ!
NGÀY QUỐC HẬN PHẢI LÀ NGÀY QUỐC HẬN
Bởi đảng trả thù dân chúng miền Nam
Nào ”cải tạo” lớp chết vì bất khuất
Lớp chết bịnh, đau, roi, súng, bạo tàn
Lớp bị đảng lừa đi kinh tế mới
Để đảng cướp nhà cướp của, chia nhau
Mặc dân chết bên luống mì đang xới
Chết bởi muỗi rừng, nắng vội, mưa mau…
NGÀY QUỐC HẬN PHẢI LÀ NGÀY QUỐC HẬN
Lớp ra khơi tìm đường đi tị nạn
Bị sóng vùi ôm hận đáy trùng dương
Hoặc hải tặc chặn đầu, không cách thoát
Hay tàu hư, lạc lối giữa đêm trường…
Ngày đau thương của nước Việt Nam mà !
Vì đảng đã coi người như thú vật
Vuốt nhọn, nanh dài, thống trị dân ta
NGÀY QUỐC HẬN PHẢI LÀ NGÀY QUỐC HẬN
Thôi chớ vẽ vời thay chữ đổi tên
Thay đổi thế nào vẫn còn sự thật
Sự thật kinh hoàng của THÁNG TƯ ĐEN !
Sự thật dã tâm của loài ác thú
Biến Việt Nam thành quận hạt của Tàu
Bắt dân tộc sống nhục nhằn đói khổ
Để bạc tiền, ngôi vị đảng chia nhau
Này hỡi đảng và những con tương cận
Ván cờ vào phút chót, tỉnh đi thôi
NGÀY QUỐC HẬN PHẢI LÀ NGÀY QUỐC HẬN
Trí, tâm đâu, sao chối bỏ tiếng người?!
Ngô Minh Hằng
Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ
Mẹ tôi chỉ là một thư ký thường cho một công sở ở Sài Gòn trước năm 1975. Vào cái trưa ngày 30 tháng 4, 1975, khi biết chắc miền Nam đã thất thủ và Việt cộng đang từ từ tiến vô Sài Gòn, mẹ tôi lặng lẽ mở tủ lấy lá cờ quốc gia, bỏ vô chiếc thau đồng vẫn thường để đốt vàng bạc trong các dịp cúng giỗ trong gia đình, rồi đem xuống bếp, thắp ba cây nhang lâm râm khấn vái trước khi châm lửa đốt. Lúc đó chúng tôi cũng biết việc cất giữ những gì thuộc về chế độ cũ sẽ mang tới tai họa cho gia đình, huống chi là lá cờ quốc gia, nên mẹ tôi phải đốt đi; nhưng những điều mà mẹ tôi giải thích sau đó về việc khấn vái trước khi đốt lá cờ mang một ý nghĩa khác hơn mà suốt đời tôi không quên được. Mẹ tôi nói:
“Biết bao nhiêu anh chiến sĩ quốc gia đã chết dưới lá cờ ni, chừ vì thời thế mà mình phải đốt đi, mình cũng phải xin phép người ta một tiếng!”
Thế rồi, những năm tháng sống dưới chế độ cộng sản bắt đầu đến với người dân miền Nam. Như bao nhiêu gia đình khác, gia đình tôi ngơ ngác, bàng hoàng qua những chiến dịch, chính sách liên tiếp của Việt cộng. Hết “chiến dịch đổi tiền”, “chính sách lương thực, hộ khẩu”, đến “chính sách học tập cải tạo đối với ngụy quân, ngụy quyền”, “chiến dịch đánh tư sản mại bản”, “chính sách kinh tế mới”,.. và nhiều nữa không kể hết. Ai nói Việt cộng ngu ngốc, chứ riêng tôi thì thấy họ chỉ vô đạo đức và kém văn hóa, kỹ thuật; chứ thủ đoạn chính trị thì thật cao thâm! Chính sách nào của Việt cộng cũng làm cho người dân miền Nam khốn đốn, dìm sâu con người đến tận bùn đen.
Đầu tiên là “chiến dịch đổi tiền”, họ phát cho mổi gia đình một số tiền bằng nhau, như vậy mổi gia đình đều nghèo như nhau, không ai có thể giúp ai được. Họ tuyên bố vàng, bạc, quý kim, đá quý là thuộc tài sản của Nhà Nước, ai mua, bán, cất giữ thì bị tịch thu. Kế đến là “chính sách hộ khẩu”, tức là mỗi gia đình phải kê khai số người trong gia đình để được mua lương thực (tức là gồm khoai, sắn và gạo mốc) theo tiêu chuẩn, nghĩa là mỗi người (mà họ gọi là “nhân khẩu”) được 13 kg lương thực mỗi tháng.
Bao vây như vậy vẫn chưa đủ chặt, Việt cộng sau đó còn ban hành lệnh cấm người dân mang gạo và các loại hoa màu khác từ vùng này sang vùng khác, bất kể là buôn bán hay chỉ là để cho bà con, con cháu. Thành thử các vùng thôn quê miền Nam (vốn dư thừa lúa gạo) mà lúc bấy giờ cũng không thể đem cho bà con, con cháu ở thành phố; nhiều bà nội, ngoại phải giấu gạo trong lon sữa guigoz để đem lên thành phố nuôi con cháu bị bệnh hoạn, đau ốm, …
Như vậy là họ đã hình thành một cái chuồng gia súc-người khổng lồ, con vật-người nào ngoan ngoãn thì được cho ăn đủ để sống, con nào đi ra khỏi cái chuồng đó thì chỉ có chết đói. Chính sách này còn cao thâm ở chỗ mà miền Nam ngày trước không có là không thể có cái việc “các má, các chị nuôi giấu cán bộ giải phóng trong nhà” như Việt cộng đã đĩ miệng, phỉnh phờ người dân trước đây.
Ba tôi rồi cũng đi tù “cải tạo” như bao nhiêu sĩ quan, công chức miền Nam khác, mẹ tôi ở lại một mình phải nuôi bầy con nhỏ. Bây giờ mỗi khi hồi tưởng lại đoạn đời đã qua, tôi vẫn tự hỏi, nếu mình là mẹ mình hồi đó, liệu mình có thể bươn trải một mình để vừa nuôi chồng trong tù vừa nuôi một đàn con dại như vậy không ? Trong lòng tôi vẫn luôn có một bông hồng cảm phục dành cho mẹ tôi và những phụ nữ như mẹ tôi đã đi qua đoạn đời khắc nghiệt xưa đó.
Từ một công chức cạo giấy mẹ tôi trở thành “bà bán chợ trời” (bán các đồ dùng trong nhà để mua gạo ăn), rồi sau khi kiếm được chút vốn đã “tiến lên” thành một “bà bán vé số, thuốc lá lẻ” đầu đường. Thời đó, cái thời chi mà khốn khổ! Mẹ tôi buôn bán được vài bữa thì phải tạm nghỉ vì hễ khi có “chiến dịch làm sạch lòng, lề đường”, công an đuổi bắt những người buôn bán vặt như mẹ tôi, thì phải đợi qua “chiến dịch” rồi mới ra buôn bán lại được. Có khi mẹ tôi đẩy xe vô nhà sớm hơn thường lệ, nằm thở dài, hỏi ra mới biết mẹ tôi bị quân lưu manh lường gạt, cụt hết vốn.
Thời bấy giờ, do chính sách “bần cùng hóa nhân dân” của Việt cộng đã tạo ra những tên lưu manh, trộm cắp nhiều như nấm. Có tên đến gạt mẹ tôi đổi vé số trúng mà kỳ thật là vé số cạo sửa, vậy là mẹ tôi cụt vốn; có tên đến vờ hỏi mua nguyên một gói thuốc lá Jet (thời đó người ta thường chỉ mua một, hai điếu thuốc lẻ, nên bán được nguyên gói thuốc là mừng lắm), thế rồi hắn xé bao lấy một điếu, rồi giả bộ đổi ý, trả gói thuốc lại, chỉ lấy một điếu thôi, vài ngày sau mẹ tôi mới biết là hắn đã tráo gói thuốc giả!
Một buổi tối, tôi ra ngồi chờ để phụ mẹ tôi đẩy xe thuốc vô nhà, thì có một anh bộ đội, còn trẻ cỡ tuổi tôi, đội nón cối, mặc áo thun ba lỗ, quần xà lỏn (chắc là đóng quân đâu gần đó) đến mua thuốc lá. Hồi đó, bộ đội Việt cộng giấu, không mang lon nên chẳng biết là cấp nào, chỉ đoán là anh nào trẻ, mặt mày ngố ngố là bộ đội thường, cấp nhỏ, anh nào người lùn tẹt, mặt mày thâm hiểm, quắt queo như mặt chuột thì có thể là công an hay chính trị viên,…
Anh bộ đội hỏi mua 3 điếu thuốc Vàm Cỏ, rồi đưa ra tờ giấy một đồng đã rách chỉ còn hơn một nửa. Mẹ tôi nói:
“Anh đổi cho tờ bạc khác, tờ ni rách rồi, người ta không ăn.”
Anh bộ đội trẻ măng bỗng đổi sắc mặt, cao giọng lạnh lùng:
“Chúng tôi chưa tuyên bố là tiền này không tiêu được!”
À, thì ra những thằng oắt con Việt cộng này cũng biết lên giọng của kẻ chiến thắng, giọng của kẻ nhân danh một chính quyền! Lúc này tôi mới sực thấy cái quần xà lỏn màu vàng mà hắn đang mặc được may bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ! Mẹ tôi lẳng lặng lấy tờ tiền rách và đưa cho hắn 3 điếu thuốc. Khi hắn đã đi xa, mẹ tôi vò tờ bạc vất xuống cống và nói nhỏ đủ cho tôi nghe:
“Thôi kệ, một đồng bạc, cãi lẫy làm chi cho mệt… Hắn mặc cái quần…, làm chi rứa, thắng trận rồi thì thôi, sỉ nhục người ta làm chi nữa, con hí?”.
Thì ra mẹ tôi cũng đã nhận ra cái quần hắn mặc may bằng lá cờ quốc gia và điều mà mẹ tôi quan tâm nhiều hơn là lá cờ, chứ không phải tờ bạc rách!
Khi Việt cộng mới chiếm miền Nam , nhiều người vẫn tưởng Việt cộng cũng là người Việt, không lẽ họ lại đày đọa đồng bào. Nhưng sau nhiều năm tháng sống dưới chế độ cộng sản, tôi hiểu ra rằng Việt cộng xem dân miền Nam như kẻ thù muôn kiếp, họ tự cho họ là phe chiến thắng “vẻ vang” và có quyền cai trị tuyệt đối đám dân xem như không cùng chủng tộc này.
Một hôm, đang ngồi bán thuốc lá, mẹ tôi tất tả vô nhà, kêu đứa em tôi ra ngồi bán để mẹ đi có việc gì đó. Một lúc sau mẹ tôi trở về và kể cho chúng tôi một câu chuyện thật ngộ nghĩnh. Mẹ kể:
“Mẹ đang ngồi ngoài đó thì nghe mấy bà rủ nhau chạy đi coi người ta treo cờ quốc gia trên ngọn cây. Té ra không phải, có cái bao ny-lông màu vàng có dãi đỏ, chắc là gió thổi mắc tuốt trên ngọn cây cao lắm, người ta tưởng là cờ quốc gia. Mà lạ lắm con, có con chó nó cứ dòm lên cây mà sủa ra vẻ mừng rỡ lắm, rứa mới lạ, chắc là điềm trời rồi!”
Mẹ tôi là vậy đó, bà hay tin dị đoan, nhưng chính ra là mẹ tôi nhìn mọi việc bằng tình cảm trong lòng mình.
Thời gian trôi mãi không ngừng… Cuối cùng rồi ba tôi cũng may mắn sống sót trở về sau gần 10 năm trong lao tù cộng sản, mẹ tôi vẫn bán thuốc lá lẻ, chúng tôi sau nhiều lần bị đánh rớt Đại Học, đành phải tìm việc vặt vãnh để kiếm sống. Đôi khi tôi tự hỏi, cuộc đời mình sẽ ra sao, liệu mình có thể có một mái gia đình, vợ con như bao người khác không trong khi mà cả gia đình mình không hề thấy một con đường nào trước mặt để vươn lên, để sinh sống với mức trung bình!? “Mọi người sinh ra đều bình đẳng… và ai cũng được quyền mưu cầu hạnh phúc…” câu ấy nghe có vẻ hiển nhiên và dễ dàng quá; nhưng phải sống dưới chế độ cộng sản, việc gì cũng bị truy xét lý lịch đến ba đời, mới thấm thía ý nghĩa và hiểu được vì sao người ta dùng câu ấy để mở đầu cho bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bất hủ.
Một ngày khoãng đầu năm 1990, công an phường đến đưa cho ba tôi một tờ giấy có tiêu đề và đóng dấu của Công An Thành Phố, nội dung vỏn vẹn “đến làm việc”. Gia đình tôi lo sợ là ba tôi sẽ bị bắt vô tù lại, ba tôi thì lẳng lặng mặc áo ra đi, hình như các ông “sĩ quan học tập” về đều trở thành triết gia, bình thản chấp nhận thực tại. Hay là thân phận của con cá nằm trên thớt, thôi thì muốn băm vằm gì tùy ý.
Rồi ba tôi về nhà với một tin vui mà cả nhà tôi có nằm mơ cũng không thấy được, công an thành phố kêu ba tôi về làm đơn nộp cho Sở Ngoại Vụ vì gia đình tôi được Nhà Nước “nhân đạo” cho đi định cư ở Hoa Kỳ! Thật không sao kể xiết nỗi vui mừng của gia đình tôi với tin này, đang từ một cuộc sống tuyệt vọng nơi quê nhà mà nay được ra đi đến một quốc gia tự do, giàu mạnh nhất thế giới! Những ngày sau đó lại cũng là mẹ tôi đi vay mượn, bán những món đồ cuối cùng trong nhà chỉ để có tiền làm bản sao photocopy các giấy tờ “Ra Trại” của ba tôi, khai sinh của chúng tôi, đóng tiền cho “Dịch Vụ”, … để làm thủ tục xuất cảnh.
Chỉ khoảng 6 tháng sau là gia đình tôi lên máy bay để bay qua trại chuyển tiếp bên Thái Lan. Tôi lên máy bay, ngồi nhìn xuống phi trường Tân Sơn Nhất dưới kia mà nước mắt cứ trào ra không ngăn được. Thế là hết, đất nước này của tôi, thành phố Sài Gòn này của tôi, nơi mà tôi sinh ra và lớn lên, một lát nữa đây sẽ vĩnh viễn rời xa, bao nhiêu vui buồn ở đây, mai sau chỉ còn trong kỷ niệm! Tôi quay lại nhìn thấy ba tôi mặt không lộ vẻ vui buồn gì cả, còn mẹ tôi thì nhắm mắt như đang cầu nguyện và mẹ tôi cứ nhắm mắt như thế trong suốt chuyến bay cho đến khi đặt chân xuống Thái Lan, mẹ tôi mới nói:
“Bây giờ mới tin là mình thoát rồi!”
Sau khoảng 3 tuần ở Thái Lan, gia đình chúng tôi lên máy bay qua Nhật, rồi đổi máy bay, bay đến San Francisco, Hoa Kỳ.
Ngày đầu tiên đến Mỹ được người bà con chở đi siêu thị của người Việt, thấy lá cờ Việt Nam bay phất phới trên mái nhà, mẹ tôi nói:
“Ui chao, lâu lắm mình mới thấy lại lá cờ ni, cái cờ quốc gia của mình răng mà hắn hiền lành, dễ thương hí?”.
Rồi mẹ kêu tôi đi hỏi mua cho mẹ một lá cờ quốc gia bằng vải, đem về cất vào ngăn trên trong tủ thờ.
Chúng tôi dần dần ổn định cuộc sống, cả nhà đều ghi tên học College, mẹ tôi cũng đi học College nữa và xem ra bà rất hứng thú với các lớp ESL (English as a Second Language); đặc biệt là các lớp có viết essays (luận văn).
Mẹ tôi viết luận văn rất ngộ nghĩnh, thí dụ đề tài là “Bạn hãy nói các điểm giống nhau và khác nhau của một sự việc gì đó giữa nước Mỹ và nước của bạn” thì mẹ tôi lại viết về lá cờ quốc gia. Ý mẹ tôi (mà chắc chỉ có mình tôi hiểu được) là nước Việt Nam có đến hai lá cờ khác nhau với hai chế độ tương phản nhau mà người Mỹ thời này hay ngộ nhận cờ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng của Việt cộng; trong khi lá cờ đó không phải là lá cờ thiêng liêng của người Việt tại Mỹ. Rải rác trong suốt bài luận văn dài tràng giang đại hải của mẹ tôi là những mẩu chuyện thật mà mẹ tôi đã trải qua suốt thời gian sống dưới chế độ Việt cộng. Mẹ tôi kể là mẹ thấy bà giáo Mỹ đọc say mê (tôi nghĩ có lẽ là bà giáo Mỹ sống ở nước tự do, dân chủ không thể ngờ là có những chuyện chà đạp, bức hiếp con người như thế dưới chế độ cộng sản). Khi bài được trả lại, tôi cầm bài luận của mẹ tôi xem thì thấy bà giáo phê chi chít ngoài lề không biết bao nhiêu là chữ đỏ: “interesting! “, “Narrative”, “I can’t believe it!”,…. và cuối cùng bà cho một điểm “D” vì… lạc đề!
Cuộc sống chúng tôi dần dần ổn định, vô Đại Học, lấy được bằng cấp, chứng chỉ, rồi đi làm, cuộc sống theo tôi như thế là quá hạnh phúc rồi. Dạo đó, có anh chàng Trần Trường nào đó ở miền Nam California, tự nhiên giở chứng đem treo lá cờ đỏ sao vàng của Việt cộng trong tiệm băng nhạc của anh ta làm cho người Việt quanh vùng nổi giận, đồng bào đem cả ngàn lá cờ quốc gia, nền vàng ba sọc đỏ đến biểu tình trước tiệm anh ta suốt mấy ngày đêm. Mẹ tôi ngồi chăm chú xem trên truyền hình và nói với tôi:
“Tinh thần của người ta còn cao lắm chớ, mai mốt đây mà về thì phải biết!”
Ý mẹ tôi nói là sau này khi không còn cộng sản ở Việt Nam nữa thì chắc đồng bào sẽ hân hoan trở về treo lên cả rừng cờ quốc gia chớ không phải chỉ chừng này đâu.
Thời gian trôi nhanh quá, chúng tôi đã xa quê hương gần 20 năm, Việt cộng vẫn còn đó, vẫn cai trị đất nước tôi. Sau này do chúng tôi, kể cả cha chúng tôi nữa, đều học xong và ra đi làm, không ai có thể chở mẹ tôi đi học ESL nữa nên mẹ tôi phải ở nhà thui thủi một mình, buồn lắm. Có lần tôi hỏi mẹ có muốn về Việt Nam một chuyến để thăm bà con lần cuối không, mẹ tôi nói:
“Không, về làm chi, rồi mình nhớ lại cảnh cũ, mình thêm buồn; khi mô mà hòa bình rồi thì mẹ mới về!”
Ý mẹ nói “hòa bình” nghĩa là khi không còn cộng sản nữa.
Rồi mẹ tôi bệnh, đưa vô nhà thương, bác sĩ chẩn đoán mẹ tôi bị ung thư phổi, cho về nhà để Hospice Care đến chăm sóc (Hospice là các tổ chức thiện nguyện ở khắp nước Mỹ, nhiệm vụ của họ là cung cấp phương tiện, thuốc men miễn phí nhằm giảm nhẹ đau đớn cho những người bệnh không còn cứu chữa được nữa). Mẹ tôi mất không lâu sau đó. Mẹ nằm lại đất nước Mỹ này và vĩnh viễn không còn nhìn thấy lại quê hương mình lần nào nữa.
Trong lúc lục giấy tờ để làm khai tử cho mẹ, tôi tìm thấy chiếc ví nhỏ mà mẹ tôi vẫn thường dùng để đựng ít tiền và các giấy tờ tùy thân như thẻ an sinh xã hội, thẻ căn cước,.. Trong một ngăn ví là lá cờ vàng ba sọc đỏ bằng giấy, khổ bằng chiếc thẻ tín dụng mà có lẽ mẹ tôi đã cắt ra từ một tờ báo nào đó. Tôi bồi hồi xúc động, thì ra mẹ tôi vẫn giữ mãi lá cờ quốc gia bên mình, có lẽ lá cờ vàng hiền lành này đối với mẹ tôi cũng thiêng liêng như linh hồn của những người đã khuất.
Nguyễn Kiến
Lễ Tưởng Nhớ Trường Võ Bị — Tháng 4, 2013
Lễ Tưởng Nhớ Trường Mẹ của các cựu sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị
Cách Gõ Việt Ngữ
Cách gõ Việt ngữ bằng bộ gõ VietUni, VietKey… |
|
Nếu bạn đã từng sử dụng VietKey, UNIkey để viết Việt ngữ thì việc sử dụng các bộ gõ VietUni, VietKey trên Web hoàn toàn tương tự. Thậm chí còn dễ dàng hơn rất nhiều vì các bộ gõ trên Web đã được tích hợp & bật sẵn. Bạn chẳng phải làm gì ngoài việc Gõ. VietUni sử dụng kiểu gõ tổng hợp. Nghĩa là cho dù bạn gõ kiểu gì: Telex, VNI hay VIQR thì đều ra chữ Việt cả. Do đó bạn có thể yên tâm sẽ gõ ra tiếng Việt mà không cần quan tâm đến các nội dung tiếp theo của tài liệu này. |
| Nếu bạn chưa từng gõ hoặc chưa rõ về các kiểu gõ Việt ngữ thì có thể xem cách gõ dấu trong bảng dưới đây |
| Nguyên âm và Dấu | Kiểu gõ Telex | Kiểu gõ VNI | Kiểu gõ VIQR |
| â | aa | a6 | a^ |
| ê | ee | e6 | e^ |
| ô | oo | o6 | o^ |
| ă | aw | a8 | a( |
| ơ | ow,] | o7 | o+ |
| ư | w, uw, [ | u7 | u+ |
| đ | dd | d9 | dd |
| dấu sắc | s | 1 | ‘ |
| dấu huyền | f | 2 | ` |
| dấu nặng | j | 5 | . |
| dấu hỏi | r | 3 | ? |
| dấu ngã | x | 4 | ~ |
| xoá dấu | z | 0 | – |
| Ví dụ để gõ chữ: Tiếng việt |
Bạn gõ: Tieengs Vieetj |
Bạn gõ: Tie6ng1 Vie6t5 |
Bạn gõ: Tie^’ng Vie^.t |
Lưu ý:
Nếu bạn không hiểu tài liệu này nói gì, hãy đặt chuột vào ô soạn thảo dưới đây và gõ lần lượt dãy ký tự sau sẽ rõ: Gox tieengs Vieetj deex nhuw awn chaos Chúc bạn thành công! |
VietUni — Hoán Chuyển Các Bảng Mã
Xử dụng VietUni để hoán chuyển các dạng mã thường dùng
Hướng Dẫn tạo blog WordPress
Để bắt đầu làm quen với wordpress, có lẽ đầu tiên bạn nên đăng ký 1 account tại wordpress.com để tạo lập một blog miễn phí để làm quen với cách sử dụng mã nguồn mở hấp dẫn này. (Về việc lập blog cá nhân với tên miền dạng .com .net .org và sử dụng wordpress sẽ đề cập sau).
Một điều thật tuyệt vời là wordpress hỗ trợ rất tốt tiếng Việt, bạn có thể xem chi tiết tại vi.wordpress.com
Sau đây là bài viết của identical về việc hướng dẫn sử dụng wordpress.com.
Trước hết, phải nói rằng tạo mới một account tại WordPress.com hết sức đơn giản, tất cả những gì bạn cần làm là truy cập trang Get your own WordPress.com account. Bạn sẽ thấy xuất hiện một màn hình cho phép nhập username và địa chỉ email của mình:
Như có thể thấy trong hình, username bạn chọn bắt buộc phải có từ 4 ký tự trở lên, trong đó không có các ký tự đặc biệt nào ngoài các số và chữ cái.
Địa chỉ email của bạn phải chưa được sử dụng tại WordPress.com bao giờ và, hiển nhiên, nó phải có thật để WordPress.com có thể gửi email chứa password đến cho bạn.
Một lẽ tất nhiên là bạn phải tick vào ô có ghi I have read and agree to the fascinating terms of service.
Và cũng bởi bạn đang tạo cho mình một blog nên bạn hãy để dấu tick ở ô Gimme a blog! (Like username.wordpress.com).
Ngay khi bạn bấm nút Next », bạn sẽ được chuyển qua màn hình thứ 2:
Tại đây, bạn có thể đặt subdomain cho blog của mình, dưới dạng cái_gì_đó.wordpress.com, đặt tên cho blog, chọn ngôn ngữ bạn sẽ dùng để viết blog cùng với thông tin liên quan đến vấn đề bảo mật cho nội dung blog.
Subdomain cho blog của bạn, cũng như username, phải là duy nhất và chưa được sử dụng bao giờ. Subdomain này sẽ là vĩnh viễn, nghĩa là bạn không có khả năng thay đổi nó. Vì vậy, hãy lựa chọn một cách sáng suốt.
Hãy chú ý một vài điểm sau khi chọn cho mình một subdomain:
Thứ nhất, mỗi người có thể tạo cho mình một số lượng không giới hạn các blog. Chính vì vậy, một khi blog đã được đăng ký, thì subdomain của blog đó sẽ nằm trong trạng thái in-used, không cần biết blog có nội dung hay không. Nếu bạn không nhanh chân thì subdomain mà bạn muốn có thể bị người khác đăng ký mất.
Thứ hai, WordPress.com không bao giờ xóa bỏ một blog đã được đăng ký, cho dù nó không có nội dung trong một thời gian rất, rất dài. Để có thể dùng một blog đã được đăng ký, bạn phải liên hệ với chủ nhân blog đó, nhờ họ transfer sang cho bạn. Việc này sẽ mất khá nhiều thời gian.
Một lần nữa xin nhắc lại, đã có hơn 300 nghìn blog được đăng ký tại WordPress.com, tương ứng với hơn 300 nghìn subdomain. Hãy nhanh tay đăng ký ngay một subdomain cho mình!
Tên blog, cùng với ngôn ngữ bạn chọn để viết blog đều có thể thay đổi bất cứ lúc nào bạn muốn. Vì vậy, chẳng có lý do gì để bạn phải suy nghĩ lâu về hai vấn đề này.
Nếu bạn viết blog bằng tiếng Anh, hãy chọn en – English. Nếu là tiếng Việt, chọn vi – Tiếng Việt. Tương tự với các ngôn ngữ còn lại.
Ô chọn cuối cùng, về Privacy, nếu bạn để dấu tick ở đó, blog của bạn sẽ có thể được tìm kiếm qua Google hay công cụ tìm kiếm blog chuyên dụng Technorati. Với một blog cá nhân, không muốn nhiều người đọc, thì bạn có thể bỏ dấu tick ấy đi.
Kết thúc quá trình đăng ký, bạn bấm nút Signup ».
WordPress.com sẽ thông báo việc đăng ký đã hoàn tất. Bạn cần login vào địa chỉ email của mình, mở mail mà WordPress.com gửi tới để tiến hành kích hoạt (activate) blog vừa đăng ký, đồng thời lấy password để login.
Password mặc định sinh ra là ngẫu nhiên, khoảng 6 – 7 chữ cái. Password này hoàn toàn có thể thay đổi được thông qua Admin Panel.
Cần nhớ, nếu bạn không thực hiện việc kích hoạt trong vòng 2 ngày, bạn sẽ phải làm lại các bước trên. Từ đầu.
Nhóc JackSep 20 2007, 08:59 AM
Típ nha
Admin Panel của WordPress.com
Sau khi đăng ký cho mình được một blog tại WordPress.com, bạn sẽ nhận được một email chứa thông tin về tài khoản của mình. Bạn có thể đăng nhập với mật khẩu được ghi trong email và bắt đầu làm quen ngay với các tính năng trong Admin Panel của blog
Như bạn có thể thấy trong hình: Trên cùng của Admin Panel là tên blog của bạn, kèm với một link View site » để bạn có thể xem blog của mình. Ngay dưới là thanh menu, bao gồm các mục Dashboard, Write, Manage, Blogroll, Presentation, Users, Options và Upgrades.
Mặc định khi đăng nhập bạn ở trang Dashboard. Do đó, submenu bên dưới sẽ hiển thị các mục Dashboard, Tag Surfer, My Comments, Blog Stats và Feed Stats. Bạn có thể dễ dàng chuyển đến các menu khác cùng với các submenu của nó bằng cách bấm vào liên kết tương ứng trong Admin Panel của mình.
Sau đây sẽ là giới thiệu sơ qua chức năng của menu và các submenu:
1. Dashboard:
* Dashboard: Xem tin tức của WordPress.com, danh sách các blog nổi nhất trong ngày, các bài viết mới nhất, thông tin về các phản hồi nhận được…
* Tag Surfer: Thông qua các tag đặt cho nội dung trong blog, bạn có thể tìm thấy những bài viết hay hợp sở thích của mình.
* My Comments: Danh sách các phản hồi bạn đã gửi, ở blog của bạn và các blog khác.
* Blog Stats: Số liệu liên quan đến khách thăm blog.
* Feed Stats: Số liệu liên quan đến người đọc RSS feed của blog.
2. Write:
* Write Post: Nơi soạn thảo các bài viết sẽ đăng trên blog của bạn.
* Write Page: Nơi soạn thảo các trang tĩnh như About, Contact me. Whatever.
3. Manage:
* Posts: Quản lý các bài viết đã lưu.
* Page: Quản lý các trang tĩnh đã tạo.
* Comments: Quản lý các phản hồi đã đăng trên blog.
* Awaiting Comments: Quản lý các phản hồi đang đợi kiểm duyệt.
* Import: Nhập nội dung từ blog khác vào blog hiện tại.
* Export: Xuất nội dung từ blog hiện tại ra blog khác.
* Askimet Spam: Các phản hồi linh tinh bị nghi là rác.
4. Blogroll:
* Manage Blogroll: Quản lý các link bạn yêu thích.
* Add Link: Bổ sung thêm các link vào danh sách.
* Import Links: Nhập link từ nơi khác vào danh sách.
5. Presentation:
* Themes: Danh sách các theme bạn có thể chọn cho blog của mình.
* Sidebar Widgets: Quản lý các widget bạn có thể đặt trên sidebar của blog.
* Edit CSS: Thay đổi CSS của theme.
6. Users:
* Authors and Users: Danh sách các tác giả và người đăng ký account tại blog của bạn.
* Your Profile: Thay đổi hồ sơ cá nhân của bạn.
* Invites: Mời bạn bè của bạn sử dụng WordPress.com.
7. Options:
* General: Các tùy chọn chung nhất về tên blog, tagline, ngày tháng…
* Writing: Tùy chọn về cách thức bạn viết blog.
* Reading: Tùy chọn về cách thức người khác đọc blog của bạn.
* Discussing: Tùy chọn về cách thức mọi người thảo luận trong blog của bạn.
* Privacy: Tùy chọn về độ bí mật của blog.
* Delete Blog: Xóa blog của bạn. Vĩnh viễn.
8. Upgrades: Nơi nâng cấp blog của bạn. Có tính phí.
Nhóc JackSep 20 2007, 09:10 AM
Nữa
Viết bài trong blog
Một blog mà không có các bài viết thì nó không được coi là blog.
Bài viết này sẽ nói đến vấn đề viết bài trong blog tại WordPress.com
Trước hết, để viết bài, bạn cần vào Admin Panel > Write > Write Post. Nếu bạn muốn tạo 1 trang tĩnh, hãy vào Write Page thay vì Write Post.
Ví dụ bạn đang ở trang Write Post. Bạn sẽ thấy trước mặt mình là một vài ô textbox để viết bài, bao gồm ô Title và ô Post. Title hiển nhiên là nơi đặt tiêu đề cho bài viết, còn Post chứa nội dung bài viết.
Nếu bạn đang dùng trình soạn thảo mặc định của WordPress.com – WYSIWYG – bạn sẽ thấy việc viết bài đơn giản như gõ WinWord. Mọi thứ như chữ đậm, chữ hoa, chữ nghiêng… đều có thể được lựa chọn một cách nhanh ***ng và dễ dàng.
Còn nếu bạn dùng trình soạn thảo dạng raw – nghĩa là HTML “thô” – thì bạn sẽ thấy một số nút như b, i, link, b-quote,… Đây chính là các tag sẽ được thêm vào để định dạng nội dung trong bài viết của bạn. Nói chung, nếu coi WYSIWYG là một bộ phim hoàn chỉnh thì raw HTML chính là phần “Behind the scene”
Việc chuyển đổi 2 loại trình soạn thảo hết sức dễ dàng, bạn chỉ việc bấm vào link My Profile nằm ở góc phải trên màn hình, sau đó chọn / bỏ chọn ở ô Use the visual rich editor when writing tùy theo nhu cầu của mình.
Cũng cần nói thêm, trong bài viết bạn có thể sử dụng các smiley như , , … Danh sách các smiley như thế có thể tìm thấy ở trang web: What smilies can I use?
Bên dưới ô Post là 3 nút: Save and Continue Editing, Save và Publish.
Save nhằm mục đích lưu lại bài viết đang gõ như một bản nháp, và bạn có thể chuyển qua làm việc khác.
Ngược lại, Save and Continue Editing vừa lưu, vừa cho phép bạn gõ tiếp bài viết. Tuy nhiên, với một nâng cấp gần đây, WordPress.com đã trang bị thêm tính năng AutoSave tương tự WinWord, cho phép bạn tự do gõ bài mà không cần lo đến việc lưu lại thủ công. Bài viết của bạn được tự động lưu lại mỗi 1 phút.
Cuối cùng, tính năng Publish giúp bạn đưa bài viết của mình xuất hiện trên blog. Có thể coi đây là công đoạn dọn thức ăn ra đĩa sau khi đã nấu nướng chán chê
Tiếp tục cuộn trang Write Post xuống, bạn sẽ thấy một khu vực dùng để upload ảnh hay chèn video vào blog. Cách sử dụng các công cụ này khá đơn giản
Nằm dưới khu vực Upload, cũng như bên phải ô Post là các docking box, các “hộp” có tiêu đề màu xanh mà bạn có thể dễ dàng kéo thả tới vị trí mà mình muốn, cũng như mở ra / thu gọn tùy ý
Các “hộp” này có tính năng cụ thể như sau:
1. Categories: Bài viết của bạn thuộc mục nào thì hãy tích vào mục tương ứng.
2. Discussion: Chọn xem bạn có muốn người đọc gửi phản hồi và blog khác ping đến bài viết không.
3. Post Password: Nếu là một bài viết “nhạy cảm” , không có lý gì mà bạn không bảo vệ nó bằng mật khẩu
4. Post Slug: URL bài viết của bạn.
5. Post Status: Chọn xem bài viết bạn đang gõ nằm ở dạng Đã xuất hiện trên blog, Bản nháp, hay Nội dung riêng tư cá nhân mỗi mình bạn đọc
6. Post Timestamp: Thời gian bài viết xuất hiện trên blog.
7. Post Author: Tác giả bài viết, trong trường hợp blog có nhiều người tham gia đóng góp bài viết.
8. Optional Excerpt: Hãy coi đây như phần tóm tắt bài viết của bạn.
9. Trackbacks: Những trackback bạn muốn gửi đến các blog khác.
Cuối cùng, đó là nút Delete this post, cho phép bạn ném bài viết mình đang gõ vào thùng rác , và phần Post Preview để bạn xem trước bài viết của mình. Phần Post Preview được cập nhật mỗi khi bạn bấm Save and Continue Editing.
Trên đây là những gì cơ bản nhất mà bạn cần nắm khi viết bài ở một blog WordPress.com. Chúc thành công
Nhóc JackSep 20 2007, 09:13 AM
Típ tục
Quyền hạn trong blog
Khi bạn tạo một blog tại WordPress.com, bạn được trao quyền Administrator. Như bạn có thể đoán, là một Admin, bạn được phép làm bất cứ những gì mình muốn, trong phạm vi blog của bạn. Tạo mới, sửa đổi các bài viết, đổi theme của blog, chỉnh các thiết đặt hay sao lưu và khôi phục dữ liệu – tất cả đều nằm trong tầm tay của một Admin.
Nếu bạn vào Admin CP > Users, bạn có thể thấy mục Add User From Community, cho phép bạn thêm user vào blog của mình. Mặc định, có 5 loại user khác nhau: Administrator, Editor, Author, Contributor và Subscriber.
Hãy thử xem xem, mỗi loại user đó khác nhau như thế nào
Trước hết, ta nói đến quyền Subscriber. Đây là quyền thấp nhất, chỉ những người có khả năng đọc blog – nhưng không thể thay đổi cũng như tạo thêm nội dung cho blog.
Cao hơn một chút là quyền Contributor. Là một contributor, người dùng có thể tham gia viết bài, sửa chữa bài của chính mình, tuy nhiên không thể xuất bản bài viết đó. Nghĩa là, bài viết do họ soạn thảo sẽ không hiện lên trên blog cho đến khi có người dùng cấp cao hơn cho phép.
Tiếp đến là Author – những người có thể tạo mới, chỉnh sửa, xuất bản cũng như xóa bỏ bài viết của chính mình.
Nếu như trong forum có Moderator, thì ở blog có Editor. Họ có thể xuất bản, sửa chữa, xóa bỏ bất cứ bài viết nào. Họ cũng có quyền thông qua các phản hồi nhận được, quản lý các thể loại trong blog cũng như sắp xếp các liên kết trong Blogroll.
Cuối cùng, là Administrator. Là bạn, người có quyền lực tối cao trong blog của mình.
Ngoài những điều trên, bạn hãy chú ý thêm 2 điểm quan trọng:
1. Hãy thật thận trọng khi cấp quyền cho người dùng, đặc biệt là quyền Editor hay Administrator.
2. Nếu vì một lý do nào đó, bạn nhỡ tay xóa bỏ quyền Administrator của mình, hãy gửi Feedback tới bộ phận hỗ trợ của WordPress.com. Đó là cách duy nhất để bạn lấy lại quyền hạn của mình.
Bài viết được tổng hợp từ FAQ của WordPress.com.
Nhóc JackSep 20 2007, 09:13 AM
Fần Fụ Chú :
Widget là các ứng dụng nhỏ đặt trong blog của bạn, hỗ trợ thêm các chức năng hay đơn giản giúp trang trí blog của bạn.
Trong mục Sidebar Arrangement, ở phần trên là liệt kê các widget hiện có trong blog của bạn, bạn có thể céo thả thay đổi vị trí giữa các widget này, click vào icon bên phải mỗi widget để thiết lập các thông số.
Ở dứơi là một số widget chưa được dùng, ta có thể hiểu chúng như những cầu thủ dự bị (và tất nhiên là không giới hạn cầu thủ đá chính, bạn có thể sử dụng tất cả các widget trên). Tương tự. bạn kéo thả các widget ở dưới lên khung trên nếu muốn sử dụng chúng, ngược lại nếu muốn loại bỏ.
44 sẽ nói qua về chức năng một số widget thông dụng :
Flickr : Giống như photostream trong blog 360 Yahoo vậy, tuy nhiên, widget Flickr có thể hiện thị ảnh từ nick khác chứ không chỉ của bạn, bạn chỉ cần nhập link RSS của flickr photos bất kì.
Tag Cloud : Liệt kê tag của bạn
Blog Stats : Bộ đếm lượt truy cập blog (pageviews đó )
Categories : Liệt kê các chủ đề tại blog của bạn.
Calendar : Lịch
Còn rất nhiều widget hay nữa chờ bạn khám phá.
Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19-6-1971, 19-6-1973
Video Diễn Hành Ngày Quân Lực 19 Tháng 6
Võ Phiến – Đọc Thơ Cao Tần
Gần đúng hai năm sau ngày chúng ta bỏ nước ra đi, tờ báo Bút Lửa số 1 tung ra hai bài thơ lạ lùng của một tên tuổi lạ hoắc: CAO TẦN. Thơ Cao Tần được tán thưởng ngay. Nó gây chấn động. Nó thành một biến cố trong sinh hoạt văn nghệ tha hương. Trong giới độc giả và giới cầm bút nổi lên một thắc mắc: “Thơ hay đấy. ‘Tới’ lắm. Nhưng Cao Tần là ai vậy?”
Cao Tần hành tung bí mật như T.T.KH.; vì vậy người ta e rằng rồi cũng chỉ thoảng qua trên thi đàn trong chốc lát như T.T.KH. Nhưng không. Từ số nọ sang số kia Bút Lửa tiếp tục đăng thơ Cao Tần gần một năm trời. Và thơ ấy càng ngày càng “tới”. Nó không phải là một phút ngẫu nhiên may mắn, mà dần dần chứng minh một tài năng có bản lãnh vững vàng. Vào khoảng tháng 11-1977 nhà văn Mặc Đỗ “riêng nhắn Cao Tần: Cảm lắm”. Sau đó, nếu nhà văn còn theo dõi, còn đọc nữa, chắc chắn còn sẽ “cảm” hơn nữa.
Vì kỹ thuật làm báo, Bút Lửa đã dành cho Cao Tần một sự xuất hiện đột ngột, cố ý gây một kinh ngạc. Thực ra sau này chúng ta lần lần nhận thấy sự ngạc nhiên của độc giả không hẳn chỉ là kết quả do kỹ thuật nghề nghiệp: Trong bản chất thơ Cao Tần vẫn có cái gì đột ngột, luôn luôn khiến người đọc ngạc nhiên.
Cái ấy trước hết là đề tài. Nhiều bài thơ của Cao Tần được kết cấu như truyện, những câu chuyện khá ly kỳ: chuyện hai người bạn tịnh khẩu uống tì tì giữa sa mạc; chuyện thằng Cù Lần có cái túi nhỏ; chuyện dăm thằng khùng bàn chuyện vá trời: kẻ vượt suối trèo non về nước phất cờ khởi nghĩa như “hùm thiêng cựa móng thét rung trời”, người leo lên tượng thần Tự Do Mỹ quốc tự đốt mình làm lửa sáng để soi tìm trong đáy biển “những oan hồn ai bỏ giữa bao la”, v.v.
Cái đột ngột ấy lại ở những hình ảnh độc đáo, ý tưởng bất ngờ. Hoặc về những lá thư gửi từ Sài Gòn qua ngoại quốc, vừa phải ca ngợi cách mạng vừa tiết lộ sự thực bi đát qua lời lẽ úp mở:
“Thư quê hương như tên hề ốm nặng
Hồn tang thương sau mặt nạ tươi cười”
Hoặc thất vọng vì những lời thư bất lực của vợ, kẻ tha hương bảo vợ thay vì viết lách quanh co, hãy gửi vài sợi tóc mẹ già, gửi viên sỏi nhỏ bên đường…
“Và gửi cho anh một tờ giấy trắng
Thấm nước trời quê qua mái dột đêm mưa
Để anh đọc: mênh mông đời lạnh vắng
Em tiếc thương hoài ấm áp gối chăn xưa”.
Hoặc về tấm hình nhợt nhạt trên thẻ căn cước mà mỗi chúng ta còn mang theo:
“Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ”
Cái đột ngột còn ở những lời những chữ, những cách nói không thường thấy trong văn chương, càng không thường trong thi ca:
“Mày có linh thiêng qua đây tao cúng
Một chầu phim X, một quả tắm hơi
(…)
Cũng ngất ngư đời như con… củ khoai”
Chắc chắn sẽ có lời cật vấn: “Cái đột ngột thì dính dáng gì đến giá trị thi ca?”
Quả vậy. Thật khó xác nhận rằng thơ hay là thơ kỳ lạ, mặc dù xưa nay không hiếm những trường hợp thi nhân đua nhau biểu diễn các trò quái đản: tự dưng điên loạn, đòi uống ánh sáng, bay lên trăng, đớp các vì sao v.v.
Đột ngột, kỳ lạ, có thể không phải là một giá trị. Nhưng ai biết được đích xác đâu là những yếu tố làm nên giá trị của thơ, gây nên xúc cảm thơ? Chẳng qua thi ca là địa hạt của tình cảm, của tưởng tượng, và nhà thơ vẫn khoái chứng tỏ một sức tưởng tượng phóng khoáng phi phàm, ai nấy ra sức vượt thoát ra ngoài khuôn sáo tầm thường. Giữa những kẻ đớp sao uống trăng v.v. Cao Tần không chọn kiểu quái dị nhất. Vậy mà Cao Tần vẫn gây được cảm tưởng đột ngột độc đáo. Có phải chính vì thế mà cái kỳ lạ này đâm ra ít sáo hơn cả?
Tứ thơ lạ, câu thơ đẹp — trong hoàn cảnh một cuộc sống thanh bình tại quê hương, đó hẳn là những mộng ước của kẻ chọn nghiệp thi ca. Những cái ấy đều có ở thơ Cao Tần. Nhưng trong cảnh ngộ lưu lạc hiện nay, liệu còn có ai cầm bút chỉ vì những lý do nghệ thuật như thế? Và trong số độc giả liệu mấy ai còn tìm đọc thơ vì tứ lạ lời hay?
Chắc chắn khi nhà văn Mặc Đỗ “cảm” Cao Tần, cái cảm ấy không vì một hình thức nghệ thuật độc đáo hay điêu luyện. Cái hấp dẫn của Cao Tần đó là một tâm sự vừa bi thống vừa phẫn uất, một phong thái ngang tàng trong tuyệt vọng. Người tị nạn nhìn vào thơ Cao Tần thấy niềm đau đớn xót xa: niềm đau của mình; thấy nỗi cay đắng: nỗi cay đắng của mình; thấy chán nản mênh mông: của mình… Và trên chừng ấy nét tâm trạng của chính mình là một khí phách hào hùng, dù là cái hào hùng của người lâm vào mạt lộ.
Nghĩ đến cảnh sa cơ lỡ vận, người thơ cười: “Ông thượng đẳng cu-li”. Nói đến một phi công thất thế, lại cười: “Đời khốn kiếp đã quăng ông xuống đất”. Kể chuyện một người trân trọng giữ từng chút kỷ niệm của mẹ, của vợ, của bạn bè trong cái túi nhỏ mang kè kè theo mình, lại cười: đó là chàng Cù Lần! Trong thơ Cao Tần thường ẩn hiện nụ cười, cười như người Việt Nam vẫn cười trong tận cùng đắng. Đối với người ngoại quốc đang sống quanh ta không biết họ thấy thế nào; riêng đối với chúng ta tiếng cười ấy làm xao xuyến đến tận đáy tâm hồn: cách xa quê hương muôn vạn dặm, có thơ Cao Tần lúc đau đớn ta “được” đau đớn trong cách thế biểu hiện đặc biệt của dân tộc. Chẳng cũng khoái sao?
Cao Tần cười cay đắng, nói huênh hoang ngạo mạn, lắm khi đến tục tằn, như thế chỉ vì không muốn phơi bày chỗ thảm hại. Sự thực phía sau tiếng cười ấy, phía sau cái nghênh ngang ấy là một cảnh thảm hại: chỗ gặp gỡ chung của tất cả chúng ta. Gặp gỡ để thương nhau.
Con người cười cợt ngạo nghễ có thể là người “yếu” hơn bất cứ ai khác. Năm chàng tráng sĩ họp nhau bàn chuyện lớn suốt đêm, quất ngã la liệt nhiều chai rượu mạnh, để rồi mờ sáng hôm sau:
“Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới
Ta làm gì cho hết nửa đời sau?…”
Chàng Cù Lần bị giật cái túi nhỏ bí mật:
“Cù Lần dọa đêm nay đâm chết hết
Ôi ví dầu chú mở được tim anh
Chú cũng thấy một kho tàng thảm thiết
Với khăn tay nhàu nát chữ thêu xanh”.
Cái nghênh ngang bên ngoài chỉ đẹp vì cái “kho tàng thảm thiết” bên trong. Nếu không thế nó vô duyên biết mấy.
Kho tàng của Cao Tần chưa mở hết — thời gian xuất hiện trên thi đàn của Cao Tần còn quá ngắn đối với một đời văn thơ — tuy nhiên chúng ta đã bắt gặp bao nhiêu cái thảm thiết: hoặc những nhớ nhung hướng về từng chiếc ghế công viên, từng cái tháp chuông nhà thờ, từng viên gạch vỡ ở góc vườn quê xưa, vì:
“Dưới ghế công viên anh giấu thời thơ dại
Trên tháp nhà thờ anh giấu niềm tin
Trong vườn cũ anh giấu thời hạnh phúc
Nơi nụ cười em anh giấu trái tim”.
hoặc những thắc mắc vẩn vơ: Ở cái xứ sở muôn trùng xa cách, ở nơi thành phố mình đã rời bỏ ra đi không hẹn ngày về buổi sáng hôm nay những ai đang bước đi trên con đường quen thuộc trước nhà mình? trưa nay ai ngồi trên ngọn đồi thở mùi gió thông mà mình nhớ quay quắt? và:
“Chú nào ngồi trước hiên nhà ta chiều nay
Nghe mưa Sài Gòn rạt rào thơm mát
Sau một ngày nắng lóa chín tầng mây
Những mái tôn mưa cười ran hạnh phúc?”
Trong thơ Cao Tần có cả cái cao ngạo của tráng sĩ lẫn cái yếu đuối vô vàn của chàng Cù Lần. Và đó cũng là hai khía cạnh của mỗi một tâm hồn di tản tha hương. “Cảm” nhau vì thế.
Ôi, mối cảm thông thảm thiết giữa những tráng sĩ… Cù Lần.
Trường hợp thơ Cao Tần gợi lên một vấn đề: khả năng sáng tác của người di dân lưu lạc.
Đầu tháng tư năm ngoái tạp chí Newsweek có bài kiểm điểm về cái thế giới thầm lặng của di dân: từ 1972 đến nay, nhà cầm quyền Xô-viết đã cưỡng bức tống xuất “gần trọn một thế hệ những văn nghệ sĩ xuất sắc nhất của nước Nga”, thực hiện “cuộc thanh trừng văn học lớn lao nhất kể từ thời Staline”, và những văn nghệ sĩ nọ đã mất sức sáng tạo khi ra khỏi nước.
Thi sĩ Alekxandr Galich kêu rằng ở Paris họ mất ngôn ngữ và tất cả xung quanh đều câm nín, họ sống giữa một thế giới câm. Phong phú như Alekxandr Solzenitsyn, tiếng rằng tiếp tục viết hăng vẫn không thấy cho in được gì đáng kể sau 1974. Vladimir Maximov vừa xuất bản tờ tạp chí của di dân Nga vừa bảo “bây giờ chuyện làm người quan trọng hơn làm nhà văn”.
Jerry Kosinski, nhà văn Ba-lan di cư thành công bằng các tác phẩm Anh ngữ, đã mỉa mai các đồng nghiệp Nga nọ: Thay vì viết lách, họ ngồi trong các quán cà-phê Pháp mà nói tiếng Nga, bàn chuyện giải phóng cố quốc. Thoát ra khỏi một ngục tù, họ lại tự giam mình vào một ngục tù khác, cái ngục từ của thứ ngôn ngữ và văn hóa riêng biệt của họ.
Chúng ta lo lắng: Thế giới Tây phương quanh mình đối với chúng ta càng câm lặng hơn là đối với các văn nghệ sĩ Nga. Có phải do đó mà thắc mắc: “Cao Tần là ai?”
Câu hỏi ấy chứng tỏ người ta không tin cuộc sống di cư có thể là khung cảnh xuất hiện một tài năng mới…
Trong lúc chúng ta đang suy nghĩ về một sự may mắn xảy đến trong sinh hoạt văn nghệ ly hương của người Việt Nam thì thi sĩ Minoru Fujita từ Los Angeles bay về Đông Kinh để đọc trước Nhật hoàng bài đoản ca của ông trong dịp đầu năm.
Đó là một tục lệ đã có từ lâu đời: hàng năm nước Nhật chọn lấy mười bài hay nhất trong số những đoản ca được viết ra khắp trong và ngoài nước; Tết đến trong một buổi lễ long trọng các tác giả được mời vào hoàng cung tự mình ngâm thơ trước mặt vua.
Minoru Fujita là thi sĩ hết sức hiếm hoi thành công ở hải ngoại. Người thi sĩ ấy lại đoạt được cái vinh dự này những hai lần: một lần vào năm 1971, lần nữa năm 1977.
Fujita xa quê hương từ 1953, tức đã một phần tư thế kỷ. Ngày ấy ông chưa từng làm thơ. Tại sao cái năng khiếu đối với loại thơ cổ điển có một lịch sử xưa hàng nghìn năm lại bỗng dưng nẩy sinh rồi phát triển rực rỡ nơi người cựu thủy thủ sống trong hoàn cảnh tha hương? Cuộc sống vẫn dành quyền thỉnh thoảng tung ra một chuyện lạ thường, khó hiểu.
Fujita khiến Cao Tần không đến nỗi kỳ quái; nhưng liệu có khiến nổi những người cầm bút lưu vong của Việt Nam trở nên lạc quan?
Nghĩ ngợi về trường hợp Fujita, một ký giả của tờ Los Angeles Times đã tìm gặp một bài đoản ca Nhật mà ông ta dịch:
“I no longer know
What they are saying
In my native land,
But I know the flowers
Smell the same.”
Một người lưu lạc lâu năm, biết rằng quê hương đã trải qua nhiều biến đổi, biết mình đã xa lạc các vấn đề của xã hội cũ đến nỗi không còn biết nơi cố quốc đồng bào đang suy nghĩ về những gì, đang nói năng những gì nữa. Dù sao người ấy còn thấy có điều an ủi là ở nơi đó hoa xưa vẫn tỏa mùi hương cũ: cái ấy thì muôn đời không thay đổi.
Thời gian Cao Tần xa nước chỉ bằng một phần mười thời gian của Fujita. Thế nhưng sự cách biệt giữa Việt Nam hiện nay với Cao Tần, với chúng ta, lớn lao hơn nhiều: chẳng những bộ mặt xã hội đổi khác, mà tâm lý con người, mà tư tưởng, ngôn ngữ ở nước ta cũng đổi khác. Thật vậy, cái tiếng nói mới do cách mạng đưa vào Sài Gòn gần đây khác trước nhiều chứ.
“Quê xưa người đổi tiếng người
Trước sau hoa vẫn một mùi hoa thơm”
Và thế là ông Fujita cứ yên trí làm thơ, và làm thơ hay, và thơ ông được tán thưởng cả trong nước lẫn ngoài nước.
Cao Tần không có được hoàn cảnh ấy. Người cầm bút Việt Nam lưu vong không có được hoàn cảnh ấy. Hoa quê hương vẫn thơm một mùi, nhưng ngửi hoa bây giờ phải có lập trường, một lập trường ngửi hoa mới lạ. Bị bức tường lập trường ngăn cách hoàn toàn đường giao tiếp với quê hương, Cao Tần vừa làm thơ vừa kêu hoảng:
“Tiếng Việt trong ta ngày mỗi héo
Hồn Việt trong ta ngày mỗi khô”.
Dù đang thành công Cao Tần không lạc quan nổi, không hề lạc quan chút nào; tuy vậy thơ Cao Tần nhất thời cũng tránh cho chúng ta một cảnh trạng rất đáng bi quan. Bởi vì làm thơ trong cảnh sợ… hết tiếng hết chữ, chuyện đã đáng thương; nhưng đáng thương hơn có lẽ là khi một tập thể di dân đông đảo và buồn thảm như chúng ta mà không có được một tiếng thơ nói lên cái cảnh ngộ của mình.
Võ Phiến
Tiếc Thương
Không nhận ra người nữa
Đầu người vỡ tan rồi
Toàn thân đầy vết đạn
Ôi tượng hình tả tơi
Súng trận không còn đó
Nón sắt vương nơi nào
Bệ ngồi trơ sương gió
Người ơi người về đâu?
Tôi vịn vào pho tượng
Tượng trách non sông mình
Rằng sao tàn lửa khói
Hận thù vẫn sục sôi?
Linh hồn tôi rơi lệ
Chạnh nhớ xưa nơi này
Bao người vì quê hương
Chết trong mộ tiếc thương
Viên đạn ai thù oán
Bắn nát pho tượng này
Để giờ lật trang sử
Run mười đầu ngón tay
Viên đạn ai thù oán
Bắn nát pho tượng này
Để giờ lật trang sử
Run mười đầu ngón tay…
Cao Tần
Tiếc Thương — thơ Cao Tần, nhạc Anh Bằng
Trình bày Như Quỳnh & Lâm Nhật Tiến
Đại Họa Mất Nước
Video Đại Họa Mất Nước
Văn Tế Tử Sĩ Hoàng Sa—Lữ Tuấn

Trấn giữ Phương Nam, oai hùng dòng giống Việt
Dựng bờ Đông Hải, vinh quang đất nước ta.
Trai gái trải nhiều đời chung vai bảo vệ giang sơn khi anh dũng—đối đầu cơn sóng gió,
Già trẻ từng lắm phen giang tay giữ gìn đất nước lúc kiên trì—chống đỡ cuộc phong ba.
Đem quyết tâm mà ngăn cường tặc
Lấy chính nghĩă để chống gian tà.
Từ ngày dựng nước Văn Lang, trải qua trăm trận chiến hào hùng, vùng Đông Á an cư một giống dòng dũng cảm,
Tiếp nối khí hùng Âu Lạc, áp đảo nhiều cơn phong ba hung ác, đất Nam Việt sáng danh trang lịch sử chói lòa.
Ngày 19 tháng 1 năm 1974:
Lũ giặc hung hăng xâm lấn, lãnh hải Việt bàng hoàng cơn khói lửa,
Quân ta anh dũng phản công, khung trời Đông u ám cảnh can qua.
Khi có giặc xâm lăng đất nước, quân đội mạnh bước chân xung trận—giữ gìn bờ cõi
Lúc kẻ thù đe dọa quê hương, Hải Quân vững tay lái tiên phong—bảo vệ sơn hà.
Gục ngã trên lớp sóng biển ngang tàng, chìm sâu xương máu
Trôi nổi với ngọn thủy triều vô tận, tan nát thịt da.
Thân Biệt Hải đã ghi dấu Cam Tuyền, Duy Mộng,
Hồn thủy binh còn vấn vương Vĩnh Lạc, Quang Hòa.
Máu anh hùng đỏ rực nhuộm thắm dẫy san hô Bạch Quỷ
Cờ quyết chiến vàng tươi rạng rỡ bãi cát nóng Hoàng Sa.
Tất cả năm chiến hạm Việt Nam luôn kiên trì chiến đấu—hiên ngang về đáy biển Hạm Phó Nguyễn Thành Trí.
Hơn bẩy chục chiến sĩ Hải Quân đã vinh quang gục ngã—anh dũng chết theo tầu Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà.
Đời đời ghi công ơn to lớn của các tử sĩ, coi thường—ác tâm của giặc nước, luôn kiên trì bám tầu chiến đấu,
Mãi mãi nhớ thành tích vẻ vang của toàn hải đội, bất chấp—lửa đạn của quân thù, vẫn hiên ngang cưỡi sóng xông pha.
Toàn dân tưởng niệm các lịệt sĩ với vạn lời xưng tụng
Tổ Quốc tri ân những anh hùng bằng trăm khúc hoan ca.
Gìn giữ một ngàn dặm non sông gấm vóc, là nhiệm vụ thiêng liêng—của con cháu
Xây dựng bốn ngàn năm lịch sử, ấy công lao vĩ đại—của ông cha.
Nay chúng tôi:
Nguyện noi theo tấm gương quả cảm uy linh giữa biển trời—vô tận,
Xin chứng giám một mối thành tâm tưởng niệm trong hương khói—nhạt nhòa.
Lữ Tuấn
***
Đây là một bài phú độc vận để dùng như Văn tế các Chiến sĩ Hoàng Sa. Phú độc vận rât khó viết vì bị bắt buộc chỉ theo một vần, trong bài văn tế Chiến Sĩ Hoàng Sa thì đó là vần “Sa.” Cứ mỗi hai câu lại làm thành hai câu đối nhau, đối từng chữ, từng vần, từng nghĩa. Thời xưa các cụ thường viết phú liên vận là lối viết chừng năm ba cặp hai câu lại đổi vần, để dễ viết.
Thời nay không còn ai viết phú nữa. Nhưng nếu văn tế thì nên viết theo thể phú mới đúng truyền thống. Thời trước 1975 chi có hai người viết phú thường xuyên trên báo Diều Hâu là Thầy Khóa Tư và Lữ Tuấn (bút hiệu của Cựu SVSQ Nguyễn Công Luận, khoá 12 Trường VBQG.)
Ô Nhục Ải Nam Quan — Chân Mây
Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam!
Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn.
Hãy tiếp tục nhìn những gì mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại!
Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không còn ngày phải tôn thờ hỉnh Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm buồn. Rất buồn!
Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là mãi mãi!
Chương I : NHỮNG HÌNH ẢNH LỊCH SỬ
Trong chương này, việc sắp đặt hình ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà phân chia thành các nhóm hình theo ký tự A,B,C…Để sự diễn tả rõ ràng hơn, những hình ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng hình ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.
– Nhóm A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến A4)
– Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4)
– Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4)
– Nhóm D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2)
– Nhóm E: không xác định (E1 đến E3)
– Nhóm F: hình quân sự và bản đồ (đánh số F1 đến F6)
– Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất định sẽ đưa trực tiếp vào nơi hình cần thêm minh họa.
Diễn tả :
1. Nhóm hình A :
Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn thủy về hình ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc). Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)
A1. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (1) :
Còn gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (Họa đồ bố trí phòng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Trung Quốc. Địa hình đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung):

A2. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (2) :
Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nhìn từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo hình B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dãy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dãy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1):

A3. “Trấn Nam Quan Đại Chiến” :
Minh họa cảnh giao chiến giữa quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức họa không rõ nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam Quan của hình A2:

A4. “Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ” :
Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hãy quan sát vị trí cổng theo khung hướng dẫn trong hình:

2. Nhóm hình B :
Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.
B1. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng :
Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không còn qui mô như xưa.
Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên vì dựa theo hình phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm hình C):

Phụ ảnh:(B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.

B2. Ải Nam Quan nhìn từ hướng Đồng Đăng :
Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới hình là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo hình F1 sẽ thấy rõ vị trí lô cốt nhìn từ bên Trung Quốc):

B3. Bang giao tại Ải Nam Quan :
Quan sát các nhân vật trong hình, ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của hình có những người nhà Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan:

B4. Cổng Ải Nam Quan :
Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng. Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ còn dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung Quốc (nhóm hình C):

Phụ ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng

3. Nhóm hình C :
C1. Trấn Nam Quan (1) :
Nhìn từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đã khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đã mất, chỉ còn lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dãy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm hình chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa hình đồi núi :

C2. Trấn Nam Quan (2) :
Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với hình thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rõ bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự dòm ngó thẳng vào nhà mình từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đình làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên còn gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn còn tồn tại cho đến nay :

C3. Toàn cảnh Trấn Nam Quan :
Có một khu trại và hai dãy nhà mái lá cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của hình. “Trấn Nam Quan” là đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ còn là ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung trong hình dùng để xác định vị trí so với hình C4 :

C4. Trấn Nam Quan (3):
Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung Quốc. So sánh các khung vị trí với hình C3:
Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng:

Chữ “Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc gìn giữ, ổn định. “Trấn” còn là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Trung Quốc. Thì đây, “Trấn Nam Quan” đã xác định là những hình này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dãy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên bình. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngõ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đã thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp thì nhà Thanh đã chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm hình B.
4. Nhóm hình D :
D1. Cổng Nam Quan (1):
Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các nhóm hình trên. Có vẻ sơ sài vì đã mất hẳn phần kiến trúc phía trên trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đã mất). Theo sử liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 thì toàn bộ phần trên cổng đã bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo hình E2):

D2. Cổng Nam Quan (2):
Hình đăng trên tạp chí “National Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rõ niên đại. Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với hình ảnh của Ải Nam Quan. Tuy nhiên so sánh với hình D1, ta đã thấy kiến trúc cùng kiểu của hai hình. Tại đây, dãy tường thành chạy lên cao đến vách núi trắng tương ứng với hình C3-C4, có thể xác định là hình được chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam :

5. Nhóm hình E :
E1. Không xác định (1):
Một hình ngôi chùa trên đường đi Long Châu nơi có cổng giao thiệp với Việt Nam là Bình Nhi Quan. Cùng với Nam Quan và Bình Nhi Quan còn có Thủy Khẩu Quan là 3 cổng quan yếu để vào đất Việt Nam nên gọi chung là “Tam Quan”, có khi cổng Nam Quan còn gọi là riêng là “Tam Quan” do ở vị trí quan trọng hàng đầu so với hai cổng Bình Nhi-Thủy Khẩu. Nơi hình này có tiêu đề “Chine – NAM QUAN – Loc Hang Thiap”. Chưa rõ chữ “Loc Hang Thiap” là gì nhưng hình xác định là Nam Quan trên đất Trung Quốc, có phải là một ngôi chùa trong “Trấn Nam Quan” hay không? Hay là thuộc Trấn Bình Nhi Quan? :

E2. Không xác định (2):
Quân đội Trung Cộng đứng trên tường thành giương cờ trong cuộc chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch vào ngày 11.12.1949 tuyên bố giải phóng Quảng Tây. Thế tường thấp với cổng và trên mặt tường cổng có chữ “Trấn Nam Quan”:

Phụ ảnh: Hình chụp chính diện của Trấn Nam Quan trong ngày giải phóng Quảng Tây tháng 12.1949. Trên mặt tường cổng thành ta thấy rõ chữ “Trấn Nam Quan”. (phòng trưng bầy lịch sử Hữu Nghị Quan):

E3. Không xác định (3):
Quân đội Trung Cộng đứng trước cổng nhỏ có khắc chữ “Trấn Nam Quan”. Không rõ niên đại của hình. Chung với hình E2, có lẽ đây là “Trấn Nam Quan” mà tôi đã giải thích (mục 3, nhóm hình C):

6. Nhóm hình F :
F1. Toàn cảnh Ải Nam Quan :
Do trinh sát quân Nhật Bản chụp vào tháng 6 năm 1940 trước khi tiến hành “cuộc chiến 3 ngày” nhằm đạt mục đích đưa quân vào lãnh thổ Đông Dương. Hình được mô tả: “…thấy được đường xe lửa Lao Cai-Côn Minh. Lại có đường xe ô-tô từ Đồng Đăng lên tận Trấn Nam Quan. Bờ tường thành này bên trong là đất Trung Quốc, ngay bên ngoài là Bắc bộ Đông Dương”.
Từ cao điểm như trong hình ta thấy rõ vị trí lô cốt như đã xem qua hình B2. Có khả năng lô cốt đã xây dựng trên một nền kiến trúc cổ xưa của Việt Nam . Và còn “Suối Phi Khanh” nơi thấm lệ của Nguyễn Trãi, có ai nhận ra chưa?…Nước mắt!:

Phụ ảnh: Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng)
Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940):

F2. Cột Mốc Số 18 :
Do quân đội Nhật Bản chụp tháng 7 năm 1940 ngay tại tường thành Trấn Nam Quan. Cột mốc số 18 lịch sử xác định biên giới Trung-Việt vào năm 1887. Xác định lãnh thổ bảo hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và cũng là khởi điểm Nam tiến của quân đội Thiên Hoàng giao tranh với các nước Châu Âu.
Trên Cột mốc số 18 ta đọc được: “ Trung Việt Quốc Giới , Trấn Nam Quan Ngoại, Đệ Thập Bát Hiệu – No.18 – FRONTIERE ”

F3. Bản đồ vị trí Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 :
Do chính quyền Tưởng Giới Thạch họa vào năm Dân Quốc 13 (1925). Khu vực Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 (có đóng khung):

F4. Hữu Nghị Quan (tên gọi cổng Nam Quan do Trung Cộng đặt ra vào năm 1965):
Đây là một bằng chứng sống động nhất cho kết qủa “bác cháu ta cùng giữ nước” trong thời cộng sản cầm quyền tại Việt Nam. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng (tham gia chiến tranh biên giới Trung-Việt 1979) chụp vào năm 2005. Các vạch và khung đánh dẩu trên ảnh là của tác giả ảnh và được giải thích như sau :

“Hình trên là từ trên núi Kim Kê chụp xuống. Bên trái là Hữu Nghị Quan, vòng tròn màu vàng là cao điểm tranh chấp Trung-Việt, hiện thời do quân ta khống chế; Vùng màu xanh lá cây hình tam giác là khu vực gài địa lôi. Vạch dài màu tím là con đường sắt qua lại với Đồng Đăng. Vùng trắng giữa hình có hai cửa đường hầm là điểm cuối của cao tốc Nam Ninh đến Bằng Tường”.
Nguyên văn:
上图]这是在金鸡山上往下拍的。左侧是友谊关,黄圈部分为中越有争议的高地,目前为我军控制;草绿色的三角为雷区 ,蓝线是通往同登的铁路。图片中间灰白处有两个遂道洞口为南宁至凭祥高速公路的终点站。
Tôi xin thuyết minh thêm : Núi Kim Kê là cao điểm chiến lược nằm ở cánh trái cổng Nam Quan, ngay vị trí chụp ảnh của tên cựu chiến binh này chính là đất Việt Nam. Khu vực tam giác trong hình chính là khu vực của cột cây số Km0 của Việt Nam là nơi mà vào đầu tháng 7.2007, phía Trung Cộng đã tuyên bố hoàn tất gỡ bỏ tấm đạn địa lôi (mìn) cuối cùng, bảo đảm thông thương an toàn cho “vùng Hữu Nghị, Hòa bình vạn tuế!”. Trong các hình ảnh của chương tiếp theo ta sẽ rõ hơn về vị trí này. Ở đây ta đã có khái niệm về việc Ải Nam Quan đã mất trong cự ly ra sao! Việc mất lãnh thổ qủa là nghiêm trọng! không phải là 100m, 150m, hoặc 200m. Cự ly trong hình có thể tính bằng Km! Hai lỗ đen gần giữa tâm hình là đường ra vào của cao tốc Nam-Hữu (Nam Ninh-Hữu Nghị Quan với chiều dài 179.2 Km. Nam Hữu khởi công vào ngày 28.04.2003 và chính thức khai thông vào ngày 28.12.2005, cũng là đường quốc lộ số 322 của Trung Cộng với điểm tận cùng giáp với Km0 của QL1 Việt Nam. Một âm mưu mới hơn đang hình thành!).
Như ta thấy, cả một vùng đồi núi của Việt Nam đã bị Trung Cộng ngang nhiên san bằng và xây dựng công trình trong nhiều năm, vẫn không hề có một chút phản ứng nào của bọn cầm quyền CSVN. Hay nói đúng hơn là đã có một sự thỏa thuận nhượng Ải Nam Quan từ hàng chục năm trước?
F5. Ảnh chụp vệ tinh vị trí của Hữu Nghị Quan :
Khu vực Hữu Nghị Quan ( đóng khung ) so với đường biên giới Trung – Việt màu vàng. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng thiết kế để mô tả lại chiến trận biên giới Trung – việt năm 1979 . Lúc này , Hữu Nghị Quan đã nằm sâu trong đất Trung Cộng từ đời … Hồ Chí Minh !:

” Con đê đầu khấn lạy Chư Phật mười phương…”
Ải Nam Quan đã mất, Đất thiêng đã mất! Có ai còn nhớ Phi Khanh-Nguyễn Trãi?
—————–
Chương II :“ Kẻ Bán Ải Nam Quan và Km Zéro ô nhục !”
Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi vào VN làm nhiệm vụ :

Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN :

Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn: “Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!”. Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC :

Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN :

Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN . Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN :

Huy chương “Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ” do chính HCM ký tặng :

Hoặc do PVĐ ban thưởng :

Năm 1968, hai bác Hồ – Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam VN :

” Nam man ! Ta cho ngươi cơm ăn , áo mặc , ta cho ngươi súng đạn , nhưng chính ngươi đã lấy súng đạn bắn vào da thịt ta !”( người anh em đồng chí TC nói !):

Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978 :

Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đã xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng biên giới tìm kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đã đẩy lui lãnh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hàng trăm thước.
Dấu đạn giao tranh Trung – Việt trên khắp tường thành ” Hữu Nghị Quan “:

Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến thắng :

Ngày 28.05.1980 , Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại ” Km 0 ” trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu vực Hữu Nghị Quan :

Phụ ảnh tham khảo “Cột Mốc Số 18” giả mạo (?) :
Đây là “Cột Mốc Số 18” mà TC cho rằng đã đặt tại cổng Nam Quan. Khác với “Cột Mốc Số 18” theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đã trình bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng: “BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam”. Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN ký kết Hiệp ước Biên giới với chính quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đã tiêu biến nơi đâu ? Không ai biết rõ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói gì không về hiện tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm 1940 đã chủ trương một cách mù quáng: “Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN ký kết với quốc gia khác !”

Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đã trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đã ký văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt thì Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng thì làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lãnh hải được. Còn cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hãy xem hình (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).
Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm rì, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm thước nào cả. Nó đã nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt :

” Km 0 ” trong những năm 1990. Biên phòng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía VN . Đáng nể !:

” Km 0 ” trong những năm đầu 2000 , khi đang xây dựng lại cảnh quan ” Hữu Nghị ” và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột còn ghi “Hữu Nghị Quan ” và ” cây si PVĐ ” còn đó :

” Cây si PVĐ ” bị đốn bỏ dã man vào năm 2005 . Cột mốc cũng chỉ còn chữ “Hữu Nghị “. Đảng CSVN không dám nhận thêm chữ ” Quan “. Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa lòng đàn anh TC !:

” Km 0 ” của VN trơ trọi so sánh với bia đá ” Nam Cương Quốc Môn ” của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan !:

” Km 0 ” trong những ngày năm 2006 :

Gần lại một chút . Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan TC:

Nhìn sang bên phải để thấy rõ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam – Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan TC :

Ngang với ” Km 0 ” là giao điểm Quốc lộ 322 ( điểm cuối ) của Trung cộng và Quốc lộ 1A ( điểm khởi đầu ) của VN !:

” Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm “:

Nhìn sang Việt Nam . Đi thêm khoảng 100m nữa mới tới Cổng kiểm soát của Hải quan Việt Nam . Khoảng cách ” thủ lễ ” đã xuống dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản . Không còn nằm trước mặt cổng Nam Quan như ngày xa xưa . Đúng vậy ! Ải Nam Quan nào là của VN ? Bọn Ô nhục !:

Hàng trăm thước đất của Ải Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt Nam , nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận… Đất biển tổ tiên mất qúa dễ dàng ! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung Cộng , công nhận lãnh thổ bắt đầu từ cột “ Km 0 ”. Đảng CSVN đã chà đạp lên hồn thiêng sông núi , thay ngọai bang thảm sát dân tộc , giết chết lịch sử quê hương !
——————————
Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này còn “bản lĩnh” đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!

Ngày 28.12.2005 , cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam :

Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp hình ngay tại giao giới biên cảnh Trung – Việt . Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng CSVN . Những khuôn mặt muộn phiền , ngơ ngác :

Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù lòa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng !
Còn người Việt Nam ? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không ? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố vì tấm hình ôm cột mốc Trung-Viêt . Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ còn nằm trong Chí Hòa . Và tôi cũng từng bị biên phòng VN hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh ” Hữu Nghị “!:

Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại , nhàn nhã như ở nhà . Chụp hình ư ? Chuyện nhỏ ! Đố tên biên phòng VN nào dám làm khó dễ !:

Bước một bước là qua đến VN ! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km 0 Ô nhục !:

Đứng hai chân trên biên giới !:

Chụp các kiểu !:

Và ngồi lên ” Km 0 ” của bọn Nam man ! Chúng ta là chủ nhân của lãnh thổ Việt Nam !:

Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 ( tháng 04.2007 ):

Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ , hoành tráng . Từng đợt học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về lòng yêu nước !:

Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung – Việt hành hương :

Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này . Việc đòi hỏi Trung Cộng trả lại vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng ! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước !
” Tổ Quốc Tại Ngã Tâm Trung ” ( Tổ quốc trong tim ta ):

Tháng 11 năm 2007 , kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây . Có cả đại biểu VN tham dự , ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gì ? Hay là họ vẫn cười ?:


Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung – Việt . Bản đồ Việt Nam đã nối vào khu tự trị Quảng Tây !:

Phi Khanh hỡi! Người còn ngồi nói những lời xưa?
“Con yêu hỡi chớ xuôi lòng mềm yếu!…”
Chân Mây




























