Trang chủ » Văn Học – Nghệ Thuật (Trang 8)
Category Archives: Văn Học – Nghệ Thuật
Văn Tế Tử Sĩ Hoàng Sa—Lữ Tuấn

Trấn giữ Phương Nam, oai hùng dòng giống Việt
Dựng bờ Đông Hải, vinh quang đất nước ta.
Trai gái trải nhiều đời chung vai bảo vệ giang sơn khi anh dũng—đối đầu cơn sóng gió,
Già trẻ từng lắm phen giang tay giữ gìn đất nước lúc kiên trì—chống đỡ cuộc phong ba.
Đem quyết tâm mà ngăn cường tặc
Lấy chính nghĩă để chống gian tà.
Từ ngày dựng nước Văn Lang, trải qua trăm trận chiến hào hùng, vùng Đông Á an cư một giống dòng dũng cảm,
Tiếp nối khí hùng Âu Lạc, áp đảo nhiều cơn phong ba hung ác, đất Nam Việt sáng danh trang lịch sử chói lòa.
Ngày 19 tháng 1 năm 1974:
Lũ giặc hung hăng xâm lấn, lãnh hải Việt bàng hoàng cơn khói lửa,
Quân ta anh dũng phản công, khung trời Đông u ám cảnh can qua.
Khi có giặc xâm lăng đất nước, quân đội mạnh bước chân xung trận—giữ gìn bờ cõi
Lúc kẻ thù đe dọa quê hương, Hải Quân vững tay lái tiên phong—bảo vệ sơn hà.
Gục ngã trên lớp sóng biển ngang tàng, chìm sâu xương máu
Trôi nổi với ngọn thủy triều vô tận, tan nát thịt da.
Thân Biệt Hải đã ghi dấu Cam Tuyền, Duy Mộng,
Hồn thủy binh còn vấn vương Vĩnh Lạc, Quang Hòa.
Máu anh hùng đỏ rực nhuộm thắm dẫy san hô Bạch Quỷ
Cờ quyết chiến vàng tươi rạng rỡ bãi cát nóng Hoàng Sa.
Tất cả năm chiến hạm Việt Nam luôn kiên trì chiến đấu—hiên ngang về đáy biển Hạm Phó Nguyễn Thành Trí.
Hơn bẩy chục chiến sĩ Hải Quân đã vinh quang gục ngã—anh dũng chết theo tầu Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà.
Đời đời ghi công ơn to lớn của các tử sĩ, coi thường—ác tâm của giặc nước, luôn kiên trì bám tầu chiến đấu,
Mãi mãi nhớ thành tích vẻ vang của toàn hải đội, bất chấp—lửa đạn của quân thù, vẫn hiên ngang cưỡi sóng xông pha.
Toàn dân tưởng niệm các lịệt sĩ với vạn lời xưng tụng
Tổ Quốc tri ân những anh hùng bằng trăm khúc hoan ca.
Gìn giữ một ngàn dặm non sông gấm vóc, là nhiệm vụ thiêng liêng—của con cháu
Xây dựng bốn ngàn năm lịch sử, ấy công lao vĩ đại—của ông cha.
Nay chúng tôi:
Nguyện noi theo tấm gương quả cảm uy linh giữa biển trời—vô tận,
Xin chứng giám một mối thành tâm tưởng niệm trong hương khói—nhạt nhòa.
Lữ Tuấn
***
Đây là một bài phú độc vận để dùng như Văn tế các Chiến sĩ Hoàng Sa. Phú độc vận rât khó viết vì bị bắt buộc chỉ theo một vần, trong bài văn tế Chiến Sĩ Hoàng Sa thì đó là vần “Sa.” Cứ mỗi hai câu lại làm thành hai câu đối nhau, đối từng chữ, từng vần, từng nghĩa. Thời xưa các cụ thường viết phú liên vận là lối viết chừng năm ba cặp hai câu lại đổi vần, để dễ viết.
Thời nay không còn ai viết phú nữa. Nhưng nếu văn tế thì nên viết theo thể phú mới đúng truyền thống. Thời trước 1975 chi có hai người viết phú thường xuyên trên báo Diều Hâu là Thầy Khóa Tư và Lữ Tuấn (bút hiệu của Cựu SVSQ Nguyễn Công Luận, khoá 12 Trường VBQG.)
Dấu Hỏi (?) & Dấu Ngã (~)
Cao Chánh Cương K15
Chúng tôi xin đơn cử một vài trường hợp như sau : Danh từ nhân sĩ, chữ sĩ phải được viết bằng dấu ngã để mô tả một vị chính khách có kiến thức văn hóa chính tri… , nhưng nếu vô tình chúng ta viết nhân sỉ, chữ sỉ với dấu hỏi thì ý nghĩa của danh từ nhân sĩ sẽ bị đảo ngược lại, vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn.
Thí dụ: vui vẻ, chữ vui có nghĩa mà chữ vẻ lại không nghĩa, chữ mạnh mẽ, chữ mạnh có nghĩa nhưng chữ mẽ lại không hề mang một ý nghĩa nào hết, hoặc chữ lặng lẽ, vẻ vang…
1. Trạng từ (adverb)
Nói Về 2 Tác Phẩm “Tiếc Thương” Và “Vá Cờ”
Nguyễn Ngọc Hạnh—Nhiếp Ảnh Gia Quân Đội
TIẾC THƯƠNG
… Khoảng năm 1965, Việt Cộng tấn công vào một đồn lính ở Củ Chi, ngoại thành Sài Gòn. Chúng tôi đến giải vây. Khi Việt Cộng rút đi, họ để lại 6 xác chết không đầu của những người Nhân Dân Tự Vệ. Chúng tôi đến chỗ để xác thì thấy một cô gái khóc lóc thảm thương, đang lần mò tìm xác chồng. Tôi giúp cô tìm thẻ bài để nhận diện, sau đó cho cuốn xác tất cả lại đem về. Hôm sau tôi đến nhà cô gái mong có thể chụp một tấm hình của cô nhưng cô vẫn khóc lóc thảm thương quá nên không thực hiện được. Khi về dưỡng quân ở rừng cao su Ngã Ba Ông Tạ, tôi nhờ con gái tôi, lúc đó 11 tuổi tìm giúp một người bạn gái nào đó có một hoàn cảnh tương tự như cô gái ở Củ Chi để dựng tấm hình ‘Tiếc thương’. Cô Tâm là người con gái mà con tôi tìm được. Hiện nay cô đang sống tại thành phố Oklahoma. Lúc đó cô mới 19 tuổi, ý trung nhân của cô trong một chuyến bay nhảy toán ngoài Bắc bị Bắc Việt bắn rơi máy bay và bị bắt làm tù binh. Tôi đến gặp gia đình cô và xin phép được mời cô đi chụp hình với tôi. Gia đình cô đồng ý. Chỗ chụp hình là một quán bia ở xa lộ Biên Hòa. Tôi nhờ một anh bạn biết thổi sáo và nói anh ta ngồi phòng bên cạnh chơi những bản nhạc chiêu hồn như chương trình đài Saigon. Con tôi cũng ở đó, đọc những lá thư của ý trung nhân cô Tâm viết cho cô. Tôi chải tóc cho cô như trong hình, đưa tấm thẻ bài cho cô cầm, tấm thẻ bài này tôi mua chợ đen, một tấm thẻ bài được làm từ thời Pháp. Trong không khí u buồn, và bị tác động bởi tiếng sáo não lòng cùng với những lời lẽ trong bức thư của ý trung nhân, cô ta khóc nấc lên. Những giọt nước mắt lăn trên má, rớt xuống tay là những giọt nước mắt thật. Hai giọt nước mắt trên tấm thẻ bài là do tôi tạo ra. Chụp được 6 tấm thì cô tỉnh lại, không khóc nữa. Ðây là tấm hình lúc cao điểm nhất khi cô ấy nấc lên…
VÁ CỜ
…Tôi quen với anh chị Hải Bằng, chị bằng lòng làm người mẫu cho tôi chụp bức hình ‘Vá cờ’ này. Tôi mua một cái nón sắt ở chợ trời, mượn cây súng trường của anh bạn Bùi Ðức Lạc là cả một chuyện khó khăn. Tôi dùng hai thứ đó làm hậu cảnh. Lá cờ được tôi đốt lỗ chỗ để chị ấy vá. Chị cứ ngồi vá cờ và tôi cứ chụp. Ðến động tác như trong hình thì tôi nói chị giữ nguyên động tác đó, tôi mở hé cửa sổ chỉ cho một phần ánh sáng rọi vào lá cờ, rọi vào nón sắt. Tuyệt vời. Bức hình chỉ có một ý nghĩa duy nhất: Chúng ta hãy vá lại những mảnh đời, những mảnh tình, những đơn vị chia rẽ, vá lại tình đoàn kết…
Nguyễn Ngọc Hạnh
Ngày 30/4 – Tâm Sự Một Tướng Lãnh Việt Nam Cộng Hòa—Hoài Hương | VOA

Tướng Lâm Quang Thi—Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam đang duyệt qua hàng ngũ các Sinh Viên Sĩ Quan
Tiếp tục loạt bài xoay quanh ngày 30 tháng Tư, câu chuyện Việt Nam do Hoài Hương phụ trách tuần này xin gửi đến quý vị quan điểm của một cựu tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa về chiến tranh Việt Nam. Trung Tướng Lâm Quang Thi, cựu Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, cựu Tư Lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh và Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân Đoàn 1 tại Huế, chia sẻ những ký ức và cảm xúc của ông trên chuyến tàu định mệnh, đã đưa ông ra khỏi quê hương vào đúng ngày 30 tháng Tư năm 1975. Tướng Lâm Quang Thi là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam. Ban Việt ngữ-VOA tiếp xúc với Tướng Lâm Quang Thi, vài ngày trước lễ mừng sinh nhật thứ 80 của ông.
VOA: Thưa trước hết xin Trung Tướng cho biết ông có suy nghĩ gì về ngày 30 tháng Tư, 37 năm sau khi Sài Gòn thất thủ?
Tướng Lâm Quang Thi: “Mỗi lần 30 tháng Tư tới thì tôi lại vừa buồn vừa tức giận. Buồn vì bao nhiêu đồng bào mình phải bỏ nước ra đi, một số chết trên biển cả, và một số anh em chiến hữu của tôi thì bị Cộng sản bắt, tra tấn, đày đọa trong các trại tù ở Bắc Việt. Và tôi tức giận là bởi vì, đồng minh của mình bỏ rơi mình trong những giờ phút đen tối nhất của lịch sử nước nhà.”
VOA: Thưa, như Trung Tướng nói, biết bao thảm họa đã xảy đến cho quân và dân miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư, thì trong tư cách một tướng lãnh, Trung Tướng có cảm thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn so với những người khác về những gì đã xảy ra?
Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi không phải là một chánh trị gia, nhưng với tư cách một tướng lãnh đã cầm quân, tôi thấy mình có phần nào trách nhiệm cũng như tất cả các tướng lãnh khác, các chỉ huy trưởng các đại đơn vị khác cũng phải có trách nhiệm phần nào về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.”
VOA: Thưa Trung tướng, là tác giả cuốn Autopsy: The Death of South Vietnam, phân tích sự cáo chung của miền Nam Việt Nam, xin Trung Tướng tóm tắt cho thính giả của đài chúng tôi một số nguyên do chính dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ Sàigòn?
Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi thấy rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam có 2 lý do chánh. Thứ nhất là người Mỹ họ không có một nhiệm vụ rõ ràng ấn định cho quân lực của họ, tức là cái “mission” không được định nghĩa rõ ràng. Theo tôi nghĩ, người Mỹ chỉ có 2 sự lựa chọn: thứ nhất là đi ra Bắc, tiêu diệt ý chí chiến đấu của Hà nội; hoặc là ở trong Nam thì phải có đủ kiên nhẫn để ủng hộ và yểm trợ một chánh phủ miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chiến đấu trường kỳ ở miền Nam. Nhưng mà tiếc thay, người Mỹ không có cái gan để đi ra Bắc, mà cũng không có sự kiên nhẫn để ở lại trong Nam. Đó là lý do thứ nhất. Thứ nhì là cơ quan truyền thông của Mỹ rất thiên vị, có thể nói là thiên tả, thành thử ra tất cả những gì xảy ra đều có thể bị bóp méo để chứng minh rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể nào thắng bởi vì quân đội Việt Nam chiến đấu kém và tham nhũng. Cái đó là tiền đề của truyền thông Mỹ, thành thử ra tất cả những sự kiện xảy ra mà đúng vào tiền đề đó thì họ dùng. Còn nếu không đúng thì họ có thể bóp méo để chứng minh tiền đề là chiến tranh Việt Nam không thể thắng được. Chẳng hạn như Tết Mậu Thân, Việt Cộng sát hại 5, 6 ngàn người dân vô tội ở Huế mà truyền thông Mỹ không nói tới. Trong lúc đó ông Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan ông ấy hành quyết một tên đặc công cộng sản thì nó đưa lên, được Giải Pulitzer đủ thứ trò, mà họ không nói rằng anh cộng sản đó đã tàn sát bao nhiêu gia đình cảnh sát của Tướng Loan ở Chợ Lớn.”
VOA: Thưa ông, ngoài vai trò của giới truyền thông phản chiến Mỹ, ngoài vai trò của người Mỹ mà Trung Tướng cho là không định nghĩa rõ ràng cái “mission”, thì thưa Trung Tướng, cái trách nhiệm của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nằm ở chỗ nào trong sự thất bại của miền Nam?
Tướng Lâm Quang Thi: “Thành thật mà nói rằng tất cả vấn đề viện trợ quân sự cũng như là tài chánh đều do người Mỹ cung cấp. Nếu họ rút tất cả những viện trợ đó thì chúng ta không còn khả năng để chiến đấu, chẳng hạn như trong trận chiến An Lộc năm 1972, không có quân đội Mỹ nào dưới đất mà mình chỉ có sự yểm trợ bằng không lực của Hoa Kỳ mà Sư Đoàn 5 Bộ Binh của chúng ta đã chiến đấu và đã chiến thắng 3 sư đoàn Bắc Việt. Tôi tin chắc rằng, nếu tiếp tục có được sự viện trợ hỏa lực của Mỹ thì quân lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ đánh bại những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt. Tới năm 1974-75 thì viện trợ Mỹ đã rút xuống chỉ còn 700 triệu đôla mà trong 700 triệu đôla đó, 400 triệu đôla được dùng để phát lương cho nhân viên tùy viên Quân Lực Hoa Kỳ -DAO (Deputy Attaché Office), mình còn có 300 triệu đôla để đánh giặc trong một năm. Thử so sánh, trong lúc đó, Do Thái trong trận Yom Kippur năm 1973, Do Thái nhận viện trợ được 2 tỉ mốt mỹ kim để đánh giặc trong 3 tuần lễ! Thành thử ra lúc đó miền Nam đạn dược, súng trường đều thiếu thốn, lựu đạn cũng thiếu nữa, thì làm sao mà đánh giặc được! Mình không có cách nào có thể đương đầu được với một quân đội Bắc Việt được Nga Sô và Trung Cộng viện trợ ào ạt từ năm 1974 tới 1975.”
VOA: Vậy giới lãnh đạo chính trị của miền Nam có lệ thuộc quá đáng vào viện trợ Mỹ mà không tự lực cánh sinh được?
Tướng Lâm Quang Thi: “Tự lực cánh sinh, theo tôi cũng khó khăn là bởi vì trong lúc cộng sản Hà Nội được sự viện trợ ào ạt của Nga Xô và Trung Cộng thì miền Nam Việt Nam chúng ta cần có một sự viện trợ của thế giới tự do mới có thể đương đầu được.”
VOA: Xin phép được hỏi một câu hơi có tính cách cá nhân. Thưa, được phong Tướng từ thời còn rất trẻ, cuộc đời của Trung Tướng gắn liền với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Trung Tướng có kỷ niệm nào muốn chia sẻ với Đài VOA về cuộc đời binh nghiệp của mình?
Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của tôi không phải là cầm quân mà thực sự tôi được chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Lúc bấy giờ chương trình huấn luyện tăng lên từ 2 năm tới 4 năm và tôi đã tranh đấu hết sức để các sĩ quan tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia được hưởng bằng cấp cử nhân Khoa Học Ứng dụng, tương đương với Trường Võ Bị West Point của Hoa Kỳ. Đó là cái niềm hãnh diện nhất của tôi trong cuộc đời binh nghiệp.”
VOA: Thưa Trung Tướng, Hoài Hương xin lỗi trước nếu câu hỏi này có gợi lại cho Trung Tướng những điều đau lòng, nhưng Hoài Hương có đọc một bài viết của Andrew Lâm kể lại cảnh Trung Tướng đã vất khẩu súng riêng trên chuyến tàu lúc bỏ nước ra đi, thành ra có lẽ nhiều độc giả cũng có thắc mắc như Hoài Hương, không biết lúc đó Trung Tướng nghĩ gì và có những cảm xúc như thế nào?
Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi rời Việt Nam ngày 30 tháng Tư trên chiếc tàu Hải Quân 2, và khi đoàn của Hải Quân Việt Nam đến Phi Luật Tân thì chính phủ Phi Luật Tân không muốn thấy một táu Hải Quân ngoại quốc tiến vào hải cảng của họ, cho nên Hải Quân Việt Nam phải chuyển tất cả tàu bè lại cho Mỹ, và các sĩ quan trên tàu cũng phải mặc thường phục, trong khi tất cả những vũ khí trên tàu phải bỏ hết, thành thử tôi cũng phải tuân theo điều lệ đó. Tôi bỏ khẩu súng lục của tôi xuống biển Thái Bình Dương. Tôi rất là, hết sức là đau lòng. Tới bây giờ mỗi lần nghĩ tới cái… cảnh đó, tôi vẫn còn thấy đau, nhất là khi mà quốc kỳ Việt Nam phải kéo xuống để kéo lá cờ Mỹ lên trước khi vào hải cảng Subic Bay của Phi Luật Tân. Thành ra cái đó là một cái kỷ niệm hết sức đau đớn đối với tôi, và tôi nghĩ cũng đau đớn đối với tất cả các tướng lãnh và các sĩ quan khác.”
VOA: Xin cám ơn Trung Tướng đã chia sẻ với thính giả của VOA những cảm xúc của mình lúc rời bỏ đất nước ra đi, thưa Trung Tướng, người tỵ nạn Việt Nam, dù lưu lạc tới nước nào cũng phải bắt đầu lại cuộc đời từ con số không, được biết Trung Tướng đã đi học lại để lấy bằng MBA ở Hoa Kỳ, vậy xin Trung Tướng kể lại những kinh nghiệm của ông trong thời gian đầu của cuộc đời tỵ nạn, và động lực nào đã thúc đẩy ông không ngừng phấn đấu?
Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi qua đây cũng nhờ hệ thống của Trường Võ Bị West Point bởi vì giữa Trường Võ Bị Việt Nam-Đà Lạt và Trường Võ Bị Hoa Kỳ-West Point có những liên hệ hết sức là gắn bó. Chính ông Chỉ huy trưởng Trường West Point, cũng là bạn của tôi ở Việt Nam, ông đã tìm cách để cho tôi có một địa vị xứng đáng trong hệ thống ngân hàng của nước Mỹ, và vì tôi có một địa vị tốt ở Mỹ, tôi phải đi học nên tôi tiếp tục học và lấy được bằng MBA. Tôi đã làm việc hết sức chăm chỉ và có thể nói là thành công trong cuộc đời của tôi bên Mỹ.”
VOA: Thưa Trung Tướng, vào tuổi này, ông có hoài bão gì cho tương lai?
Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi tin tưởng rằng thế nào cũng có ngày chúng ta có dịp trở lại thăm viếng một nước Việt Nam độc lập, tự do và không cộng sản. Đó là cái hoài bão cuối cùng của tôi và tôi tin chắc thế nào cũng thực hiện được.”
Thưa quý vị, vừa rồi là cuộc phỏng vấn với Trung Tướng Lâm Quang Thi, cựu Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Đà Lạt, từng là Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh ở Sa Đéc và Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân Đoàn 1 tại Huế. Tướng Lâm Quang Thi cư ngụ ở tiểu bang California và là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon và cuốn Hell in An Lộc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam, xuất bản hồi năm ngoái.
Hoài Hương
Lữ Đoàn 147: Từ một cuộc di tản chiến thuật 1975—Mũ Xanh Phạm Văn Tiền K20

LTG: Bài viết này xin dành tặng các chiến hữu TQLC, những người vì nhiều lý do đã không hiện diện tại mặt trận phía Bắc vùng đất trách nhiệm của SĐ/TQLC vào những ngày cuối cùng tháng 3 năm 1975 buồn thảm. Tôi kể lại những gì mắt thấy tai nghe về những đau thương, mất mát, cay đắng, nghiệt ngã của cuộc lui binh lịch sử ngoài khả năng hiểu biết của một người lính mà sự khổ đau, thua thiệt chịu đựng quá nhiều, còn niềm hy vọng sống còn chỉ là điều hiếm mọn ít oi.
Đầu tháng 3 năm 1975, CS Bắc Việt dốc toàn lực lượng tấn công hầu cưỡng chiếm toàn bộ miền Nam. Bình Long, An Lộc thất thủ. Thị xã Ban Mê Thuộc sau đó cũng bị bỏ ngõ hoàn toàn với sự rút quân ồ ạc như nước vỡ bờ của Quân Đoàn 2 về Nha Trang và nhiều nơi khác. Trong khi đó phòng tuyến phòng thủ phía Bắc do SĐ/TQLC đảm trách vẫn còn là một vùng đất yên tĩnh trong sự cẩn thận, dè dặt chờ đợi lẫn nhau. Sau sự phối hợp nhịp nhàng của 2 SĐ tổng trừ bị thiện chiến nhất là Nhảy Dù và TQLC, với thế đánh gọng kìm liên tục từ 2 phía Đông Tây, đã buộc địch phải tháo chạy với nhiều tổn thất nặng nề, bằng chiến thắng t1i chiếm Cổ Thành Quảng Trị ngày 14-9-72. SĐ Nhảy Dù được điều động về mật trận Đức Dục, Quảng Nam. SĐ/TQLC ở lại chịu trách nhiệm trên một tuyến khá rộng trải dài từ bờ biển Đông sang tận những mỏm núi tận cùng phía Tây thuộc dãi Trường Sơn, qua các vùng Mỹ Thủy, Long Quang, Bích La, Triệu Phong, Nam sông Thạch Hãn, Như Lệ, Tích Tường, La Vang, Động Ông Đô, Barbara, Anne, Cổ Bi, Hiền Sĩ, Thanh Tân, Lồ Ồ… Liên đoàn 911 và các đại đội biệt lập ĐPQ tiểu khu Quảng Trị được đặc dưới quyền điều động của BTL/SĐ/TQLC hành quân trong việc phòng thủ này. Mặc dù là đơn vị được giao nhiệm vụ phòng thủ, nhưng SĐ/TQLC vẫn luôn chứng tỏ khả năng cơ động tấn cộng tận sào huyệt địch, như cuộc đổ bộ vượt sông Thạch Hãn của TĐ6/TQLC vào tháng 10 năm 72, cuộc hành quân thần tốc tái chiếm cửa Việt tah1ng 1 năm 1973 trước giờ ngưng bắn có hiệu lực của hiệp định Paris và đạc biệt Lữ Đoàn 258 TQLC đã hạ một tàu vận tải lớn tiếp tế địch đang mon men ngoài khơi bờ biển Mỹ Thủy tháng 6 năm 1973. Ngược lại, địch quân chưa có lần nào dám liều lĩnh tấn công vào các đơn vị TQLC. Có chăng chỉ là những hành động phá hoại lén lút, đặc công, giật mìn lẻ tẻ trên các trục lộ giao thông tiếp tế. Phải nói rằng đây là phòng tuyến phòng thủ vững chắc nhất, thưà sức ngăn chận mọi cuộc xâm lăng từ phương Bắc xuống của CS Bắc Việt.
Do tình hình xáo trộn chung của đất nước và vì nhu cầu đòi hỏi cấp bách của chiến trường lúc này, bộ TTM – QLVNCH đã quyết định điều động phân lớn các lục lượng TQLC về Nam gồm các LĐ-258, LĐ-369 và LĐ-486 vừa mới được thành lập. LĐ-147 do Đại Tá Nguyễn Thế Lương chỉ huy gồm các Tiểu đoàn 3, 4, 5, TĐ Pháo binh, 2 đại đội Viễn Thám và Tiểu đoàn 7/TQLC thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm Tango do Đại Tá Tư Lệnh Phó trực tiếp chỉ huy đang nằm sẵn trên các tuyến. Thay vào lỗ hỏng to lớn trên là 2 Liên Đoàn BĐQ với trang bị quân số thiếu hụt. Đây là khởi điểm cho tất cả sự bỏ ngỏ sau này ở mật trận Bắc Quảng Trị. Mãi đến chiều tối ngày 7/3/1975, địch bắt đầu mở cuộc tấn công đầu tiên thật mãnh liệt vào một trung đội tiền đồn tại đồi 51 thuộc căn cứ Tư Tưởng, hướng Tây Quốc Lộ 1, cây số 23. Đơn vị này được chỉ huy bởi Trung Úy Sàng ĐĐP/ĐĐ1 tiểu đoàn 4 TQLC đã chiến đấu thật can cường, đẩy lui nhiều đợt xung phong biển người của địch. Lần liên lạc sau cùng qua máy PRC-25 vào lúc 4 giờ sáng, anh đã yêu cầu pháo binh chụp thẳng trên đầu mình vì vị trí bị địch tràn ngập. Anh đã tử thương sau đó trong cuộc cận chiến bằng lựu đạn với kẻ thù.

Sáng sớm ngày 9/3/75, Thiếu Tá Trần Ngọc Toàn TĐT/TĐ4/TQLC điều động toàn bộ lực lượng còn lại, nhờ có sự yểm trợ thật chính xác của các phi vụ A-37 thuộc không lực vùng I chiến thuật, ta đã hoàn toàn làm chủ tình hình. Xác địch nằm ngổn ngang trong các bãi mìn của hàng rào phòng thủ, một số đồng bọn khác đang lẩn tránh trong các bụi rậm bị ta bắt sống. Cũng cùng trong đêm đó, tại một nơi khác, tiểu đoàn 121/ĐPQ Tiểu Khu Quảng Trị đã tóm nguyên trung đội địch khi chúng tìm cách tiến về hướng quận Hương Điền. Ngày 22/3/75, đoàn xe tiếp tế cuối cùng của đơn vị rời hậu trạm Máng Cá Huế vào vùng hành quân. Chúng tôi được biết hầu hết dân chúng đã di tản vào Đà Nẵng và hậu trạm cũng được BTL/SĐ mang tất cả trang thiết bị về cửa biển Thuận An chờ lệnh. Tôi chỉ thị cho các đại đội thu gọn lại các trang bị và phải gấp rút di tản các thương bệnh binh đi theo chuyến tiếp tế này. Ngày 23/3/75 vào lúc 3 giờ chiều, sau khi đồng loạt pháo kích dữ dội vào tất cả các vị trí, địch từ thượng lưu sông Bồ, xung phong tấn công vào các tuyến của ĐĐ2/TĐ5/TQLC. Vì quá bất ngờ và thiếu cảnh giác nên 2 Trung đội tận cùng cánh trái của đại đội này bị bung tuyến. Tôi liên lạc với Đại-úy Trần Văn Loan ĐĐT hãy cố gắng gom con cái lại và chỉnh đốn đội hình, đồng thời báo cáo tình hình này về BCH Lữ-đoàn. Đại Tá LĐT ra lệnh là phải bằng bất cứ giá nào cũng phải chiếm lại vị trí vừa mất. Chấp nhận mọi hy sinh thiệt hại, ĐĐ4 của Đại-úy Nguyễn Văn Hai được tăng cường và đã hoàn tất nhiệm vụ vào lúc 6 giờ sáng ngày 24/3/75. Cũng trong thời gian này, hầu hết tất cả các đơn vị Biệt Động Quân, Địa Phương Quân tự động rã ngũ bỏ tuyến phòng thủ Bắc Quảng Trị kéo về Huế thật hỗn độn. Thị xã Quảng Trị coi như bị bỏ ngỏ hoàn toàn. Tiểu đoàn 4/TQLC được điều động về làm nút chặn tại phía Nam cầu An Lỗ. TĐ7/TQLC trấn dọc sông Mỹ Chánh từ cầu Viên Trình ra biển Đông, phòng tuyến cao nhất phiá Bắc của miền Nam.

Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, nhận được lệnh về tham dự cuộc họp khẩn cấp tại BCH/LĐ. Đại-tá Lương, LĐT cho chúng tôi biết rõ tình hình tổng quát và nhiệm vụ phải thi hành đêm nay là một cuộc di tản chiến thuật cho tất cả các lực lượng về cửa biển Thuận An, vùng đất từ Bắc đèo Hải Vân trở ra rồi sẽ lọt vào tay địch…Cũng như thành phố Quảng Trị bị vất bỏ một cách vô tội vào sáng hôm nay khi mới chỉ có một vài loại pháo kích lẻ tẻ đâu đó. Thế là hết, còn gì đâu hào quang chiến thắng “Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…” máu của hàng vạn đồng bào, máu của hàng vạn đồng bào, máu của chiến hữu nằm xuống cho vùng đất hồi sinh và ngay bây giờ, từ tối nay Huế cũng sẽ chịu chung số phận. Cố Đô đầy niềm kiêu hãnh tự hào dân tộc rồi sẽ bị nhuộm đỏ bởi lũ người khát máu CS. Hàng trăm nấm mồ chôn sống tập thể còn đó, máu xương mồ hôi nước mắt của bao chiến sĩ QLVNCH còn đây trong lời thề quyết tử bảo vệ cố đô Mậu Thân 1968. Còn đâu nữa những ngày tháng vàng son nhất của người lính chiến nơi tuyến đầu lửa đạn lúc nào cũng hùng dũng hiên ngang. Có nổi đau nào hơn niềm tủi nhục của người lính bại trận.

Việc cần thiết trước nhất là phải làm sao bảo đảm đuợc đơn vị rút lui một cách trọn vẹn, an toàn hầu đủ sức chịu đựng một cuộc dạ hành trên đoạn đường dài gần 30 km. Thiếu-tá Ngô Thành Hữu, Tiểu đoàn phó và Đại úy Gianh Văn Nhân, ban 3 đang chờ đợi tại BCH Tiều đoàn. Chúng tôi cùng đồng ý với nhau bằng một cuộc lui binh trong bí mật, bất ngờ. Tất cả vũ khí nặng, cồng kềnh như 90 ly, súng cối 81 ly, hỏa tiển TOW chống chiến xa, đạn dược và những trang bị nặng nề được lệnh phá hủy tại chỗ hay ném xuống dòng sông. Đại đội 1 của Đại úy Hồ Văn Chạnh đóng chốt từ xa được di chuyển trước, chúng tôi không xử dụng đoạn đường quen thuộc hàng ngày, phải băng qua một xóm nhỏ để đến cây số 17 cầu An Lỗ mà là dọc con đường sắt suôi Nam, rồi sau đó sẽ đổi hướng vế quốc lộ 1 khi các đại đội đã bám sát được với nhau. Đã có chừng cả trăm người lính đủ mọi binh chủng, không còn đơn vị đang tự tập vây quanh 4 chiến xa M48 nằm chơ vơ giữa lộ, nòng súng chĩa thẳng về hướng quân thù, bình thản cười nói vui vẻ như đang tham dự một cuộc dạ hành ngoài trời. Đến trường trung học Hương Trà nằm sát lề Đông quốc lộ, tiểu đoàn dừng lại để kiểm điểm quân số và củng cố lại đội hình. May mà trong tay chúng tôi còn 1 xe Jeep hành quân, cứ thế chạy lên, chạy xuống để “tha” những người lính bết bát, trể nải sau cùng. Điều tưởng như không ngờ, thế mà đã xảy ra một cách thật tội nghiệp cho trung đội Nghĩa Quân quận Hương Trà, tập họp và bị bỏ quên tại đây chờ lệnh thượng cấp từ mấy ngày nay. Người trung đội trường già đến xin tháp tùng cùng chúng tôi. Vài chiếc xe M41 nữa cũng bắt đầu nổ máy rầm rộ tiến giữa đoàn quân. Nhiều đám đông dân chúng hòa lẫn hoặc nối đuôi phía sau họ ra đi từ chợ Cạn, Hội Yên, Vân Trình, Hải Lăng, Mỹ Chánh… từ bgày hôm qua hay sớm hôm nay vì không còn gì để hy vọng vào sự bảo vệ của người lính chúng tôi. Tiếng khóc than vang vọng thấu trời xanh, họ, những kẻ bất hạnh, còn lại sau cùng đang lê lết từng bước một lần mò tìm “tự do” vì một cuộc chủ nghĩa CS bạo tàn. Vài cụ gìà chống gậy, các trẻ thơ vô tội kia rồi sẽ ra sao? Liệu có còn đủ súc hay phải kiệt hơi ngã qụy dọc đường.
Rời ngã ba An Hòa rẽ phải tiến về Huế, thành phố bỏ ngỏ tối tăm rải rác còn lại vài bóng bên đường. Nhiều vết lửa tung tóc lên bầu trời u tối do những trái sáng dược ném từ các toán lính tan hàng mất đơn vị chẳng biết phải làm gì. Súng vẫn nổ lẹt đẹt đó đây hòa lẫn tiếng chó tru vọng ra từ các căn nhà vắng chủ. Phú Văn Lâu vẫn nằm đây bên bờ sông Hương, nhưng còn đâu bóng dáng các con đò quen thuộc hàng ngày. Tiều đoàn bắt đầu tiến quân qua chiếc cầu đúc mới xây bên dưới bến bờ Nam dòng sông, rồi từ đó quẹo trái về Đông, hướng ra biển. Tôi cho xe dừng lại ở phía bên này cầu. chờ đợi cho hết người lính sau cùng. Cảm thấy khá an tâm và một chút hãnh diện về những binh sĩ thuộc quyền, tất cả đều can đảm, hy sinh chịu đựng và luôn tuân lệnh cấp chỉ huy ngay trong những giờ phút nguy hiểm nhất như lúc này. Tôi không nhớ là bao nhiêu lần mình đã nhân danh thẩm quyền để mà ra lệnh cho thuôc cấp xung phong vào chỗ chết. Với 12 năm trong cuộc đời binh nghiệp con số này chắc không ít lắm đâu? Dĩ nhiên là cấp chỉ huy nhỏ, tôi cũng chỉ là kẻ truyền và kiểm soát lệnh và cá nhân mình cũng bị xoay quanh trong các vòng lẩn quẩn ấy! Vài con gió mạnh thổi từ mặt biển vào, cũng nơi đây cây cầu, dòng sông một thời kỷ niệm, tôi bỗng cảm thấy luyến tiếc thèm khác tìm gặp lại một vài nơi chốn quen thuộc lần cuối may ra hình ảnh cũ để nhớ người xưa! Cho tài xế lùi xe lại tiến về hướng đại lộ Trần Hưng Đạo và dự định theo cầu Trường Tiền cũ qua sông. Đường trống vắng chẳng có một chiếc xe nào lai vãng, xa xa trong bóng tối chập chờn, lác đác vài bóng người. Tôi bắt đầu cảm thấy ớn lạnh. Bây giờ ngoài đơn vị TQLC ra, các đơn vị khác chẳng còn gì nữa để mà phân biệt lẫn nhau, qủa thật chẳng còn tình nghĩa gì ràng buộc, nếu có ai đó nổi hứng “bóp cò”.
Có lệnh cho tôi tiến về phía trước để gặp Đại Bàng Long Mỹ (Đại tá LĐT), ông giao cho một sấp bản đồ và thay đổi lộ trình về phía phà Tân Mỹ, đoạn đường từ đầu thôn Vỹ Dạ về cửa biển Thuân An không thể nào nhúc nhích nổi, nhiều dòng người di tản cùng các đơn vị tan hàng đổ về đây với không biết bao nhiêu xe cộ. Thượng sĩ Thương, thường vụ tiểu đoàn, chẳng biết từ đâu mang về vài két bia 33, có lẽ từ khách sạn Hương Giang bỏ trống? Anh nói với tôi:
– Nhậu đi Đại Bàng, đang buồn ngủ mà gặp chiếu manh.
– Thôi nhanh lên mà đi ông ơi! Non nước này mà còn nhậu với nhẹt.

Từ hướng quán cơm Âm Phủ, một người đàn ông già trạc 60 tuổi tìm đến phàn nàn về một số lính vào đập phá, lục lạo nhà của ông ta.
– Coi chừng việt cộng đó Đại Bàng.
Thử hỏi ai mà biết được ai trong thời buổi tranh tối, tranh sáng này, ngay cả toán lính đập phá kia – có điều tại sao trong hoàng cảnh như thế này mà ông ta là kẻ dửng dưng như vậy! Qua khỏi cầu Đập Đá một quãng nữa, bắt đầu tẽ phải vào con đường đất, thôn Vỹ Dạ chìm đấm trong màn đêm u tịch. đó đây leo lét nhiều ngọn đèn dầu từ khắp các miếu thờ, vết tích vàng son của một thời vua chúa. Chó càng lúc càng sủa vang bên những khu vường trống vắng, đoàn quân vẫn tiến đều. Đến khúc lộ bị hư, đành phải vất bỏ xe lại dọc đường.
– Phá hủy xe đi ông thầy.
– Không cần, mình đang di chuyển, không nên gây tiếng nổ.
Lẩm bẩm trong miệng, Liên, tài xế mò vào túi quần lấy ra con dao, cắt hết tất cả dây trong đầu máy xe và quăng bình điện vào một bụi rậm gần đó. Anh cũng không quên hốt thật nhiều cát bỏ vào bình xăng và nói:
– Ai ngu để cho lũ ác ôn xử dụng, mình không dùng, phá hư luôn…hì…hì…
Đến tờ mờ sáng thì toàn thể đơn vị đã có mặt bên này phá Tam Giang mêng mông, nềm vui rạng rỡ trên mặt mọi người. Phải mất thêm 3 tiếng đồng hồ nữa mới đến được bờ bên kia sát biển bằng một số “ghe gọ” của dân còn lại ở xóm chài. Từ lâu mới có một ngày nắng đẹp như hôm nay, bầu trời trong xanh với nhiều tia nắng long lanh chiếu vào mặt biển. Gió vi vu vừa để mơn trớn các con sóng vỗ ì ạch vào bờ. Không còn gì thích bằng ngồi đây, dưới bóng râm của hàng dương xanh thẩm, trên đồi cát, hướng mắt về đại dương bao la, nơi đó nhấp nhô nhiều con tàu như người tình mơn trớn hưá hẹn. Ăn vội ít cơm ở bao gạo xấy còn lại, trong chớp mắt chập chờn, tiếng la khóc, than van còn mãi ám ảnh trong trí tôi trên đường rút chạy sáng hôm nay. Cuộc đời khổ đến thế là cùng! Tỉnh giấc khi có lệnh cho đơn vị chuẩn bị ra bải bốc để lên tàu. Đó là khoảng 2 giờ ngày 25/3/75. Cả Lữ Đoàn tập họp trên bãi các trắng xóa theo thứ tự sẵn sàng như một cuộc hành quân đổ bộ ngày nào. Đâu phải chỉ việc sắp hàng chờ lệnh lên tàu là xong, địch đã rượt theo ta đêm hôm qua, đã mò sát đít chúng tôi sáng hôm nay, địch đã có mặt bên kia bờ phà, địch đã trà trôn trong đòan quân. Theo lệnh của mặt trời Papazulu nào đó (Tướng Lâm Quang Thi, TLP/QĐ1!!!), chiếc HQ-801 dành riêng cho TQLC đã chực sẵn cách bờ khoảng 50m. Nhưng đâu phải chỉ có chúng tôi cần sống, còn dân chúng, những người lính mất đơn vị hỗn lộn kia, họ cũng cần cứu vớt như chúng tôi, mà chẳng ai có kế hoạch gì riêng để giúp đỡ họ. Trong cơn quẫn bách này, không ai cần nghĩ đến ai, chà đạp tranh dành nhau mà sống, mạnh được yếu thua, khi con rắn đã mất đầu chỉ còn lại cái đuôi tha hồ mà ngóc nguẩy. Như sức bật của cáo lò xo, tất cả ùa nhau mà ra tàu, người không biết lội ôm sát người biết bơi, ngụp lặn với tử thần trong sóng nước, vài chiếc xe M-113 lội nước ủi tới đè kên, tiếng rên la gào thét. Một sơn sóng nhồi lên, hai cơn sóng đập xuống, những cái đầu lô nhô, nhiều thân hình chìm lỉm, mất hút trong khi con tàu vẫn nổ máy đợi chờ. Địch đã vượt phá Tân Mỹ, đã có mặt ở cái miếu trên đồi cát đầu làng. Địch đã bắt sống một số lính trễ nải phía sau, địch bắt đầu pháo rải rác khắp nơi trên mặt biển.
Bãi bốc đã không còn an ninh mà trật tự cũng chẳng có. Con tàu đành bất lực rời bến. Để được an toàn hơn, Lữ Đoàn quyết định dời bãi bốc về hướng Nam và bằng đủ mọi cách phải tách rơi đám đông hỗn loạn kia hầu dễ dàng đối phó với tình hình mới. Dọc theo mé nước đầy rẫy xác người, những bộ mặt nhợt nhạt, bất động, ngừng thở theo cơn sóng biển dập vùi, có lạ, có quen. Người dể nhận ra nhất là Đại úy Ân, ĐĐT/ĐPQ Tiểu khu Quảng Trị.
Chúng tôi đã di tản chiến thuật bằng con đường máu ở mặt trận Hạ Lào 1971, đã rời bỏ Đông Hà, Quảng Trị dọc đại lộ kinh hoàng mùa hè đỏ lửa năm 1972. Với sự nguy hiểm cùng cực nhưng tinh thần đâu có quá tuyệt vọng như bây giờ vì dù sao cũng còn chút gì để hy vọng ở đoàn quân tiếp tế phiá sau. Còn ở đây rơi vào tình thế vô cùng tuyệt vọng. Cả nguyên LĐ có hơn 3000 quân, tiến thoái lưỡng nan trong cái túi càn khôn chỉ vỏn vẹn 4 km 2, đang gìơ lưng chịu trận. Tàu chiến Hải Quân QLVNCH vẫn trương cờ lảng vảng ngoài khơi, nhưng các khẩu đại bác đâu rồi?! Niềm hy vọng mong manh còn nhen nhóm là sẽ được tàu vào đón, nhưng sẽ ưu tiên theo thứ tự nào? Đơn vị nào sẽ phải nằm lại chịu trận và làm vật hy sinh sau cùng? Bóng chiều bắt đầu trải dài trên bãi cát trắng xóa mênh mông để báo hiệu màn đêm buôn xuống. Lữ Đoàn quyết định rải quân phòng thủ. TĐ4 và 7 phụ trách mặt trận Tây, TĐ3 phía Nam, TĐ5 chúng tôi phía Bắc. Đại uý Tô Thanh Chiêu, ĐĐT/ĐĐ2 và Thiếu tá Nguyễn Trí Nam TĐP/TĐ4/TQLC đã hy sinh trong giờ phút thứ 25 này cùng một loạt đạn của tên du kích hèn mhát bắn lén trong khi làm nhiệm vụ điều động quân rải tuyến. Điều đáng thương tâm nhất là hai người vừa mới lập gia đình và cả hai bà vợ đang mang thai. Cái chết thật quái ác, tình cờ bởi bàn tay oan nghiệt của tạo hóa. định mệnh! Tin từ BCH/LĐ cho biết là tàu sẽ vào đón đêm nay hay trễ nhất là sáng sớm ngày mai theo thứ tự như sau: BCH/LĐ, TĐ2PB, TĐ4, TĐ3, TĐ5, TĐ7…Đúng theo sự suy nghĩ dự đoán của chúng tôi, lẽ dĩ nhiên các đơn vị tan hàng hay bị sứt mẻ không còn khả năng chiến đấu thì ưu tiên mang họ đi càn sớm càng tốt để không làm vướng bận các đơn vị còn lại. Nhưng cả BCH/LĐ đi hết thì ai sẽ là người chỉ huy chúng tôi. Điều này thật cần thiết và quan trọng nhất. Cái thứ tự di chuyển mà không một binh thư nào viết ra hoặc chúng tôi chưa hề áp dụng trước đây.

Qua ánh trăng mờ ảo, dòng người bị bỏ lại ban chiều đang ồ ạt kéo về tuyến phòng thủ. Không còn cách gì hơn là phải chận họ lại nằm sát phòng tuyến trong tầm bảo vệ hỏa lực để khỏi làm xáo trộn cho sự điều động chỉ huy của quân bạn bên trong. Súng vẫn nổ đều khắp nơi và chẳng có con tàu nào cập bến. Trăng vẫn lên ca, khuya dần. Cùng lúc, vài tốp người xé lẻ, hèn nhát tách bến rã ngũ ra khơi.
Rạng sáng ngày 26/3/75, khi ánh bình minh vừa ló dạng ở phương Đông thì con tàu cùng thủy thủ đoàn cũng bắt đầu tiếp tục nhiệm vụ, ủi thẳng vào bờ theo sự điều động của BCH. Đã có chuẩn bị sắp xếp từ trước, nên việc di chuyển lần này tương đối trật tự hơn. Ưu tiên vẫn là BCH/LĐ và các thương phế binh từ các đơn vị mang đến. Địch thừa thắng xông lên cố ra sức đánh vào đầu chúng tôi những đòn thù chí tử. Đây là điều nghiệt ngã nhất của chiến tranh, có vay có trả. Chúng tôi đã diệt gọn nguyên trung đoàn 48 địch một cách không thương tiếc khi quét sạch chúng ra khỏi hang cuối cùng tại cổ thành Quảng Trị. Những vòng sắt oan nghiệt của đoàn chiến xa M48 và M41 đã nghiền nát vô số lính CS Bắc Việt, sinh Bắc tử Nam, qua các dãy địa đạo ngầm trong hầm khi tấn công tiến vào cửa Việt. Pháo địch cùng lúc càng mãnh liệt hơn và chiếc tàu nằm chình ình giữa biển khơi vẫn là mục tiêu tốt nhất để chúng điều chỉnh tác xạ ngắn, dài…Một cục lửa, hai cục lửa, rồi quá nhiều cục lửa của loại hỏa tiễn tầm nhiệt AT3 rải rác đó đây. Có cái rớt ngay dòng người di tản ngụp lặn theo sóng nước. Có cái trúng thẳng vào thân tàu. Con tàu chòng trành nhổ neo tách bến. Để bớt căn thẳng, tôi chui ra khỏi hố trú ẩn làm một vùng quanh tuyến. Những vệt sáng của lằn đạn đạo thẳng cùng nhiều quả đạn pháo kích đan chéo nhau vi vút trong gió biển. Các khẩu súng cối 60 ly và phóng lựu M79 của ta đáp lễ cầm chừng, không khả năng nhiều lắm nhưng cũng để chứng minh rằng “vẫn đang có ta đây“. Dọc theo mé nước sát biển, thầy trò Thiếu tá Võ Đằng Phương, TĐT/TĐ2/PB/TQLC, Đại uý Lê Tự Hào cùng một vài người lính đang gấp rút xử dụng các mũ sắt của mình để cào cào moi hố. Họ là những người sau cùng bị sót lại khi hầu hết đơn vị mình đã được lên tàu.
– 207 đây 416 gọi. Anh ở lại take care con cái.

– Vâng! Nhận rõ 416!
207 là biệt hiệu của Thiếu tá Phạm Cang TĐT/TĐ7/TQLC, người thâm niên và giỏi nhất trong đoàn bạn tôi. Còn 416 là danh xưng của Trung tá Nguyễn Đằng Tống LĐP/LĐ147.
Nắng chiều nhạt dần, sóng biển rì rào và bờ cát lại trống vắng đến lạnh lùng, không còn một bóng người lai vãng, họ đang chiến đấu ở tuyến đầu, họ tránh núp đạn dưới hố sâu, họ hối tiếc, thèm thuồng về một con tàu khác. Các đại đội lại thêm một số bị thương, lại thêm vài người chết nữa. Đạn dược, lương thực cạn dần trong khi chúng tôi cố hết sức giữ vững tinh thần binh sĩ bằng cách liên lạc máy thường xuyên với các đại đội. Cảm giác bị vất bỏ bắt đầu nhen nhúm trong ý nghĩ mình, nhưng tôi vẫn chưa dám tin rằng điều này có thật, vì nếu như vậy thì còn thể thống gì đến quân đội và tổ quốc mà biết bao người đã hết lòng yêu thương và phục vụ. Mò mẫm vào cuốn đặc lệnh truyền tin, tôi vận máy qua tần số BTL/SĐ đang ở đâu trên đèo Hải Vân, với trạm liên lạc chuyển tiếp giữa Huế và Đà Nẳng. Người tiếp tôi là Đ/U Đan, tùy viên tư lệnh:
– Đại Dương, cho tôi xin gặp Lạng Sơn (biệt danh của Thiếu tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh SĐ/TQLC).
– Lạng Sơn đang bận lắm. Có gì ông anh nói, tôi sẽ chuyển.
– Nhờ Đại Dương trình với Lạng Sơn cho chúng tôi lệnh kế tiếp.
– Ở đây cũng đang lu bù lắm, không ai có thể giúp gì được cho ông anh. Tốt hơn hết là self-service. Good luck ông anh!
Mặt mày tối tâm, xây xẫm, thất vọng, tôi ném ống liên hợp xuống cát…self service…có nghĩa là tự lực cánh sinh, tùy cơ ứng biến, có thể là mạnh ai náy lo, có thể là tan hàng!
Khoảng quá xế trưa, mặt trời Papazulu lại xuất hiện bằng một giọng thật đanh thép, ông ra lệnh cho một chiếc HQ khác, bằng bất cứ giá nào cũng phải bốc tiếp chùng tôi. Con tàu lại tách sóng hướng thẳng vào bờ phiá Bắc tuyến phòng thủ chừng 200m. Lần này, TĐ4 sẽ lên tàu dưới sự sắp xếp chỉ huy của Thiếu tá Đinh Long Thành, tân TĐT của đơn vị này. Bất kể là đơn vị nào, bất cứ là ưu tiên cho ai, thật nhiều đám người từ mọi hướng đổ ập về đây tràn xuống như thác lũ. Con tàu quá tải tròng trành trên mặt nước, chân vịt ngưng quay nằm bất động vì máy đã hỏng rồi. Lại thêm một đêm nữa rồi sẽ đến với tình thế mỗi lúc một tồi tệ hơn. Phải quyết định ngay bây giờ, nhưng giải quyết bằng cách nào đây? Tôi gọi HS1 Lê Hồng Quảng Nam, người cận vệ thân tín nhất đến, sau khi đã cạo nhẫn bộ râu quai nón của mình, chính nhờ nó mà tôi đã ăn nên làm ra trong đời binh nghiệp và được giấy phép của bộ TTM cấp hẳn hòi với lý do: “uy tín cấp chỉ huy”.
– Anh chuẩn bị cho tôi một ít nước uống và vài gạo sấy để phòng thân.
Nam do dự mếu máo:
– Ông thầy đừng bỏ tụi em, có gì cho tụi em theo với. Thuận, Thành hai hiệu thính viên cũng oà lên khóc.
– Yên trí, thầy trò mình sẽ sống chết có nhau mà.
Đầu óc tôi cứ mãi bị ám ảnh bởi lời đề nghị của Đ/U Đan là ông anh nên “self service”. Nhưng chuyện này cũng có 5, 7 cách khác nhau. Hãy tìm một vài người lính thật khỏa mạnh, bơi nhà nghề, mà phải là dân chuyên đi biển ở Nha Trang hay Phan Thiết, mò vào nhà dân hay dọc theo mé nưóc, tìm sẵn một chiếc ghọ thật tốt, chuẩn bị sẵn sàng, thừa nước đục thả câu sẽ cùng bỏ trốn như loài chuột. Nhưng cũng chẳng phải dễ dàng lắm đâu! Chúng tôi sẽ bị bắn chết bởi đồng đội trước khi nạp mình cho bầy cá mập, hay là tuyên bố hoạch toẹt rõ ràng, đơn vị tan hàng, mạnh ai nấy lo, đâu phải lỗi ở mình. Điều này quá trắng trở và trắng trợn, chẳng còn tình nghĩa gì. Nếu còn sống làm sao dám nhìn lại mặt nhau như Hai Chồn, Pake, Loan Mắt Nhung, Chanh Trọc, Ba Ngành, các ĐĐT lương đen lì lợm, nhậu rượu như uống nước mà đánh giặc rất chí tình. Tôi liên lạc máy với Thiếu Tá Cang TĐT/TĐ7 cùng Thiếu Tá Sử TĐT/TĐ3, chúng tôi cùng đồng ý với nhau là chẳng còn cách nào khác hơn, mở đuờng máu xuôi Nam về cửa biển Tư Hiền còn nước, còn tát.
Nói là mở đường máu chứ thực ra chỉ là cách thối thác cho một sự tan hàng, đường về bít bối, vì nếu có trầy da tróc vẩy đến nơi thì cũng chỉ là vùng trời mây nước mênh mông, ngồi đó chờ nộp thịt cho chằng. Di chuyển cũng theo thứ tự lớp lang, nhưng đội hình chẳng còn. Sức mòn, lực kiệt, súng cầm tay, tinh thần đã mất, đạn dược cũng không, cứ nhắm mắt nhắm mũi mà chạy 1,2,3,4… 1,2,3,4 “đường trường xa con chó nó tha con mèo…” càng xa địch bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhiều tiếng nổ chát chúa phía sau, của địch thì ít mà của ta thì nhiều. Những người lính bị thương không còn khả năng thep kịp đòan quân, bò lết lại với nhau, bung chốt lựu đạn nổ để “thà chết vinh, còn hơn sống nhục”. Đứa con đầu của TĐ3 Sói Biển đang bị một đại đội du kích chận lại, phía trước ùa về, ở sau đung tới, vô vọng, tuyệt vọng, chưa bao giờ tôi cảm thấy thèm sự sống bằng lúc này, miệng luôn luôn lẩm bẩm xin Phật Trời giá hộ “cùng tắc biến, biến tắc thông”.
Nhóm chúng tôi gồm 5 người tấp vào xóm dân chài, hy vọng sẽ được giúp đỡ bởi tình quân dân cá nước ngày nào, nhưng hiện tại quân đã tan thì tình cũng chẳng còn, mặc dầu đã cố gắng nài nỉ hết sức kể cả tiền bạc thuê mướn, nhưng họ đã từ chối thẳng thừng. Chủ nghe là gã trung niên lực lưỡng, mặt rỗ hoa mè chắc là VC nằm vùng hay du kích gì đó. Thôi thì “tam thập lục kế”, kê súng vào đầu là thượng sách nhất. Đây là lần thứ hai tôi chạy giặc, lúc nhỏ vào lúc 5 tuổi theo mẹ trốn vào rẫy mỗi lần “mới sớm mai thằng Tây nó bố vào rừng ta quyết trốn”. Và bây giờ sau 26 năm khi đã trưởng thành trong quân ngũ… vẫn còn súng đạn trong tay cùng những chiến hữu bạn bè, tôi phải chạy trốn giặc cộng, thằng chủ nghe đang ngồi với tôi bây giờ là một tên VC chín rõ muời mươi, hắn phá máy cho ghe ngừng, hắn làm dấu chỉ điểm mỗi lần kề sát ghe địch. Nhân (B3), Ngọc (B2) đã làm thịt tại chổ, tôi ngăn không cho, chuyện gì rồi cũng phải tính đường về, nếu nhỡ thì sao!
Chỉ vỏn vẹn mấy ngày phù du mà bao điều biến đổi dồn dập bất ngờ, không biết số phận của tôi và bao nhiêu người khác nữa rồi sẽ ra sao khi ánh bình minh của một ngày mới xuất hiện, hy vọng sống còn chỉ là việc hiếm mọn nhỏ nhoi trong cái chết xảy đến mới là điều chắc chắn. Tờ mờ saág hôm sau, sau khi đã cạn hết nhiên liệu, chiếc ghe đành nằm chênh vênh trên mặt nước mênh mông vùng Tư Hiền, giữa rừng cờ giặc. Xa xa là những dãy núi chập chờn xanh thẳm của đỉnh đèo Hải Vân như réo gọi, mời mọc, thèm thuồng, tiếc rẻ. Và như số phận đã an bài, nhưng rồi cũng có lúc “chí tuy còn mong tiến bước mà sức không kham nổi đọan đường dài, sự nghiệp bao năm đeo đuổi thôi cũng đành gián đoạn từ đây… bởi đâu? do đâu? vì đâu?

Giã từ vũ khí, ném súng xuống dòng sông định mệnh, ngồi chờ địch đến, đổi đời lịch sử sang trang. Chúng tôi bị trói tay lùa lên bờ. Chúng tôi bị “giải phóng” tất cả quần áo, đồng hồ, dây chuyền, đồ đạc. Một vài người bị dẫn đi xử bắn dã man. Chúng tôi bị xỉ vả, đấu tố làm tay sai cho đế quốc. Chúng tôi không còn là chúng tôi nữa, chỉ vì chúng tôi là chiến sĩ QLVNCH bảo vệ miền Nam tự do, bị bỏ rơi lại phía sau thề sống chết thủy chung và chiến đấu hết mình. Cuộc đời tù đầy của vài ngàn quân cũng bắt đầu từ cái ngày đáng nhớ ấy…27/3/75 tại một địa danh nhỏ, hẻo lánh, quen thuộc: thôn Vĩnh Lộc, Thừa Thiên, Huế ngay trên tổ quốc thân yêu của chúng tôi.
Mũ Xanh Phạm Văn Tiền
Trung Tướng Lâm Quang Thi và Tác Phẩm Hell in An Lộc—Nguyễn Vạn Bình
Bản đồ hành quân của cố Thiếu Tướng Lê Văn Hưng với chữ ký và thủ bút
Cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi, một vị tướng tác chiến tài giỏi của QLVNCH. Ông là cựu Chỉ Huy Trưởng trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, cựu tự lệnh Sư Đoàn 7 và 9 Bộ Binh, nguyên là Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I và Tư Lệnh Bộ Tư lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I. Ông là tác giả của quyển hồi ký “Hai Mươi Năm Thế Kỷ” được xuất bản vào năm 2005. Nay ông lại cho xuất bản tác phẩm: “Hell in An Lộc” được viết bằng Anh ngữ và đã được Viện Đại Học University of North Texas cho xuất bản. Đây là một tác phẩm ghi lại những diễn tiến của trận chiến khốc liệt tại An Lộc giữa quân đội VNCH và quân đội Bắc Việt vào năm 1972 và sau cùng đã mang lại thắng lợi vẻ vang cho QLVNCH.
Để tìm hiểu về tác phẩm nầy, nhà báo Nguyễn Vạn Bình chủ nhiệm bán nguyệt san Ý Dân đã có cuộc phỏng vấn trung tướng Lâm Quang Thi.
Và sau đây là nội dung của cuộc phỏng vấn:
1- Xin Trung Tướng cho biết sơ qua về hình thức quyển sách HELL IN AN LOC và lý do nào Trung Tướng được trường đại học Mỹ đứng ra cho xuất bản quyển sách nầy?
Quyển HELL IN AN LOC bìa cứng, dầy 290 trang, gồm có một số hình ảnh và 14 bản đồ. Thiết tưởng cũng nên biết rằng trận đánh An Lộc là một trận đánh lớn nhất trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam và cuộc Chiến Tranh Đông Dương trước đó. Tuy nhiên cơ quan truyền thông Mỹ đã không đề cập đến trận đánh này. Và một số rất ít sử liệu Mỹ nói đến trận đánh này tìm cách đề cao vai trò của Không Lực và cố vấn Hoa Kỳ và hạ thấp sự đóng góp của QLVNCH. Lý do chánh là tường thuật một cách trung thực chiến thắng này sẽ đi ngược lại tiền đề căn bản của cơ quan truyền thông Mỹ: đó là cuộc chiến tranh không thể thắng được vì QĐVNCH kém khả năng. Quyển HELL IN AN LOC được viết ra để nói lên tinh thần chiến đấu vượt bực của quân đội Miền Nam Việt Nam và phản bác lại sự bóp méo sự thật của cơ quan truyền thông Mỹ, một cơ quan truyền thông phần lớn thiên tả và phản chiến.
Trường Đại Học University of North Texas, sau khi điều nghiên sự sưu tầm của tôi và các sử liệu tôi dùng để viết quyển HELL IN AN LOC, đã đồng ý với quan điểm của tôi và đã cho xuất bản quyển sách này.
2- Trong cuộc chiến bảo vệ Miền Nam , QLVNCH đã đụng độ nhiều trận với quân đội Bắc Việt, tại sao Trung Tướng lại chọn trận chiến An Lộc là nội dung của quyển sách HELL IN AN LOC lần nầy?
Cái tựa “Hell in An Loc: The 1972 Easter Invasion and the Battle that Saved South Viet Nam” đã nói lên tầm quan trọng của trân đánh An Lộc, vì nếu địch chiếm được An Lộc thì các sư đoàn Bắc Việt tăng cường bởi chiến xa có thể hăm dọa trực tiếp thủ đô của Miền Nam Việt Nam.
3- Xin Trung Tướng cho biết sơ qua diễn tiến của trận đánh An Lộc cùng cán cân lực lượng giữa đội bên?
Sau khi tràn ngập Chi Khu Lộc Ninh do thành phần của Trung Đoàn 9/Sư Đoàn 5 chiếm giũ ngày 7 tháng Tư, 1972, Bắc Việt tập trung Công Trường (Sư Đoàn) 5 và 9 để tấn công thị trấn An Lộc; trong lúc đó công Trường 7 của chúng đóng chốt dọc theo Quốc Lộ 13 để chận đường tiến quân của lực lượng tiếp viện tiến lên từ phía Nam. Trong giai đoạn đầu, lực lượng phòng thủ gồm có Trung Đoàn 8/SĐoàn 5, Liên Đoàn 3 BĐQ, thành phần của Trung Đoàn 7 /SĐ 5 và các đơn vị ĐPQ, NQ và Nhân Dân Tự Vệ Tiểu Khu Bình Long. (Về sau lực lượng trú phòng được tăng cường Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù va Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù). Lực lượng tấn công địch gồm 2 sư đoàn (không kể một sư đoàn chận viện) và các trung đoàn biệp lập và các đơn vị pháo và thiết giáp, quân số vào khoảng 21,000 người. Lực lượng phòng thủ trong giai đoạn đầu gồm khoản 7,500, tức là gần như 1 chọi 3.
Lực lượng BV tổ chức ba cuộc tấn công quy mô. Cuộc tấn công lần thứ 3 ngày 11 tháng Năm, là cuộc tấn công mạnh mẽ nhất vì địch dốc toàn nỗ lực chiếm lấy An Lộc để làm thủ đô của cái gọi là Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời. Có lúc chiến xa địch đã tiến gần Bộ Tư Lệnh của Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 và địch bắn trực xạ B-40 vào hầm chỉ huy của ông. Tướng Lê Văn Hưng đã kịp thời ra lệnh LĐ1ND phản công đẩy lui địch.
4- Theo Trung Tướng lý do nào đã giúp QLVNCH anh dũng chiến thắng quân đội Bắc Việt trong trận chiến nầy?
Theo tôi có ba lý do khiến chúng ta chiến thắng An Lộc. Thứ nhất, BV đã phạm những lỗi lầm chiến lược và chiến thuật quan trọng, mà tôi không tiện nêu ra đây trong khuôn khổ hạn chế của bài phóng vấn này. Hai lý do khác là sự hữu hiệu của không yểm Hoa Kỳ, nhứt là sự yểm trợ của pháo đài bay B-52, và, quan trọng nhất, là tinh thần chiến đấu cao độ của QLVNCH.
Để trả lời những lời phê bình của các phóng viên phản chiến Mỹ cho rằng chiến thắng An Lộc là nhờ Không Quân Hoa Kỳ, Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam, nói rằng : “Tôi nghi ngờ cuộc phòng thủ có thể giữ vững nếu không có Không Quân Mỹ. Nhưng điều phải xảy ra, đó là người Việt Nam phải đứng lên và chiến đấu. Nếu họ không làm điều đó thì mười lần không yểm Mỹ cũng không chận đứng được địch quân.” Chúng ta đã đứng lên và đã chiến thắng.
5- Trung Tướng có tham dự trận chiến nầy không?
Lúc xảy ra trận An Lộc, tôi ở QĐI. Thiết tưởng cũng nên nhớ rằng một người viết sử một giai đọan hoặc một trận chiến nào đó không cần thiết phải sống trong giai đoạn lịch sử hoặc trận chiến mà người viết sử đang viết. Khi viết tác phẩm HELL IN AN LOC, tôi đã truy cứu rất nhiều tài liệu liên quan đến trận này, nhứt là những tài liệu Việt ngữ. Tôi cũng đã phỏng vấn hầu hết những đơn vị trưởng tham gia trận chiến An Lộc hiện còn đang sống sót. Sự kiện quyển HELL IN AN LOC được một trường đại học lớn Hoa Kỳ xuất bản cũng đủ bảo đảm giá trị lịch sử của tác phẩm.
6- Đại tá hồi hưu Edward P. Metznez đã so sánh trận chiến tại An Lộc cũng khốc liệt không kém gì trận chiến tại Điện Biên Phủ và Khe Sanh, theo Trung Tướng điều nhận xét nầy có đúng không?
Đại Tá Edward P. Metzner, tác giả quyển “More Than a Soldier’s War”cho rằng sự so sánh An Lộc với các trân chiến Điện Biên Phủ và Khe Sanh sẽ cho phép đưa ra “một nhãn quan đứng đắn về ý nghĩa lịch sử của sự phòng thủ An Lộc và sự anh dũng và can trường của binh sĩ trú phòng.” Khi tuyên bố điều này, Đại Tá Metzner chỉ muốn nhấn mạnh đến ý nghĩa lịch sử của trận chiến An Lộc và sự can trường của quân nhân QLVNCH. Các nhà phân tích gia quân sự cho rằng trận An Lộc lớn hơn các trận Điện Biên Phủ và Khe Sanh. Trận công hãm Điện Biên Phủ chẳng hạn kéo dài hai tháng trong lúc chiến sĩ phòng thủ An Lộc phải chiến đấu suốt ba tháng và phải gánh chịu vào khoảng 80,000 quả pháo binh, hỏa tiễn hoặc súng cối, tức là ba lần số đạn pháo binh bắn vào Điện Biên Phủ. Tuy nhiên sự khác biệt lớn nhất giữa ba cuộc công hãm đó là người Pháp thua Điện Biên Phủ, người Mỹ rút bỏ Khe Sanh vì sợ nó trở thành một Điện Biên Phủ thứ hai, và chúng ta thắng lợi tại An Lộc.
Binh sĩ VNCH nhắm bắn xe tăng cộng quân đang tiến vào thị trấn An Lộc
Một buổi ra mắt tác phẩm “Hell In An Loc: The 1972 Easter Invasion and the Battle that Saved Viet Nam” (do Viện Đại Học Unitersity of North Texas xuất bản) sẽ được tổ chức vào Chúa Nhật 24 tháng Giêng, 2010, tại Trung Tâm Sinh Hoạt VIVO, 2260 Quimby Road, San Jose, từ 1:00 đến 4:00 PM.
Nguyễn Vạn Bình
Nguyên-Tắc về Việc Viết Chữ Hoa trong Tiếng Việt—Khải Chính Phạm Kim Thư
Khi viết Việt-văn, ngoài việc áp-dụng cho đúng về cú-pháp, văn-pháp, tiến- trình viết văn, nguyên-tắc sử-dụng các dấu chấm câu hay các dấu của câu văn, và cách đánh dấu các chữ Việt, các nhà văn còn phải áp-dụng cho đúng những nguyên-tắc về việc viết chữ hoa thì bài văn mới có giá-trị cả về nội-dung lẫn hình-thức.
Để giúp các bạn trẻ học-hỏi về cách viết văn tiếng Việt cho đúng, chúng tôi đã trình-bày và phổ-biến những bài viết về cú-pháp tiếng Việt, văn-pháp tiếng Việt và tiến-trình viết văn, cách sử-dụng nguyên-âm “i” và “y,” cùng cách đánh dấu các chữ Việt. Sau đây chúng tôi xin trình bày nguyên-tắc về việc viết chữ hoa trong tiếng Việt.
I. Nguyên-Tắc về Việc Viết Chữ Hoa trong Tiếng Việt Theo ngữ-pháp tiếng Việt, các danh-từ và các chữ trong những trường-hợp sau đây phải được viết hoa:
1. Viết Hoa Các Danh-Từ Riêng
a- Các danh-từ riêng liên-quan đến tên người phải được viết hoa: Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Du, và Trần Trọng San, v.v.
Ghi-Chú:
* Ở Việt-Nam trước đây, nhất là vào khoảng từ năm 1925 đến năm 1975, các nhà văn thường dùng gạch nối (gạch ngang) để viết tên người, các danh-từ riêng khác, và các danh-từ kép: Dương-Quảng-Hàm, Phan-Bội-Châu, Việt-Nam Tiểu-Học Tùng-Thư, Việt-Nam Văn-Học Sử-Yếu, Thu-Giang Nguyễn-Duy-Cần, Cái Cười của Thánh-Nhân, chính-trị, và phong-tục, v.v.
Hiện nay một số đông các nhà văn cũng dùng gạch nối (gạch ngang) để viết các danh-từ kép và tên người: phụ-âm, nguyên-âm, giađdình, học-đường, Hoa-Hoàng-Lan, vĩ-cầm, và Phạm Quang-Vinh, v.v. Nếu dùng gạch nối (gạch ngang) ở giữa các danh-từ kép và danh-từ riêng, đó là điều rất hợp-tình hơ.p-lý. Tuy-nhiên, nếu không dùng gạch nối thì cũng không sao vì chúng ta chưa có hàn-lâm-viện để quy-định các tiêu-chuẩn về việc sử-dụng Việt-Ngữ. Hàn-lâm-viện (academy) là một cơ-quan chính-thức do chính-phủ của một nước thành-lập ra để nghiên-cứu về văn-chương, khoa-học, hay mỹ- thuật, v.v.
* Trong trường-hợp tên người là tên kép thì cả tên họ và tên kép đều phải được viết hoa: Phạm Trung-Hậu, Phạm thị Thanh-Bình, và Phạm Tường-Lân, v.v.
* Về cách đặt tên người, người Việt mình thường dùng chữ lót như chữ “văn” để chỉ phái-nam và chữ “thị” để chỉ phái-nữ. Hai chữ này thường không được viết hoa: Nguyễn thị Loan, Bùi văn Hùng. Tuy-nhiên, trong trường-hợp chữ “văn” hay chữ “thị” đi kèm với các chữ khác làm thành danh-từ kép như “văn-minh” và “thị-uy” v.v. mà tên người lại được đặt với các danh-từ kép này thì chữ “văn” và chữ “thị” phải được viết hoa: Phạm Văn-Minh, Nguyễn Thị-Uy.
* Ngày nay, tất cả mọi chữ trong tên người đều được viết hoa như các trường-hợp của các tên sau đây: Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Văn Thảo, Nguyễn Văn Khôn, và Nguyễn Thị Hồng, v.v. Viết hoa các chữ trong tên người Việt kiểu này rất phù-hợp với cách viết hoa tên của người Bắc-Mỹ hiện nay, tức là chữ nào của tên người cũng được viết hoa kể cả khi viết tắt.
b- Các danh-từ riêng về địa-lý liên-quan đến năm châu bốn bể, các quốc-gia, các phần của nước, các tỉnh, các thành-phố hay đô-thị, các phố-phường, xóm làng, thôn-xã, các con sông, các dãy núi, các hồ, các cầu, tên các tươ.ngđdài, và tên các cây tháp, v.v. cần phải được viết hoa: Châu Á (Á-Châu), Nam-Hải, Việt-Nam, Miền Nam, Nam-Việt, Miền Trung, Trung-Việt, Miền Bắc, Bắc-Việt, Cần-Thơ, Sài-Gòn, Phố Hàng-Đào, Xóm Bồ-Đề, Làng Quần-Phương-Đông, Huyện Hải-Hậu, Tỉnh Nam-Định, Sông Cửu-Long, Cửu-Long Giang, Núi Tản-Viên, Hồ Hoàn-Kiếm, Cầu Ông-Lãnh, Chợ Lương, Cầu Ngói, Tượng-Đài Đức Phù-Đổng Thiên-Vương, Tượng-Đài Chiến-Sĩ Việt-Mỹ, Tháp Chàm, Trường Trung-Học Phan Bội-Châu, và Xa-Lộ Biên-Hòa,v.v.
Ghi-Chú:
* Nếu các danh-từ chỉ phương-hướng được dùng để chỉ phương-hướng không thôi thì chúng không được viết hoa: Anh ta đi về hướng nam. Nếu danh-từ chỉ phương- hướng được dùng để chỉ miền đặc-biệt của một nước như trên đã nói thì phải viết hoa: Tôi ở Miền Nam.
c- Các danh-từ riêng liên quan đến tổ-chức xã-hội, các cơ-quan chính-phủ, các trường học, các chợ-búa, các tổ-chức thương-mại hay các tiệm buôn, các chùa-chiền, các nhà thờ, các đảng-phái hay tổ-chức chính-trị, các sắc-dân, các năm âm-lịch, các ngày lễ tết, và các trận-chiến, v.v. cần phải được viết hoa: Hội Cựu Học-Sinh Trưng-Vương, Bộ Quốc-Gia GiáoĐục, Nha Sư -Phạm, Trường Cao-Đẳng Sư-Phạm Sài-Gòn, Trường Trung-Học Phan Bội-Châu, Chợ Lương, Yiễm-Yiễm Thư-Quán, Chùa Hương, Nhà Thờ Bùi-Chu, Đảng Cần-Lao Nhân-Vị, Đảng Dân-Chủ, Đảng Tự-Do, Mường, Mán, Quý-Mùi, Da Đỏ, Tết Nguyên-Đán, Thế-Chiến Thứ Hai, v. v.
d- Các chữ viết tắt của danh-từ riêng hay danh-từ chung đứng trước danh-từ riêng để bổ nghĩa cho danh-từ riêng đều phải được viết hoa: VNCH (Viê.t-Nam Cộng-Hòa), QLVNCH (Quân-Lực Viê.t-Nam Cộng- Hòa), VBVNHN (Văn-Bút Viê.t-Nam Hải-Ngoại), QĐ3 (Quân-Đoàn 3), GS Doãn Quốc-Sỹ, LS Hoàng Duy Hùng, VH Trần Thy Vân, v.v. (GS: Giáo-Sư; LS: Luật-Sư, VH: Văn Hữu).
Thường thường các chữ viết tắt phải có dấu chấm đứng ngay sau chữ đó (L.S., G.S., V.H.). Tuy nhiên, riêng các chữ viết tắt ở trên đã từng được viết như thế từ trước tới nay và được mọi người công-nhận.
2. Viết Hoa Những Danh-Từ Chung trong Trường-Hợp Đặc-Biệt
a- Khi các danh-từ chung đứng ở vi.-trí trọng-yếu trước danh-từ riêng hay đứng một mình ở vị-trí của danh-từ riêng để vói về chức-tước, việc tôn-sùng các bậc vua chúa thần-thánh, và nghề-nghiệp cao-cấp:
Đức Thánh Trần, Đức Chúa Giê-Su, Đức Phật Thích-Ca, Tổng-Thống Ngô-Đình Diệm; Ngô-Đình Diệm, Tổng-Thống của Việt-Nam Cộng-Hòa; Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu; Đại-Tá Hồ Ngọc Cẩn; Bác-Sĩ Phạm Quang-Khải; Giáo-Sư Doãn Quốc-Sỹ; Tổng-Thống đã đến rồi; thưa Gíao-Sư, kính thưa Đại-Tá, v.v.
Ghi-Chú:
Khi các danh-từ chung như “tổng-thống,” “đại-tá,” “bác-sĩ,” “giáo-sư,” “hòa-thượng,” v.v. không đi chung với danh-từ riêng thì những danh-từ này không được viết hoa: Hồi trước nắm 1975, anh ta là một đại-tá. Con trai út của gia-đình ấy là bác-sĩ. Ông ta là một giáo-sư rất lỗi-lạc. Vị tổng-thống đầu tiên của nước ta là Tổng-Thống Ngô-Đình Diệm. Vị hòa-thượng là vị ở bậc trên cả trong chùa.
b- Viết hoa những danh-từ chung nói về thân-nhân trong gia đình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, v.v.) khi những danh-từ này đứng trước tên riêng hay đứng một mình ở vị-trí của tên riêng :
Cậu Oánh; Anh Phạm Trung-Hậu; lá thư này của Má; Chị Thu- Hương; Ông đi chơi với Ba rồi; v.v.
Ghi-Chú:
Nếu các danh-từ chung này không đứng trước danh-từ riêng hoặc đứng trước sở-hữu từ: “của tôi,” “của anh,” và “của chị,” v.v. thì chúng không được viết hoa: các anh, các chị, ông của tôi, anh của tôi, chị của anh, ba của chị, cậu của tôi, v.v.
3.Viết Hoa Các Chữ của Tựa-Đề Các Cuốn Sách, Các Tờ Báo, Bài Văn, Bài Thơ, và Tiểu-Đề của Từng Đoạn Văn trong Một Bài Văn, v.v. :
Dòng Mực Hưng-Quốc (tác-phẩm của Lê Bá Kông); Sức Khỏe và Đời Sống (tác-phẩm của Bác-Sĩ Nguyễn Ý Đức); Án-Tích Cộng-Sản Viê.t-Nam (tác-phẩm của Sử-Gia Trần Gia Phụng); Công Việc Họ Trịnh Làm ở Đất Bắc (Chương V), Việc Giao-Thiệp với Nhà Thanh (tiểu-đề số 1), Việt-Nam Sử-Lược (tác-phẩm của Sử-Gia Trần Trọng Kim); Pháp-Âm (tâ.p-san do Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu làm chủ- nhiệm); Chủ-Nghĩa Sát-Nhân (tên bài thơ của Ý Nga), Trái Đắng Quê-Nhà (thi-phẩm của Ý Nga); v.v.
Ghi-Chú:
* Trên đây là cách viết hoa về các tựa-đề cùng tiểu-đề được áp-dụng ngay trên các cuốn sách hay tờ báo. Tuy-nhiên, nếu chúng ta viết bài tham-luận mà đề-cập đến những tài-liệu của các tác-phẩm hay báo-chí để dẫn chứng thì tên sách hay tên tờ báo không những phải được viết hoa mà còn phải được viết nghiêng (khi đánh máy) hay gạch dưới (khi viết tay): Dòng Mực Hưng-Quốc, Dòng Mực Hưng-Quốc; Trái Đắng Quê Nhà, Trái Đắng Quê Nhà; Pháp Âm; v.v.
* Nếu trong các tư.ađdề hay tiểuđdề này có các giới-từ (với, tại, ở, trong, của, v.v.) và liên-từ (và, hoặc, hay, nhưng, v,v,) thì các giới-từ hay liên-từ này không được viết hoa: Công-Việc Họ Trịnh Làm ở Đất Bắc, Việc Giao-Thiệp với Nhà Thanh.
* Đối với các bài văn hay bài thơ trong sách hay báo-chí mà ta dùng để tham- khảo thì khi đề-cập tới, ta không những phải viết hoa mà còn phải dùng dấu ngoặc kép (” “) nữa: Bài “Vụ Án Điển-Hình của Chế-Độ Độc-Tài Không Luật-Lệ,” trang 217, trong tác-phẩm Án-Tích Cộng-Sản Việt-Nam của Sử-Gia Trần Gia Phụng. Bài “Công Việc Họ Trịnh Làm ở Đất Bắc,” trang 51, trong tác-phẩm Việt-Nam Sử-Lược, Quyển II, của Sử-Gia Trần Trọng Kim. Bài thơ “Nghĩ Đến Quê-Hương,” trang 12, trong thi-phẩm Trái Đắng Quê Nhà của Nữ Thi-Sĩ Ý Nga.
4- Viết Hoa Chữ Đầu Tiên của Mỗi Câu Văn
Phải viết hoa chữ đầu tiên của mỗi câu văn của mình, chữ đầu tiên của câu văn được trích trong tác-phẩm của người khác dù là câu này được viết giữa câu văn của mình, và chữ đầu tiên của mỗi câu thơ dù là ở cuối câu thơ trên có dấu phảy (phết):
– Từ khi khai-thiên lập-địa đến này, không có loài vật nào độc-ác bằng bọn Việt-Minh, tức là bọn Cộng-Sản Việt-Nam.
– Toàn-dân đã có câu ca-dao như sau:
“Từ khi có đất có trời,
“Không gì độc-ác bằng loài Việt-Minh.”
– Bạn tôi bảo tôi rằng: “Chúng ta đều được mời đi tham-dự buổi nói chuyện của Ông Ernie Eves, Thủ-Trưởng Tỉnh-Bang Ontario, vào lúc 6 giờ 30 chiều ngày 12-9-2003 tại London, Ontario.”
II. Các Lỗi-Lầm Mà Một Số Nhà Văn Đã và Đang Mắc Phải về Việc Viết Chữ Hoa hay Không Viết Chữ Hoa.
- Thời xưa, đối với các danh-từ riêng về địa-lý, người ta chỉ viết hoa chữ cái của danh-từ đầu tiên mà thôi, chữ thứ hai không được viết hoa như: Việt-nam, Cửu-long, Thái-bình, Vĩnh-long, Vân-nam, Vân -đồn, Tây-ban-nha. Cách viết này không thích-hợp với ngữ-pháp tiếng Việt về cách viết hoa các danh-từ riêng. Các chữ trong những danh-từ địa-lý này đều phải được viết hoa thì mới đúng: Việt-Nam, Cửu-Long, Thái-Bình, Vĩnh-Long, Vân-Nam, Tây-Ban-Nha.
2. Đa-số người cầm bút thường có thói quen không viết hoa các danh-từ chung đứng trước các danh-từ riêng như: sông Cửu-Long, núi Tản-Viên, phố HàngĐDào, trường trung-học Phan Bô.i-Châu, xa-lộ Biên-Hòa, thủđdô Sài-Gòn, v.v. Cách viết này không đúng với nguyên-tắc viết hoa các danh-từ riêng. Khi những danh-từ chung đi với danh-từ riêng để bổ-nghĩa cho danh-từ riêng thì tất cả các danh-từ này đều phải được viết hoa: Sông Cửu-Long, Núi Tản-Viên, Phố Hàng-Đào, Trường Trung-Học Phan Bội-Châu, Xa-Lộ Biên-Hòa, Thủ-Đô Sài-Gòn, v.v.
3. Trong một vài tác-phẩm được xuất-bản vào năm 1971, một số tác-giả viết danh-từ riêng về tên người bằng cách chỉ viết hoa chữ đầu (họ) và chữ cuối cùng của tên. Các chữ đứng ở giữa của tên dù là một phần của tên kép cũng đều không được viết hoa. Họ viết những tên kép này có khi có gạch nối có khi không và chỉ viết hoa chữ đầu hay chữ thứ hai của tên kép này mà thôi: Lê Thái-hậu, Lê Thái-tổ, Lý Thần-tông, Lý Anh-tông, Nguyễn thành Ý, Nguyễn quang Hiển, Phan quí Hữu, v.v. Cách viết này không đúng với nguyên-tắc viết chữ hoa về tên riêng của người vì các chữ trong danh-từ riêng về tên người đều phải được viết hoa, nhất là các tên kép. Các danh-từ riêng về tên người ở trên phải được viết lại như sau mới đúng: Lê Thái-Hậu, Lê Thái-Tổ, Lý Thần-Tông, Lý Anh-Tông, Nguyễn Thành-Ý, Nguyễn Quang-Hiển, Phan Quí-Hữu.
4. Hiện nay, trong một số báo-chí và sách-vở, người ta không viết hoa cả tựa-đề bài thơ hay bài văn lẫn tên tác-giả của bài thơ hay bài văn đó. Cách viết này trái với nguyên-tắc viết hoa các danh-từ riêng về tên người và về tựa-đề các bài thơ hay bài văn. Tên tác-giả dĩ-nhiên phải được viết hoa, nếu không viết hoa thì đó là sự sai-lầm nghiêm-trọng vì vừa trái nguyên tắc vừa phạm tội vô-lễ. Sởđĩ tư.ađdề của các bài văn hay bài thơ phải được viết hoa là vì chúng là danh-từ riêng, tức là tên riêng của bài thơ hay bài văn. Đã là tên riêng thì phải được viết hoa, nếu không viết hoa thì đó là sự sai-lầm
trầm-tro.ng.
5. Trong quá-khứ cũng như hiện-tại đã có người viết hoa những danh-từ chung một cách vô lý như sau: “dung Da So truoc, roi dung Luat Le Sau de bat phe Thieu so phai phuc tung.” Điều này chứng-tỏ tác-giả của câu văn này không biết nguyên-tắc về cách viết chữ hoa và cách dùng kỹ-thuật để nhấn mạnh các chữ hay ý- kiến cho bạn đọc chú-ý.
Khi viết văn, muốn nhấn mạnh những chữ thuộc loại danh-từ chung thì ta không được viết hoa những chữ đó mà nên để những chữ đó trong dấu “ngoặc kép,” nên gạch dưới các chữ đó, nên viết nghiêng các chữ đó, hay nên viết nét đậm cho các chữ đó. Nếu viết hoa những chữ đó là ta đã làm điều sai lầm. Khi những chữ mà ta muốn nhấn mạnh lại là danh-từ riêng thì ta vừa phải viết hoa những chữ đó vừa viết đậm nét, viết chữ nghiêng, hay gạch dưới các chữ đó. Câu văn có các danh-từ chung được viết hoa ở trên phải được sửa lại như sau mới đúng: “… dùng đa-số trước rồi dùng luật-lệ sau để bắt phe thiểu-số phải phục-tùng.”III. Kết-Luận
Nguyên-tắc viết chữ hoa trong tiếng Việt hết sức rõ-ràng và dễ nhớ. Tuy-nhiên, đã viết văn thì thế nào cũng có khi mắc lỗi-lầm không những về việc viết chữ hoa mà còn vướng phải các lỗi-lầm khác nữa. Việc mắc lỗi trong khi viết văn là chuyện bình-thường. Khi viết văn, bất cứ ai cũng có lỗi, không nhiều thì ít. Tuy-nhiên, các nhà văn càng có kinh-nghiệm viết văn thì lỗi càng ít.
Vấn-đề chính-yếu là sau khi viết xong bài nào, chúng ta phải đọc đi đọc lại càng nhiều lần càng tốt để sửa-chữa, tu-chính, hay nhuận-sắc bài viết của mình. Nếu có thể, nên nhờ người có kinh-nghiệm viết văn và có kiến-văn về đề-tài của bài mình viết để họ đọc giùm và sửa bài đó cho mình. Có như thế thì các lỗi sẽ bớt đi chứ chưa chắc đã sửa hết được. Chính vì thế mà có nhiều nhà văn đã dành rất nhiều thì giờ để sửa-chữa tác-phẩm của họ đến cả chục lần trước khi cho xuất-bản nên tác-phẩm của họ có rất ít lỗi chứ không phải hoàn-toàn không có lỗi. Tuy đã được sửa đi sửa lại mà tác-phẩm vẫn còn có lỗi, đó là chuyện bình-thường vì con người có thất-tình nhục-dục nên việc mắc lỗi-lầm là lẽ dĩ-nhiên.
Chính vì lỗi-lầm ai cũng có thể mắc phải nên một trường học ở Canada đã công-khai phổ-biến cho ho.c-sinh các tài-liệu về “Rights” (Quyền-Lợi) và “Responsibilities” (Trách-Nhiệm) mà trong đó có hai câu như sau: “I have the right to make mistakes” (Tôi có quyền làm điều sai-lầm) và ” I have a responsibility to respect the rights of others to make mistakes” (Tôi có trách-nhiệm tôn-trọng quyền của người khác làm điều sai-lầm). Thấy điều kỳ-cục này, tôi đã viết thư cho nhà trường đó để phản đối việc này với đại-ý là lỗi-lầm thì ai cũng có thể mắc phải nhưng chỉ do vô-tình hay sơ-ý mà thôi. Nếu chấp-nhận có quyền làm lầm lỗi, tức là biết đó là điều sai lầm mà vẫn còn cố tình làm, và chấp nhận quyền làm điều sai lầm của người khác thì có nghĩa là nhà trường đã khuyến-khích học-sinh cứ việc nói bậy, làm bậy, và viết bậy. Như thế thì việc này có tính cách phản giáođục. Họ không viết thư trả lời tôi mà chỉ gọi điện-thoại cho tôi để cám ơn và nói là lời góp ý của tôi rất hữu-lý.
Điều quan-trọng là khi ta mắc lỗi mà có người góp ý sửa cho mình thì mình phải vui vẻ đón nhận để nghiên-cứu lại. Những nhà văn chân-chính bao giờ cũng vui vẻ đón nhận sự góp ý của đô.c-giả để cứu-xét lại bài của mình. Nếu lời góp ý đúng, ta phải viết thư cảm ơn họ, nếu họ góp ý sai thì ta cũng phải giải-thích một cách lịch-sự và lễ-độ cho họ hiểu rõ chứ không được chửi-bới người ta. Khi người ta có lòng tốt chỉ bảo điều lầm-lẫn của mình mà mình lại vì tự-ái chửi-bới người ta thì mình là loại người vô-lễ, vô-liêm-sỉ, và là hạng tiểu-nhân.
Tóm lại, muốn viết văn cho giỏi, ta phải luôn-luôn nghiên-cứu và học-hỏi những điều mình chưa rõ để viết cho đúng cho hay vì biển học mênh-mông mà trí người có hạn. Vả lại, người xưa cũng nói rằng: “Người ta thông-minh thánh-trí đến đâu cũng không sao biết cho hết mọi sự-vật được.” Chính vì thế, chúng ta phải luôn-luôn tìm hiểu, nghiên-cứu, và ho.c-hỏi thêm để làm cho kiến-văn của mình càng ngày càng uyên-thâm và kỹ-thuật viết văn càng ngày càng tinh-nhuệ.Canada, 2003
Cách Sử Dụng “I” và “Y” và Nguyên Tắc Đánh Dấu trong Tiếng Việt—Khải Chính Phạm Kim Thư
Nhiều bạn trẻ ta thán rằng khi viết văn, một số người có khuynh hướng đổi “y” thành “i” trong các trường hợp như “Bắc Mỹ” thành ra “Bắc Mĩ,” “Quý Mùi” thành ra “Quí Mùi,” và “thế kỷ” thành ra “thế kỉ,”v.v. Họ yêu cầu tôi viết bài để giúp họ hiểu rõ tại sao lại có những trường hợp như thế. Chính vì thế, chúng tôi mới có động lực để viết bài “Cách Sử Dụng ‘i’ và ‘y’ trong Tiếng Việt.” Muốn hiểu rõ về cách ghép vần với nguyên âm “i” hay “y” và phương pháp đánh dấu trong tiếng Việt, trước hết chúng ta cần ôn lại về các chữ cái (tự mẫu) cũng như các nguyên âm và phụ âm.
I. Nguyên âm và Phụ âm trong Tiếng Việt
Chữ ” i ” là chữ cái (tự mẫu) thứ 9 trong 23 chữ cái của tiếngViệt và “y” là chữ cái cuối cùng trong 23 chữ cái của tiếng Việt.
23 chữ cái của tiếng Việt gồm có: a, b, c, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n, o, p, q, r, s, t, u, v, x, y. Trong 23 chữ cái này, có 6 nguyên âm chính (a, e, i, o, u, y) và 17 phụ âm đơn (b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x). Bốn nguyên âm “a, e, o, u” trong số 6 nguyên âm chính “a,e, i, o, u, y” này còn có thêm các dấu nữa (ă, â, ê, ô, ơ, ư) nên 4 nguyên âm này trở thành 10 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, o, ô, ơ, u, ư. Chính vì lý do này mà tiếng Việt có tất cả 12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y. Ngoài 17 phụ âm đơn, tiếng Việt còn có các phụ âm kép. Các phụ âm kép do hai hay ba phụ âm đơn làm thành (ch, gh, kh, ng, ngh, nh, ph, th, tr) hoặc do một phụ âm đơn và một nguyên âm chính (i hay u) làm thành (gi, qu). Chính vì thế, tiếng Việt có tất cả 28 phụ âm: b, c, ch, d, đ, g, gh, gi, h, k, kh, l, m, n, ng, ngh, nh, p, ph, q, qu, r, s, t, th, tr, v, x, và 12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y.
II. Cách Sử Dụng Nguyên Âm “I” và “Y”
Tùy theo mỗi vần và theo nghĩa của mỗi chữ, có những trường hợp ta chỉ được dùng “y” hay “i” để viết, chứ không thể dùng “i” để thay thế cho “y” hay dùng “y” để thay thế cho “i” được. Ở một số trường hợp khác, trong cùng một chữ, có người viết bằng “i” có người viết bằng “y” như trong trường hợp “quí” hay “quý” chẳng hạn. Tuy nhiên, theo phong tục tập quán, hầu hết các nhà văn thường viết các chữ với nguyên âm “y” hơn là”i” khi các chữ này có cùng một nghĩa và phát âm giống nhau. Lý do chính là vì các chữ có nguyên âm “y” trông có vẻ lịch sự, kính trọng, quý mến, trang nhã, mỹ thuật, và đầy tình cảm hơn những chữ viết bằng nguyên âm “i,” chẳng hạn như trong trường hợp của nhóm chữ “quý văn hữu,” “quý ông quý bà,” “quý quan khách,” “quý bạn,” “quý vị,” “quý chiến hữu,” hay “quý cụ,”v.v.
A. Những Trường Hợp Có Thể Dùng “I” hay “Y” Cũng Được
Tùy theo tập quán hay thói quen, có người dùng “i” hay “y” để viết cùng một chữ. Dù là được viết dưới dạng bằng nguyên âm “i” hay “y,” nhưng khi được đọc lên thì chữ này vẫn có cùng một âm thanh và cùng một nghĩa.
Thí dụ:
– Ì ạch, ỳ ạch; ì ra, ỳ ra; i như, y như; v.v.
– Hi hữu, hy hữu; du hí, du hý; hí đài, hý đài; hí hởn, hý hởn; hí hửng, hý hửng; hí họa, hý họa; hí kịch, hý kịch; hí viện, hý viện; hí trường, hý trường; báo hỉ, báo hỷ; hoan hỉ, hoan hỷ; hỷ tín, hỉ tín; v.v.
– Kí cóp, ký cóp; kì cạch, kỳ cạch; kì cọ, kỳ cọ; một li, một ly (millimeter), v.v.
– Mỹ lệ, mĩ lệ; mỹ cảm, mĩ cảm; mỹ mãn, mĩ mãn; mỹ miều, mĩ miều; mỹ nữ, mĩ nữ; mỹ nghệ, mĩ nghệ; mỹ nhân, mĩ nhân; mị dân, mỵ dân; v.v.
– Ti tiện, ty tiện; ty tiểu, ti tiểu; tự ty mặc cảm, tự ti mặc cảm; ty trưởng, ti trưởng; năm tý, năm tí; tỳ bà, tì bà; tỳ nữ, tì nữ; tỳ tướng, tì tướng; thị tỳ, thị tì; tỳ thiếp, tì thiếp; tỳ vết, tì vết; tỳ vị, tì vị; tỉ dụ, tỷ dụ; một tỉ đồng, một tỷ đồng; tỉ lệ, tỷ lệ; tỉ mỉ, tỷ mỉ; tỷ muội, tỉ muội; tỉ như, tỷ như; tỉ số, tỷ số; tỉ thí, tỷ thí; tỉ trọng, tỷ trọng; năm tỵ, năm tị; tỵ nạn, tị nạn; tị nạnh, tỵ nạnh; v.v.
– Qui, quy (con rùa); nội qui, nội quy; chính qui, chính quy; vu qui, vu quy; qui chế, quy chế; qui củ, quy củ; qui định, quy định; qui hàng, quy hàng; qui hồi, quy hồi; qui luật, quy luật; qui mô, quy mô; qui nạp, quy nạp; qui phục, quy phục; qui tắc, quy tắc; qui thuận, quy thuận; qui tiên, quy tiên; qui tội, quy tội; qui tụ, quy tụ; qui ước, quy ước; qui y, quy y; quí báu, quý báu; quí danh, quý danh; quí hóa, quý hóa; quí hồ, quý hồ; quí hữu, quý hữu; quí khách, quý khách; Quí Mùi, Quý Mùi; quí nhân, quý nhân; quí nữ, quý nữ; quí ông, quý ông; quí phái, quý phái; quí phi, quý phi; quí quốc, quý quốc; quí san, quý san; quí tòa, quý tòa; quí tộc, quý tộc; quí trọng, quý trọng; quí tử, quý tử; quí vật, quý vật; quí vị, quý vị; quì gối, quỳ gối; quì lạy, quỳ lạy; quỉ kế, quỷ kế; quỉ quái, quỷ quái; quỉ quyệt, quỷ quyệt; quỉ sứ, quỷ sứ; quỉ thần, quỷ thần; thủ quĩ , thủ quỹ; ngân quĩ, ngân quỹ; ký quĩ, ký quỹ; quĩ đạo, quỹ đạo; quị lụy, quỵ lụy…
Ghi Chú:
* Khi viết văn, nhiều người chỉ ghép phụ âm kép “qu” với nguyên âm “y.” Tuy nhiên, trong vài quyển Việt Nam Tự Điển, tác giả chỉ đề cập trường hợp của các chữ do phụ âm kép “qu” ghép với nguyên âm “i” mà thôi. Còn về phụ âm kép “qu” ghép vời nguyên âm “y” thì các tác giả chỉ ghi: “quy, xt qui; quý, xt quí; quy,ø xt quì; quỷ, xt quỉ; quy,õ xt quĩ; quỵ, xt quị” (chữ “xt” là dạng viết tắt của “xem từ”). Có quyển tự điển lại ghi “quy (qui),” “quý (quiù),” “quỳ (quiø),” “quỷ (quỉ),” “quỹ (quiõ),” và “quỵ (quị).” Điều này có nghĩa là ta dùng “y” hay “i” để viết chữ có cùng một nghĩa cũng được.
* Trong trường hợp danh từ riêng như tên thành phố, tên nước, hay tên người, v.v., nếu các chữ đã được viết bằng “i” hay “y” thì ta không được quyền tự ý thay đổi như trong trường hợp của tên thành phố hay tên người sau đây: Thị xã Qui Nhơn, Mỹ Quốc, Mỹ Châu, tỉnh Mỹ Tho, Mị Châu (con gái vua Thục An Dương Vương lấy Trọng Thủy, con của Triệu Đà), Mị Nương (con gái vua Hùng Vương), GS. Doãn Quốc Sỹ, và CH Trần Thy Vân, v.v.
* Khi đánh các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, và nặng lên chữ “quy” hay “qui,” chúng ta phải đánh dấu lên trên nguyên âm “y” hay “i” vì chữ “u” trong chữ phụ âm kép “qu” đã cùng vơiù “q” để biến thành phụ âm kép chứ không còn là một nguyên âm nữa. Trong trường hợp phụ âm kép “th” ghép với vần “ui” hay “uy” thì các dấu phải đánh lên nguyên âm thứ nhất “úi” (thúi) và “úy” (thúy). Nếu nguyên âm thứ 2 có dấu sẵn như “uê” hay “uơ” thì các dấu phải đánh lên nguyên âm thứ 2 này “uế” (thuế) và “uở” (thuở). Xin xem tiếp phần “III” nói về Nguyên Tắc Đánh Dấu Trong Tiếng Việt ở dưới đây.
B. Những Chữ Chỉ Được Viết với Nguyên Âm I”
1. Những Chữ Có Các Vần Sau Đây Chỉ Được Viết với Nguyên Âm “I”: ai, ia, ich, iêc, iêm, iên, iêng, iêp, iết, iêu, im, in, inh, ip, it, iu, oai, oi, ôi, ơi, ui, uôi, ưi, ươi, v.v.
-Ai: Ai oán, thất bại, cải dạng, chài lưới, dai dẳng, khán đài, gái tơ, âm giai, hài lòng, khai giảng, tương lai, mái nhà, van nài, ngái ngủ, lải nhải, lẽ phải, quái kiệt, rải rác, sai bảo, tai vạ, thái độ, từng trải, vai trò, tiêu xài, v.v.
– Ia: Ỉa đái, bia miệng, địa chỉ, đôi hia, trông kìa, khía cạnh, lia lịa, mỉa mai, cái nĩa, nghĩa cử, tứ phía, chầu rìa, sỉa xuống, tia sáng, cái thìa, tría lịa, hú vía, xỉa răng, v.v.
– Ich: Ích lợi, bích chương, chích thuốc, xê dịch, mục đích, hích nhau, đả kích, khiêu khích, lý lịch, tĩnh mịch, chật ních, nghịch ngợm, nhúc nhích, phình phịch, cũ rích, sình sịch, diện tích, sở thích, chỉ trích, xích đạo, v.v.
– Iêc: Xanh biếc, chiếc thuyền, cá diếc, điếc tai, liếc mắt, mắng nhiếc, thương tiếc, ấm thiếc, công việc, xem xiếc, v.v.
– Iêm: Châm biếm; chiêm ngưỡng, bao diêm, điềm lành, hiếm hoi, kiếm hiệp, liêm sỉ, niêm luật, truyền nhiễm, chuyện phiếm, siểm nịnh, tiêm thuốc, thiêm thiếp, viêm lương, Xiêm La, v.v.
– Iên: Biên bản, chiến tranh, diễn thuyết, điên đảo, hiên ngang, kiên cố, xui khiến, liên bang, miền xuôi, nghiên cứu, tất nhiên, luân phiên, trước tiên, thiên vị, triền miên, viên mãn, xiên xẹo, v.v.
– Iêng: Biếng nhác, chiêng trống, chết điếng, tháng giêng, hiêng hiếng, kiêng khem, khiêng vác, liểng xiểng, súc miệng, nghiêng ngửa, riêng biệt, siêng học, hòm siểng, mang tiếng, linh thiêng, xiềng xích, v.v,
– Iêp: Ngọc diệp, trùng điệp, hiếp đáp, duyên kiếp, khiếp sợ, tầy liếp, cơ nghiệp, nhiếp ảnh, trực tiếp, thiệp mời, v.v.
– Iêt: Biết điều, chiết cây, diệt vong, giết giặc, kiệt lực, tinh khiết, quyết liệt, miệt mài, ác nghiệt, nhiệt huyết, quân phiệt, chạy riết, siết chặt, trinh tiết, kiến thiết, triết lý, viết văn, Việt Nam, xiết chặt, v.v.
– Iêu: Phát biểu, chiếu cố, cái diều, điêu luyện, hiếu đễ, kiêu ngạo, cô liêu, văn miếu, nồi niêu, phì nhiêu, phiêu bạt, bún riêu, siêu nhân, tiêu chuẩn, thiếu phụ, thủy triều, xiêu vẹo, v.v.
– Im: Im lặng; bím tóc, con chim, dìm thuyền, him híp, kim chỉ, lim dim, mỉm cười, con nhím (dím), chiếu phim, rim cá, trái sim, tìm tòi, chú thím, v.v.
– In: In sách, bịn rịn, chín chắn, gìn giữ, kín đáo, mịn màng, nín hơi, nghìn đời, nhịn nhục, đèn pin, phin cà phê, nước rịn ra (nhỏ ra, rỉ ra), tin cậy, năm thìn, vịn cớ, xin lỗi, v.v.
– Inh: Inh ỏi, binh lính, chính giữa, dinh dưỡng, đỉnh chung, hình ảnh, kinh đô, khinh bỉ, linh thiêng, minh bạch, an ninh, nghinh chiến, nhinh nhỉnh, má phính, rình mò, sinh khí, tinh khiết, thính giả, vĩnh biệt, xinh đẹp, v.v.
– Ip: Lừa bịp, chíp chíp, dịp may, híp mắt, kịp thì, nhịp điệu, v.v.
– It: Ít ỏi, bịt miệng, chi chít, đá đít, hít hơi, đen kịt, khít khao, lít nước, mịt mờ, con nít, đông nghịt, quịt nợ, ríu rít, đen sịt, xa tít, thin thít, con vịt, xịt thuốc, v.v.
– Iu: Ỉu xịu, bận bịu, chịu khó, dịu dàng, hiu hắt, kĩu kịt, líu nhíu, níu lại, nhíu mắt, phụng phịu, ríu rít, tiu nghỉu, thiu thối, trìu mến, víu vào, bé xíu, v.v.
– Oai: Oai hùng, choai choái, đoái hoài, khoái chí, loài vật, năm ngoái, ngoại cảm, mệt nhoài, soái phủ, toại nguyện, thoải mái, xoai xoải, v.v.
– Oi: Oi bức, thầy bói, cõi Phật, chọi gà, theo dõi, đòi nợ, gọi dạ bảo vâng, giỏi giang, hói đầu, khỏi bệnh, lòi tói, mỏi mệt, nòi giống, ngòi bút, nhoi nhói, rọi đèn, soi gương, củ tỏi, thói đời, trói buộc, vòi nước, xoi bói, v.v.
– Ôi: Ôi chao! Bối rối, cỗi rễ, chồi cây, dồi dào, đôi khi, gội đầu, giồi phấn, hối cải, khôi phục, lôi thôi, mối tình, nối dõi, ngồi xuống, nhồi thịt, phối hợp, rối loạn, sôi nổi, tối cao, thôi thúc, trôi chảy, vội vã, xối xả, v.v.
– Ơi: Ới trời ơi! Bơi lội, dời đổi, đời người, giới thiệu, hơi thở, khởi hành, lợi hại, mới tinh, nơi chốn, ngợi khen, phơi phới, rời khỏi, sợi dây, tơi bời, thời sự, trời biển, vời vợi, xới đất,v.v.
– Ui: Ủi quần áo, búi tóc, cúi đầu, chùi tay, dùi trống, đui mù, giúi tiền, húi tóc, khui thùng gạo, lui lủi, mui xe, nùi lửa, ngùi ngùi, nhủi vào lỗ, phủi bụi, rủi ro, sui gia, túi bụi, thui thủi, trụi lủi, vui vẻ, xui khiến, v.v.
– Ưi: Khung cửi, chửi mắng, gửi thư, ngửi hơi,v.v.
– Uôi: Buổi sáng, cuối cùng, chuỗi hạt, duỗi chân, đuôi ngựa, muối mặt, nuôi dưỡng, nguôi giận, ruổi theo, suối vàng, tuổi tác, xuôi lòng, v.v.
– Ươi: Quả bưởi, cưới hỏi, dưới nước, lười biếng, mười mươi, người ta, rười rượi, lò sưởi, tươi cười,v.v.
2. Những Chữ Sau Đây Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “I” Bằng Cách Ghép Phụ Âm Đơn với Nguyên Âm “I.”
-“B-i”: Bi ai, hòn bi, bí ba bí bô, bí mật, quả bí, vận bí, say bí tỉ, li bì, so bì, phong bì, bì bạch, bì phu, bỉ sắc tư phong, bỉ thử, bỉ mặt, bĩ cực, bị tù, bị động, phòng bị, bị gậy, bị té, v.v.
– “D-i”: Di cư, Di Đà, di tích, man di, tru di, di ngôn, di hài, di họa, di truyền, di vật, dí vào, bẹp dí, dì ghẻ, dỉ tai, bất đắc dĩ, khả dĩ, dĩ nhiên, dĩ vãng, kỳ dị, dị đoan, dị nghị, v.v.
– “Đ-i”: Đi bộ, đi đời, đi cầu, đi đứt, đi thi, đi tu, đi vắng, đi đò, lờ đi, bỏ đi, lẹ đi, đi lẹ, làm đi, đì đẹt đì đùng, đĩ điếm, v.v.
– “G-i”: Gí mũi vào, can gì, có gì đâu, v.v.
– “H-i”: Khóc hi hi, cười hi hỉ, ngựa hí, hí hởn, hí hoáy, hí hởn, hí hửng, hì hà hì hục, cười hì hì, hỉ mũi, hỉ hả, v.v.
– “K-i”: Ki lô mét, một kí, kì kèo, kị (cụ), v.v.
– “L-i”: Li bì, nhỏ li ti, lí la lí lô, lí nhí, lì lợm, lì xì, v.v.
– “M-i”: Mi (mày), mi (nốt đàn), lông mi, mí mắt, bánh mì, Mị Châu, mị dân, Mị Nương, v.v.
– “N-i”: Chỗ ni chỗ nớ (chỗ này chỗi kia), ni cô, nỉ non, nỉ (dạ, len), v.v.
– “R-i”: Khóc như ri, làm ri (làm thế này), nước chảy ri rỉ, nhỏ rí, xanh rì, rì rầm (thì thầm), chậm rì rì, mưa rì rào, mưa rỉ rả, rỉ từng giọt, rỉ tai, rỉ hơi, v.v.
– “S-i”: Cây si, si tình, ngu si, gắn si, đen sì, bán sỉ, liêm sỉ, sỉ nhục, sỉ vả, văn sĩ, kẻ sĩ, sĩ tử, sĩ hoạn, sĩ phu, nghệ sĩ, sĩ quan, binh sĩ, sĩ diện, sĩ khí, v.v.
– “T-i”: Tôn ti trật tự, kẻ tôn người ti, ti hí, ti ma (để tang 3 tháng), ti toe, ti trúc, ti hí, ti tỉ tì ti, tí hon, một tí, tí nhau, tí teo, tí tẹo, tí xíu, tí ti, tí tị, tí nữa, tí chút, tí tách, tí toe tí toét, cậu bé Tí, tí xíu, tì tích, tì hưu, tì tì, tì tay xuống, ngọc tỉ, tỉ tê, lòi tĩ, ganh tị, ghen tị, tị tẹo, v.v.
– “V-i”: Vi cá (vây cá), vi trùng, vi hành, chu vi, hiển vi, huyền vi, hành vi, vi hiến, vi âm, vi vu, vi vút, cái ví, ví von, ví bằng, ví dụ, ví như, trị vì, tại vì, nể vì, vì đâu, vì rằng, bởi vì, làm vì, thay vì, vì thế, vì vèo, vỉ đập ruồi, thủ vĩ, vĩ tuyến, vĩ đại, vĩ đạo, vĩ đại, vĩ nhân, vĩ tuyến, ngôi vị, vô vị, quý vị, bài vị, tự vị, vị chi, tì vị, vị lai, vị tha, vị chi, mùi vị, gia vị, vị giác, vị hôn thê, vị kỷ, vị lai, vị lợi, vị nể, vị tất, vị thành niên, vị trí, vị vong nhân, v.v.
– “X-i”: Xi đái, gắn xi, xi măng, chuồng xí, xí gạt, xí nghiệp, cờ xí, xí chỗ, xí phần, xí xóa, xí xa xí xô, xì hơi, xì xào, xì dầu, xì gà, xì xằng, xì xụt, xì xụp, xì xồ, bạch xỉ, xỉ mũi, xa xỉ, xỉ vả, xị mặt ra, v.v.
3. Những Chữ Sau Đây Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “I” Bằng Cách Ghép Phụ âm Kép với Nguyên Âm “I.”
“Ch-i”: Làm chi vậy, tứ chi, hình chữ chi, thập nhị chi, chi thu, chi nhánh, chí khí, chi lan, tạp chí, chí hiếu, chí cuối, con chí, hạ chí, bút chì, chỉ chỏ, chỉ biết, sợi chỉ, tôn chỉ, chứng chỉ, cấm chỉ, Giao Chỉ, điểm chỉ, chỉ bảo, chỉ số, chỉ trích, chị em, v.v.
“Gh-i”: Ghi chép, ghi nhớ, ôm ghì, v.v.
“Kh-i”: Khi xưa, khinh khi, khi không, khi quân, khi đi, không khí, khí cụ, khí cốt, tức khí, tinh khí, khí cầu, khí hậu, khí phách, khí quản, khí tiết, khí tượng, khí huyết, khí khái, khí sắc, khí vật, đồ khí gió, cười khì, ngủ khì, con khỉ, khỉ khô, v.v.
“Ngh-i”: Nghi hoặc, nghi lễ, tiện nghi, nghi gia, nghi ngút, nghí ngoáy, vô nghì, nghỉ ngơi, nghĩ ngợi, lo nghĩ, hữu nghị, quyết nghị, nghị lực, nghị luận, v.v.
“Nh-i”: Nhi đồng, nhí nhảnh, hạng nhì, nhì nhằng, to nhỉ, đẹp quá nhỉ! Nhĩ mục(tai mắt), mộc nhĩ, nhị đào, đệ nhị, nhị tì, Nhị Độ Mai, Nhị Hà, v.v.
“Ph-i”: Chánh phi, phi mỡ, phi cơ, phi tang, phi mã, phi chiến, phi đạn, Phi Châu, Phi Luật Tân, phi tần, phi phàm, phi lý, phí phạm, phát phì, phì cười, phì nhiêu, phì phà phì phèo, thở phì phì, phỉ lòng, thổ phỉ, phỉ báng, phỉ chí, phỉ sức, phỉ nhổ, phỉ vào mặt, phị mặt ra, v.v.
“Th-i”: Thi cử, thi sĩ, Kinh Thi, con nhà thi lễ, dòng dõi thi thư, thi hài, cỏ thi, thi ân, thí sinh, thí nghiệm, bố thí, thí mạng, thí phát, thí dụ, đói thì ăn, thì giờ, dậy thì, cây thì là, thì ra, thì thầm, thì thọt, thì thùng, hồ thỉ, quả thị, dấu hoa thị, thị vệ, thị giác, thị thực, thị uy, kỳ thị, thị hiếu, yết thị, thị dục, Phạm Thị Thu, miệt thị, thị phi, đích thị, thị vệ, thị nữ, thị xã, v.v.
“Tr-i” Bạn tri âm, bố trí, tri giác, trí mạng, tri phủ, trí sĩ, trí tuệ, thông tri, trí thức, trí trá, bảo trì, duy trì, đan trì, trì giới, trì hoãn, phù trì, thành trì, trì trọng, trụ trì, ấu trĩ, bệnh trĩ, chim trĩ, bình trị, cai trị, giá trị, trị liệu, trị tội, trị thủy, v.v.
C. Những Chữ Chỉ Được Viết với Nguyên âm “Y”
1. Những Chữ Có Các Vần Sau Đây Chỉ Được Viết với Nguyên Âm “Y”: ay, ây, oay, uây, uy, uya, uych, uyên, uyêt, uynh, uyt, uyu, yên, yêt, và ynh.
– Ay: Áy náy, tụi bay, cay cú, ăn chay, day dứt, dạy bảo, đáy nồi, gay gắt, giày dép, hay chữ, khay nước, lay động, may mắn, nảy mầm, ngay thật, nhay nháy, dao phay, quay mình, ray rứt, say mê, tay chân, thay đổi, trảy (hái) quả mơ, vay nợ, xảy ra, v.v.
– Ây: Cái ấy, bây giờ, cây cảnh, cây đàn, chầy cối, dây thép, đây này, gây gổ, giây phút, hây hây, lầy nhầy, mấy quyển sách, nẩy mầm, ngây ngất, nhầy nhụa, phây phây, quây quần, rầy rà, sẩy đàn, tầy trời, thầy mẹ, trẩy hội, vây cánh, xây nhà,v.v.
* Trường hợp sau đây là ngoại lệ vì chữ viết và đọc khác nhau nhưng có cùng một nghĩa: quải gánh, quảy gánh, hay quẩy gánh (đều có cùng một nghĩa là gánh trên vai).
– Oay: Cái khoáy, loay hoay, nghí ngoáy, xoay vần, v.v.
– Uây: Khuây khỏa, ngoe nguẩy, v.v.
– Uy: Uy danh, cung thương giốc chủy vũ, duy ngã, huy hiệu, khuy áo, lũy tre, nguy cấp, suy nhược, tuy nhiên, thủy chung, truy tố, cổ xúy, v.v.
– Uya: Thức khuya, v.v.
– Uych: Ngã uỵch, huých nhau, huỳnh huỵch, v.v.
– Uyên: Uyên bác, chuyên cần, duyên dáng, huyên náo, khuyên bảo, luyến ái, nguyên chất, nhuyễn thể, bệnh suyễn, tuyên dương, thuyên chuyển, truyền thống, xuyên tạc, v.v.
– Uyêt: Chuyết kiến (ý kiến thô thiển của tôi), duyệt binh, huyết mạch, khuyết điểm, nguyệt liễm, tuyệt diệu, thuyết phục, điểm xuyết, v.v.
– Uynh: Huynh đệ, khuynh hướng, luýnh quýnh, v.v.
– Uyt: Huýt sáo, lườm nguýt, xuýt chết, v.v.
– Uyu: Khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, v.v.
– Yên (qu + yên): Quyên sinh, quyến thuộc, quyền lợi, chính quyền, lưỡng quyền, quyền quý, quyển sách, ống quyển, v.v.
– Yêt (qu + yêt): Cương quyết, bí quyết, hành quyết, quyết nghị, xảo quyệt, v.v.
– Ynh (qu + ynh): Mừng quýnh, cây quỳnh, quỳnh bôi, quỳnh tương, v.v.
2. Những Chữ Sau Đây Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “Y” Đứng Một Mình hay Đứng Đầu Mỗi Chữ:
– Nguyên Âm “Y” Đứng Một Mình:
Y đến rồi, y án, vàng y, qui y, chuẩn y hay y chuẩn, y hẹn; y hi, y sĩ, qui y, y theo, ý chí, ý định, ý nhị, ý kiến, ý nghĩa, ý thích, ý tứ, ý vị, ỷ mình, ỷ lại, ỷ lại, ỷ quyền, béo ỵ, v.v.
– Nguyên Âm “Y” Đứng Đầu Mỗi Chữ:
Yêm hoạn (hoạn quan), yếm thế, yểm bùa, cái yếm, yểm trợ, v.v.; Yên Đổ (Nguyễn Khuyến), Bình yên, yên hà, yên xe, yên đổ (tửu sắc yên đổ), yên trí, yến tiệc, yến oanh, yến sào, v.v.; con yểng; yết hầu, yết kiến, niêm yết, yết thị, yết hậu (lối thơ mà câu cuối cùng chỉ có một chữ), v.v.; yêu cầu, yêu chuộng, yêu đạo, yêu quái, yêu vận, phái yếu, yếu điểm, yếu tố, chết yểu, yểu điệu, yểu tướng, v.v.
3. Những Chữ Sau Chỉ Được Dùng Nguyên Âm “Y” Bằng Cách Ghép Phụ Âm Đơn với Nguyên Âm “y.”
-“H-y”: Hy Lạp, hy vọng, hy sinh, hy hãn, hý lộng, hý ngôn, hỷ lạc, hỷ nộ, hỷ sự, v.v.
-“K-y”: Ký âm, bi ký, chữ ký, ký danh, ký giả, ký hiệu, ký lục, nhật ký, ký quỹ, ký sinh trùng, ký sự, ký tên, ký túc xá, ký thác, thư ky,ù ký ức, Bắc Kỳ, cầm kỳ thi hoạ, kỳ cục, kỳ cùng, cực kỳ, kỳ cựu, kỳ diệu, kỳ duyên, kỳ đà, kỳ đài, đến kỳ, kỳ đồng, kỳ được, kỳ ghê, kỳ hạn, kỳ hào, hiếu kỳ, học kỳ, kỳ khôi, kỳ khu, kinh kỳ, kỳ lạ, kỳ lão, kỳ lân, kỳ lưng, kỳ mục, Nam Kỳ, kỳ ngộ, phân kỳ, kỳ phùng địch thủ, kỳ quặc, kỳ quái, kỳ quan, quốc kỳ, kỳ thị, kỳ thú, kỳ thực, Trung Kỳ, kỳ vọng, kỷ cương, ghế trường kỷ, ích kỷ, kỷ luật, kỷ lục, kỷ niệm, kỷ nguyên, tự kỷ, thế kỷ, kỷ yếu; kỹ càng, kỹ nghệ, làm kỹ, kỹ nữ, ngủ kỹ, kỹ nhé, kỹ sư, kỹ thuật, nhà có kỵ (ngày giỗ), đố kỵ, kỵ binh, kỵ gió, kỵ mã, kỵ nhau, kỵ sĩ, v.v.
– “L-y”: cái ly, ly biệt, quẻ ly, hồ ly, ly bôi (chén rượu uống lúc chia tay), ly dị, ly gián, ly hương, ly khai, ly kỳ, ly tán, giáo lý, lý ngư, cố lý, hành lý, đào lý, lý lẽ, lý hóa, lý lịch, lý sự, lý tài, lý thuyết, lý trí, lý tưởng, lý trưởng, mạ lỵ, bệnh kiết lỵ, v.v.
– “M-y”: Bắc Mỹ, Mỹ Châu, Mỹ Quốc, Mỹ kim, hoa mỹ, mỹ sắc, thẩm mỹ, Mỹ Tho, mỹ thuật, mỹ tục, mỹ từ pháp, mỹ tửu, mỹ xảo, mỹ vị, mỹ viện, mỹ ý, v.v.
– “T-y”: Ty mật thám, công ty, tỳ tạng, tỳ kheo, tỳ vị, tỷ đối, tỵ hiềm, v.v.
III. Nguyên Tắc Đánh Dấu trong Tiếng Việt:
– Nếu một chữ có phụ âm đơn hay phụ âm kép ghép với một nguyên âm, thì các dấu phải đánh vào nguyên âm đó: bé, tá, phò mã, khỉ, xạ thủ, v.v.
– Nguyên âm “u” và “i” trong phụ âm kép “qu” và “gi” đã cùng với phụ âm “q” và “g” để biến thành phụ âm kép chứ không còn là một nguyên âm nữa. Chính vì thế mà hai phụ âm kép này ghép với 1 hay 2 nguyên âm thì các dấu phải đánh vào nguyên âm ở ngay sau phụ âm kép này: quý, quí, quá, quà, quả, quỹ quạ, già, giá, giữa, giác, giải, giả, v.v.
– Nếu trước 2 nguyên âm mà có phụ âm đơn hay kép và sau 2 nguyên âm này lại không có phụ âm nào thì các dấu phải đánh vào nguyên âm thứ nhất như: chùa, chúa, thúy, thùy, thúi, lũy, gào, góa, bùa, của, bùi, chúa, khói, khảo, khóa, lìa, trào tráo, khéo, khỏe, khóe, chúi, thủy, và trụy, v.v.
– Trong một chữ có 2 hay 3 nguyên âm mà1 nguyên âm đã có dấu sẵn như: ă, â, ê, ô, ơ, ư, v.v. thì các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, và nặng phải đánh vào nguyên âm đó: thuế, thuấn, thuyền, thuở, uyển chuyển, chữa, suyễn, diễm, truyện, diệu, v.v. Nếu 2 nguyên đều có dấu cả như “ư và ơ” thì các dấu phải đánh lên nguyên âm thứ hai: tướng lãnh, thường lệ, thưởng phạt, dưỡng khí, thượng lộ, v.v.
– Nếu trong một chữ chỉ có 2 nguyên âm mà trước và sau 2 nguyên âm này đều có phụ âm đơn hay kép thì các dấu phải đánh vào nguyên âm thứ hai: đoán, khoáng, khoát, khoét, toàn, khoảng, loãng, loạng choạng, v.v.
– Khi một chữ tận cùng bằng 3 nguyên âm, thì các dấu phải đánh lên nguyên âm ở giữa như: thoái thác, ngoéo cổ, cười, bải hoải, khúc khuỷu, choãi chân, hải ngoại, v.v.
IV. Tổng Kết
Những điều chúng tôi trình bày trên đây là có ý định giúp các bạn trẻ ở hải ngoại có tài liệu học hỏi về cách ghép vần với nguyên âm “i” và “y” cùng với cách đánh dấu tiếng Việt. Việc ghép vần và đánh dấu tiếng Việt hết sức là quan trọng. Chúng ta cần phải học hỏi và nghiên cứu mới thấu đáo được. Có thấu đáo được cách ghép vần và đánh dấu tiếng Việt thì mới giỏi tiếng Việt. Có giỏi tiếng Việt ta mới xứng đáng là người Việt và mới có cơ hội học hỏi về lịch sử, phong tục, và truyền thống của tổ tiên. Có như thế thì nước Việt của chúng ta mới thoát khỏi ách Cộng Sản. Có thoát khỏi ách Cộng Sản, nước ta mới hùng cường và toàn dân mới được hưởng dân chủ, tự do, nhân quyền, âm no, và hạnh phúc muôn đời.
Canada, 2003
Khải Chính Phạm Kim Thư



