Trang chủ » Văn Học – Nghệ Thuật (Trang 4)

Category Archives: Văn Học – Nghệ Thuật

La Paloma—Vintage Esteban

Cha Yêu—Quốc Vượng | Lâm Thuý Vân

5 Ngày Đi “Cruise”—Phương Hoa

Những năm gần đây, phong trào “đi Cruise” của người Việt Nam ở Mỹ và khắp nơi trên thế giới, kể cả bên Việt Nam, coi bộ khá thịnh hành. Nhưng đối với vợ chồng tôi cách giải trí này vẫn còn xa lạ lắm, dù tôi đã từng “nghe ké” rất nhiều về chuyện đi ngoạn cảnh bằng tàu thủy qua bài viết của các “du lịch gia”.

Người viết và ông xã trên tàu Carnival Imagination

Năm vừa rồi, sau khi nghỉ hưu, “cái nhà” của tôi coi bộ không khỏe. Ăn Tết Đinh Dậu xong tôi bàn với ông tìm một chuyến du thuyền ra biển để “xả xui”, may ra tốt hơn cho sức khỏe nhà tôi. Ông xã dễ dãi đồng ý ngay. Ừ thì đi. Coi như là ăn mừng kỷ niệm năm chục năm ngày cưới sớm hơn… mười hai tháng. Chàng đùa.

Nghe thế tôi muốn đi ngay. Nhưng mãi đến nay tôi mới kiếm được chuyến du lịch đường biển ngắn năm ngày, qua Mễ Tây Cơ.

Tàu khởi hành từ bến cảng Long Beach, California, nên những người sống ở Nam Cali rất may mắn, mua vé xong chỉ chờ ngày lên tàu. Chúng tôi ở miền Bắc, phải xuống “Tiểu Sài Gòn” mới đi taxi ra bến cảng. Tôi xếp thời gian đặt vé máy bay cùng ngày tàu khởi hành để khỏi mất công ở khách sạn. Xin ghi lại đây vài kinh nghiệm và kỷ niệm của chuyến hải hành, hầu chia sẻ với quý độc giả ai có ý định đi du thuyền ngắm cảnh trong tương lai. Bắt đầu bằng chuyện taxi.

– Uber đã lấy “Job” của người đồng hương taxi

Tôi tuy ở miền Bắc nhưng rất thường bay xuống Nam Cali, mỗi năm ít nhất vài lần, khi thì dự lễ phát thưởng Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo, khi thăm bà con, tham dự các việc quan, hôn, tang, tế của bạn bè. Thời gian qua có người giới thiệu cho tôi một tài xế taxi đồng hương rất vui vẻ dễ mến. Hẹn là anh đến đúng giờ, tôi xuống máy bay ra cổng là anh có mặt. Thường khi làm hẹn tôi hỏi giá trước và chuẩn bị sẵn số tiền cộng thêm chút tiền “tip”, đến nơi là đưa cho anh rồi xuống xe. Để phòng hờ khi cần thiết, tôi có mở một tài khoản với công ty Uber “Taxi trên ứng dụng” trong điện thoại, nhưng chưa bao giờ tôi đi xe họ.

Lần này sau khi đặt vé chuyến “Cruise”, tôi tò mò lấy điện thoại bấm thử Uber thì thấy từ phi trường đến cảng Long Beach 12 miles, họ cho cái giá $15. Ông xã tôi cản, thôi em, mình hẹn anh taxi quen cho có tình nghĩa trước sau, dù anh ấy có tính hơn Uber chút đỉnh cũng được. Tôi nghe lời gửi tin nhắn cho anh đồng hương làm hẹn khứ hồi. Từ phi trường ra cảng, rồi lúc về từ cảng đưa chúng tôi lại phi trường. Tôi hỏi giá để chuẩn bị tiền như mọi khi, thì anh tính cho tôi giá cao“gấp ba lần” giá của Uber. Tôi giật mình, nói nhẹ nhàng nhờ anh xem lại có nhầm địa chỉ hay không vì đường đi chỉ có 12 miles, và Uber tính giá khác xa. Anh cũng… rất nhẹ nhàng giải thích, vì anh phải chạy từ nhà ra phi trường, từ phi trường ra bến cảng, rồi từ bến cảng phải chạy về! Ồ tôi hiểu rồi! Tôi nói, và chân thành xin lỗi anh.

Ngày đi, sau khi máy bay hạ cánh, trên đường ra cổng tôi bấm vô Uber, cho địa chỉ đến bến cảng. Một cái danh sách tài xế hiện lên,và tôi chọn ngay chiếc Toyota Camry có đăng kèm hình một thanh niên Mỹ tên David nằm đầu tiên trong danh sách. Thú vị thay, hệ thống internet tự động nối máy cho tôi với tài xế. Anh ta nói tôi biết hiệu và màu xe để tôi dễ nhận, hỏi tôi cổng ra, và nói năm phút nữa sẽ tới. Tôi vừa… cà kê cho biết cổng ra, nói màu áo quần của chúng tôi đang mặc thì David đã thắng xe cái rẹt ngay trước mặt!

Trên đường ra bến cảng, tôi hỏi chuyện David cậu sinh viên đại học làm thêm nghề tài xế Uber, và vô cùng ngạc nhiên khi khám phá ra sự tuyệt vời của Uber. Lý do mà Uber “giật khách” của các taxi là sự nhanh chóng và giá rất rẻ, còn rẻ hơn cả Shuttle của chuyến tàu du lịch. David nói “bộ chỉ huy” Uber quản lý và theo dõi đường đi nước bước của các tài xế nhân viên. Trong lúc làm việc, điện thoại cài trên xe tài xế được mở online. Có khách cần, Uber kết nối cho liên lạc ngay với tài xế nào đang ở gần nhất hiện lên trong hệ thống. Hôm ấy David chở người đến phi trường vừa quay xe về thì được kết nối với tôi, cậu lập tức trở lại. Tiện lợi vô cùng. Tôi lẩn thẩn nghĩ, không biết rồi đây trong tương lai khi Uber ngày càng thịnh hành, thì công ty taxi và các taxi tự do như anh tài xế Việt tôi quen sẽ ra sao.

– Ngày Thứ Nhất: Lên Tàu, gặp gỡ con gái người tử sĩ

Theo thông báo, tàu sẽ khởi hành lúc 5:30 chiều. Nhưng chúng tôi đến cảng mới hơn11 giờ sáng,đã có nhân viên đón nhận hành lý,nói sẽ đưa qua check cổng an ninh dùm, rồi đem đến tận phòng. Chúng tôi rảnh taythong dong chụp vài tấm hình đầu tiên. Chiếc tàu to đến nỗi không thể nào thu hết vào ống kính, nhà tôi bèn chạy vào trạm quan sát nhờ người nhân viên trực chụp dùm một tấm rồi cùng tôi vô cổng xét an ninh. Sau đó lên tàu làm thủ tục nhận phòng. Tàu rộng thênh thang, cao14 tầng với nhiều trung tâm, hồ bơi, sòng bài, nhà hàng,khu giải trí,shopping, trung tâm thể dục…xen lẫn với nhiềudãy phòng ngủ nên phải mất một thời gian chúng tôi mới tìm được phòng của mình. Hai vali hành lý đã nằm sẵn trước cửa.

Phòng rất sạch sẽ, đầy đủ tiện nghi, có bàn ghế ngồi trang điểm, bàn ăn, TV và két sắt an toàn. Cửa sổ“Oceanview” thật tuyệt. Nhìn ra ngoài thấy nước biển xanh lơ êm ả lặng lờ vì tàu đang đậu. Phòng tắm cũng rất thoải mái, sạch sẽ thơm tho, nếu đem so sánh thì không thua những phòng ngủ cỡ 4 sao trên bờ. Tờ chương trình cho ngày đầu tiên được đặt sẵn trên bàn. Chúng tôi tắm rửa nghỉ ngơi một lát, rồi dậy “diện đồ đẹp” đi lên nhà hàng Lido ở tầng10 dự bữa trưa đầu tiên.

Thức ăn tự chọn của nhà hàng Lido thật là đa dạng và phong phú. Hôm nay đặt biệt có nhiều món Ý như mì xào, cá chiên bột, bò xào thập cẩm rosemary, thêm bít tết của Mỹ. Ăn xong, chúng tôi bắt đầu đi dạo “Get to know your ship” theo lời khuyên, để khám phá các nơi trên tàu, chuẩn bị cho những bước tiếp theo lịch trình trong ngày. Nơi đây còn có 24 giờ pizza và nhiều món khác như bít tết, Carnival Deli, Swirl Soft Serve sẵn sàng chờ đợi những ai cảm thấy cái bao tử đòi hỏi trong đêm khuya hay sáng sớm, khi mà các bữa chính chưa sẵn sàng. Chúng tôi cũng tìm được, buổi trưa ở tầng 10 có “Guy’s Burger Joint” là món Berger tự chọn nhân cho mình,và “Chef’s Choice Italian” món ăn Ý rất lạ. Dinner thì có các nhà hàng Pride Dining Room, Spirit Dining Room trên tầng 8, và hàng chục bar rượu với các giàn nhạc quy mô. Giữa khoang tàu tầng 10, là khu vực hồ bơi, nhiều hồ nước nóng spa xoa bóp, nước xoáy ào ào bọt văng tung tóe. Mới mấy giờ đầu mà nơi đây đã rộn ràng, người lớn trẻ em lớp tắm lớp bơi lớp nằm phơi nắng trên những dãy ghế.

Nhìn lên thấy còn mấy tầng trên cao ngất ngưởng, tôi lôi ông xã dắt tay chàng bắt trèo bộ lên cầu thang chứ không đi thang máy. Vừa trèo vừa hì hục thở, cuối cùng chúng tôi cũng leo tới trên boong, tầng 14, ở phía đầu tàu. Đuôi tàu xa tít mù tận phía bên kia. Gió thổi lồng lộng trên boong. Phó mặc mái tóc đã sấy chải kỹ càng cho gió tốc, tôi đứng tựa vào thành tàu hít từng hơi dài, cố nhét bầu không khí trong lànhvào cho đầy hai buồng phổi. Cả khu vực này là công viên với sân cỏ (giả) xanh rờn, có con đường lớn dành cho người chạy bộ, mỗi vòng khoảng chừng mười lăm phút. Nhiều người đang chơi golf trên cái sân mini giữa bãi cỏ. Đi dạo mấy vòng quanh công viên, thấy đã sắp đến giờ tàu ra khơi nên chúng tôi phải trèo xuống về phòng để chuẩn bị.

Hồi trưa trước lúc ra ngoài tôi tiện tay lấy ít tiền lẻ bỏ lên bàn, ghi vào tờ giấy chữ “Tips” đặt lên đó để cho bồi phòng ngày mai. Không ngờ trên tàu họ dọn phòng hai lần/ngày. Khi chúng tôi trở về thì gặp người bồi phòng vừa đóng cửa bước ra. Chúng tôi chào chàng trai nhanh nhẹn vui vẻ, vừa nói vài câu thì nghe loa thông báo mọi người phải có mặt ở sảnh đường để họp với thuyền trưởng.

Chúng tôi được chào đón trước cửa và đưa vào ngồi trong đại sảnh chờ thuyền trưởng đến. Bên trái tôi là một phụ nữ Mỹ trắng, hai tay cô đeo hai chiếc vòng chống ói. Tôi chào làm quen, hỏi có phải cô thường say sóng. Cô ta cười chào lại:

– Tôi bị say sóng ghê lắm, ngồi xe hơi cũng ói đến mật xanh, nếu tôi tự lái thì không sao. Nhờ những chiếc vòng này mà từ trưa đến giờ tôi có thể ăn uống đi đứng bình thường như mọi người. Cô đưa hai tay cho tôi coi.

Nói chuyện một lúc, thì ra phòng cô cùng khoang với chúng tôi. Vậy mình là hàng xóm rồi. Tôi đùa. Cô tên Kathy làm nghề y tá, đến một mình từ Arkansas. Anh chồng nhường cô đi chơi giải trí vì việc làm của cô căng thẳng, còn anh ở nhà trông hai đứa con nhỏ. Cô có vẻ cảm tình vì biết tôi là người Việt. Khi Kathy nói ba cô là một bác sĩ quân y Hoa Kỳ đã từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, tôi kêu lên thích thú.

Nhưng tôi chưa kịp hỏi thêm thì thuyền trưởng Pierluigi Lanaro tới, nên cuộc trò chuyện đành bỏ dở. Sau khi tóm tắt điều lệ và dặn dò những việc cần thiết để giữ an toàn cho bản thân và mọi người trên tàu, du khách được chia làm nhiều nhóm theo số tầng của khoang thuyền và khu vực phòng ngủ. Chỉ có hai chúng tôi là dân “đầu đen” trong nhóm đủ sắc dân này. Và suốt cuộc hải hành chúng tôi không gặp người Việt nào, cho đến khi lên bờ chờ xe Uber nhà tôi có gặp và trò chuyện cùng một vị HO cư ngụ ở Nam Cali. Tiếp đến, người trong thủy thủ đoàn đưa chúng tôi lên boong chỉ dẫn cách sử dụng áo phao phòng khi hữu sự. Kathy cũng ở trong nhóm, nhưng cô đứng cách xa nên dù tôi nôn nao muốn hỏi thăm về ba cô mà không thể bắt chuyện được.

Đúng 5:30pm tàu nhổ neo, kéo còi rời bến. Tôi xí xọn rủ ông xã trở về phòng thay đồ khác, trang trọng hơn, cho bữa tối đầu tiên ở nhà hàng Pride Dining Room trên tầng 8 theo lịch hẹn 6 giờ khi tôi đặt vé.

Đội ngũ nhân viên mặc đồng phục đứng nghiêm trang tại cửa nhà hàng đón chào chúng tôi với vẻ nồng ấm, đưa đến tận bàn, và trang trọng kéo ghế mời ngồi. Tôi thầm nghĩ, thật không uổng công chúng tôi “ăn diện” lịch sự. Điều thú vị là, bàn này họ “book” cho chúng tôi suốt tất cả các buổi dạ tiệc của chuyến đi. Khung cảnh nhà hàng đẹp lung linh huyền ảo, buổi trình diễn mở màn chào đón vui nhộn của đội ngũ đầu bếp, nhiều món ăn thật lạ mắt và quá ngon, cộng thêm chút men nồng của ly cocktail, làm cho chúng tôi có cảm giác như là đang đi… lạc vào động thiên thai trong huyền thoại.

Ăn xong chúng tôi ra ngoài rồi lại trèo lên boong tầng 14 lần nữa, để tiêu bớt số năng lượng vừa nạp vào hơi quá tải vì thức ăn ngon. Nhưng lần này đi bên phía đuôi tàu, khu vực dành cho sân chơi và trượt nước của trẻ em. Vì còn trong giờ ăn nên ở đây vắng vẻ. Tàu đã khá xa bờ, chạy thật nhanh vì trời yên biển lặng. Tôi dạo quanh, mải mê ngắm cảnh trời nước mênh mông dưới ánh chiều tà, và quên mất chàng “người dưng khác họ”của tôi hết một lúc. Đến chừng quay lại thì không thấy chàng đâu. Đi hết mấy vòng tìm kiếm, cuối cùng tôi bắt gặp anh đứng lặng lẽ phía sau đuôi tàu. Tay vịn thành lan can, mắt anh mơ màng dõi về hướng xa xăm với vẻ thất thần. Tôi bước lại thật gần anh mới giật mình như sực tỉnh:

– Đứng đây nhìn cảnh biển nước bao la xa tít mù khơi không thấy bến bờ, anh chợt nhớ lại cái cảm giác lần vượt biên ngày ấy. Thật là kinh hoàng! Chiếc ghe câu bé xíu chở những mười bảy mạng người, lắc lư trên sóng, mong manh như chiếc lá…

Nghe anh nói tôi chợt lạnh mình. Ôm vội lấy anh mà rưng rưng nước mắt. Nhớ lại cái ngày anh rời nhà xuống thuyền ra đi bỏ lại tôi và bốn đứa con thơ dại, tôi đã sợ hãi đến mức nào. Hàng ngày bị triệu tập lên đồn công an tra hỏi. Họ bắt cả đám thân nhân có người vượt biên ngồi trước cửa cái cầu tiêu thúi hoắc viết tường thuật, chứ không cho ngồi trong phòng. Vừa viết tôi vừa tự trách mình sao lại đồng ý để anh đi, giờ này bóng chim tăm cá không biết sống chết thế nào, còn bị hành hạ tinh thần, bỏ bê con cái ở nhà khổ sở. Nhưng nhớ lại các con tôi thường nói, nhờ sự hy sinh của ba mà chúng con mới có ngày hôm nay, tôi thấy sự liều lĩnh của anh rất là xứng đáng.

– Cũng may nhờ ơn phước thiêng liêng, anh đã may mắn đến được bến bờ tự do, nếu không thì em và các con sẽ chẳng biết ra sao ngày đó, và giờ này mình đâu có cơ hội được đứng nơi đây phải không anh. Tôi nói.

Anh cũng ôm lại tôi thật chặt. Nỗi ám ảnh sóng nước hiểm nguy ngày trước hiện về đã khiến cho anh xúc động gần như nghẹn lời. Cuối cùng anh khẽ nói: – Đúng lắm, trải qua bao nhiêu sóng gió mà mái gia đình nhỏ của chúng ta vẫn còn giữ được đến ngày nay, tương lai các con sáng lạng, cũng là nhờ ơn phước Bề Trên.

Đứng im lặng bên nhau một lúc thật lâu, chúng tôi lại dắt tay trèo xuống, về phòng chuẩn bị đi xem diễn kịch. Buổi tối, chúng tôi đi xem“Welcome Aboard Show” là sô chào mừng, ở sân khấu Dynasty Lounge tầng 8 do Jase, giám đốc chuyến hải hành điều khiển. Đến gần 11 giờ, chúng tôi lên tầng 9 vô “Illusions Nightclub” bar gọi hai ly sâm banh và xem đêm dành cho phụ nữ “Ladies Night” do DJ Mad Mike dẫn chương trình, rất hay và vui nhộn. Chúng tôi về đến phòng là đã nửa đêm, buồn ngủ ngất ngư nhưng niềm vui thì đầy ắp theo vào cả trong giấc ngủ. Thật là một bắt đầu tuyệt diệu.

– Ngày Thứ Hai: Lênh Đênh Trên Biển

Đúng 6 giờ, tôi đánh thức ông xã dậy thay đồ thể dục, lò dò trèo lên boong chạy bộ nửa tiếng rồi về phòng mặc đồ lên tầng 10 ăn sáng để còn chuẩn bị cho các hoạt động trong ngày. Đó là một ngày dày đặc các hoạt động vui chơi trên tàu. Có đến hàng trăm chương trình giá trị như Live Show with Jase, Art Guess The Price có thưởng tại phòng tranh, Raffle xổ số, $1,000 Bingo lô tô, Thriller Dance Class… Nhiều lắm, nhưng chúng tôi chỉ tham gia được một số tiết mục vì không đủ thời gian.

Sau khi ăn trưa ở Spirit Dining Room, chúng tôi lấy hai ly nước trái cây và trèo lên tầng 10 ngồi tắm nắng trên dãy ghế đặt dọc theo hai bên thành tàu quay mặt ra phía hồ bơi. Một phụ nữ mặc đồ rất “mát mẻ”che mặt bằng chiếc mũ rộng vành nằm phơi nắng trên chiếc ghế bên cạnh tôi. Khi cô ta lấy mũ ra, tôi vui mừng thấy đó là Kathy, cô y tá tôi quen ngày trước. Chúng tôi bắt đầu tán chuyện. Đang nói bỗng Kathy nhìn tôi và hỏi:

– Chị ở Việt Nam có biết nơi gọi là Long Khanh? Kathy đọc không dấu nên phải mất một hồi lâu, tôi bắt cô lập đi lập lại đánh vần từng chữ mới nhận ra đó là Long Khánh. Tôi giật mình:

– Biết chứ! Nơi đó thuộc miền Nam, gần Sài Gòn, làm sao cô biết chỗ này?

– Bố tôi đã tử trận ở đó. Cô nói, mắt nhìn vào khoảng không, vẻ mặt rất buồn. Năm năm trước tôi và mẹ có qua Việt Nam tìm đến vùng ngày xưa bố tôi đóng quân…

– Kathy, tôi vô cùng xin lỗi! Tôi nói trong xúc động, vói tay vỗ vào bờ vai trần của cô và an ủi: – Cuộc chiến Việt Nam thật là tồi tệ. Chồng tôi cũng là quân nhân thời đó, sau cuộc chiến anh đã liều thân vượt biển đến Philippines,và cuối cùng được sang Mỹ định cư.Có lẽ chuyện nhà tôi cũng từng là quân nhân trong chiến tranh Việt Nam làm Kathy thấy gần gũi hơn. Cô kể tôi nghe thêm về cha cô. Ngày ông rời Mỹ sang Việt Nam Kathy mới lên năm tuổi.

– Ba thương tôi lắm. Tôi còn nhớ ngày tiễn đưa ở sân bay ba ôm hôn tôi, mắt ba ngầu đỏ, dặn tôi ở nhà phải học giỏi, và ba hứa năm sau sẽ trở về. Nhưng rồi một năm sau người ta đưa ba về trong chiếc quan tài có phủ lá cờ Mỹ! Mẹ tôi thì ngã bệnh,còn tôi vì cú sốc nên bị chứng trầm cảm nặng trong nhiều năm. Do vậy mà khi lớn lên dù bớt bệnh, tôi vẫn không thể học nổi bác sĩ như lời tôi từng hứa với ba, lớn lên tôi sẽ làm bác sĩ như ba. Cố gắng lắm tôi cũng chỉ học xong được y tá!

Tôi bỗng cảm thấy muốn khóc. Trường hợp Kathy sao mà giống tôi quá thể! Ba tôi ngày xưa cũng yêu tôi vô vàn! Người cũng mất lúc tôi bắt đầu đi học, và tôi từng hứa với ba sau này lớn lên tôi sẽ làm nghề dạy học như ba. Nhưng rồi vì chiến tranh tôi đã bỏ học nửa chừng. Cho nên khi sang Mỹ có cơ hội dù tuổi không còn trẻ tôi vẫn ráng vào đại học để trở thành cô giáo cho tròn lời hứa với ba và mơ ước của tôi. Quả thật đã là con người thì dù có khác màu da sắc tóc, trái tim người cha người mẹ người con nào trên trái đất cũng chứa đựng lòng thương yêu ngút ngàn. Ngồi bật dậy, tôi bỏ hai chân xuống đất quay về phía Kathy và nói, mắt tôi đỏ hoe:

– Ôi Kathy! Ba tôi cũng mất khi tôi còn rất nhỏ. Cô còn khá hơn tôi là đã thực hiện lời hứa với ba sớm, dù không phải là bác sĩ nhưng y tá cùng ngành là tốt rồi. Còn tôi mãi đến lúc làm… bà nội mới hoàn thành được lời hứa với ba tôi, làm cô giáo.

Kathy nhìn tôi với vẻ mặt buồn đồng cảm. Một lát cô tiếp tục tâm sự. Sau ngày ba cô tử trận, mẹ cô có nhiều ác cảm với người Việt Nam, nếu không nói là rất ghét. Thông tin sai lạc từ những người phản chiến, TV, báo chí, là nguyên nhân. Lý do nữa là vì bịnh trầm cảm của Kathy ngày càng tồi tệ làm mẹ cô đau lòng, oán trách người Việt Nam. Nhưng về sau Kathy lớn lên, đọc được bài viết của các cựu chiến binh Mỹ, những người sống trở về thì cô và mẹ đã hiểu ra, nên mới cùng nhau đi Việt Nam. Kathy cho biết, tuy chuyến đi đó không gặt hái gì nhiều, nhưng phong cảnh và sự hiền hoà của người dân Việt Nam đã dành được cảm tình của hai mẹ con.

Tiện dịp, tôi kể cô nghe về bài viết Bảo Tàng Của Người Lính Bị Bỏ Quên, giải Nhất Viết Về Nước Mỹ Việt Báo của tôi, nói bản tiếng Anh hiện đăng trên trang nhà Viện Bảo Tàng Marysville, nếu cô muốn đọc để hiểu thêm về cuộc chiến Việt Nam ngày trước tôi sẽ đưa cho. Kathy hào hứng xin tôi địa chỉ trang web. Vì không có bút mực, tôi đánh máy địa chỉ trang web Bảo Tàng vào điện thoại cho cô. Kathy rất vui, hứa sẽ tìm đọc và đưa mẹ cô cùng đọc khi về nhà. Tôi còn hẹn cô sau dạ tiệc tối nay sẽ cùng nhau đi dự buổi hòa nhạc, “80S Music Trivia Party” do giám đốc Jase điều khiển.

Khi trở về phòng để nghỉ trưa, vừa bước vào cửa, ông xã tôi bỗng phá ra cười ngặt nghẽo. Trên giường ngủ, ra mền gối đã thay mới, sắp xếp thẳng băng như hôm qua chúng tôi mới đến. Nhưng lần này ở đuôi giường có đặt thêm một đôi thỏ dính liền nhau đầy đủ tay chân, tai to mũi vểnh mắt đen, thắt bằng tấm khăn lông trắng nuốt. Có lẽ cậu bồi phòng hôm qua gặp mặt tưởng chúng tôi là “tân lang tân giai nhân” đi hưởng tuần trăng mật, nên đã tặng cặp thỏ trong tư thế “tình hết biết” này. Cho đến cuối chuyến đi, mỗi ngày trên giường chúng tôi đều có đôi thú dễ thương thắt dính liền nhau, khi thì cặp ếch, lúc đôi chim ngộ nghĩnh.

Tối hôm thứ nhì là đêm dạ tiệc “Cruise Elegant” quan trọng nhất của chuyến đi. Họ yêu cầu mọi du khách phải ăn mặc lịchsự, không được mặc áo thun, quần sọt, mang sandals hay áo quần xuề xòa. Nếu ai không mang theo “đồ lớn” có shop cho thuê đồ dạ hội trên tàu. Và đó quả là một buổi tiệc nhớ đời. Nhiều món ăn lạ tôi không nhớ tên và đồ biển thì ngon đặc biệt, với bài nói chuyện vui của thuyền trường, giàn nhạc chơi nhộn nhịp, ban nhiếp ảnh đến từng bàn chỉ cách tạo dáng chụp hình kỷ niệm cho mọi người, và đội vũ “nhà bếp nhà hàng” thật là thú vị.

– Ngày Thứ Ba: Cập Bến Catalina

Catalina là một đảo nhỏ, nguyên thủy của người da đỏ bản xứ, thuộc tiểu bang California, với chiều dài chỉ 35 km và chiều rộng 13 km. Nhưng đây là điểm dừng của nhiều tàu thuyền du lịch vì lịch sử của nó. Trên đảo có rất nhiều chuyến du lịch ngoạn cảnh độc đáo, như đu dây ngang qua hẻm núi sâu, lên tàu thuỷ coi cá heo và các loại thủy sản, thăm sòng bài cổ kính… Chúng tôi đặt tour đi thăm thành phố Avalon, tháp William Wrigley và ngồi Thuyền Thủy Tinh xem cá lội dưới biển. Đường lên tháp Wrigley là con dốc đứng trèo mệt hụt hơi. Vườn Botanic Garden có rất nhiều loại hoa lạ và xương rồng quý hiếm, dù mệt mỏi ai cũng cố gắng dừng lại chụp vội vài tấm hình. William Wrigley là người sáng lập loại kẹo cao su có vị trái cây của Mỹ nổi tiếng trên thế giới đến ngày nay. Ông từ Philadelphia đến Catalina và yêu thích phong cảnh nơi này, ông bỏ tiền xây dựng nhiều cơ sở hữu ích cho cộng đồng, mua tàu chạy bằng hơi nước, xây Casino, trồng cây xanh và nhiều hoa lạ, tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân trên đảo. Sau khi viếng tháp và vườn xương rồng, tàu đưa chúng tôi xem cá cũng đầy thích thú. Đáy tàu thủy tinh, chạy ra khơi gặp đủ loại cá bơi lội dày đặc dưới nước nhìn thật đã mắt.

Buổi chiều về tàu sớm, chúng tôi vào trung tâm mua sắm lựa vài món đem về làm quà, rồi ghé vô sòng bài kéo máy. Gặp may mắn, chúng tôi kéo trúng “lô độc đắc” tới cả chục nghìn… pennies. Ngồi chơi thêm lúc nữa, thua lại hơn một nửa thì tới giờ cơm tối nên phải ra đổi tiền mà về. Thật vui, vì dù sao thì cũng gọi là…thắng.

– Ngày Thứ Tư: Cảng Ensenada, Mễ Tây Cơ

Trong cái danh sách giới thiệu các điểm du lịch trên đảo Ensenada,Mễ Tây Cơ, tôi chọn một chuyến đi có giá cả nhẹ nhàng nhưng địa danh đến thì nghe ngồ ngộ. “Water Sproud”, Nước Mọc. Tại một góc biển, có dòng suối tự nhiên nước từ trong lòng núi phụt lên từng cây cao như mái nhà. Từ chỗ đậu xe đến nơi Nước Mọc, du khách phải đi ngang qua những dãy hàng hóa và thức ăn bày bán dọc hai bên đường. Người ta kêu réo, mời chào inh ỏi, có người còn đem thức ăn ra mời du khách ăn thử miễn phí. Ai nấy tha hồ mua sắm vì thứ gì cũng đẹp mà rất rẻ.

Tôi đã biết Mễ Tây Cơ là một nước nghèo nên nhiều người dân vượt biên giới vào Mỹ tìm phương kiếm sống và gửi tiền về giúp gia đình. Hôm nay ngồi trên xe ngoạn cảnh vòng vòng Ensenada, tôi mới thấy hết cái nghèo của họ. Đây là thành phố biển, tiện lợi cho các du thuyền từ Mỹ đổ khách du lịch vào nườm nượp. Nhưng nhìn quang cảnh hai bên đường sao mà nghèo xác xơ. Nhà cửa nhỏ xíu, đa số là những căn nhà cỡ chừng bốn, năm mét vuông, thấp lè tè, nhem nhuốc cũ kỹ. Có rất nhiều nhà xây mới nửa chừng nhưng đã cũ mốc, hoặc chỉ xây tường mà chưa có mái, hay một vài bên vách đứng chơ vơ, rồi có chỗ chỉ vỏn vẹn mảnh nền để đó cho cỏ mọc, tất cả đều nhìn cũ kỹ như nhà từ thời tiền sử còn sót lại.

Bà hướng dẫn viên gốc Mễ giải thích, người dân ở đất nước này thường tự xây nhà cho họ. Khi để dành được tiền họ mua chút đất, rồi kiếm tiền mua gạch đá xây dần dần từng phần cho đến chừng nào xong, có nhà vì nghèo quá nên không bao giờ xây xong, phải chờ đến đời con cháu tiếp tục. Ở Hoa Kỳ, tôi từng ngạc nhiên thấy nhà cô bạn Mễ bốn gia đình mười mấy trẻ con cùng bà mẹ già sống chung vui vẻ, nấu nướng tiệc tùng hát ca trong căn nhà ba phòng ngủ. Bây giờ thì tôi đã hiểu.

Bến cảng Ensenada rất sâu, du thuyền cập bến sát cầu tàu. Du khách chỉ bước lên bờ là thuộc về nước Mễ. Vậy mà khi trở lại Mỹ, an ninh rà soát kỹ vô cùng. Phải kê khai tất cả những thứ từ Mễ mang về. Thức ăn hay trái cây đều bị cấm tuyệt.

Chúng tôi trở về tàu khi trời còn nắng nên vội thay đồ chạy ra hồ bơi. Đây là lần bơi duy nhất trong chuyến đi. Ít nhất cũng cho “đáng công” đi mua mấy bộ đồ tắm, tôi nói với ông xã. Bữa tối sau cùng trước lúc tàu nhổ neo về lại California cũng khá thịnh soạn. Nhưng chúng tôi ăn vội vàng để tận dụng thời gian đi xem văn nghệ các nơi. Tới Comedy Club coi Doug Williams diễn hài “Spare The Rod”, Thương-Cho-Roi-Cho-Vọt, cười một trận ngả nghiêng, rồi chạy qua Shangri La Loinge xem thi hát Karaoke có thưởng, sau cùng xuống tầng 8 vô Mirage Piano Bar kêu hai ly rượu đỏ ngồi xem Ewart điều khiển chương trình nhạc yêu cầu. Rượu vào…hành động ra, có hơi men chúng tôi cũng cao hứng vỗ tay nhịp chân ầm ỹ, lắc lư cùng mọi người, và cảm thấy mình như đang trong thời kỳ tuổi trẻ. Rất vô tư, quên hết mọi phiền toái thường ngày.

Tuy mãi đến quá nửa đêm mới về phòng ngủ, lòng vẫn còn tiếc nuối vì quá nhiều chỗ nhiều nơi chưa đi hết.

– Ngày Thứ Năm: Về Lại Cali

Buổi sáng chúng tôi thức dậy tàu đã cập bến Long Beach. Tuy là ngày cuối trêntàu, các nhà hàng vẫn mở cửa phục vụ khắp nơi, với nhiều loại thức ăn đặc biệt ngon và có nhiều món khác với thực đơn của mấy ngày trước. Người ta rộn ràng ăn uống trước khi rời tàu. Hành lý ai đặt trước cửa phòng đều có nhân viên đem đi check an ninh rồi đưa lên bờ trước, khi rời tàu chỉ việc đi nhận lại. Đáng tiếc, ngày cuối tôi đã không gặp lại Kathy để chào tạm biệt. Không biết cô còn nhớ đến tôi.

Chút kinh nghiệm muốn chia sẻ với các bạn, là trong suốt thời gian đi tàu chúng tôi ăn uống kiểu…thả giàn, thứ gì cũng thử, chứ không kiêng cữ như lúc ở nhà. Nhưng lại không bị tăng cân, có lẽ nhờ trèo lên trèo xuống cầu thang mười mấy tầng lầu ngày mấy bận, cộng với sáng nào cũng chạy bộ trên boong, và canh giờ về phòng nghỉ trưa vài chục phút. Điều đáng mừng, nhờ bận rộn với chương trình dày đặc như thế, chàng của tôi hầu như quên mất mình là người bệnh, cái chứng Vertigo “lắc lư con tàu đi”, và tôi cũng quên mất sự lo âu về sức khỏe của anh. Có thể nói chuyến đi này là một món quà quý chúng tôi “tự thưởng” cho nhau, sau hơn bốn mươi chín năm khổ sướng chung đường.

Về nhà kể chuyện, cô con dâu tôi trầm trồ kiểu như người Mỹ: Wow! Ba má đi du lịch chuyến này thật đáng giá từng penny!

Các bạn nếu ai có ý định… hấp hôn, thì đưa nhau lên tàu đi một chuyến Cruise là lựa chọn tuyệt vời nhất.

Phương Hoa



 

Dance with My Father by Celine Dion—Larry Acang

Happy Father’s Day

T_anigif


Papa—Paul Anka | Uniart

Khách Sạn 22—Khôi An

Lisa choàng dậy, ngóc đầu nhìn. Xe bus vừa đi qua Palo Alto Highschool, nghĩa là chỉ còn vài phút nữa thì tới trạm. Nó gạt cái chăn mỏng sang một bên, chống tay ngồi dậy. Bên cạnh, Ba vẫn đang ngủ, đầu dựa vào cửa kính, miệng hơi há ra. Trong giấc ngủ mà trông ổng cũng như đang lo lắng chuyện gì, đôi lông mày nhíu lại. Lisa lặng lẽ xếp cái chăn rồi nhét vào túi xách dưới chân.
Đèn trong xe bật sáng, tiếng nói quen thuộc từ chiếc loa tự động phát lên “Xe bus đang vào trạm Palo Alto Transit Center, trạm cuối của tuyến đường 22. Xin mọi người chuẩn bị xuống xe.” Trong khoảnh khắc, trong xe ồn ào hẳn lên với tiếng ngáp, tiếng ho, tiếng lôi kéo hành lý, tiếng càu nhàu. Ba nó dụi mắt lia lịa, gài lại áo ấm rồi khoác mấy túi đồ đạc lên vai. Xe ghé trạm rồi từ từ ngừng lại. Người ta đổ xô ra cửa, Lisa và Ba cũng hòa vào dòng người, xuống xe.
Lisa đút hai tay vào túi áo. Tháng Mười rồi, đứng ngoài trời đêm mà không dấu kỹ thì chỉ một lát là hai bàn tay nó lạnh như nước đá. Từ xa, hai con mắt khổng lồ, vàng rực của chuyến xe đi hướng Đông đã hiện ra sau lớp sương mỏng. Lisa thở phào, nó sắp được chui vào trong xe ấm áp…
Chuyến xe về Eastridge Mall cũng gần đầy người. Như thường lệ, hai ba con Lisa nhanh chân giành được băng ghế cuối. Nó ngồi sát cửa sổ, nhìn ra ngoài. Con đường El Camino Real ở khúc này là đẹp nhất vì đi ngang qua thành phố Palo Alto, nơi nó nghe nói rằng chỉ có những người giàu kinh khủng mới có nhà ở đó. Xe đang đi dọc theo khoảng đất rộng hút mắt với những cây thông thật cao, dọc hàng rào có treo những tấm hình rực rỡ về trường đại học Stanford. Cái trường này nó biết vì mùa hè rồi trong những ngày trời nắng ấm hai ba con nó có lang thang đi bộ từ bến xe bus vô đó. Nó mê cái bãi cỏ mênh mông, xanh rờn ở phía trước tòa nhà mái đỏ ngay giữa trường, nhìn xéo qua ngọn tháp cao có cái nóc tròn trông giống như cây viết khổng lồ. Nằm ở đó nhìn lên thì trời xanh biếc, cây xanh nõn nà, nhìn chung quanh thì ai cũng tươi tốt, mạnh khỏe, tự tin. Nó nghĩ cảnh đó chắc giống như ở thiên đàng. Nó mê bãi cỏ đó đến nỗi có lần buột miệng hỏi “Ba ơi, nữa lớn con xin vô học trường này, được không Ba?” Ba nhìn nó, miệng há ra mà không nói được tiếng nào, một lát sau ổng mới thốt nên lời “Ờ…ờ…được chứ con… Con ráng hết sức thì… chắc được…” Nghe nói vậy nhưng nó không tin tưởng lắm vì điệu bộ của Ba nó giống y hệt như lần nó hỏi “Ba ơi chừng nào Mẹ về? “. Chỉ khác là hồi đó nó mới sáu tuổi và chưa hiểu “chết” nghĩa là không bao giờ về nữa.
Áp trán vào khung kính lạnh buốt và nhớ lại, nó nghĩ là muốn vô trường Stanford thì nó phải có cây đũa thần. Mà cũng chưa chắc, vì nếu cây đũa chỉ cho một điều ước thì nó sẽ ước cha con nó có một nơi để ở. Nó rất sợ thời gian ngủ lang thang trên mấy băng ghế lạnh ngắt trong những công viên tối thui. Có những đêm trời mưa lâm râm, hai ba con nó nằm ngược đầu đuôi trên băng ghế, đắp chung tấm nylon. Tiếng mưa lơi lộp độp trên nylon làm nó không ngủ được, thêm nữa nó cứ sợ ngủ quên mà trời mưa lớn thì ướt hết sách vở ở trong cái backpack gối dưới đầu. Sau mấy đêm như vậy, giờ hễ thấy trời âm u chuyển mưa là hai lòng bàn chân nó tự nhiên lạnh ngắt.
Cũng may mà hai cha con nó khám phá ra Khách Sạn 22.
Đó là cái tên mà những người không nhà đặt cho tuyến xe bus số 22.
Buổi chiều hôm đó, Lisa cứ nấn ná trên bãi cỏ xanh của trường Stanford nên tới hơn 8 giờ tối mới lên xe bus 22. Hai cha con định đi về khu phía Đông San Jose kiếm chỗ ngủ để ngày mai Ba còn đi xin việc làm ở mấy cái chợ Á châu gần đó. Lên xe, nó ngờ ngợ vì thấy xe đông hơn hẳn những chuyến bình thường, và ai cũng mang nhiều đồ đạc. Một bà ngồi ở băng ghế trước còn có cả một cái xe đẩy chất túi xách, chăn mền. Hơn hai tiếng sau, xe ghé trạm cuối ở Eastridge Mall, nó thấy phần đông khách trên xe lại xếp hàng chờ chuyến xe đi ngược lại. Lúc đó, hai ba con nó mới hỏi thăm và biết là có ba chiếc xe bus chạy vòng vòng trên tuyến đường này cho tới sáng. Từ ngày đó, hai cha con nó gia nhập Khách Sạn 22.
Đây là tuyến xe duy nhất chạy suốt ngày đêm của quận hạt Santa Clara, cũng là tuyến đông khách nhất và chạy con đường dài nhất. Bắt đầu từ Eastridge Mall ở phía Đông thành phố San Jose xe chạy qua đường Tully, quẹo trái đường King, dọc theo đường Santa Clara qua downtown San Jose, nối qua đường Alameda, lên El Camino Real, chạy qua ba thành phố Santa Clara, Sunnyvale, Mountain View trước khi vào thành phố Palo Alto rồi ghé vô trạm chót.
Bây giờ thì Lisa rành lắm rồi. Nó biết rõ đi một chuyến xe thì phải trả hai đô la. Nhưng hầu hết những người trên Khách Sạn 22 đều dùng vé tháng, mỗi tháng bảy chục đô la. Valley Transportation Authority của quận hạt Santa Clara, mà mọi người gọi là VTA, thỉnh thoảng còn cho những người không nhà hoặc những người sắp mất chỗ ở một tấm vé dùng được trong ba tháng. Mấy tấm vé miễn phí đó cũng hiếm hoi như một chỗ ngủ trong những nhà tạm trú (homeless shelter). Dù sao, chỉ tốn bảy mươi đô la mà có phương tiện đi lại và chỗ ngủ trong cả một tháng dài, đối với cha con nó lúc này, là một sự may mắn và vô cùng quan trọng.

Dù đã lang thang không nhà gần năm tháng, Lisa vẫn không nghĩ hai cha con nó là người homeless. Nó thấy chữ “homeless” nghe buồn bã quá, và chỉ hợp với những người chấp nhận là từ nay về sau họ sẽ không có nhà ở nữa. Ba con nó là những người “between homes”, nghĩa là đang kiếm chỗ ở.
Hồi xưa, lúc còn Mẹ, gia đình nó cũng có “home” trong một khu chung cư rất dễ thương, ở gần cái công viên thật rộng. Cuối tuần Ba tập cho nó chạy xe đạp còn Mẹ thì trải khăn trên thảm cỏ xanh rờn và nướng thịt bay mùi thơm phức. Tới giờ thỉnh thoảng nó vẫn còn nằm mơ thấy Mẹ cười thật tươi dưới tàn lá xanh lấp loáng ánh nắng công viên, và khi tỉnh dậy nó gần như chắc chắn là trong mơ nó đã ngửi thấy mùi thịt nướng.
Ngày đầu tiên nó vô lớp Một, Mẹ nó còn dắt nó đi học, còn đứng lấp ló ngó chừng, khi thấy nó không khóc Mẹ mới đi làm. Ngày Giáng Sinh năm đó nó còn vẽ tấm hình có nó, Ba, và Mẹ đánh son đỏ chót thiệt là đẹp. Vậy mà chỉ vài tháng sau Mẹ vô nhà thương. Bữa cô Cindy, em của Ba, hớt hải chạy vô xin cho nó về thăm Mẹ, cô giáo nắm tay nó và nói “Poor baby” (tội nghiệp cưng). Đó là lần đầu tiên nó thấy Ba khóc, nước mắt chảy ròng ròng. Và đó cũng là lần chót Mẹ mở mắt ra nhìn nó.
Sau đó Ba con nó dọn về ở chung với cô Cindy và chú Ben. Những chuyện xảy ra trong vài năm sau khi Mẹ mất, Lisa chỉ nhớ lác đác, tựa như đầu óc nó lạc trong một giấc ngủ dài sau khi Mẹ ra đi. Nhưng những chuyện gì đã nhớ thì nó nhớ rõ, thí dụ như là nó mới vô lớp Bốn thì Ba bị đau lưng. Chú Ben nói tại Ba làm cực, khiêng nặng mà không đeo thắt lưng bảo vệ. Ba bịnh chưa hết thì chú Ben mất việc làm. Ngày chú tìm được việc làm ở xa, hai cô chú và mấy đứa con phải dọn đi. Cô Cindy ôm hôn nó và nói “Con ráng ngoan nha”. Giọng cổ nghẹn ở mũi, nó nghĩ cổ nói vậy để khỏi khóc chứ ở chung mấy năm trời, cổ biết lúc nào nó chẳng ngoan.
Từ đó, hai cha con dọn một qua căn phòng nhỏ xíu. Ba vẫn đau lưng rề rề. Ba thuờng phải nghỉ làm, nằm một mình trong căn phòng đóng cửa tối mờ. Một ngày kia đi học về nó thấy trước nhà dán một phong thư. Đem vô đưa Ba coi, Ba không nói tiếng nào. Mãi đến khi ăn xong bữa tối Ba mới lấy thùng dọn đồ đạc vô và nói mình không có trả tiền nhà tháng rồi, chủ nhà gởi thư bắt dọn đi.
Bữa đầu hai cha con tới Commercial Street Inn ở San Jose. Sau khi đứng chờ ở một hàng dài, tới phiên hai cha con nó, cô thư ký lắc đầu:
– Ở đây là nơi tạm trú của các bà mẹ có con nhỏ.
Ba nó nài nỉ:
– Con tôi cũng nhỏ nhưng mẹ nó chết rồi. Cô làm ơn!
Cô ta vẫn lắc đầu:
– Mỗi phòng có bốn, năm đàn bà, con nít ở chung, làm sao tôi cho ông vô? Mà không có ông, ai chịu trách nhiệm cho con bé?
Thấy cha con nó ngần ngừ, ngơ ngác, không biết đi đâu, cô thư ký thương tình cho nằm đỡ dưới đất ngay trong phòng chờ đêm hôm đó. Hôm sau hai cha con lại dắt nhau đi.
Ba dắt nó vô thư viện coi nhờ Internet và xin tài liệu để đi tìm những shelter (nhà tạm trú) khác. Được bà coi thư viện tốt bụng in ra cho một danh sách các shelter trong quận Santa Clara con Lisa mừng quá. Nhìn thấy tới mười chỗ trong danh sách, nó chắc là cha con nó sẽ tìm được một nơi ở tạm vài tuần. Nhưng coi vậy mà không phải vậy…
Tuần lễ đó, hai cha con nó chỉ được ngủ trong shelter có hai ngày vì ở đâu cũng đầy người, nếu tới sau sáu giờ thì chắc chắn không còn giường trống. Có những shelter chỉ dành riêng cho những người bị bệnh tâm thần, và chỉ có một shelter dành cho gia đình chịu cấp phòng cho cha độc thân và con nhỏ. Có lần nó hỏi tại sao quận Santa Clara có tới hai chỗ cho những người mẹ có con nhỏ mà không có chỗ nào dành cho cha với con nhỏ, cô thư ký suy nghĩ một chút rồi nói:
– Bởi vì hầu hết những người có con nhỏ đến nhờ giúp đỡ đều là đàn bà. Em thông minh lắm, nhưng rất tiếc tôi không giúp được em. Người ta đặt ra những chương trình để phục vụ số đông. Cha con em là trường hợp đặc biệt.
Nó thấy buồn nhưng chỉ nắm tay Ba và trả lời: Vâng, cha của con là người rất đặc biệt.
Chỉ có một câu vậy thôi mà cả hai người lớn, cha nó và cô thư ký, đều chớp mắt như muốn khóc.
Trong mấy tháng cha con nó ngày nào cũng vô thư viện tìm thêm tài liệu về những shelter rồi đi xin khắp nơi. Nhờ đọc nhiều nên nó biết được là cứ mỗi đêm ở trong quận Santa Clara có tới hơn năm ngàn người không nhà cần chỗ ngủ. Mỗi shelter thường chỉ có mấy chục phòng, và có những nơi chỉ mở cửa vào mùa Đông. Hèn gì mà cha con nó thường phải ghi tên chờ tới phiên, có khi cả mấy tuần mới được.
Thời đó, cứ sau bữa ăn trưa là hai cha con lo tìm chỗ ngủ. Đi mấy chuyến xe bus mới tới nơi, người ta hết chỗ, đứng ngẩn ngơ vài phút rồi lại ráng đoán xem chỗ nào còn chỗ, leo lên xe đi tiếp. Rồi đêm xuống, vẫn còn ngoài đường, hai cha con thất thểu dắt nhau kiếm tòa nhà nào có chút mái che và sáng sủa cho đỡ nguy hiểm, rồi ráng quấn chăn cho ấm và ráng ngủ. Có nhiều đêm nó biết Ba sợ cho nó, bắt nó nằm vô sát vách rồi lấy chăn trùm kín mít. Vậy mà khi nó giật mình thức giấc vẫn thấy Ba mở mắt nằm thao thức.

https://i0.wp.com/vnthuquan.net/user/Ct.Ly/KhoiAn1.jpg

Khách Sạn 22 và những hành khách không nhà (Mercury News’ Photos)

Từ khi có Khách Sạn 22 làm nơi trú mỗi đêm, Lisa thấy đời sống của nó khá hơn nhiều.
Lúc đầu nó hơi khó ngủ vì xe cứ chạy rung rung rồi lại thắng ken két. Mỗi lần tới trạm loa phóng thanh còn phát tiếng nhắc nhở làm nó giật mình hoài. Những khi không ngủ được nó ngồi ngắm các hành khách. Lúc đầu khuya còn có những người đi làm ca đêm hoặc đi chơi về trễ. Những người này có vẻ vội vã, họ thường chăm chú bấm lia lịa trên điện thoại di động trong suốt chuyến xe. Qua hai giờ đêm, xe chỉ còn toàn là những người đi xe mà không có chỗ đến như cha con nó. Họ ngồi gật gù trong giấc ngủ chập chờn hoặc nằm co ro trên các băng ghế. Rồi nó cũng từ từ nằm xuống, gối đầu lên chiếc backpack, và thiếp đi.
Sau vài tuần nó đã quen. Nó có thể ngủ say nhưng luôn thức dậy khi xe tới bến chót, rồi lại ngủ tiếp trên chuyến xe ngược lại.
Điều làm Ba nó mừng nhất là trên xe bus an toàn. Về phần nó, nó thích nhất vì Khách Sạn 22 giúp mọi chuyện trở nên đều đặn. Mỗi sáng nó đi xe tới trường học, chiều về đón xe bus tới thư viện ở đường Alum Rock học bài. Tới giờ thư viện đóng cửa thì nó đi bộ qua tiệm Goodwill ngay gần đó. Tiệm này là nơi bán đồ cho người nghèo, những ngày Ba không đi xin việc thì ổng làm không có lương ở đây.
Những người lái xe chuyến 22 đều biết rõ là nhiều người không nhà dùng chiếc xe làm nơi ngủ nhưng họ không làm khó dễ. Chỉ cần những “hành khách đi không bao giờ tới” này tuân theo luật lệ, không ăn uống, hút thuốc, xả rác, hay làm ồn ào trên xe. Ông Tom, một trong những người lái xe, có lần nói:
– Đối với tôi, những người không nhà cũng như mọi hành khách khác. Nếu họ có vé thì họ được đi xe. Thường thường họ đều là người tốt, chỉ đang gặp khó khăn.
Thoát khỏi nổi lo lắng về chỗ ngủ đeo đuổi suốt ngày, Lisa học giỏi hơn trước. Có lẽ nhờ ngày nào cũng học trong thư viện nên năm nay nó đạt nhiều điểm cao nhất. Từ khi khai trường vô lớp Năm, nó thường xuyên được điểm A. Lần đi họp phụ huynh về, Ba nó ôm nó thật chặt rồi nói “Ba thiệt không dám tưởng tượng là con giỏi vậy!”
Bạn bè nó không ai biết là nó không có nhà, có lẽ vì hai cha con nó luôn giữ sạch sẽ, gọn gàng. Ngày nào sau giờ học nó cũng tới một trung tâm sinh hoạt cộng đồng có hồ bơi và phòng tắm cho người đi bơi. Nó hòa vô đám người đó tắm rửa rồi giặt quần áo, vắt khô bỏ vô bịch, sau đó trải một tấm nylon phơi lén ở cái bãi đậu xe đằng sau Goodwill.
Từ hồi tháng Chín, mỗi sáng khi xuống xe ở trạm gần trường, nó đều gặp một cặp vợ chồng với một đứa con trai nhỏ đón xe ở đó. Đứa bé chắc đang học lớp Một, giống như nó thời còn Mẹ. Lần đầu tiên nó nhìn họ từ trên xe bus, bà mẹ đang cúi xuống gài lại áo lạnh cho thằng bé. Không hiểu sao nó thấy cái cử chỉ đó, cái dáng điệu đó, giống in như mẹ nó ngày xưa. Lần đó, sau khi xuống xe, nó chậm bước nhìn họ cho rõ. Từ đó, lần nào gặp họ nó cũng phải nhìn, vừa nhìn vừa thầm mong cái buồn buồn xốn xang trong bụng đừng hiện ra trong con mắt. Có lẽ vì nó nhìn họ hoài, họ cũng nhớ mặt nó. Gần đây, ngày nào hai bên cũng nói Hello chào nhau. Thỉnh thoảng có ngày không gặp họ, nó cảm thấy chút gì như là mong nhớ…

Một đêm cuối tháng Mười, trên Khách Sạn 22 xuất hiện vài khuôn mặt lạ. Họ tự giới thiệu là phóng viên của báo San Jose Mercury News, nghe nói về nơi này và muốn tìm hiểu thêm. Lisa không muốn nhắc đến chuyện không có nhà nên kéo chăn che mặt, làm bộ ngủ. Ba chỉ miễn cưỡng trả lời vài câu hỏi và không đưa tên tuổi gì hết.

Lá phong trên hàng cây dọc con đường Alameda đã đổi màu, cửa kính của các nhà hàng đã xuất hiện hình vẽ gà tây bên cạnh những trái bí rợ. Màu cam, màu đỏ của mùa lễ làm Lisa thấy buồn buồn. Cái vui vẻ, ấm áp của người ta làm nó chợt nhớ rằng lâu lắm rồi nó không được nhìn thấy một nồi súp đang bốc khói, trên cái lò cháy đỏ, trong một căn bếp. Nơi mà các gia đình quây quần ăn bữa tối…
…Thứ Bảy, buổi sáng trời nắng ấm. Hai cha con nó xuống xe ở đường Santa Clara rồi đi bộ tới công viên Cesar Chavez. Có một nhóm người đang phát những thức ăn nóng tại đó. Nghe nói có súp đậu, gà nướng, khoai tán, và cả bánh nhân bí đỏ nữa. Những món ăn tuyệt vời, chỉ nghĩ thôi mà đã phát thèm! Nó nắm tay Ba nối đuôi xếp hàng, và háo hức chờ đợi. Chỉ còn năm, bẩy người nữa là tới phiên nó.
Bỗng tim nó thót lại!
Nó vừa nhìn thấy bà-mẹ-của-thằng-bé mà nó gặp hàng ngày đang tươi cười đứng trong đám múc đồ ăn cho đoàn người không nhà. Nó lôi Ba tách khỏi hàng, quay ngoắt đi, vội vàng như chạy trốn. Ba nó vừa rảo bước theo vừa hỏi “Sao vậy? Cái gì vậy? Lisa?” Nó không nói gì, chỉ cắm đầu đi. Qua một khúc quẹo, khi biết chắc là bà ta không thể thấy hai cha con nó, Lisa mới đứng lại. Rồi tự nhiên nó thấy giận. Giận vì mình không có nhà, giận vì mình sợ người ta biết, giận vì mình đã làm Ba mất một bữa ăn ngon. Nó bật khóc nức nở…
– Lisa, con ăn đi!
Tiếng Ba nó nhắc nhở làm nó trở về hiện tại. Nó đang ngồi trong một nhà hàng sang trọng ngay trung tâm thành phố San Jose, đối diện với ông Sam, bà Nancy, và thằng bé Danny (bây giờ nó đã biết tên của họ.) Ánh mắt của bà Nancy thật là vui và ấm áp. Nhưng nó vẫn thấy ngại ngùng, thắc mắc không hiểu tại sao họ cất công mời Ba và nó đi ăn. Không lẽ bà Nancy đã thấy nó bỏ chạy từ đoàn người xếp hàng xin thức ăn hôm nọ, và muốn đền bù cho hai cha con một bữa?
Sáng hôm qua, thứ Sáu, Ba và nó cũng mỉm cười chào gia đình thằng bé như mọi ngày. Bỗng ông Sam tiến tới bắt tay Ba rồi nói:
– Chào ông. Tôi là Sam, đây là vợ tôi, Nancy, và cháu trai Daniel. Chúng ta biết nhau khá lâu rồi, hôm nay tôi muốn được hỏi tên ông và cháu gái.
– Chào ông bà. Tôi là John, con gái tôi là Lisa.
Sau vài câu trao đổi, họ mời cha con nó đi ăn vào ngày mai. Ba nó cũng rất ngạc nhiên, ấp úng từ chối. Nhưng họ thuyết phục mãi, và bây giờ cha con nó đang ngồi đây.
Dù sao những món ăn trên bàn cũng quá hấp dẫn, và vẻ cởi mở, ân cần của hai ông bà cũng không có dấu hiệu gì đáng lo. Lisa bắt đầu cắn vào miếng thịt gà vàng rộm và mỉm cười với thằng bé Danny.
Khi Lisa vét xong muỗng kem tráng miệng cuối cùng, bà Nancy ngồi thẳng lên. Bà nhìn Lisa, rồi nhìn Ba, rồi nói:
– Cách đây hai tuần tôi thấy hình ông và cháu Lisa trên báo San Jose Mercury News.
Lisa nghe máu chạy một cái rần lên mặt. Nó không biết mặt nó đang đỏ bừng hay tái mét. Bên cạnh nó, Ba cũng có vẻ sững sờ. Hai cha con mở to mắt nhìn những người phía bên kia bàn.
Bà Nancy phác một cử chỉ như muốn nắm lấy tay nó. Bà tiếp tục nói, thật dịu dàng:
– Tôi có đưa bài báo đó cho nhà tôi coi. Ổng là giám đốc chương trình của một cơ quan thiện nguyện tên là Dịch Vụ Về Chỗ Ở Vùng Vịnh, và tôi là giáo sư ở trường Đại Học San Jose. Chúng tôi muốn giúp ông và cháu rời khỏi chiếc xe bus 22. Từ đó tới nay, chúng tôi đã gọi cho những người quen biết và tìm được một nơi có thể giúp ông và cháu. Thứ Hai, mời ông tới văn phòng…
*
Bây giờ hai cha con Lisa đã được cấp một căn phòng tại một nơi tạm trú cho các gia đình đang gặp khó khăn. Trong thời gian ở đây, Ba nó được đi học những lớp dạy nghề, và người ta hứa sẽ giúp Ba đi kiếm việc.
Mỗi khi nghĩ lại, Lisa thấy có nhiều việc liên hệ với nhau một cách diệu kỳ. Không biết có phải Mẹ đã đưa đẩy cho nó quen được những người tốt bụng để họ giúp đỡ cha con nó hay không.
Bây giờ ước mơ của nó là khi lớn lên sẽ làm giám đốc chương trình giúp đỡ nhà cửa cho người nghèo, giống như người ân nhân của nó. Khi đó, nó cũng có thể làm điều kỳ diệu cho những đứa bé không nhà khác, những đứa bé mà nó biết là có rất nhiều ở khắp nơi. Nó tin là nó sẽ làm được, chỉ cần ráng học thật giỏi và quyết tâm.
Và Lisa còn học được một điều mới nữa trong thời gian nương náu trên Khách Sạn 22.
Rằng, có những người thật sự có chiếc đũa thần, nhưng khi mới gặp mình không thấy được.
Bởi vì, chiếc đũa đó, họ cất ở trong tim.

Khôi An

‘Ðây là Ðài Tiếng Nói Quân Ðội, phát thanh từ thủ đô Sài Gòn…’—Ðằng-Giao & Quốc Dũng

Bà Hạ Hoàng Vân trong phòng thu âm.
(Hình: Hạ Hoàng Vân cung cấp)

SAN JOSE, California (NV) – Ngày ấy, cứ trước giờ phát thanh của Ðài Phát Thanh Quân Ðội thì xướng ngôn viên lại dùng ngón trỏ búng nhẹ vào chuông to bằng cái chén nhỏ và nói: “Ðây là Ðài Tiếng Nói Quân Ðội, phát thanh từ thủ đô Sài Gòn. Mời quý thính giả và các chiến hữu nghe tin tức.”

Ký ức của những xướng ngôn viên, biên tập viên tin tức chợt ùa về sau 42 năm xa cách, như có dịp sẻ chia. 

Nhớ mãi các anh chiến sĩ tiền tuyến

Cựu xướng ngôn viên Thảo Trang, tên thật là Hạ Hoàng Vân, là một giọng đọc kỳ cựu tại đài, cho hầu hết chương trình phát thanh của các quân binh chủng, từ Sư Ðoàn 5, Sư Ðoàn 22, đến Công Binh, rồi Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, và Thủy Quân Lục Chiến. Bà được cựu Trung Tá Phạm Hậu đề cử làm việc từ năm 1970 đến năm 1974.

Tuy nhiên, chương trình Nhạc Yêu Cầu do bà phụ trách vào mỗi 10 giờ sáng Chủ Nhật vẫn mang đến cho bà nhiều kỷ niệm với bao nỗi vui buồn.

Bà nói: “Thính giả trung thành của tôi là các anh chiến sĩ tiền tuyến trên bốn vùng chiến thuật và các sinh viên học sinh, người dân hậu phương. Nhiều người viết thư yêu cầu nhạc với những danh xưng rất quen thuộc với tôi, như: Nhóm Thố Ty Hoa Bình Dương, Cô giáo Nhã và Khóa 23 Võ Bị Ðà Lạt, Y Tá Áo Trắng tặng người Khóa 23 Võ Bị Ðà Lạt…”

“Qua những tên gọi này tôi được biết đến những chuyện tình lãng mạn, cũng như những hoàn cảnh thương tâm. Chuyện hai cô gái yêu cầu nhạc tặng cho cùng một người yêu thuộc Khóa 23 Võ Bị Ðà Lạt mà sau này được biết anh đã hy sinh trong trận chiến An Lộc. Hay Mai Phương và Mũ Ðỏ Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù, cũng chính là Nguyễn Thị Nghĩa Trang và Trung Úy Lê Chiến Tranh mà tôi chỉ dám đọc một lần trong chương trình thôi vì nghe buồn quá,” bà nhớ lại.

Bà kể, khoảng năm 1972, qua loạt bài của ký giả Kiều Mỹ Duyên viết về người thương binh trẻ tên Tân đã bỏ lại chiến trường đôi chân, muốn xin một chiếc xe lăn. “Tôi tìm đến gặp em và từ đó như một gắn bó đến với các thương binh tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tôi thường đến đây cuối tuần để giúp cắt tóc, cắt móng tay, đút thức ăn, chuyện trò, đọc sách,… cho thương binh,” bà nói.

“Mỗi sáng Chủ Nhật đến nơi này, tôi thấy các anh chụm lại quanh máy cassette, hay có anh một mình trầm ngâm nằm trên giường bệnh để nghe chương trình Nhạc Yêu Cầu Thảo Trang, hoặc hình ảnh người lính gác cổng vào một trại Thiết Giáp ở Long Khánh, bên cạnh anh là một cassette nhỏ, đúng lúc giọng tôi giới thiệu chương trình. Tôi muốn ngừng lại nói với anh tôi là Thảo Trang, nhưng lại không dám, vội rảo bước đi,” bà tủm tỉm nói.

Thêm một kỷ niệm khác mà bà không thể quên được.

Bà kể: “Một trong những thính giả trung thành của tôi là Trung Sĩ Trịnh Công Âu, y tá Nhảy Dù. Anh thường viết thư yêu cầu tặng nhạc cho ‘vợ hiền yêu dấu’ bằng mực tím đặc biệt. Ði đâu, anh cũng gởi quà về tặng tôi. Ra miền Trung, anh gởi kẹo mè xửng; qua Hạ Lào, anh gởi tượng Phật về.”

'Ðây là Ðài Tiếng Nói Quân Ðội, phát thanh từ thủ đô Sài Gòn...'
Cựu xướng ngôn viên Hạ Hoàng Vân trong chiếc áo dài do phu nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tặng.
(Hình: Hạ Hoàng Vân cung cấp)

Bà lặng đi một lúc, như để dằn cơn xúc động, rồi tiếp: “Một ngày kia, năm 1974, vợ anh đến nhờ tôi giúp chị và bốn người con mau xin được tiền thất tung vì anh mất tích. Sở dĩ chị đến tìm tôi vì hay nghe chồng nhắc đến tôi và chương trình của tôi.”

Chiều hôm ấy, khi đưa người đàn bà bất hạnh này về nhà ở Trại Gia Binh Hoàng Hoa Thám, “thấy mấy đứa con anh nheo nhóc, đang lê la chơi với đám trẻ con hàng xóm, tôi thấy nghẹn ngào vô cùng. Lòng tôi đau thắt khi nghe đứa bé nói rằng nó chỉ mong có đầy đủ sách vở để đi học. Tôi chỉ giúp chị ấy một số tiền vì không biết làm gì hơn.”

Gần 42 năm trôi qua, tuổi đời chồng chất, nhưng vẫn có lúc ngồi yên lặng thật lâu nhớ về kỷ niệm và thầm ao ước được biết tác giả những cánh thư đã gửi về đài cho chương trình Nhạc Yêu Cầu do Thảo Trang phụ trách là ai, giờ này ở đâu, còn hay đã mất?

Khi lấy chồng họ Vũ, bà đổi tên là Vũ Hạ Vân. Hiện bà sống tại San Jose, California, và dành trọn thời gian vào công việc thiện nguyện cho nhà thờ. 

Người kéo dài chương trình Dạ Lan

Hồng Phương Lan là tên thật của cựu xướng ngôn viên Mỹ Linh, và bà cũng là Dạ Lan 2, người giúp kéo dài chương trình Dạ Lan nổi tiếng một thời cho đến ngày mất nước.

Theo nhận định của cựu Trung Tá Phạm Hậu, cựu quản đốc đài, Mỹ Linh là một trong những giọng nói lừng danh ở Sài Gòn thuở ấy.

Bà thích công việc nói chuyện trước công chúng ngay từ thời trung học. “Tôi được nhận làm xướng ngôn viên cho Ðài Tiếng Nói Quân Ðội Ðệ Nhị Quân Khu (ở Huế) từ năm 1952. Ðến năm 1957 tôi mới chuyển vào Sài Gòn, làm việc cho Ðài Tiếng Nói Quân Ðội tại số 2 bis Hồng Thập Tự,” bà kể.

Ban đầu, bà phụ trách phần tin tức, bình luận và nhạc yêu cầu.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất của bà trong thời gian này là mùi vị ngọt ngào lẫn đắng cay khi nhận được những cánh thư của thính giả gởi về từ khắp bốn phương khi bà bắt đầu chương trình Nhạc Yêu Cầu (nhạc Việt Nam), và Nhạc Bốn Phương (nhạc ngoại quốc, gồm Anh và Pháp).

Thư ngợi khen thì rất nhiều. Những lá thư khuyến khích nên cứ giữ phong cách riêng rất dễ mến của bà cũng không ít. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có những bức thư công kích với những lời lẽ không đẹp đẽ lọt vào tay bà.

Bà tâm sự: “Là người của công chúng, tôi luôn quan niệm rằng đã có người khen mình thì sẽ phải có người chê trách. Khen thì tôi xin cám ơn vì thấy việc mình làm được niềm nở đón nhận. Chê trách thì tôi cũng cám ơn vì đây là cơ hội tốt để mình học hỏi. Nhưng thư gởi về công kích với những câu viết thô tục thì tôi không biết phải làm gì, bởi vì mình không rút tỉa được gì cả.”

Ðến năm 1966, khi chương trình Dạ Lan, một chương trình dành riêng cho lính, bị gián đoạn vì xướng ngôn viên Hoàng Xuân Lan (Dạ Lan 1) xin nghỉ việc, thư từ của lính gởi về tràn ngập hằng ngày để phàn nàn và yêu cầu đài phải giữ chương trình này.

Ðể tiếp tục chương trình Dạ Lan, bà được đề cử thay thế Dạ Lan 1, và có biệt danh là Dạ Lan 2.

“Ban đầu, tôi định thử thay cô Xuân Lan một thời gian ngắn xem sao. Nhưng cấp trên thấy tôi có khả năng làm được nên giao thêm cho tôi nhiệm vụ này luôn cho đến ngày mất nước,” bà nói.

Sau biến cố 1975, chồng bà và vài người con trai vượt biên sang Mỹ. Sau đó bà và con nhỏ được bảo lãnh sang đoàn tụ gia đình.

Bây giờ bà vẫn thỉnh thoảng làm việc thiện nguyện khi có đoàn thể nào đó nhờ làm xướng ngôn viên cho các chương trình đặc biệt.

Cũng như những xướng ngôn viên cùng thời, bà luôn luôn nhạy bén thay đổi cách thể hiện kỹ thuật xướng âm sao cho phù hợp.

Bà phân tích: “Cách đọc tin tức khác hẳn với cách đọc bình luận và lại càng không giống với cách đọc thư thính giả gởi về yêu cầu nhạc. Ðọc tin, giọng nói chỉ là tường trình, không chen lẫn tình cảm. Ðọc bình luận, giọng nói phải có chút thẩm quyền, nghiêm nghị hơn và đôi khi có pha cảm xúc. Còn đọc thư thính giả thì giọng thân mật hơn, gần gũi hơn.”

Hiện ở Columbia, South Carolina, những lúc không làm việc thiện nguyện, bà thường vào Internet theo dõi tin tức.

“Tôi mê coi tin tức lắm, hết coi ở TV thì đọc tin trên Internet. Một phần vì ở đây không có đài Việt Nam,” bà nói.

Khi hỏi bà đọc tin tức như mọi người hay đọc thành tiếng như thời còn làm xướng ngôn viên, bà cười xòa: “Giọng tôi đâu còn trẻ trung như hồi xưa mà còn ham đọc như thế. Thôi, cái thời ấy qua rồi.” 

Bật khóc khi đọc tin về sự tàn ác của chiến tranh

'Ðây là Ðài Tiếng Nói Quân Ðội, phát thanh từ thủ đô Sài Gòn...'
Bà Quỳnh Giao trong thời gian làm việc tại đài.
(Hình: Hoàng Quỳnh Giao cung cấp)

Cựu xướng ngôn viên Hoàng Quỳnh Giao kể: “Khi bắt đầu làm việc, tôi gặp xướng ngôn viên Thảo Trang (tức Hạ Hoàng Vân), cũng vừa 20 tuổi, và kết thân ngay vì chúng tôi là những xướng ngôn viên trẻ tuổi của đài lúc ấy. Tôi đi làm sớm vì may mắn gặp cơ hội, và vì được đánh giá có giọng nói mạnh, phát âm rõ, dễ nghe.”

Nhờ giọng nói chuẩn mực và truyền cảm, bà được đọc tin tức trực tiếp ngay. “Ðọc tin ‘vivan’ (tin mới nhận) rất khó vì mình chỉ có chừng ít phút trước khi đến giờ tin tức. Trong thời gian ngắn ngủi này, tôi phải đọc lướt qua bản tin khá dài do các biên tập viên gởi xuống, nhưng phải nắm rõ nội dung, từ ý tổng quát đến từng dấu ngắt câu,” bà giải thích.

Bà nói thêm: “Khó hơn nữa, đôi khi có tin quan trọng cần loan báo ngay, dù mình không được xem trước; và đang đọc tin khác cũng phải tạm ngưng để đọc ngay tin mới.”

Một xướng ngôn viên như bà phải tự tìm cho mình một nhịp điệu tương thích cho từng bản tin.

Bà nói về “bí mật” của cái microphone thời ấy: “Nếu đặt nó thẳng hàng với miệng thì đọc xong bản tin chừng 15 phút, mình sẽ rất mệt vì bị hút hơi nhiều. Nếu đặt nó lệch quá sang một bên thì giọng sẽ rất yếu, quá nhẹ cho tin tức, nên phải đặt sao cho mình không mệt mà giọng nói vẫn không thay đổi.”

Yêu công việc, bà biết phải cố gắng vươn lên trong nghề nghiệp. “Không có trường lớp huấn luyện, tôi biết mình chỉ có cách duy nhất là phải rút tỉa kinh nghiệm từ những xướng ngôn viên đàn chị khác như Dạ Lan, Thu Hoài, Lệ Mai,” bà nói.

Cái khó khăn của bà là học hỏi từ người khác mà không được giống như họ. Học của người khác mà vẫn phải tự tạo cho mình một phong thái riêng.

Mỗi ngày với nhiệm vụ đọc tin tức và 15 phút thâu thanh cho mục Khoa Học và Văn Học Mới Trên Thế Giới, bà không tiếp xúc với thính giả nhiều như các xướng ngôn viên của những chương trình văn nghệ, tâm tình khác tại đài. “Công việc tuy không sôi động như của các chị, nhưng nhờ thế tôi có thì giờ trau dồi khả năng và làm thêm những chương trình khác cho đài,” bà nói.

“Có nhiều hôm, đọc bản tin mà tôi muốn bật khóc vì những cái chết oai hùng của các chiến sĩ, sự bi thương của những dân lành, sự tàn ác của chiến tranh, sự dã man của Việt Cộng. Ðọc những tin này như một cái máy thì lạnh lùng quá, nên tôi có pha một chút tình cảm trong đó. Ðôi khi đọc bình luận cũng vậy, tôi thường đọc với cung cách hùng biện của luật sư, cứng rắn nhưng có sức thuyết phục chứ không thể nào nhẹ nhàng hay yểu điệu như giới thiệu thơ văn, âm nhạc,” bà chia sẻ.

Theo bà, cũng là một tin, chỉ cần người đọc hơi lên giọng hay xuống giọng là thính giả sẽ hiểu xướng ngôn viên muốn nói điều gì.

Bà kể: “Khi nói chuyện về tin lũ lụt ở miền Bắc, một chị nhại giọng người miền biển để kể chuyện vui làm mọi người cười nghiêng ngửa. Khi đọc tin tức, chị vẫn nói giọng ấy, ‘nũ nụt’ thay vì ‘lũ lụt’ nên phải xin lỗi thính giả và đọc lại. Chỉ được vài câu, chị lại ‘nũ nụt’ nữa, lại phải xin lỗi và đọc lại. Tôi phải nín cười mà đọc hết bản tin. Từ đó về sau, không ai dám đùa nghịch trước khi đọc tin.”

Xướng ngôn viên Hoàng Quỳnh Giao, làm việc tại đài từ năm 1970 cho đến khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam.

Bà lập gia đình năm 1977, có ba người con, hai gái một trai. Bà tốt nghiệp cử nhân ngành kế toán năm 1980 tại đại học Oklahoma.

Hiện nghỉ hưu tại Phoenix, Arizona, khi rảnh rỗi, bà cùng chồng bơi lội, tập thể dục, theo dõi tin tức, xem phim, du lịch, thăm viếng người thân và bạn bè. “Tôi thích nấu ăn lắm nên cũng tốn nhiều thì giờ,” bà chia sẻ. 

Tháng Tư Ðen bao trùm đài

Kể về ngày làm việc cuối cùng ở đài vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, bà Nguyễn Thị Thu, cựu biên tập viên tin tức, nói: “Khoảng ngày 23, 24 Tháng Tư đài đã vắng một số người. Riêng ngày 30 Tháng Tư nhốn nháo lắm. Mặc dù vậy, ông Trung Tá Văn Quang vẫn có mặt ở đài và nhân viên làm việc cho đài với tinh thần rất cao. Quản đốc đài còn ngồi đó, tin vẫn được phóng viên gửi về, biên tập viên nhận tin và xướng ngôn viên vẫn đến để đọc tin.”

“Tôi làm ca sáng nên lúc nào 7 giờ cũng có mặt, cho đến lúc nổ trái bom gần đài thì mọi người sợ quá, chạy tán loạn. Tôi cũng phóng xe chạy luôn. Lúc đó khoảng 9 giờ. Sau đó thì nghe Ðài Sài Gòn phát tin quân Cộng Sản vào đến Dinh Ðộc Lập. Như vậy là đã hết,” bà trầm giọng nói.

Bà buồn bã nói tiếp: “Mất nước, tôi hoàn toàn bất ngờ, bởi vì chúng tôi làm trong Ðài Quân Ðội nhận được tin tức hằng ngày mà. Lúc lình xình khi tin tức bay về nói là mất Ban Mê Thuột thì tôi có hoang mang, bắt đầu lo. Nhưng lúc đó quản đốc đài bảo rằng đừng lo, không có gì đâu, nếu có gì thì cố vấn Mỹ sẽ cho các nhân viên của đài đi. Vậy mà không ngờ mọi chuyện lại nhanh đến vậy.”

“Cũng vì bất ngờ mà ông Quản Ðốc Văn Quang và rất nhiều nhân viên ở lại sau ngày 30 Tháng Tư. Khi mất miền Nam Việt Nam thì biên tập viên hầu như còn lại hết, chỉ có lác đác vài người đi được thôi. Sau ngày đen tối đó chúng tôi có đến đài và có gặp lại nhau, quyến luyến cảnh tình mà bấy nhiêu năm làm việc. Nhìn thấy Cộng Sản chiếm đài mà đau lòng lắm. Họ tịch thu tất cả giấy tờ của chúng tôi và bắt chúng tôi phải ‘đi học’ ba ngày để ‘cải tạo đầu óc.’ Sau đó thì mọi người tản mác đi dần,” bà kể.

Nói về cơ duyên đến với đài, bà cho hay, sau biến cố Mậu Thân 1968, bà “may mắn xin được việc làm trong đài để vừa đi học ở trường luật vừa đi làm bán thời gian ở đài, bởi vì lúc đó đài cần người để làm nhiều chương trình. Lúc tôi vào thì có làm việc một thời gian với ông Phạm Hậu, sau khi ông qua Ðài Sài Gòn thì ông Văn Quang làm cho đến ngày mất nước.”

“Khi vào làm tôi được ông Dzương Ngọc Hoán dạy cách biên tập tin, theo dõi những tin tức từ chiến trường do các phóng viên gửi về và biên tập lại để xướng ngôn viên đọc. Một thời gian sau thì ông Văn Quang cho đi học một khóa cấp tốc về biên tập bên Ðài Sài Gòn,” bà nói.

“Thời điểm đó tin tức được lấy từ nhiều nguồn. Nếu tin từ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thì lấy nguyên văn, còn phóng viên gửi về thì phải ghi chép và biên lại theo lời phóng viên. Riêng những tin của phóng viên chiến trường thì sẽ phát nguyên văn bản tường trình, hoặc viết lại tùy theo tình hình chiến trường lúc đó và tùy theo trưởng ca sẽ quyết định phát tin như thế nào,” bà cho biết.

“Ðặc biệt, với những chiến trường sôi động, sẽ phát nguyên băng có giọng tường trình của phóng viên. Thường nguyên băng hay phát vào giờ tin chính lúc 7 giờ sáng hoặc 12 giờ trưa. Sau đó, những bản tin này được biên tập viên tóm tắt và phát lại vào các bản tin phụ như 2 giờ chiều hoặc 3 giờ chiều. Tuy nhiên, để có một bản tin cho xướng ngôn viên đọc thì trưởng ca sẽ quyết định việc phát tin, rồi tới trưởng ban tin tức duyệt, sau đó mới phát tin. Trưởng ban tin tức lúc đó là ông Dzương Ngọc Hoán chịu trách nhiệm chính, dưới ông có rất nhiều trưởng ca,” bà nói thêm.

Chia sẻ về cuộc sống hiện tại, bà nói: “Tôi sang Mỹ năm 1990 theo diện bảo lãnh. Anh tôi vượt biển năm 1984, sau đó bảo lãnh mẹ tôi và tôi. Lúc mới qua tôi ở Houston, Texas. Sau đó tôi dọn về Los Angeles, California, ở và làm việc 22 năm cho công ty T.J. Maxx. Nay thì tôi mới về hưu và dọn lên Roseville, trong vùng đô thị Sacramento, California, để thoải mái hơn vì ở Los Angeles xô bồ quá.” 

Thèm một không khí gia đình

Tuy chỉ làm việc cho đài vài tháng ngắn ngủi, nhưng sau 42 năm sau, bà Vũ Nguyệt Hằng, cựu biên tập viên, vẫn còn nhớ mãi không khí gia đình của ban biên tập. “Mọi người, ai ai cũng thân thiện, không ai để ý, phê bình, chỉ trích nhau cả,” bà nhắc lại một cách luyến tiếc.

“Tôi bắt đầu làm việc từ Tháng Giêng, 1975. Hôm ấy là Mùng Một, có lẽ mọi người nghỉ Tết nên không khí vô cùng tĩnh lặng. Nhưng chỉ vài hôm sau, khi được gặp bạn bè đồng sự, tôi thấy không khí thay đổi hoàn toàn. Lúc ấy mọi người tấp nập, ai làm việc nấy, đài nhộn nhịp hẳn lên,” bà nói.

Công việc hằng ngày của bà là nhận tin tức do Việt Tấn Xã gởi sang, hoặc tin từ chiến trường của các phóng viên gởi về. “Tôi phải viết lại, thu gọn những tin này để các xướng ngôn viên đọc,” bà nói. “Thượng cấp trực tiếp của tôi là nhạc sĩ Nhật Bằng.”

Vì thích văn nghệ từ thuở bé, nên từ lâu bà muốn được làm cho đài. “Khi được nhận vào làm, tôi thấy rất thích hợp cho mình. Bởi vậy tôi rất quý thời gian làm việc tại đây,” bà nói.

Bà kể: “Lúc ấy, mọi người trong ban biên tập đều có biệt danh theo những nhân vật trong truyện ‘Xì Trum’ mà rất nhiều người Sài Gòn đã đọc. Vì hay cười và hay giúp đỡ người khác, tôi được gọi là ‘Tí Vui Vẻ.’” Theo bà, đây là giai đoạn màu hồng của cuộc đời, và bà còn giữ mãi những kỷ niệm quý báu này.

Có duyên với quân đội, bà làm việc tại đài, thành hôn với quân nhân, và sang Mỹ vẫn cùng chồng tham gia những sinh hoạt quân đội.

Bà nói: “Trước năm 1975, ông xã tôi là lính Biệt Ðộng Quân. Sang đây, chúng tôi cũng tham gia sinh hoạt với các đoàn thể Biệt Ðộng Quân rất thường xuyên. Tôi thích hát giúp vui trong những dịp lễ lớn.”

Ðịnh cư tại Mỹ năm 1994, bà là chuyên viên thẩm mỹ và cùng chồng sống tại West Covina, California.

Cũng vậy, với bà Nguyễn Thanh Tuyền, cựu biên tập viên, kỷ niệm nhớ nhất khi còn làm tại đài là không khí gia đình, chan hòa tình thân.

'Ðây là Ðài Tiếng Nói Quân Ðội, phát thanh từ thủ đô Sài Gòn...'
Bà Nguyễn Thanh Tuyền (phải) trong dịp lễ Hai Bà Trưng, năm 2016.
(Hình: Nguyễn Thanh Tuyền cung cấp)

Bà kể: “Trong ban biên tập, chúng tôi đặt biệt danh cho nhau, theo tên những nhân vật trong truyện ‘Xì Trum,’ mà lúc ấy ở Sài Gòn ai cũng đọc. Sếp Dzương Ngọc Hoán là ‘Tí Vua,’ chị Yến Tuyết là ‘Tí Ðiệu,’ anh Trần Ðạm Thủy là ‘Tí Lười’ (không phải anh lười mà vì anh hay cười), và sếp Huỳnh Hữu Trung là ‘Tí Quạu,’ còn tôi là ‘Tí Cô Nương.’”

“Tình hình chiến cuộc càng lúc càng khốc liệt, nhưng chúng tôi vẫn cố gắng tìm vài giây phút nhẹ nhàng giữa những giờ làm việc căng thẳng. Lúc còn tuổi 19, 20, chúng tôi thích tán gẫu nên buổi trưa thường rủ nhau vào câu lạc bộ ăn uống, hoặc xuống ban báo chí trò chuyện. Nói chung, làm gì với nhau cũng thấy vui cả,” bà chia sẻ.

Làm việc cho đài từ năm 1972 đến ngày 27 Tháng Tư, 1975, bà theo gia đình lên tàu riêng vượt biên. Bà kể: “Ba ngày trước khi mất nước, lúc 12 giờ trưa, tàu chúng tôi nhổ neo ra hải phận quốc tế. Chúng tôi lên Ðệ Thất Hạm Ðội và chờ ở đó cho đến khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng rồi mới đi.”

Bà sống cùng gia đình tại Montreal, Canada, từ năm 1975 đến nay, và có văn phòng tư vấn pháp lý tại đây.

“Tôi rất thích hoạt động xã hội, là hội trưởng Hội Phụ Nữ bên này. Năm nào chúng tôi cũng cũng tổ chức giỗ cúng Hai Bà Trưng,” bà nói. “Hằng năm, cứ đến Tháng Tư Ðen là Gia Ðình Mũ Ðỏ Canada của mấy anh cựu chiến sĩ Nhảy Dù tổ chức văn nghệ gây quỹ để giúp thương phế binh ở Việt Nam, tôi luôn luôn ủng hộ.”

Tất cả những hoạt động cộng đồng này của bà là để cho thế hệ kế tiếp.

Bà tâm sự: “Tôi muốn các con tôi còn nhớ rằng mình là người Việt, và mình có một lịch sử hào hùng. Chúng ta không thể bị mất gốc.”

Nói về ngày hội ngộ của Ðài Tiếng Nói Quân Ðội sắp tới, bà nói: “Tôi mua vé và chuẩn bị mọi thứ rồi. Tôi đếm từng ngày, mong cho mau mau tới.”

Ðằng-Giao & Quốc Dũng

Chiến Thuật “Đánh Bứng Gốc”—Nguyễn Đạt Thịnh

Viết theo tài liệu của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, nhân dịp tưởng niệm Ngày Quốc Hận, 30 tháng Tư, 2017

Ngày mùng 3 tháng 5/ 1974, thiếu tướng Homer D. Smith, tùy viên quân sự của đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Namông Graham Martinviết văn thư chính thức cho Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, tư lệnh trận “đánh bứng gốc” Sư Đoàn 5 Việt Cộng, ca ngợi chiến thắng của tướng Khôi.

Trong văn thư đó có câu, “Nhân danh ông Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin, và cả cá nhân tôi nữa, tôi xin ca ngợi chiến công lẫy lừng Chuẩn Tướng vừa đoạt được trong cuộc hành quân mới rồi. Đây là lần đầu tiên sau Hòa Ước Ba Lê, tôi chứng kiến một cuộc hành quân được thiết kế tuyệt hảo, và được thực hiện cũng tuyệt hảo.”


Tướng Homer D. Smith

Tướng Trần Quang Khôi

Cuộc “hành quân tuyệt hảo” đó là trận đánh tróc gốc Sư Đoàn 5 Việt Cộng – trận đánh này thường được gọi là trận Đức Huệ, mặc dù cả hai giai đoạn giao tranh và chiến thắng đều không thực sự diễn ra tại Đức Huệ.
Đồn Đức Huệ nằm về phía Tây Bắc và cách Sài Gòn 56 cây số, do Tiểu Đoàn 83 Biệt Động Quân phòng thủ với quân số trên dưới 420 người.
Đồn chỉ cách biên giới có 6 cây số, khoảng cách lý tưởng để thực hiện chiến thuật “công đồn đả viện” cho những tiểu đoàn pháo binh Việt Cộng đặt cách biên giới 5, 7 cây số, vừa an toàn lại vừa đúng tầm pháo để đánh trận địa pháo trên những tọa độ chúng đã điều chỉnh, và cắt cử tiền sát viên pháo binh theo dõi.


Vị trí của đồn Đức Huệ và của pháo binh Bắc Việt

Đêm 27 tháng Ba, 1974, một đại đội Đặc Công CS xâm nhập được vào bên trong Căn Cứ Đức Huệ; vào lúc 2 giờ sáng ngày 28 tháng Ba, chúng chiếm được một góc trong căn cứ. Ngay từ những phát súng nổ đầu tiên, Thiếu Tá Bảo bị thương ở chân, nhưng ông vẫn sử dụng máy truyền tin, gọi được 3 Đại Đội tác chiến bên ngoài gấp rút trở về. Tiểu Đoàn tập trung lại phản công quyết liệt.

Bên ngoài căn cứ, Sư Đoàn 5 CS (Công Trường 5) bao vây Đức Huệ bằng hỏa lực; pháo binh địch tập trung pháo kích vào căn cứ dữ dội. Bên trong căn cứ Biệt Động Quân và Đặc Công CS cận chiến giành nhau từng vị trí một, đánh nhau bằng lưỡi lê và lựu đạn. Đến sáng thì đại đội Đặc công CS bị quân ta tiêu diệt hết.

Tiểu Đoàn 83 BĐQ làm chủ tình hình bên, tổ chức lại phòng thủ chặt chẽ và sử dụng Pháo Binh của Tiểu Khu Hậu Nghĩa bắn yểm trợ hỏa lực chung quanh căn cứ. Trong khi đó, các Đại Đội tác chiến BĐQ bố phòng chặn đứng các đợt xung phong của các đơn vị bộ binh thuộc Sư Đoàn 5 CS. Hai bên giao chiến ác liệt ngày đêm không ngừng nghỉ.

Tiểu Đoàn 36 BĐQ do Thiếu Tá Lê Quang Giai chỉ huy, tăng phái cho Tiểu Khu Hậu Nghĩa, vượt sông Vàm Cỏ Đông ở Đức Hòa tiến về hướng Căn Cứ Đức Huệ, nhưng bị phục binh của các đơn vị thuộc Sư Đoàn 5 CS ở Giồng Thổ Địa thuộc xã Đức Huệ tấn công buộc Tiểu Đoàn phải thối lui lại gần bờ sông Vàm Cỏ.
Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III điều động Bộ Chỉ huy Liên Đoàn 33 BĐQ do Trung Tá Lê Tất Biên phụ trách sang Đức Hòa cùng với Tiểu Đoàn 64 BĐQ do Thiếu Tá Nguyễn Chiêu Minh chỉ huy. Ngày 31-3-1974, Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ (khoảng 50 người) do Trung Úy Anh chỉ huy được trực thăng vận xuống Căn Cứ Đức Huệ tăng cường cho Tiểu Đoàn 83 BĐQ, đồng thời Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) vượt sông Vàm Cỏ Đông ở gần nhà máy đường Hiệp Hòa, nhập với Tiểu Đoàn 36 BĐQ làm hai cánh quân tiến song song về hướng Căn Cứ Đức Huệ, cách đó chừng 10 cây số đường chim bay.

Tiến được chừng 2 cây số, khoảng hơn 1 trung đoàn Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 5 CS từ những vị trí hầm hào đào sẵn, xông lên tấn công mạnh, đồng thời pháo binh địch cũng bắn xối xả vào đội hình của hai cánh quân này gây tổn thất nặng. Cuối cùng Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) và Tiểu Đoàn 36 BĐQ buộc phải gom quân rút lui về lại bên này bờ sông Vàm Cỏ.

Bộ Tư lệnh QĐ III giao nhiệm vụ giải cứu Đức Huệ cho Sư Đoàn 25 BB do Đại Tá Nguyễn Hữu Toán chỉ huy. Đại Tá Toán điều động các đơn vị thuộc Sư Đoàn đang hành quân trong vùng lân cận biên giới từ phía Bắc đến giải tỏa. Một căn cứ hỏa lực được thành lập tại làng Phước Chỉ thuộc tỉnh Tây Ninh. Căn cứ này nằm cách biên giới khoảng 2 cây số về phía Nam đồn biên giới An Hòa và cách Căn Cứ Đức Huệ khoảng 13 cây số về phía Bắc. Ngoài Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly cơ hữu Sư Đoàn phối trí trong căn cứ Phước Chỉ, còn có Trung đoàn 46/SĐ25 BB được tăng cường Chi đoàn 3/10 Thiết kỵ. Chi đoàn trưởng Chi đoàn này là Đại Úy Trần Văn Hiền. Tất cả lực lượng liên binh này được đặt dưới quyền điều động của Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 BB và được giám sát chỉ huy bởi Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 25 BB ở Củ Chi.

Để đối phó với đoàn quân giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB, quân địch đã chủ động tổ chức địa thế, bố trí chờ đánh quân tiếp viện. Chúng đặt các chốt chặn trên trục tiến quân của ta, đồng thời pháo binh tầm xa của chúng nằm sâu bên kia biên giới mở những trận địa pháo chính xác, liên tục và ác liệt gây nhiều thương vong cho Trung đoàn 46 BB, làm các cánh quân không điều động được, nên kế hoạch giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB thất bại.

Một phi cơ quan sát L19 bị phòng không địch bắn rơi gần đó, Trung đoàn cũng không tiếp cứu nổi phi hành đoàn. Sau đó quân địch pháo kích tập trung hỏa lực thẳng vào căn cứ Phước Chỉ bằng hỏa tiễn 107 ly và 122 ly khiến Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn trưởng Trung đoàn 46/SĐ25 BB bị tử thương.
Trong suốt thời gian gần một tháng trời, quân bạn không đem lại một kết quả khả quan nào, hàng ngày vẫn bị pháo kích dồn dập, trực thăng tản thương và tiếp tế bị bắn rớt ngay trong căn cứ, 1 khu trục cơ Skyraider yểm trợ hành quân và 1 phi cơ DC3 thả dù tiếp tế bị hỏa tiễn SA 7 bắn rớt; những cánh dù mang lương thực và đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ thường bay ra ngoài vòng rào và lọt vào tay quân địch. Như vậy là cả hai nỗ lực từ phía sông Vàm Cỏ Đông của BĐQ đánh qua và từ phía Bắc của Sư Đoàn 25 BB đánh xuống đều bị thất bại trong việc tiếp cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ.
Vấn đề vô cùng khẩn trương lúc đó là tản thương, cứu thương và tiếp tế lương thực, nước uống, đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ, trong lúc mọi đường giao thông liên lạc vào căn cứ đều bị Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn cắt đứt nhiều ngày. Căn cứ bị cô lập và bị bao vây chặt chẽ. Tình hình bên trong căn cứ rất căng thẳng.

Ngày 17 tháng Tư, 1974, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III, cho gọi chuẩn tướng Khôi trở về bộ tư lệnh Quân Đoàn, trong lúc tướng Khôi đang chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh hành quân thám sát “Khu Tam Giác Sắt” và “Vùng Hố Bò.”

Tướng Thuần cho tướng Khôi biết thêm về tình hình giao tranh tại Đức Huệ, ra lệnh cho tướng Khôi bay vào vùng giao tranh, nhận xét tình hình rồi trở về trình bày cho ông biết quan điểm của mình.

Dù không trực tiếp liên quan đến chiến tình Đức Huệ, nhưng là một tướng lãnh chỉ huy đại đơn vị tại Quân Khu III, tướng Khôi đã có sẵn một khái niệm về trận đánh này; ông lại biết rõ sở trường của Việt Cộng là chiến thuật “công đồn đả viện”; ngay trong trận Đức Huệ các đơn vị Việt Nam tiếp cứu Đức Huệ đã chịu đựng nhiều tổn thất hơn là lực lượng đồn trú trong căn cứ.

Sau gần nửa tiếng bay, trực thăng đáp xuống sân bay Đức Hòa, và lập tức tướng Khôi được Việt Cộng chào đón bằng một loạt pháo kích. Ông xuống đất và bảo phi công cất cánh để tránh đạn, rồi dùng xe đến nhà máy đường Hiệp Hòa là nơi Bộ Chỉ huy Liên Đoàn 33 BĐQ đang tạm đóng. Leo lên tầng cao nhất của nhà máy, ông quan sát con sông Vàm Cỏ Đông uốn khúc bên dưới, bên kia sông là một dãy đất trải dài xa tắp đến tận biên giới Việt Miên.

Trung Tá Lê Tất Biên, Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 33 BĐQ, thuyết trình với tướng Khôi về những nỗ lực của Liên Đoàn vượt sông để giải tỏa căn cứ Đức Huệ, và hỏa lực pháo binh địch gây tổn thất cho 2 tiểu đoàn 36 và 64 BĐQ.

Biết tình hình Đức Huệ và biết rõ những cố gắng vô vọng để giải cứu căn cứ này, tướng Khôi trở ra trực thăng, ra lệnh cho phi công bay về hướng biên giới: ông đi tìm cội nguồn của những thất bại trong nỗ lực giải cứu Đức Huệ.

Ông bảo phi công bay thật cao để có cái nhìn tổng quát và cũng để đề phòng phòng không của địch bố trí dày đặc ở bên dưới. Bay qua khỏi sông Vàm Cỏ Đông là đến vùng biên giới Việt Miên. Bên này biên giới là một dãy đất bằng phẳng sình lầy, chi chít những kinh lạch gần giống như vùng Đồng Tháp Mười ở Miền Tây. Xa xa trên đất Miên là những làng mạc rải rác vắng vẻ. Nằm xa tít về hướng Nam bên lãnh thổ Việt Nam là Căn Cứ Đức Huệ lẻ loi, cô độc.

Tướng Khôi cho trực thăng bay sâu vào đất Miên, để thấy thị trấn ChiPu của Campuchia xuất hiện ở phía trước. Về phía Nam một chút, có một khu rừng rộng khoảng 10 mẫu Tây gây sự chú ý cho Khôi. Ông chợt nhớ lại cách đó 4 năm, trong cuộc hành quân “Toàn Thắng 42” cuối tháng Tư 1970, ông đã đi qua khu rừng này và biết rất rõ địa thế phía Nam của Thị trấn ChiPu.

Hiểu biết đó giúp ông tìm ra cái gốc của bài toán Đức Huệ: Việt Cộng đặt pháo tại khu rừng phía Nam ChiPu, và pháo vào mọi đơn vị Việt Nam đến giải cứu Đức Huệ.
Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi đã viết lại trong một bài báo:

“Trong chớp mắt, tôi thấy ngay là phải hành động như thế nào để đánh bại Sư Đoàn 5 CS, cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ trong Căn Cứ Đức Huệ. Trở về hậu cứ của Lữ Đoàn ở Biên Hòa, tôi phác họa ra kế hoạch phản công trong vòng 20 phút. Đặc điểm của kế hoạch này là sự giản dị tối đa và bất ngờ hoàn toàn: Toàn bộ LLXKQĐ III sẽ cùng tôi vượt biên ban đêm và bí mật tiến sâu vô lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Nỗ lực chính là đột kích đêm vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS từ hướng Nam ChiPu. Phải hết sức bí mật và hành động thật nhanh, tập trung toàn bộ sức mạnh của Thiết Giáp, khai thác tối đa tốc độ và Shock Action trên trận địa, không cho địch trở tay kịp.

Trung Tướng Phạm Quốc Thuần chăm chú nghe tướng Khôi trình bày đề nghị sử dụng LLXKQĐ III (Lực Lượng Xung Kích QD III) phản công để giải tỏa Căn Cứ Đức Huệ. Kế hoạch phản công của tướng Khôi có hai giai đoạn.
Ông Khôi viết:

– Giai đoạn 1: Hành quân lừa địch: Từ ngày N-6 đến ngày N: Rút LLXKQĐ III đang hành quân thám sát trong tỉnh Tây Ninh về khu Comi ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một). Tôi sẽ tung tin là LLXKQĐ III di chuyển lên Xuân Lộc (Long Khánh). Mục đích của cuộc điều quân này là làm cho quân địch tưởng là lực lượng Thiết Giáp sẽ rút đi đến một nơi khác.
– Giai đoạn 2: Hành quân phản công: Từ ngày N: Xuất quân đêm, trở lên Gò Dầu Hạ, vượt biên giới tiến sâu vào lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Sau đó chuyển sang hướng Nam ChiPu, dựa vào đêm tối tấn công toàn lực vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS bố trí ở phía Tây Căn Cứ Đức Huệ.

Nghe xong kế hoạch của tướng Khôi, tướng Thuần tỏ ra ngần ngại; ông bảo Khôi, “Tôi lo kế hoạch này của anh sẽ đưa đến những hậu quả nghiêm trọng về chính trị. Vì như thế là chúng ta xâm phạm vào lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền. Chính phủ Campuchia sẽ có phản ứng và Liên Hiệp Quốc chắc chắn sẽ lên tiếng phản đối. Tôi sẽ gặp khó khăn.”

Khôi trả lời, “Thưa Trung Tướng, CSBV có tôn trọng chủ quyền của Campuchia đâu. Chúng đang sử dụng lãnh thổ của Campuchia để tấn công chúng ta.”

“Đúng vậy, nhưng đây là một vấn đề rất tế nhị. Anh có thể làm một kế hoạch khác được không? Khôi đáp, “xem xét kỹ tình hình và địa thế, tôi nghĩ chỉ có kế hoạch bứng gốc Sư Đoàn 5 Việt Cộng, tiêu diệt những họng đại bác chúng đặt trên lãnh thổ Miên chúng ta mới đánh bại chúng và giải cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ được.”
Dĩ nhiên tướng Khôi có lý, nếu không khóa họng vài chục khẩu đại bác 130 ly đặt an toàn trên lãnh thổ Miên, với hàng kho đạn đầy ắp, được viện trợ thỏa thích chứ không giới hạn như đạn Mỹ cho Việt Nam, thì bao nhiêu ngàn quân tiếp viện cũng chỉ là thịt đưa vào lò giết người của Việt Cộng.
Ông quyết liệt trong đề nghị đánh một “trận bứng gốc” để tiêu diệt mọi tiềm năng hỏa lực đang tàn sát chiến sĩ Việt Nam bên trong và bên ngoài căn cứ Đức Huệ.
Tướng Thuần cũng thấy không có giải pháp nào khác hơn là phải tấn công sư đoàn 5 Việt Cộng đang an nhàn pháo kích sang trận địa pháo Đức Huệ.
Ông bảo tướng Khôi, “Thôi được, tôi sẽ trình kế hoạch của anh lên Tổng Thống để ổng quyết định. Nếu được chấp thuận, anh sẽ chỉ huy cuộc hành quân này. Hãy về chuẩn bị lực lượng.”
Khôi viết, “Trên đường về Lữ Đoàn, tôi nghĩ chắc rồi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng sẽ chấp thuận; chúng ta không thể vì lo ngại Liên Hiệp Quốc mà hy sinh tính mạng của hơn 500 chiến sĩ BĐQ và gia đình họ bên trong Căn Cứ Đức Huệ.
Ông Khôi viết:

  Trong lòng tôi rất vui mừng vì đây là lần đầu tiên tôi sắp có trong tay một lực lượng Thiết Giáp lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam và cũng là lần đầu tiên tôi được toàn quyền hành động để đương đầu trực diện với một Sư Đoàn CS.
Ngày 20-4-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chấp thuận Kế hoạch Hành quân của tôi, đồng thời ra lệnh cho Không lực VNCH trực tiếp yểm trợ tác chiến cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh 120 phi xuất (Tactical Air Support) từ ngày N đến ngày N+3 theo yêu cầu của tôi.
Tôi chọn ngày N là ngày 28-4-1974. 
Theo nhu cầu hành quân của tôi, các đơn vị sau đây được Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn III chỉ định tăng phái cho Lữ Đoàn 3 KB để nằm trong tổ chức của LLXKQĐ III:
– Tiểu Đoàn 64 BĐQ đi với Thiết Đoàn 15 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 315 do Trung Tá Dư Ngọc Thanh chỉ huy;
– Tiểu Đoàn 36 BĐQ đi với Thiết Đoàn 18 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 318 do Trung Tá Phan Văn Sĩ chỉ huy;
– 1 Đại Đội Bộ binh thuộc Tiểu Đoàn 1/43 (Sư Đoàn 18 BB) đi với Thiết Đoàn 22 Chiến xa, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Văn Liên chỉ huy;
– Thiết Đoàn 10 KB (Sư Đoàn 25 BB) + Tiểu Đoàn 1/43 BB (-) (Sư Đoàn 18 BB) + 1 Chi đội Chiến xa M48 thuộc Thiết Đoàn 22 Chiến xa do Trung Tá Trần Văn Nhuận chỉ huy;
– Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh 105 ly + 1 Pháo đội 155 ly thuộc Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh do Thiếu Tá Hoa Vạn Thọ chỉ huy;
– Tiểu Đoàn 302 thuộc Liên Đoàn 30 Công binh do Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn chỉ huy; một Trung đội Điện tử (Quân Đoàn) do Thiếu Tá Hiển, Trưởng phòng 2 Lữ Đoàn kiểm soát;
– 1 Trung đội Truyền Tin Siêu tần số (Quân Đoàn) do Trung Úy Bùi Đình Lộ Trưởng phòng Truyền tin Lữ Đoàn giám sát;
– 1 Đại Đội yểm trợ Tiếp Vận thuộc Bộ chỉ huy 3 Tiếp vận do thượng sĩ Nhất Phan Thanh Nhàn (Quân cụ) chỉ huy.
Ngoài ra Trung Tướng Thuần còn ra lệnh cho 3 tư lệnh Sư Đoàn Bộ Binh cho tôi mượn 6 giàn hỏa tiễn TOW chống xe tăng để phân phối cho mỗi Chiến Đoàn Thiết Giáp vượt biên 2 giàn hỏa tiễn TOW gắn trên xe Thiết vận xa M113 đề phòng trường hợp có chiến xa T 54 của địch xuất hiện trên chiến trường Campuchia.
Trước khi kết thúc buổi họp, Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn chúc tôi thành công trong nhiệm vụ giao phó. Tôi đứng lên đáp lời cám ơn. Lúc đó trong lòng tôi có một sự tin tưởng mãnh liệt vào chiến thắng của cuộc hành quân này, nên tự nhiên tôi buột miệng thốt ra: 

– Thưa Trung Tướng, chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 Cộng Sản!
Trên đường về Lữ Đoàn, tôi giật mình khi nghĩ lại những lời mình vừa nói. Tại sao tôi dám liều lĩnh khẳng định trước hội nghị là sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 Cộng Sản? Mặc dù tôi có trong tay LLXKQĐ III là một lực lượng chiến đấu tinh nhuệ chưa từng bị thất trận và mặc dù tôi đã nắm chặt trong tay những yếu tố có tính cách quyết định thắng lợi, nhưng vẫn còn 2 yếu tố khác ngoài tầm tay của tôi có thể làm tôi bị thất bại trong cuộc hành quân này. Đó là thời tiết và kế hoạch hành quân bị bại lộ. 

Thật vậy, nếu đến ngày N là ngày xuất quân trời đổ mưa trong vùng hành quân, địa thế trở nên lầy lội, tôi sẽ không thể điều động lực lượng Thiết Giáp như ý muốn được, hoặc kế hoạch hành quân của tôi trình lên phủ Tổng Thống để xin quyết định, nếu bị tiết lộ ra ngoài, chắc chắn sẽ đưa tôi đến thảm bại. Cứ nghĩ đến 2 yếu tố này là tôi không ăn ngủ được. Tôi thấy hối tiếc đã thốt ra những lời khẳng định trước là sẽ đánh thắng quân địch. Lời khẳng định này cứ ám ảnh tôi ngày đêm. Cuối cùng tôi tự nhủ: phải giữ đúng lời hứa; bằng mọi cách, mọi giá, phải đánh thắng Sư Đoàn 5 Cộng Sản.

Ngày 22-4-1974, tôi ra lệnh cho toàn bộ LLXKQĐ III đang hành quân thám sát trong Chi Khu Khiêm Hanh thuộc tỉnh Tây Ninh rút quân về đóng ở Khu Còmi thuộc quận Lái Thiêu tỉnh Bình Dương (Thủ Đầu Một). Tôi cho phao tin là LLXKQĐ III sẽ di chuyển qua Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh. Mục đích của cuộc rút quân này là để đánh lừa địch, làm cho chúng tưởng là quân Thiết Giáp sẽ rút đi luôn không trở lại. Tôi cho trung đội điện tử thường xuyên nghe lén và theo dõi địch trao đổi tin tức với nhau. Khi LLXKQĐ III vừa rút đi khỏi Gò Dầu Hạ về Lái Thiêu thì đài tình báo của địch ở An Hòa Gò Dầu lên tiếng báo cáo: Quân Thiết Giáp đã rút đi. Tôi biết chúng đã bị mắc lừa.

Từ ngày 22-4-74 đến ngày 28-4-74, trong 6 ngày này đóng quân ở Khu Còmi quận Lái Thiêu, các Chiến Đoàn 315, 318 và 322 theo lệnh tôi ra sức ôn tập hợp đồng tác chiến giữa Thiết Giáp – Biệt Động Quân – Pháo Binh từ cấp Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, Chiến Đoàn thật nhuần nhuyễn. 

Riêng tôi trong 6 ngày đó, tôi tích cực không ngừng làm công tác tư tưởng. Karl Max nói: Nếu tư tưởng được đả thông, mọi người đều giác ngộ thì sức mạnh vật chất sẽ tăng lên gấp đôi.” Kinh nghiệm chiến trường cho tôi thấy tinh thần hăng say làm tăng sức mạnh của đơn vị lên gấp bội. Khơi dậy được tinh thần chiến đấu của toàn quân là yếu tố số một của thắng lợi. “Tôi lần lượt đi xuống họp với các cấp chỉ huy Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn của các binh chủng và với các Chiến Đoàn trưởng, nói rõ tình hình của ta và địch, nói rõ nhiệm vụ và cách đánh của LLXKQĐ III để mọi người đều thông suốt và tin tưởng sự tất thắng của chúng ta. 

Tôi thuyết phục họ tin vào sự chỉ huy của tôi và nói rõ sự quyết tâm của tôi là phải chiến thắng bằng mọi giá. Tôi thúc đẩy họ, tôi nói đến tình đồng đội: Chúng ta không thể bỏ rơi đồng đội của mình đang bị địch bao vây và mong chờ chúng ta đến cứu họ. 

Ngày N – ngày 28-4-1974 đã đến. 
Chiều ngày 28-4-1974, Công Binh đã sẵn sàng; Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 302 CB, theo lệnh tôi, đã kín đáo cho bố trí từ chiều tối ngày hôm trước ở hai bên bờ sông Gò Dầu Hạ các phà cao su để đưa chiến xa M48 qua sông. Lúc 20:00 giờ, tôi cải trang đích thân đến tận 2 bờ sông Gò Dầu Hạ kiểm tra Công Binh làm công tác chuẩn bị cho chiến xa vượt sông.

Đúng 22:00 giờ đêm, toàn bộ LLXKQĐ III gồm 3 Chiến Đoàn 315, 318 và 322 cùng Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu rời vùng tập trung ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một) di chuyển bằng đèn mắt mèo và im lặng truyền tin trực chỉ Gò Dầu Hạ.

Ngày 29-4-1974, lúc 00:00 giờ, các chiến xa M48 bắt đầu xuống phà qua sông Gò Dầu Hạ. Các loại xe xích khác và xe chạy bánh qua cầu Gò Dầu Hạ theo Quốc lộ 1 trực chỉ ra hướng biên giới Việt Miên.
Từ 01:00 giờ sáng đến 03:00 giờ sáng, các Chiến Đoàn, Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn lần lượt vượt biên sang lãnh thổ Campuchia và vào vùng tập trung nằm sâu trong đất Miên về hướng Đông Nam thị trấn Chipu.

Đến 03:15 giờ, tất cả các đơn vị đã bố trí xong, trong vùng tập trung, sẵn sàng chờ lệnh xuất phát. Trung đội điện tử theo dõi nghe địch, không thấy chỉ dấu gì chúng nghi ngờ.

Đúng 03:30 giờ, tôi ra lệnh cho hai Chiến Đoàn 315 và 318 vượt tuyến xuất phát, tấn công song song tiến xuống phía Nam, Chiến Đoàn 315 bên phải, Chiến Đoàn 318 bên trái, Bộ Chỉ huy của tôi theo sau Chiến Đoàn 315; Chiến Đoàn 322 trừ bị, bố trí phía Nam Quốc lộ 1 chờ lệnh.

Đúng 04:30 giờ, Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu khai hỏa, tác xạ đồng loạt tập trung vào các mục tiêu của địch nằm phía Tây Căn Cứ Đức Huệ, đồng thời Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 1/43 BB(-) vượt tuyến xuất phát mở đường từ căn cứ Phước Chỉ xuống Căn Cứ Đức Huệ. 

Đến 05:00 giờ sáng ngày 29-4-74, các cánh quân của Chiến Đoàn 315 và 318 báo cáo chạm địch. Quân ta điều động bao vây, chia cắt, tấn công liên tục. Quân địch bị đánh bất ngờ tháo chạy, quân ta truy đuổi chặn bắt. Các Bộ Chỉ huy Trung đoàn, Sư Đoàn, Bộ Chỉ huy Hậu cần và các căn cứ Pháo Binh của quân địch bị quân ta tràn ngập và lần lượt bị quét sạch. Nhiều dàn pháo các loại 4 ống, 8 ống và 12 ống, và hàng ngàn hỏa tiễn 107 ly và 122 ly bị quân ta tịch thu và tiêu hủy tại chỗ . Đặc biệt hơn cả có hơn 30 hỏa tiễn chống xe tăng AT 3 của Liên Xô nằm trên giàn phóng, chưa kịp khai hỏa bị quân ta chiếm đoạt.
Đến 08:00 giờ sáng, Không Quân Chiến Thuật lên vùng; Đại Tá Trần Văn Thoàn, tư lệnh phó Lữ Đoàn bay trực thăng chỉ huy, điều khiển Không Lực liên tục oanh kích và oanh tạc địch từ sáng đến chiều tối. Đến 19:00 giờ ngày 29 tháng Tu 1974, đại quân của Sư Đoàn 5 CS bị đánh tan rã rút chạy về hướng Mộc Hóa thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Tôi liền tung cả ba Chiến Đoàn đồng loạt truy đuổi địch và cho Không Quân Chiến Thuật tập trung truy kích chúng sâu trong lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật. Hàng ngàn quân địch bị giết và bị thương và hàng trăm tên bị quân ta bắt sống.

Sáng ngày 30-4-74, các đơn vị địch còn kẹt lại chung quanh Căn Cứ Đức Huệ chống trả yếu ớt, lần lượt bị quân ta tiêu diệt. Đến trưa, một cánh quân của Thiết Đoàn 10 đã bắt tay được với Biệt Động Quân trong Căn Cứ Đức Huệ và đến chiều toàn bộ Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn bị quân ta quét sạch.

Bộ Chỉ huy của tôi nằm sâu trong lãnh thổ Campuchia về phía Đông Nam Chipu trong một làng nhỏ hoang vắng. Tin chiến thắng làm nức lòng mọi người. Màn đêm xuống, tiếng súng im bặt. Đêm hôm đó thật êm ả, trời trong vắt, đầy sao, lòng tôi tràn ngập một niềm sung sướng khó tả. Có lẽ đây là đêm đẹp nhất trong đời tôi. Tôi đã khẳng định trước với Quân Đoàn là chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 CS và bây giờ chúng tôi đã đánh bại chúng. Tôi đã nói trước khi xuất quân với thuộc cấp là nếu thất bại thì sẽ không một ai trở về Việt Nam và bây giờ chúng tôi đã chiến thắng để có thể trở về. Đối với tôi trận đánh này cũng giống như một canh bạc mà tôi đã lấy mạng sống của tôi ra đánh và bây giờ tôi đã thắng. Cho tới ngày hôm đó trong đời tôi, thật không có một niềm hạnh phúc nào lớn hơn được.

Chưa bao giờ trong lịch sử của hai cuộc chiến tranh Việt Nam có một trận vận động chiến nào mà quân ta hoặc quân Đồng Minh chiến thắng một đại đơn vị CS nhanh chóng như thế, tuyệt đối như thế. Tôi lấy một mẫu giấy nhỏ, tự tay thảo ngay bức công điện ngắn báo cáo chiến thắng về Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III.

Trân trọng báo cáo: 
– Ngày 28-4-74: Xuất quân 
– Ngày 29-4-74: Phản công 
– Ngày 30-4-74: Tiêu diệt địch 
– Ngày 1-5-74: Hoàn thành nhiệm vụ.
Ngày 2-5-1974, tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Lữ Đoàn ở Gò Dầu Hạ, phóng viên đài VOA phỏng vấn hỏi tôi: “Có phải Thiếu Tướng đã đưa quân sang lãnh thổ Campuchia không?”
Tôi đáp, “Không, tôi chỉ hành quân dọc theo biên giới bên trong lãnh thổ Việt Nam. Chính Cộng Sản Việt Nam mới có quân trên lãnh thổ Campuchia.”
Tối đến, đài VOA và đài BBC loan tin chiến thắng của Quân Lực ta ở Căn Cứ Đức Huệ. Riêng đài BBC nói thêm: “Tướng Trần Quang Khôi nói không hề đưa quân sang lãnh thổ Campuchia, nhưng theo tin tức riêng của chúng tôi thì Quân lực VNCH có truy đuổi quân Cộng Sản Bắc Việt trên lãnh thổ Campuchia.”

Ngày 3-5-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi trực thăng đến Gò Dầu Hạ thị sát chiến trường. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và tôi tiếp đón Tổng Thống. Ông vui vẻ bắt tay chúng tôi rồi đi đến xem chiến lợi phẩm tịch thu của quân địch: Rất nhiều vũ khí cộng đồng các loại. Nổi bật là các giàn phóng hỏa tiễn 4 ống, 8 ống và 12 ống cùng hàng trăm hỏa tiễn 107 và 122 ly. 
Đặc biệt hơn cả là hơn 30 hỏa tiễn AT-3, loại mới nhất của Liên Sô có hệ thống điều khiển chống tăng, lần đầu tiên bị quân ta tịch thu trên chiến trường Nam Việt. Nhiều tùy viên quân sự Tây phương mỗi người xin một quả nói để đem về nước nghiên cứu. Nhìn số vũ khí khổng lồ của địch bị quân ta tịch thu mới hiểu được sự tàn phá khủng khiếp trong Căn Cứ Đức Huệ và sự chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 BĐQ. 
Tiếp đến, Tổng Thống đi thăm Bộ Tham Mưu Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và các đơn vị trưởng của các binh chủng trong tổ chức LLXKQĐ III, ông bắt tay khen ngợi từng người và gắn cấp bậc Đại Tá cho Trung Tá Thiết Giáp Dư Ngọc Thanh, Chiến Đoàn trưởng Chiến Đoàn 315. Sau đó Tổng Thống lên trực thăng chỉ huy cùng tôi bay qua Đức Huệ. Các trực thăng của Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và phái đoàn Phủ Tổng Thống bay theo sau.
Trên đường bay, Tổng Thống bảo tôi, “Tôi rất thích tính táo bạo liều lĩnh trong kế hoạch hành quân của anh.”
“Thưa Tổng Thống, đây là sự liều lĩnh có tính toán,” tôi đáp lại. 


Trực thăng đáp xuống Căn Cứ Đức Huệ. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ hân hoan tiếp đón Tổng Thống. Ông đi bộ một vòng viếng thăm, ủy lạo và ban thưởng. Doanh trại trong căn cứ bị Pháo Binh địch tàn phá đổ sập gần hết, nhưng sự hãnh diện giữ vững được đồn hiện ra trong đôi mắt của mỗi chiến sĩ BĐQ.
Một chuẩn úy BĐQ còn rất trẻ đến gặp tôi, đứng nghiêm chào, rồi thình lình anh bước tới gần tôi, hai tay nắm chặt lấy tay tôi bật khóc và nói: “Cám ơn Thiếu tướng đã cứu mạng chúng em.”
Tôi cảm động ôn tồn đáp lại: “Chính anh phải cám ơn các em mới đúng. Sự chiến đấu vô cùng dũng cảm của các em là một tấm gương sáng chói, là niềm hãnh diện chung của Quân lực chúng ta. Các em mới thật sự là những anh hùng của Quân đội mà mọi người Việt Nam Tự do phải mang ơn các em.”
Hai tuần sau, tôi nhận được một thư của Đại Tá Raymond Battreall nguyên Cố Vấn Trưởng của Bộ Chỉ huy Thiết Giáp Binh QLVNCH. Battreall cho rằng đây là một chiến thắng ngoạn mục và xuất sắc nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Cuối thư ông viết bằng chữ Việt Nam: Kỵ Binh Việt Nam Muôn Năm.

Đúng một năm sau, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Đoàn 4 CSBV do Thượng tướng Hoàng Cầm chỉ huy đã thất bại trong kế hoạch đánh chiếm tỉnh Biên Hòa, và Sư Đoàn 341 CSBV bị LLXKQĐ III đánh bại ở Biên Hòa buộc phải rút đi sau khi chịu nhiều tổn thất to lớn.
Ngay sau đó, LLXKQĐ III kéo quân về tiếp cứu Thủ Đô Sài Gòn thì được lệnh buông vũ khí đầu hàng lúc 10:25 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Ai là người chịu trách nhiệm làm mất Miền Nam Việt Nam? Ai là thủ phạm đưa QLVNCH đến chỗ thua trận?
Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh kể từ ngày thành lập 7-11-1970 đến ngày 30-4-1975 do tôi chỉ huy, luôn luôn chiến thắng hết trận này đến trận khác cho đến phút chót. Không một ai trong chúng tôi lùi bước trước quân thù. Không một ai trong chúng tôi bỏ trốn ra nước ngoài. Tất cả có mặt tại hàng và chấp nhận định mệnh không than van kêu khóc.
Tháng Giêng 2009
Trần Quang Khôi

* Chuẩn tướng Trần Quang Khôi xuất thân từ khóa 6 TVBQG Đà Lạt 1952 .
* Tốt nghiệp:
– Trường Kỵ Binh SAUMUR, Pháp 1955.
– Trường Thiết Giáp Lục Quân Hoa Kỳ FORT KNOX, Kentucky 1959.
– Trường Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ FORT LEAVENWORTH, Kansas 1973.
* Cấp bậc và chức vụ sau cùng: Chuẩn Tướng, tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh thuộc Quân Đoàn III/QLVNCH.
* Sau chiến tranh Việt Nam, tướng Khôi bị bắt và bị tù Cộng Sản 17 năm.
* Định cư tại tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ năm 1993.
* Tốt nghiệp Trường Đại Học George Mason University, Hoa Kỳ với cấp bằng MA Văn Chương Pháp 1998.

Phần nhận xét của Nguyễn Đạt Thịnh

Tướng Smith sai khi ông viết, “Đây là lần đầu tiên sau Hòa Ước Ba Lê, tôi chứng kiến một cuộc hành quân được thiết kế tuyệt hảo, và được thực hiện cũng tuyệt hảo.”

Sai vì 5 chữ “sau Hòa Ước Ba Lê”; nếu bỏ 5 chữ đó, câu văn của ông gửi tướng Khôi sẽ chỉ còn “Đây là lần đầu tiên, tôi chứng kiến một cuộc hành quân được thiết kế tuyệt hảo, và được thực hiện cũng tuyệt hảo.” Đó là sự thật đáng buồn mà người Mỹ không bao giờ có đủ can đảm để nhìn nhận.

Ngụ ý của 5 chữ “sau Hòa Ước Ba Lê” là, sau khi người Mỹ tháo chạy ra khỏi chiến trường Việt Nam, không còn một cuộc hành quân nào được thiết kế tuyệt hảo, và được thực hiện cũng tuyệt hảo nữa; chứ trước kia, ngày các tướng lãnh Mỹ còn cầm quân trên chiến trường Việt Nam là còn có những cuộc hành quân được thiết kế tuyệt hảo, và được thực hiện cũng tuyệt hảo.

Tướng Smith đã qua đời từ năm 2011, tại San Antonio, Texas, nhưng dù còn sống, ông hay bất cứ tướng lãnh Mỹ nào khác cũng không chứng minh được là Mỹ có một chiến thuật hay một chiến lược nào tại Việt Nam cả.

Tướng Westmoreland nói chiến lược của ông là Search and Destroy (Tìm và Diệt Địch)! Thật là thảm hại; điều mà ông gọi là “chiến lược,” chỉ là việc người lính Việt Nam phải làm hàng ngày. Trên thực tế 1 triệu quân Việt Nam và nửa triệu quân Mỹ bị các “chiến lược gia” Mỹ nhốt vào những đồn binh như đồn Đức Huệ, nằm đó chờ địch tới tấn công. Những cuộc hành quân “tìm và diệt địch” cũng chỉ là một hình thức bị động khác, không đủ tác dụng chống du kích, tệ trạng đó còn kéo dài nhiều năm trên chiến trường Trung Đông.

CHIẾN THUẬT BỨNG GỐC của tướng Khôi là chiến thuật kiến hiệu phá vỡ chiến thuật “công đồn đả viện” của Việt Cộng. Ông giải tỏa đồn Đức Huệ mà không cần bắn một viên đạn, không cần gửi một chiếc thiết giáp vào Đức Huệ.

Ông thắng hai trận 30 tháng Tư, trong hai năm 1974 và 1975, năm 74 ông thắng tại ChiPu, và năm 75, ông thắng tại Biên Hòa. Tôi viết bài báo nhỏ này để ca tụng ông, nhân ngày 30 tháng Tư năm nay.

Nguyễn Đạt Thịnh

Ngôi Mộ 47 Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Tại Quy Nhơn

Một Đại tá VNCH được an táng dưới cột cờ

  Thêm một mộ tập thể 47 tử sĩ VNCH những ngày cuối cuộc chiến.

 Đại-tá Nguyễn Hữu Thông

Trung Đoàn Trưởng 42 BB – SĐ 22 BB

Tự sát 31-3-1975 tại Quy Nhơn.

 

 

QUY NHƠN – Trong những ngày cuối của cuộc chiến, có một vị đại tá trung đoàn trưởng đã không chịu xuống tàu chạy loạn mà chịu ở lại với lính, và dùng súng tự sát. Xác ông được chôn trong một ngôi mộ tập thể khổng lồ, dưới chân cột cờ bên ngoài Quân Y Viện Quy Nhơn, trong đó có 47 thi hài tử sĩ. Câu chuyện này được một hạ sĩ quan pháo binh kể lại, đồng thời gợi lại ký ức đau buồn nơi một vị bác sĩ hiện đang hành nghề ở New York.

 

Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng TrÐ 42/SÐ 22BB, tự sát vào cuối tháng 3, 1975  bị chôn trong nấm mộ tập thể tại Quy Nhơn.

Vào đầu năm 1975, anh Dương Công An nguyên là một hạ sĩ quan Pháo Binh thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, nay anh đang sống tại Ðức. Anh An cho biết, vào những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, đơn vị của anh bị tan hàng trên bờ biển Quy Nhơn, anh và một số anh em binh sĩ khác đã lẩn trốn nhiều ngày trong Quân Y Viện Quy Nhơn.

Ở đấy, khi đó chỉ còn có một bác sĩ duy nhất, là Trung Úy Nguyễn Công Trứ. Ông Trứ hiện là bác sĩ quang tuyến tại một trường đại học ở New York. Khi tin về nấm mộ tập thể tại Quân Y Viện Quy Nhơn được tôi đưa lên net, nhiều người đã điện thoại cho Bác Sĩ Trứ. Những cú điện thoại này nhắc nhở cho ông quá nhiều chuyện kinh hoàng trong quá khứ, khiến ông nhiều đêm mất ngủ.

Sau nhiều lần gọi và nhắn trong máy là chúng tôi sẽ gọi lại, Bác Sĩ Trứ mới bốc máy. Ông kể, vào những ngày sau cùng, một buổi sáng ông được tiếp Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42 đi trực thăng đến thăm Quân Y Viện. Thấy tình cảnh y chỉ còn một bác sĩ và hằng trăm thương binh trong tình trạng thiếu ăn, thiếu thuốc, cũng như nhiều thương binh chết chưa được chôn cất, Ðại Tá Thông đã khóc trước mặt Bác Sĩ Trứ.

Và chỉ một ngày sau đó, Quân Y Viện tiếp nhận một tử thi nữa, và đó chính là tử thi Ðại Tá Thông. Binh sĩ đưa xác ông tới, và cho biết ông đã tự sát. Nhiều nguồn tin sau này cho biết, Ðại Tá Thông đã từ chối xuống tàu vì binh sĩ dưới quyền ông còn kẹt lại quá nhiều, không di tản được.

Khi đó, tại quân y viện này, có cả hàng trăm bệnh nhân cho một mình Bác Sĩ Trứ. Ðồng thời cũng có rất nhiều binh sĩ tử trận được mang về nằm từ trong nhà xác và rải rác ra khắp hành lang. Các thi hài tại nhà xác QYV đã bốc mùi, và chó đã vào nhà xác ăn, gặm các tử thi này, nên Bác Sĩ Trứ đã nhờ khoảng 20 anh em quân nhân còn sức khỏe phụ với Bác Sĩ Trứ đào một huyệt mộ rất lớn dưới cột cờ, gần khu quân xa của Quân Y Viện.

Ở đây gần biển các nên việc đào đất tương đối dễ dàng. Ðầu tiên là những tử sĩ đã được khâm liệm trong quan tài có phủ quốc kỳ được sắp xuống trước, tiếp theo là những người chết nằm trên băng ca được đặt lên trên những quan tài, cứ thế mà sắp xếp. Tất cả là 47 thi hài tử sĩ, trong số này có Ðại Tá Thông, là cấp chỉ huy trực tiếp của anh An.

Lúc bấy giờ Saigòn chưa thất thủ, ngay cả sinh mạng của anh em binh sĩ bại trận cũng không biết sẽ ra sao nên sự việc chôn cất anh em tử sĩ lúc đó chỉ được thực hiện rất sơ sài hầu như là lén lút và vội vàng. Sau đó vài ngày tất cả bị bắt làm tù binh.

Anh An cho biết câu chuyện đã đeo đuổi theo anh suốt bao nhiêu năm nay, tâm nguyện của anh là ước sao, có ai đó, có khả năng để cải táng được ngôi mộ tập thể này, đó cũng là dịp mà mình an ủi được phần nào linh hồn của những tử sĩ này, nhưng những hy vọng càng ngày càng bị thu nhỏ lại, vì qua tin tức báo chí đất đai ở Việt Nam đã bị lạm dụng xây cất bừa bãi, hay khu đất này thuộc phạm vi của bộ đội Cộng Sản thì không thể làm gì được.

Khi VC vào Quy Nhơn, họ bắt Bác Sĩ Trứ. Nhưng ông không chỉ bị bắt làm tù binh, mà còn bị buộc tội làm việc cho CIA vì mọi người đi hết sao chỉ còn một mình Bác Sĩ Trứ ở lại. Trong Quân Y Viện lúc ấy, có một lính Việt Cộng bị thương được một đơn vị đem gởi điều trị, nhưng lại bị khóa tay vào thành giường, Bác Sĩ Trứ không có chìa khóa mở còng nên nhóm vc càng căm thù Bác Sĩ Trứ. Ông bị tù 4 năm 11 tháng, ra tù ông vượt biển đến Mỹ từ năm 1981, lúc còn độc thân, hiện nay đã có ba con theo học đại học….

Trong những ngày qua, có nhiều điện thoại hỏi đến ông về câu chuyện cũ gần 36 năm về trước khiến cho ông có nhiều đêm bị mất ngủ vì những cơn ác mộng. Bác Sĩ Nguyễn Công Trứ nói rằng ông đã làm theo lương tâm và với tình đồng đội, đã chôn 47 tử sĩ dưới chân cột cờ của Quân Y Viện. Ông đã nhiều lần về lại Quy Nhơn, qua lại trước khu Quân Y Viện cũ, ngày nay đã là doanh trại của bộ đội Cộng Sản, mà không thể làm gì hơn.

Tin về ngôi mộ tập thể cũng đến tai bà quả phụ cố Ðại Tá Thông, nhũ danh Phùng Ngọc Hiếu. Liên lạc được qua điện thoại hôm Thứ Năm, bà cho biết mấy ngày hôm nay, nhiều bạn bè đã chuyển cho bà về tin tức ngôi mộ tại Quân Y Viện Quy Nhơn, cũng là nơi yên nghỉ của Ðại Tá Thông.

Từ 35 năm nay, bà cũng nghe nhiều tin tức về chồng và bà cũng có nghe tin ông tự sát. Bà cũng đã về Quy Nhơn tìm kiếm nhưng không có tin tức, và không biết xác ông được chôn cất ở đâu. Bà kể, trước khi mất liên lạc, Ðại Tá Thông có liên lạc với vợ và than phiền rằng trung đoàn của ông đang chiến thắng, vì sao lại có lệnh rút bỏ Pleiku.

Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông sinh năm 1937, nguyên quán tại Thạch Hãn, Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 16 Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt. Ông được vinh thăng đại tá năm 1972. Hiện nay bà quả phụ cố Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông cư ngụ tại Sacramento và ông bà có 5 người con đã thành đạt.

Nick Kontostavlakis Portfolio

Bao Giờ Chợ Huyện?—Phạm Thế Định

Cuộc đời vô thường, tin buồn đến ngày hôm qua để có bài viết ngày hôm nay. Báo mạng đưa tin anh Bùi Bảo Trúc vừa từ trần tại California (ngày 16 tháng 12). Thế là anh mất sau anh cả tôi nửa năm, anh Trúc sinh năm 1944 thọ 72 tuổi, anh Hãn tôi lớn hơn anh Trúc 2 tuổi, mất ngày 26 tháng 4 năm 2016 vừa qua, thọ 74 tuổi. Sự ra đi của hai anh trưởng, đối với tôi, là một khúc quanh có thể tạo khuất mờ thêm trong tình bạn giữa hai giòng họ Bùi và Đinh của quê hương Trình Phố, Thái Bình.

Họ Bùi và họ Đinh quen nhau và thân nhau từ thuở nào, tôi là kẻ sinh sau đẻ muộn, nên không rõ lắm. Nghe chuyện người lớn kể thoang thoảng và còn đọng trong ký ức, lẫn lộn với mùi nhang ngày giỗ, hay thủy tiên ngày tết, sự giao tình dễ đã có từ mấy trăm năm trước. Có lẽ từ thời nhà Lê Trung Hưng, tổ phụ hai họ, nhờ có chút ít công lao kháng Minh, đã được nhà vua cấp đất để khai khẩn. Nhờ vậy, một số giòng họ Việt cổ (Mường), sinh sống gần vùng Cẩm Thủy Thanh Hóa cùng thân tộc, đã đến lập nghiệp tại nhiều nơi trên đất Bắc, trong đó có một vùng sát biển của tỉnh Thái Bình, vùng ấy lúc đó còn có tên là Diêm Phả, sau nhiều năm đổi là Trình Phả vì đất đã lấn biển khá lâu không còn ruộng muối (diêm điền). Thời nhà Nguyễn rồi qua thời Pháp thuộc, với sinh hoạt sầm uất lên, làng lại được đổi tên thành Trình Phố, và nay tên mới dưới thời cộng sản là làng An Ninh.

Bác Bùi Văn Bảo, thân phụ anh Trúc và cha tôi là bạn “nối khố” với nhau, có lẽ từ thời cả hai vừa biết nói. Tương kính như tân mà vẫn đằm thắm thân tình. Tình bạn vượt qua bao thăng trầm thời sự, mấy lần dâu biển, để ngay cả khi đã luống tuổi gặp lại nhau bên Mỹ, lúc thân mật, hai người cũng vẫn còn nắm tay, xưng nhau là “cậu tớ”.

Nhà bác Bảo thuở bé nghe kể phải gọi là hàn vi, trẻ nhỏ vào trời lạnh nhiều lúc phải rúc vào ổ rơm cho đủ ấm. Nhưng bác rất chăm học và hiếu thảo. Bác là dòng cháu gọi cụ Bùi Viện bằng ông (?), tức bác thuộc khoảng đời thứ 10 của họ Bùi Trình Phố. Chuyện thâm cung bí sử lọt ra ngoài phong phanh cho biết, cụ Bùi Viện vì bị đám quan lại thủ cựu thời Tự Đức, xàm tấu rằng cụ đã “mạo phạm tội khi quân” chưa có lệnh vua mà đã dám tự ý qua Mỹ, “giả dạng chiếu thư” cầu viện Mỹ đánh Pháp. Nên dù có công, nhưng bị triều đình mật xử trọng tội, phải uống thuốc độc tự tử. Chẳng hiểu vua Tự Đức đóng vai trò gì trong vụ này, sử chỉ chép rằng nhà vua đã có lời phê: “Trẫm đối với ngươi chưa có ân nghĩa gì, mà ngươi đã coi việc nước như việc nhà, không quản xa xôi lo lắng, quỷ thần ắt cũng chứng cho”. (Hàm ý tự quyết định làm chuyện nước?). Có lẽ vì “bị triều đình mật xử” nên dù vẫn theo đuổi nghiệp nhà, dòng cụ Bùi Viện qua đến thời bác Bảo không còn đi thi để làm quan nữa, mấy đời theo nho học ruộng đất không có, nên con cháu phải chịu sống nghèo. Sống nghèo dưới cái đình đã được dựng kèo bằng gỗ quí mà cụ Bùi Viện đã tặng cho làng từ rừng cao đem về.

Sau khi triều đình Huế, dưới áp lực của Pháp, phải bỏ chế độ khoa cử và lối học tiếng Hán, bác Bảo lại có dịp trở lại nghiệp quan trường. Bác và cha tôi cùng lên Hà Nội theo học trường Bưởi. Nhưng bác chỉ học qua brevet (bằng trung học), sau đó vào trường sư phạm rồi khi ra trường được cử lên Thái Nguyên Phú Thọ dạy học. Trong lúc đó cha tôi vẫn ở lại học hết bậc trung học rồi ghi danh học đại học y khoa nhưng bỏ dở, về quê Thái Bình mở trường tư thục Bùi Viện (Trần Lãm). Vào năm 1946, bác Bảo về Trình Phố làm hiệu trưởng trường tiẻu học công lập cho đến năm 1952; bác cũng nhận lời cha tôi để dậy thêm Việt Văn và Pháp Văn cho trường Bùi Viện.

Đó là chuyện xưa tích cũ, tôi chỉ nghe hay đọc đâu đó, góp nhặt để tìm hiểu thêm. Nhưng điều gây ảnh hưởng trên cuộc đời tôi và để lại nhiều ấn tượng nhất là tờ báo Tuổi Xanh mà bác Bùi Văn Bảo đã khai sinh và điều hành vào vài năm cuối thời Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền Nam. Cha tôi cũng đóng góp cho tờ báo dưới tên giáo sư Vi Lô, chuyên về việc dạy toán qua thơ, hay đố vui ông nghĩ ra, theo cách giáo sư Hoàng Xuân Hãn, chẳng hạn 4 câu thơ sau:

Một đàn thiếu nữ hái hoa hồng
Mỗi cô hai đóa hai cô không
Mỗi cô một đóa thừa hai đóa
Bó hồng mấy đóa biết hay không?

Những năm đó, tức chỉ sau chưa tới 7-8 năm di cư vào Nam, bác Bảo đã gây được một sự nghiệp khá giả, và nếu tôi nhớ không lầm, bác đã lập được nhà xuất bản Nhật Tảo cũng như đã sắm được một chiếc xe ô tô, có lẽ một phần nhờ bởi việc người Mỹ có giúp VN xuất bản một số sách giáo dục nhi đồng. Trong lúc đó, sinh kế gia đình tôi coi như cũng tạm hồi phục, sau khi đã mất gần như sạch nhẵn mọi đất đai của cải ngoài Bắc. Sau khi tờ Tuổi Xanh được cho ra đời một vài năm, anh Trúc được bác Bảo gửi đến học toán tại nhà tôi. Anh Trúc lúc đó khoảng 15-16 tuổi gì đó, có hai đặc điểm mà tôi còn nhớ, là anh cận rất nặng, và nói lắp cũng nhiều. Nhà tôi lúc đó ở trong một căn hẻm đường Yên Đổ, cạnh hiên có giàn hoa giấy đỏ, anh Trúc cùng anh cả và anh hai tôi và mấy cô em họ cùng lớp, lợi dụng lúc cha tôi chưa về tới, chơi bắn súng nước inh ỏi như con nít dưới giàn hoa đó.

Có lẽ nhờ vào nguồn gốc là cháu “người đại sứ” đầu tiên Việt Nam tại Mỹ, anh Trúc có khả năng nói và viết tiếng Anh lưu loát. Sau khi đỗ tú tài hai, anh Trúc được học bổng Colombo đi du học tại Tân Tây Lan, cho đến năm 1967 thì về lại nước. Vào giai đoạn đó, anh Trúc không đến thăm nhà tôi nữa, dù có thời anh đã là bạn học Chu Văn An với anh thứ hai của tôi, lúc này đã nhập ngũ. Thỉnh thoảng tôi cũng gặp anh tại đầu ngõ nhà mới dọn về ở hẻm 220 đường Trương Minh Giảng, nhưng cũng chẳng kịp chào hỏi gì nhau. Tôi không nghĩ là anh còn nhớ tôi. Lúc đó có thể anh đến nhà ông Phạm Kế Viêm hay Dương Phục gì đó. Lúc này anh chạy chiếc xe Vespa (hay Lambretta?), hay mặc áo trắng ngắn tay kiểu Mỹ, có lúc thắt cravate loại nhỏ mặt, không còn đeo kính cận dầy như cái đáy chai thủy tinh nữa. Đặc biệt nhất là tôi được người quen cho biết rằng anh đã chữa được tật nói lắp, lại giữ chức vụ khá quan trọng trong ngành truyền thông hay ngoại giao.

Cho đến lúc tôi qua Nhật, tình cờ ở chung phòng với anh Sơn, em kế của anh Trúc. Nhưng tôi và anh Sơn ít trao đổi thông tin về bác Bảo và anh Trúc, chỉ biết qua báo chí trong nước là anh Trúc có vẻ thân với Hoàng Đức Nhã, cháu ông Thiệu, và được cử làm phát ngôn viên chính thức của phủ tổng thống, cho đến khoảng cuối năm 1974, được chuyển qua làm việc tại Luân Đôn.

Vào những ngày tháng cuối của miền Nam, một số tin tức cho biết anh Trúc đã đào nhiệm và qua Canada di trú. Tai đây đã có anh Th. là em anh Sơn du học qua trước đó nhiều năm. Có lẽ nhờ vào đó mà anh Sơn và sau đó đại gia đình bác Bảo sau khi vượt biển cũng đến Canada định cư.

Sự định cư và hội nhập của người Việt trong giai đoạn đầu rất mạnh mẽ và lạc quan. Tôi theo dõi những hoạt động của bác Bùi Văn Bảo và các ông Đinh Thạch Bích, Đào Hữu Dương… trong công việc bảo tồn văn hóa, và tinh thần tự do không cộng sản trong các cộng đồng tại Bắc Mỹ. Bốn câu thơ vào lúc đó được phổ biến mạnh là:

Khắp nẻo non sông bừng khói lửa
Ai người yêu nước động lòng chưa?
(Phan Bội Châu)

Chỉ sợ đàn con quên Việt ngữ
Đừng lo lũ trẻ kém Anh văn.
(Bùi Văn Bảo)

Bác Bảo còn nhờ họa sỹ vẽ và cho xuất bản bộ sử Việt bằng tranh, cũng như bảo tồn nhiều băng thơ nhạc Việt Ngữ, vì trong nước vào giai đoạn gọi là “trước đổi mới”, người cộng sản đã phát động chiến dịch đốt sách, hủy diệt văn hóa mà họ cho là “phản động” hay “đồi trụy”, trên thực tế là muốn Mác Xít hóa toàn bộ văn hóa Việt Nam.

Trong lúc đó anh Trúc cũng dời qua Washington DC làm việc trong Ban Việt ngữ đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho mãi đến năm 2002, mới rời đài VOA về sống tại Nam California, tiếp tục làm việc tại đài Little Saigon Radio, tuần báo Viet Tide đồng thời là gương mặt quen thuộc trên đài Hồn Việt TV. Trong lãnh vực văn học, anh Trúc giữ mục “Thư Gửi Bạn Ta” cho báo Người Việt và để lại nhiều ưa thích trong lòng độc giả, qua giọng văn “đặc Bắc Kỳ Chu Văn An” dí dỏm nhiều tình cảm.

Vào năm 1998, ở Úc, tôi nhận được một lá thư của cha tôi từ Mỹ báo tin “bác Bảo đã mất”, tôi đọc được trong mấy chữ ngắn ngủi đó, biết bao là xót xa, thương cảm và mất mát. Tôi đã nhớ đến khuôn mặt rạng rỡ của cha tôi và của bác Bảo mỗi lúc họ gặp nhau, nhớ đến bộ áo màu nhạt 4 túi mà giai đoạn sung túc bác hay mặc vào dịp tết, nhớ đến hình ảnh “chợ huyện Trình Phố tại thôn trung”, vẽ qua hồi ức của cha tôi khi kể về tình bạn hai người, nhớ về những câu thơ mà nhà thơ Nguyễn Khuyến đã khóc bạn Dương Khuê của mình:

Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương
Tuổi già hạt lệ như sương
Hơi đâu ép lấy hai đường lệ rơi
 

Sáu năm sau cha tôi từ trần tại quận Cam vào ngày 24 tháng 5 năm 2004. Trong suốt gần 3 ngày canh quan tài tại nhà quàn, chờ thân bằng quyến thuộc cùng bạn bè, đồng nghiệp và học trò mọi nơi, đến thắp nén nhang chào từ giã lần cuối cha tôi, điều làm tôi cảm động vô cùng là sự có mặt của anh Trúc. Mặc dù anh bận nhiều việc, nhưng trong cả ba ngày, bắt đầu từ khoảng 9-10 giờ sáng anh đều đến ngồi ngay hàng ghế thứ nhì để cùng dự lễ với gia đình chúng tôi. Anh tới như một người học trò cũ, như người con một người bạn thân giữ lễ cho gia đình, như một kẻ sĩ trọng luân thường đạo lý, như một người cùng làng cùng gốc, hay một người trưởng họ tôn trọng nếp cũ…, tôi không rõ. Anh ngồi im lặng ngoại trừ khi phải tiếp chuyện với một số người trong gia đình tôi đến hỏi thăm. Đó cũng là lý do tôi đã không đến trò chuyện lâu cùng anh. Trên chuyến máy bay dài thênh thang về lại Úc, tôi nghĩ rằng “anh đến và ngồi như chứng tích cho tình bạn lâu bền của hai giòng họ Bùi và Đinh Trình Phố”

Anh đã mất, nhưng mong rằng chứng tích đó đừng nhạt phai.

Bao giờ chợ Huyện lại vui
Cho bao quá khứ bùi ngùi qua đi
(Phạm Thế —Dec. 2016)
 

Chú thích: (Học sinh đã học đại số, chỉ cần dùng cách hai phương trình hai ẩn số, chọn x là số thiếu nữ, y là số hoa, rồi cân bằng phương trình, là có thể tìm ra số hoa là 8 và có 6 cô tất cả).

Asia Icon

Bùi Bảo Trúc | Giữa ma-trận của ngôn ngữ & cuộc đời—Bùi Vĩnh Phúc

1.

Lại một người bạn nữa của tôi ra đi. Bùi Bảo Trúc. Sự lên đường của anh làm tôi, cũng như rất nhiều người khác, buồn, tiếc. Riêng tôi, lại còn có một điều gì đó như nghèn nghẹn. Một nghèn nghẹn trong nỗi hồi tưởng. Và tôi bắt đầu cuộc nhớ miên man của mình về anh. Một nỗi nhớ có mình ở trong.

Khi từ bỏ bạn bè mình, anh chỉ mới 72 tuổi. Nói chung, với cái sống của người đời, ra đi vào độ tuổi này là đúng nhẽ. Người xưa còn bảo là “thất thập cổ lai hy”, 70 tuổi xưa nay hiếm thấy. Thế nhưng, với con người của Bùi Bảo Trúc (BBT), một người hết lòng thiết tha với việc viết lách, việc “làm báo”, một người năng động, thích chia sẻ đủ mọi thứ chuyện với bằng hữu cũng như với người đọc, người nghe, cùng với bao nhiêu việc mà anh đang dự định hoàn tất nhưng vẫn còn đang dang dở, sự ra đi của anh, trong cảm nhận riêng tôi, vẫn là khá sớm.

Từ những năm hai mươi mấy tuổi, khi còn là sinh viên, BBT đã bắt đầu chính thức bước vào nghiệp chữ nghĩa. Trước hết là trong những bài viết trên mục “Lá Thư Tân Tây Lan” (nơi tác giả du học) trên nhật báo Tự Do ở Sài Gòn, sau đó là trong vai trò phát ngôn nhân chính phủ của Việt Nam Cộng Hòa vào giai đoạn cuối cuộc chiến, rồi đến những ngày làm việc tại đài VOA (Tiếng Nói Hoa Kỳ), cùng lúc bắt đầu viết tạp ghi trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong ngay từ những năm đầu thập niên ’80. Trong tất cả những vùng đất, những không gian đòi hỏi phải sử dụng chữ nghĩa ấy, BBT đã cho thấy anh là một người của ngôn ngữ. Anh gắn bó với chữ nghĩa. Và cũng thích đùa cợt với nó. Một cách sâu sắc. Nhiều khi đi kèm với một thái độ châm biếm. Nhưng hầu như lúc nào anh cũng giữ được sự duyên dáng trong cung cách tiếp cận với ngôn ngữ của mình.

Bùi Bảo Trúc là một người “phức tạp”. Có nghĩa, khi nói về con người anh, người ta có thể đứng từ nhiều góc độ, để xét về những khía cạnh khác nhau. Có nhiều mặt rất tích cực; nhưng ở một vài phương diện (như đời sống của hầu như bất cứ ai trong chúng ta), người ta cũng có thể phê phán, thậm chí chê trách anh. Đó là số phận của những con người có cá tính mạnh. Sống thẳng. Nhất là những con người đó, ở một số khía cạnh, lại là những người thuộc về quần chúng, những người tự phơi bày cuộc đời mình dưới những ngọn đèn hàng trăm nến của dư luận. Có lẽ, hơn nhiều người trong chúng ta, anh đã sống hết sức mãnh liệt, thậm chí có những lúc rất cực đoan, và anh sẵn sàng bày tỏ ý kiến riêng của mình trước công luận trên nhiều mặt. Có rất nhiều điều, thuộc phạm vi “nhậy cảm”, anh đã lên tiếng trên những trang báo của mình. Như những vấn đề chính trị, phái tính. Những cái yêu, cái ghét, cái giận, cái bực, cái thương, cái chủ quan của con người trong cuộc sống. Vân vân. Loạt bài “Thư Gửi Bạn Ta” của Bùi Bảo Trúc, được viết liên tục mỗi ngày từ năm 1989 cho đến tháng Chín 2016, tức là gần 30 năm, lúc đầu trên các báo Người Việt ở Westminster và Việt Nam Nhật Báo ở San Jose, và sau này trên nhiều tờ báo khác (và sau đó lại được phổ biến rộng khắp trên nhiều diễn đàn mạng), trước khi tác giả của nó ra đi khoảng hai tuần trước lễ Giáng Sinh 2016, đã cho anh rất nhiều cơ hội để nói lên bao suy nghĩ của mình về đủ mọi mặt của cuộc sống. Tất cả những hỉ nộ ái ố ai lạc dục của người đời, kể cả của anh nữa, đều được anh bày biện trong đó. Một cách rất duyên dáng, tài hoa, gần như lúc nào cũng với ít nhiều châm biếm. Và sâu sắc.

Bây giờ Bùi Bảo Trúc đã nằm xuống. Rất nhiều điều anh đã làm, đặc biệt những điều anh đã viết ra, đều có thể được nhìn ngắm và đánh giá ở những góc cạnh khác nhau, tùy theo vị trí nhìn ngắm cũng như chủ kiến của những người có thể đưa ra những lời phẩm bình, phê phán, khen tặng và đánh giá. Sau khi anh không còn nữa, tôi đã được đọc một số bài báo/tùy bút viết về anh. Có thể nói tất cả đều cho rằng anh là một nhà báo chuyên nghiệp, tài hoa và sâu sắc. Và tận tụy với nghề. Tôi cho rằng tác giả những bài viết ấy có những lý do khách quan, chính đáng và có cơ sở để lên tiếng như thế. Ở đây, trong vị trí của một người có khá nhiều kỷ niệm riêng tư với anh, cũng như đã chia sẻ với anh một số sở thích, tôi muốn viết về Bùi Bảo Trúc chủ yếu như một người bạn. Một người bạn yêu văn chương, chữ nghĩa. Và đã để hết cả cuộc đời mình để học hỏi, dùi mài cái sở thích cũng như cái niềm vui có nhiều nét cao nhã này.

Tôi sẽ thử viết về Bùi Bảo Trúc, một kẻ lăn lộn giữa ma-trận (matrix) của ngôn ngữ và cuộc đời. Và, một cách nào đó, ở một khía cạnh nào đó, viết về một người bạn, như thế, cũng có nghĩa là viết về chính mình.

2.

zpfile001

Bùi Bảo Trúc, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Quốc Bảo, và Ngọc Hoài Phương (hình Interrnet)

Bùi Bảo Trúc hơn tôi 9 tuổi. Và anh đã “vào đời” trước tôi trên một số phương diện. Tôi không quen biết anh những ngày chúng tôi còn ở Việt Nam trước năm 1975. Nhưng, ở một khía cạnh nào đó, tôi lại được biết và “quen” với ông cụ thân sinh anh, nhà giáo Bùi Văn Bảo, một người được tiếng rất tốt là yêu mến chữ nghĩa Việt và luôn khuyến khích, khuyên nhủ các bậc phụ huynh Việt sau cuộc “xảy đàn tan nghé”, trôi dạt khắp nơi trên quả địa cầu, chăm lo cái gốc tiếng Việt cho con cái mình. Một câu nói nổi tiếng, nếu tôi nhớ không lầm là của cụ, trong những đợt cụ hô hào phụ huynh Việt Nam quan tâm và giúp cho con em mình, hiện trong cảnh sống xa quê hương, đặc biệt sống ở các xứ nói tiếng Anh, học hỏi ngôn ngữ và văn hóa Việt. Đó là câu khuyên nhủ mà nhiều người trong chúng ta còn nhớ: “Chỉ sợ đàn con quên tiếng Việt / Đừng lo lũ trẻ dốt Anh văn”. Đúng là như vậy, trẻ con Việt Nam ở ngoài nước, học tiếng Anh hay những thứ tiếng bản xứ nơi các em, các cháu cư ngụ rất nhanh. Nhưng nếu bố mẹ, ông bà không quan tâm, thiết tha đến tiếng Việt và văn hóa Việt, để dạy dỗ (hoặc nhờ dạy dỗ qua các trung tâm Việt ngữ trên khắp các nước trên thế giới có người Việt định cư), và khuôn nắn các em, các cháu trong tinh thần văn hóa Việt, chắc chắn việc lũ trẻ đánh mất nguồn cội dân tộc là điều ta có thể nhìn thấy trước mắt.

Tôi quen cụ Bùi Văn Bảo, là thân sinh của bạn tôi, trước khi quen biết anh, từ những ngày còn ở Việt Nam như thế này. Khi tôi lớn lên, có một số tờ báo dành cho thiếu nhi và thiếu niên ở Việt Nam mà tôi được tiếp cận và, qua đó, được học hỏi nhiều điều bổ ích; ngoài ra, cũng qua những tờ báo này, tôi nhìn thấy lòng yêu thích chữ nghĩa, văn hóa Việt Nam phát triển nơi tâm hồn mình. Đúng hơn, những tờ báo ấy đã gieo những cái mầm tươi tốt trong lòng tôi, một đứa trẻ có lẽ cũng đã có sẵn cái mảnh đất tinh thần nhỏ bé khá mầu mỡ mà bố mẹ và gia đình đã cày xới trong lòng nó từ những ngày còn nhỏ. Hai trong những tờ báo loại đó còn tạo được những ấn tượng đẹp đẽ trong lòng tôi là tờ “Phụ trương Ngôn Luận / Văn Nghệ Học Sinh-Gia Đình” của nhà văn Phạm Cao Củng và tờ “Tuổi Xanh” của nhà giáo Bảo Vân. Bảo Vân đây chính là cụ Bùi Văn Bảo.

Ngày ấy, dạo học những năm Đệ Lục, Đệ Ngũ, tức là khoảng năm 13 hay 14 tuổi, tôi bắt đầu tập làm thơ. Và tôi ngồi mơ mộng làm những bài thơ học trò gửi cho “anh” Bảo Vân. Cụ Bảo Vân rất sõi tâm lý. Trên những trang báo của mình, Cụ xưng “anh” với các em độc giả thiếu nhi/thiếu niên rất thoải mái. Tôi chẳng biết “ất giáp” gì về cái mẹo tâm lý ấy nên cứ ngồi viết thư cho “anh” Bảo Vân, mà tôi nghĩ là chắc chỉ hơn mình chục tuổi là nhiều, như là viết… thư tình. Và gửi các bài thơ mình làm cho tờ báo. Thơ tôi (dĩ nhiên là được ký với “bút hiệu” cho đúng… phong cách) đã được “anh” Bảo Vân đăng khá nhiều trong suốt thời gian đó. Tôi nhớ có lần, vào một buổi chiều Chủ Nhật, trên căn gác nhà mình, làm được mấy bài thơ đắc ý, tôi ngồi nắn nót chép lại. Rồi, tôi lấy một tờ giấy trắng ra viết thư cho “anh” Bảo Vân để gửi những bài thơ tâm đắc ấy. Tôi say sưa để lòng mình… phơi trên trang giấy mà không hề biết là ông cụ của tôi đã đứng sau lưng mình tự lúc nào. Chắc ông cụ, khi lên gác, thấy thằng bé con ngồi cặm cụi say sưa viết lách nên tò mò đứng im sau lưng quan sát. Xem hắn viết cái gì. Một lúc sau, có lẽ đã quan sát đủ và biết được đứa con mình đang viết “tình thư” cho ai, ông cụ khẽ đằng hắng một cái. Tôi giật mình quay lại và xấu hổ lấy tay che đi lá thư. Ông cười một cách hóm hỉnh và đáng yêu rồi bảo, “Con viết cho xong lá thư đi, rồi ngủ một giấc ngắn. Chốc nữa còn xuống ăn cơm!” Tôi choáng cả người, nhưng cũng thầm cám ơn bố vì ông đã không bảo tôi đưa lá thư cho ông xem. Dù sao, tôi nghĩ ông cũng đã đọc hết lá thư mà tôi đã viết gần xong cho “anh” chủ bút Bảo Vân.

Sau này, khi đã ở bên Mỹ, có dịp liên lạc lại với cụ Bùi Văn Bảo, cụ cám ơn tôi, “một người đã ‘hợp tác’ với tờ báo”, còn nhớ đến cụ. Và cụ quý mến gọi tôi là “một người đồng tông”. Vì mối “quan hệ” này mà, về sau, đôi khi để trêu cợt người bạn lớn tuổi của mình, tôi bảo với anh là tôi có quen biết lớn với ông cụ của anh, anh liệu mà cẩn thận… Những lúc ấy, có chuyện gì Bùi Bảo Trúc cũng chẳng dám “nho nhoe”. Anh rất yêu quý ông cụ của mình. Và, dĩ nhiên, cả bà cụ của mình nữa.

Nhưng dù cho có liên hệ với cụ Bùi Văn Bảo như thế, tôi và BBT cũng chẳng hề biết gì về nhau. Cho đến khi tôi chung tay làm nguyệt san Văn Học Nghệ Thuật (bộ mới), rồi nguyệt san Văn Học, với anh Nguyễn Mộng Giác và một vài văn hữu khác từ tháng Năm, 1985.

Bùi Bảo Trúc lúc ấy đang làm tại đài VOA, sau khi anh đã thành công trong việc xin chuyển nơi cư trú từ Canada sang Hoa Kỳ. Anh Trúc, dù lúc ấy đang viết loạt tạp ghi, nếu tôi nhớ không lầm, đặt tên là “Nói Với Đầu Gối”, và ký tên là Ngụy Trúc, trên báo Văn Nghệ Tiền Phong trên Washington, D.C., có lẽ cũng cảm thấy dòng máu văn chương đang chảy thêm một nhịp chảy khác, đằm thắm hơn, thơ mộng hơn, trong trái tim mình, nên đã làm một số bài thơ và, đặc biệt, dịch một số đoạn thơ trong tập “The Lover’s Gift” (“Tặng Vật của Tình Nhân”) của R. Tagore. Có lẽ anh muốn tìm một nơi xứng đáng và trang trọng để gửi gấm các sáng tác của mình. Nguyệt san Văn Học, lúc ấy, có lẽ là một trong những diễn đàn mà anh có lòng yêu và đánh giá cao. Anh không quen với nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Và chắc cũng không quen với một ai khác trong nhóm chủ biên. Lúc ấy, tôi là một người đang âm thầm giúp cho anh Giác trong việc lựa lọc bài vở cho tờ báo. Tôi cũng đã viết nhiều tiểu luận văn học trên trang báo này cũng như ở một số diễn đàn khác. Dù sao, Văn Học Nghệ Thuật (bộ mới), rồi sau đó là Văn Học, đã là “trú sở” chính của tôi. Là người, cùng với một vài văn hữu khác, gầy dựng tờ báo từ trong trứng nước, và cùng sắp xếp bài vở để tờ Văn Học Nghệ Thuật bộ mới, rồi sau đó là Văn Học, sau khi chuyển tiếp từ tờ Văn Học Nghệ Thuật bộ cũ (còn dính dáng nhiều đến tên tuổi của nhà văn Võ Phiến), tôi có cái duyên gắn bó lâu bền với những tờ báo này. Chúng tôi đã cùng nỗ lực phân công trong việc sắp xếp và đóng góp bài vở ngay trong số đầu tiên của cả hai tờ báo. Rồi trong suốt trên 230 số báo cho đến tháng Tư, 2008. Sống trong cùng một địa bàn với Nguyễn Mộng Giác, và, trong giai đoạn đó, có điều kiện phụ giúp trong việc chọn lựa bài vở, trao đổi ý kiến về nội dung của các bài được chọn để đưa lên trang báo hàng tháng với Nguyễn Mộng Giác, tôi trở nên một trong những khuôn mặt khá quen thuộc của diễn đàn này.

Tôi không nhớ rõ là từ ai mà Bùi Bảo Trúc có địa chỉ của tôi. Anh viết cho tôi một lá thư, tự giới thiệu, và cho biết đã đọc nhiều bài tiểu luận văn học mà tôi đã viết. Anh muốn được quen biết tôi trong tình văn chương, và gửi cho tôi một ít bài thơ của anh. Tôi chọn một vài bài mình thích và đưa cho anh Giác. Từ đó, BBT là một thân hữu cộng tác với Văn Học. Ngoài thơ ra, có lần, như đã nhắc ở trên, anh gửi cho tôi vài chục đoạn thơ từ tập “The Lover’s Gift” (mà anh dịch thành “Tặng Vật của Tình Nhân”) của R. Tagore trong một tập tài liệu đánh máy và đóng lại thật cẩn thận. Dạo ấy, cuộc sống của chúng ta nói chung, của người Việt và các nhà văn Việt nói riêng, chưa có computer, chưa có desktop hay laptop gì cả, chưa nói đến các thiết bị tiện nghi khác như bây giờ. Anh Trúc đánh máy và sắp xếp tập sách một bên là tiếng Anh, một bên là tiếng Việt, rất công phu. Tôi đọc và thấy ngoài một ít bài thơ tình mang nhiều nét thi ca rõ rệt, những bài thơ khác của anh được viết một cách có vẻ chân chất, giản dị nhưng, nếu đọc kỹ, đầy nét thơ mộng và văn chương. Tôi cho rằng phải là một người có bản lĩnh, có tay nghề chữ nghĩa cao thì mới viết được những câu thơ vừa giản dị mà lại vừa nhiều chất thơ như vậy.

Tôi nhớ bài thơ “Gửi Căn Nhà Cũ” của anh (cùng với nhiều bài thơ của những nhà thơ khác mà tôi yêu mến và thấy thích hợp) mà tôi đã đưa vào trong giáo trình giảng dạy tại các lớp học về Ngôn Ngữ & Văn Hóa Việt Nam tại đại học của mình. Bài thơ đó, ngôn ngữ giản dị nhưng nói lên và mang lại được nét hoài cảm thiết tha cho những người xa quê. Một nỗi nostalgy mang nhiều chất thơ:

Hãy tưởng tượng khi bước vào cuối ngõ
Căn nhà xưa rêu phong kín tường vôi
Khung cửa sắt sơn đã bong lỗ chỗ
Chìa khóa mòn trong ổ bỗng reo vui
(…)
Hãy tưởng tượng trong khu vườn thuở trước
Cây ngọc lan ngày đó đã ra hoa
Mấy bụi trúc và một hàng thược dược
Mùi đất thơm cơn mưa nhỏ đầu mùa

Hãy tưởng tượng khi bước chân lên gác
Bàn ghế còn nguyên, sách vở còn bầy
Bỗng nghe thoáng tiếng mưa khuya dìu dặt
Những giọt buồn rơi mãi xuống đêm nay

Hãy tưởng tượng đêm sẽ nằm nghe gió
Trên chiếc giường thân thiết mấy năm xưa
Mấy con muỗi nhận ra người bạn cũ
Chú thạch sùng trong vách cũng bò ra

Hãy tưởng tượng trở về nơi hẹn cũ
Thăm hàng sao và bể nước đầy mây
Trên ghế đá vọng âm lời tình tự
Nét chữ mờ quấn quýt vẫn còn đây (…)

Cũng với tâm tình thiết tha, và chữ nghĩa giản dị một cách thần tình, như thế là bài “Trở Về Căn Nhà Cũ Ở Sài Gòn”:

Hỡi căn nhà của ta thời tuổi trẻ
Của những chiều mưa buồn gõ xuống mái tôn
Những buổi sáng nắng lùa qua khe cửa
Vẫn theo ta những đêm tuyết mịt mùng

Hãy ngỏ cửa, đêm nay ta trở lại
Cánh cửa ơi có còn nhớ nhau không?
Chiếc chìa khóa năm xưa ta làm gẫy
Mấy chục năm trời trên cổ vẫn tòn ten (…)

Còn tập thơ dịch những bài thơ xuôi của Tagore thì đẹp và thật thơ mộng, chưa kể sự chính xác trong cách dịch chúng. Tôi đề nghị anh Giác đăng vài đoạn thơ dịch Tagore của BBT. Nhiều độc giả cũng yêu mến thơ anh và tài năng dịch của anh. Tình thân của chúng tôi mỗi ngày mỗi khăng khít hơn.

Sau này, vào những năm trước khi BBT xuống định cư hẳn ở Nam California và làm việc cho một số cơ sở truyền thông tại đây, mỗi khi có dịp lên vùng Washington, D.C. vì chuyện này hay chuyện nọ, tôi gần như đều “ở trọ” tại nhà anh. Lúc đầu tại Falls Church; sau, tôi nhớ là ở một vùng khác cũng gần đó. Anh lo cho tôi thật chu đáo, đón từ phi trường, đưa về nhà, lại đưa đi thăm đủ mọi nơi mọi chỗ của các thân hữu. Qua anh, tôi cũng có thêm được một vài người bạn trên vùng thủ đô này. Tôi nhớ những buổi tối ở nhà anh, ngoài việc hí hửng khoe với tôi những chiếc máy bay mà anh đã công phu tự lắp ráp lấy, và nói rằng đó là hobby của mình (lúc ấy, khuôn mặt của “chàng” ánh lên nét thơ trẻ, hồn nhiên, đầy hạnh phúc), anh còn khoe và có những khi tặng tôi một số sách vở, tài liệu quý. Tôi nhớ lần đó anh tặng tôi một cuốn sách nhỏ bằng tiếng Anh, không biết anh đã mua được ở đâu, tập hợp những bài thơ tiếng Anh, Pháp, Đức, v.v., của một số học giả và “tài tử gia” thế giới giới thiệu, dịch và bình bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu. Những bản dịch thơ rất hay, nhưng cũng có những bài rất “choáng”, rất diễu và … “tưng tửng”; trong đó, có một bài dám biến cánh “hoàng hạc” của Thôi Hiệu thành một “tên lửa” (fire rocket) chở ông già thơ bay vào tận không gian mù mịt. Bùi Bảo Trúc rất thú cái phong cách dịch của kẻ tài tử kia. Dù sao, anh cũng nói với tôi, “Cái thằng hỗn thật. Dám mang “ông cụ” [Thôi Hiệu] ra diễu!”

Dịp này, tôi cũng nhân tiện góp ý về những bài viết của anh trong loạt bài “Nói Với Đầu Gối” (tiền thân của loạt “Thư Gửi Bạn Ta”) anh đi trên Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi cho rằng các bài anh viết rất thú vị, hoạt và rất hóm hỉnh, sinh động. Nói được nhiều vấn đề trong cuộc sống. Dù sao, tôi nghĩ nếu anh bỏ bớt đi phần bực giận (cho dù bực giận trong châm biếm), đôi khi đi đến chỗ hơi thô, mịch, thì các bài viết của anh sẽ đạt được nhiều hiệu quả hơn nữa. Tôi thấy, anh có tone down về mặt đó sau này. Nhất là trong loạt “Thư Gửi Bạn Ta”. Dẫu sao, tính cách con người, đổ xô lên mặt chữ, lên phong cách văn học, của một nhà văn, nhà báo, cũng là nét đặc thù của mỗi người cầm bút. Nó làm cho họ ghi được cái dấu ấn của mình. Cách này hay cách khác. Với những hiệu ứng tích cực hay tiêu cực riêng.

Tôi nhớ chúng tôi đã ngồi nói chuyện suốt mấy đêm về gần như tất cả mọi thứ trên đời. Phim ảnh, âm nhạc, tranh, thơ Việt, thơ Tàu, thơ Pháp, thơ Nga, thơ Ái-nhĩ-Lan, thơ Mỹ… Thơ dịch. Văn dịch. Phong cách dịch. Pipi. Caca. Những cây cối cùng đám lá ướt lóng lánh, những con ngõ cũ kỹ, những đêm mưa nhòa nhạt, những vũng lầy trong đường phố Sài Gòn xưa. Những hồn ma cũ. Ôi, cái “nostalgie de la boue” (“nỗi nhớ bùn nhơ”) của những hình ảnh quê nhà. Có thể nói, tất cả mọi chuyện, cuối cùng, giữa chúng tôi, lại chỉ quy về chuyện văn chương. Hay, nói đúng ra, nói về bất cứ chuyện gì, chúng tôi cũng đều tìm ra được “một sợi chỉ đỏ xuyên suốt” của văn chương chạy lần qua đó. Cái “sợi chỉ đỏ xuyên suốt”, ở đây, là một thành ngữ của văn chương thế giới (như trong danh ngữ “the red thread of narrative”) để chỉ cái cốt lõi chạy suốt một tác phẩm hay một câu chuyện kể, không có dính dáng gì đến chủ nghĩa Cộng Sản cả. Tôi yêu và gần Bùi Bảo Trúc ở điểm này. Nói chuyện gì rồi thì, giữa chúng tôi, cũng chỉ là những câu chuyện văn chương!

Bùi Bảo Trúc thích nghịch và chòng ghẹo bạn bè. Anh hay làm thơ chòng ghẹo mọi người. Ngoài ra, những bài thơ theo “trường phái” Bút Tre ở hải ngoại, theo tôi biết, là đã phát xuất từ anh. Rất sớm. Trên 30 năm trước. Trước khi trên mạng và trong nước có những rộn ràng và cập nhật về “trường phái” thơ này. Những chuyện vừa nói làm tôi nhớ đến một người bạn văn chương khác của tôi, cũng tài hoa …đa dạng như BBT, và có lẽ cũng trạc tuổi anh, cũng hay thích trêu chọc bạn bè như thế. Đó là Nguyễn Bá Trạc. Tác giả của Ngọn Cỏ BồngChuyện Của Một Người Di Cư Nhức Đầu Vừa Phải. Nguyễn Bá Trạc, dù sao, cũng còn khỏe, đang chịu giá rét một cách hạnh phúc (bên người yêu dấu) ở mãi tận đất Phần Lan, ngay cạnh con gấu Putin Nga Xô. Cái tính nghịch ngợm, tinh quái, nhưng lại đầy nét tài hoa ấy của BBT đã được anh đưa vào loạt tạp bút Thư Gửi Bạn Ta mà trong suốt khoảng gần 30 năm anh đã đeo đuổi hay bị nó đeo đuổi (Có lẽ anh có hơn cả ngàn bài, hay gần hai ngàn bài trong loạt này? Vì chỉ trong ba quyển “Thư Gửi Bạn Ta” do nhà xuất bản Văn Nghệ in trong ba năm 1995, 1996 và 1997, mỗi quyển đã có khoảng trên dưới 100 bài, tập hợp các bài trong khoảng sáu tháng mỗi cuốn).

Cái thu hút độc giả khi đọc loạt bài này của BBT là do nơi anh đọc nhiều, nhớ kỹ, trình bày vấn đề lôi cuốn, hấp dẫn, lại rất duyên dáng, nói chung. Nhất là anh có trí liên tưởng nhạy bén, dễ “bàn ngang tạt dọc” đủ mọi vấn đề trong đời. Nhảy múa rất khéo. “Lăng ba vi bộ” rất hay. Kết bài thường như xạ thủ bắn trúng hồng tâm. Cái tính cách ấy, của một ký mục gia, một người dọc ngang, từng trải “sự đời”, một kẻ tài tử, thậm chí cũng được anh đưa vào trong lời “góp vui” đám cưới của anh. Đăng trên báo chí cẩn thận. Trong sự vụ này, anh còn lôi kéo thêm bạn bè cùng đứng chung với mình để “đùa yêu” cho vui! “Chàng” là như thế:

clip_image003

“Kẻ tài tử” Bùi Bảo Trúc và phong cách nghịch ngợm trong chúc mừng đám cưới (báo Người Việt)

Cái ngày đám cưới của tôi, chàng từ Washington, D.C. bay xuống, cùng một vài văn hữu khác. Không những có mặt, BBT còn là một trong mấy người MCs, mỗi người một phong cách, làm cho dịp vui ấy “ồn ào” và sinh động hơn. Tôi đã có được bao bạn bè và thân hữu văn học bên cạnh trong cái ngày “bị phát vãng” ấy (a transport: người bị đầy, bị phát vãng (nghĩa lịch sử, pháp lý) / a transport of delight: niềm hạnh phúc, vui thích). Nhiều bạn hữu vẫn còn nhớ chàng trong dịp ấy. Bao nhiêu khuôn mặt thân tình mà giờ đây nhiều người trong đó đã trở thành những “người muôn năm cũ”. Mai Thảo, Phạm Duy, Võ Phiến, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mộng Giác… Và, bây giờ, cả “chàng” nữa.

Nghịch thì như thế, nhưng khi để lòng nhớ về một cơn mộng cũ, về một sợi tóc còn bay trong bóng chiều của quá khứ, lòng của kẻ tài tử kia cũng trở nên thiết tha, đằm thắm:

Những ngày Chủ nhật em đi đâu?
Ngày treo trên một chiếc ly sầu
Hàng cây lá mục nghiêng mình ngóng
Mây cũng chờ em, em ở đâu?

Hôm nay Chủ nhật, em đi đâu?

Chiều loang một chút nắng không mầu
Gió ơi, giữ hộ mùi hương cũ
Thuở những cầu vai chưa xa nhau (…)

(K. khúc 1)

Và, chưa chi ta đã thấy nhau trong ngàn dặm quan san. Tình yêu, tự nó, là sự nhớ nhung. Người ta nhớ nhau ngay cả khi còn đang tay trong tay, đang lúc còn đang bên nhau hạnh phúc. Có lẽ chính vì thế nên Thanh Tâm Tuyền đã viết trong một bài thơ nổi tiếng của mình: “Anh(…) ôm em trong tay / Mà đã nhớ em ngày sắp tới”. Tình yêu là thế. Luôn là nơi chốn để trông mong, hướng về. Trái tim của Bùi Bảo Trúc cũng rung theo nhịp dao động ấy:

Lỡ mai tóc có thay mầu
Nét son có nhạt, môi sầu có phai
Lỡ mai có lạnh trên vai
Lòng vùi dưới tuyết, hồn ngoài trường giang
Lỡ mai bóng đã ngút ngàn
Dấu chim xưa cũng sẽ tan cuối đường
Lỡ mai người có quan san
Nhớ xanh bia đá, chờ vàng lũng sâu
Lỡ mai sông sẽ qua cầu
Có trong đáy nước, cơn đau một đời

(K. khúc 3, tháng 12.1987)

Sau này, vào năm 2000, khi cố gắng ra được tập “Tặng Vật của Tình Nhân”, dịch “The Lover’s Gift” của Rabindranath Tagore, trái tim chàng, dù qua thơ của người thi sĩ đáng yêu xứ Bengal, vẫn đập một nhịp thi thiết cũ:

Trái cây trong vườn mọc chi chít, chen chúc nhau trên cành, vươn mình ra phía ánh sáng trong nỗi đớn đau tràn đầy.

Hãy bước những bước chân kiêu kỳ vào vườn cây, nữ hoàng của ta ơi, hãy ngồi xuống dưới bóng mát, hãy hái những trái chín trên cành, và hãy để chúng dâng lên đôi môi của người vị ngọt tuyệt vời.

Trong vườn của ta, những con bướm tung đôi cánh trong ánh nắng, những chiếc lá rung mình, và hoa trái rộn ràng chờ đón giây phút hoàn thành.

(Đoạn thơ số III)

(The fruits come in crowds into my orchard, they jostle each other. They surge up in the light in an anguish of fullness.

Proudly step into my orchard, my queen, sit there in the shade, pluck the ripe fruits from their stems, and let them yield, to the utmost, their burden of sweetness at your lips.

In my orchard the butterflies shake their wings in the sun, the leaves tremble, the fruits clamour to come to completion.)

Và, trong một đoản khúc khác, giọng thơ vẫn thiết tha như thế:

Chỉ còn sót lại một chút này, còn bao nhiêu tôi đã phung phí hết trong một mùa hè đầy phóng đãng. Chỉ còn đủ để phổ vào khúc ca hát cho em nghe, để đan vào vòng hoa dịu dàng ôm lấy cổ tay em, để đeo trên tai em như một viên hồng ngọc, như một lời thầm thì bẽn lẽn, để liều lĩnh trong canh bạc chiều đã cầm chắc phần thua.

Thuyền của tôi quá mong manh, e không vượt nổi những con sóng dữ của trận mưa. Nhưng nếu em nhẹ nhàng bước xuống, tôi sẽ chèo đưa em men theo những nơi trú ẩn bên bờ, ở đó, làn nước đầy bóng tối gợn lên những con sóng nhỏ như giấc ngủ đầy mộng mị, và tiếng gù của những con chim câu đậu trên những cành lá rủ la đà cũng làm cho bóng trưa hóa thành ảo não. Lúc cuối ngày, tôi sẽ hái một bông hoa súng đẫm nước, cài lên tóc em rồi mới ra đi.

(Đoạn thơ số XII)

(It is little that remains now, the rest was spent in one careless summer. It is just enough to put in a song and sing to you; to weave in a flower-chain gently clasping your wrist; to hang in your ear like a round pink pearl, like a blushing whisper; to risk in a game one evening and utterly lose.

My boat is a frail small thing, not fit for crossing wild waves in the rain. If you but lightly step on it I shall gently row you by the shelters of the shore, where the dark water in ripples is like a dream-ruffled sleep; where the dove’s cooing from the drooping branches makes the noon-day shadows plaintive. At the day’s end, when you are tired, I shall pluck a dripping lily to put in your hair and take my leave.)

clip_image005

Sách, hoa và tranh (hình tư liệu riêng)

Bùi Bảo Trúc dịch Tagore rất thơ mộng. Anh như đưa ta vào lòng những con ngõ nhỏ, những bến nước, những vườn cây xứ Bengal. Và mùi thơm của hoa lá, tiếng những con chim câu gù nhau. Hai người yêu đứng bên nhau dưới tàng cây rậm mát, xanh sẫm màu lá cây. Tiếng nước chảy của những lòng sông, khe suối… Tôi đã có dịp viết ít lời giới thiệu cho anh trong tập sách này:

“Những lời thơ, tâm tình và hình ảnh của Tagore mang đầy tính nhân loại. Không gian thơ của ông bao la bát ngát, trong đó có những đàn chim bay ra từ tổ trời làm ngất ngây những đôi cánh đập của tình yêu, làm tươi mát thêm những buổi bình minh còn vương đầy những giọt sương mai của xuân thắm. Tình yêu trong thơ ông là tình yêu đầy tha thiết, thủy chung, với những lời nói đắm đuối dịu dàng, với những cặp mắt luôn âm thầm hướng vọng, và với những trái tim lặng lẽ đợi chờ, phập phồng một cung điệu yêu thương. Nó giống như hình ảnh của những đêm tối có sao canh chừng; của một con thuyền kiên nhẫn nằm chờ trong tối, nơi một bến rêu, tiếng bước chân của người mang bình minh đến. Thời gian của Tagore là thời gian vĩnh hằng. Và, cũng thế, thơ của ông là những tiếng nói mang những âm điệu vĩnh hằng. Chúng vỗ mãi trong trái tim ta những nhịp đập yêu thương tha thiết cho đời, cho người, và cho những ước vọng còn tồn tại mãi với thời gian.

Bản dịch của Bùi Bảo Trúc có được những đoản khúc mà những bản dịch trước đây không có. Đây là một bản dịch tài hoa, cho người đọc đến gần được với không gian thơ của Tagore. Ở đó, có những khung cảnh mộc mạc đằm thắm của quê hương Tagore và có những bóng dáng đi về của những người nam, người nữ cùng với những lời nói yêu đương thầm thì dịu dàng tha thiết của họ. Với bản dịch Việt ngữ này, Bùi Bảo Trúc cho thấy, hình như, đó cũng có lẽ chính là bóng dáng những kỷ niệm hay bóng dáng của những giấc mơ cũ càng mà mỗi một chúng ta vẫn hằng ôm ấp…”

3.

Bùi Bảo Trúc yêu thích ngôn ngữ. Biết tôi cũng yêu mê tự điển và từ điển, cũng như những cuốn sách bàn về ngôn ngữ và văn hóa của ngôn ngữ, anh hay chia sẻ với tôi những ý kiến của William Lewis Safire, một học giả Mỹ, cũng một nhà bỉnh bút, một ký mục gia sâu sắc về ngôn ngữ và chính trị của tờ New York Times, và là tác giả của cuốn sách nổi tiếng “On Language” (“Về Ngôn Ngữ”). Safire cũng là một nhà báo và người viết diễn văn cho các tổng thống. Vốn thông minh, có khiếu và yêu thích ngôn ngữ, lại thích đọc và tự tìm hiểu thêm về ngôn ngữ qua các tác giả nổi tiếng của Mỹ về phương diện này như William L. Safire và Richard Lederer, nên, tuy không được đào tạo trường ốc trong lĩnh vực này, Bùi Bảo Trúc đã cho chúng ta thấy anh là một người có cái nhìn sắc sảo và tài sử dụng ngôn ngữ đến độ “phù thủy”, ít nhất là trong lĩnh vực báo chí.

Tôi nhớ có lần anh than phiền với tôi về cụm từ “ngân hàng tinh trùng”, dịch từ cụm “sperm bank” trong tiếng Mỹ, của làng báo chí Việt. Tôi thấy anh rõ ràng có lý. Từ “bank” trong cụm này không thể nào dịch thành “ngân hàng” được. “Ngân” là bạc; “ngân hàng” là, trong một nghĩa chung, nơi có những giao dịch về tiền bạc, rút tiền, gửi tiền, v.v. “Ngân hàng tinh trùng” đúng là chối tai và không đúng về mặt ngữ nghĩa. Vốn là người đã làm việc tại đài VOA, có một số đồng nghiệp người Hoa, anh cho biết là những đồng nghiệp ấy dịch cụm từ này từ tiếng Anh thành “tinh tử khố”. “Khố” ở đây, tôi hiểu, là theo nghĩa của từ “khố” như trong “ngân khố” chẳng hạn. Nó là một cái kho, là nơi lưu giữ một thứ gì đó. Trong từ “ngân khố” thì đó là nơi giữ tiền, giữ bạc, mở rộng ra là giữ cả vàng nữa. Cụm “tinh tử khố”, dù sao, vẫn không thấy được dùng trong báo chí Việt. Có lẽ vì đa phần người Việt, kể cả những người làm báo hay viết lách, đều không quen với cách dùng này. “Ngân hàng” thì được; “phần tử” thì được; “tinh trùng” thì được. Nhưng… “tinh tử khố”!!! Đặc biệt, từ “khố”, ngoài trường hợp được dùng trong “ngân khố”, nghe ra dễ đưa người ta đến những hàm nghĩa “trần tục”. Cái hàm nghĩa phát xuất từ cái nghĩa trong tiếng Nôm, tiếng thuần Việt của nó. Khổ thế! Nhưng “tinh tử khố”, theo tôi, vẫn là một cách dịch danh ngữ “sperm bank” chính xác nhất.

Nói đến “tinh tử”, có lần BBT khoe với tôi là anh đã tìm được cách dịch cụm “coitus interruptus”, một cụm từ tiếng Latin để chỉ một phương pháp thông dụng và… không tốn tiền trong chuyện ngừa thai; tóm lại là chuyện “rút lui có trật tự” trước khi hoàn tất “nhiệm vụ rất khả thi” trong chuyện chăn gối, chuyện truyền/trồng tử gieo tôn. Anh bảo là anh sẽ dịch cụm này thành “khóc ngoài quan ải”. Tôi bảo, ừ, hãy tiếc thương cho những tinh cầu rơi rụng!

Lại có lần Bùi Bảo Trúc than với tôi về cách dùng cụm“tái bầu” (có nghĩa là được bầu lại lần nữa) của nhiều người làm trong lĩnh vực truyền thông. Kể cả một số người có tiếng là chuyên nghiệp. Anh bảo “tái” là tiếng Hán Việt, còn “bầu” là tiếng thuần Việt. Đâu có thể trộn lộn tứ tung như vậy được! Tôi đồng quan điểm với anh. Dĩ nhiên có những từ Hán-Nôm đề huề đã được sử dụng từ lâu đời, và chúng trở thành quen thuộc và được sử dụng tự nhiên trong tiếng Việt. Nhưng “tái bầu” không nằm trong trường hợp đó. Nếu muốn tạo tân từ, ta phải nắm vững vấn đề từ pháp, và biết rõ về những cách thức tạo từ. Không thể “sáng tạo” bừa bãi. Đối với BBT, “tái bầu” chỉ làm anh nghĩ đến hoặc là “phở tái”, hoặc là “có bầu, có thai thêm một lần nữa”!

Trong tiếng Hoa, “bầu” là “bảo” (). “Bảo” còn có nghĩa là “giữ”, “gánh vác”, “nhận lấy trách nhiệm”. Như “tửu bảo” () là “kẻ làm thuê cho hàng rượu”. “Bầu cử” của mình được gọi là “bảo cử” () trong tiếng Hán. Tôi không chắc, để diễn ý “được bầu lại”, người Hoa có dùng từ “tái bảo” hay không, cho dù là người ta đã có “tái bút”, “tái bản”, “tái sinh”, “tái chế”, “tái phát”, thậm chí “tái bảo hiểm”, “tái bảo lãnh”, v.v. Nhưng, trong trường hợp… “tái bầu” này, tôi nghĩ có lẽ người Việt chúng ta nên dùng một nhóm từ giản dị như “được bầu lại”, hay “được tái tín nhiệm”, “được tái đắc cử”, v.v… Dùng “tái bầu” thì nghe sợ thật!

Còn nhiều trường hợp tương tự như thế nữa. Về vấn đề dùng Hán-Nôm hoặc Nôm-Hán loạn xạ. “Út nữ” cũng nằm trong trường hợp như thế. Dù cho có là “con gái út” đi nữa, thì “út” cũng không phải là một từ Hán-Việt để đi với “nữ”. Vẫn phải gọi là “thứ nữ” thôi. Nhưng bây giờ thì “út nữ” lan tràn trên các trang cáo phó. Biết đâu theo thời gian, khoảng vài chục năm nữa chẳng hạn, nó sẽ trở nên một từ có thể được đa số chấp nhận!

Bùi Bảo Trúc cũng đã khoe với tôi về cách dịch những từ “Pepsi Cola” và “Coca Cola”, những biểu hiệu nổi tiếng của văn hóa Mỹ. Anh bảo là, theo mấy đồng nghiệp người Hoa của anh trong Ban Hoa ngữ tại đài VOA, thì hai từ này được dịch, theo thứ tự, là “Bách-Sự-Khả-Lạc”“Khả-Khẩu-Khả-Lạc”. Có nghĩa là “Trăm sự có thể (đưa đến) hạnh phúc” và “Vừa có thể đã miệng, vừa có thể hạnh phúc” (hay, “Trăm sự đã đời” và “Vừa ngon miệng vừa đã đời”). Hay thật! Vừa dịch được âm, vừa dịch (chế) được nghĩa.

Tôi đã có cơ hội kiểm soát lại điều này, và, đúng thế, khi đưa loại nước ngọt có gas này vào nước Tàu, những người của Coca Cola đã cho dịch “Coca Cola” thành 可口可乐,Ke kou ke le”, có nghĩa là “Tasty Fun” hay “Delicious tasty happiness”. Đúng là “khả khẩu khả lạc” rồi còn gì! Còn “Pepsi Cola” thì được dịch thành 百事可乐,“Bai Shi Ke Le” , có nghĩa là “Everything laughable”, hay “100 ways to good luck”. Đúng là “bách sự khả lạc” rồi! Dù sao, tìm hiểu tiếp, tôi thấy là Pepsi đã bị “hố” trong vụ quảng cáo để đưa Pepsi vào lục địa Trung Hoa. Họ có cả một chiến dịch quảng cáo Pepsi cho giới trẻ Trung Hoa. Và họ có những slogans như “Pepsi generation”, rồi “Come alive with Pepsi.” và “Helps ‘em come alive!”. Trong sự dịch sang tiếng Tàu những slogans này, hãng Pepsi, trong khung cảnh xuyên-văn hóa, một cách vô tình đã làm cho người Tàu hiểu sai lạc ý nghĩa của chuyện “come alive” này. Họ hiểu nó thành “Come alive out of the grave with Pepsi.”, hoặc “Pepsi will bring your ancestors back from the dead.”, hoặc “Bring dead ancestors back from heaven.” Pepsi sẽ … đem tổ tiên bạn về từ cõi chết. (!) Thật ra, Coca Cola cũng không thoát khỏi cái bẫy “dịch” để đưa hàng của mình vào lục địa Trung Hoa thuở ban đầu. Người của họ (hay chủ những quán ăn, những nhà hàng tại địa phương) đã dịch theo lối phiên âm Coca Cola ra thành “Keke Kenla”, dùng lối viết Trung Quốc, khiến nó trở nên có một cái nghĩa quái dị là “Tadpoles bite wax” (“Nòng nọc cắn sáp”) (!) Cơ khổ! Sau đó, hết sức “phấn đấu” để sửa sai, họ mới đi đến “Ke kou ke le” (“Khả khẩu khả lạc”). Và Coca Cola trở nên thành công vượt mức.

Cũng thế, khi KFC đưa món ăn của mình vào Trung Hoa, họ đã để cho cái slogan “Finger-licking good” [Ngon đến chịu không nổi, phải liếm láp, phải mút ngón tay—còn dính mỡ và thịt gà rán—cho đã, cho đỡ phí!] của họ bị dịch sang tiếng Tàu một cách sai lầm thành “Eat your fingers off!” [“Hãy ăn (tươi nuốt sống) mấy ngón tay của bạn!”]. Còn hãng Coors khi mang cái slogan “Turn It Loose” (“Mở Nó Ra”, hay “Hãy thư giãn, thoải mái”) sang Tây-ban-nha, họ quên đi vấn đề tiếng lóng. Thế là chiến dịch quảng cáo biến cái slogan này thành “Bị khốn khổ vì tiêu chảy” (“Suffer from Diarrhea”) (!). Rồi chuyện của công ty sữa American Dairy Association khi đưa cái slogan rất thành công của họ là “Got Milk?” sang Mexico. Thật khốn khổ cho họ, cái slogan này được dịch ra thành “Are You Lactating?” (“Bạn Có Đang Cho Con Bú Không?”, hay “Bạn Có Đang Vắt Sữa (để cho con bú) Không?”). Trong văn hóa Mỹ, tại nhiều công sở có “Lactation room” (hay “Lactorium”) là một phòng riêng để các phụ nữ đang trong giai đoạn cho con bú có thể vào và sử dụng thiết bị bơm sữa để tạo sữa và lưu giữ trong tủ lạnh cho con mình.

Ôi, ngôn ngữ! Chừng nào ngôn ngữ còn thì chuyện “mistranslation” và “misunderstanding” như thế này sẽ tiếp tục còn làm cho con người dở khóc dở cười như thế.

4.

Có lần, giữa đường, trong khung cảnh khá náo nhiệt của chốn Bolsa, một nơi vừa ấm áp vừa ồn ào, đầy tình thân nồng nàn của người Việt nhưng đôi khi cũng có những xáo trộn nho nhỏ trong chính cuộc sống chung ấy (như bất cứ ở đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào có một cuộc sống chung), đang sửa soạn quanh xe gần một ngã tư, bất chợt thấy hai vợ chồng tôi cũng đang quành xe gần đó, Bùi Bảo Trúc đưa xe lại gần sát chúng tôi, cười và ra hiệu. Hai bên đều hạ cửa kính xe xuống. Anh nói nhanh là nếu không bận, anh mời ghé nhà anh chơi một lúc. Anh cho biết mình vừa có được một “trú sở”, một căn nhà nhỏ ngay trên đường Bushard, giữa trung tâm quận Cam, không xa nơi nhà văn Mai Thảo sống trước kia là bao.

Thế là chúng tôi có một dịp đầm ấm, dù chỉ trong vòng trên dưới nửa tiếng đồng hồ, tại “biệt thự” của anh. Đó chỉ là một căn hộ khá nhỏ, nhưng trong một chung cư xinh xắn, yên tĩnh. Ở đây, anh có thể dễ dàng tìm đường xuống “phố thị” với những hàng quán, những cơ sở báo chí tiếng Việt, và đầy ắp những cửa hàng, những sinh hoạt của người Việt gần ngay đó. “Nhà tôi” có lúc đứng loanh quanh ở bên bếp, nghe anh nói chuyện. Anh cười bảo, “Tôi hay xuống chỗ bếp này, nhưng chỉ là để nấu mì gói thôi. Tôi không biết làm bếp!” Thật khổ cho Bùi Bảo Trúc, bạn tôi! Dù sao, anh sống một đời sống ngăn nắp, có kỷ luật. Ngoài một kệ sách nhỏ với một số sách của bạn bè, thân hữu, những quyển mà anh thích, ít quyển sách ngoại ngữ và mấy cuốn tự điển và từ điển, có một cái bàn nhỏ trên đặt một cái laptop. Bên cạnh là một hệ thống nghe nhạc vừa phải. Và, nếu tôi nhớ không nhầm, anh còn có cả một cái máy quay đĩa, loại 45 vòng, thuở xưa.

Anh vui vẻ giới thiệu nhà cửa và nói với chúng tôi về những sinh hoạt cũng như thời khóa biểu làm việc của anh trong giai đoạn ấy. Anh làm cho vài cơ quan truyền thông, viết lách, thu âm, thu hình cho những chương trình của mình. Anh bảo một tuần anh phải chạy lên một studio gần Los Angeles một, hai lần để làm việc ở trên đó. Còn phần lớn thì giờ anh “cư ngụ” và “lăn lộn” tại đây, anh đưa tay “quét” một vòng căn hộ nhỏ. Chúng tôi quý anh về sự giản dị, ngăn nắp và kỷ luật mà anh có. Và sự thân tình với bạn bè nữa. Trước khi để chúng tôi đi, anh tặng tôi hai trong ba thứ rất nguy hiểm mà Tú Xương đã nhắc đến trong một bài thơ để đời nổi tiếng của mình: “Một trà, một rượu, một đàn bà / Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta…” Đó là một bộ tách trà cổ, bằng sành, có cả ấm, khay và bốn cái chung nhỏ. Và một chai rượu Pinot Noir, đựng trong hộp gỗ cẩn thận. Chàng không dám cho tôi chai Remy Martin hay Hennessy XO, là những thứ rượu mạnh mà chàng và nhà văn Mai Thảo yêu thích, vì biết tôi không chia sẻ “niềm yêu” ấy. Nhưng chàng cũng nói là mình rất thích hương vị của Pinot Noir và Passion Merlot, những loại rượu vang đỏ được làm bằng các loài nho “quí tộc”, với hương vị nồng nàn và độ say đằm quyến rũ. Như đã nói, chai rượu mà chàng tặng được để trong một hộp đứng dài dùng để đựng rượu, bằng gỗ, của Pháp, rất cổ và đẹp, có quai bằng đồng để cầm, có khóa đồng để đóng lại, và được đánh verni, trang trí với hình vẽ Khải Hoàn Môn của Paris, cùng hình một chai rượu Pháp. Hoa văn trang trí có những chữ Vin de Bordeaux / Paris 1921 / Arc de Triomphe. Chàng nói, “Tặng ông cả rượu lẫn hộp đựng đấy nhé! Có ‘quần áo’ đàng hoàng.” Tôi cám ơn anh và nói nhỏ, “Hai thứ đầu của Tú Xương đây rồi. Thế còn “món” thứ ba đâu?” Rất nhậy, chàng nói ngay, cũng nhỏ và chỉ vừa đủ nghe, “À, cái đó thì tôi không dám ‘mời’ ông!”

Trong khoảng năm, bảy năm trở lại đây, ngoài việc tiếp tục viết loạt bài Thư Gửi Bạn Ta, anh còn có chương trình “Ngày Này Năm Xưa”, “Anh Ngữ trong đời sống” trên đài Little Saigon Radio và Hồn Việt TV, phát thanh, phát hình đủ mọi nơi. Cũng trên Little Saigon Radio, anh còn có chương trình giới thiệu nhạc ngoại quốc nữa.

Các bài viết của Bùi Bảo Trúc trong loạt Thư Gửi Bạn Ta, như tôi đã nói phớt qua ở trên, đã là một chất men quyến rũ rất nhiều người đọc. Người ta đọc nó vì cái chất dí dỏm, hóm hỉnh, đôi khi châm biếm chua cay, sâu sắc về đủ mọi loại đề tài trong cuộc sống con người. Đặc biệt, nó hay xoay quanh các vấn đề về phái tính và chính trị. Nó bay nhảy với các dữ kiện, các ý tưởng, các liên tưởng. Và nó “tung tẩy” với ngôn ngữ. Nhưng luôn luôn đánh đúng mục tiêu. Nó lại gợi cho người ta những hoài niệm, những nostagies về những hình bóng cũ, đặc biệt là những nỗi hoài nhớ quê hương, về một quá khứ “vàng son tơi tả” nhưng cứ dịu dàng tha thiết mãi trong trái tim người.

Có thể lấy đoạn văn sau đây của nhà văn Ngự Thuyết, viết về những bài tạp bút của Thư Gửi Bạn Ta, để thấy được những hình ảnh và tình cảm mà Bùi Bảo Trúc đã gợi lên trong chữ nghĩa của mình:

“(…) Hà Nội thời anh còn thơ ấu, mài đũng quần trên ghế nhà trường Tiểu Học, nhớ lớp học bé nhỏ thì ít mà nhớ cây me, cây sấu, cây hoa phượng, con ve mùa hè, và Hồ Tây xa xôi, thì nhiều. Di cư vào Nam, học Trung Học Chu Văn An, đã có trí khôn, biết bao nhiêu kỷ niệm theo anh suốt đời. Hàng xóm, láng giềng, thầy, bạn, cái giếng, kệ sách, thang gác gỗ ọp ẹp bước lên kêu răng rắc, góc phố, cây trứng cá nở hoa trắng, xe bò viên cạnh rạp xi nê, khô bò, nước mía ở các ngã tư, ngã sáu, đu đủ ướp đá bào, khóm miếng Tân An …, và nhất là những hôm trốn học tay ôm sách, mộng ước đầy hồn, đi lang thang trên những lề đường cũ phủ lá me non, hay đạp xe đạp lượn lui lượn tới trước cổng trường con gái, hoặc chui vào những rạp chiếu bóng thường trực Lê Lợi, Vĩnh Lợi, Đại Đồng, miệng cạp bánh mì, mắt say sưa đuổi theo những chân trời xa lạ.”

Bùi Bảo Trúc là như thế.

“Ngày Này Năm Xưa” được anh dùng để kể lại các sự kiện xảy ra trong lịch sử, vào đúng cái ngày chương trình được phát thanh. Người ta nói là anh có một kiến thức uyên bác. Có lẽ. Nhưng, trong cảm nhận của tôi, cái uyên bác ấy nằm ở trí nhớ của anh, một trí nhớ khá “siêu quần”, ở cái cách anh biết tìm kiếm tài liệu, và, quan trọng hơn, ở lòng yêu thích chính sự tìm kiếm ấy. Cách làm “Ngày Này Năm Xưa” không lạ, và ta cũng có thể tự lục tìm những tài liệu trên Net, trên Google để biết được những điều ấy. Nhưng cái làm cho thính giả theo dõi chính là lối dẫn dắt câu chuyện của anh. Duyên dáng, lịch thiệp, pha với chút nghịch ngợm. Và đầy thân tình. Anh tạo được một cầu nối gần gũi với người nghe. Tạo nên một từ trường đầy lôi cuốn. Giọng nói của anh là một giọng nói ấm áp, trầm và dịu, rất “Bắc kỳ”. Có người nói đó là một giọng nói “Trời cho”. Cái giọng nói ấy nó cuốn hút và tạo sự thân mật. Bùi Bảo Trúc được rất nhiều người yêu thích, đặc biệt là các phụ nữ, có lẽ cũng chính là do, ngoài những tài năng riêng của anh, giọng nói này.

Chương trình “Anh Ngữ trong đời sống” đưa lại những kiến thức khá căn bản, đôi khi tinh tế, về cách sử dụng tiếng Anh trong cuộc sống tại Mỹ. Anh có khả năng từ những từ ngữ, những cách nói trong Anh ngữ, giới thiệu cho người nghe một số nét đặc thù của văn hóa Anh Mỹ, giúp cho những người bình thường thấy được cái tế nhị và phong phú của ngôn ngữ.

Và chương trình giới thiệu nhạc ngoại quốc của anh cũng thật tuyệt. Anh giới thiệu đủ loại nhạc Anh, Pháp, Mỹ, đặc biệt những bản nhạc của thập niên ’60 tại Hoa Kỳ và Pháp. Cách anh dẫn dụ, giới thiệu những bản nhạc. “Hương vị” của những bản nhạc ấy. Ca từ và ngôn ngữ thời đó. Vân vân. Tất cả làm nên một cái nền hoài nhớ, một sự tưởng tiếc vàng son. Một thời. Một đời. Nó làm người ta nhớ lại chính cái tuổi trẻ của mình. Cái nao nức mình. Quả tim mình khi mới lớn. Tình yêu đầu đời. Đường phố. Bạn bè. Nụ hôn đầu. Và tóc ta lúc ấy còn xanh quá, bay bay theo gió. Mặt trời trên cao và hoa lá ở ngay trên đầu. Và mênh mang gió hát. Nó làm người ta nhớ lại tất cả mọi sự.

Cũng phải nói đến những người cùng anh lèo lái các chương trình. Đó là các nữ xướng ngôn viên của đài Little Saigon. Mỗi người một vẻ. Mỗi người một phong cách, một giọng nói. Tất cả đã cùng với Bùi Bảo Trúc làm nên những chương trình thật đáng yêu. Tôi không ngạc nhiên khi nghe nhiều thính giả, đủ mọi lớp tuổi, cả nam và nữ, gọi vào đài tưởng tiếc anh. Rất nhiều người đã không giữ được xúc động. Họ nghẹn ngào, tức tưởi, hay òa khóc, cùng với những xướng ngôn viên, khi nhắc lại những điều anh đã làm được trong các vai trò, các chương trình mà anh thực hiện trên đài. Anh đã đem lại nhiều kiến thức hữu ích, nhiều niềm vui, cũng như một chút hạnh phúc nhỏ giữa đời thường cho rất nhiều người. Mỗi ngày. Và trong bao nhiêu năm trời như thế. Anh đã không thể nói tiếp được một câu nói của mình trong chương trình cuối cùng của anh. Vì định mệnh đột nhiên đã đến. Đó cũng là ngày cuối cùng trong cuộc đời anh. Sự gắn bó của Bùi Bảo Trúc với khán, thính giả và độc giả, qua các phương tiện truyền thông, đặc biệt qua truyền thanh và truyền hình, đã làm cho nhiều người thương tiếc anh. Sự tận tụy trong công việc của Bùi Bảo Trúc, cho đến ngày cuối đời, đã để lại một ấn tượng thiết tha trong lòng họ.

5.

“L’Homme est une passion inutile”. Con người là một đam mê vô ích. J. Paul Sartre đã nói thế. Và nếu đúng như lời Sartre nói, để giản lược hóa phát biểu của triết gia này một chút, tất cả chúng ta đều sống với những đam mê. Mỗi chúng ta đều là một khối đam mê lớn. Vô ích hay không, đó là điều có thể còn được, còn phải tiếp tục tranh luận.

Bùi Bảo Trúc đã sống với những đam mê của mình. Mà đã là đam mê thì thường cực đoan. Anh đã sống nhiều lúc cực đoan như thế. Trong không ít trường hợp. Những cực đoan có khi đưa đến những va chạm xích mích, nhỏ hay lớn, với người này hoặc người nọ, lúc này hay lúc khác. Anh sống với những xác tín của mình, có thể có những lúc chủ quan. Nhưng anh đã sống thiết tha và cương quyết.

Tính là mệnh. Amor fati. Như tính của Thúy Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều chính là định mệnh của nàng. Có những lúc cũng mệt mỏi, BBT đã nói với tôi, “Nhiều khi, sáng dậy, tôi cảm thấy rất nản, muốn buông xuôi, buông bỏ tất cả. Nhưng nghĩ mình còn được thức dậy, nhìn mặt trời lên mỗi ngày, gặp lại bạn bè, làm được một số việc mình thích, tôi lại ngồi dậy mặc quần áo, rửa mặt cạo râu, để bước vào một ngày mới. Mình phải tập kiên trì thôi.”

Tôi nghĩ, như Nietzsche đã trình bày về cuộc “quy hồi vĩnh cửu”(eternal recurrence), BBT bạn tôi hẳn sẽ lại sống như thế, trong mỗi một chi tiết sống của mình, nếu anh có dịp trở lại trần gian trong cuộc “quy hồi vĩnh cửu”, “quy hồi cố quận” kia. Anh chấp nhận cái phận của mình. Và vui vẻ, kiên trì sống với nó. Cho đến hết đời.

Death, be not proud, though some have called thee
Mighty and dreadful, for thou art not so;
For those whom thou think’st thou dost overthrow
Die not, poor Death, nor yet canst thou kill me. (…)

(Hỡi Thần Chết, đừng hãnh diện làm gì, cho dù có những kẻ đã gọi người
Là uy dũng và đáng sợ, vì người chẳng hề là thế;
Bởi lẽ những kẻ mà người nghĩ là đã vật ngã, lật đổ
Chẳng hề chết đi, tội nghiệp cho Thần Chết, và người cũng chẳng thể giết được ta (…)

Đó là những câu thơ mở đầu trong bài sonnet thứ X của John Donne, còn được gọi là bài “Death, be not proud” vì câu thơ mở đầu của nó. Tôi nghĩ, nếu có gặp vị thần này, chàng Trúc sẽ cười và nói, “Hey dude, be not proud…” (“Này cái gã kia, mi đừng phởn chí…”).

Trong cái ma-trận (matrix), mà không phải là mê-hồn-trận, của ngôn ngữ và cuộc đời, Bùi Bảo Trúc đã sống hết tâm hồn và thân xác mình. Anh đã gieo, trồng. Và đã hái, gặt. A, mọi sự tân toan trong đời sống này thì chắc cũng như hương vị của một ly Merlot, một ly Pinot Noir thôi. Đắng. Ngọt. Cay. Tê. Nồng. Và đượm. Có đủ cả. Phải không?

Bạn ta, bây giờ, hãy ra đi thanh thản. Với một nụ cười.

“Xin chào nhau giữa con đường. Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau” (B.G.)

Hẹn một ngày “quy hồi cố quận”.

Bùi Vĩnh Phúc

Ấm Lạnh Của Cuộc Đời—Nguyễn Thị Hải Hà

Cơn bão Sandy đến vào đêm thứ Hai. Hai cây anh đào bên cạnh nhà của Quê bị trốc gốc nằm chắn ngang đường dẫn vào nhà để xe. Cây sồi gần trăm tuổi trước nhà ông Jack cũng bị đột quị, tàng lá rậm rề của nó khi trườn ngang đường đã lôi theo máy biến điện, làm trụ điện toác làm hai. Tất cả mọi thứ, dây điện trụ điện máy biến điện đều nằm kềnh trên mặt đất. Thế thì phải còn lâu lắm mới trở lại bình thường. Nhà của Quê cũng như tất cả mọi người chung quanh đều bị mất điện, không sưởi, không có nước nóng lẫn nước lạnh.

sandy-storm-surge-damage-njMột nơi cơn bão Sandy vừa đi qua

Sau cơn bão trời rất đẹp, ban ngày có nắng, khá ấm so với khí hậu mùa thu của New Jersey . Nhiệt độ trong nhà từ giảm từ từ. Đến ngày thứ Năm, trong nhà chỉ còn 45 độ F, bằng với nhiệt độ ngoài trời. Ban ngày Quê ra sân dọn dẹp cành cây, vận động và phơi nắng cho người ấm lên. Buổi tối Quê mặc hai lớp vớ, hai lớp quần, hai lớp áo mỏng cùng với áo len thật dày, bên ngoài mặc thêm cái áo khoác nhung lót nỉ. Áo này Quê thường mặc để xúc tuyết hay làm việc ngoài trời. Cũng may là hồi mùa hè Quê thấy áo mỏng dài tay bán hạ giá ở Old Navy nên mua luôn mấy cái. Chống lạnh cần mặc nhiều lớp nếu áo nào cũng dày quá sẽ không xoay trở được.

Ở Mỹ đã lâu mà Quê vẫn không quen chịu lạnh. Cái lạnh như cắn cấu vào da thịt có khi như chui ra từ trong xương. Con mèo Nora chui vào mền ngủ chung với Quê. Chị co người như con tôm và Nora nằm ngay vào khoảng trống giữa ngực và đầu gối của chị. Mỗi khi chị trở mình nhích ra xa một chút con mèo ngay lập tức bám theo chị. Người và vật cố tìm chút hơi ấm của nhau nhưng nó bé bỏng quá không mang đủ hơi ấm cho chị. Quê ngủ luôn trên ghế sô pha ở phòng khách vì ban ngày có nắng vào, phòng khách ấm hơn phòng ngủ của chị. Quê không hiểu làm cách nào mà những người sống lang thang không nhà chịu được cái lạnh khi ngủ ngoài trời chỉ che thân bằng cái thùng giấy carton. Nhà có lò sưởi nhưng không có củi vì chồng Quê không chịu dùng củi phòng hờ khi mất điện. Anh đưa ra đủ thứ lý do nào là khói, là khí độc, là hơi ấm đốt bằng củi chẳng thấm vào đâu. Quê tin chồng hết mực. Lời anh nói y như vua phán, chị răm rắp tin theo. Chồng chị cẩn thận chu đáo làm gì cũng tính toán suy nghĩ cặn kẽ. Mấy chục năm chị vâng lời chồng mãi thành thói quen. Mọi quyết định của Quê là chờ quyết định của chồng.

Sáng thứ Năm, nắng đã lên nhưng Quê vẫn còn nằm quấn mền trong phòng khách chỗ có ánh nắng tràn vào để sưởi ấm. Ngọn nến vẫn còn cháy trong một cái bình thủy tinh cao. Loại nến này có thể tránh cháy nhà nhưng không đủ ánh sáng để đọc sách. Đêm qua dưới bóng nến leo lét Quê cố đọc sách nhưng chỉ một lúc là đã chịu thua. Làm thế nào nhà thơ Phạm Thiên Thư có thể “đêm về thắp nến làm thơ” hay người xưa có thể bắt đom đóm dùng thay cho ánh sáng. Mấy ông nhà văn nhà thơ chỉ giỏi vẽ chuyện.

Có tiếng gõ cửa, Quê nhỏm dậy. Đó là Lénine, anh hàng xóm.

– Hello! Quê nói.

– Hello! Chào bà! Tôi đến viếng xem bà có cần giúp gì không? Mọi chuyện vẫn bình thường chứ?

– Vâng, cám ơn ông. Bình yên cả. Chỉ hơi lạnh thôi. Nhiệt độ trong nhà chỉ có 45 độ. Thế ông sưởi ấm bằng cách nào?

Hỏi thế nhưng Quê biết là Lénine sưởi bằng củi vì chị thấy ống khói nhà ông tỏa khói. Đứng ở cửa Quê ngửi thấy mùi khói thật thơm. Đây là mùi đặc biệt của mùa Thu vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, khói lò sưởi thường làm cho Quê có cảm giác mơ mộng, như thưở nhỏ đọc truyện thần tiên và xem thiệp Giáng sinh có ảnh củi cháy sáng rực trong lò sưởi.

– Tôi sưởi bằng củi. Trận bão Irene năm ngoái cây ngã nhiều, lại toàn là gỗ cứng như anh đào và sồi, nên tôi để dành làm củi đốt lò sưởi, rất tiện lợi vào những lúc như thế này. Đêm qua nhà tôi ấm đến độ tôi phải mặc quần đùi.

Lénine ra ngước mặt lên trời lật hai lòng bàn tay để xuôi theo người diễn tả một người nằm ngửa như phơi nắng, thảnh thơi.

– Thế còn ăn uống thì ông làm sao? Quê hỏi. Tôi không nấu nướng gì cả, chỉ ăn bánh mì cũ với chuối hay cheese. Chị nói tiếp sau khi hỏi.

– Tôi có một cái nồi có quai những người cắm trại hay dùng. Tôi treo nó vào trong lò sưởi đốt bằng củi. Với cái nồi có quai này tôi có thể hâm nóng súp hộp hay

chiên một quả trứng, pha cà phê, v.v… Tuy có chuẩn bị nhưng không ngờ bị cúp điện lâu như thế nên tôi thiếu nước. Bà có dư nước không?

Trước khi cơn bão đến Quê có mua thêm 6 gallon nước uống dù trong nhà để xe vẫn còn 10 gallon.

– Tôi còn một ít nước để trong garage. Quê nói. Tôi có thể chia cho ông vài gallon.

– Cám ơn bà lắm, tôi sẽ hoàn tiền lại. Lénine nói.

– Chẳng đáng gì. Xin ông đừng bận tâm.

Lénine theo chị ra nhà để xe. Quê phải dùng cửa sau vì mất điện nên chị không thể mở cửa trước của nhà để xe. Muốn mở phải kéo sợi dây để thả chốt nhưng sợi dây cao quá chị không vói tới. Lénine đi theo, bảo rằng không muốn chị phải xách nặng. Quê đưa cho Lénine hai gallon nước. Qua cách anh ta đảo mắt nhìn chung quanh, có vẻ anh ta tò mò muốn biết cách sống của gia đình chị.

– Thế bà có đủ nước dùng cho cầu tiêu không?

Quê chỉ mấy thùng nước chị để phía sau nhà bên cạnh sàn gỗ và mấy cụm rau húng, rau kinh giới chị trồng trong hai thùng nhựa trắng. Lá sồi khô rơi vào trong nước làm nước biến thành màu nâu và có mùi khăm khắm của lá mục.

– Nếu ông cần ông có thể dùng nó.

Anh ta từ chối, có lẽ vì nước bẩn. Quê chợt đoán ra anh ta xin hai bình nước (chị mua để uống) để dội cầu tiêu. Khi ra về, anh ta nấn ná một chút và nói.

– Nếu bà có cần sưởi ấm xin mời bà đến nhà tôi. Tôi nói thật đấy. Đêm qua nhà tôi ấm đến độ tôi phải mặc quần đùi khi đi ngủ.

– Cám ơn ông.

Quê e ngại nếu nấn ná thêm một chút hắn ta dám nói là hắn ta luôn ngủ truồng.

– Đây là số điện thoại của tôi. Nếu bà cần xin cứ gọi hoặc cứ gõ cửa nhà tôi. Đừng ngại gì cả. Đêm nay nhiệt độ sẽ xuống thấp lắm đấy.

Hắn tên Lenn. Quê đặt cho hắn cái tên là Lénine vì trông hắn giống Lénine với cái mặt gãy khi nhìn nghiêng và cái đầu hói chỉ còn một vành tóc mỏng phía sau. Quê không có thiện cảm với hắn kể từ ngày bắt gặp hắn thổi lá khô từ nhà hắn vào đống lá khô nhà chị. Từ xa, mỗi lần nhìn thấy hắn Quê thường nghĩ đến một khúc phim quảng cáo trên Tivi, một phụ nữ trẻ đẹp buổi sáng nhìn ra sân nhìn thấy một người đàn ông đầu hói, bụng bự, mặc quần đùi ra nhặt báo. Ông ta một tay chống nạnh tay kia vẫy chào người đẹp, miệng cười đầy vẻ khả ố. Cô nàng thuê người xây một bức tường để không còn phải nhìn thấy ông láng giềng nữa.

Quê mỉm cười mỗi khi nhớ đến câu ca dao Gái có chồng như gông đeo cổ. Rất yêu chồng, yêu đến độ tự nguyện khuất phục chồng. Nhưng sự hiện diện của chồng luôn làm cho Quê cảm thấy tù túng bó buộc. Khi chồng bảo có việc phải đi Texas hai tuần, Quê vui vẻ chấp nhận, có phần nào khuyến khích. Vắng chồng, Quê thấy tự do thảnh thơi như đứa trẻ vắng cha mẹ trong phim Home Alone, ngủ thức dậy không cần phải gấp chăn trải giường, không cần phải lo bữa ăn hằng ngày. Hai tuần anh vắng nhà là một cái mini vacation cho chị. Nhiều khi chị thầm mong giá mà anh vắng nhà nhiều thêm nữa thì hay biết mấy.

Khổ một điều là mỗi khi anh đi vắng, đồ vật trong nhà không chịu vâng lời Quê. Đầu tiên là cái chốt bật điện trong phòng ngủ. Nó nổ nghe “tách” một tiếng, xẹt lửa, và không thể mở đèn được nữa. Cái chốt xả nước bồn tắm bỗng trở nên lặt lìa, kéo lên đẩy xuống cả chục lần nước vẫn không rút. Nước phòng tắm trên lầu lạnh ngắt. Quê xuống hầm tìm cách tăng nhiệt độ nước nóng nhưng đứng ngắm nghía cái lò nấu nước nóng một hồi lâu không biết cái chốt tăng nhiệt độ ở chỗ nào. Chị sợ mình làm sai sẽ hư bình nước nóng hay tệ hơn nữa làm cháy nhà, nổ ống ga. Chị như một bà nhà quê lên tỉnh lớ ngớ sợ đủ thứ. Sợ nhất là làm sai ý chồng sẽ bị khiển trách. Có cái lò nướng bằng ga để ngoài sân nhưng Quê không nhóm lửa được. Chị vặn nút, hơi ga thoát ra khè khè nhưng lửa không bật cháy. Chị sợ hơi ga độc nên thở dài rồi tắt lò.

Nhiều lần bực mình khi bắt gặp Lénine thổi lá sang nhà mình chị định nói thẳng với hắn ta nhưng ngần ngại cho rằng chuyện không đáng để mất lòng nhau. Cũng may là Quê đã nhịn lời nếu không bây giờ cũng áy náy với láng giềng. Lénine chuẩn bị bán nhà nên lúc nào cũng săn sóc nhà cửa cho tươm tất. Chả bù với nhà của Quê cỏ lên cao đến đầu gối không cắt, bụi rậm đầy gai mọc um tùm. Quê không biết sử dụng máy cắt cỏ cũng không dám hối thúc chồng. Mấy hôm nay nhờ cơn bão, không đi làm, Quê ra sân dùng kéo cắt cành cây tỉa bớt những bụi rậm quanh nhà. Lénine cũng mang máy thổi lá sang giúp chị dọn sạch lá cây rơi vì cơn bão Sandy .

– Chồng bà đâu rồi? Lénine hỏi.

– Ông nhà tôi đi Texas có công việc, dự định thứ Bảy sẽ về. Quê trả lời.

– Hôm nay là thứ Tư, thế còn ba ngày nữa.

– Vâng, tôi hy vọng là người ta sẽ khôi phục điện nhanh chóng ở phi trường. Chứ có lẽ phải mất một hay hai tuần nữa người ta mới có thể khôi phục điện cho xóm mình. Quê nói. Tôi muốn dọn hai cây anh đào trước nhà nhưng lúc này thì chẳng thuê được ai.

Hai cây anh đào không to lắm, đường kính chừng hơn hai tấc, nhưng cành lá um tùm muốn xê dịch hai cây này không phải dễ. Thứ Bảy Quê phải ra phi trường đón chồng nhưng cây ngã trên driveway không thể lấy xe ra. Nhà có cái cưa tay lưỡi nhỏ bằng ngón tay. Nếu dùng lưỡi cưa này chắc phải đến mùa bão năm sau mới xong. Trong nhà kho của chị có máy phát điện nhưng còn nằm trong thùng. Anh mua cái máy phát điện là để dùng những trường hợp như thế này nhưng không có anh ở nhà, Quê không biết sử dụng, thì có cũng như không. Quê không dám nhờ hàng xóm giúp. Tuy sống hòa thuận với láng giềng gia đình chị không quen thân với ai.  Chị cũng sợ nếu lỡ làm hư cái máy phát điện thì chẳng biết phải nói sao với chồng.

Chiều thứ Năm, Lénine lại sang sân nhà Quê lúc chị đang cắt những nhánh gai của bụi rậm trước nhà. Anh ta hỏi:

– Tiệm A&P ở Warren mở cửa. Tôi sẽ đi mua nước bà có cần mua gì không?

– Không ạ. Xin cám ơn ông. Nhà tôi còn nước, nếu ông cần xin cứ lấy thêm mà dùng.

Lénine từ chối, nhưng nấn ná trò chuyện.

– Cô con gái của bà đâu rồi?

– Cúp điện lâu quá, nó chịu lạnh không nổi nên mang con mèo đến nhà bạn tạm trú rồi. Quê trả lời. Còn con trai của ông chắc đã ra trường và đã đi làm?

– Vâng. Nó thuê một căn chung cư ở chung với bạn nó. Mẹ nó, vợ cũ của tôi sắp lập gia đình nên nó không thể ở chung với bà ấy. Tôi muốn nó ở chung với tôi cho đỡ tốn kém nhưng nó không chịu điều kiện của tôi.

– Ông đòi điều kiện gì?

– Nó không thể có sex với bạn gái của nó trong nhà tôi. Nếu nó muốn làm chuyện ấy trong nhà tôi thì nó phải giới thiệu một người bạn gái cho tôi.

Lénine vừa nói vừa mỉm cười có vẻ đắc chí tự thưởng thức câu nói tinh ranh của anh ta. Mùi thơm của củi đốt bay thoang thoảng từ nhà Lénine sang sân nhà Quê. Lénine dường như kéo dài câu chuyện. Hắn hỏi:

– Bà có biết đêm qua Christian phải vào bệnh viện không?

Christian là người hàng xóm đối diện với nhà tôi. Hai vợ chồng, Christian và Carmine mới dọn về từ hồi tháng Tám. Đêm bão về Christian sợ cây ngã không ngủ được phải lái xe xuống sân đậu xe của văn phòng bảo hiểm cạnh đường 22, nơi trống trải không cây để ngủ.

– Thế à? Ông ấy bị bệnh gì?

– Huyết áp tăng cao quá. Lénine trả lời.

– Có lẽ ông ấy lo lắng quá.

– Tôi thấy chẳng có gì mà ông ấy phải lo lắng đến mức như thế. Ít ra ông ta còn có bà vợ bên cạnh ngủ cho ấm. Còn tôi, tôi chẳng có ai.

Trong đêm, Quê suy nghĩ. Đã hai lần anh ta nhắc đến chuyện mặc quần đùi đi ngủ, ít ra cũng đã hai lần mời Quê sang nhà anh ta trốn lạnh. Dường như anh ta có ý lẳng lơ. Quê không hiểu chị có thái độ gì khiến anh ta dám đường đột như thế. Quê không phải là người xinh đẹp đến độ ai nhìn cũng thèm muốn. Chị tự hỏi không biết có nên hãnh diện khi được đàn ông chú ý như thế không. Mặt chị dường hơi méo mó. Hai cái răng cửa mấy lúc gần đây có vẻ lung lay không biết lúc nào sẽ rơi. Soi mình trong gương chị nhìn thấy một người đàn bà đầu bù tóc rối. Cái mũ đen trùm trên đầu với mớ tóc cột lỏng lẻo phía sau đã bung ra. Trông chị luộm thuộm già nua. Có thể hắn ta chỉ là một người quan tâm đến hàng xóm trong tình cảnh bất tiện nhưng hở hang trong cách nói. Nếu quả thật anh ta có ý tán tỉnh chị thì anh ta chắc là đang ở trong tình trạng quá tuyệt vọng vì thèm muốn. Đàn ông Mỹ có lẽ dễ dãi. Phụ nữ không cần nhiều nhan sắc chỉ cần không béo phì là tốt rồi. Hay hắn ta tò mò muốn biết mùi phụ nữ Á châu? Giời ạ. Cả mấy ngày nay chị không tắm, không gội đầu. Mùi đã nặng lắm rồi đây. Phụ nữ có chồng cũng chẳng nhằm nhò gì, có ai tính chuyện ăn đời ở kiếp đâu. Chỉ cần chút hơi ấm qua đêm thôi.

Đêm càng lúc càng lạnh. Bóng tối dày đặc. Đứng ở cửa sổ nhìn ra cuối trời không có chút ánh sáng nào. Quê mong mỏi nhìn thấy một bóng đèn điện như một người bạn ở xa và tưởng tượng đến sự cô đơn của những vì sao, hay của những chuyến phi hành liên vũ trụ. Chung quanh im lặng quá đến độ Quê đâm ra nhớ cả tiếng râm ran của máy sưởi, tiếng nước róc rách chảy khi bình nước nóng của lò sưởi bắt đầu, tiếng ngôi nhà chuyển mình răng rắc khi máy sưởi làm ấm căn nhà. Quê thấy thèm một ly trà nóng. Một thèm muốn thật đơn giản nhưng không thể thỏa mãn lúc này.

Nhiều lúc Quê thầm trách chồng. Anh dùng máy móc điện tử tinh vi để điều chỉnh nhiệt độ trong nhà, tinh vi quá đến độ Quê không biết sử dụng. Cứ mỗi lần thấy nước tắm không đủ ấm hay rửa chén không sạch dầu mỡ, Quê lại phải nhờ chồng tăng nhiệt độ lên. Mãi rồi Quê đâm ra chán, ngay cả chuyện ấm lạnh của chị phải tùy thuộc vào quyết định của chồng. Quê đâm ra ghét chồng. Những sự chăm sóc chu đáo của anh thường đưa chị vào vị trí không thể chọn lựa hay phản đối. Anh tùy tiện quyết định chuyện trong nhà không cần biết nhu cầu cũng như ý kiến của chị. Dần dần anh biến chị thành một người đàn bà cần phải tựa vào anh, và càng ngày chị càng trở nên khuất phục.

Quê tí toáy cái ý nghĩ sang nhà Lénine đêm nay để trốn lạnh. Hắn đã mời mọc “nếu bà cần một ly cà phê hay sữa chocolate xin mời sang nhà tôi.” Sao lại không chứ? Đày đọa thân mình để làm gì? Anh ấy có ở nhà để chịu lạnh giống như mình đâu. Hừm, đàn bà có chồng sang nhà đàn ông làm sao tránh khỏi chuyện tai tiếng. Đâu cần hắn dở thói trăng gió, chỉ cần gieo nghi ngờ là chị đã lỗ vốn rồi. Trời, ý nghĩ đó chỉ có ở Việt Nam chứ đàn bà Mỹ họ cóc sợ. Người Tây phương xem nhẹ chuyện ngoại tình. Cứ mở đại một cuốn tiểu thuyết là thấy có chuyện ngoại tình. Thấy cô nàng Francesca Johnson trong phim The Bridges in Madison County không? Chỉ cần ông chồng dẫn con đi hội chợ làng bên cạnh một tuần là đủ cho mối tình của Francesca nảy nở với anh chàng chụp ảnh nghệ thuật. Đàn ông cũng thế. Anh chồng tê liệt của phu nhân Chatterley cho phép vợ có con với người khác miễn là người đàn ông kia thuộc giai cấp chấp nhận được. Phụ nữ Mỹ không nghĩ làm tình với một người đàn ông là ban ân huệ cho người đàn ông ấy. Với họ chuyện xác thịt là phục vụ cho chính bản thân. Nhưng Quê đâu có phải là đàn bà Mỹ. Suốt cuộc đời Quê sống trong dây nhợ vô hình nhưng ràng buộc chặt chẽ của lề lối Khổng Tử. Quê nghĩ đến cái tên mình. Chỉ cần thêm cái dấu sắc là chữ quê biến thành chữ quế. Chị là cây quế giữa rừng. Đâu có phải ai muốn leo cũng được.

Quê lại tự chất vấn mình. Chị cưỡng lại chuyện đi tìm hơi ấm Lénine đã mời mọc vì muốn giữ đạo đức hay vì chị đã già nua đến độ tình dục không còn là một hứng thú nữa? Nếu Quê trẻ hơn năm hay mười tuổi và Lénine là một chàng trai cao ráo bụng lép tóc rậm như rừng thì chị có giữ được đạo đức của người phụ nữ Á Đông không? Có phải người ta dễ lên mặt đạo đức khi không bị cám dỗ hay không có điều kiện thuận lợi để bị cám dỗ. Giá Anna Karenina xấu xí thì chắc nàng đã không bị ánh lửa Vronsky quyến rũ để cuối cùng bị hủy diệt như loài thiêu thân.

Quê bỗng sợ hãi. Hắn đã theo mình vào garage và sân sau. Nhỡ hắn làm càng thì sao? Quê vói lấy cellphone, thấy vẫn còn điện, nhỡ có gì còn gọi 911. Đường dây điện thoại trong nhà vẫn còn hoạt động, mất điện, và internet nhưng đường dây điện thoại vẫn còn. Hắn không phải là mẩu người dám sàm sở. Quê tự trấn an.

Quê chợt nghĩ đến một đoạn trong phim Người Tình của Phu Nhân Chatterley, đôi tình nhân ngồi trần truồng trước lò sưởi. Vị phu nhân quí phái trẻ tuổi với anh thợ săn cùng chạy trần truồng trong cơn mưa rồi sau đó họ ngồi đính hoa dại lên thân thể tràn đầy nhựa sống của nhau. Tưởng tượng hơi lửa ấm nồng trên da làm Quê thấy rạo rực. Một người đàn bà Việt Nam thiếu nhan sắc sẽ nói gì chuyện gì với một anh Mỹ hói đầu bụng phệ? Nói về những cái răng đã bắt đầu lung lay, những sợi tóc bạc, và những quả thận yếu đuối? Không cần phải nói gì, chỉ cần xách theo chai rượu vang và miếng phô mai, làm vài ly thì rượu sẽ nói thay cho người. Hắn sẽ nói về những bất hòa với người vợ cũ và những bất hòa với cô bồ đang ở gần đây. Quê sợ sẽ phàn nàn về chồng vì càng ngày chị càng nhận ra những bất mãn ngấm ngầm của mình. Chị biết chị không thấy hạnh phúc trong hôn nhân nhưng không thể thổ lộ với ai. Người ta sẽ chê trách chị ngu xuẩn dại dột, nhất là gia đình chồng đều nghĩ đàn bà mà có được người chồng như chồng chị là một hạnh phúc lớn nhất trên đời. Những bất mãn của chị chỉ là một thứ Ví dầu tình bậu muốn thôi. Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra đó mà.

Buổi sáng khi Quê hỏi, “ông có người thân nào ở gần đây để ông có thể tạm trú qua cơn lạnh không,” thì Lénine nói.

– Cô bồ của tôi ở Piscataway đã đi tạm trú. Cô ấy không thích ở đây. Cô bảo nhiều cây quá giống như rừng. Ban đêm cô sợ bóng tối, ban ngày sợ sâu bọ. Cô thích ở thành phố hơn.

– Tôi thì khác. Tôi yêu cây cối. Tôi thấy cây khô cũng đẹp, mùa xuân lá xanh nõn, mùa thu lá trổ màu. Tôi thích cái quạnh quẽ yên lặng của rừng. Không phải ở đâu cũng có chim chóc, sóc, nai và gà lôi như ở đây.

– Tôi cũng hợp với bà ở điểm này.

Cái lạnh chừng như tăng thêm từng giây. Quê nhìn về phía cuối đường nơi có căn nhà kiểu cottage của hắn ta. Ánh sáng vàng nhạt lung linh ở cửa sổ làm Quê nghĩ đến ánh lửa ấm cúng trong lò sưởi. Lạnh lùng thay láng giềng ơi, láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều. Quê nghĩ đến chồng. Chắc không ai ngờ chỉ mấy ngày bị lạnh mà một hôn nhân đầy hạnh phúc có thể bị soi mòn khi anh láng giềng đầu hói bụng phệ tòm tem dụ dỗ một phụ nữ có chồng bằng hơi ấm của cái lò sưởi trong nhà. Có lẽ cái vẻ quê mùa thật thà của Quê làm hắn tin là có thể dụ dỗ chị. Biết đâu chừng hắn nghĩ là hắn làm ơn tạo cơ hội cho chị biết mùi đàn ông Mỹ? Quê cũng tự trách mình đã quá nhu nhược ỷ lại vào chồng. Chị phải tự săn sóc chuyện ấm lạnh của bản thân chứ. Đêm qua anh gọi điện thoại hỏi han, nghe chị than lạnh anh nhắc chị còn hơn hai chục pounds than đá trong nhà kho. Nếu lạnh quá chị có thể dùng đỡ đến thứ Bảy anh về anh sẽ tính. Chị e dè hỏi chồng, có an toàn không. Anh trả lời giọng chắc nịch. Sao lại không? Quê nhớ chồng chị đã nhiều lần bảo rằng đốt than đốt củi trong nhà không tốt. Nhưng bây giờ thì chị không muốn gặng hỏi gì nữa. Chị cần hơi ấm, miễn là chị cẩn thận đừng để cháy nhà.

Quê bưng ngọn nến vào trong nhà kho lục lọi, thấy còn một khúc củi nhân tạo anh thường đốt mỗi khi có khách đến chơi vào mùa lạnh, để khoe nhà mình có lò sưởi. Chị thấy bao than đá còn đầy. Hì hục bưng cả than và củi vào nhà, Quê đốt củi cháy bùng lên, rồi chất than barbecue chung quanh củi. Đây là loại mạt cưa được ép chặt có tẩm dầu rất dễ bén lửa nên chẳng mấy chốc than và củi cháy đều, mùi khói hăng hăng dễ chịu. Quê lấy chai rượu vang rót đầy ly nhâm nhi. Quê đóng cửa lò sưởi, trải mền nằm cạnh lò sưởi.

Quê suy nghĩ: “Nếu đừng bị lạnh thì chẳng đến nỗi nào.” Hàng xóm của chị khá tử tế. lúc sẩm tối, có một người lạ mặt dùng máy cưa chạy bằng xăng cắt hai cây anh đào thành từng khúc nhỏ. Quê hỏi chị cần phải trả bao nhiêu tiền để đáp ơn của ông. Người khách lạ mỉm cười nhìn Quê không trả lời. Hỏi thăm láng giềng, Quê biết đó là Dave ở bên đường Brandy Vine. Dave hoạt động trong nhóm Hướng Đạo Sinh với Jack, ông láng giềng của chị. Cậu bé hàng xóm học chung lớp với Ách Cơ dùng máy phát điện của nhà cậu bơm nước từ giếng lên và chia cho mỗi nhà vài thùng nước để dùng. Quê cảm động trước sự giúp đỡ này. Quả thật là chung quanh mình có những vị thiên thần im lặng. Không phải lúc nào mình cũng có thể đền đáp sự giúp đỡ của người chung quanh nên có khi cách đền đáp tốt nhất là giúp người khác khi mình có thể.

– Ông Lévine ơi, tôi sang viếng ông đây.

– Bà nhớ nhầm tên tôi rồi.

– Ồ. Tôi biết chứ. Nhưng tôi thích gọi ông là Lévine vì đó là tên nhân vật tôi rất yêu thích trong truyện Anna Karénina. Chị không thể làm phật ý hắn bằng cách gọi hắn là Lénine tên của ông Trùm Sò Liên Xô nên ngầm lấy lòng hắn bằng cái tên Lévine.

– Tôi có đọc quyển ấy từ lúc tôi còn ở Trung học. Bây giờ thì chẳng còn nhớ gì cả. Bà thích văn chương nhỉ? Tôi thấy trong nhà bà rất nhiều sách. Gã hàng xóm càng nói chuyện càng tỏ ra duyên dáng làm Quê cứ bật cười. Hắn  tâm sự:

– Ngày còn trẻ tôi yêu một cô gái người Hoa. Cô ấy tên Muxia. Tôi không hiểu tại sao bố của Muxia không thích tôi dù tôi rất đàng hoàng lễ phép. Mỗi lần tôi muốn đưa Muxia đi chơi chúng tôi phải lén lút như là những người phạm pháp. Ông già ngồi ngay trong phòng khách trông vẻ mặt của ông tôi nghĩ ông có thể ngoạm một phát là rứt đầu tôi ra khỏi cổ. Những câu chào hỏi của tôi chỉ được trả lời bằng những tiếng gầm gừ trong cổ họng. Có phải đàn ông Á châu không thích nhìn thấy con em của họ quan hệ với người ngoại chủng?

Lenn nhìn sâu vào mặt Quê, ánh lửa lò sưởi làm mắt ông ta long lanh. Giọng hắn ta trở nên ngọt ngào quyến rũ.

– Ngày bà mới dọn về tôi thấy ngay bà giống Muxia ở mái tóc dài và khuôn mặt hình trái hạnh nhân. Muxia có làn da rất mềm nhất là ở những vùng kín đáo. Vợ cũ của tôi da trắng tóc vàng, đùi và tay đều có lông nhìn thì không thấy vì chúng có màu bạch kim nhưng sờ vào rất nhám và cứng. Tôi càng thích bà hơn vì bà rất thông minh.

Quê cười. Gã này sành tâm lý lắm. Với đàn bà xấu thì phải khen thông minh. Đàn bà Á châu dễ bị dụ dỗ vì họ đói khát lời khen từ những ông chồng gia trưởng và nghiêm khắc. Chỉ cần vài lời khen là lòng họ trở nên mềm như tơ. Khi hắn định hôn chị thì bất ngờ hai cái răng cửa của chị rơi ra. Hai cái răng lung lay chọn đúng lúc này để tự giải thoát. Quê bụm miệng chạy ra khỏi cửa vấp ngã và tỉnh giấc. Giá mà có đèn sáng Quê sẽ ghi lại giấc mơ ngắn ngủi với gã hàng xóm rồi gởi lên trang mạng Gió O.  Quê có thể vẽ vời cho câu chuyện thêm phần lâm ly nhưng chị lại lo sợ. Nhỡ chồng chị tưởng là chuyện có thật đâm ra nghi ngờ ghen tuông với gã hàng xóm thì khổ. Văn ba xu chỉ tổ làm xấu hổ chồng con. Đàn bà có chồng thì chẳng nên dấn bước vào thế giới văn chương.

Hơi ấm của rượu và lò sưởi làm chị thấy dễ chịu. Quê tiếp tục ngủ và lần này nhẹ nhàng bước vào một giấc mơ rất đẹp. Quê bước trên mây bềnh bồng, chung quanh chị là những dải lụa màu sắc rực rỡ bay trong gió. Nắng chiếu trên rừng hoa quì, bên dưới nhìn qua khe hở của mây là đồng cỏ xanh non. Tiếng gió du dương như tiếng vĩ cầm. Chị thấy Lénine đang đẩy cái wagon be bé chở củi sang nhà chị. Con dốc cao quá, hắn ta phải còng lưng đẩy cái wagon theo đường zig-zag. Quê bơi trong gió, lướt mây như cánh chim. Chị nghe âm vang một bài hát xa xưa “và những lạnh ấm riêng của mình đời người ai cũng có. Hãy cho nhau tình yêu. Hãy thương nhau thật nhiều.”

Lần đầu tiên dùng lò sưởi, Quê không biết là chị cần phải kéo cái cần đẩy bên dưới ống khói để khói trong lò sưởi theo ống khói thoát ra ngoài. Trong bóng tối chị không để ý trên bao than có dấu hiệu cái đầu lâu nằm dưới hai gạch tréo màu đỏ và lời cảnh cáo in đậm KHÔNG ĐƯỢC ĐỐT THAN TRONG NHÀ. RẤT NGUY HIỂM. CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI. Quê ấm áp bay hoài trong giấc mơ.

Lời tác giả: Cơn bão Sandy có thật nhưng những chi tiết xảy ra trong truyện phần lớn là tưởng tượng hay phóng đại.

Nguyễn thị Hải Hà

Mặc cảm bị trị – Bùi Bảo Trúc

Mới đây, tại buổi sinh hoạt của hội cựu nữ sinh một trường trung học nọ, tôi được xếp cho ngồi cạnh hai cựu giáo sư của trường. Ðang sung sướng và hân hạnh được gặp hai nhà giáo khả kính, ôn lại một số chuyện cũ của thời đi học, thì niềm vui của tôi bị cắt đứt ngang. Một phụ nữ mà tôi nghĩ là một cựu nữ sinh của trường đến tận nơi, yêu cầu hai vị giáo sư này chuyển xuống ngồi ở một hàng ghế dưới để dành các ghế hàng đầu cho những người khách khác chưa tới. Tuy không biết những người khách chưa tới là ai nhưng tôi chắc không phải là ông bà Obama. Dẫu thế, tôi vẫn thấy rất khó chịu. Hai vị cựu giáo sư này không tự ý chiếm lấy hai chỗ của hàng ghế đầu. Cả hai được một cựu nữ sinh khác dẫn đến tận nơi mời ngồi xuống ghế, để rồi mấy phút sau, hai cụ bị bà cựu nữ sinh yêu cầu đổi xuống hàng ghế dưới, nhường chỗ cho người khác. Tôi bị cản ngay lúc ấy nên đã không nói được vài ba lời phải quấy với người đàn bà ấy. Mãi sau buổi lễ, tại một tiệm ăn, khi ngồi ăn với một số bạn bè, tôi mới nói lên được (thẳng vào mặt của bà ta) việc làm sai quấy của bà ta, việc làm mà tôi chắc chắn bất cứ ai nghe qua cũng thấy rất khó chịu.Trước hết, hai vị cựu giáo sư đã không tự ý ngồi xuống ở hàng ghế đầu, mà hai cụ đều đã được ban tổ chức đưa tới tận nơi. Nếu có lầm lẫn trong việc xếp chỗ (đưa hai cụ lên ngồi hàng ghế đầu) thì việc yêu cầu hai cụ đổi chỗ cũng đã là việc rất không nên. Ðằng này, hai cụ rất xứng đáng được mời ngồi ở hàng ghế đầu. Hai cụ đều là những người có tuổi. Ðã chắc gì những người khách chưa tới đó đáng được nể trọng hơn hai cụ về tuổi tác?

Hai cụ không thể bị đối xử như vậy. Hai cụ phải được dành cho những cách đối xử trân trọng hơn những người khách chưa tới. Giản dị là vì hai cụ đều là những người từng dậy ở cái trường có tổ chức cựu nữ sinh ấy.

Sau ít phút thì những người khách mời được dành cho hàng ghế đầu cũng lục đục kéo tới. Buổi lễ bắt đầu sau đó, và những người khách đó liền cười nói trò chuyện với nhau thoải mái bất kể nỗ lực thông dịch sang tiếng Anh của ban tổ chức. Tôi nhìn sang thì thấy mấy khuôn mặt đã gặp vài ba lần ở mấy buổi sinh hoạt khác. Họ là những đại diện của mấy khu vực thuộc địa phương, chứ chưa phải là cỡ tiểu bang, và lại càng không phải là cấp liên bang. Những người ấy, có người tuổi tác có thể chưa bằng con cái của hai vị cựu giáo sư. Những đóng góp của họ cho ngôi trường trung học cũ ở Việt Nam phải nói ngay là không có gì. Vậy mà họ được dành cho cách đối xử trịnh trọng hơn là cách đối xử mà người cựu nữ sinh kia dành cho hai cựu giáo sư. Bậy hết chỗ nói.

Kế đến, những người này được mời lên nói dăm ba câu và tặng cho hội cựu nữ sinh mấy tấm bằng khen (tiền chế) mà bất cứ một tổ chức nào mời họ đến, họ đều in ra để tặng cho có lệ. Có một tấm tưởng lục tặng cho hội thì in sai cả tên trường, thành trường TRUONG VUONG. Làm việc như thế thì họ coi ngôi trường của hội có ra cái gì đâu, mà họ lại vẫn được trọng vọng hơn là hai cụ giáo cũ của trường? Một phụ nữ dân cử khác thì trọ trẹ vài câu tiếng Việt đánh dấu sai bét, đọc sai lên sai xuống rồi quay ra cười ngặt nghẽo mãi. Hai người phụ nữ được mời lên sân khấu thì phục sức như vừa đi chợ về. Ðôi ba câu hát biểu không sửa soạn trước cùng với lối ăn mặc như vừa kể có phải là thái độ trân trọng đối với ngày hội của trường và cần được đối xử tử tế hơn là cách đối xử dành cho hai cựu giáo sư của trường không?

Tất cả, sau khi xuất hiện cho có lệ thì bỏ về ngay, trong khi đó, hai cô giáo cũ của trường thì ngồi lại đến tận phút chót và lại còn có quà bằng hiện kim không nhỏ cho quĩ hoạt động của trường. Trong khi đó, quà của những ông bà dân cử cho hội chỉ là mấy tờ tưởng lục gọi là ghi nhận việc làm của hội. Rồi liền tất tả biến ngay.

Như vậy, ai là người nên được đối xử tử tế hơn trong dịp này?

Nên nhớ những người đại diện đó cần chúng ta hơn là chúng ta cần họ. Họ cần phiếu của chúng ta. Nếu chúng ta không đi bầu, không bỏ phiếu cho họ thì họ không thể ngồi vào được những chiếc ghế dân cử đó. Bởi thế, không cần dành cho họ những đối xử đặc biệt nào, nhất là không được coi họ cao hơn là những cựu giáo sư của trường.

Thỉnh thoảng đi ngoài đường tôi nhìn thấy những chiếc bumper sticker dán trên cản của những chiếc xe chạy trên đường. Người hút thuốc, chống lại những luật chống hút thuốc thì khẳng định: I SMOKE AND I VOTE. Người chống phá thai thì I AM PRO LIFE AND I VOTE, người ủng hộ quyền sở hữu súng thì I HAVE GUNS AND I VOTE…

Tất cả những cái bumper sticker đó, tuy nghe thì hài hước, nhưng lại chính là những lời hăm dọa nhắm vào các ứng cử viên: chúng tôi có lá phiếu nên các ông các bà phải biết điều với chúng tôi…

Như vậy thì ai cần ai?

Họ mới là người cần và đến với chúng ta là vì họ cần lá phiếu của chúng ta. Nhưng chúng ta thì đã có thời, thời tuổi trẻ đi học của chúng ta, chúng ta đã rất cần các thầy cô của chúng ta. Vậy thì có cần phải quá nịnh bợ những người ấy một cách không cần thiết và quay sang vô lễ với các cựu giáo sư có tuổi của mình như cô cựu nữ sinh kia không?

Tôi nghĩ là không.

Nếu cần phải yêu cầu dời chỗ thì chính tôi mới là người mà bà cựu nữ sinh kia phải chiếu cố. Chứ đuổi hai cô giáo cũ của trường đi ngồi chỗ khác thì vừa bậy vừa hỗn. Không thể tha được.

Không tự chuyển hóa là phản bội dân tộc—Ngô Nhân Dụng

Cái đảng Cộng sản chắc phải “đốn” lắm rồi. Hết hội nghị này tới hội nghị khác hô hào chỉnh đốn Đảng, rồi lại hô to hơn, phải tăng cường chỉnh đốn Đảng. Ông Nguyễn Phú Trọng lại mới họp một hội nghị cán bộ toàn quốc dạy dỗ cán bộ về tăng cường chỉnh đốn Đảng!

Đốn là đứa nào mà phải chỉnh đi chỉnh lại hoài như vậy? Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, giải thích chữ Chỉnh đốn : “sự gì, cái gì đã tán loạn lâu rồi mà lại sửa sang lại cho được như cũ gọi là chỉnh đốn.” Nguyễn Phú Trọng đang lo chỉnh đốn Đảng bởi vì cái đảng của ông ta “đã tán loạn lâu rồi!” Và ông muốn sửa sang nó “cho được như cũ.”

Cảnh toán loạn trong đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra từ mấy chục năm nay rồi nhưng đến đời Nguyễn Phú Trọng đã bùng nổ mạnh. Nguyễn An Dân đã mô tả cảnh tán loạn qua mấy chữ: Đảng bắn nhau; Đảng bắn Dân; Dân bắn lại Đảng!

Một vụ Dân bắn lại Đảng xẩy ra năm 2013, một “dân oan” là Đặng Ngọc Viết mặc quần áo nghiêm chỉnh, tay sách chiếc cặp đen thong dong vào trụ sở hành chánh thị xã Thái Bình bắn chết bốn cán bộ Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố: Vũ Ngọc Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm; và Bùi Đức Xuân, Vũ Công Cương và Nguyễn Thanh Dương. Giết người xong Đặng Ngọc Viết ra về, đến chiều tới cổng chùa Dục Dương bên cạnh nhà tự sát. Các nạn nhân là những người đang thi hành “dự án mở đường” qua khu vực đất nhà anh Viết, và gia đình anh không được bồi thường xứng đáng.

Vụ Đảng bắn nhau diễn ra tại Yên Bái năm nay. Đỗ Cường Minh, trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, vào trụ sở thành phố bắn chết hai quan đầu tỉnh, bí thư Tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch tỉnh kiêm Trưởng ban Tổ chức Ngô Ngọc Tuấn. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bay lên ngay coi xác rồi hứa điều tra. Phó thủ tướng Trương Hòa Bình gửi công văn chỉ đạo cơ quan công an khởi tố, điều tra, xác định nguyên nhân vụ. Bốn tháng hơn rồi, không còn nghe nói gì nữa.

Cảnh toán loạn gần đây nhất là vào tháng Chín, 2016 với những cuộc tháo chạy của những Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đình Duy, Lê Chung Dũng, tất cả đều liên can tới các công ty dầu khí, những cái ổ chứa đầy tiền; Thanh còn từng giữ chức phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang. Cả ba người này đều đang bị nghi ngờ tham nhũng, bị điều tra hoặc bị truy tố, nhưng đều bình yên cao chạy xa bay! Tán loạn bên trong và bên ngoài đảng! Nguyễn Phú Trọng đang cầm đầu đảng, mà đảng thì được hiến pháp xác định toàn quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội” không làm được gì cả, chỉ còn sử dụng món “võ mồm!”

Nguyễn Phú Trọng đến nói chuyện với các cử tri của mình tại Đông Anh, Hà Nội, quê hương của cả ông Trọng và Trịnh Xuân Thanh. Ông dõng dạc tuyên bố: “Đã ra lệnh truy nã quốc tế với Trịnh Xuân Thanh và đang phối hợp với các nước bắt bằng được.”Nhà báo tự do Người Buôn Gió kể chuyện trên rồi nhận xét: “Trọng bày tỏ sự cay cú, hằn học với Trịnh Xuân Thanh một cách trẻ con.” Trong lúc đó Trịnh Xuân Thanh vẫn liên lạc với bạn ở Việt Nam, còn kể chuyện mình đang ở nước Đức như thế nào để đưa lên mạng, chẳng thấy lệnh truy nã quốc tế nào hết! Người Buôn Gió kết luận rằng Trọng chỉ “phát biểu mị dân cho mình đỡ nhục vì không làm gì được Trịnh Xuân Thanh cả!”

Nhà báo Huy Đức cho rằng bản danh sách những người trong ngành Dầu Khí “có khả năng chạy trốn lên tới 192 nhân vật!” Quả thật là tán loạn! Trọng “loay hoay với những kẻ đã cao chạy xa bay” không bắt được, bèn quay ra ra lệnh cách chức mấy quan chức đã nghỉ hưu rồi, không còn chức nào để cách nữa!

Một đảng viên là Giáo sư Trần Đình Sử, được tiếng là thận trọng, cũng phải buông lời phê phán: “chế độ ta đạt đến sự thối nát nhất trong các chế độ đã có và hiện có… Thật khủng khiếp!”

Bất lực trước những cảnh tán loạn đó, Nguyễn Phú Trọng quay ra “Chỉnh đốn Đảng!” Trọng đã từng hô hào chống tham nhũng để chỉnh đốn đảng. Ông Nguyễn Đăng Quang, cựu Đại tá Công an hiện nghỉ hưu ở Hà Nội nhận xét: “lãnh đạo Đảng càng hô hào chống tham nhũng, càng ra nhiều nghị quyết, chỉ thị chống tham nhũng, thì tham nhũng này lại càng khỏe ra càng mạnh lên!” Và ông kết luận: “đánh tham nhũng chống tham nhũng chẳng qua chỉ là đánh trận giả, bắn chỉ thiên là chính thôi!” Cần giải thích cho các bạn trẻ hiểu nghĩa, bắn chỉ thiên tức là đưa nòng súng ngược lên trời, đạn bắn bay lên trời chứ không trúng ai cả!

Chỉ có thể chống tham nhũng bằng cách bắn chỉ thiên bởi vì chính các quan cộng sản cũng công nhận rằng “đánh tham nhũng tức là ta lại đánh ta!” Hình ảnh bắn chỉ thiên giải thích được tại sao những người bị nghi tham nhũng như quý ông Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đình Duy, Lê Chung Dũng đều thoải mái biến đi không để lại dấu vết!

Ông Nguyễn Phú Trọng vẫn được đàn em tôn xưng là giáo sư. Sau khi bắn chỉ thiên chống tham nhũng, giáo sư Trọng đã quay ra bắn tiếp vào “Tình trạng suy thoái” của đảng, nhắm thẳng vào hai mục tiêu: “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa.” Ông cảnh báo các cán bộ, đảng viên rằng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi.” Đáng lo hơn là chúng “còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.” Việc chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một “cuộc chiến đầy cam go,” nhưng, ông nói, “không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng và chế độ.”

Điều ông Trọng nhấn mạnh là hai hiện tượng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” nguy hiểm cho “vận mệnh của Đảng và chế độ” chứ ông không nói gì tới vận mệnh nước Việt Nam cả. Vận mệnh nước Việt Nam hiện nay là cá chết, biển chết, dân đói, trẻ em thất học, quân giặc xâm lăng đã chiếm biển, chiếm đảo, xây phi trường và căn cứ quân sự đe dọa hai ngàn cây số bờ biển. Nhưng tất cả những tai họa đó không đáng lo bằng sự kiện các đảng viên “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa;” cho nên ông Nguyễn Phú Trọng chẳng cần quan tâm!

Ông Trọng không quan tâm là phải, bởi vì chính những người đảng viên cộng sản tỉnh ngộ khi nhìn ra những sai lầm hại dân hại nước, chính họ đã tự chuyển hóa để đòi thay đổi. Những người đang “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” bây giờ chỉ noi theo các đàn anh đi trước, từ Hoàng Minh Chính, Trần Độ tới Tống Văn Công, đặt vận mệnh dân tộc lên trên vận mệnh Đảng và chế độ! Họ không chấp nhận tiếp tục nhắm mắt, cúi đầu theo đảng cho nên họ mới lên tiếng đòi cho người dân Việt được sống tự do dân chủ, đòi phải cứng rắn đương đầu với kẻ thù xâm lăng cướp nước.

Những người tỉnh ngộ sớm nhìn thấy tai họa của đất nước, không phải chỉ là những tai họa vật chất như đất đai, rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên. Tai họa lớn nhất là một dân tộc sống không có phương hướng. Họ phải tự chuyển hóa để nhìn rõ vấn đề đó. Kỹ thuật truyền thông hiện đại đã giúp nhiều người trao đổi với nhau dù không gặp mặt. Các thông tin và ý kiến truyền từ người này qua người khác, tạo ra những cộng đồng chính trị ảo trong đó các công dân tự ý thức mình có quyền đòi thay đổi. Mọi người trong cộng đồng này biết rằng kỹ thuật thông tin mới sẽ khiến cho các chính quyền, ở bất cứ nước nào, khó nói dối trá, khó ăn cắp của công, và khó giết người, như những cảnh ai bị gọi tới đồn công an một, hai ngày là chết!

Bất cứ người Việt Nam, một đảng viên cộng sản tỉnh táo nào, cũng phải thấy nếu không thay đổi thì quê hương sẽ tiếp tục chìm đắm trong cảnh nghèo thua kém các nước chung quanh, và chủ quyền đất nước mất dần vào tay ngoại bang. Các đảng viên không tự chuyển hóa phải thấy chính mình đang phản bội dân tộc! Một “chế độ thối nát nhất trong các chế độ đã có và hiện có” ở nước Việt Nam và trên mặt trái đất, nếu nó còn tiếp tục cầm quyền thì sẽ đưa đất nước về đâu?

Nhờ phương tiện thông tin mới, những người đã mất niềm tin vào dân tộc, mất niềm tin vào khả năng xây dựng lại quê hương bây giờ đang nuôi lại niềm tin, họ sẵn sàng đứng lên tự mình làm công việc thay đổi. Niềm tin đó có thể lan truyền trong giới thanh niên, giới trí thức, kể cả các đảng viên cộng sản. Nhờ thế, chính các đảng viên cũng sẽ muốn thay đổi. Làm sao họ có thể tiếp tục cúi đầu theo giáo sư Trọng “tiến lên chủ nghĩa xã hội” trong khi chính giáo sư từng nói rằng “Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa!”

Đó là mối đe dọa trên vận mạng của đảng Cộng sản mà ông Nguyễn Phú Trọng muốn chỉnh đốn. Nhưng ông không thể nào bịt mắt, bịt tai tất cả các đảng viên để mình ông độc thoại mãi mãi!

Ngô Nhân Dụng

Tôi đi thăm chồng “cải tạo”—Minh Hòa

Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định…

image1

Tác giả Minh Hòa chụp tại Virginia năm 2012

Tôi quen anh năm 17 tuổi, khi còn cắp sách đến trường. Lúc ấy anh là sinh viên sĩ quan năm thứ ba, hai mươi tuổi đời, nhưng dạo đó trong mắt tôi anh thật chững chạc, lại tài hoa, và cũng không thiếu… si mê.

Anh nhất định đòi cưới tôi ngay sau khi ra trường, nói rằng Thầy Mẹ anh sẽ ưng ý, không thể phản đối. Tôi hình như có hơi ngạc nhiên và hơi… sợ sợ, vì tuổi 18, 19 thời đó còn nhỏ lắm, chẳng biết gì, chỉ biết rằng tôi hình như cũng… yêu anh nhiều lắm. Tôi còn nhớ, tuy còn nhỏ và ngây thơ lắm, nhưng những ngày giữa năm thứ tư của anh, từng đêm tôi đã thổn thức một mình. Cảm giác lúc ấy là chỉ sợ mất anh vào nơi gió cát mịt mù mà biết bao người trai đã ra đi không hẹn ngày về. Và tôi nhất quyết lấy anh, tuy anh làm phiền lòng Ba Má tôi không ít, khi anh dứt khoát từ chối mọi công lao chạy chọt của song thân tôi ngay từ truớc ngày anh tốt nghiệp. Gia đình tôi ngần ngại, nhưng tôi là con gái út, được cưng nhất nhà, vả lại cả nhà ai cũng quý mến anh…

Thế là tôi rời ghế nhà trường năm 19 tuổi, lên xe hoa mà tưởng như đang trong giấc mộng tình yêu thời con gái. Rồi thì giã từ quê huơng Đà lạt yêu dấu, giã từ những kỷ niệm yêu đương trên từng con dốc, từng vạt nắng xuyên cành trong hơi lạnh thân quen, từng hơi thở thì thầm trong ngàn thông thương mến, tôi theo anh về làm dâu gia đình chồng ở Sài Gòn. Tôi chưa hề được chuẩn bị để làm dâu, làm vợ, đầy sợ hãi trong giang sơn nhà chồng, còn chưa biết ứng xử ra sao, nhưng được cha mẹ và các em chồng hết lòng thương mến.

Các chú em chồng nho nhã luôn luôn hoan hô những món ăn tôi nấu nướng.

Tuần trăng mật thật vội vã nhưng vô cùng hạnh phúc, chỉ vỏn vẹn trong thời gian anh nghỉ phép ra trường, rồi trình diện đơn vị mới. Mùng sáu tết Tân Hợi 1971, Sư đòan Dù của anh đi mặt trận Hạ Lào. Hôm ra đi anh vui tưng bừng như con sáo sổ lồng, trong khi tôi thẫn thờ… Anh siết tôi thật chặt, không cho tôi khóc, nói rằng ra đi trong giòng nước mắt vợ hiền là điều xui rủi.

Tôi vội vã gượng cười, để rồi từng đêm thổn thức một mình trong căn phòng lạnh vắng, run rẩy lắng nghe từng tin chiến sự miền xa. .. Thư anh từ mặt trận toàn những điều thương nhớ ngập tràn, pha lẫn những lời như những tràng cười say sưa của người tráng sĩ đang tung mình trên lưng ngựa chiến. Mẹ chồng tôi chẳng vui gì hơn tôi. Hai mẹ con buôn bán xong thường đi lễ chùa, khấn nguyện. Bà cụ bảo tôi “phải khấn cho nó bị thương nhẹ để mà về, chứ vô sự thì lại không được về, vẫn còn bị nguy hiểm”… Tôi càng hoang mang, thảng thốt, quỳ mãi trong khói hương với đầy nước mắt, chẳng khấn được câu nào… Má tôi trên Đà lạt cũng vội lặn lội lên tận cốc xa, thỉnh cho được tượng ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm để chồng tôi về sẽ đeo vào cổ.

IMG_0021s-1971-dalat-400

Tác giả Minh Hòa chụp cùng chồng năm 1971 tại Dalat

Sau trận đầu tiên ở Hạ Lào anh trở về với cánh tay trái treo trước ngực. Tôi run run dội nước tắm cho anh để nước khỏi vào vết thương, mà không giấu được nụ cười đầy sung sướng, pha lẫn… đắc thắng, cảm ơn Trời Phật linh thiêng…

Rồi anh lại ra đi. Tây Ninh, Cam Bốt, cùng những địa danh trong các dòng tin chiến sự mà tôi thuộc nằm lòng. Trảng Bàng, Trảng Lớn, Suông, Chúp, Krek, Đam Be… Anh đi toàn những trận ác liệt một mất một còn với quân thù quái ác. Vừa lành vết thương là lại ra đi. Tôi thành người chinh phụ, thao thức từng đêm, vùi đầu vào gối khóc mùi trong lời khấn nguyện Phật Trời che chở cho sinh mạng chồng tôi. Còn anh, anh cứ đi đi về về trong tiếng cười vui sang sảng, hệt như các bạn chiến đấu trong cùng đơn vị, mà nay tôi vẫn còn nhớ tên gần đủ: các anh Tường, Hương, Trung, Dũng, Sinh, Chiêu, anh Sĩ, anh Tâm, anh Quyền…

Mỗi lần trở về bình an là một lần cả nhà mở hội, và mỗi khi nhận lệnh đi hành quân là một lần tôi thờ thẫn u sầu trong lúc anh hăng hái huýt gió vang vang khúc hát lên đường. Con người ấy không biết sợ hãi là gì, không cần sống chết ra sao, và không hề muốn nghe lời than vãn, chỉ thích nụ cười và những lời thương yêu chiều chuộng. Anh nói không biết tại sao anh có niềm tin kỳ lạ là không có việc hiểm nguy nào hại đựơc thân anh. Tôi chỉ còn biết chiều theo ý chồng, không bao giờ dám hé môi làm anh buồn bực, vì thời gian gần nhau quá ngắn ngủi, tôi chỉ lo cho anh những phút giây hạnh phúc hiếm hoi của người lính chiến, không muốn để anh bận lòng vì những nỗi lo âu. Lấy chồng hơn hai năm sau mà tôi vẫn chưa có cháu, vì anh cứ đi, đi mãi đi hoài, những ngày gần nhau không có mấy.

Rồi mùa hè đỏ lửa nổ ra. Anh nhảy vào An Lộc, lăn lóc đánh dập đánh vùi với địch quân đông gấp bội trong gần ba tháng trời, mất cả liên lạc bưu chính, ở nhà không hề nhận một chữ một lời. Người hạ sĩ quan hậu cứ mỗi tháng ghé lại gia đình thăm hỏi đều phải vẫy tay tươi cười ngay từ đầu ngõ. Anh về được đúng một tuần, thì lại lên đường đi Quảng Trị. .. Rồi anh lại bị thương ở cửa ngõ Cổ thành, trở về trong phòng hồi sinh Tổng y viên Cộng Hòa. Trên đướng tới bệnh viện cùng với gia đình, tôi ngất xỉu trên xe của người anh chồng…

Nhưng rồi anh vẫn đứng dậy, lại khoan khoái cất bước hành quân. Ôi, không biết tôi mang nợ anh từ tận tiền kiếp xa xôi nào, mà tôi yêu thương cái con người chỉ biết miệt mài say mê chiến trận. Tôi chỉ biết ước nguyện của anh là trở thành một tướng Patton của Việt Nam, “Rồi nước mình sẽ phải tự chủ hơn lên, mấy năm nữa phải khác hẳn đi chứ. Nền nếp quân đội sẽ phải thay đổi. Anh sẽ làm Tư lệnh đại đơn vị, để anh điều động liên quân chủng, cả thiết giáp, máy bay, đánh giặc như Patton cho mà coi. Cam bốt, Hạ Lào Trung Thượng Lào ăn nhằm gì… Hà hà” Tôi chỉ ậm ừ vì chẳng hiểu gì, khi anh thì thầm bên tai tôi vào một đêm tôi dần thiếp đi trong đôi cánh của hạnh phúc, một lần anh về phép hành quân…

Sinh cháu gái đầu lòng năm 1973 ở Đà Lạt, anh về thăm mẹ con tôi và trường cũ, xong lại bay đi trấn thủ đường ranh giới ngưng chiến ở vùng Tây Nam Huế…

Tháng tư năm 1975, đơn vị anh đóng quân ở Thủ Đức, chuẩn bị tử chiến với quân thù. Chú em chồng là sĩ quan chuyển vận tàu HQ505. Tàu ghé Sài Gòn để chuẩn bị đi công tác Phú Quốc. Chồng tôi bảo cả gia đình, gồm Thầy Mẹ, các chú và cả mẹ con tôi, xuống tàu đi Phú Quốc lánh nạn chiến sự, rồi khi yên sẽ lại trở về. Tôi tưởng anh cũng định ra đi, nhưng anh quắc mắt nói tại sao anh lại phải bỏ đi lúc quân lính của anh vẫn còn chưa nao núng, “bọn nó làm gì thắng nổi khi cả Sư Đoàn Dù đầy đủ bung ra phản công, cho nó ăn một cái Mậu thân nữa thì mới hết chiến tranh, quân Dù đánh giặc một chấp bốn là thường, còn trận cuối này là xong.” Anh hăng say như sắp xung trận, nhưng rồi anh quay lưng lại, run giọng bảo tôi hãy bế con theo xe của ông anh ra bến tàu. Đến nước đó tôi không còn gì sợ hãi, ôm con nhảy xuống, nhất định đòi ở lại. Vợ chồng sống chêt có nhau…

Ba lần toan vượt thoát từ đầu đến giữa tháng 5 đều thất bại não nề. Anh lên đường đi trại tập trung vào tháng 6, khi tôi đang mang bầu cháu thứ nhì… Bé Dung ưỡn người đòi theo bố. Anh quay lại, vẫy tay cười với mẹ con tôi. Vẫn nụ cười ấy, anh vẫn chẳng nệ âu lo sống chết là gì, nhưng còn mẹ con em, anh ơi??? …

Gia đình nhà chồng tôi thiệt có phước, hầu hết đã theo tàu HQ505 đi Phú Quốc rồi sang Mỹ, kể từ hôm tôi ôm con ở lại với chồng. Gia đình tôi từ Đà lạt chạy về Sài Gòn, sống chen chúc quây quần đùm bọc lẫn nhau. Hàng quán của gia đình chồng tôi bị tịch biên hết. Tôi nhất định giữ chặt ngôi nhà của cha mẹ chồng để lại, đuổi mấy cũng không đi. Chị ruột tôi bỏ dấn vốn ra mua được ngôi nhà khác, vì ông chồng ôm vợ bé chạy mất, nhà cửa xe cộ bị tịch biên hết. Tôi và các anh chị em tôi chạy vạy đủ điều để lo sinh kế, nuôi con thơ cha già mẹ yếu. Chồng tôi mịt mù tăm tích, chỉ có đôi ba lá thư viết về từ trại Long Giao. Lên Long Giao cũng không gặp. Anh bị đưa ra Bắc.

Năm đó tôi tròn 25 tuổi, dung nhan tuy tiều tụy nhưng vẫn khiến nhiều kẻ phải suýt soa dòm ngó. Biết bao người mai mối thì thầm bên tai tôi, thôi hãy lo cuộc đời mới, sĩ quan ngụy đi Bắc chẳng có ngày về… Bao nhiêu nỗi khổ đau dồn nén đôt nhiên bùng nổ. Tôi vùng lên như một con cọp cái: bác thử nghĩ coi cả bọn cả lũ tụi nó đó có đáng xách dép cho chồng tôi không!!! Rồi ba mẹ con tôi ôm nhau khóc vùi trong tủi hận.

Không, không, một ngàn vạn lần không. Quanh tôi chỉ còn toàn rác rưởi. Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định…. Còn gì nữa mà chọn lựa! Thà vậy, đành thôi. Tôi đã là vợ anh, tôi vẫn tôn thờ anh trong tim óc, làm sao khỏi lợm giọng trước bọn người lường lọc, bướm ong, hèn hạ … Chị em tôi buôn bán từ thuốc lá đến bánh cuốn, bánh ướt, bánh mì, thuốc tây, thuốc nam, kiêm luôn cắt chải gội uốn tóc, làm móng tay … nhưng luôn tránh chỗ công quyền và nơi phồn hoa nhan nhản những con mắt hau háu của bọn ăn cướp và bọn trở cờ. Mấy anh chị em tôi đồng lòng, đùm bọc lẫn nhau, nên áo rách nhưng một tấm lòng son tôi vẫn vẹn với câu thề…

Vượt qua được thời gian khó khăn cực khổ nhất lúc ban đầu, sau ba mẹ con tôi được gia đình chồng từ Mỹ chu cấp, tuy không dư dả nhưng cũng đủ gửi quà ba tháng một lần, rồi lại dành dụm cho môt chuyến thăm nuôi….

Anh từ miền cực bắc bị đưa về Thanh Hóa chừng một năm, thì tôi xin được giấy phép đi thăm nuôi. Tôi và chị tôi chạy đôn chạy đáo mua đủ một trăm năm chục ký quà để tôi đem ra Bắc cho chồng. Bà cụ buôn bán quen ngoài chợ lại nhờ đem thêm năm chục ký thăm dùm con trai, vì con dâu cụ đã vượt biên. Cháu Dung đã lên 6, em Long nó 4 tuổi và chưa lần nào thấy được mặt cha. Tôi đem cả hai con đi cho anh gặp đứa con trai.

Xuống ga Thanh Hóa, cả đoàn quân khuân vác vây quanh gọi mời giục giã. Tôi và mấy chị cùng thăm chồng chia nhau giữ chặt hàng hóa không cho ai khiêng vác, rồi tự mình kéo lê kéo lết đi thuê nhà trọ. Có người đã đi về kể rằng cứ sơ ý là bị vác hàng chạy mất. Chúng tôi cũng phải chia nhau ở lại nhà trọ coi chừng hàng và đi chợ. Tôi nhờ một chị mua thêm được ký mỡ, về rang tóp mỡ ngoài sân nhà trọ. Nghe con khóc, tôi vội vã chạy vô nhà. Chưa kịp dỗ con thì nghe tiếng ồn ào. Quay ra, hai kẻ cắp đã bưng chảo tóp mỡ ù té chạy, chị bạn rượt theo không kịp. Tôi khóc thầm tiếc hoài, cứ nghĩ những tóp mỡ kia đáng lẽ đã giúp chồng mình đỡ bao đói khát.

Xe đò đi Thanh Cẩm chật ních những bà thăm chồng. Chúng tôi năm người lớn và hai cháu xuống ngã ba Nam Phát để vô Trại 5. Tôi lê từng bao hàng rồi lại quay lui kéo lê bao khác, chừng hơn nửa cây số mới đến trạm xét giấy tờ vào trại, hai cháu còn quá nhỏ chẳng muốn chúng đụng tay . Cô Út thiệt giỏi, xong phần mình lại xông xáo giúp hết người nọ tới người kia.

Xong giấy tờ, chờ một lát thì một người tù hình sự đánh xe trâu đến. Hàng hóa và hai con tôi được lên xe trâu, tôi và chị Phước, chị Điệp cùng hai mẹ con cô Út lẽo đẽo theo sau. Đường đi xuyên trại xuyên rừng dài tám cây số. Chúng tôi chưa biết lúc trở ra mới càng thê thảm.

Chân tay rã rời, tới chiều tối mới thấy cổng trại 5 Lam Sơn. Đêm xuống bé Dung còn phải phụ tôi gom lá mía cho tôi vội nấu hết gạo thành cơm, nắm lại từng vắt, vì nghe nói công an không cho tù chính trị đem gạo sống vô, sợ các anh âm mưu trốn trại. Đêm chờ sáng để thăm chồng, nhìn hai con thơ ngây ngủ say sưa vì mỏi mệt, tôi rời rã vô cùng nhưng không sao ngủ được. Hằng trăm hình ảnh chồng tôi nhảy múa trong đầu… Chồng của tôi, người lính dù hăng hái húyt sáo mỗi khi nhận lệnh hành quân ấy, nay đã ra sao???

Sáng, đến lượt ra nhà thăm nuôi ngong ngóng chờ chồng, tôi không được phép ra khỏi cửa căn buồng nhỏ xíu, kê một bàn gỗ dài và hai ghế băng dọc hai bên. Đột nhiên một ông lạ hoắc đứng lù lù ngay cửa. Tôi ngỡ ngàng chưa biết điều gì. Cô nữ công an nhìn chòng chọc, hằn học, đợi chờ như con gà chọi sắp tung đòn. Tôi không thể hiểu người con gái Bắc cỡ cùng tuổi tôi kia thù hằn tôi điều gì. Tôi ngó lại, lát sau cô ta coi sổ xong, mới nói đây là anh Đức mà bà cụ nhờ tôi đi thăm dùm. Mất nửa tiếng giao quà và kể chuyện gia đình cho anh Đức nghe, tôi được biết chỉ còn một tiếng rưỡi gặp chồng. Thế là tôi bắt đầu ôm mặt khóc, càng lúc càng nức nở vì tủi cực, không thể nào cầm được. Trên thế giới này có ai phải lặn lội hằng ngàn cây số để chỉ được gặp chồng có một giờ ba mưới phút không hả Trời?!!

Hai cô công an lớn tiếng dọa dẫm, những là phải động viên học tập tốt, không lau sạch nước mắt thì không cho ra thăm… Nhưng kìa, ai như chồng tôi vừa bước ra khỏi cổng trại. Tôi không còn nhớ quy định luật lệ gì nữa, vùng đứng dậy chạy nhào ra như một tia chớp. Hai đứa nhỏ vừa khóc vừa chạy theo. Hai công an nữ bị bất ngờ không cản kịp, đứng nhìn.

Tôi chạy tới ôm anh, và càng khóc dữ, đôi chân khụyu xuống, không còn sức lực. Trời ơi, chồng tôi ốm yếu đến nỗi tôi ôm không trọn một vòng tay. Người anh nhỏ thó hẳn lại, chỉ có đôi mắt sáng với tia nhìn ngay thẳng là vẫn hệt như ngày nào, nhưng nay đượm nét u buồn khiên tôi đứt ruột. Anh vẫn không nói được lời nào, chỉ bặm môi nhìn tôi nhìn con thăm thẳm. Tôi biết anh đang cố trấn tĩnh, vì không muốn rơi nước mắt trước mặt công an. Anh dìu tôi và dắt con trở vào nhà thăm nuôi. Anh nắm chặt tay tôi, đưa vào chiếc ghế băng. Cô công an lạnh lùng chỉ anh bước sang chiếc ghế đối diện, rồi ngồi sừng sững ở đầu bàn, cứ chăm chăm nhìn vào sát tận mặt tôi. Anh khuyên tôi ở nhà ráng nuôi dạy con cho giỏi. Rồi thật nghiêm trang, anh bảo tôi phải đưa con đi vùng kinh tế mới, về tỉnh Mỹ Tho chỗ bác Chánh với chú Cương và cô Huyền đã tự nguyện đi khai hoang rồi, đang chờ vợ chồng mình lên lao động sản xuất. Tôi hơi sững sờ, rồi chợt hiểu, đang khóc lại suýt bật cười hân hoan, khi thấy nét khôi hài tinh anh của chồng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Bác Chánh là tên gọi của Thầy Mẹ chúng tôi, chú Cương và cô Huyền chính là chú Cường, chú em chồng đã đưa cả nhà xuống tàu HQ 505 đi lánh nạn. Cô công an có vẻ rất đắc ý, nhắc tôi:

– Chị phải nói gì động viên anh ý đi chứ.

Anh nhìn mắt tôi, cười thành tiếng. Tôi chợt cười, nhưng lại chợt giận hờn.

Tôi cúi mặt giận dỗi:

– Em không đi đâu hết, em chờ anh về đã rồi muốn đi đâu cũng được …

Tôi lại khóc, hai tay nắm chặt tay anh, chỉ sợ phải xa rời. Cô công an cứ quay nhìn hết người nọ đến người kia, lên tiếng:

– Chị này hay nhỉ! Phải đi kinh tế mới, lao đông tốt thì anh ấy mới chóng được khoan hồng chứ! Trại giáo dục anh ý tiến bộ thế đấy, còn chị thì cứ…. Chỉ được cái khóc là giỏi thôi!!

Anh không nhịn được, lại cười khanh khách và nói:

– Đó em thấy chưa, cán bộ ở đây ai cũng tiến bộ như vậy hết, em phải nghe anh mới được… Em cứ thấy anh bây giờ thì biết chính sách Nhà nước ra sao, cũng đừng lo gì hết, ráng nuôi dạy con cho nên người đàng hoàng đừng học theo cái xấu, nghe…

Tôi dở khóc dở cười, chỉ nắm chặt tay anh mà tấm tức, dỗi hờn. Anh gọi hai con chạy sang ngồi hai bên lòng. Cô nữ công an do dự, rồi để yên, lại tiếp tục nhìn sững vào mặt tôi. Anh ôm hôn hai cháu, nói chuyện với hai cháu. Đôi mắt chúng tôi chẳng nỡ rời nhau. Mắt tôi nhòa lệ mà vẫn đọc được trong mắt anh những lời buồn thương da diết. Tội nghiệp hai con tôi đâu biết chỉ được gần cha trong giây lát nữa thôi.

Tôi như một cái máy, vừa khóc vừa lay lay bàn tay anh, nhắc đi nhắc lại, em sẽ đợi anh về, anh đừng lo nghĩ gì nghe, em sẽ đợi anh về, em nhất định đợi anh mà.. anh về rồi mình cùng đi kinh tế mới… anh ráng giữ gìn sức khỏe cho em và con nghe… Em thề em sẽ đợi anh về…. Em không sao đâu… Anh đừng lo nghĩ, cứ yên tâm giữ gìn sức khỏe nghe, em thề mà, anh nghe…

Tôi chợt thấy chồng tôi nhòa nuớc mắt. Cô công an lúng túng đứng dậy, bỏ ra ngoài nhưng lại trở vào ngay, gõ bàn ra hiệu cho người ở ngoài. Người nữ công an kia chẳng biết núp ở đâu, lập tức xuất hiện, báo hết giờ thăm… Vợ chồng tôi lại ôm chặt nhau ở đầu bàn bên kia ngay trước cửa phòng, bất chấp tiếng gõ bàn thúc giục. Anh nắm chặt hai bàn tay tôi, chỉ nói được một câu:

-Anh sẽ về đưa em và con đi, không thể quá lâu đâu, đừng lo nghe, cám ơn em … đã quyết đợi anh về… Rồi anh nghẹn ngào…

Tôi bị ngăn lại ngay cửa nhà thăm nuôi, cháu Dung chạy ù theo cha, cu Bi nhút nhát đứng ôm chân mẹ cùng khóc . Tôi ôm cây cột gỗ nhìn dáng anh chậm chạp buớc tới hai cánh cổng gỗ to sầm, mà không thể nào ngưng tiếng khóc.

Anh ngoái đầu nhìn lại hoài, bước chân lảo đảo, chiếc xe cút kít một bánh mấy lần chao nghiêng vì hàng quá nặng…

Sáng hôm sau tôi như người mất hồn. Các chị bạn cũng chẳng hơn gì . Mấy chị em và bà bác dắt díu nhau ra, mới biết không được về lối cũ, mà phải đi vòng bên ngoài trại cả gần hai chục cây số nữa để trở lại chỗ ngã ba Nam Phát.

Đường xuyên rừng, rồi lại ra đồng trống, nắng hanh chang chang như muốn quật ngã ba mẹ con tôi. Cu Bi mệt lắm, có lúc ngồi bệt xuống, áo quần mồ hôi ướt nhẹp. Tôi phải đứng giữa nắng đem thân mình che nắng cho hai con, dỗ dành chúng, rồi lại bế cu Bi, lầm lũi bước thấp bước cao. Bà bác và hai chị cùng cô Út cứ phải đi chậm lại chờ mẹ con tôi. Bao nhiêu cơm gạo đã giao cho chồng hết, chúng tôi không còn gì ăn uống. Dọc dường mua được mấy cây mía, tôi róc cho các con ăn cho đỡ đói. Hai đứa không khóc lóc một lời. Bé Dung thiệt ngoan, luôn miệng dỗ em cố gắng. Bụng đói, chân mỏi rã rời trong lúc chiều cứ xuống dần. Đám người lang thang trong những cánh rừng tre nứa âm u, trên miền đất không một chút tình thương. Ai cũng lo sợ, dớn dác nhìn trước ngó sau, tự nhiên túm tụm lại mà đi, càng mệt lại càng như muốn chạy. Tôi bế cu Bi, mỏi tay quá lại xoay ra cõng cháu, vừa mệt vừa đói vừa sợ, lếch thếch vừa đi vừa chạy, không biết sẽ ngã gục lúc nào. Cháu Bi nhìn thấy mẹ mệt quá, đòi tuột xuống, rồi lại hăng hái tiến bước. May sao, đến hơn 6 giờ chiều, trời gần tối hẳn, thì trở lại được ngã ba Nam Phát. Hai công an dắt xe ra đạp về nhà, dặn chúng tôi ở đó đón xe đò ra Thanh Hóa.

Đám người ngồi bệt xuống bên đường. Lâu lắm mới có một xe chất đầy người chạy qua, nhưng đều chạy thẳng, không ngừng. Đã hơn chín giờ đêm. Dáng cô Út cao mảnh rắn chắc đứng vẫy xe in lên nền trời đêm đầy sao như một pho tượng thần Vệ Nữ. Một xe lớn có hai bộ đội chở đầy tre nứa, từ xa chiếu đèn pha sáng lòa trên dáng người con gái đảm đang ấy, từ từ dừng lại. Chúng tôi xúm lại hứa trả thật nhiều tiền, rồi bà bác cùng hai con tôi được lên ngồi ca bin, còn tôi với hai chị và cô Út đẩy kéo nhau leo lên ngồi nghiêng ngả trên tre nứa, tay bám, chân đạp chặt vô thành xe, qua năm tiếng đồng hồ trên con đường đất dằn xóc kinh hồn, nhiều lần tưởng đã văng xuống đất. Hai bộ đội tử tế, không lấy tiền, chỉ ăn hai tô cháo lòng mà chúng tôi mời mãi. Ra đến Thanh hóa là hai giờ sáng. Các chị đi thăm chồng xuống tàu đêm thật đông, thăm hỏi tíu tít, trả lời không kịp. Khi ấy sao mà chị em chúng tôi thương nhau quá sức.

Vé về Nam không có, phải mua vé ra Hà Nội rồi mới đi ngược trở về. Đêm hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ, mấy bà con ra đường đang ngơ ngác thì các chị đằng xa đã đôn đáo vẫy chào, kéo chúng tôi tới chỗ… lề đường, đầy những chiếu với tấm ni lông, nơi tạm trú mà các bà “vợ tù cải tạo” gọi là… Hotel California.

Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Cho nên danh từ thường đi theo với ý nghĩa nào mà người ta hiểu với nhau, không còn giữ được nguyên cái nghĩa mà nó được đặt cho vì mục đích chính trị sâu xa.

Ngủ lề đường nhưng chẳng ai thấy khổ, vì gần nhau thấy ấm hẳn tình người đồng cảnh. Các chị em thì thầm trò chuyện suốt đêm, kẻ thì khóc rấm rứt, người lại cười khúc khích. Tôi vừa ôm con ngủ gật vừa quạt muỗi cho hai cháu, hình ảnh chồng tôi quay cuồng mãi trong đầu, khi anh nói, khi anh cười, lúc anh đầy nước mắt… Sau những nguồn cơn cực nhọc và xúc động mạnh này, về nhà tôi bị thương hàn nhập lý, rụng hết mái tóc dài, gần trọc cả đầu, tôi đã trối trăn cho bà chị nuôi dạy hai cháu, tưởng không còn được thấy mặt chồng tôi lần nữa…

…Chín năm sau, đúng ngày giỗ đầu Ba tôi, anh đột ngột bước vô nhà. Tôi suýt té xỉu vì vui mừng, cứ ôm chặt anh mà… khóc ngất. Anh cười sang sảng:

– Cái chị này chỉ được cái khóc là giỏi thôi, phải động viên cho chồng đi sang Mỹ đi chứ… Hà hà…

Các chị em tôi từ Đà Lạt tất bật xuống thăm. Vừa xong ngày đám giỗ thì cả nhà đã vui như hội. Tất nhiên tôi là người mừng vui nhất….

Hạnh phúc đã trở về trong vòng tay tôi. Tôi sẽ ôm thật chặt lấy nguồn hạnh phúc này, không bao giờ để cho đi đâu xa mất nữa…

Minh Hòa – Virginia

New ways to get more done in Outlook.com-Microsoft Outlook

New ways In Outlook


Using Outlook Web App (Office 15-Minute Webinar)


8 great timesavers in Outlook (Office 15-Minute Webinar)


 

Las Vegas In Infrared-Philip Bloom


 

Đôi Giầy Rách Và Hai Đồng Tiền

Một hôm, một sinh viên trẻ có dịp đi dạo với giáo sư của mình. Vị giáo sư này vẫn thường được các sinh viên gọi thân mật bằng tên “người bạn của sinh viên” vì sự thân thiện và tốt bụng của ông đối với học trò. Trên đường đi, hai người bắt gặp một đôi giày cũ nằm giữa đường. Họ cho rằng đó là đôi giày của một nông dân nghèo làm việc ở một cánh đồng gần bên, có lẽ ông ta đang chuẩn bị kết thúc ngày làm việc của mình.

Cậu sinh viên quay sang nói với vị giáo sư:”Chúng ta hãy thử trêu chọc người nông dân xem sao. Em sẽ giấu giày của ông ta rồi thầy trò mình cùng trốn vào sau những bụi cây kia để xem thái độ ông ta khi không tìm thấy đôi giày thế nào nhé!”.

Vị giáo sư ngăn lại: “Này, anh bạn trẻ, chúng ta đừng bao giờ đem những người nghèo ra để trêu chọc, mua vui cho bản thân. Em là một sinh viên khá giả, em có thể tìm cho mình một niềm vui lớn hơn nhiều nhờ vào người nông dân này đấy. Em hãy đặt một đồng tiền vào mỗi chiếc giày của ông ta và chờ xem phản ứng ông ta ra sao”.

Cậu sinh viên làm như lời vị giáo sư chỉ dẫn, sau đó cả hai cùng trốn vào sau bụi cây gần đó.

hdssc

Chẳng mấy chốc người nông dân đã xong việc và băng qua cánh đồng đến nơi đặt giày và áo khoác của mình. Người nông dân vừa mặc áo khoác vừa xỏ chân vào một chiếc giày thì cảm thấy có vật gì cứng cứng bên trong, ông ta cúi xuống xem đó là vật gì và tìm thấy một đồng tiền.

Sự kinh ngạc bàng hoàng hiện rõ trên gương mặt ông. Ông ta chăm chú nhìn đồng tiền, lật hai mặt đồng tiền qua lại và ngắm nhìn thật kỹ. Rồi ông nhìn khắp xung quanh nhưng chẳng thấy ai.

Lúc bấy giờ ông bỏ đồng tiền vào túi, và tiếp tục xỏ chân vào chiếc giày còn lại. Sự ngạc nhiên của ông dường như được nhân lên gấp bội, khi ông tìm thấy đồng tiền thứ hai bên trong chiếc giày.

Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, người nông dân quì xuống, ngước mặt lên trời và đọc to lời cảm tạ chân thành của mình. Ông bày tỏ sự cảm tạ đối với bàn tay vô hình nhưng hào phóng đã đem lại một mòn quà đúng lúc cứu giúp gia đình ông khỏi cảnh túng quẫn, người vợ bệnh tật không ai chăm sóc và đàn con đang thiếu ăn.

Cậu sinh viên lặng người đi vì xúc động, nước mắt giàn giụa. Vị giáo sư lên tiếng: “Bây giờ em có cảm thấy vui hơn lúc trước nếu như em đem ông ta ra làm trò đùa không?” Người thanh niên trả lời: “Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà em sẽ không bao giờ quên. Đến bây giờ em mới hiểu được ý nghĩa thật sự của câu nói mà trước đây em không hiểu: ‘Cho đi còn hạnh phúc hơn nhận về’“.

Vô Danh

Bóp 10 đầu ngón tay: Tuyệt chiêu trong Đông y bạn nên làm theo

Bóp 10 đầu ngón tay, cách đơn giản chữa được nhiều loại bệnh.

Bóp 10 đầu ngón tay: Tuyệt chiêu trong Đông y bạn nên làm theoBóp 10 đầu ngón tay: Tuyệt chiêu trong Đông y bạn nên làm theo. Ngón tay được xem là “trái tim thứ 2” của con người, nếu chăm sóc tốt các ngón tay theo cách này, nhiều bệnh nan y của bạn có thể sẽ bị tiêu trừ. Hãy thử tập luyện ngay bây giờ.

Chữa nhiều bệnh chỉ bằng cách bóp ngón tay – tuyệt chiêu kỳ diệu trong Đông Y mà bạn nên biết.

Trong xã hội hiện đại, cuộc sống bận rộn bao nhiêu thì thời gian dành cho việc chăm sóc sức khỏe lại càng bó hẹp bấy nhiêu.

Không những thế, nếu chẳng may bị bệnh, đa phần mọi người đều chọn cách đơn giản nhất là dùng thuốc Tây điều trị. Ít người có thời gian quan tâm hay thực hành các phương pháp phòng và chữa bệnh bằng Đông y.

Ở nhiều quốc gia châu Á lân cận chúng ta, người dân có xu hướng thích nghiên cứu và thực hành các phương pháp phòng và chữa bệnh theo cách cổ truyền cha ông xưa để lại càng ngày càng nhiều.

Đặc biệt ở Trung Quốc và Ấn Độ, đất nước có lịch sử phát triển ngành y truyền thống rất đa dạng và phổ biến sâu rộng trong đời sống, truyền từ đời này qua đời khác.

Đây là cách chăm sóc cơ thể được các chuyên gia Đông y khuyên mọi người tập luyện thường xuyên bởi nó không gây tốn kém, không mất nhiều thời gian, thực hiện được ở tất cả mọi nơi và đặc biệt, chữa được nhiều bệnh.

Theo Đông y, ngón tay chính là “trái tim thứ 2” của con người. Việc chăm sóc ngón tay có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sức khỏe. Kiên trì chăm sóc thì sức khỏe của bạn sẽ tốt lên trông thấy.

Dùng ngón tay cái và ngón trỏ cầm lấy một ngón tay của bàn tay bên kia sao cho sát vào phần đầu ngón tay ở hai bên móng tay (xem hình minh họa ở dưới).

Bạn bóp day như vậy trong khoảng 10 giây. Làm lặp lại với từng ngón tay, hoặc ưu tiên ngón nào đó tương ứng với mục tiêu chữa bệnh của từng huyệt vị mà ngón tay đó sở hữu.

Công dụng chữa bệnh cụ thể của từng ngón tay:

1. Ngón cái: Đại diện tương ứng cho khí quản và cơ quan hô hấp. Day ngón trỏ có tác dụng cải thiện hệ hô hấp, giảm ho, giảm đau khớp và một số bệnh lý khác.

Bóp 10 đầu ngón tay: Tuyệt chiêu trong Đông y bạn nên làm theo - Ảnh 1.

2. Ngón trỏ: Đại diện tương ứng cho hệ tiêu hóa. Thực hiện day bấm ngón trỏ giúp cải thiện bệnh viêm đường ruột, đại tràng, dạ dày.

Bóp 10 đầu ngón tay: Tuyệt chiêu trong Đông y bạn nên làm theo - Ảnh 2.

3. Ngón giữa: Đại diện cho tai và thính giác, day bóp ngón giữa giúp cải thiện chứng ù tai, các bệnh lý liên quan đến tai khác.

Bóp 10 đầu ngón tay: Tuyệt chiêu trong Đông y bạn nên làm theo - Ảnh 3.

4. Ngón đeo nhẫn: Đại diện cho cơ quan thần kinh, day bóp có tác dụng kích thích các dây thần kinh giao cảm, cải thiện khả năng miễn dịch.

Bóp 10 đầu ngón tay: Tuyệt chiêu trong Đông y bạn nên làm theo - Ảnh 4.

5. Ngón út: Đại diện tương ứng với các cơ quan thuộc hệ tuần hoàn, tim, thận… có tác dụng chữa các bệnh cao huyết áp, tiểu đường, đau mắt và một số chứng bệnh khác của hệ tuần hoàn.

Bóp 10 đầu ngón tay: Tuyệt chiêu trong Đông y bạn nên làm theo - Ảnh 5.

Lưu ý khi thực hiện:

Bạn cần thực hiện bài tập một cách kiên trì, đều đặn. Mỗi ngày từ 1-2 lần, mỗi ngón tay tối thiểu 10 giây. Nếu cần hỗ trợ trị bệnh hiệu quả hơn thì thực hiện trong 20 giây.

Dùng lực khi day cũng cần phải chính xác. Bạn day bóp từ nhẹ đến nặng, cảm thấy hơi đau thì dừng lại.

Các chuyên gia Đông y cho biết, bài tập này đã được nhiều người thực hành và chia sẻ kinh nghiệm cho những người khác cùng biết vì cách làm đơn giản, hiệu quả có thể nhìn thấy sau 1-2 tháng, cũng có người đỡ bệnh sớm hơn.

Chuyên gia nhấn mạnh, kể cả khi bạn không có bệnh tật gì, cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh thì vẫn có thể thực hiện các bài tập này khi rảnh rỗi để phòng bệnh, tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể.

*Theo Health/SN

 

Nhớ Mẹ & Lưu Đày—Lê Minh Đảo | Asia Entertainment

Nhớ Mẹ


Lưu Đày


Nồi Chè Của Ông Tướng—Khôi An

Năm nay, Fathers Day của nước Mỹ là 19 tháng 6, trùng với Ngày Quân Lực VNCH trước 1975, xin mời đọc bài mới của Khôi An, chuyện ông Tướng mà cũng là chuyện Người Cha. Tác giả từng phải rời bố mẹ vượt biển năm 1983 khi còn tuổi học trò và là một kỹ sư có hơn hai mươi năm làm việc cho Intel tại tại miền Bắc California. Dự Viết Về Nước Mỹ từ 2008, cô đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2013. Sang năm 2015, thêm giải Việt Bút Trùng Quang, dành cho những nỗ lực bảo vệ, phát huy văn hóa Việt trên đất Mỹ.

blankẢnh của Richard Stayner from the Internet: Cần Thơ năm 1972

Không hiểu chị tôi đã nghe tin về ông bằng cách nào.

Thời đó, đầu thập niên tám mươi, mọi phương tiện truyền thông đều thuộc về nhà nước Cộng Sản, quanh năm suốt tháng báo chỉ đăng tin “nước ta đang trong thời kỳ quá độ…” Kiểu dùng chữ như vậy mọi người phải chịu đựng mãi nên đỡ thấy quái đản. Người đọc cứ tự điền vào chỗ trống thành “nghèo quá độ”, “đói quá độ” hay “láo quá độ”… tùy theo câu.

Vậy mà, một buổi tối, đột nhiên chị tôi nói “Em có biết Tướng Lê Minh Đảo không? Ông tướng đánh trận Xuân Lộc đó. Nghe nói ổng mới chết trong tù rồi! Tội quá, ổng còn trẻ lắm!”

Trước ngày miền Nam thất thủ tôi không biết ông Lê Minh Đảo. Sau đó, tôi có nghe loáng thoáng người lớn rỉ tai nhau về trận đánh ác liệt bảo vệ ngõ vào Sài Gòn trong những ngày đầu tháng Tư, 1975 tại Xuân Lộc. Tôi cảm phục những người chiến đấu đến cùng, nhưng điều đó sớm chìm vào những hỗn độn của cuộc đổi đời. Vả lại tôi còn nhỏ quá, chẳng biết nghĩ gì hơn.

Cũng như thế, tối hôm đó, sau khi nghe chị tôi nói, chúng tôi chỉ biết nhìn nhau trong niềm xót thương lặng lẽ.

Một thời gian sau, tôi lại nghe một người bạn nói “Ông Lê Minh Đảo còn sống. Ổng chỉ bị mù thôi.”

Ở trong tù mà bị mù thì chắc còn khổ hơn chết. Tôi thở dài – trẻ con Việt Nam sớm biết thở dài – rồi thầm đọc một lời cầu nguyện. Cho ông và những người tù chính trị đang bị đọa đày.

LMDaoChuẩn Tướng Lê Minh Đảo (1972)

*

 Đến năm 1993, khi đang ở Mỹ, nghe tin Tướng Lê đã sang theo diện HO và mắt vẫn sáng, tôi ngạc nhiên và vui lắm. Mừng cho ông cuối cùng cũng có những ngày bình an sau gần hai thập niên tù ngục.

Nhiều năm sau, khi internet cung cấp mọi tin tức mà ngày trước không dễ kiếm, tôi đã lên mạng tìm xem mặt Tướng Lê và nghe ông nói. Tôi muốn biết về ông. Không phải qua những lời kể, mà bằng cảm nhận của chính tôi.

Và tôi đã gặp được đoạn phim buổi nói chuyện của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo với Việt Dzũng. Buổi phỏng vấn khá dài nhưng tôi nhớ nhất là khi ông nói về sự hy sinh của người lính. Giọng ông hơi lạc đi khi nhắc đến tình bạn của hai người lính trẻ và sự đơn sơ, không hận thù trước bờ sinh tử của họ.

Phút nghẹn ngào của Tướng Lê đã làm tôi bồi hồi. Tôi ngỡ tim ông đã cứng và nước mắt ông đã kiệt sau mấy chục năm ngang dọc trên chiến trường và mười bảy năm trong tù. Tôi ngỡ ông sẽ nói nhiều về những chiến công và những đóng góp của ông trong hai mươi năm gìn giữ miền Nam. Nhưng ông nói về các điều khác, như cái chết của người lính trẻ và sự hy sinh của chiến binh. Hơn hai mươi năm đã qua, ông vẫn tự trách mình, môi ông run run khi nói “…chúng tôi cũng không lo được cho họ một cách đầy đủ…” Có lẽ chưa bao giờ ông ngưng buồn về chuyện đó. Tài làm tướng của ông đã làm tôi phục. Nhưng vết thương mấy chục năm trong lòng ông mà tôi vừa chứng kiến đã làm tôi quý mến ông.

Đầu tháng Tư, 2015 tôi viết lại chuyện của những sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ bốn mươi năm trước. Họ tụ tập tại một chung cư cũ kỹ ở Houston, khắc khoải nhìn về miền Nam đang vuột mất. Người sinh viên năm xưa cứ nhắc đi nhắc lại niềm hy vọng bùng lên khi đám người Việt trẻ theo dõi sự anh dũng của những chiến sĩ Xuân Lộc, dù bị dồn tới chân tường.

Vì thế, tôi tìm xem lại những khúc phim của tháng Tư xưa. Tôi thấy lại khói lửa điêu tàn. Tôi gặp lại các chiến sĩ anh hùng. Và Tướng Lê Minh Đảo, mắt nảy lửa, nghiến răng thề quyết chiến.

Rồi tôi giật mình, nhận ra rằng những người trai dũng mãnh ấy nay đã già, và tôi cũng đang già. Mai này khi chúng tôi ra đi, đàn con gốc Việt còn biết gì về quê cha đất tổ? Phải chăng điều đó tùy thuộc vào những gì chúng tôi làm hôm nay?

Thế hệ trẻ cần nghe những điều thật từ những người thật. Sẽ tốt biết bao nếu họ được gặp gỡ những nhân vật lịch sử như Tướng Lê Minh Đảo.

Thế là tôi lần mò đi tìm Tướng Lê.

Tôi không có mối quen biết xa gần nào với ông, cũng chẳng có chức tước ở bất cứ hội đoàn nào. Vậy mà tôi thấy chuyện mời ông đến vùng Thung Lũng Điện Tử thật tự nhiên, nhẹ nhàng. Có lẽ tôi linh cảm rằng vị tướng, người sau hơn hai mươi năm vẫn khóc cho lính, rất quan tâm tới lớp trẻ.

Sau hai tuần hỏi thăm nhiều người, cuối cùng tôi may mắn có được sự giúp đỡ tận tình của một người chị làm báo. Tôi được một cái hẹn nói chuyện với Tướng Lê. Mười giờ sáng, một ngày đầu tháng Tư, 2015.

Gần tới giờ hẹn, tôi thấy hơi hồi hộp. Thật tình tôi sẽ buồn chút thôi nếu Tướng Lê từ chối sang California nói chuyện. Nhưng tôi sẽ buồn nhiều nếu thực tế quá khác với những cảm nghĩ ở trong lòng.

*

Ông đến San Jose chiều 27 tháng Tư, 2015 trên chuyến bay từ Arizona. Từ xa, tôi thấy ông trong chiếc áo sơ mi kiểu Hawaii màu vàng nhạt có hoa xám, đang dáo dác nhìn quanh.

“Thưa Bác! Con là Kh.A.”

Ông cười. Chúng tôi bắt tay nhau. Giản dị như đã quen từ trước.

Ông cho biết đã lên máy bay ngay sau khi dự buổi lễ kỷ niệm bốn mươi năm miền Nam bị cưỡng chiếm với cộng đồng Việt-Mỹ ở Pheonix, Arizona. Tôi hỏi ông có mệt không, ông nói “Không sao đâu. Bác giờ như một kho sách cũ, chỉ lo không đủ giờ để trao lại kiến thức cho những người đi sau…”

Tối hôm đó, chúng tôi mời ông ghé chơi nhà một người bạn. Khi bước vào nhà, trên salon có một cây đàn guitar kiểu mới, chỉ có khung sắt mà không có thùng đàn. Tôi thấy mắt ông ngời lên một sự thích thú gần như trẻ thơ. Ông bước nhanh tới, nâng cây đàn lạ mắt, vuốt nhẹ lên những sợi dây.

Khi chúng tôi mời ông đánh một bài, ông xòe bàn tay ra nhìn, cười nhẹ rồi nói:

– Ở tù bị thương, hư tay rồi. Giờ lại già nữa, đánh kém lắm.

Chúng tôi không nài ép, chỉ lẳng lặng nhìn ông vừa nói chuyện vừa lơ đãng lướt tay trên cần đàn. Một lúc sau, như hứng khởi, ông hát

“Trùng dương dâng sóng, biển khơi như thét gào. Cuốn đi cánh hoa đào dạt trôi nơi nao… “

Bài hát đó ông sáng tác trong tù, ngày nghe tin người bạn cùng trại mất hết vợ con trên đường vượt biển.

“Còn sống tôi còn khóc, tôi còn thương quê hương tôi …”(*)

Giọng ông nhẹ và buồn. Tôi nghe, và nghĩ rằng ông đang nói những điều tận đáy lòng.

*

Sáng 29 tháng Tư, Tướng Lê bắt tay vào chuẩn bị cho buổi nói chuyện ngay sau ly cà phê sớm. Ông sắp xếp ý nghĩ, soạn phần trả lời cho các câu hỏi các sinh viên đã gởi đến, và ghi xuống một loạt các quyển sách nói về chiến tranh Việt Nam để giới thiệu đến các sinh viên.

Mãi tới giờ ăn trưa tôi mới có dịp nói chuyện với ông. Vì có quá nhiều điều muốn hỏi, tôi buột miệng:

– Bác ơi, có bao giờ Bác hối hận đã làm cho các con Bác kẹt lại với Cộng Sản sau ngày mất miền Nam không? Các con Bác có bao giờ trách Bác không?

Nói xong, tôi hơi bối rối vì đã hỏi một câu khá nặng nề trong lúc ông đang nghỉ ngơi. Nhưng ông trả lời ngay:

– Đó là một quyết định rất đau lòng, nhưng Bác chưa bao giờ hối hận. Bác ra lệnh cho anh em binh sĩ quyết đánh, gia đình của họ đều ở lại, có lẽ nào Bác lo cho con Bác ra đi? Bác có thể thu xếp cho gia đình mình, nhưng làm sao thu xếp được cho mọi gia đình của những người đang tin vào Bác? Nếu Bác cho vợ con đi trước, lính của Bác biết là giờ chót Bác có thể lên máy bay đi bất cứ lúc nào. Như vậy họ còn tin tưởng để đánh hay không? Như vậy Bác có công bằng với họ hay không? Bác chấp nhận định mệnh của Bác và gia đình, nếu có phải chết thì chết cùng nhau. Bác muốn đối xử công bằng để sau này con bác không phải xấu hổ với con em của những người từng nghe lời Bác mà liều chết. Bác muốn con bác sau này không phải nhìn Bác mà nghĩ ông già mình ngày xưa từng gạt lính.

Trầm ngâm vài giây, rồi ông tiếp:

– Năm 1979, lúc Bác đang bị Cộng Sản đày đọa, nghe tin gia đình đi thoát hết sau năm lần vượt biên bị tù, Bác trút được gánh nặng khủng khiếp trong lòng. Bác tạ ơn trời đã cho Bác ân huệ được lương tâm yên ổn, được trọn vẹn mọi bề. Từ đó, Bác không còn phải lo lắng, đau khổ cho số phận của vợ con trong nanh vuốt của kẻ thù nữa. Bác không sợ kẻ thù dùng các con thơ để khống chế mình nữa. Bác được tự do.

Còn các con Bác, tụi nó cũng hiểu và không trách Bác. Trong bốn năm kẹt lại, tụi nó đã học được rất nhiều. Những kinh nghiệm sống đó làm cho chúng biết thương người, biết khiêm nhường, biết quý những điều tưởng như là tầm thường. Các con của Bác có thể tự hào rằng mình đã hiểu biết về Cộng Sản và đã vượt thoát khỏi ngục tù của họ. Đó là một tài sản mà Bác nghĩ các con Bác nên hãnh diện đã có được.

Tôi uống một ngụm trà, nuốt xuống cái nghèn nghẹn ở cổ. Tôi nghĩ, trước khi tử chiến ở Xuân Lộc, nếu ông lo cho gia đình đi thì đó cũng là chuyện thường tình. Không ai trách được ông. Nhưng Tướng Lê không phải là người làm những chuyện thường tình…

Thời vừa bị chiếm, mạng sống của người miền Nam rất nhỏ, thêm dịch bệnh hoành hành làm trẻ con chết rất nhiều. Nếu chỉ một trong chín người con ông có mệnh hệ nào, nỗi dằn vặt sẽ ám ảnh ông suốt đời. Nhưng Thượng Đế đã gìn giữ gia đình ông vẹn toàn. Cám ơn Thượng Đế, Tướng Lê cần và xứng đáng với ơn huệ của ngài.

Hôm sau, ngày 30 tháng 4, 2015, ông và người thông dịch miệt mài chuẩn bị cho buổi nói chuyện lúc 6 giờ chiều. Trưa đến, tôi nhắc ông đi ăn nhưng ông dùng dằng mãi vẫn chưa đứng lên được. Thấy vậy tôi đành khuân về mấy ổ bánh mì thịt nguội. Ông gặm bánh mì, uống beer và cười nói vui vẻ, hài lòng vì buổi nói chuyện được chuẩn bị chu đáo.

Cuôc gặp gỡ với sinh viên diễn ra thành công và cảm động. Tướng Lê đã nhắn nhủ lớp trẻ bằng những điều ông đúc kết suốt nửa cuộc đời trong chiến tranh cộng với mười bảy năm trong tù ngục. Những chia sẻ của ông thiết tha, sâu sắc nhưng cũng rất thực tế, phù hợp với tâm hồn và đời sống của giới trẻ.

Buổi họp kết thúc khá trễ nên chúng tôi chỉ ghé tiệm kem ăn tráng miệng rồi về.

Mãi đến đêm, tôi mới chợt nhận ra rằng bữa ăn “đàng hoàng” nhất của Tướng Lê ngày hôm đó là ổ bánh mì. Vì ông đã không đụng đến đĩa thức ăn do các em sinh viên mời lúc chiều, ông nói muốn tập trung để nói chuyện với các em.

*

“Con gián làm mồi câu tốt lắm, con à.”

Buổi chuyện trò của tôi và Tướng Lê ngày hôm sau bắt đầu bằng câu chuyện đời thường như thế. Ông kể thời ông ở Cần Thơ, ông thường bắt gián ở đằng sau một tiệm ăn ở gần nhà rồi đem ra bến Ninh Kiều câu cá.

Biết rằng lúc đó ông đã lên tới cấp Tá, tôi hỏi:

– Chắc Bác câu cá cho vui hả Bác?

– Câu cá về ăn chớ! Nhà Bác đông con, lương của Bác thì khá so với lính, nhưng chẳng dư dả gì đâu, con. Lính mình hồi đó cực lắm con à, một tháng lương mua được một tạ gạo. Còn lương Bác cũng chỉ tạm đủ lo cho vợ con.

Hoàn cảnh lính và những hy sinh của gia đình lính thì không nói sao cho xiết, con à. Gần một triệu người đã chết và bị thương trong cuộc chiến, còn số người chịu mất mát sau lưng họ thì không biết đếm bằng cách nào! Bác cứ nghĩ con người ta ai cũng bằng xương bằng thịt, nếu Bác chết trận, mười người trong gia đình Bác đau đớn bao nhiêu thì những cái chết trong gia đình lính cũng đau bấy nhiêu. Hồi ở Chương Thiện, có một người lính đi phục kích, vợ con bị địch câu pháo trúng vô nhà, chết hết. Anh ta về, ngồi gục mặt trước đống gạch nát, Bác đứng đó mà chỉ biết đặt tay lên vai anh ta, không tìm được lời nào an ủi. Vậy mà hai bữa sau, anh ta trở lại đơn vị, tiếp tục đánh giặc…

Cái nhíu mày của ông làm tôi nghĩ ruột ông đang thắt lại, nên tôi chuyển qua đề tài khác:

– Thời Bác ở trong quân đội, di chuyển nhiều nơi, cả nhà đều đi theo hả Bác?

Nụ cười nhẹ làm những vết nhăn trên trán ông dãn ra.

– Ờ! Bác bận rộn quá nên đi đâu Bác cũng cố gắng đem gia đình theo để được ở gần càng nhiều càng tốt. Khi nào có dịp nghỉ, Bác dắt vợ con đi chơi. Nhưng sau này, Bác ở đóng quân ở Long Bình thì tụi nhỏ đi học ở Sài Gòn, cuối tuần nếu Bác không đi hành quân thì mới được gặp. Có một lần Bác dắt tụi nhỏ đi coi chiếu bóng về, tụi nó than đói bụng. Ở tỉnh lỵ đâu có hàng quán ban đêm, Bác lại không muốn sai lính nên tự nấu chè cho tụi nó ăn. Nấu nước sôi, đập vô một củ gừng, quậy đường cát, rồi xé bánh tráng bỏ vô. Bánh tráng mà mình hay ăn đồ cuốn đó. Bánh tráng coi mặn mặn vậy mà nấu chè ngon lắm! Bữa nào con làm thử đi!

Ông vừa nói vừa gật đầu để thêm phần… thuyết phục. Tôi tròn mắt nhìn ông. Chỉ là một kỷ niệm vui, không màu mè, bóng bẩy, nhưng ông làm tôi cảm động lẫn ngạc nhiên. Một vị Tư Lệnh tự nấu chè cho con ăn khuya? Nồi chè mà tôi không cần thử cũng biết là không thể ngon. Nhưng nó làm tôi thương người cha ở trong ông, và tự hào vì quân lực VNCH đã có một vị chỉ huy như ông. Ôi, nồi chè của ông Tướng!

Càng nói chuyện với ông, tôi càng thấy ông rất “không thuờng tình”. Ông không dè dặt, thận trọng như thường thấy ở những người từng chứng kiến nhiều mưu mô, tráo trở. Ông không có cái trầm ngâm, chán chường của một người nếm quá nhiều đau thương. Ông nhiệt tình, hăng hái, và thật. Như thể cuộc đời ông chưa từng bị dập vùi, như thể ông còn rất trẻ và còn tin tưởng rất nhiều vào con người.

Và, ông hoàn toàn không có cái xa cách của người xem mình là quan trọng. Vì thế, tôi đã hỏi ông một câu mà trước khi gặp ông tôi không nghĩ là mình dám hỏi:

– Bác ơi, ngày 30 tháng Tư 1975, sau khi miền Nam thất thủ, Bác có bao giờ nghĩ đến chuyện tự sát hay không?

– Lúc đó, mỗi người có một quyết định riêng, không ai đúng ai sai. Riêng Bác, Bác không có ý định tự tử. Các con Bác đã mất quá nhiều, Bác không muốn chúng phải mất cha. Nếu bị giặc Cộng giết, Bác chấp nhận nhưng Bác không tự mình làm điều đó với các con. Hơn nữa, Bác không có cái uất ức, đau khổ của một bại tướng vì Bác chưa bao giờ nghĩ là mình thua. Mình chỉ tạm thời khó khăn vì những thế lực quốc tế đẩy mình tới đó, nhưng Bác muốn sống để xem mọi sự xoay vần tới đâu.

*

Nếu chỉ được dùng một từ để diễn tả Tướng Lê, tôi sẽ chọn “lãng mạn”.

Những quyết định cực kỳ cứng rắn, những hành động hết sức can đảm của ông đều bắt nguồn từ những tình cảm sâu xa. Chỉ có người rất lãng mạn mới đủ tin yêu để làm những điều phi thường như ông đã làm. Ông để vợ con cùng ở lại đương đầu với Cộng quân là vì ông yêu sự “công bằng” mà ông đã nhắc đến mấy lần trong câu trả lời ngắn. Ông tử chiến vì ông hết lòng tin vào sứ mạng gìn giữ miền Nam. Ông không sợ chết vì ông không muốn phụ lòng những người lính đã nằm xuống và những người lính đã dựa vào ông mà đứng lên từ những căn nhà cháy ra tro của họ.

Cống hiến của ông cho đời giống như những viên kim cương, tuyệt sáng và tuyệt cứng. Nhưng chúng đã được hun đúc từ phần lõi là những tình cảm tinh tuyền, và những giọt nước mắt. Sẽ không có kim cương nếu không có phần lõi đó.

Lịch sử Việt Nam có Tướng Phạm Ngũ Lão gạt nước mắt, chia tay mẹ già đi đánh giặc. Có Tướng Trần Khánh Giư bỏ gánh than, từ giã đời ở ẩn để trở về cứu nước. Có biết bao chuyện nhờ dân gian ghi lại mà ngày nay chúng ta được biết.

Cho nên, tôi muốn ghi lại nồi chè bánh tráng của Tướng Lê Minh Đảo. Ghi lại lúc ông chấp nhận để các con ông cùng chung số phận với gia đình lính. Ghi lại lòng thương yêu và quý trọng vô bờ của ông với binh sĩ và vợ con của họ. Về lời ông nói, đùa mà rất thật “nếu trời cho sống đến hơn trăm tuổi, tôi vẫn muốn cống hiến thời giờ và sức lực cho Việt Nam tới phút cuối.”

Năm nay Tướng Lê đã tám mươi ba. Vinh, nhục, yêu, ghét, thăng hoa, đày đọa … ông đều đã trải. Vì thế, tôi viết bài này không phải cho ông. Mà để lưu lại vài mẩu chuyện về Ông Tướng Lãng Mạn cho mai sau. Để góp một chút tin yêu bởi vì làm người Việt Nam rất buồn. Để cho chính tôi nhớ gương của Tướng Lê, lạc quan trong khó khăn và cố gắng làm những điều tốt đẹp nhất trong khả năng của mình, hầu mong mai sau con cháu không phải ngần ngại nhận mình là Việt.

Khôi An

(*) Lưu Đày – Nhạc và lời của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo

Bài dịch tiếng Anh “Tướng Lê Minh Đảo tại Đại Học Stanford” và những câu trả lời sinh viên trên trang của SVSA (Stanford Vietnamese Student Assocication):
http://svsa.stanford.edu/blackapril.html#leminhdao

Tại Sao Người Ta Khom Lưng?—Ngô Nhân Dụng

Sau khi Tổng Thống Mỹ Barack Obama rời Việt Nam, trên mạng Internet có người đem hai bức hình ra so sánh. Bức hình thứ nhất chụp ngày 25 Tháng Năm, một ông “quan nhỏ bước ra khỏi xe hơi, trong lúc mặt đường ngập lụt. Một anh quân hầu vội vác chiếc ghế tới cửa xe cho quan bước lên, rồi một anh khác khom lưng cõng ông vào bậc thềm, cách cửa xe hai mét. Bức hình thứ hai chụp trước đó, cảnh ông Obama đang ở Việt Nam, tay cầm dù che cho hai nhân viên cùng bước với mình sau khi xuống máy bay gặp trận mưa lớn.

1-(Copy)-2f8a2

Đột nhiên trời trở mưa, cảnh Tổng Thống Mỹ che dù cho nhân viên

 

photo-2-1464181164630

Đường xá ngập lụt, cảnh “quân hầu cõng quan” dưới chế độ Việt Cộng

Một công dân mạng bình phẩm: “Không cần phải nói nhiều, hai tấm hình này cũng đủ nói lên bản chất của hai chế độ.”

Không sống dưới chế độ độc tài thì không thể hiểu tại sao anh quân hầu lại sẵn sàng khom lưng cõng ông “quan nhà báo.” Tại sao ông quan làm báo lại sẵn sàng cưỡi lên lưng người ta để bảo vệ đôi giầy của mình? Tại sao người ta cư xử với nhau với những phản ứng tự nhiên như vậy? Ðây chắc phải là một cảnh bình thường, trong đời sống hàng ngày. Cậu lính hầu thấy quan đang lo sợ ướt giầy, ướt gấu quần, thì đưa lưng ra cõng. Phản ứng tự nhiên, vì xưa nay cậu đã quen hầu các quan rồi. Ông quan thấy có đứa đưa lưng ra cõng thì ung dung cưỡi lên lưng người ta, không thắc mắc gì cả. Sau này ông kể, “sự việc diễn ra khá nhanh, lúc đó tôi cũng không nghĩ gì…” Ðúng ra, việc diễn ra nhanh hay chậm thì chắc ông cũng không thấy cần phải nghĩ gì cả. Ông cử động theo thói quen hàng ngay. Dù sao ông cũng biết xấu hổ khi bức hình lan truyền trên mạng, nên tìm cách giải thích, rằng vì ông già cả nên được anh quân hầu trẻ tuổi cõng. Chưa đầy 60 tuổi đã thấy mình già, nhưng nếu ông không quyền, không chức, thì có anh chị nào xin cõng hay không?

Chúng ta không cần nêu danh tính, in chân dung của ông quan và anh quân hầu trong câu chuyện này. Vì thực ra họ đều “ngay tình,” chỉ “phản ứng tự nhiên.” Họ không suy nghĩ gì khi khom lưng xuống hoặc cưỡi lên lưng đồng loại. Họ không cảm thấy hành động của mình có ý nghĩa nào về đạo đức cá nhân hay đạo đức xã hội. Cuộc sống trong chế độ Cộng Sản đã tạo ra kiểu hành vi, thái độ này, người trên thì vênh vang hưởng thụ, thằng dưới thì khúm núm xun xoe. Nền văn minh xã hội chủ nghĩa sản xuất ra các hoạt cảnh bình thường như thế, bởi vì người ta sống như thế từ lâu, đã thành tập quán rồi. Thằng dưới phải khúm núm, sợ hãi thằng trên. Thằng trên coi thằng dưới như “gia nhân, đầy tớ.”

Những chữ “gia nhân, đầy tớ” tôi mới thấy trong cuốn “Lời Ai Ðiếu,” hồi ký của nhà báo Lê Phú Khải, Người Việt xuất bản. Ông Khải đã làm việc nhiều năm cho các đài truyền hình của Cộng Sản. Trong một đoạn, ông thuật lại mấy câu chuyện nghe cô em họ nói; cô đã từng phục vụ các quan Bộ Chính Trị trong các buổi họp. Cô kể rằng, “Khi họp Bộ Chính Trị, Bác Lê Duẩn nói thì các bác Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp cứ cắm đầu xuống mà nghe, không ai dám ngẩng đầu lên, không ai dám nói nửa lời.” Và ông Lê Duẩn, tổng bí thư đảng Cộng Sản, “mắng mỏ người khác như mắng gia nhân, đầy tớ.” Ông Lê Phú Khải lại kể một lần Võ Nguyên Giáp mặc trào phục oai nghi, đi xe hơi có tài xế lái, đến dự một buổi họp quan trọng. Lê Duẩn trông thấy, bảo, “Anh không được dự.” Thế là ông đại tướng quay đầu lủi thủi lên xe ra về.

Cung cách cư xử từ trên đã như vậy, xuống dưới không thay đổi, mức sợ hãi có thể còn tăng cường độ. Bác Sĩ Tôn Thất Tùng được coi là y sĩ có uy tín nhất miền Bắc. Một vị tướng cảnh sát, từng làm thứ trưởng Bộ Công An, đã chứng kiến cảnh ông bác sĩ “quá lo sợ, mồ hôi vã ra như tắm.” Chỉ vì ông phải ra làm chứng trong một vụ nghi án. Hai phe Bộ Công An đánh nhau, bên nói nạn nhân bị giết, các thủ phạm đã bị đưa ra tòa, kết án, còn bên kia cố chứng minh người đó tự tử. Bác Sĩ Tôn Thất Tùng biết rằng nếu phát biểu ý kiến trái với phe công an mạnh thì không biết sự nghiệp và cả cuộc đời của mình sẽ ra sao! Là người ngoài, ông đâu biết phe nào mạnh hơn? Ông Tùng rút khăn trong túi ra lau mồ hôi, rút theo mấy gói bột ngọt, đánh rơi cả xuống đất. Thấy ông Tùng run quá, vị tướng cảnh sát cúi nhặt mấy gói “mì chính,” để lại trong túi cho ông, để ông còn cho vào tô khi đi ăn phở. Ông cho biết, Bác Sĩ Tùng phải thuộc hạng sang lắm (trong chế độ xã hội chủ nghĩa) mới có thứ bột ngọt này cất trong túi. Ông Tùng run, nhưng đủ bình tĩnh, khôn ngoan, không cho ý kiến nào cả. Chắc ông đã quyết định theo kế thoát thân đó trước khi dự buổi thẩm tra, vậy mà vẫn còn sợ, run, toát mồ hôi. Mà Bác Sĩ Tùng không thuộc hàng dân thấp cổ bé họng.

Thói quen sợ hãi người có quyền, có thế đã lan tràn. Xuống dưới nữa thì chúng ta mới thấy, cảnh anh quân hầu khom lưng cõng ông tổng biên tập một tạp chí của hội nhà báo. Làm chức tổng biên tập mà oai quyền đến thế sao? Người sống tự do quen không thể nào hiểu nổi lý do nào khiến con người khom lưng cõng nhau như vậy! Thời tôi sống ở Montréal, Canada, một bữa tôi đến trường đứa con út học, ngồi chờ để gặp các thầy, cô giáo; ngày hôm đó các thầy cô phải tiếp các phụ huynh. Ðang ngồi đọc báo chờ, thấy một người đến ngồi cùng băng ghế, tôi ngẩng lên, rồi vội cười chào. Ông ta lễ phép chào lại. Phụ huynh mới tới đó là Luật Sư Pierre Trudeau, người làm thủ tướng nước Canada mấy lần. Năm đó hình như đảng ông mới thất cử, nhưng vài năm sau ông lại trở về ngồi ghế thủ tướng.

Tại sao trong một nước tự do dân chủ thì ông thủ tướng hay anh dân thường đều tự coi họ bình đẳng như nhau? Tại sao trong xã hội Cộng Sản thì thói đội trên đạp dưới trở thành căn bệnh kinh niên, nặng nề như vậy?

Tất cả là do môi trường tạo ra. Trong chế độ độc tài đảng trị, thì các quan trên, dù chỉ đứng hạng nhì, hạng ba trong một hội nhà báo, khi được đảng Cộng Sản tin dùng là đủ thấy mình có quyền thế, coi những kẻ dưới mình như gia nhân, tôi tớ. Trong chế độ dân chủ, muốn làm thủ tướng hay tổng thống thì phải được dân bỏ phiếu, được dân ủy quyền. Cho nên có người nhận xét về hai bức hình, hình người cõng người và hình ông Obama che dù cho nhân viên, “Chúng cho thấy sự khác biệt: Một bên là đảng cử, một bên do dân bầu.”

Chính guồng máy dân chủ làm cho mọi người sống bình đẳng, một cách tự nhiên. Cái guồng máy đó chạy trong đời sống xã hội, thế là ai cũng cư xử, hành động theo quy luật dân chủ. Cứ như thế, sau một thế hệ, cùng lắm là hai thế hệ, ai cũng thấy mình không thua kém những kẻ có chức có quyền. Và những kẻ có quyền chức cũng thấy mình chẳng hơn gì đám dân ngoài phố. Nhất là các nhà chính trị. Họ phải chật vật đi xin phiếu của dân, xin dân bỏ phiếu cho mình. Họ phải tìm mọi cách chứng tỏ là mình gần với dân, thông cảm dân, vì mình không khác gì những người đi bỏ phiếu.

Người Việt Nam ở Mỹ nhìn cảnh ông tổng thống của họ đi ăn bún chả, ngồi trên cái ghế đẩu, xắn tay áo cầm chai bia mà tu, không ai ngạc nhiên cả. Ông ta đứng trú mưa dưới mái nhà tôn cái quán chông chênh bên đường ở huyện Từ Liêm, lại mời cô chủ và các khách hàng ra chụp hình với mìn. Cũng không người mỹ nào coi là chuyện lạ lùng. Nhiều người còn hỏi: Ủa cái ông Obama này, ổng tính tranh cử lần nữa hay sao? Bà con mình ở Hà Nội hay Sài Gòn đâu có quyền đi bỏ phiếu bầu tổng thống Mỹ?

Những gì ông Obama đã quen làm ở Mỹ, cách ông ta cư xử với dân Mỹ, ông ta chỉ làm giống hệt như vậy khi tới nước Việt Nam. Một là coi mình với người khác đều ngang hàng, bình đẳng. Hai là có cơ hội là bày tỏ tình thân thiện với mọi người. Nghĩ một cách tự nhiên, làm cũng tự nhiên như thế. Thái độ và hành vi này đã trở thành loại “bản năng thứ hai” của những người làm chính trị trong các xã hội dân chủ tự do. Họ được huân tập trong guồng máy dân chủ.

Vì vậy, sau khi ông Obama đi rồi, một người ở Sài Gòn viết trên mạng “những ấn tượng ông để lại trên mảnh đất chữ S này thì mãi mãi còn.” Cô Nguyễn Thị Ngọc Anh, 24 tuổi, nói với nhà báo: “Tôi muốn nước tôi có một người lãnh đạo như ông Obama.” Ông Nguyễn Quang Chơn viết trên blog của mình: “Ông Obama. Tôi kính mến, quí trọng và muốn được học tập ông… đối với người dân Việt, cái mà ông Obama đem đến chính là phong cách của ông, con người của ông…” Phải nói, mọi người dân Việt Nam đều khao khát những người cầm quyền ở nước mình cũng biết cư xử với dân như một ông tổng thống Mỹ.

Ông Obama có biệt tài khi nói trước đám đông mà khiến cho mọi người đều cảm thấy ông ta nói với chính mình. Ông đã trổ tài này khi nhắc đến Lý Thường Kiệt, rồi kết luận với “của tin, chút này” của Nguyễn Du. Ông ta có thói quen thổ lộ những kinh nghiệm và tâm tình mà người khác có thể chia sẻ ngay lập tức. Ngày hôm qua, tới Hirosima, nơi bom nguyên tử Mỹ đã giết 140 ngàn người Nhật, ông đã làm nhiều người rơi lệ khi nhắc đến những đứa trẻ lúc chết còn sững sờ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nghĩ đến những em bé chết oan vì tội lỗi của người lớn, ai cũng nhận được bản thông điệp hòa bình này.

Giống như vậy, tôi đã từng đọc bài thi sĩ Hữu Loan kể cha mẹ vợ ông bị đấu tố trong cải cách ruộng đất. Các cụ bị chôn sống đứng, nhô đầu trên mặt đất, rồi người ta cho kéo cầy đi qua. Nghĩ đến cảnh đó đủ rợn người. Nhưng gần đây tôi còn rùng mình hơn, khi đọc một đoạn hồi ký về cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Trung Cộng; nhân năm nay là 50 năm kỷ niệm thảm họa đó. Một nhân chứng kể ở tỉnh Sơn Tây người ta đem chôn sống một bà già và đứa cháu. Nhân chứng kể nghe thấy tiếng đứa bé kêu khóc: “Bà ơi, cát chui vào mắt con đau quá!” Rồi nghe tiếng bà trả lời: “Lát nữa sẽ hết đau, con ạ.”

Tại sao con người có thể tàn ác với nhau như thế? Chế độ Cộng Sản đã thay đổi con người, tạo ra những hành vi chúng ta không hiểu nổi. Tàn ác cực độ. Hoặc hèn hạ kinh khủng.

Muốn cứu con người, phải chấm dứt chế độ đó.

Ngô Nhân Dụng

Thương Cá Miền Trung – Hồ Minh Tài

Bài thơ “Đất Nước Mình” của Cô Giáo Trần Thị Lam—Thuỳ Trang Nguyen

Phải nói bài thơ đã làm cho Thùy Trang khóc trong tâm trạng đau đớn cùng đất nước. Cô giáo Trần Thị Lam đã đem được cảm xúc đó tới cho người dân Việt Nam.
image-143
Cô giáo Lam và học trò của cô

Từng lời thơ của cô nếu đọc sơ qua thì chưa đủ thấm, phải đọc ngấu nghiến từng lời và nhắm mắt lại để cảm nhận hình ảnh đất nước quanh mình.

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…
“Chữ “ngộ” trong đoạn đầu diễn tả một sự “ngạc nhiên!” Một đất nước đã có 4 nghìn năm văn hiến mà vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”, vẫn còn “bú mớm” như một đứa trẻ thơ, không chịu phát triển, không khôn lớn … vì đâu nên nỗi.
Một đoạn thơ kế tiếp cô giáo Lam viết:
Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…
Đoạn thơ nầy diễn đạt như một câu đối, so sánh giữa VẬT và NGƯỜI, vì kỳ lạ thay tại sao đất nước ta lại xem trọng vật chất hơn cả tính mạng của con người, khi “chiếc bánh chưng” là VẬT thì được xem trọng, được làm to lớn, vĩ đại như là một kỳ công, một chiến tích cùng với thảm trạng tham ô qua “dự án và tượng đài nghìn tỉ” để rồi sinh mạng con người Việt Nam chỉ còn xem nhỏ bằng “cái móng tay”.
Cô giáo Lam sử dụng cách hành văn so sánh một bức tranh nghịch cảnh của đất nước lồng vào thời sự mới nhất khi một ông tướng Công An xem sinh mạng chủ quán cafe’ Xin Chào nhỏ như “cái móng tay”!
Đoạn giữa, cô giáo Lam đưa tất cả hình ảnh đất nước nằm gọn trong 4 câu thơ:
Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…
Nước Việt từ xưa cho đến nay, trong văn học, lịch sử các sách giáo khoa luôn ca ngợi là một đất nước có tài nguyên phong phú, tiền rừng, bạc biển, ruộng lúa phì nhiêu cò bay thẳng cánh … Rồi bỗng nhiên “Rừng đã hết và biển thì đang chết!”, để rồi những con thuyền của ngư dân không dám ra khơi.
Đây là hình ảnh thật của đất nước chúng ta, môi trường sống bị hủy hoại một cách đáng sợ mà chỉ trong mấy câu thơ thôi nhưng cô giáo Lam đã diễn đạt hết một viễn cảnh của dất nước …nghĩ lại quá đúng đến rùng mình.
Đoạn kết thì ai cũng cảm nhận được qua lời thơ tả chân đất nước đang nghèo đói, đang phải cúi đầu với Năm Châu… và cho dù có hỏi trời, có hỏi đất, hỏi từ thế hệ trước đến thế hệ sau thì vẫn không ai có đáp án…vì sao và sẽ về đâu!!!
Đây là một bài thơ của cô giáo dạy văn Trần Thị Lam trường THPT CHUYÊN HÀ TĨNH, mà Thùy Trang nghĩ RẤT KHÓ để có một bài thơ thứ hai có thể thu gọn viễn tượng của một đất nước trong vòng mấy câu thơ.
Cô giáo Lam làm bài thơ nầy phải với cả tấm lòng trăn trở của một người yêu nước nồng nàn … Bài thơ đã đi vào lịch sử văn học Việt Nam, cho dù là có 10 năm, hay 20 năm nữa thì cũng khó có thể đọc được một bài thơ thứ hai nói lên hết tâm trạng của người Việt Nam, của đất nước trong nghịch cảnh hôm nay…
Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…
Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…
TRẦN THI LAM (Hà Tĩnh)
(Thùy Trang Nguyen)


SBTNOfficial

The U.S. Military Academy at West Point (USMA)—Maharbal5022

 


The U.S. Military Academy at West Point (USMA) (documentary)—Maharbal5022

 

“Con” Bính—Topa

Trong phòng chờ đợi để ra máy bay đầy người. Có nhiều người phải đứng. Trong số những người đứng có nhiều người đưa mắt nhìn đến những cái ghế không có người ngồi với vẻ mặt không vui. Những cái ghế trống đó đã bị những hành khách có hành lý xách tay để lên nên họ phải đứng.

Ngoài trời tuyết vẫn đang rơi, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ làm cho không khí lạnh buốt vào những ngày cuối đông. Trong phòng chờ có để sưởi vậy mà một người đàn ông trung niên lấy cái khăn quàng cổ định quàng cho người đàn bàcó lẽ là vợ của ôngnhưng bị người đàn bà có dáng sang trọng cằn nhằn và nói là đang bị nực.

Thái độ của người đàn bà đã làm cho Thành, trưởng toán nhóm làm vệ sinh máy bay phải chú ý đến, để rồi, anh nhận ra người đàn bà sang trọng đó chính là “con” Bính ngày xưa. Thời gian bốn mươi hai năm dài không một lần gặp lại nhưng Thành dễ dàng nhận ra “con” Bính vì sự thay đổi trên khuôn mặt không nhiều. Thành không ngạc nhiên khi thấy “con” Bính còn đẹp hơn ngày trước nữa. “Người có tiền khác với người nghèo là vậy”. Thành nghĩ như vậy rồi lại nhìn khắp phòng; nhìn những người sẽ đi chuyến bay hôm nay để về thăm quê hương. Thành lại nhìn “con” Bính và chợt nhớ năm nay là năm Bính Thân thì “con” Bính, mà tên đầy đủ trong giấy khai sinh là Ngô Thị Hoàng Bính; cũng được đúng sáu mươi tuổi. Ngày trước người đàn bà sáu mươi tuổi, như má của Thành, đã là bà già. Nhưng, với “con” Bính và với rất nhiều người đàn bà thời nay thì khác. Hình ảnh của “con” Bính, của những ngày xa xưa thân ái, của một thời tuổi thơ khi đất nước đang thanh bình, và, của một thời mới lớn chợt hiện ra trong đầu của Thành…

***

Năm Bính Thân 1956, khi đó Thành được năm tuổi, một hôm má của Thành nói:

– Con theo má qua bên nhà bác Hai hàng xóm có chút việc. Bác Hai mới sinh một bé gái chắc con thích lắm.

Sở dĩ má của Thành nói vậy vì Thành cứ hỏi khi nào má sinh em bé. Trong lúc má của Thành và bác Hai nói chuyện thì Thành đến cầm tay đứa bé và nựng nó cách sung sướng như thể đó chính là em ruột của Thành vậy. Thành quay đầu nhìn má hỏi:

– Má ơi con nhỏ này  tên gì hả má?

Bác Hai trả lời thay:

– Tên của em là Bính đó con. Con thương em không?

– Dạ…

Má của Thành trách yêu:

– Con phải gọi là em chứ sao lại gọi con.

– Nó là con gái thì con gọi nó là con.

– Nó là con gái thì con gọi nó là con. Mà… mà sao nó giống con khỉ quá vậy má?

Hai người đàn bà nhìn nhau cười thật lớn nhưng không ai nói thêm điều gì nên Thành đinh ninh cách gọi của Thành là đúng. Sau này khi lớn lên Thành mới được biết là “con” Bính khi mới sinh cái mặt của nó nhăn nhiều nên trông giống con khỉ con. Má “con” Bính định đặt tên cho con là Bính Thân vì sinh  năm Bính Thân, nhưng rồi ba má nó chỉ đặt tên Bính thôi.

Sau đó má của “con” Bính cầm tờ giấy một đồng đưa cho Thành và nói:

– Mỗi sáng con cầm cái tô đựng nước tiểu của con qua đây rồi bác lại cho con một đồng.

Thành còn đang ngơ ngác không hiểu má của “con” Bính nói gì thì má của Thành đã giục:

– Cám ơn bác và chào bác rồi đi về con.

Tối hôm đó trước khi đi ngủ má của Thành để một cái tô ngay chân giường và căn dặn:

– Sáng ra con cứ đái vào cái tô này rồi cầm đem qua cho má của bé Bính và bác ấy sẽ cho con tiền. Còn cái tô thì cứ để ở bên ấy chiều má qua lấy, hoặc bác ấy sẽ đem qua sau.

Từ đó mỗi sáng Thành đều làm đúng như má dặn và Thành cũng không thắc mắc tại sao má của “con” Bính lại… mua nước tiểu của Thành để làm gì. Cho đến một buổi sáng nọ, sau khi Thành đưa tô nước tiểu và nhận một đồng, thay vì Thành đi ăn sáng ngay như mọi khi thì vì muốn nựng “con” Bính nên Thành được chứng kiến má của “con” Bính cầm tô nước tiểu của Thành uống một hơi cạn hết tô. Thành vội vàng chạy thật nhanh về nhà để nói cho má nghe điều mà Thành cho là… khủng khiếp.

Vừa bước chân vào đến nhà Thành kêu lên thật lớn:

– Má ơi má. Má ơi má.

– Chuyện gì vậy Thành.

Má của Thành vội vã đi từ nhà sau lên và vừa đi vừa hỏi với vẻ lo lắng.

– Má của “con” Bính cầm cái tô nước tiểu của con rồi uống một hơi hết trơn hết trọi luôn.

Má của Thành vội đưa một ngón tay trỏ lên miệng của mình ra dấu cho Thành đừng nói lớn.

– S…u…ỵ…t… Sao con lại la toáng lên như vậy là sao hả, thằng quỷ. Bác ấy bị… gì đó nên thầy Hòa dặn bác ấy là mỗi sáng phải uống nước tiểu của đứa con trai còn nhỏ như con thì mới tốt. Nhà bác ấy giàu và hơn nữa bác ấy thương con nên cho một đồng chứ ai lại làm vậy bao giờ. Con đừng nói cho ai biết chuyện này nghe hôn. Con mà nói thì bác ấy không cho con tiền nữa đâu.

Thành gật đầu và anh cũng không nói cho ai biết điều đó vì Thành sợ không được một đồng. Trước đó thì mỗi sáng má của Thành chỉ cho anh năm cắc thôi. Tuy chỉ là năm cắc nhưng Thành cũng mua được gói xôi bắp hoặc khúc bánh mì bì ăn no căng bụng luôn. Bây giờ có một đồng thì Thành ăn sáng cũng chỉ năm cắc, còn năm cắc thì để đến giờ ra chơi Thành sẽ mua một cây cà-rem ba cắc và một bịch nước đá nhận si-rô hai cắc.

Một thời gian ngắn sau đó khi má của “con” Bính không cần uống nước tiểu nữa thì cũng vừa lúc Thành được gia đình đưa lên học nội trú trên Đàlạt. Từ đó Thành cũng quên “con” Bính và chuyện tô nước tiểu luôn. Vì gia đình của Thành cách Đàlạt khá xa và hơn nữa tiền bạc cũng eo hẹp nên một vài năm Thành mới về thăm nhà một lần. Khi Thành về thăm nhà lần đầu vào dịp Tết năm 1960, Thành có qua thăm gia đình “con” Bính và có vài lần nắm tay dẫn nó đi loanh quanh nhà. Năm năm sau cũng vào dịp Tết Thành trở về thăm gia đình thì anh nhìn thấy một cô bé khoảng chín tuổi rất xinh trong bộ đầm mới toanh đứng trong sân nhà của Thành. Thấy Thành nhìn con bé với vẻ thích thú nên má của Thành nói:

– Bé Bính đó con. Con nhìn nó không ra là đúng rồi. Lớn cứ như thổi và xinh vô cùng.

Khi nghe má nói như vậy  thì hình ảnh… tiểu vào tô những buổi sáng vừa thức dậy chợt hiện ra nên Thành vội vã hỏi:

– Má của “con” Bính…

– Bác ấy mất khoảng hai năm nay rồi con à.

Thành cảm thấy như bị một vật gì chận ngay cổ làm cho anh bị nghẹn và làm cho hai con mắt của anh bị cay cay. Thành tội nghiệp cho má của “con” Bính vì bác ấy đối xử rất tốt với Thành. Thành đi ra sân gặp “con” Bính. Thành gọi:

– Bính.

“Con” Bính quay nhìn Thành với hai con mắt mở lớn ngạc nhiên. “Con” Bính quay người toan bỏ đi thì má của Thành cũng vừa đến bên:

– Bính à, đây là anh Thành con của bác đó con. Vô đây con. Vô đây bác cho con ăn mứt bí ngon lắm con.

“Con” Bính vui vẻ đi theo má của Thành vô nhà. Con Bính tỏ ra dạn dĩ với Thành chứ không rụt rè. “Con” Bính vừa ăn mứt vừa nghe Thành kể chuyện. Khi Thành kể chuyện ma thì “con” Bính nói:

– Em sợ ma quá à.

Thành cười thật lớn và nói:

– Em đừng có sợ. Đâu có ma đâu mà sợ.

“Con” Bính nhìn Thành không nói nhưng Thành nghĩ là nó không tin không có ma.

Những ngày sau đó Thành dẫn “con” Bính, lúc thì đi xem hội chợ rồi sau đó đi ăn chè. Hôm khác thì đi xi-nê rồi sau đó đi ăn hủ tiếu bò viên. “Con” Bính tỏ ra quyến luyến Thành nên thường xin ba cho qua ăn cơm tối với Thành. Ba của “con” Bính khen Thành còn nhỏ mà đã tỏ ra chững chạc và trí thức. Ngày anh từ giã để trở về Đàlạt học tiếp thì “con” Bính khóc lóc đòi đi theo làm cho anh phải dỗ mãi với những lời hứa sẽ mau về và đưa nó đi hội chợ và đi ăn hủ tiếu bò viên là món mà nó rất thích thì nó mới chịu nín. Vậy mà mãi đến tám năm sau, tức là năm 1973 khi Thành tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Đàlạt, khi đó Thành hai mươi hai tuổi, anh mới quay trở về lại căn nhà xưa. Lúc này má của Thành đã già nhưng vẫn còn mạnh khỏe lắm. Khi Thành vừa bước vô nhà thì thấy một cô thiếu nữ xinh đẹp và cao ráo đang bước ra khỏi nhà. Thành vội vã chào:

– Chào cô.

Cô gái nhìn ngay Thành và nở nụ cười thật tươi đưa ra hai hàm răng trắng muốt và thật đều. Cô gái nhí nhảnh hỏi Thành vẻ thật thân mật:

– Anh Thành phải không? Anh nhớ em không?

Thành còn đang ngơ ngác thì cô gái bĩu cái môi dưới ra và hỏi vẻ thách đố:

– Chắc anh quên rồi chứ gì?

Thành còn đang ngờ ngợ thì cô gái đã tự giới thiệu:

– Em là… con Bính nè.

Thành vội buông cái túi xách xuống đất rồi hai tay chắp lại với nhau như tỏ vẻ muốn xin lỗi. Thành nói:

– Cô… em… em Bính… mau lớn quá anh nhìn không ra. Anh không ngờ…

Bính nhắc lại chuyện xưa mà Thành đã hứa làm cho anh ngượng vô cùng:

– Anh không ngờ anh hứa lèo mà… con Bính này thì không quên phải hông?

Thánh ấp úng nói:

– Anh… Anh thật có lỗi… với em quá….

– Ủa, sao anh Thành không gọi em là “con” Bính nữa mà lại gọi là em?

Bất chợt hình ảnh của đôi song ca kích động rất nổi tiếng Mai lệ Huyền và Hùng Cường chợt hiện ra làm cho Thành mỉm cười vì trong một bài hát kích động có câu: “Sao không kêu người ta như ngày xưa. Không kêu người ta con nhỏ…”

Má của Thành nãy giờ đứng nhìn Thành và Bính, bây giờ bà mới lên tiếng:

– Bính à. Con về nói với ba là bác mời ba và con chiều nay qua nhà bác ăn cơm mừng anh Thành về phép nghe con.

– Dạ.

Bính nhìn Thành với ánh mắt thật tình cảm:

– Em về nha anh Thành.

Khi tiễn Bính ra tới cổng, Thành nói nhỏ:

– Em và ba nhớ qua sớm nghe… em Bính.

***

Cuối năm sau 1974 Trung uý Thành về phép thăm gia đình. Bây giờ “con” Bính đang làm việc trong trường mẫu giáo có hai mươi bốn em. Trong thời gian gần một năm qua Thành gởi về sáu cái thư cho “con” Bính với những lời thật  tình cảm nhưng “con” Bính chỉ hồi âm có một lần. Vừa gặp mặt Thành liền gặng hỏi:

– Em lười viết thư hay em không thích viết cho anh?

– Em sợ…

– Em sợ ma?

– Không. Bây giờ em không còn sợ ma nữa. Nhưng em sợ… anh đi rồi không về thì chắc em sẽ là ma.

– Em không bao giờ là ma đâu. Em là thiên thần. Thiên thần thì chế ngự được ma quỷ và sẽ… phù hộ cho anh; cho… cả hai đứa mình.

– Anh có giận em không?

– Giận em thì anh không gặp lại em hôm nay. Má anh có cho biết tin về em nên anh cũng yên tâm. Anh chỉ sợ em… có người khác rồi quên anh thôi.

– Em không bao giờ quên anh đâu. Mãi mãi không bao giờ em quên anh.

– Bính à, chắc em cũng hiểu lòng anh như thế nào rồi. Chiến tranh đã làm cho chúng mình phải tạm thời xa cách nhưng anh cũng không bao giờ quên em. Nếu em đồng ý thì má anh sẽ qua nhà nói chuyện với ba em rồi khoảng giữa năm sau hai đứa mình sẽ làm lễ cưới. Em thấy anh tính như vậy có được không thì cho anh biết.

– Anh tính sao cũng được hết.

Nhưng, lễ cưới của Thành và “con” Bính đã không bao giờ được thực hiện như dự tính. Cho đến một ngày đầu xuân năm 1983, Thành mới được ra khỏi trại cải tạo sau tám năm bị giam trong cái gọi là, trại học tập cải tạo. Đơn vị mà Thành là Đại úy Đại đội trưởng đã bị một đơn vị của Bắc quân tràn ngập. Trong tám năm tù Thành không được một lần thăm viếng vì gia đình tưởng anh bị mất tích. Tang thương đã đến với gia đình Thành khi má anh qua đời trong cô đơn và đói nghèo mà anh thì hoàn toàn không nhận được tin tức; kể cả tin của người vợ sắp cưới. Ngày ra tù Thành phải sống lang thang rày đây mai đó cho đến một năm sau thì anh thoát ra khỏi nước và đến định cư tại thủ đô Paris.

***

Hành khách đang lần lượt đi vào máy bay. Khi “con” Bính và chồng đi ngang qua chỗ Thành đứng anh liền quay mặt qua hướng khác. Thành rất muốn gặp lại “con” Bính nhưng lại sợ làm cuộc sống của nàng bị xáo trộn. Tự trong thâm tâm Thành vẫn tin tuyệt đối là “con” Bính không quên anh như anh không bao giờ quên. Thành nhìn đồng hồ thì thấy chỉ còn tám phút nữa máy bay sẽ cất cánh. Tuy không nhìn ngay hai người, nhưng nghe lỏm câu chuyện họ đang trao đổi, và chuyến bay sẽ đáp ở Seattle, Thành nghĩ là hai người sống đâu đó trong nước Mỹ. Trong lòng, anh rất muốn xem tên người trong vé có phải là “Ngo” không, như để xác quyết trí nhớ của mình, nhưng sau đó anh lại nghĩ: “biết để làm gì, chuyện gì đã yên thì để nó yên đi”. Như anh, hết ca làm mỗi ngày thì anh sẽ lại về nhà, dùng bữa tối trong gia đình hay thỉnh thoảng ghé quán nhậu với bạn. Không ai muốn tự dưng nếp sống đều đặn này bị xáo lên vì một chuyện “không đâu”. Tuy thế, mắt anh vẫn thấy cay cay, và anh nhìn mãi cánh cửa dẫn ra hành lang vào phi cơ giờ đã đóng. Thành  muốn biết “con” Bính đang ở thành phố nào. Trong danh sách hành khách của chuyến bay, tên Ngô Thị Hoàng Bính là công dân Mỹ và sinh sống ở tiểu bang Texas.

Rồi khi Thành nhìn chiếc máy bay đang từ từ chạy ra phi đạo. Anh nói nhỏ như đang nói với “con” Bính: “Vĩnh biệt em. Vĩnh biệt “con” Bính yêu quý của anh.”

Lần thứ hai trong đời Thành thấy như bị một vật nào đó chận ngay cổ và hai con mắt bị cay cay.

Topa (Hoà Lan)

 

Nói Chuyện Với Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai—Tạp Chí Trẻ

Tạp Chí TRẺ trong Số Tháng Tư 2009 có bài tường thuật Cuộc Nói Chuyện giữa Phóng Viên Trẻ và Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai

Lời nói đầu của Phóng viên Tạp Chí Trẻ:

Qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Trọng Huấn, một Cựu Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, thành viên Hội Quảng Đà Dallas-Fortworth, Texas, đã đưa chúng tôi đến thăm Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai tại Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt Cao Niên Garland, Texas

Chúng tôi đến Trung Tâm vào giờ ăn trưa của các cụ nơi đây và được bác Đỗ, Giám đốc Trung Tâm tiếp đón. Bác Đỗ nhờ người thưa với Cựu Thiếu Tường Đỗ Kế Giai là có nhà báo chúng tôi xin được gặp ông, và mời ông Tướng ra phòng khách để cho chúng tôi được gặp, bác Đỗ cho chúng tôi biết ông Đỗ Kế Giai hôm nay không được khoẻ lắm.

Rồi tôi thấy Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đi vào phòng khách của Trung Tâm. Hình ảnh một vị cao niên chống gậy vẫn không che được phong cách và uy nghi của một vị Tướng lãnh từng một thời oai vũ.

Chân dung và tiểu sử Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai được ghi lại không đầy đủ như sau: Ông xuất thân Khoá 5 Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, ra trường Tháng 4/1952, ông về phục vụ Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội. Năm 1954, ông là sĩ quan hành quân “Officier Adjoint” cho Thiếu tá Mollo ở Đồng Đế, Nha Trang, với cấp bậc Trung úy. Cấp bậc cuối cùng của ông là Thiếu Tướng Biệt Động Quân, chỉ huy Lực Lượng bảo vệ Sài Gòn cho tới khi nhận lệnh buông súng…

Những người đàn anh của tôi ở đây là những cựu Trung úy, cựu Đại úy đang làm thiện nguyện ở Trung Tâm, các anh lo bữa ăn trưa cho vài chục cụ người Việt cao niên ở đây, các cụ đang… nói chuyện, chơi cờ, xem ca nhạc Asia và chờ cơm. Thấy Thiếu Tướng đi tới các anh đến mới ông đến chiếc ghế êm ả nhất phòng. Tôi cúi chào Thiếu Tướng.

Phóng Viên Trẻ: “Thưa bác, cháu là phóng viên Tạp Chí Trẻ. Xin được chào bác, chúc bác sức khoẻ. Xin được hỏi bác đôi điều…”

Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai: “Từ ngày xưa, tôi đánh giặc đã không thích kể chuyện đăng báo vì kể lể chiến công với báo chí tôi cho là việc tự kể cho đối phương nghe, biết chiến thuật của mình”

PV Trẻ: “Thưa bác, cháu xin không hỏi bác nhiều về những chuyện đã qua. Thay mặt Nhóm thực hiện báo Trẻ, cháu đến thăm hỏi sức khoẻ bác vì được nghe bác đã tham gia sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên Garland.”

CTT ĐKGiai: “Nếu anh muốn hỏi gì thì phải đợi tôi nói xong hãy hỏi tiếp, đừng hỏi ngang làm tôi quên chuyện tôi đang nói…”

PV Trẻ: “Thưa bác, bác có viết quyển hồi ký nào không?”

CTT ĐKGiai: “Tôi không viết hồi ký vì những đánh bóng cá nhân hay chạy tội trước lịch sử đều không phải là hồi ký. Theo thời gian, tôi chỉ nói ra những gì tôi thấy là cần thiết…”

PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã trả lời. Xin hỏi bác đã đi “cải tạo” bao nhiêu năm?”

CTT ĐKG: “Tôi không có đi cải tạo. Tôi đi tù.”

PV Trẻ: “Xin lỗi bác, cháu chỉ muốn dùng lời nói cho nó nhẹ nhàng thôi!”

CTT ĐKG: “Ngày tôi đi phỏng vấn ở Trụ Sở ODP để sang đây, có người thông dịch viên cũng hỏi tôi một câu như thế. Tôi cũng trả lời rõ ràng như thế. Và ông nhân viên Mỹ nói luôn với tôi: “Mời ông ký giấy tờ để hoàn tất thủ tục.”

PV Trẻ: “Thưa bác, thời gian… ở tù của bác bao lâu?”

CTT ĐKG: “17 năm thiếu 10 ngày.”

PV Trẻ: “Xin hỏi: Có phải bác là người đi tù sớm nhất và về trễ nhất?”

CTT ĐKG: “ Có thể. Ngày 15 tháng 5, 1975, họ đến nhà tôi, mời tôi đi họp nhưng thật ra là bắt tôi đi luôn từ đó. Lệnh tập trung những sĩ quan Quân lực VNCH vào Tháng 6, họ bắt tôi giữa Tháng 5. Có thể tôi là người đi tù sớm nhất!”

PV Trẻ: “Nhưng khi ấy họ chưa tổ chức kịp những trại tập trung thì họ đưa bác đi giam ở đâu?”

CTT ĐKG: “Khám Chí Hoà. Một năm sau họ đưa tôi từ Nhà Tù Chí Hoà đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cũ. Bữa sau nữa, họ đưa tôi ra Bắc.”

PV Trẻ: “Bác tù ở ngoài Bắc 17 năm. Khi trở về Nam, bác thấy miền Nam sau 17 năm kiểu cộng sản “giải phóng” thế nào?”

CTT ĐKG: “Tôi không thích tiếng: giải phóng”!

Bác Giai im lặng-hồi tưởng. Mọi người im lặng-chờ đợi. Ở đây chỉ có những người trẻ làm thiện nguyện là đến trung tâm sinh hoạt cao niên này để phục vụ người già. Trong thái độ, ánh mắt, giọng nói của những người lính cũ, tôi cảm nhận được sự kính trọng Tướng Giai của họ như ngày họ còn tấm thẻ bài lính chiến trên ngực. Hình như với những người lính cũ, kỷ luật quân đội vẫn sống trong họ.

Bác Giai nói tiếp: “Hôm đó trong trại tù, một người thuộc Mặt Trận Giải Phóng miền Nam nói với tôi: “… Trong Quốc ca của các anh có câu: Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…, thì hôm nay chúng tôi đã giải phóng cho các anh rồi! Còn thắc mắc gì nữa!” Tôi nghe anh ta nói câu đó thì tức đến chết được, để rồi tôi nói cho các anh nghe về lịch sử bài quốc ca của Quốc Gia VNCH…”

Cuộc nói chuyện ngưng vì bác Đỗ đến mời vị Cựu Tướng đi ăn cơm, anh Tuấn và tôi được mời cùng ăn với vị Cựu Tướng. Bác Giai chống gậy, đi đứng đã có phần khó khăn, nhưng vẫn đi được một mình. Nhìn bác tự lo cho mình bữa ăn, tôi không biết ngày xưa, cấp Tướng thì có bao nhiêu người phục vụ? Tôi thấy ở ông phong cách tự tại, bình thản của một cụ già người Việt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên. Một chút ngậm ngùi nổi lên trong lòng tôi dù tôi thấy là vô lý. Bác Giai rất an nhiên, tự tại.

Tôi nói với bác Giai: “Hôm qua, cháu nói điện thoại với cô Kiều Mỹ Duyên. Cô gởi lời thăm bác.”

Ông ngồi yên như hồi tưởng lại những người quen biết cũ.

Thấy ông có vể xúc động, tôi hỏi thêm câu nữa: “Ngày xưa, chắc cô Kiều Mỹ Duyên đẹp lắm hả bác?”

Ông cười, nụ cười bí hiểm với ánh mắt trầm mặc sau làn kính cận dày. Nhưng sau đó… ông tỏ ra bớt “quạu”, chắc tâm tư sảng khoái nên ông ăn cơm thấy ngon.

Tôi hỏi: “Cơm ngon không bác? Cháu thấy món thịt kho rất ngon.”

Ông trả lời nhẹ nhàng: “ Ngon hơn cơm tù.”

Trên chiếc bàn trải khăn trắng muốt, đơn sơ, mỗi người một đĩa cơm có thịt kho, cải xào, chén canh đậu hũ trắng nấu với cà chua và thịt bằm. Trước mặt có ly trà, trái chuối để tráng miệng. Một phần ăn trưa rất bình thường ở Mỹ, bình thường đến nỗi người ăn chỉ làm công việc ăn chứ ít ai nghĩ đến ân sủng của Ơn Trên đã ban cho lương thực hàng ngày hay công lao người nấu bữa ăn, hoặc tiền chợ có từ đâu? Nhưng nghe bác Giai vừa ăn vừa nói chuyện, mọi người như mới nhận thức ra giá trị của bữa ăn hàng ngày, bác nói:

“Từ ngày tôi ra tù đến nay, không bao giờ tôi bình phẩm về món ăn.”

Là một phóng viên chuyên thực hiện những cuộc phỏng vấn, nhưng lần này có lẽ là lần thứ nhất tôi không muốn đóng vai trò phóng viên đặt câu hỏi mà chỉ muốn ngồi nghe câu chuyện của một chứng nhân lịch sử, một trong những “Tự điển sống” hiếm hoi còn lại tới bây giờ. Những câu hỏi về lịch sử không phù hợp với không gian, thời gian. Từng câu hỏi như những mũi kim chích vào ung nhọt quá khứ, nó có cái “đã” của một vết thương mưng mủ được tuôn ra, nhưng tiếp theo sau là nỗi buồn vết sẹo không lành sau mỗi câu trả lời của vị Cựu Tướng. Tôi tự thấy mình có lỗi trong những câu hỏi có thể gợi sự bất an, hay không vui trong lòng vị Cựu Tướng nên tôi chuyển sang chuyện khác, may ra cuộc trò chuyện được vui vẻ hơn.

PV Trẻ: “Thưa bác, hiện nay bác đến Trung Tâm này sinh hoạt hàng ngày hay sao?”

CTT ĐKG: “Không, một tuần tôi đến đây ba ngày thôi.”

PV Trẻ: “Vậy, những ngày ở nhà thì bác làm gì? Bác đang sống với ai?”

CTT ĐKG: “Tôi sống với hai người con trai của tôi, hai con tôi qua đây đã lỡ tuổi, dở dang mọi chuyện nên chúng không lập gia đình. Công việc hàng ngày thì tôi làm được gì thì làm, được tới đâu hay tới đó.”

PV Trẻ: “Bác có thường xuyên liên lạc với bạn hữu và các vị tướng lãnh xưa không ạ?”

CTT ĐKG: “Ít khi. Từ hôm ra tù đã thế. Ngày ra tù, họ cho hay trong nửa ngày phải thu xếp rời trại. Tưởng chuyển trại thôi vì tôi tin là tôi sẽ ở tù tới chết. Không ngờ họ cho về. Tôi với Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo là 4 người trong 100 người mà họ muốn giam tù cho tới chết. Nhưng nhờ sự đấu tranh của các chiến hữu, các vị đồng hương ở hải ngoại, tạo thành áp lực buộc họ phải thả chúng tôi. Bốn người chúng tôi là đợt cuối cùng trong 8 đợt thả 100 người tù cuối sổ. Lúc đợi xe đưa về Sài Gòn bốn chúng tôi tính với nhau: tôi sẽ được đưa về nhà trước vì là người lớn tuổi nhất trong anh em, kế đến là Trần Bá Di, tới Lê Văn Thân. Lê Minh Đảo trẻ tuổi nhất, sẽ về sau chót. Nhưng khi xe đưa chúng tôi về đến Sài Gòn thì thì những người áp giải chúng tôi làm ngược lại! Lê Minh Đảo được đưa về nhà trước nhất, tôi là người về nhà sau cùng.”

PV Trẻ: “Vậy, bác đúng là người đi tù trước nhất và về nhà sau cùng. Bác có không được vui về chuyện ấy không?”

CTT ĐKG: “Từ những ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, sau khi Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã rời Sài Gòn thì ngày 28, 29 Tháng Tư, tướng Times bên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp tôi đưa cả gia đình tôi đi ra nước ngoài. Nhưng tôi quyết định ở lại vì trách nhiệm.”

PV Trẻ: “Bác có ân hận về quyết định ở lại đó với 17 năm tù và về sau chót?”

CTT ĐKG: “Không. Tôi đã làm tròn trách nhiệm của một Tướng lãnh với Tổ Quốc, với Quân đội, với đồng bào và đồng đội. Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ tác phong, danh dự của Quân Lực VNCH. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.”

PV Trẻ: “Đối với bên kia, thì đã rõ về tác phong của bác. Nhưng đối với đồng đội, đặc biệt là với các vị Tướng đã bỏ nước ra đi vào những phút chót dầu sôi lửa bỏng, Bác nghĩ gì về họ?”

CTT ĐKG: “ Tôi quyết định ở lại vì tôi thấy hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích những người ra đi Tháng Tư năm 1975. Bởi vì trường hợp mất Nam Việt Nam thật đặc biệt, không thể qui trách cho những người cầm súng giữ nước. Các đơn vị quân đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chạy trước cộng quân. Quân đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quí vị Tướng có ở lại trong nước thì trước sau các ông cũng vô tù như tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát được ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cứu vãn những người còn kẹt lại. Về mặt kinh tế, những người đi trước đa số đã thành công trong việc xây dựng được cuộc sống ổn định ở nước ngoài, nhờ đó ta có thể có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên nói nhiều nữa về chuyện đi hay không đi, đi trước- đi sau, mà mọi người nên, và phải cùng chung lưng xây dựng một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.”

PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã cho nghe về lịch sử và những biến động ở Sài Gòn cũng như miền Nam vào những ngày cuối cùng của nền Cộng Hoà. Trong tương lai, bác có suy tư nào để chia sẻ với những người đời sau?”

CTT ĐKG: “Những ngày lễ, ngày Tết, đặc biệt là Ngày 30 Tháng Tư hàng năm, đều có những người trẻ tìm đến tôi để hỏi thăm. Tôi cảm ơn nhiều. Phần các cháu hỏi, thì câu trả lời của tôi còn đó, đến năm sau có thể ta sẽ lại gặp nhau. Các cháu hãy làm đi, làm những gì có thể làm cho quốc gia, dân tộc chúng ta khá hơn, hay hơn.”

PV Trẻ: “Cảm ơn lời chỉ dạy của bác. Xin được chào bác và để bác nghỉ. Xin chúc bác được nhiều sức khoẻ để làm chỗ dựa tinh thần cho lớp trẻ dấn thân vào việc xây dựng tương lai chung của chúng ta. Kính chào bác.”

Khi ngồi nghe chuyện Cựu Tướng Đỗ Kế Giai sau bữa ăn trưa ở Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt cao niên, những câu hỏi tôi đã chuẩn bị để hỏi ông không có cơ hội được tôi nói ra vì dòng hồi tưởng của vị Tướng Già cứ tuôn chảy theo ký ức và tâm cảm của ông. Hai nữa có những chuyện tôi không muốn hỏi sợ làm ông buồn.

Thế rồi bác Đỗ lái xe đưa bác Giai về tư gia. Trongcuộc sống âm thầm nơi viễn xứ, những người lính cũ vẫn sống bên nhau với tình đồng đội ngày nào. Thật đáng kính phục những người Lính Chiến của một Quân Lực oai hùng nay không còn nữa.

Tôi trở về toà soạn, ngồi gõ keyboard viết những dòng chữ này để Tưởng Niệm Tháng Tư 2009 gửi đến quí vị độc giả Tạp Chí Trẻ.

Người viết Phóng Viên Trẻ

“Ly Rượu Mừng / Xuân Miền Nam”—Asia Entertainment Official