Trang chủ » Nữ Công Gia Chánh » Tiêu Khiển (Trang 2)

Category Archives: Tiêu Khiển

Một Ngày Với Mùa Xuân Hà Nội—Kim Thanh

I. Tôi sinh ra, và lớn lên, tại Nha Trang. Gia đình bên ngoại gốc “Nhe Treng” rặt, và bên nội, gốc Quảng Trị, cũng rặt. Bởi vậy, anh em tôi trong nhà nói một thứ tiếng lai căng, ở trường học không nói tiếng Việt, thành thử ra ngoài không có cái giọng, kiểu “chu che bữ nê mềnh lợi eng cuôm dí ké nữ” (dịch nghĩa: Chu cha bữa nay mình lại ăn cơm với cá nữa) cố hữu của dân địa phương thứ thiệt, như mấy đứa bạn cùng xóm. Rồi sau năm 1954, người Bắc di cư vô Nam nói, ôi thôi, đủ thứ tiếng Bắc kỳ, nghe rất mệt tai. Trong số, tôi chỉ chấm, và mê, tiếng hát mượt mà, đài các, phát âm chuẩn xác của những nữ ca sĩ chính gốc Hà Nội, như Kim Tước, Thái Thanh, Mộc Lan, Tâm Vấn, và những minh tinh, như Kiều Chinh, Mai Trâm. Tất cả những mỹ nhân một thời ấy đã mang theo vào Miền Nam dáng vẻ thanh lịch và giọng nói quý phái từ Hà Nội cổ kính, và cố đô Thăng Long ngàn năm văn vật.

Hà Nội mà tôi chưa bao giờ được thấy, nhưng biết qua thơ văn nhờ hồi đi lính bắt đầu đọc những tiểu thuyết tiền chiến và những tạp chí của mấy ông nhà văn, nhà thơ Bắc kỳ di cư. Nhất là nghe những ca khúc đương thời thương về Hà Nội. Trong đó có một câu, trong một bài, mà ông cậu ruột mười sáu tuổi, em út của mẹ tôi, nghĩa là dân Nhe Treng đặc sệt, cứ âm ư mãi, riết rồi thành lố bịch: “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu…” Lố bịch là phải, bởi lẽ không ai có thể gây xúc động mạnh lên trái tim thính giả trong những bài hát nhớ Hà Nội cho bằng những nhạc sĩ, ca sĩ di cư chánh hiệu Hà Nội của thời trước 1975.

      Quả vậy, Trịnh Công Sơn, tên nằm vùng phản chiến, gốc Huế, sau 1975, muốn lấy điểm với chế độ mới, cũng bắt chước viết hai ca khúc về Hà Nội, nhưng không hay bằng, vì cảm xúc, nguồn hứng rất giả tạo, và hình ảnh rất ước lệ, khuôn sáo, mặc dù cũng vẫn là Hồ Tây, cũng mùa thu mây bay, cũng mùi hoa sữa, cũng cây bàng lá đỏ… Chưa kể, câu kết, trong bài “Nhớ mùa thu Hà Nội”,“Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội / Nhớ đến một người để nhớ mọi người”, muốn nhắn gửi gì đây? Chưa vội chụp nón cối, người ta phải thắc mắc: Mùa thu nào? Tổng khởi nghĩa 1945 ư? Một người  nào? Đồ tể Hồ Chí Minh, với khẩu hiệu “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, mà các tù binh cải tạo đã phải nghe lải nhải hoài, phát ớn đến tận cổ?
 
      II. Hà Nội, tôi đã thấy, đã nghe, đã gặp một lần, vào tháng 4 năm 1983. Cách đây ba mươi hai năm. Không như một du khách, hay một Việt Kiều yêu nước. Mà như một tù binh cải tạo. Đúng ra gặp hai lần.       
      Lần đầu, cuối năm 1975, một cách chớp nhoáng, bất đắc dĩ. Tại bến cảng Hải Phòng, tôi được bốc từ tàu Sông Hương ra và tống lên xe lửa, chực sẵn để chở, cùng với hàng trăm ngàn đồng đội, lần lượt, đến các trại giam vùng biên giới, Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cổng Trời… Khi đoàn tàu đi ngang Hà Nội, chắc quá nửa đêm, tôi cố nhướng mắt nhìn ra bên ngoài, từ song cửa sổ hẹp. Tàu chạy nhanh, trời lại tối, và đèn đường leo lét, chỗ có chỗ không, nên tôi không thấy gì cả, ngoài một Hà Nội còn đang ngủ say, phố xá lặng thinh, sương rơi lả tả, và những hàng cờ đỏ sao vàng giăng mắc, ủ rũ, trên những góc phố. Làm nhớ đến hai câu thơ oan nghiệt –đã bóp chết đời tác gỉả, Trần Dần: 
      Tôi bước đi, không thấy phố, thấy nhà / 
      Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ… 
      Rồi tàu rẽ lên cầu Long Biên, khá dài. Tôi thấy hai bên đường sắt vài người dân đi bộ hay đạp xe, không biết về đâu, co ro trong chiếc áo tơi thô sơ. Trên sông, vài chiếc thuyền câu đậu bến im lìm.
      Lần thứ hai, lần này, tám năm sau, được tiếp xúc với Hà Nội lâu hơn, đúng một ngày, nghĩa là mười hai tiếng đồng hồ. Quả thế, một buổi sáng đẹp trời, tại trại giam Vĩnh Phú, K1, đang chuẩn bị đi lao động, tôi nghe đọc tên mình được thả – áp chót trong danh sách một trăm mười người thuộc tất cả các trại Miền Bắc, mà Vĩnh Phú chiếm nhiều nhất: có bốn mươi tên trúng số độc đắc, trên toàn năm K, trong khi ở một số trại, nhỏ hơn, chỉ có vài mạng thôi. Tôi ngạc nhiên, không biết tại sao mình lại được thả, nhưng chắc chắn không phải vì công đức cải tạo tốt, trái lại. Thây kệ, tôi tự nhủ, thắc mắc làm chi. Vội vàng về “buồng” (phòng), vì chỉ được mười phút sửa soạn tư trang. Không có gì, ngoài bộ đồ tù đang mặc trên người, và mùng, mền, khăn mặt, bàn chải đánh răng, một bịch đường táng đen, một gói bánh mì khô, hai hộp sữa đặc, và một mớ thuốc cảm, đau đầu, đầu bụng, để dành từ những lần thăm nuôi trước. Tôi tặng hết đồ ăn và thuốc men cho những anh em, lúc ấy, khai bệnh nằm nhà.
      Rồi tất cả lội bộ xuống K5, tức K chỉ huy, cách khoảng 15 km, để làm thủ tục xuất trại. Tại đây, được trả lại quần áo “dân sự”, đồng hồ, và tiền bạc bị “đăng ” để “Cách mạng giữ hộ” khi bước chân vào trại tù đầu tiên, ở Miền Nam. Không biết đủ, thiếu thế nào, vì sau tám năm, không nhớ và điều đó không quan trọng nữa. Tù binh được thả sinh hoạt tại một buồng riêng, không được “quan hệ linh tinh” với các cải tạo viên khác.
      Khoảng 10 giờ sáng hôm sau, chúng tôi trút bỏ bộ đồ tù, mặc lại quần áo cũ, có anh diện giày da thay dép râu. Ai nấy mặt mày tươi rói, đẹp trai hẳn ra, như dưới chiếc đũa thần của một bà tiên, không còn hốc hác, bèo nhèo như dạo nào, nhất là sau mấy ngày được vỗ béo, ăn no ngủ kỹ. Được xe trâu chở ra tận bến phà trên sông Hồng. Sau hơn nửa giờ, cập bờ Ấm Thượng. Ở đây, phải chờ đến 10 giờ đêm mới có chuyến xe lửa từ Lào Cai đến “rước” về Hà Nội. Đi theo có hai cán bộ. Hai tên này, bình thường thuộc loại hắc ám, bữa nay có vẻ dễ dãi, chắc vì được dịp đi chơi Hà Nội hoặc tin rằng không thằng tù binh nào được thả lại dại dột âm mưu làm điều “phản động”. Để giúp thời gian qua mau, chúng tôi tụm năm tụm ba nói chuyện, cười đùa rổn rảng, hoặc mua bún, bắp luộc, xôi vò và bánh gai của các bà và em bé bán hàng rong tại chỗ – đã quá quen thuộc với những đợt thả tù binh. Nghe nói Ấm Thượng có đền thờ Hùng Vương, tôi và một anh bạn xin phép đi viếng, nhưng cán bộ bảo xa lắm, không cho. Trời hơi nóng, tôi bèn cởi áo quần nhảy xuống sông tắm. Nước phù sa đỏ ngầu, nhuộm cả ra quần đùi mới, trắng tinh. Lội ra xa, thấy sóng lớn quá, sợ bị cuốn đi, chết uổng mạng, tôi bơi vào, lên bờ nằm nghỉ, phơi nắng, đợi xe lửa.
 
      III. Ấm Thượng không xa Hà Nội bao nhiêu, trên dưới 100km, mà ì ạch mãi đến 8 giờ sáng hôm sau, tàu mới đến ga Hàng Cỏ, sau khi dừng lại nhiều trạm dọc đường. Đám tù phải đợi đến 8 giờ tối mới có chuyến tàu Thống Nhất vào Sài Gòn. Hai tên cán bộ điểm danh, và bắt tất cả “tập trung” ở một góc nhà ga, dặn không được đi đâu xa, “vì các anh chưa được phát giấy ra trại”. Ga tấp nập hành khách và bộ đội chờ đi các tỉnh phía Bắc, và rất đông “gian thương” (buôn bán chui) lượn tới lượn lui, rình mồi, nhiều nhất là những người mua đi bán lại quần áo, vai vác bao tải to kềnh, trông như một cảnh chợ trời, sau 30 tháng 4, 1975 tại Sài Gòn. Tất cả đều quay nhìn chúng tôi, biết ngay là đám sĩ quan tù binh cải tạo từ biên giới được thả về Nam, với cặp mắt tò mò, hoặc cảm thông. Một vài thanh niên, thiếu nữ còn dạn dĩ, đến bắt chuyện, hỏi về “quân hàm” (cấp bậc) của anh em, và xuýt xoa với nhau: “Ghê nhỉ! Trông trẻ thế mà đã là đại úy, thiếu tá cả, gần mười năm trước cơ đấy!”
 
      1) Các cô, các bà mua bán chui thấy một số tù binh, trong đó có tôi, mặc quần jeans, mà họ gọi là “quần bò”, liền sà đến, gạ mua. Một cô, khá xinh, mồm dẻo kẹo, chỉ vào cái quần xanh, bạc màu, bụi đời (càng bụi càng có giá, cô nói) của tôi, và bắt đầu dụ, ngon lành:
      – Ônanh bán cái quần bò này cho em nhá!
      Tôi giật mình, khoát tay:  
      – Đâu được cô! Hiện giờ tôi chỉ có mỗi cái quần này trên người, bán cho cô, lấy gì mặc?
      Cô vẫn nài nỉ:
      – Thì em đổi rẻ cho anh cái quần tây thường khác.        
      Tôi vẫn lắc đầu. Rồi cặp mắt thiện nghệ của cô bỗng rà lên khắp châu thân tôi, như radar, ngừng trên chiếc áo pull trắng, cổ cao, tôi đang mặc, tuy còn mới, nhưng sau tám năm “biệt giam” trong nhà kho kín mít, đã ngả sang màu vàng nhạt, và thoang thoảng có mùi mốc, pha lẫn với hương nách cũ, chưa kịp giặt, bay ra… khá nồng. Cô lên tiếng tán, ngọt xớt:
      – Hay là ônanh bán cái áo này cho em!
      Trong túi xách tôi còn một áo sơ mi xanh, nên đồng ý bán. Cô ta trả giá 3 đồng. Tôi ngồi im re. Từ hồi cha sanh mẹ đẻ đến nay, tôi có đem áo quần đi bán bao giờ đâu, làm sao biết giá cả? Một bà già, hàm răng đen láy, ngồi cạnh cô bỗng lớn tiếng nói: “Ối giời, chỉ có quân ăn cướp ngày mới giả cái giá đó. Tôi giả 5 đồng đấy, cậu bán, tôi lấy ngay!” Tôi lại càng phân vân, chưa biết xử trí thế nào thì cô nọ liếc xéo bà kia: “Tôi tăng lên 10, mụ già nhà quê Quảng Ninh có theo nổi không nào?” Nghe hai người sừng sộ với nhau, đám tù binh và cả tên cán bộ xúm lại, xem màn bán đấu giá “đột xuất”, càng lúc càng hấp dẫn. Một anh thiếu tá đồng tù đập đập tay xuống thềm xi măng, hỏi: “Mại dô, mại dô. Có ai trả thêm nữa không?” Bà già cười khẩy: “Tôi giả 12 đồng đấy, con nặc nô Hà Tĩnh có ý kiến gì không nhỉ?” Cô gái tức khí, đáp lễ: “Tôi trả thêm 3 đồng, tổng cộng 15, mụ già nhà quê Quảng Ninh thấy thế nào?” Cả đám vỗ tay rào rào, tên cán bộ cũng cười. “Mụ già nhà quê Quảng Ninh”, cuối cùng, chịu không thấu, bỏ cuộc. Anh thiếu tá chỉ vào “con nặc nô Hà Tĩnh”, phán: “Không ai trả thêm nữa, tôi khóa sổ nè và long trọng tuyên bố rằng cô em gái Hà Tĩnh này được trúng tuyển mua áo pull của anh trai đại úy tù binh ngụy Vĩnh Phú, với giá 15 đồng chẵn, không bớt xu nào”. Cả đám, tù cũng như dân, ôm bụng cười lăn. Tiền trao áo múc, tôi bèn cởi ra ngay tại chỗ, giao tận tay cho cô. Vào thời điểm đó, 15 đồng là món tiền phải chăng, vì giá một tô phở khoảng 7 đồng, một ly bia 3 đồng. Tổng kết, có hai mươi tù binh “bị” mua áo, mua quần trong buổi sáng đó. Đủ tiền bát phố Hà Nội trong một ngày.
 
      2) Bất ngờ có tiền phụ trội trên trời rớt xuống, cộng vào món tiền khiêm tốn được trại trả lại, tôi bỗng nổi hứng, đóng vai trưởng giả học làm sang: tắm nước nóng. Phòng tắm kế bên sân ga, thấp, nhỏ, mái tôn và vách lợp bằng tre đan. Trên cửa, viết nguệch ngoạc ba chữ bằng vôi trắng: Tắm lước lóng. Phòng chỉ có một lối ra vào. Giá vé là 2 đồng, trả trước cho một chị sồn sồn, hô răng, ngồi gác bên ngoài. Vừa lom khom chui vào, đóng cửa lại, chưa kịp làm gì, tôi nghe có tiếng nước xối ở gian trong, và dưới ánh nắng lùa qua khe hở, thấy vắt ngang trên tấm liếp ngăn hai gian một quần tây xanh đậm, và một áo lụa vàng, có thêu chim cò, kèm theo hai mảnh đồ lót, trên trắng, dưới hồng, rất “hiện đại”, rất khêu gợi mà, tôi đoán nhanh, chủ nhân chắc chắn không thể là một trong những “mụ già nhà quê Quảng Ninh” khi nãy. Tôi đang đứng lóng ngóng, chưa biết phải làm gì, thì từ phía trong vọng ra một giọng Bắc còn trẻ, nhưng không phải âm hưởng Hà Nội, của một cô chắc đã nhìn thấy tôi qua khe liếp, trong gian ngoài đầy ánh sáng: “Anh là tù cải tạo hả? Đừng ngại, cứ vô tư cởi quần áo ra, phòng tắm công cộng, ai cũng làm như thế cả!” Tôi im lặng, vì sợ gặp phải thứ dữ, chứ có gái nhà lành nào cả gan dám tắm truồng chung đụng như thế, chưa kể tắm xong, làm sao đi ra, nếu gian ngoài đang có người? Tôi đứng bất động như người trúng gió, căng mắt dòm vào, nhưng bị bóng tối ghen tuông che kín, không cho thấy chi hết. Sau tám năm thiếu đàn bà, trí tưởng tượng vụt bay lên, bay cao, bay xa, rạo rực, nhưng cố dằn xuống kịp thời.
      Tôi múc, bằng gáo, nước từ trong hai cái vò sành, bắt đầu súc miệng. Nước quá lạnh, buốt thấu răng, và óc, làm tê liệt giây thần kinh thèm muốn. Tôi mở hé cửa ngoài, thò đầu ra, khiếu nại với chị bán vé. Chị ta trả lời, đúng bài bản, như quá quen với “sự cố” này: “Bữa lay, nhiều khách tắm quá, bác ạ, đến nượt bác thì lước lóng hết đột xuất, em đun không kịp, bác cố gắng khắc phục tắm bằng lước nạnh hộ em!” Tôi đành rửa mặt, và nhúng khăn lau sơ phần trên, rồi mặc lại áo, đi ra. Xong một buổi tắm “lước lóng”. Tại thủ đô nước CHXHCNVN, năm 1983. Không biết bây giờ phòng tắm dã chiến bên hông ga Hàng Cỏ ngày ấy có còn không.
 
     3) Vì thời gian chờ xe lửa quá lâu, theo đề nghị của anh em, trưởng đoàn tù binh, trung úy người Huế – được bầu một cách “khẩn trương” do nhu cầu công vụ – xin cán bộ cho phép anh em đi “tham quan” Hà Nội mùa xuân. Hai cán bộ “hội ý” với nhau, và chấp thuận, với điều kiện không đi xa và phải trở lại ga trước 7 giờ tối, ai trễ sẽ bị bỏ lại, ráng chịu. Lúc đó mới 11 giờ trưa. Tất cả hồ hởi phấn khởi xuất quân. Một vài anh em già, yếu, bệnh, mệt, ở lại nhà ga và tình nguyện giữ hộ các túi xách với lời bảo đảm sẽ được “đền ơn bội hậu” khi anh em đi chơi về.
      Tôi rủ ba người bạn khá thân cùng đội tù K1 đi chung, trong số có một ông Thiếu tá già Tiếp Liệu Bộ Tổng Tham Mưu, cởi mở, chính gốc Hà Nội, nói năng lúc nào cũng từ tốn, chậm rãi, rề rà, nghe sốt cả ruột. Vừa rời sân ga, ông Thiếu tá bỗng dừng lại, vẻ mặt đăm chiêu, mắt ngó ngang ngó dọc, chỉ chỏ cho ba chúng tôi, không phải dân Bắc kỳ, và nói:
      – Hồi năm 1954, nhà tớ ở gần ga Hàng Cỏ này, trong khu Hàng Bông-Thợ Nhuộm, tức phía Cửa Nam. Không biết căn nhà có còn đấy không.
      Rồi ông dẫn cả bọn đi loanh quanh, và cuối cùng chui vào một dãy phố, đối diện ga. Những túp nhà chạy dọc theo con phố đều cũ mèm, mái đã rêu phong với những viên ngói lung lay, như răng bà lão, không biết bay theo gió lúc nào, tường vôi lâu ngày loang lổ thành màu trắng đục, có chỗ lòi ra một lớp gạch xám xịt. Phía trước là những hiệu buôn, đượcông thiếu tá gọi là “hàng”, thấp lè tè, bước vào sơ ý là bị đụng vỡ đầu, nối liền với những “căn hộ” phía sau, cao hơn, lớn hơn. Sau một phút lưỡng lự, ông bước vô một gian “hàng”, không biết tên gọi là gì, có lẽ hàng Giày, vì bán toàn giày dép. Nghe ông kể, khi cả gia đình ông leo lên tàu há mồm vào Nam, thì, dĩ nhiên, cửa hiệu bán guốc và nhà ở của gia đình ông bị tịch thu và đổi chủ. Chủ mới, không biết mấy đời rồi, là một anh trung niên, nói tiếng Quảng Bình giả giọng Bắc, lịch sự hỏi: “Các bác muốn gì ạ?” Ông thiếu tá già cười, mà như mếu, theo nghĩa hoàn toàn đen, vì tám năm dài đằng đẵng trong tù bạn bè đã bẻ giùm ông, bằng những sợi chỉ bện lại, mất hết năm răng cửa và hai răng hàm: “Trước năm 1954, tôi đã ở nhà này”, ông trả lời. Rồi xin ra phía sau để nhìn lại nó, và kể hết đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong thiên tình sử, anh chủ mới mủi lòng, ân cần mời ông chủ cũ lên cầu thang gỗ thăm lại căn nhà của chính ông.  
 
      4) Ba thằng chúng tôi, hai Nam kỳ, và một Trungkỳ, không có dây mơ rễ má gì với cố đô Hà Nội, hay tàu há mồm, xin rút lui, để mặc ông thiếu tá già thoải mái đi tìm thời gian đã mất, như văn sĩ Pháp Marcel Proust. Lúc ấy có hai đồng tù trẻ, khác K, xin nhập bọn. Tiếp tục dạo phố. Vừa đi tôi vừa quan sát, ngắm nhìn thiên hạ, vừa nghĩ đến những giai nhân Hà Thành trước kia, mà suốt bao năm tôi đã ấp ủ trong tim bóng hình thướt tha và giọng ca vàng đầy chất Hà Nội được phát thanh trực tiếp trên các làn sóng Sài Gòn. Hay lãng mạn, hư cấu hơn, những nữ nhân vật có học, duyên dáng trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng –mà khung cảnh đều là Hà Nội của những thập niên 30, 40. Và, trên hết, các công chúa Mỵ Châu, Lý Chiêu Hoàng, Trần Huyền Trân, Lê Ngọc Hân của Thăng Long nghìn tuổi, mang kiếp hồng nhan bạc phận trong thực tại lịch sử, đã làm ngây ngất trí tưởng nơi người hậu thế “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” (Kiều), như những giấc mơ huyền thoại quyến rũ, dị kỳ.
      Những cô gái, gọi là Hà Nội, dưới thời Việt Cộng, mà hôm nay tôi mới được diện kiến trực tiếp, thấy khác lạ quá đỗi. Đã thiếu nhan sắc, và thước tấc, mà lại kênh kiệu, nói năng cộc lốc, không bao giờ được học và nói hai chữ “cám ơn” và “xin lỗi.” Mặc áo sơ mi nhét trong quần tây, theo mốt hiện hành, bỏ chiếc áo dài cổ truyền, và chân đi “sa-bô” (sabot?), danh từ tôi mới nghe lần đầu, tức loại giày nhựa, bịt kín phía mũi, gót để trống, đế rất cao, như một thứ dép tân thời, thay cho “thanh bình tiếng guốc reo vui” ngày xưa của nhạc sĩ Hoàng Dương. Lại còn giọng nói nữa. Lạ lắm, trời ạ! Tiếng Hà Nội gì mà nghe như pha với giọng Nghệ An của “Bác”, hay Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình. Những dấu sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã phát ra lung tung, loạn xạ, tùy tiện. Nghe chua lè, còn hơn giấm. Bởi thế, khi giọng nói Hà Nội ấy bay vào Miền Nam, sau cuộc đổi đời, người dân Sài Gòn nhận ra ngay sự khác biệt rõ rệt giữa hai thứ tiếng Bắc kỳ, (19)54 = 9 nút, của Kim Tước, Thái Thanh… và Bắc kỳ, (19)75 = 2 nút, rất lơ lớ, chói tai, của những ca sĩ trẻ, từ Hà Nội, ồ ạt Nam tiến, rồi sau đó và bây giờ, thừa thắng xông lên, xâm nhập luôn những Cộng đồng Việt Nam tỵ nạn tại Mỹ, vô tình hay hữu ý thực hiện chủ trương “giao lưu văn hóa” của VC, tiếp tay bởi tên nhà văn MC thò lò hai mặt. Về dung nhan, các ca sĩ ấy vượt trội những cô gái mà tôi đã gặp tại Hà Nội năm 1983. Nhưng giọng nói “2 nút” chua lè thì vẫn y chang.
 
      5) Lang thang mãi, mỏi chân, và đói bụng, chúng tôi tắp vào một quán phở, không xa ga Hàng Cỏ là bao. Ba cô gái “phục vụ” (chạy bàn), mặc đồng phục, sơ mi và quần tây, đứng ở quầy hàng, thấy năm ông khách quý bước vào, trơ mắt ngó, không thèm chào mời. Và phớt lờ, tiếp tục trò chuyện với nhau. Quán lúc ấy không có ai ngoài năm đứa tôi.       
      Chờ lâu, một anh, cựu trung úy Biệt Động Quân, người Nam hiền khô, nhưng tướng rất ngầu, da ngăm ngăm đen, nói năng bạt mạng, lại ngọng nữa, sốt ruột, lớn tiếng hỏi:     
      – Nè, bộ mấy bà chê tụi tui không tiền hay sao mà không ai ga (ra) tiếp dzậy?
      Một cô trả lời, giọng Bắc the thé như lai tiếng Thanh Hóa, Nghệ An:
      – Ăn gì thì đến quầy mà gọi.     
      Anh BĐQ đứng lên, khệnh khạng tiến tới quầy, hai tay thọc trong hai túi quần. Tôi bước theo, sợ to chuyện, và nhắc nhở “tụi mình vẫn còn là tù binh, chưa được phát giấy ra trại”. Anh hiểu, và nói mộthơi:    
      – Cho tụi này năm tô phở bò tàu bay Hiền Vương, tái, chín, nạm, gầu, gân, sách, nước béo, giá trụng, hành trần, chanh, ớt, tương đen, ngò gai, nhiều bánh, nghe kịp không?
       Ba cô, dĩ nhiên, nghe sao kịp, không hiểu, hay chỉ hiểu lõm bõm, trợn tròn mắt, tưởng anh nói tiếng Ấn Độ. Một cô, có lẽ tổ trưởng, xẵng giọng:
      – Đây là cửa hiệu quốc doanh. Chỉ có một loại phở mà thôi, không có thứ gì khác. Rõ chưa?
      Anh quay nhìn tôi, rồi ngó thấy cô “chằn” quá, liền xuống nước:
      – Gõ gồi (rõ rồi). Ờ, thì cô bán cho năm tô đi. Và năm chai bia.
      – Không có bia chai, mà chỉ bia “bốc” thôi.
      Anh lại hỏi:
     – Bia “bốc” là bia gì dzậy?        
     – Là bia hơi rót từ cái bình thủy tinh lớn kia, ông cụ nội ạ, chứ còn là bia gì nữa
 Tôi cười cười, cố tình nói đùa cho tình hình bớt căng thẳng:
     – Nghĩa là chưa uống nó đã “bốc hơi” bay đi hết, phải không cô?  
      Nhưng cô quốc doanh nguýt tôi, rồi lườm anhBĐQ, mắt tóe lửa, như muốn nhai tươi nuốt sống hai thằng. Và bảo “trả tiền trước đi đã”, tổng cộng cả bia lẫn phở cho năm tên “ngụy” là 50 đồng.
      Hai thằng trở lại bàn. Ngồi chờ mãi, gần nửa tiếng, mà phở, bia chưa thấy mang ra, anh lại bực bội, gõ chiếc muỗng vào cái ly nghe leng keng, rồi nói lớn:
       – Sao lâu quá gồi mà không thấy ai bưng phở, đem bia ga dzậy cà?
        Cô “tổ trưởng” từ quầy cũng to tiếng, đáp lễ:
       – Đến đây mà bê ra, không ai hầu cho đâu!
      Cả đám bật đứng lên, bước đến phía quầy, thấy một lô tô phở, không nước, làm sẵn đồng loạt từ lâu, nằm chình ình trên một cái khay lớn. Nghĩa là khách địa phương, rành thủ tục, chỉ có việc đến quầy trả tiền, lúc đó các cô “phục vụ” mới đổ nước lèo nóng vào, rồi tự động ai nấy bưng tô phở ra bàn. Phở lơ thơ vài cọng rau, chỉ có một lát thịt bò thái mỏng như lưỡi lam cạo râu, sẵn sàng bay theo cơn gió vô tình lướt qua. Nước phở còn nhạt hơn nước ốc. Bia “bốchơi” thì khỏi nói: không khác chi nước trà lên men.       
      Ăn uống tạm no, nhưng còn ấm ức, anh trung úy BĐQ rút điếu thuốc Điện Biên ra hút, mơ màng nhả khói, như triết gia Jean-Paul Sartre trên vỉa hè Paris, rồi than nhỏ với tôi: “ĐM. Cái gì cũng quốc doanh, không khá nổi. Phở, bia, hay cha, thầy, sư quốc doanh gì cũng đều cà chớn gáo (ráo) trọi.”
      Ra đường, gặp một toán khác đi ngược chiều – khoe vừa mới nhậu thịt chó xong. Hỏi ngon không, thì một anh hậm hực trả lời: “Ngon gì mà ngon. Thịt chó quốc doanh chỉ có độc mỗi món luộc chấm với mắm tôm, không ớt, mùi tanh lắm. Nhưng lỡ trả tiền rồi, cũng phải ráng nuốt thôi. Thịt chó Hà Nội gì mà bết bát hết sức, thua xa thịt chó Hố Nai.”
 
      IV. Rồi năm đứa chia tay nhau, đường ai nấy đi, hồn ai nấy giữ. Hẹn trở về ga Hàng Cỏ trước 7 giờ tối, hoặc sớm hơn. Còn nhiều thời gian để mà giết. Làm gì cho hết nửa ngày nữa?
      Tôi nẩy ý muốn đi xem phong cảnh Hà Nội. Bèn vẫy một chiếc xích lô. Phu xe là một thanh niên trên ba mươi, tên Tứ, dáng dấp khỏe mạnh, nói nhiều, giọng Bắc Khu Tư (Vinh). Tôi thương lượng:    
      – Anh chở tôi đi chơi vòng vòng xem cho biết Hà Nội, cứ đạp từ từ, đến chỗ nào cũng được, tùy ý anh, trong ba tiếng, rồi chở tôi trở lại ga Hàng Cỏ trước 7 giờ. Anh lấy bao nhiêu?
      Anh mau mắn đáp:
– Dạ, bèo lắm thì cũng 40 đồng đấy anh ạ…
      Tôi vừa ngồi lên nệm xe, anh đã đề nghị đi Hồ Hoàn Kiếm trước. Hà Nội đang còn mùa xuân, hai bên đường hoa nở rộ, thắm tươi. Những cành đào nặng trĩu hoa, rực rỡ một màu đỏ hồng, cong xuống, la đà theo gió. Thấy tôi mải mê ngắm nghía một cách thích thú, Tứ góp chuyện:
      – Còn một loài hoa nhỏ, chỉ nở từ tháng 3 đến cuối tháng 4, tức tháng này, trắng xóa ven đường, lại tỏa hương thơm nhè nhẹ. Tuyệt vời, anh ạ. Đó là hoa sưa… Đấy, anh ngắm đi, kia kìa, đúng là một cảnh tuyết, giống ở Sapa…
       Tôi hỏi lại:
      – Hoa sưa hay hoa sữa?
      – Dạ sưa. Du khách Sài Gòn ra, ai cũng lộn.
      Dọc đường, ít thấy xe hơi, xe gắn máy hay bộ hành qua lại. Du khách ngoại quốc, hay Việt kiều, cũng vắng. Một thủ đô đang hấp hối hay đang ngái ngủ, tôi có cảm tưởng, lạc hậu nhất trên hành tinh này. Lãnh đạo tự phong toàn là một lũ thất học, ngu đần, lúc bấy giờ còn say men chiến thắng, còn bận nhiều việc: trả nợ cho hai nước “anh em vĩ đại”, Liên Xô và Tàu Cộng, trả thù người chế độ cũ, lừa và lùa hàng trăm ngàn tù binh “ngụy” vào rọ “học tập cải tạo”, đày dân đi vùng kinh tế mới để cướp nhà của họ, vơ vét và chia chác của cải từ Miền Nam khuân ra Bắc, khoác lác khoe khoang với thế giới rằng “VN đã đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, Pháp và Mỹ”, và “VN chúng tôi có quá nhiều anh hùng, vừa ra ngõ là gặp anh hùng”… Nên chúng chưa có kế hoạch phát triển kinh tế, làm cho đất nước giàu mạnh.
      Xích lô chạy một hồi, đến hồ Hoàn Kiếm lúc nào không hay. Tôi bước xuống, đi bộ lên thảm cỏ xanh. Những nhánh liễu ven hồ, rũ xuống, tàn lá lưa thưa, không đủ “che nửa mặt hoa” (Bạch Cư Dị) của những cô gái trẻ ngồi tâm sự bên tình nhân, trên ghế đá. Tôi thấy họ có vẻ ngượng nghịu, lúng túng đến tội nghiệp khi nắm lấy tay nhau, nói chi ôm nhau, hôn nhau. Thương cho họ. Và ở một cảnh ngộ khác, thương cho chính tôi và những chiến hữu bất ngờ trở thành tù binh, không kịp hẹn trước với Định Mệnh, vừa đứng trước cổng trại giam là đã phải bỏ lại tất cả: quá khứ, vị lai, tình yêu, ước mơ, và thảm não hơn, hy vọng. Dường như những cặp tình nhân này mới dưới quê lên thành phố, hoặc vừa được Bác và Đảng “cởi trói” cho phép yêu nhau, sau tám năm “chiến thắng” Miền Nam, trong khi Bác và bè lũ, những con yêu râu xanh thời đại, tha hồ “đồi trụy”, vợ nọ con kia, mà mồm cứ phun ra những lời sặc mùi đạo đức giả.
      Những tia nắng lấp lánh đuổi nhau trên mặt hồ. Nhìn xa thấy màu nước đẹp lung linh, xanh như một tấm thảm rêu trải dài. Gần bờ, trái lại, nước hồ quá bẩn, có chỗ lềnh bềnh những rác rưởi, giấy báo, bao ni lông, lon, ca, cóng do ai vứt xuống bừa bãi, tắt nghẽn, không trôi đi được. Trước kia, tôi đã đọc trong một quyển tiểu thuyết và nghe các ông bạn lớn tuổi, chính gốc Hà Nội ba mươi sáu phố phường, kể rằng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm thời trước 1954, sạch sẽ lắm, là nơi tụ họp vui chơi cuối ngày, và cuối tuần, của đông đảo dân Hà Thành, có những kiosques bán kem và lạc rang húng lìu nóng dòn, có giọng ca nhí nhảnh của Joséphine Baker phát ra từ đĩa nhạcxưa, “J’ai deux amours: mon pays et Paris..”  nhưng bây giờ, đứng đấy, tôi không nghe, không thấy gì hết. Cũng như, theo lời Tứ kể, ở Hồ Tây, mà anh ngại xa không muốn chở đến, không còn những chiếc périssoires (thuyền thoi) – mà dân Đà Lạt rất quen thuộc trước 1975, trên hồ Xuân Hương. Hay người Cộng sản không biết ăn kem Bờ Hồ, không biết nhai lạc rang, không biết nghe nhạc Pháp, không biết bơi thuyền thoi, cho đó là sản phẩm của Thực dân, Đế quốc? Vua Lê Lợi nếu sống lại chắc sẽ cămgiận lắm về những hậu sinh khả ố, mất dạy, mê muội hiện tại, nhắm mắt theo đuôi chủ nghĩa Cộng sản khốn nạn. Tôi cầu xin, khi mùa đông về, mưa bay lất phất, rùa thần nổi lên mặt hồ, cho ngài mượn lại thanh kiếm báu để chém bay đầu bè lũ chúng nó, như trưóc kia đã chém bay đầu Liễu Thăng và giặc Minh…
      Rời hồ Hoàn Kiếm, Tứ chở tôi dạo một vòng Bưu điện gần đó, là một tòa nhà đồ sộ xây theo lối Tây, và xa hơn, những “phố” (thực ra là những con đường) Huế, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng… mà tại mọi góc đều có Công An đứng gác, súng ống trang bị đến tận răng, mắt cú vọ nhìn gốc cây nào cũng thấy “phản động”, mặc dù đất nước đã thanh bình lâu rồi.
      Khi tôi ngỏ ý muốn đi thăm Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Tứ lẩm nhẩm tính:
      – Đến Văn Miếu thì phải vòng trở lại ga Hàng Cỏ, qua phố Hàng Lọng, theo phố Sinh Từ…
       Tôi cắt ngang:
      – Anh có nói, tôi cũng chẳng biết phố nào là phố nào. Thôi, tôi nhắm mắt để anh chở tôi đi đường nào cũng được.
       Như tên gọi, đó là một khu “miếu” lớn, với lối kiến trúc cổ xưa, từ thế kỷ XV, trang nghiêm, thanh nhã, gồm một gian thờ Khổng Tử và môn đệ, một lầu vuông tám mái gọi là Khuê Văn Các, nơi bình thơ của các sĩ tử, cạnh giếng Thiên Quang mà hai bên tả, hữu thấy dựng hai hàng bia đá khắc tên tám mươi hai vị đỗ tiến sĩ, qua các triều đại. Trên cổng ngoài cùng có vẽ hình hai con cá chép theo điển tích “cá vượt vũ môn”, ngụ ý người học trò đi thi được ví như cá chép phải vượt ba đợt sóng dữ, tại cửa sông, mới biến thành rồng, chỉ sự thành công tột bực. Chứ không phải, tôi nghe ai kể, các thí sinh thích ăn cá chép, theo cách hiểu của đa số học sinh XHCN bây giờ. Bước đi, tôi thấy người bỗng thoát trần, xa rời tục lụy và thực tế tối đen, xấu xí hiện nay, để lòng nhẹ tênh. Như bay bổng trong không gian và thời gian lồng lộng. Như nghe tiếng thiết tha gọi về từ đáy Hôn Dân Tộc thanh cao của bốn ngàn năm văn hiến và từ những trang Sử Việt oai hùng qua bao dòng đời hưng phế, với Trưng, Triệu, Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn… những triều đại bị bọn “đỉnh cao trí tuệ” Trường Sơn chê là phong kiến, lạc hậu, độc tài, mà người dân vẫn được tự do đi lại, vẫn được ăn no mặc ấm, vẫn được vua chúa thương yêu như con, vẫn được học hành đến nơi đến chốn theo truyền thống nhân bản, vẫn được gọi mời tham gia vào công cuộc trị nước và giữ nước. Mà những tiến sĩ, đang hiện diện trong Văn Miếu kia, được vinh danh và trọng vọng nhờ vào thực tài, đức hạnh, chứ không bởi văn bằng dỏm, văn bằng lậu, văn bằng tậu được do tiền bạc và mánh mung, như trong thời kỳđồ đá, đồ khỉ, đồ đểu hiện nay…
 
      V. Từ giã Văn Miếu, thấy còn dư một tiếng, tôi đề nghị Tứ chở đi xem giếng ngọc của Trọng Thủy và Mỵ Châu – mà chuyện tình diễm ảo và bi thảm đã ám ảnh, mê hoặc hồn tôi, từ lúc còn trẻ cho mãi đến bây giờ, hơn bất cứ chuyện tình diễm ảo và bi thảm nào trong văn chương thế giới, kể cả Tristan et Iseut  hay Romeo and Juliet. Tứ đáp:
      – Xa lắm anh ạ, tận mãi Cổ Loa, quận Đông Anh, phía Bắc, cách Hà Nội 16km, không đi xích lô được, vả lại không kịp giờ lên xe lửa đâu.       
      Đành trở lại ga Hàng Cỏ, trước giờ qui định. Trao tặng những anh giữ-hộ-viên-túi-xách một bịch chuối ép khô mua tại cửa Bưu điện và kể sơ về chuyến du hành bằng xích lô. Hai cán bộ đã có mặt. Rồi lục tục, các đồng tù trở về “trình diện” kịp, hay trước, giờ, vì không ai dại, làm lỡ chuyến tàu xuôi Nam. Đúng 8 giờ tối, tất cả lên tàu, ngồi trong một toa, do “trên” (nhà nước) dành riêng, sau khi cán bộ đọc tên và phát cho từng người giấy ra trại, kèm theo lời dặn dò, hay mệnh lệnh chót, “các anh nhớ thi hành tốt lệnh quản chế địa phương, và phấn đấu làm ăn tốt, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đừng trốn chạy ra nước ngoài”. Hai tên cán bộ ở lại ga và chúng tôi hoàn toàn tự do, từ đây, ít ra trong đêm đó.
 
      Tàu khởi hành trễ nửa giờ. Chạy khoảng một tiếng thì ngừng lại tại một ga nhỏ, đón khách “nhảy tàu” (buôn bán lậu trên xe lửa) ra Bắc và trở vào Nam. Đa số là phụ nữ Miền Nam, còn trẻ, biết có một toa tù cải tạo được thả, họ đem hàng đến gửi, nhét đại phía dưới ghế ngồi, vì qua kinh nghiệm, tin rằng công an không bao giờ vô lục khám. Chúng tôi thông cảm, để mặc và ngược lại họ mua bánh trái đãiđằng để trả công ơn đồng lõa. Vài người, mà thân nhân còn trong tù cải tạo, đứng nán lại, hỏi han, tâm sự. Và bất ngờ, tôi được biết trong số có một chị là vợ của một trung úy, đồng đội K1, không được thăm nuôi, đói, nhưng rất có bản lĩnh, tư cách. Tôi nói nhỏ với chị:
      – Ảnh đói lắm. Chị ráng thu xếp ra thăm ảnh một chuyến.
      Chị bật khóc, nước mắt đầm đìa, trả lời:
       – Em biết. Và thương ảnh lắm. Nhưng nhà nghèo quá, phải nuôi đàn con nhỏ nữa. Khi nào dành dụm được chút ít, chắc chắn em sẽ ra thăm ảnh
      Cảm động, tôi móc từ túi quần được một nắm tiền, chừng hơn 100 đồng của trại trả lại, kín đáo đưa tặng chị, nói để “mua quà cho các cháu”. Chị không nhận và vì tế nhị, tôi không nài ép. Cách đây hai năm, tình cờ tôi gặp lại anh chị – qua Mỹ theo diện HO, và làm ăn khá giả, con cái thành đạt – tại nhà một người bạn chung. Sau ba mươi năm, chị nhìn tôi, xa lạ, không nhận ra là ai và tôi cũng không nhắc gì về chuyến tàu đêm năm cũ ấy.
 
      Tàu chạy thâu đêm, qua những địa danh lịch sử, tôi chỉ nghe nói đến mà chưa hề thấy tận mắt, như Hà Tĩnh, quê hương tuổi nhỏ của đại thi hào Nguyễn Du. Hay Quảng Bình, nơi sinh quán của Tổng thống Ngô Đình Diệm, với Đèo Ngang nổi tiếng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan và sông Gianh phân chia ranh giới Bắc Nam giữa quân Trịnh và quân Nguyễn, thếkỷ XVII. Khi đến Cửa Tùng, An Du Tây, Quảng Trị, quê nội tôi, trước khi tàu qua cầu Bến Hải, tôi nhìn chăm chú ra ngoài, như một phản xạ, nhưng không thấy gì cả ngoại trừ một vùng đồng ruộng tăm tối, bao la. Tự nhiên, một cảm giác xa lạ, trống vắng xâm chiếm tâm hồn. Và thấy đắng chát trong cổ họng… Bởi một nơi không đến bao giờ, và không có một chút kỷ niệm, dù là quê cha đất tổ, cũng chỉ là một chấm đen trên bản đồ. Tôi gục đầu xuống thành cửa sổ, muốn khóc. Bỗng nhớ ba tôi quay quắt, đã mất không lâu trước đó, mà tôi không được gặp mặt. 
     
      Ngược lại, tại sân ga Huế, sáng trưng ánh đèn, một cảnh sinh hoạt náo nhiệt diễn ra, dù đã quá nửa khuya. Khi những em bé bán bánh, nước trà bắt gặp chúng tôi ngồi la liệt trong toa đặc biệt, biết là tù “ngụy” trở về, liền báo động cho những đồng nghiệp lớn tuổi, và một đám các bà, các o chạy túa đến, reo vui: “Sĩ quan cải tạo về kia tề, anh mô cũng đẹp trai hết, không như mấy cha bộ đội. Thấy các anh cực khổ mà thương chi lạ!”. Vài anh thò đầu qua cửa sổ mua bánh, chuối, thịt gà chiên, nhưng họ không lấy tiền. Lại còn, khi tàu chuyển bánh, chạy theo, ném thêm qua cửa sổ…
 
      Sáng hôm sau, tàu ngừng tại ga Nha Trang, lúc 9 giờ. Tôi thuê xích lô trở về nhà. Xuất hiện tại cửa như một bóng ma hiện hình. Mẹ và Bội Trân đứng sững giây lâu, rồi cả hai ôm chầm lấy tôi, khóc nức nở. Tôi hôn lên má, lên tóc Mẹ và qua vầng trán nhăn nheo và mái đầu bạc trắng, ngậm ngùi tưởng nhớ dung nhan của Mẹ ngày xưa và tình thương bao la suốt đời Mẹ dành cho từng đứa con. Tôi nhìn Bội Trân, người em tiếp viên Air Vietnam kiều diễm của tôi, sau ngày đất nước đổi chủ, đổi tên, đã bị trời xanh quen thói má hồng đánh ghen bắt chịu nhiều nỗi truân chuyên, như người chinh phụ trong Đoàn Thị Điểm. Ôm em trong tay mà tưởng như ôm một khối tình sầu hóa thân chất ngất, chưa tan, mà biết rằng em, qua dòng lệ mừng cho tôi, cũng đang khóc nhớ hôn phu – một phi công, vì em không đi, đã ở lại Sài Gòn sáng 30 tháng 4, để bây giờ vĩnh viễn gãy cánh, nằm xuống tại một nơi nào trong trại tù Thanh Phong. Bởi em buồn, tủi phận, tôi cũng thấy hồn mình nát tan, không muốn bộc lộ nỗi vui được thả, không muốn kể gì về những trại tù đã đi qua… Xem tất cả như một chương đời khổ nạn khép lại, một cơn ác mộng phải quên. Cho riêng tôi, và cho giùm em gái và những người vợ tù khác.
 
      VI. Ba mươi hai năm qua, kể từ ngày ấy. Biết bao nhiêu chuyện đời xảy đến. Từ Mỹ, tôi đã đi thăm nhiều thủ đô lớn, nhỏ trên thế giới. Nhưng vẫn không sao quên được hình ảnh Hà Nội tuyệt đẹp, mà tôi đã gặp trong sử sách, cùng với hình ảnh cố đô Thăng Long cổ kính và huyễn mộng qua hàng chục thế kỷchiến tranh giữ nước. Thăng Long hay Hà Nội. Của một Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân, rồi cưỡi thiết mã bay về trời. Của một Lý Thường Kiệt đứng trên sông Như Nguyệt, sang sảng ngâm bài thơ, được xem là bản tuyên ngôn đầu tiên về chủ quyền quốc gia Việt Nam, cách đây mười thế kỷ, độc đáo nhất, quyết liệt nhất: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư...”, trước khi xuất trận đánh tan quân xâm lược. Của một Trần Nhân Tông và các bô lão trong Hội Nghị Diên Hồng, đồng thanh quyết chiến đến cùng. Của một Trần Hưng Đạo với câu nói, có một không hai trong lịch sử nhân loại về sự hy sinh tột độ cho đất nước: “Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng” – là danh tướng duy nhất trong quân sử thế giới đã đánh bại đế quốc Mông Cổ (tức nhà Nguyên), hùng mạnh nhất lúc bấy giờ, bách chiến bách thắng, mà vó ngựa đã giẫm nát toàn cõi Đông Âu, Nga, Trung Đông và Đông Nam Á. Của một Trần Bình Trọng, bị bắt, với thái độ hiên ngang, ngẩng cao đầu trước địch quân: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Của một Lê Lợi với hơn mười năm kháng chiến nằm gai nếm mật. Của một Nguyễn Trãi với chính sách thu phục nhân tâm diệu kỳ“Lấy trí nhân thay cường bạo”. Của một Nguyễn Huệ với những chiến thắng mùa xuân thần tốc lẫy lừng. Của một Hoàng Diệu, tổng đốc trung liệt, đã tuẫn tiết cùng chết với thành Hà Nội. Của toàn dân, qua các triều đại, đã sát cánh với vua, quan, tướng lãnh đánh đuổi bọn Đại Hán xâm lược, mà dù là Ân, Ngô, Tống, Nguyên, Minh, Thanh xưa kia, hay Mao (Cộng) ngày nay – tất cả đều là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
 
      Cũng như tôi không sao quên được hình ảnh, ngược lại, điêu tàn của một Hà Nội mà tôi đã gặp vào một ngày mùa xuân 1983, cổ lỗ và rách nát trong tay giặc Việt Cộng. Dưới sự thống trị của bọn lãnh đạo ma đầu thay nhau tự phong, ngu dốt, tham tàn, phản bội dân tộc, rước voi về giày mả tổ, thấy kẻ thù là run như cầy sấy, nhưng đối với dân thì hung bạo, đánh đập, bắn giết, bỏ tù. Hà Nội trong mắt tôi, ngày xuân ấy và nhất là bây giờ, dưới xích xiềng giặc Việt Cộng, chỉ là thủ đô của hận thù, của hạ tiện, của xảo trá, của băng hoại về mọi giá trị đạo đức, xã hội, giáo dục, kinh tế, an sinh và lương tâm. Chỉ là biểu tượng của một đất nước mà dân nghèo phải đầu tắt mặt tối, bươn chải kiếm sống, mà học sinh phải đu dây qua sông để đến trường, mà dân giàu lo ăn chơi, trụy lạc, say xỉn, mà tướng tá và công an được mua bằng tiền, tự biến thành chó ngựa, cung cúc phục vụ chế độ phi nhân, mà tất cả, trong những hoàn cảnh sống khác nhau như thế, cũng đều quên đi nhiệm vụ cao cả do tiền nhân giao phó: đứng lên chiến đấu giữ nước, trước hiểm họa Bắc thuộc do Tàu Cộng đang mưu toan với chiến thuật mới, mềm dẻo hơn, tinh vi hơn, nghĩa là bằng chính tay những thằng lãnh đạo Việt Cộng.
      Hà Nội ấy, một lần đi qua, tôi sẽ không bao giờ trở lại, dù chỉ một giờ, một phút, nếu tổ quốc Việt Nam yêu dấu chưa sạch bóng nội thù Việt Cộng, nếu người dân chưa, hay chưa thể, đứng lên tiêu diệt bọn lãnh đạo bây giờ, và ném vào sọt rác lịch sử cái chủ nghĩa Cộng sản quái thai, quái dị, quái đản, đã ngự trị từ hơn ba phần tư thế kỷ trên đất nước tang thương, bất hạnh này –đã vô phúc sản sinh ra một tên Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, còn bỉ ổi, ghê tởm hơn Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống.     
 
      VII. Khát vọng và ước mơ tuyệt vời đó về một Việt Nam tương lai phi Cộng sản, tôi lo, khó thành hiện thực cho tôi và những ông bạn chiến binh già, trong cuộc đời này. Thời gian vô tình cứ trôi đi, và bóng đời cứ nghiêng đổ, mà giật mình ngoảnh lại, thấy chưa làm gì được cho đất nước thân yêu còn mãi quằn quại trong nanh vuốt Việt Cộng. Có thể không kịp nữa. Họa may, kiếp sau. Nếu Thần Chết không bắt chúng tôi bỏ lại tất cả mọi hy vọng,  khi bước qua bờ tử sinh. Và nếu trong Inferno, thi hào Dante cũng tha, cho những kẻ đứng trước cửa địa ngục, hình phạt nặng nề nhất, tức là phải mang theo mối tuyệt vọng đời đời. Lasciate ogni speranza voi ch’entrate (Hãy vứt bỏ tất cả hy vọng, hỡi các ngươi đang bước vào.)
Kim Thanh (NLGO)

Space Needle: Remaking an Icon—King 5 Evening

Part 1


Part 2


Part 3


Part 4—The Big Reveal


 

Happy Father’s Day

FathersDay2019

Tình Cha—Lê Văn Ở | Papa—Paul Anka | Daddy’s Little Girl—The Shires




 

D-Day 75th Anniversary—Donald J. Trump

DonaldTrump1

2019 West Point Graduation Closing Minutes Alma Mater to Toss—USMA


Mưa Lạnh Tàn Canh—Hoàng Thục Linh

Khi Người Cao Tuổi Lái Xe—Bảo Huân

Cứ mỗi ngày ở Mỹ có 10 ngàn người bước vào tuổi 65, và đa số những người này vẫn còn lái xe. Những kỹ thuật mới của xe hơi, và số lượng càng ngày càng đông đảo xe cộ lưu thông, nhiều thay đổi của cảnh quan và đường sá, tất cả đều tạo thêm nhiều thách đố hơn đối với những vị lái xe cao tuổi.

09_urgent_signs_loved_one_stop_driving_driving_behavior_changes_monkeybusinessimages

Một số sai phạm mà người lái xe hay mắc phải là chạy quá tốc độ cho phép, vượt đèn đỏ, không ngừng ở nơi có bảng stop, lái xe không đúng lane, quẹo trái không đúng cách… Đã vậy, đối với người cao tuổi, lại còn có những yếu tố khác như tâm tính thay đổi hoặc những hạn chế do sức khỏe gây ra, cũng làm cho việc lái xe thêm phần nguy hiểm.

Nếu quý vị, hoặc người thân là người tài xế cao tuổi, có nhiều phương cách để giúp quý vị an toàn trên xa lộ và tiếp tục lái xe thêm nhiều năm nữa. Điều cốt yếu là phải biết khả năng thể lý bị hạn chế ra sao lúc về già. Sau đây là một số gợi ý của AARP (American Association of Retired Persons, Hiệp hội Người Mỹ Cao niên).

1. Theo dõi về sức khỏe: Cẩn thận khi có những thay đổi về sức khỏe như tầm nhìn, âm độ nghe, trí nhớ và sự tập trung.

2. Giữ khoảng cách an toàn. Áp dụng luật “3 giây đồng hồ” khi lái xe sau một xe khác để kịp đủ thời giờ phản ứng lại những nguy hiểm có thể xảy ra. (Luật ba giây: Nhìn xe phía trước khi xe đó chạy ngang qua một đối tượng nào đó, như cột đèn, bảng chỉ dẫn lưu thông… rồi bắt đầu đếm (một ngàn một, một ngàn hai, một ngàn ba) xem xe mình đã tới đối tượng đó chưa. Nếu chưa đủ 3 giây mà đã tới đối tượng đó rồi thì là ta chạy quá gần xe trước, nên chậm lại để khoảng cách với xe đó không quá gần).

3. Tránh phân tâm. Bất cứ chuyện gì khiến mắt ta không nhìn mặt đường là sự phân tâm, như dùng cell phone, ăn uống, dùng GPS, thay đổi tần số đài radio…

4. Điều chỉnh cho thích hợp. Ghế ngồi, gương chiếu hậu, gương hai bên xe… nên được chỉnh sao cho vừa với tầm nhìn để có thể thấy được xe cộ di chuyển phía sau và hai bên hông xe.

5. Tự hạn chế. Tránh lái xe trong giờ cao điểm, ban đêm, hoặc thời tiết xấu, mà nên lái lúc ban ngày sáng sủa vào những giờ ít xe cộ lưu thông vội vã.

6. Quẹo phải. Thay vì quẹo trái ở những đường quẹo nguy hiểm nhiều xe cộ qua lại, nên quẹo phải, có thể tới ba lần để đến hướng quý vị cần đi.

7. Đừng quên stop. Ở nơi có bảng stop, nhìn kỹ đường trước khi ngưng xe. Nếu có xe đi trước, đợi hai giây cho xe đó đi rồi mới tiến tới chỗ stop, ngừng hẳn rồi mới tiếp tục đi.

8. Kiểm tra lại thuốc men. Hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ xem thứ thuốc ta dùng có gây hậu quả gì khi lái xe hay không.

9. Cảnh giác về người khác. Xe đạp, xe gắn máy, người đi bộ… đều tạo thêm những thử thách cho người cao niên khi lái xe. Hãy rất mực cẩn thận tại các ngã tư đường và khi nhập xe vào dòng xe cộ trên đường.

10. Sao cho có khoảng đệm. Giữ sao cho có khoảng trống chung quanh xe của quý vị, trên đường hoặc ở bãi đậu xe, để còn chỗ xoay xở khi cần.

Có một số tài xế còn trẻ thường tỏ ra bực bội khi chạy gần xe những vị cao niên, hoặc vì tốc độ thường chậm hay vì những phản ứng không mấy nhanh lẹ của những vị này. Xin hãy có tấm lòng bao dung đối với người già cả để thông cảm hơn là tỏ thái độ bực tức.

Driving-01
Bảo Huân

Người Vợ Mù—Vô Danh

Trong một chương trình radio mang tên “Nẻo Về của Trái Tim”, một cô gái mù đã gửi cho những người làm chương trình câu chuyện của mình sau đây:

Tôi là một kiến trúc sư vui vẻ, hoạt bát. Cách đây một năm, tôi là người vợ hạnh phúc nhất. Khi thức dậy cùng người mình yêu vào mỗi sáng, chúng tôi thường cùng nhau thưởng thức một tách trà trong không gian yên tĩnh đầu ngày.
Chúng tôi xây dựng cho mình một thói quen: sẽ luôn cố gắng chia sẻ với nhau những suy tư và cảm nhận chân thật nhất của mỗi người để gìn giữ hạnh phúc.
Cuộc sống của chúng tôi êm đềm trôi qua cho tới một ngày. Trên đường từ bến xe buýt vào tới công ty, tôi thấy mọi thứ như nhòa đi trước mắt, chỉ còn lại những tiếng còi xe inh ỏi. Rồi tôi lập tức được đưa vào bệnh viện. Ngày hôm đó, tôi vẫn còn nhớ rất rõ ràng cảm giác khi nghe câu kết luận của bác sĩ: 
“Đây là một căn bệnh thoái hóa nên chúng tôi cũng không thể giúp được gì.” Bác sĩ còn giải thích rất nhiều điều nữa, nhưng trong đầu tôi chỉ còn đọng lại duy nhất câu nói: “Cô sẽ sớm bị mù.”
Tôi không biết các bạn sẽ cảm thấy ra sao khi đối diện với sự thật này. Còn tôi, tôi đã đầu hàng một cách hèn nhát. Tôi khóc, tôi cáu bẳn thậm chí nhiều lần gắt gỏng, đặc biệt khi chỉ có tôi và anh, trong căn nhà hạnh phúc của chúng tôi.
Tôi đã rất sợ, sợ bị rơi vào bóng tối, sợ phải làm một người mù và sợ nhất rằng tình yêu của anh dành cho tôi cũng sẽ không còn.
Thời gian đó, ông chủ vẫn sắp xếp cho tôi một công việc nhỏ trong văn phòng. Nhờ đó, tôi có thể được ra ngoài vào mỗi sáng. Được đi làm đã trở thành niềm hạnh phúc nhất của tôi khi ấy. Công việc cho tôi cảm giác tôi không phải là người thừa, tôi được chứng minh sự mạnh mẽ của mình và thỏa mãn cái tôi đang bị tổn thương ghê gớm.
Tôi không còn dùng trà vào mỗi buổi sáng với chồng nữa. Bởi tôi muốn tất cả phải chịu trách nhiệm về căn bệnh của mình, đặc biệt là chồng tôi.
Trước sự thay đổi chóng mặt của vợ, chồng tôi không nói gì, anh chỉ lẳng lặng quan sát và chịu đựng những cơn nóng giận vô cớ. Hơn thế nữa, anh giúp tôi làm mọi công việc nhà bất chấp sự phản đổi đầy ngang bướng của tôi.
Tôi quyết định vẫn đi xe buýt tới công ty như tôi luôn làm trước đây. Tôi biết mình đã rất quen với con đường và tôi cũng đã dần thành thục việc sử dụng cây gậy cho người mù. 
Chồng tôi đề nghị, hãy để anh đưa tôi đi làm mỗi sáng và trở về đón tôi mỗi buổi chiều. Nhưng tôi từ chối, tôi không muốn anh phải vất vả như vậy, bởi nơi chúng tôi làm việc cách nhau rất xa.
Chồng tôi không phản đối, anh chỉ nói: “Hãy cẩn thận khi qua đường nhé, ngã ba đó khiến anh lo lắng hơn cả.”
Tôi giữ im lặng trước lời dặn dò của anh.
Mọi chuyện sau đó diễn ra suông sẻ ngoài mong đợi của tôi. Có lẽ sự lo lắng của tôi và chồng tôi đều là thái quá. Khi dừng tại đèn đỏ ở ngã ba đầu tiên, tôi nhớ lại lời của chồng và bắt đầu cảm thấy sợ. Ngay lúc ấy có một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên:
“Cô ơi, cô có thể dẫn cháu qua đường không?” Tôi quá đỗi ngạc nhiên với câu hỏi của cậu bé, hình như cậu bé không biết tôi bị mù. “Cháu à, cô xin lỗi, nhưng cô sẽ không bảo đảm an toàn được cho cháu vì cô không nhìn thấy…” Tôi chưa kịp nói hết câu thì cậu bé chen vào.
“Cháu biết cô bị mù, cháu xin lỗi! Ý cháu là cô không nhìn thấy, nhưng không sao… Cô là người cao lớn, những người lái xe sẽ nhìn thấy cô, họ sẽ tránh chúng ta. Còn cháu sẽ dắt cô qua đường, cháu sẽ làm đôi mắt cho cô ở ngã ba này nhé.”
Trước lời nói ngây thơ của cậu bé, tôi thấy mũi mình cay cay. Chuyển gậy dò đường sang tay phải, tôi chìa bàn tay còn lại để nắm lấy bàn tay nhỏ bé đó. Cậu bé nắm tay tôi thật chặt. Cái siết tay của cậu khiến tôi có thêm rất nhiều tự tin. 
Hóa ra tôi vẫn còn có ích, vẫn có thể giúp đỡ một ai đó chứ không hoàn toàn là “đồ vô dụng” như tôi luôn nghĩ về mình sau khi không còn nhìn thấy. Bên trong tôi bất giác thấy lại được niềm vui. Cậu bé quả là một người dẫn đường tài tình, chúng tôi đã qua đường an toàn và dường như không làm một người lái xe nào nổi giận. Khi chia tay ở ngã ba, cậu bé nói: “Cháu hy vọng mai cô sẽ lại ở đây nữa, vì sáng nào cháu cũng phải đi qua ngã ba này để đến trường. Cảm ơn cô nhiều nhé. Giờ cháu đi học đây.”
Cậu bé chào tôi và chạy đi nhanh như một cơn gió. Trước khi đi, cậu bé quay lại, nói thật to: “Hẹn cô ngày mai nhé, cháu sẽ chờ cô đấy.” Cậu bé khiến nụ cười trở về trên môi tôi, đôi má tôi cũng ửng hồng.
Một cảm giác ấm áp khiến những căng thẳng bao ngày qua tan mất. Có lẽ ai đó nhìn thấy tôi lúc ấy sẽ phải thắc mắc: cô gái mù ấy sao lại cười rạng rỡ như thế?
Không để tôi thất vọng, ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa, cậu bé vẫn xuất hiện và chúng tôi đã trở thành đôi bạn “chinh phục ngã ba” từ đó.
Đôi lúc chúng tôi còn nán lại nói chuyện với nhau. Tôi đã biết cậu bé thiên thần ấy tên là Jimmy. Jimmy nhỏ người, mặt nhiều tàn nhang, tóc màu hung và có một cái mũi hơi kì lạ. Đó là dáng vẻ mà cậu bé tả về mình cho tôi nghe.
Nhờ Jimmy bé nhỏ, tôi dần lấy lại niềm vui trong cuộc sống của mình. Tôi cũng đã có thể đối đãi dịu dàng trở lại với chồng, không còn nặng nề với anh nữa. Nhưng cảm giác muốn mở lòng để chia sẻ với chồng vẫn chưa trở về.
Niềm vui của tôi chỉ kéo dài được một tháng.
Sáng hôm đó, khi ở ngã ba tôi không thấy Jimmy, cậu bé đến muộn chăng? Tôi chợt hiểu ra rằng hình như những đứa trẻ đã kết thúc năm học và Jimmy sẽ không đến trường ngày hôm nay. Tôi chưa biết làm thế nào để qua đường khi không có người hoa tiêu nhỏ bé, tiếng lanh lảnh quen thuộc vang lên: “Cô James chờ cháu.”

“Cháu đấy à, cô mừng quá, cô cứ nghĩ là cháu sẽ không đến.”
“Cháu không thể để cô một mình qua đường được. Đó là lời hứa danh dự. Nhưng cháu sắp theo bố mẹ về quê với ông bà rồi. Cô biết mà, trường học đã nghỉ hè và hôm nay là ngày cuối cùng cháu ở đây.” Tôi cảm thấy lo lắng và hơi buồn, nhưng cố trấn tĩnh. Tôi hỏi Jimmy về “lời hứa danh dự” của cậu bé, điều khiến tôi cảm thấy rất tò mò.
“Cháu đã hứa với một người. Nhưng chú ấy không cho cháu nói điều này với cô.” Chúng tôi cùng nhau băng qua đường trong im lặng. Nhưng khi tới nơi, cậu bé níu tay tôi lại, hỏi rằng tôi có thể đi với cậu bé một chút không? Tôi đồng ý và chúng tôi thả bộ cùng nhau trong một công viên gần đó. Hóa ra cậu bé muốn kể cho tôi nghe về lời hứa danh dự của mình.
Ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, đã có một người đàn ông nhờ cậu bé dắt một phụ nữ xinh đẹp nhưng bị mù qua đường.

Người đàn ông ấy giải thích với cậu bé rằng, đó là vợ chú. Cô ấy vừa bị mất đi đôi mắt và chú không thể yên tâm để cô ấy một mình đi qua con phố đông đúc này. Nhưng chú cũng không thể tự tay dắt cô sang đường, vì cô đang đóng cửa tâm hồn mình với chú. Nước mắt tôi bắt đầu rơi. Cậu bé tiếp tục kể. Cậu bé đã đồng ý giúp người đàn ông lạ mặt đó.
“Không chỉ một lần, cháu không biết tại sao nhưng khi nghe chú ấy kể về cô, cháu nhớ đến cách bố cháu nói về mẹ, đầy yêu thương. Vì thế, cháu đã hỏi chú ấy có cần cháu giúp những ngày tiếp theo không. Đôi mắt của chú ấy lúc đấy rạng rỡ như mắt cháu lúc được đi chơi hay ăn kem vậy.”
“Đó là lý do vì sao sáng nào cháu cũng ở đây chờ cô?” Vâng, nhưng không chỉ chờ cô, cháu chờ cả chú ấy nữa. Chú ấy ngày nào cũng đi qua đường với chúng ta mà.
Chú chỉ lặng lẽ đi cạnh cô, cách cô một đoạn để cô không cảm thấy sự có mặt của chú ấy. Chỉ khi cô cháu mình sang đường an toàn chú ấy mới đi làm.” “Thật vậy sao?”
Tôi không còn biết nói gì hơn. “Cháu không định nói chuyện này cho cô nghe. Nhưng ngày mai cháu đi rồi. Cháu sợ cô sẽ thấy hoang mang vì không có cháu. Thêm nữa, cháu sợ cô vẫn giận chú.” “Vậy hôm nay chú ấy có đi cùng chúng ta không, Jimmy?”
Chồng tôi đã đứng đó từ bao giờ. Anh đã lắng nghe câu chuyện của cô cháu tôi. Tôi không biết khuôn mặt anh lúc ấy như thế nào… Chỉ biết có một bàn tay to lớn, ấm áp và rất quen thuộc nắm lấy bàn tay tôi, nhẹ nhàng dắt tôi đi hết quãng đường từ công viên tới văn phòng.
Sau ngày hôm ấy, tôi đồng ý để chồng chở đi làm, và buổi chiều tôi đi xe buýt về, anh đã nhờ được một người bạn trong công ty đưa tôi ra bến xe. Tôi còn được biết, công việc mà ông chủ sắp xếp cho tôi chính là nhờ anh đã tới gặp và thuyết phục ông.
Đó là câu chuyện tình yêu mà tôi muốn chia sẻ với các bạn.

Những ngày tháng vừa qua đã khiến tôi nhận ra rằng: Trong cuộc sống nhiều đau khổ này, tình yêu thực sự hiện hữu, và nó mang một sức mạnh chữa lành thật to lớn. Khi nghĩ về sự nhẫn nại của anh suốt thời gian cùng tôi và Jimmy sang đường, khi cảm nhận được rằng trái tim chan chứa thiện niệm của anh luôn nghĩ cho cảm giác của tôi, nghĩ đến việc làm thế nào để tôi an toàn và hạnh phúc nhất, tôi mới hiểu ra thế nào là thực sự yêu một ai đó…
Chia sẻ câu chuyện này cũng là cách tôi muốn anh biết: Từ tận đáy lòng, tôi biết ơn tình thương và những điều anh đã dành cho tôi. Và hơn thế nữa, anh và Jimmy bé nhỏ đã cho tôi hiểu và học được rằng, yêu thương một người là dành cho người đó sự bao dung, nhẫn nại và những điều thiện lành nhất mỗi ngày

Vô Danh

Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn—Health/TT

Bạn bị đau xương khớp cổ vai gáy, đau lưng và đầu gối? Bạn đang tìm một bài tập thể dục giúp phòng và chữa bệnh này? Đây chính là gợi ý tuyệt vời nhất mà bạn nên thử tập ngay.
Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn

Bệnh xương khớp được xem là một trong những căn bệnh phổ biến, càng ngày càng trẻ hóa với tỉ lệ người mắc bệnh tăng cao. Nhưng do các dấu hiệu bệnh xuất hiện ở mức từ nhẹ đến nặng, từ không rõ ràng đến đau đớn có trải qua một quãng thời gian khá dài nên nhiều người hầu như không để ý, thậm chí coi nhẹ căn bệnh nguy hiểm này.

Tuy nhiên theo các chuyên gia sức khỏe, đây là căn bệnh có thể làm giảm chất lượng sống, gây đau đớn và rất khó để điều trị triệt để trong khi bệnh có xu hướng nặng lên theo thời gian. Cách tốt nhất để giải quyết các chứng đau xương khớp chính là tập thể dục.

Trong muôn vàn bài tập, bạn biết chọn tập động tác nào khi thời gian có hạn mà lại muốn tăng nhanh hiệu quả tập luyện? Hãy tham khảo 5 động tác đơn giản dưới đây. Nếu bạn muốn cải thiện các chứng đau, việc của bạn là phải kiên trì tập, sáng và tối hoặc bất kỳ lúc nào rảnh rỗi.

Bệnh đau cổ vai gáy, đau lưng hay đầu gối… không chỉ tác động tại điểm đau, mà còn là nguyên nhân gây ra các bệnh khác như đau đầu chóng mặt, ù tai, đi lại khó khăn, vóc dáng vì ảnh hưởng, khiến cho người bệnh khó chịu và khổ sở.

Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 1.

Bài tập sau đây được xem là thuốc “giảm đau” cho những người bị bệnh về xương khớp

1. Bài tập chữa đau đốt sống cổ

Mỗi ngày bạn nên tập động tác này đều đặn, vừa đi bộ vừa giơ tay lên cao. Đi khoảng 200 bước.

Bài tập này có tác dụng phòng và trị bệnh đau cổ. Ngoài ra, trong khi làm việc, cứ ngồi 1 giờ đồng hồ, bạn nên dừng lại hoạt động một chút, tập xoay vai cổ, bất kỳ lúc nào rảnh có thể xoa bóp vùng cổ, xoa cho đến khi nóng ấm vùng da bên ngoài là sẽ có hiệu quả.

Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 2.

2. Bài tập chữa đau đốt sống lưng

Bị đau đốt sống lưng, khó chịu vùng lưng dưới, người mỏi thường xuyên, bạn có thể tập động tác này. Người muốn phòng bệnh cũng nên tập, vừa tránh bệnh, vừa đẹp dáng.

Thay đổi chân khi tập, lặp lại 50 lần. Mỗi ngày tập 2 lần vào buổi sáng và tối.

Khi tập động tác đá chân ra sau, có thể cảm thấy vùng lưng dưới hơi đau một chút. Nếu người bị đau nhiều hoặc muốn tăng hiệu quả nhanh, nên tập bất kỳ thời gian nào trong ngày, bất kỳ nơi nào bạn đứng và có thời gian rảnh. Đá chân khoảng 100 cái.

Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 3.

3. Bài tập bảo vệ các khớp

Thực hiện động tác đứng dựa vào tường hoặc một mặt phẳng, ngồi xuống đứng lên khoảng 30 lần. Có thể tập 2 lần vào sáng và tối.

Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 4.

4. Bài tập chữa đau đầu gối

Khi bị đau đầu gối, mỏi hoặc khó chịu, kể cả người đi lại nhiều, ngồi nhiều, muốn phòng chữa đau đầu gối có thể thực hiện động tác vỗ đầu gối bằng cách dùng 2 tay vỗ nhẹ vào phía trước đầu gối, phía 2 bên và phía sau. Mỗi một vị trí quanh đầu gối nên vỗ nhẹ khoảng 30 cái.

Việc vỗ đầu gối tưởng đơn giản nhưng nếu làm thường xuyên, sẽ giúp cho các kinh mạch và mạch máu được kích thích, giúp chúng hoạt động hiệu quả, máu lưu thông thuận lợi, giúp tăng cường và sản xuất dịch ở xương khớp.

Khi bạn ngồi trên xe hoặc ngồi xem ti vi cũng có thể xoa bóp vùng đùi, chân, đầu gối, việc này vô cùng hữu ích trong việc giúp sản sinh dịch cung cấp cho khớp và tuần hoàn máu nhanh hơn, giảm đau hiệu quả.

Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 5.

5. Bài tập chữa đau xương hông

Đứng thẳng người, dang hay tay ngang sang hai bên thẳng bằng vai. Đứng một chân làm trụ, nhấc chân còn lại đá sang hai bên. Mỗi lần tập tối thiểu kéo dài khoảng 1 phút, mỗi ngày nên tập từ 2-3 lần.

Ngoài ra, hàng ngày, bất kỳ khi nào bạn rảnh rỗi, đều nên vỗ vào vùng xương hông nhẹ nhàng. Mỗi lần vỗ khoảng 80 cái, đây là cách tốt nhất để giảm tình trạng đau mỏi.

Đau cổ vai gáy lưng và xương khớp từ đầu đến chân: Chỉ cần tập 5 động tác này là sẽ đỡ hẳn - Ảnh 6.

Hầu hết các cơn đau trong cơ thể là do tình trạng bị nhiễm lạnh và ẩm ướt gây ra, từ đó lưu thông máu không tốt, và cơn đau sẽ được tạo ra theo thời gian. Cách tốt nhất để thực sự giải quyết cơn đau là:

– Ít ngồi hơn

– Chơi nhiều môn thể thao hơn.

Tóm lại, nghe nói đến bệnh xương khớp, sẽ không khiến bạn sợ hãi ngay lập tức, nhưng nếu mắc bệnh, rất khó điều trị, giảm chất lượng sống, ảnh hưởng sinh hoạt và công việc cũng như tuổi thọ. Vì vậy, hãy siêng năng chăm sóc cơ thể hàng ngày để phòng bệnh. Nếu có bệnh, càng phải chăm sóc tốt hơn.

Nếu thấy bài viết bổ ích, hãy chia sẻ cho bạn bè của bạn.

*Theo Health/TT

Ghen—Nguyễn Thị Hải Hà

Quê liếc nhìn tờ giấy đặt ở góc bàn làm việc của chồng. Đến gần hơn một chút chị nhận ra đó là tờ báo cáo hàng tháng của Visa. Quê ngạc nhiên, chồng chị không khi nào để giấy tờ liên quan đến tiền bạc lộ liễu như thế. Lấy nhau lâu năm chị không hề biết chồng làm bao nhiêu tiền, tiêu xài vào khoản nào bởi vì chồng chị giấu rất kỹ những chuyện “riêng” như thế. Có lẽ anh vội vã chuyện gì đó nên quên. Tò mò chị cầm tờ báo cáo lên xem, dịp may có một không hai mà. Trên tờ báo cáo đa số là những khoản chi tiêu bình thường như tiền chợ ở Shop Rite, đổ xăng, cái bánh sinh nhật mừng chú em rể. Tuy nhiên, có ba khoản tiền lạ, đó là tiền ăn ở nhà hàng sushi ở Highland Park vào buổi trưa một ngày thứ Tư, tiền ăn ở một tiệm sushi khác ở Edison vào chiều thứ sáu, và tiền ăn ở cái Diner Sunset cách nhà Quê hai đèn giao thông vào sáng thứ Bảy. Thứ Tư và thứ Sáu Quê đi làm. Thứ Bảy Quê đi thư viện rồi đi chợ và thật tình chị không chú ý anh ở nhà hay đi đâu. Mà anh có đi đâu loanh quanh thì cũng là chuyện bình thường. Anh em của anh sống gần chung quanh. Anh đến nhà anh em, ở ăn cơm hay giúp làm giấy tờ nếu có ai nhờ. Chị biết tính chồng rất giản dị. Anh không thích đi ăn ở nhà hàng, viện cớ phải đóng bộ cho tươm tất, phải chờ đợi lâu lắc, thức ăn dầu mỡ không tốt cho sức khỏe. Anh lại càng không thích sushi bảo rằng ăn gỏi cuốn ngon hơn gấp mấy lần. Quê không thể nào hình dung chồng chị vào nhà hàng gọi thức ăn rồi ngồi ăn một mình bởi vì cái hình ảnh ấy quá khác biệt với người chồng chị chung sống bao nhiêu năm.

Ai? Đồng tiền nối liền khúc ruột. Đàn ông thường mở hầu bao nơi họ đặt trái tim. Ai là người khiến anh vượt qua thói quen không đi ăn nhà hàng và không thích ăn sushi? Nếu anh đi ăn với bạn bè sao chẳng nghe anh nói? Trước hôm tiệc Giáng sinh, anh đi mua sắm quần áo. Đây là chuyện lạ, ít khi anh chưng diện se sua. Có lẽ chị để lộ vẻ ngạc nhiên nên anh giải thích, “tiệm nào cũng có big sale, anh thấy rẻ quá nên mua thêm quần áo giày vớ.”

Quê vừa khen chồng, vừa đùa: “Anh diện lên trông trẻ hẳn ra. Coi chừng người ta mê là mệt nhé!”

Anh trả lời: “Anh không diện cũng có người mê!”

“Ai mê?” – Chị hỏi.

Anh cười, không trả lời.

Bạn gái của anh chỉ có Katya, cô bạn học chung trường Luật. Cô chừng hơn bốn

mươi, tóc vàng, mắt xanh. Katya nói tiếng Anh có giọng Nga khá nặng. Nàng có một con trai và đã ly dị chồng. Katya có cặp mắt rất to, dường như thu hồn người. Trước khi gặp Katya, Quê không thể nào tưởng tượng được có người có cặp mắt to và sâu như thế. Quê nghĩ với đôi mắt ấy nhìn sâu vào có thể thấy được rừng cây khô sau nhà, vẽ thành tranh chắc cũng đẹp như tranh Đinh Tiến Luyện trên những bìa của báo Tuổi Ngọc. Cô không đẹp đến choáng người nhưng càng nhìn càng thấy xinh. Hôm lễ Tạ ơn, anh đột nhiên bảo Quê:

“Ngày mai Quê làm gỏi cuốn nhé.”

Quê hơi ngạc nhiên. Anh ít khi nào đặt món ăn như thế. Thậm chí chị hỏi anh thích ăn món gì anh cũng chỉ ừ à cho qua chuyện. Quê hỏi:

“Tại sao lại làm gỏi cuốn?”

“Vì ngày mai Cá Linh ở trường về, sẵn dịp đãi con bé.”

Cá Linh đang học nội trú ở Rutgers , trường đại học cách nhà chừng nửa giờ lái xe. Mãi một lúc sau, giữa những chuyện lặt vặt trong nhà anh như sực nhớ ra, nói thêm: “Ngày mai sau khi ký giấy tờ sang tên nhà của anh Tu chị Na cho đứa con trai của anh chị, anh mời Katya ở lại ăn tối.”

Anh giải thích thêm là tuy anh làm sẵn giấy tờ nhưng anh muốn Katya làm luật sư cho anh chị bởi vì anh là người trong gia đình nên không muốn ra mặt chịu trách nhiệm. Quê đoán là anh muốn giúp đỡ Katya bằng cách đưa thân chủ cho nàng. Nàng mới mở văn phòng luật, chưa có thân chủ, nợ nần tứ tung lại còn phải nuôi đứa con trai tật nguyền. Chị có cảm tưởng anh muốn đãi Katya món gỏi cuốn; nhưng tại sao lại không nói thẳng với chị? Bữa ăn ấy Quê không làm gỏi cuốn vì Cá Linh bảo muốn ăn cà-ri. Quê nghe anh giải thích với Katya, gỏi cuốn tương tự sushi và nàng nhìn Quê với đôi mắt xanh thăm thẳm bảo rằng nàng rất thích sushi nhưng chưa bao giờ được ăn gỏi cuốn. Quê cười nói với Katya: “Lần khác Quê xin được đãi bạn món này. Quê không biết chồng Quê muốn giới thiệu món gỏi cuốn với bạn. Giá mà anh ấy bảo với Quê thì Quê đã làm.” Có thể nào là nàng không? Quê không dám nghĩ sâu xa hơn. Lâu nay chị hoàn toàn tin cậy chồng; giữa hai người nếu có vấp ngã thì chỉ có Quê là người vấp ngã. Dù gì hai người cũng quen nhau từ hồi ở Việt Nam, gặp lại nhau ở trại tị nạn, yêu nhau giúp đỡ nhau học hành suốt mười năm trời trước khi chính thức kết hôn. Tình sâu nghĩa nặng lắm mà. Ăn tối xong, Quê dọn dẹp rửa chén bát, còn anh và Katya ngồi nán lại ở bàn ăn nói chuyện thì thầm rất lâu. Ách Cơ, đứa con lớn bảo với Quê, Katya đến nhà vài lần khi mẹ không có ở nhà, mẹ có biết không? Quê tự bảo mình không nên ghen xằng nhưng bỗng dưng thấy mệt đuối. Ngày mai anh sẽ đưa Quê đi leo núi nhân dịp này chị sẽ hỏi anh cho biết đầu đuôi.

Quê soi mình trong gương thấy thương hại cái già nua xấu xí của mình. Không béo lắm nhưng đã có cằm đôi. Quê có gương mặt tròn ngày còn nhỏ thường bị mắng là

mặt thịt, mặt thịt là mặt của người ngu. Nhiều khi ngẫm nghĩ Quê thấy mình thật thà quá hóa ngu. Cái eo của Quê ngày trước hình chữ V nay đã biến thành chữ U. Quê bị chứng mặc cảm tự ti rất nặng; ít khi giao du bạn bè vì Quê tin rằng người nào tiếp xúc với chị đều không thích chị vì chị không dịu dàng hay bặt thiệp. Quê đi leo núi với chồng vì anh bảo Quê cần phải vận động nhiều hơn, ngồi một chỗ nhiều dễ sinh bệnh tật, nhất là mới đây Quê bỗng bị ngất xỉu đôi lần. Biết mình cần đi khám tim nhưng Quê cứ chần chờ, dường như chị sợ khám phá trái tim của chị có chứa những điều không hay.

Địa điểm leo núi cách nhà khoảng hơn một giờ lái xe. Điểm cao nhất khoảng ba trăm năm mươi mét so với mực nước biển. Mùa Đông năm nay thời tiết ôn hòa, giữa mùa Đông mà ấm đến 45 độ F. Quê nhìn rừng núi, tuy đã rụng hết lá mà vẫn đầy vẻ rậm rạp nói với chồng:

“Mùa hè mà đến đây có lẽ sẽ bị con tick cắn hay muỗi cắn anh nhỉ?”

Chồng chị nói nhẹ nhàng: “Con tick là con bọ chét. Em có cái tật hay chêm tiếng Anh nói hoài không được.” Anh lúc nào cũng khôn hơn, giỏi hơn, cầu toàn hơn và luôn luôn chỉnh sửa Quê. Nhiều khi không vui nhưng Quê vẫn im lặng vâng lời chồng. Vợ chồng Quê ít khi cãi nhau, bạn bè người thân vẫn thường kháo nhau gia đình Quê hạnh phúc nhất. Anh nói thêm: “Bọ chét thì có thể nhưng muỗi chắc không nhiều vì ở đây không có đầm lầy.”

Tin cậy chồng, Quê lặng lẽ nối buớc. Quê không thường thắc mắc chất vấn vì biết tính chồng cẩn thận chu đáo. Đôi khi Quê có ý thích khác nhưng biết rằng khó mà lay chuyển quyết định của chồng nên thường chịu thua trước khi mở lời. Mỗi khi đi đâu anh nghiên cứu bản đồ biết rõ địa thế nơi muốn đến vì thế Quê thường để tùy anh quyết định. Lúc nãy chị thấy bảng ở bãi đậu xe cho biết đây là con đường mòn vòng quanh núi Turkey. Chị đi theo anh, quá thân thuộc nên không có gì phải nói. Bước đi của hai người đều đặn nhịp nhàng như một bản đàn quen thuộc. Anh chỉ cho chị thấy những ô vuông màu đỏ khắc trên cây.

“Cứ đi theo những ô vuông màu đỏ khắc trên cây như thế này là sẽ đi hết con đường mòn vòng quanh núi và về địa điểm khởi hành.” – Anh nói.

Rừng già, lá vàng khô rơi phủ mặt đất dày như thảm. Vài nơi, nước đóng thành băng từ dưới lòng đất trồi lên trông giống như những cây đinh to màu đá cẩm thạch trắng đục có vân đen. Đường đi mỗi lúc một cheo leo. Bên cạnh con đường mòn hẹp là hố sâu. Chỉ cần không chú ý là có thể trượt chân rơi xuống hố. “Giá mà rơi xuống có lẽ sẽ không đau đâu nhỉ, thảm lá dày trông êm ái như thế kia. Nhưng có lẽ khó mà leo lên từ hố sâu như thế.” – Quê nghĩ thầm. Một cơn mưa to những đường trũng ấy sẽ biến thành những con suối ồ ạt chảy. Chăm chú leo núi, Quê thở gấp. Đôi ba lần chị muốn hỏi về những lần đi ăn nhà hàng của anh nhưng không tiện mở lời.

Ở đỉnh núi, nhìn phía xa xa là một chục ngôi nhà dưới thung lũng. Bên tay phải là hai cái hồ, một cái rất to, một cái nhỏ hơn, nối vào nhau. Anh bảo:

“Đó là hồ Valhala. Mình đi đến đó để chụp ảnh nhé.”

Quê yêu thích cảnh đẹp. Những lần đi chơi chị đều mang theo cái máy ảnh bỏ túi để ghi lại cảnh thiên nhiên. Quê thường xa lánh những nơi nhộn nhịp, thiên nhiên là nơi tịnh dưỡng tâm hồn. Rủ đi đâu chị có thể từ chối nhưng để được ngắm cảnh đẹp Quê sẵn sàng lặn lội. Đi để có thể viết bài và có hình đăng lên blog.

Hai người leo qua những tảng đá, lội qua những con suối cạn, nước trong veo thấy những hòn đá trắng dưới đáy. Quê bảo với chồng:

“Hễ có hồ là có nước đọng và thế nào cũng có muỗi.”

Hai người bắt đầu chuyến đi hơi trễ. Ra khỏi nhà một giờ trưa. Đến nơi hơn hai giờ. Lang thang trong núi rừng vẹt lau xua cỏ tránh nhánh gai, chị mệt đuối sức và mặt trời sắp lặn. Buổi chiều sụp xuống rất nhanh, hơi núi làm chị thấy lạnh. Hai cái hồ thấy gần như vậy mà đi hoài không đến. Quê thấy lo lắng, đòi về.

“Thôi mình đi về đi anh, tối rồi, coi chừng bị lạc trong rừng.”

Chồng chị đưa cho chị bình nước anh đeo trong ba-lô. Mấy tiếng đồng hồ mà bình nước trà có pha chút cà phê vẫn còn ấm áp.

“Em ăn thêm chút phô-mai cho đỡ mệt.”

Quê nhìn quanh, những cây chung quanh Quê không còn ô vuông đỏ nào cả. Quê nói với chồng: “Mình đi lạc rồi anh.”

Chồng chị nói giọng vẫn đầm ấm tỉnh táo:

“Mình chỉ cần đi lên chút nữa đến gần hồ sẽ bắt vào con đường mòn khác và sẽ trở ra đường lớn chỗ để xe.”

Bóng cây với những cành khô có vẻ gì dọa nạt, trông giống như những bàn tay xương xẩu móng nhọn níu xước áo chị. Quê thấy sợ hãi, tim đập mạnh khó thở choáng váng. Anh đi trước, nhẹ nhàng, nhanh nhẹn tay bật đèn pin. Cây gậy dùng để giữ thăng bằng khi leo núi vung vẩy trên tay. Quê nghĩ chồng giống Hiệp Khách Hành. Trên đồi cao trông anh dường như cao lớn hơn. Quê càng lúc càng bị tuột lại sau lưng. Quê có cảm tưởng suốt đời mình cứ phải cố gắng để đi theo kịp chồng trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Một cố gắng lâu dài đôi khi Quê thấy mình mỏi mệt như kiệt sức. Anh đi nhanh quá, khỏe quá, hăng say quá không ngó lại sau lưng. Thoáng một cái anh khuất sau những bụi cây tảng đá rồi mất dạng. Quê cố gắng ngóng cổ tìm bỗng trượt chân, bổ nhào hai ba bước. Quê thấy mình rơi, quơ níu hụt hẫng. Và tất cả chỉ còn lại bóng tối.

Khi tỉnh lại, Quê thấy vầng trăng đã lên. Hai chân Quê mềm èo nằm quặt dưới thân người Quê như hai sợi dây thừng. Quê không thấy đau, chỉ thấy tê dại. Trăng trên núi thật lạ, gần như ở sát mặt của Quê. Ở giữa mặt trăng là một đường rạn nứt thật to. Một bên trăng màu nâu đỏ trông giống như một miếng kẹo có đường phơn phớt, bên kia màu xanh lá cây thật nhạt có thủng nhiều lỗ tròn trông ngon như một

miếng Swiss cheese. Nghiêng đầu, Quê nhìn thấy phía dưới chỗ mình đang nằm là những vệt trắng đang chuyển động. Nhìn kỹ, Quê thấy đó là những con mèo, chó, chim cú, ếch nhái, ốc sên đủ loại đủ cỡ màu đất sét nung đang di động như đang sống trong cái xã hội nho nhỏ của chúng. Con chó to như con voi trong khi con bò thì lại bé cở nắm tay và ếch nhái giống như những cái cúc áo. Quê nghĩ, mình đang nằm mơ chăng? Đám thú vật màu đất sét nung di chuyển nhưng cứng ngắc như những pho tượng bị giới hạn trong một dòng chảy chậm từ từ trôi đi đều đặn liên tục. Quê thấy có cái gì vừa nhám vừa ấm trên má. Con mèo Nora đang liếm mặt Quê. Nó mang mắt kính đen, mặc váy, đi hai chân như trong phim hoạt họa.

“Nora đấy à? Sao Nora lại ở đây? Anh đâu?” – Quê hỏi.

“Anh đi tìm người đem chị về. Lâu lắm anh mới quay lại.” -Nora trả lời.

“Quê bị ngã?” – Nora không trả lời.

Đầu óc Quê bỗng dưng không còn mụ mị nữa. Quê nhận ra ý định của chồng. Quê bảo Nora. “Đây là âm mưu của anh!”

Nora lặng thinh. Chị nhớ một lần anh đòi lái xe bắt đầu từ lúc mười giờ khuya đưa Quê vào hồ Tahoe, chung quanh là núi đèo cao bảy tám ngàn feet. Quê sợ không dám đi bảo rằng đi như thế rất nguy hiểm. Quê không muốn chết. Anh nổi giận gắt to, đi với anh làm sao mà chết được. Lần đầu tiên Quê nghe theo linh tính và chống lại quyết định của chồng đưa đến chỗ hai vợ chồng to tiếng với nhau ở một nơi công cộng, cây xăng. Anh bảo Quê thuộc loại đàn bà bossy. Lần khác anh nhất định chọn con đường lạ băng rừng trong khi xe đã hết xăng. Mỗi lần sợ hãi là Quê choáng váng khó thở muốn ngất đi. Tai nạn chết người dễ dàng xảy ra với người bị ngất xỉu, chóng mặt rơi xuống hồ chết đuối, nứt sọ, hay gãy cổ. Gia đình của Quê nổi tiếng là hạnh phúc, sẽ không ai nghi ngờ nếu tai nạn xảy ra. Một lần đang ngủ thức giấc Quê thấy chồng đang dùng ngón tay ấn chặt mạch máu cổ của Quê như muốn chắn đường không cho máu chạy lên óc. Quê cố xua đuổi những nghi ngờ của mình. Tính anh vẫn dịu dàng ngọt ngào như ban đầu khi mới quen nhau.

“Quê cho anh đầy đủ tự do, nếu không muốn ở với nhau nữa thì cứ chia tay tại sao lại âm mưu giết Quê? Tại sao?” – Quê hỏi Nora. “Nora ở nhà, thấy hết, biết hết. Nói cho Quê biết đi. Vì tiền phải không?”

Nora gỡ cặp mắt kính đen. Ánh trăng rọi vào mắt nó một bên có màu xanh biếc còn bên kia đỏ như lửa cháy. Và đôi mắt của nó bỗng nở to ra sâu thăm thẳm như đôi mắt Katya. Nó nói thong thả, nghe như tiếng gù gù trong cổ nó mỗi lần nó nằm trên lòng Quê lúc chị viết blog.

“Tiền là một trong những lý do. Chị không giàu lắm nhưng có thể nói là khá nhiều tiền. Nếu ly dị tiền của phải chia hai. Nếu chị chết tiền gom về người thừa kế.”

Quê và chồng tuy chính thức kết hôn nhưng mỗi người có ngân hàng riêng. Đời sống và văn hóa ở đây cho phép như thế. Lúc mới lấy nhau tiền bạc thường là lý do cãi vã của hai người. Giữ tiền riêng nhưng cùng góp chung vào những chi phí trong gia đình giữ được hòa khí của hai người.

“Tuy nhiên tiền không phải là lý do duy nhất.” – Nora bảo.

Quê suy nghĩ. Chồng chị biết, chị không bao giờ van xin hay khóc lóc nếu anh muốn chia tay. Nora cười, nhe mấy cái răng nhọn hoắc. Con mèo này kỳ cục, đáng lẽ nó phải mếu vì thương xót chị chứ. Chẳng lẽ nó chẳng thương mến Quê? Suốt ngày nó quấn quít với Quê thế mà… ừ, phải đến lúc ngặt nghèo thì mới biết được ai là người thương yêu mình. Nora hỏi:

“Chị có nhớ chuyện năm năm về trước không? Lúc chị …”

Quê vội ngắt lời Nora vì không muốn nghe thêm. “Nhớ chứ. Nhưng sau đó anh đồng ý quên quá khứ, bắt đầu lại từ đầu và xây lại hạnh phúc với Quê.”

“Nhưng anh không thật sự quên. Anh vẫn nghi ngờ, theo dõi và bắt đầu lập mưu kể từ khi anh thấy chị mở blog và bắt đầu viết trở lại.” – Nora nói một cách đầy hiểu biết.

Từ lâu Quê nhìn thấy vết rạn nứt trong lòng mình nhưng không thể nói với ai. Không ai hiểu được vì sao Quê không thấy hạnh phúc. Dường như có chồng tốt, không cờ bạc, không đĩ điếm, không hoang đàng lãng phí vẫn không làm người ta thấy hạnh phúc khi không thể bù lấp khoảng cách giữa hai tâm hồn. Anh đòi hỏi một sự toàn hảo từ nhan sắc đến tâm hồn mà Quê không thể nào có được. Quê mê văn chương. Vì phải kiếm sống, nuôi con, trong môi trường ngôn ngữ xa lạ, Quê chỉ có thể viết blog cho đỡ nhớ tiếng Việt. Đàn bà mà, khi mê say một cái gì quá, cũng bị người ta cho là lố bịch. Anh chỉ trích, Quê viết toàn những chuyện nhảm nhí. Thời buổi này, Quê có viết cũng chẳng ai đọc. Quê nói như phản đối dù rằng phản đối với con mèo thì chẳng ăn nhằm gì. “Quê chỉ viết thôi. Còn anh thì ôm cái computer tủm tỉm cười một mình đến cả hai ba giờ sáng. Quê không bao giờ gặng hỏi anh làm gì, trò chuyện với ai. Quê để cho anh tự do.”

“Chính vì thế anh mới nghi ngờ chị. Chị chỉ chúi đầu vào cái computer không đếm xỉa gì đến người chung quanh. Rồi chị viết những chuyện tình ướt át. Chị yêu thương, khóc cười, dịu dàng, đam mê với nhân vật trong khi chị nguội lạnh với anh. Những nhân vật ấy là ai? Liên hệ như thế nào với chị? Phải có thật thì viết mới giống thật như thế. Chị phải có người nào nên chị mới chẳng quan tâm đến chuyện mất chồng.” – Nora giải thích. Quê muốn khóc nhưng không khóc được; chợt thấy một nửa mặt trăng rơi những hạt nước mắt màu xanh. Nửa mặt trăng màu nâu đỏ thoát ra tiếng dồn dập như tiếng trống, như nhịp tim đập nhanh, rối loạn, nhức nhối. Ước gì được nghe những khúc sáo và vĩ cầm trong phim Chocolate nhỉ? Khúc nhạc này có thể ru ngủ. Quê nghĩ nếu ngủ được lúc này mình sẽ dễ chịu biết mấy. Cái cảm giác có một khối nặng đè trên ngực càng lúc càng tăng.

“Thế Nora có thể giúp Quê thoát ra khỏi nơi này không?” -Quê dịu giọng với con mèo.

“Nora có nhiệm vụ rước chị rời nơi này vì chị chỉ có Nora là bạn. Chị có thể nghiêng người và lăn xuống cái dòng chảy có những con thú màu đất sét nung, rồi chị cũng biến thành màu đất nung như thế. Hay chị có thể đi theo Nora.” Con mèo

lấy đôi kính đen đeo lên mắt. Trông nó có vẻ sang trọng, bệ vệ. Nora không phải là một cô bé mười lăm tuổi như Quê vẫn tưởng. Trông Nora như một người phụ nữ chín chắn ở tuổi bốn mươi. Không. Quê không muốn đi theo Nora nữa. Quê sẽ đi một mình. Mặt trăng sà xuống gần mặt Quê. Quê rướn người vói lấy mặt trăng để đứng dậy. Mặt trăng vỡ làm đôi, và Quê lại rơi. Rơi cho đến khi Quê nghe tiếng kêu “Mẹ! Mẹ!”

Cá Linh đang lay vai Quê thật mạnh. “Mẹ! Mẹ! Nước tràn ra ngoài lâu rồi.” Quê đang đứng rửa chén mãi suy nghĩ không ngờ nước tràn mà không hay.

“Mẹ đang lo nghĩ chuyện gì?” – Con gái út của Quê nhìn mẹ dò hỏi. Quê nói với Cá Linh: “Mẹ có một thắc mắc mấy hôm nay mẹ suy nghĩ mãi và nghi ngờ bố. Bố không thích ăn ngoài, cũng không thích sushi thế mà mẹ thấy bố dùng thẻ tín dụng trả tiền nhà hàng sushi ở Highland Park trưa ngày thứ Tư tháng trước.” “À! Cái đó của con. Con và các bạn đi ăn.” Cá Linh nói. “Bố cũng đi ăn sushi ở Edison .” – Quê nói. “Cái đó cũng của con luôn.” – Cá Linh nói. “Thế còn cái bữa ăn sáng ở Diner Sunset?” – Chị hỏi. “Cái đó cũng của con. Mẹ không nhớ con đã kể với mẹ à. Con ở chơi qua đêm nhà bạn Rohini, buổi sáng tụi con đi ăn trước khi chia tay.” – Cá Linh nói. “Nhưng tại sao lại trên thẻ của bố?” “Bố đưa thẻ của bố cho con dùng, chỉ dặn con là đừng tiêu quá mức.” Quê nhận ra Highland Park và Edison đều gần trường Rutgers . Quê hỏi Cá Linh: “Nora đâu rồi?” “Nora đang ngủ trên giường của con.” – Cá Linh nhìn Quê lạ lẫm. Quê thấy cục nghẹn trong ngực mình đã biến mất tự bao giờ. “May mà mình không đặt vấn đề với anh nếu không đã để lộ tính ghen bậy.” – Quê tự nhủ.

Cảnh sát phỏng vấn, người chồng không biết vợ anh có trang facebook. Anh chỉ biết trang blog của chị thôi.

Nguyễn Thị Hải Hà

 

Màu Mắt Chưa Quên—Nguyễn Thị Hải Hà

Tháng Chín, tôi trở lại trường cũ ghi tên học một lớp. Buổi chiều tôi đáp xe điện ngầm đến trường. Mùa thu, năm giờ chiều trời đã nhá nhem. Bước vội về hướng lớp học tôi nghe gió lao xao trên ngọn cây, thứ gió đặc biệt của mùa thu làm lá rung mà cành không lay. Thoảng trong gió hình như có ai gọi tên tôi theo đúng kiểu Việt Nam. Tôi nhìn chung quanh chẳng thấy ai và tự nhủ mình chỉ giỏi tưởng tượng. Đã gần hai mươi năm tôi mới trở lại trường, ngay từ lúc còn đi học chẳng ai có thể gọi tên tôi bằng tiếng Việt. Chỉ có một người làm việc chung có thể gọi tên tôi như thế. Tôi đang cắm cúi bước đi chợt nhận ra có người đứng chắn ngang đường; ngẩng mặt lên tôi nhìn thấy Scott.

Anh cười tươi. Bao nhiêu năm rồi sao nụ cười và ánh mắt ấy vẫn còn rất trẻ. Trong nắng chiều chập choạng, tóc anh đã nhiều sợi bạc. “Tôi thấy em từ lúc em đi ngang Colton Hall, gọi em khản cả giọng mà em không nghe.” Tôi ngạc nhiên. “Thì ra đó chính là anh? Tôi nghe tiếng gọi nhưng chẳng thấy người. Và cũng không nghĩ là ở đây có người biết tên mình.” Chỉ có Scott là người có thể gọi tên tôi phát âm đúng cách. Có lẽ vì anh đã thực tập biết bao nhiêu lần. Lòng tôi chùng xuống.

Khi mới biết nhau, cái tên của tôi đơn giản hai chữ như vậy; mà anh, cũng như bao nhiêu người Mỹ khác, đều vất vả khó khăn trong việc phát âm. Tôi dễ dãi bảo mọi người gọi tôi bằng gì cũng được. “Cứ cười ‘Ha Ha’ thì tôi biết ngay đó chính là tôi!” Tuy thế, dần dần anh phát âm tên tôi thật chính xác và không ngần ngại sửa sai những người làm việc chung với một chút bỡn cợt. Scott hỏi: “Em đã ăn tối chưa? Tôi đang đói, em có thể dành cho tôi vài phút không? Sáu giờ lớp học mới bắt đầu. Em làm gì ở đây?” Tôi nói, “trời nhá nhem thế này mà anh cũng nhận ra tôi, hay thật!” Scott nhìn tôi: “Em chẳng khác ngày xưa bao nhiêu, vẫn mái tóc dài, vẫn dáng đi cúi đầu.” Anh trêu: “Và vẫn không cao thêm chút nào.”

Tôi ngoan ngoãn theo Scott đi ra phía sau khuôn viên của trường nơi có những quán ăn cho sinh viên. Và trong chừng ba mươi phút ngắn ngủi giữa pizza và trà Lipton, chúng tôi cố gắng ghi nhận phần đời của nhau trong mười năm không gặp, tưởng như tình đã cũ. Gió thu như nhẹ nhàng thổi bay đi lớp tro tàn, ngọn lửa của than hồng vẫn còn âm ỉ cháy.

Chúng tôi làm việc chung với nhau. Tôi có nhiệm vụ đặt thang và bậc thềm cho công nhân phụ trách công việc chăm sóc cầu quay có thể lên xuống dễ dàng. Scott có nhiệm vụ cung cấp ngân quỹ, và vượt qua những luật lệ lỗi thời áp dụng lên những chiếc cầu cổ lỗ sĩ của công ty xe lửa. Công việc không khó nhưng người ta cấm đoán và đòi hỏi đủ thứ giấy tờ phức tạp; lý do là vì đây là một trong những cây cầu đã hơn trăm tuổi. Giới bảo tồn văn hóa không muốn làm mất vẻ cổ kính của cây cầu. Nhóm kỹ sư muốn công việc dễ dàng nhanh chóng và ít tổn phí. Nếu ai đã từng làm việc cho cơ quan nhà nước của Mỹ sẽ biết là đôi khi vì bè nhóm phe phái, ai cũng muốn làm vua một cõi, người ta tha hồ gây khó khăn làm cản trở công việc của nhau. Scott gọi điện thoại yêu cầu tôi đưa anh đến chỗ cây cầu ở gần cửa biển. Tôi hẹn giờ, chỉ đường và chúng tôi gặp nhau ở bên đầu của cây cầu.

Trời đã bắt đầu xuân. Hôm ấy nắng ấm dù mới mấy ngày trước một cơn bão tuyết đã để lại cả mét tuyết. Tuyết đã được gom thành từng đống cao nghệu rải rác khắp nơi. Scott nhìn tôi trong áo thun dài tay, quần jean, nón bảo hộ, anh cười tự giới thiệu, rồi bảo thêm, “trông cô như vẫn còn là học sinh Trung học.” Tôi cười, “Tôi đã có gần mười năm kinh nghiệm lận lưng rồi đấy nhé.”

Scott cao lớn vạm vỡ như một ông thần hộ pháp. Tóc anh vàng tơ, mắt xanh như màu biển, màu trời, và màu của cây cầu ngày hôm ấy. Scott có cái vẻ đỏm dáng của dân làm việc văn phòng sống trong thành phố, đi ra cầu mà anh mặc áo trắng quần ka ki như thể đây là bộ đồ cũ nhất và xấu nhất của anh. Cái áo khoác mỏng không cài cúc dù chỉ mới mười giờ sáng. Gió biển lồng lộng làm tôi thấy lạnh. Cơn bão tuyết đã qua nhưng trời vẫn lộng gió và lạnh. Anh khen trời đẹp và mát.

Tôi dẫn Scott băng ngang cầu, nhắc chừng anh ngoái đầu trông chừng xe lửa. Tôi chỉ cho anh những chỗ trú an toàn nếu xe lửa đến giữa lúc chúng tôi đi trên cầu. Tôi nói, để chứng tỏ tôi biết rõ môi trường và công việc của tôi. “Cầu dài chừng sáu trăm mét. Thời khóa biểu cho biết là sẽ có xe lửa chạy ngang trong vòng hai mươi phút nữa nhưng chúng ta không thể ỷ y.” Đến giữa cầu chúng tôi leo xuống chân cầu. Từ chân cầu chúng tôi phải vào hầm, chỗ đặt cái trục quay bằng thép của cầu. Tôi chỉ Scott những chỗ có mỡ bò được dùng để làm trơn máy. Dặn anh đừng dựa lưng bất cứ nơi nào nếu anh không muốn ném cái áo trắng của anh vào sọt rác.

Từ trên thành cầu, Scott nhảy xuống gọn gàng và đưa tay đỡ tôi xuống hầm. Tôi đã trồng vào người bộ đồ bảo hộ lao động màu nâu mà các người làm việc chung thường bảo làm tôi giống cái bánh ginger bread. Lúc mới xuống từ ngoài sáng vào chúng tôi không nhìn thấy gì, một lúc sau định thần nhìn kỹ Scott nói: “Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu thấy ở đây có một bộ xương khô và chuột bò lúc nhúc.” Tôi cười, “nơi đây tuy tối tăm bẩn thỉu nhưng không đến nỗi mất an toàn. Người canh giữ cầu ở trên cái tháp kia.” Tôi mở túi xách lấy ra cái đèn bấm, bản vẽ, giải thích công việc của tôi. Những người thợ chăm nom và sửa chữa máy quay cầu cần có thang để công việc của họ an toàn và hữu hiệu hơn. Scott cười, “nếu có thang những người nhỏ bé như cô không cần phải có người giúp.” Tôi nói, “bình thường dưới hầm không tối như thế này, tuy nhiên trận bão tuyết mấy ngày trước đã lấp đi nhiều chỗ cho ánh sáng rọi vào. Và nếu tuyết không lấp lối, tôi có thể tự leo lên xuống dễ dàng.” Scott đưa mắt nhìn chung quanh nào là nùi giẻ rách dính dầu, tàn thuốc lá, chai đựng sô đa bằng nhựa, những cái ly đựng cà phê bằng mốp xốp: “Công việc này không khó tuy nhiên chỗ này chật hẹp khó xoay trở.” Gió thổi qua những kẽ hở của cầu nghe như tiếng hú. Tôi rùng mình vì lạnh. Qua Mỹ bao nhiêu năm tôi vẫn giữ bản chất của cô gái miền nhiệt đới, dưới hai mươi độ C là tôi thấy khó chịu.

Chúng tôi đo đạc, ghi chép, chụp ảnh xong trời đã trưa. Mây lại tụ về làm chúng tôi sợ bị mắc mưa nên thu xếp ra về. Lúc xuống dễ dàng nhưng bây giờ leo lên là chuyện khó. Scott nhảy lên bám lấy thành cầu rồi đu nhẹ nhàng lên như một lực sĩ. Còn tôi, tôi không thể tự leo lên. Tôi bám lấy một thanh ngang đưa cái túi xách có chứa bản vẽ, máy chụp hình, thước đo, của mình cho Scott mang lên trước, nhưng hai cánh tay của tôi quá yếu nên tôi không thể tự đu lên như Scott. Scott muốn kéo tôi lên nhưng thành cầu ở gần mé nước nếu sơ xuất cả hai sẽ rơi xuống nước. Cửa biển, nước chảy xiết, và ở buổi đầu xuân như thế này có lẽ nước lạnh cỡ chừng tám độ. Nếu rơi xuống chắc là khó sống. Loay hoay một hồi, thấy không có cách nào hiệu quả, Scott nhảy xuống trở lại. Scott bảo tôi, “thế này nhé, cô đứng lên đầu gối của tôi, bám tay vào vách thép của cầu, leo lên hai cánh tay của tôi và leo lên mặt ngang của thành cầu. Cẩn thận đừng để rơi xuống biển nhé.”

Tôi cởi đôi ủng, cởi cả bộ quần áo bảo hộ lao động dày cui ngăn cản tôi không thể xoay trở dễ dàng, nhưng hai cánh tay của Scott vẫn còn chông chênh quá. Cái nón bảo hộ của tôi cứ va vào hết nơi này đến nơi kia kêu côm cốp. Cuối cùng, tôi phải ngồi lên vai Scott, anh đứng lên rồi tôi đứng lên vai anh, tay anh đẩy tôi lên rồi cho đến khi tôi có thể nằm lên mặt thép của thành cầu thấp nhất. Trong lúc vất vả như thế cái nón của tôi rơi xuống trúng đầu Scott và tóc của tôi xõa đầy mặt anh. Vốn không quen việc người lạ chạm vào người tôi nghe người mình nóng hổi, tim đập thình thình, mùi kem dùng để cạo râu, hơi thở đàn ông hăng hăng của Scott làm tôi ngây ngất. Chỉ một cái quay đầu là môi sẽ chạm và thân thể sẽ bốc cháy khi những sợi thần kinh đã căng thẳng cực độ vì sợ và hoạt động mạnh. Khi lên khỏi cầu cả hai chúng tôi đều bẩn thỉu, cái áo trắng và cái quần ka ki của anh dính cả dấu giày ủng của tôi.

Trở về chỗ đậu xe, anh nói đùa về trọng lượng của tôi còn tôi chê đôi cánh tay của anh không đủ khỏe. Rồi tôi trêu trọng lượng của anh và anh trả đủa bằng cách chế nhạo đôi cánh tay yếu đuối của tôi. Scott rút khăn tay lau vài chỗ bẩn trên mặt tôi và nói “Cái nón của cô rơi làm u đầu tôi, nhưng vì tóc của cô rất thơm nên tôi tha thứ cho cô.” Tôi đỏ mặt, nhìn Scott rồi ngó ra biển và chợt nhận ra màu mắt anh thay đổi theo màu trời và màu nước biển. Tôi nói lảng. “Anh có biết là cầu dành riêng cho xe lửa, nếu băng ngang mặt nước thì phải sơn màu xanh biển còn băng ngang đất thì sơn màu xanh lá cây không?” Có những nơi tuyết đã tan tạo thành những vũng nước nhỏ Scott nắm tay giúp tôi nhảy qua những vũng tuyết này. Cái ngăn cách ban đầu giữa hai người làm việc khác phái cũng bắt đầu tan. Anh có cái ân cần săn sóc phụ nữ rất tự nhiên của đàn ông Âu Mỹ. Anh giúp tôi mở cửa xe và khi tôi ngồi vào xong anh đóng cửa lại. Tôi nhìn anh lái xe đi, sân nhà ai có những đóa hoa crocus nở tim tím vươn lên trên mặt đất còn đọng tuyết. Gió mang theo mùi hoa hyacinth làm tôi nhớ hai câu thơ “Trông theo ai đến cuối đường. Gió bay làm dậy mùi hương ngây lòng.”Dấu giày của tôi in trên quần của Scott và mùi kem cạo râu cùng với hơi thở của Scott dính đầy trên tóc tôi.

Tôi hỏi anh lập gia đình chưa, có con không, có hạnh phúc không? Anh cho tôi xem ảnh vợ và hai con trai. Vợ anh là người Phi Luật Tân, tóc dài, da màu mật, dáng nhỏ nhắn. Tôi ngạc nhiên. “Thế còn cô tóc vàng?” “Cô tóc vàng nào?” Tôi tả hình dáng cô gái tóc ngắn, dáng cao và thanh, đã thân mật quàng vai anh trong buổi tiệc tiễn đưa anh. Tôi có hứa đến dự nhưng không về kịp vì bận đi họp ở một cái cầu quay rất xa ở tận cái mõm bùn cuối tiểu bang. Anh bảo không nhớ ra, không biết tôi nói đến ai, có thể đó là một khách hàng, cũng có thể đó là cô em gái của anh đến gặp anh. Tôi hỏi: “Anh đến đây để làm gì?” “Tôi hiện đang làm chủ tịch hội đồng cựu sinh viên kiến trúc của trường. Tôi đến họp. Còn em?” “Lấy một lớp học cho vui.”

Do công việc chúng tôi gặp gỡ nhau thường xuyên. Tôi cung cấp tài liệu bản vẽ, ước tính tổn phí và những chuyện linh tinh. Scott cung cấp ngân quỹ và thuyết trình về dự án. Anh thuyết phục mọi người công việc này rất cần thiết. Chuyện hai chúng tôi bị kẹt dưới chân cầu là bằng chứng hiển nhiên. Nhân viên có thể bị tai nạn chết người nếu không có thang giúp thi hành công việc dễ dàng hơn. Chúng tôi sẽ cố gắng duy trì vẻ cổ kính của cây cầu. Tôi thán phục nhìn Scott làm chủ buổi thuyết trình dễ dàng bơi lội trong ao nhà. Ao nhà với anh nhưng lại là biển lạ với tôi. Nơi đây, phụ nữ và đặc biệt phụ nữ ngoại quốc, luôn luôn là người ngoại cuộc. Những lý luận Scott dùng trong buổi thuyết trình là của tôi nhưng anh nói người ta nghe còn tôi nói thì như viên đá nhỏ rơi xuống hồ không đủ khoắn thành vòng. Scott bảo nếu tôi đảm nhiệm công việc thuyết trình tôi sẽ được chú ý nhiều hơn nhưng tôi từ chối viện cớ là mình nói có giọng ngoại quốc người ta nghe không hiểu. “Em không biết, giọng nói người ngoại quốc có cái duyên của nó.” Anh nói, đôi mắt xanh cười lóng lánh.

Tôi nghe lòng mình nhiều mơ ước. Anh luôn tràn đầy trong tư tưởng tôi ngay cả khi anh không có mặt ở bên tôi. Tôi tìm đủ mọi cách để bôi xóa ý nghĩ của mình. Không khéo mình tự biến mình thành một cô Phà Ca thời đại và chế diễu mình khi tự so sánh với Tiểu Siêu. Chúng tôi ăn trưa chung với nhau một vài lần khi công việc cho phép nhưng không tiến xa hơn. Tôi vốn không thích bị lệ thuộc vào ai cả. Nương vào Scott tôi có thể vượt biên giới da màu, trở thành người nhập cuộc và nhờ đó sẽ tiến xa hơn trong lãnh vực nghề nghiệp nhưng như thế là tôi sẽ lệ thuộc vào cái bóng lớn của anh. Scott làm tôi thấy nhỏ bé và thèm được anh bảo bọc. Tôi mơ ước được che chở nâng niu và cố gắng từ bỏ niềm ao ước ấy. Đôi khi tôi nghĩ đến việc mang Scott vào cuộc đời tôi, dạy cho anh phong tục của tôi. Anh bảo rằng từ khi biết tôi anh thích ăn chả giò và phở. Tôi cười, anh cần phải biết ăn bánh cuốn và nước mắm, rồi còn mắm kho với cá bông lau rau kèn và bông súng chẻ. Và Việt Nam không chỉ có bao nhiêu đó thôi. Có lần tôi thử hát một câu tiếng Việt cho anh nghe, ngâm một câu Kiều, đọc một câu ca dao, rồi tôi bỗng nghe giọng của mình lạ lẫm, nhạt thếch. Tôi có thể bơi lội ngụp lặn trong phong tục xứ anh nhưng không thể nào giải thích cho anh hiểu sự rung cảm một câu thơ xưa trong lòng tôi “Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.” Và “quê nhà xa lắc xa lơ đó, ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.” Làm sao khi tôi gác chân ngang bụng anh, tôi có thể mang anh vào một không gian nơi đó có bóng trăng xuyên lá dừa, bát ngát hương lài, hương dạ lý ở một miền quê ngoài thành phố Sài Gòn có con kênh đào và đồng cỏ u ru. Nói thì tôi cứ nói nhưng chắc anh không bao giờ hiểu được hay thấy được những gì tôi đã thấy và vẫn còn đang thấy. Nếu giữa tôi và anh sẽ có những phút giây mê đắm của hai thể xác quyện thành một, thì những dị biệt mù mờ lẩn khuất trong ngõ ngách của tâm hồn sẽ không thể nào với tới dù ở cạnh bên nhau.

Scott không săn đuổi quá đáng dù là tôi biết lòng anh mở cửa chờ đón tôi. Tôi không tiến tới dù chưa có người đàn ông nào làm tôi cơ thể thèm muốn đến thế. Tôi nhớ cái mùi đàn ông của anh đến ngây ngất. Tim tôi vẫn đập rộn ràng khi nghĩ đến buổi sáng dưới chân cầu. Scott thích mái tóc dài, dáng dấp nhỏ nhắn, nước da màu mật của tôi. Anh không ngần ngại nói với tôi điều này và ngạc nhiên khi tôi nói thật là tôi vẫn thường mang mặc cảm xấu xí. Màu da của anh và màu da của tôi thường làm tôi liên tưởng đến cà phê sữa và kem vanilla hay con ong bầu đậu trên hoa lan trắng. Anh thường bảo, “mỗi sáng em phải soi gương và tự bảo mình là Scott thấy em rất là xinh xắn.” Tôi nói xa xôi, “quan hệ làm việc không nên để lẫn tình cảm cá nhân. Những người làm việc chung dễ ghét nhau vì tranh tài giành chức giành quyền, tình cảm riêng tư thường bị tổn thương và chết sớm.” Anh hay nói đùa là tôi là hiện thân của sắt (thành cầu) và đá (chân cầu). Anh nói nếu vợ anh làm lương cao hơn, anh tình nguyện ở nhà nấu cơm và viết văn. “Nếu em trở thành xếp của tôi, tôi sẵn sàng nâng xếp lên khỏi đầu bằng hai cánh tay tôi.” Tôi dùng một ẩn dụ của dân kỹ thuật trả lời, “thép này đã từng đổ biết bao nhiêu mồ hôi đấy nhé!” Điều mà tôi muốn nói nhưng giữ lại lời là, tôi là một phiến đá biết sầu tư!

Rồi Scott xin thuyên chuyển qua một công ty khác. Buổi tiệc đưa tiễn anh tôi bận không về kịp chỉ thấy nhìn anh từ nơi xa khi tiệc đã tàn. Anh đứng nói chuyện có vẻ thân mật với một cô tóc vàng. May là chúng ta chưa có gì trước khi có cô gái xinh đẹp này. Tôi không tranh giành nên không thể nói tôi là người thua cuộc. Anh gọi điện thoại vài lần dặn tôi gọi lại cho anh nhưng tôi không trả lời. Thỉnh thoảng tôi có dịp trở lại cây cầu cũ, bây giờ đã có những bậc thang màu vàng gắn theo thành cầu người ta dễ dàng lên xuống. Tôi đứng tần ngần chỗ ngày xưa Scott đỡ tôi lên.

“Đặt chân lên dấu chân người đã khuất.
Trồng cây hoa lên dấu chân của người.
Suối ngừng xối. Rừng thôi thay lá.
Để giấc mơ người cũ lại về.”

Tôi tự nhắc nhở vì sao tôi không tiến tới. Tôi chọn nhìn thấy những dị biệt mà làm ngơ những tương đồng. Tôi chọn cái quá khứ quen thuộc của một quê nhà xa lắc xa lơ để từ chối một hiện tại còn quá xa lạ. Tôi được quyền chọn lựa, biết điều mình muốn và cả những điều mình không muốn. Tôi yên tâm với sự chọn lựa của mình. Scott không phải của tôi, chưa bao giờ là của tôi, mà sao tôi thấy trong sự chọn lựa này có nhiều mất mát đến độ làm tôi đau đớn.

Hôm nay gặp lại người năm xưa. Dòng đời mang chúng tôi đến gần nhau rồi cuốn chúng tôi xa nhau rồi đưa chúng tôi gặp lại nhau. Lần đầu tiên gặp anh trời vào xuân, gió lạnh và hoa bắt đầu nở. Lần này gặp lại anh trời chuyển sang thu, gió vẫn lạnh và lá bắt đầu rơi. Chúng tôi trao đổi số điện thoại. Anh nhắc lại ngày chúng mình bị vướng dưới chân cầu chưa có cell phone. Anh đưa tôi đến lớp học. Tôi nhìn bóng anh khuất dần ở hành lang hun hút. Lại thêm một lần nữa tôi mang cảm giác phải ở lại. Làm người ở lại có bao giờ vui.

Đêm đó tôi lái xe về. Nhà ai đó đã treo đèn Halloween sáng rực, những con ma dễ thương màu trắng, những bà phù thủy áo tím mặt xanh, và những trái bí màu cam vàng rực. Trong tôi vọng nhẹ một câu thơ Trong hồn tôi có một chút gì cô quạnh và vườn tôi xưa vẫn một vuông rất nhỏ. Ở những con đường tối, mặt trăng sáng lấp lánh lẽo đẽo theo tôi. Trong tâm tư tôi lãng đãng màu mắt của Scott. Ánh trăng trong veo lạnh lẽo, cái lạnh như thấm cùng bóng tối trong tim tôi thành những hạt sương lăn dài vòng quanh buồng tim âm thầm nhói buốt.

Một nhân vật trong Alexis Zorba bỗng hiện về. “Rồi bạn sẽ không còn nhớ đôi mắt của chàng màu xanh hay màu đen!”

Tôi ước gì tôi có thể đồng tình với nhân vật ấy.

Nguyễn Thị Hải Hà

What New Army Cadets Go Through On Their First Day At West Point—Business Insider

Class of 2022’s Induction Day | June 2018— US Naval Academy Alumni Association & Foundation

United States Air Force Academy | Basic Cadet Training—AiirSource Military

Cái Cò—Hoàng Thục Linh

DỊCH: Một Nghề Nhàn Nhã—Luân Tế

“Dịch” đây không phải là “Mắc Dịch”, “Già Dịch”, “Dịch Hạch – Dịch Tả” hay bệnh “Dịch” lan tràn; cũng không phải là “Tinh Dịch”, ”Dịch Hoàn”, “Dung Dịch”, hay “Kinh Dịch” – một trong năm cái “Ngũ Kinh Dị” của Ba Tầu – mà là “Thông Dịch”, việc chuyển ngữ từ tiếng nước này sang tiếng nước khác.

“Good morning/afternoon. My name is Tuấn, a Vietnamese interpreter for you today. How can I help you with?”

“Chào ông/bà… Tên tôi là Tuấn. Tôi sẽ là người thông dịch cho ông/bà… hôm nay.

Từ khoảng 4 năm nay, sau một thập niên dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, tôi trở về với một việc làm có lẽ là nhàn nhất thế giới: Đó là nghề thông dịch viên (TDV) Anh – Việt, Việt – Anh cho một công ty ở Portland Oregon. Tuy công ty này có trụ sở tại Oregon nhưng tôi thì làm việc ở Huntington Beach. Sở dĩ tôi cho công việc này là nhàn nhất thế giới là thay vì phải đóng bộ complet-cà vạt như khi đi làm hồi thế kỷ trước, bây giờ mùa hè thì tôi mặc quần xà lỏn, áo thung; mùa đông thì mặc flannel pajamas, khoác cái robe khi làm việc. Và nhất là không phải lái xe vì tôi làm TDV tại nhà, trên điện thoại, trong cái phòng làm việc xinh sắn của tôi, giúp cho những người cần tiếp xúc với các cơ quan ở Mỹ nhưng không đủ khả năng để trình bầy họ muốn gì. Và giúp cho các cơ quan ở Mỹ (và ở cả các nước khác) hiểu được người nói tiếng Việt Nam đang tiếp xúc với họ muốn gì.

Interpreter3Thông dịch tại bệnh viện

Để tôi kể qua tiến trình một ngày làm việc của tôi. Ngủ dậy buổi sáng, đánh răng, uống cà phê xong thì tôi vào phòng làm việc, mở computer xem / trả lời emails, lên mạng xem tin ở các trang như Skimm, The Daily Beast, The New York Times; rồi bắt đầu viết lách qua loa. Cùng lúc đó tôi lấy điện thoại bàn (không được dùng điện thoại di động) gọi vào công ty rồi bấm số #1 để “log in”. Thế là xong. Sau khi “log in” thì tôi có nhiệm vụ trả lời những cú điện thoại của hãng gọi cho tôi rồi nối đường đây điện thoại của tôi với thân chủ đang chờ sẵn. Lúc nào không muốn làm vì bận việc riêng thì tôi lại gọi số của hãng rồi bấm số #2 để “log out”. Có nhiều lúc sau khi đã “log out” rồi mà điện thoại vẫn reo với “ID caller” của hãng. Nếu tôi nhấc máy, nhân viên của hãng sẽ xin lỗi là đã làm phiền tôi và yêu cầu tôi, nếu có thể được, giúp trả lời cú điện thoại này vì lý do hãng không đủ người thông dịch tiếng Việt lúc đó, hay có một thân chủ nào tôi đã giúp trong quá khứ nêu đích danh và xin hãng liên lạc với tôi, yêu cầu tôi giúp. Không phải lúc nào tôi cũng làm việc; có ngày đắt hàng, có ngày ế. Thứ Hai thường là bận rộn nhất. Một ngày trung bình tôi dịch trên điện thoại khoảng từ 250 đến 300 phút. Trong những lúc không có “khứa” thì tôi có thể đi lau nhà, rửa bát, giặt quần áo, làm vườn cho vợ. Đến năm giờ chiều thì tôi “log out”, đi tắm, rồi ngả người trên ghế recliner nhấp một ly rượu vang (hay 2) hay một shot (hay 2) Cognac/Whisky/Tequila, xem báo, làm ô chữ, nghe nhạc. Những ngày cuối tuần nghỉ.

Tôi không lạ gì với cái nghề TDV này cho lắm. Thật ra, cái “job” đầu tiên của tôi trên đất Mỹ là TDV trong trại tị nạn IndianTown Gap, Pennsylvania vào giữa 1975. Vừa xuống máy bay thì tôi bị lùa vào phòng “processing” để làm cuộc phỏng vấn đầu tiên cho thủ tục nhập cảnh. Ngồi cạnh nhân viên sở di trú là chị X., một người tôi quen sơ bên Guam, sang trước và đang làm TDV. Chị X. thấy tôi vào, và vì biết khả năng của tôi, nên để tự tôi trả lời cuộc phỏng vấn rồi xin phép đi ra ngoài. Phỏng vấn xong thì người nhân viên di trú Mỹ yêu cầu tôi làm TDV thay cho chị X. bắt đầu từ sáng hôm sau và nói là tuy chị X. làm TDV tự nguyện không lương cho trại tị nạn, anh sẽ trả cho tôi $20.00 một ngày. Sau hơn một tháng xếp hàng xin cơm ở Guam, nhờ vào cái “job” này, gia đình tôi bắt đầu vào PX mua thức ăn và không thèm ăn cơm phát chẩn nữa trong suốt thời gian ở IndianTown Gap (Tôi còn để dành được vài chục và trong một canh xì phé với các bạn trong barracks, ăn non, gom đủ tiền chạy vào PX mua được cái đồng hồ Omega tự động—chỉ cần lắc cổ tay vài cái là coi như đã lên giây—giá là $175.00. Anh Vũ Huyến, cùng ở chung trại, trong một canh bài khác, cũng ăn non, chạy ra PX mua cái đồng hồ này. Khoảng 20 năm sau thì đồng hồ của tôi hỏng, thợ mở ra thì thấy máy ở trong cứng ngắc, không lắc nữa. Đồng hồ của anh Huyến thì không sao.)

Interpreter4Trại Fort Indiantown Gap, PA

Interpreter5Một trang báo về Fort Indiantown Gap

Trở về hiện tại, khách hàng của công ty tôi làm phần đông là người Việt lớn tuổi đi mua thuốc, khám bệnh, nằm nhà thương, vào phòng cấp cứu, đi chụp hình quang tuyến (Xray-Scan-MRI). Trẻ hơn thì ra tòa vì tội DUI, vượt đèn đỏ, đánh vợ, khai bankruptcy, quỵt nợ, đến sở xã hội xin welfare, medicaid, foods tamps, housing. Còn có những người liên lạc với nhà băng, hãng bảo hiểm (xe, y tế, nhân thọ), hãng telephone v…v…Còn có cả những cú điện thoại từ Việt Nam gọi sang tố cáo với công ty mẹ những hành vi ngược đãi nhân viên của những cơ sở ở VN. Cũng có những công ty ở Mỹ gọi về VN nói chuyện về nhiều vấn đề.

Nhiều người cố gắng nói tiếng Anh nhưng khi hai bên không hiểu được nhau vì rào cản ngôn ngữ thì họ cầu cứu tới hãng tôi làm việc. Ngay lập tức hãng liên lạc với tôi hay những TDV khác. Nhấc điện thoại lên, tôi nói một tràng tiếng Anh, như người máy: “Good morning/afternoon. My name is Tuấn, a Vietnamese interpreter for you today. How can I help you with?” Sau khi người Mỹ tự giới thiệu và nói lý do họ muốn có sự giúp đỡ của tôi, tôi quay sang nói bằng tiếng Việt: “Chào ông/bà..tên tôi là Tuấn. Tôi sẽ là người thông dịch cho ông/bà…hôm nay”. Một số cơ quan (phần nhiều là nhà thương và vài văn phòng an sinh xã hội) dùng hệ thống hai máy điện thoại song song—một cho người Mỹ và một cho người Việt, rất tiện cho TDV. Có những chỗ chỉ có một máy nên tôi sẽ nghe một bên rồi chờ máy chuyển sang cho người kia rồi dịch lại. Thường thì thân chủ để máy ở vị trí speaker phone trong phòng để mọi người cùng nghe lời dịch Việt–Anh, Anh–Việt của tôi. Nói chuyện và dịch qua speaker phone rất khó, nhất là gặp người Mỹ nói nhanh và ngọng (như mấy anh gốc Ấn Độ hay Mễ Tây Cơ) và bên kia là một cụ già người Quảng đang lên cơn suyễn, nói không thành tiếng, mà có thành tiếng thì cũng rất khó nghe. Speaker phone cũng được dùng ngoài tòa án. Luật sư ngoài tòa và bác sĩ trong bệnh viện thường nói rất nhanh, hình như lúc nào cũng vội để còn gặp thân chủ/bệnh nhân khác. Các ông chánh án thường chậm rãi hơn và bao giờ cũng ngỏ lời cám ơn Mr. Lê (tôi) trước khi gác máy.

interpreter1

interpreter6Thông dịch tại tòa án

Có một số ít người Việt Nam khi nghe tôi tự giới thiệu là TDV thì tỏ vẻ khó chịu—có lẽ là vì nghĩ rằng mình nói tiếng Anh ngon lành, cần gì thằng cha này—và bộc lộ thái độ của mình bằng cách lờ tôi đi, tiếp tục nói tiếng Anh. Tôi “ ngậm miệng ăn tiền”—nhưng vẫn phải theo dõi cuộc đối thoại—chờ cho đến khi nào một trong hai bên “bí”, (người Mỹ nói, “What did he say, interpreter?; người Việt thì hỏi, “Nó nói gì vậy anh?”) thì tôi mới mở miệng. Nhiều khi tôi “ngậm miệng ăn tiền” như thế đến 10, 15 phút. Chắc quý vị cũng đã từng phải chờ đợi khá lâu tại văn phòng bác sĩ. Tôi cũng thường xuyên phải chờ bác sĩ khá lâu, nhưng khác một cái là càng chờ lâu trên điện thoại thì tôi lại kiếm nhiều tiền hơn mà không phải làm gì cả.

Làm cái nghề thông dịch này của tôi dễ mà khó. Dễ là vì chẳng phải có bằng cấp, thi cử gì, chỉ cần khả năng nghe giỏi và nói một ngoại ngữ lưu loát ngang với tiếng mẹ đẻ. (Xin mở ngoặc nói thêm về một loại TDV được gọi là TDV Hữu Thệ—Certified Interpreter—phần nhiều làm việc ở tòa án. Những TDV này phải qua một kỳ khảo hạch của tiểu bang nơi họ muốn hành nghề. Tôi nghe nói là kỳ khảo hạch này của California rất khó nuốt, một phần vì hội hay nghiệp đoàn các TDVHT ở California không muốn có nhiều TDV quá, mất ăn, nên làm khó những người muốn thi vào. Tôi chưa hề trải qua cuộc khảo hạch này nên không có kinh nghiệm bản thân về chuyện này.) Khó là vì chuyển ngữ là một nghệ thuật và năng khiếu trời cho, không phải ai cũng làm được dù cho có giỏi ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ đến đâu đi nữa. Diễn tiến của việc thông dịch như sau: tai tiếp nhận được những dữ kiện của ngôn ngữ #1 rồi chuyển lên óc, óc nhận được, dịch ngôn ngữ #1 sang ngôn ngữ #2 rồi ra lệnh cho lưỡi hoạt động, nói thành tiếng bằng ngôn ngữ #2. Tiến trình này diễn tả thì lâu nhưng thực sự chỉ xẩy ra trong một phần ngàn của một giây. Cho nên khả năng thông dịch hầu như hoàn toàn dựa theo phản xạ tự nhiên của người biết nghe và nói thông thạo 2 thứ tiếng khi làm TDV.

Ngoài ra còn vấn đề phát âm. Số đông những người nói ngoại ngữ không được chuẩn vì không được học nhiều và không xử dụng thường xuyên trong đời sống hàng ngày. Một số có học nhưng không có khiếu nói ngoại ngữ nên rất khó chuyển đạt những gì mình muốn nói đến người khác. Hai điểm quan trọng nhất trong việc nói ngoại ngữ là cái tai và khả năng bắt chước lối phát âm của người bản xứ. Khi tôi về dậy Anh Văn ở Việt Nam (lớp đào tạo giáo viên), tôi nói với các học viên của tôi ( tất cả đang dậy Anh Văn) là nếu tai các bạn không tự nhận thấy là các bạn phát âm sai thì hết thuốc chữa. Tôi còn nhớ cách đây hơn 20 năm, tôi về hưu sớm đi làm phim. Trong lúc rảnh rỗi có một hãng mời tôi đi thông dịch cho những phiên tòa hành chánh xử các vụ xin tiền an sinh xã hội về bệnh tật. Lúc đó hầu như tất cả các luật sư đại diện cho thân chủ xin tiền ASXH đều là người Việt Nam, cỡ tuổi tôi hoặc lớn hơn, đã từng hành nghề LS tại VN, sang đây học và thi lại. Luật pháp Hoa Kỳ bắt buộc lời khai của người đi xin tiền ASXH phải được dịch qua TDV và ghi lại bằng máy ghi âm hay máy tốc ký. Một hôm, ông LS trình bầy sự kiện trước ông chánh án bằng tiếng Anh thì bị ngưng lại không cho nói tiếp. Rồi ông chánh án nói, “Xin lỗi anh. Tôi không hiểu anh nói gì cả. Sao anh không nói tiếng Việt, rồi nhờ ông thông dịch viên này giúp cho?” Tất nhiên là ông LS đó phải nói tiếng Việt theo lệnh ông chánh án nhưng mặt ông ta sưng lên và nhìn tôi với con mắt mất thiện cảm.

Interpreter

Như trên đã nói, phần đông những người tôi giúp là người lớn tuổi, nhưng gần đây có một hiện tượng là có những người trên điện thoại là dân Bắc Kỳ 75. Chuyện này xẩy ra thường xuyên hơn trong những cú điện thoại ở Canada (Dân Hải Phòng thì nà mà…) Còn ở Mỹ tôi cũng gặp khá nhiều trên điện thoại. Sau đợt của các cựu sĩ quan VNCH đã bị Cộng Sản giam cầm di dân sang Mỹ cùng với gia đình theo diện HO thì đến lượt dân Bắc Kỳ 75 kéo nhau sang. Những người này thường còn rất trẻ, không biết tiếng Anh, “lói” giọng Hà Lội, ráng rặn ra một đứa con (phải có con nhỏ mới đủ điều kiện) rồi đi xin welfare, medicaid, food stamps, housing. Vấn đề tôi đặt ra ở đây là, những người này chắc chắn phải là dân có tiền hay là loại COCC tham nhũng mới có thể xoay sở lấy cái visa di dân sang Mỹ. Sang đến Mỹ rồi thì chôn vàng, dấu của, lợi dụng tình nhân đạo và kẽ hở luật pháp của nước Mỹ, đi ăn mày xã hội. Và quý vị và tôi phải è cổ đóng thuế để nuôi những thành phần (có thể là giầu hơn chúng ta rất nhiều) này.

Nhắc đến Bắc Kỳ 75 thì tôi có một giai thoại về tòa án. Hôm đó tôi trả lời điện thoại thì được hỏi, “Do you speak the Southern dialect?” Tuy nói tiếng Bắc nhưng vào Nam từ năm lên tám nên tôi trả lời, “Yes, I do.”Sau khi được nối dây với tòa, tôi tự giới thiệu. Ông chánh án cẩn thận hỏi một lần nữa; tôi trả lời “Yes, your honor!” Rồi ông yêu cầu tôi nói một vài câu với người bị cáo đang đứng trước tòa. Tôi nói bằng tiếng Bắc cố hữu thử xem người kia có hiểu không thì có một giọng đàn bà người miền Nam trả lời rất ngọt ngào. Tôi hỏi bà có hiểu tôi nói gì không. Bà bảo hiểu chứ. Tôi bèn báo cáo với ông chánh án là chúng tôi nói cùng một thứ tiếng và hiểu nhau hoàn toàn. Ông chánh án nói với tôi là sở dĩ ông phải yêu cầu một TDV nói tiếng Nam là vì người TDVHT, lúc đó hãy còn đứng trong tòa, nói tiếng Bắc với bị cáo nhưng bà này than phiền là không hiểu người TDV nói gì. Tôi hiểu ngay câu chuyện. Đã có vài lần các cơ quan thông dịch bị chập dây nên có 2 TDV trên máy cùng một lúc. Khi tôi và người TDV kia biết thì một người sẽ cúp máy nhường, tùy trường hợp hãng nào nhận điện thoại trước. Qua một hai câu nói thì tôi biết người TDV kia là Bắc Kỳ 75. Và đã nhiều lần tôi nghe thân chủ than phiền,“Ông ơi, ông nói tui hiểu hết mà sao mấy cô cậu trẻ nói giọng Bắc gì kỳ quá, tui hổng hiểu gì hết trơn hết trọi.” Thì ra các cô, các cậu con ông cháu cha ở “nước ta” sang “nước mình” học, rồi ở lại, đi làm TDV. Bắc Kỳ cũ 54 như tôi mà còn thấy chói tai, ngơ ngác khi nghe thứ tiếng “Mọi” của người Hà “Lội” ngày nay thì các ông bà người miền Nam làm sao hiểu nổi vì chưa được “ân hận” nghe cái giọng 4000 năm văn hiến của các cô các cậu Bắc Kỳ 75 này.

Nói về “giọng.” Có lẽ vì tôi nói to (chắc tại tai hơi điếc) và nói tiếng Anh lưu loát nên các thân chủ người Việt tưởng là tôi còn trẻ. Có người xưng “Ông” với tôi. Có người xưng bác, chú, anh, chị. Một hôm, tôi nói, “Chào Bà…” và sau khi nghe giọng một người đàn bà miền Nam có vẻ còn trẻ, đổi sang “Cô” thì bà này lập tức xưng “cô” và gọi tôi bằng “con.” Khi tôi nói là tôi gần 70 rồi, bà ta xoay chiều, xin lỗi và gọi tôi là ông anh, xưng em. Một trường hợp khác cũng tương tự nhưng vui hơn. Sau khi tôi nói là tôi gần 70 rồi, một bà nói với tôi bằng một giọng rất đanh đá và hơi xấc, “Già rồi mà không chịu nghỉ cho khỏe, ham tiền đi mần làm chi cho nó khổ…” Tự nhiên nhớ đến nhạc sĩ Đức Huy, bạn tôi, tôi trả lời ngay lập tức, “Dạ, tôi nghỉ hưu mấy năm rồi đó chớ, nhưng kẹt một cái là năm rồi, tôi dzề Dziệt Nam lấy con dzợ mới 26 tuổi, sanh được thằng con trai gần 2 tháng nên phải đi làm lại…” Dzợ tôi đang ở gần đó, nghe tôi nói, phá lên cười.

Cuối cùng xin kể một giai thoại nhỏ về cái phản ứng tự nhiên của một TDV. Tôi dịch cho một bà bác sĩ và một cô gái quê miền Nam mới sang Mỹ có mấy tháng đi khám sức khỏe tổng quát. Lúc khám đến ngực thì bà bác sĩ hỏi, “Do you have breast implants?” Phản xạ tự nhiên lúc đó của tôi là câu hỏi đầy tính chất bình dân học vụ, bật ra từ miệng rất nhanh, “Dzú cô là dzú thiệt hay dzú giả?”, và cô gái quê bẽn lẽn trả lời, “Dạ, thưa chú, dzú con là dzú thiệc…”

Mỗi khi chấm dứt một câu điện thoại, tôi kết thúc bằng: “Thank you for using our services. Have a good day…”

Và tôi cũng xin chấm dứt bài này bằng: “Cám ơn quý vị và các bạn đã đọc bài này… Chúc quý vị và các bạn một ngày vui…”

Luân Tế

Hồi ký của một người con gái đất Bắc tại Sài Gòn trước 75—Hoàng Lan Chi

Tôi còn nhớ ruộng miền Nam nhiều nơi không chia bờ rõ rệt. Tôi còn nhớ cây trái Lái Thiêu không vạch lối ngăn rào. Tình hàng xóm là tất cả. Khi chia rào, ngăn lối là xúc phạm. Tự người dân quê biết đâu là đất là vườn của mình. Vào vườn Lái Thiêu cứ tha hồ ăn. Chỉ khi mua về mới phải trả tiền. Ôi sao ngày ấy người ta hiếu khách và cuộc sống thanh bình đẹp đẽ quá! Có phải là một phần nhỏ thiên đường nơi hạ giới chăng?…

Năm 1954 – 1960

Ngày ấy tôi còn bé lắm. Lênh đênh trên chuyến tàu cuối vào Nam theo cha mẹ chứ chẳng biết gì. Chuyến đi êm đềm không gì đáng nói. Tôi thấy người Pháp cũng đàng hoàng. Thì đâu chả thế. Cũng có người này người kia. Người hèn nhát, kẻ can đảm. Người quá khích, kẻ trung dung. Người Pháp trên tàu tử tế. Họ cho ăn uống đầy đủ. Tôi không hiểu tại sao họ phải tốn đủ thứ để đưa người di cư vào Nam. Nếu họ cứ mặc kệ thì không biết số dân Bắc có đến được miền Nam dễ dàng không…

Đầu tiên chúng tôi cặp bến Vũng Tàu. Rồi xe đưa vào Sài Gòn. Chúng tôi ở tạm tại Nhà Hát sau này được sửa thành Tòa Quốc Hội, mấy hôm sau thì phân tứ tán. Chính phủ trợ cấp cho mỗi đầu người là bao nhiêu đó, tôi không nhớ vì quá bé.

Nơi tôi ở đầu tiên là Cây Quéo, đường Ngô Tùng Châu. Gia đình tôi là người Bắc đầu tiên đến đây. Sau này đọc truyện và biết con trai Bắc hay bị con trai Nam uýnh và xỏ xiên: “Bắc kỳ ăn cá rô cây”… Không rõ có đúng không, nhưng gia đình tôi hên. Nơi xóm nhỏ, người Nam thật thà đôn hậu. Họ cư xử tử tế với chúng tôi. Đôi khi tôi lẩn thẩn nghĩ, hay vì gia đình tôi là nhà giáo? Tinh thần tôn sư trọng đạo đã ăn sâu trong giòng máu dân Việt? Họ rất tôn trọng và lễ phép đối với cha mẹ tôi. Một điều “thưa ông giáo”, hai điều “thưa bà giáo”…

Hồi ký của một người con gái đất Bắc tại Sài Gòn trước 75

Con đường đến trường tiểu học thật dễ thương. Ngày ấy chúng tôi đi bộ nhiều, chẳng vù vù xe máy như bây giờ. Đi bộ đến trường thật vui. Cứ tung tăng chân sáo, vừa đi vừa hái hoa bắt buớm. Ôi sao ngày đó Sài Gòn nhiều hoa bướm thế! Hai bên đường những hàng rào hoa dâm bụt đo đỏ xinh xinh. Nhìn vào trong, nhà nào cũng có vườn, cây cối xum xuê. Bướm bay la đà. Những con bướm đủ màu sắc, nhưng bướm vàng nhiều nhất. Nếu nhìn riêng thì bướm vàng không đẹp nhưng khi bay lượn giữa rừng lá xanh thì đàn bướm vàng thật duyên dáng. Chúng như một nét điểm xuyết cho bức họa hoa lá… Tôi thích nhìn bướm bay, tôi thích ngắm hoa nở. Trường học to vừa phải, lớp học đủ ánh sáng. Mỗi sáng thứ hai chào cờ, đứng nghiêm và hát quốc ca: Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi… Ừ thì thanh niên luôn được dạy dỗ là “đáp lời sông núi”.

Chúng tôi được học những bài công dân giáo dục đầu tiên và chúng đã ăn sâu mãi vào tiềm thức. Đủ biết các cụ nói uốn cây khi chúng còn non là đúng. Tuổi ngây thơ coi những lời thầy cô là khuôn vàng thước ngọc:

  • Không phá của công
  • Không xả rác ngoài đường
  • Phải nhường ghế cho người lớn tuổi, phụ nữ có thai trên xe buýt
  • Phải dắt em bé hay cụ già qua đường
  • Phải ngả nón chào khi xe tang đi qua
  • Không gian lận. Nói dối là xấu xa…

Chúng tôi đã được dậy như thế đó và chúng tôi đã làm theo như thế đó. Ôi Sài Gòn của tôi ơi, bây giờ tôi đi giữa phố phường mà lạc lõng vô cùng khi chỉ mình tôi ngả nón chào người chết hay chạy nép vào lề nhường cho xe cấp cứu đi qua!

Rồi những bài học thuộc lòng rất giản dị dễ nhớ:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Hay:

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông làng mạc ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi im lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng khắp trong giờ quốc sử…
Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã điểm
Đàn chim non hớn hở dắt tay về
Chín mươi ngày vui sướng ở đồng quê…

Cuộc sống sao êm đềm và thanh bình quá! Không có những cướp bóc lớn lao. Ăn cắp vặt cũng không ghê gớm. Tôi còn nhớ phơi quần áo trước nhà rất an toàn chẳng phải trông chừng…

Tôi còn nhớ ruộng miền Nam nhiều nơi không chia bờ rõ rệt. Tôi còn nhớ cây trái Lái Thiêu không vạch lối ngăn rào. Tình hàng xóm là tất cả. Khi chia rào, ngăn lối là xúc phạm. Tự người dân quê biết đâu là đất là vườn của mình. Vào vườn Lái Thiêu cứ tha hồ ăn. Chỉ khi mua về mới phải trả tiền. Ôi sao ngày ấy người ta hiếu khách và cuộc sống thanh bình đẹp đẽ quá! Có phải là một phần nhỏ thiên đường nơi hạ giới chăng? Tôi nhớ nhiều về Lễ Quốc Khánh đầu tiên năm 1956 thì phải, đúng là lễ hội. Pháo hoa tưng bừng và người người ra đường trong hớn hở reo vui. Không chửi bới, không chà đạp, không giành đường xem lễ… Sài Gòn bấy giờ còn thênh thang lắm. Sài Gòn bấy giờ chưa đông đúc bon chen…

Ngày ấy các bà Bắc hay Trung đi chợ còn mặc áo dài. Lề thói xưa còn ăn trong nếp ấy. Ra đường là phải lịch sự. Khi lễ lạc thì phải mặc quần đen với áo dài chứ không được quần trắng vì như thế là thiếu lễ… Tôi còn nhớ một gia đình trung lưu là đã có thể thuê người làm. Đa phần người làm là các cô gái miền Trung. Đúng là quê hương em nghèo lắm ai ơi! Đất khô cằn sỏi đá đã khiến bao cô gái quê vào miền Nam giúp việc. Thuở ấy người miền Nam hay dùng từ “ở đợ”, còn người Bắc gọi là “người làm”. Các chị giúp việc thường rất trung thành và lễ phép với chủ nhà, các cô cậu con chủ nhà cũng được tôn trọng. Bà chủ thường ở nhà vì nhà nào cũng khá đông con. Ban đầu thì ba, bốn và sau thành sáu. Tôi còn nhớ lương giáo sư đệ nhị cấp tức dạy từ lớp đệ Thất đến đệ Nhất của cha tôi là 5.200 đồng, vợ được 1.200 đồng và mỗi con là 800 đồng (không hạn chế số con). Tô phở khá ngon là năm đồng. Coi như lương giáo sư là 1.040 tô phở. Lương người giúp việc là 300 đồng. Lương Bộ trưởng gấp 5 lần lương giáo sư, vào khoảng 25.000 đồng. Còn lương Đại úy thì bằng lương giáo sư. Nếu bây giờ 7.000 đồng tô phở bình dân thì lương của giáo viên cấp ba phải là 7.000.000 đ.

Hồi đó chúng tôi thi một năm hai kỳ gọi là đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt. Đề thi hoàn toàn do giáo viên (cấp tiểu học) hay giáo sư phụ trách ra đề. Hồi đó không có nạn các giáo sư hay giáo viên kéo trò về nhà dậy kèm hay bán đề thi. Đơn giản có lẽ vì đồng lương đã đủ sống nên họ không phải bán rẻ lương tâm. Cuối năm lớp Nhất thì chúng tôi phải thi bằng Tiểu Học. Sau đó thi vào đệ Thất các lớp trường công. Ai rớt thì học trường tư. Tất nhiên phải học giỏi mới thi vào được những trường công danh tiếng như Gia Long, Trưng Vương, Petrus Ký, Chu Văn An. Những tháng ngày tiểu học với tôi là tung tăng chân sáo, là chơi nhiều hơn học, là hái hoa bắt bướm, là nhảy lò cò, là chơi giải ranh, chơi ô quan. Đúng ba tháng hè là chơi thoả thích… Ôi chơi chơi… sao mà thú vị thế! Nhớ đến tiểu học của con gái mình, tôi lại xót xa. Học quá nhiều để có thành tích cho thầy cô, cho trường lớp… và con gái tôi không bao giờ biết đến “chín mươi ngày vui sướng ở đồng quê”.

Năm 1960 – 1967

Đậu tiểu học xong tôi thi hai trường Marie Curie và Gia Long. Lẽ ra phải thi Trưng Vương mới đúng nhưng không biết sao cha tôi quyết định vậy. Những ngày đầu đi học Gia Long xúng xính đầm. Cha định cho tôi học Marie Curie nhưng phút chót lại chuyển sang Gia Long. Số tôi hên. Cô gái Bắc kỳ lạc lõng giữa rừng nữ sinh Nam kỳ mà không hề bị chia rẽ hay kỳ thị, hệt như ngày xưa, người dân Sài Gòn đã cưu mang gia đình tôi ở Cây Quéo. Từ thầy cô đến bạn bè, chẳng ai thắc mắc vì sao tôi mặc đầm.

Tôi học sinh ngữ Pháp văn. Trường có bảy lớp Anh và bảy lớp Pháp. Tôi học đệ Thất 14, lớp chót. Những năm đầu trung học tôi đi xe đưa rước của trường. Thế là hết những ngày chân sáo, hết những ngày đuổi bướm bắt hoa. Chỉ còn ngồi trong xe hiệu đoàn ngắm phố phường qua khung cửa sổ. Xe trường đưa các nữ sinh lớp sáng về nhà và trên đường đi rước các nữ sinh lớp chiều. Trong khi chờ đợi xe đến đón, tôi thường cột áo dài và trèo lên cây trứng cá trước nhà để hái trái nhâm nhi ăn chơi hay đem vào lớp cho bạn. Nghe tiếng còi xe ngoài đường thì tụt xuống xách cặp chạy ào ra. Nhà xa nên tôi bị đón sớm và về muộn. Bây giờ nhớ lại thuở cột áo leo cây thấy vui vui… khi vào trường cũng cột tà áo để nhảy lò cò. Trường Gia Long rất đẹp! Trường thật đồ sộ, bốn phía là bốn con đường. Ngày ấy chính phủ đặt tên đường có chủ đích rõ ràng. Đặt theo từng vùng các danh nhân văn võ, không đặt lộn xộn lung tung. Gia Long của tôi đã được bao quanh bởi các danh nhân văn chương như Bà Huyện Thanh Quan, Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm và Ngô Thời Nhiệm. Chính giữa trường là con đường tráng nhựa thật đẹp và chúng tôi hay gọi đùa là đường Bonard. Giờ ra chơi các nữ sinh dắt tay nhau thơ thẩn trên con đường ấy trông thật dễ thương. Rồi gia đình tôi chuyển sang Vạn Kiếp. Trước nhà có một bụi tre và đối diện là khoảng vườn mênh mông của chủ đất với những cây cau thẳng tắp .

Hồi ký của một người con gái đất Bắc tại Sài Gòn trước 75

Năm 1960 có nghe tin về “Mặt Trận Giải Phóng”… gì đó nhưng tôi chẳng quan tâm. Thứ nhất còn bé phải lo học, thứ hai mọi cái lúc bấy giờ đã được chính phủ đưa dần vào nền nếp và chiến tranh còn xa lắm. Đó là thời điểm cực thịnh của nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Ngày đó chưa có truyền hình, mới chỉ có truyền thanh. Chương trình khá phong phú. Tôi thích vừa làm toán vừa nghe nhạc. Cũng có chương trình “tuyển lựa ca sỹ” hàng tuần, nhưng phải nói đa số hát dở chứ không như các cuộc thi bây giờ, thí sinh hát khá vững.

Báo chí nở rộ, ai có tiền thì ra báo. Không cần phải là người của cơ quan chính quyền như bây giờ. Tôi mê xem báo. Tôi đói tin tức. Ngày đó có vụ thuê báo. Các em bán báo lẻ hay quầy bán báo nếu bán không hết thì cuối ngày trả lại toà soạn. Vì thế một số quầy báo có sáng kiến cho thuê báo. Người đọc thuê và trả tiền chỉ chừng phân nửa. Tất nhiên tiền đó chui vô túi chủ quầy báo và người bị thiệt hại là chủ nhân tờ báo. Gia đình tôi chỉ mua một tờ và trao đổi với nhà cậu tôi chứ không thuê. Coi như tốn tiền một mà được xem hai báo.

Báo thiếu nhi hơi ít. Báo chí đối lập được tự do hoạt động. Do đó có gì xấu xa của chế độ hay chính quyền thì những tờ báo đó vạch ra ngay. Còn những tờ thân chính phủ thì bị báo chí đối lập gọi là nâng bi. Sách thì rất nhiều, đủ các loại. Mỗi nhà xuất bản có nét đặc thù riêng. Như nói đến Lá Bối là biết ngay các loại sách về Thiền, Phật.

Văn thi sỹ nở rộ, tất nhiên cũng chia làm nhiều loại. Có những văn sỹ chuyên viết tiểu thuyết tâm lý xã hội và được các bà nội trợ bình dân hay các tiểu thương ái mộ như bà Tùng Long. Có những văn sỹ miền Bắc viết chuyện trong thời gian họ đi kháng chiến chống Pháp rất hay như Doãn Quốc Sỹ. Thời ấy thi sỹ cũng nhiều. Nào Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Du Tử Lê, Nguyên Sa, Hà Huyền Chi, Hoàng Anh Tuấn, Mường Mán…

Thơ văn Sài Gòn hồi ấy như trăm hoa đua nở. Đủ loại và tự do sáng tác theo cảm hứng, không phải viết theo một khuôn mẫu nào, do đó rất phong phú. Nhưng tôi lại thích đọc sách phóng tác hay dịch! (vì chưa đủ trình độ đọc nguyên tác) Mỗi lần hè về là tôi mê mẩn ngốn hàng tá truyện. Vật giá có lên nhưng chỉ chút đỉnh. Cũng chỉ mình cha đi làm còn mẹ ở nhà chăm lo con cái. Thuở tiểu học thì mẹ tôi kèm tất cả các môn. Lên Trung học thì bà không dạy được các môn khoa học nhưng Pháp văn thì vẫn tiếp tục cho đến tú tài vì ngày xưa mẹ tôi có bằng Certificat gì đó.

Cuộc sống vẫn êm đềm và khá thanh bình. Nhưng từ năm 61 thì không còn nữa. Đường đi thuờng xuyên bị đắp mô. Quốc lộ thì ít và tỉnh lộ thì nhiều hơn. Địa phương quân mỗi sáng sớm phải đi phá mô. Xong xuôi thì dân chúng mới dám đi lại. Đã có những mô nổ tung và cả chuyến xe đò tan tác. Rồi những năm sau là những lần nổ ở vũ truờng nơi quân Mỹ thường lui tới. Tất nhiên dân thường cũng vạ lây.

Tôi vẫn ngoan ngoãn với sách đèn. Chẳng hề giao du bạn trai vì cha mẹ cấm. Ngày ấy Gia Long và Trưng Vương là hai trường nữ nổi tiếng nhất. Hàng năm chỉ có một kỳ thi chọn học sinh giỏi là Trung Học Toàn Quốc. Lẽ dĩ nhiên số đậu rơi vào bốn trường lớn. Còn Lễ Hai Bà Trưng hàng năm được tổ chức khá lớn và hai nguời đẹp của Gia Long, Trưng Vương được đóng vai Hai Bà ngồi voi diễn hành.

Đề thi của mỗi môn cũng vẫn do Giáo sư môn đó phụ trách. Tôi thấy như vậy mà hay. Chẳng có gì lộn xộn xảy ra vì thời ấy không có nạn cha mẹ hối lộ Thầy cô. Mãi năm tôi học đệ nhất thì thi chung toàn khối và đã có rắc rối. Chẳng hạn đề thi triết đệ nhất lục cá nguyệt là của cô Lan dạy chúng tôi thì lớp chúng tôi làm được còn các lớp khác thì không. Hồi đó bậc Trung Học chúng tôi phải thi tổng cộng: Trung Học (hết lớp đệ tứ) Tú tài 1 (hết lớp đệ nhị) và Tú tài 2 (hết lớp đệ nhất). Nhiều bạn sau khi có bằng Trung Học thì đi làm. Có thể chọn nghề thư ký. Sau Tú tài một, rụng bớt một số bạn. Sau Tú hai rụng một số. Số học giỏi và có điều kiện thì tiếp tục con đường đại học.

Đề thi đại học do các trường tự phụ trách. Ngày thi lệch nhau. Trường nào cũng công bố danh sách thi đậu chính thức và dự bị. Do đó tôi cảm thấy rất trật tự nề nếp chứ không lộn xộn như bây giờ. Nếu gọi danh sách chính thức mà thiếu thì truờng gọi đến dự bị. Đơn giản vậy thôi. Nhưng có lẽ hồi đó vấn đề hối lộ, bán đề thi không kinh khủng để đến nỗi Bộ Giáo Dục phải xen vào ra đề chung như bây giờ. Lại cũng do vấn đề tiền lương. Khi đồng lương không đủ sống thì tư cách con người suy giảm.

Đường phố Sài Gòn của những năm 63 vẫn còn xe Mobylette và dễ thương ngộ nghĩnh là Velo solex. Chiếc xe xinh xắn nhưng có cái bầu to phía trước. Nữ sinh thường đi xe này. Khi chạy xe, tà áo dài phía sau phồng lên trông rất vui. Nhưng đa số học sinh vẫn đi xe đạp. Số xe máy rất ít. Và vì thế đường phố Sài Gòn vẫn khá thênh thang. Năm đệ tam thì tôi không đi xe đưa rước nữa mà chuyển qua xe đạp. Cũng khá xa mà sao hồi đó chúng tôi không thấy gì. Chả như bây giờ sân trường cứ tràn ngập xe máy mà lại còn xe phân khối lớn.

Hồi ký của một người con gái đất Bắc tại Sài Gòn trước 75

Năm tôi học đệ tứ thì xảy ra vụ Phật Giáo. Sau đó nền Đệ nhất Cộng Hoà sụp đổ. Tôi không ghét ông Diệm nhưng tôi ghét bà Nhu. Vì tính tình xấc xược của bà. Nhưng phải nói hồi đó với tôi, xã hội tương đối ổn định, trật tự nề nếp. Dù ông Nhu có lập Đảng Cần Lao nhưng không ép buộc lộ liễu. Họ cũng gợi ý nhưng không vào thì thôi. Cũng chẳng vì thế mà bị “đì” sói trán. Hay trong ngành giáo dục của cha tôi, người ta không trắng trợn? Tôi chỉ biết nếu học giỏi là được học bổng, không bị phân chia lý lịch gì cả.

Sau 63, các trường có Ban Đại diện. Ngày đó tôi không chú ý lắm các thành phần ứng cử. Nhưng sau này, các anh chị lớn nói rằng, học sinh sinh viên giỏi thường bù đầu với việc học, ít tham gia các hoạt động trên. Do đó phe miền Bắc cài người vào nằm vùng ở hầu hết Ban đại diện các trường. Họ được huấn luyện kỹ nên ăn nói hoạt bát. Còn học sinh giỏi thì không có thời gian luyện khoa ăn nói. Sài Gòn của tôi sau những ngày đấu tranh sôi nổi, sau những biểu tình, sau vụ tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức… lại êm ả trở lại. Nhưng không như xưa vì liên tiếp các đột biến về chính trị. Cuộc chỉnh lý của Tuớng Nguyễn Khánh rồi chẳng bao lâu đến phiên của Tướng Thiệu và Tướng Kỳ.

Tôi chỉ biết học và không chú ý đến những việc khác. Liên tiếp hai năm thi tú tài một và hai đã ngốn tất cả quỹ thời gian. Nhưng tôi chỉ nhớ Tú tài một, chuơng trình đã bị cắt giảm vì chiến tranh. Cũng từ năm 1965, quân Mỹ đổ vào đông và đã gây xáo trộn. Lính Mỹ lấy vợ Việt. Đa số là các cô gái nhảy, thời đó gọi là cave hay cả các cô xuất thân là người giúp việc. Me Mỹ là tên dân chúng gọi cho những cô này. Nội cái tên gọi đã nói lên sự khinh rẻ của dân chúng dành cho những cô gái ấy. Nghĩ cũng đáng thương. Nhưng cũng chính những đồng đô la mà các cô me Mỹ tiêu vô tội vạ đã làm vật giá Sài Gòn tăng cao. Người làm của chúng tôi lấy Mỹ và đổi đời.

Cuộc sống của giới trung lưu như giáo sư bắt đầu lao đao. Giáo sư nào dạy tư thêm thì còn đỡ. Gia đình tôi hạn chế mọi chi tiêu vì cha không dạy tư và yêu cầu mẹ phải ở nhà chăm sóc việc học của các con. Ai có thời gian để gửi thư tình tự, ai có lúc lang thang quán ăn hàng, còn tôi thì không, cắm đầu cắm cổ học, đi học xong là về nhà ngay. Ngày đó chúng tôi, gồm chị tôi và tôi đều học Gia Long nên không có vụ bạn trai nào dám đến nhà. Chúng tôi cũng chẳng học tư nhiều. Mà học tư vào những năm thi thì cũng né con trai tối đa. Lệnh cha mẹ phải chấp hành nghiêm chỉnh. Thậm chí sau này chị tôi học dược cũng vẫn không hề có một tên “masculin” nào dám đến nhà!

Tôi thích con gái đi học bằng xe đạp và nón lá nghiêng nghiêng. Từng vòng xe quay chầm chậm nhỏ bé. Áo dài ngày đó mặc rất kín đáo. Chúng tôi bắt buộc phải có áo lá bên trong. Và các bà giám thị luôn coi chừng nhắc nhở những nàng mặc áo quá chít eo, những nàng khua giày cao lộp cộp. Chúng tôi đi sandalh, rất dễ thương. Tôi không thích học trò quá điệu, áo thật eo hay guốc cao. Mà thật kỳ, đa số mấy cô điệu thường học kém và có bồ sớm. Các cô giỏi thì ngược lại. Nhưng cũng có cá biệt. Tôi còn nhớ ngày đó cô bạn ban B, Kim Dung rất xinh học giỏi được chọn làm Tây Thi trong vở kịch cuối năm chẳng điệu gì cả. Riêng lớp tôi thì chỉ có vài chị điệu và tất nhiên học dở, có bồ sớm.

Năm tôi thi tú tài, chỉ còn viết và bỏ vấn đáp. Chứ trước kia, một số môn phải thi viết và vấn đáp (còn gọi là oral).Tôi đậu tú tài cao và được trường thưởng hai chữ Gia Long quyện vào nhau bằng vàng 18. Những năm sau, trường đổi lại là hoa mai vàng. Đó cũng là phù hiệu của Gia Long. Tôi mê Y khoa và ghét duợc! Tôi thích là bác sỹ để chữa bịnh cho trẻ em và tự nhủ sẽ chữa miễn phí cho em nào mắc bệnh sài uốn ván. Tất cả chỉ vì tôi mất một đứa em trai vì bệnh này. Còn Dược khoa, chẳng hiểu sao tôi ghét nữa. Tôi nói rằng học dược, ra bán thuốc ngồi đếm từng đồng xu leng keng! Chính vì thế sau này có một dược sỹ đại uý theo, tôi đặt tên anh ta là “đại uý leng keng”! Nhưng nghề chọn người chứ người không chọn được nghề. Tôi thi rớt dù học giỏi. Năm đó đề thi y khoa bắt đầu có câu hỏi tổng quát, hỏi về những kiến thức xã hội chung quanh. Tôi học chăm quá nên vào phòng thi bị đuối sức, quỵ ngã .

Năm 1967 – 1971

Tôi ghi danh Khoa Học, Chứng chỉ Lý Hoá Vạn Vật tức SPCN (Science-Physic-Chimie-Naturel). Nơi đây quy tụ nhiều người đẹp nhất Khoa học vì sinh viên xuất thân ban A. Còn chứng chỉ MGB hay MGP thì ít con gái hơn…

Chương trình học khá nặng. Buổi sáng thực tập đủ năm môn và chiều học lý thuyết. Tôi thích thực tập thực vật hơn các môn kia. Cắt ngang hoa dâm bụt hay lá gì đó xem được cấu trúc của nó duới kinh hiển vi rất đẹp. Tôi không thích thực tập địa chất. Toàn những mẩu đá vô tri giác. Tôi cũng không thích lý với những bài dây điện loằng ngoằng.Thực tập động vật tuy sợ nhưng cũng thích. Mổ con vật ra và xem cơ thể bên trong rất thú vị. Chính ở đây là những mảnh tình trong sân trường đại học, vì có cơ hội tiếp xúc bạn trai. Chứ những ngày Gia Long hết đi xe hiệu đoàn đến xe đạp và mê học quá chừng đâu chú ý ai.

Năm đầu tiên đại học tôi chứng kiến vụ tết Mậu Thân. Sáng sớm nghe nổ mà ngỡ tiếng pháo. Khi nghe tin Sài Gòn bị tấn công, tôi bàng hoàng. Trời, thủ đô? Mấy ngày sau từ nhà nhìn về phía Gò Vấp thấy trực thăng thả rocket từng chùm. Lần đầu tiên cô bé nữ sinh chứng kiến tận mắt chiến tranh dù chỉ là một phần nhỏ. Thực ra trước đó có những lần các quán bar bị đặt mìn nổ, xác người tung toé. Sau những ngày kinh hoàng, Sài Gòn của tôi lại như cũ.

Ngày đó chúng tôi đi học mặc áo dài. Thỉnh thoảng có cô mặc đầm và không ai mặc Tây cả… Nên sân truờng đại học tung bay bao tà áo muôn màu sắc. Cha mẹ khó nên tôi vẫn đơn giản áo trắng và ôm cặp như thuở Gia Long. Thỉnh thoảng mới áo màu. Vì vậy khi tôi mặc áo dài màu, các bạn thấy lạ. Chiều thứ bảy, tôi thường cùng cô bạn lang thang Sài Gòn để ăn hàng và ngắm phố phường. Hồi đó có lẽ không khí chưa ô nhiễm nên con gái Sài Gòn tuổi mười bốn, hai mươi trông rất đẹp. Đẹp tự nhiên ở đôi mắt đen láy, nước da đỏ hồng. Có cô má đỏ au như con gái Đà Lạt .Tôi thích người đẹp nên hay ngắm con gái Sài Gòn trên hè phố. Tuổi học trò thích nhất là lang thang phố phường và ăn hàng. Đi học cũng thích thầy bịnh để được nghỉ rồi rủ nhau ra quán tán dóc. Thật ra bọn con gái chúng tôi siêng năng đi học nên thích vậy chứ một số ông con trai rất ít đến giảng đường. Mấy ông đó chỉ đi thực tập vì có điểm danh. Vả lại không đi thì sẽ không biết làm. Còn lý thuyết thì lâu lâu đáo vô một chút. Cuối năm bắt đầu ngồi tụng. Tất nhiên cour đâu bằng bài giảng của Thầy. Thế là các ông tướng này đi theo năn nỉ mấy cô như tôi cho mượn tập!

Hồi ký của một người con gái đất Bắc tại Sài Gòn trước 75

Đời sống đắt đỏ, vật giá leo thang hoài. Chiến tranh cũng vậy. Quay trái, quay phải, sau lưng, trước mặt, đâu cũng có người đi lính và chết. Có năm sinh viên phản đối chính quyền, đã vô xé bài không cho chúng tôi thi. Sau này, điểm danh lại thì trời ơi… mấy tay kích động, phá hoại đó toàn là dân nằm vùng. Tôi bắt đầu gửi bài đăng báo năm đệ tứ. Đăng và dấu nhẹm, không dám cho gia đình biết. Hai năm sau thì bận hai kỳ thi tú tài nên ngưng. Khi lên năm thứ hai đại học thì tôi lai rai viết lại. Thuở đó báo có số phát hành nhiều nhất là tờ Chính Luận. Thiên hạ đổ xô đăng quảng cáo ở đây rất nhiều. Báo có mục Chuyện Phiếm. Nội dung là viết linh tinh đủ vấn đề nhưng khuynh huớng là chỉ trích những việc… đáng bị chỉ trích. Tôi lấy bút hiệu Quỳnh Couteau. Tôi còn nhớ có mấy cây bút sinh viên của mục này: Quỳnh Couteau của Khoa học, Thảo gàn của Nha khoa, Thu hippy dường như văn khoa.

Tôi viết truyện tình cho báo Tiếng Vang . Tôi có thói quen mua từng ram giấy pelure đủ mầu và viết bài trên đó. Tương đối tôi viết khá dễ dàng, đặt bút là viết, hiếm khi sửa lại hay bôi xoá. Để bài mình được đăng nhiều và liên tiếp, tôi lấy khá nhiều bút hiệu. Nhưng tôi biết nhà văn Thanh Nam, người phụ trách trang đó biết là cùng một người .Vì cùng một nét chữ, cùng cách sử dụng giấy pelure hồng, vàng. Tiếng Vang gửi nhuận bút 500/bài, Chính Luận thì cao hơn 800/bài . Sau này tôi lai rai nhảy qua Sóng Thần của Chu Tử…

Tôi nhớ dường như sau một năm tôi có bật mí trong một truyện, các bút hiệu 1, 2, 3, 4… đều chỉ là một người! Có điều vui là các độc giả cũng ái mộ, gửi thư đến toà soạn xin làm quen. Vui hơn nữa là khi tôi đến toà soạn lãnh nhuận bút gặp Hồng Vân, cô con gái chủ nhiệm Quốc Phong. Cô này lúc đó thay thế nhà văn Thanh Nam phụ trách trang Truyện tình của bạn. Không biết sao chỉ gặp lần đầu, nhìn xa xa mà cô rất thích tôi. Hôm sau xuất hiện trên báo dòng nhắn tin của cô: “ PQ, hôm qua PQ đến mà chị không dám ra nói chuyện vì đang đau mắt. Nhưng thấy PQ xinh quá, giọng Bắc thật dễ thưong.” Giời ạ, sau dòng nhắn của cô thì thơ của độc giả ái mộ gửi đến quá xá luôn. Tất nhiên tôi vẫn dấu nhẹm mọi người trong gia đình. Nếu không, bố tôi cho ăn chổi chà về tội không học, lo viết chuyện đăng báo! Thực ra tôi vẫn chăm học. Viết truyện tình ngắn với tôi dễ ẹt! Chỉ mất chừng một giờ mà lại có 500 hay 800 để đãi bạn bè ăn hàng thì cũng thú vị. Tiếc là sau này Tiếng Vang tự đình bản và tôi quay qua viết cho Sóng Thần hay Dân Luận.

Hồi đó sinh viên chúng tôi hay ra thư viện để học. Thư viện khoa học thì nhỏ, muốn có chỗ phải đi sớm. Chỉ có môt điều tiện là ngay trong truờng thì sau đó vô giảng đường, không mất thời gian di chuyển. Còn thư viện đẹp là của ĐH Vạn Hạnh nhưng tôi ít đến vì xa nhà. Hai thư viện gần là thư viện Văn hoá Đức và Hội Việt Mỹ. Thư viện Văn hoá Đức nằm trên đường Phan Đình Phùng, nhỏ thôi, có máy lạnh, nhưng tệ hại là không có người giữ xe, xe cứ khoá để trong sân, thư viện lại ở trên lầu. Và tại đây, tôi có những kỷ niệm vừa vui vừa buồn. Những kỷ niệm nho nhỏ.

Thư viện bé nên chỉ một thời gian, những sinh viên hay lui tới đều biết mặt nhau. Tôi còn nhớ có một sinh viên già nhất, rất lập dị. Anh để hàm râu dài và xồm xoàm. Nghe nói anh đang học Luật. Gặp tôi vài lần ở cầu thang, mỉm cười với nhau và thế là quen. Có lần tôi ngồi học và có cảm tưởng. Tôi nhìn sang thấy anh ở bên kia và đang vẽ ký hoạ tôi. Khi ra về, anh đưa và hỏi: “Hôm nay anh thấy em dễ thương lắm. Em đã lấy mất một buổi học của anh. Vì… vẽ em…”. Có khi anh bảo tôi: “Khi nào em lấy chồng, nhớ báo anh nhé ” – “Anh sẽ mừng gì?” – “ Một tạ muối” – “Kỳ vậy” – “Cho tình nghĩa vợ chồng của em đậm đà như muối.”

T, bạn cùng Khoa học cũng hay đến đây. T đến vì tôi chứ không vì thư viện vì nhà T xa. Lắm lúc cũng chẳng học, vẽ lăng quăng hay viết lăng quăng mấy câu nho nhỏ gì đó cho tôi. Rồi tôi bị mất xe ở đây. Hôm đó tự nhiên thấy người rất khoẻ và sáng suốt, tôi say mê học. Thư viện về hết, chỉ còn mình tôi. Khi xuống thì chẳng thấy Honda, chiếc Honda mới toanh do gia đinh mới mua, giá 72.000 đ (lương giáo sư lúc đó 23.000). Tôi hoảng hốt xuống phòng dưới của bảo vệ, hỏi rất ngây thơ:

– Bác thấy xe cháu đâu không?

Bác cười:

– Không, chắc lại bị ăn cắp rồi!

Tôi tái mặt. Bác nói tôi đi khai báo. Tôi đi bộ đến bót cảnh sát trên đường Mạc Đĩnh Chi gần đó. Lão cảnh sát thấy ghét. Lão ghi chép xong lời khai rồi cười cười:

– Thế cô có biết ai lấy xe cô không?!

Tôi đi bộ từ đó về nhà ở Gia Định. Thấy con đi về, không có xe, cha mẹ hỏi. Mếu máo. Bố mắng tơi bời. Mẹ thì không. Tôi nằm trên gác khóc suốt. Sao người ta ác thế, sao ăn cắp xe của tôi, khoá rồi mà. Ngày đó tôi ngây thơ và gà tồ kinh khủng. Không thấy tôi đi học hay đến thư viện Văn hoá Đức, T tìm đến nhà. Thấy mắt sưng, T hỏi. Rồi thì T nói: “Tôi sẽ đi hỏi cho LC. Tôi quen tên đầu đảng, trùm ăn cắp xe ở vùng…” Tôi tròn mắt. T, anh chàng đẹp giai, thông minh, đàn hay, vẽ giỏi quen trùm du đãng! Thấy tôi tròn mắt, T chỉ cười. Hôm sau T quay lại: “Bạn tôi không tìm được vì không phải vùng nó kiểm soát. Tụi nó rã xe nhanh lắm.”

Tôi nghỉ học mấy bữa. T lại tìm đến :

– LC à, LC lấy xe PC của tôi đi học đi. Tôi còn cái Mini Vespa mà.

Tôi đỏ mặt. T là vậy. Muốn nói gì là nói. Chẳng ngán ai.

Còn Hội Việt Mỹ thì thư viện to, đẹp. Đa phần tôi viết truyện tình đăng báo ở đây! Nhớ lại cũng vui. Khi báo đăng, tôi cắt và đem vào trường cho bạn xem. Bạn gái xem thì ít (nhỏ Mai không có tâm hồn văn chuơng) nhưng T xem thì nhiều. Có khi ngang đến độ bỏ giờ học, ngồi ở thềm của lớp để xem truyện cuả tôi! Bởi thế mấy chục năm sau, có người nghi ngờ, đoán rằng T, bạn ông ấy cũng chính là T ngày xưa của Khoa học, đã mét T. T tìm đọc và đã nhận ra văn phong của tôi. “Văn LC lúc nào cũng vậy. Vẫn rất nhẹ nhàng , thơ mộng”. Văn vẫn vậy nhưng cuộc đời thì không vậy, bao nổi trôi sóng gió cho cô nhỏ được một số ông ở khoa học gọi là “người có đôi mắt đẹp nhất phòng Hoá”!

Tình hình chiến sự ngày một leo thang. Tôi nhớ những sự kiện đăc biệt như:

– Vụ đầu cơ gạo của thương buôn Tàu và Tướng Kỳ đã “chơi ngon”, ra lịnh xử tử Tạ Vinh. Ông tướng này thuộc loại võ biền, ruột để ngoài da, phát biểu như cao bồi Texas. Chẳng cần biết sau này Tạ Vinh có bị xử tử thật hay không nhưng lập tức vụ gạo được ổn định.

– Năm nào đó tôi tẩy chay không đi bầu khi Tướng Thiệu độc cử.

Vật giá ngày leo thang luôn. Thì như đã nói, quân Mỹ xài phung phí, “me Mỹ” xài vung vít. Chỉ còn giới trung lưu như giáo chức là khốn đốn. Tôi vẫn sống trong tháp ngà. Chiến tranh có làm suy tư thì chỉ trong phút chốc. Việc học cuốn hút. Và những ngày thứ bảy cuối tuần vẫn vi vút dạo phố Sài Gòn ăn quà. Tuổi học trò thích nhất là ăn hàng. Tiền bố phát hàng tuần eo hẹp lắm vì nhà giáo mà. Nên tôi đã bổ sung ngân quỹ ăn hàng bằng các bài viết cho Tiếng Vang, Sống, Chính luận.

Thời tiết Sài Gòn ngày ấy không như bây giờ. Vì tôi nhớ đi học phải mặc áo dài suốt ngày. Nhà xa, sáng học thực tập, trưa ở lại và chiều học lý thuyết. Có lẽ ảnh hưởng thời tiết chung toàn thế giới và cũng vì Sài Gòn không quá đông như bây giờ? Mấy cô bạn Gia Long cũ, bỏ đi làm từ khi đậu tú tài thì có cô vô Ngân hàng, lương rất cao. Cô thì làm cho hãng Pháp, lương coi như khoảng một lượng vàng một tháng. Lương chuẩn uý gần một lượng. Quân nhân được mua hàng rẻ gọi là quân tiếp vụ. Đa số mua xong, đem ra ngoài bán lại cho con buôn. Hồi đó có phong trào làm cho sở Mỹ vì lương rất cao. Thanh niên sinh viên lai rai biểu tình. Cứ “biểu”, cảnh sát biết hết ai là ham vui, ai là đặc vụ nằm vùng.Tôi chưa bao giờ tham gia hay đi xem. Vì chăm học quá mà ? Nhưng đừng nghĩ rằng không nghe tiếng đại bác trong tháp ngà! Vẫn nghe đấy chứ. Cũng có những niềm riêng khắc khoải. Nhưng mục tiêu phía trước phải đạt cho xong…

Hồi ký của một người con gái đất Bắc tại Sài Gòn trước 75

Tôi ra truờng năm 1971. Thân cư Mệnh nên suốt đời tự lo. Họ hàng, cha mẹ không giúp dù quen biết nhiều. Tôi viết bài “Ba lần văn bằng cử nhân đi xin việc làm” đăng trên Chính Luận. Nhà báo nói láo ăn tiền, bi thảm hoá thêm. Chàng Giám Đốc Nha Viện Trợ trực thuộc Tổng Nha Kế Hoạch viết thư mời cô cử đến cộng tác.

Thế là hết những ngày lang thang sân truờng đại học. Hết những ngày khúc khích với anh trên đường Khắc Khoan, nghe lá me xanh reo trên tầng cao, hết những chiều thứ bảy cùng cô bạn thân ăn hàng chợ Sài Gòn, hết những ngày trong giảng đường nhỏ giờ Thầy Thới, nghe được cả tiếng muỗi vo ve, hết cả những giờ xem hai phe chống và thích rượt nhau trong sân truờng khoa học.

Tôi bắt đầu vào đời. Từ ấy…

Sài Gòn của tôi có những nét khác hơn của thuở học trò. Nhưng vẫn là Sài Gòn của mưa nắng hai mùa, của áo lụa Hà Đông giữa trưa hè nóng bỏng, của tiếng chuông chùa Xá Lợi ngân nga. Của giáo đường nhà Thờ Đức Bà tung bay muôn màu áo chiều chủ nhật.

Sài Gòn với áo dài tha thuớt. Áo Sài Gòn không biết ngồi sau lưng Honda hai bên như bây giờ. Áo Sài Gòn không biết phóng xe ào ào như bây giờ. Áo Sài Gòn không cười hô hố trên đường phố như bây giờ. Áo Sài Gòn không cong cớn như bây giờ…

Và tôi, bao năm tháng trôi qua, vẫn một niềm hoài vọng về Sài Gòn ngày ấy…

Xin trả cho tôi nắng Sài Gòn
Thênh thang đường phố lụa Hà Đông
Xin trả cho tôi mưa ngày ấy
Và trả cho tôi cả cuộc tình…

Hoàng Lan Chi

San Jose Flyover Tour

APPLE PARK Late August 2018 Drone

Picnic Mùa Hè 2018

65_ful2l

FlyerPicnic2018


Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Happy 4th of July

happy-4th-of-july-amazing-colorful-fireworks-animated-gif-pic

Happy Father’s Day

anigif2

Cha Yêu—Lâm Thuý Vân


Cha Tôi | Papa—Lê Toàn


Papa—Paul Anka | Uniart

APPLE PARK June 2018 Aerial Perspective

APPLE PARK: mid-April 2018 | A Very Private Corporate Campus—Duncan Sinfield

9 Đặc Điểm Khác Nhau Giữa “Bạn” Và “Bè”—LH

Bạn bè chính là những người yêu thương chúng ta nhất chỉ sau gia đình mà thôi. Chẳng một ai có thể tồn tại trên thế giới này mà không có lấy ít nhất một người bạn.

Tuy nhiên, bất cứ điều gì cũng có hai mặt của nó, và bạn bè cũng vậy. Sẽ thật tốt khi xung quanh chúng ta là những người bạn sẵn sàng đồng cam cộng khổ, sẵn sàng chìa tay vực ta dậy mỗi lần ta vấp ngã. Đó cũng sẽ là những người chẳng bao giờ quay lưng dù chúng ta có bị cả thế giới bỏ rơi.

Nhưng bên cạnh đó, cũng tồn tại những người bạn không thật sự tốt. Họ đến với chúng ta vì những mục đích nhất định, để khi đạt được mục đích rồi thì họ sẵn lòng rời đi. Vậy cho nên mới có sự phân biệt rạch ròi giữa “bạn” và “bè”. Có nhiều “bạn” thì hạnh phúc, còn có nhiều “bè” lại là điều bất hạnh.

Dưới đây là 9 dấu hiệu để chỉ ra sự khác biệt rõ rệt đó. Nên nhớ, chẳng thà có ít bạn mà tốt, còn hơn có nhiều bè để cuộc đời mãi trôi nổi lênh đênh!

9 đặc điểm khác nhau giữa bạn và bè mà bạn nên biết - Ảnh 1.

Những người bạn thật sự sẽ luôn trở thành điểm tựa cho bạn, lắng nghe bạn nói và đưa ra lời khuyên nhủ để bạn giải quyết vấn đề ổn thỏa hơn. Trong khi đó, những người bạn xấu lại chỉ coi bạn là cái thùng rác chuyên dụng để xả hết bực dọc lên người bạn, họ chẳng mấy khi chịu lắng nghe tâm sự của bạn đâu!

9 đặc điểm khác nhau giữa bạn và bè mà bạn nên biết - Ảnh 2.

Đôi khi bạn sẽ phải đưa ra một vài sự lựa chọn, và nếu sự lựa chọn của bạn không khiến cho người khác vui lòng thì họ cũng chẳng trách mắng bạn đâu. Thậm chí họ còn cảm thông và chia sẻ cùng bạn với những băn khoăn mà bạn đang có. Còn đối với nhiều người, chỉ cần bạn làm họ phật ý, họ lập tức tìm cách khiến bạn thấy dằn vặt và áy náy. Chính là họ đang cố gắng làm bạn tổn thương cho hả hê cơn giận đấy!

9 đặc điểm khác nhau giữa bạn và bè mà bạn nên biết - Ảnh 3.

Những người bạn tốt luôn đặt tiêu chuẩn tôn trọng lẫn nhau lên hàng đầu. Đối với họ, sự tự tôn của mỗi người là ngang nhau, và họ sẽ không bao giờ làm gì khiến bạn cảm thấy bị hạ thấp hay coi thường. Trong khi đó, nhiều người bạn xấu sẽ luôn tỏ ra không hài lòng với bạn, ưa chấp nhất và khiến bạn thấy mất tự tin… Đừng băn khoăn gì cả, hãy nói lời say goodbye với họ ngay lập tức!

9 đặc điểm khác nhau giữa bạn và bè mà bạn nên biết - Ảnh 4.

Bạn có bao giờ để ý về những cuộc tranh luận? Nếu là bạn tốt, họ sẽ lắng nghe bạn nói, sau đó cùng đưa ra ý kiến để cả hai cùng thảo luận. Còn nếu là những người bạn xấu, họ chỉ biết đến ý kiến của riêng mình họ mà thôi, và luôn tự cho là họ đúng…

9 đặc điểm khác nhau giữa bạn và bè mà bạn nên biết - Ảnh 5.

Dấu hiệu nhận biết tình bạn rõ nhất và cũng chính xác nhất là hãy xem họ quan tâm tới bạn nhường nào. Bạn tốt thường không vì khoảng cách mà xa cách lòng, họ sẽ gọi điện hoặc tìm cách hỏi han để biết rằng bạn có đang ổn hay không. Còn bạn xấu, đương nhiên bạn chỉ thấy sự xuất hiện trở lại của họ khi mà họ cần tới bạn trợ giúp!

9 đặc điểm khác nhau giữa bạn và bè mà bạn nên biết - Ảnh 6.

Những người bạn biết suy nghĩ cho bạn chắc chắn sẽ để bạn được sống thoải mái và tự tin khi là chính mình. Và đối với họ, cá tính thật của bạn mới là điều đáng quý, bạn chẳng cần phải cố gắng thay đổi gì cả. Trong khi đó, những người bạn xấu sẽ luôn muốn kiểm soát bạn, muốn bạn thay đổi, gần như trở thành một bản sao của một ai đó để họ thấy hài lòng. Ồ, bạn đừng nói là bạn sẽ thay đổi vì những người bạn không ra gì này nhé!

9 đặc điểm khác nhau giữa bạn và bè mà bạn nên biết - Ảnh 7.

Chỉ cần bạn nói bạn không ổn, bạn sẽ được tận hưởng khoảng thời gian được ở một mình để có thể cân bằng lại suy nghĩ. Đây là cách mà những người bạn tốt sẽ làm đối với bạn. Còn những người bạn xấu, họ đâu quan tâm xem bạn có vấn đề gì, họ sẽ vẫn kéo bạn đi và muốn bạn tham gia vào vấn đề của họ. Đừng trông chờ vào sự quan tâm từ những người như vậy, bởi bạn sẽ thất vọng đấy!

9 đặc điểm khác nhau giữa bạn và bè mà bạn nên biết - Ảnh 8.

Bạn có công nhận rằng khi ta gắn bó với một người, ta sẽ luôn mong muốn được chứng kiến người ấy thành công không? Và đương nhiên, những người bạn tốt của bạn cũng như vậy. Họ thậm chí còn tìm cách ăn mừng thật lớn để cho cả thế giới này biết họ có một người bạn cừ khôi như thế nào! Trong khi những người bạn xấu thì ngược lại hoàn toàn. Họ sẽ tỏ ra khó chịu ra mặt nếu thấy bạn tiến bộ hơn họ, đi đường dài hơn họ, được nhiều người quan tâm hơn họ… Họ tìm cách chỉ trích bạn trước mặt những người khác để cố chứng tỏ rằng họ hơn hẳn bạn.

9 đặc điểm khác nhau giữa bạn và bè mà bạn nên biết - Ảnh 9.

Và cuối cùng, những người bạn thật sự là những người luôn rộng mở vòng tay chào đón những người bạn khác của bạn. Họ không phán xét điều gì cả, chỉ cần biết đó là bạn của bạn mà thôi. Trong khi những người bạn xấu lại rất khó lòng có thể hòa nhập với bạn bè của bạn. Đơn giản vì họ sợ hãi vị trí của họ sẽ bị lung lay bởi ai đó. Và họ thường chỉ muốn ích kỷ chiếm hữu bạn cho riêng mình mà thôi!

Smart Cities USA: San Jose, CA | Intel

Đông Trùng “Hạ Thảo Hay Hạ Huyệt”?

https://baomai.blogspot.com/
Đông trùng hạ thảo khi mới được khai thác ngoài thiên nhiên
Ngay tại Trung cộng, nhiều người vẫn lầm tưởng về bản chất và công dụng của đông trùng hạ thảo, tới mức các nhà khoa học nước này phải lên tiếng cảnh báo.
Tháng 1/2018, nhiều tờ báo lớn của Trung cộng như Sina, Sohu đồng loạt đăng tải nhiều bài viết về đông trùng hạ thảo, nhấn mạnh đây là “dược liệu”, không phải “vị thuốc” có thể ăn trực tiếp và mang lại nhiều hiệu quả như dân gian lầm tưởng.  Không có kháng thể chống ung thư.Nhiều người cũng tưởng rằng, đây là loài sinh vật dị biệt: mùa đông là côn trùng (đông trùng), chui xuống đất tránh cái lạnh, còn mùa hè trở thành cây cỏ (hạ thảo).

Các tài liệu khoa học và y học Trung cộng ghi nhận đông trùng hạ thảo xuất hiện ở bốn tỉnh gồm Tứ Xuyên, Vân Nam, Thanh Hải, Cam Túc và Tây Tạng, tại các vùng núi có độ cao hơn 3.800 m so với mặt nước biển.
https://baomai.blogspot.com/
Trên thực tế, các nhà khoa học Trung cộng thống nhất rằng đông trùng hạ thảo là thể kể hợp giữa ấu trùng loài bướm dơi và nấm.
Vào mùa hè, khi băng tuyết tan ra trên các cánh đồng cỏ ở độ cao 3.800 m so với mặt nước biển, bướm dơi đẻ trứng lên lá các loại hoa. Sau đó, trứng phát triển thành sâu nhỏ, khon vào mặt đất ẩm ướt, hấp thụ chất dinh dưỡng từ rễ các loài thực vật, dần béo trắng lên. Thời điểm này, nang bào tử nấm hình cầu gặp ấu trùng sâu bướm, chúng sẽ khoan vào cơ thể ấu trùng, rút chất dinh dưỡng, tạo thành tơ nấm. Hoặc đông trùng hạ thảo cũng hình thành khi ấu trùng bướm ăn lá cây có nấm.
Như vậy, xét về mặt thực chất, đông trùng hạ thảo chính là hiện tượng nấm ký sinh vào cơ thể ấu trùng sâu bướm, dần ăn hết chất dinh dưỡng của vật chủ.
https://baomai.blogspot.com/
Nấm lây nhiễm vào cơ thể ấu trùng, khiến ấu trùng cong mình lên cao lên 2 đến 3cm so với mặt đất. Lúc này, ấu trùng sẽ chết dần từ đầu đến đuôi. Nấm vẫn tiếp tục phát triển cho tới khi xâm nhập hoàn toàn cơ thể ấu trùng. Đến cuối xuân đầu hạ, phần dầu của ấu trùng sẽ mọc lên một dạng thực vật giống như cỏ màu tím đỏ. Đây chính là lúc thu hoạch đông trùng hạ thảo tốt nhất.
Tuy nhiên, giới khoa học Trung cộng nhấn mạnh đây chỉ là “dược liệu”, chứ không phải thuốc tiên hay “dược phẩm”. Mặt khác, các chuyên gia y học cổ truyền Trung cộng cũng khẳng định đông trùng hạ thảo hoàn toàn không có kháng thể chống ung thư như đồn thổi.
https://baomai.blogspot.com/https://baomai.blogspot.com/
“Lợi dụng sự thiếu hiểu biết, một số gian thương đã tìm mọi cách tuyên truyền, ép giá khiến đông trùng hạ thảo đắt như vàng. Sự thực, loại dược phẩm này không có nhiều công hiệu đến vậy”, ông Vương Thành Thụ (Wang Chengshu), chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Sinh lý và Sinh thái thực vật, Thượng Hải, cho biết.
Cấm ăn trực tiếp
Tháng 12/2010, Tổng cục Giám định quốc gia Trung cộng, ra thông cáo về đông trùng hạ thảo, trong đó cấm sử dụng loại dược liệu này để làm thực phẩm hoặc chế biến nó thành thực phẩm.
Năm 2005, Tổng cục thực phẩm và y học Trung cộng, thuộc Bộ Y tế nước này, cũng đã ra lệnh buộc thay thế đông trùng hạ thảo trong các loại thực phẩm chức năng bằng các loại nấm khác được phép sử dụng.
Cuối năm 2017, khảo sát của tờ Time Weekly, nhận xét buôn bán đông trùng hạ thảo là ngành kinh doanh sinh lời ở Trung cộng trong nhiều năm. Theo báo này, giá của đông trùng hạ thảo đã tăng lên 10 lần từ năm 2003. Tại siêu thị bán lẻ, đông trùng hạ thảo chất lượng có thể lên tới giá 888 Nhân dân tệ (134 USD) mỗi gram, đắt gấp ba lần vàng.
https://baomai.blogspot.com/
Ngược lại, nấm Cordyceps militaris , thực thể có khả năng kháng ung thư, lại thường chỉ có giá 0,3 Nhân dân tệ (0,05 USD) mỗi gram.
Trong khi đó, các nhà môi trường học cũng cảnh báo việc khai thác diện rộng với đông trùng hạ thảo ở Tây Tạng, về lâu dài có thể gây tổn hại nghiêm trọng với môi trường ở vùng cao nguyên này.
Năm 2016, Tổng cục thực phẩm và y học Trung cộng thậm chí còn cảnh báo lượng độc tố arsen có trong đông trùng hạ thảo được chế biến thành bột hay viên nén, ở mức cao hơn chuẩn cho phép. Hạn mức tiêu chuẩn quốc gia của Trung cộng về arsen, hóa chất độc hại, là 1 miligam/kg, nhưng mức tìm thấy trong các chế phẩm đông trùng hạ thảo dao động từ 4,4-9,9 miligam/kg.
Báo Trung cộng Chinanews cảnh báo người dân cần thận trọng với đông trùng hạ thảo, trong khi không ít người vẫn lấy chúng làm những món quà đắt tiền, thường tặng cho người già. Dân gian cho rằng loại dược liệu này giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của con người và hạn chế sự phát triển của các tế bào ung thư, điều chưa hề được khoa học chứng minh.
Tờ Sina từng đăng tải bài viết “Đông trùng hạ thảo: tiên dược hay cú lừa thế kỷ”, dẫn nghiên cứu của ông Vương Thành Thụ, khẳng định dược liệu này khi được chế biến, phối hợp với các loại dược liệu khác, có tác dụng bồi bổ một số bệnh.
Tuy nhiên, đông trùng hạ thảo không có tác dụng trực tiếp trong điều trị bệnh cho lục phủ ngũ tạng, thậm chí chữa được những trọng bệnh như một số phương tiện thông tin đã đồn thổi.
“Đông trùng hạ thảo không thể chữa được ung thư, hen suyễn hay vô sinh như những lời quảng cáo”, báo viết.
Võ Văn Việt

https://baomai.blogspot.com/
Người Việt Nam có tập quán cứ độ xuân về Tết đến là dịp để biếu tặng nhau những món quà của ngon vật lạ hiếm quý và hảo hạng để tỏ lòng biết ơn kèm với những điều chúc tụng tốt lành. Những  gói quà tặng cao lương mỹ vị nào vi, nào yến, nào sâm, nhung, thần dược đủ loại được chiếu cố và trân trọng nhất.
Trong những năm gần đây, người ta thấy món quà tặng “thần dược” thật đắt tiền được khá nhiều người chiếu cố vì được truyền khẩu là môn thuốc đại bổ lục phủ ngũ tạng và trị được bá bệnh nan y; đó là vị thuốc đông y có tên “Đông Trùng Hạ Thảo”.
https://baomai.blogspot.com/
Vị thuốc này xuất xứ từ Trung cộng, được đưa vào Việt Nam và được quảng cáo ra rả trên các báo, đài hải ngoại cùng với loài nấm linh chi, coi như là thần dược quý hơn cả sâm, nhung, vi, yến. Khách quý bạn hiền tới nhà chúc Tết được chủ nhà lấy vài cọng “Đông Trùng Hạ Thảo” bỏ vào bình trà pha mời đãi khách uống để tỏ là thuộc giai cấp quý phái cao sang của thời đại đỉnh cao trí tuệ khoa học kỹ thuật nguyên  tử ngày nay.
https://baomai.blogspot.com/
Chúng ta không phủ nhận được giá trị bổ dưỡng hay điều trị của đông y dược mấy ngàn năm xưa nay, đã chứng tỏ khả năng trước cả thời đại phát triển tây y. Chúng ta cũng không bàn tới óc mê tín vào khả năng “thần dược” của những người đang mắc phải những bệnh kinh niên, hiểm nghèo mà nền tây y hiện đại đã bó tay. Họ coi thần dược như là chiếc phao cuối cùng để bấu víu. Chúng ta cũng không bàn tới khía cạnh thương mại đem vị thuốc và khả năng trị bệnh lên màn quảng cáo rầm rộ ngoài đường phố vỉa hè. Chúng ta chỉ muốn nói ở đây những kiến thức khoa học để soi sáng câu chuyện về “Đông Trùng Hạ Thảo” đang là tề tài sôi sục khi đã có nhiều người chết và nhiều người phải khiêng đi bệnh viện vì đã ăn uống “đông trùng hạ thảo”.

Vậy đông trùng hạ thảo là cái gì? Nó là thức ăn hay vị thuốc bổ hay là vị thuốc trị bệnh hay là thuốc độc?

Xin thưa ngay nó là cả 4 thứ đó tùy theo sự hiểu biết của mỗi người. Chúng ta nhớ lại câu chuyện trứng chim cút trước năm 1975 ở Sàigòn.

Thời đó, người Tàu Chợ Lớn bí mật nuôi chim cút trong nhà để lấy trứng cút đóng hộp đem bán rất đắt kèm truyền khẩu quảng cáo rầm rộ trứng cút là vị thuốc đại bổ hơn cả vi, yến, sâm, nhung… Khi việc nuôi chim cút trong nhà bị lộ thì nhiều người Việt Nam bắt chước đua nhau bỏ vốn nuôi chim cút. Khi đó ngưòi Tàu đem bán hết chim cút đắt như vàng. Tiếp theo đó, người ta lại truyền khẩu tung tin đăng báo rầm rộ rằng ăn trứng cút sẽ bị bệnh cùi. Thế là mọi người không ai mua trứng cút nữa và biết bao nhiêu người Việt Nam nuôi chim cút bị sạt nghiệp, mất hết vốn liếng nhà cửa. Còn người Tàu Chợ Lớn thì giàu sụ vì đã bán được hết trứng cút và  chim  cút  giá  đắt.  Không  ai  biết trứng cút là thức ăn hay thuốc bổ hay thuốc trị bệnh hay thuốc độc!
https://baomai.blogspot.com/

Hiện nay, báo, đài đang quảng cáo rằng đông trùng hạ thảo là một loài rất đặc biệt không phải động vật mà cũng không phải là thực vật nên rất hiếm quý và rất có giá trị dùng trong đông y dược. Về mùa đông thì nó là động vật thuộc dòng côn trùng dưới đất, về mùa hạ thì nó lại hóa thân mọc thành một cây thực vật thuộc dòng cây thảo.

Mùa đông nó là loài côn trùng, mùa hạ là loài cây thảo; do đó phần gốc của nó có hình thù một con sâu mà phần thân ngọn của nó có hình một thân cây mềm nhỏ. Do đó, nó mang đủ vật liệu của hai loài động vật và thực vật nên rất bổ dưỡng và trị được bá bệnh.
Của lạ hiếm thường được coi là của quý. Việt Nam sau 1975, những người bị đi tù cải tạo không có đủ thức ăn nên trong trại tù bắt được con gì ăn con nấy, giun, dế, rắn, rít, bọ cạp… ăn hết ráo. Dân chúng thì bắt đầu ăn đủ loại côn trùng như dế, rít, bọ cạp, ấu trùng ve…Các món này hiện nay được bán trong nhiều quán nhậu khắp nước.
https://baomai.blogspot.com/

Rồi một hôm, người ta chở vào bệnh viện cấp cứu một nhóm người sau khi họ ăn nhậu món ấu trùng ve chiên bơ, có người lăn ra chết sau khi ăn xong, có người sùi bọt mép tê liệt, suy hô hấp, hôn mê chở vào bệnh viện cấp cứu. Chúng tôi bèn nhập cuộc nghiên cứu xem độc chất gì đã gây ra vụ ngộ độc sau khi ăn ấu trùng ve chiên bơ này. Chúng ta tự hỏi xưa nay người Việt Nam ta vẫn ăn ấu trùng tơ tằm (con nhộng) chiên bơ ngon bổ có sao đâu? Nhiều tiệm nhậu vẫn đang bán ấu trùng chiên bơ ăn có sao đâu?

Chúng tôi theo chân bệnh nhân sau khi xuất viện về tận miền lục tỉnh nơi họ đã đào đất bắt ấu trùng ve để chiên bơ nhậu. Chúng tôi chứng kiến họ đào được những ấu trùng ve có hình thù khác nhau tùy theo giai đoạn phát triển, có con chỉ như con sâu, có con có đủ chân râu. Con nào đã già và mạnh khỏe thì còn thấy nhúc nhích. Con nào quá non và yếu thì nằm im re.

https://baomai.blogspot.com/

Đồng bào miền tỉnh rủ nhau đi đào bắt ấu trùng bán cho các tiệm nhậu rất nhộn nhịp. Ấu trùng chiên bơ người ta ăn vẫn ngon lành hằng ngày ở tiệm nhậu như vậy không sao, nay có vụ ngộ độc thì ai cũng cho rằng do vấn đề vệ sinh quán ăn không bảo đảm gây nhiễm trùng thực phẩm mà thôi.

Nhưng dưới con mắt chuyên khoa nhiễm độc thì vấn đề không đơn giản như vậy, vì triệu chứng ăn xong lăn ra chết vì sùi bọt mép, phù phổi, suy hô hấp, hôn mê không phải là triệu chứng của nhiễm trùng thực phẩm. Họ bị đầu độc bởi độc chất lén bỏ vào ấu trùng chiên bơ chăng?

Nhưng ấu trùng đã ăn hết đâu còn dư để đem xét nghiệm tìm độc chất lạ bỏ vào đó! Chỉ còn một cách là chúng tôi theo bệnh nhân tới tận nơi họ đã đào bắt ấu trùng để ăn, chúng tôi chứng kiến họ đào bới nơi mảnh đất ven rừng cách nhà họ không xa lắm. Chúng tôi đem các con ấu trùng này về phòng thí nghiệm của trường đại học dùng kính hiển vi, cắt mỏng từng con ấu trùng ra để quan sát nội tạng của chúng xem có gì lạ không. Một kết quả thật bất ngờ làm chúng tôi ngạc nhiên là có con có đầy đủ nội tạng, có con nội tạng bị dị dạng, có con hoàn toàn không có nội tạng mà chỉ toàn là một mô đặc đồng nhất. Quan sát kỹ mô đặc đồng nhất này dưới kính hiển vi thì thấy cấu trúc là những mô sợi dài đồng nhất.
https://baomai.blogspot.com/

Chúng tôi nghỉ rằng đây là mô thực vật và loài thực vật dạng sợi thì chỉ có thể là loài nấm dạng sợi. Quả thật như vậy, chúng ta đã biết rằng nấm là loài thực vật có chu trình phát triển rất đặc biệt. Đơn vị căn bản gốc của loài nấm là bào tử nấm. Bào tử nấm là tế bào gốc của nấm. Khi điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích hợp thì bào tử nấm nẩy nở mọc ra thành sợi nấm. Các sợi nấm của nhiều bào tử mọc dài dần thành một mạng sợi hay bó sợi như một mớ tóc hay bó tóc.

Khi lật tảng đá hay thân cây mục lên khỏi mặt đất, chúng ta nhìn thấy ở mặt dưới tảng đá hay thân cây những sợi nhỏ li ti như tóc từng đám dính vào đá, vào  thân cây. Đó là các mạng nấm dạng sợi. Những mạng sợi nấm này có thể sống dưới đất như vậy vài trăm năm hoặc ngàn năm. Trên nền tảng mạng nấm sợi đó, nếu có 2 bào tử nấm đực và cái gặp điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích  hợp  sẽ phối hợp nhau thành một bào tử nấm với 2 nhân và bào tử nấm 2 nhân này sẽ mọc thành một cây nấm con (Xin xem hình vẽ). Đầu thân cây nấm con sẽ phát triển thành nón nấm. Mặt dưới của nón nấm sẽ sinh sản ra các bào tử nấm mới. Trung bình một cây nấm sinh ra khoảng 15 tỷ bào tử nấm. Bào tử nấm khi bung ra khỏi nón nấm được gió thổi đi xa khắp bốn phương trời, rơi lại xuống đất rồi tiếp tục chu trình tạo mạng sợi nấm mới và cây nấm mới. Thông thường về mùa hạ, sau một cơn mưa là độ ẩm và nhiệt độ đất thích hợp nên nấm mọc lên ào ào trên mặt đất, trên thân cây mục, trên tảng đá phủ mùn thực vật. Chúng mọc rất nhanh, chỉ trong vài giờ đồng hồ thành cây nấm lớn. Nấm mọc rồi chỉ sống vài ngày là tàn lụn.

Nấm có rất nhiều loại. Có loại ăn rất ngon như nấm rơm, nấm mèo, nấm mối. Có loại ăn rất độc chết người như nấm Phalloid, Muscarina.

Đến đây thì chúng ta đã thấy tia sáng lóe ra ở cuối đường hầm của cuộc nghiên cứu tìm độc chất trong ấu trùng ve chiên bơ: những con ấu trùng ve đã gây ngộ độc chết ngưòi chính là những con ấu trùng đã bị nhiễm bào tử nấm độc!
https://baomai.blogspot.com/
Thật vậy, trong mùa đông  xuân, côn trùng ve còn ở dạng ấu trùng non sống dưới đất. Chúng bị nhiễm bào tử nấm từ mạng nấm sợi trong đất. Bào tử nấm xâm nhập vô ấu trùng và sẽ mọc thành mạng nấm sợi trong cơ thể ấu trùng. Mạng nấm sợi bị giới hạn bởi lớp da của ấu trùng nên phát triển thành một mô sợi đồng nhất khắp cơ thể ấu trùng, giết chết ấu trùng và biến con ấu trùng ve thành một mô thực vật có hình thù y nguyên hình thù của con ấu trùng. Qua mùa hạ, có mưa, tạo điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích hợp cho những bào tử nầm đực và cái phối hợp mọc thành sợi cây nấm chui ra bằng lỗ miệng, hốc mắt của xác con ấu trùng rồi phát triển thành cây nấm lớn mọc lên khỏi mặt đất. Cây nấm này có phần gốc rễ nấm mang hình thù của xác ấu trùng và phần thân nón mang hình dạng cây nấm của chủng loại nấm. Phần gốc là tàn tích của con ấu trùng mùa đông dưới đất nên gọi là ĐÔNG TRÙNG, phần thân ngọn là cây HẠ THẢO (Xin xem hình vẽ). Sản phẩm hóa kiếp nầy gọi là loài “Đông Trùng Hạ Thảo”.
Nếu bào tử nấm là thuộc loại nấm không độc thì chúng ta có thể ăn được loại đông trùng hạ thảo này vô hại. Nhưng nếu bào tử nấm thuộc loại nấm độc Phalloid hay Muscorina thì ăn loại đông trùng hạ thảo này, chúng ta sẽ bị ngộ độc chết dễ như chơi.Bệnh cảnh lâm sàng của các nạn nhân trong nhóm người ăn ấu trùng chiên bơ bị ngộ độc nhập bệnh viện có tất cả các triệu chứng của bệnh ngộ độc nấm Muscarina gây sùi bọt mép, phù phổi, hôm mê, suy hô hấp chết. Chẩn đoán của chúng tôi do đó có xác định rõ ràng là nhóm người này đã bị ngộ độc nấm Muscarina khi ăn ấu trùng ve vì cấu trúc của ấu trùng ve này dưới kính hiển vi là một cấu trúc mô sợi nấm chứ không phải cấu trúc của nội tạng của con ấu trùng ve. Chúng tôi đã xác nhận lại chẩn đoán bằng cách quay trở lại nơi đào bắt ấu trùng, sau khi có các cơn mưa hạ thì thấy tại đó mọc lên rất nhiều nấm mà phần gốc rễ nấm mang hình thù của ấu trùng ve. Khi đào bắt ấu trùng để ăn là mùa xuân chưa mưa, nấm chưa mọc nên còn ở dạng nấm mạng sợi trong cơ thể con ấu trùng, nhưng sự thật nó đã chết và chỉ còn là cái xác chứa đầy nấm sợi và bào tử nấm bên trong. Ăn phải tất nhiên chết vì nấm độc.

https://baomai.blogspot.com/
Chúng tôi không biết món ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO của người Tàu hiện nay, họ đào nhổ ở đâu hay nuôi trồng cách nào để sản xuất đại trà đem bán làm “thần dược”, nhưng chúng ta cần cảnh giác nếu có lẫn bào tử nấm độc thì tai nạn lăn ra chết vì ăn uống đông trùng hạ thảo là điều rất dễ hiểu. Bào tử của mọi loại nấm độc lẫn không độc đều sẵn có ở khắp mặt địa cầu nên cơ hội cho nấm độc mọc khi gặp đúng điều kiện độ ẩm và nhiệt độ không phải là hiếm khó. Khi bị ngộ độc không dễ gì tìm ra độc chất là gì nếu không gặp được bác sĩ chuyên khoa nhiễm độc, có kinh nghiệm để được chẩn đoán và điều trị chính xác.
image

Apple Park | February 2018 Construction Update—Matthew Roberts

Hình Ảnh Saigon 1960-1970

Đường phố sạch đẹp, hiện đại và văn minh là những ấn tượng đầu tiên khi xem chùm ảnh về đường phố của thành đô Saigon ở dưới đây.
Saigon trước 1975 có vẻ đẹp hào nhoáng, nhộn nhịp của nếp sống xưa, nhưng cũng có nhiều góc ảnh mang lại vẻ đẹp thanh bình hiếm có.
Saigon 1965 – Photo by William S. Fabianic. Đây là đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) lúc còn cho lưu thông 2 chiều. Khúc này là ngã tư Phan Đình Phùng và Trương Minh Giảng (nay là Trần Quốc Thảo). Đi tới nữa là ngã ba Phan Đình Phùng – Nguyễn Gia Thiều (chỗ có thấy hàng rào sắt màu xanh lá cây), là Consulat Général de France (trước 1966 hoặc 1967 là trường tư thục Lê Quý Đôn) do KTS Phạm Văn Thâng thiết kế. Ở bên phải của người chụp tấm hình này là Toà Tổng Giám Mục, kế bên là biệt thự của tổng giám đốc công ty Shell do KTS Nguyễn Văn Hoa thiết kế. Còn ở bên trái là biệt thự của tổng giám đốc Chartered Bank, cũng do KTS Hoa thiết kế đầu thập niên 1960, đã bị chính phủ đập phá để xây trường mầm non và chỉ còn lại hồ bơi.
Saigon 1967, Photo by Bill Mullin. Đường Trường Công Định (nay là đường Trường Định) chạy băng qua công viên Tao Đàn
Saigon 1967-1968 – đường Tự Do. Photo by Dave DeMilner
Saigon 1965 – Đường Tự Do, Photo by John A. Hansen
Saigon 1969, Đường Tự Do, gần góc Tự Do – Nguyễn Thiệp ở bên phải hình. STAR HOTEL tại số 123 đường Tự Do, nơi trước kia là cửa hàng PHARMACIE NORMALE (123 Rue Catinat). Photo by Rick Fredericksen
Saigon 1965 – Đường Trần Hưng Đạo, nhìn từ Plaza BEQ (135 Trần Hưng Đạo). Bên phải là Metropole Hotel.
Saigon 1968 – Đường Lê Lai nhìn từ tầng 5 KS Walling trên đường Phạm Ngũ Lão. Photo by Brian Wickham
Saigon 1965, đường Trần Hưng Đạo
Saigon 1964 – Công trường Chiến sĩ (trước khi có Hồ Con Rùa) nhìn từ đường Trần Quý Cáp (Nay là Võ Văn Tần), bên phải là ra Nhà thờ Đức Bà – Photo by Iparkes
Saigon 1969 – đường Nguyễn Huệ. Photo by Wayne Trucke
Saigon 1965 – Đường Hồ Huấn Nghiệp, nối từ đường Tự Do tới Công trường Mê Linh. Photo by John Hansen
Đường Tự Do – Công viên Chi Lăng 1967-1968, nay đã bị Vincom chiếm dụng riêng. Photo by Henry Bechtold
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Gần cuối đường Tự Do nhìn về phía sông Saigon. Ngay chỗ xe Taxi là ngã tư Tự Do – Ngô Đức Kế – Photo by Iparkes
Hình này chụp lúc chưa có Nhà Hàng Maxim sát bên khách sạn Majestic.
Góc hình ngược hướng với tấm hình bên trên, nhìn từ sông Saigon về phía đường Tự Do. Photo by Layered
Đường Tự Do
Saigon 1965-66 – Đường Phan Văn Đạt. Photo by Dale Ellingson
Phía xa là Công trường Mê Linh với bệ tượng đài Hai Bà Trưng
Saigon – Tháng 3 năm 1965 – Ngã tư Tự Do – Ngô Đức Kế – Photo by John A. Hansen 3. Đường Tự Do (tức Catinat thời Pháp thuộc) mang đậm dấu ấn kiến trúc Pháp.
Saigon 1971 – Moslem Mosque – Đường Thái Lập Thành. Photo by Mike Vogt. Đường Thái Lập Thành (nay là Đông Du) bắt đầu từ đường Tự Do, kế tiếp là ngã tư Hai Bà Trưng và ngã tư Thi Sách, và kết thúc tại đường Đồn Đất (nay là Thái Văn Lung).
Chợ Saigon Xuân Canh Tuất 1970 – Góc Lê Lai – Phan Châu Trinh
Saigon 1972 – Đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai). Ngã tư đằng trước là Hồng Thập Tự – Công Lý (nay là Nguyễn Thị Minh Khai – Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Bên phải là trường Lê Quý Đôn.
Saigon 1965-66 (9) – Ngã 6 Phù Đổng khi chưa có tượng Phù Đổng Thiên Vương. Bên trái là đường Phạm Hồng Thái. Đường ngang cạnh cây xăng SHELL là Phan Văn Hùm (là bến xe đò, nay là đường Nguyễn Thị Nghĩa). Photo by Gene Long.
Saigon 1974 – Đường Hàm Nghi. Xe taxi con cóc và xe La Dalat
Đường Nguyễn Huệ, Saigon 1971 – Photo by Mike Vogt. Phía trước là ngã tư Ngô Đức Kế.
Saigon 1968 – Đường Phạm Ngũ Lão Saigon Nov 1968 – Photo by Brian Wickham
Saigon – đường Nguyễn Huệ, gần trụ đồng hồ
Saigon 1969 – Ngã tư Lê Thánh Tôn – Công Lý, phía xa là đường Lê Lợi. Photo by Brian Wickham
Saigon 1967, kẹt xe trên đường Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi)
Saigon thập niên 1960. Đường Pasteur nhìn từ đầu cầu Mống. Người chụp đứng trên đầu cầu Mống ở đầu đường Pasteur. Phía trước là ngã tư Pasteur – Nguyễn Công Trứ. Bên phải là một phần mặt hông trái và góc sau của Ngân Hàng Quốc Gia tại góc Pasteur – Nguyễn Công Trứ. Phía xa là ngã tư Hàm Nghi – Pasteur. (tại góc đó có Tòa đại sứ Đài Loan và Giao Thông Ngân Hàng).
Saigon 1969 – Đường Pasteur, bên phải là Đại Học Kiến Trúc, bên trái là công viên Vạn Xuân. Sau này công viên này bị xóa bỏ và đưa vào khuôn viên của nhà thi đấu Phan Đình Phùng ngày nay.
Saigon 1965 – Đường Pasteur khúc giữa của đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng) và Nguyễn Du). Photo by Charles Cox
Saigon 1969 – đường Nguyễn Huệ. Photo by Wayne Trucke
Saigon 1968 – trên Đại lộ Cách Mạng 1-11. Photo by J. Patrick Phelan.
Đại Lộ Cách Mạng 1-11 (đoạn nối dài đường Công Lý) được đặt theo ngày đảo chánh Ngô Đình Diệm. Sau 1975 trở thành đường Nguyễn Văn Trỗi (Từ cầu Công Lý tới Hoàng Văn Thụ)
Saigon 1965-66 – Đường Công Lý – Photo by Thomas W. Johnson
Biểu ngữ trên đường Công Lý
Saigon 1969-70 – Đường Nguyễn Huệ cạnh góc Ngô Đức Kế – Photo by David Staszak
Saigon 1972 – Đường Ngô Đức Kế
Saigon 1967-1968 – Đường Đinh Tiên Hoàng đoạn gần Cầu Bông
Saigon 1967-1968, Casino Dakao đoạn ngã 3 Đinh Tiên Hoàng – Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu)
Saigon 1969-70. Đường Phạm Ngũ Lão
Ga xe lửa Bến Thành – Saiogn năm 1964-1965, nay trở thành công viên 23-9. Góc hình được nhìn từ đường Lê Lai về phía Trần Hưng Đạo. Ở góc trên trái nhìn thấy một chút mặt đứng của tòa nhà Hỏa Xa Đông Dương phía sau các mái nhà tôn.
Ga xe lửa Sài Gòn xưa khá rộng, nằm giữa các trục đường Phạm Ngũ Lão, Võ Tánh (Nguyễn Trãi bây giờ), Lê Lai và công trường Quách Thị Trang (nơi hiện đang xây dựng nhà ga tàu điện metro) – tương ứng với toàn bộ Công viên 23-9 và bến xe buýt hiện nay.
Saigon 1971 – Tượng đài Trần Nguyên Hãn nhìn từ trên cầu vượt dành cho khách bộ hành. Phía sau tượng đài nhìn thấy phần chân của cầu vượt bộ hành thứ hai từ bùng binh nối qua bến xe buýt. Nhà có mái ngói cao nhất trong hình là Nhà chú Hỏa, trên đường Phó Đức Chính.
Saigon 1969-70 – Chợ Bến Thành – Photo by David Staszak
Saigon 1969, cầu bộ hành trước chợ Bến Thành
Saigon đầu năm 1968, trước ngày Tết Mậu Thân
Vòng xoay Công trường Mê Linh đầu đường Hai Bà Trưng – Photo by Thomas W. Johnson
Đường Nguyễn Văn Thinh (nay là Mạc Thị Bưởi), ngã 3 với đường Phan Văn Đạt (đường ra công trường Mê Linh)
Saigon 1968,Photo by Darrel Lang. Đường Võ Di Nguy ở Phú Nhuận, nay là Nguyễn Kiệm.
Đường Tổng Đốc Phương (nay là Châu Văn Liêm) ở Chợ Lớn. Bùng binh là Tượng đài Chiến sĩ Vô danh giữa ngã tư Hồng Bàng – Tổng Đốc Phương
Saigon 1969 – đường Nguyễn Huệ. Photo by Wayne Trucke
Saigon1964 – Đường Lê Lợi. Photo by Al Adcock
Saigon 1968 – Đường Nguyễn Huệ. Photo by Sonnyb
Saigon 1969-70 – Đường Nguyễn Huệ. Photo by David Staszak
Ngã ba Nguyễn Huệ – Tôn Thất Thiệp. Bên trái là Tòa Hòa Giải
Saigon 1968 – Đường Hai Bà Trưng. Photo by Sonnyb
Saigon 1972. Đường Trần Hưng Đạo. Photo by Kemper14
Saigon 1969 – Đường Trần Hưng Đạo, Photo by Sonnyb. Chỗ gẫy góc về bên trái là ngã tư Trần Hưng Đạo – Cộng Hòa (nay là Nguyễn Văn Cừ). Ở giữa ảnh gần phía trên là nhà thờ Cầu Kho (nhìn thấy mặt sau, nhà có tháp trắng)
Saigon 1968 – Cổng vào Căn cứ Không quân TSN, nay là đầu đường Cộng Hòa nơi có cầu vượt vòng xoay Lăng Cha Cả.
Saigon 1968 – đường Lê Lợi. Photo by Larry Burrows
Góc Lê Lợi – Tự Do
Đại lộ Nguyễn Huệ sau cơn mưa
Đường Hồng Thâp Tự trước trường Lê Quý Đôn
 
Saigon về đêm
Một số hình ảnh về Đại Lộ Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn) dẫn vào Dinh Độc Lập: