Trang chủ » Hội Võ Bị Bắc Cali (Trang 11)

Category Archives: Hội Võ Bị Bắc Cali

Ô nhục Ải Nam Quan

LGT : Những bức ảnh của tác giả Chân Mây trong tập ảnh ” Ô Nhục Ải Nam Quan “ là những tài liệu lịch sử vô cùng giá trị . Chúng nói lên sự bán nước trắng trợn của chế độ cộng sản Việt Nam .

Xem hình mà bồi hồi, quặn thắt, một nỗi ray rứt thức dậy trong hồn . Cám ơn tác giả Chân Mây đã cung cấp những dữ kiện cho ngàn đời sau biết được những gì xẩy ra cho dân tộc hôm nay , để không quên tội ác của tập đoàn Việt gian phản quốc Hồ Chí Minh đối với đất nước và dân tộc .

Xin trân trọng giới thiệu tập ảnh ” Ô Nhục Ải Nam Quan ” của tác giả Chân Mây đến cùng quý độc giả trong ngoài nước .

12/06/2009

Ven trời góc biển buồn chim cá
Dạn gió dày sương tủi nước non
Thượng Tân Thị

Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam!
Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn.

Hãy tiếp tục nhìn những gì mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại!

Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không còn ngày phải tôn thờ hỉnh Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm buồn. Rất buồn!
Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là mãi mãi!

Chương I : NHỮNG HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

Trong chương này, việc sắp đặt hình ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà phân chia thành các nhóm hình theo ký tự A,B,C…Để sự diễn tả rõ ràng hơn, những hình ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng hình ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.

– Nhóm A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến A4)
– Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4)
– Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4)
– Nhóm D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2)
– Nhóm E: không xác định (E1 đến E3)
– Nhóm F: hình quân sự và bản đồ (đánh số F1 đến F6)
– Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất định sẽ đưa trực tiếp vào nơi hình cần thêm minh họa.

Diễn tả :

1. Nhóm hình A :

Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn thủy về hình ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc). Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)

A1. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (1) :

Còn gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (Họa đồ bố trí phòng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Trung Quốc. Địa hình đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung):

a

A2. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (2) :

Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nhìn từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo hình B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dãy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dãy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1):

a

A3. “Trấn Nam Quan Đại Chiến” :

Minh họa cảnh giao chiến giữa quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức họa không rõ nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam Quan của hình A2:

a

A4. “Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ” :

Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hãy quan sát vị trí cổng theo khung hướng dẫn trong hình:

a

2. Nhóm hình B :

Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.

B1. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng :

Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không còn qui mô như xưa.
Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên vì dựa theo hình phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm hình C):

a

Phụ ảnh:(B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.

a

B2. Ải Nam Quan nhìn từ hướng Đồng Đăng :

Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới hình là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo hình F1 sẽ thấy rõ vị trí lô cốt nhìn từ bên Trung Quốc):

a

B3. Bang giao tại Ải Nam Quan :

Quan sát các nhân vật trong hình, ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của hình có những người nhà Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan:

a

B4. Cổng Ải Nam Quan :

Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng. Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ còn dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung Quốc (nhóm hình C):

a

Phụ ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng

a

3. Nhóm hình C :

C1. Trấn Nam Quan (1) :

Nhìn từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đã khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đã mất, chỉ còn lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dãy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm hình chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa hình đồi núi :

a

C2. Trấn Nam Quan (2) :

Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với hình thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rõ bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự dòm ngó thẳng vào nhà mình từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đình làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên còn gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn còn tồn tại cho đến nay :

a

C3. Toàn cảnh Trấn Nam Quan :

Có một khu trại và hai dãy nhà mái lá cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của hình. “Trấn Nam Quan” là đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ còn là ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung trong hình dùng để xác định vị trí so với hình C4 :

a

C4. Trấn Nam Quan (3):

Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung Quốc. So sánh các khung vị trí với hình C3:
Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng:

a

Chữ “Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc gìn giữ, ổn định. “Trấn” còn là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Trung Quốc. Thì đây, “Trấn Nam Quan” đã xác định là những hình này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dãy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên bình. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngõ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đã thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp thì nhà Thanh đã chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm hình B.

4. Nhóm hình D :

D1. Cổng Nam Quan (1):

Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các nhóm hình trên. Có vẻ sơ sài vì đã mất hẳn phần kiến trúc phía trên trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đã mất). Theo sử liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 thì toàn bộ phần trên cổng đã bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo hình E2):

a

D2. Cổng Nam Quan (2):

Hình đăng trên tạp chí “National Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rõ niên đại. Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với hình ảnh của Ải Nam Quan. Tuy nhiên so sánh với hình D1, ta đã thấy kiến trúc cùng kiểu của hai hình. Tại đây, dãy tường thành chạy lên cao đến vách núi trắng tương ứng với hình C3-C4, có thể xác định là hình được chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam :

a

5. Nhóm hình E :

E1. Không xác định (1):

Một hình ngôi chùa trên đường đi Long Châu nơi có cổng giao thiệp với Việt Nam là Bình Nhi Quan. Cùng với Nam Quan và Bình Nhi Quan còn có Thủy Khẩu Quan là 3 cổng quan yếu để vào đất Việt Nam nên gọi chung là “Tam Quan”, có khi cổng Nam Quan còn gọi là riêng là “Tam Quan” do ở vị trí quan trọng hàng đầu so với hai cổng Bình Nhi-Thủy Khẩu. Nơi hình này có tiêu đề “Chine – NAM QUAN – Loc Hang Thiap”. Chưa rõ chữ “Loc Hang Thiap” là gì nhưng hình xác định là Nam Quan trên đất Trung Quốc, có phải là một ngôi chùa trong “Trấn Nam Quan” hay không? Hay là thuộc Trấn Bình Nhi Quan? :

a

E2. Không xác định (2):

Quân đội Trung Cộng đứng trên tường thành giương cờ trong cuộc chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch vào ngày 11.12.1949 tuyên bố giải phóng Quảng Tây. Thế tường thấp với cổng và trên mặt tường cổng có chữ “Trấn Nam Quan”:

a

Phụ ảnh: Hình chụp chính diện của Trấn Nam Quan trong ngày giải phóng Quảng Tây tháng 12.1949. Trên mặt tường cổng thành ta thấy rõ chữ “Trấn Nam Quan”. (phòng trưng bầy lịch sử Hữu Nghị Quan):

a

E3. Không xác định (3):

Quân đội Trung Cộng đứng trước cổng nhỏ có khắc chữ “Trấn Nam Quan”. Không rõ niên đại của hình. Chung với hình E2, có lẽ đây là “Trấn Nam Quan” mà tôi đã giải thích (mục 3, nhóm hình C):

a

6. Nhóm hình F :

F1. Toàn cảnh Ải Nam Quan :

Do trinh sát quân Nhật Bản chụp vào tháng 6 năm 1940 trước khi tiến hành “cuộc chiến 3 ngày” nhằm đạt mục đích đưa quân vào lãnh thổ Đông Dương. Hình được mô tả: “…thấy được đường xe lửa Lao Cai-Côn Minh. Lại có đường xe ô-tô từ Đồng Đăng lên tận Trấn Nam Quan. Bờ tường thành này bên trong là đất Trung Quốc, ngay bên ngoài là Bắc bộ Đông Dương”.

Từ cao điểm như trong hình ta thấy rõ vị trí lô cốt như đã xem qua hình B2. Có khả năng lô cốt đã xây dựng trên một nền kiến trúc cổ xưa của Việt Nam . Và còn “Suối Phi Khanh” nơi thấm lệ của Nguyễn Trãi, có ai nhận ra chưa?…Nước mắt!:

a

Phụ ảnh: Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng)

Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940):

a

F2. Cột Mốc Số 18 :

Do quân đội Nhật Bản chụp tháng 7 năm 1940 ngay tại tường thành Trấn Nam Quan. Cột mốc số 18 lịch sử xác định biên giới Trung-Việt vào năm 1887. Xác định lãnh thổ bảo hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và cũng là khởi điểm Nam tiến của quân đội Thiên Hoàng giao tranh với các nước Châu Âu.
Trên Cột mốc số 18 ta đọc được: “ Trung Việt Quốc Giới , Trấn Nam Quan Ngoại, Đệ Thập Bát Hiệu – No.18 – FRONTIERE ”

a

F3. Bản đồ vị trí Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 :

Do chính quyền Tưởng Giới Thạch họa vào năm Dân Quốc 13 (1925). Khu vực Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 (có đóng khung):

a

F4. Hữu Nghị Quan (tên gọi cổng Nam Quan do Trung Cộng đặt ra vào năm 1965):

Đây là một bằng chứng sống động nhất cho kết qủa “bác cháu ta cùng giữ nước” trong thời cộng sản cầm quyền tại Việt Nam. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng (tham gia chiến tranh biên giới Trung-Việt 1979) chụp vào năm 2005. Các vạch và khung đánh dẩu trên ảnh là của tác giả ảnh và được giải thích như sau :

a

“Hình trên là từ trên núi Kim Kê chụp xuống. Bên trái là Hữu Nghị Quan, vòng tròn màu vàng là cao điểm tranh chấp Trung-Việt, hiện thời do quân ta khống chế; Vùng màu xanh lá cây hình tam giác là khu vực gài địa lôi. Vạch dài màu tím là con đường sắt qua lại với Đồng Đăng. Vùng trắng giữa hình có hai cửa đường hầm là điểm cuối của cao tốc Nam Ninh đến Bằng Tường”.

Nguyên văn:
上图]这是在金鸡山上往下拍的。左侧是友谊关,黄圈部分为中越有争议的高地,目前为我军控制;草绿色的三角为雷区 ,蓝线是通往同登的铁路。图片中间灰白处有两个遂道洞口为南宁至凭祥高速公路的终点站。

Tôi xin thuyết minh thêm : Núi Kim Kê là cao điểm chiến lược nằm ở cánh trái cổng Nam Quan, ngay vị trí chụp ảnh của tên cựu chiến binh này chính là đất Việt Nam. Khu vực tam giác trong hình chính là khu vực của cột cây số Km0 của Việt Nam là nơi mà vào đầu tháng 7.2007, phía Trung Cộng đã tuyên bố hoàn tất gỡ bỏ tấm đạn địa lôi (mìn) cuối cùng, bảo đảm thông thương an toàn cho “vùng Hữu Nghị, Hòa bình vạn tuế!”. Trong các hình ảnh của chương tiếp theo ta sẽ rõ hơn về vị trí này. Ở đây ta đã có khái niệm về việc Ải Nam Quan đã mất trong cự ly ra sao! Việc mất lãnh thổ qủa là nghiêm trọng! không phải là 100m, 150m, hoặc 200m. Cự ly trong hình có thể tính bằng Km! Hai lỗ đen gần giữa tâm hình là đường ra vào của cao tốc Nam-Hữu (Nam Ninh-Hữu Nghị Quan với chiều dài 179.2 Km. Nam Hữu khởi công vào ngày 28.04.2003 và chính thức khai thông vào ngày 28.12.2005, cũng là đường quốc lộ số 322 của Trung Cộng với điểm tận cùng giáp với Km0 của QL1 Việt Nam. Một âm mưu mới hơn đang hình thành!).
Như ta thấy, cả một vùng đồi núi của Việt Nam đã bị Trung Cộng ngang nhiên san bằng và xây dựng công trình trong nhiều năm, vẫn không hề có một chút phản ứng nào của bọn cầm quyền CSVN. Hay nói đúng hơn là đã có một sự thỏa thuận nhượng Ải Nam Quan từ hàng chục năm trước?

F5. Ảnh chụp vệ tinh vị trí của Hữu Nghị Quan :

Khu vực Hữu Nghị Quan ( đóng khung ) so với đường biên giới Trung – Việt màu vàng. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng thiết kế để mô tả lại chiến trận biên giới Trung – việt năm 1979 . Lúc này , Hữu Nghị Quan đã nằm sâu trong đất Trung Cộng từ đời … Hồ Chí Minh !:

a

” Con đê đầu khấn lạy Chư Phật mười phương…”
Ải Nam Quan đã mất, Đất thiêng đã mất! Có ai còn nhớ Phi Khanh-Nguyễn Trãi?

—————–

Chương II :“ Kẻ Bán Ải Nam Quan và Km Zéro ô nhục !”

Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi vào VN làm nhiệm vụ :

a

Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN :

a

Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn: “Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!”. Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC :

a

Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN :

a

Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN . Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN :

a

Huy chương “Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ” do chính HCM ký tặng :

a

Hoặc do PVĐ ban thưởng :

a

Năm 1968, hai bác Hồ – Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam VN :

a

” Nam man ! Ta cho ngươi cơm ăn , áo mặc , ta cho ngươi súng đạn , nhưng chính ngươi đã lấy súng đạn bắn vào da thịt ta !”( người anh em đồng chí TC nói !):

a

Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978 :

a

Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đã xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng biên giới tìm kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đã đẩy lui lãnh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hàng trăm thước.

Dấu đạn giao tranh Trung – Việt trên khắp tường thành ” Hữu Nghị Quan “:

a

Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến thắng :

a

Ngày 28.05.1980 , Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại ” Km 0 ” trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu vực Hữu Nghị Quan :

a

Phụ ảnh tham khảo “Cột Mốc Số 18” giả mạo (?) :

Đây là “Cột Mốc Số 18” mà TC cho rằng đã đặt tại cổng Nam Quan. Khác với “Cột Mốc Số 18” theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đã trình bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng: “BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam”. Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN ký kết Hiệp ước Biên giới với chính quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đã tiêu biến nơi đâu ? Không ai biết rõ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói gì không về hiện tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm 1940 đã chủ trương một cách mù quáng: “Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN ký kết với quốc gia khác !”

a

Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đã trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đã ký văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt thì Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng thì làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lãnh hải được. Còn cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hãy xem hình (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).

Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm rì, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm thước nào cả. Nó đã nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt :

a

” Km 0 ” trong những năm 1990. Biên phòng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía VN . Đáng nể !:

a

” Km 0 ” trong những năm đầu 2000 , khi đang xây dựng lại cảnh quan ” Hữu Nghị ” và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột còn ghi “Hữu Nghị Quan ” và ” cây si PVĐ ” còn đó :

a

” Cây si PVĐ ” bị đốn bỏ dã man vào năm 2005 . Cột mốc cũng chỉ còn chữ “Hữu Nghị “. Đảng CSVN không dám nhận thêm chữ ” Quan “. Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa lòng đàn anh TC !:

a

” Km 0 ” của VN trơ trọi so sánh với bia đá ” Nam Cương Quốc Môn ” của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan !:

a

” Km 0 ” trong những ngày năm 2006 :

a

Gần lại một chút . Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan TC:

a

Nhìn sang bên phải để thấy rõ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam – Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan TC :

a

Ngang với ” Km 0 ” là giao điểm Quốc lộ 322 ( điểm cuối ) của Trung cộng và Quốc lộ 1A ( điểm khởi đầu ) của VN !:

a

” Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm “:

a

Nhìn sang Việt Nam . Đi thêm khoảng 100m nữa mới tới Cổng kiểm soát của Hải quan Việt Nam . Khoảng cách ” thủ lễ ” đã xuống dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản . Không còn nằm trước mặt cổng Nam Quan như ngày xa xưa . Đúng vậy ! Ải Nam Quan nào là của VN ? Bọn Ô nhục !:

a

Hàng trăm thước đất của Ải Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt Nam , nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận… Đất biển tổ tiên mất qúa dễ dàng ! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung Cộng , công nhận lãnh thổ bắt đầu từ cột “ Km 0 ”. Đảng CSVN đã chà đạp lên hồn thiêng sông núi , thay ngọai bang thảm sát dân tộc , giết chết lịch sử quê hương !

 ——————————

Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này còn “bản lĩnh” đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!

a

Ngày 28.12.2005 , cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam :

a

Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp hình ngay tại giao giới biên cảnh Trung – Việt . Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng CSVN . Những khuôn mặt muộn phiền , ngơ ngác :

a

Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù lòa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng !
Còn người Việt Nam ? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không ? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố vì tấm hình ôm cột mốc Trung-Viêt . Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ còn nằm trong Chí Hòa . Và tôi cũng từng bị biên phòng VN hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh ” Hữu Nghị “!:

a

Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại , nhàn nhã như ở nhà . Chụp hình ư ? Chuyện nhỏ ! Đố tên biên phòng VN nào dám làm khó dễ !:

a

Bước một bước là qua đến VN ! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km 0 Ô nhục !:

a

Đứng hai chân trên biên giới !:

a

Chụp các kiểu !:

a

Và ngồi lên ” Km 0 ” của bọn Nam man ! Chúng ta là chủ nhân của lãnh thổ Việt Nam !:

a

Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 ( tháng 04.2007 ):

a

Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ , hoành tráng . Từng đợt học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về lòng yêu nước !:

a

Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung – Việt hành hương :

a

Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này . Việc đòi hỏi Trung Cộng trả lại vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng ! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước !
” Tổ Quốc Tại Ngã Tâm Trung ” ( Tổ quốc trong tim ta )
:

a

Tháng 11 năm 2007 , kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây . Có cả đại biểu VN tham dự , ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gì ? Hay là họ vẫn cười ?:

a

a

Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung – Việt . Bản đồ Việt Nam đã nối vào khu tự trị Quảng Tây !:

a

Phi Khanh hỡi! Người còn ngồi nói những lời xưa?

“Con yêu hỡi chớ xuôi lòng mềm yếu!…”

Ngày Quân Lực 19-6-1973

10 tội ác lớn nhất của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam

Long Điền (Danlambao) – Nhu cầu tiếp cận thông tin trung thực về lịch sử Việt Nam của thanh thiếu niên ngày càng nhiều. Khốn nỗi lịch sử Việt Nam trong nước thì đại đa số là gian dối, đa số các “sử gia” trong nước viết sử theo đơn đặt hàng, mục đích để bảo vệ đảng và chủ nghĩa Cộng Sản Việt Nam (CSVN).

Quyển sách “Cuộc Chiến Việt Nam 1945-1975” của tác giả Long Điền đã được thế hệ trẻ tại Việt Nam đón đọc qua Internet, nhiều câu hỏi từ các độc giả mong muốn tìm hiểu sự thật lịch sử Việt Nam. Hiện nay thanh niên trí thức Việt Nam rất khó truy tìm tài liệu lịch sử trung thực. Vì lẽ CSVN sẵn sàng pha trộn, ngụy tạo lịch sử để tiếp tục lừa dối toàn dân ngõ hầu tiếp tục cai trị trên máu xương Dân Tộc. Làm sao giải tỏa nhiều thế hệ thanh niên, trí thức tại quốc nội bị đầu độc bằng các mệnh đề kêu to mà rỗng tuếch của CSVN, đó là niềm khắc khoải của những ai luôn nghĩ đến vận mệnh nước nhà:

– CSVN có công giành Độc Lập (1945-1954)
– CSVN có công chống thực dân Pháp (1945-1954)
– CSVN có công chống Mỹ, ngụy (đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào) (1954-1975).
– CSVN có công Giải Phóng Dân Tộc và Thống Nhất đất nước (1945-1975).

Trả lời cho các lập luận trên, không cần phải chứng minh dài dòng, chúng ta chỉ cần đưa ra 10 tội ác lớn nhất của đảng CSVN mà chúng đã phạm phải, dựa trên các tài liệu lịch sử của chính đảng CSVN đã tiết lộ, chúng ta thách thức đảng CSVN đối chất với sự thật:

1- CSVN gây ra cuộc chiến dai dẳng từ năm 1945-1975, có tội cướp chính quyền hợp pháp và hợp hiến của chính phủ Trần Trọng Kim::
… Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm thuộc địa Đông Dương. Để tranh thủ sự ủng hộ của người Việt cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng như Miến Điện, Philippines, Nhật tuyên bố “trao trả độc lập” cho Việt Nam. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam. Trần Trọng Kim được giao thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4năm 1945. Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam “độc lập” trên danh nghĩa và Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam.

2- CSVN sát hại các đảng phái (không cộng sản) khi họ đang hợp tác với phong trào kháng chiến Việt Minh chống Thực dân Pháp:
Trần Trọng Kim: Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc, nào là tự do, bình đẳng, mà sự thật thì trái ngược tất cả. Những lối họ dùng là nói dối, đánh lừa cướp bóc, giết hại tàn phá, không kiêng dè gì cả, miễn làm cho người ta mắc lừa hay sợ mà theo mình là được Hồ Chí Minh và đảng CSVN là một tập đoàn mafia luôn gây chia rẽ, phá hoại đất nước, tạo ra cuộc nội chiến dai dẳng, không cần thiết trên đất nước VN, làm suy yếu tiềm lực quốc gia, dân tộc bằng sự sát hại các phần tử kháng chiến nhưng không theo CNCS. Những khẩu hiệu mà CSVN thường dùng là độc lập, tự do, hạnh phúc, bình đẳng chỉ dùng để dối gạt dân Việt Nam mà thôi!”

3- Trong kháng chiến chống Pháp, CSVN đã thỏa hiệp và rước Pháp vào lại VN năm 1946:
“… Thực hiện chủ trương tạm thời hòa hoản với thực dân Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng ra khỏi miền Bắc, chính phủ Việt Nam đã ký với đại diện chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ tại ngôi nhà số 2 phố Lê Lai, Hà Nội.

Nội dung cơ bản của Hiệp định là:
– Nước Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính của mình ở trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp.
– Nước Pháp cam đoan sẽ thừa nhận kết quả của cuộc trưng cầu ý dân về việc thống nhất ba kỳ.
– Nước Việt Nam thuận để 15.000 quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay quân Tưởng và sẽ rút hết sau 5 năm, mỗi năm rút 1/5.”

4- Năm 1945 CSVN chủ trương cướp gạo cứu đói do chính phủ Trần Trọng Kim chuyên chở ra miền Bắc, hành động nầy khiến trên 2.000.000 người chết vì đói:
“Thứ nhất, Việt Minh xúi dân chúng chống đối việc trưng mua lúa gạo, xúi dân đánh phá các kho lúa. Trong cơn nghèo đói túng quẫn, có người bày cho phương cách kiếm gạo để ăn, nên dân chúng hưởng ứng khá đông.

Thứ nhì, lợi dụng việc chính phủ tiếp tế để cứu đói ở miền Bắc, Việt Minh âm thầm chận bắt những chuyến xe hay những chuyến ghe chở gạo từ miền Nam ra, rồi Việt Minh đem tiếp tế cho những mật khu của họ (David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power [Việt Nam 1945, đi tìm quyền lực], University of California Press, Berkeley, 1995.

Trong cơn đói, có người đành phải lên mật khu gia nhập Việt Minh để được chia phần gạo cướp được cho qua nạn đói. Hành động của Việt Minh làm cho việc tiếp tế gạo từ Nam ra Bắc càng trở nên khó khăn. Từ đó, nạn đói càng trầm trọng và Việt Minh càng dễ hoạt động tuyên truyền, kích động quần chúng.

Đặc biệt hơn nữa, sau ngày 2-9-1945, Việt Minh tịch thu toàn bộ tiền bạc của các quỹ cứu đói trên toàn quốc (Ngô Thế Vinh dịch và trích dẫn trong bài “Từ Ất Dậu – 1945 sáu mươi năm đi tới cây cầu Cần Thơ – 2005”, đăng trên tạp chí Hợp Lưu, California, số 51, tháng 2 & 3 năm 2000. tr. 173), nghĩa là cướp lấy tài sản của những người đang đói, do những người hằng tâm khắp nước giúp đỡ.”

5- CSVN từ 1955-1956 thi hành chỉ thị của Trung Cộng thực hiện Cải Cách Ruộng Đất khiến 200.000 người bị thảm sát:
… Cuộc đấu tố “ Cải cách Ruộng Đất theo chỉ thị của Stalin và Mao Trạch Đông từ năm 1953 đến 1957 đã cướp đi sinh mạng của gần 200.000 người Việt và hậu quả không những về người mà còn làm băng hoại đạo đức và văn hóa Dân Tộc.

… Thống kê chính thức của nhà nước Việt Nam được đăng trong cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam (tập hai) cho biết là đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông (trong đó có 123.266 người bị quy sai, hơn 70%, tức là bị oan).

6- CSVN sát hại trí thức góp ý sửa sai đảng trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm:
“… Cuộc Cách mạng văn hóa chống Nhân Văn Giai Phẩm 1957-1960: Hàng ngàn Trí thức, Nhà Văn, Nhà báo có tư tưởng dân chủ bị vào tù, nhiều người bị chết trong ngục tối.”

7- CSVN tiến hành xâm lăng Miền Nam Việt Nam theo chỉ thị của Cộng Sản Quốc Tế bất chấp nguyện vọng hòa bình của toàn dân:
“Việt Nam Cộng Hòa là một Quốc Gia Hợp Pháp được công nhận bởi nhiều quốc gia trên thế giới qua Hiệp Định Genève 1954, đã từng có quy chế là một quốc gia quan sát viên của Liên Hiệp Quốc. Từ năm 1954 cho đến năm 1975.” Như vậy ta có thể thấy được rằng ngay người đàn anh cộng sản Liên Xô của cộng sản Việt Nam cũng phải công nhận tính chính danh và hợp pháp của nước Việt Nam Cộng Hòa mà bất cứ nước nào cũng không có quyền xâm phạm.

Lê Duẫn, bí thư thứ nhất đảng Lao Động (năm 1976 đổi là tổng bí thư), đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” Thật ra, ngay từ năm 1950, Việt Minh cũng đã đánh cho Trung Quốc.

8- CSVN phản bội quyền lợi của toàn dân, rước voi dày mả tổ, bị Trung Cộng sách động và lợi dụng:
“CSTQ chiếm đất, chiếm đảo của chúng ta, không phải do tài ba của CSTQ, mà do Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo CSVN, rước voi về giày mộ tổ, đúng theo kế hoạch thâm độc của cường quyền phương Bắc là “dĩ Việt chế Việt” (dùng người Việt chế ngự người Việt).

Như thế, trong chiến tranh ba mươi năm vừa qua trên đất nước Việt Nam, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD nhờ CSTQ để đánh Pháp, không khác gì nhờ một kẻ cướp đuổi một tên trộm. Tên trộm bỏ chạy thì kẻ cướp vào nhà. Đây không phải chỉ là những sai lầm chiến lược của Hồ Chí Minh và đảng Lao Động Việt Nam, mà đây chính là tội lỗi phản quốc lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ cổ chí kim. Những tội lỗi nầy hiện đưa đến những hậu quả tai hại mà người Việt Nam ngày nay đang phải đối mặt”.

9- CSVN bán nước, dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng:>
“Theo tài liệu điều trần của Bác Sĩ Trần Đại Sĩ thì Việt Nam nhượng cho Trung Quốc 789 cây số vuông (Km2) dọc theo biên giới hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, và theo những tài liệu trong nước đưa ra thì Việt Nam mất 720 cây số vuông (cả hai tài liệu đều cho thấy phần hiến đất lớn hơn cả lãnh thổ Singapore). Như vậy năm 2000, CSVN đã ký nhường thêm gần 8.8% lãnh hải vịnh Bắc Việt tương đương gần 11,000 cây số vuông, và lãnh hải của Trung Cộng nay chạy sâu tận đảo Bạch Long Vĩ.”

10- CSVN đã lường gạt toàn dân Việt Nam qua nhiều thế hệ. Hồ Chí Minh và đảng CSVN không hề vì quyền lợi quốc gia dân tộc mà chỉ vì Quốc Tế Vô Sản mà thôi:
“Một số người thậm chí cho rằng sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã “sai ngay từ đầu”, rằng giá như vào nửa đầu thế kỷ XX, đi con đường khác thì biết đâu nước ta vẫn giành được độc lập, kinh tế, văn hóa vẫn phát triển, lại tránh được mấy cuộc kháng chiến gian khổ, hao tổn biết bao xương máu. v. v..”

Cũng chính Hồ Chí Minh đã viết trên trang nhất của Tạp Chí Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội vào 26/12/1956: “Chủ nghĩa ái quốc cần phải bị tiêu diệt để thay thế bằng chủ nghĩa cộng sản.” Nhân dân Việt Nam không được quyền yêu TQVN!!!

Tóm lại:
– Cộng sản không có công gì trong việc dành Độc Lập cho đất nước Việt Nam, ngược lại CSVN tạo ra chiến tranh suốt 30 năm làm suy yếu đất nước và tổn hao sinh mạng, tài sản rất lớn cho Dân Tộc VN.

– Công lao chống thực dân Pháp là của Toàn Dân VN, CSVN chỉ cướp công kháng chiến và sát hại các đảng phái không theo CS.

– Mỹ không hề có ý định xâm chiếm lãnh thổ của bất cứ quốc gia nào, Mỹ và các lực lượng Đồng Minh của Việt Nam như Đại Hàn, Thái Lan, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan… là lực lượng trợ giúp MNVN chặn làn sóng đỏ.

3/2013
Long Điền
danlambaovn.blogspot.com

Lễ Tưởng Nhớ Trường Võ Bị — Tháng 4, 2013


Lễ Tưởng Nhớ Trường Mẹ của các cựu sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị

Lễ Phủ Cờ Cựu Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao—SBTN

Thương Tiếc chị Tuyết Nga

CaoPho2

ChiTuyetNga

PhanUu2

CamTa2

ChuaLieuQuan

Thương Tiếc Chị Thanh Nhàn

CaoPho1scan0279X

PhanUu1

CamTa1

An Lộc: Từ Địa Ngục Đến Anh Dũng—Đức Hà

 

“Nếu có người Mỹ nào thật sự muốn biết liệu kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh có thành công, hay liệu những đồng minh của người Mỹ có xứng đáng với sự hy sinh của biết bao binh lính Mỹ và gia đình, thì “Hell in An Loc” sẽ dứt khoát trả lời câu hỏi đó…”

George J. Veith, tác giả cuốn “Code-Name Bright Light: The Untold Story of U.S. POW Rescue Efforts During the Vietnam War.”

09-1226-03-hell

Từ căn hộ tại lầu ba một chung cư hiền hòa yên bình ở Fremont, người ở có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn những hàng cây với tàn lá đổi màu theo ngày tháng, mùa hè xanh biếc, sang thu chuyển vàng rồi rụng rơi trải thảm khắp mặt đường khi đông tới. Đó là một nơi tuyệt vời để nghỉ hưu và an hưởng tuổi già sau những ngày tháng vật vã với cuộc sống và quên đi dư âm vang vọng của đại bác, chiến xa, khói lửa chiến tranh. Nhưng người ở lại là một cựu tướng, một người từng cầm quân chỉ huy thế nên tâm hồn ông, trái tim ông, suy nghĩ của ông luôn khắc khoải về đất nước mà ông đã phải bỏ lại cách nay hơn 30 năm.
“Tuy gặp may mắn hơn nhiều người Việt tỵ nạn khác khi đến định cư tại Mỹ – kể cả những người ngang cấp bậc, nhưng tôi vẫn thấy buồn. Buồn vì mất nước và buồn vì nhiều người phải vướng vào lao tù, bao nhiêu gia đình ly tán,” cựu tướng Lâm Quang Thi chia xẻ trong một buổi chiều cuối thu lạnh giá.
Gần 80 tuổi, người ông vẫn thẳng đứng, dáng mảnh khảnh, giọng nói lớn sang sảng như khi còn chỉ huy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I năm nào. Có thể chăng vì nỗi u sầu ẩn khuất đó, nên ít thấy ông cười, cho dù câu chuyện trao đổi đôi lúc cũng ra ngoài đề tài về địa ngục An Lộc.
“Trận An Lộc được xem là trận chiến lớn nhứt trong suốt cuộc chiến Việt Nam – mà Sir Robert Thompson, cố vấn đặc biệt của Tổng Thống Nixon từng mô tả là chiến thắng quân sự lớn nhứt của Thế Giới Tự Do chống lại Cộng Sản sau Thế Chiến II, thế mà chưa bao giờ được truyền thông Mỹ nhắc tới,” ông bày tỏ sự bực tức và khẳng định rằng nếu mất An Lộc năm 1972 thì chỉ 24 tiếng đồng hồ sau quân Bắc Việt – dùng An Lộc làm bàn đạp, sẽ tiến thẳng vào Sài Gòn mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể nữa.
Nếu chiến thắng An Lộc giúp miền Nam đứng vững thêm được ba năm nữa nhưng cũng là tiền đề cho sự xụp đổ hoàn toàn của Cộng Sản vài năm sau đó, theo lời tác giả Lâm Quang Thi. Ông giải thích:

“Đó là điều mà ít người nhận thấy. Họ (truyền thông Mỹ) chỉ đề cao những chiến thắng của người Mỹ, và sự thật về An Lộc chưa bao giờ được nhắc đến cho đến ngày hôm nay, trong cuốn sách này.”
Những trăn trở đó đã khiến vị tướng quê Bạc Liêu không tiếc thời gian, bỏ công sức hơn bốn năm dài để nghiên cứu thu thập tài liệu, sử liệu, phỏng vấn những chỉ huy mặt trận còn sống sót, tiếp xúc những quân nhân tham dự trận đánh, so sánh các tài liệu của hai phía Việt và Mỹ, kể cả tranh luận với các tác giả Mỹ để hoàn thành cuốn “Hell in An Loc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam.”
Khi góp ý rằng hồi ký chiến tranh của người Việt xuất bản rất nhiều, phần lớn thổi phồng cá nhân, tài liệu dựa vào trí nhớ hay viết nhằm mục đích riêng tư nào đó nên người đọc đôi khi cảm thấy chán ngán và nghi ngờ thì cuốn Hell in An Lộc được tác giả nhấn mạnh là hoàn toàn trung thực. Ông nói:
“Năm 1972 tôi làm Tư Lệnh tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương điều động ba sư đoàn Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh trấn giữ hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên ở phía bắc và không liên quan gì đến chiến sự tại Vùng III nơi diễn ra trận chiến An Lộc. Thế nên tôi tin rằng có cái nhìn chính xác hơn, khách quan hơn và chủ yếu không phải phóng đại hay tâng bốc bất cứ ai.”
Ông cho biết thêm rằng khi nhà xuất bản University of North Texas Press bằng lòng cho in, sau khi hội đồng biên tập tranh luận về tính xác thực của các tài liệu, các chứng cứ ghi trong bản thảo và chấp nhận những phản bác có giá trị của ông đưa ra, thì đó là một thắng lợi nữa của An Lộc, tuy hơn muộn màng.
“Tôi không tin rằng đưa cuốn sách này ra vào thời điểm bây giờ là quá muộn cho dù câu chuyện xảy ra từ 1972; thêm vào đó sự thật về cuộc chiến An Lộc – mà tất cả người dân miền Nam đều biết dưới tên gọi Bình Long Anh Dũng trong Mùa Hè Đỏ Lửa, chưa bao giờ được nói tới.”
Tướng Thi cho hay mục đích của sách không ngoài việc cho thế hệ đi sau biết bậc cha ông đã chiến đấu dũng cảm vượt bực trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam, đồng thời cũng không quên nhắc đến vai trò thiết yếu của cố vấn Mỹ và sự yểm trợ hỏa lực tối đa của không quân và lục quân Mỹ cho An Lộc. Ông nói rằng từ cuốn sách này cộng đồng thế giới, các trường đại học, giới quân sự, các học giả có thêm một tài liệu tham khảo và biết thêm là quân dân Miền Nam đã bảo vệ sự vẹn toàn của đất nước như thế nào – trái với những tuyên truyền sai lệch và ác ý trước đây.
Tác giả cuốn “A Sense of Duty: My Father, My American Journey,” Quang X. Phạm, một cựu phi công Thủy Quân Lục Chiến Mỹ nhận xét: “Cuốn sách thứ hai đáng lẽ phải được viết từ lâu của Tướng Lâm Quang Thi đã cung cấp một góc độ nhìn thiếu sót hết sức quan trọng từ phía những người bạn đồng minh Mỹ trên chiến trường Nam Việt Nam. Có thể quan trọng hơn nữa, công trình nghiên cứu của ông đã thu thập được những tài liệu về những nỗ lực dũng cảm của quân lực Nam Việt Nam trong trận chiến quy mô nhứt, không hề được truyền thông Mỹ, quân đội Mỹ và điện ảnh Mỹ quan tâm nhắc nhở. Những cố vấn Mỹ hiện nay và những nhà lãnh đạo quân đội Iraq đang hình thành có thể học hỏi được nhiều từ cuốn sách này trong sứ mạng cùng nhau đánh một mặt trận.”
Vì thế nên khi đến thị sát An Lộc ngày 7 tháng Bẩy, 1972 Tổng Thống Thiệu đã phát biểu: “Chiến thắng Bình Long không chỉ là chiến thắng của Nam Việt Nam chống Cộng Sản Bắc Việt, chiến thắng Bình Long còn là chiến thắng của Thế Giới Tự Do đối với thuyết chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng thế giới của Cộng Sản.”
Vậy thì tại sao thắng lợi đó không được truyền thông Mỹ đề cao?

Phản Chiến

Giải thích về sự thờ ơ của truyền thông Mỹ, ông Thi cho hay năm 1972 khi Mỹ bắt đầu thi hành kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, báo chí chỉ nhắm chỉ trích sự yếu kém, nhu nhược và tham nhũng của quân lực VNCH, thậm chí viết cả sách bôi nhọ chưa kể là lúc đó họ có xu hướng phản chiến và thiên tả.
Tuy nhiên sự thật vẫn là sự thật. Với mức thiệt hại hơn 10,000 quân địch thuộc ba Công Trường 5, 7, và 9 trang bị hiện đại với chiến xa hạng nặng và không đầy 2,300 tử vong, 8,500 bị thương bên tử thủ, phía VNCH đã phải đối đầu với một lực lượng đông gấp ba lần và vẫn chiến thắng. Và mọi người vẫn còn nhớ câu chuyện về quân trú đóng An Lộc phải tìm cách hạ tăng địch bằng khẩu phóng lựu M-72 khiêm nhường.
Tướng Thi tin rằng nếu sự yểm trợ quân sự của đồng minh vẫn tiếp tục thì ngày 30 tháng Tư, 1975 không chắc đã xảy ra.
“Tiếc rằng người Mỹ không đủ kiên nhẫn để tham gia một trận chiến trường kỳ và cũng không dám đánh thẳng ra Bắc. Lúc đó người Mỹ có một sứ mạng rõ rệt là chận đứng đà bành trướng của Cộng Sản nhưng lại không có một chiến lược rõ ràng khi tham chiến tại Việt Nam, và đó là điều đưa đến thất bại.”
Tuy vậy vẫn theo lời tác giả Lâm Quang Thi sự kiện Nam Việt Nam mất là cơ hội để các nước láng giềng như Thái-Lan, Indonesia, Malaysia … không bị Cộng Sản hóa và tiếp tục tồn tại trong tự do.
Chuyển lời đến người Mỹ, người viết hai đầu sách về chiến tranh Việt Nam, ông George J. Veith gợi ý rằng “nếu có người Mỹ nào thật sự muốn biết liệu kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh có thành công, hay liệu những đồng minh của người Mỹ có xứng đáng với sự hy sinh của biết bao binh lính Mỹ và gia đình, thì “Hell in An Loc” sẽ dứt khoát trả lời câu hỏi đó…”

Và bên cạnh câu chuyện về viết sách, dịch sang tiếng Việt, bán sách gởi tiền giúp các cựu quân nhân thiếu thốn còn ở quê nhà, ông còn chia xẻ về niềm vui chăm sóc đưa đón ba cháu nội trai chỉ ở cách đó mươi phút. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó mới thấy gương mặt ông bớt đăm chiêu nghiêm nghị. Thế nhưng hạnh phúc hiện tại dường không thể đè lên nỗi bứt rứt của người quân nhân buộc lòng phải thua trận mất nước, vẫn sống bằng hy vọng về một tương lai sáng sủa hơn cho quê hương. Sau cùng khi hỏi về một nước Việt mai sau sẽ biến chuyển như thế nào. Ông nói rằng nước Việt phải là một – đương nhiên rồi, nhưng phải thống nhứt dưới một thể chế dân chủ tự do và điều đó chưa hẳn là không thể xảy ra:
“Với tôi, cuộc chiến Việt Nam chưa hề kết thúc, mà đang diễn ra dưới một hình thức khác,” ông cả quyết.

Đức Hà
OneViet.com

Trận Chiến Chưa Kết Thúc—Nguyên Thiều

Hồi năm 1998, khi nói chuyện với các cựu chiến binh Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam ở Houston – Texas nhân ngày lễ Veteran Day, cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi đã nhận được sự hoan nghênh và biểu lộ đồng tình từ các cựu chiến binh khi ông cho rằng họ đã chiến đấu dũng cảm cho một lý tưởng tốt, và một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thất bại trong cuộc chiến là bởi vì những tường thuật lệch lạc đầy ác ý của giới truyền thông thiên tả về cuộc chiến này.
Vào lúc mà cộng sản Bắc Việt không ngần ngại đổi chác lãnh thổ cho ngoại bang để tìm kiếm thêm quân viện thì Việt Nam Cộng Hoà lại bị đồng minh lâu năm của mình rũ áo, cuốn gói, bỏ rơi. Tiếp theo, người ta tìm cách đổ hết mọi lỗi lầm dính líu đến cuộc chiến lên đầu những người lính thua trận. Trong bài diễn văn nhận trách nhiệm về vụ Bay of Pigs (Vịnh Con Heo)—Cuba bị thất bại hồi tháng 4 năm 1961, Tổng Thống John F. Kennedy nói một câu chua chát: “Victory has a thounsand fathers, but defeat is an orphan.” (Chiến thắng có ngàn người cha, nhưng thất bại lại là một đứa con mồ côi). Được tạm hiểu như là, khi chiến thắng thì ai cũng muốn có công lao, nhưng lúc thất bại không một người nào chịu nhận làm tác giả.
Trong khi giới truyền thông thiên tả và phản chiến Mỹ luôn tự xem rằng những tuyên truyền (vô tội vạ) là công lao chính dẫn đến hoà bình cho Việt Nam thì chính phủ và quốc hội của họ lại chẳng bao giờ chịu nhận trách nhiệm đã bội ước đối với đồng minh để dẫn đến thất bại cay đắng. Ngay cả một vài cố vấn Mỹ đã từng tham chiến tại Việt Nam, khi viết về cuộc chiến này, cũng chỉ cố nói cho được về phần mình, tô bóng một cách quá lố đến sự hiện diện và công lao của quân đội Hoa Kỳ và của chính tác giả. Sách báo viết bằng Anh ngữ của họ hầu như chỉ nhằm đề cao vai trò của người Mỹ. Một khi đã đề cao vai trò của người Mỹ, tất nhiên người ta còn cần phải tìm cách hạ thấp khả năng và giá trị trung thực của chính phủ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà càng nhiều càng tốt. Ai cũng có thể gặp nhan nhản những người bản xứ cứ luôn tin tưởng rằng cuộc chiến thất bại tại Việt Nam là do Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà quá yếu kém. Nếu không có ai đó đứng ra cải chính và làm sáng tỏ điều này, lịch sử sẽ được biết đến một cách méo mó mãi mãi như thế. Ngay cả đến con cháu của các cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hoà rồi cũng sẽ hỏi ông cha của họ, tại sao lại đánh giặc quá tồi tệ như vậy!
Cover(1)
Hình bìa mặt trước của tác phẩm “Hell In An Loc”
Cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi luôn thao thức về việc lịch sử đã bị người ta bóp méo đến độ thảm hại. Ròng rã suốt 4 năm trời, ông bỏ nhiều tâm huyết tìm tòi tài liệu, phỏng vấn nhân chứng, phân tích dữ kiện, tìm cách viết trung thực lại lịch sử. Ông nắn lại cho ngay ngắn những chỗ mà người ta đã cố ý bẻ cong, mong lấy lại lẽ phải, sự thật và công bằng cho chiến binh và quân đội của ông. Đã có nhiều quyển sách viết bằng Việt ngữ nói về mức độ thiện chiến, lòng dũng cảm, tánh can trường của người lính Việt Nam Cộng Hoà, nhưng tựu trung vẫn chỉ là những tác phẩm để cho người Việt đọc, người Việt biết và người Việt thông hiểu với nhau mà thôi. Những tác phẩm này dù được phát hành và đón nhận mạnh mẽ trong các cộng đồng người Việt trên khắp địa cầu cũng chưa hẳn đã gây nên ảnh hưởng lớn có thể thay đổi quan điểm vốn đã bị đầu độc nặng nề của những người bản xứ – những người không nói tiếng Việt, nơi mỗi quốc gia có người Việt cư ngụ. “Hell in An Loc” là một đáp ứng cần thiết và quý báu vào thị trường sách báo hiếm hoi bằng Anh ngữ do người Việt viết trung thực về chiến tranh Việt Nam.
Một thời, từng là sĩ quan trẻ tuổi nhất nước được thăng cấp tướng, nay ông Lâm Quang Thi sắp bước sang tuổi bát tuần. Vị tướng văn võ song toàn, xuất thân từ khoá 3 của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam vẫn âm thầm miệt mài chiến đấu cho đất nước và quân đội của mình. Không còn mang gươm, không còn cầm súng như những ngày xưa giữa nơi trận mạc sa trường, ông viết sách, viết blog để tiếp tục chiến đấu. Người ta có thể tìm đọc những bài viết ngắn, xúc tích và giá trị của ông về các vấn đề Việt Nam, Đông Nam Á… tại một số trang blog uy tín như: New America MediaRedroom, Pacific News
Viết “Hell In An Loc“, cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi muốn vạch cho cả thế giới thấy rõ, trong chiến tranh quy ước, nếu được yểm trợ đầy đủ, thì với một lực lượng ít ỏi, chỉ bằng một phần ba quân số so với địch, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà vẫn có khả năng đánh bại những đạo quân được trang bị, yểm trợ hùng hậu và thiện chiến nhất. Những chân giá trị mà giới truyền thông, chính phủ và quân đội Hoa Kỳ cố tình lảng tránh, nhận chìm được tác giả ghi chép lại như một tài liệu quân sử. Người ta tìm gặp vô số điều mới mẻ mà những quyển sách viết về trận An Lộc trước đây chưa nhắc đến. “Hell In An Loc”, sẽ giữ lại cho thế hệ mai sau, nhất là thế hệ sinh trưởng tại hải ngoại – không thông thạo Việt ngữ những trang sử trung thực và giá trị.
“Hell In An Loc” được University of North Texas chọn lọc và xuất bản đủ nói lên tầm mức uy tín và giá trị chân thực của tác phẩm. So với hàng núi báo chí, sách vở được các nhà in vô danh ấn hành và xuất bản một cách vô tội vạ hiện nay, quyển sách này là một sưu khảo công phu, trung thực và phong phú. Trước đây, cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi đã từng cho xuất bản “Autopsy: The Death of South Viet Nam” hồi năm 1985 (do Sphinx Publishing ấn hành) và “The Twenty-Five Year Century” hồi năm 2002 (do University of North Texas Press ấn hành).
“Hell In An Loc: 1972 Easter Invasion and The Battle That Save Vietnam” sẽ chính thức ra mắt độc giả tại Trung Tâm Sinh Hoạt VIVO, 2260 Quimby Road, San José, California từ 13:00 giờ đến 16:00 giờ vào ngày Chủ Nhật 24/1/2010 sắp tới. 
Độc giả sinh sống tại Bay Area và Silicon Valley sẽ có cơ hội gặp gỡ và trực tiếp phỏng vấn tác giả trong ngày ra mắt sách. Độc giả phương xa có thể nhờ bạn hữu tại địa phương đặt sách giùm (để kèm chữ ký của tác giả) hoặc tìm mua tại các hiệu sách như Barnes & Noble, Flipkart, Eurospan… Các bậc phụ huynh rất nên có quyển sách này trong tủ sách gia đình, đặc biệt cho con em mình.
Được biết, cựu Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, xuất thân từ khoá 10 của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam cũng đã kể lại trận đánh An Lộc qua tác phẩm “An Loc – The Unfinished War” hồi năm 2009 (do Texas Tech University Press ấn hành). Ông cố công làm việc này cũng không ngoài mục đích nói ra những điều mà người ta chưa nhắc đến, lấy lại chút công đạo đã bị cướp mất cho những cựu chiến binh thua thiệt, nói lên tiếng nói cho những người vẫn còn sống và những người đã vị quốc vong thân. Độc giả có thể tìm mua tác phẩm này tại các hiệu sách như B&N, THENILE, INFIBEAM
Cả hai vị tướng xuất thân từ trường Võ Bị Đà Lạt đều cho rằng trận chiến chưa kết thúc và họ vẫn miệt mài chiến đấu.
Nguyên Thiều