Trang chủ » Posts tagged 'van'
Tag Archives: van
giữa ngựa và người—Nguyễn thị Hải Hà
tản mạn
Ngựa có mặt trên thế giới chừng bốn mươi ngàn năm trước Công nguyên, được thuần hóa vào khoảng bốn ngàn năm trước Công nguyên. Ngựa xuất hiện thường xuyên trong văn học và nghệ thuật. Ngựa là biểu tượng của chia lìa vì chiến tranh vì người đàn ông phải ra trận. Chúng ta có thể không biết nét mặt của người đàn bà ở phía sau rặng liễu nhìn dáng chồng từ từ khuất nẻo nhưng ai cũng biết màu y phục của người chồng và màu con ngựa chàng cưỡi qua hai câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.” Và có lúc đã tiếc mình không theo kịp người đi“Đưa chàng lòng dặc dặc buồn. Bộ khôn bằng ngựa, thủy không bằng thuyền.” Ngựa là biểu tượng của sức mạnh, nhanh nhẹn, dẻo dai, tình bạn, lòng trung thành, trí khôn ngoan trong vô số tác phẩm. Ngựa hoang được dùng để ám chỉ một người có ước muốn tự do không chịu khuất phục trước những trói buộc của uy quyền như “Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời. Đồng cỏ nào xanh ngắt chân trời. Ngựa phi như điên cuồng, giữa cánh đồng dưới cơn dông.”[i] Chỉ vài câu mà chúng ta nhìn thấy một bức tranh ngựa phi tuyệt đẹp và những ngón đòn thù giữa “ngựa” và người. Mối liên hệ giữa ngựa và người, ân tình và oán thù được thăng hoa trong nhiều tác phẩm. Một con ngựa đã giết người để trả thù được Patti Highsmith ghi lại trong truyện ngắn Engine Horse. Alice Munro, Nobel 2013, đã nhiều lần nhắc đến ngựa, tiêu biểu là hai truyện ngắn Boys and Girls và Under the Apple Tree. Rất may trong văn học chúng ta được chứng kiến ân tình giữa ngựa và người nhiều hơn thù oán. Trong phạm vi bài tản mạn này, xin mời độc giả thưởng thức một ít ân tình giữa ngựa và người trong bốn tác phẩm văn học bất hủ của Tây phương.
1. Con ngựa trong A Country Doctor (Bác Sĩ Làng) của Franz Kafka

Trong truyện ngắn A Country Doctor của Franz Kafka có ông bác sĩ già cần phải đi chữa bệnh cho một người ở cách đó mười dặm nhưng con ngựa duy nhất của ông đã chết đêm qua vì kiệt sức. Cô gái giúp việc, Rose, đi khắp nơi đến nhà láng giềng để mượn ngựa cho chủ nhưng không ai cho mượn. Trong cơn tức bực, bác sĩ đá cánh cửa cái chuồng lợn, thì bỗng nhiên, có anh nài ngựa dẫn hai con ngựa lóp ngóp từ trong chuồng lợn bò ra. “Thật là người ta nhiều khi trong biết trong nhà người ta có chứa những gì.” Kafka tả, hai con ngựa cao lớn khỏe mạnh, nhưng ông không nói rõ ngựa màu gì. Koji Yamamura, đạo diễn Nhật, trong đoạn phim họa hình đã vẽ đôi ngựa màu đen.[ii] Anh nài ngựa bỗng dưng ôm chầm lấy Rose thô bạo cắn vào má cô nàng đến rướm máu. Bác sĩ muốn đánh tên nài ngựa để cứu Rose nhưng lại sợ hắn không cho mượn ngựa và có lẽ cũng vì hắn cường tráng mà ông thì già yếu hom hem. Bác sĩ lên đường một mình vì tên nài ngựa tuyên bố ở lại để chiếm đoạt Rose. Đôi ngựa tự động mang bác sĩ đi đến một nơi quang đãng, xa mười dặm mà đi trong chớp mắt. Bệnh nhân là một cậu bé mười một tuổi, gầy gò xanh xao nhưng không bị sốt. Bác sĩ cho là bệnh của cậu không nguy hiểm và đôi ngựa thò đầu vào cửa sổ khiến Bác sĩ nghĩ đến Rose đang cần được ông cứu. Sau tiếng ngựa hí Bác sĩ tìm thấy bên hông của cậu bé có một vết lở to như cái hoa hồng, bên trong đóa hoa hồng này là những con dòi to bằng ngón tay út, đầu trắng và có nhiều chân. Dân làng tụ họp trước nhà bệnh nhân xông vào cởi quần áo của Bác sĩ và đặt ông lên giường của bệnh nhân vì ông không chữa được bệnh và phải bị giết, y như lời hát của một bài đồng dao. Bác sĩ ném quần áo ra cỗ xe ngựa ngoài cửa sổ và trốn về. Trên đường về Bác sĩ già trần truồng và hai con ngựa lê bước chậm chạp trong cơn bão tuyết.
Truyện ngắn Bác Sĩ Làng của Franz Kafka, thường được giới phê bình văn học cho rằng vì truyện giống như một giấc mơ nên khó phân tích một cách khoa học. Hai học giả Louis H. Leiter[iii] và Richard H. Lawson[iv] dùng phân tích tâm lý học của Freud và Jung để “giải mã” tác phẩm Bác sĩ Làng của Franz Kafka.
Con ngựa, biểu tượng tính dục của người đàn ông, đã chết trong đêm trước, tượng trưng sự cạn kiệt tình dục của Bác sĩ làng. Rose, cô hầu gái tượng trưng tính dục của người phụ nữ, đã cố giúp hồi sinh tính dục của ông chủ bằng cách đi mượn ngựa của láng giềng. Hai con ngựa xuất hiện từ chuồng heo là ước muốn khả năng làm tình được hồi sinh. Hai con ngựa nhìn vào phòng bệnh nhân từ cửa sổ tượng trưng cho hành động xâm nhập tình dục. Cậu bé bệnh nhân là một hình ảnh tương phản sự bất lực của Bác sĩ làng (già nhưng không đau yếu; và trẻ nhưng đau yếu trầm trọng). Sự kiện mất quần áo của Bác sĩ trong khi chạy trốn được xem như biểu tượng cho sự bị thiến bộ phận sinh dục (castration) và sự mệt mỏi của hai con ngựa khi trở về là nhận thức về sự bất lực của Bác sĩ làng.
Người viết vốn không tin là mọi tác phẩm đều có thể phân tích dựa trên căn bản tình dục như lý thuyết của Freud và Jung. Tuy nhiên, xin tóm tắt ý kiến của hai học giả để giúp vui độc giả.
Một độc giả có thể phân tích tác phẩm như sau:
Kafka, ai cũng biết, bất hòa với người bố vì bị bố cấm viết văn. Viết văn, sự sáng tạo của Kafka, nguy hiểm cho tính mạng của tác giả trong chế độ độc tài. Văn chương như một đóa hoa đẹp, nhưng cũng nguy hiểm như vết thương lở lói đầy dòi lúc nhúc trên thân thể của cậu bé, và cậu bé là hiện thân của Kafka. Truyện ngắn Bác sĩ làng được Kafka viết với quan điểm của Bác sĩ làng, tượng trưng cho người bố của Kafka. Ước muốn và sự tự tin sẽ cứu được bệnh nhân, (tượng trưng cho ước muốn của người bố muốn cứu Kafka bằng cách khuyên bảo ông ngừng viết), biến thành hai con ngựa khỏe mạnh và đưa Bác sĩ đến gặp cậu bé trong chớp mắt. Con ngựa của Bác sĩ làng bị chết từ đêm trước ám chỉ người Bố không có phương tiện, hay không được phép đi thăm Kafka. Ông bố phải lén lút đi thăm Kafka do đó Bác sĩ làng phải đi trong đêm bão tuyết mịt mù. Khi đến nơi, biết là đứa con của mình mang cái nghiệp viết văn có thể nguy hiểm đến tính mạng, sự bất lực và tan nát tâm hồn của người bố được Kafka biểu hiện bằng cái trần truồng trong trời giá lạnh của Bác sĩ làng, và hai con ngựa trở nên mệt mỏi biểu hiện nỗi buồn của người bố phải cao bay xa chạy để tự cứu mình mà không cứu được con.
2. Con ngựa Frou-Frou trong Anna Karenina của Leon Tolstoi

Mặc dù Vronsky và Anna đã yêu nhau và nhiều lần lén lút gặp gỡ nhau, chuyện tình của hai người chỉ bị khám phá sau cuộc đua ngựa của Vronsky. Giàu, đẹp trai, lịch thiệp, và là một kỵ mã tài hoa, Vronsky tham dự cuộc đua ngựa vượt qua các chướng ngại như rào cản và hào mương. Rất tự tin ở sức khỏe, lòng can đảm, cũng như tài cỡi ngựa của mình, nhưng Vronsky có chút ngần ngại vì chưa mấy quen với Frou-Frou con ngựa sắp cùng chàng tham dự cuộc đua. Frou-Frou là con ngựa cái tơ màu nâu sậm, vẫn còn bị xem là “chưa hoàn hảo lắm.” Tuy nhiên “nàng” thuộc nòi giống có tiếng tăm và như thế là đủ để được bỏ qua mọi khuyết điểm khác. Trong khi đua ngựa này, do Vronsky không khéo điều khiển nên sẩy bước, lỗi nhịp khiến Frou-Frou ngã và gãy xương sống. Trông thấy Vronsky ngã ngựa Anna khóc và biểu lộ sự bấn loạn khác thường khiến Karenine đoán biết vợ mình ngoại tình với Vronsky.
Theo hai học giả Martin Stevens[vi] và Hugh McLean[vii], Tolstoy đã dùng cái chết của Frou-Frou làm điềm báo trước vận mệnh u tối của Anna và mối đam mê của nàng dành cho Vronsky.
Qua cách dùng chữ của Tolstoy, độc giả dễ nhận ra, tác giả dùng Frou-Frou để ám chỉ Anna. Khi Vronsky gặp Frou-Frou trong chuồng ngựa, chàng nhận thấy đôi mắt của nàng “nổi bật, sáng rực và hào hứng,” còn thân hình của nàng “căng đầy nhựa sống nhưng lại rất mềm mại.” Mối quan hệ của Vronsky với Frou-Frou cũng rất gợi cảm. “Chàng càng đến gần, nàng càng trở nên rạo rực. Khi chàng đứng bên cạnh đầu của nàng, bỗng nhiên nàng trở nên đằm thắm hơn, cùng lúc ấy những sớ thịt của nàng run rẩy bên dưới lớp lông mềm mại như tơ.”
Vronsky quả là một người có sự nhạy cảm và con mắt quan sát của nhà văn. Với con ngựa chàng đã tinh tế như thế thì với Anna chàng càng tinh tế hơn. Vronsky bị Phu nhân Karenine thu hút ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên khi nàng ngồi chung cỗ xe với mẹ chàng. Chàng nhận ra trên nét mặt nàng có một “vẻ mơn trớn mềm mại đặc biệt” và “đôi mắt của nàng sáng rực” và một “vẻ rạo rực được kềm chế.” Nét tương đồng của Frou-Frou và Anna cũng được Tolstoi miêu tả qua cách Kitty quan sát Anna, tình địch của nàng. Kitty nhìn thấy “ánh sáng lấp lánh run rẩy trong đôi mắt của Anna, nụ cười đầy hạnh phúc sự rạo rực một cách vô thức đang nở trên môi nàng, vẻ duyên dáng thật chín, và cử chỉ uyển chuyển nhẹ nhàng của Anna.”
Sự tương đồng của Frou-Frou và Anna Karenine qua cách miêu tả của Tolstoy không chỉ ngừng ở ánh sáng của đôi mắt, đường cong nét mềm của thân thể, hay một sự rạo rực ngấm ngầm trong đôi môi, sớ thịt. Trong một lần Anna bị ngã, Tolstoy đã miêu tả nét mặt của Vronsky như sau: “Nét mặt nhợt nhạt và hàm dưới run run chàng cúi xuống nhìn nàng” Và lúc Frou-Frou chết, Vronsky được miêu tả như sau: “Khuôn mặt bị biến dạng vì xúc cảm cực độ, nhợt nhạt và hàm dưới run run.” Frou-Frou cũng là tên thân mật của Gilberte, nhân vật trong vở kịch thịnh hành của Meilhac và Halévey ra mắt khán giả năm 1870. Những chi tiết của vở kịch này theo Stevens và McLean đã ảnh hưởng sâu đậm trong việc xây dựng nhân vật Anna Karenine của Tolstoy.
3. Con ngựa Rocinante của Don Quixote

Don Quixote sẽ không được xem là tác phẩm khôi hài bất hủ nếu chàng hiệp sĩ tấn công nhà máy xay lúa chạy bằng gió không có con ngựa gầy Rocinante. Trái ngược với vận mạng của Frou-Frou, con ngựa đua được chăm sóc cẩn thận nhưng lại chết dưới trôn của chủ, Rocinante của hiệp sĩ Don Quixote bị bỏ đói, đánh đập nhưng sống lâu hơn chủ. Nói rõ hơn, tuy Don Quixote không yêu Rocinante kiểu Vronsky yêu Frou-Frou nhưng không phải ông hiệp sĩ khùng này ngược đãi súc vật. Rocinante bị bỏ đói vì chủ của nó cũng bị đói. Rocinante không đánh đập bởi bàn tay của chủ mà bởi những người vị hiệp sĩ tấn công.
Khi mới vừa tự phong chức hiệp sĩ, Quixote gặp một đoàn thương gia Toledo đi bán lụa đang nghỉ chân. Quixote bắt họ phải tán dương sắc đẹp của Dulcinea. Khi một người trong bọn bảo rằng chưa từng gặp mặt làm sao biết thần tượng của Quixote đẹp đến mức độ nào thì Quixote nổi giận bảo rằng họ không kính trọng nàng do đó ông giục Rocinante tiến lên với một khí thế hùng hổ ngọn giáo chỉa lăm lăm. Nếu Rocinante gầy còm không ngã quị thì chắc lũ lái buôn phải có vài ba người bị toi mạng. Vì Rocinante ngã quị nên bọn lái buôn xúm vào đánh cả người lẫn ngựa một trận nhừ tử. Don Quixote ông không kém tài và chắc chắn là không hèn nhát chỉ tại Rocinante lóng ngóng vụng về.
Rocinante bị đánh và bị ngã nhiều lần nhưng không chết. Nếu trận đòn ấy là do Don Quixote khiêu chiến thì cũng có nhiều lần lỗi lầm đưa đến chỗ bị đánh đập hoàn toàn là tại Rocinante. Don Quixote cố gắng giữ tiết hạnh để biểu lộ lòng kính trọng với Dulcinea del Toboso, một phụ nữ nhà quê được ông đưa lên ngôi thần tượng. Học giả John Cull[viii] dựa vào học thuyết của Freud phân tích rằng sự tiết chế tình dục này được dùng để ám chỉ Don Quixote là người bị bất lực về mặt sinh dục. Don Quixote có cây giáo mòn lụt, và nhiều lần bị đối thủ bẻ gãy cũng là cách ví von sự bất lực của Quixote vì cây giáo là tượng trưng cho phallus hay “con cờ” của nam giới. Rocinante, con ngựa đực, được xem là biểu tượng tình dục của đàn ông. Suy nghĩ theo chiều hướng trên, Rocinante là hình ảnh đối kháng của Don Quixote. Don Quixote ăn chay tình dục nhưng Rocinante lại rất khát tình. Và chính vì cái khát tình của Rocinante mà cả Don Quixote với Sancho, người hầu cận, bị một trận đòn tơi tả.
Sau khi đi mấy ngày đường đói và khát, Don Quixote và Sancho gặp một cánh đồng cỏ non mượt có con suối chảy ngang nước trong veo mát rượi. Sancho thả Rocinante trên đồng cỏ non, nghĩ rằng thường ngày Rocinante rất nhút nhát chắc chẳng quấy rầy ai. Trên đồng cỏ có một nhóm người yangueses đã đến trước và đang cho ngựa nghỉ ngơi. Rocinante lên cơn khát tình, nên thay vì gặm cỏ non và uống nước suối lại rượt đoàn ngựa tơ ponies của đám yangueses đòi cưỡi ngựa. Đám lái buôn đánh đuổi Rocinante đến độ chàng ngựa vừa gầy vừa già rớt hết “quần áo” yên cương chỉ còn lại thân hình trụi lũi. Nóng lòng Rocinante của mình bị đánh đập tàn nhẫn, hiệp sĩ Don Quixote ra lệnh Sancho phải cùng hiệp sĩ trả thù cho Rocinante. Sancho nhắc nhở cho chủ biết là “bọn chúng hơn hai mươi đứa, còn chúng ta chỉ có hai người, đánh làm sao lại họ mà đánh.” Tuy nhiên bản tính hiệp sĩ của Quixote đã chẳng chịu lùi bước trước sức mạnh nào nên Don Quixote xông lên và dĩ nhiên bị đánh cho một trận bò lết bò càng. May cho hiệp sĩ nhà ta là đã ngã bổ nhào nằm bên cạnh Rocinante. Vì hiệp sĩ nhỏ bé hơn Rocinante nên roi vọt đánh trúng Rocinante nhiều hơn đánh trúng hiệp sĩ. Tội nghiệp Sancho đã không được may mắn như thế. Vẫn biết Rocinante phạm tội “dê,” nhưng theo cái kiểu con hư là tại cha mẹ, vì thế Don Quixote phải bị vạ lây. Nếu không có Rocinante độc giả sẽ không có cơ hội mà mỉm cười.
Bên cạnh cây giáo, cánh tay của Don Quixote cũng được xem là biểu tượng của phallus. Quixote thường khoe sức mạnh của cánh tay, nhưng khi hữu sự cánh tay của hiệp sĩ thường trở nên bất lực. Maritornes và con gái của vị chủ quán đã đùa cợt với Quixote khi ông đến trú ngụ. Hiệp sĩ e ngại hai vị nữ lưu sẽ lợi dụng xâm phạm tình dục ông. Tuy nhiên vốn bản tính hiệp sĩ hay chìu ý phụ nữ, Quixote nghe lời dụ dỗ của hai nàng nên thò cánh tay vào một cái lỗ trong nhà chứa rơm. Hai nàng tinh nghịch cột cổ tay của ông và để ông tay bị treo lủng lẳng. Quixote mỏi quá phải dựa vào Rocinante tuy nhiên con ngựa đã chạy theo cơn khát tình mà bỏ ông chủ lại. Đây cũng là một ẩn dụ tình dục John Cull đã nhìn theo phương pháp Freud và sự có mặt của Rocinante làm tăng thêm phần khôi hài của tác phẩm.
4. Con ngựa Boxer trong Animal Farm (Trại Súc Vật) của George Orwell

Nếu nhắc đến con ngựa trong văn học, mà không nói đến bầy ngựa trong Trại Súc Vật của Orwell thì là một thiếu sót lớn lao, bởi vì bầy ngựa này, đặc biệt là Boxer, tượng trưng cho người dân sống trong chế độ độc tài. Trong Trại Súc Vật, có đôi vợ chồng Boxer và Clover thuộc loại ngựa kéo (kéo xe hay kéo cày), Mollie là loại ngựa kiểng (nuôi để đi thi ở các cuộc thi giữa các nông trại), và Benjamin (nửa ngựa nửa lừa). Boxer màu đen, to lớn, cao hơn một mét tám, có sức khỏe bằng hai con ngựa bình thường. Mặc dù dáng dấp đồ sộ, Boxer bị xem là ngu ngốc bởi vì Boxer có một vệt lông trắng chạy dài trước đầu. Clover như một phụ nữ to béo sau khi sinh bốn đứa con. Mollie là một cô nàng ngựa trẻ, màu trắng, đỏm dáng với cái nơ buộc trên bờm. Thường bị xem là phù phiếm, nhẹ dạ, lười biếng, ích kỷ, ngu ngốc vì chỉ biết có một mẫu tự. Thật ra cả bầy ngựa không ai biết nhiều chữ, chỉ Benjamin loài người thường mắng là ngu như lừa lại biết chữ, có thể đọc nguyên câu văn. Về sau khi Napoleon và lũ heo chó thay đổi luật lệ để có thể thao túng quyền hành và giết hại “dân chúng” trong trại, Benjamin chính là “người” đọc luật cho Clover nghe.
Boxer, như một người nông dân anh hùng, đã chung vai sát cánh với lãnh đạo để chống chọi với “kẻ thù” loài người. Chính Boxer là kẻ đã hạ gục một kẻ thù bằng cách đứng lên bằng hai chân sau, dùng hai chân trước, có bọc móng sắt bổ xuống đầu Foxwood khiến hắn ngã lăn quay ra chết giấc. Boxer hạ kẻ thù một cách quang minh chính đại, bất cứ ngón đòn nào, dù đá đạp đấm đánh đều ra chân trước mặt chứ không đánh từ bóng tối như loài người. Trong khi Boxer và các loại thú anh dũng chiến đấu kẻ thù thì Mollie trốn trong chuồng của nàng, vùi đầu vào máng rơm. Nàng chạy trốn ngay lập tức khi nghe tiếng súng của kẻ thù.
Độc giả dễ có ác cảm với Mollie. Khi lãnh đạo bàn chuyện làm cách mạng, Mollie hỏi ngay là khi cách mạng xong rồi cô ta có còn được ăn đường và được đeo nơ không. Khi mọi người phải từ chối mọi xa hoa phù phiếm để ủng hộ cách mạng thì Mollie mang tất cả lạc thú của cô ta đem dấu dưới đống rơm. Và khi toàn trại súc vật được ra chỉ thị phải căm ghét, và không làm nô lệ cho kẻ thù, thì Mollie có cử chỉ thân thiện với loài người. Mollie chối rằng không theo loài người để phản bội loài vật, nhưng “người ta” nhìn thấy Mollie đứng giữa hai gọng của xe kéo, nhăm nhi đường, bờm có gắn nơ, và được người ve vuốt.
Ann Patchett, trong bài tiểu luận giới thiệu Trại Súc Vật, đã bênh vực hành động của Mollie. Patchett cho rằng dù Mollie làm nô lệ cho loài người thì đó là hành động chọn lựa. Do sự chọn lựa đó Mollie tránh được nỗi đau lòng khi bị đồng bọn phản bội. Người ta có thể cho rằng lựa chọn hạnh phúc của Mollie là một hành động hèn mạt, vì nàng không chịu sống theo gương mẫu của người khác đặt ra, nhưng Patchett cho rằng, vào thời buổi của Trại Súc Vật, đạt được hạnh phúc mà không lợi dụng công lao của đồng loại nên được xem là một sự vẻ vang.
Boxer là điển hình cho một mẩu công dân, hiền lành, chân thật, yêu thương đồng loại, tôn trọng luật pháp. Boxer cũng như nhiều người dân khác đã quá tin vào giai cấp lãnh đạo, để tư tưởng của họ bị kềm chế và bị đưa đến con đường hủy diệt. Bất cứ vấn đề gì xảy ra, Boxer chỉ biết nai lưng lao động, không ngờ sự hy sinh của mình chỉ phục vụ giai cấp thống trị và tiếp tay họ làm cho tình trạng xã hội trở nên tệ hại hơn.
Ngựa chiếm một vị trí rất lớn trong huyền thoại, văn học và phim ảnh Tây phương. Từ con ngựa trắng Pegasus trong huyền thoại Hy lạp đến con ngựa đen trong Black Beauty hay Black Stallion. Ngựa không những để kéo cày mà con dùng để kéo những cỗ đạn pháo nặng nề, hơn một triệu con ngựa khỏe được dùng để phục vụ Thế chiến thứ Hai. Sức khỏe, lòng trung thành và sự khôn ngoan của Joey được trân trọng trong phim War Horse của Speilberg. Tình bạn giữa người dù chết cũng không chia xa như White Mane. Ngựa được Trịnh Công Sơn dùng để miêu tả một người nghệ sĩ rong chơi như “Đời vẽ tôi tên mục đồng, rồi vẽ thêm con ngựa hồng, từ đó lên đường phiêu dong.” Ngựa đủ thông minh để được huấn luyện nhảy múa theo điệu nhạc phục vụ khán giả. Mấy mươi năm qua, những con ngựa trong Trại Súc Vật của George Orwell, trong Anna Karenina của Leon Tolstoy, trong Don Quixote của Miguel de Cervantes, trong the Country Doctor vẫn còn đáng cho chúng ta chiêm ngưỡng và suy ngẫm.
Nguyễn thị Hải Hà
Made in Việt Nam—Tiểu Tử

Lẽ ra bữa nay bác sĩ Lê không nhận bịnh nhân vì là ngày nghỉ trong tuần của ông. Nhưng hôm qua, trong điện thoại, nghe giọng cầu khẩn của người bịnh ông không nỡ từ chối. Người đó – ông đoán là một cô gái còn trẻ – nói chuyện với ông bằng tiếng Mỹ. Cô ta hỏi ông nhiều lần:
– Có phải ông là bác sĩ Lee không?
Tên ông là Lê. Cái tên Việt Nam đó ở xứ Mỹ này người ta viết là “Lee”, nên ông được gọi là “ông Lee” ( Li ).
Ông ôn tồn trả lời nhiều lần:
– Thưa cô, phải. Tôi là bác sĩ Lee đây.
– Phải bác sĩ Lee chuyên về châm cứu và bắt mạch hốt thuốc theo kiểu á đông không?
– Thưa cô phải.
– Có phải phòng mạch của bác sĩ ở đường Green Garden không ?
Bác sĩ Lê, đã ngoài sáu mươi tuổi, tánh rất điềm đạm, vậy mà cũng bắt đầu nghe bực! Tuy nhiên, ông vẫn ôn tồn:
– Thưa cô phải. Xin cô cho biết cô cần gì?
Giọng cô gái như reo lên:
– Vậy là đúng rồi! Con Cathy bị bịnh suyễn nói bác sĩ chữa bịnh hay lắm. Cả nhà nó, kể luôn ba má ông bà nó đều đi bác sĩ hết.
Đến đây thì ông bác sĩ già đó không kềm được nữa, ông xẵng giọng:
– Cám ơn cô. Bây giờ xin dứt khoát cho tôi biết coi cô muốn cái gì?
Giọng bên kia đầu dây như lắng xuống:
– Tôi xin lỗi bác sĩ. Xin lỗi. Tôi muốn xin bác sĩ cái hẹn cho ngày mai. Tôi bịnh…
– Mai là ngày nghỉ trong tuần, phòng mạch không có mở cửa. Ngày khác vậy.
– Ngày mai cũng là ngày nghỉ của tôi nữa, bác sĩ à.
– Cô đã bịnh thì cứ xin nghỉ để đi bác sĩ, ngày nào lại không được!
Một chút im lặng ở đầu dây bên kia rồi giọng người con gái bỗng nghe thật buồn:
– Họ đâu có cho nghỉ, bác sĩ. Họ nạt vô mặt: “Mầy muốn nghỉ thì mầy nghỉ luôn đi. Thiếu gì đứa muốn vào làm chỗ của mày. Mày biết không?”
Giọng nói như nghẹn ngang ở đó, rồi tiếp:
– Không có việc làm là chết, bác sĩ à…
Ông bác sĩ già làm thinh, suy nghĩ. Đầu dây bên kia, cô gái van lơn:
– Xin bác sĩ thông cảm. Tôi sợ bịnh nặng hơn, không đi làm nổi nữa là mất việc. Xin bác sĩ thông cảm. Xin thông cảm.
– Ờ thôi, để tôi ráng giúp cô. Sáng mai, chín giờ. Phòng mạch của tôi ở số…
– Cám ơn bác sĩ. Cám ơn! Con Cathy có chỉ phòng mạch của bác sĩ rồi.
– Xin lỗi. Cô tên gì?
– Kim. K, I, M.
Bác sĩ Lê vừa ghi vào sổ hẹn vừa nghĩ: “Tội nghiệp! Chắc lại đi làm lậu nên mới bị người ta hâm he như vậy. Theo cách phát âm thì cô này có vẻ là người á đông. Tên Kim chắc là Đại Hàn. Để mình phải phone lại cô Cathy hỏi cho chắc ý kẻo gặp thứ lưu manh thừa dịp ngày nghỉ không có cô phụ tá, nó ‘su’ mình thì khổ!”
Đúng chín giờ, chuông cửa phòng mạch reo. Ông bác sĩ già bước ra mở cửa. Đứng trước mặt ông là một cô gái á đông còn trẻ, ăn mặc theo kiểu “punk”: quần áo có tua có tụi, tóc dựng đứng hỗn loạn như con gà xước, đeo nhiều vòng sên bằng bạc to như dây lòi tói, đầy cổ đầy hai cườm tay, mang cái xắc đỏ cũng có tua có tụi. Bác sĩ Lê, quá đỗi ngạc nhiên, chưa kịp hỏi gì, thì cô gái nói bằng tiếng Mỹ rất lưu loát:
– Chào bác sĩ. Tôi là Kim, bịnh nhân đã gọi điện thoại cho ông hôm qua. Tôi có làm cho bác sĩ chờ không?
Bác sĩ Lê chưa hết ngạc nhiên, trả lời một cách máy móc: “Không! Không!”. Rồi ông bước tránh qua một bên: “Mời cô!”
Vào phòng mạch, ông đưa cho cô cái áo blouse trắng ngắn tay:
– Cô đến phía sau bình phong bỏ hết quần áo chỉ mặc quần lót thôi, rồi khoác ngược áo blouse này, lưng áo nằm về phía trước.
Trong lúc cô gái loay hoay làm theo lời dặn, ông bác sĩ già gọi phone về nhà, nói bằng tiếng Việt:
– Bịnh nhân của anh tới rồi, đang thay đồ. Chắc một giờ nữa là xong. Em đợi anh về rồi mình đi chợ.
Cô gái bỗng ló đầu ra khỏi bình phong mỉm cười nhìn ông, gương mặt thật rạng rỡ, định nói gì nhưng rồi không nói, thụt đầu vào tiếp tục cởi quần áo.
Một lúc sau cô ta bước ra, mắt ngời lên sung sướng, nói bằng tiếng Việt, giọng như reo lên:
– Bác sĩ là người Việt Nam mà con cứ tưởng là người Tàu! Tên “Lee” nghe Tàu trân!
– Ủa! Vậy mà tôi cứ nghĩ cô là người Đại Hàn chớ!
Rồi cả hai cùng cười, cái cười rất sảng khoái. Tình đồng hương trên đất khách bỗng thấy thật ấm, thật đầy… Ông bác sĩ già nhìn cô bịnh nhân trẻ mặc áo blouse trắng đứng trước mặt ông mà không còn thấy cô gái “punk” hồi nãy nữa!
Ông đưa cho cô cái dĩa, rồi vừa chỉ cái giường cao vừa nói:
– Cô cởi hết đồ nữ trang để vào đây, rồi lên nằm trên này để tôi chẩn mạch.
Cô gái làm theo như cái máy.
Phòng mạch được trang trí rất đơn sơ, nhưng thật yên tịnh. Trong không khí có mùi thơm dìu dịu của moxa ( ngải cứu, đốt lên để hơ huyệt ). Cái giường khám bịnh cao ngang tầm tay của bác sĩ. Ở một đầu giường có gắn thêm một vòng bằng da để chịu cái đầu của bịnh nhân, và khi bịnh nhân nằm sấp để châm cứu trên lưng thì mặt người bịnh nằm trọn trong vòng da. Như vậy, người bịnh không cảm thấy khó chịu nhờ khoảng trống ở giữa vòng da giúp người bịnh vẫn thở đều đặn và mắt được nhìn thoải mái xuống sàn nhà.
Bác sĩ đặt hai bàn tay lên cánh tay trần của cô gái, ôn tồn hỏi:
– Cô bịnh làm sao? Nói tôi nghe.
– Con ngủ không được, đêm nào cũng trằn trọc tới khuya. Hay bị chóng mặt. Đang đứng làm việc, tự nhiên muốn sụm xuống làm sợ toát mồ hôi. Con lo quá, bác sĩ. Mất việc làm chắc con chết quá, bác sĩ!
Ông Lê bóp nhẹ cánh tay bịnh nhân:
– Cô yên tâm. Có tôi đây. Mà…cô có uống rượu không?
– Không. Dạ thưa không.
– Cô có hút thuốc không ?
– Dạ thưa có. Hút cũng nhiều…
– Cô có xì ke ma túy gì không? Nói thiệt tôi nghe.
– Mấy thứ đó con không dám rớ. Hồi ở bên nhà thằng anh con chết vì ba cái thứ ôn dịch đó, bác sĩ à. Vì vậy, con sợ lắm!
– Cô le lưỡi tôi coi.
Bác sĩ khom xuống nhìn rồi nói:
– Ùm. Được rồi. Bây giờ cô nằm yên, để hai tay xuôi theo thân mình, nhắm mắt, thở đều đặn.
Ông bác sĩ già đứng cạnh giường đặt mấy đầu ngón tay lên cườm tay cô gái, chăm chú bắt mạch. Một lúc sau, ông bước vòng qua phía đối diện bắt mạch tay bên kia. Bộ mạch nói lên một sự rối loạn tâm thần. Cô gái này chất chứa quá nhiều ẩn ức nên sanh bịnh. Ông nhìn cô gái đang nhắm mắt thở đều: gương mặt Việt Nam đó, bỏ đi món tóc “punk”, vẫn toát ra nét nhu mì dễ thương. Ông cảm thấy tội nghiệp cô bịnh nhân trẻ này và thắc mắc không biết hoàn cảnh nào đã đưa đẩy cô ta trôi qua xứ Mỹ để có một cuộc sống mà ông đoán là thật bấp bênh, qua cuộc nói chuyện trong điện thoại. Ông nói:
– Bây giờ, cô nằm sấp xuống để tôi châm trên lưng.
Cô gái mở choàng mắt nhìn ông, mỉm cười, một nụ cười đầy tin tưởng. Ông bác sĩ nói tiếp:
– Cô đừng sợ. Châm không có đau. Còn nhẹ hơn kiến cắn nữa.
Cô gái trở mình nằm sấp, hai vạt áo blouse rớt xuống hai bên, bày ra cái lưng thon thon với nước da ngà ngà. Theo thói quen, trước khi châm, bác sĩ vuốt lưng bịnh nhân vài lần để bịnh nhân đỡ bị stress. Lần này, khi vuốt xuống thắt lưng, ông để ý thấy dưới làn vải mỏng của quần lót có một vết bầm nằm vắt ngang phía trên của mông. Ngạc nhiên, ông hỏi:
– Cô bị ai đánh hay sao mà bầm vậy?
Cô gái cười khúc khích:
– Bác sĩ coi đi!
Ông già kéo quần lót xuống một chút, thì ra không phải vết bầm mà là hàng chữ xâm màu chàm: Made In VietNam! Ông bật cười, vừa kéo lưng quần lót lên vừa nói:
– Cha… Bạo quá há!

Cô gái hơi rút cổ cười khúc khích vài tiếng nữa rồi im. Chắc cô đang sống lại với một vài kỷ niệm nào đó. Ông bác sĩ già áp hai lòng bàn tay lên lưng bịnh nhân, nhưng bây giờ sao ông không còn thấy cười được nữa. Hàng chữ “Made In VietNam” nhắc cho ông rằng con người nằm đây là sản phẩm của quê hương ông, cái quê hương đã mấy chục năm xa cách, cái quê hương mà ở đó ông không còn ai để nhớ, nhưng ông còn quá nhiều thứ để nhớ. Những thứ cũng mang dấu ấn “Made In VietNam”, từ con trâu cái cày, từ mảnh ruộng vườn rau, từ hàng cau rặng dừa, từ con đường đất đỏ đến con rạch nhỏ uốn khúc quanh quanh… Chao ơi! Bỗng nhiên sao mà nhớ thắc thẻo đến muốn trào nước mắt…
Ông bác sĩ vuốt lưng cô bịnh nhân thật chậm để cho niềm xúc động lắng xuống tan đi. Ông có cảm tưởng như ông đang sờ lại được quê hương, có chỗ cao chỗ thấp, có phù sa đất mịn… Tự nhiên, ông muốn nói lên một tiếng “cám ơn”. Ông muốn cám ơn cô bịnh nhân đã mang quê hương đến với ông bằng hàng chữ nhỏ xâm trên bờ mông, chỉ vỏn vẹn có một hàng chữ nhỏ. Và ông cũng muốn nói với cô, nói một cách thật tình, không văn chương bóng bẩy, nói như ông nói cho chính ông, vỏn vẹn chỉ có một câu thôi: “Tôi cũng made in VietNam đây!”. Nhưng rồi ông làm thinh tiếp tục vuốt lưng người bịnh. Ông biết rằng cô gái không thể nào hiểu được ông, một bác sĩ già vừa quá sáu mươi, đã gần nửa tuổi đời lưu vong trên xứ Mỹ, có đầy đủ tiền tài danh vọng mà cũng xâm hàng chữ “Made In VietNam”, xâm ở trong lòng…
Bác sĩ im lặng dò huyệt châm kim. Bỗng cô bịnh nhân nói, giọng buồn buồn, làm như cô vừa xem lại hết một đoạn phim đời nào đó:
– Thằng bồ của con xâm cho con để làm kỷ niệm hồi tụi này còn ở Louisiana. Ảnh là thợ xâm…
– Ủa ! Rồi sao bây giờ cô ở đây?
– Con theo ba má con dọn về Cali, ổng bả nói ở Cali bạn bè nhiều làm ăn dễ.
– Ờ… người Việt mình thích ở miền nam Cali lắm.
Ngừng một chút bác sĩ lại nói, trong lúc hai tay vẫn tiếp tục châm kim:
– Ở Cali khí hậu tốt hơn nhiều tiểu bang khác. Mà… ba má cô làm gì?
Cô gái làm thinh một lúc mới trả lời, giọng ngang ngang:
– Qua đây rồi ổng bả đá đít nhau. Bả lấy thằng Mễ chủ pressing, còn ổng thì chó dắt ổng ôm được một bà Mỹ goá chồng có tài sản.
– Vậy rồi cô ở với ai?
– Với ba con. Bà Mỹ cho con đi học college, ba con lái xe đưa rước.
– Vậy mà sao hôm qua, trong phone, cô nói cô đi làm?
Giọng cô gái như nghẹn lại:
– Khổ lắm bác sĩ.
Cô ngừng một chút để nén xúc động rồi nói tiếp:
– Ba con ỷ có bà Mỹ nuôi, không chịu đi làm. Tối ngày cứ đi nhậu với bạn bè, rồi nay đổi xe, mai đổi xe… Con nói ổng, chẳng những ổng không nghe mà còn chửi con: “Tiên Tổ mày! Tao đem mày qua đây đặng mày dạy đời tao hả!”
Lại ngừng một chút mới nói được, nói như trút hết ẩn ức còn lại:
– Có lần ổng xáng cho con mấy bạt tay đau điếng…
Rồi nghẹn ngào:
– Lần đó, con bỏ nhà đi hoang…
Nói xong, hít một hơi thật sâu rồi thở hắt ra một cái như vừa làm xong một việc gì thật khó!
Ông bác sĩ im lặng, tiếp tục châm, mà nghe thương hại cô bịnh nhân vô cùng. Cô ta cỡ tuổi con gái út của ông. Con gái út của ông đang học đại học, còn cô này thì đang sống trong hoàn cảnh quá bấp bênh. Cả hai đều Made In VietNam hết!
Châm xong, ông đặt tay lên cánh tay trần của bịnh nhân, vuốt vuốt như vuốt tay một đứa con đang cần được vỗ về an ủi:
– Cô cứ nằm yên như vầy độ mười lăm phút, nghen.
Tiếng “dạ” bỗng nghe như đầy nước mắt.
Sau khi gỡ kim, ông bác sĩ bóp tay bóp chân bịnh nhân một lúc rồi nói:
– Bây giờ thì cô mặc quần áo vào được rồi.
Cô gái ngồi lên nói “cám ơn” mà đôi mắt vẫn còn mọng nước. Cô bước vào sau bình phong, chậm rãi mặc quần áo, làm như cô muốn những xúc cảm hồi nãy có thời gian để thấm sâu vào lòng…
Khi cô bước ra, gương mặt cô đã trở lại rạng rỡ. Cô mỉm cười nhìn ông bác sĩ, rồi, vừa mở cái xắc đỏ vừa hỏi:
– Bao nhiêu vậy, bác sĩ?
– Không có bao nhiêu. Chừng chữa xong rồi cô hãy trả.
– Bác sĩ cho con trả mỗi lần, chớ đợi hết bịnh, tiền đâu con trả. Cái thứ đi làm lậu như con…
– Cô yên tâm. Rồi mình tính.
Ông bác sĩ đưa dĩa nữ trang:
– Cô đừng quên mấy thứ này.
Cô gái phì cười, không đeo vào người mà trút hết vào xắc, rồi hỏi:
– Chừng nào con trở lại nữa, bác sĩ?
– Tuần tới, cũng ngày này giờ này.
Bác sĩ mở tủ thuốc, chọn lấy ra hai chai có dán nhãn sẵn, trao cho bịnh nhân:
– Trên nhãn có ghi liều lượng: mỗi ngày, cô uống sáng trưa chiều, mỗi thứ hai capsule.
Ra đến cửa phòng mạch, ông bác sĩ già cầm bàn tay cô bịnh nhân trong hai bàn tay của ông, lắc nhẹ:
– Bớt hút thuốc đi, nghen! Từ từ rồi tôi sẽ chữa cho cô vụ ghiền thuốc nữa.
Ngập ngừng một chút rồi ông nói, giọng ôn tồn:
– Tôi muốn nói với cô điều này…
Cô gái chớp chớp mắt chờ. Chắc là lần đầu tiên cô được một ông già cầm tay một cách ân cần như vậy. Bác sĩ nói:
– Mình là người Việt Nam, ăn mặc theo “punk” không hạp với con người với bản chất của mình chút nào hết. Cô đâu có xấu mà cô làm cho xấu đi, uổng lắm! Mình phải xứng đáng là Made In VietNam, chớ cô.
Cô gái nhìn vào mắt ông bác sĩ, không nói gì hết, chỉ siết tay ông già một cái thật mạnh, rồi bước ra xe, một chiếc xe hơi cũ mèm phải đề tới bốn lần mới nổ máy!
o O o
Ông bác sĩ Lê ngồi uống cà phê với tôi ở khu Phước Lộc Thọ (Orange County – Nam Cali). Ông kể tiếp:
– Anh biết không, lần sau cô Kim đến phòng mạch, ăn mặc chải gỡ rất dễ thương. Chẳng có chút gì “punk” hết! Lần khám bịnh đó, tôi có hỏi cổ sao không về sống với thằng bồ ở Louisiane có phải hơn là sống cù bơ cù bất ở Cali. Cổ nói như mếu: “Ảnh có vợ rồi”. Tôi biết: như vậy là cổ kẹt thiệt. Tôi đem chuyện này kể cho vợ tôi nghe. Bả cảm động lắm nên đề nghị giúp tiền cho cổ học một cái nghề gì đó, uốn tóc, làm nail chẳng hạn, để có công ăn việc làm vững chắc hơn là đi làm lậu tầm bậy tầm bạ.
Tôi nói chen vào:
– Chắc gì cổ chịu. Nghe anh kể, tôi đoán chị này cũng tự ái lắm.
– Anh nói đúng. Cổ từ chối hoài. Sau nhờ vợ tôi mời cổ về nhà khuyên nhủ, coi như là trong thân tình, cổ mới chịu. Hôm đó, cổ ôm vợ tôi vừa khóc vừa nói: “Con cám ơn ông bà. Cám ơn ông bà”.
– Sau đó cổ có đi học thiệt không?
– Có. Học làm nail. Học giỏi nữa là khác.
– Cổ bây giờ ra sao rồi?
– Mới đầu làm thợ, làm công cho người ta. Bây giờ vừa làm thợ vừa làm chủ. Khá lắm!
– Mừng cho cổ, há!
– Cổ xách đồ nghề tới làm nail cho vợ tôi, con út và hai con dâu tôi thường lắm. Làm không lấy tiền. Cổ cứ nói với mấy con tôi: “Tôi chịu ơn ông bà bác sĩ biết đời nào mới trả cho hết, mấy cô biết không? Tôi không dám nói ra, chớ mỗi lần tôi cầm bàn tay của bà bác sĩ để làm nail, tôi vẫn nghĩ không có bàn tay này thì làm gì tôi thoát ra khỏi hoàn cảnh của tôi hồi đó để có những gì tôi có hôm nay…”
– Dễ thương quá!
– Noel, ngày Tết… cổ đều mang quà đến tặng vợ chồng tôi.
– Con người ở có tình có nghĩa quá, anh há!
– Đã hết đâu! Cổ còn nhớ đến ngày giỗ của ba má tôi nữa. Mấy ngày đó tụi con tôi có đứa quên chớ cô ta không bao giờ cô ta quên. Ngày đó, cô đem đồ tới cúng và ở lại phụ vợ tôi nấu nướng dọn giẹp nữa. Cho nên vợ tôi quí cô ta lắm!
Nói xong, bác sĩ Lê vỗ vai tôi, cười:
– Anh thấy không? Cô ta mới đúng là “Made In VietNam” đó! Còn nguyên chất, hè!
Ông Lê vui vẻ cầm tách cà phê vừa nhâm nhi vừa nhìn quanh. Người Việt Nam đi đầy trong thương xá. Cung cách có hơi khác nhưng nói năng thì y hệt như ở bên nhà. Một vài tiếng chửi thề rớt rơi đây đó, nghe rất tự nhiên. Bỗng ông quay sang hỏi tôi mà nghe như ổng tự hỏi ổng:
– Không biết ở xứ Mỹ này, đồng hương lưu vong, có ai lâu lâu nhớ lại rằng mình “Made In VietNam”, không?
– Có chớ anh! Nhưng cũng có người chẳng những không nhớ mà còn tự đóng cho mình con dấu “Made In USA” nữa, anh à. Thứ đó bây giờ thấy cũng nhiều !
Tôi đưa tách lên môi uống ngụm cà phê cuối cùng, bỗng nghe cà phê sao mà thật đắng…
Tiểu Tử