Trang chủ » Việt Nam Cộng Hoà (Trang 5)
Category Archives: Việt Nam Cộng Hoà
Nghề Làm Mẹ―Minh Nguyệt
Ngày nay, tại ngôi đình làng cũ tỉnh Sơn Tây có thờ bài vị của tướng quân Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã tuẫn tiết vào ngày 30/4/75.
Đó là cách ghi nhận của người đồng hương Sơn Tây với một chút tự hào. Và hình ảnh của ông vẫn trong lòng các con Lê Nguyên Quang, Lê Nguyên Minh, Lê Nguyên Chính và con gái út Lê Nguyên Đại Tường Vi tại miền Virginia Hoa Kỳ.
Từ một nữ sinh trường đầm kiêu sa, thành bà Tướng đầy uy quyền, rồi thế thời đổi thay thành thợ hớt tóc 30 năm dài để nuôi 4 người con nên người mang tên QUANG, MINH, CHÍNH, ĐẠI, đặt tên theo tâm niệm của người chồng chiến binh một đời anh dũng.
Đó là Bà Phan Thị Minh Yến, phu nhân Tướng Lê Nguyên Vỹ, vị tướng tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Lực VNCH, một trong 5 vị tướng Miền Nam đã tuẫn tiết để nêu cao khí phách anh dũng và để gìn giữ danh dự của một quân đội anh hùng trong biến cố 30/4/1975.
Vào năm 1954, cô Phan Thị Minh Yến còn rất nhỏ, nhà ở Cầu Đất, Hải Phòng bắt đầu theo cha mẹ di cư vào Nam. Cô gái Bắc Kỳ nhỏ nhỏ được gia đình cho học chương trình Pháp tại Sài Gòn và đã có câu chuyện tình từ năm 17 tuổi. Khi được 19 xuân xanh thì chính thức lập gia đình với một anh Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Lúc đó là mùa Xuân năm 1964. Chàng hơn nàng 10 tuổi. Nhưng trước sau cô Yến chỉ có một mối tình từ khi biết yêu cho đến lúc thành hôn. Tiếp theo là 10 năm làm vợ lính thời chinh chiến. Rồi bắt đầu làm mẹ. Những đứa con lần lượt ra đời. Các cháu Quang, Minh, Chính, Đại. Ba đứa con trai đầu lòng đặt tên với niềm tự hào của người cha cương trực sống trong một hoàn cảnh đất nước nghiêng ngả. Nhưng cô Út bé bỏng, xinh đẹp chỉ được gọi là em Đại ở trong gia đình. Khi ở ngoài lớp học thì đây là cô nhỏ Tường Vi của bà mẹ Hải Phòng.
Suốt thời gian thơ ấu, người cha đi chinh chiến đêm ngày. Các con phần lớn sống gần gũi và trông cậy vào mẹ. Tuy nhiên, hình ảnh người cha quân đội vẫn là chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ cho cả mẹ con.
Tháng 4 năm 1975, bà mẹ 29 tuổi dẫn 4 con từ 6 tuổi đến 10 tuổi di tản qua Hoa Kỳ. Người chồng chỉ huy đơn vị nên không có cơ hội tiễn chân vợ con. Lần chia tay sau cùng mà vợ chồng không biết là lần vĩnh biệt. Anh đã ra đi vào miền vĩnh cửu khi quân đội tan hàng. Không một mảnh khăn tang. Không một giọt nước mắt. Vợ con cũng không hề biết tin về cái chết của người thân yêu. Năm đó chưa 30 tuổi, cô Phan Thị Minh Yến trở thành góa phụ ở vậy nuôi con.
Qua Hoa Kỳ, một mẹ và 4 con nhỏ, Minh Yến bắt đầu bằng nghề cắt tóc. Cố gắng tự lập nuôi con. Vừa làm mẹ, vừa làm cha. Từ nữ sinh trường đầm ở Sài Gòn, trở thành vợ lính sống cảnh gia binh, rồi trở thành góa phụ.
Sau bằng ấy năm trời, các con đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, có cháu nội cháu ngoại. Hỏi rằng bây giờ chị làm gì? Còn làm gì nữa. Trước sau cũng chỉ làm một việc cắt tóc chải đầu.
Nhưng nghề chính là vừa làm cha vừa làm mẹ.
Làm mẹ thì cũng dễ vì đã làm mẹ từ Việt Nam. Nhưng làm cha cho những đứa con trai ở Hoa Kỳ mới thật khó. Tất cả đều phải quyết định một mình. Không bàn với ai được. Ba đứa con trai ở tuổi niên thiếu tại miền đất lạ. Biết bao nhiêu là khó khăn. Chuyện học hành, chuyện sinh sống, chuyện yêu đương của các cháu rồi đến chuyện hôn nhân. Cái gì cũng là chuyện của các con.
Khi được hỏi rằng thế chị làm ở tiệm tóc thì làm chủ hay làm thợ. Được trả lời rằng trước sau chỉ làm công mà thôi. Đã bảo rằng nghề chính là làm mẹ, nếu bôn ba mở tiệm, e rằng không có đủ thì giờ trông nom lũ nhỏ.
Hỏi rằng đi làm như vậy có gặp những điều gì khó chịu không. Trả lời rằng lúc đầu cũng thấy tủi thân lắm. Nhưng rồi thì cũng phải nhẫn nhịn cho quen đi. Vả lại, ở đây cũng không ai biết hoàn cảnh mình ra sao nên cứ việc mình, mình làm. Cũng thi lái xe, cũng lấy bằng, cũng tìm đường đi học nghề, đi làm và nuôi con. Vâng, việc chính là nuôi con.
Chị có buồn giận về chuyện anh nhà đã không đi vào năm 1975 hay không? Trả lời rằng, thì anh nghĩ coi, ai mà chả muốn có vợ có chồng. Các con muốn có đủ cha mẹ. Nhưng phần số đã như vậy thì mẹ con phải sống sao cho phải đạo với sự hy sinh của ông nhà tôi. Ông ấy mà còn thì cũng chỉ muốn cho các con của chúng tôi được học hành tốt nghiệp đại học, rồi dựng vợ gả chồng cho các cháu như bây giờ gia đình tôi đã được như vậy.
Ngoài việc hãnh diện về chuyện con cái, bà mẹ gốc Hải Phòng còn kể thêm với niềm hào hứng đặc biệt. Đó là mối liên hệ với mẹ chồng.
Số là ngay sau khi di tản qua Hoa Kỳ, gia đình được tin chồng chết nên đã tìm cách báo về Bắc cho bà mẹ già biết tin. Tội nghiệp chưa. Ông nhà tôi, lời chị Yến, cũng di cư vào Nam từ 54, mẹ con xa nhau 21 năm không liên lạc. Bây giờ bà cụ mới biết tin con dâu và các cháu ở Mỹ thì đồng thời cũng biết tin con trai đã qua đời.
Những năm đầu ở Hoa Kỳ cũng rất chật vật nên không tiếp tế được nhiều. Những năm sau này bắt đầu gửi tiền về miền Bắc cho bà cụ. Chính tôi là con dâu mà chưa hề biết mặt mẹ chồng. Đến khi liên lạc được thì chồng đã chết. Gia đình tôi và các cháu tiếp tục liên lạc về Bắc. Mấy năm gần đây cụ vào Nam gặp các bà chị tôi rồi thu xếp cải táng đưa di hài nhà tôi về Bắc. Xong công việc quan trọng, cụ mới qua đời mấy năm gần đây.
•••••
Vâng, thưa quý vị, tôi vừa kể hầu quý vị một câu chuyện của bà mẹ Việt Nam trong nghĩa vụ thay chồng làm cha thời hậu chiến kéo dài hơn 30 năm tại Hoa Kỳ. Một người thiếu nữ 10 năm làm vợ nhưng đã có đến 30 năm vừa làm cha, làm mẹ, và làm dâu hàm thụ qua thư tín.
Tại Hoa Kỳ, với vốn liếng Pháp văn và Anh ngữ của trường Đầm Sài Gòn, trước sau bà cũng vẫn chỉ là cô Yến làm tóc tại Hoa Kỳ. Bởi vì, người phụ nữ Việt Nam đơn giản này đã có một nghề cao quý vô cùng mà bà phải hết lòng theo đuổi. Đó là nghề làm mẹ. Do đó Ngày Của Mẹ hàng năm sẽ là ngày đặc biệt đối với những đứa con của bà.
Và mỗi năm, ngày tang 30 tháng 4 cũng là ngày giỗ bố của đám nhỏ. Bà mẹ Việt Nam tổ chức giỗ chồng bằng âm lịch nhưng vẫn dặn con vào ngày cuối tháng 4, dù ở đâu cũng phải dành cho bố những giây phút tưởng niệm.
Bởi vì thân phụ của các cháu đã chết đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ, người Sơn Tây, Bắc Việt, chết tại Lai Khê miền Đông Nam Phần.
Đối với lũ trẻ Quang Minh Chính Đại, ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào cũng là Ngày Của Mẹ.
Minh Nguyệt
Phân Ưu Anh Nguyễn An Cảnh, K13
Xin mời quý vị gởi lời phân ưu, an ủi, add a memory, write guest book, send flowers, v.v… đến Tang Quyến Anh Nguyễn An Cảnh Khóa 13 tại đây: Charlie Nguyen Obituary
Thời Đại Đầy Tanh Tưởi, Mãi Lưu Truyền Sử Xanh—Bùi Chí Vinh
Dân thì không có ăn
Mở mắt là chạy gạo
Tiền cứu trợ nhập nhằng
Cúm Tàu khô hết máu
Quan thì như bầy cáo
Ngó đâu cũng thấy vàng
Họp hành rồi sục sạo
Giá xăng dầu bắc thang
Đã nghèo còn chơi sang
Tặng không năm ngàn tỷ
Nước Anh cũng bàng hoàng
Tưởng hồng ân của quỷ
Dân Việt đang đột quỵ
Trẻ em chết không nhà
Người già thiêu không xác
Vậy tiền chùa đâu ra?
Vậy mà tiệc xa hoa
Bò dát vàng rắc muối
Quan ông lẫn quan bà
Coi dân như rác rưởi
Nhìn quan ăn, mắc ói
Miếng thịt, máu dân lành
Thời đại đầy tanh tưởi
Mãi lưu truyền sử xanh!
Thứ Bẩy 23 Tháng 10, 2021—Lễ Cắt Băng Khánh Thành Trung Tâm Phục Vụ Việt Mỹ Tại San Jose
Xin vui lòng quét mã ghi danh ở trên để nhận tickets (miễn phí) hoặc tìm hiểu thêm—ghi danh tham dự và nhận tickets tại đây: Vietnamese American Service Center—Ribbon Cutting Celebration
Hoa Lạc—Hoàng Thục Linh
Nhiễm COVID dù nhẹ, nửa năm sau vẫn còn nguy cơ tử vong—Trà My | VOA
Những Mất Mát Khi Bị Giải Phóng—Trần Mai Trung
“…Ngày 30 tháng 4, kẻ ác lên ngôi. Người dân Miền Nam bị giải phóng, bị cướp đi nhiều giá trị tinh thần và vật chất. Với lịch sử hơn 4.000 năm, người Việt Nam sẽ lấy lại tự do, công bằng, đạo lý dân tộc cho nước Việt Nam, người dân sẽ lấy lại những gì bị mất…”
Cuối tháng 8-1944, quân đội đồng minh Mỹ, Anh, Pháp tiến vào Paris trong giai đoạn cuối của Đệ Nhị Thế chiến. Họ được hàng trăm ngàn người dân Thủ đô đứng hai bên đường chào đón, ôm hôn, tặng hoa. Mấy tháng sau, rồi mấy năm sau, hầu hết người dân vẫn tiếp tục sống ở Paris để xây dựng lại thành phố.
Cuối tháng 4-1975, quân đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, hàng trăm ngàn người Miền Nam chạy tránh xa. Đa số người dân lo âu nhìn đoàn quân, không biết có giống đoàn quân đã giải phóng Huế vào Tết Mậu Thân năm 1968 hay không. Mấy tháng sau, rồi mấy năm sau, chính quyền cộng sản (CS) ép buộc hàng trăm ngàn người dân phải rời Sài Gòn, đi các vùng “kinh tế mới”, đất cày lên sỏi đá. Hơn 2 triệu người dân Việt Nam không chịu đựng nổi chế độ cộng sản, cũng rời quê hương đi tị nạn ở nước khác. (*)
Đảng CS Liên Xô muốn phát triển chủ nghĩa CS trên thế giới, đảng CS Trung Quốc muốn phát triển chủ nghĩa CS ra châu Á, đảng CS Việt Nam có nhiệm vụ phát triển chủ nghĩa CS ở Đông Dương. Nếu kêu gọi thanh niên đi đánh nhau để phát triển chủ nghĩa CS thì không ai đi, nên đảng CSVN đưa ra khẩu hiệu ‘giải phóng Miền Nam’ để lường gạt thanh niên Miền Bắc đi ra chiến trường.
Đảng CS vẽ ra người dân Miền Nam nghèo khổ, bị ngoại bang kềm kẹp, để tuyên truyền thanh niên Miền Bắc vào đánh Miền Nam, ép buộc người dân Miền Bắc thắt lưng buộc bụng để nuôi chiến tranh. Thật ra thì người dân Miền Nam có cuộc sống khá hơn người dân Miền Bắc, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ở Miền Nam là của người Việt Nam. Như các nước mới giành lại độc lập, chính quyền VNCH bị ảnh hưởng của Hoa Kỳ về quân sự, kinh tế, cũng như chính quyền VNDCCH ở Miền Bắc bị ảnh hưởng của Liên Xô, Trung Quốc về quân sự, kinh tế, ý thức hệ CS. Đúng ra hai Miền nên lo xây dựng đất nước để tự chủ, tự cường hơn là đánh nhau.
Trước năm 1975, người dân Miền Nam có đời sống kinh tế đầy đủ hơn người dân Miền Bắc. Miền Nam có nền giáo dục Việt Nam, nhân bản, khác với Miền Bắc có nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Thầy cô Miền Nam dạy học sinh yêu đất nước và thương đồng bào, thầy cô Miền Bắc dạy học sinh yêu đảng và phân chia nhân dân thành nhiều giai cấp. Về văn hóa, báo chí thì Miền Nam có một số tự do, văn nghệ sĩ sáng tác theo cảm nghĩ của mình, ở Miền Bắc thì đảng CS lãnh đạo tất cả, văn nghệ sĩ sáng tác theo đường lối của đảng.
Hai triệu thanh niên Miền Bắc mang súng đạn vào “giải phóng Miền Nam”, một triệu thanh niên Miền Nam vào quân đội chiến đấu bảo vệ Miền Nam tự do. Cuộc chiến kéo dài 20 năm, mấy triệu người VN bị chết, bị thương tật. Miền Bắc muốn giải phóng Miền Nam nhưng người Miền Nam không muốn bị giải phóng. Người dân Miền Nam muốn thống nhất trong hòa bình chứ không muốn bị áp đặt bằng chiến tranh, muốn giữ gìn những tự do, nhân phẩm đang có, không muốn bị người khác đến cướp đi, không muốn bị cai trị bởi một đảng độc tài.
***
Khi quân đội Bắc Việt tấn công Quảng Trị, nhiều người dân bỏ tất cả để chạy vào Huế. Khi quân đội Bắc Việt tấn công Huế, nhiều người dân bỏ nhà cửa để chạy vào Đà Nẵng, có lúc số dân các nơi chạy về Đà Nẵng tị nạn cộng sản lên tới cả triệu người. Khi quân đội VNCH “di tản chiến thuật” khỏi Kontum, Pleiku, hầu hết người dân bỏ thành phố đi theo về vùng quốc gia. Biết là đường đi gian khổ mà vẫn đi, vì dân chúng không muốn bị giải phóng.

Năm 1970, bà Nguyễn Thị Mai Anh, phu nhân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, vận động quyên tiền từ thiện để xây một bệnh viện cho dân nghèo. Tháng 8-1970, đặt viên đá đầu tiên. Ngày 4-9-1971, bệnh viện Vì Dân được khánh thành và bắt đầu hoạt động với 400 giường bệnh. Người dân vào khám chữa được miễn phí, không trả tiền viện phí và các loại thuốc thông dụng.


Sau 30-4-1975, chính quyền CS ra quyết định số 07/QĐ75, giải phóng bệnh viện Vì Dân ra khỏi tay dân nghèo, đổi tên là bệnh viện Thống Nhất, dành riêng cho cán bộ cao cấp và trung cấp.
Giám đốc bệnh viện là Đại tá Nguyễn Thiện Thành của quân đội Bắc Việt. Thành có con trai là Nguyễn Thiện Nhân, sau này làm Bí thư thành ủy Hồ Chí Minh. Cuối năm 2020, Nhân lợi dụng chức vụ lấy tên cha đặt cho một con đường ở thành Hồ. Một ngày không xa, Việt Nam sẽ có dân chủ, người dân sẽ đặt tên con đường là tên của người xây bệnh viện, chứ không phải là tên của kẻ cướp bệnh viện.
Người dân mất bệnh viện là một thí dụ của bị giải phóng. Sau 30-4-1975, hàng triệu gia đình bị mất nhà, mất đất, mất sự sum họp gia đình khi cha anh bị bắt vào tù cải tạo, khi con em chạy đi tị nạn ở nước khác. Tuổi trẻ Miền Nam bị mất sự bình đẳng trong cơ hội học hành và làm việc. Đạo lý biến mất khi trẻ em bị huấn luyện phải yêu bác Hồ nào đó hơn là yêu cha mẹ mình.
Bị giải phóng là mất tự do. Trước kia người dân có quyền phát hành sách báo, bây giờ đảng CS độc quyền tất cả cơ quan truyền thông. Trước kia Miền Nam có nhiều đảng phái, bây giờ chỉ có 1 đảng cộng sản. Trước kia người dân có quyền phê bình chế độ Cộng hòa, bây giờ phê bình chế độ Cộng sản thì bị xem là chống nhà nước, bị bắt vào tù.
Người dân bị giải phóng là bị mất nhiều thứ, người cầm đầu giải phóng thì được lợi nhiều thứ. Thời kỳ đầu, tất cả ruộng đất thuộc về Hợp tác xã (HTX), tức là của đảng CS bởi vì đảng độc quyền chỉ định đảng viên điều hành HTX. Sau cải tạo công thương nghiệp thì đảng CS là ông chủ các hãng xưởng vì đảng độc quyền chỉ định đảng viên làm lãnh đạo các hãng xưởng. Ngày nay, đảng CS là ông chủ tất cả đất đai ở Việt Nam, nhân dân mang tiếng làm chủ nhưng chỉ được thuê đất, đảng có quyền nói đảng viên ra quyết định thu hồi đất bất cứ lúc nào.
Đảng CS bày ra chiến tranh giải phóng, người dân bị lợi dụng xương máu để thay đổi ông chủ cũ bằng ông chủ mới là đảng CS sở hữu tất cả. Làm chủ đất đai, ngân hàng chưa đủ lòng tham, đảng còn muốn làm chủ tư tưởng của người dân, mọi người chỉ được khen đảng tốt chứ không được chê đảng xấu. Người dân bị tuyên truyền để suy nghĩ theo định hướng của tuyên giáo đảng, xem cương lĩnh đảng quan trọng hơn Hiến pháp Việt Nam, đặt đảng cộng sản lên trên Tổ quốc Việt Nam, quân đội trung với đảng trước rồi mới trung với nước sau.
Ngày 30 tháng 4, kẻ ác lên ngôi. Người dân Miền Nam bị giải phóng, bị cướp đi nhiều giá trị tinh thần và vật chất. Với lịch sử hơn 4.000 năm, người Việt Nam sẽ lấy lại tự do, công bằng, đạo lý dân tộc cho nước Việt Nam, người dân sẽ lấy lại những gì bị mất.
Trần Mai Trung
(*) Ôn lại một số đặc điểm trong lịch sử tị nạn Việt Nam từ 1975—GS. Lê Xuân Khoa.
Phân Ưu Cựu Trung Tướng Chỉ Huy Trưởng
Xin mời xem một số hình ảnh Tang Lễ Cố Trung Tướng Lâm Quang Thi tại đây: Tang Lễ Cố Trung Tướng Lâm Quang Thi
Phân Ưu Anh Lê Văn Cưu, K17
Tưởng Nhớ Bạn Lê Văn Cưu—Song Vũ
Trường Võ Bị tuyển sinh ngoài những tiêu chuẩn về học vấn, còn đòi hỏi thêm những điều kiện như chiều cao tối thiểu 1m60, có sức khỏe tốt, độc thân và cam kết không kết hôn trong suốt thời gian theo học 4 năm…
Trong khi chờ đợi tại Biệt Khu Thủ Đô cho đủ số người được lệnh tập trung để di chuyển lên trường, có hai bạn cùng xớ rớ mang theo túi xách quần áo nhập trong đoàn. Ngoại trừ những bạn quen biết nhau từ ngoài đời qua các lớp học chung hoặc cùng trường, phần còn lại chúng tôi không quen biết nhau nên chúng tôi chia thành những nhóm nhỏ trò chuyện cho qua giờ. Đúng ba giờ chiều toàn bộ toán học sinh chúng tôi được lệnh lên xe di chyển ra sân ga xe lửa lúc đó còn ở gần chợ Bến Thành. Rồi sau đó lên tàu đi Đà Lạt. Khi đoàn tầu tới ga Krong Pha để thay đầu máy có bánh răng cưa để leo núi thì hai anh bạn mới tới chào từ biêt anh chàng trung sĩ dẫn đoàn chúng tôi. Anh trung sĩ ngạc nhiên hỏi:
– Ủa sao hai em không đi luôn lên Đà Lạt?
Hai anh bạn thú thật là đã bị loại, một do hình phổi chụp có vết mờ, còn bạn kia vì thiếu thước tấc không đủ 1m 60. Gặp đúng anh chàng trung sĩ vui tính, anh này bàn ra:
– Hai em đã đi Đà Lạt bao giờ chưa?
– Chưa. Cả hai đồng thanh trả lời.
– Thế thì cứ theo tôi lên chơi một lần cho biết, sau đó lấy cớ dẫn hai em về Nha Trang, tôi sẽ ra Nha Trang chơi luôn!
Thế là cả ba lại tiếp tục cuộc hành trình.
Chúng tôi tới sân ga Đà Lạt khoảng 10 giờ sáng ngày 11/11/1960. Tại đây chúng tôi thấy một đoàn convoy 10 chiếc GMC đang xếp hàng chờ. Chúng tôi tất cả được lệnh lên xe di chuyển về trường. Hai anh bạn chẳng biết ất giáp ra sao cũng leo lên xe đi đại cho biết trường Đà Lạt ra sao!!
Đoàn xe dừng trong khuôn viên trường Võ Bị vào buổi trưa. Quang cảnh đập vào mắt chúng tôi là hình ảnh các SVSQ khóa 15 đầu đội nón nhựa, quần áo kaki vàng nai nịt gọn ghẽ uy nghiêm đứng sắp hàng ngang thao diễn nghỉ chờ lệnh. Sau khi chờ ít phút, chúng tôi kéo nhau vào phòng khánh tiết của trường để coi hình ảnh các khóa chụp lưu niệm treo đầy trên tường. Nói chung trong lòng chúng tôi rất háo hức muốn gia nhập vào đời sống mà chúng tôi nghĩ sẽ mang tới cho chúng tôi nhiều thích thú bất ngờ! Mà bất ngờ thiệt, chỉ vì sau đó ít phút, chúng tôi được gọi tên cùng mang theo hành lý ra xếp hàng sau mỗi SVSQ cán bộ tiểu đội trưởng đang đứng đón chờ chúng tôi ngoài sân trường.
Tiếp theo sau đó là lệnh chạy bộ theo SVSQ tiểu đội trưởng. Các tiểu đội nối đuôi nhau chạy lúp xúp theo đàn anh. Cả sân trường trở thành một hoạt cảnh huyên náo chưa từng có. Lũ học sinh chúng tôi sau một đêm mất ngủ trên tầu tưởng đâu tới trường sẽ được cho nghỉ ngơi lãnh quân trang đồ đạc. Nào hay… Các bạn có túi xách nhẹ thì còn đỡ, những bạn mang cả va li quần áo thì ôi thôi vừa vác lên vai vừa chạy vừa thở không ra hơi. Có bạn mệt quá lăn kềnh ra sân cỏ ngồi thở hổn hển hy vọng “đàn anh” ngó lại thương tình cho nghỉ mệt!
Nào hay các đàn anh mặt vẫn tỉnh queo như chẳng hề quen biết, la hét yêu cầu đứng dậy tiếp tục chạy!
Hai anh bạn tôi vì không có tên trong danh sách của đoàn đành đứng ở góc sân quan sát, có thể các bạn ấy cũng “hú vía” may mà mình không được kêu tên cũng nên!
Thiếu tướng Lê Văn Kim lúc đó là chỉ huy trưởng của trường. Ông lững thững cầm chiếc can chỉ huy đi từ phòng làm việc ra đi dạo quanh sân quan sát. Khi phát hiện ra có hai học sinh còn đứng ngoài lề cỏ không tham gia đội hình đang chạy, ông cho gọi một niên trưởng khóa 15 lại hỏi lý do.
SVSQ khóa 15 tới chỗ hai anh bạn một cao một thấp này hỏi tình trạng của hai người.
Anh chàng cao trả lời:
– Chúng tôi bị loại vì sức khỏe và chiều cao.
SVSQ nọ đến trình diện CHT và cho biệt sự tình. Tướng Kim tới gặp hai người rồi hỏi:
– Hai em có muốn theo học khóa này không?
Cả hai mừng quýnh:
– Dạ thưa thiếu tướng muốn…
Thiếu tướng Kim ra lệnh cho SVSQ cán bộ khóa 15 điền tên hai người vào danh sách và hai anh chàng lại tiếp tục nối đuôi vào đám bạn đang chạy phờ phạc kia.
Thực tình chúng tôi cũng chẳng ai biết câu chuyện này cho tới khi chính một trong hai người tâm sự kể cho cả phòng nghe câu chuyện hy hữu này. Nói tới đây chắc các bạn đã đoán ra hai anh chàng đó là ai chưa?
Xin nói ngay anh chàng thiếu thước tấc đó là Lê Văn Cưu và anh chàng còn lại là Huỳnh Văn Lượm. Ngày 30 tháng 3/1963 ngày mãn khóa 17. Lượm và Cưu đều cùng chọn về binh chủng TQLC. Cả hai người đều là những sĩ quan có nhiều thành tích trong chiến đấu của binh chủng này. Cưu là người thăng cấp đặc cách tại mặt trận lên đại úy trước cả các khóa đàn anh ra trước 15, 16. Còn Lượm mang cấp bậc trung tá, chức vụ lữ đoàn phó trước ngày 30 tháng 4/1975.
Trung tá Huỳnh Văn Lượm mất tại trại Z30A Xuân Lộc còn bạn Thiếu tá Lê Văn Cưu từ biệt bạn hữu chúng ta mới đây.
Tôi vẫn nghĩ, nếu không có một anh chàng trung sĩ vui tính và một vị CHT tốt bụng thì chắc khóa 17 chúng ta đã không có hai sĩ quan tài năng này.
Song Vũ, K17





























