Trang chủ » Nữ Công Gia Chánh » Tiêu Khiển (Trang 7)

Category Archives: Tiêu Khiển

Best Movies Of All Time 2012

The Bear—Film by Jean Jacques Annaud

Người Lính Không Có Số Quân—Trần Như Xuyên K21

Tối đó, tôi dẫn Đại đội tới điểm đóng quân đêm, đây là ngày đầu tiên tôi nắm Đại đội, sáng nay có cuộc bàn giao ở Tiểu đoàn, người Đại đội trưởng tiền nhiệm,cũng là khóa đàn anh của tôi, có sự vụ lệnh đi học khóa quân chánh.

Ra trường được sáu tháng, từ anh Thiếu úy mới tò te ra trường, giờ đã lên nắm Đại đội, quả là thời gian hơi nhanh so với những đứa bạn cùng khóa ở các binh chủng khác như Nhẩy dù, Thủy quân lục chiến…, có lẽ họ vẫn còn đang thực tập ở Trung đội hay là Trung đội trưởng mà thôi. Tôi nắm Đại đội hơi nhanh không phải vì mình tài giỏi gì mà năm 67 khi ra trường, như bao đứa bạn khác chọn đi Bộ binh, các đơn vị rất thiếu sĩ quan, như Tiểu đoàn tôi về chẳng hạn, có Đại đội xử lý là một Chuẩn úy, gọi là xử lý cũng không đúng vì trong cấp số coi Đại đội thì tối thiểu phải là Thiếu úy, nhưng không hiểu sao vào những năm này, sĩ quan quá thiếu, bởi vậy khi vừa tới Trung đoàn, nghe tin có mấy sĩ quan Đà lạt mới ra trường là các đơn vị nhao nhao lên xin, tôi được đưa về Tiểu đoàn 4/46 thì một ông đàn anh khóa 16 đang làm Đại đội trưởng xin ngay tôi về. Ông tên Hồ Trang, khóa 16, ở miền Trung bị thuyên chuyển vào Nam vì dính dáng tới vụ Phật Giáo, ngoài đó ông đã là Tiểu đoàn phó nên vị Tiểu đoàn Trưởng cũng có hơi nể, quay quắt vì việc phải thuyên chuyển xa nhà, bị giam lon, giam chức nên ông gắt gỏng như mắm tôm, ông nghiêm khắc với mọi người nhưng rất chí tình trong việc chỉ bảo cho tôi từng ly, từng tí việc chỉ huy mà dầu sao tôi cũng còn quá mới, quân trường dậy là một chuyện, ra đây đụng với thực tế lại là một chuyện khác.

Cứ như vậy, những lần hành quân, ông cho tôi ở cạnh để học hỏi hoặc cho xuống trung đội để thưc tập, 6 tháng sau, khi thấy tôi đã tàm tạm gọi là đủ lông, đủ cánh bay solo được, ông nói với Tiểu đoàn Trưởng và bàn giao Đại Đội lại cho tôi, trước đó, ông đã thu xếp người Đại đội phó đi học để tôi coi ĐĐ. được danh chính ngôn thuận.

Nói về tối đầu tiên tôi dẫn ĐĐ. đi đóng quân đêm, thường tọa độ đóng quân đêm cùng các điểm phục kích do Tiểu đoàn chấm, tối đó đang di chuyển trên đường tôi thấy có một người đàn bà đi lẫn trong toán đại liên, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, thường vụ đại đội, ông ta đi lính hồi tôi còn học Tiểu học:
– Ai vậy ông Hội, sao có đàn bà lẫn lộn vào đây?
– Thưa Thiếu úy, đó là vợ thằng Nở, xạ thủ đại liên, nó ở với Đại Đội lâu rồi, hồi còn Trung úy Trang, ông cũng cấm nhưng chỉ được vài ngày là nó lại lẻn xuống sống với chồng nó.
– Tôi thấy không được rồi đó ông, lỡ đêm Việt cộng tấn công thì làm sao, thằng Nở chỉ lo cho vợ nó thì còn đánh đấm gì được.
– Thiếu uý đừng lo, vợ nó phụ nó rất đắc lực, chị ta biết xử dụng đại liên, biết tiếp đạn cho chồng, rồi Thiếu úy coi, hễ rảnh là nó lại lau chùi cây đại liên nữa.
– Nhưng lỡ có chuyện gì làm sao mình báo cáo.
Hôm sau tôi gọi Nở lên trình diện:
– Sao cậu không để cho vợ cậu ở nhà mà cho đi theo Đại đội như vậy, lỡ có chuyện gì thì sao?
– Thưa Thiếu úy, con Ba nó mồ côi từ nhỏ, không có nhà, em đã đưa nó về với má em rồi nhưng má em không ưng nó, cứ kiếm chuyện với nó hoài, cho nó theo ĐĐ, thấy cũng bất tiện, em biết chứ.
Nở thực hiện lời “em biết chứ”, vài ngày sau, tôi không thấy vợ Nở đi chung trong toán đại liên nữa, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, ông ta cho biết Nở đưa vợ ra bến xe về quê mấy bữa nay rồi, tôi có hơi băn khoăn nhưng nghĩ vậy cũng phải, lỡ có chuyện gì thì làm sao, rồi má con sẽ phải hòa thuận với nhau chứ.
Một hôm, Hạ sĩ quan quân số cầm về xấp thư của ĐĐ đưa cho tôi, trước đó tôi có dặn anh ta là thỉnh thoảng phải kiểm soát thư từ của binh sĩ xem biết đâu có đứa bị móc nối. Tôi dở xấp thư ra coi thấy có một lá đề tên Nở, khi tôi coi ĐĐ thì Nở không biết chữ, sẵn dịp, tôi hỏi các Trung đội xem còn ai không biết chữ gom tất cả lại, đâu cũng được 5,6 người, tôi nói Trung sĩ Hiển, Hạ sĩ quan CTCT mua tập vở về dậy họ học, “ngày mãn khóa”, tôi kêu từng người đưa tờ Chiến sĩ Cộng Hòa cho đọc, ai đọc được, tôi thưởng cho bốn ngày phép, Hạ sĩ Nở biết chữ từ ngày đó.
Có bốn ngày phép, Nở không đi đâu cả, anh ta và vợ quanh quẩn chơi ở mấy nhà quen trong xã, hết bốn ngày, Nở về lại ĐĐ.

Tôi mở lá thư của Nở ra đọc:
Long Xuyên, ngày….
anh hai thương, em diết thơ nầy cho anh là lúc ba giờ phia, em chờ má ngủ mới dám diết cho anh, anh hai ôi, em nhớ anh quá hà, sao số kiếp cứ đài đọa tụi mình hoài, nhớ những lúc điêm tối cùng anh đi đóng quân, dầu gì vợ chồng được gần nhau cũng hơn há anh, hôm anh tiễn em ra bến xe em buồn quá, lúc xe chạy, em thấy như mất mác cái gì quí báo, em khóc ước cả mắt, em cố chìu chuộng má mà má vẫn hổng thương em, thôi để em lên quỳ xinh với ông thiếu úy để em được đi theo anh, liệu được hôn anh, diết thơ nầy xông, mơi sẽ gởi cho anh, anh hai nhớ trả lời em nghe.
Em, Ba.

Một tuần lễ sau khi đọc lá thư của Hạ sĩ Nở, buổi tối dẫn Đại Đội đi đóng quân, tôi lại thấy cái dáng nhỏ bé ấy đi chung với toán đại liên, lẫn vào hàng quân, không biết anh Hai có trả lời, trả vốn gì không hay nhớ chồng lên đại, tôi thấy chị ta cố lẩn vào đám đông, chắc sợ tôi nhìn thấy, hoặc có thể biết tôi đã thấy nhưng làm nước liều, có điều hôm nay không mặc bộ bà ba đen thường lệ mà là bộ đồ trận rộng thùng thình, đầu còn đội nón sắt, chị ta tính ngụy trang che mắt tôi, tôi cười thầm trong bụng khi thấy vợ Nở cuốn nguyên một dây đại liên quanh người, tôi mong chị ta đừng gặp tôi mà xin gì cả, chẳng thà để tôi lờ đi như không biết còn hơn là hợp thức hóa cho khó xử.

Năm 67, các Tiểu đoàn Bộ binh thường có ba Đại đội tác chiến, chia nhau vùng trách nhiệm họat động, hành quân lục soát từng ĐĐ chung quanh bộ chỉ huy TĐ, đôi khi có cuộc hành quân cấp Tiểu đoàn thường là nhẩy trực thăng và xa hơn. Ba Đại đội trưởng tác chiến đều cùng khóa 21 Đà Lạt gồm Th/U Vũ đình Hà (ĐĐ1), Th/U Lê xuân Sơn(ĐĐ2) và tôi ĐĐ3.
Một tối, Đại đội 1 bị tấn công, ĐĐ2 tối đó đóng xa, giữ con đường từ Long Thượng về Cần Giuộc, tôi nằm cách Hà (ĐĐ2) khỏang 500 thước, Tiểu đoàn mất liên lạc với Hà, kêu tôi lên tiếp cứu, chỗ Hà nằm tôi biết rõ vì đã từng đóng quân ở đây, chắc chắn là địch tấn công từ ngã rạch tấn công ra, tôi dẫn Đại đội chạy băng lên vì tình người bạn cùng khóa, tôi cho Đại đội bắn chặn nơi đầu rạch, nhưng vì không liên lạc được với Hà, tôi sợ quân ta bắn lầm quân bạn, tôi chạy lại cây đại liên, cho chuyển hỏa lực về bên trái, dưới ánh sáng của pháo binh Cần Giuộc, tôi thấy vợ Nở nằm cạnh chồng, tay nâng dây đạn, Nở đang nghiến răng bóp cò, nhả từng loạt đạn về hướng địch.

Như tôi đã nói ở trên, dạo đó ở Long An VC chưa nhiều, chắc khoảng hai chục tên, đợi mình ơ hờ, liều lĩnh tấn công. Cũng tại nơi con rạch này, ít lâu sau, ĐĐ tôi hành quân lục soát ở đây và đụng nặng, sở dĩ đụng nặng vì địch tụ ở đâu về, ém quân trong đám dừa lá dầy đặc như vùng bất khả xâm phạm, chắc chúng tập trung ở đây, đợi đêm xuông có giao liên dẫn chúng xâm nhập Đức Hòa, Đức Huệ rồi qua Campuchia, chúng không ngờ ta lùng sục, chúng buộc phải chống trả.
Đám dừa nước cao ngất che dọc theo con rạch, hướng ĐĐ tiến vào là đồng trống, suốt vùng Long An này chỗ nào cũng vậy, bất ngờ ban đầu làm ta có ba binh sĩ bị thương và một chết, tôi xin pháo binh và Cobra lên vùng, hồi đó gọi máy bay ném bom còn là một điều mới mẻ, vũ khí xử dụng là của thời đệ nhị thế chiến, toàn là Garant, Carbin, cả Thompson nữa, ấy vậy mà cây đại liên 30 của Hạ sĩ Nở cũng có tác dụng. Nở người hơi thấp nhưng rất khỏe, một mình vác cây đại liên cả với chân ba càng, mỗi lần pháo bắn hay trực thăng phóng rocket là anh ta chạy nhào lên cho gần mục tiêu, lúc đó địch còn lo núp. Khi đã rất gần mục tiêu và có gò đất làm điểm tựa chắc chắn, cây đại liên mới phát huy được hiệu quả của nó, từng loạt đạn bắn ra làm bọn VC không ngóc đầu lên được, cộng thêm pháo và trực thăng bắn liên tục, ĐĐ chiếm được mục tiêu lúc gần tối, địch bỏ lại 6 xác và một số vũ khí. Trận đánh như thế này không đáng kể gì so với sau này khi SĐ 25 rời Long An di chuyển về vùng trách nhiêm mới là Tây Ninh, cuộc hành quân vượt biên năm 1970 cũng như ở Bình Long mùa hè đỏ lửa thì chiến trận lên tới cấp Sư đoàn, Quân đoàn.

Sáng hôm sau, Tướng Phan trọng Chinh, Tư lệnh SĐ xuống quan sát trận đánh và gắn huy chương, tôi đề nghị với TĐT thăng cho Nở lên Hạ sĩ nhất nhưng Tướng Chinh là người rất ngặt nghèo trong việc ban thưởng huy chương và thăng cấp, Nở chỉ được cái huy chương đồng, ông bảo huy chương đồng của SĐ 25 bằng huy chương vàng của các nơi khác (!)
Hai ngày sau ĐĐ còn được nghỉ dưỡng quân, tôi xuống tổ đại liên chơi, cả toán đang ngồi ăn cơm, tôi thấy vợ Nở đang mân mê cái huy chương của chồng, thấy tôi, chị có vẻ ngài ngại gật đầu chào rồi bỏ vào trong nhà, tôi nghĩ giá tôi có quyền, tôi sẽ tặng cho chị ấy một cái huy chương của buổi tối yểm trợ cho Vũ đình Hà.
Đầu năm 1968, tôi được đề cử theo học khóa Tác chiến trong rừng ở Mã Lai, tôi còn gắn bó với ĐĐ hơn một tháng nữa. Một buổi sáng, đang đứng trước cửa ĐĐ thì vợ Nở bất chợt ngang qua, chắc đi chợ về, thấy tôi, chị ta khựng lại muốn thối lui nhưng không kịp, chị ta làm gạo bước tới và khi ngang qua tôi, vợ Nở mím môi lại và dơ tay chào theo kiểu nhà binh, tôi ngạc nhiên, trong một phản xạ, tôi chào lại, chào xong, tôi mới ngẩn người ra nghĩ: sao mình lại chào nhỉ, hóa ra ĐĐ này có một nữ quân nhân ư? Có lẽ chị ta thấy mọi người trong ĐĐ chào tôi nên khi gặp, chị cũng chào để cho giống như những người kia chăng! Tôi thấy hình như bụng vợ Nở có hơi to ra. Tôi đem điều này hỏi Thượng sĩ Hội thì ông ta bảo: có vẻ như vậy Trung úy.
Tôi gọi Nở lên:
– Vợ cậu có bầu phải không?
– Dạ, thưa Trung úy.
– Vậy thì cậu phải đưa cô ta về với bà già đi chứ, bầu bì rồi đi theo ĐĐ mãi sao được, phải lo sức khỏe cho cô ta.
– Dạ, em cũng tính tháng này lãnh lương xong, Trung úy cho em cái phép để em đưa nó về gởi bà già.
– Được rồi, lúc nào muốn cứ lên đây.

Hai ngày sau, Đại Đội được lệnh đóng quân đêm và tổ chức một cuộc phục kich ở sau lưng quán Năm Ngói, một địa danh nổi tiếng về sự khuấy rối của VC nơi đây, tối đó, ĐĐ chạm địch, một tốp nhỏ bọn chúng gặp toán phục kích, hai tên bị bắn hạ, số còn lại nhập qua toán kia thì đụng phải ĐĐ, nhờ toán phục kích nổ súng trước nên ĐĐ không bị bất ngờ, địch bắn rất rát nhưng không chủ ý tấn công nên sau một hồi, chúng rút lui, hình như có chuyện gì xẩy ra ở cây đại liên vì tôi thấy nó nổ được một chập thì im bặt, tôi đảo nhanh vòng quanh tuyến phòng thủ, không có tổn thất nào, nhưng khi tới cây đại liên, tôi thấy có mấy người lố nhố, linh tính cho tôi biết có chuyện không hay, tôi hỏi giật giọng:
– Gì vậy Nở?
Không có tiếng trả lời, tôi bước vội tới, thấy Nở ôm vợ, y tá Thọ đang loay hoay băng vết thương nơi ngực chị ta, thấy tôi, Nở nghẹn ngào:
– Vợ em nó chết rồi Trung úy ơi!
Tôi ngồi xuống, chị ấy bị trúng đạn ở ngực, máu ướt đẫm cả cái áo trận, y tá Thọ đứng lên:
– Chết rồi Trung úy.
Tiếng thằng Năm trong toán đại liên:
– Súng bị kẹt đạn, thằng Nở kéo mãi đạn không lên, con Ba nó chồm dậy mở nắp cơ bẩm, em la nó nằm xuống nhưng không kịp Trung úy.

Tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ họng, từng chứng kiến nhiều cái chết nhưng lần này tôi thật xúc động. Thôi, chị Nở, từ nay chị hết cần phải tránh né tôi nữa rồi, sao tôi lại không cứng rắn hơn nữa với chị, giá tôi đừng tình cờ đọc được lá thư chị viết cho chồng, ừ, đáng lẽ tôi phải cứng rắn hơn, nhất định không cho chị đi theo ĐĐ như vậy.
Tôi báo với Thiếu tá Hải, Tiểu đoàn Trưởng về sự việc xẩy ra, ông có biết vợ chồng Nở, ông cho Sĩ quan CTCT/TĐ mua cái hòm, cấp cho Nở một cái xe Dodge để đưa vợ về quê mai táng. Tôi lấy hết tiền có thể có được, cả tiền quỹ ĐĐ đưa cho Nở, buổi trưa cuối năm, trời hơi lành lạnh, chiếc xe chở Nở và quan tài vợ đi ngang qua ĐĐ, tôi đứng nghiêm chào như một lần chị đã chào tôi, chị chết đi mà cái hòm không có phủ cờ, không được mười hai tháng lương, không cả được lên cấp chỉ vì chị là NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN.
Mười ngày sau, Nở trở lại đơn vị, trước ít ngày tôi về SG để chuẩn bị đi học, Nở đào ngũ, có lẽ Nở không chịu được cái cảnh mỗi tối vác cây đại liên tới chỗ đóng quân mà không có vợ bên cạnh.

*

Chị Nở thân mến,
40 năm sau ngày chị mất, hôm nay tôi ngồi viết lại chuyện này về chị, chỉ là một sự tình cờ thôi, hôm nọ tôi đọc loáng thoáng đâu đó người ta nói về những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược trước đây, tôi chợt nhớ tới chị, một người không phải là quân, cũng không hoàn toàn là dân, gọi chị là gì nhỉ, chị lưng chừng ở giữa nhưng đã chiến đấu như một người lính thực thụ và đã hi sinh.

Một lý do nữa để tôi viết về chị là vì mới đây, Cộng Sản Việt Nam đã làm ầm ĩ lên câu chuyện về Đặng thùy Trâm, một nữ cán binh CS xâm nhập vào Nam và đã chết ở chiến trường Quảng Ngãi, cô Trâm này chết ở đây nhưng không ai biết nắm xương khô vùi chôn nơi đâu, một người lính Mỹ hành quân qua nơi cô chết và nhặt được cuốn nhật ký của Đặng thùy Trâm, cuốn nhật ký này, như một kỷ niệm chiến tranh của người lính, anh ta đem nó về Mỹ, mấy chục năm sau, nó mới được đưa ra ánh sáng và trao cho mẹ của Đặng thùy Trâm ở Hà Nội.

Nhà nước CSVN chụp được cơ hội này cho xuất bản cuốn nhật ký, dĩ nhiên với nhiều thêm thắt để khơi động lòng yêu nước của đám thanh niên càng ngày càng rời xa chủ nghĩa CS. Đặng thùy Trâm là một Bác sĩ, nhưng không hiểu có được học hành tử tế để thành một Bác sĩ không, tôi đã đọc được một truyện khi ở tù ngoài Bắc là có một anh công nhân được tặng danh hiệu anh hùng lao động vì đã phục vụ 15 năm trong phòng bào chế thuốc, và vì phục vụ hăng say và lâu như vậy, anh được thăng lên làm dược sĩ vì quen với công việc bào chế, phong dược sĩ xong, anh ta mới đi học bổ túc văn hóa vì anh ta viết chữ cũng chưa gọn ghẽ mấy. Bởi vậy, tôi không biết Bác sĩ Thùy Trâm này trình độ có khá hơn y tá Thọ của Đại Đội mình năm xưa không, hay cũng như mấy bà mụ vườn ở nhà quê.

Thưa chị Nở, cả chị và cô Đặng thùy Trâm này là hai người đàn bà ở hai chiến tuyến chết trong cùng cuộc chiến, trong cùng thời gian và độ tuổi cũng gần như nhau, nhưng hai cái chết mang hai ý nghĩa khác nhau, Thùy Trâm bị bắt buộc và tự đi tìm cái chết, còn chị, chị bị chết vì người ta ở mãi đâu vô đây tìm để giết chị, chị chỉ tự vệ, chị không hận thù ai, không ai dạy chị oán thù, không ai tuyên truyền với chị về chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ và cũng không nhân danh chủ nghĩa để chém giết người khác, chị rất đôn hậu, còn cái cô Thùy Trâm kia đã từ ngoài đó vào đây, mang trong lòng sự thù hận bởi sự tuyên truyền nhồi nhét, miền Nam này nào có cần ai phải giải phóng đâu, cho mãi nhiều năm sau này, người miền Nam vẫn khẳng định rằng họ không cần ai giải phóng cả.

Chị Nở có thấy điều buồn cười này không là trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm viết là sao quân Mỹ Ngụy tàn ác, thích chém giết, chị Nở có thích chém giết ai không hay người ta vào đây tìm giết chị, từ ngoài đó lần mò vào tận trong này để tìm giết người ta lại còn hô hoán là sao người ta thích chém giết mình, thật kỳ lạ. Cũng trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm than phiền là phấn đấu đã lâu nhưng chưa được kết nạp đảng, đây cũng là lý do vì sao Thùy Trâm đi B, cố gắng trong công tác để chỉ mong được đảng kết nạp, chị Nở có biết cô ta mong được kết nạp để làm gì không, thưa là để có cơ hội được làm lớn, có đảng mới được làm lớn, có làm lớn thì mới có quyền và có tiền, bây giờ cả cái nước Việt Nam này, đảng Cộng Sản thi nhau vơ vét tiền bạc của người dân, chúng giầu lắm rồi, hồi trước mỵ dân, chúng đem những người giầu có ra đấu tố, gọi họ là địa chủ, giờ thì ai đấu tố chúng? Thùy Trâm này nếu mà không chết và giả như có ô dù, giờ có thể là Bộ trưởng Y tế hay làm Giám đốc một bệnh viện nào đó thì cũng là những con giòi, con bọ đang tham gia đục khoét thân thể Việt Nam.
Cũng là cái chết nhưng chị chết trong vòng tay người chồng, có mồ yên mả đẹp, có nhang, có khói, tội cho cha mẹ cô Thùy Trâm, không biết nắm xương khô con giờ ở chỗ nào, họa chăng là cái bàn thờ với tấm hình cô ấy mà thôi.

Bốn mươi năm đã qua, bây giờ nhiều thay đổi lắm rồi chị Nở ạ, ông Thiếu úy trẻ năm xưa giờ là ông cụ già rồi, vẫn khó tính như trước và đang phiêu bạt nơi xứ người, Thượng sĩ Hội đã mất, Nở từ ngày đào ngũ tôi không gặp lại, chắc đã có vợ khác, xin được tạ lỗi cùng chị là đã không giữ được đất nước để rơi vào tay quân thù, thật không xứng đáng với sự hi sinh của chị, chúng tôi làm mất nước không phải vì hèn kém, không chiến đấu, mất nước vì bị phải mất nước.

Quên kể cho chị nghe, mấy tháng sau ngày chị mất, vũ khí được tối tân hóa, những cây Garant cổ lỗ sĩ được thay bằng súng M16, còn cây đại liên 30 nặng chình chịch chị biết đấy, thay thế bằng đại liên M60, nhẹ hơn, bắn nhanh hơn và không hay bị kẹt đạn nữa chị Nở ạ. Thôi tất cả đã qua, chúng tôi vẫn không bao giờ quên những người đã hi sinh vì mảnh đất miền Nam thân yêu, không bao giờ quên được những gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân trong việc chống lại quân Bắc phương xâm lược, hôm nay ngồi viết lại những hàng chữ này như được thắp nén hương trang trọng cho chị, thưa chị Nở.

Trần Như Xuyên K21

Bức Tượng “Thương Tiếc” và Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu

Lời giới thiệu: Trong lần về VN thăm quê hương nữ phóng viên Xuân Hương của chương trình Newland TV. đã có cơ hội gặp và nói chuyện với điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tại tư gia của ông. Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu là tác giả bức tượng đồng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Ông vừa là một sĩ quan trong QLVNCH với cấp bậc Thiếu tá . Liên tục trong hai ngày gặp gỡ, trò chuyện, P.V. Xuân Hương đã được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tiết lộ nhiều điều khá thú vị trong sự nghiệp nghệ thuật và 8 năm trong lao tù Viêt cộng của một chiến sĩ QLVNCH. Với giọng văn giản dị miền Nam, nữ phóng viên Xuân Hương đã kể lại cuộc gặp gỡ bất ngờ, kỳ thú. Newland T.V. xin hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc bốn phương thiên phóng sự đặc biệt này.

* New Land  T.V.

NghiaTrangBienHoa

Xuân Hương đã nhìn thấy hình ảnh Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa qua sách báo, qua các băng Video và DVD. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là nơi an nghỉ cuối cùng của hơn 18 ngàn chiến sĩ QLVNCH, đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia trong cuộc chiến Quốc-Cộng.

ThuongTiec

Trước cổng vào nghĩa trang có một bức tượng đồng người lính ngồi trên tảng đá, ôm súng thương nhớ đến những người bạn đã nằm xuống. Đó là, bức tượng Thương Tiếc do điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu thực hiện.

tuong-TiecThuong2

Bức tượng đồng có chiều cao 9 thước, sau ngày 30/4/75 đã bị bạo quyền Việt cộng gian ác giật sập, phá hủy

Xuân Hương trong dịp về thăm quê hương , may mắn đã gặp được điêu khắc gia NguyễnThanh Thu. Với hai lần gặp gỡ và nhiều tiếng đồng hồ trò chuyện, điêu khắc gia Thu kể cho Xuân Hương nghe nhiều điều vui , buồn, thú vị đã xảy ra trong đời ông chung quanh sự nghiệp điêu khắc và những tháng năm tù tội.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cho biết trong nhiều tác phẩm. Ông cảm tuong tethấy danh dự nhứt trong sự nghiệp của mình là tác phẩm “Ngày Về”. Tác phẩm này, diễn tả hình ảnh người chiến binh trở về từ chiến trường được người hậu phương choàng vòng hoa chiến thắng. Tác phẩm “Ngày Về ” của Nguyễn Thanh Thu đã được giải nhứt trong Ngày quốc khánh 26 tháng 10 năm 1963 về Văn Học Nghệ Thuật dưới thời Đệ Nhứt Cộng Hòa của TT. Ngô đình Diệm. Và tác phẩm thứ hai là Thương Tiếc, thời đệ nhị VNCH của TT. Nguyễn văn Thiệu.

Lịch sử bức tượng đồng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

tuong-thuongtiec2

Bức tượng đồng mang tên Thương Tiếc tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu hoàn thành vào năm 1966. Đây là thời điểm chiến tranh giữa VNCH và Cộng Sản Bắc Việt đang diễn ra tới mức độ ác liệt.

Vào thời đó, Nghĩa Trang Quân Đội tọa lạc ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Tình hình trong nước lúc bấy giờ rất lộn xộn. Dân chúng bị xách động biểu tình liên miên. Còn các đảng phái thì đua nhau tranh giành ảnh hưởng đối với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

Lúc bấy giờ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn đang là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Tổng thống Thiệu là người đã nghĩ ra việc xây dựng Nghĩa Trang Quân Đội nằm cạnh xa lộ Biên Hòa.

ĐKG. Thu tâm sự rằng, ông không biết tại sao lúc đó Tổng thống Thiệu lại biết đến ông để mời ông vào bàn về dự án xây Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Hòa. Nhưng sau này TT. thiệu cho biết đã biết tài điêu khắc của ông qua tác phẩm Ngày Về, khi TT. Thiệu còn là đại tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 bộ binh.

Khi gặp mặt TT. Thiệu, ông Thiệu đã nói với ĐKG. Thu, là ông muốn trước cổng vào nghĩa trang phải có một bức tượng to lớn đầy ý nghĩa đặt ở đó. Mục đích bức tượng để nhắc nhở, giáo dục người dân về sự hy sinh cao quý của các chiến sĩ VNCH.

ĐKG. Thu kể tiếp là sau năm lần, bảy lượt gặp TT. Thiệu bàn bạc, ông hứa sẽ trình dự án lên TT. Thiệu sau một tuần lễ nghiên cứu. Khi về nhà ông mất ăn, mất ngủ, lo lắng ngày đêm. Đầu óc ông lúc nào cũng suy nghĩ đến những đề tài có ý nghĩa như ý của TT. Nguyễn Văn Thiệu. Ông nhớ đến lời TT. Thiệu nói: “Những chiến sĩ VNCH, đã vì lý tưởng tự do hy sinh đời mình thì những người ở hậu phương như “chúng ta” phải làm một cái gì để nhớ đến sự hy sinh cao cả đó cho xứng đáng”. Những lời chân tình này đã làm điêu khắc gia Thu trăn trở không nguôi nên trong thời gian chờ đợi gặp lại TT. Thiệu, ngày nào ông cũng đến Nghĩa Trang Quân Đội tại Hạnh Thông Tây để suy ngẫm đề tài.

Trong bảy ngày hứa sẽ gặp lại TT. Thiệu thì hết sáu ngày, ĐKG. Thu đến Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây để phác họa những cảm xúc chân thật trong lòng tại chỗ. Ông đã chứng kiến cảnh, ngày ngày máy bay trực thăng đưa quan tài những người đã hy sinh vì tổ quốc về nơi an nghỉ cuối cùng với sự cảm xúc vô biên, nhưng vẫn chưa dứt khoát được một chủ đề rõ ràng.

Vào một buổi trưa của ngày thứ sáu trên đường về từ Nghĩa Trang Hạnh Thông Tây, giữa trời nắng chang chang, ĐKG. Thu ghé vào một tiệm nước bên đường để giải khát. Khi bước vào quán, ông thấy một quân nhân Nhảy Dù đang ngồi uống bia và trên bàn đã có 5,3 chai không. Đặc biệt trên bàn có hai cái ly. Ngồi bàn đối diện với người quân nhân kia, ông lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy người lính Nhảy Dù vừa uống bia vừa lẩm bẩm nói chuyện với cái ly không. Hình ảnh này cho thấy anh ta vừa uống vừa nói chuyện và vừa cúng một người đã chết. Khi nói chuyện với cái ly xong, người lính uống hết ly bia của mình. Sau đó, anh ta “xớt” bia của cái ly cúng còn nguyên vào ly mình, rồi lại kêu thêm một chai bia mới rót đầy vào ly kia. Thấy vậy, ông bước qua làm quen với người lính Nhảy Dù và đề nghị cho ông ngồi chung bàn. Người quân nhân quắc mắt tỏ vẻ không bằng lòng vì bị phá cuộc đối ẩm của anh và người đã chết. Thái độ này làm ông lúng túng. Đột nhiên, người lính kia móc ra cái bóp đựng giấy tờ của anh ta ra và đưa cho ông như trình giấy cho Quân Cảnh. Ông nghĩ rằng mình đâu phải là Quân Cảnh mà xét giấy ai. Tuy nhiên ông cũng cầm lấy bóp và trở về chỗ ngồi. Vì tò mò, ông mở bóp ra coi. Trong bóp, ông nhìn thấy những tấm hình trắng đen chụp cảnh các anh em đồng đội nơi chiến trường. Muốn làm quen với người lính Nhảy Dù, nên ông cố nhớ địa chỉ và KBC của anh ta trước khi cầm bóp trả lại cho chủ nó. Sau đó, ông ra về để chuẩn bị ngày hôm sau lên gặp TT. Thiệu .

Tối hôm đó, điêu khắc gia Thu vẽ liền 7 bản mẫu. Khi ngồi vẽ như vậy đầu óc ông cứ nhớ đến hình ảnh ngồi uống bia một mình với gương mặt buồn bã của người lính Nhảy Dù, mà qua căn cước ông biết tên là Võ Văn Hai.

Bảy bản mẫu của Nguyễn Thanh Thu phác họa là cảnh người lính đang chiến đấu ngoài chiến trường, cảnh mưa bão ngoài mặt trận—phản ảnh lại cảnh êm ấm của những người tại hậu phương. Khi ngồi vẽ đầu óc ông cứ liên tưởng đến vóc dáng buồn thảm của Võ Văn Hai và ông ngồi vẽ cho tới 6 giờ sáng.

Đến 8 giờ sáng thì có người đến rước ông vào gặp TT. Thiệu tại Dinh Gia Long. Đến nơi, đại tá Võ văn Cầm là Chánh Văn Phòng của TT. Thiệu cho biết TT. đang tiếp chuyện một vị tướng nào đó nên bảo ông đợi một chút. Trong lúc đợi, ông ra phía ngoài đi lang thang trên hành lang của dinh và vừa đi vừa nghĩ trong đầu là tại sao mình không vẽ Võ văn Hai cho rõ ràng. Nghĩ vậy ông ngồi xuống một chiếc ghế cẩn màu đỏ tưởng tượng đến hình ảnh Võ văn Hai ngồi buồn rầu, ủ dột trong quán nước. Ông trở vào phòng Đại tá Cầm định xin một tờ giấy để phác họa những ý tưởng đã nghĩ ra. Nhưng khi trở vào trong, ông ngại ngùng không dám lên tiếng. Ông nhìn phía sau lưng Đại tá Cầm thấy trong giỏ rác có một bao thuốc lá không. Ông lượm bao thuốc lá và trở ra ngoài. Điêu khắc gia Thu đã dùng mặt trong của bao thuốc lá phác họa bố cục bản thảo và cảm thấy hài lòng về bức hình đã vẽ ra.

Khi được Đại tá Cầm mời vào gặp TT. Thiệu, ông đã trình bày giải thích về 7 bản đã vẽ từ trước cho TT. Thiệu nghe. Xem xong TT. Thiệu hỏi: “Anh Thu à! Bảy bản, bản nào tôi cũng thích nhưng anh là cha đẻ của nó, anh nên cho tôi biết tấm nào hay nhứt.” Điêu khắc gia Thu rụt rè nói với TT. Thiệu : “Thưa TT, mới đây thôi trong khoảng 15 phút trong khi chờ gặp TT. tôi mới nghĩ ra một đề tài được phác họa trên một bao thuốc lá. Nhưng, tôi không dám vô lễ trình lên TT. Tuy nhiên, với phác họa này tôi thấy nó hay quá. Tổng thống hỏi, thì tôi muốn chọn bản này, nhưng tôi không dám trình lên Tổng Thống .”

TT. Thiệu bảo ĐKG. Thu đưa cho ông coi bản họa trên bao thuốc lá. Ông Thu đã giải thích cho TT. Thiệu nghe về trường hợp Võ Văn Hai mà ông đã gặp trong quán nước. Ông Thu cho biết, lúc đó ông cũng chưa dứt khóat đặt tên cho các bản phác họa đã trình cho TT. Thiệu xem dù rằng đã nghĩ trong đầu các tên như 1)Tình đồng đội, 2) Khóc bạn, 3) Nhớ nhung, 4) Thương tiếc, 5) Tiếc thương .

Cuối cùng điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu và TT. Thiệu đồng ý tên Thương Tiếc. Được sự đồng ý của TT. Thiệu, ông ra ngoài văn phòng của Đại tá Cầm phóng lớn bức họa Thương Tiếc bằng hình màu. Ông đã nhờ Đại tá Cầm ngồi trên một chiếc ghế đẩu để lấy dáng ngồi tưởng tượng trên tảng đá. Sau khi hoàn tất, Tổng thống Thiệu cầm bức họa tấm tắc khen. ĐKG. Thu đã đề nghị TT. Thiệu ký tên vào bức họa đó, mà ông đã nói với TT. Thiệu là “Cho ngàn năm muôn thuở” . TT. Thiệu đồng ý và đã viết “TT. Nguyễn văn Thiệu ngày 14 /8/1966 ”.

Sau khi được TT. Thiệu chấp thuận dự án làm bức tượng Thương Tiếc, điêu khắc gia N.T.T phải làm ngày, làm đêm để kịp khánh thành Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa vào ngày Quốc khánh 1/11/1966 đúng như dự định.

Một chiến sĩ QLVNCH can trường trong ngục tù cộng sản

Điêu khắc gia Thu tâm sự, khi còn ở trong tù lúc bị nhốt ở “cô–nét” ông nhớ đến tượng Thương Tiếc và đã vái thầm tất cả vong linh chiến sĩ VNCH trong ba ngày, hãy cho ông biết ông có thoát khỏi dự định xử bắn của VC hay không. Thì vào một buổi trưa, ông chập chờn thấy có người báo mộng cho biết ông không sao cả, nhưng thời gian tù tội còn lâu lắm.

Người điêu khắc gia tài ba kể tiếp. Trước đó, một người bạn đã dặn dò ông phải coi chừng và cẩn thận trong lúc ở tù VC vì ông quá nổi tiếng về những tác phẩm điêu khắc nên chắc chắn VC sẽ không để ông yên. Lúc đó, ông không quan tâm cho lắm, nhưng vào một buổi trưa trong lúc các tù nhân đang nghỉ ngơi , thì ông được một cán bộ quản giáo mời ra ngoài báo cho biết ông chưa khai báo thành thật, còn dấu diếm nhiều điều. Thiếu tá Thu hỏi dấu diếm những điều gì? Để trả lời, tên cán bộ lấy ra một danh sách tên tuổi các tù nhân, mà theo ông là do các người làm “ăng ten” trong trại báo cáo. Ông cho biết những người chịu làm ‘ăng ten” cho VC sẽ được lãnh tiêu chuẩn gạo 11 ký một tháng, thay vì 9 ký như mọi người. Ông còn nói thêm, những kẻ làm “ăng ten” không phải vì họ thù ghét ai, mà chỉ vì “miếng ăn” mà thôi.

Cầm bảng danh sách trên tay, tên cán bộ nói rằng thiếu tá Thu là tác giả bức tượng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nhưng tại sao lại không khai báo. Và phải cho anh ta biết, lý do tại sao ông lại làm ra bức tượng này. Điêu khắc gia Thu trả lời vì ông là một quân nhân trong QLVNCH, ông làm bức tượng Thương Tiếc là để cùng người dân miền Nam tỏ lòng thương tiếc sự hy sinh của các chiến sĩ chiến đấu cho tự do. Tên cán bộ lại hỏi, tại sao lại làm bức tượng Ngày Về. Ông giải thích cho tên cán bộ nghe rằng, đời lính hành quân nay chỗ này, mai chỗ kia, vài ba tháng mới được phép về thăm vợ con một lần. Ông làm tượng Ngày Về để nói lên sự vui mừng khi vợ chồng gặp lại nhau, thì đâu có gì gọi là không tốt.

Tên cán bộ quản giáo đề cập đến bức tượng An Dương Vương và thành Cổ Loa là biểu tượng của ngành Công binh QLVNCH với những lập luận ngây ngô. Tên cán bộ nói với Nguyễn thanh Thu, An Dương Vương là người lập quốc, còn bác Hồ là người giữ nước. Vậy tại sao ông không ghép hình bác Hồ vào. Ông trả lời tên cán bộ rằng, lúc làm tượng An Dương Vương ông đâu biết bác Hồ là ai, là người nào, nên không thể ghép vào được. Nghe nói vậy, tên cán bộ xám mặt lại, hắn ta ra lệnh cho ông đứng đó không được đi đâu hết. Tên này chạy về văn phòng gọi thêm 6 tên cán bộ nữa, súng ống đầy đủ, chạy đến chỗ Nguyễn thanh Thu đứng. Trong 6 người này có một tên là chính trị viên đã gằn giọng hỏi: “Khi nảy anh đã nói gì với anh Sáu ”. NTT trả lời: “Tôi không có nói gì hết”. Tên chính trị viên nói tiếp: “Anh Sáu cho tôi biết anh nói là dân Sài Gòn, người miền Nam không ai biết bác Hồ. Vì không biết nên anh không thể làm tượng bác kèm với An Dương Vương, có đúng không?”. Điêu khắc gia chay-loan-2Thu trả lời “Đúng vậy”. Nghe trả lời như thế , tên cán bộ chính trị viên nói cho ông 5 phút định trí, để nói lại. Đồng thời tên này còn hỏi gằn: “Anh bảo rằng anh không biết bác Hồ phải không?”. Thiếu tá Thu thẳng thắn trả lời: “Tôi không biết mặt, biết tên ông này”. Tên cán bộ nói : “Nếu anh không biết, tôi cho anh biết ”. Sau đó, chúng lôi điêu khắc gia Thu về văn phòng đánh đập tàn nhẫn liên tục trong ba ngày, ba đêm. Tuy bị đánh đập dã man, nhưng thiếu tá Thu chịu đựng và im lặng không lên tiếng gì hết. Thấy vậy một tên cán bộ nói: “ Bây giờ mầy nói về hai chữ Tự Do cho chúng tao nghe coi ”. Thiếu tá Thu bấy giờ mới lên tiếng: “ Nếu tôi không nói thì cán bộ nói tôi khinh, nhưng khi tôi nói thì cán bộ không tin. Bây giờ, tôi nói về Tự Do cho cán bộ nghe. Người miền Nam có tự do là họ được đi đứng dễ dàng, ăn nói thoải mái không có bị khó dễ gì hết. Còn những người CS các anh cũng có tự do, nhưng chỉ có những chữ viết trên các cổng ra vào được sơn son thiếp vàng, chỉ có trên vách tường tại các văn phòng làm việc, chớ người dân thì không có ”. Nghe nói vậy, bọn VC lại ra tay đánh đập NTT một trận tơi bời, đỗ máu mũi. Sau đó, chúng đem nhốt ông vào “cô–nét ”. Ông cho biết, sau nhiều tháng trong “cô-nét” ông chỉ còn xương và da, đứng lên muốn không nổi.

Một tình cảm khó quên

Một ngày nọ, vào khoảng 4 giờ sáng cửa “cô–net” được mở ra, và một họng súng AK chĩa ngay vào thiếu tá Nguyễn thanh Thu , rồi một giọng ra lệnh cho ông bước ra. Ngoài trời tối đen, lờ mờ sáng, ông đứng không vững khi bước ra cửa “cô-net” nên bị hụt chân té qụy. Tên cán bộ ra lệnh cho điêu khắc gia Thu đứng dậy và giơ tay ra để cho chúng móc còng vào. Sau đó, ông được bốn tên cán bộ kè đi về phía cổng trại để vào khu rừng chuối kế bên. Đang đi bổng nhiên có một chiếc xe Jeep chạy tới đèn pha sáng choang làm chói mắt mọi người. Chiếc xe Jeep ngừng lại tắt đèn, có tiếng nói chuyện trao đổi giữa hai bên chừng 5 phút. Sau đó, toán dẫn cán bộ quay lại bịt mắt ông và tiếp tục kéo lết đi vào rừng chuối. Đến nơi, tên cán bộ kéo thiếu tá Thu nhốt vào một nhà cầu của khu gia binh của VNCH bỏ hoang từ lâu. Quá mõi mệt nên ông đã ngủ thiếp lúc nào không hay. Gió theo khe hở thổi làm ông tỉnh dậy, qua khe hở ông thấy trời đã sáng và biết mình chưa chết. Thiếu tá Thu cười nói rằng, bị nhốt ở trong cầu tiêu nhưng ông cảm sung sướng, thoải mái hơn là lúc bị nhốt ở “cô–net” nhiều.

Kể tới đây, điêu khắc gia NTT cười và cho biết từ đó không ngờ lại xảy ra “Những tình cảm khó quên”. Ông kể tiếp là vào buổi trưa hôm đó, một cô gái người Bắc tay cầm chén cơm, bịch muối và đôi đũa tre đến mở cửa cầu tiêu đưa cơm cho ông ăn, nhưng cô ta mở không được vì bên trong ông đã móc cửa lại. Bên trong, ông hỏi vọng ra “Cô là Bắc kỳ phải không, nhưng Bắc kỳ nào? Bắc kỳ 54 hay Bắc kỳ giải phóng”. Cô gái trẻ khoảng 22, 23 tuổi trả lời: “Này nhé, tôi là chị nuôi của ông. Đem cơm cho ông ăn mà ông hỏi tôi như thế”. Nói xong cô ta cầm chén cơm bỏ ra về. Khoảng 3, 4 phút sau, một tên cán bộ đến ra lệnh cho ông phải mở cửa ra và mắng: “Lúc nào cũng láo khoét. Tha chết cho rồi mà còn láo khoét”. Nói xong tên cán bộ bỏ đi. Vào buổi chiều cô gái trở lại, thiếu tá Thu nhủ thầm trong bụng là không giỡn nữa, vì giỡn sẽ đói. Khi cô gái mở cửa bỏ phần cơm vào, ông phân trần với cô là ông chỉ giỡn một chút mà cũng đi mét.

Qua ngày kế, một tên cán bộ và hai người tù đến chỗ nhốt thiếu tá Thu, dùng đồ nghề khoét một cái lỗ vuông nhỏ trên cửa cầu tiêu. Xong đâu đó, tên cán bộ nói: “Từ nay không mở cửa nữa. Mỗi lần tới giờ cơm, anh dùng miếng gỗ đưa cái chén cũ ra và sẽ nhận được chén cơm mới đưa vào qua cái lỗ này”. 11 giờ trưa hôm đó “chị nuôi” của điêu khắc gia Thu đem cơm và muối đến cho ông. Theo như lời dặn, thì thiếu tá Thu khi nhận chén cơm mới ông phải trả cái chén không lại, nhưng ông không làm điều này. Cô gái lên tiếng hỏi, nhưng ông không trả lời. Cứ như vậy hai ba ngày liên tiếp, ông giữ lại tất cả 7 cái chén. Một hôm cô gái phàn nàn: “Ông giữ hết chén thì tôi đâu còn chén để đựng cơm cho ông”. Nghe vậy, thiếu tá Thu cuời nói: “Nếu cô muốn tôi trả lại mấy cái chén thì phải có điều kiện”. Cô gái hỏi: “Điều kiện gì?” Ông đáp: “Cô để bàn tay của cô lên tấm ván đưa cơm cho tôi rồi đưa vào cho tôi thấy” . Sau vài giây tần ngần, cô gái làm theo điều kiện của điêu khắc gia Thu. Ông đã tinh nghịch dùng đôi đũa tre đụng vào bàn tay của cô gái rồi sau đó đưa trả 7 cái chén cho cô gái. Cô gái ngạc nhiên hỏi: “Chỉ có vậy thôi à!”. Ông trả lời: “Chỉ có vậy thôi!”. Cô gái bỏ về.

Trong lúc thiếu tá Thu đang ngồi ăn cơm, thì cô gái trở lại với một bà già đi phía sau. Đến trước cửa cầu tiêu, nhìn vào lỗ đưa cơm bà già nói: “Ông này, con Lan nó đem cơm cho ông ăn, thế mà ông còn lấy đũa chích vào tay nó. Là cái gì vậy? Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cười nói: “ Vậy mà cũng không biết”. Nghe vậy bà cụ phàn nàn: “Ông làm kỳ quái quá ai mà biết được”. Bị hỏi dồn nhiều câu, Thiếu tá Thu nói nhỏ: “ Là yêu đấy!”. Nghe như vậy người con gái tên Lan đỏ mặt thẹn thùng, vội vả quay lưng bỏ đi.

Qua ngày hôm sau, cô gái tên Lan lúc đem cơm đến cho điêu khắc gia Thu, cô nhỏ nhẹ và tha thiết nói: “ Anh Thu à! Em khuyên anh, anh thôi đừng có “anh hùng” nữa. Như vậy, thiệt thòi cho anh lắm anh có biết không? Chúng nó đã tha chết cho anh đấy!” Rồi cô nói tiếp, giọng run run: “ Em thương mấy anh sĩ quan cải tạo các anh lắm. Kể từ nay, đến giờ cơm em sẽ để cục thịt nằm ở đáy chén. Khi em đưa cơm vào, anh hãy tìm cục thịt ăn liền trước nha! Để đề phòng cho cả em và anh không bị cán bộ bắt gặp làm khó dễ”.

Thiếu tá Thu cảm động hỏi: “ Cô Lan! Làm sao cô biết chúng nó tha chết cho tôi?” Cô gái khẻ nói: “Này nhé! Anh còn nhớ không? Khoảng 4 giờ sáng hôm đó, gần nhà bếp, em thấy đèn pha của chiếc xe Jeep chạy ngang. Và khoảng nửa tiếng sau, có bốn cán bộ súng ống trên vai bước vào nhà bếp bảo em pha cà phê cho họ uống. Họ kể cho em nghe là đáng lẽ có một tù nhân bị đưa đi bắn.. Nhưng sau đó bỗng nhiên “có lệnh hồi”. Nên tù nhân này được lôi vào nhốt tạm thời trong một cầu tiêu của một trại gia binh trước bỏ hoang”. Cô Lan kể tiếp: “ Có một lần em đón đường hỏi các anh đi lao động ngoài rừng về hỏi tại sao anh phạt bị nặng như vậy, thì mọi người cho biết vì anh là tác giả bức tượng “Thương Tiếc” tại Nghĩa Trang Quân Đội Biện Hòa. Nhắc đến bức tượng Thương Tiếc, em không lạ gì bước tượng này, vì hồi đó, chiều nào em và các bạn thường hay chơi quanh gần tượng.

Điêu khắc gia Thu hỏi cô gái: “Cô ở Hố Nai được bao lâu rồi?” Cô Lan kể lể: “Cha em là bộ đội VC ngoài Bắc, vào Nam đánh trận bị bom dội chết trong rừng. Mẹ em đã gánh em vào Hố Nai và em đã lớn lên từ đó”.

Kể đến đó, thiếu tá Thu không dấu được sự xúc động. Ông ngậm ngùi nói: “Cô Lan rất tận tình và tốt với tôi. Những chân tình ấy cùng với những kỷ niệm rất dễ thương tôi luôn trân quý. Cô là nguồn an ủi của tôi trong lúc bị tù đày, trong nỗi đau và sự bất hạnh của một đời người. Tôi rất muốn trả ơn cho cô, nhưng không biết đâu mà tìm. Tôi nghĩ những tình cảm này khó phai nhạt trong đời mình”.

Nỗi lòng biết tỏ cùng ai?

Thiếu tá Thu cho biết vào thời điểm đó, khoảng tháng 8, nhiều đổi thay xảy đến với ông. Một hôm, cán bộ quản giáo gọi ông lên làm việc. Tên cán bộ nói: “Anh Thu, chẳng lẽ anh muốn ở mãi trong thùng sắt sao? Tôi đề nghị là anh đừng nhận mình là tác giả “chính” đã làm tượng “Thương Tiếc” mà anh chỉ là người “phụ” thôi. Người “chính” đã vượt biên đi rồi. Anh viết bản tự thú như vậy, tôi sẽ cứu xét và giảm tội cho anh”. Nhưng ông đã khẳng khái trả lời: “Cám ơn cán bộ đã khuyên tôi, nhưng với tôi tác phẩm Văn hóa Nghệ thuật là con đẻ của mình. Sao tôi lại trốn tránh trách nhiệm và đổ thừa cho người khác? Tôi không thể làm như vậy được”.

Vài ngày sau, một tên cán bộ khác đến gặp ông và ra lệnh cho ông phải làm tượng HCM để kịp ngày Quốc khánh 2/9 của VC. Thiếu tá Thu cho biết là ông nhận lời đề nghị này, vì ông đã có ý định trốn trại. Ông nói với cán bộ quản giáo biết, là muốn làm tượng phải có đủ đồ nghề. Thế là ông được bốn tên bộ đội chở về nhà để lấy đồ nghề. Trên đường về ông xin ghé nhà mẹ mình để thăm bà. Đến nơi, mấy tên bộ đội thì ngồi chuyện trò với cô Hồng em gái của ông ở cửa trước. Còn ông vào nhà gặp mẹ. Hai mẹ con gặp nhau mừng rỡ rối rít. Bỗng bà cụ nghiêm mặt nói:“ Thu à! Má đẻ con ra mà không biết tánh con sao! Con hãy ráng ở trong tù thêm một năm nữa đi. Nếu con mà trốn, má sẽ chết cho con coi”. Nghe mẹ nói như vậy, ông quá sức bàng hoàng, tự nghĩ: “Trời ơi! Bao nhiêu ý định nhen nhúm giờ đây đã tiêu tan. Nỗi buồn tràn ngập trong lòng, vì ông sẽ trở về giam mình trong cái thùng sắt (2m x 1m) sừng sững ngoài trời, tiếp tục chịu đựng thời tíết khắc nghiệt, sức nóng như thiêu đốt của mùa Hạ, hay lạnh giá của mùa Đông rét mướt “.

Theo như thỏa thuận là sau khi được về thăm nhà và lấy đồ nghề, ông sẽ thực hiện điêu khắc tượng HCM. Tin này được nhanh chóng loan truyền trong trại giam. Từ đó, không biết bao nhiêu lời nguyền rủa vang lên làm ông đau khổ vô cùng.

Trước khi ra lệnh bắt ĐKG. Thu làm tượng HCM, cán bộ VC đã liên lạc trước với gia đình thiếu tá Thu. Chúng dàn cảnh cho vợ, con ông được đến thăm viếng đặc biệt. Tuy nghèo nhưng gia đình ông cũng mua thịt vịt quay, bánh mì, bày biện ra để cả nhà cùng ăn trong trại giam. Thật bất ngờ, trong tờ Tin Sáng cũ dùng để gói vịt quay, thiếu tá Thu nhìn thấy hình TT. Nguyễn văn Thiệu. Ông xé tấm hình đó, xếp nhỏ cất vào túi cất. Đến ngày nặn tượng chân dung HCM, thiếu tá Thu lại khắc nét của Tổng Thống Thiệu. Ông cho biết, rất phấn chấn trong lòng và thầm nghĩ: “ Tự mình, trí ta, ta hay, lòng ta, ta biết”.

Sau này, Nguyễn thanh Thu được kể lại. Một buổi chiều nọ, trên đường đi lao động về đám tù nhân đi ngang qua nhìn thấy pho tượng HCM sắp được hoàn tất, họ có vẻ thích thú xầm xì : “ Trời ơi! Tụi mày xem giống TT. Thiệu quá! Giống quá tụi bây ơi!” Tiếng xầm xì làm mấy tên “ăng ten” chú ý. Lập tức chúng trình báo cho cán bộ quản giáo hay.

Khoảng 4 giờ 30 chiều, vào thời điểm bức tượng HCM đang được điêu khắc gia Thu gắn râu mới được một bên mép thôi, thì một tên cán bộ bước đến hỏi: “Tượng sắp xong rồi chứ?” Miệng vừa hỏi, tên cán bộ nhanh tay thò vào túi áo ông lấy mảnh giấy báo có hình TT. Thiệu. Thế là xong! Việc bị đổ bể. Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu lại tiếp tục trở vào thùng sắt nhận thêm bốn tháng biệt giam, bị hành hạ đủ điều. Tại đây, ông kiệt sức, bất tỉnh, được đưa vào trạm bịnh xá.

Tại trạm xá, ông được một tù nhân khác là phi công Đỗ Cao Đẳng, chú của trung tướng Đỗ Cao Trí làm Trưởng trạm xá, và một số học trò cũ của ông, từ thời còn học trung học Võ trường Toản, hết lòng cấp cứu. Nhờ vậy, ba ngày sau ông mới tỉnh lại. Với tình trạng sắp chết, da bọc xương, điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu được VC tha cho về với gia đình kể từ đấy.

Hoài bão không nguôi

Điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu cho biết ông ở tù VC 8 năm. Sau khi ở tù về, ông tìm đủ mọi cách để vượt biên ra nước ngoài. Ông nghĩ rằng qua bên Mỹ ông dễ có cơ hội thực hiện những mộng ước của đời mình. Đó là, dựng lại tượng “Thương Tiếc” nơi quê hương thứ hai. Nhưng trong 15 năm sống tại Mỹ, ông không tìm ra được một mạnh thường quân nào giúp đở. Ông đành buồn bã trở về Việt Nam sinh sống. Ông cảm thấy cô đơn với mơ ước của mình. Nhưng, ông vẫn hy vọng một ngày nào đó sẽ thực hiện được, nên hàng ngày ông cố gắng tập thể thao để tinh thần và thể xác không suy nhược.

Điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu cho biết, khi còn ở Mỹ ông đã có hân hạnh gặp lại TT. Nguyễn văn Thiệu khi TT. Thiệu từ Boston đến Nam Cali thăm viếng và nói chuyện với đồng bào tỵ nạn. Tổng thống Thiệu được một người bạn của thiếu tá Thu sắp xếp hướng dẫn đến gặp nhà điêu khắc. Khi gặp thiếu tá Thu , TT. Thiệu vồn vả hỏi liền: “ Anh Thu có khỏe không? Tôi nghe nói ở trong tù anh đã làm tượng tôi phải không?” Điêu khắc gia Thu xúc động cho biết, là ông rất ngạc nhiên khi TT. Thiệu bất ngờ hỏi như vậy. Ông đã hỏi lại TT. Thiệu: “Làm sao tổng thống biết được?” TT. Thiệu nở nụ cười hiền hòa: “Làm sao tôi không biết được”. Giây phút gặp gỡ quá ngắn ngủi. Sau đó, vị tổng thống nền đệ nhị Cộng Hoà vội vã từ giã đồng bào ra phi trường trở về Boston cho kịp chuyến bay.

Khi nhắc tới TT. Nguyễn văn Thiệu, thiếu tá Thu mơ màng nhớ về dĩ vãng xa xưa. Vì đó là kỷ niệm mà trong đó có những tác phẩm nghệ thuật ông tạo hình, nhờ sự gợi ý của tổng thống Thiệu.

Thiếu tá Thu cho biết, sau 3 tháng khi tượng Thương Tiếc được khánh thành ở Nghĩa Trang QĐ Biên Hòa, TT. Nguyễn văn Thiệu đã tổ chức một bữa tiệc khoản đãi tại Dinh Độc Lập, và đã mời điêu khắc gia Thu đến dự. Trong khi trò chuyện với ĐKG. Thu , TT. Thiệu chỉ bồn nước phun trước Dinh Độc Lập ,và nói muốn làm một biểu tượng gì đó.

Kể đến đây, ĐKG. Thu không nén được xúc động và thành thật nói: “ Trông TT. thật tội nghiệp với vẻ buồn lo của ông”. Trầm ngâm một chút, TT. Thiệu nói với điêu khắc gia Thu: “ Anh nghĩ xem, xứ mình đang ở trong tình trạng chiến tranh. Người lính thì đang sống, chết ngoài tiền tuyến. Biểu tượng Thương Tiếc đặt tại Nghĩa Trang QĐ đã tạm yên. Nhưng, tôi nghĩ mình còn phải làm thêm một cái gì đó nữa, để giáo dục mọi người… Xin lỗi , người dân nhiều khi cũng thờ ơ với cuộc chiến lắm nên tôi muốn có một tác phẩm gây ý thức trong lòng người dân. Là dù đang chiến tranh, nhưng chúng ta cũng biết xây dựng, và biết “TỰ LỰC CÁNH SINH”. Chứ hoàn toàn trông cậy vào viện trợ cũng phiền toái lắm. Anh Thu, anh nghĩ sao ? Anh có thể trình một dự án như ý tôi vừa trình bày không?

Sau khi nghe TT. Thiệu bày tỏ tâm sự trên. Cũng như lần trước, điêu khắc gia N.T.T xin Tổng Thống tuần lễ để làm việc. Và sau một tuần, ông đã làm xong 7 bản vẽ về dự án với đề tài có tên Được Mùa. Được Mùa là hình ảnh “Cô gái ôm bó lúa” vừa mới gặt để diển tả sự trù phú của nông nghiệp miền Nam.

Điêu khắc gia Thu đã làm mẫu bức tượng Được Mùa cao 2m. Nhìn bức tượng cô gái ôm bó lúa với gương mặt hớn hở, hãnh diện với công sức mình đổ ra bằng những giọt mồ hôi, khiến người ta hình dung ra sự giàu mạnh của một nước phát triển nhờ nông nghiệp.

Theo điêu khắc Thu bức tượng Được Mùa, nói lên sức sống trù phú của đồng bằng sông Cửu Long với chín miệng Rồng phun nước. Do đó, tác phẩm này còn có tên là “ Cửu Long Được Mùa”.

Khi nhìn bức tượng mẫu Được Mùa với ý nghĩa của nó, TT. Thiệu chấp thuận ngay. Dự án tượng Được Mùa được thực hiện bằng đồng với tượng cô gái cao 9m, bệ 3m. Kinh phí dự trù là 45 triệu đồng.

Tuy đã chấp thuận, nhưng với số tiền khá lớn đã khiến TT. Thiệu không tránh khỏi lo nghĩ trong khi chiến tranh mỗi ngày càng leo thang. Rồi cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa kéo đến. Mọi chi phí đều phải ưu tiên hàng đầu cho ngân sách Quốc Phòng. Thế nên dự án Được Mùa phải đành gác lại và không được hoàn thành theo mong ước của TT. Nguyễn văn Thiệu.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu ngậm ngùi nói: “Tuy tượng Được Mùa không được ra mắt người dân miền Nam, nhưng quá trình dự án cũng đã thể hiện được cung cách của TT. Nguyễn Văn Thiệu – một nhà lãnh đạo luôn quan tâm đến sự hy sinh của Quân Đội, và tinh thần một nước tự lực, tự cường”.

Tượng mẫu Được Mùa cao 2m được TT. Thiệu chấp thuận từ 1971 , đến nay 2009 vẫn còn tại nhà của điêu khắc gia Thanh Thu. Gần đây nhất vào năm 2006 , dù đã 73 tuổi ĐKG. Thu vẫn khắc thêm tượng Cô Gái Được Mùa” thật sống động. Đây là hình ảnh cô gái với chiếc nón lá, ôm bó lúa tựa vào vai. Được Mùa hay Cô gái Được Mùa, kiểu nào cũng đầy ý nghĩa và đẹp vẹn toàn. Ông quả thật không những là thiên tài nghệ thuật, mà ông còn là một chiến sĩ yêu nước nồng nàn.

Cuối cùng, điêu khắc gia Thu cho biết, đến nay ông vẫn còn băn khoăn về một trường hợp mà ông nghĩ là hơi bất thường. Ông nói cách nay vài năm, có một người ở bên Mỹ về tự xưng là một ông cha đã tu xuất tên là Vũ văn Hoàng tuổi trên 70 mươi. Ông Hoàng cho biết đã cải táng được 18 ngàn ngôi mộ tại tỉnh Bình Dương, cũng như đã giúp đở rất nhiều cho thương phế binh. Ông Hoàng nói là muốn cùng với ông tạo dựng lại bức tượng “Thương Tiếc” cho những phần mộ vừa được trùng tu. Nghe như vậy, ông rất mừng rỡ vì đó là điều ông ôm ấp từ lâu. Sau một tháng gặp gỡ bàng bạc, ông Hoàng có hứa khi trở về Mỹ sẽ báo cho ông biết diễn tiến công việc mà hai người muốn thực hiện. Nhưng, công việc không đi đến đâu và nhiều năm trôi qua ông không còn liên lạc được với ông Hoàng nữa.

Điêu khắc gia tài ba của QLVNCH nói rằng, ông mong khi Xuân Hương về Mỹ sẽ nói cho người Việt hải ngoại biết được ý nguyện của ông. Là người có quốc tịch Mỹ, ông lúc nào cũng sẳn sàng trở qua bất cứ quốc gia nào để thực hiện bức tượng Thương Tiếc. Ông còn tâm sự, ở tuổi 75, nhưng ông ráng sống để một ngày nào đó xây dựng lại tác phẩm Tiếc Thương vì theo ông tác phẩm này, không thể mai một trong hoàn cảnh chính trị “khốn nạn”, là miền Nam bị cưỡng chiếm vào tay bạo quyền Việt Cộng như hiện nay.

Xuân Hương


TƯỞNG NHỚ NGHĨA TRANG BIÊN HÒA

Về thăm Nghĩa trang một chiều gío lộng,
Khung trời xưa chìm đắm ngủ say.
Xa lộ Biên hòa cuồn cuộn gío bay,
Biển đời ai oán, nỗi sầu chứa chan !

Ôi, DŨNG KHÍ ĐÀI âm cảnh mơ màng,
Linh hồn 30,000 Nghĩa sĩ, ngỡ ngàn bơ vơ !
VÀNH KHĂN TANG đẫm lệ sương mờ…
GƯƠM THIÊN lạnh lẽo, ngẩn ngơ gío chiều !

Anh LÍNH TIẾC THƯƠNG, thân ngả bệ xiêu,
Vì thương đồng đội chịu nhiều trái ngan !
ÂM DƯƠNG cách biệt đôi đàng…
Màng đen tội lỗi, bàng hoàng Thần linh.

Bao mầm non trai trẻ, cõi vô hình
Là nơi nương tựa, nghĩa tình nước non.
Niềm tin, sự sống, con cháu Lạc Hồng
Tự do, Hạnh phúc…non sông ba miền.

Với người sống, ỷ thế cậy quyền,
Buồn người khuất mặt..nhãn tiền không sai !
Dòng đời thác nước đổ mau,
Sông sâu ,Biển rộng…một màu trong xanh


TƯỢNG HAI LÍNH VIỆT MỸ

Chúng ta tuy hai mà một,
Vì trái tim chứa đựng MỘT Tình thương.
Trời Wesminster xinh đẹp lạ thường..
Mối tình VIỆT MỸ dưa lưng đội Trời.

Trải qua bôn ba, gian khổ một thời…
Kề vai sát cánh xây đời yêu thương !
Máu xương đổ khắp chiến trường !
Mississipy than thở, Cửu long nghẹn ngào !

Vì cõi đời còn lắm lao đao,
Là sóng phản bội…lật nhào thuyền mơ
Tan tành, chìm đắm..cảnh vật xác xơ !
Kẻ ra đi, người ở lại… lệ mờ lòng đau !

Trời Cali tình bạn nghẹn ngào,
Qua rồi thử thách, ngàn sao sáng ngời.
Những trái tim CÔNG CHÍNH yêu đời,
Lòng tin TƯỢNG ĐÁ, đất trời chứng tri.

Nhìn về tương lai, cùng môt hướng đi
Dắt dìu nhân loại, quản gì khó khăn.!
Mối tình VIỆT MỸ ghi đậm vầng trăng
Bình minh nở rộ, quả đất tròn long lanh.

Đà Lạt và những kỷ niệm về Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam — Lê Đình Cai Gs. VHV

Bây giờ, trên xứ lạ quê người, khi tóc đã hoa râm, ngồi đếm bóng thời gian chờ ngày trở về với cát bụi, lòng người đôi khi chùng xuống với những hồi ức xa xăm ….
Tháng 4/1968, sau khi đệ trình luận án Cao học Sử học (*) tại Đại học Văn Khoa Sài gòn cá nhân tôi chính thức được bổ nhiệm vào làm việc tại văn phòng đệ nhất Phó Chủ Tịch Thượng Nghị Viện. Cũng vào đầu tháng 10 năm nầy, tôi được Viện Đại học Đà Lạt mời lên giảng dạy tại Phân khoa Sử học kể từ niên khóa 1968-1969. Cũng xin được ghi lại vào thời điểm đó (1968), trong khi các trường Đại học Luật khoa và Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Sài gòn đều đã mở các lớp tiến sĩ và đã cấp văn bằng Tiến Sĩ cho các sinh viên thuộc các ngành nầy, thì trường Đại học Văn khoa Sài gòn vẫn chưa mở được cấp tiến sĩ.
Chúng tôi đã hòan tất chương trình Cao học từ 1968 nhưng mãi đến năm 1972 mới được ghi danh lớp tiến sĩ đầu tiên niên khóa 1972-1975 tại trường Đại học Văn khoa Sài gòn. Riêng vị đàn anh trong ngành của chúng tôi là GS Phạm Cao Dương, người lấy văn bằng Cao học sử đầu tiên tại Đại học Văn khoa Sài gòn đã phải ghi danh học Tiến sĩ tại Đại học Paris (Pháp).
Vào khỏang giữa tháng 10/1968 tôi giã từ thủ đô Sài gòn, lên xứ hoa đào để khởi sự những ngày đầu trên bục giảng của trường Đại học Văn khoa Đà lạt. Cũng vào dịp nầy tại trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, khóa 22 đã phân ra thành khóa 22A và khóa 22B. Khóa 22B theo học chương trình 4 năm như các sinh viên trường Võ Bị Westpoint của Hoa kỳ vậy.
Thiếu tướng Lâm Quang Thi vị chỉ huy trưởng của trường Võ Bị Quốc Gia vào thời đó đã có công rất lớn trong việc vận động để văn bằng tốt nghiệp VBQGVN được công nhận tương đương với Cử Nhân Khoa Học Nhân Văn và tương đương với Kỹ sư khoa học kỹ thuật. Tướng Thi đã phải tham gia nhiều cuộc họp với Hội đồng liên viện Đại học Sài gòn, Huế và Cần thơ để trình bày chương trình học về văn hóa của trường theo hệ thống tín chỉ (credit system). Người ủng hộ mạnh mẽ nhất trong việc công nhận văn bằng tương đương nầy cho sinh viên trường VBQGVN là Giáo sư Lê Thanh Minh Châu, Viện Trưởng Đại học Huế.
Kết quả là văn bằng tốt nghiệp của các sinh viên trường VBQGVN (hệ 4 năm) kể từ khóa 22B đã được Bộ Giáo Dục công nhận là tương đương với văn bằng cử nhân và kỹ sư của các đại học quốc gia thuộc lĩnh vực nhân văn và kỹ thuật. Sinh viên Võ Bị QGVN khi tốt nghiệp đựơc công luận trong xã hội đánh giá là văn võ toàn tài.
Để đáp ứng những điều kiện quy định của Bộ Giáo Dục, Trường Võ Bị QGVN (Đà lạt) đề nghị lên Bộ Quốc Phòng ra thông cáo tuyển dụng các giáo sư dân chính bổ sung vào thành phần giảng huấn đoàn thường trực (permanent teaching staff) cho sinh viên năm thứ tư thuộc khóa 22B khai giảng mùa văn hóa kể từ tháng 12 năm 1968.
Cá nhân tôi có tên trong một Nhiệm Vụ Lệnh do Bộ Quốc Phòng ký vào giữa tháng 10/1968 để trở thành giáo sư của trường Võ Bị QGVN cùng với hai vị giáo sư dân sự khác là Bùi Đình Rị (Thạc sĩ Vật lý Nguyên tử) và Từ Võ Hào (Kỹ sư Điện lực, tốt nghiệp ở Canada).
Được lên dạy học tại Viện Đại học Đà lạt là điều hết sức vui sướng đối với tôi vì hồi đó khi tốt nhgiệp Cao học Sử học tôi mới được 26 tuổi, nhưng phải nói được bổ nhiệm làm giáo sư tại trường Võ Bị QGVN, một trường Võ Bị lớn nhất Đông Nam Á vào thời bấy giờ, là một niềm hãnh diện lớn lao cho tuổi trẻ của tôi khi mới bước vào sự nghiệp đầu đời.
Vì thế trong phần hồi ức nầy, tôi dành để kể lại những kỷ niệm không thể nào quên, liên hệ về ngôi trường Võ Bị thân yêu nầy.
Tôi đáp máy bay từ Sài gòn xuống phi trường Liên Khương vào một buổi chiều mùa đông, mưa lất phất và trong cái lạnh tê cóng của vùng Cao nguyên Đà lạt. Tôi đưa mắt nhìn chung quanh núi đồi trùng điệp và những căn nhà sàn của người Thượng nhấp nhô bên vệ đường từ phi trướng về thành phố. Tất cả ẩn hiện trong làn mưa bụi, khiến tôi cảm thấy có một cái gì mất mát trong tâm tư khi đang từ một nơi náo nhiệt của thành đô, lạc bước vào một khung trời yên ắng, với sương mù và buốt giá quanh năm…
Tôi bắt đầu cuộc sống mới tại ngôi nhà số 7 đường Phan Đình Phùng Đà lạt với một vài người bạn, vốn thân quen từ hồi còn học tại trường Nguyễn Hòang Quảng trị.
Ngày hôm sau, tôi liên lạc với anh Bùi Đình Rị và anh Từ Võ Hào để cùng vào trình diện tại Văn Hóa Vụ trường Võ Bị.
Trước mắt tôi, ngôi trường Võ Bị uy nghi, đồ sộ, tọa lạc trên một ngọn đồi cao (ngọn đồi mang số 1515), giữa núi Lapbé Sub và hồ Than thở, được xây cất kể từ 1960. Đây là nơi tụ hội của bao chàng trai khôi ngô tuấn tú, chọn nghiệp kiếm cung để thoả mộng sông hồ. Vào những năm giữa thập niên 1950, khi tôi đang theo học các lớp đệ Thất, đệ Lục… hình ảnh oai phong, lẫm liệt của các sinh viên Võ Bị gốc ở Quảng trị, được phép về thăm quê nhà, xuất hiện trong bộ lễ phục uy nghi màu trắng, cổ cao, có sọc xanh, tua vai vàng, với thanh gươm bên cạnh… trong các dip lễ tại địa phưong đã gây ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn trẻ con của chúng tôi hồi đó. Lớn lên khi đỗ tú tài, tôi đã nộp đơn xin thi vào khóa 18 trường Võ Bị Đà lạt (cùng lúc với Lê Cung Vịnh, Lê Thí, bạn cùng lớp ở Nguyễn Hòang. Vịnh sau lên trung tá thiết giáp, nghe nói mất tích trong khi di tản ở Ban Mê Thuột; Lê Thi sau lên thiếu tá, nghe đâu đã qua Mỹ theo diện HO). Nhưng vào thời gian đó, anh ruột của tôi là Lê Đình Đàn lại vào học khóa 12 trường Sĩ quan Bộ Binh Thủ Đức nên ông thân sinh tôi khuyên tôi bỏ ý định nầy đi. Mộng ước trở thành SVSQ Võ Bị của tôi đành gác lại. Thế rồi, gần 8 năm sau tôi lại trở về ngôi trường nầy trong cương vị của một giáo sư Văn Hóa Vụ. Nghĩ lại, định mệnh của một đời người có những trùng phùng thật thú vị…
Trở lại buổi trình diện với Thiếu Tướng Lâm Quang Thi, chỉ huy trưởng trường VBQGVN vào thời đó là kỷ niệm mà tôi không thể nào quên được. Ba anh em chúng tôi (Bùi Đình Rị, Từ Võ Hào, Lê Đình Cai) vào một buổi sáng trong tháng 10 năm 1968 đến trình diện Chỉ Huy Trưởng. Chúng tôi ăn mặc chỉnh tề, veston, cà vạt hẳn hoi, được đưa vào văn phòng của Thiếu Tướng. Riêng cá nhân tôi có mang theo hai bức thư, một của Nghị sĩ đệ I Phó Chủ Tịch Thượng Nghi Viện, Hoàng Xuân Tửu gởi gắm cho Thiếu Tướng Thi; một của Nghị sĩ Nguyễn Văn Ngải (sau là Bộ Trưởng Bộ Xây Dựng Nông Thôn) gởi gắm cho Đại Tá Nguyễn Vân, Văn Hóa Vụ Trưởng. Cả hai bức thư nầy tôi đều giữ lại để làm kỷ niệm.
Khi vị sĩ quan tùy viên giới thiệu chúng tôi với Thiếu Tướng Lâm Quang Thi, chúng tôi thấy sắc mặt ông lạnh như tiền, với cái nhìn hết sức xa cách, ông lên tiếng “xin chào quý vị”. Rồi ông vẫn ngồi ở chiếc bàn có tấm biển khắc hai sao bạc và tên của ông, để bên cạnh một lá cờ đuôi nheo. Ông không đứng dậy để bắt tay chúng tôi. Ông cứ ngồi tại chỗ nói về một số điều liên quan đến kỷ luật của nhà trường, đến nhiệm vụ của các giáo sư văn hóa vụ… Tôi nhìn kỹ thấy ông có cái uy của một vị tướng chỉ huy. Chúng tôi, cả ba anh em, đứng im nghe ông chỉ thị khỏang gần 20 phút. Tự nhiên tôi đưa tay xin phát biểu: “Thưa Thiếu Tướng, xin Thiếu tướng cho chúng tôi ngồi xuống kẻo chúng tôi đứng lâu qúa rồi.” Khi đó Tướng Thi mới lên tiếng: “À, xin lỗi, mời qúy vị ngồi” và ông rời ghế qua ngồi cùng chúng tôi ở bàn salon tiếp khách.
Sau khi trình diện, chúng tôi trở lại khu Văn Hóa Vụ, bắt đầu nhận lãnh giáo trình để chuẩn bị giảng dạy.
Với phản ứng của mình vừa rồi với Tướng Thi, tôi nghĩ là chắc ông sẽ có ác cảm với tôi, Nhưng hồi ấy tôi còn trẻ, chưa lập gia đình nên trong lòng tôi nghĩ sao thì làm vậy, không lường đến hậu qủa.
Sau vài tháng chuẩn bị, tôi chính thức giảng dạy môn quân sử học (military history) cho các khóa 22B, 23, 24, 25….
Tôi nhớ lại thêm một kỷ niệm nữa… Vào một buổi sáng khỏang 10 giờ, một cuộc họp tòan thể giáo sư Văn Hóa Vụ được tổ chức tại hội trường với sự chủ tọa của Thiếu Tướng Lâm Quang Thi. Hồi đó giáo sư văn hóa vụ ngòai một số dân sự như chúng tôi ra, đa số là các giáo sư bị động viên rồi được biệt phái lên giảng dạy tại trường và họ phải mặc quân phục, theo kỷ luật quân đội như trong một quân trường. Còn chúng tôi vẫn mặc thường phục và chỉ có mặt ở trường khi có giờ dạy mà thôi.
Tướng Lâm Quang Thi, sau khi trình bày một số vấn đề liên quan đến việc dạy dỗ sinh viên, ông nhìn qua mấy anh em dân sự và nói: “Tôi muốn kể từ tuần tới, các vị giáo sư dân sự nầy phải hớt tóc ngắn như các vị sĩ quan, chứ không thể để tóc dài chải tém như thế nầy được.”
Tôi cảm thấy đây là một mệnh lệnh không hữu lý nên xin phát biểu. “Thưa Thiếu Tướng, chúng tôi là các giáo sư dân sự, hiện đang dạy tại Đại học Đà lạt, được Bộ Quốc Phòng điều qua dạy văn hóa tại Trường Võ Bị nầy. Xin Thiếu Tướng cho phép chúng tôi được hớt tóc theo kiểu dân sự. Thiếu tướng nghĩ sao khi chúng tôi mặc veston, cà vạt mà lại hớt tóc qúa ngắn theo kiểu các sĩ quan thì coi sao được”. Nghe xong,Thiếu Tướng Thi im lặng…
Sau khi cuộc họp giải tán, Bùi Đình Rị đến nói với tôi; “Sao cậu liều vậy, ông Tướng sẽ đì cậu sói trán.”
Những ngày sau đó tôi cũng lo lắng không biết rồi ông Tướng sẽ có biện pháp gì với mình đây? Với quyền uy sinh sát trong tay, vị Tứơng chỉ huy của ngôi trường nầy có thể đẩy đưa định mệnh của đời tôi vào ngõ tối… Tôi lo lắng chờ đợi. Nhiều lần tôi định mang bức thư của Nghị sĩ đệ I Phó Chủ Tịch Thượng Viện gởi gắm để trình lên ông. Nhưng mỗi lần như thế lương tâm tôi lại chống đối.
Nhiều bạn giáo sư đang khoác áo sĩ quan trong Văn Hóa Vụ cũng nói với tôi là cậu liều quá, chống lại lệnh của vị tướng chỉ huy trưởng như vậy là sẽ lãnh đủ…
Tôi chờ đợi… Một tuần, rồi hai, ba tuần… Không có gì xẩy ra cả. Tôi vẫn lên bục giảng và tiếp tục trách nhiệm giảng huấn của mình.
Vào giữa năm 1971, tôi đổi về dạy tại trường Đại học Văn khoa Huế và tại đây trong một dịp đón tiếpTrung Tướng Lâm Quang Thi, bấy giờ là Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đòan I, đến thăm viếng Đại học Huế, chúng tôi lại được dịp găp nhau và Tướng Thi rất vui vẻ: “Lại gặp ông giáo sư ở đây nữa rồi…”
Khi qua Hoa kỳ vào cuối năm 1994, tôi có dịp gặp lại Tướng Lâm Quang Thi nhiều lần trong các cuộc họp mặt gia đình Võ Bị Đà lạt tại San Jose . Và trong một dịp ra mắt sách năm ngoái tại Trung tâm Vivo về cuốn “Hell in An loc” của ông, tôi đã kể lại câu chuyện trên đây và hướng về ông Tướng, nguyên chi huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia, tôi phát biểu: “Thưa Trung Tướng, trong lòng tôi luôn giữ mãi niềm cảm phục đối với vị Tướng mà đã có lần trong đời mình làm việc dưới quyền. Lòng cao thượng và sự độ lượng của Trung Tướng mà tôi được cảm nghiệm, sống mãi trong tâm tư mình từ ngày ấy cho đến nay, dù biết bao đổi thay đi qua trong một đời người. Đằng sau khuôn mặt lạnh lùng của một vị Tướng với quyền uy sinh sát trong tay là một con người vị tha, đầy nhân bản. hình ảnh nầy của Tướng Lâm Quang Thi đã theo tôi từ tuổi thanh xuân cho đến bây giờ…

Những ngày tháng ở Đà Lạt thật là tuyệt diệu. Thời khắc biểu hàng tuần của tôi vào những ngày thứ hai, tư, sáu là dạy tại Trường Võ Bị về môn quân sử học cho năm thứ 3 và 4 thuộc khóa 22B, khóa 23, 24…. Thứ ba và thứ năm, phụ trách giảng dạy môn “34 năm cầm quyền của Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725 )” cho sinh viên năm cuối ngành Cử Nhân Sử Học, và môn Phương Pháp Sử cho sinh viên năm thứ nhất. Tôi luôn luôn mặc veston, thắt cà vạt, khuôn mặt lúc nào cũng cố giữ nghiêm nghị vì nhiều sinh viên lúc đó lớn tuổi hơn tôi, (một số vị là linh mục, là đại đức, và có các vị đã là giáo sư của các trường trung học …), điều nầy khiến một số bạn bè thường đùa là tôi đã già trước tuổi.
Mỗi buổi sáng, trường Võ Bị đều có xe búyt đưa rước các giáo sư và nhân viên hành chánh từ thành phố đến trường vào lúc 7:00 trước chợ Hòa Bình và trở lại thành phố khỏang 4:30 chiều. Đi xe búyt thì ấm áp vô cùng vì trời Đà lạt rất lạnh vào sáng sớm nhưng cũng có điều bất tiện là phải đúng giờ và phải đến chiều khi tan sở mới trở về. Trong khi chúng tôi, có những lúc chấm dứt giờ dạy rất sớm. Vì thế, sau đó tôi đã sử dụng xe Honda để đến trường, nhưng phải trùm đầu, nai nịt thật ấm, hai tay phải mang găng mới dám vượt đọan đường khá xa từ Phan Đình Phùng (đọan gần Bệnh Viện thành phố), vòng quanh bờ hồ Xuân Hương, vượt qua nhà ga Đà Lạt, qua hồ Than Thở, rồi mới tới khu đồi của trường Võ Bị… Lạnh ơi là lạnh, nhưng cảm giác vô cùng thú vị.
Tôi đã dạy học ở đây gần hết một niên khóa. Mùa hè năm 1969, tôi quyết định về Huế cưới vợ. Nhà tôi là một nữ sinh trường Đồng Khánh, tôi quen trước đó ba năm, và đang là sinh viên năm thứ nhất trường Đại Học Khoa Học Huế. Lễ cưới của chúng tôi được cử hành vào tháng 5 tại tư gia và buổi tiếp tân vào buổi chiều được tổ chức tại Câu Lạc Bộ Thể Thao Huế bên cạnh dòng Hương giang thơ mộng.
Vài hôm sau, nhà tôi theo tôi lên Đà Lạt. Một kỷ niệm đáng nhớ, bạn bè chúng tôi đã tổ chức một bửa tiệc ra mắt cô dâu, hiền thê của tôi. Tham dự gồm quý bằng hữu, các sinh viên Sử học mà tôi đang dạy tại trường Văn Khoa, cùng sinh viên đại diện các khóa của trường Võ Bị Đà Lạt. Ấn tượng sâu sắc mà tôi và nhà tôi không thể nào quên là khi phái đoàn đại diện của trường Võ Bị đến tham dự, do SVSQ Lê Viết Đắc khóa 22B hướng dẫn (anh Đắc hồi đó là Trung đoàn phó trung đòan SVSQ), trong bộ dạ phục màu rêu nhạt với gù vai alpha màu đỏ rất đẹp. Mọi người tham dự lúc đó đều tự động đứng lên vỗ tay chào đón nồng nhiệt khi các anh em SVSQ bước vào phòng hội (một điều rất tình cờ là anh Đắc trước đây khi còn ở Huế là thầy dạy toán cho nhà tôi trong một lớp luyện thi). Chiều ngày hôm sau, tại quán cà phê Thủy Tạ trên bờ hồ Xuân Hương, các sinh viên ban Sử Học lại dành cho nhà tôi một buổi đón tiếp rất thân tình mà chúng tôi không thể nào quên dù đã hơn bốn mươi năm trôi qua kể từ ngày ấy.
Có lần vào dịp cuối tuần, tôi dẫn nhà tôi vào thăm ngôi trường Võ Bị. Từ nhà khách ở ngay trước cổng trường, tôi chỉ cho nhà tôi ngọn núi cao nhất được gọi là đỉnh Lâm Viên đang ẩn hiện trong sương chiều mà tất cả khóa sinh Võ Bị đều phải chinh phục được trước khi làm lễ gắn alpha để thực thụ trở thành SVSQ của một trường Võ Bị danh tiếng nhất Đông Nam Á nầy.
Cuối năm 1969, sinh viên sĩ quan khóa 22B làm lễ ra trường. Đó là khóa đầu tiên cho chuơng trình 4 năm để nhận lãnh văn bằng tốt nghiệp, được Hội Đồng Liên Viện Đại Học Quốc Gia công nhận tương đương với Cử Nhân Khoa Học Nhân Văn và văn bằng Kỹ Sư Tạo Tác. Ngày lễ tốt nghiệp chính thức là ngày 12 tháng 12 năm 1969. Đêm trước đó là lễ truy điệu những anh hùng tử sĩ đã vị quốc vong thân… Không khí vô cùng trang nghiêm, uy nghi và hết sức cảm động. Lễ tốt nghiệp chính thức được tổ chức dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Vũ Đình Trường. Sau khi Quốc Kỳ và Quân Kỳ được rước qua lễ đài, cuộc diễn binh hùng tráng với những bước chân oai phong và lẫm liệt của các chàng trai Võ Bị trong bộ lễ phục màu trắng, giây biểu chương màu vàng, gù vai alpha và rua màu đỏ rực, đã khiến bao người tham dự hết sức xúc động và vô cùng hãnh diện. Những chàng trai nầy quả là niềm hy vọng của Tổ Quốc ngày mai. Họ là những cán bộ lãnh đạo tương lai của đất nước với kiến thức vững chải về quân sự, cùng với trình độ học vấn của bậc đại học. Khi Tổng Thống gắn cấp bậc Thiếu Úy cho sinh viên Nguyễn Đức Phống, anh đã nhận cung tên để bắn đi bốn phương trời tượng trưng cho chí nam nhi tang bồng hồ thỉ. Các SVSQ khóa 22B quỳ xuống để nhận lãnh cấp bậc Thiếu Úy và đứng lên để trở thành tân sĩ quan hiện dịch của QLVNCH.
Ngồi trên lễ đài dành cho gíao sư Văn Hóa Vụ, nhà tôi và tôi chăm chú theo dõi diễn tiến buổi lễ với niềm cảm xúc dâng trào… (Sau này, khi nghe tin anh Nguyễn Đức Phống, sinh viên tốt nghiệp thủ khoa, đã tử trận trong khi tham dự trận đánh ở biên giới Việt Miên vào khỏang tháng 7 năm 1970, tôi hết sức bàng hòang và đau đớn, thương tiếc một cựu sinh viên, thông minh tài ba mà mệnh bạc…).
Bây giờ, trên xứ lạ quê người, khi tóc đã hoa râm, ngồi đếm bóng thời gian chờ ngày trở về với cát bụi, lòng người đôi khi chùng xuống với những hồi ức xa xăm của một thời trai trẻ. Những buồn vui nhiều khi cuồn cuộn trở về… Nhớ nhớ quên quên… Ghi lại những gì trong miền ký ức xa xôi ấy để được tâm sự với người thân, với bằng hữu, và cũng là một cách nào đó, cho mình được sống lại với những hoài bão không thành của một thời vang bóng…

San Jose , những tháng ngày đi qua…

Lê Đình Cai (*) Văn bằng Cao học nầy, hiện nay trong nước gọi là văn bằng Thạc sĩ.

Tâm sự một tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa về ngày 30/4

Vietnam War
 
 
Tướng Lâm Quang Thi là tác giả tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn “The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon”và cuốn “Hell in An Lộc: The 1972 — Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam”, xuất bản hồi năm ngoái.
Tướng Lâm Quang Thi: “Tiếc thay, người Mỹ không có cái gan để đi ra Bắc, tiêu diệt ý chí chiến đấu của Hà Nội mà cũng không có sự kiên nhẫn để yểm trợ miền Nam trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống cộng sản.”

Tướng Lâm Quang Thi là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam. Ban Việt ngữ-VOA tiếp xúc với Tướng Lâm Quang Thi, vài ngày trước lễ mừng sinh nhật thứ 80 của ông.

VOA: Thưa, trước hết xin Trung Tướng cho biết ông có suy nghĩ gì về ngày 30 tháng Tư, 37 năm sau khi Sài Gòn thất thủ?

Tướng Lâm Quang Thi: “Mỗi lần 30 tháng Tư tới thì tôi lại vừa buồn vừa tức giận. Buồn vì bao nhiêu đồng bào mình phải bỏ nước ra đi, một số chết trên biển cả, và một số anh em chiến hữu của tôi thì bị Cộng sản nó bắt, tra tấn, đày đọa trong các trại tù ở Bắc Việt. Và tôi tức giận là bởi vì đồng minh của mình nó bỏ rơi mình trong những giờ phút đen tối nhất của lịch sử nước nhà.”

VOA: Thưa, như Trung Tướng nói, biết bao thảm họa đã xảy đến cho quân và dân miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư, thì trong tư cách một tướng lãnh, Trung Tướng có cảm thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn so với những người khác về những gì đã xảy ra?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi không phải là một chánh trị gia, nhưng với tư cách một tướng lãnh đã cầm quân, tôi thấy mình có phần nào trách nhiệm cũng như tất cả các tướng lãnh khác, các chỉ huy trưởng các đại đơn vị khác cũng phải có trách nhiệm phần nào về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.”

VOA: Thưa Trung tướng, là tác giả cuốn Autopsy: The Death of South Vietnam, phân tích sự cáo chung của miền Nam Việt Nam, xin Trung Tướng tóm tắt cho thính giả của đài chúng tôi một số nguyên do chính dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ Sàigòn?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi thấy rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam có 2 lý do chánh. Thứ nhất là người Mỹ họ không có một nhiệm vụ rõ ràng ấn định cho quân lực của họ, tức là cái “mission” không được định nghĩa rõ ràng. Theo tôi nghĩ, người Mỹ chỉ có 2 sự lựa chọn: thứ nhất là đi ra Bắc, tiêu diệt ý chí chiến đấu của Hà nội; hoặc là ở trong Nam thì phải có đủ kiên nhẫn để ủng hộ và yểm trợ một chánh phủ miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chiến đấu trường kỳ ở miền Nam. Nhưng mà tiếc thay người Mỹ không có cái gan để đi ra Bắc, mà lại không có sự kiên nhẫn để ở lại trong Nam. Đó là cái lý do thứ nhất. Thứ nhì là cơ quan truyền thông của Mỹ rất thiên vị, có thể nói là thiên tả, thành thử ra tất cả những gì xảy ra đều có thể bị bóp méo để chứng minh rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể nào thắng bởi vì quân đội Việt Nam chiến đấu kém và tham nhũng. Cái đó là tiền đề của truyền thông Mỹ, thành thử ra tất cả những sự kiện xảy ra mà đúng vào tiền đề đó thì họ dùng. Còn nếu không đúng thì họ có thể bóp méo để chứng minh tiền đề là chiến tranh Việt Nam không thể thắng được. Chẳng hạn như Tết Mậu Thân, Việt Cộng sát hại 5, 6 ngàn người dân vô tội ở Huế mà truyền thông Mỹ không nói tới. Trong lúc đó ông Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan ông ấy hành quyết một tên đặc công cộng sản thì nó đưa lên, được Giải Pulitzer đủ thứ trò, mà họ không nói rằng anh cộng sản đó đã tàn sát bao nhiêu gia đình cảnh sát của Tướng Loan ở Chợ Lớn.”

VOA: Thưa ông, ngoài vai trò của giới truyền thông phản chiến Mỹ, ngoài vai trò của người Mỹ mà Trung Tướng cho là không định nghĩa rõ ràng cái “mission”, thì thưa Trung Tướng, cái trách nhiệm của chính phủ Việt nam Cộng hòa nằm ở chỗ nào trong sự thất bại của miền Nam?

Tướng Lâm Quang Thi: “Thành thật mà nói rằng tất cả vấn đề viện trợ quân sự cũng như là tài chánh đều do người Mỹ cung cấp. Nếu họ rút tất cả những viện trợ đó thì chúng ta không còn khả năng để chiến đấu, chẳng hạn như trong trận chiến An Lộc năm 1972, không có quân đội Mỹ nào dưới đất mà mình chỉ có sự yểm trợ bằng không lực của Hoa Kỳ mà Sư đoàn 5 bộ binh của chúng ta đã chiến đấu và đã chiến thắng 3 sư đoàn Bắc Việt. Tôi tin chắc rằng nếu tiếp tục có được sự viện trợ hỏa lực của Mỹ thì quân lực Việt nam Cộng hòa sẽ đánh bại những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt. Tới năm 1974-75 thì viện trợ Mỹ đã rút xuống chỉ còn 700 triệu đôla mà trong 700 triệu đôla đó, 400 triệu đôla được dùng để phát lương cho nhân viên Tùy viên Quân lực Hoa Kỳ -DAO (Deputy Attaché Office), mình còn có 300 triệu đôla để đánh giặc trong một năm. Trong lúc đó, Do thái trong trận Yom Kippur năm 1973, Do Thái nhận viện trợ được 2 tỉ mốt mỹ kim để đánh giặc trong 3 tuần lễ! Thành thử ra lúc đó miền Nam đạn dược, súng trường cũng thiếu, lựu đạn cũng thiếu nữa, thì làm sao mà đánh giặc được! Mình không có cách nào có thể đương đầu được với một quân đội Bắc Việt được Nga Sô và Trung Cộng viện trợ ào ạt từ năm 1974 tới 1975. ”

VOA: Vậy giới lãnh đạo chính trị của miền Nam có lệ thuộc quá đáng vào viện trợ Mỹ mà không tự lực cánh sinh được?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tự lực cánh sinh, theo tôi cũng khó khăn là bởi vì trong lúc cộng sản Hà nội được sự viện trợ ào ạt của Nga Xô và Trung Cộng thì miền Nam Việt Nam chúng ta cần có một sự viện trợ của thế giới tự do mới có thể đương đầu được.”

VOA: Xin phép được hỏi một câu hơi có tính cách cá nhân. Thưa, được phong hàm Tướng từ thời còn rất trẻ, cuộc đời của Trung Tướng gắn liền với Quân lực Việt nam Cộng hòa, Trung Tướng có kỷ niệm nào muốn chia sẻ với Đài VOA về cuộc đời binh nghiệp của mình?

Tướng Lâm Quang Thi
: “Tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của tôi không phải là cầm quân mà thực sự tôi được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Lúc bấy giờ chương trình tăng lên từ 2 năm tới 4 năm và tôi đã tranh đấu hết sức để các sĩ quan tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia được hưởng bằng cấp Cử nhân Khoa học Ứng dụng, tương đương với Trường Võ Bị West Point của Hoa Kỳ. Đó là cái niềm hãnh diện nhất của tôi trong cuộc đời binh nghiệp”

VOA: Thưa Trung Tướng, Hoài Hương xin lỗi trước nếu câu hỏi này có gợi lại cho Trung Tướng những điều đau lòng, nhưng Hoài Hương có đọc một bài viết của Andrew Lâm kể lại cảnh Trung Tướng đã vất khẩu súng riêng trên chuyến tàu lúc bỏ nước ra đi, thành ra có lẽ nhiều độc giả cũng có thắc mắc như Hoài Hương, không biết lúc đó Trung Tướng nghĩ gì và có những cảm xúc như thế nào?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi rời Việt Nam ngày 30 tháng Tư trên chiếc tàu Hải Quân 2, và khi đoàn của Hải quân Việt Nam đến Phi Luật Tân thì chính phủ Phi Luật Tân không muốn thấy một Hải quân ngoại quốc tiến vào hải cảng của họ, cho nên Hải quân Việt Nam phải chuyển tất cả tàu bè lại cho Mỹ, và các sĩ quan trên tàu cũng phải mặc thường phục, trong khi tất cả những vũ khí trên tàu phải bỏ hết, thành thử tôi cũng phải tuân theo điều lệ đó. Tôi bỏ khẩu súng lục của tôi xuống biển Thái bình dương, tôi rất là, hết sức là đau lòng. Tới bây giờ mỗi lần nghĩ tới cái…cảnh đó, tôi vẫn còn thấy đau, nhất là khi mà quốc kỳ Việt Nam phải kéo xuống để kéo lá cờ Mỹ lên trước khi vào hải cảng Subic Bay của Phi Luật Tân. Thành ra cái đó là một cái kỷ niệm hết sức đau đớn đối với tôi, và tôi nghĩ cũng đau đớn đối với tất cả các tướng lãnh và các sĩ quan khác.”

VOA: Xin cám ơn Trung Tướng đã chia sẻ với thính giả của VOA những cảm xúc của mình lúc rời bỏ đất nước ra đi, thưa Trung Tướng, người tỵ nạn Việt Nam, dù lưu lạc tới nước nào cũng phải bắt đầu lại cuộc đời từ con số không, được biết Trung Tướng đã đi học lại để lấy bằng MBA ở Hoa Kỳ, vậy xin Trung Tướng kể lại những kinh nghiệm của ông trong thời gian đầu của cuộc đời tỵ nạn, và động lực nào đã thúc đẩy ông không ngừng phấn đấu?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi qua đây cũng nhờ hệ thống của Trường Võ Bị West Point bởi vì giữa Trường Võ Bị Việt Nam và Trường West Point có những liên hệ hết sức là gắn bó. Chính ông Chỉ huy trưởng Trường West Point, cũng là bạn của tôi ở Việt Nam, ông đã tìm cách để cho tôi có một địa vị xứng đáng trong hệ thống ngân hàng của nước Mỹ, và vì tôi có một địa vị tốt ở Mỹ, tôi phải đi học nên tôi tiếp tục học và lấy được bằng MBA. Tôi đã làm việc hết sức chăm chỉ và có thể nói là thành công trong cuộc đời của tôi bên Mỹ.”

VOA: Thưa Trung Tướng, vào tuổi này, ông có hoài bão gì cho tương lai?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi tin tưởng rằng thế nào cũng có ngày chúng ta có dịp trở lại thăm viếng một nước Việt Nam độc lập, tự do và không cộng sản. Đó là cái hoài bão cuối cùng của tôi và tôi tin chắc thế nào cũng thực hiện được.”

Thưa quý vị, vừa rồi là cuộc phỏng vấn với Trung Tướng Lâm Quang Thi, cựu Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam ở Đà Lạt, từng là Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh ở Sa Đéc và Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân đoàn 1 tại Huế. Tướng Lâm Quang Thi cư ngụ ở bang California và là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon và cuốn Hell in An Lộc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam, xuất bản hồi năm ngoái.

 
Hoài Hương — Voice Of America
 

Đà Lạt & Trường Võ Bị và Dấu Binh Lửa – Đinh Tiến Đạo K24

Bonsai in Bloom

Azalea


Rare tri-color Azalea


Pink Azalea

Bougainvillea

Azalea

Crabapple
Azalea


Hibiscus


Bougainvillea

Crepe Myrtle

Cherry

Cherry

Chinese Wisteria

Japanese Wisteria
Apple

Japanese Wisteria
Usually, bonsai is for the appreciation of the branches and leaves as well as the shape of the plant as a whole. We can never imagine these glorious creations can be fully bloomed until seeing with our own eyes!
They are truly out of this world and a great pleasure to watch, especially first thing in the morning!
Please save and share with good friends.

Sự Tích Gái Ngoan Dạy Chồng

Ngày xưa có một người đàn ông giàu, vợ chết sớm, chỉ có độc một người con trai. Đứa con vốn người xấu nết, đần độn, lại là tay chơi bời lêu lổng không chịu học hành hay làm ăn gì cả.

Thấy con không lo nối nghiệp nhà, người nhà giàu rất buồn phiền, biết rằng của cải của mình sẽ có một ngày đội nón ra đi mà thôị Bởi vậy, ông bèn tính chuyện kiếm cho con một người vợ khôn ngoan đảm đang, để may ra nó sẽ ngăn chặn tay chồng, bảo vệ một phần nào cơ nghiệp.

Nghĩ vậy, ông cất công đi khắp nơi tìm kiếm, nhưng đi đã nhiều nơi mà vẫn chưa thấy một người nào vừa ý.

Một hôm, đến một vùng kia, nhân mỏi chân, ông nghỉ lại một gốc đa bên đường. Ông bỗng thấy ở một cây táo gần đấy có một bọn trẻ đang tranh nhau trẩy ăn. Một chốc sau, một cô gái tuổi chừng đôi tám, cũng đến trẩy táọ Ông mới lân la lại gần hỏi xin ăn.

Lúc này, táo chín đã bị bọn người trước trẩy hết, chỉ còn những quả xanh, nhưng cô gái cũng cố chọn lấy những quả ương ương đưa cho khách.

Thấy cô gái tốt bụng, ông ta nghĩ: “Sởi lởi, trời gởi của cho, quăn co, trời gò của lạị Chỉ có người nào tốt bụng với mọi người mới xứng đáng được hưởng giàu có sung sướng”.

Bởi vậy, ông mới tìm đến nhà cô gái, giả làm một người lỡ độ đường, xin nghỉ trọ một tốị Và rồi ông được gia đình cô gái ân cần tiếp đãi.

Để thử xem cô gái có khôn ngoan không, ông lân la làm quen với nàng. Khi biết cô sắp đi chợ, ông đưa ra một quan tiền nhờ mua hộ cho mình “một nắm gió, một bó lửa”. Cô gái chẳng nói chẳng rằng, mua về cho ông một cái quạt và một con dao đánh lửạ Thấy thế, ông thầm khen ngợi, nhưng vẫn định thử thêm cho biết.

Qua ngày hôm sau, ông dậy sớm, giở tay nải đưa cho cô mấy bát gạo nếp, nhờ nàng thổi giúp cho mình một nồi vừa cơm vừa bánh để ăn và đem đi ăn đường. Cô gái không từ chối, vội lấy gạo ra vo. Trước khi cho vào nồi, nàng bớt lại một ít giã làm bột vắt bánh rồi hấp luôn vào cơm. Khi nàng bưng ra, ông già lấy làm vừa ý, cho là con người đó đủ cả đức hạnh, khôn ngoan, đảm đang ít có. Bèn quyết định trở về sửa soạn lễ hỏi cho con trai làm vợ.

Đứa con trai của ông từ ngày có vợ lại càng lêu lổng; hắn thường bỏ nhà đi đánh đàn, đánh đúm với bọn vô lại, làm cho ông hết sức buồn. Và điều làm ông lo lắng nhất là hắn thỉnh thoảng lại trộm tiền của ông, khi dăm bảy quan, khi một vài vác, tung vào cuộc đỏ đen. Mặc dù ông đánh đập, mặc dù vợ hắn khuyên lơn, nhưng hắn chứng nào vẫn tật ấỵ Dần dần ông buồn phiền thành bệnh. Một hôm, biết mình sắp chết, ông gọi con dâu đến bên giường dặn nhỏ:

– Này cha đã gần đất xa trờị Chồng con là một thằng “Phá gia chi tử”, cơ nghiệp này chỉ còn một sớm một chiều mà thôi. Cha rất thương con xấu số. Từ lâu cha làm ăn dành dụm, có để được một hũ vàng chôn ở sau vườn. Vậy cha cho riêng con hũ vàng đó, đừng cho chồng con biết. Sau này chồng con có thật sự ăn năn hẵng giúp cho nó làm lại cuộc đờị

Đứa con trai ông sau khi người cha qua đời, lại càng chơi bời mặc sức. Vợ hết khuyên lơn đến cầu khẩn, hắn chẳng những đã không nghe lại còn phũ phàng với vợ. Mỗi lần thua bạc, hai người lại càng xô xát. Nhiều lần vì vợ cản trở, hắn đánh đập vợ không tiếc tay và làm nhục nàng trước mặt mọi ngườị Một hôm để khỏi vướng, hắn viết giấy cho vợ đi lấy chồng khác rồi đuổi nàng ra khỏi cửa.

Từ đó, hắn phỉ chí tung hoành không một ai dám cản. Quả như lời đoán của bố hắn, mấy chục mẫu ruộng đều lần lượt “nướng” vào sòng bạc. Hết ruộng vườn tới nhà ở, chẳng bao lâu tất cả cơ nghiệp mấy đời lưu truyền lại đều sạch sành sanh. Cuối cùng không một đồng dính túi, không một nghề cầm tay, hắn đành bỏ làng mạc quê quán, đi lang thang khắp đầu đường xó chợ, ngửa tay xin ăn qua ngày.

Còn về người đàn bà sau khi bị chồng đuổi, mới đổi tên, tìm đến trấn thành mở một ngôi hàng nước. Sau ít lâu, kiếm được một số nhỏ, nàng bắt đầu buôn hàng tấm. Số vốn của nàng ngày một lớn dần. Một hôm, gặp hai em bé gái mồ côi đi ăn xin, nàng thương tình đưa về nuôi làm con, coi như ruột thịt. Cuộc đời dần dần nở hoa trước mắt nàng. Trong một dịp đi tìm kiếm củi, hai con nàng nhặt được một khúc gỗ mục, về chẻ ra thấy có mấy thoi vàng. Có vốn lớn lại có tài kinh doanh, nên chẳng bao lâu, nàng trở nên giàu có, nổi tiếng trong trấn. Tiền bạc tuôn về như nước. Tuy sống sung sướng nhưng nàng vẫn ở một thân một mình. Thấy nàng giàu có, nhiều kẻ ngấp nghé muốn “gá nghĩa Châu Trần”, nhưng người đàn bà ấy nhất thiết từ chối mọi lời đường mật. Mặc dù người chồng bạc bẽo và mặc dầu mười lăm năm xa cách, nàng vẫn không quên được tình xưa nghĩa cũ. Đã nhiều lần nàng thuê người lần đi các chợ búa phố phường dò hỏi nhưng tin tức của chồng càng hỏi, càng bặt tăm.

Năm ấy, sau mấy tháng hạn, lúa khoai chết mòn trên những cánh đồng nứt nẻ. Giá gạo cứ lên vùn vụt. Ngoài đường, người đi xin ăn kéo từng đoàn. Người đàn bà lúc này đã là bà chủ hiệụ Bà xin phép quan trên cho mình đem tiền gạo ra phát chẩn cho kẻ khó. Làm như thế, nàng còn mong một khi thấy yết thị dán khắp thôn xóm thì chồng mình tất sẽ lần mò về, nếu hắn còn sống. Y như thế thật, ngày bắt đầu phát, nàng đã thấy bóng dáng của chồng ngồi ở hàng cuối đội quân lĩnh chẩn. Đúng là hắn. Từ ngày bắt đầu cầm bị gậy đến nay, hắn vẫn chưa có cách gì để sống khá hơn và đỡ hèn hạ hơn trước. Bây giờ nghe nói có phát chẩn, hắn vội mò đến đây và ngồi đầu hàng về phía tả. Thế nhưng khi phát, những người giúp việc cho bà chủ hiệu lại được lệnh phát từ phía hữu lạị Khi sắp sửa đến lượt hắn thì bọn họ tự nhiên nói lớn:

— Hôm nay đã hết gạo, mời bà con về đợi đến ngày mai!

Hắn buồn bực trở ra. Qua ngày sau, hắn cố tìm đến thật sớm, ngồi vào đầu hàng bên hữụ Nhưng hắn không ngờ, những người phát chẩn hôm nay lại bắt đầu phát từ phía bên kia. Lúc sắp phát đến hắn thì chúng lại giơ thúng không lên:

— Hôm nay thế là lại hết gạọ Bà con hãy đợi đến mai.

Hắn thở than cho số đen đủi, lần trở ra về. Qua hôm sau, lại mò đến thật sớm. Lần này hắn len vào ngồi đúng chính giữa đội quân lĩnh chẩn. Trong bụng hắn nghĩ lần nầy thì không để mất phần được. Nhưng đến giờ phát, hắn không ngờ người nhà của bà chủ hiệu hôm nay lại phát hai đầu phát lại và cuối cùng người không được gì cả, vẫn lại là hắn. Ba lần hỏng cả ba, hắn rất ngao ngán, bèn đánh liều tìm đến dinh cơ bà chủ để xin ăn. Gặp hai đứa con gái nuôi của vợ, hắn ngả nón kêu van hết lờị Ở trong nhà; người đàn bà nhìn ra biết là chồng, đã do mưu của mình mà đến đây, bèn sai người hầu ra hỏi, xem hắn có biết làm việc gì không để thuê mượn. Nghe hỏi thế, hắn vội trả lời:

— Xin ông bẩm với bà lớn rủ lòng thương, cho tôi được ở hầu bà, rửa bát, quét nhà, mọi việc tôi đều xin hết sức. Chỉ cho tôi ăn ba miếng là đủ rồi!

Người nhà trở ra cho hắn biết bà chủ nhận lờị Từ đó, hắn chăm chỉ làm lụng, cố làm vừa lòng chủ. Nhưng chung quy hắn vẫn không biết chủ chính là vợ cũ của mình. Về phần người vợ cũng không hề để lộ một tí cho hắn biết, chỉ dặn hai con và người nhà đối đãi tử tế mà thôi. Sau một thời gian, thấy hắn chịu khó làm ăn, người đàn bà mừng lắm. Một hôm nàng cho gọi hắn lên nhà hỏi xem có biết chữ nghĩa gì không! Hắn đáp:

– Tôi lúc nhỏ được đi học có biết ít nhiều.

– Vậy từ mai trở đi, anh không hầu hạ nữa, cho anh ở gian nhà khách dạy đám trẻ học tôi sẽ trả mỗi năm ba mươi quan.

Nghe nói, hắn tưởng không có gì sung sướng hơn thế nữa, cảm thấy lòng nhân đức của bà chủ đối với mình bằng trời bằng biển, vội nhận lời ngay. Từ đó, hắn đóng vai thầy đồ cố sức làm cho chủ tin cậỵ Nhưng người vợ vẫn thử mãi không thôi.

Một lần, gặp ngày tết, bà chủ sai lấy tiền ra cho kẻ hầu người hạ. Nàng nói:

– Ta cho mỗi người năm quan, hãy mang đi đánh bạc cho vui, nếu hết sẽ cho thêm. Thầy đồ ta cũng được năm quan tiền. Nhưng trong khi mọi người đem tiền nướng vào xóc đĩa, bài mười, thì trái lại, hắn mang nguyên vẹn số tiền đó về gửi cho chủ. Bà chủ hỏi:

– Tại sao anh không thích đánh bạc? Hắn trả lời:

– Bẩm bà, tôi ngày xưa, vì cờ bạc mà đến nông nỗi nàỵ Cho nên bây giờ buộc chỉ cổ tay thề rằng không đụng đến nó.

Thế rồi luôn miệng, hắn kể hết cho chủ nghe, từ cuộc đời cũ có ruộng nhiều, có vợ ngoan như thế nào, rồi bán ruộng đuổi vợ ra sao, cho đến lang thang đói rách, và ngày nay đã ăn năn hối lỗi v.v… Bà chủ hỏi:

– Anh còn thương vợ nữa không? Hắn rầu rĩ:

– Tôi đã nhiều lần dò tìm mà không thấỵ

– Nghe anh nói tôi rất thương tình. Vậy tôi cho anh năm quan để anh đi tìm vợ. Nếu hết tiền mà vẫn chưa thấy, anh cứ về đây, tôi sẽ cho thêm mà tìm cho ra.

Hắn mừng rỡ vâng vâng, dạ dạ, mang tiền đi tìm. Nhưng sau ba tháng trở về với bộ mặt thiểu não, hắn cho chủ biết không hề thấy tung tích đâu cả, chắc là vợ hắn đã chết.

Từ đấy, vợ thấy chồng chí tình, lại có lòng tu tỉnh, nên rất mừng. Nhưng nàng vẫn chưa ra mặt vội, chỉ an ủi hắn hãy ở lại đây, may ra sẽ có ngày hội ngộ.

Một hôm, nhân ngày giỗ cha chồng, bà chủ nhờ thầy đồ chép bài văn tế. Hắn ta ngạc nhiên và bội phần mừng rỡ khi thấy bài vị của tổ tiên nhà chủ chính là bài vị tổ tiên mình. Lập tức, hai vợ chồng ôm nhau khóc lóc. Rồi sau khi cúng xong, họ mời làng xóm và người nhà ngồi lại kể rõ sự tình. Ai nấy đều cho là một cuộc tái ngộ hiếm có.

Về sau, hai vợ chồng dựng vợ gả chồng cho hai con nuôi, giao cửa hiệu lại cho chúng cai quản. Sau đấy, họ dắt nhau trở về quê hương xưa, chuộc lại vườn tược nhà cửa cũ. Và sau khi đã sống yên ổn ở quê nhà, vợ mới sai đào hũ vàng bố chồng cho mình ngày xưa lên. Nàng nói:

– Có vàng chưa chắc đã có hạnh phúc. Cho nên trong những cơn túng thiếu nhất, tôi vẫn không cần đến nó.

Nói đoạn, đem số vàng ấy cúng cho đền chùa để bố thí cho người nghèọ Từ đấy, hai vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc. Câu tục ngữ: “Làm trai rửa bát quét nhà. Vợ gọi thì ‘Dạ bẩm bà tôi đây!'” là do chuyện này mà ra.

Đà Lạt Xưa & Nay

Vài Phim Việt Nam trước 1975

Chúng Tôi Muốn Sống (1956)

Nàng (1974)

Bão Tình (1972)

Sóng Tình (1972)

Người Cô Đơn (1972)

Như Giọt Sương Khuya (1972)

Tứ Quái Sài Gòn (1973)

Trường Tôi (1973)

Gánh Hát Về Làng (1974)

Giỡn Mặt Tử Thần (1975)

Hình Ảnh Sài Gòn Trước 1975

The Incredible Power Of Concentration – Miyoko Shida

Tống cổ nếp nhăn tự nhiên theo cách của Lena

(Tự trang điểm)- Nếu chị em nào cũng đang lo lắng về tình trạng các nếp nhăn trên khuôn mặt như Lena thì cũng có thể thử áp dụng các biện pháp này rồi cảm nhận hiệu quả từ chúng nhé.

Nếp nhăn là một trong những ám ảnh lớn nhất của phụ nữ tuổi 30 trở lên bởi nó cũng là một khiếu nại rõ nhất của quá trình lão hóa da. Và Lena cũng không ngoại trừ.

30 tuổi, dù rất chịu khó dưỡng da và chăm sóc sắc đẹp, nhưng Lena cũng đã xuất hiện nhiều nếp nhăn trên trán và khóe mắt. Thú thực, có lúc Lena cũng muốn áp dụng các phương pháp điều trị laser hay mài da và phẫu thuật để tránh nếp nhăn này. Nhưng qua tìm hiểu, Lena thấy những phương pháp điều trị trên tuy có vẻ có hiệu quả – nhưng lại rất tốn kém và mất nhiều thời gian.

Vì thế, để cứu cánh cho làn da khỏi những nếp nhăn, Lena buộc phải thử áp dụng những biện pháp tự nhiên để hạn chế điều này. Và sau nhiều lần áp dụng các phương pháp khác nhau, Lena thấy những biện pháp mà Lena đang tiếp tục chia sẻ dưới đây có hiệu quả hơn cả.

Vì thế, nếu chị em nào cũng đang lo lắng về tình trạng các nếp nhăn trên khuôn mặt như Lena thì cũng có thể thử áp dụng các biện pháp này rồi cảm nhận hiệu quả từ chúng nhé.

Những gì bạn cần

– Vitamin E, dầu ô liu hoặc dầu dừa

– Kem chống nắng

– Tẩy tế bào da chết

Bước 1

Để hạn chế và đánh bật nếp nhăn trên khuôn mặt, bạn có thể tăng độ ẩm cho làn da của bạn giống như cách của Lena dưới đây là sử dụng dầu ô liu, vitamin E hoặc dầu dừa chăm sóc da mặt hàng ngày.

Bởi thực tế khi làn da của bạn khô nẻ, nó có thể dẫn đến nếp nhăn hơn. Kem dưỡng ẩm da tự nhiên có thể ngăn chặn điều này xảy ra.

Chỉ cần thoa một chút dầu trên một quả bóng bông và áp dụng cho các khu vực có nếp nhăn tọa lạc. Để các loại dầu này khô hoàn toàn trong vòng 10 đến 15 phút sau đó rửa sạch lại bằng nước ấm.

Ảnh MH
Nếu chị em nào cũng đang lo lắng về tình trạng các nếp nhăn trên khuôn mặt như Lena thì cũng có thể thử áp dụng các biện pháp này rồi cảm nhận hiệu quả từ chúng nhé.

Bước 2

Bạn có tin hay không thì tùy nhưng Lena thấy nếu chịu khó thay đổi vị trí khi ngủ cũng có thể hạn chế được nếp nhăn.

Bạn có thể không nghĩ về điều này, nhưng đó là một thực tế nếu không muốn nếp nhăn xuất hiện thêm trên mặt.  Theo Học viện Da liễu Mỹ, bạn có thể ngủ trên một chiếc gối lụa mềm mại và thông thoáng cũng giúp ngăn chặn nếp nhăn.

Bước 3

Nếu muốn nếp nhăn không xuất hiện, chị em nào hút thuốc nên ngừng hút thuốc. Hút thuốc lá là một trong những thủ phạm chính làm cho nếp nhăn sớm xuất hiện vì chất nicotine co thắt các mạch máu của bạn.

Ngoài ra, chúng cũng cản trở khả năng hấp thụ của các chất dinh dưỡng cần thiết trên bề mặt da. Do đó có thể gây ra khô da.

Hoặc nếu bạn không hút thuốc lá thì cũng phải cố gắng tránh khói thuốc. Vì điều này khiến làn da trở nên tồi tệ hơn và dễ làm phát sinh nếp nhăn xuất hiện.

Bước 4

Không nên đi ra ngoài mỗi lúc trời nắng vì tiếp xúc với quá nhiều với tia UVA và UVB là một nguyên nhân chính cho các nếp nhăn xuất hiện.

Nếu bạn không thể tránh được việc phải đi ra ngoài nắng thì nên thoa kem chống nắng. Ngoài ra, mặc quần áo bảo hộ, mũ rộng vàng, kính râm để ánh nắng mặt trời không tác động trực tiếp trên da của bạn.

Bước 5

Tẩy tế bào chết cho khuôn mặt ít nhất một lần một tuần. Tẩy tế bào chết giúp làn da của bạn sáng một cách tự nhiên và làn da trẻ trung hơn làn da bên dưới.

Bước 6

Luôn cố gắng thư giãn để khuôn mặt bạn luôn thoải mái và cười. Thực tế, nếu bạn càng tiết kiệm nụ cười, hoặc có thói quen nheo mắt của bạn, nhiều khả năng bạn bị nếp nhăn nhiều hơn những người không có thói quen này.

  • Lena

Bật mí bí mật trắng da tự nhiên của phụ nữ Nhật

(Tự trang điểm)- Thực tế, thay vì sử dụng sản phẩm làm trắng da tổng hợp, phụ nữ Nhật Bản thường sử dụng rất nhiều phương pháp chăm sóc da tự nhiên hoặc tự chế để làm trắng và duy trì làn da trắng xinh đẹp của mình.

Người đẹp Đông Nam Á đặc biệt là phụ nữ Nhật Bản được biết đến với màu trắng, mịn. Đó là lý do tại sao rất nhiều phụ nữ trên khắp nơi trên thế giới muốn biết bí quyết làm đẹp của họ.

Song thực tế, thay vì sử dụng sản phẩm làm trắng da tổng hợp, phụ nữ Nhật Bản thường sử dụng rất nhiều phương pháp chăm sóc da tự nhiên hoặc tự chế để làm trắng và duy trì làn da trắng xinh đẹp của mình.

Nếu bạn muốn biết một số cách tự nhiên để làm trắng da một cách hiệu quả và an toàn, bạn có thể thử áp dụng những mẹo làm trắng da rất phổ biến của phụ nữ Nhật Bản sau nhé.

1. Sử dụng nước gạo để rửa mặt

Nước gạo có thể được lấy khi hàng ngày bạn vo gạo trước mỗi bữa cơm. Thay vì bỏ nước vo gạo đi, bạn có thể sử dụng nước gạo để rửa mặt.

Theo các chuyên gia da liễu, rất nhiều phụ nữ Nhật Bản sử dụng nước gạo để rửa mặt hàng ngày cho khuôn mặt của mình. Lý do bởi vì nước vo gạo rất giàu chất chống oxy hóa, giúp bảo vệ da khỏi tác hại của ánh mặt trời.

Vì vậy, sau khi bạn vo gạo để nấu cơm, bạn không nên đổ nước này đi mà sử dụng nó để rửa mặt. Bởi đây là một giải pháp làm trắng da với giá cả rẻ bèo.

2. Tắm hoặc đắp mặt nạ bằng sữa

Sữa là một thực phẩm cũng được biết đến để làm trắng da hiệu quả. Và phụ nữ Nhật Bản thường sử dụng sản phẩm thơm ngon và lành mạnh này để làm trắng dần làn da mình trong nhiều thế kỷ.

Nếu không có nhiều tiền, bạn không cần tắm cả cơ thể với sữa. Ngược lại, bạn có thể sử dụng sữa làm một mặt nạ trắng da.

Ảnh MH
Thực tế, thay vì sử dụng sản phẩm làm trắng da tổng hợp, phụ nữ Nhật Bản thường sử dụng rất nhiều phương pháp chăm sóc da tự nhiên hoặc tự chế để làm trắng và duy trì làn da trắng xinh đẹp của mình.

Bạn cũng có thể trộn sữa tươi và sữa bột hoặc bột mì lại với nhau. Nếu bạn sử dụng 1 ly hoặc muỗng cà phê sữa, bạn nên sử dụng 2 cốc sữa bột.

Bước tiếp theo là cắt gạc với kích thước đủ để phù hợp với khuôn mặt của bạn. Sau đó cắt lỗ cho mắt và miệng của bạn. Thoa hỗn hợp sữa và bột mì vào gạc và áp dụng nó vào khuôn mặt của bạn trong khoảng 15 phút sau đó rửa sạch với nước ấm.

3.  Mặt nạ sữa chua

Từ lâu, phụ nữ Nhật đã biết sữa chua là một sản phẩm khỏe mạnh, bạn có thể sử dụng để làm trắng da của bạn.

Sữa chua giàu probiotic, giúp làm dịu da bị kích thích cũng như bài trừ mụn trứng cá. Sữa chua cũng giúp loại bỏ tế bào da chết và thúc đẩy lỗ chân lông chặt chẽ hơn làm cho da trông mềm mại và khỏe mạnh. Nó cũng làm sáng da ngay cả làn da tối màu nhất.

Bạn có thể áp dụng một chút sữa chua dày trực tiếp trên khuôn mặt hay sử dụng một miếng bông. Để chúng lưu lại trên da từ 15 đến 20 phút hoặc cho đến khi sữa chua trở nên khô thì mới rửa sạch bằng nước ấm.

4. Chăm sóc da với chanh

Chanh là một thực phẩm rất phổ biến được phụ nữ Nhật hay sử dụng làm đẹp cho da.

Chanh là phẩm làm trắng da vì có chất tẩy trắng tự nhiên. Bạn có thể trộn nước chanh với mật ong hoặc nước ép dưa chuột, sau đó áp dụng trực tiếp trên da của bạn trong khoảng 15 phút.

Sử dụng nước ép dưa chuột với chanh thay vì mật ong là một lựa chọn nhiều phụ nữ Nhật đề nghị cho những người có làn da nhạy cảm. Họ cho rằng dưa chuột có tác dụng làm dịu và chữa lành cho da cân bằng.

Tóm lại, những phụ nữ Nhật có rất nhiều biện pháp tự nhiên khác để làm trắng da. Vì thế, nếu hợp với biện pháp nào thì bạn có thể áp dụng cho làn da của mình nhé.

Trước khi áp dụng các biện pháp khắc phục làm đẹp da tại nhà, hãy rửa mặt của bạn kỹ lưỡng để loại bỏ bụi bẩn và tăng hiệu quả khi áp dụng trên da.

  • Tuấn Thanh

How to make Vietnamese Fresh Spring Roll (Gỏi Cuốn)

UAV – VN: Bất Nhất và Ngạo Mạn

“Lắp ráp thành công thì nói là Lắp ráp thành công, có sao đâu, chứ sao lại lu loa là Tự Chế tạo? Tự Chế tạo mà 2 bộ phận cốt lõi: 1. Động cơ thì mua của Nhật, 2. Cánh quạt mua của Pháp…và hầu như mọi linh kiện khác đều nhập từ nước ngoài! Ai lắp ráp (assemblage) được cũng đáng khen, nhưng Nổ lắp ráp thành chế tạo (invention) lại đáng khinh (nhất là tiếng Nổ lại từ chư vị Gs-Ts KHKT, KHCN, nhơn nhơn lấy tay che trời)!”

 

Hôm mồng 3 tháng 5 năm nay (2013), cái tin Việt Nam chế tạo và thử nghiệm thành công Máy bay không người lái (UAV: Unmanned Aerial Vehicle / Drone) trên mạng lề phải lẫn lề trái, đã nổi sóng phản hồi – đổ đồng là hô hô in ít, hu hu nhiêu nhiều. Sau khi đọc vài lần và nhờ Bác Gu-gồ chi li kiểm chứng nội dung bài của Facebooker Mạnh Kim, tạm chạy tựa là “Vu vạ như thế người ta cười cho”, tôi có du di còm như sau:

[“UAV VN: Tự Lắp ráp hay tự Chế tạo?

Mấy chiếc VN UAV TOY = 12 tỉ VND (= ± 600.000 Ô-ba-má)!

Lắp ráp thành công thì nói là Lắp ráp thành công, có sao đâu, chứ sao lại lu loa là Tự Chế tạo? Tự Chế tạo mà 2 bộ phận cốt lõi: 1. Động cơ thì mua của Nhật, 2. Cánh quạt mua của Pháp…và hầu như mọi linh kiện khác đều nhập từ nước ngoài! Ai lắp ráp (assemblage) được cũng đáng khen, nhưng Nổ lắp ráp thành chế tạo (invention) lại đáng khinh (nhất là tiếng Nổ lại từ chư vị Gs-Ts KHKT, KHCN, nhơn nhơn lấy tay che trời)!

Nếu cái clip VN UAV TOY này và các bài báo ở VN được dịch ra ngoại ngữ, xin lỗi, chẳng biết Fans YouTube sẽ chọn kiểu cười nào cho thật xứng với cái căn Nổ bất trị này của các Gs-Ts UAV, nói riêng.

Chư vị Gs-Ts UAV yêu quỉ ! Xin đừng tiếp tục mục hạ vô nhân, đừng kiên định cái cốt tự bỉ, tự lừa, tự sướng và khinh nhờn dân trí VN. Nhân dân VN đã ê chề với món thịt Lừa lắm rồi. Thời đại Nét niếc nổ tung toé như hiện nay mà cứ khư khư tư duy Bao cấp-Tem phiếu. Tội nghiệp quá!”]

*

Còm như trên tôi tự cho là đã đầy đủ, bao gồm tính ‘trung dung’. Nhưng (chữ này độc lắm), tối 07 và 08-5-2013, đọc bài “Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng và việc chế tạo UAV Việt Nam” trên PetroTimes, tôi buộc phải lòi ra bài này.

1. Bất nhất

Ông Ts Phạm Ngọc Lãng – chủ nhiệm đề tài UAV-VN (03-05-2013) tuyên bố với trang Tuổi Trẻ, nguyên văn:

“… mặc dù đề tài được duyệt năm 2011, nhưng thực tế các nhà khoa học bắt tay nghiên cứu từ năm 2008 và đến nay kết quả thực hiện đã “vượt xa yêu cầu, chế tạo thành công năm mẫu máy bay không người lái hạng siêu nhẹ”. Nhóm nghiên cứu khẳng định đã thiết kế, chế tạo thành công các mẫu máy bay này từ những vật liệu linh kiện cơ bản và không có bất kỳ bóng dáng chuyên gia hay cố vấn nước ngoài nào hỗ trợ, hoàn toàn 100% người Việt Nam.”

Còn trao đổi với trang Thanh Niên, ông Ts Lãng lại nói, xa hơn một chút:

“…UAV nói trên Việt Nam đã hoàn toàn tự thực hiện các khâu từ nghiên cứu, thiết kế cơ bản, thiết kế chế tạo, vật liệu composite… Các chi tiết cho bộ điều khiển bay tự động từ tụ điện, chipset… được nhập rời rạc, không sử dụng chung với những loại phổ thông sẵn có để phòng ngừa yếu tố can thiệp từ bên ngoài. Hai chi tiết duy nhất và cũng là quan trọng nhất mà Việt Nam chưa thể sản xuất được và phải nhập hiện nay là động cơ (từ Nhật) và cánh quạt (từ Pháp).”

2. Ngạo mạn

Rồi PetroTimes lại viết, tận chân trời:

«Với những ai đã từng làm việc với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng thì chẳng lạ gì chuyện là cho đến nay, đối với điện thoại di động, ông vẫn chưa… thạo cách lập danh bạ, không rành chuyện nhắn tin, điện thoại đối với ông chỉ có mỗi hai nhiệm vụ là nghe và gọi; ông cũng không rành sử dụng máy tính… Nhưng ông lại nắm bắt công nghệ hiện đại rất nhanh và khi còn là Cục trưởng một Cục nghiệp vụ từ hơn 20 năm trước, ông đã có nhiều chủ trương biện pháp mang tính chiến lược để hiện đại hóa công tác nghiệp vụ của lực lượng an ninh… »

Thú thật, đọc bài trên PetroTimes, tuồng như ‘toàn tập’ máu trong người tôi hùa nhau xung ngược cả lên đầu. Qua một đêm đắn đo, tôi quyết định trưng ra ‘Hình chứng’ dưới đây thay câu kết cho bài tổng hợp nhỏ bé này:

Xin lặp lại: Chư vị Gs-Ts UAV yêu quỉ ! Xin đừng tiếp tục mục hạ vô nhân, đừng kiên định cái cốt tự bỉ, tự lừa, tự sướng và khinh nhờn dân trí VN. Nhân dân VN đã ê chề với món thịt Lừa lắm rồi. Thời đại Nét niếc nổ tung toé như hiện nay mà quí vị cứ khư khư tư duy Bao cấp-Tem phiếu. Tội nghiệp quá!

Người trên ở chẳng chính ngôi,
Cho nên kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.
Người trên vung vít tào lao,
Cho nên kẻ dưới lộn nhào lên trên!

Trần Thị Hải Ý

 

Ghi Chú:

Sau khi bài này được đưa lên mạng, một DLV có nick Đức Giang đã còm trong trang Dân Làm Báo như sau:

[«Chúng ta tự chế tạo được, chúng ta chỉ mua nguyên vật liệu cần thiết mà thôi, chúng ta phải tự hào điều đó chứ, và phải ủng hộ nhiệt tình để khoa học công nghệ nước nhà một ngày đi lên chứ, sao lại viết bài trù ẻo như thế này, đúng là bọn phá hoại mà, đất nước có thành tựu vượt bậc gì chúng cũng xuyên tạc lái làm sao cho nó thành tiêu cực, đúng là bọn vô liêm sỉ.»]

Cho nên, tôi thấy cần nói rõ thêm vài điều. Đọc kỹ Hình chứng trang VNExpress trên kia chúng ta thấy gì ?

– Bí mật ‘chế tạo’ VN-UAV TOY bị / đượcbật mí là ‘nhờ’ cái hình chứng ‘di hại’ chụp từ VNExpress đề ngày Thứ ba, 20-11-2012 (xem phiá trên, góc trái, dưới 2 chữ Khoa học).

Nói cho rõ, (ruột) VN-UAV TOY = Made in Ráp là sự thật 100%, hơn nữa do Thụy Điển (Sweden) tài trợ hướng dẫn trọn gói sau buổi ký kết hợp tác, ngày 20-11-2012. Con số 9,8 tỉ VND do ‘ngân sách’ hoặc 2,2 tỉ VND vô danh trong tổng kinh phí 12 tỉ VND được công bố phải chăng có xuất xứ từ cuộc ký kết này?

Nhóm ông Ts Phạm Ngọc Lãng và ông Gs Đỗ Trung Tá ‘nổ’ quá lố từ thực chất Lắp ráp thành công, hô biến ra Chế tạo thành công là ‘nhờ’ họ Quên Béng buổi lễ ký kết hợp tác giữa Chủ tịch Hiệp hội Hàng không Vũ trụ VN (VASA) là Gs Nguyễn Đức Cương và đại diện UAV Sweden, mà VNExpress đã có bài tường thuật ‘oan nghiệt’ ngày 20-11-2012.

Ngày 04-5-2103, chính VNExpress cũng loan tin «Việt Nam chế tạo máy bay không người lái», tức là VNExpress cũng quên bài tường thuật của mình ngày 20-11-2012. Về VNExpess, tôi chỉ nói ngần này, không muốn bàn sâu hơn.

Lòng Mẹ – Hoàng Oanh

Cách Cắt & Tách Trái Sầu Riêng

Bao La Tình Mẹ

Tĩnh Tâm

Bạn có biết hiện nay hình thức tập để tăng cường sức khoẻ được ưa chuộng nhất trên thế giới không phải yoga, chạy chậm, hay nhảy Latinh… chính là ngồi thiền! Chỉ đơn giản là ngồi khoanh chân, hoặc ngồi tự nhiên trên ghế và tĩnh tâm lại.

...

Ngồi tĩnh tâm được gì?

Ngồi thiền không chỉ giúp tăng cường hệ miễn dịch, làm giảm tâm trạng mệt mỏi, mà còn mang lại tác dụng làm đẹp. Nếu bạn không có điều kiện chạy 1 tiếng mỗi ngày, có thể dành ra 10-20 phút tập ngồi thiền, tĩnh tâm để nhận được những hiệu quả dưới đây:
Giảm áp lực, tăng cảm giác hạnh phúc: Theo các chuyên gia ĐH Harvard, ngồi thiền có thể làm giảm mức độ căng thẳng của các cơ. Thực nghiệm đã chứng minh, mỗi ngày ngồi tĩnh tâm 20 phút, liên tục trong 1 tuần có thể cải thiện khả năng tập trung và khả năng khống chế cảm xúc; các cảm giác lo lắng, dễ cáu giận, xuống tinh thần…cũng theo đó giảm đáng kể.

Không chỉ vậy, ngồi tĩnh tâm còn thúc đẩy tuần hoàn máu lên não, giúp não bộ chuyển từ trạng thái “phản ứng hoặc đối kháng” sang “tiếp nhận sự thật”, nhờ đó làm tăng cảm giác hạnh phúc của mỗi người.

Bảo vệ gan: Sau bữa trưa, tốt nhất bạn nên ngồi tĩnh tâm nghỉ ngơi khoảng 30 phút trước khi làm những việc khác nhằm bảo vệ gan.

Sau khi ăn, lượng máu trong cơ thể sẽ tập trung về hệ tiêu hoá để tham gia vào quá trình tiêu hoá thực phẩm. Khi cơ thể thay đổi trạng thái liên tục từ ngồi sang đứng, rồi đi, hay nằm sẽ khiến lượng máu chuyển về gan bị giảm dần, từ đó gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động trao đổi chất.

Giảm huyết áp, tránh xa bệnh tim mạch: Một thực nghiệm của Mỹ với những người bị bệnh cao huyết áp được áp dụng liệu pháp ngồi thiền đã cho kết quả: ngồi thiền giúp huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của người bệnh lần lượt giảm 4,7mmHg và 3,2mmHg. Từ đó có thể thấy ngồi tĩnh tâm rất có công hiệu trong việc giảm huyết áp, nhờ đó ngăn ngừa nguy cơ mắc các chứng bệnh tim mạch.

Giảm cảm giác đau đầu, tránh xa thuốc giảm đau: Nghiên cứu đã chỉ ra, ngồi tĩnh tâm không làm giảm được mức độ các cơn đau, nhưng lại có thể cải thiện tâm trạng phản ứng do cảm giác đau đớn khó chịu mang lại. Bởi thói quen ngồi tĩnh tâm sẽ rèn cho não bộ khả năng “tĩnh” lại trước mọi hiện trạng xung quanh, giúp tâm trạng bạn thoải mái hơn.

Vậy ngồi tĩnh tâm càng lâu càng tốt
?
Khi mới bắt đầu tập, mỗi lần bạn chỉ nên ngồi khoảng 15-30 phút. Sau đó tăng dần thời gian lên 1 tiếng.

Tôi có nên dùng đồng hồ báo thức để nhắc nhở mình về thời gian?
Trong cả quá trình ngồi thiền, xem thời gian 1-2 lần không gây ảnh hưởng đến hiệu quả luyện tập. Khi số lần tập nhiều hơn, cơ thể bạn sẽ tự đặt ra cơ chế đồng hồ sinh học 20 phút. Tuyệt đối không dùng đồng hồ báo thức, bởi khi ngồi thiền cơ thể bạn ở trạng thái trao đổi chất rất thấp, mà sự kích thích do âm thanh của đồng hồ báo thức lại quá lớn, không có lợi cho sức khoẻ.

Nếu suy nghĩ quá nhiều, không thể tĩnh tâm nên làm thế nào?
Bạn có thể thử ngồi trong không gian có âm nhạc nhẹ nhàng, hoặc dùng loại nhạc dành riêng cho ngồi thiền, đồng thời chỉ tập trung vào sự hô hấp của cơ thể để dần giúp bản thân “tĩnh” lại.

Phạm Thúy

Truyện Ngắn

Người Mẹ Điên  Vương Hằng Tích
Đôi Mắt Phượng  Nguyễn Đạt Thịnh
Một Đêm Kinh Hoàng  Azit Nezin
Bản Đàn Thôn Dã  André Gide
Ví Dụ Ta Yêu Nhau  Đoàn Thạch Biền
Cầu Tre Lắt Lẻo  Hoàng Chính
Truyện của Thạch Lam  Thạch Lam
Thần Thoại  Hoàng Chính
Mái Tóc Ngày Xưa  Nguyễn Ðức Thiện
Người Thầy Học Cũ Mai Thảo
Đêm Tân Hôn Mai Thảo
Những Vì Sao Thứ Nhất Mai Thảo
Cô gái xứ Ipanema Haruki Murakami
Chuyện Cũ Nguyễn Ngọc Ngạn
Bắt Cá Hai Tay Trên Thiên Đường Aramis – Jean Kim
Hoa Tím Bằng Lăng Nguyễn Duy-An
Người Bạn Đường Mai Thảo
Dưới Bóng Hoàng Lan Thạch Lam
Người Đàn Ông Yêu Vợ DiễmTrinh
Thời Đại Ảo Họ Yêu Nhau DiễmTrinh-MỹDung
Đom Đóm Murakami Haruki
Françoise Sagan, tiểu yêu nữ khả ái Dịch thuật
Mười Điều Răn Quỳnh Dao
Giáng Sinh Buồn Hoàng Chính
Roméo và Juliette W. Shakespeare
Người Tình Bí Ẩn Françoise Sagan
Tháng Giêng Cỏ Non Mai Thảo
Một Chiều Qua Cửu Long Mai Thảo
Những Nhầm lẫn Khôi Hài Henryk Sienkiewicz
Đêm Giã Từ Hà Nội Mai Thảo
Nơi Kinh Đô Thế Giới Ernest Hemingway
Muộn Màng Hoàng Chính
Thiên Thần Hoàng Chính
Mưa Núi Mai Thảo
Những Ngày Gió Cát Dung Sàigòn
Chuyến Tầu Trên Sông Hồng Mai Thảo
Con Mọt Sách Biết Yêu Trúc Quỳnh
Con Sáo Của Em Tôi Duyên Anh
Người Bạn Đồng Hành Andecxen
Chiếc Xe Hàng Cũ Mai Thảo
Quà Cưới Cho Cô Bé D.Sàigòn &VHA
Bóng Người Trong Sương Mù Nhất Linh
Vầng Trăng Thơ Ấu Mai Thảo
Tiếng Dương Cầm Khái Hưng
Người Điên dưới chân sườn Tam Đảo Mai Thảo
Dễ Ghét Dung Sàigòn
Mưa Bụi Mường Mán
Đá Xanh Cũng Khóc Vành Khuyên
Nhà Mới Mai Thảo
Đường Về Vũ Thư Nguyên
Một Thoáng Qua Đi Dung Sàigòn
Người Cha Và Người Con Mai Thảo
Trái Xanh,Tình Xanh Mưa Bụi
Hình Như Anh Đã Yêu Em Vũ Thư Nguyên
Chấp Một Tay Mai Thảo
Người Yêu Dung Sàigòn
Nắng Mưa Là Bệnh Của Trời… Trần Kim Tuyến
Bản Tình Ca Cuối Cùng Thùy Dương
Những Tấm Hình Của Chị Thời Mai Thảo
Quả Chuông Pha Lê Đỏ Robert Arthur
Tình Yêu Cuồng Nhiệt Aziz Nesin
Giai Đoạn Chị Định Mai Thảo
Nụ Hôn và Ly Dị L. Palashti
Lên Mười Mai Thảo
Quà Giáng Sinh O´ Henri

Truyện Dài

Dưới Ánh Trăng Cô Đơn  Quỳnh Dao
Hãy Kể Giấc Mơ Của Em(Tell Me Your…) Sidney Sheldon
Yêu Người Ở Bên Ta (Love the One You’re…) Emily Griffin
Ô Cửa Nhỏ Mầu Trắng  Phương Oanh
Thương Người Xa Xứ  Quỳnh Dao
Sự Chọn Lựa Cuối Cùng (The Proud and…) Janet Dailey
Cảm Ơn Ký Ức (Thanks for the Memories) Cecelia Ahern
Nếu Em Thấy Anh Bây Giờ (If you could…) Cecelia Ahern
Kiếp Sau (La Prochaine Fois)   Marc Levy
Người Bảo Hộ  (Someone To Watch Over Me) Judith McNaught
Bông Hồng Vàng   Konstantin Pautovsky
Hậu Bố Già (The Last Don)   Mario Puzo
Hai Chị Em   Janet Dailey
Định Mệnh Đã An Bài   Hoàng Hải Thủy
Phố Cũ Hoa Vàng   Trần T. Bảo Châu
Hãy Hiểu Tình Em  Quỳnh Dao
Thủy Vân Giang  (Dấu Ấn Tình Yêu)  Quỳnh Dao
Điều Kỳ Diệu (Miracles)  Judith McNaught
Áo Tiểu Thư   Duyên Anh
Kế Hoạch Hoàn Hảo(The Best Laid Plans) Sidney Sheldon
Bỏ Vợ Hồ Biểu Chánh
Chút Phận Linh Đinh Hồ Biểu Chánh
Chú Tư Cầu Lê Xuyên
Số Đỏ Vũ Trọng Phụng
Hạt Đậu Tương Tư Quỳnh Dao
Chết Cho Tình Yêu Lệ Hằng
Tháng Ngày Có Em Từ Tốc
Mưa Là Anh, Nắng Cũng Là Anh Quỳnh Dao
Hỏi Áng Mây Chiều Quỳnh Dao
Người Lạ Trong Gương(A Stranger in…) Sidney Sheldon
Từ Khi Có Em(Until You) Judith McNaught
Nghị Lực Người Đàn Bà(Power of a…) Barbara T.Bradford
Dòng Sông Cỏ Mục Chu Sa Lan
Nhà Thờ Đức Bà Thành Paris  Victor Hugo
Ảo Vọng Tuổi Trẻ  Duyên Anh
Người Đàn Bà Đích Thực(A Woman of…) Barbara T.Bradford
Con Nai Trong Rừng M. Delly
Thiên Thần(Angel) Barbara T.Bradford
Hậu Hoàn Châu Cát Cát Quỳnh Dao
Thành Trì(The Citadel) Archibald J. Cronin
Mùa Thu Lá Bay Quỳnh Dao
Người Đàn Bà Trên Sàn Diễn(Theatre) Somerset Maugham
Một Giấc Mơ Xuân Quỳnh Dao
a (Rain) Somerset Maugham
Chỉ Một Lần Yêu(No Greater Love) Julie Ellis
Phía Bên Kia Nửa Đêm(The Other Side…) Sidney Sheldon
Một Lần Và Mãi Mãi(Once and Always) Judith McNaught
Giữa Hai Linh Hồn(Entre Deux Âmes) M. Delly
Vườn Thúy Quỳnh Dao
Hoàn Hảo(Perfect) Judith McNaught
Tình Yêu Sẽ Đến Trần T. Bảo Châu
Bên Giòng Nước Quỳnh Dao
Thiếu Nữ Đánh Cờ Vây Shan Sa
Papillon Người Tù Khổ Sai Henry Charrière
Song Ngoại Quỳnh Dao
Thiên Đường(Paradise) Judith McNaught
Xin lỗi, em chỉ là con đĩ Bảo Thê
Gặp Lại Người Xưa Junichi Watanabe
Dòng Máu(Bloodline) Sidney Sheldon
Phượng Vĩ! Duyên Anh
Vũ Hội Hoá Trang  (Masquerade) Janet Dailey
Cánh Buồm Mầu Đỏ Phương Oanh
Bản Tango Cuối Cùng Lệ Hằng
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh Võ Hà Anh
Khung Cửa Hẹp(La Porte Étroite) André Gide
Dòng Mực Cũ Nguyễn Ngọc Ngạn
Âm Mưu Ngày Tận Thế(Doomsday Cons…) Sidney Sheldon
Ngọn Núi Của Nhà MacKenzie Linda Howard
Ký Ức Nửa Đêm(Memories of Midnight) Sidney Sheldon
Tình Địch  (Rivals) Janet Dailey
Whitney, My Love Judith McNaught
Nếu Còn Có Ngày Mai(If Tomorrow Comes) Sidney Sheldon
Thiên Đường Rực Lửa Quỳnh Dao
Ước Mơ Xanh Trần T. Bảo Châu
Tay Cự Phách(Master of the Game) Sidney Sheldon
Nhớ Khi Đó (Remember When) Judith McNaught
Hoàn Châu Cát Cát Quỳnh Dao
Hoa Thảo Nguyên  (Notorious) Janet Dailey
Khói Lam Cuộc Tình Quỳnh Dao
Đất Tiền Đất Bạc(The Fortunate Pilgrim) Mario Puzo
Tình Khúc Chiều Thu Quỳnh Dao
Cát Bụi Thời Gian(The Sands Of Time) Sidney Sheldon
Những Ngày Xanh (The Green Years) Archibald J. Cronin
Trôi Theo Dòng Đời Quỳnh Dao
Như Cõi Thiên Đường (Almost Heaven) Judith McNaught
Thiên Thần Nổi Giận  (Rage of Angels) Sidney Sheldon
Khúc Giao Mùa Phương Oanh
Không Có Gì Là Mãi Mãi(Nothing Lasts…)  Sidney Sheldon
Đừng Nghi Ngờ Tình Yêu Của Anh Daisy Thomson
Sứ Giả Của Thần Chết(Windmills of the…) Sidney Sheldon
Yêu Ngay Lần Đầu  (At First Sight) Elizabeth Chandler
Trà Hoa Nữ  (The Lady of The Camellias) Alexandre Dumas
Như Tiếng Chuông Ngân Phương Oanh
Lẻ Loi  (Separate Beds) Lavyrle Spencer
Con Đường Đêm  (Night Way) Janet Dailey
Buổi Yêu Em Trần T. Bảo Châu
Đừng Bao Giờ Xa Em (Never Leave Me) Marge Pemberton
Cocktail Cho Tình Yêu Trần Thu Trang
Dạ Lan Hương Trần T. Bảo Châu
Người Tình Tuyệt Vời Ng. Thảo Uyên Ly
Vòng Tay Yêu Tinh Hoàng Hải Thủy
Cánh Buồm Đỏ Thắm Alexander Grin
Gái Trọ Hoàng Hải Thủy
Hoàng Hôn Cuối Cùng Quỳnh Dao
Sống Chỉ Một Lần Mai Thảo
Sống Chu Tử
Tình Buồn Quỳnh Dao
Yêu Chu Tử
Những Năm Ảo Mộng(The Valorous Years) Archibald J. Cronin
Đẹp Và Buồn Yasunari Kawabata
Những Người Thích Đùa Aziz Nesin
Công Nương Và Hoa Cẩm Chướng Archibald J. Cronin
Bông Hoa Bên Hẻm Vắng Mỹ Hạnh
Mịt Mù Mây Khói Quỳnh Dao
Hương Và Hoa Ariyoshi Sawako
Báu Vật Của Đời Mạc Ngôn
Rừng Nauy Haruki Murakami
Cây Tỏi Nổi Giận Mạc Ngôn
Đèn Không Hắt Bóng Watanabe Dzunichi
Lỡ Lầm Trần T. Bảo Châu
Tóc Mây Lệ Hằng
Tiếng Gõ Cửa Lúc Nửa Đêm Quỳnh Dao
Mắt Tím Lệ Hằng
Email Mùa Thu Trần T. Bảo Châu
Đường Tình Đôi Ngã Quỳnh Dao
Chiếc Áo Mộng Mơ Quỳnh Dao
Lời Hát Cho Anh Trần T. Bảo Châu
Tâm Hồn Cao Thượng Edmond De Amicis
Lời Tình Muộn Trần T. Bảo Châu
Hơn Cả Tuyệt Vời(Something Wonderful) Judith McNaught
Thiên Sứ Áo Đen Quỳnh Dao
Kiêu Hãnh và Định Kiến (Pride & Prejudice) Jane Austen
Bố Già  (The Godfather) Mario Puzo
Đời Kỹ Nữ (Memoires of a Geisha) Arthur Golden
Thạch Kiếm (Musashi) Eiji Yoshikawa
Truyền Thuyết Về Mộc Lan Laurent Divers
Cuốn Theo Chiều Gió(Gone with the Wind) Margaret Mitchell
Hậu Cuốn Theo Chiều Gió(Scarlett) Alexandra Ripley
Những Kẻ Khốn Cùng(Les Misérables) Victor Hugo
Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết C. McCullough
Và Nếu Như Chuyện Này Là Có Thật Marc Levy
Cuốn Theo Dòng Xoáy  Barbara Cartland
Lời Tỏ Tình Trong Mưa Mưa Bụi
Cỏ Hoa Và Tình Yêu Châu Liên
Hạ Đỏ Có Chàng Đến Hỏi Viên Linh
Những Bông Hồng Đầu Hạ M. Delly
Cám Ơn Em Đã Yêu Anh Duyên Anh
Ngày Mai Có Anh  Mưa Bụi
Mắt Giai Nhân  Hạ Thu
Bước Khẽ Nhé Em Dung Sàigòn
Những Sắc Cầu Vồng Rực Rỡ Châu Liên
Mong Manh Tơ Hồng Mưa Bụi
Yểu Điệu Thục Nữ Bùi Chí Vinh
Cho Một Nụ Hồng Châu Liên
Ánh Hồng Hạnh Phúc Khánh Vân
Hãy Ngủ Yên Tình Yêu Quỳnh Dao
Nước Chảy Hoa Trôi Khánh Vân
Tình Yêu Mênh Mang Khánh Mỹ
Mùa Hoa Nở Minh Hà
Mơ Yêu Khánh Vân
Thương Mầu Phấn Bảng Võ Hà Anh
Ấm Mãi Lòng Ta Trần T. Bảo Châu
Biệt Ly Ơi! Chào Mi! Quỳnh Dao
Chỉ Vì Anh Yêu Em Tử Y
Khi Mùa Mưa Tới Mai Thảo
Biết Tỏ Cùng Ai Quỳnh Dao
Sau Tấm Màn Nhung Mỹ Hạnh
Êm Ả Một Đời Dung Sàigòn
Ôm Đàn Tới Giữa Đời Mai Thảo
Mầu Xanh Mơ Ước Mỹ Hạnh
Xóm Vắng Quỳnh Dao
Giọt Nước Mắt Hồng Mỹ Hạnh
Ngày Tháng Trôi Qua Tình Yêu Còn… Dung Sàigòn
Lao Xao Trong Nắng Quỳnh Dao
Tiếng Sét Xanh(Double Standards) Judith McNaught
Đi Qua Miền Ký Ức Phương Oanh
Biển Biếc Uyên Uyên
Cánh Hoa Chùm Gửi Quỳnh Dao
Tờ Hứa Hôn Trần T. Thanh Du
Hồ Ly Trắng Quỳnh Dao
Tóc Tiên Bùi Chí Vinh
Mấy Nhịp Tim Yêu Tử Y
Điệp Khúc Tình Yêu Quỳnh Dao
Ba tuần ở Paris Barbara Bradford
Những Điều Kỳ Diệu Khánh Mỹ
Tình Yêu Muôn Thuở Trần T. Thanh Du

Mothers’ Day

4

Khởi sự từ đầu thế kỷ 17 Anh Quốc đã tổ chức kỷ niệm một ngày lễ gọi là ngày Chúa Nhật của Mẹ (Mothering Sunday), được cử hành vào ngày Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay để vinh danh các bà Mẹ của Anh Quốc.

Trong ngày lễ này những người nghèo phục dịch cho các gia đình giầu có ở Anh được phép nghỉ một ngày và được khuyến khích mang theo cái bánh gọi là bánh của Mẹ (Mothering cake) về viếng thăm và mừng Mẹ. Vì những ngày đi làm họ phải ở lại tại nhà của chủ. Ngày lễ này đã huỷ bỏ từ thế kỷ 19.

Tại Hoa Kỳ lần đầu tiên bà Julia Ward Howe đã đề nghị Ngày Hiền Mẫu như một ngày hiến dâng cho hòa bình. Bà Howe đã cử hành Ngày Hiền Mẫu họp tại thành phố Boston, Mass từ năm 1872. Bà là tác giả bài thơ trứ danh “The Battle Hymn of the Republic”.

Mine eyes have seen the glory of the coming of the Lord:	 
He is trampling out the vintage where the grapes of wrath are stored;	 
He hath loosed the fateful lightning of his terrible swift sword:	 
            His truth is marching on.	 

I have seen Him in the watch-fires of a hundred circling camps;
They have builded Him an altar in the evening dews and damps;	 
I can read his righteous sentence by the dim and flaring lamps:	 
            His day is marching on.	 

I have read a fiery gospel, writ in burnished rows of steel:	 
"As ye deal with my contemners, so with you my grace shall deal;
Let the Hero, born of woman, crush the serpent with his heel,	 
            Since God is marching on."

He has sounded forth the trumpet that shall never call retreat;	 
He is sifting out the hearts of men before his judgment-seat:	 
O, be swift, my soul, to answer Him! be jubilant, my feet!
            Our God is marching on.	 

In the beauty of the lilies Christ was born across the sea,	 
With a glory in His bosom that transfigures you and me:	 
As He died to make men holy, let us die to make men free,	 
            While God is marching on.

Năm 1905, Chị Anna Jarvis đã tuyên thệ trước mồ của Mẹ chị hiến dâng đời chị cho chương trình của Mẹ chị quyết vận động thiết lập Ngày Hiền Mẫu để vinh danh các bà Mẹ còn sống cũng như đã qua đời (có lời đồn rằng chi Anna rất đau buồn vì chị đã cãi vã với Mẹ chị nhưng chị chưa kịp xin lỗi thì Mẹ chị đã qua đời). Mẹ chị, là người chịu ảnh hưởng tinh thần của bà Howe, bà đã đề xướng chương trình cải thiện điều kiện vệ sinh gọi là Ngày Làm Việc của các Bà Mẹ (Mothers’ Work Days).

Tại Tiểu Bang Philadelphia chị Anna Jarvis đã và vận động dành một ngày mỗi năm để vinh danh các người mẹ. Năm 1907, vào ngày Chúa Nhật thứ hai của tháng 5 chị đã xin giáo xứ của mẹ chị  ở Graton, West Virginia (nơi Mẹ Chị đã dạy giáo lý cho các trẻ em các ngày Chúa Nhật trước khi di chuyển đến Philadelphia) cử hành lễ kỷ niệm giỗ thứ nhì của Mẹ chị một cách long trọng. Chị đã phân phát 500 bông hoa cẩm chướng màu trắng cho các bà mẹ tham dự tại buổi lễ hôm đó. Ngay năm sau đó Tiểu Bang Philadelphia đã chấp nhận tổ chức ngày Lễ Mẹ.

Tiếp tục chị Jarvis và những người ủng hộ ý kiến của chị đã viết thư gửi các tu sĩ, thương gia và các chính trị gia để xin vận động thiết lập ngày lễ của mẹ trên toàn quốc. Sự vận động này đã lan rộng qua 45 Tiểu Bang. Đến năm 1911 hầu hết các tiểu bang Hoa Kỳ đã tổ chức mừng ngày Lễ Mẹ. Đến ngày 10 tháng 5 năm 1913 Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua đề nghị dùng ngày Chúa Nhật thứ hai trong tháng 5 như một ngày để ghi ơn các bà mẹ. Ngày 09/5/1914, Tổng Thống Woodrow Wilson đã chính thức công bố ngày Chúa Nhật thứ hai của tháng 5 là ngày Hiền Mẫu cho toàn quốc Hoa Kỳ.

Tục lệ này đã lan rộng sang nhiều quốc gia trên thế giới kỷ niệm cùng ngày như Đan Mạch, Phần lan, Ý Đại Lợi, Úc và Bỉ. Vào cuối đời của chị Anna đã có trên 40 quốc gia cử hành ngày Hiền Mẫu. Trong ngày Hiền Mẫu, người con thường cài trên áo một bông hoa cẩm chướng màu trắng nếu mẹ đã quá cố và màu hồng dành cho những ai còn mẹ, ngày nay người ta thường dùng bông hồng trắng và bông hồng đỏ thay thế cho cẩm chướng.

Ở Tây Ban Nha người ta cử hành ngày Hiền Mẫu trùng vào ngày lễ Đức Maria Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Chúa Giêsu là ngày 8 tháng 12 hàng năm.

Ở Pháp người ta cử hành ngày Lễ của Mẹ vào Chúa Nhật chót của tháng Năm.

Hoài Việt

326 Món Ăn Ngon

image
image

Anh Là Ai

Little Saigon – Nam Cali… Ăn và Uống

Bên trong thương xá Phước Lộc Thọ (PLT) là hàng ăn, quán uống ê hề, nhưng đó chỉ là những fast food cho qua cơn đói bụng, còn muốn ăn cho ra hồn thì mời các bạn hãy bước ra khỏi Phước Lộc Thọ.
Tính từ trước cửa PLT, đi về phía trái theo hướng Tây thì có chợ Bến Thành nổi tiếng cháo lòng, lòng heo, ăn tại chỗ hoặc đem về, khá ngon nhưng hơi… dơ! Đi tiếp thì có Le Crossant Doré, nổi tiếng với món bánh mì bò kho và bánh trái cây. Cùng dãy còn có Nhà hàng Hà Nội, cái tên gọi cũng biết họ bán toàn đặc sản miền bắc như phở gà, bún chả Hà Nội, bánh tôm Cổ Ngư, nhưng dàn đầu bếp đã ra đi.
Băng qua khu chợ ABC (góc Bolsa & Magnolia) có: chợ ABC từ 11h trưa tới khoảng 3pm có bán cơm phần to go khá ngon, nếu chơi sang order luôn con tôm hùm xào đặc biệt lúc sale chỉ có $7.99/lb. Nước mía, hột vịt lộn thì có Long An. Vân Barkery sẵn sàng với đủ loại bánh kẹo mứt ăn chơi cũng như ăn thiệt. Bánh mì & Chè Cali thì ai mà không biết là rẻ & ngon. Phở 54 thì sale quanh năm suốt tháng: ăn phở được free tất cả thức uống, kể cả café sữa đá. Bước xuống mấy bước là 2,3 hàng trái cây đầy đủ hương vị miền nhiệt đới liền nhau, bên trong là tiệm mì tươi Thái Sơn, nổi tiếng là mì sợi không bao giờ nhão. Ai thèm mì vịt tiềm thì Mì La Cay có sẵn kế bên, cơm tấm Thuận Kiều có gỏi cuốn Nha Trang cũng khá nhưng không phải cơm tấm lúc nào cũng ngon. Bún Ban Mai có đủ loại bún nhiều người khen ngon nhưng vì có bún mắm, nên tiệm hơi bị nặng mùi.
Đi về hướng phải của PLT thì xuống khu Bolsa & Bushard có tỉm sấm to go Giai Phát, chỗ này cuối tuần có mì hoành thánh cũng nhiều người thích, chả cá tươi hay bò viên ngon nhất Bolsa là chỗ này. Cơm gà Hải Nam đáng để thưởng thức. Thích ăn chả cá Hà Nội, bánh tôm Cổ Ngư, phở gà thì bước qua Huỳnh restaurant (đầu bếp chính của nhà hàng Hà Nội nổi tiếng ra mở tiệm riêng). Thèm ăn cháo lòng hoặc muốn mua thịt heo tươi mổ mỗi ngày thì vô Chợ Tam Biên. Nơi đây cũng có 1 tiệm trái cây, kế Wells Fargo. Thích bún vịt xáo măng thì ghé vô Hoàng Yến. Cơm đĩa hay mì nước, mì xào các loại (SG không thấy hứng thú mấy, nhưng sau 11g tối thì bà con xếp hàng dài dài) thì bước qua Lục Đỉnh Ký 2. Đi bộ xuống cuối dãy là Corner View Bakery ngoài bánh trái, sau 6pm còn có cơm bò lúc lắc, bún bò huế Mụ Béo. Trong khu này cũng có boba & yogurt cho mấy thằng nhỏ ngồi nghỉ chân chơi games.
Chán đây rồi thì đi tiếp về hướng Bolsa & Brookhurst, trong góc này có: bánh cuốn Tây Hồ, với các loại bún cũng khá, bánh cuốn Tân Hồng Mai có luôn cơm bò lúc lắc & mắm và rau, 2 món này SG làm ngon nhất nên đừng hỏi ở đây ăn được không. Thành có cơm tấm & đủ loại bún, Vỹ Dạ chuyên môn các món ăn Huế, đặc biệt Bún Bò Huế & cơm gà VD.
U-turn vòng lại qua phía bắc đường Bolsa thì đụng khu Catinat Plaza: Có bánh cuốn Hồng Mai. Royal Banquet mới xây với khung cảnh thật đẹp & có nhiều món ăn Tây cũng khá, cuối tuần còn có đàn piano phụ diễn free.
Thèm ăn chè thì qua khu T&K kế bên, có Hiển Khánh nổi tiếng về chè & các món ăn chơi, khó tiệm nào qua mặt nổi. Chưa no thì tạt qua Hỷ (trước mặt) làm tô bún bò Huế, mì Quảng & các loại bánh của xứ Huế, đều ngon nhưng hơi $$$. Trong khu này còn có vua khô bò Đại Vương, hủ tiếu mì, cơm chỉ, v.v…
Bước tiếp tới là Bolsa Mini Mall, khu thương mại lâu đời nhất của Little SàiGòn, có cơm tấm Trần Quý Cáp cũng tàm tạm. Bún Bò Heo Gia Hội thì có người thích, kẻ không ưa. Tiếp nối có Thiên Ân, tiếp đãi bạn bè còn gì bằng bò 7 món cùng cá nướng da dòn. Tasty Garden là nhà hàng Tầu mới nhất khu Bolsa, nấu theo taste Đài Loan nên ăn khá lạ miệng và ngon. Quẹo vô ngõ hẻm là nhà hàng Song Long lâu đời, nổi tiếng với những món Tây, bún suông, hủ tíu gà cá và chả cá Thăng Long.
Băng qua đường Moran có Zen chuyên bán cơm chay, cũng khá và ít bột ngọt hơn là Tịnh Tâm Chay trong khu bên hông PLT. Kế bên là tiệm gà vịt Liên Hòa lâu đời với món vịt quay ít khi ế, Khang Lạc sát bên sáng nào cũng thấy bà con ngồi đầy tiệm húp cháo rồn rột.
Về tới khu chợ Á Đông (đối diện PLT) có Lee Sandwiches đủ loại bánh mì ngon ai cũng biết. Phở Quang Trung ngay đầu ngõ, hầu hết phở, cơm, bún ở đây đều trên trung bình & có món chè đậu đen tráng miệng khá ngon. Trên lầu phở QT là nhà hàng Tàu Sea Food Cove #2, dim sum hay dinner cũng khá.
Đó là những nơi ăn uống tiêu biểu ngay giữa trung tâm Bolsa. Ngoài vùng Bolsa chu vi khoảng 3 miles thì còn những nhà hàng từ trung bình trở lên & có thể tạm chia ra như sau:
  • PHỞ BÒ: Phở 86, Nguyễn Huệ, 54, 79, Tàu Bay Lý Thái Tổ, Kimmy.
  • PHỞ GÀ: Nguyễn Huệ, Quang Trung, Bolsa.
  • BÁNH CUỐN: Lý thái Tổ, Tây Hồ, Hồng Mai.
  • CƠM TẤM: Thành, Trần Quý Cáp (Harbor), Thuận Kiều.
  • HUẾ: Hỷ, Hợp, Vỹ Dạ, Hương Vỹ, Hương Giang, Huế Rendez Vous, Ngự Bình
  • BÚN: Huỳnh, Hồng Mai, Ban Mai, Brodard, Vân.
  • HỦ TÍU: Thanh Xuân, Phương, Triều Châu.
  • MÌ: Mì La Cay, Mỹ Vị Mì Gia, Á Đông, Lục Đỉnh Ký, Phát Ký Mì Gia.
  • TÂY: Song Long, Favori, Brodard Château, Royal, Uyên Thy, Tài Bửu.
  • TẦU: Tasty Garden, Seafood Paradise, Furiwa, China Feast, Tân Cảng, Royal Capital, Kim Sư.
  • THÁI: Jasmine, PhuKet.
  • BÒ 7 MÓN: Thiên Ân, Hồng Ân, Ánh Hồng, Pagolac.
  • CÁ NƯỚNG: Hồng Ân, Làng Ngon, Favori.
  • FOOD TO GO: Hương Hương, Bánh Mì số 1, chợ ABC.
  • CHÁO: Tân Hoàng Hương, Chợ Tam Biên, Cháo cá Chợ Cũ, Khang Lạc.
  • BÚN VỊT: Hồng Mai, Hoàng Yến.
  • CƠM GIA ĐÌNH: Phở Nguyễn Huệ, Hà Nội Phố, Huỳnh, Miranda, Vân.
Các bạn nào thấy thiếu sót thì xin bổ túc thêm cho đầy đủ. Chúc các bạn có kỳ nghỉ hè tại Little Saigon thật nhiều niềm vui và đáng nhớ.
Nếu cần địa chỉ hoặc chỉ dẫn chi tiết của những nơi trên thì cứ tự nhiên pm cho SG.

Bây giờ quay qua các món ăn nhé.

Miền Trung thì có quán Vỹ Dạ ngay Bolsa góc Brookhurst.
Quán này chuyên về các món Huế, giá cả phải chăng, tiệm mới remodeled lại, nhìn sạch sẽ, gọn gàng. Nhân viên nhanh nhẹn, bà chủ vui vẻ và quan trọng là thức ăn vừa miệng.
Có 1 món Diễm thích là cơm gà Vỹ dạ, giá khoảng 6 đồng, hột cơm mềm mại rất thơm và thấm tháp, gà xé ra từng miếng trộn với chanh muối tiêu hành tây và rau răm, thịt gà dai, thấm tháp ăn chung với mắm gừng. Bánh bèo chén, bèo dĩa, bánh nậm, lọc, chả tôm, chả Huế ăn ngon, nước mắm ngọt rất ngon. Có 2 món Diễm không thích là bún bò và mít non trộn lá lốt xúc bánh tráng (không vừa ý).
Trong khu này cũng có 1 quán cơm tấm 9 món, ăn ok chứ không xuất sắc gì mấy.
Đi bộ thêm tí tẹo nữa là quán Hồng Mai, đổi chủ mới, 2 vợ chồng làm chủ, chồng nấu dưới bếp, vợ take care trên quán, người Bắc, rất vui vẻ niềm nở.
Diễm chịu quán này vì có vài món rất vừa miệng.
Đặt biệt nhất món steak rất ngon, miếng steak thấm tháp và juicy, ăn chung với fries và dĩa rau trộn dấm, rất ngon.
Kế đến là món cơm bò lúc lắc, gỏi cuốn, bún chả Hà Nội ngon số dách nhé, miếng chả ngon thơm và mềm mại, mấy quán khác ăn dở ẹc hà. Món cá hấp hành gừng cuốn bánh tráng cũng ok lắm, riêng Diễm không hảo món này, ghét cá hấp lắm nhưng mỗi lần vào đây thấy bàn nào cũng có 1 con cá hấp cuốn rau sống (chắc ngon lắm đây).
Bây giờ chạy qua Quán Hỷ nhé.
Quán này chuyên trị món Huế, phong cảnh dễ thương, hữu tình vì có tre trúc chung quanh, nhưng order hơi mắc hơn đó nghen (hơn vài đồng). Bánh đập, cơm hến, bún bò, mít non xúc bánh tráng ngon lắm lắm.
Khi nào rảnh sẽ update thêm các quán ăn, quán chè, bánh mì, cafe shop.

Các chỗ đi chơi, ăn đồ biển vòng quanh khu Orange County và Los Angeles, Santa Monica, Redondo Beach, đường số 3 and Broadway là những chỗ vui chơi giải trí cho khách du lịch…

  • 1. Cơm tấm thì L. thích Thuận Kiều hơn là cơm tấm Thành.
  • 2. Brodard trong thương xá Tam Đa với nem cuốn, bò kho góc Brookhurst/Westminster.
  • 3. Brodard Chateaux góc Magnolia/Trask – nice place, expensive, food is ok
  • 4. Cá nướng thì Favori trên đường First/Fairview. Nhà hàng nhỏ nhưng lịch sự … cuối tuần nên gọi giữ chỗ trước nếu không muốn đợi … ngoài cá nướng còn có món soup đuôi bò và steak cũng ngon lắm, cù lao bãi biển…
  • 5. Bò 7 món Hồng Ân trong khu Thương Xá Tam Đa, rộng lắm và thức ăn cũng ngon.
  • 6. Mì Triều Châu có 2 tiệm …. L thì thích tiệm trên Brookhurst/Westminster.
  • 7. Bún bò huế Gia Hội, Rendezvous, Công Lý, Vỹ Dạ.
  • 8. Mì quảng Rendezvous is better than most, khung cảnh lãng mạn như xứ Huế.
  • 9. Phở Gà Dakao, phở Bò 79 Brookhurst/Hazard, Phở Thanh 24/24.
  • 10. Bánh xèo ở Cây dừa Deli …bún mắm nhưng hình như đổi chủ, bún mắm hết ngon như hồi xưa rùi.
  • 11. Dimsum: Long Phụng Lầu (Phoenix Dragon) trong khu chợ Á Đông đối diện Phước Lộc Thọ, Seafood World (Brookhurst/McFadden).

  1. Bún riêu, bún chả Hà Nội – Quán Viễn Đông (Brookhust and Westminster đối diện nhà hàng Vân).
  2. Bánh Xèo, Bánh Khọt, Bánh Bèo Bì – nhà hàng Vân.
  3. Bò 7 món, cá nướng – Thiên Ân (hay Hồng Ân tự dưng quên bẵng – Brookhust and Westminster, gần chợ 99 cents).
  4. Bánh Cuốn – Phở Lý Thái Tổ (First and Fairview).
  5. Phở – Thanh Lịch (Brookhust and Harzard).
  6. Món khoai chiên tôm cuốn rau (lại quên tên) – Hà Nội (Magnolia and First) – hồi xưa chả cá Thăng Long ngon.
  7. Lẩu mắm và rau, bánh canh, ba rọi mắm thái cuốn bánh tráng – Cây Dừa (First and Fairview). Thấy người ta order bánh xèo cũng nhiều, nhưng em chưa thử.
  8. Lẩu Dê, Dê rựa mận, Vietnamese Pizza (tiết canh vịt) – Bình Dân (Brookhust and McFadden).
  9. Bánh bèo chén, bánh bột lọc, bánh ram ít, mì Quảng – Rendez Vous góc Brookhust and McFadden, trong khu Taco Bell – Nước mắm ăn bánh bèo họ pha rất ngon. Bún bò Huế Ok thôi.
  10. Nước mía – Viễn Tây (Brookhust and Harzard, gần tiệm Bánh Vân, chợ Nam Hoa).
  11. Gỏi Chân Gà (order to go cho tiệc hay ăn tại chổ cũng được) – Quán Ngon (là quán nhậu – góc McFadden and Ward).
  12. Đồ ăn Thái – Thai Nakon (góc Beach and Chapman).
  13. Đồ ăn Đại Hàn (Korean BBQ) – tiệm quên tên, chiều nay em tạt qua coi tên và địa chỉ, sẽ post sau (Garden Grove/Brookhust and Kerry).
  14. Hủ tiếu Thanh Xuân, Bánh Hỏi combo – Phương (Westminster and Euclid).
  15. Hủ tiếu Triều Châu, Mì xào dòn, Cơm chiên Cá mặn, Chả Ram cua, Phở xào mềm – Triều Châu (em thích chỗ này, New Hope and First) – Báo trước tiệm rất dơ, đừng đi ăn đúng giờ lunch, chờ rất lâu, hình như 6:00PM thì tiệm đóng cửa.
  16. Mì và Hủ Tiếu La Cay – Mì La Cay (First and Magnolia).
  17. Buffet – International (Garden Grove and Harbor, trong khu bánh mì Lee Sandwich).
  18. Cơm gà Hải Nam – Grand (Brookhust and Westminster) ăn ok, hơi mắc chút. Mấy ACE nào biết chỗ ngon hơn thì chỉ em với.
  19. Cơm gia đình – La Mirada góc McFadden and Magnolia, gần Green Farm Supermarket, hồi trước là chợ Á Châu, món nào cũng ngon.
  20. Điểm Sum và đồ ăn Tàu – thì em thích Kim Sư (First and Ward) hơn.
  21. Cơm Tàu gia đình – Tân Cảng (First and New Hope) or Sea Food Cove (Westminster and Newland), nhất là sea food (cua, tôm hùm, tôm) họ làm yummy, giá cả phải chăng. Nên tránh giờ lunch và sau 7:30PM, đông lắm.
  22. Chè, xôi – Hiển Khánh (em thích góc Brookhust and Westminster hơn).
  23. Cơm tấm, bún mắm, bò kho (ăn với bánh mì hay với hủ tiếu) – em thích quán Thành nhất.
  24. Mì xào dòn, mì Vịt Tiềm, mì and hủ tiếu nước và khô – Mỹ Vị Mì Gia (gần Hiển Khánh, Brookhust and Westminster).

ĐỒ ĂN VẶT

Champagne Bakery – nằm bên trong đằng sau PLT kế tiệm phở 79
9200 Bolsa Ave Ste 116 Westminster 92683
714 898-0494           714 898-0494
Bánh bao nướng, bánh bao hấp, bánh mì chà bông, bánh mì dừa bánh mì nho đủ loại, bánh rất là ngon mà rẻ nữa nên hông cần phải làm chi cho mệt.
Le Croissant Doré – 1 block from PLT
9122 Bolsa Ave Westminster 92683
(714) 895-3070      (714) 895-3070
Excellent fruit tarts and cakes … way way way better than Vân’s Bakery.
Lilly Bakery
10161 Bolsa Ave Westminster 92683
714-839-1099 714-839-1099
Muffin, cakes or fruit tarts đặt biệt bánh tiêu nhỏ xíu có tí sugar powder ngon lắm.
Thạch chè Hiển Khánh – trên đường Westminster between Bushard & Brookhurst
9784 Westminster Ave Garden Grove 92844
714-537-5105       714-537-5105
Vua Khô Bò – nằm kế Quán Hỷ #2
9191 Bolsa Ave #106 Westminster 92683
714-895-7122             714-895-7122
Đủ thứ khô bò khô nai, xí muội, bánh kẹo.
Yogurt Passion
9741 Bolsa Ave
Westminster, CA 92683
(714) 839-9934   (714) 839-9934      
http://www.yogurtpassion.com
Could make your own yogurt here.

NHÀ HÀNG & FOOD TO GO

Brodard – Trong khu xá Tam Đa ở góc Brookhurst và Westminster nằm sau 99 cents store
9892 Westminster Ave Garden Grove, CA 92844-4900
(714) 530-1744   (714) 530-1744
Nem nướng cuốn không đâu ngon bằng nhưng mấy món ăn trong tiệm thì tạm được thôi.
Cá 8 món Như Ý – giữa Brookhurst và Euclid đối diện Mile Square Park
10830 Warner Ave Fountain Valley 92708
714-963-1700      714-963-1700
Cá stripe bass nướng ngon lắm, hình như chỉ có chỗ này là bán cá 8 món. Họ bán nhiều món khác như cơm phần mà ăn oke thôi hehe, hông được ngon lắm.
Favori
3502 W First St Santa Ana 92703
714-531-6838      714-531-6838
Very good cá nướng with a nice atmosphere and nice waiters, good for 1st 2nd 3rd … etc… dates.
Hương Giang – Corner of Brookhurst & Hazard trong khu Stater Brothers Market
14564 Brookhurst St Westminster 92683
714 531-4930  714 531-4930
Làm chả tại chỗ nên ăn ngon lắm .. bán các loại đồ ăn Huế to go hay ăn tại chỗ.
Liên Huế 2- Food To Go -Corner of Brookhurst & Westminster, trong khu chợ Hòa Bình
13898 Brookhurst St Garden Grove 92843
714-749-0914        714-749-0914   
Bánh canh, Bún Bò Huế to go hay ăn tại chỗ cũng ngon hết.
Royal Capital Seafood – Corner of Westminster and Euclid
10911 Westminster Ave Garden Grove, CA 92843-4929
(714) 638-8331         (714) 638-8331   
Mì tôm hùm or tôm xào đặt biệt rất ngon.
Hà Nội – 1 block from PLT
Chả Cá Thăng Long họ làm ngon lắm .. that’s the one thing I like so far.
Cơm Tấm Thuận Kiều – On Brookhurst between Westminster and Hazard, hông biết địa chỉ. Cơm tấm ngon nhất, bánh hỏi tàu hủ ky, thịt nướng, nem nướng is so yummy there.

Le Croissant Doré – in Hanoi Plaza next to PLT
9122 Bolsa Ave Westminster 92683
(714) 895-3070  (714) 895-3070 
Beside Fruit Tart, chỗ này bán bánh mì bò kho & lưỡi bò soo sooo goood — mới ăn Sunday mà bây giờ còn thèm.

The Boiling Crab
14241 Euclid St
Ste C116
Garden Grove, CA 92842
(714) 265-2722   (714) 265-2722    
http://www.theboilingcrab.com
This place is good for cajun crawfishes king crab legs. I like this location better than the one on Brookhurst even though same owner.
China Garden
14825 Jeffrey Rd
Irvine, CA 92618
(949) 653-9988   (949) 653-9988  
Good dim sum place that we had in Orange County so far. Dim sum is so fresh almost comparable to 888 restaurant in LA.
PAGOLAC
14580 Brookhurst St
Westminster, CA 92683
(714) 531-4740  (714) 531-4740
courses of beef.
Nhà hàng ở Orange County nè, mới lượm được:
Shik Do Rak
14775 Jeffrey Rd Ste H
Irvine, CA 92618
(949) 653-7668   (949) 653-7668 
Decent Korean bbq in Irvine area… the king short rib is the best.

VEGETARIAN RESTAURANTS

Au Lac
16563 Brookhurst St
Fountain Valley, CA 92708
(714) 418-0658      (714) 418-0658     
www.aulac.com
I like canh chua & cá kho tộ, mì xào dòn chay.

RESTAURANTS IN LA COUNTY

Hokkaido Seafood Buffet
3030 Cherry Ave
Long Beach, CA 90807
(562) 989-1898   (562) 989-1898
Cheap place with good food.
888 Seafood Restaurant
8450 Valley Blvd Ste 121
Rosemead, CA 91770
(626) 573-1888  (626) 573-1888   
I like this dimsum place the best. A lot better than the dimsum places down in OC.
Tan Cang Newport Seafood
518 W Las Tunas Dr
San Gabriel, CA 91776
(626) 289-5998  (626) 289-5998      
www.newportseafood.com
It’s known for the house special lobster… family dinner is delicious here too but the wait could be at least 1hr on weekend.
Palms Thai
5900 Hollywood Blvd Ste B
Los Angeles, CA 90028
(323) 462-5073         (323) 462-5073    
http://www.palmsthai.com
Great place for Thai when you are in Hollywood area.
Bhan Kanom Thai
5271 Hollywood Blvd
Los Angeles, CA 90027
(323) 871-8030   (323) 871-8030 
http://www.bhankanomthai.com
Must go place for Thai dessert.
Oomasa
100 Japanese Village Plz Mall
Los Angeles, CA 90012
(213) 623-9048   (213) 623-9048    
Fresh sushi for affordable price.
Here is their website http://www.japaneserestaurantinfo.com/oomasa/
Mu Dung San
1040 S Western Ave
Los Angeles, CA 90006
(323) 737-9292    (323) 737-9292   
This is the Korean BBQ you could order by dish or do the buffet style — This is not the typical buffet place the waiters will bring out the plate one by one — great place short ribs.
Soowon Galbi Korean BBQ
856 S Vermont Ave
Ste C
Los Angeles, CA 90005
(213) 365-9292  (213) 365-9292     
Good side dishes and good quality of meat but pricey.
Furabol
1741 W Redondo Beach Blvd
Gardena, CA 90247
(310) 329-9441   (310) 329-9441
or 2068 Sawtelle Blvd
Los Angeles, CA 90025
(310) 444-1432 (310) 444-1432
Japanese skewers grilling n tapas… good drinking food if going with a big group.
Hide Sushi Japanese Restaurant
2040 Sawtelle Blvd
Los Angeles, CA 90025
(310) 477-7242 (310) 477-7242

Đậu Hũ Chiên Dòn

Vật Liệu:

– 1 hộp đậu hũ loại soft, pasteurized.
– 1 gói bread crumbs hay bread flakes
– 1 tí muối
– Lòng trắng trứng (quậy đều, nêm thêm 1 tí muối)

Chuẩn bị để sẵn: 
– 1 tô đựng lòng trắng trứng (quậy đều)
– 1 tô đựng bread crumbs (bóp cho mịn nếu
thích, để nguyên sẽ giòn hơn)
– 1 chảo dầu sôi (lửa lớn)

Cách Làm:

Đậu hũ để lạnh cắt miếng vuông độ 3/4 inches (như hình chụp, đừng cắt mỏng hay dầy quá khi ăn sẽ mất tính dòn hay mất tính mềm và mùi thơm ngon đặc biệt của đậu nành).
Chảo để dầu ăn khoảng 1/4 bề dầy miếng đậu hũ (3/16 inches). Chờ chảo sôi (lớn lửa) từ từ cẩn thận dùng tay gỡ những miếng đậu hũ cắt sẵn (hãy khéo tay vì đậu hũ mềm, dễ vỡ), nhúng 6 mặt vào lòng trắng trứng, rồi lăn vào bread crumbs đậu hũ cho đều 6 mặt, thả vào chảo. Chiên từng mẻ, mỗi mẻ chiên 6 hoặc 8 miếng một lần tùy theo độ rộng của chảo chiên, đợi vàng thì trở bên.
Khi chín, nếu chảo có vỉ gạn mỡ thì để lên đó, rồi bỏ vào rổ có lót khăn giấy để thấm bớt dầu, khi ăn sắp ra đĩa.

Sauce Chấm:
 

3 muỗng canh xì dầu + 1/2 muỗng cà phê đường + 3 muỗng nước + 2 muỗng canh hoisin sauce (tùy ý) + 1 muỗng cà phê dấm đỏ (tùy ý, nếu thích một tí chua) + vài giọt dầu mè + vài lát gừng thái sợi chỉ hoặc giã nát. Tất cả trộn đều, nêm nếm thêm bớt mặn ngọt tùy theo ý thích của mỗi nhà, rải một ít hành lá và cọng ngò thái nhỏ để trên mặt chén nước chấm.

Công thức này theo tiêu chuẩn nhà hàng. Nhà đông người thì có lẽ mua vài hộp đậu hũ mới đủ, rất vừa miệng và ăn rất ngon.

Bác Sĩ Alexandre Yersin

Bác sĩ Yersin, người đầu tiên tìm ra vùng đất Đà Lạt

Ngày nay, đứng trước phong cảnh nên thơ, những hàng thông thẳng ngọn, những hồ nước trong xanh, những ngôi nhà kiến trúc tối tân của Đà Lạt xinh đẹp, có bao giờ ta nghĩ rằng xưa kia nơi đây chỉ là một vùng đất trơ trọi hoang vu, và tự hỏi ai là người đầu tiên tìm ra miền cao nguyên thơ mộng ấy không? Tôi xin dựa theo một ít tài liệu trong mấy tờ tạp chí Pháp xuất bản ở Đông Dương trước đây, lược thuật lại cuộc đời và sự nghiệp của bác sĩ Yersin, người được coi là có công trong việc khám phá ra vùng đất Đà Lạt, để gọi là tỏ chút lòng tưởng nhớ một bậc danh nhân đã giúp cho chúng ta một nơi nghỉ mát tốt lành và tô điểm cho quê hương mình thêm đẹp thêm xinh.

1. Nơi mảnh đất sinh thành

Alexandre Yersin sinh ngày 22 tháng 9 năm 1863, tại miền đồng quê tổng Vaud, hạt Lavaux, nước Thụy Sĩ. Tổ tiên ông gốc người Pháp, sang định cư ở làng Rougemont (thuộc hạt Lavaux) vào thời vua nước Pháp hủy bỏ sắc luật cho phép dân chúng theo đạo Gia tô cải cách (Resvocation de l’Edit de Nantes). Sắc luật mới này do vua Louis thứ 14 ký ngày 18-10-1685. Thân phụ ông là một nhà khảo cứu Côn Trùng Học hữu danh, làm giáo sư dạy khoa Vạn vật học.

Thuở nhỏ, Yersin học ở tỉnh Morges. Lúc 20 tuổi (1883) ông khởi đầu học thuốc ở học viện Lausanne bên cạnh hồ Léman (Thụy Sĩ). Kế tiếp ông đến học ở Marbourg (Đức), rồi sang tới Paris (Pháp). Ba năm sau ông giúp việc tại phòng thí nghiệm ở Hotel Dieu. Vào lúc đó, Pasteur đang nổi tiếng về công cuộc tìm ra thuốc trừ bệnh chó dại. Ông xin vào làm ở phòng thí nghiệm của Pasteur và tôn ông này như là một bậc thầy.

Năm 24 tuổi (1887), Yersin nhập quốc tịch Pháp, và trình một luận án đặc sắc về bệnh lao của giống thỏ nhà để thi bằng bác sĩ Y khoa. Sau đó, ông đến Bá Linh ở một năm theo học hỏi bác sĩ Koch, người đã nổi tiếng nhờ sự tìm ra vi trùng bệnh lao.

Năm 1888, ông trở về Pháp tiếp tục nghiên cứu ở Viện Pasteur Paris vừa mới được khánh thành. Ông được bác sĩ Roux mến tài mời cộng tác tìm thuốc chữa bệnh yết hầu. Ông ký với Roux ba bản kỷ yếu (trois mémories) quan trọng, chứng nhận rằng vi trùng Klebs-Loeffler là giống vi trùng truyền bệnh yết hầu. Ba bản kỷ yếu đó sau này trở nên những bản làm quy tắc trong các đại học đường khoa học và chính nhờ đó mà khoa Vi Trùng Độc Chất Học (Toxicologie Microbienne) được tiến triển, đồng thời còn giúp ích cho sự phát minh các thứ thuốc khử độc (Antitoxines) và phòng bệnh (Sérothérapie). Chính trong thời gian này ông quen biết bác sĩ Calmette.

Bấy giờ, mới 26 tuổi đầu, danh tiếng ông đã vang lừng trong giới khoa học. Nhưng ông không vì thế mà tự mãn, lúc nào cũng chịu khó cầu tiến.

2. Bén duyên với Đà Lạt

Cuối năm 1889, ông bắt đầu sang Đông Dương, làm y sĩ cho hãng tàu Messageries Maritimes. Mỗi lần tàu cập bến Nha Trang, ông thích thú đưa mắt nhìn ngắm dãy Trường Sơn bao la hung vĩ. Trước sức hấp dẫn của cảnh trí thiên nhiên đó, ông chợt có ý định đi bộ từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù lúc đó chưa có đường xe hơi và xe lửa.

Năm 27 tuổi, vào khoảng tháng 7-1890, ông từ Nha Trang đi ngựa vào Phan Rí. Từ Phan Rí, ông nhờ một người dẫn đường lần mò vào rừng, và sau hai ngày đường khổ cực, ông tới Di Linh. Cuối cùng, ông xuống Phan Thiết, đi thuyền buồm đến Nha Trang rồi ra tới Qui Nhơn.

Vào những năm 1890-1894, các miền rừng núi dọc dãy Trường Sơn từ phía Bắc Nam kỳ đến phía Nam Trung kỳ và Hạ Lào hãy còn là những vùng bí hiểm, chưa được khai khẩn, ngoài một ít bộ lạc thiểu số, chưa ai đặt chân đến vùng đất hoang vu ấy. Vậy mà một người ngoại quốc như bác sĩ Yersin, đơn thân độc mã không kẻ tùy tùng, dám dấn thân vào miền rừng sâu nước độc, bất chấp cả dã thú và sự giết người của thổ dân, thì thật là có gan mạo hiểm phi thường.

Trong cuộc thám hiểm miền Dran vào năm 1893, ông bị bọn cướp chém đứt nửa ngón tay cái trái và bị đâm nhiều nhát dao găm vào ngực đến ngất ngư. Theo hồi ký của ông, bọn cướp này do tên Thouk cầm đầu, vốn là những tên tù chính trị ở Bình Thuận, sau khi thất bại trong việc mưu toàn đánh chiếm tỉnh lỵ này mới trốn vào miền rừng núi. Mặc dù trong lần thám hiểm mày có ba người Việt Nam tháp tùng ông với ba cây súng trường và một cây súng lục, ông vẫn bị chúng tước khí giới, ba người tùy tùng đều bỏ chạy, một mình ông đành chịu trận bán sống bán chết kháng cự với bọn cướp. Theo lời khai của viên đầu đảng sau khi nhà cầm quyền bắt thì nếu mấy tên kia gan dạ hơn một chút, chúng đã cắt cổ ông xong rồi.

Sau khi thoát nạn, nửa đêm ông nhờ người ta võng về Phan Rang. Dọc đường lại rơi vào giữa đàn voi. Mấy người cõng ông hoảng sợ bỏ chạy trốn hết, còn ông một mình bơ vơ giữa rừng. Ông kiệt sức, không hoạt động gì được, đành nằm chờ chết. Nhưng may đàn voi rẽ đi đường khác, không chà đạp thân thể ông. Dù bị thương nặng, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, ông vẫn không từ bỏ lòng say mê thám hiểm.

Đi đến đâu ông cũng ghi chép địa thế từ dòng sông, từ con suối, ông còn nhận xét về phong tục, về giá trị kinh tế của từng miền. Ông không là nhà du lịch đi ngắm cảnh đẹp thiên nhiên như một khách nhàn du; ông chính là một nhà thám hiểm say mê tìm cái lạ, học cái hay để mở mang kiến thức và mưu ích cho con người.

Sau ba cuộc thám hiểm liên tiếp, bác sĩ Yersin tìm ra Cao nguyên Lâm Viên. Ngày 21-6-1893, đứng trước phong cảnh hung vĩ ở độ cao cách mặt biển 1.500 thước, ông bày tỏ cảm nghĩ của mình như sau: “Cảm tưởng của tôi rất sâu xa khi vượt khỏi rừng thông; tôi đối diện với một cao nguyên mênh mông, không cây cối và hoang vu, có dáng như một vùng biển xao động mãnh liệt bởi một loạt sóng cồn ba động màu xanh biếc. Dãy núi Lâm Viên đứng sừng sững ở phía chân trời tây bắc cao nguyên, làm cho phong cảnh tăng thêm vẻ đẹp và nổi bật trên một hậu cảnh mỹ lệ”.

(Tôi cảm thấy chưa dịch được hết ý mấy câu văn đặc sắc của tác giả, nên xin chép lại nguyên văn của ông: Mon impression a été profon de lorsque, débouchant de la forêt de pins, je me suis trouvé en face de ce vaste plateau dénudé et dé sert, don’t l’apparence rappelait celle d’une mer boulever sesee par une houle esnorme d’ondulations vertes. Le massif du Lang-bian se dressant à l’horizon nord-ouest du plateau, accentuait la beauté du site en lui donnant du relief et en lui formant un arrièreplan splendide).

Theo hồi ký ông viết, lúc ông đặt chân đến vùng này, thì ở đây chỉ có rải rác vài làng của thổ dân người Lát tụ họp dưới chân núi, dân cư thật là thưa thớt.

Vì nhận thấy vùng đất này khí hậu tốt lành và phong cảnh xinh đẹp, bác sĩ Yersin đề nghị cùng Toàn quyền Paul Doumer nên lập một thành phố tại đây để làm nơi nghỉ mát và dưỡng bệnh. Đề án đó được chấp nhận, và sau khi phái hai đoàn thám hiểm vào năm 1897 và 1898 lên quan sát tại chỗ, Toàn quyền Pháp cho khởi công xây dựng Sở Khí tượng và căn cứ thí nghiệm trồng trọt, lại mở một con đường chạy dài từ miền duyên hải Trung kỳ lên tận miền sơn cước. Thành phố Đà Lạt bắt đầu khai sinh từ đấy.

Nhờ ở vị trí cao lại không xa bờ bể là mấy nên quanh năm khí hậu ở Đà Lạt mát mẻ, thời tiết không thay đổi, trung bình là 18 độ. Từ năm 1933, sau khi quốc lộ số 20 dài 300 cây số được hoàn thành, bao nhiêu du khách ở đồng bằng miền Nam đều có thể dùng xe hơi đến viếng Đà Lạt một cách dễ dàng để nghỉ mát trong những ngày nóng bức.

Người có công tìm cho chúng ta một nơi nghỉ mát nên thơ đó chính là bác sĩ Yersin.

Đến năm 31 tuổi (1894), bác sĩ Yersin dẫn theo mười lăm người lính tập từ phía Nam đi lần lên tỉnh Đăk Lăk và Kon Tum, vào các xóm người dân tộc thiểu số phía bắc dãy núi Lâm Viên.

3. Nghiên cứu bệnh dịch hạch

Lần đi thám hiểm cuối cùng này về, ông nghe tin bệnh dịch hạch đang phát hiện ở Vân Nam, gần biên giới Việt Hoa, làm chết ngót sau mươi ngàn người ở miền Nam Trung Quốc. Ông liền xin Chính phủ đến tại nơi quan sát bệnh tình về phương diện “vi trùng”. Đang lúc ấy bệnh dịch hạch lại lan tràn sang Hồng Kông. Ông quay lại đáp tàu ra Hải Phòng đi Hồng Kông. Thế rồi 48 giờ sau, ông đặt chân đến Hồng Kông, thuê người cất một căn nhà bằng tre lợp tranh dùng để làm phòng thí nghiệm. Ông mua mấy xác chết về mổ xẻ, lấy vi trùng trong các hạch người chết, cấy vào giống chuột bạch và chuột Ấn Độ, thì nhận thấy các con chuột này cũng chết vì dịch hạch. Ông bèn kết luận: Bệnh dịch hạch của người ta giống y như bệnh dịch hạch của loài chuột.

Sau đó ông gởi loại vi trùng dịch hạch về Paris cho các bác sĩ thí nghiệm. Họ cũng đồng một ý kiến với ông là thứ vi trùng ấy chính là căn nguyên bệnh dịch hạch.

Đến năm 1895, ông lập viện Pasteur ở Nha Trang, rồi trở về Pháp, cùng với hai bác sĩ Calmette và Roux kiếm thuốc ngừa bệnh dịch hạch; năm sau ông trở lại Viễn Đông, mang theo thuốc ngừa dịch hạch vừa tìm ra.

Bấy giờ bệnh dịch hạch lại tràn sang Quảng Châu và Hạ Môn. Ông bèn đến tận nơi, thử dung thứ thuốc mới trị bệnh, ông cứu sống được một số người, đủ chứng tỏ là thuốc do nhóm ông tìm ra rất hiệu nghiệm.

4. Vĩ thanh

Sau đó ông trở lại Việt Nam, làm việc ở viện Pasteur Nha Trang cho đến ngày từ giã cõi trần, ngoại trừ mấy năm (1902-1904) ông lo mở trường Cao đẳng Y khoa ở Hà Nội và về Pháp mấy lần thăm bác sĩ Roux.

Từ năm 1905-1918, ông làm Giám đốc hai viện Pasteur Sài Gòn và Nha Trang. Năm 1925, ông làm Tổng Thanh tra các viện Pasteur ở Đông Pháp.

Từ ngày lập viện Pasteur Nha Trang, ông chuyên môn quan sát các bệnh của súc vật và tìm ra được thứ thuốc chữa và phòng bệnh trâu bò. Ông lại cùng với các người giúp việc quan sát các chứng bệnh khác như Barbone, Sura và Piroplasmose.

Ngoài việc nghiên cứu về Y học, bác sĩ Yersin còn là một nhà trồng tỉa, một nông học gia nổi danh. Ông lập ra vườn trồng cây để thí nghiệm những giống cây vùng nhiệt đới. Các loại cây như Guttapercha, Coca, Cacao, cây cọ Phi châu và nhất là cây cao su lấy giống ở Mã Lai đề được ông trồng có kết quả rất tốt tại đồn điền Suối Dầu. Năm 1918, ông lại thử trồng cây Quinquina trên đảo Hòn Bà, nhưng kết quả không tốt vì đất cứng và khí hậu không hợp như ở Suối Dầu. Ông lại đi tìm những vùng đất màu tốt và khí hậu thích hợp ở Dran, Diom, Di Linh. Từ đó về sau, người nước ta khỏi mua chất Quinine ở nước ngoài về làm thuốc, ấy là nhờ công lao hai mươi lăm năm chịu khó ươm giống, thử đất, trồng cây của bác sĩ Yersin.

Lúc làm việc tại Nha Trang, ông sống rất giản dị thanh bạch, mặc dù ông có thừa phương tiện để hưởng thụ cuộc đời phù phiếm xa hoa. Ông ở trong một tòa nhà vuông, cao, có hai tầng. Nhà được cất trên nền cái đồi thứ nhất dựng ở Nha Trang, tại cửa sông, đối diện với di tích Chàm Po Nagar, dưới thấp chung quanh là những căn nhà lụp xụp của dân chài lưới. Bốn mặt nhà đều có hành lang chạy vòng quanh, đứng ở dấy có thể phóng mắt nhìn ra bốn phương trời, núi non hiện ra trước mặt thật bát ngát hung vĩ. Quanh nhà, các loại bìm bìm, bông bụp lục và đỏ, hồng và tím mọc đầy, không hề có một vườn rau, hoa trái, hay cây cảnh dùng trang hoàng cho ngôi nhà của ông thêm đẹp mắt.

Bác sĩ Yersin là một người sống rất bình dân, thường chỉ mặc bộ ka ki màu vàng, và dù đã 80 tuổi rồi mà sáng nào ông cũng cưỡi xe đạp tới viện Pasteur. Ông lại có lòng nhân ái, hay dùng thời giờ rỗi rảnh dạy dỗ mở mang thêm cho những người dân chài lưới chất phác ở miền ông cư trú. Ông thương cả đến loài cầm thú, chim muông và mỗi khi gọi con vật nào cũng lót hai chữ “người ta” ở trước: người ta chó, người ta mèo, người ta két…

Ngày 1-3-1943, bác sĩ Yersin mất tại Nha Trang, hưởng thọ 80 tuổi.

Thi hài ông được an táng trên một khoảnh đồi ở khu đồn điền Suối Dầu, bên cạnh những cây cao su thẳng ngọn lên trời xanh. Đây chính là nơi ông đã khai khẩn trồng trọt rộng ngót năm trăm mẫu đất, và di sản này ông tặng cho viện Pasteur Nha Trang. Theo di chúc của ông, đám tang diễn ra cực kỳ giản dị, chẳng có một bài điếu văn nào, nhưng mọi người tiễn đưa ông về ba tấc đất ai cũng ngậm ngùi mến tiếc sự ra đi vĩnh viễn của một bậc vĩ nhân.

Nguyễn Văn Y

Đà Lạt Ngày Tháng Cũ


TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY

Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn.

Đà Lạt là cả một thiên đường của kỷ niệm, của hạnh phúc. Biết bao nhiêu người đã dàn trải nỗi lòng nhung nhớ về thành phố này thành những dòng hồi ký, những lời tình tự, những vần thơ lai láng, những âm thanh, điệu nhạc thánh thót, trữ tình hay những bức tranh vẽ, những tấm ảnh chụp rất nghệ thuật… Mỗi người một vẻ… Quả thật Đà Lạt mãi mãi in đậm nét trong lòng người, nhất là những người đang sống một cuộc đời xa xứ.

     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

“Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.”

Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn… tiếng chuông nhà thờ Con Gà… Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng…

Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

 

KHÁNH LY 

     Giọng ca của KHÁNH LY một thời vang vọng trong các phòng trà của thành phố Đà Lạt và nay mãi còn âm hưởng trong lòng người. Hãy nghe kể một chút về tiểu sử của KHÁNH LY, nhất là cuộc gặp gỡ đầu tiên với Trịnh Công Sơn: 

     “Năm 1954, lúc 9 tuổi – trước khi theo mẹ di cư vào Nam – trong một Kermesse được tổ chức ở Hà Nội, Khánh Ly đã leo lên sân khấu tham dự cuộc thi hát được dựng lên theo kiểu tuyển lựa ca sĩ bây giờ. Ngày ấy, bé Lệ Mai hát bài “Thơ Ngây” học lóm từ những cửa hàng trên con phố Hàng Bông, nhưng bé không được giải gì cả. 

     Cuối năm 1956, dù mới khoảng 11-12 tuổi nhưng với niềm đam mê ca hát có được từ bé, một lần nữa Lệ Mai quyết định đi thi hát. Lệ Mai chuẩn bị đến với cuộc thi quan trọng của mình bằng cuộc quá giang xe rau chở bắp cải đi từ Đà Lạt về Sài Gòn để ghi danh dự buổi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng do đài Pháp-Á tổ chức tại rạp Norodom. Em bé Lệ Mai hát bài “Ngày Trở Về” của nhạc sĩ Phạm Duy và đoạt giải nhì, sau thần đồng Quốc Thắng. 

     Năm 1962, Khánh Ly thật sự bước vào cuộc đời ca hát của mình. Cô bắt đầu trình diễn ở phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Khoảng cuối năm 1962, Khánh Ly rời Sài Gòn lên hát cho một Night Club ở Đà Lạt và cô ở lại đó suốt 6 năm. 

     Năm 1964, tại Đà Lạt, Khánh Ly gặp một người nhạc sĩ nghèo. Anh đến với cô bình thản như cơn mưa dầm của Đà Lạt vào đêm hôm đó. Qua vài câu chuyện, cô và nhạc sĩ trở thành hai người bạn. Người bạn ấy không ai khác, đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Rất nhiều lần Trịnh Công Sơn đề nghị Khánh Ly về Sài Gòn đi hát với ông nhưng cô đều từ chối bởi cô yêu Đà Lạt, sự yên tĩnh thanh bình của Đà Lạt đã quyến luyến bước chân cô, không như Sài Gòn vốn đông người và luôn nhộn nhịp. Nhưng nếu tin vào định mệnh thì cuộc gặp gỡ của Khánh Ly và Trịnh Công Sơn tuy bình thản, giản dị là thế song đã trở thành định mệnh của cuộc đời Khánh Ly, là khoảnh khắc lịch sử không riêng của Khánh Ly mà còn của nền âm nhạc nước nhà. 

     Bởi vì đã gọi là định mệnh cho nên đến năm 1967, như một sự tình cờ, Khánh Ly gặp lại nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giữa giòng người đi lại trên đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn, vào một buổi chiều êm ả. Từ một đêm mưa của Đà Lạt đến một buổi chiều trên đường phố Sài Gòn, tất cả đã bắt đầu. Ngay chiều ấy, trên nền gạch đổ nát có một quán lá sơ sài được dựng lên với cái tên là Quán Văn. Ca sĩ Khánh Ly bắt đầu hát với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại đây.”

     KHÁNH LY gắn bó nhiều với Đà Lạt. Người ca sĩ tâm sự trong một bài viết ghi tháng 4 năm 1985 như sau:

     “Đà Lạt không xa lạ lắm với tôi, 1956 bố tôi làm việc tại thành phố này, từ khu Chi Lăng, mỗi ngày tôi đi bộ đến trường Phan Chu Trinh nằm ngay ngã tư đường Nguyễn Du và Trần Hưng Đạo. Trò chơi thuở nhỏ của tôi là chui vào những bụi rậm hái hoa hoặc men theo ven hồ Chi Lăng mò ốc. Về đến nhà thì chui vào cái rãnh nhỏ quanh nhà, đắp đất trồng rau. Tôi không có búp bê, không có những cuốn sách hình, không có bạn. Tôi sống lủi thủi một mình, lủi thủi chơi một mình. Đầy mặc cảm ở cái tuổi 12. Gia đình tôi ở Đà Lạt một năm, lại trở lại Sài Gòn. Nhưng cái thành phố núi đồi trùng điệp, những buổi sáng sương mù rét mướt lội bộ đến trường, co ro trong chiếc áo len, đã nằm gọn trong khối óc bé nhỏ của tôi. Do đó khi bà chủ Night Club Đà Lạt về Sài Gòn tìm ca sĩ lên hát cho nhà hàng của bà, tôi đã không ngần ngại nhận lời. 

     Lúc đó tôi chưa được xem là ca sĩ. Chỉ mới là mầm non có cũng được không có cũng chẳng sao…

     Một ngày tháng 11-1962, tôi rời Sài Gòn. Chiếc xe đò Minh Trung đưa tôi lên vùng Cao Nguyên Đà Lạt thơ mộng nơi mà mọi người vẫn xưng tụng là Hoàng Triều cương thổ. Cùng đi với tôi là nữ ca sĩ Ngân Hà và bà chủ Night Club Đà Lạt. Năm đó tôi 17 tuổi.”

     KHÁNH LY bày tỏ lòng quyến luyến Đà Lạt của chính mình:

     “Đến Đà Lạt rồi tôi không còn nhìn thấy chỗ náo đáng yêu bằng, dù sau đó, tôi phải rời xa. Cho nên bạn tôi, ông Kiêm Thêm, cổ thụ Đà Lạt thường nói đó là thiên đường lỡ. Năm 1967 tôi về Sài Gòn đi lêu bêu, gặp lại Trịnh Công Sơn. Nhờ Diễm Xưa, tôi được sự yêu mến. Bằng những bài hát của Sơn tôi đi qua rất nhiều nơi mà lòng vẫn không quên Đà Lạt. 

     Cái mơ ước một ngày được trở lại thành phố này, trở lại và sẽ ở lại, vẫn ngày đêm thôi thúc trong tôi. Một căn nhà nhỏ bằng gỗ, một khu vườn nhỏ xanh rờn bóng trúc bao quanh, một gốc đào, một gốc ngọc lan, một giàn thiên lý và một người yêu tôi. Rồi có nhắm mắt xuôi tay, lòng tôi cũng bình thản. 

     Vào những năm chiến tranh khốc liệt nhất, tôi trở lại Đà Lạt đôi lần hát ở quán Lục Huyền Cầm đường Võ Tánh, hát ở Viện Đại Học Đà Lạt. Tôi trở lại Đà Lạt như người Đà Lạt trở về Đà Lạt, ngồi uống café ở nhà Thủy Tạ mà lòng đầy những ngậm ngùi. Đà Lạt có nhiều thay đổi, phải là những người yêu Đà Lạt lắm mới cảm nhận được điều đó. 

     Nhà hàng Night Club từ Lý Thái Tổ, dời ra Hotel du Parc, rồi bị cháy vào một đêm mùng 5 Tết, thêm một lần di chuyển lên lầu trên của ciné Ngọc Lan đường Thành Thái. Thêm cái dancing Tulipe Rouge nằm bên cạnh chợ Hòa Bình, tôi cũng có dịp cộng tác một thời gian, cho tới lúc tôi rời Đà Lạt. Sau này chỉ còn một dancing duy nhất nằm trong khách sạn Duy Tân. Tôi ở tại đây khi lên hát cho Lục Huyền Cầm.

    Lần sau cùng, tôi lên Đà Lạt vào tháng 11-1974. Đường bị cắt ngang Rừng Lá. Tôi phải quay về với bao nỗi tiếc thương… Khi nghe tin Đà Lạt bị chiếm giữ. Tôi đau đớn như người bị trúng thương…

     Vết thương dù có lành, tự nó cũng là một vết thương, đã một lần làm ta đau đớn. Tôi vẫn ôm mơ ước về một Đà Lạt của tôi dù đã có những con đường phai mờ trong tâm tưởng… Mười ngàn cái hồ ở Minnesota, sáu ngàn cái hồ ở Florida, không đủ sức làm tôi rung động, như ngày xưa mỗi lần xe Minh Trung chạy ngang hồ Xuân Hương để về bến. Tôi có khó tánh quá không? Tôi có bảo thủ quá không? Tôi nghĩ rằng không và tôi còn nghĩ rằng tất cả những ai đã từng ghé Đà Lạt, bây giờ dù ở xa, quá xa quê hương, cũng đều cùng một ý nghĩ như tôi. Bởi Đà Lạt cũng là Việt Nam và chúng ta chỉ có một nơi để nghĩ tới, một chốn để mơ về đó là Việt Nam, mà ở đó có Đà Lạt. Niềm mơ dấu yêu của riêng tôi.”

     KHÁNH LY, hơn một chục năm sau đó, vào tháng 10 năm 1998, lại viết thêm về thời gian khi mới lên ở tại Đà Lạt:

     “Tôi bắt đầu đi học lại ở trường tiểu học Phan Chu Trinh. Ngôi trường nhỏ nằm ngay tại ngã tư tôi không còn nhớ tên đường… Dẫu ít khi được cho đi chơi phố, nhưng những khoảng đất rộng đầy hoa dại và những loại giây leo lúc nào cũng thơm ngát mùi gỗ thông và con đường đất nhỏ dẫn tới Hồ Chi Lăng đã là một quyến rũ khiến cho đến bây giờ, mấy chục năm trôi qua, lòng tôi vẫn xao xuyến bồi hồi mỗi khi có ai nhắc tới Đà Lạt…

     Tôi bỏ nhà đi hoang lần thứ nhất là năm 1956 ở Đà Lạt. Tôi không còn nhớ vì sao tôi có đủ can đảm mở lời xin đi nhờ một chiếc xe chở bắp cải về Sàigòn dự thi tuyển lựa ca sĩ Nhi Đồng. Tôi cũng không nhớ đã nhờ ai ghi danh bài Từ Giã Kinh Thành của Châu Kỳ. Ban tổ chức từ chối vì bài hát của người lớn, không hợp với tuổi của tôi. Thế là tôi đổi qua bài Ngày Trở Về của Phạm Duy. Tôi mặc quần soọc trắng, áo sơ-mi carô. Nhận được giải nhì, tôi lại xin chiếc xe đã chở tôi từ Đà Lạt cho tôi quá giang một lần nữa. Bác Tuất gái là chị ruột của mẹ tôi, bà thương tôi, ôm tôi và nói… Tội nghiệp, mày về là chết đòn con ạ… mà quả thật như vậy. Đây là trận đòn thứ nhất tôi lãnh chịu trước cái nhìn kinh hoàng của anh chị tôi… Tôi không khóc lúc những ngọn roi tới tấp quất xuống mình nhưng sau đó, tôi trốn ra Hồ Chi Lăng ngồi khóc một mình. Không phải vì đau mà vì tôi đã bước được bước chân thứ nhất vào định mệnh của tôi.

     Năm 1962, trong một lúc bơ vơ thiếu thốn, khổ sở trăm bề. Tôi nghĩ đến Đà Lạt. Ngày còn men theo Hồ Chi Lăng mò những con ốc nhỏ xíu, tôi cũng nhỏ nhoi như thế. Lần này trở lại Đà Lạt, tôi không còn là một cô bé, tôi đã là một thiếu phụ. Tôi đã hết ngây thơ, không gia đình, không bạn bè, tôi tự bước đi trong đời bằng chính đôi chân của mình. Không khởi đi từ Sàigòn mà ở ngay nơi thành phố nhỏ bé, thơ mộng, hiền như nước mưa. Đà Lạt hợp với nhạc của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, của Tô Vũ, của Biệt Ly, của Lá Đổ Muôn Chiều, của Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa, của Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, của Lá Thư… Đà Lạt là nơi người ta dễ đến gần nhau, dễ yêu nhau và cũng là nơi để người ta chạy trốn và tìm quên.

     Đà Lạt chỉ cách Sàigòn mấy tiếng đồng hồ xe nhưng hoàn toàn khác biệt, lạ lẫm tưởng chừng như từ thuở khai thiên lập địa, bàn tay Thượng Đế đã đặt lầm chỗ… Giữa những bát nháo, ồn ào, nhầy nhụa. Đà Lạt vẫn im lìm dịu dàng thanh cao như một người tình khuê các… giữa tiếng bom rơi đạn nổ, tiếng la khóc thảm thương, những tà áo tím hồng vẫn nhẹ nhàng lướt nhẹ trên phố với tiếng thông reo vi vu chưa bao giờ ngưng nghỉ, có một chút gió heo may và một thoáng mưa bụi… Tất cả, đủ làm người ta yêu nhau. Thánh thiện và trong sáng…  

     Một phần đời của tôi là Đà Lạt. Có khởi đầu. Có chấm dứt. Có hân hoan. Có tuyệt vọng. Tôi gắn bó với Đà lạt như đương nhiên cuộc đời của tôi gắn bó với Việt Nam. Có qua đi nhiều năm tháng nữa, như đã qua, tôi vẫn một niềm yêu thủy chung như thế.”

     KHÁNH LY, năm 2002, trong mục “Chuyện kể sau 40 năm” lại tâm sự thêm về kỷ niệm với Đà Lạt:

     “Thời đó, tôi mới 18 tuổi, còn ham ăn, ham chơi. Chẳng có gì thú vị cho bằng quăng giầy dép, chân không, đi, chạy, nhẩy khắp Đồi Cù, xuống Tòa Tổng Giám Mục, men theo con đường Tình Yêu dẫn lên Tòa Tỉnh rồi lại lên Đồi Cù nằm khểnh dưới gốc thông hoặc thẳng tay chân trên bãi cỏ thênh thang nhìn ngắm mây trời. Không nhớ đến ai cũng không cần biết mình là ai, ngày mai sẽ ra sao. Không nhớ ai thật, không cả yêu đương. Không hề nghĩ đến gia đình và Sàigon…

     40 năm trước, đó là ý nghĩ của một thiếu phụ tuổi 18, nằm ngủ quên dưới gốc thông già. Buổi trưa, nắng vàng chan hoà trên cỏ lá, tiếng thông reo ngân dài, bất tận như một lời ru buồn. Lời ru âm thầm đi vào giấc ngủ và ở lại đó. Lời ru buồn. Rất buồn.”…

      Trong một bài viết khác KHÁNH LY tâm sự tiếp khiến người Đà Lạt xa xứ nghe thấy thật ngậm ngùi, thật thấm thía:     

     “Mùa đông Ðà Lạt như mùa thu kéo dài. Thêm chút lửa ấm từ lò sưởi ngọt ngào mùi gỗ thông. Ðêm Ðà Lạt bao giờ cũng lạnh. Hơn, kém một tí cũng không cho ta thấy rõ mùa đang chuyển. Bốn mùa xoay quanh những thói quen đáng yêu. Hương café thơm ngát qua bao nhiêu suối khe đồi núi. Dốc thấp, dốc. Mái nhà ngói đỏ và mùi thơm của gỗ thông. Tôi yêu Ðà Lạt vô chừng. Như một người tình. Hơn một người tình. Tôi rời Ðà Lạt không ngờ, như khi đến. Rời xa mà vẫn yêu. Yêu nhiều hơn vì trong cái yêu có cái tiếc nuối mặc dù sự việc rời bỏ Ðà Lạt năm 1967 đã đưa tôi đến một đổi thay, đến một hạnh phúc may mắn không bao giờ tôi dám nghĩ đến. Năm 1964 khi Trịnh Công Sơn rủ tôi về Saigon đi hát với anh. Tôi từ chối. Không phải vì không yêu nhạc Sơn. Nhưng lúc đó tôi yêu Ðà Lạt hơn. Cái lối sống xô bồ, ồn ào mánh mung của Saigon không hợp với tôi. Trong khi đó Ðà Lạt là thiên đường. Êm ả, trong sáng. Saigon đó có một chỗ đứng nào cho tôi. Là một người không hề có một chút tham vọng. Thích an phận, bằng lòng với những điều mình có. Một đứa con gái tầm thường như tôi. Những ngày tháng ở Ðà Lạt đã là một an ủi quá đủ rồi. Với làm vui chi những điều quá xa vời. Cũng không hề mơ ước một đổi thay. Hơn thế nữa con người tôi, tâm hồn tôi hợp với Ðà Lạt hơn. Thế mà rồi tôi đã rời xa nơi chốn đã cho tôi biết bao ngày tháng đẹp đẽ trong sáng.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ” – LS. Ngô Tằng Giao)

Sĩ Khí Người Thương Binh Việt Nam Cộng Hoà

Người Thương  Binh Việt Nam Cộng Hoà

Gặp các chiến sĩ thương  binh Việt Nam Cộng Hoà còn kẹt lại ở Việt Nam