Trang chủ » 2013 » Tháng Chín

Monthly Archives: Tháng Chín 2013

Lãng Mạn Cà Phê Hè Phố Ở Paris—Lynne

LUNDI
Ở từng góc phố, những quán cà phê nhỏ bé, nên thơ với những giỏ hoa sắc màu sặc sỡ như một nét điểm xuyết đáng yêu cho Paris tráng lệ. Chọn một góc khuất, nhâm nhi một tách cà phê thơm nồng để tận hưởng cuộc sống êm đềm nơi đây.

Sự thực đến Paris mà không vào quán uống cà phê, bạn sẽ “không thấy và không có Paris”. Những quán cà phê nhỏ bé, xinh xắn hiện diện ở mỗi góc phố, bên bờ sông, bên cạnh quảng trường, dã chiến với những bộ bàn ghế gỗ đơn giản, những chiếc dù che nắng duyên dáng hay thực đơn được viết đơn giản bằng bảng đen phấn trắng.

Suốt con đường dài bên tả ngạn sông Seine gọi là đường của các quán cà phê. Mỗi góc phố đều có một quán cà phê với lối trang trí đặc biệt Pháp, mở thông ra hè phố.

*

 ca-phe5-4442-1379317646

Các quán cà phê ở khắp các đường phố, ngõ ngách của Paris hoa lệ.

Ảnh: Colourofviet.com

*

Dưới mái hiên che bằng nhựa trong để lấy ánh sáng là những chiếc ghế mây nhỏ, những bàn tròn hay vuông gọn gàng cho hai, ba người ngồi hay những bộ bàn ghế sắt sơn trắng uốn lượn xinh xắn, được phủ lên môt lớp khăn ren hay kẻ sọc thanh nhã.

Du khách không thể nào không dừng bước trước những mùi thơm dễ chịu tỏa ra từ những quán ngoài trời giản dị mà tinh tế với những giỏ hoa tươi ngập tràn màu sắc trải dài khắp quán.

Thú vị nhất là ngồi ở quán Procope ở tả ngạn sông Seine, một trong những quán cà phê cổ nhất Paris, nhấm nháp một ly cà phê thơm nồng, phóng tầm mắt và cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn của xứ sở tình yêu này.

*

quan-ca-phe-8487-1379317646

Quán cà phê nổi tiếng ở Paris luôn hấp dẫn bất kỳ du khách nào đến thăm. Ảnh: Le Procope

*

Người Pháp hay nhâm nhi tách cà phê trên góc phố cùng với chiếc bánh croissant, hay mấy thanh chocolate đen, kẹo nougat…

Cà phê cũng thường được chia ra làm 2 loại:

Café au lait và Café noir. Cafe au lait có pha trộn từ cafe với sữa, kem, bơ tươi. Đó có thể là Café noisette – espresso đậm đặc pha chút sữa tươi hảo hạng.

Cafe Noir nguyên chất, vị nặng và đằm, thường được phân loại dựa theo xuất xứ, chất lượng của hạt cà phê cũng như nồng độ pha chế.

ca-phe-phap1-6257-1379317646.jpg

Một bữa sáng phong cách của người Pháp. Ảnh: colourofviet.com

Nếu một lần đến Paris, hãy chọn một góc khuất ở bất cứ ngã tư nào của thành phố, gọi một cốc cà phê sữa, ngắm nụ cười mỉm đặc biệt của người Pháp, tận hưởng cuộc sống êm đềm trôi nơi đây.

Lynne

Đọc Hồi Ký Của Một Vị Niên Trưởng—Nguyên Thiều

Cuốn Hồi Ký này thuật lại những sự thực hiển nhiên trong Chiến Tranh Việt Nam, để hậu thuẫn cho chính nghĩa của phe Quốc Gia ở Miền Nam, để khẳng định đức hạnh và danh dự của quân nhân VNCH và Hoa Kỳ (và Đồng Minh) đã chiến đấu cho Tự Do của Miền Nam. Cựu chiến sĩ Mỹ và VNCH nên đọc và lưu lại cho con cháu. Đây là cuốn sách đầu tiên của một quân nhân Việt Nam viết bằng tiếng Anh dài 598 trang về Chiến Tranh Việt Nam.

Tôi không là nhà báo hay văn sĩ, lại càng không phải là người điểm sách. Với tầm hiểu biết của một độc giả bình thường, xin được nêu ra vài nhận xét nhỏvà cũng nhân đó giới thiệu về quyển sách mà một vị niên trưởng đồng môn của tôi đã viết. Độ dày của sách khiến tôi tò mò vì xưa nay ít có nhà xuất bản Mỹ nào chịu in những quyển sách dày như vậy. Tò mò của tôi đã nhanh chóng chuyển thành ngạc nhiên sau khi đọc qua những mẩu chuyện “thật thà như đếm” mà lại lôi cuốn một cách nhẹ nhàng kỳ thú chứa đựng trong đó. Tôi dán theo những nhận xét của tôi vài tấm hình; quý vị sẽ không thể thấy được hình ảnh nếu đọc message trong Yahoo Group (do hạn chế html của new version). Hình sẽ chỉ hiển thị nếu được đọc trong inbox cá nhân hoặc Google Group. Tôi rất xin lỗi về sự bất tiện này.

Viện Đại Học Indiana cho ra mắt một quyển sách có nhan đề về Chiến Tranh Việt Nam vào mùa xuân năm 2012. Không kể trang bìa, 15 trang mục lục, dẫn nhập và giới thiệu, sách dầy 598 trang, in trên khổ giấy 6X9, bìa cứng, được viết theo thể hồi ký, không viết theo mẫu mực sưu tầm nghiên cứu. Sách gồm 6 phần, 30 chương với tựa đề: Nationalist in the Viet Nam Wars—the Memoirs of a Victim turned Soldier. Tạm dịch là, Người Quốc Gia trong Chiến Tranh Việt Nam—Hồi Ký của một Nạn Nhân trở thành Chiến Binh.

 
Khi tự nói về mình, tác giả một mực khiêm tốn cho rằng, ông là “nobody”; nhưng đọc qua vài chương, bị cuốn hút vào những câu chuyện sôi nổi và nhận chân được giá trị của cuốn sách, độc giả chắc chắn hiểu rằng—người viết chẳng phải là “nobody” mà phải là “somebody”. Sách tường thuật lại những biến cố, những kinh nghiệm bản thân và thực tế cuộc đời trong chiến tranh mà tác giả đã trải qua—hoặc biết được và tin chắc là sự thật từ đầu thập niên 1940 khi ông còn tấm bé, cho đến tháng 10 năm 1990 khi ông cùng gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ. Ngay sau khi xuất bản, quyển sách đã được quảng bá và đón nhận rộng rãi; thế nhưng, ngay tại địa phương nơi tác giả cư ngụ, có vẻ như—vẫn không mấy người biết đến. Người ta có thể tìm được phần nhận xét, điểm sách, giới thiệu… của nhiều nhân vật tiếng tăm đã đọc quyển sách này và viết ra những nhận xét của họ như:
 
– Đại Tá Gregory Fontenot, Tiến Sĩ–Giám Đốc University of Foreign Military and Cultural Studies (Army magazine, trang 65):
…”This book is a first-rate contribution to correcting the record. Readers who approach writer with their hackles well down will find a new and refreshing view of what happened in Vietnam from the end of WWII through 1975″…
– Cố Vấn Daniel J. Cragg, Luật Sư–Chánh Án Toà Thượng Thẩm: 
…”Never once in this long book does he refer to Saigon as “Ho Chi Minh City.” He is still a Vietnamese patriot although now fate has decreed that one day his bones will rest in foreign soil. For the people of his generation that may be the greatest tragedy of the Vietnam War”.
 
– Luật Sư Đoàn Thanh Liêm:
…”Người viết rất hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn hồi ký rất trung thục và lý thú này của vị cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là một người có tấm lòng yêu nước nồng nhiệt chân thành. Sau cùng, người viết xin được bày tỏ lòng biết ơn và quý trọng chân thực đối với tác giả vì sự đóng góp thật quý báu này”.
 
– Nhà Văn Mặc Giao:
…”Đây là một cuốn sách rất đáng đọc, đáng được giới thiệu cho bạn bè ngoại quốc, nhất là cho những người trẻ Việt Nam để họ hiểu được, thấy được những lầm than, nỗ lực và hy sinh của thế hệ cha anh cho đất nước và cho chính họ”. 
 
– Thiếu Tướng David T. Zabecki:
…”An important book. One of the most compelling and thoughtful ARVN (Army of the Republic of Viet Nam) accounts I have ever read…. It is an unblinking, unflinching account… a very honest book, the author’s integrity comes through on every page.” 
 
Giáo Sư Williamson Murray:
“The study of the Vietnam wars is too often a cottage industry of Americans, many of whom seem to believe the war only began with increasing U.S. involvement in the early 1960s. Admittedly, interesting work from the North Vietnamese perspective, largely in literary form, has begun to emerge, but the perspective of those who fought for the Republic of Vietnam has largely gone unreported. That is why this is an important book”. 
 
– Trung Tướng Lawson Magruder:
“Of all the many books I have read about the Vietnam War, this one pays the ultimate tribute to the incredible sacrifices made by the courageous soldiers and people of South Vietnam. Through the eyes of a true patriot, the history and decisive operations of the conflict are reviewed from the unique perspective of a victim turned soldier. I have known the author for nearly four decades and can attest to his personal courage, his passion for life, and his intense love for his country. This book is a must read for those who want the complete picture and whole truth about a tragic war that consumed the world for over two decades.”
 
– Giáo Sư Olga Dror:
“His work provides us with a unique voice from the South Vietnamese side of the conflict in Vietnam. But it does much more than this. The author skillfully entwines memories of his and his family’s life with the broader picture of the events taking place in his country. As his book is unique, so has been his life”. 
 
– Đại Tá John Swindells:
“This detailed history of the life of a Vietnamese officer offers the best understanding of the wars in Southeast Asia that I have found. Even after two year-long tours in country, I learned much from this book about the history of the region and the culture of the Vietnamese people. No one who has not read this book can claim to understand what happened. As an American officer, some of the detail is quite painful to me. Nevertheless, I strongly recommend it”. 
 
Người Việt có câu: “Bụt Chùa nhà không thiêng”. Người Mỹ bảo rằng: “No man is a prophet in his own land”. Người Pháp cũng nói: “Nul n’est prophète en son pays”. Cả 3 câu nói Việt–Mỹ–Pháp vừa kể nếu đem áp dụng vào trường hợp của quyển Nationalist in the Viet Nam Wars xem chừng cũng có vài phần thích hợp. 
 
Tác giả quyển sách là Niên Trưởng Nguyễn Công Luận—cựu sinh viên sĩ quan Khoá 12 của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Ông là một cây viết từng cộng tác với nhiều tờ báo tại Sài Gòn từ trước năm 1975—(kể cả tờ Diều Hâu) dưới bút hiệu Lữ Tuấn. Được biết, cùng với 4 học giả Hoa Kỳ khác—mà niên trưởng là nhân vật số 2, ông đã cộng tác với Giáo Sư—Nhà Sử Học Spencer C. Tucker trong vai trò associate editor soạn thảo pho sách Encyclopedia of the Vietnam War xuất bản hồi năm 1998 (ABC-CLIO). Hiện nay, niên trưởng cũng viết cho đặc san Đa Hiệu của Tổng Hội Võ Bị và một vài tờ nhật báo, tuần báo tại California.   
 
Nội dung Nationalist in the Viet Nam Wars thuật lại các biến cố đáng kể xảy ra đối với cuộc đời của một người Việt Nam bình thường điển hình—tiêu biểu cho thế hệ của tác giả trong hai cuộc chiến tranh 1946-1954 và 1955-1975 tại Việt Nam, những trận giao tranh ác liệt, những cảnh giết chóc tàn bạo, những hành hạ và tù đầy thảm khốc, những tấm lòng nhân ái hay tàn ác trong chiến tranh, về con người trước súng đạn và thù hận. Sách này không phải là tài liệu nghiên cứu, mà là hồi ký có góc nhìn trung thực từ những vị trí thấp bé của người dân, người lính, không phải từ vị trí của các nhân vật quyền lực luận bàn về chuyện quốc gia đại sự.
  
Toàn bộ cuốn sách được trình bầy như một quyển truyện—quyển tiểu sử viết về một cá nhân theo diễn tiến thời gian song song với lịch sử quốc gia, mà trong đó bao trùm những sự kiện và các biến cố của dân tộc về mọi mặt văn hóa, chính trị, xã hội—khi chiến tranh và lúc thanh bình. Những vấn đề được nêu lên trong sách rất đa dạng, người đọc khó có thể liệt kê hết vào nội dung của vài lời nhận xét ngắn ngủi. Hầu như vấn đề nào có liên quan đến chiến tranh, đặc biệt là những sự thật đã bị Việt cộng, giới truyền thông Mỹ và ngoại quốc xuyên tạc, vu cáo đều được ghi lại.
 
Tác giả chú trọng nhiều đến những biến cố hoặc sự kiện mà đa số người ngoại quốc và một số người Việt Nam không biết, hoặc biết nhưng không quan tâm đến tác động và hậu quả. Rất nhiều điều mà người Việt Nam ai cũng rõ như một cộng một là hai; thế nhưng, nhiều người ngoài cuộc vẫn hiểu ngược lại vì thiếu dữ kiện so sánh; và nhất là, vì từ lâu đã bị đầu độc bởi những tuyên truyền xuyên tạc ác ý. Tác giả thuật lại những gì mình ghi nhận được về nhiều mặt, những sự kiện cũng như sắc thái của cuộc tranh chấp quốc-cộng qua những đoạn đời từng trải, từ thuở ấu thơ là nạn nhân của chiến tranh cho đến khi trưởng thành nhập ngũ, trực tiếp tham dự vào cuộc chiến ấy. Người đọc sẽ thấy những tâm tư của một người Việt trong một đất nước nghèo hạnh phúc và an vui, mà lại giầu bom đạn và lòng hận thù qua những mẩu chuyện nho nhỏnhững nhận xét khách quan về nhiều mặt hay dở, tốt xấu, thành bại của giới cầm quyền và quân đội của cả đôi bên diễn ra tại hạ tầng cơ sở. Nhiều vấn đề không được thế giới bên ngoài, nhất là dư luận phương Tây và Hoa Kỳ biết đến hoặc đã bị hiểu một cách sai lệch được vạch trần và kể lại trong quyển sách này. Thí dụ như, chiến tranh tại Việt Nam không phải chỉ xẩy ra từ đầu năm 1962 khi quân lực Mỹ bắt đầu can thiệp vào Việt Nam như báo chí ngoại quốc vẫn lầm tưởng.
 
Tác giả thẳng thắn kể đến những bất cập của chính quyền và quân đội VNCH về chính trị hành chánh, chiến thuật, về tệ nạn tham nhũng, về thực chất chế độ dân chủ ở Miền Nam và những hạn chế nỗ lực chiến tranh không thể vượt qua; về quân sự như chiến thuật (sử dụng lực lượng), quản trị nhân sự (thăng thưởng bừa bãi); gánh nặng gia đình binh sĩ cũng như gánh nặng “tự do báo chí” và những nhiễu loạn chính trị… Chẳng hạn như, CSVN bỏ xa VNCH về kỹ thuật xảo trá–quỷ quyệt trong tuyên truyền và phản tuyên truyền.
 
Tác giả chứng minh rằng VNCH không dám mạnh tay với dân chúng để đẩy mạnh nỗ lực chiến tranh chống Việt cộng trong khi hệ thống tuyên truyền lưu manh cùng với bộ máy khủng bố cùng hung cực ác của Việt cộng tại thôn quê đã nắm chặt từng mảnh vườn, từng căn nhà và từng mạng sống của người dân. Dân chúng phải làm mọi việc mà CSVN ra lệnh và chúng đã kiểm soát họ bằng súng, lựu đạn, dao găm… CSVN thực hành các phương pháp khủng bố rất hữu hiệu song song với các thủ đoạn tuyên truyền chinh phục đối tượng một cách tài giỏi. Rất nhiều anh em ruột theo 2 phe đã giết nhau không nhân nhượng chỉ vì một bên đã mù quáng nghe theo lời tuyên truyền của cộng sản. Ở nhiều chỗ trong sách cũng nói về chế độ tù đầy của cộng sản và quốc gia; thí dụ như, sự thực về vụ Phú Lợi (Chương 13).
 
Bằng những hiểu biết và kinh nghiệm từng trải khi phục vụ ở nhiều nơi như Kontum, Quy Nhơn, Sài Gòn, v.v… tác giả nêu lên những sự thật về cuộc chiến ở nông thôn cũng như ở thành thị—tác dụng của chiến tranh trên mọi lãnh vực như tình yêu và hôn nhân, đạo đức và sa đọa, khuynh hướng hiện sinh và tệ nạn băng đảng…
 
Tác giả ghi nhận đóng góp của những người vợ lính nghèo nàn nhưng hết lòng hy sinh cho chồng (Chương 23). Nhiều người tham dự trực tiếp trên chiến hào hay công sự phòng thủ hoặc chuyển đạn dược tiếp tế cho chồng và các chiến hữu của chồng. Trong số này có người bạn đời của tác giả, đã hỗ trợ đắc lực cho chồng, đặc biệt trong việc giúp đỡ cuộc sống của gia đình binh sĩ thuộc quyền. Chính bà cũng là sức cản mạnh mẽ giúp chồng tránh khỏi những vụ tham nhũng lớn nhỏ. Tác giả có những mối tình sâu đậm mang nặng ảnh hưởng của chiến tranh. Mối tình sôi nổi hồi năm 1957 đến 1961 không mấy phai mờ. Cho đến nay, hình ảnh người đẹp của hơn 50 năm trước vẫn còn thường xuyên ám ảnh chàng trai ngày nào trong những giấc mơ chập chờn lúc nửa đêm.
 
Trong đời sống công vụ và quân vụ, tác giả chủ trương thừa hành nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phải đối phó bằng tình cảm thích đáng song song với kỷ luật và pháp chế đối với thuộc cấp, với dân chúng và với địch quân. Là một cựu Giám Đốc Nha Tiếp Nhận thuộc Bộ Thông Tin Chiêu Hồi, ông đã nhắc đến thành công lớn của chế độ VNCH về chính sách Chiêu Hồi, một chính sách độc đáo mà trên thế giới không nước nào có (Chương 19). Lòng khoan dung của người quốc gia đã thu hút về phía mình hơn 150.000 sĩ quan, cán bộ và binh sĩ CSVN (tương đương với 20 sư đoàn cộng sản) trong thời gian 12 năm (1963-1975) được rất ít người biết đến.
 
Cuốn sách cũng nhắc đến những người Mỹ ở nhiều cơ quan, đơn vị tại Việt Nam, trên trận địa cũng như trong bar, night club hay trên đường phố để xác định người lính Mỹ không giống như lính Pháp trong chiến tranh 1946-1954sang VN để tái lập chế độ thuộc địa Pháp, giết chóc hãm hiếp bừa bãi như cộng sản đã ra rả xuyên tạc (và đã thành công). Khi nhìn bề ngoài, lính Pháp và lính Mỹ giống nhau (cũng nón sắt, quân phục màu olive, mũi lõ, mắt xanh, da trắng). Tuy vậy, Mỹ cũng mắc nhiều lỗi lầm chủ quan như thiếu hiểu biết về địch và bạn, không biết và không khai thác những chỗ yếu của đảng, quân đội và xã hội Miền Bắc, không biết bản chất cuộc chiến tranh du kích, ỷ lại vào hỏa lực mạnh và vũ khí tinh vi, đánh giá thấp chiến tranh tâm lý. Về phương diện tích cực, nhiều người Mỹ đến VN với thiện chí cao đẹp, các đơn vị Mỹ không ngại nguy hiểm khi hết lòng cấp cứu nạn nhân thiên tai và chiến tranh. Đa số các cố vấn quân sự tỏ ra khiêm tốn, thân thiện và gắn bó với các đơn vị mà họ chịu trách nhiệm. Họ truyền thụ tay nghề cho các chuyên viên VN với nhiều nhiệt tình, làm thay đổi bộ mặt khoa học kỹ thuật của Miền Nam trong chiến tranh (và cả nước ngày nay).
 
Một chương trong sách (Chương 12) được dành ra để nói về những cải tổ sâu rộng toàn diện của quân đội Miền Nam cũng như Trường Võ Bị Đà Lạt (quân phục sinh viên sĩ quan, chương trình huấn luyện, hệ thống tự chỉ huy, nghi lễ) sau khi VNCH ra đời cuối năm 1955, khi Khóa 12 đang thụ huấn. Tinh thần và khả năng của lớp sĩ quan trẻ. Ngoài ra còn có một số tin tức và vấn đề đặc biệt mà ít người được biết về Chiến Tranh Việt Nam, như so sánh tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá giữa 2 miền Nam Bắc trong chiến tranh.
 
Người đọc có thể thấy, một trong những mục tiêu của tập hồi ký là xác định vai trò lịch sử, bản chất xấu tốt và chính nghĩa của người Việt quốc gia và quân đội VNCH trong cuộc tranh chấp đổ máu quốc cộng tại Việt Nam mở màn ngay từ 1945 đến những năm tháng của bắt bớ và tù đày sau 30/4/1975. Mục tiêu hàng đầu của cuốn hồi ký là nhắm vào các thế hệ trẻ gốc Việt ở nước ngoài chỉ thông thạo Anh ngữ và các cựu chiến binh Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam. Đây là 2 lớp người cần hiểu biết rõ ràng, chính xác và đầy đủ về lịch sử Việt Nam thời cận kim để thấy Chiến Tranh Việt Nam đã bị bóp méo, xuyên tạc với những tin tức không đầy đủ, với những phóng sự vu cáo, bịa đặt, thiên vị làm lợi cho cộng sản.
 
Hiển nhiên, cuốn hồi ký góp phần không nhỏ vào việc phục hồi danh dự, đồng thời vinh danh sự hy sinh cao quý của người lính Quân Lực VNCH cũng như Quân Lực Hoa Kỳ và Đồng Minh. Ở mức độ cao hơn, cuốn sách thực sự đóng góp vào nỗ lực xác định vị trí chính nghĩa vững vàng và vinh quang của chính thể VNCH trên trường quốc tế. VNCH và quân đội đã đóng góp thành công như thế nào trong việc xây dựng đất nước—đặc biệt về kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa giáo dục… vào những thời kỳ mà chiến tranh đang lên đến mức ác liệt nhất. Sau năm 1975, các tiến bộ về khoa học kỹ thuật của VNCH để lại đã giúp cho chế độ CSVN rất nhiều trong việc xây cất, phát triển kỹ nghệ. Khi tiếp thu Sài Gòn, các kỹ thuật gia Liên Xô rất ngạc nhiên trước trình độ hiểu biết tân tiến của chuyên viên Miền Nam—thừa nhận rằng, ngay tại Mạc Tư Khoa, họ cũng chỉ nghe nói đến một số kỹ thuật cao cấp ở Miền Nam Việt Nam chứ chưa hề được ứng dụng.
 
Lập trường về CSVN được nói rõ ở nhiều phần trong sách. Đối với những lời khuyên chúng ta quên hận thù, tác giả khẳng định rằng người quốc gia không thù hận các cán bộ, đảng viên ở cấp thừa hành có hành động tàn ác, dã man, xảo quyệt, hại dân vì họ chỉ là tay sai phải làm những việc do cấp trên của họ chỉ định và bắt buộc. Nhưng lòng thù hận sắt máu đối với các lãnh tụ cộng sản cao cấp thì không thể quên được vì chúng đã cố tình đem chủ nghĩa cộng sản tàn độc vào làm hại đất nước, gây chết chóc cho nhiều triệu đồng bàotàn phá quê hương, làm suy đồi nhân bản, văn hóa, đạo đức. Chúng ta không bao giờ quên mối thù sâu đậm đối với bọn lãnh tụ trung ương đảng cũng như chúng ta không thể quên được vết cắn đau đớn của con chó dại trên bắp chân mình.
 
Để trả lời câu hỏi “Chúng ta sẽ đối xử với người CSVN như thế nào nếu chúng ta là kẻ thắng trận?”; tác giả cho rằng, “Chắc chắn VNCH sẽ không kỳ thị, không phân biệt đối xử, không cầm tù, không trả thù người cộng sản, không thủ tiêu hoặc xử tử như họ đã đối xử với chúng ta”.  
 
Untitled-1
Encyclopedia of the Vietnam War (1998) và Nationalist in the Viet Nam Wars (2012)
 
Không dễ dàng gì mà nhà xuất bản của một viện đại học lớn danh tiếng chịu ấn hành tác phẩm của một người Việt “nobody” dài 600 trang về đề tài Chiến Tranh Việt Nam—một đề tài vốn đã cũ, bị xem là nhàm chán với hàng trăm quyển sách đã được viết ra trong hơn bốn thập niên vừa quanếu quyển sách này không thực sự có một giá trị đặc biệt độc đáo. Việc Viện Đại Học Indiana tuyển chọn và xuất bản tác phẩm đã nói lên tầm mức uy tín và giá trị hàn lâm của cuốn sách. So với hàng núi báo chí, sách vở được các nhà in vô danh ấn hành và xuất bản một cách dễ dàng hiện nay, quyển sách này là một tác phẩm chứa đựng nhiều công phu, đem lại sự trung thực và đang góp phần làm sáng tỏ chính nghĩa VNCH.
 
Hiện nay, Nationalist in the Vietnam War đã nhanh chóng trở thành tài liệu cho sinh viên dân sự tại nhiều thư viện của các Viện Đại Học như: Stanford University, Cal Poly, UC DavisUCLA, University of Oklahoma,  University of Wyoming, University of Denver, University of Idaho, Portland State… Đồng thời cũng được lựa chọn đưa vào tủ sách của các Trường Võ Bị Hải Lục Không Quân Hoa Kỳ như: US Air Force Academy, US Naval Academy, US Military Academy
 
Bằng lối hành văn giản dị, trong sáng với những tình tiết trung thực—30 chương sách với vô số câu chuyện tách biệt nhưng không rời rạc—lôi cuốn người đọc một cách nhẹ nhàng thú vị. Tác giả đưa độc giả đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, đặc biệt đối với những độc giả thuộc giới trẻ, chỉ biết đến chiến tranh Việt Nam qua sách báo ngoại quốc. Sự trung thực và chính xác của các vấn đề do tác giả trình bày được xem là hết sức thành thật. Độc giả có thể đọc sách tuỳ theo cảm hứng của mình đối với từng chương sách, mà không nhất thiết cần phải theo đuổi một thứ tự nào nhất định nào.

Mỗi gia đình người Việt có con cháu chỉ thông thạo Anh ngữ, nhất là các anh chị em TTN/Đa Hiệu nên và cần đọc qua quyển sách này để thấu hiểu một cách thông suốt và chính xác về lịch sử Việt Nam.
 
 
nguyencongluan
Tác giả quyển Nationalist in the Viet Nam WarsNiên Trưởng Nguyễn Công Luận K12 (2010)
 
Ngay sau khi được xuất bản—từ mùa xuân 2012, Nationalist in the Vietnam War đã được giới thiệu và bày bán tại nhiều hiệu sách khắp nơi như: nhà xuất bản Indiana University Press, Booktopia, Barnes & Noble, Amazon.com, Tower Books, Powell’s, AbeBooks, Whitcoulls
 
381912_orig
Flyer mời tham dự buổi giới thiệu quyển Nationalist in the Viet Nam Wars tại San Jose
8908478_orig
Đọc Nationalist in the Viet Nam Wars bằng Kindle Fire

Do yêu cầu của bạn đọc, của văn thi hữu, của đồng môn, đồng ngũ và thân nhân, Nationalist in the Viet Nam Wars sẽ được chính thức giới thiệu vào chiều Chủ Nhật sắp tới—ngày 6 tháng 10 năm 2013 tại thành phố San Jose. Được biết, cựu Trung Tướng Lawson William Magruder III, Luật Sư Đoàn Thanh Liêm, Nhà Văn Mặc Giao, Luật Sư Jimmy Nguyễn và chính tác giả sẽ giới thiệu về quyển sách đến độc giả bốn phương. Nếu quý vị cảm thấy muốn tìm hiểu thêm về quyển sách và buổi giới thiệu này, xin vui lòng tham khảo tại http://vietnamesenationalist.org hoặc liên lạc trực tiếp với Niên Trưởng Nguyễn Công Luận K12 qua đ/c e-mail: lutuan.k12@gmail.com

Và, để có quyển Nationalist in the Viet Nam Wars—bìa cứng với chữ ký lưu niệm của tác giả, xin mời quý vị đến tham dự buổi giới thiệu (rất ngắn—vì lý do sức khoẻ của tác giả) được tổ chức tại: Mount Pleasant High School—1750 S. White Rd. San Jose, CA 95127 từ 2 giờ trưa đến 5 giờ chiều ngày Chủ Nhật 6 tháng 10 năm 2013.

Sau hết, một điều khiến tôi rất lấy làm tiếc về Nationalist in the Viet Nam Wars—là, một quyển sách hay mà lại có vẻ như rất thiếu hình ảnh!

Nguyên Thiều

Truyền Thông và Cách Mạng—Nguyễn Hưng Quốc

Xã hội, bất cứ hình thức xã hội gì, cũng đều được xây dựng trên nhiều nền tảng, nhưng một trong những nền tảng căn bản và quan trọng nhất là: truyền thông. Không có truyền thông, một tập thể người, dù đông đảo đến mấy, cũng không thể trở thành một xã hội.
Điều kiện để một xã hội được hình thành không phải là số đông mà là sự nối kết. Điều kiện để có sự nối kết là một mẫu số chung nào đó. Cái mẫu số chung ấy, dù rất hiển nhiên, như là huyết thống và quyền lợi kinh tế, vẫn không thể được ghi nhận và chia sẻ nếu thiếu một yếu tố: truyền thông. Đó là lý do tại sao, ngay từ xưa, trong quá trình lập quốc, người ta đã đề cao việc có một ngôn ngữ chung; trường hợp không có một ngôn ngữ chung, người ta cố gắng xây dựng một hệ thống chữ viết chung (như trường hợp chữ Hán của Trung Hoa).
Theo Benedict Anderson, trong cuốn Imagined Communities (Verso, 1983), hầu hết các biến chuyển lớn ở Tây phương thời hiện đại đều gắn liền với kỹ nghệ ấn loát mới với việc nở rộ của sách và báo khắp châu Âu. Trước, La Mã dễ dàng đánh bại mọi kẻ thù nhờ họ làm chủ một phương tiện truyền thông hoàn hảo và có ưu thể hơn hẳn (tr. 39). Sau, với sự xuất hiện của máy in, kiến thức được phân phối rộng rãi và tự do, làm cơ sở cho sự nảy nở và phát triển của phong trào Cải cách, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành với vai trò nổi bật của Martin Luther, người có sách bán chạy nhất trong nửa đầu thế kỷ 16 – được xem là tác giả best-seller đầu tiên trong lịch sử (tr. 39). Kỹ nghệ ấn loát mới cũng dẫn đến sự hình thành của quốc gia và chủ nghĩa quốc gia (nationalism): Qua sách báo được xuất bản, mọi người, bất kể những khác biệt về huyết thống, giai cấp và phái tính, có một ký ức chung và một tưởng tượng chung vốn là những yếu tính để hình thành một cộng đồng có tên là dân tộc hay quốc gia.
Giống xã hội hay quốc gia dân tộc, các cuộc cách mạng cũng được xây dựng trên truyền thông. Xin lưu ý, cách mạng là một khái niệm khá mới, chỉ xuất hiện trong thời hiện đại. Xưa, người ta có thể cướp ngôi nhau nhưng lại không có cái gọi là cách mạng. Để được xem là cách mạng, ngoài việc thay đổi tầng lớp thống trị, người ta còn phải thay đổi cả hệ thống quyền lực và ý thức hệ làm nền tảng cho hệ thống quyền lực mới ấy cũng như toàn bộ cấu trúc xã hội. Với ý nghĩa như thế, hai cuộc cách mạng lớn được ghi nhận nhiều nhất là: một, cuộc cách mạng tư sản Pháp vào năm 1789 và cuộc cách mạng vô sản ở Nga vào năm 1917.
Hai cuộc cách mạng vừa kể khác hẳn nhau, trong đó, hai sự khác biệt lớn nhất là: một mở đầu cho trào lưu dân chủ và một mở đầu cho hệ thống toàn trị; một thành công, càng ngày càng thành công, và một thất bại sau hơn 70 năm thử nghiệm một cách đẫm máu. Tuy nhiên cả hai lại giống nhau ở một điểm: tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại. Trong Cách mạng Pháp, truyền đơn và các cuốn sách tuyên truyền mong mỏng (pamphlet) được in và phân phát khắp nơi. Trong Cách mạng Nga cũng vậy. Ngoài truyền đơn, lãnh tụ của cuộc cách mạng Lenin còn là một tác giả có sức sáng tác dồi dào dưới nhiều hình thức khác nhau (sau, ở Nga, người ta sưu tập và in các tác phẩm của ông thành 54 tập, mỗi tập dày khoảng 650 trang, như vậy, tổng cộng khoảng 35000 trang!).
Ở Việt Nam, vào đầu thế kỷ 20, trong cuộc vận động chống lại thực dân Pháp để giành độc lập, hầu như tất cả các sĩ phu yêu nước đều ý thức rất rõ tầm quan trọng của truyền thông. Họ làm thơ và viết văn để cổ vũ lòng tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết cũng như bất khuất. Quan trọng nhất, họ sẵn sàng hy sinh tự ái dân tộc để chấp nhận chữ quốc ngữ do các cố đạo Tây phương sáng chế và được thực dân Pháp ủng hộ như hệ thống chữ viết mới cho cả nước, thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, với hy vọng, với thứ chữ viết mới ấy, trình độ dân trí sẽ nhanh chóng được nâng cao và quá trình hiện đại hóa đất nước sẽ dễ dàng được thực hiện.
Ngay từ giữa năm 1944, chưa cướp được chính quyền, Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, cũng đã ý thức được ngay tầm quan trọng của truyền thông. Đội quân chủ lực đầu tiên do họ thành lập mang tên là Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với hai nhiệm vụ chính: vừa quân sự vừa chính trị, trong đó, chính trị được xem là quan trọng hơn quân sự. Thực chất đó là “đội tuyên truyền”. Ngay sau khi cướp chính quyền, Hồ Chí Minh đã nêu lên ba nhiệm vụ chính của chính phủ mới: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Nhiệm vụ trung tâm của chiến dịch “diệt giặc dốt” là phong trào Bình dân Học vụ nhằm xóa nạn mù chữ để ai cũng có thể đọc được… truyền đơn.
Chính vì ý thức rất sớm tầm quan trọng của truyền thông như vậy nên trong suốt thời gian đảng Cộng sản cầm quyền, từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trong cả nước, giới lãnh đạo Cộng sản luôn luôn chủ trương độc quyền về truyền thông. Kinh tế có thể đa nguyên hóa. Giáo dục có thể đa nguyên hóa. Xã hội có thể đa nguyên hóa. Nhưng với truyền thông thì tuyêt đối không: Tất cả mọi cơ quan truyền thông, từ xuất bản đến báo chí, từ báo in đến báo nói và báo hình, đều nằm trong tay nhà nước và đều bị kiểm soát và kiểm duyệt nghiêm ngặt. Giới lãnh đạo xem đó là một trong những biện pháp chính yếu để bảo vệ quyền lực của họ.
Nói chung, có ba loại quyền lực chính: Thứ nhất là quyền lực ý tưởng (idea power) thể hiện qua các phương tiện truyền thông, nhằm chinh phục cả trái tim lẫn khối óc của quần chúng để họ không những tin và phục mà còn sẵn sàng vâng lệnh nhà cầm quyền. Thứ hai là quyền lực kinh tế (ở Việt Nam, trước, thể hiện qua chính sách phân phối lương thực, sau, qua vai trò ưu tiên của hệ thống quốc doanh) nhằm kiểm soát bao tử và túi tiền của dân chúng khiến họ phải khuất phục. Và thứ ba, quyền lực vật lý (physical power) thể hiện qua quân đội, cảnh sát, công an, hệ thống tòa án và nhà tù nhằm làm cho mọi người khiếp sợ.
Đối với ba loại quyền lực trên, những nhà đối kháng và muốn đấu tranh cho dân chủ, phần lớn chủ trương bất bạo động, đã né tránh việc đối đầu với chính quyền ở góc độ quyền lực vật lý và, thành thực mà nói, hoàn toàn không có điều kiện và khả năng để thách thức chính quyền về quyền lực kinh tế. Chỉ còn một không gian duy nhất có thể biến thành nơi tranh chấp và có thể làm xuất hiện một thứ đối-quyền lực (counterpower) với chính quyền: quyền lực ý tưởng.
Tập trung vào quyền lực ý tưởng là chọn truyền thông làm mặt trận chính.
Cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, chủ yếu là cuộc đấu tranh trên phương diện truyền thông để giành giật phần thắng về ý tưởng. Trong cuộc đấu tranh ấy, người Việt có một phương tiện mới rất đắc dụng: internet.
Với internet, người ta có thể xây dựng được một thứ quyền lực từ dưới lên (power from below), hay nói theo chữ của Vaclav Havel, “quyền lực của những kẻ vốn không có quyền lực” (the power of the powerless).
Nhưng đó là chuyện dài. Xin đề cập sau.

Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể còn tồn tại được bao lâu?

thienanmon-030-danlambao
How long can the Communist party survive in China?
 
Trong khi kinh tế phát triển chậm và sự bất mãn của giới trung lưu gia tăng, đây là vấn đề đang được hỏi không những ở nước ngoài mà ngay cả ở trong nước. Ngay tại Trường Trung Ương Đảng, có cuộc thảo luận về điều không thể nghĩ đến: sự sụp đổ của chế độ cộng sản Trung Quốc.
Nép vào giữa trường gián điệp cao cấp của Trung Quốc và hoàng cung mùa hè về phía tây của Bắc Kinh là một nơi duy nhất trong nước mà người ta có thể bàn cãi công khai về cái chết của đảng Cộng Sản đang cai trị Trung Quốc mà không sợ bị trả thù. Nhưng địa chỉ nhiều bóng cây này không phải là trụ sở của một cơ quan nghiên cứu do Hoa Kỳ tài trợ hay là một tổ bí mật của những người bất đồng chính kiến. Đây là trường huấn luyện đảng của Ủy Ban Trung Ương Cộng Sản Trung Quốc, một học viện dành cho những nhà lãnh đạo chuyên quyền, “một lò luyện để nuôi dưỡng tinh thần của đảng viên” như được mô tả trong tài liệu tuyên truyền chính thức.

455cec11-6675-45ce-af86-da37c9ea1614_img
Trường Trung Ương Đảng – học viện dành cho các thành phần chính trị ưu tú  
©Eric Gregory Powell
 
Trường Trung Ương Đảng được thành lập vào năm 1933 để truyền bá cán bộ về chủ nghĩa Marx và Lenin và sau này là Tư Tưởng Mao Trạch Đông và những viện trưởng quá khứ bao gồm chính Mao Trạch Đông, và lãnh tụ mới được tấn phong gần đây là Tập Cận Bình và người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào. Chương trình giảng dậy được thay đổi triệt để để đáp ứng với những thay đổi quan trọng trong xã hội Trung Quốc. Học viên vẫn phải nghiền ngẫm về sự khôn ngoan của Tư Bản Luận và “Lý Thuyết Đặng Tiểu Bình” nhưng cũng được học những lớp về kinh tế, luật, tôn giáo, quân vụ, và những tư tưởng chính trị tây phương. Những cán bộ trung cấp và cao cấp là những học viên được học về cách thưởng thức ca vũ kịch và phép xã giao cũng như là xem những phim tài liệu về chống tham nhũng và tham gia vào việc hát những ca khúc cách mạng tập thể.
Một sự thay đổi quan trọng hơn đối với một học viện được thành lập để thực thi sự thuần khiết tư tưởng là việc thiết lập một khu vực thảo luận tự do, theo đó không có điều gì bị cấm bàn cãi. Đây là một vai trò tương đối mới. Một giảng viên của trường không muốn nêu tên vì không được phép nói chuyện với báo chí nước ngoài nói rằng “Chúng tôi vừa có một cuộc hội thảo với một nhóm đông người gồm những những đảng viên có thế lực và họ hỏi chúng tôi đảng sẽ còn nắm quyền được bao lâu và chúng tôi hoạch định những gì khi đảng sụp đổ. Thành thật mà nói, đây là câu hỏi bất cứ ai tại Trung Quốc cũng đang đề cập đến nhưng tôi sợ rằng nó rất khó để trả lời.”
Những người thừa kế cuộc cách mạng 1949 của Mao có thể bám vào quyền lực trong bao lâu là một câu hỏi từ năm này qua năm khác kể từ khi có cuộc tàn sát Thiên An Môn vào năm 1989 và sự tan rã của Liên Xô. Đã có nhiều tiên đoán thảm khốc về sự sụp đổ sắp xảy ra nhưng đảng vẫn tồn tại và lại còn phát triển mạnh, đặc biệt kể từ khi nó mở cửa đón nhận những nhà tư bản lần đầu tiên một thập niên trước đây. Ngày nay, đảng cách mạng của giai cấp vô sản có thể được mô tả một cách hay nhất là một phòng thương mại lớn nhất thế giới và quy chế đảng viên là cách hay nhất cho những nhà kinh doanh móc nối và lấy được hợp đồng lời nhiều.
Trong khoảng chưa tới năm năm, đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ thử thách Liên Xô (69 hay 74 năm cầm quyền tùy theo cách đếm) và Đảng Cách Mạng Định chế (Institutional Revolutionary Party) của Mexico (71 năm cho đến 2000) để trở thành một đảng chính trị cai trị liên tục lâu nhất. Theo lý thuyết hiện đại hóa, một chính thể độc tài có khuynh hướng dân chủ hóa khi lợi tức gia tăng, sự thành hình một tầng lớp trung lưu lớn sẽ đẩy mạnh tiến trình và khi nền kinh tế trì trệ tiếp theo một giai đoạn phát triển nhanh và lâu dài sẽ làm cho sự chuyển tiếp dễ xẩy ra hơn. Tình trạng bất quân bình trầm trọng và ngày càng tệ hại hơn cộng thêm với nạn tham nhũng cao sẽ là những lực thúc đẩy sự thay đổi.
Trung Quốc hiện nay đang có tất cả những yếu tố này, nhưng những lý thuyết gia chính trị kể cả những nhân vật tại Trường Trung Ương Đảng, lập luận rằng Trung Quốc là một trường hợp đặc biệt về phương diện văn hóa và chính trị và làn sóng làm sụp đổ các chế độ độc tài còn đang lên cao trong thế giới Ả Rập sẽ không bao giờ đến bờ Trung Quốc. Những người khác, kể cả những nhà trí thức có uy thế Trung Quốc, những chuyên gia tây phương về Trung Quốc nổi tiếng, và ngay cả những đảng viên cao cấp có đầu óc cởi mở, tin rằng đây là những ngày cuối cùng của thời đại Cộng Sản và đảng sẽ bị cuốn trôi đi nếu không sớm có một cuộc cải tổ chính trị quan trọng.
“Một ngàn mùa thu và một vạn thế hệ”
Ông Chen Shu là một giáo sư về lịch sử đảng, “xây dựng đảng” và Tư Tưởng Mao Trạch Đông tại Trường Trung Ương Đảng. Quan điểm của ông phản ảnh lối suy nghĩ chính thống của thành phần cao cấp của đảng. Với tất cả những khích động trí thức và tự do trao đổi ý kiến bên trong những bức tường của trường, người nước ngoài vẫn còn bị cấm vào nếu không có phép đặc biệt, luật lệ này có từ thời khi sự hiện diện của trường còn là một bí mật quốc gia. Ông Chen đồng ý gặp Financial Times tại một quán trà bên kia đường đối diện với Hoàng Cung Mùa Hè, nhưng ông thiếu kiên nhẫn khi được hỏi ông nghĩ gì về tương lai của đảng.
Ông trả lời với một giọng làm cho từ “tây phương” có nghĩa xấu: “Tất cả những lý thuyết về cuộc khủng hoảng ở Trung Quốc hay Trung Quốc sụp đổ là hoàn toàn có tính cách tây phương. Càng nhiều áp lực đặt trên văn hóa và đảng Cộng Sản Trung Quốc, họ sẽ càng đoàn kết và càng có khả năng để làm những phép lạ.”
temp-danlambao-43
Giáo sư Lin Zhe ở phía ngoài
Trường Trung Ương Đảng.
©Eric Gregory Powell
Lin Zhe là giáo sư của Trường Trung Ương Đảng, một người đã nghiên cứu làm sao giải quyết nạn tham nhũng trong hàng ngũ đảng. Cũng tại cùng quán trà, bà vui vẻ tiên đoán rằng đảng sẽ đón mừng 100 năm cầm quyền vào năm 2049 và nói rằng đảng đang chuẩn bị, theo một tục ngữ của Trung Quốc, sẽ lãnh đạo “một ngàn mùa thu và một vạn thế hệ.” Nhưng cả Bà Lin lẫn Ông Chen cũng cảnh cáo rằng tính cách chính danh của đảng bị đe dọa bởi nạn tham nhũng địa phương. Nó đã lan tràn vào mọi tầng lớp trong xã hội. Bà Lin nói “Vấn đề này rất nghiêm trọng, như những nhà lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc đã nói, nó có thể tiêu diệt đảng và quốc gia.”
Sự bền bỉ độc đoán
Trong cuốn sách xuất bản vào năm 1992, Tận Cùng của Lịch Sử và Người Cuối Cùng (The End of history and The Last Man), Francis Fukuyama lập luận rằng nền dân chủ cấp tiến tây phương là một dạng chính quyền sau cùng của loài người và mục tiêu cuối cùng của cách mạng tư tưởng. Lập luận này được hỗ trợ bởi sự bành trướng của chế độ dân chủ trong thế kỷ 20. Vào năm 1900, không một quốc gia nào trên thế giới có một chính thể cạnh tranh đa đảng và phổ thông đầu phiếu và chỉ có khoảng 12% nhân loại được sống dưới một chính thể được xem như là dân chủ theo một tổ chức Hoa Kỳ phi chính phủ Freedom House. Vào đầu thế kỷ 21, 120 nước trong số 192 quốc gia được quốc tế công nhận có chính thể dân chủ bầu phiếu với và 60% dân số thế giới sống dưới sự lãnh đạo của những nhân vật được bầu lên theo thể thức dân chủ.
 
Ông Fukuyama, hiện nay là một nhà nghiên cứu cấp cao tại Standford University, nói rằng ông tin rằng Trung Quốc sẽ theo con đường của phần đông các quốc gia khác, qua sự cởi mở tự do dần dần để sau cùng tiến đến dân chủ. Ông nói, nhưng nếu điều này không xẩy ra, có thể dân chúng sẽ nổi dậy tương tự như Mùa Xuân Ả Rập.
Ông Fukuyama nói: “Mô hình chính trị của Trung Quốc không thể tồn tại được vì thành phần trung lưu ngày càng lớn mạnh – một thế lực thúc đẩy dân chủ ở khắp mọi nơi. Thế hệ mới tại Trung Quốc rất khác biệt với thế hệ đã rời bỏ ruộng vườn và thúc đẩy đợt công nghiệp hóa đầu tiên – họ có trình độ học vấn cao hơn nhiều, giầu hơn nhiều và nhiều đòi hỏi mới như không khí trong sạch, nước trong sạch, thực phẩm an toàn, và những vấn đề khác không thể giải quyết được chỉ bằng phát triển kinh tế nhanh chóng.”
Ước tính kích thước của thành phần trung lưu của Trung Quốc thay đổi tùy thuộc định nghĩa nhưng một điều chắc chắn là giai cấp này không hiện hữu hai chục năm về trước nay phát triển rất nhanh chóng. Theo công ty tư vấn McKinsey, từng lớp trung lưu trên cùng – phần dân số có lợi tức gia đình hàng năm trong khoảng $17,350 – $37,500 – chiếm 14% số gia đình thành thị vào năm vừa qua, nhưng sẽ gia tăng đến 54% trong chưa tới 10 năm tới.
Trung Quốc thường hay dấu những bằng chứng để làm thuyết Fukuyama mất giá trị với những nhà phê bình lập luận rằng tiến trình tái sáng tạo của đảng đáp ứng được nhiều hơn đối với nhu cầu và đòi hỏi của dân chúng so với những chế độ độc tài theo lỗi cổ. Ông David Shambaugh, giám đốc Chương Trình Chính Sách Trung Quốc tại George Washington University và một chuyên gia về hệ thống chính trị Trung Quốc, từng ủng hộ quan điểm này. Nhưng vài năm gần đây, ông đã thay đổi ý kiến và hiện nay tin rằng đảng đang ở trong tình trạng đi xuống. Sự kiện này lập lại những ngày cuối cùng của các triều đại trong lịch sử.
Dấu hiệu bao gồm lý tưởng quốc gia trỗng rỗng mà xã hội không tin tưởng nhưng giả vờ làm theo cho đúng nghi thức, tham nhũng ngày càng tồi tệ, không cung cấp cho công chúng được đầy đủ an sinh xã hội, cảm giác bất ổn và thất vọng lan tràn trong quần chúng. Những dấu hiệu khác bao gồm gia tăng bất ổn xả hội và sắc tộc, nạn bè phái, thuế quá cao với tiền thâu phần lớn chui vào túi của giới chức nhà nước, bất quân bình lợi tức ngày càng trầm trọng và không có chế độ pháp trị đáng tin cậy.
Ông Shambaugh nói rằng một dấu hiệu mạnh mẽ về sự thiếu tin tưởng vào hệ thống là số dân giàu có ưu tú có tích sản và tài sản ở ngoại quốc, chương mục ngân hàng ở nước ngoài, và cho con cái học tại các đại học tây phương.
Ông Shambaugh nói “Những cá nhân này sẵn sàng bỏ trốn khi được thông báo, ngay khi hệ thống chính trị vào giai đoạn lâm chung – nhưng họ sẽ ở lại Trung Quốc để có thể thâu tóm được những đồng nhân dân tệ cuối cùng. Hành vi phòng thân của họ nói lên rất nhiều về tình trạng ổn định mong manh của đảng Cộng Sản Trung Quốc ngày nay.”
Xác ướp trong quan tài pha lê
82ed11d5-11e4-4ecf-9ee3-280a3eb9d131_img
Quảng trường Thiên An Môn, ©Eric Gregory Powell
 
Chân dung khổng lồ của Mao Trạch Đông được treo ở ngay trên Thiên An Môn – lối vào phía nam của Tử Cấm Thành, nhìn chằm chằm, qua quảng trường mang tên ông, vào lăng tẩm oai nghiêm nơi thể xác được ướp của ông được quấn trong một lá cờ Cộng Sản. Mỗi buổi sáng trong tuần ngoại trừ thứ Hai, du khách Trung Quốc xếp hàng dài tại quảng trường để được nhìn thấy lãnh tụ vĩ đại trong chiếc quan tài bằng pha lê.
Một thập niên trước, người ta thường được chứng kiến những xúc động bộc phát lớn lao và những người hành hương quỳ xuống trước “hoàng đế đỏ” đã quá cố của Trung Quốc. Nhưng vào một ngày trong tuần mới đây, cảm nghĩ nổi bật của những người đến xem có vẻ lãnh đạm (dửng dưng) hoặc thất vọng vừa phải. Một người ở tuổi trung niên với giọng địa phương nói rằng “Tôi xếp hàng một tiếng đồng hồ để thế này sao? Tôi tin rằng xác này làm bằng sáp; Thật là phí thời giờ.”
Sự thay đổi thái độ tinh tế này trong 10 năm qua thể hiện sự biến chuyển sâu sa hơn trong xã hội Trung Quốc tuy khó đo lường nhưng ngày càng rõ rệt. GS Perry Link tại Đại Học California ở Riverside, một trong những chuyên gia tây phương về Trung Quốc được kính trọng, nói rằng “Nền tảng tư tưởng của đảng thật rất nông cạn. Người dân gia nhập đảng ngày nay để móc nối và tiến thân không vì bất cứ một lý tưởng xã hội nào.”
Có lẽ truyền thông đại chúng qua Internet là một nhân tố quan trọng khích động sự chỉ trích chua cay và nghi ngờ giới nắm quyền lực. Chế độ kiểm duyệt Internet của Trung Quốc chặt chẽ nhất thế giới với Twitter, Facebook, Youtube và vô số mạng và dịch vụ trực tuyến bị ngăn chặn vì đảng lo sợ rằng những phương tiện này có thể được sử dụng để tổ chức đối lập chính trị. Nhưng sự bành trướng của những hệ thống thông tin tương tự trong nước, đặc biệt những mạng cực nhỏ “Weibo” giống như Twitter, vẫn cho phép dân chúng phá vỡ được sự kiểm soát của đảng đối với cuộc thảo luận công cộng theo một cách mà trước đây không thể làm được.
Trong khi kinh tế Trung Quốc phát triển chậm lại và sự tức giận tăng lên do một số vấn đề phát xuất từ sự thiếu vắng một thể chế cho phép người dân tham gia vào chính trị, đảng thật sự lo lắng về sự mất kiểm soát về tư tưởng, ý kiến, và thông điệp.
“Bẩy điều không thể nói đến”
temp-danlambao-44
GS Shen Zhihua – 
East China Normal University
©Eric Gregory Powell
Ông Shen Zhihua là một giáo sư tại Đại Học Sư Phạm Hoa Đông, chuyên về Liên Bang Xô Viết và là con của một trong những sĩ quan trong quân Đội Giái Phóng Nhân Dân từng phục vụ sát cánh với Mao trong cuộc cách mạng. Ông bị giam tù hai năm vào đầu thập niên 1980 sau khi bị kết tội oan làm gián điệp cho CIA. Vào tháng 9, 2009, Ông Shen trong một nhóm gồm một số ít học giả được tín cậy và được cựu Chủ Tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân triệu tập để thảo luận về sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết. Ông Giang hỏi họ về những yếu tố rõ ràng nào đã đưa đền sự tan rã của Xô Viết và nói rằng “Gorbachev đã phản bội cuộc cách mạng.”
Theo ông Shen, quan điểm của Giang Trạch Dân cũng là niềm tin chính thống của những nhà lãnh đạo Trung Quốc kể cả Tập Cận Bình. Trong bài diễn văn dành cho đảng viên sau khi ông được chọn làm người lãnh đạo đảng và quân đội vào cuối năm vừa qua, Tập Cận Bình nói rằng đế quốc Xô Viết đổ vỡ “bởi vì không có ai đủ dung cảm để đứng lên và chống lại.”
GS Shambaugh của George Washington University nói rằng “Tôi có thể không nhấn mạnh đủ về một sự kiện là những nhà lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục sống dưới bóng Liên Xô – Họ ý thức tối đa về những cải tổ Gorbachev thực hiện và tuyệt đối không đi theo con đường này.”
Tập Cận Bình bày tỏ quyền lực phù hợp với lập trường quả quyết của ông trên võ đài quốc tế vì Trung Quốc tiếp tục bành trướng vai trò của một siêu cường thứ hai của thế giới. Nhưng trong khi chính quyền mới biểu dương sức mạnh ở nước ngoài trong những cuộc tranh chấp sôi sục về lãnh thổ với những quốc gia láng giềng về phía đông, nam, và tây, chính quyền này tỏ ra lo âu và hoang mang hơn ở trong nước.
GS Link nói “Trung Quốc có sức mạnh về quân sự, ngoại giao và kinh tế hơn so với quá khứ và có thể bảo những nước như Anh và Hoa Kỳ nhượng bộ theo cách mà trước đây không thể làm được. Nhưng với tất cả sức mạnh đối ngoại mới, chính quyền Trung Quốc xem ra yếu ớt rất nhiều ở quốc nội, lo ngại rất nhiều về vấn đề bao lâu chính quyền nay có thể kiểm soát được chiếc vạc đang sôi sục này.”
Kể từ khi nhậm chức, Tập Cận Bình thi hành một loạt những cuộc đàn áp không nương tay đối với những người bất đồng chính kiến, tự do ngôn luận, những người sắc tộc ly khai, và xã hội dân sự. Ông tuyệt đối không cho thấy một dấu hiệu nào chứng tỏ rằng ông là một người chủ trương cải tổ ngầm mà một số người đã hi vọng. “Tài Liệu Số Chín”, một giác thư bí mật được phổ biến cho cán bộ vào tháng Tư và bị tiết lộ ra ngoài qua truyền thông Trung Quốc ở hải ngoại, cho thấy giới lãnh đạo mới lo ngại như thế nào về những đe dọa nhận thấy được đối với sự cai trị của đảng. Tài liệu nói rằng “Những lực lượng thù nghịch tây phương và những kẻ chống đối ở quốc nội không ngừng xâm nhập vào lãnh vực tư tưởng. Để có thể duy trì quyền lực của đảng, cần chú ý đến những cách thức suy nghĩ, lập trường, và hành động sai lầm.”
Theo tài liệu này, đảng đang thực hiện một cuộc đấu tranh khốc liệt liên hệ đến bẩy mối đe dọa trầm trọng mà trong giới hàn lâm gọi là “bẩy điều không thể nói đến”. Đứng đầu danh sách là “nền dân chủ hiến định tây phương” và tiếp theo là những điều cấm kỵ như nhân quyền, tư pháp độc lập, báo chi độc lập và phê bình quá khứ của đảng.
GS Shen Zhihua nói “Nhiều người cực kỳ thất vọng về lời nói và hành động của Tập Cận Bình. Nhưng có một số người bênh vực ông và nói rằng một khi ông củng cố được quyền lực và ổn định được tình trạng chính trị, lúc đó ông sẽ thúc đẩy những cải tổ.” Theo lý lẽ này, những hành động độc đoán của Tập Cận Bình trong giai đoạn chập chững này có tính cách chiến thuật hơn là chiến lược, một cách để tập hợp những người trung thành trong đảng cho chương trình cải tổ khó khăn sắp đến.
Một người chủ trương cải tổ, “hoàng tử” của một cựu lãnh tụ cao cấp Trung Quốc, biết rõ Tập Cận Bình, yêu cầu không nêu tên để tránh hậu quả chính trị, nói rằng “Cách giải thích bi quan hơn và thực tế một cách ngay thật hơn là Tập Cận Bình không có một sáng kiến nào cả. Vì vậy ông chỉ trích dẫn Mao và cố gắng nắm chặt lấy quyền hành. Trong trường hợp này, Trung Quốc không có hi vọng và sau cùng sự căm phẫn trong xã hội sẽ nổ tung thành một cuộc nổi dậy của dân chúng.”
Không còn phép lạ?
Trong ba thập niên kể từ khi Đặng Tiểu Bình phát động cuộc cải tổ theo định hướng thị trường và bắt đầu mở Trung Quốc đón tiếp thế giới, kinh tế phát triển trung bình khoảng 10% mỗi năm. Thành quả ngoạn mục này đã giải thoát hàng trăm triệu người ra khỏi tình trạng nghèo đói và đã khiến cho một vài người lập luận rằng chủ nghĩa “thị trường Lenin” đã thách đố học thuyết rằng các xã hội dân chủ hóa khi trở nên giàu có hơn. Nhưng theo Phó Giáo Sư chính trị học Liu Yu của Đại Học Tsinghua tại Bắc Kinh và GS Chen Dingding của Đại Học Macau, viết trong tạp chí Washington Quarterly năm vừa qua rằng “Những người biện minh rằng Trung Quốc là một trường hợp cá biệt không chú ý tới một sự kiện là hiện nay còn quá sớm để bảo Trung Quốc chấp thuận hay không tán thành học thuyết hiện đại hóa.”
Tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product – GDP) trung bình đầu người của Trung Quốc tính theo sức mua bình giá vào năm 2012 là $8,200, nhưng theo hai giáo sư Liu và Chen, con số này chưa đạt tới mức khiến cho các quốc gia với nền tảng văn hóa và lịch sự tương tự bắt đầu chuyển tiếp qua chế độ dân chủ. Cũng theo hai giáo sư Liu và Chen Vào năm 1988, hai nước đang dân chủ hóa Nam Hàn và Đài Loan có tổng sản phẩm nội địa trung bình đầu người theo sức mua bình giá lần lượt là $12,221 và $14,584 (theo giá đồng dollar 2010). Mức lợi tức của Liên Xô và Hung Gia Lợi vào năm 1989, khi hai nước này bắt đầu những chuyển tiếp chính trị lần lượt là $16,976 và $11,257 (theo giá đồng dollar 2010).
Những con số này cho thấy rằng việc kinh tế tiếp tục phát triển nhanh chóng sẽ làm Trung Quốc tự biến đổi chính trị chỉ trong vòng vài năm. Theo lý lẽ này, kể từ khi từ bỏ chủ nghĩa Mao, tính cách chính đáng của đảng chủ yếu dựa vào khả năng duy trì phát triển nhanh và nâng cao mức sống – nhưng đây cũng sẽ chính là lý do sau cùng làm cho đảng mất quyền kiểm soát tuyệt đối.
Ngày nay có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng mô hình kinh tế của Trung Quốc – đầu tư nhiều, định hướng xuất cảng, nhà nước chế ngự đang mất sức và sự phát triển sẽ chậm lại rõ rệt hơn là Bắc Kinh tiên đoán. GDP theo thời giá phát triển hàng năm chậm lại từ 17% trong quý thứ tư của năm 2011 xuống còn 8 % trong quý thứ hai của năm nay và mức phát triển của năm vừa qua xuống thấp nhất trong vòng 13 năm qua. Phần đông những kinh tế gia trông đợi mức phát triển sẽ còn ôn hòa hơn trong một ít năm sắp đến.
Bằng hầu hết các cách đo lường, Trung Quốc Cộng Sản là một xã hội bất quân bình nhất trên trái đất, với hầu hết sự giầu có tập trung vào trong tay một ít người ưu tú kết nối với nhau về mặt chính trị. Nếu sự giảm tốc độ hiện nay biến thành một cuộc khủng hoảng kinh tế hay gây ra nạn thất nghiệp rộng lớn, phần đông những phân tách gia tin rằng chính quyền sẽ nhanh chóng phải đương đầu với một cuộc nổi dậy của dân chúng. Ông Mao Yushi, kinh tế gia, 84 tuổi, được xem là cha đỡ đầu của nền kinh tế vĩ mô của Trung Quốc, nói rằng “Trong vòng hai thế kỷ, 30 năm vừa qua là một giai đoạn kéo dài duy nhất không có chiến tranh, nạn đói, hay hành hình hàng loạt, một giai đoạn mà đời sống của mọi người ngày càng tốt đẹp hơn. Tính cách chính đáng của chế độ chủ yếu dựa vào sự thành công của cải tổ kinh tế, nhưng vấn đề to lớn là hiện nay những kỳ vọng rất cao.
temp-danlambao-45
Kinh tế gia Mao Yushi
©Eric Gregory Powell
Nhà kinh tế già nua này bị thanh trừng nhiều lần trong thời đại Maoit. Ông làm lao động khổ sai trong 20 năm nhưng không liên tục tại vùng thôn quê và bị đánh đập và làm nhục. Sau việc phục hồi chính trị, ông tiếp tục sống và vào năm 1993 thành lập Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Unirule, một trung tâm nghiên cứu độc lập, và ông tiếp tục có ảnh hưởng trong những người chủ trương cải tổ trong đảng và chính quyền.
Ông Mao tiên đoán rằng Trung Quốc sẽ phải đương đầu với cuộc khủng hoảng tài chánh không thể tránh được trong một đến ba năm tới vì nợ xấu chồng chất và tình trạng thị trường bong bóng nhà đất, nhưng ông nghĩ rằng chính sự kiện này sẽ đẩy Trung Quốc đến chế độ dân chủ. Ông Mao nói “Tôi nghĩ rằng cuộc khủng hoảng tài chánh có thể thật sự tốt cho Trung Quốc vì nó sẽ buộc chính quyền phải thực hiện những cuộc cải tổ kinh tế và chính trị. Đây sẽ là kịch bản tốt nhất nhưng kịch bản xấu nhất là một cuộc nổi dậy hung bạo, tiếp theo là một giai đoạn dài với bất ổn và kinh tế suy sụp, giống như tình trạng chúng ta thấy tại Ai Cập.”
Những nhà phân tách chính trị Trung Quốc và Tây phương không ngừng dẫn chứng thí dụ tiêu cực Ai Cập. Giống như cựu lãnh tụ độc tài Hosni Mubarak, đảng Cộng Sản khá thành công trong việc đè bẹp bất cứ một lực lượng có tổ chức nào trước khi nó có thể mọc rễ.
GS Link nói “Chế độ Trung Quốc hiện nay chắc chắn sẽ sụp đổ ở một thời điểm nào đó – có thể vài tháng, vài năm, hay vài thập niên nhưng khi nó tan vỡ, mọi người sẽ nói dĩ nhiên nó sẽ xẩy ra. Vấn đề làm tôi lo âu là điều gì sẽ tiếp theo. Đảng loại trừ mọi nhóm mà nó không kiểm soát hoặc không nhìn thế giới như đảng và sẽ không có gì cả để thay thế đảng.”
Tai họa Olympic
Chắc chắn chỉ là một sự trùng hợp duyên dáng của lịch sử mà không một chế độ độc tài nào ngoại trừ chế độ dộc tài Mexico tồn tại hơn một thập niên sau khi tổ chức Thế Vận Hội Olympic – hãy nghĩ đến Berlin 1936, Moscow 1980, Sarajevo 1984 và Seoul 1988. Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thấy những cuộc tranh đua tại Bắc Kinh vào năm 2008 như một “tiệc ra mắt” của đảng trên sân khấu thế giới. Năm năm tới, đảng không những sẽ bất chấp tai họa Olympic này mà còn qua mặt chu kỳ sinh tồn của Liên Xô và giúp đánh đổ học thuyết dân chủ hóa.
Nhưng ngay cả những người bảo vệ chế độ hăng say nhất thừa nhận rằng những lãnh tụ Trung Quốc không thể tiếp tục cai trị vô thời hạn mà không đáp ứng những đòi hỏi được tham gia vào hoạt động chính trị của giới trung lưu ngày càng lớn mạnh. Họ lưu tâm nhiểu đến không khí trong sạch, nước trong sạch, chính quyền trong sạch và thực phẩm an toàn hơn là mức phát triển GDP.
Sau ba chục năm kinh tế bành trướng xuất sắc, mô hình phát triển của Trung Quốc bắt đầu mất sức và nếu Trung Quốc phải đối mặt với sự giảm sút bất ngờ đảng sẽ mất phương tiện chính đáng và dễ thuyết phục nhất để bảo vệ tính cách chính danh. Nếu chủ tịch mới của Trung Quốc Tập Cận Bình nắm lấy sáng kiến và phát động những cuộc cải tổ chính trị ý nghĩa, khi đó Trung Quốc có thể đi theo con đường của Đài Loan và Nam Hàn trong hai thập niên 1980 và 1990 và điều khiển một cuộc chuyển tiếp ôn hòa sang một thể chế dân chủ đa nguyên.
Trong sân Trường Đảng xanh tươi, một vài giáo sư đã nghiên cứu làm thế nào để thực hiện kỳ công này. Nhưng cho đến nay, Tập Cận Bình không bầy tỏ một khuynh hướng nào muốn làm một điều gì ngoại trừ xiết chặt quyền lực trong tay đảng và trừng phạt những kẻ nghi ngờ một chế độ độc đảng vĩnh viễn.
Nhiều người trong và ngoài đảng lo ngại rằng bằng cách chèn ép sự bất mãn của đại chúng bằng những dụng cụ đàn áp cổ điển, chính quyền mới một ngày nào đó ngủ dậy sẽ thấy đại chúng tràn ngập đường phố. GS Shen Zhihua nói “Tập Cận Bình và chính quyền này tạo cho Trung Quốc một cơ hội cuối cùng để thực hiện sự thay đổi xã hội thành một hệ thống chính trị cởi mở hơn từ trong nội bộ của đảng và trong hệ thống. Không có những cải tổ này, chắc chắn sẽ có cuộc bùng nổ xã hội.”20-9-2013

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Hát Cho Ngày Sài Gòn Quật Khởi—Nguyệt Ánh & Việt Dũng

Nhà Văn Phan Nhật Nam nói về Chuẩn Tướng Phan Hoà Hiệp—SBTN